Lễ hội Đống Đa

Thông tin thời kỳ

Gò Đống Đa là một gò đất và là một di tích nằm bên phố Tây Sơn, phường Quang Trung, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội. Tại đây năm 1789 quân Tây Sơn đã đại phá và đánh thắng quân nhà Thanh Trung Quốc trong Trận Ngọc Hồi - Đống Đa

Related Figures

Lễ hội vật Liễu Đôi

Thông tin thời kỳ

tại làng Liễu Đôi

Related Figures

Lễ hội hội Gióng Sóc Sơn

Thông tin thời kỳ

Hội Gióng là một lễ hội truyền thống hàng năm ở nhiều nơi thuộc vùng Hà Nội để tưởng niệm và ca ngợi chiến công của người anh hùng truyền thuyết Thánh Gióng, một trong tứ bất tử của tín ngưỡng dân gian Việt Nam .

Related Figures

Lễ hội Cổ Loa

Thông tin thời kỳ

Related Figures

Lễ hội chùa Bái Đính

Thông tin thời kỳ

Related Figures

Lễ hội Chợ Viềng

Thông tin thời kỳ

Chợ Viềng (lối gọi theo tiếng cổ của Chợ Xuân) là phiên chợ đầu năm họp vào đêm mùng 7 ngày mùng 8 ở Nam Định. Theo gia phả họ Trần thì chợ Viềng có từ thời cổ xưa và hình thành theo tục lệ làng xã của người dân địa phương. Từ ' Viềng' là từ Hán Việt có nghĩa là: thăm hỏi, viếng thăm, trò chuyện. Nam Định có 4 chợ đó là:

Related Figures

Lễ hội đầm Ô Loan

Thông tin thời kỳ

Lễ hội đầm Ô Loan được tổ chức vào mùng 7 tháng Giêng (Âm lịch) tại thôn Phú Tân, xã An Cư, huyện Tuy An. Lễ hội này có tư cách là lễ hội cầu ngư của người dân quanh đầm Ô Loan.

Related Figures

Lễ hội Đại lễ Đức Chí Tôn

Thông tin thời kỳ

Related Figures

Lễ hội xuân Yên Tử

Thông tin thời kỳ

Thiền phái Trúc Lâm, đến hết tháng 3

Related Figures

Lễ hội phết Hiền Quan

Thông tin thời kỳ

Thòi Hùng vương thứ 6 vàtthời Hai Bà Trưng

Hội Phết Hiền Quan là một lễ hội của xã Hiền Quan, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ, được tổ chức từ ngày 12 đến 13 tháng Giêng âm lịch hàng năm, trong đó ngày chính hội là ngày 13. Lễ hội được tổ chức nhằm tôn vinh tinh thần thượng võ và tưởng nhớ hai vị thành hoàng là Thiều Hoa công chúa, một nữ tướng dưới thời Hai Bà Trưng có công đánh giặc và Mộc Trang đại vương thời nhà Đinh có công dẹp loạn 12 sứ quân.

Related Figures

Lễ hội Lim

Thông tin thời kỳ

Hội Lim là một lễ hội lớn của tỉnh Bắc Ninh, chính hội được tổ chức vào ngày 13 tháng giêng hàng năm trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Hội Lim được coi là nét kết tinh độc đáo của vùng văn hoá Kinh Bắc.

Related Figures

Lễ hội chùa Hương

Thông tin thời kỳ

đến tháng 3 âm lịch

Lễ hội chùa Hương hay Trẩy hội chùa Hương là một lễ hội của Việt Nam, nằm ở Mỹ Đức, Hà Nội. Trong khu thắng cảnh Hương Sơn, được xem hành trình về một miền đất Phật - nơi Quan Thế Âm Bồ Tát ứng hiện tu hành. Đây là một lễ hội lớn về số lượng các phật tử tham gia hành hương.

Related Figures

Lễ hội chùa Côn Sơn

Thông tin thời kỳ

Chùa Côn Sơn (tên chữ là Tư Phúc tự hay Côn Sơn Tự), còn gọi là chùa Hun, là một ngôi chùa nằm bên ngọn núi Côn Sơn (hay còn gọi là núi Hun) ở phường Cộng Hoà, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Việt Nam. Chùa đã được Bộ trưởng Bộ Văn hóa Việt Nam Dân chủ cộng hòa xếp hạng di tích quốc gia ngay trong đợt I năm 1962. Đây là di tích quan trọng thuộc khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc được công nhận là di tích quốc gia đặc biệt năm 2012.

Related Figures

Lễ hội làm chay

Thông tin thời kỳ

đến 16/1

Lễ hội làm chay – hay Lễ hội làm trai là một lễ hội tập tục địa phương hàng năm của nhân dân thị trấn Tầm Vu (Châu Thành, Long An) tổ chức lễ hội làm chay vào thời điểm trung tuần tháng Giêng âm lịch (diễn ra từ 14-16/1 âm lịch). Từ làm chay xuất phát từ chữ đọc trại của từ làm trai đàn do người miền Nam phát âm sai chữ tr và ch mà ra.

Related Figures

Lễ hội Nguyên tiêu

Thông tin thời kỳ

đêm 14 đến nửa đêm 15/1

Tết Nguyên Tiêu (Chữ Nho: 節元宵), Tết Thượng Nguyên, Rằm Tháng Giêng là ngày lễ hội truyền thống của Việt Nam và Trung Quốc . Lễ hội trăng rằm từ giữa đêm 14 (đêm trước trăng rằm) trọn ngày 15 (ngày rằm) cho đến nửa đêm 15 (đêm trăng rằm) của tháng giêng Âm lịch.

Related Figures

Lễ hội chọi trâu

Thông tin thời kỳ

không tổ chức từ 1947-2002

Lễ hội chọi trâu Hải Lựu là một lễ hội chọi trâu diễn ra tại xã Hải Lựu, huyện Sông Lô (trước ngày 23/12/2008 thuộc huyện Lập Thạch), tỉnh Vĩnh Phúc.

Related Figures

Lễ hội Xuân núi Bà

Thông tin thời kỳ

đến 16/1

Related Figures

Lễ hội đình Yên Phụ

Thông tin thời kỳ

khôi phục từ 2003

Yên Phụ có thể là một trong số các địa danh sau:

Related Figures

Lễ hội Miếu Mạch Lũng

Thông tin thời kỳ

Miếu Mạch Lũng thuộc xã Đại Mạch, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội được Bộ Văn hóa - Thông tin Việt Nam cấp bằng công nhận Di tích lịch sử văn hóa năm 1993.

Related Figures

Lễ hội Quán Thế Âm

Thông tin thời kỳ

diễn ra trong 3 ngày

觀世音菩薩 hay

Related Figures

Lễ hội Bà chúa xứ

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Dinh Cô (Long Đất)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Thắng Tam (Vũng Tàu)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Chol Chnam Thmay của người Khmer

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Ba Bể

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Lồng tồng (Phủ Thông)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Thổ Hà (Việt Yên)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Kễ (Dĩnh Kế, thành phố Bắc Giang)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội chùa Vĩnh Nghiêm

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội chùa Bổ Đà (Tiên Sơn, Việt Yên)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Shoong hao, Sli, Lượn (Lục Ngạn)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Yên Thế

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội chùa Phật Tích (Từ Sơn)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Đồng Kỵ (Từ Sơn)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Lim (Tiên Du)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội đình Đình Bảng (Từ Sơn)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội chùa Bút Tháp

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội chùa Dâu

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội đền Bà chúa Kho

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội đền Đô (Đình Bảng, Từ Sơn)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội đền Đức Vua Bà (Hòa Long, thành phố Bắc Ninh)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội truyền thống văn hóa hàng

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội chùa Bà

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội chiến thắng Đống Đa

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội sinh vua Quang Trung

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội thường tân

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội liên hoan văn hóa các dân tộc thiểu số

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Ka tê

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Ramưwan

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Lăng Ông

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Nghinh Ông

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Dinh Thầy - Thím (Lagi)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội chùa Đà Quân (xã Hưng Đạo, Hòa An)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội đền Nùng Trí Cao (xã Vinh Quang, Hòa An)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Sùng Phúc (xã Thanh Nhật, Hạ Lang)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Kỳ Yên (cúng Đình)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Cầu an (12,

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Cholchonam Thomay

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội cầu an

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội truyền thống tại di tích Gò Tháp

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Quan Thế Âm (Ngũ Hành Sơn)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội văn hóa cồng chiêng

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội đua voi Buôn Đôn

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội hoa ban

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội thành Bản Phủ - đền Hoàng Công Chất

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Cơm Mới

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội đâm trâu

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội cầu mưa

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Sải Sán - gruôvtaox (gầutào) của dân tộc H'Mông

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Lồng Tồng (xuống đồng của dân tộc Tày)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội vật võ Liễu Đôi

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội chùa Đọi (Long Đọi)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội đền Lảnh Giang

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội 18 –

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội 18 –

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội đền Trần Thương

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội đền Trúc và hát Dậm Quyển Sơn (Thi Sơn, huyện Kim Bảng)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội hát chèo Tàu (Đan Phượng)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội chùa Bối Khê (Thanh Oai)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội đền Và (Sơn Tây)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội chùa Thầy (Quốc Oai),

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội làng Hạ Thái

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội chùa Tây Phương (Thạch Thất)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Bình Đà (Thanh Oai)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội làng Khê Hồi (Thường Tín)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội đền Hát Môn (Phúc Thọ)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội chùa Trăm Gian (Chương Mỹ)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội chùa Trầm

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội đền Hai Bà Trưng

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội làng Triều Khúc (Thanh Trì)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Gióng Sóc Sơn

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Đồng Nhân (Hai Bà Trưng)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội chùa Láng (Đống Đa)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Lệ Mật (Long Biên)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Gióng (Phù Đổng, Gia Lâm)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội đình Chèm (Từ Liêm)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội chùa Đậu Thường Tín

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội phủ Tây Hồ

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Đường Lâm (Sơn Tây)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội đền Sái Đông Anh

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội đền Ghềnh

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Giằng bông (Sơn Đồng, Hoài Đức)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội đình - chùa - bia Bà (Hà Đông)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội làng Giá (Yên Sở, Hoài Đức), Lễ

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Tản Viên Sơn Thánh (Ba Vì)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội làng Thổ Khối (Cự Khối, Long Biên)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội đình Quảng Bá

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội đình Phúc Xá (Ngọc Thụy, Long Biên)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội chợ Củi (Nghi Xuân)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Cầu Ngư (Nghi Xuân) cuối xuân đầu hạ

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội chùa Hương Tích (Can Lộc)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Côn Sơn rằm

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội đền Kiếp Bạc (Chí Linh) rằm

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội đền Tranh (Ninh Giang)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội chọi Trâu (Đồ Sơn)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Bạch Đằng

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội làng cá Cát Bà

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội hành hương về đền Bác Hồ (Long Mỹ)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội chùa Tiên (Phú Lão - Lạc Thủy)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội hát ca trù làng Đào Đặng (Trung Nghĩa, thành phố Hưng Yên)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội hát trống quân Liên Khê, Dạ Trạch (Khoái Châu)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Phù Ủng (thờ Phạm Ngũ Lão)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Đa Hòa (Khoái Châu)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Dạ Trạch, Khoái Châu

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội làng Nôm

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Nam Trì (Ân Thi)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Mẫu (thành phố Hưng Yên)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội văn hóa vùng Phố Hiến

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội tháp Bà Ponagar

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội sinh Nguyễn Trung Trực

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Chol Chnam Thmay

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Okombok

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội cũng chùa Bà Thiên hậu

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội đâm trâu dịp gặt hái xong

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội xuống đồng:

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Thìn

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Đồng Đăng

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội đình Pác Mòng

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội chùa Bắc Nga (Cao Lộc) và

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội chùa Nhị - Tam Thanh

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội đền Kỳ Cùng (thành phố Lạng Sơn)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Nhu Rhe, đâm trâu (lễ hội mừng lúa mới của dân tộc Mạ) sau khi gặt hái xong khoảng

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội lăng Nguyễn Huỳnh Đức

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội vía Ngũ Hành Nương Nương

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội chợ Viềng

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Phủ Giày

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội truyền thống Trần Hưng Đạo

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội chùa Keo (Xuân Thủy)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội chùa Cổ

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội (huyện Trực Ninh)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội làng Vạn Lộc (Cửa Lò)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội đền Cuông (Diễn Châu)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội tiếng hát làng Sen

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội đền Khai Long

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội đền vua Mai (Nam Đàn)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội đền Cờn

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội đền ông Hoàng Mười

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Hoa Lư

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Tràng An

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội đền Nguyễn Công Trứ

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội đền Thái Vi (Ninh Hải, Hoa Lư)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Katé

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội đền Hùng

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội đền Trù Mật

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội phết Hiền Quan (Tam Nông)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội hát Xoan

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội đua truyền thống đầm Ô Loan (thôn Phú Tân, xã An Cư, huyện Tuy An)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Đâm trâu (huyện Sông Hinh, Sơn Hòa, Đồng Xuân)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội hoa Xuân truyền thống

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội đua thuyền truyền thống (Lệ Thủy)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội văn hóa thể thao miền núi

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội cầu Ngư

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội bà Thu Bồn

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội An

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội đua thuyền Tứ Linh (Lý Sơn)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội đua thuyền Tịnh Long (Sơn Tịnh)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội chùa Thiên Ấn (Sơn Tịnh)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Yên Tử

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội chùa Quỳnh Lâm (Đông Triều)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội đình Quan Lạn

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội đền Cửa Ông từ

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội đình Trà Cổ (Hải Ninh)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội chùa Ba Vàng

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội đâm trâu người Vân Kiều - Hướng Hóa cuối

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Okombok của người Khmer

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Xíp xi của người Thái, Kháng

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội mừng cơm mới của người Thái

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Mừng Xuân núi Bà Đen (01 đến

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Yến Diêu Trì Cung (15/08 Âm lịch)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Lam Kinh

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội đền thờ Lê Hoàn

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội đền Am Tiên núi Nưa

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội đền Quang Trung

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Sòng Sơn – Ba Dội

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội đền Bà Triệu

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội chùa Keo (Vũ Thư)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội đền Tiên La (Hưng Hà)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội đền Đồng Xâm (Kiến Xưong)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội đền Đồng Bằng (Quỳnh Phụ)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội chùa Am (Kiến Xưong)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Vạn Xuân miếu Hai thôn (Xuân Hòa, Vũ Thư)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội đền Đuổm (Động Đạt, Phú Lương)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội chùa Hang (TP Thái Nguyên)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội cầu ngư (Thuận An - Phú Vang)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội làng Sình (Phú Vang)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội điện Hòa Chén (Hương Trà)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội chiến thắng Ấp Bắc

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội mất Nguyễn Hữu Huân

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội mất Trương Định

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Nam Kỳ khởi nghĩa

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội chiến thắng Đống Đa

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Nguyên Tiêu

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Hai Bà Trưng

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội tổ Hùng Vương

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Nghinh Ông Cần Giờ

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Ka té của người Chăm

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội cũng vía Ngọc Hoàng chùa Ngọc hoàng

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội vía Bà chùa Bà Thiên hậu

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Chol Chnam Thmay của người Khmer

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội của người Khmer giữa

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội của người Khmer cuối

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Lồng Tồng của dân tộc Tày (Chiêm Hóa)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội ném còn Giếng Tanh của người Cao Lan (Yên Sơn)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội đình Long Thanh (hạ điền)

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Phan Thanh Giản

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội quan đại thần, chiến sĩ trận vong

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Tây Thiên

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội đền Gia Loan

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội đền Đông Cuông:

Thông tin thời kỳ

không rõ

Related Figures

Lễ hội Vu Lan báo hiếu

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 20/8- 21/8 Dương lịch Lễ hội Vu Lan báo hiếu năm 2018 được UBND quận Ngũ Hành Sơn phối hợp với Ban trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam quận Ngũ Hành Sơn tổ chức trước động Âm Phủ dưới chân núi Thủy Sơn thuộc khu danh thắng Ngũ Hành Sơn. Lễ hội Vu Lan báo hiếu trước động Âm Phủ được tổ chức vào dịp Rằm tháng 7 Động Âm Phủ là một trong những điểm tham quan, hành hương chính dưới chân ngọn Thủy Sơn, gắn liền với các hoạt động văn hóa tâm linh của người dân từ xa xưa. Động Âm Phủ đặt tượng thờ Đại Tạng Vương Bồ Tát, vị Bồ Tát cứu rỗi linh hồn ở âm phủ theo quan niệm của nhà Phật. Cùng với tạo tác độc đáo của tự nhiên, động Âm Phủ đã được các cấp thẩm quyền, các chư tăng, Phật tử và nhân dân tu bổ, tạo dựng cảnh giới âm phủ theo quan niệm đạo Phật. Trong mùa Vu Lan báo hiếu, khách hành hương bước xuống động Âm Phủ không phải để xuống 10 tầng địa ngục mà là để cảm nhận từ lòng đất này một nguồn suối nhiệm mầu nuôi dưỡng sự sống, để sống đẹp hơn, thiện hơn và thật hơn. Lễ hội Vu Lan báo hiếu 2018 Đà Nẵng được tổ chức ở động Âm Phủ Theo kế hoạch, lễ hội Vu Lan báo hiếu trước động Âm Phủ sẽ diễn ra trong 2 ngày 20 và 21/8 (tức ngày 10 và 11/7 âm lịch). Đây là lần thứ 2 lễ hội Vu Lan báo hiếu được tổ chức tại động Âm Phủ - địa điểm văn hóa tâm linh nổi tiếng ở Đà Nẵng. Lễ hội Vu Lan báo hiếu động Âm Phủ được thực hiện theo nghi lễ truyền thống Các hoạt động phần lễ và phần hội được thực hiện theo nghi thức truyền thống với tiêu chí tiết kiệm, trang trọng, an toàn, vui tươi và lành mạnh. Ban tổ chức huy động nguồn lực từ cộng đồng chuẩn bị chu đáo các điều kiện tổ chức lễ hội. Đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền về giá trị của di tích, lễ hội; nội dung tuyên truyền phải hấp dẫn, thu hút người dân tích cực tham gia. Lễ hội Vu Lan báo hiếu năm 2018 trước động Âm Phủ là hoạt động văn hóa tâm linh góp phần giữ gin, kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

Lễ hội Vu Lan báo hiếu trước động Âm Phủ được tổ chức vào dịp Rằm tháng 7 Động Âm Phủ là một trong những điểm tham quan, hành hương chính dưới chân ngọn Thủy Sơn, gắn liền với các hoạt động văn hóa tâm linh của người dân từ xa xưa. Động Âm Phủ đặt tượng thờ Đại Tạng Vương Bồ Tát, vị Bồ Tát cứu rỗi linh hồn ở âm phủ theo quan niệm của nhà Phật. Cùng với tạo tác độc đáo của tự nhiên, động Âm Phủ đã được các cấp thẩm quyền, các chư tăng, Phật tử và nhân dân tu bổ, tạo dựng cảnh giới âm phủ theo quan niệm đạo Phật. Trong mùa Vu Lan báo hiếu, khách hành hương bước xuống động Âm Phủ không phải để xuống 10 tầng địa ngục mà là để cảm nhận từ lòng đất này một nguồn suối nhiệm mầu nuôi dưỡng sự sống, để sống đẹp hơn, thiện hơn và thật hơn. Lễ hội Vu Lan báo hiếu 2018 Đà Nẵng được tổ chức ở động Âm Phủ Theo kế hoạch, lễ hội Vu Lan báo hiếu trước động Âm Phủ sẽ diễn ra trong 2 ngày 20 và 21/8 (tức ngày 10 và 11/7 âm lịch). Đây là lần thứ 2 lễ hội Vu Lan báo hiếu được tổ chức tại động Âm Phủ - địa điểm văn hóa tâm linh nổi tiếng ở Đà Nẵng. Lễ hội Vu Lan báo hiếu động Âm Phủ được thực hiện theo nghi lễ truyền thống Các hoạt động phần lễ và phần hội được thực hiện theo nghi thức truyền thống với tiêu chí tiết kiệm, trang trọng, an toàn, vui tươi và lành mạnh. Ban tổ chức huy động nguồn lực từ cộng đồng chuẩn bị chu đáo các điều kiện tổ chức lễ hội. Đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền về giá trị của di tích, lễ hội; nội dung tuyên truyền phải hấp dẫn, thu hút người dân tích cực tham gia. Lễ hội Vu Lan báo hiếu năm 2018 trước động Âm Phủ là hoạt động văn hóa tâm linh góp phần giữ gin, kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

Động Âm Phủ là một trong những điểm tham quan, hành hương chính dưới chân ngọn Thủy Sơn, gắn liền với các hoạt động văn hóa tâm linh của người dân từ xa xưa. Động Âm Phủ đặt tượng thờ Đại Tạng Vương Bồ Tát, vị Bồ Tát cứu rỗi linh hồn ở âm phủ theo quan niệm của nhà Phật. Cùng với tạo tác độc đáo của tự nhiên, động Âm Phủ đã được các cấp thẩm quyền, các chư tăng, Phật tử và nhân dân tu bổ, tạo dựng cảnh giới âm phủ theo quan niệm đạo Phật. Trong mùa Vu Lan báo hiếu, khách hành hương bước xuống động Âm Phủ không phải để xuống 10 tầng địa ngục mà là để cảm nhận từ lòng đất này một nguồn suối nhiệm mầu nuôi dưỡng sự sống, để sống đẹp hơn, thiện hơn và thật hơn.

Lễ hội Vu Lan báo hiếu 2018 Đà Nẵng được tổ chức ở động Âm Phủ

Theo kế hoạch, lễ hội Vu Lan báo hiếu trước động Âm Phủ sẽ diễn ra trong 2 ngày 20 và 21/8 (tức ngày 10 và 11/7 âm lịch). Đây là lần thứ 2 lễ hội Vu Lan báo hiếu được tổ chức tại động Âm Phủ - địa điểm văn hóa tâm linh nổi tiếng ở Đà Nẵng.

Lễ hội Vu Lan báo hiếu động Âm Phủ được thực hiện theo nghi lễ truyền thống

Các hoạt động phần lễ và phần hội được thực hiện theo nghi thức truyền thống với tiêu chí tiết kiệm, trang trọng, an toàn, vui tươi và lành mạnh. Ban tổ chức huy động nguồn lực từ cộng đồng chuẩn bị chu đáo các điều kiện tổ chức lễ hội. Đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền về giá trị của di tích, lễ hội; nội dung tuyên truyền phải hấp dẫn, thu hút người dân tích cực tham gia.

Lễ hội Vu Lan báo hiếu năm 2018 trước động Âm Phủ là hoạt động văn hóa tâm linh góp phần giữ gin, kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

Related Figures

Festival biển Bà Rịa - Vũng Tàu 2018 tr

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 28/8- 3/9 Dương lịch Festival biển Bà Rịa - Vũng Tàu 2018 với chủ đề "Liên kết các tỉnh, thành phố biển Việt Nam - Phát triển bền vững thương mại - du lịch và kinh tế biển" diễn ra trong 7 ngày từ 28/8-3/9/2018, tại khu vực đường Thùy Vân, Bãi sau và Khu du lịch San Hô Xanh (thành phố Vũng Tàu). Festival biển 2018 nhằm thu hút khách du lịch đến Bà Rịa - Vũng Tàu Festival biển Bà Rịa - Vũng Tàu 2018 là hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội nổi bật của tỉnh. Đây không phải lần đầu tiên Bà Rịa - Vũng Tàu tổ chức Festival biển. Trước đó, Festival biển Bà Rịa - Vũng Tàu năm 2006 được tổ chức công phu, hoành tráng với nhiều sự kiện nổi bật như: thi Hoa hậu, nổ súng thần công, bắn pháo hoa... Vắng bóng trong suốt 12 năm, lần này Bà Rịa - Vũng Tàu quyết tâm thu hút, phát triển du lịch bằng việc khởi động lại Festival biển 2018. Festival biển Bà Rịa - Vũng Tàu 2018 có nhiều hoạt động hấp dẫn Festival biển 2018 có quy mô khoảng 800 gian hàng với 7 nhóm hoạt động cụ thể. Ban tổ chức chuẩn bị khu triển lãm, khu hội chợ đa dạng và phong phú. Festival biển 2018 là cơ hội tốt để Bà Rịa - Vũng Tàu quảng bá tiềm năng du lịch, văn hóa tới du khách trong và ngoài nước. Festival được đầu tư hoành tráng với nhiều chương trình hấp dẫn. Festival biển 2018 bao gồm 16 chương trình: lễ khai mạc, bế mạc; triển lãm, hội chợ; biểu diễn nghệ thuật quốc tế; lễ hội Carnaval đường phố; lễ hội sắc màu; thi sinh vật cảnh; ẩm thực Việt nam và quốc tế; lễ hội bia... Festival biển Bà Rịa - Vũng Tàu 2018 được tổ chức hoành tráng Du khách tham gia Festival biển Bà Rịa - Vũng Tàu 2018 không chỉ được hòa mình vào không khí lễ hội sôi động mà còn được thưởng thức nhiều món ẩm thực truyền thống độc đáo của thành phố biển.

Festival biển 2018 nhằm thu hút khách du lịch đến Bà Rịa - Vũng Tàu Festival biển Bà Rịa - Vũng Tàu 2018 là hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội nổi bật của tỉnh. Đây không phải lần đầu tiên Bà Rịa - Vũng Tàu tổ chức Festival biển. Trước đó, Festival biển Bà Rịa - Vũng Tàu năm 2006 được tổ chức công phu, hoành tráng với nhiều sự kiện nổi bật như: thi Hoa hậu, nổ súng thần công, bắn pháo hoa... Vắng bóng trong suốt 12 năm, lần này Bà Rịa - Vũng Tàu quyết tâm thu hút, phát triển du lịch bằng việc khởi động lại Festival biển 2018. Festival biển Bà Rịa - Vũng Tàu 2018 có nhiều hoạt động hấp dẫn Festival biển 2018 có quy mô khoảng 800 gian hàng với 7 nhóm hoạt động cụ thể. Ban tổ chức chuẩn bị khu triển lãm, khu hội chợ đa dạng và phong phú. Festival biển 2018 là cơ hội tốt để Bà Rịa - Vũng Tàu quảng bá tiềm năng du lịch, văn hóa tới du khách trong và ngoài nước. Festival được đầu tư hoành tráng với nhiều chương trình hấp dẫn. Festival biển 2018 bao gồm 16 chương trình: lễ khai mạc, bế mạc; triển lãm, hội chợ; biểu diễn nghệ thuật quốc tế; lễ hội Carnaval đường phố; lễ hội sắc màu; thi sinh vật cảnh; ẩm thực Việt nam và quốc tế; lễ hội bia... Festival biển Bà Rịa - Vũng Tàu 2018 được tổ chức hoành tráng Du khách tham gia Festival biển Bà Rịa - Vũng Tàu 2018 không chỉ được hòa mình vào không khí lễ hội sôi động mà còn được thưởng thức nhiều món ẩm thực truyền thống độc đáo của thành phố biển.

Festival biển Bà Rịa - Vũng Tàu 2018 là hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội nổi bật của tỉnh. Đây không phải lần đầu tiên Bà Rịa - Vũng Tàu tổ chức Festival biển. Trước đó, Festival biển Bà Rịa - Vũng Tàu năm 2006 được tổ chức công phu, hoành tráng với nhiều sự kiện nổi bật như: thi Hoa hậu, nổ súng thần công, bắn pháo hoa... Vắng bóng trong suốt 12 năm, lần này Bà Rịa - Vũng Tàu quyết tâm thu hút, phát triển du lịch bằng việc khởi động lại Festival biển 2018.

Festival biển Bà Rịa - Vũng Tàu 2018 có nhiều hoạt động hấp dẫn

Festival biển 2018 có quy mô khoảng 800 gian hàng với 7 nhóm hoạt động cụ thể. Ban tổ chức chuẩn bị khu triển lãm, khu hội chợ đa dạng và phong phú.

Festival biển 2018 là cơ hội tốt để Bà Rịa - Vũng Tàu quảng bá tiềm năng du lịch, văn hóa tới du khách trong và ngoài nước. Festival được đầu tư hoành tráng với nhiều chương trình hấp dẫn. Festival biển 2018 bao gồm 16 chương trình: lễ khai mạc, bế mạc; triển lãm, hội chợ; biểu diễn nghệ thuật quốc tế; lễ hội Carnaval đường phố; lễ hội sắc màu; thi sinh vật cảnh; ẩm thực Việt nam và quốc tế; lễ hội bia...

Festival biển Bà Rịa - Vũng Tàu 2018 được tổ chức hoành tráng

Du khách tham gia Festival biển Bà Rịa - Vũng Tàu 2018 không chỉ được hòa mình vào không khí lễ hội sôi động mà còn được thưởng thức nhiều món ẩm thực truyền thống độc đáo của thành phố biển.

Related Figures

Lễ hội trái cây Long Khánh - Mùa trái chín 2018

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 22/6- 29/6 Dương lịch Lễ hội trái cây với chủ đề "Long Khánh - Mùa trái chín" được UBND thị xã Long Khánh phối hợp với Công ty TNHH xúc tiến thương mại Sài Gòn tổ chức từ ngày 22-29/6 tại SVĐ thị xã Long Khánh. Lễ hội là sự kiện văn hóa - du lịch thu hút đông đảo người dân và du khách trong và ngoài tỉnh đến tham quan. Tưng bừng lễ hội trái cây Long Khánh - Mùa trái chín 2018 Lễ hội trái cây Long Khánh lần thứ I năm 2018 là hoạt động nhằm quảng bá du lịch, giới thiệu các sản phẩm du lịch Long Khánh, đặc biệt là du lịch vườn trái cây đến với du khách trong và ngoài nước. Lễ hội được tổ chức đúng thời điểm trái cây chín rộ với nhiều hoạt động phong phú nhằm tăng sức tiêu thụ các loại trái cây đặc sản. Khai mạc Lễ hội trái cây Long Khánh - Mùa trái chín 2018 Lễ hội trái cây Long Khánh được tổ chức với nhiều hoạt động phong phú và đa dạng như: Hội chợ thương mại - du lịch, khu vực trưng bày nông sản sạch - trái cây đặc trưng, khu vực ẩm thực, khu vực cây giống... Trong khu vực nông sản, các loại trái cây đều của nhà vườn bán trực tiếp đến tay người tiêu dùng, không qua bất kỳ không trung gian nào. Nông dân nhờ đó bán được giá tốt hơn, người tiêu dùng cũng mua được sản phẩm tươi ngon với giá rẻ hơn thị trường. Du khách tham gia lễ hội trái cây không chỉ được thưởng thức trái cây tại chỗ mà còn được tham quan các nhà vườn, tận hưởng không khí trong lành và lòng mến khách của người dân nơi đây. Ban tổ chức lễ hội cũng chuẩn bị nhiều hoạt động vui chơi giải trí phục vụ du khách như: chương trình văn nghệ hàng đêm, giao lưu đờn ca tài tử, hội thi mô hình vườn kiểu mẫu đạt chuẩn, hội thi đặc sản trái cây Long Khánh, hội thi trưng bày mô hình trái cây nghệ thuật... Đông đảo du khách tham gia Lễ hội trái cây Long Khánh - Mùa trái chín 2018 Lễ hội trái cây "Long Khánh - Mùa trái chín" là hoạt động nhằm quảng bá những nét đặc trưng về trái cây và ẩm thực của thị xã Long Khánh đến với du khách trong và ngoài tỉnh, xây dựng tuyến du lịch Long Khánh với sản phẩm du lịch phong phú, đa dạng.

Tưng bừng lễ hội trái cây Long Khánh - Mùa trái chín 2018 Lễ hội trái cây Long Khánh lần thứ I năm 2018 là hoạt động nhằm quảng bá du lịch, giới thiệu các sản phẩm du lịch Long Khánh, đặc biệt là du lịch vườn trái cây đến với du khách trong và ngoài nước. Lễ hội được tổ chức đúng thời điểm trái cây chín rộ với nhiều hoạt động phong phú nhằm tăng sức tiêu thụ các loại trái cây đặc sản. Khai mạc Lễ hội trái cây Long Khánh - Mùa trái chín 2018 Lễ hội trái cây Long Khánh được tổ chức với nhiều hoạt động phong phú và đa dạng như: Hội chợ thương mại - du lịch, khu vực trưng bày nông sản sạch - trái cây đặc trưng, khu vực ẩm thực, khu vực cây giống... Trong khu vực nông sản, các loại trái cây đều của nhà vườn bán trực tiếp đến tay người tiêu dùng, không qua bất kỳ không trung gian nào. Nông dân nhờ đó bán được giá tốt hơn, người tiêu dùng cũng mua được sản phẩm tươi ngon với giá rẻ hơn thị trường. Du khách tham gia lễ hội trái cây không chỉ được thưởng thức trái cây tại chỗ mà còn được tham quan các nhà vườn, tận hưởng không khí trong lành và lòng mến khách của người dân nơi đây. Ban tổ chức lễ hội cũng chuẩn bị nhiều hoạt động vui chơi giải trí phục vụ du khách như: chương trình văn nghệ hàng đêm, giao lưu đờn ca tài tử, hội thi mô hình vườn kiểu mẫu đạt chuẩn, hội thi đặc sản trái cây Long Khánh, hội thi trưng bày mô hình trái cây nghệ thuật... Đông đảo du khách tham gia Lễ hội trái cây Long Khánh - Mùa trái chín 2018 Lễ hội trái cây "Long Khánh - Mùa trái chín" là hoạt động nhằm quảng bá những nét đặc trưng về trái cây và ẩm thực của thị xã Long Khánh đến với du khách trong và ngoài tỉnh, xây dựng tuyến du lịch Long Khánh với sản phẩm du lịch phong phú, đa dạng.

Lễ hội trái cây Long Khánh lần thứ I năm 2018 là hoạt động nhằm quảng bá du lịch, giới thiệu các sản phẩm du lịch Long Khánh, đặc biệt là du lịch vườn trái cây đến với du khách trong và ngoài nước. Lễ hội được tổ chức đúng thời điểm trái cây chín rộ với nhiều hoạt động phong phú nhằm tăng sức tiêu thụ các loại trái cây đặc sản.

Khai mạc Lễ hội trái cây Long Khánh - Mùa trái chín 2018

Lễ hội trái cây Long Khánh được tổ chức với nhiều hoạt động phong phú và đa dạng như: Hội chợ thương mại - du lịch, khu vực trưng bày nông sản sạch - trái cây đặc trưng, khu vực ẩm thực, khu vực cây giống... Trong khu vực nông sản, các loại trái cây đều của nhà vườn bán trực tiếp đến tay người tiêu dùng, không qua bất kỳ không trung gian nào. Nông dân nhờ đó bán được giá tốt hơn, người tiêu dùng cũng mua được sản phẩm tươi ngon với giá rẻ hơn thị trường.

Du khách tham gia lễ hội trái cây không chỉ được thưởng thức trái cây tại chỗ mà còn được tham quan các nhà vườn, tận hưởng không khí trong lành và lòng mến khách của người dân nơi đây. Ban tổ chức lễ hội cũng chuẩn bị nhiều hoạt động vui chơi giải trí phục vụ du khách như: chương trình văn nghệ hàng đêm, giao lưu đờn ca tài tử, hội thi mô hình vườn kiểu mẫu đạt chuẩn, hội thi đặc sản trái cây Long Khánh, hội thi trưng bày mô hình trái cây nghệ thuật...

Đông đảo du khách tham gia Lễ hội trái cây Long Khánh - Mùa trái chín 2018

Lễ hội trái cây "Long Khánh - Mùa trái chín" là hoạt động nhằm quảng bá những nét đặc trưng về trái cây và ẩm thực của thị xã Long Khánh đến với du khách trong và ngoài tỉnh, xây dựng tuyến du lịch Long Khánh với sản phẩm du lịch phong phú, đa dạng.

Related Figures

Lễ hội văn hóa thổ cẩm Việt Nam

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 27/12- 30/12 Dương lịch Lễ hội văn hóa thổ cẩm Việt Nam lần đầu tiên được tổ chức tại xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông từ ngày 27-30/12/2018 nhằm tôn vinh nghề dệt thổ cẩm. Lễ hội cũng là hoạt động hướng đến kỷ niệm 15 năm ngày thành lập tỉnh Đắk Nông (01/01/2004 - 01/01/2019). Lễ hội Văn hóa thổ cẩm Việt Nam diễn ra cuối năm 2018 Nhắc tới thổ cẩm, người ta nghĩ ngay tới nét giá trị văn hóa giúp phân biệt sắc thái giữa các dân tộc trên mọi miền tổ quốc. Thổ cẩm không chỉ đơn thuần là đồ dùng mà còn là sản phẩm văn hóa đặc trưng của mỗi dân tộc. Thông qua trang phục truyền thống, người ta có thể nhận biết xu hướng, khả năng sáng tạo, thẩm mỹ của mỗi cộng đồng văn hóa. Trang phục truyền thống của các dân tộc rất phong phú về mẫu mã cũng như chủng loại. Mỗi bộ trang phục đều có màu sắc, đường nét, hoa văn trang trí riêng biệt, thể hiện quan niệm về thế giới quan, nhân sinh quan sâu sắc trên từng sắc vải. Đây là di sản văn hóa quý giá cần được bảo tồn và phát triển. Lễ hội Văn hóa thổ cẩm Việt Nam nhằm tôn vinh nghề dệt thổ cẩm Tuy nhiên, di sản này đang dần bị mai một, người dân ít mặn mà với các trang phục truyền thống. Chính vì vậy, việc tổ chức lễ hội văn hóa thổ cẩm Việt Nam có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo tồn, khôi phục và phát huy bản sắc văn hóa đặc trưng của trang phục truyền thống các dân tộc Việt Nam. Lễ hội cũng là dịp để giới thiệu, quảng bá tiềm năng, thế mạnh phát triển du lịch và giá trị di sản văn hóa các dân tộc tỉnh Đắk Nông trong công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển. Đây cũng là cơ hội để các nghệ nhân các dân tộc thiểu số trong tỉnh và cả nước có dịp giao lưu, học tập và trao đổi kinh nghiệm nhằm thắt chặt hơn nữa tình đoàn kết, gắn bó và tự hào dân tộc. Theo kế hoạch, lễ hội bao gồm nhiều chương trình hấp dẫn như: trình diễn trang phục truyền thống và thời trang, thi dệt thổ cẩm, hội nghị tọa đàm về văn hóa thổ cẩm, hội chợ thương mại về sản phẩm thổ cẩm... Lễ khai mạc mang chủ để "Thổ cẩm Việt hội tụ - tỏa sáng năm châu" được tổ chức lúc 20h ngày 27/12 với nhiều chương trình nghệ thuật đặc sắc. Lễ bế mạc diễn ra lúc 20h ngày 30/12 với chủ đề "Đắk Nông - Bình minh vẫy gọi". Lễ hội Văn hóa thổ cẩm Việt Nam là sự kiện lớn được tổ chức tại Đắk Nông Lễ hội Văn hóa thổ cẩm Việt Nam là sự kiện văn hóa lớn của tỉnh Đắk Nông. Dự kiến lễ hội sẽ được tổ chức định kỳ 2 năm/lần, quy mô lễ hội dự kiến sẽ được mở rộng dần với việc mời thêm một số tỉnh thành trên cả nước, tiến tới mời thêm một số nước trên thế giới tham gia.

Lễ hội Văn hóa thổ cẩm Việt Nam diễn ra cuối năm 2018 Nhắc tới thổ cẩm, người ta nghĩ ngay tới nét giá trị văn hóa giúp phân biệt sắc thái giữa các dân tộc trên mọi miền tổ quốc. Thổ cẩm không chỉ đơn thuần là đồ dùng mà còn là sản phẩm văn hóa đặc trưng của mỗi dân tộc. Thông qua trang phục truyền thống, người ta có thể nhận biết xu hướng, khả năng sáng tạo, thẩm mỹ của mỗi cộng đồng văn hóa. Trang phục truyền thống của các dân tộc rất phong phú về mẫu mã cũng như chủng loại. Mỗi bộ trang phục đều có màu sắc, đường nét, hoa văn trang trí riêng biệt, thể hiện quan niệm về thế giới quan, nhân sinh quan sâu sắc trên từng sắc vải. Đây là di sản văn hóa quý giá cần được bảo tồn và phát triển. Lễ hội Văn hóa thổ cẩm Việt Nam nhằm tôn vinh nghề dệt thổ cẩm Tuy nhiên, di sản này đang dần bị mai một, người dân ít mặn mà với các trang phục truyền thống. Chính vì vậy, việc tổ chức lễ hội văn hóa thổ cẩm Việt Nam có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo tồn, khôi phục và phát huy bản sắc văn hóa đặc trưng của trang phục truyền thống các dân tộc Việt Nam. Lễ hội cũng là dịp để giới thiệu, quảng bá tiềm năng, thế mạnh phát triển du lịch và giá trị di sản văn hóa các dân tộc tỉnh Đắk Nông trong công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển. Đây cũng là cơ hội để các nghệ nhân các dân tộc thiểu số trong tỉnh và cả nước có dịp giao lưu, học tập và trao đổi kinh nghiệm nhằm thắt chặt hơn nữa tình đoàn kết, gắn bó và tự hào dân tộc. Theo kế hoạch, lễ hội bao gồm nhiều chương trình hấp dẫn như: trình diễn trang phục truyền thống và thời trang, thi dệt thổ cẩm, hội nghị tọa đàm về văn hóa thổ cẩm, hội chợ thương mại về sản phẩm thổ cẩm... Lễ khai mạc mang chủ để "Thổ cẩm Việt hội tụ - tỏa sáng năm châu" được tổ chức lúc 20h ngày 27/12 với nhiều chương trình nghệ thuật đặc sắc. Lễ bế mạc diễn ra lúc 20h ngày 30/12 với chủ đề "Đắk Nông - Bình minh vẫy gọi". Lễ hội Văn hóa thổ cẩm Việt Nam là sự kiện lớn được tổ chức tại Đắk Nông Lễ hội Văn hóa thổ cẩm Việt Nam là sự kiện văn hóa lớn của tỉnh Đắk Nông. Dự kiến lễ hội sẽ được tổ chức định kỳ 2 năm/lần, quy mô lễ hội dự kiến sẽ được mở rộng dần với việc mời thêm một số tỉnh thành trên cả nước, tiến tới mời thêm một số nước trên thế giới tham gia.

Nhắc tới thổ cẩm, người ta nghĩ ngay tới nét giá trị văn hóa giúp phân biệt sắc thái giữa các dân tộc trên mọi miền tổ quốc. Thổ cẩm không chỉ đơn thuần là đồ dùng mà còn là sản phẩm văn hóa đặc trưng của mỗi dân tộc. Thông qua trang phục truyền thống, người ta có thể nhận biết xu hướng, khả năng sáng tạo, thẩm mỹ của mỗi cộng đồng văn hóa. Trang phục truyền thống của các dân tộc rất phong phú về mẫu mã cũng như chủng loại. Mỗi bộ trang phục đều có màu sắc, đường nét, hoa văn trang trí riêng biệt, thể hiện quan niệm về thế giới quan, nhân sinh quan sâu sắc trên từng sắc vải. Đây là di sản văn hóa quý giá cần được bảo tồn và phát triển.

Lễ hội Văn hóa thổ cẩm Việt Nam nhằm tôn vinh nghề dệt thổ cẩm

Tuy nhiên, di sản này đang dần bị mai một, người dân ít mặn mà với các trang phục truyền thống. Chính vì vậy, việc tổ chức lễ hội văn hóa thổ cẩm Việt Nam có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo tồn, khôi phục và phát huy bản sắc văn hóa đặc trưng của trang phục truyền thống các dân tộc Việt Nam. Lễ hội cũng là dịp để giới thiệu, quảng bá tiềm năng, thế mạnh phát triển du lịch và giá trị di sản văn hóa các dân tộc tỉnh Đắk Nông trong công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển. Đây cũng là cơ hội để các nghệ nhân các dân tộc thiểu số trong tỉnh và cả nước có dịp giao lưu, học tập và trao đổi kinh nghiệm nhằm thắt chặt hơn nữa tình đoàn kết, gắn bó và tự hào dân tộc.

Theo kế hoạch, lễ hội bao gồm nhiều chương trình hấp dẫn như: trình diễn trang phục truyền thống và thời trang, thi dệt thổ cẩm, hội nghị tọa đàm về văn hóa thổ cẩm, hội chợ thương mại về sản phẩm thổ cẩm... Lễ khai mạc mang chủ để "Thổ cẩm Việt hội tụ - tỏa sáng năm châu" được tổ chức lúc 20h ngày 27/12 với nhiều chương trình nghệ thuật đặc sắc. Lễ bế mạc diễn ra lúc 20h ngày 30/12 với chủ đề "Đắk Nông - Bình minh vẫy gọi".

Lễ hội Văn hóa thổ cẩm Việt Nam là sự kiện lớn được tổ chức tại Đắk Nông

Lễ hội Văn hóa thổ cẩm Việt Nam là sự kiện văn hóa lớn của tỉnh Đắk Nông. Dự kiến lễ hội sẽ được tổ chức định kỳ 2 năm/lần, quy mô lễ hội dự kiến sẽ được mở rộng dần với việc mời thêm một số tỉnh thành trên cả nước, tiến tới mời thêm một số nước trên thế giới tham gia.

Related Figures

Tuần du lịch Ninh Bình năm 2018 với chủ để Sắc vàng Tam Cốc - Tràng An

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 9/6- 16/6 Dương lịch Tuần du lịch Ninh Bình năm 2018 với chủ đề "Sắc vàng Tam Cốc - Tràng An" diễn ra từ ngày 9-16/6, là sự kiện du lịch quan trọng lần đầu tiên được tổ chức nằm trong chuỗi hoạt động chào mừng kỷ niệm 1050 năm Nhà nước Đại Cồ Việt (năm 968-2018). Tuần du lịch Ninh Bình năm 2018 với chủ để Sắc vàng Tam Cốc - Tràng An Ngày 9/6, tại bến thuyền Tam Cốc (xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư) UBND tỉnh Ninh Bình đã tổ chức lễ khai mạc Tuần du lịch Ninh Bình với sự tham dự của đại diện Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; lãnh đạo tỉnh Ninh Bình cùng đông đảo du khách trong và ngoài nước. Khai mạc Tuần du lịch Ninh Bình năm 2018 Nằm trong quần thể danh thắng Tràng An, khu du lịch Tam Cốc - Bích Động được biết đến là một trong những cánh đồng đẹp nhất Việt Nam. Tại đây đang hình thành nhiều loại hình du lịch như: du lịch sinh thái, du lịch văn hóa tâm linh, cộng đồng... Tháng 6 hàng năm là thời điểm Tam Cốc - Bích Động đẹp và ấn tượng nhất khi sắc vàng của cánh đồng lúa chính như thảm lụa rực rỡ, nằm hai bên bờ sông Ngô Đồng thơ mộng, chảy quanh những dãy núi đá muôn hình vạn khối, luồn qua hang Cả, hang Hai, hai Ba tới đền Suối Tiên. Không chỉ mang đến vẻ đẹp thiên nhiên, giá trị địa chất địa mạo của Tam Cốc - Bích Động còn ẩn chứa nhiều giá trị văn hóa, lịch sử của vùng đất cố đô. Tuần lễ du lịch "Sắc vàng Tam Cốc - Tràng An" diễn ra với nhiều hoạt động sôi nổi như: Hội chợ triển lãm, trình diễn nghệ thuật thêu ren cổ truyền Văn lâm, phố đi bộ và chợ ẩm thực Tam Cốc, triển lãm ảnh nghệ thuật với chủ đề "Mùa vàng Tam Cốc - Tràng An"... Bên cạnh đó, người dân và du khách đã được thưởng thức những tiết mục nghệ thuật đặc sắc như: múa rối nước, hát chèo, hát xẩm... Đặc biệt, còn được ngồi thuyền xuôi dòng sông Ngô Đồng ngắm cánh đồng lúa chín... Rước rồng trên sông Ngô Đồng trong Tuần du lịch Ninh Bình Tuần du lịch Ninh Bình năm 2018 nhằm giới thiệu, quảng bá những nét đặc sắc, hấp dẫn về tài nguyên du lịch của Ninh Bình - một vùng đất cổ với những bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp, vừa hùng vĩ vừa thơ mộng làm say đắm lòng người.

Tuần du lịch Ninh Bình năm 2018 với chủ để Sắc vàng Tam Cốc - Tràng An Ngày 9/6, tại bến thuyền Tam Cốc (xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư) UBND tỉnh Ninh Bình đã tổ chức lễ khai mạc Tuần du lịch Ninh Bình với sự tham dự của đại diện Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; lãnh đạo tỉnh Ninh Bình cùng đông đảo du khách trong và ngoài nước. Khai mạc Tuần du lịch Ninh Bình năm 2018 Nằm trong quần thể danh thắng Tràng An, khu du lịch Tam Cốc - Bích Động được biết đến là một trong những cánh đồng đẹp nhất Việt Nam. Tại đây đang hình thành nhiều loại hình du lịch như: du lịch sinh thái, du lịch văn hóa tâm linh, cộng đồng... Tháng 6 hàng năm là thời điểm Tam Cốc - Bích Động đẹp và ấn tượng nhất khi sắc vàng của cánh đồng lúa chính như thảm lụa rực rỡ, nằm hai bên bờ sông Ngô Đồng thơ mộng, chảy quanh những dãy núi đá muôn hình vạn khối, luồn qua hang Cả, hang Hai, hai Ba tới đền Suối Tiên. Không chỉ mang đến vẻ đẹp thiên nhiên, giá trị địa chất địa mạo của Tam Cốc - Bích Động còn ẩn chứa nhiều giá trị văn hóa, lịch sử của vùng đất cố đô. Tuần lễ du lịch "Sắc vàng Tam Cốc - Tràng An" diễn ra với nhiều hoạt động sôi nổi như: Hội chợ triển lãm, trình diễn nghệ thuật thêu ren cổ truyền Văn lâm, phố đi bộ và chợ ẩm thực Tam Cốc, triển lãm ảnh nghệ thuật với chủ đề "Mùa vàng Tam Cốc - Tràng An"... Bên cạnh đó, người dân và du khách đã được thưởng thức những tiết mục nghệ thuật đặc sắc như: múa rối nước, hát chèo, hát xẩm... Đặc biệt, còn được ngồi thuyền xuôi dòng sông Ngô Đồng ngắm cánh đồng lúa chín... Rước rồng trên sông Ngô Đồng trong Tuần du lịch Ninh Bình Tuần du lịch Ninh Bình năm 2018 nhằm giới thiệu, quảng bá những nét đặc sắc, hấp dẫn về tài nguyên du lịch của Ninh Bình - một vùng đất cổ với những bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp, vừa hùng vĩ vừa thơ mộng làm say đắm lòng người.

Ngày 9/6, tại bến thuyền Tam Cốc (xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư) UBND tỉnh Ninh Bình đã tổ chức lễ khai mạc Tuần du lịch Ninh Bình với sự tham dự của đại diện Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; lãnh đạo tỉnh Ninh Bình cùng đông đảo du khách trong và ngoài nước.

Khai mạc Tuần du lịch Ninh Bình năm 2018

Nằm trong quần thể danh thắng Tràng An, khu du lịch Tam Cốc - Bích Động được biết đến là một trong những cánh đồng đẹp nhất Việt Nam. Tại đây đang hình thành nhiều loại hình du lịch như: du lịch sinh thái, du lịch văn hóa tâm linh, cộng đồng... Tháng 6 hàng năm là thời điểm Tam Cốc - Bích Động đẹp và ấn tượng nhất khi sắc vàng của cánh đồng lúa chính như thảm lụa rực rỡ, nằm hai bên bờ sông Ngô Đồng thơ mộng, chảy quanh những dãy núi đá muôn hình vạn khối, luồn qua hang Cả, hang Hai, hai Ba tới đền Suối Tiên. Không chỉ mang đến vẻ đẹp thiên nhiên, giá trị địa chất địa mạo của Tam Cốc - Bích Động còn ẩn chứa nhiều giá trị văn hóa, lịch sử của vùng đất cố đô.

Tuần lễ du lịch "Sắc vàng Tam Cốc - Tràng An" diễn ra với nhiều hoạt động sôi nổi như: Hội chợ triển lãm, trình diễn nghệ thuật thêu ren cổ truyền Văn lâm, phố đi bộ và chợ ẩm thực Tam Cốc, triển lãm ảnh nghệ thuật với chủ đề "Mùa vàng Tam Cốc - Tràng An"...

Bên cạnh đó, người dân và du khách đã được thưởng thức những tiết mục nghệ thuật đặc sắc như: múa rối nước, hát chèo, hát xẩm... Đặc biệt, còn được ngồi thuyền xuôi dòng sông Ngô Đồng ngắm cánh đồng lúa chín...

Rước rồng trên sông Ngô Đồng trong Tuần du lịch Ninh Bình

Tuần du lịch Ninh Bình năm 2018 nhằm giới thiệu, quảng bá những nét đặc sắc, hấp dẫn về tài nguyên du lịch của Ninh Bình - một vùng đất cổ với những bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp, vừa hùng vĩ vừa thơ mộng làm say đắm lòng người.

Related Figures

Tưng bừng hội vật truyền thống chùa Cao xã Hạ Bằng - Thạch Thất

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 13/1- 15/1 Âm lịch Hội vật truyền thống chùa Cao (xã Hạ Bằng, huyện Thạch Thất, Hà Nội) là một trong những lễ hội lớn, có uy tín được tổ chức vào dịp đầu xuân mới từ 13-15 tháng Giêng thu hút nhiều đô vật giỏi từ khắp nơi trên cả nước về tham dự. Hội vật có chất lượng chuyên môn cao đã trở thành thông lệ hàng năm của làng. Hội vật truyền thống chùa Cao là nét văn hóa lâu đời của người dân Hạ Bằng Đến với hội vật truyền thống chùa Cao, khán giả không chỉ được thưởng thức những màn so tài hấp dẫn mà còn được sống trong không gian văn hóa có truyền thống lịch sử lâu đời. Lễ rước trong hội vật truyền thống chùa Cao Mở đầu hội vật bao giờ cũng là phần tế lễ và rước thần linh diễn ra trong không khí trang nghiêm. Theo truyền thuyết, bà Lê Chân nữ tướng tiên phong của Hai Bà Trưng xưa kia dùng môn vật để tuyển chọn binh lính. Vì vậy, mỗi khi xã Hạ Bằng mở hội vật đều phải làm lễ xin phép Bà đồng thời để tưởng niệm và ôn lại những chiến công của bà Lê Chân thuở trước. Hàng nghìn người tham gia hội vật truyền thống chùa Cao Hội vật chùa Cao thi đấu ở ba lứa tuổi: Nhi đồng, thiếu niên và thanh niên. Đối với các đô vật, lên sới vật đầu xuân không chỉ thể hiện sức khỏe, bản lĩnh thi đấu mà còn thể hiện tinh thần hăng hái vượt qua khó khăn, chinh phục thử thách. Những đô vật lên sới thi đấu với niềm tự hào về một vùng đất giàu bản sắc văn hóa, với khát vọng rèn luyện, học tập xây dựng quê hương. Lễ hội vật truyền thống chùa Cao là nét đẹp văn hóa lâu đời cần được bảo tồn và phát triển. Hội vật góp phần giữ gìn và phát huy tinh thần thượng võ từ bao đời nay của làng.

Hội vật truyền thống chùa Cao là nét văn hóa lâu đời của người dân Hạ Bằng Đến với hội vật truyền thống chùa Cao, khán giả không chỉ được thưởng thức những màn so tài hấp dẫn mà còn được sống trong không gian văn hóa có truyền thống lịch sử lâu đời. Lễ rước trong hội vật truyền thống chùa Cao Mở đầu hội vật bao giờ cũng là phần tế lễ và rước thần linh diễn ra trong không khí trang nghiêm. Theo truyền thuyết, bà Lê Chân nữ tướng tiên phong của Hai Bà Trưng xưa kia dùng môn vật để tuyển chọn binh lính. Vì vậy, mỗi khi xã Hạ Bằng mở hội vật đều phải làm lễ xin phép Bà đồng thời để tưởng niệm và ôn lại những chiến công của bà Lê Chân thuở trước. Hàng nghìn người tham gia hội vật truyền thống chùa Cao Hội vật chùa Cao thi đấu ở ba lứa tuổi: Nhi đồng, thiếu niên và thanh niên. Đối với các đô vật, lên sới vật đầu xuân không chỉ thể hiện sức khỏe, bản lĩnh thi đấu mà còn thể hiện tinh thần hăng hái vượt qua khó khăn, chinh phục thử thách. Những đô vật lên sới thi đấu với niềm tự hào về một vùng đất giàu bản sắc văn hóa, với khát vọng rèn luyện, học tập xây dựng quê hương. Lễ hội vật truyền thống chùa Cao là nét đẹp văn hóa lâu đời cần được bảo tồn và phát triển. Hội vật góp phần giữ gìn và phát huy tinh thần thượng võ từ bao đời nay của làng.

Đến với hội vật truyền thống chùa Cao, khán giả không chỉ được thưởng thức những màn so tài hấp dẫn mà còn được sống trong không gian văn hóa có truyền thống lịch sử lâu đời.

Lễ rước trong hội vật truyền thống chùa Cao

Mở đầu hội vật bao giờ cũng là phần tế lễ và rước thần linh diễn ra trong không khí trang nghiêm. Theo truyền thuyết, bà Lê Chân nữ tướng tiên phong của Hai Bà Trưng xưa kia dùng môn vật để tuyển chọn binh lính. Vì vậy, mỗi khi xã Hạ Bằng mở hội vật đều phải làm lễ xin phép Bà đồng thời để tưởng niệm và ôn lại những chiến công của bà Lê Chân thuở trước.

Hàng nghìn người tham gia hội vật truyền thống chùa Cao

Hội vật chùa Cao thi đấu ở ba lứa tuổi: Nhi đồng, thiếu niên và thanh niên. Đối với các đô vật, lên sới vật đầu xuân không chỉ thể hiện sức khỏe, bản lĩnh thi đấu mà còn thể hiện tinh thần hăng hái vượt qua khó khăn, chinh phục thử thách. Những đô vật lên sới thi đấu với niềm tự hào về một vùng đất giàu bản sắc văn hóa, với khát vọng rèn luyện, học tập xây dựng quê hương.

Lễ hội vật truyền thống chùa Cao là nét đẹp văn hóa lâu đời cần được bảo tồn và phát triển. Hội vật góp phần giữ gìn và phát huy tinh thần thượng võ từ bao đời nay của làng.

Lễ hội vật truyền thống chùa Cao là nét đẹp văn hóa lâu đời cần được bảo tồn và phát triển. Hội vật góp phần giữ gìn và phát huy tinh thần thượng võ từ bao đời nay của làng.

Related Figures

Lễ hội cổ truyền Thúy Lai

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 6/1- 10/1 Âm lịch Lễ hội cổ truyền Thúy Lai (xã Phú Kim, huyện Thạch Thất, Hà Nội) được tổ chức từ ngày 6-10 tháng Giêng âm lịch hàng năm. Mỗi ngày hội đều có những lễ thức đặc trưng, mùng 6 đóng đám và làm lễ mộc dục, mùng 7 rước phụng nghinh, mùng 8 khám gà, mùng 9 lễ thượng nguyên và mùng 10 giã đám. Đoàn rước trong lễ hội truyền thống làng Thúy Lai Thúy Lai là một làng Việt cổ bên bờ sông Tích, là nơi ghi dấu nhiều sự kiện văn hóa lịch sử. Tương truyền, quán Sải là mộ phần của ba vị Thành hoàng làng nằm ở vị thế đắc địa trên khu đất cánh đồng làng Thúy Lai. Đình và quán Sải thờ ba vị tướng công họ Chu. Đây không chỉ là nơi thờ cúng mà còn là nơi dân làng tổ chức lễ hội truyền thống biểu hiện văn hóa tinh thần của làng. Lễ hội truyền thống của làng diễn ra trong 5 ngày từ mùng 6 đến mùng 10. Đánh trống khai hội truyền thống làng Thúy Lai Sau phần đóng đám và lễ mộc dục ngày 6 tháng Giêng, đến ngày mùng 7 dân làng tổ chức rước phụng nghinh, rước kiệu từ đình về quán Sải để mời thần từ quán Sải về đình dự hội với dân làng. Đoàn rước khi đến cầu Đồng Đón thì có lệnh dừng lại nghỉ ngơi. Trong thời gian nghỉ ngợi, mọi người trong đoàn rước được thưởng thức một bữa ăn nhẹ trên đồng theo tập quán xưa. Đồ ăn là bánh rậm được chế biến bằng bột gạo tinh khiết của làng quê. Cuộc rước diễn ra từ chiều đến nhá nhem tối mới về tới đình làng. Mỗi người trong đoàn rước đều chuẩn bị một bó đuốc bằng tre khô. Khi có lệnh đốt đuốc thì cả hội lễ rước thành một rừng đuốc. Khi kiệu được rước về tới đình thì làm lễ yên vị. Sau đó, sẽ có biểu diễn chèo hoặc ca trù ở sân đình. ANh2 Ngày 8 tháng Giêng tổ chức Hội khám gà. Làng Thúy Lai có 4 giáp (giáp Đoài, giáp Đông, giáp Nam, giáp Bắc), mỗi giáp được thi hai gà. Người nuôi gà phải là đàn ông được trưởng giáp phân công, chỉ định. Gà được nuôi ở trong nhà, trước khi cho ăn phải thắp hương. Thức ăn đều là ngũ cốc tinh khiết, đều và đẹp, có hàm lượng dinh dưỡng cao. Sau khi cân gà xong, gà sẽ được mổ làm lễ vật để tế Thành hoàng. Gà phải được mổ khéo léo, đem hấp cách thủy, hai cánh uốn cong như chim phượng đang bay. Gà chín được đặt lên giữa mâm xôi. Xôi được đồ bằng gạo nếp cấy trồng từ đồng ruộng Thúy Lai. Nước đồ xôi phải được lấy từ giếng của làng Hương Ngải đem về. Cùng ngày với thi gà thi xôi còn có cả thi chè kho. Chè kho được nấu từ đậu xanh và mật mía. Không chỉ chọn đậu và mật công phu, người dân còn phải thức suốt một đêm mới có thể nấu được một nồi chè ngon. Ngoài ra, hội làng Thúy Lai còn có thổi cơm thi được tổ chức ở sân đình. Thông thường sẽ có 10 cặp dự thi trở lên, mỗi cặp gồm 1 ông và 1 bà. Ông đi trước trên vai gồng niêu đất, chạy chậm xung quanh sân bàn cờ. Bà đi sau cầm đuốc để nấu cơm. Niêu cơm nào chín, ngon, dẻo nhất sẽ đạt giải. Lễ hội làng Thúy Lai gắn liền với truyền thống trồng lúa nước của người dân nơi đây. Lễ hội là hoạt động văn hóa không thể thiếu trong dịp đầu xuân năm mới, cầu bình an cho dân làng, gắn kết cư dân trong cộng đồng.

Đoàn rước trong lễ hội truyền thống làng Thúy Lai Thúy Lai là một làng Việt cổ bên bờ sông Tích, là nơi ghi dấu nhiều sự kiện văn hóa lịch sử. Tương truyền, quán Sải là mộ phần của ba vị Thành hoàng làng nằm ở vị thế đắc địa trên khu đất cánh đồng làng Thúy Lai. Đình và quán Sải thờ ba vị tướng công họ Chu. Đây không chỉ là nơi thờ cúng mà còn là nơi dân làng tổ chức lễ hội truyền thống biểu hiện văn hóa tinh thần của làng. Lễ hội truyền thống của làng diễn ra trong 5 ngày từ mùng 6 đến mùng 10. Đánh trống khai hội truyền thống làng Thúy Lai Sau phần đóng đám và lễ mộc dục ngày 6 tháng Giêng, đến ngày mùng 7 dân làng tổ chức rước phụng nghinh, rước kiệu từ đình về quán Sải để mời thần từ quán Sải về đình dự hội với dân làng. Đoàn rước khi đến cầu Đồng Đón thì có lệnh dừng lại nghỉ ngơi. Trong thời gian nghỉ ngợi, mọi người trong đoàn rước được thưởng thức một bữa ăn nhẹ trên đồng theo tập quán xưa. Đồ ăn là bánh rậm được chế biến bằng bột gạo tinh khiết của làng quê. Cuộc rước diễn ra từ chiều đến nhá nhem tối mới về tới đình làng. Mỗi người trong đoàn rước đều chuẩn bị một bó đuốc bằng tre khô. Khi có lệnh đốt đuốc thì cả hội lễ rước thành một rừng đuốc. Khi kiệu được rước về tới đình thì làm lễ yên vị. Sau đó, sẽ có biểu diễn chèo hoặc ca trù ở sân đình. ANh2 Ngày 8 tháng Giêng tổ chức Hội khám gà. Làng Thúy Lai có 4 giáp (giáp Đoài, giáp Đông, giáp Nam, giáp Bắc), mỗi giáp được thi hai gà. Người nuôi gà phải là đàn ông được trưởng giáp phân công, chỉ định. Gà được nuôi ở trong nhà, trước khi cho ăn phải thắp hương. Thức ăn đều là ngũ cốc tinh khiết, đều và đẹp, có hàm lượng dinh dưỡng cao. Sau khi cân gà xong, gà sẽ được mổ làm lễ vật để tế Thành hoàng. Gà phải được mổ khéo léo, đem hấp cách thủy, hai cánh uốn cong như chim phượng đang bay. Gà chín được đặt lên giữa mâm xôi. Xôi được đồ bằng gạo nếp cấy trồng từ đồng ruộng Thúy Lai. Nước đồ xôi phải được lấy từ giếng của làng Hương Ngải đem về. Cùng ngày với thi gà thi xôi còn có cả thi chè kho. Chè kho được nấu từ đậu xanh và mật mía. Không chỉ chọn đậu và mật công phu, người dân còn phải thức suốt một đêm mới có thể nấu được một nồi chè ngon. Ngoài ra, hội làng Thúy Lai còn có thổi cơm thi được tổ chức ở sân đình. Thông thường sẽ có 10 cặp dự thi trở lên, mỗi cặp gồm 1 ông và 1 bà. Ông đi trước trên vai gồng niêu đất, chạy chậm xung quanh sân bàn cờ. Bà đi sau cầm đuốc để nấu cơm. Niêu cơm nào chín, ngon, dẻo nhất sẽ đạt giải. Lễ hội làng Thúy Lai gắn liền với truyền thống trồng lúa nước của người dân nơi đây. Lễ hội là hoạt động văn hóa không thể thiếu trong dịp đầu xuân năm mới, cầu bình an cho dân làng, gắn kết cư dân trong cộng đồng.

Thúy Lai là một làng Việt cổ bên bờ sông Tích, là nơi ghi dấu nhiều sự kiện văn hóa lịch sử. Tương truyền, quán Sải là mộ phần của ba vị Thành hoàng làng nằm ở vị thế đắc địa trên khu đất cánh đồng làng Thúy Lai. Đình và quán Sải thờ ba vị tướng công họ Chu. Đây không chỉ là nơi thờ cúng mà còn là nơi dân làng tổ chức lễ hội truyền thống biểu hiện văn hóa tinh thần của làng. Lễ hội truyền thống của làng diễn ra trong 5 ngày từ mùng 6 đến mùng 10.

Đánh trống khai hội truyền thống làng Thúy Lai

Sau phần đóng đám và lễ mộc dục ngày 6 tháng Giêng, đến ngày mùng 7 dân làng tổ chức rước phụng nghinh, rước kiệu từ đình về quán Sải để mời thần từ quán Sải về đình dự hội với dân làng. Đoàn rước khi đến cầu Đồng Đón thì có lệnh dừng lại nghỉ ngơi. Trong thời gian nghỉ ngợi, mọi người trong đoàn rước được thưởng thức một bữa ăn nhẹ trên đồng theo tập quán xưa. Đồ ăn là bánh rậm được chế biến bằng bột gạo tinh khiết của làng quê. Cuộc rước diễn ra từ chiều đến nhá nhem tối mới về tới đình làng. Mỗi người trong đoàn rước đều chuẩn bị một bó đuốc bằng tre khô. Khi có lệnh đốt đuốc thì cả hội lễ rước thành một rừng đuốc. Khi kiệu được rước về tới đình thì làm lễ yên vị. Sau đó, sẽ có biểu diễn chèo hoặc ca trù ở sân đình.

ANh2

Ngày 8 tháng Giêng tổ chức Hội khám gà. Làng Thúy Lai có 4 giáp (giáp Đoài, giáp Đông, giáp Nam, giáp Bắc), mỗi giáp được thi hai gà. Người nuôi gà phải là đàn ông được trưởng giáp phân công, chỉ định. Gà được nuôi ở trong nhà, trước khi cho ăn phải thắp hương. Thức ăn đều là ngũ cốc tinh khiết, đều và đẹp, có hàm lượng dinh dưỡng cao. Sau khi cân gà xong, gà sẽ được mổ làm lễ vật để tế Thành hoàng. Gà phải được mổ khéo léo, đem hấp cách thủy, hai cánh uốn cong như chim phượng đang bay. Gà chín được đặt lên giữa mâm xôi. Xôi được đồ bằng gạo nếp cấy trồng từ đồng ruộng Thúy Lai. Nước đồ xôi phải được lấy từ giếng của làng Hương Ngải đem về. Cùng ngày với thi gà thi xôi còn có cả thi chè kho.

Chè kho được nấu từ đậu xanh và mật mía. Không chỉ chọn đậu và mật công phu, người dân còn phải thức suốt một đêm mới có thể nấu được một nồi chè ngon. Ngoài ra, hội làng Thúy Lai còn có thổi cơm thi được tổ chức ở sân đình. Thông thường sẽ có 10 cặp dự thi trở lên, mỗi cặp gồm 1 ông và 1 bà. Ông đi trước trên vai gồng niêu đất, chạy chậm xung quanh sân bàn cờ. Bà đi sau cầm đuốc để nấu cơm. Niêu cơm nào chín, ngon, dẻo nhất sẽ đạt giải.

Lễ hội làng Thúy Lai gắn liền với truyền thống trồng lúa nước của người dân nơi đây. Lễ hội là hoạt động văn hóa không thể thiếu trong dịp đầu xuân năm mới, cầu bình an cho dân làng, gắn kết cư dân trong cộng đồng.

Related Figures

Nét văn hóa độc đáo trong lễ hội thổi cơm thi

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 4/1 Âm lịch Hàng năm, vào ngày 4 tháng Giêng, ở đình làng Kim, xã Kim Quan, huyện Thạch Thất, Hà Nội diễn ra lễ hội thổi cơm thi. Đây là phong tục độc đáo của làng mỗi dịp xuân về, để cầu chúc cho dân làng một năm mới ấm no, hạnh phúc, mọi nhà bình yên. Hội thổi cơm thi Thạch Thất thu hút đông đảo người dân tham gia Mỗi dịp Tết đến xuân về, người dân ở xã Kim Quan lại nô lức tề tựu về sân đình làng Kim để tham gia các trò chơi hấp dẫn trong lễ hội truyền thống. Đặc biệt nhất phải kể tới trò thi thổi cơm niêu rất độc đáo. Với người dân nơi đây, thổi cơm thi vừa có ý nghĩa giáo dục con cháu truyền thống uống nước nhớ nguồn, trân trọng giá trị cây lúa, đồng thời cũng là một trò vui giải trí trong ngày hội. Niêu cơm trong hội thổi cơm thi Thạch Thất được cố định bằng dây thép Ở làng Kim Quan, thổi cơm thi thể hiện độ khó ở chỗ, mỗi đội thi sẽ có 4 người, niêu cơm được cố định bằng những sợi dây thép treo dưới một cây gậy dài 2m. Hai người sẽ gánh 2 đầu gậy, 2 người còn lại có nhiệm vụ đốt lửa vào đáy niêu cơm cho đến khi cơm chín. Các đội tham gia thổi cơm thi phải di chuyển liên tục quanh một vòng tròn lớn tại sân đình. Đội nào dừng lại sẽ bị coi là phạm luật. 4 người trong đội phải phối hợp chặt chẽ với nhau, hiểu ý nhau, điều tiết cho nhau trong các động tác đun nấu. Vì niêu cơm luôn di chuyển theo nhịp bước của hai người phụ nữ gánh trên vai lên người đốt lửa cũng phải chuyển động theo nhịp bước ấy thì mới kề sát được đáy niêu. Nếu không phối hợp tốt, ngọn lửa không bám được niêu cơm sẽ dẫn đến tình trạng cơm sống hoặc chín không đều hay không kịp thời gian. Một đội thi trong hội thổi cơm thi ở Thạch Thất Đến khi nước trong niêu cơm đã cạn, người tham gia phải khéo léo bớt lửa để cơm không bị cháy. Bớt lửa nhưng không được phép rút bớt đóm quăng đi mà phải điều chính bằng cách xoay bó đuốc hoặc tiến lùi bước chân. Sau khi cơm chín sẽ được lấy ra để các cụ cao niên trong làng làm lễ và chấm thi. Nồi cơm trắng, dẻo, thơm ngon nhất sẽ dành chiến thắng. Cùng với trò thổi cơm thi, thanh niên trai tráng trong làng cũng thích thú tham gia trò bịt mắt đập niêu. Hội thổi cơm thi là món ăn tinh thần không thể thiếu cho người dân xã Kim Quan, huyện Thạch Thất trong dịp đầu xuân năm mới.

Hàng năm, vào ngày 4 tháng Giêng, ở đình làng Kim, xã Kim Quan, huyện Thạch Thất, Hà Nội diễn ra lễ hội thổi cơm thi. Đây là phong tục độc đáo của làng mỗi dịp xuân về, để cầu chúc cho dân làng một năm mới ấm no, hạnh phúc, mọi nhà bình yên.

Hội thổi cơm thi Thạch Thất thu hút đông đảo người dân tham gia

Mỗi dịp Tết đến xuân về, người dân ở xã Kim Quan lại nô lức tề tựu về sân đình làng Kim để tham gia các trò chơi hấp dẫn trong lễ hội truyền thống. Đặc biệt nhất phải kể tới trò thi thổi cơm niêu rất độc đáo. Với người dân nơi đây, thổi cơm thi vừa có ý nghĩa giáo dục con cháu truyền thống uống nước nhớ nguồn, trân trọng giá trị cây lúa, đồng thời cũng là một trò vui giải trí trong ngày hội.

Niêu cơm trong hội thổi cơm thi Thạch Thất được cố định bằng dây thép

Ở làng Kim Quan, thổi cơm thi thể hiện độ khó ở chỗ, mỗi đội thi sẽ có 4 người, niêu cơm được cố định bằng những sợi dây thép treo dưới một cây gậy dài 2m. Hai người sẽ gánh 2 đầu gậy, 2 người còn lại có nhiệm vụ đốt lửa vào đáy niêu cơm cho đến khi cơm chín. Các đội tham gia thổi cơm thi phải di chuyển liên tục quanh một vòng tròn lớn tại sân đình. Đội nào dừng lại sẽ bị coi là phạm luật.

4 người trong đội phải phối hợp chặt chẽ với nhau, hiểu ý nhau, điều tiết cho nhau trong các động tác đun nấu. Vì niêu cơm luôn di chuyển theo nhịp bước của hai người phụ nữ gánh trên vai lên người đốt lửa cũng phải chuyển động theo nhịp bước ấy thì mới kề sát được đáy niêu. Nếu không phối hợp tốt, ngọn lửa không bám được niêu cơm sẽ dẫn đến tình trạng cơm sống hoặc chín không đều hay không kịp thời gian.

Một đội thi trong hội thổi cơm thi ở Thạch Thất

Đến khi nước trong niêu cơm đã cạn, người tham gia phải khéo léo bớt lửa để cơm không bị cháy. Bớt lửa nhưng không được phép rút bớt đóm quăng đi mà phải điều chính bằng cách xoay bó đuốc hoặc tiến lùi bước chân. Sau khi cơm chín sẽ được lấy ra để các cụ cao niên trong làng làm lễ và chấm thi. Nồi cơm trắng, dẻo, thơm ngon nhất sẽ dành chiến thắng.

Cùng với trò thổi cơm thi, thanh niên trai tráng trong làng cũng thích thú tham gia trò bịt mắt đập niêu.

Hội thổi cơm thi là món ăn tinh thần không thể thiếu cho người dân xã Kim Quan, huyện Thạch Thất trong dịp đầu xuân năm mới.

Hội thổi cơm thi là món ăn tinh thần không thể thiếu cho người dân xã Kim Quan, huyện Thạch Thất trong dịp đầu xuân năm mới.

Related Figures

Triển lãm quốc tế Phim và Công nghệ truyền hình Việt Nam lần thứ 6 - Telefilm 2018

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 7/6- 9/6 Dương lịch Triển lãm quốc tế Phim và Công nghệ truyền hình Việt Nam - Telefilm 2018 diễn ra từ ngày 7-9/6 tại Trung tâm Hội chợ Triển lãm Quốc tế Sài Gòn số 799 Nguyễn Văn Linh, quận 7, TP HCM. Sáng ngày 7/6, lễ khai mạc chính thức diễn ra, thu hút đông đảo du khách tham quan triển lãm. Triển lãm quốc tế Phim và Công nghệ truyền hình Việt Nam - Telefilm 2018 Telefilm là sự kiện quan trọng thường niên quy tụ nhiều công ty, nhà sản xuất, nhà cung cấp hàng đầu trong lĩnh vực phim và công nghệ truyền hình tại Việt Nam và nhiều nước trên thế giới. Telefilm được tổ chức vào tháng 6 hàng năm với định hướng hội nhập, cùng phát triển cho các tổ chức, công ty hoạt động trong lĩnh vực phim và công nghệ truyền hình. Đông đảo du khách tham quan Telefilm 2018 Trong lần thứ 6 tổ chức, Telefilm quy tụ hơn 150 đơn vị tham gia trưng bày đến từ 15 quốc gia và vùng lãnh thổ, với sự góp mặt của hơn 3.000 chuyên gia trong nước và quốc tế. Telefilm không chỉ mở ra cơ hội phát triển cho các đơn vị truyền thông, truyền hình, điện ảnh, các ứng dụng dịch vụ; mà còn gắn kết truyền hình Việt Nam và truyền hình quốc tế. Telefilm 2018 là: Một sự kiện quốc tế uy tín và chuyên nghiệp nhất trong lĩnh vực Phim và Công nghệ Truyền hình. Hoạt động nổi bật diễn ra trong thời gian triển lãm – Chương trình Kết nối giao thương giữa các Doanh nghiệp Việt nam & Nước ngoài. Trải nghiệm các hệ thống ứng dụng sáng tạo truyền hình trên Internet của hơn 300 Doanh nghiệp đến từ 15 Quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Gian hàng của Đài Truyền hình Việt Nam tại Telefilm 2018 Gian hàng của Đài Truyền hình Việt Nam tại Telefilm năm nay được xây dựng với chủ đề: VTV - Tự hào thương hiệu Đài Truyền hình Quốc gia. Trong ngày khai mạc triển lãm quốc tế Phim và Công nghệ truyền hình Việt Nam, đã có rất đông khách tham quan tới thăm hơn 200 gian hàng.

Triển lãm quốc tế Phim và Công nghệ truyền hình Việt Nam - Telefilm 2018 Telefilm là sự kiện quan trọng thường niên quy tụ nhiều công ty, nhà sản xuất, nhà cung cấp hàng đầu trong lĩnh vực phim và công nghệ truyền hình tại Việt Nam và nhiều nước trên thế giới. Telefilm được tổ chức vào tháng 6 hàng năm với định hướng hội nhập, cùng phát triển cho các tổ chức, công ty hoạt động trong lĩnh vực phim và công nghệ truyền hình. Đông đảo du khách tham quan Telefilm 2018 Trong lần thứ 6 tổ chức, Telefilm quy tụ hơn 150 đơn vị tham gia trưng bày đến từ 15 quốc gia và vùng lãnh thổ, với sự góp mặt của hơn 3.000 chuyên gia trong nước và quốc tế. Telefilm không chỉ mở ra cơ hội phát triển cho các đơn vị truyền thông, truyền hình, điện ảnh, các ứng dụng dịch vụ; mà còn gắn kết truyền hình Việt Nam và truyền hình quốc tế. Telefilm 2018 là: Một sự kiện quốc tế uy tín và chuyên nghiệp nhất trong lĩnh vực Phim và Công nghệ Truyền hình. Hoạt động nổi bật diễn ra trong thời gian triển lãm – Chương trình Kết nối giao thương giữa các Doanh nghiệp Việt nam & Nước ngoài. Trải nghiệm các hệ thống ứng dụng sáng tạo truyền hình trên Internet của hơn 300 Doanh nghiệp đến từ 15 Quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Gian hàng của Đài Truyền hình Việt Nam tại Telefilm 2018 Gian hàng của Đài Truyền hình Việt Nam tại Telefilm năm nay được xây dựng với chủ đề: VTV - Tự hào thương hiệu Đài Truyền hình Quốc gia. Trong ngày khai mạc triển lãm quốc tế Phim và Công nghệ truyền hình Việt Nam, đã có rất đông khách tham quan tới thăm hơn 200 gian hàng.

Telefilm là sự kiện quan trọng thường niên quy tụ nhiều công ty, nhà sản xuất, nhà cung cấp hàng đầu trong lĩnh vực phim và công nghệ truyền hình tại Việt Nam và nhiều nước trên thế giới. Telefilm được tổ chức vào tháng 6 hàng năm với định hướng hội nhập, cùng phát triển cho các tổ chức, công ty hoạt động trong lĩnh vực phim và công nghệ truyền hình. Đông đảo du khách tham quan Telefilm 2018 Trong lần thứ 6 tổ chức, Telefilm quy tụ hơn 150 đơn vị tham gia trưng bày đến từ 15 quốc gia và vùng lãnh thổ, với sự góp mặt của hơn 3.000 chuyên gia trong nước và quốc tế. Telefilm không chỉ mở ra cơ hội phát triển cho các đơn vị truyền thông, truyền hình, điện ảnh, các ứng dụng dịch vụ; mà còn gắn kết truyền hình Việt Nam và truyền hình quốc tế. Telefilm 2018 là: Một sự kiện quốc tế uy tín và chuyên nghiệp nhất trong lĩnh vực Phim và Công nghệ Truyền hình. Hoạt động nổi bật diễn ra trong thời gian triển lãm – Chương trình Kết nối giao thương giữa các Doanh nghiệp Việt nam & Nước ngoài. Trải nghiệm các hệ thống ứng dụng sáng tạo truyền hình trên Internet của hơn 300 Doanh nghiệp đến từ 15 Quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Gian hàng của Đài Truyền hình Việt Nam tại Telefilm 2018 Gian hàng của Đài Truyền hình Việt Nam tại Telefilm năm nay được xây dựng với chủ đề: VTV - Tự hào thương hiệu Đài Truyền hình Quốc gia. Trong ngày khai mạc triển lãm quốc tế Phim và Công nghệ truyền hình Việt Nam, đã có rất đông khách tham quan tới thăm hơn 200 gian hàng.

Telefilm là sự kiện quan trọng thường niên quy tụ nhiều công ty, nhà sản xuất, nhà cung cấp hàng đầu trong lĩnh vực phim và công nghệ truyền hình tại Việt Nam và nhiều nước trên thế giới. Telefilm được tổ chức vào tháng 6 hàng năm với định hướng hội nhập, cùng phát triển cho các tổ chức, công ty hoạt động trong lĩnh vực phim và công nghệ truyền hình.

Đông đảo du khách tham quan Telefilm 2018

Trong lần thứ 6 tổ chức, Telefilm quy tụ hơn 150 đơn vị tham gia trưng bày đến từ 15 quốc gia và vùng lãnh thổ, với sự góp mặt của hơn 3.000 chuyên gia trong nước và quốc tế. Telefilm không chỉ mở ra cơ hội phát triển cho các đơn vị truyền thông, truyền hình, điện ảnh, các ứng dụng dịch vụ; mà còn gắn kết truyền hình Việt Nam và truyền hình quốc tế.

Telefilm 2018 là:

Một sự kiện quốc tế uy tín và chuyên nghiệp nhất trong lĩnh vực Phim và Công nghệ Truyền hình. Hoạt động nổi bật diễn ra trong thời gian triển lãm – Chương trình Kết nối giao thương giữa các Doanh nghiệp Việt nam & Nước ngoài. Trải nghiệm các hệ thống ứng dụng sáng tạo truyền hình trên Internet của hơn 300 Doanh nghiệp đến từ 15 Quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Gian hàng của Đài Truyền hình Việt Nam tại Telefilm 2018 Gian hàng của Đài Truyền hình Việt Nam tại Telefilm năm nay được xây dựng với chủ đề: VTV - Tự hào thương hiệu Đài Truyền hình Quốc gia. Trong ngày khai mạc triển lãm quốc tế Phim và Công nghệ truyền hình Việt Nam, đã có rất đông khách tham quan tới thăm hơn 200 gian hàng.

Gian hàng của Đài Truyền hình Việt Nam tại Telefilm 2018

Gian hàng của Đài Truyền hình Việt Nam tại Telefilm năm nay được xây dựng với chủ đề: VTV - Tự hào thương hiệu Đài Truyền hình Quốc gia.

Trong ngày khai mạc triển lãm quốc tế Phim và Công nghệ truyền hình Việt Nam, đã có rất đông khách tham quan tới thăm hơn 200 gian hàng.

Related Figures

Lễ hội Giáng sinh nhà thờ Phát Diệm

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 24/12- 25/12 Dương lịch Nhà thờ chính tòa Phát Diệm (thường gọi là Nhà thờ đá Phát Diệm) được đánh giá là một trong những nhà thờ đẹp nhất, được ví như "kinh đô công giáo" của Việt Nam. Hàng năm, vào dịp lễ Giáng sinh, các giáo xứ đều tấp nập mở lễ hội mừng ngày Chúa Jesu ra đời. Không khí Giáng sinh ở nhà thờ Phát Diệm Phát Diệm (huyện Kim Sơn, Ninh Bình) là một trong những địa điểm đầu tiên Công giáo được đưa vào đất Việt khoảng những năm 1620. Cha Alexandre de Rhodes (thường gọi là Cha Đắc Lộ) tới giảng đạo gần cửa Thần Phù (xứ Hảo Nho ngày nay). Nhà thờ đá Phát Diệm chứa đựng những giá trị về văn hóa, nghệ thuật điêu khắc, kiến trúc và tư tưởng đi trước thời đại hàng trăm năm về đoàn kết tôn giáo, văn hóa dân tộc kết hợp với tư tưởng tôn giáo... Nhà thờ đá Phát Diệm rộng khoảng 22ha, gồm 1 nhà thờ lớn và 5 thánh đường nhỏ, 1 phương đình, ao hồ và 3 hang đá nhân tạo. Phát Diệm là nơi có đông đảo người dân theo đạo nên đời sống sinh hoạt tôn giáo ở đây rất phong phú. Vì thế, mỗi dịp Giáng sinh, người Công giáo nơi đây tổ chức hoành tráng cùng với các nghi lễ mang lại giá trị thiêng thánh. Nhà thờ Phát Diệm được trang hoàng lộng lẫy đón Giáng sinh Trước lễ Giáng sinh, đồng bào công giáo hào hứng trang hoàng lại thánh đường. Xung quanh là những dãy đèn lồng trải dài dọc theo hành lang lối đi bằng đá cùng với những bức trnah mô tả lại cuộc đời Chúa Jesu. Các vị giáo xứ đặt lại mô hình hang đá tượng trưng cho nơi Chúa hạ phàm. Trong khuôn viên nhà thờ dựng sân khấu lớn, mọi người tranh thủ tập những tiết mục văn nghệ, hát thánh ca nhằm phục vụ du khách. Vào ban đêm, nhà thờ đá Phát Diệm trở nên nguy nga, tráng lệ, ấm áp dưới những ánh đèn lung linh sắc màu. Trong lễ Giáng sinh tại nhà thờ đá Phát Diệm có nhiều hoạt động hấp dẫn như lễ rước Chúa Hài Đồng quanh hồ, các màn ca múa nhạc mừng Giáng sinh, lễ diễn nguyện, múa chào mừng... Nhà thờ Phát Diệm lung linh trong đêm Giáng sinh Lễ hội Giáng sinh tại nhà thờ đá Phát Diệm hàng năm thu hút đông đảo du khách tham gia, đặc biệt là các giáo xứ. Không chỉ được tham quan nhà thờ, du khách còn được tìm hiểu thêm nhiều điều về Chúa cũng như đạo giáo, hiểu thêm về đức tin và các nghi thức cầu thánh của giáo dân.

Không khí Giáng sinh ở nhà thờ Phát Diệm Phát Diệm (huyện Kim Sơn, Ninh Bình) là một trong những địa điểm đầu tiên Công giáo được đưa vào đất Việt khoảng những năm 1620. Cha Alexandre de Rhodes (thường gọi là Cha Đắc Lộ) tới giảng đạo gần cửa Thần Phù (xứ Hảo Nho ngày nay). Nhà thờ đá Phát Diệm chứa đựng những giá trị về văn hóa, nghệ thuật điêu khắc, kiến trúc và tư tưởng đi trước thời đại hàng trăm năm về đoàn kết tôn giáo, văn hóa dân tộc kết hợp với tư tưởng tôn giáo... Nhà thờ đá Phát Diệm rộng khoảng 22ha, gồm 1 nhà thờ lớn và 5 thánh đường nhỏ, 1 phương đình, ao hồ và 3 hang đá nhân tạo. Phát Diệm là nơi có đông đảo người dân theo đạo nên đời sống sinh hoạt tôn giáo ở đây rất phong phú. Vì thế, mỗi dịp Giáng sinh, người Công giáo nơi đây tổ chức hoành tráng cùng với các nghi lễ mang lại giá trị thiêng thánh. Nhà thờ Phát Diệm được trang hoàng lộng lẫy đón Giáng sinh Trước lễ Giáng sinh, đồng bào công giáo hào hứng trang hoàng lại thánh đường. Xung quanh là những dãy đèn lồng trải dài dọc theo hành lang lối đi bằng đá cùng với những bức trnah mô tả lại cuộc đời Chúa Jesu. Các vị giáo xứ đặt lại mô hình hang đá tượng trưng cho nơi Chúa hạ phàm. Trong khuôn viên nhà thờ dựng sân khấu lớn, mọi người tranh thủ tập những tiết mục văn nghệ, hát thánh ca nhằm phục vụ du khách. Vào ban đêm, nhà thờ đá Phát Diệm trở nên nguy nga, tráng lệ, ấm áp dưới những ánh đèn lung linh sắc màu. Trong lễ Giáng sinh tại nhà thờ đá Phát Diệm có nhiều hoạt động hấp dẫn như lễ rước Chúa Hài Đồng quanh hồ, các màn ca múa nhạc mừng Giáng sinh, lễ diễn nguyện, múa chào mừng... Nhà thờ Phát Diệm lung linh trong đêm Giáng sinh Lễ hội Giáng sinh tại nhà thờ đá Phát Diệm hàng năm thu hút đông đảo du khách tham gia, đặc biệt là các giáo xứ. Không chỉ được tham quan nhà thờ, du khách còn được tìm hiểu thêm nhiều điều về Chúa cũng như đạo giáo, hiểu thêm về đức tin và các nghi thức cầu thánh của giáo dân.

Phát Diệm (huyện Kim Sơn, Ninh Bình) là một trong những địa điểm đầu tiên Công giáo được đưa vào đất Việt khoảng những năm 1620. Cha Alexandre de Rhodes (thường gọi là Cha Đắc Lộ) tới giảng đạo gần cửa Thần Phù (xứ Hảo Nho ngày nay). Nhà thờ đá Phát Diệm chứa đựng những giá trị về văn hóa, nghệ thuật điêu khắc, kiến trúc và tư tưởng đi trước thời đại hàng trăm năm về đoàn kết tôn giáo, văn hóa dân tộc kết hợp với tư tưởng tôn giáo... Nhà thờ đá Phát Diệm rộng khoảng 22ha, gồm 1 nhà thờ lớn và 5 thánh đường nhỏ, 1 phương đình, ao hồ và 3 hang đá nhân tạo.

Phát Diệm là nơi có đông đảo người dân theo đạo nên đời sống sinh hoạt tôn giáo ở đây rất phong phú. Vì thế, mỗi dịp Giáng sinh, người Công giáo nơi đây tổ chức hoành tráng cùng với các nghi lễ mang lại giá trị thiêng thánh.

Nhà thờ Phát Diệm được trang hoàng lộng lẫy đón Giáng sinh

Trước lễ Giáng sinh, đồng bào công giáo hào hứng trang hoàng lại thánh đường. Xung quanh là những dãy đèn lồng trải dài dọc theo hành lang lối đi bằng đá cùng với những bức trnah mô tả lại cuộc đời Chúa Jesu. Các vị giáo xứ đặt lại mô hình hang đá tượng trưng cho nơi Chúa hạ phàm. Trong khuôn viên nhà thờ dựng sân khấu lớn, mọi người tranh thủ tập những tiết mục văn nghệ, hát thánh ca nhằm phục vụ du khách. Vào ban đêm, nhà thờ đá Phát Diệm trở nên nguy nga, tráng lệ, ấm áp dưới những ánh đèn lung linh sắc màu.

Trong lễ Giáng sinh tại nhà thờ đá Phát Diệm có nhiều hoạt động hấp dẫn như lễ rước Chúa Hài Đồng quanh hồ, các màn ca múa nhạc mừng Giáng sinh, lễ diễn nguyện, múa chào mừng...

Nhà thờ Phát Diệm lung linh trong đêm Giáng sinh

Lễ hội Giáng sinh tại nhà thờ đá Phát Diệm hàng năm thu hút đông đảo du khách tham gia, đặc biệt là các giáo xứ. Không chỉ được tham quan nhà thờ, du khách còn được tìm hiểu thêm nhiều điều về Chúa cũng như đạo giáo, hiểu thêm về đức tin và các nghi thức cầu thánh của giáo dân.

Related Figures

Lễ hội Phủ Quảng Cung

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/3- 10/3 Âm lịch Lễ hội Phủ Quảng Cung diễn ra hàng năm từ ngày mồng 1 đến mồng 10 tháng Ba âm lịch, tại Phủ Quảng Cung thuộc xã Yên Đồng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Phủ Quảng Cung là nơi thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Phủ Quảng Cung là một quần thể di tích đã được Bộ Văn Hóa - Thể Thao và Du Lịch xếp hạng là "Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia vào ngày 11/4/2013. Quần thể di tích này bao gồm: Phủ chính là nơi thờ thánh mẫu Liễu Hạnh tại thôn Tiến Thắng, quần thể di tích đền Đáy ở thôn Nam Lễ của xã Yên Đồng. Lễ rước nước trên sông ở Lễ hội Phủ Quảng Cung tại Nam Định Tương truyền, Thánh Mẫu Liễu Hạnh giáng sinh lần thứ nhất vào đêm ngày 06/03/1434 thời Lê Thái Tông, hóa thân vào đêm mồng 2/3/1473 thời Hồng Đức thứ tư tại ấp Quảng Nạp, thuộc huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng, Nam Định. Bà giáng sinh lần thứ hai vào năm 1557, và hóa vào ngày 3/3/1577 tại thôn Vân Cát, xã An Thái, huyện Thiên Bản(Vũ Bản ngày nay). Lễ hội Phủ Quảng Cung tại Nam Định Lễ hội Phủ Quảng Cung diễn ra vào thời gian nông nhàn của bà con nông dân, vì vậy các hoạt động diễn ra trong không khí phấn khởi, vui tươi. Mở đầu lễ hội là lễ rước Mẫu từ phủ Quảng Cung lên đến phủ Đồi cách đó khoảng 4km. Dẫn đầu đội múa rồng và các kiệu: Kiệu Mẫu Đệ Nhất được phủ khăn màu đỏ, Mẫu đệ Nhị màu xanh, Mẫu Đệ Tam màu trắng, các phu kiệu mặc trang phục theo màu của kiệu. Sau đoàn người rước kiệu Mẫu sẽ đến phần rước nước. Lễ rước nước thể hiện sự tôn kính của nhân dân địa phương đối với Thánh Mẫu. Trước kia, lễ rước nước thường được tổ chức trên sông Sắt nằm ở phía Bắc của xã Yên Đồng gần Phủ Đồi. Nhưng về sau, lễ rước nước lại được tổ chức ở Sông Đáy. Người dân nô nức xem lễ rước nước Công tác chuẩn bị cho lễ rước nước được tiến hành từ ngày hôm trước. Địa điểm diễn ra lễ rước nước là bến đò Vọng của Sông Đáy. Đoàn người tham gia lễ rước rất đông và náo nhiệt. Dẫn đầu đoàn rước là đội múa rồng, mùa kỳ lần sư tử. Sau đó, là đoàn người cần cờ quạt, phường bát âm, bát bửu, đội múa sênh tiền, tàn lọng... Tại bến đồ Vọng đã chuẩn bị 5 thuyền và 1 kiệu hoa dùng để trang trí. Dụng cụ để lấy nước là 1 chóe đựng nược và 2 muôi đồng. Lễ rước nước cũng diễn ra một cách trang nghiêm nhưng cũng vô cùng náo nhiệt.

Lễ hội Phủ Quảng Cung diễn ra hàng năm từ ngày mồng 1 đến mồng 10 tháng Ba âm lịch, tại Phủ Quảng Cung thuộc xã Yên Đồng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Phủ Quảng Cung là nơi thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh.

Phủ Quảng Cung là một quần thể di tích đã được Bộ Văn Hóa - Thể Thao và Du Lịch xếp hạng là "Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia vào ngày 11/4/2013. Quần thể di tích này bao gồm: Phủ chính là nơi thờ thánh mẫu Liễu Hạnh tại thôn Tiến Thắng, quần thể di tích đền Đáy ở thôn Nam Lễ của xã Yên Đồng.

Lễ rước nước trên sông ở Lễ hội Phủ Quảng Cung tại Nam Định

Tương truyền, Thánh Mẫu Liễu Hạnh giáng sinh lần thứ nhất vào đêm ngày 06/03/1434 thời Lê Thái Tông, hóa thân vào đêm mồng 2/3/1473 thời Hồng Đức thứ tư tại ấp Quảng Nạp, thuộc huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng, Nam Định. Bà giáng sinh lần thứ hai vào năm 1557, và hóa vào ngày 3/3/1577 tại thôn Vân Cát, xã An Thái, huyện Thiên Bản(Vũ Bản ngày nay).

Lễ hội Phủ Quảng Cung tại Nam Định

Lễ hội Phủ Quảng Cung diễn ra vào thời gian nông nhàn của bà con nông dân, vì vậy các hoạt động diễn ra trong không khí phấn khởi, vui tươi. Mở đầu lễ hội là lễ rước Mẫu từ phủ Quảng Cung lên đến phủ Đồi cách đó khoảng 4km. Dẫn đầu đội múa rồng và các kiệu: Kiệu Mẫu Đệ Nhất được phủ khăn màu đỏ, Mẫu đệ Nhị màu xanh, Mẫu Đệ Tam màu trắng, các phu kiệu mặc trang phục theo màu của kiệu. Sau đoàn người rước kiệu Mẫu sẽ đến phần rước nước. Lễ rước nước thể hiện sự tôn kính của nhân dân địa phương đối với Thánh Mẫu. Trước kia, lễ rước nước thường được tổ chức trên sông Sắt nằm ở phía Bắc của xã Yên Đồng gần Phủ Đồi. Nhưng về sau, lễ rước nước lại được tổ chức ở Sông Đáy.

Người dân nô nức xem lễ rước nước

Công tác chuẩn bị cho lễ rước nước được tiến hành từ ngày hôm trước. Địa điểm diễn ra lễ rước nước là bến đò Vọng của Sông Đáy. Đoàn người tham gia lễ rước rất đông và náo nhiệt. Dẫn đầu đoàn rước là đội múa rồng, mùa kỳ lần sư tử. Sau đó, là đoàn người cần cờ quạt, phường bát âm, bát bửu, đội múa sênh tiền, tàn lọng... Tại bến đồ Vọng đã chuẩn bị 5 thuyền và 1 kiệu hoa dùng để trang trí. Dụng cụ để lấy nước là 1 chóe đựng nược và 2 muôi đồng. Lễ rước nước cũng diễn ra một cách trang nghiêm nhưng cũng vô cùng náo nhiệt.

Related Figures

Lễ hội Đền An Lá

Thông tin thời kỳ

Lễ hội Đền An Lá diễn ra vào tháng Ba âm lịch hàng năm, tại Đền An Lá thuộc xã Nghĩa An, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Đây là một lễ hội nhằm tưởng nhớ và tri ân công đức của tướng quân Nguyễn Tấn. Cứ vào dịp tháng Ba âm lịch hàng năm, nếu du khách có dịp đến Nam Định, hãy ghé qua xã Nghĩa An, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định để tham dự lễ hội đền An Lá. Tương truyền, Nguyễn Tấn sinh ngày 10/3/942. Thời thơ ấu, ông đã nổi tiếng là thông mình, lại rất chăm chỉ luyện võ. Vào thời đất nước xảy ra loạn 12 sứ quân, ông đã đứng ra chiêu mộ được vài trăm trai tráng, đóng quân tại quê hương và thường xuyên luyện tập võ nghệ. Cũng chính nhờ có đội quân của Nguyễn Tấn mà cả vùng dân cư này được làm ăn yên ổn. Năm 967, ông có công trợ giúp Nguyễn Bặc - danh tướng của Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân. Khi tướng Nguyễn Bặc và Nguyễn Tấn tổ chức hợp quân ăn mừng chiến thắng, vì lính đông quá nên không có đủ bát, phải ăn bằng lá, nên được gọi là "trại Ăn lá", sau đó đọc lái thành An Lá. Sau khi Tướng quấn Nguyễn Tấn mất, người dân địa phương đã xây dựng ngôi đền An Lá để thờ cúng ông. Ngôi đền ở phía bắc của trại quân, cách mộ của ông khoảng 100m. Hàng năm, cứ đến tháng 3 âm lịch, chính quyền và nhân dân xã Nghĩa An lại tưng bừng mở hội đền An Lá nhằm tưởng nhớ và tri ân ông đức của tướng quân Nguyễn Tấn. Lễ hội thường diễn ra trong 3 ngày, với các nghi lễ truyền thống như rước kiệu, tế thần. Ngoài ra, còn có nhiều trò chơi dân gian phong phú như múa sư tử, múa rồng, cờ tướng... Giải cờ tướng ở hội Đền An Lá đã trở thành truyền thống, luôn thu hút sự quan tâm của nhiều kỳ thủ từ các vùng lân cận về tham dự. Bên cạnh những giá trị lịch sử, hội Đền An Lá còn thu hút du khách bởi nét đẹp ở kiến trúc, sự hài hòa và duyên dáng từ bố cục tổng thể đến nghệ thuật chạm khắc tinh tế, sinh động, mang đậm phong cách thời Hậu Lê ở thế kỷ 17-18.

Cứ vào dịp tháng Ba âm lịch hàng năm, nếu du khách có dịp đến Nam Định, hãy ghé qua xã Nghĩa An, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định để tham dự lễ hội đền An Lá. Tương truyền, Nguyễn Tấn sinh ngày 10/3/942. Thời thơ ấu, ông đã nổi tiếng là thông mình, lại rất chăm chỉ luyện võ. Vào thời đất nước xảy ra loạn 12 sứ quân, ông đã đứng ra chiêu mộ được vài trăm trai tráng, đóng quân tại quê hương và thường xuyên luyện tập võ nghệ. Cũng chính nhờ có đội quân của Nguyễn Tấn mà cả vùng dân cư này được làm ăn yên ổn.

Năm 967, ông có công trợ giúp Nguyễn Bặc - danh tướng của Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân. Khi tướng Nguyễn Bặc và Nguyễn Tấn tổ chức hợp quân ăn mừng chiến thắng, vì lính đông quá nên không có đủ bát, phải ăn bằng lá, nên được gọi là "trại Ăn lá", sau đó đọc lái thành An Lá. Sau khi Tướng quấn Nguyễn Tấn mất, người dân địa phương đã xây dựng ngôi đền An Lá để thờ cúng ông. Ngôi đền ở phía bắc của trại quân, cách mộ của ông khoảng 100m.

Hàng năm, cứ đến tháng 3 âm lịch, chính quyền và nhân dân xã Nghĩa An lại tưng bừng mở hội đền An Lá nhằm tưởng nhớ và tri ân ông đức của tướng quân Nguyễn Tấn. Lễ hội thường diễn ra trong 3 ngày, với các nghi lễ truyền thống như rước kiệu, tế thần. Ngoài ra, còn có nhiều trò chơi dân gian phong phú như múa sư tử, múa rồng, cờ tướng... Giải cờ tướng ở hội Đền An Lá đã trở thành truyền thống, luôn thu hút sự quan tâm của nhiều kỳ thủ từ các vùng lân cận về tham dự.

Bên cạnh những giá trị lịch sử, hội Đền An Lá còn thu hút du khách bởi nét đẹp ở kiến trúc, sự hài hòa và duyên dáng từ bố cục tổng thể đến nghệ thuật chạm khắc tinh tế, sinh động, mang đậm phong cách thời Hậu Lê ở thế kỷ 17-18.

Related Figures

Điểm hẹn văn hóa: Liên hoan phim tài liệu châu Âu - Việt Nam lần thứ 9

Thông tin thời kỳ

Liên hoan phim tài liệu châu Âu - Việt Nam lần thứ 9 được tổ chức đồng thời tại Hà Nội và TP HCM trong 9 ngày từ 8-17/6/2018. Liên hoan là sự kiện đặc biệt nhằm đáp ứng nhu cầu giao lưu văn hóa giữa Việt Nam và quốc tế. Liên hoan phim tài liệu châu Âu - Việt Nam lần 9 tổ chức tại HN và TP HCM Liên hoan phim tài liệu châu Âu - Việt Nam do EUNIC (Hiệp hội các Viện Văn hóa và Đại sứ quán các nước châu Âu) phối hợp với Hãng phim Tài liệu và Khoa học Trung ương tổ chức. Bộ phim đặc sắc được chiếu tại liên hoan phim tài liệu châu Âu - Việt Nam Liên hoan phim tài liệu châu Âu - Việt Nam 2018 sẽ giới thiệu tới khán giả 22 bộ phim tài liệu đặc sắc bao gồm 15 bộ phim Việt Nam, và những bộ phim quốc tế của các nước Pháp, Bỉ, Đức, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Anh, Đan Mạch... Những bộ phim Việt Nam tham dự Liên hoan phim do Hãng phim Tài liệu và Khoa học Trung ương sản xuất và một số bộ phim đến từ Điện ảnh Quân đội, Đài truyền hình Việt Nam, trường Đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội... Đáng chú ý trong đó có một số bộ phim Việt Nam giành giải Bông sen vàng, Cánh diều vàng, Giải phim môi trường... Những bộ phim quốc tế có một số phim giành giải thưởng cao tại Munchen, Nyon, California, Melbourne... Lịch chiếu phim tại liên hoan phim tài liệu châu Âu - Việt Nam lần thứ 9 Mỗi buổi chiếu, khán giả sẽ được thưởng thức một bộ phim quốc tế và một bộ phim Việt Nam. Bên cạnh những bộ phim nổi tiếng từng giành giải cao, những bộ phim tài liệu của các nhà làm phim trẻ sẽ được trình chiếu vào một số buổi chiều. Khán giả cũng sẽ có cơ hội giao lưu với nhiều đạo diễn. Thông qua liên hoan phim, khán giả có cơ hội tìm hiểu về văn hóa, con người, xã hội của Việt Nam cũng như nhiều nước châu Âu.

Liên hoan phim tài liệu châu Âu - Việt Nam lần 9 tổ chức tại HN và TP HCM Liên hoan phim tài liệu châu Âu - Việt Nam do EUNIC (Hiệp hội các Viện Văn hóa và Đại sứ quán các nước châu Âu) phối hợp với Hãng phim Tài liệu và Khoa học Trung ương tổ chức. Bộ phim đặc sắc được chiếu tại liên hoan phim tài liệu châu Âu - Việt Nam Liên hoan phim tài liệu châu Âu - Việt Nam 2018 sẽ giới thiệu tới khán giả 22 bộ phim tài liệu đặc sắc bao gồm 15 bộ phim Việt Nam, và những bộ phim quốc tế của các nước Pháp, Bỉ, Đức, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Anh, Đan Mạch... Những bộ phim Việt Nam tham dự Liên hoan phim do Hãng phim Tài liệu và Khoa học Trung ương sản xuất và một số bộ phim đến từ Điện ảnh Quân đội, Đài truyền hình Việt Nam, trường Đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội... Đáng chú ý trong đó có một số bộ phim Việt Nam giành giải Bông sen vàng, Cánh diều vàng, Giải phim môi trường... Những bộ phim quốc tế có một số phim giành giải thưởng cao tại Munchen, Nyon, California, Melbourne... Lịch chiếu phim tại liên hoan phim tài liệu châu Âu - Việt Nam lần thứ 9 Mỗi buổi chiếu, khán giả sẽ được thưởng thức một bộ phim quốc tế và một bộ phim Việt Nam. Bên cạnh những bộ phim nổi tiếng từng giành giải cao, những bộ phim tài liệu của các nhà làm phim trẻ sẽ được trình chiếu vào một số buổi chiều. Khán giả cũng sẽ có cơ hội giao lưu với nhiều đạo diễn. Thông qua liên hoan phim, khán giả có cơ hội tìm hiểu về văn hóa, con người, xã hội của Việt Nam cũng như nhiều nước châu Âu.

Liên hoan phim tài liệu châu Âu - Việt Nam do EUNIC (Hiệp hội các Viện Văn hóa và Đại sứ quán các nước châu Âu) phối hợp với Hãng phim Tài liệu và Khoa học Trung ương tổ chức.

Bộ phim đặc sắc được chiếu tại liên hoan phim tài liệu châu Âu - Việt Nam

Liên hoan phim tài liệu châu Âu - Việt Nam 2018 sẽ giới thiệu tới khán giả 22 bộ phim tài liệu đặc sắc bao gồm 15 bộ phim Việt Nam, và những bộ phim quốc tế của các nước Pháp, Bỉ, Đức, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Anh, Đan Mạch... Những bộ phim Việt Nam tham dự Liên hoan phim do Hãng phim Tài liệu và Khoa học Trung ương sản xuất và một số bộ phim đến từ Điện ảnh Quân đội, Đài truyền hình Việt Nam, trường Đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội... Đáng chú ý trong đó có một số bộ phim Việt Nam giành giải Bông sen vàng, Cánh diều vàng, Giải phim môi trường... Những bộ phim quốc tế có một số phim giành giải thưởng cao tại Munchen, Nyon, California, Melbourne...

Lịch chiếu phim tại liên hoan phim tài liệu châu Âu - Việt Nam lần thứ 9

Mỗi buổi chiếu, khán giả sẽ được thưởng thức một bộ phim quốc tế và một bộ phim Việt Nam. Bên cạnh những bộ phim nổi tiếng từng giành giải cao, những bộ phim tài liệu của các nhà làm phim trẻ sẽ được trình chiếu vào một số buổi chiều. Khán giả cũng sẽ có cơ hội giao lưu với nhiều đạo diễn.

Thông qua liên hoan phim, khán giả có cơ hội tìm hiểu về văn hóa, con người, xã hội của Việt Nam cũng như nhiều nước châu Âu.

Related Figures

Lễ túc yết

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 26/4 Âm lịch Lễ Túc Yết (Túc trực - Yết kiến) vốn là nghi thức tế lễ trong cung đình được lưu truyền trong dân gian. Lễ Túc Yết được tổ chức vào 0h ngày 26/4, tiến hành theo trình tự: Dâng hương - chúc rượu - tiêm trà - đọc văn tế. Sau khi làm lễ, bài văn tế được hóa cùng một ít giấy vàng bạc. Đánh chiêng trong lễ Túc Yết Lễ Túc Yết được Đức tả quân Lê Văn Duyệt phổ biến trong dân gian. Ông vốn là thái giám trong cung đình nên nắm rõ nghi thức này. Khi nắm giữ chức Tổng trấn Gia Định Thành, Lê Văn Duyệt đã đưa lễ Túc Yết vào lễ hội Kỳ Yên trong các đình thần ở Nam bộ. Đúng 0h ngày 26/4, mọi người tề tựu đông đủ, các bô lão trong làng và Ban quan trị lăng miếu lễ phục chỉnh tế làm lễ cúng. Chịu trách nhiệm chính trong buổi lễ là ông chánh tế, có sự giúp sức của bồi tế. Toàn bộ nghi thức hành lễ như: lễ nhạc, dâng hương, chúc rượu, tiêm trà, đọc văn tế... đều phải theo lệnh của hai người chủ xướng đứng hai bên hương án kế cận vị chủ tế. Lễ Túc Yết được tiến hành trong trầm hương nghi ngút và tiếng nhạc lễ. Lễ vật người dân dâng cúng trong lễ Túc Yết Lễ vật dâng cúng trong lễ Túc Yết gồm một con heo trắng (được mổ bụng sạch sẽ, chưa nấu chín), một chén huyết có một ít lông heo (gọi chung là mao huyết), một mâm xôi, một mâm trái câu, trầu cau và một đĩa muối gạo... Heo trắng là lễ vật không thể thiếu trong lễ Túc Yết Khi bắt đầu lễ Túc Yết, ông chánh tế đến dâng lễ trước bàn thờ rồi đến ban quan trị lần lượt vào hành lễ. Sau đó là phần khởi chinh cổ. Sau khi đánh 3 hồi trống gỗ và một hồi chiêng mõ, ban nhạc lễ tấu nhạc, lễ dâng hương, chúc rượu, tiêm trà bắt đầu. Sâu đó, theo hiệu lệnh của người xướng tế, bản văn tế được mang lên trước bàn thờ. Ban nhạc lễ trỗi nhạc để phụ họa cho chánh tế đọc văn tế. Kết thúc bài văn tế, ông chánh tế hóa bài văn tế cùng một ít tiền vàng, chôn mao huyết để tế đất. Lễ Túc Yết là lễ hương chức ra mắt thần, cúng các vị tiền hiền khai khẩn, hậu hiền khai cơ, các vị có công với đất nước, có công xây dựng và bảo vệ đình. Lễ Túc Yết thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn của dân tộc ta.

Đánh chiêng trong lễ Túc Yết Lễ Túc Yết được Đức tả quân Lê Văn Duyệt phổ biến trong dân gian. Ông vốn là thái giám trong cung đình nên nắm rõ nghi thức này. Khi nắm giữ chức Tổng trấn Gia Định Thành, Lê Văn Duyệt đã đưa lễ Túc Yết vào lễ hội Kỳ Yên trong các đình thần ở Nam bộ. Đúng 0h ngày 26/4, mọi người tề tựu đông đủ, các bô lão trong làng và Ban quan trị lăng miếu lễ phục chỉnh tế làm lễ cúng. Chịu trách nhiệm chính trong buổi lễ là ông chánh tế, có sự giúp sức của bồi tế. Toàn bộ nghi thức hành lễ như: lễ nhạc, dâng hương, chúc rượu, tiêm trà, đọc văn tế... đều phải theo lệnh của hai người chủ xướng đứng hai bên hương án kế cận vị chủ tế. Lễ Túc Yết được tiến hành trong trầm hương nghi ngút và tiếng nhạc lễ. Lễ vật người dân dâng cúng trong lễ Túc Yết Lễ vật dâng cúng trong lễ Túc Yết gồm một con heo trắng (được mổ bụng sạch sẽ, chưa nấu chín), một chén huyết có một ít lông heo (gọi chung là mao huyết), một mâm xôi, một mâm trái câu, trầu cau và một đĩa muối gạo... Heo trắng là lễ vật không thể thiếu trong lễ Túc Yết Khi bắt đầu lễ Túc Yết, ông chánh tế đến dâng lễ trước bàn thờ rồi đến ban quan trị lần lượt vào hành lễ. Sau đó là phần khởi chinh cổ. Sau khi đánh 3 hồi trống gỗ và một hồi chiêng mõ, ban nhạc lễ tấu nhạc, lễ dâng hương, chúc rượu, tiêm trà bắt đầu. Sâu đó, theo hiệu lệnh của người xướng tế, bản văn tế được mang lên trước bàn thờ. Ban nhạc lễ trỗi nhạc để phụ họa cho chánh tế đọc văn tế. Kết thúc bài văn tế, ông chánh tế hóa bài văn tế cùng một ít tiền vàng, chôn mao huyết để tế đất. Lễ Túc Yết là lễ hương chức ra mắt thần, cúng các vị tiền hiền khai khẩn, hậu hiền khai cơ, các vị có công với đất nước, có công xây dựng và bảo vệ đình. Lễ Túc Yết thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn của dân tộc ta.

Lễ Túc Yết được Đức tả quân Lê Văn Duyệt phổ biến trong dân gian. Ông vốn là thái giám trong cung đình nên nắm rõ nghi thức này. Khi nắm giữ chức Tổng trấn Gia Định Thành, Lê Văn Duyệt đã đưa lễ Túc Yết vào lễ hội Kỳ Yên trong các đình thần ở Nam bộ.

Đúng 0h ngày 26/4, mọi người tề tựu đông đủ, các bô lão trong làng và Ban quan trị lăng miếu lễ phục chỉnh tế làm lễ cúng. Chịu trách nhiệm chính trong buổi lễ là ông chánh tế, có sự giúp sức của bồi tế. Toàn bộ nghi thức hành lễ như: lễ nhạc, dâng hương, chúc rượu, tiêm trà, đọc văn tế... đều phải theo lệnh của hai người chủ xướng đứng hai bên hương án kế cận vị chủ tế. Lễ Túc Yết được tiến hành trong trầm hương nghi ngút và tiếng nhạc lễ.

Lễ vật người dân dâng cúng trong lễ Túc Yết

Lễ vật dâng cúng trong lễ Túc Yết gồm một con heo trắng (được mổ bụng sạch sẽ, chưa nấu chín), một chén huyết có một ít lông heo (gọi chung là mao huyết), một mâm xôi, một mâm trái câu, trầu cau và một đĩa muối gạo...

Heo trắng là lễ vật không thể thiếu trong lễ Túc Yết

Khi bắt đầu lễ Túc Yết, ông chánh tế đến dâng lễ trước bàn thờ rồi đến ban quan trị lần lượt vào hành lễ. Sau đó là phần khởi chinh cổ. Sau khi đánh 3 hồi trống gỗ và một hồi chiêng mõ, ban nhạc lễ tấu nhạc, lễ dâng hương, chúc rượu, tiêm trà bắt đầu. Sâu đó, theo hiệu lệnh của người xướng tế, bản văn tế được mang lên trước bàn thờ. Ban nhạc lễ trỗi nhạc để phụ họa cho chánh tế đọc văn tế. Kết thúc bài văn tế, ông chánh tế hóa bài văn tế cùng một ít tiền vàng, chôn mao huyết để tế đất.

Lễ Túc Yết là lễ hương chức ra mắt thần, cúng các vị tiền hiền khai khẩn, hậu hiền khai cơ, các vị có công với đất nước, có công xây dựng và bảo vệ đình. Lễ Túc Yết thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn của dân tộc ta.

Related Figures

Đặc sắc lễ hội Xên bản Mường Sang tỉnh Sơn La

Thông tin thời kỳ

Lễ hội Xên bản Mường Sang là một trong những lễ hội truyền thống của người Thái trắng ở Sơn La. Lễ hội để tưởng nhớ công ơn những người có công lập bản, cầu mong thần linh phù hộ cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Lễ hội Xên bản Mường Sang là lễ hội đặc sắc ở Sơn La Lễ hội gồm hai phần phần lễ và phần hội. Cúng mời thần linh là một trong những nghi lễ không thể thiếu trong hội Xên bản Mường Sang. Chủ lễ (thầy Mo) mời gọi các vị thần (người Thái trắng gọi là ma bản) về dự lễ, nhận các lễ vật do nhân dân các tộc trong bản, trong mường dâng lễ. Trâu dùng để tế phải do thầy Mo lựa chọn. Sau lễ cúng, thầy Mo buộc một sợi chỉ vào cổ tay trưởng bản. Theo quan niệm của người Thái, sợ chỉ này nối người dương với thế giới người âm. Rước thần linh đến nơi hành lễ trong lễ hội Xên bản Mường Sang Sau phần lễ là phần hội diễn ra sôi nổi với nhiều trò chơi dân gian như: ném còn, kéo co, cướp áo, múa xòe, tổ chức dân ca dân vũ, thi nấu cơm... Trong lễ hội của người Thái không thể thiếu vũ điệu khăn Piêu của thiếu nữ nơi đây. Nhiều trò chơi dân gian hấp dẫn trong lễ hội Xên bản Mường Sang Với nhiều hoạt động văn hóa phong phú, lễ hội Xên bản Mường Sang có ý nghĩa quan trọng trong đời sống không chỉ với cộng đồng người Thái trắng mà còn làm phong phú thêm đời sống văn hóa của các dân tộc vùng cao. Lễ hội Xên bản Mường Sang cũng như nhiều lễ hội đặc sắc khác là nhân tố quan trọng thu hút khách du lịch trong và ngoài nước đến với Sơn La. Việc lưu giữ, bảo tồn lễ hội không chỉ là tiếp nối, khơi dậy, phát huy truyền thống văn hóa mà còn góp phần cổ vũ, động viên các dân tộc tích cực tham gia phát triển kinh tế, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Lễ hội Xên bản Mường Sang là một trong những lễ hội truyền thống của người Thái trắng ở Sơn La. Lễ hội để tưởng nhớ công ơn những người có công lập bản, cầu mong thần linh phù hộ cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Lễ hội Xên bản Mường Sang là lễ hội đặc sắc ở Sơn La Lễ hội gồm hai phần phần lễ và phần hội. Cúng mời thần linh là một trong những nghi lễ không thể thiếu trong hội Xên bản Mường Sang. Chủ lễ (thầy Mo) mời gọi các vị thần (người Thái trắng gọi là ma bản) về dự lễ, nhận các lễ vật do nhân dân các tộc trong bản, trong mường dâng lễ. Trâu dùng để tế phải do thầy Mo lựa chọn. Sau lễ cúng, thầy Mo buộc một sợi chỉ vào cổ tay trưởng bản. Theo quan niệm của người Thái, sợ chỉ này nối người dương với thế giới người âm. Rước thần linh đến nơi hành lễ trong lễ hội Xên bản Mường Sang Sau phần lễ là phần hội diễn ra sôi nổi với nhiều trò chơi dân gian như: ném còn, kéo co, cướp áo, múa xòe, tổ chức dân ca dân vũ, thi nấu cơm... Trong lễ hội của người Thái không thể thiếu vũ điệu khăn Piêu của thiếu nữ nơi đây. Nhiều trò chơi dân gian hấp dẫn trong lễ hội Xên bản Mường Sang Với nhiều hoạt động văn hóa phong phú, lễ hội Xên bản Mường Sang có ý nghĩa quan trọng trong đời sống không chỉ với cộng đồng người Thái trắng mà còn làm phong phú thêm đời sống văn hóa của các dân tộc vùng cao. Lễ hội Xên bản Mường Sang cũng như nhiều lễ hội đặc sắc khác là nhân tố quan trọng thu hút khách du lịch trong và ngoài nước đến với Sơn La. Việc lưu giữ, bảo tồn lễ hội không chỉ là tiếp nối, khơi dậy, phát huy truyền thống văn hóa mà còn góp phần cổ vũ, động viên các dân tộc tích cực tham gia phát triển kinh tế, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Lễ hội Xên bản Mường Sang là một trong những lễ hội truyền thống của người Thái trắng ở Sơn La. Lễ hội để tưởng nhớ công ơn những người có công lập bản, cầu mong thần linh phù hộ cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Lễ hội Xên bản Mường Sang là lễ hội đặc sắc ở Sơn La Lễ hội gồm hai phần phần lễ và phần hội. Cúng mời thần linh là một trong những nghi lễ không thể thiếu trong hội Xên bản Mường Sang. Chủ lễ (thầy Mo) mời gọi các vị thần (người Thái trắng gọi là ma bản) về dự lễ, nhận các lễ vật do nhân dân các tộc trong bản, trong mường dâng lễ. Trâu dùng để tế phải do thầy Mo lựa chọn. Sau lễ cúng, thầy Mo buộc một sợi chỉ vào cổ tay trưởng bản. Theo quan niệm của người Thái, sợ chỉ này nối người dương với thế giới người âm. Rước thần linh đến nơi hành lễ trong lễ hội Xên bản Mường Sang Sau phần lễ là phần hội diễn ra sôi nổi với nhiều trò chơi dân gian như: ném còn, kéo co, cướp áo, múa xòe, tổ chức dân ca dân vũ, thi nấu cơm... Trong lễ hội của người Thái không thể thiếu vũ điệu khăn Piêu của thiếu nữ nơi đây. Nhiều trò chơi dân gian hấp dẫn trong lễ hội Xên bản Mường Sang Với nhiều hoạt động văn hóa phong phú, lễ hội Xên bản Mường Sang có ý nghĩa quan trọng trong đời sống không chỉ với cộng đồng người Thái trắng mà còn làm phong phú thêm đời sống văn hóa của các dân tộc vùng cao. Lễ hội Xên bản Mường Sang cũng như nhiều lễ hội đặc sắc khác là nhân tố quan trọng thu hút khách du lịch trong và ngoài nước đến với Sơn La. Việc lưu giữ, bảo tồn lễ hội không chỉ là tiếp nối, khơi dậy, phát huy truyền thống văn hóa mà còn góp phần cổ vũ, động viên các dân tộc tích cực tham gia phát triển kinh tế, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Lễ hội gồm hai phần phần lễ và phần hội. Cúng mời thần linh là một trong những nghi lễ không thể thiếu trong hội Xên bản Mường Sang. Chủ lễ (thầy Mo) mời gọi các vị thần (người Thái trắng gọi là ma bản) về dự lễ, nhận các lễ vật do nhân dân các tộc trong bản, trong mường dâng lễ. Trâu dùng để tế phải do thầy Mo lựa chọn. Sau lễ cúng, thầy Mo buộc một sợi chỉ vào cổ tay trưởng bản. Theo quan niệm của người Thái, sợ chỉ này nối người dương với thế giới người âm.

Rước thần linh đến nơi hành lễ trong lễ hội Xên bản Mường Sang

Sau phần lễ là phần hội diễn ra sôi nổi với nhiều trò chơi dân gian như: ném còn, kéo co, cướp áo, múa xòe, tổ chức dân ca dân vũ, thi nấu cơm... Trong lễ hội của người Thái không thể thiếu vũ điệu khăn Piêu của thiếu nữ nơi đây.

Nhiều trò chơi dân gian hấp dẫn trong lễ hội Xên bản Mường Sang

Với nhiều hoạt động văn hóa phong phú, lễ hội Xên bản Mường Sang có ý nghĩa quan trọng trong đời sống không chỉ với cộng đồng người Thái trắng mà còn làm phong phú thêm đời sống văn hóa của các dân tộc vùng cao. Lễ hội Xên bản Mường Sang cũng như nhiều lễ hội đặc sắc khác là nhân tố quan trọng thu hút khách du lịch trong và ngoài nước đến với Sơn La. Việc lưu giữ, bảo tồn lễ hội không chỉ là tiếp nối, khơi dậy, phát huy truyền thống văn hóa mà còn góp phần cổ vũ, động viên các dân tộc tích cực tham gia phát triển kinh tế, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Related Figures

Hội hát Sắc bùa trong dịp Tết của người Mường

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/1- 7/1 Âm lịch Hội hát Sắc bùa hay còn gọi là xéc bùa (có nghĩa là xách cồng) là lễ hội lớn nhất của người Mường thường diễn ra vào mùa xuân, đặc biệt là các ngày Tết. Đây là hình thức sinh hoạt văn hóa, phong tục không thể thiếu làm nên cái Tết cổ truyền đáng nhớ của người Mường xưa. Âm vang cồng chiêng mà điểm nhấn là những tiếng "khầm" như làn sóng, như sức mạnh xua đuổi ma quỷ và những điều không may. Vào những ngày đầu xuân năm mới, tiếng cồng của hội Sắc bùa vang lên và dừng chân hết nhà này sang nhà khác làm không khí xuân thêm rộn rã. Âm thanh của tiếng cồng chiêng, điệu hát cùng lời chúc xuân khiến mọi người gắn kết hơn, làm đẹp cho bản làng mỗi độ xuân về. Hội Sắc bùa thực chất là hình thức diễn xướng dân gian của dân tộc Mường gắn với nghi lễ nông nghiệp, cầu mong năm mới phát tài, làm ăn thuận lợi, mùa màng bội thu, mọi nhà đều bình an, may mắn. Theo tục lệ, "phường bùa" tên gọi của nhóm nhạc cồng chiêng thường có từ 12 người trở lên, họ đều là những người biết hát những điệu hát dân gian của dân tộc Mường, sẽ đến thăm những gia đình trong bản và hát những lời hát chúc Tết. Hội hát Sắc bùa thường tổ chức từ mùng 1 Tết và kéo dài khoảng 7-15 ngày. Đứng đầu phường bùa là một thầy thường có giọng hát hay và có tài ứng tác. Phường bùa xuất phát từ khu nhà để cồng chiêng sau khi thầy thường đọc lời xuất phát. Phường bùa vừa đi vừa đánh những bài cồng chiêng khác nhau và hát những bài tùy hứng. Tiếng cồng chiêng hòa quyện cùng tiếng hát làm không khí những ngày đầu năm thêm rộn ràng. Phường bùa đi đến đâu cũng thu hút rất đông người dân bản đi theo xem hát khiến khắp các bản làng đông vui, nhộn nhịp. Phường bùa sẽ ghé qua nhiều gia đình và hát những lời chúc Tết. Khi tới nhà nào đó, phường bùa sẽ đánh cồng và hát bài mở cổng để chủ nhà ra mở cổng đón vào. Nếu nhà nào không mời phường bùa lên gác thì chủ nhà sẽ trao cho thầy thường một thúng thóc nhỏ để làm quà còn thầy thường sẽ hát bài phát rác tạ ơn chủ nhà. Nhà nào muốn giữ phường bùa ở lại thì bê ra đặt ở cầu thang một mâm gồm chai rượu, vài chiếc cốc, hai bát to đựng gạo trên có cắm bốn nén hương, một đĩa trầu cau rồi mời phường bùa hát tiếp. Thầy thường và chủ nhà sẽ hát đối đáp nhau. Nếu phường bùa hát kém sẽ không được mời lên gác và phải chịu đói. Khi phường bùa ra về, thầy thường sẽ hát chào, chúc chủ nhà sống lâu, mạnh khỏe. Còn gia chủ mang quà, bánh, thóc, gạo tặng phường bùa để cảm ơn. Điểm đặc sắc và cuốn hút của hội hát Sắc bùa là tất cả mọi hành động, cử chỉ, thái độ đều biểu hiện qua lời hát. Độc đáo nhất là khả năng ứng đối của chủ nhà và phường bùa. Hội hát Sắc bùa mang đậm nét văn hóa của người Mường.

Vào những ngày đầu xuân năm mới, tiếng cồng của hội Sắc bùa vang lên và dừng chân hết nhà này sang nhà khác làm không khí xuân thêm rộn rã. Âm thanh của tiếng cồng chiêng, điệu hát cùng lời chúc xuân khiến mọi người gắn kết hơn, làm đẹp cho bản làng mỗi độ xuân về.

Hội Sắc bùa thực chất là hình thức diễn xướng dân gian của dân tộc Mường gắn với nghi lễ nông nghiệp, cầu mong năm mới phát tài, làm ăn thuận lợi, mùa màng bội thu, mọi nhà đều bình an, may mắn.

Theo tục lệ, "phường bùa" tên gọi của nhóm nhạc cồng chiêng thường có từ 12 người trở lên, họ đều là những người biết hát những điệu hát dân gian của dân tộc Mường, sẽ đến thăm những gia đình trong bản và hát những lời hát chúc Tết. Hội hát Sắc bùa thường tổ chức từ mùng 1 Tết và kéo dài khoảng 7-15 ngày.

Đứng đầu phường bùa là một thầy thường có giọng hát hay và có tài ứng tác. Phường bùa xuất phát từ khu nhà để cồng chiêng sau khi thầy thường đọc lời xuất phát. Phường bùa vừa đi vừa đánh những bài cồng chiêng khác nhau và hát những bài tùy hứng. Tiếng cồng chiêng hòa quyện cùng tiếng hát làm không khí những ngày đầu năm thêm rộn ràng. Phường bùa đi đến đâu cũng thu hút rất đông người dân bản đi theo xem hát khiến khắp các bản làng đông vui, nhộn nhịp.

Phường bùa sẽ ghé qua nhiều gia đình và hát những lời chúc Tết. Khi tới nhà nào đó, phường bùa sẽ đánh cồng và hát bài mở cổng để chủ nhà ra mở cổng đón vào. Nếu nhà nào không mời phường bùa lên gác thì chủ nhà sẽ trao cho thầy thường một thúng thóc nhỏ để làm quà còn thầy thường sẽ hát bài phát rác tạ ơn chủ nhà. Nhà nào muốn giữ phường bùa ở lại thì bê ra đặt ở cầu thang một mâm gồm chai rượu, vài chiếc cốc, hai bát to đựng gạo trên có cắm bốn nén hương, một đĩa trầu cau rồi mời phường bùa hát tiếp. Thầy thường và chủ nhà sẽ hát đối đáp nhau. Nếu phường bùa hát kém sẽ không được mời lên gác và phải chịu đói. Khi phường bùa ra về, thầy thường sẽ hát chào, chúc chủ nhà sống lâu, mạnh khỏe. Còn gia chủ mang quà, bánh, thóc, gạo tặng phường bùa để cảm ơn.

Điểm đặc sắc và cuốn hút của hội hát Sắc bùa là tất cả mọi hành động, cử chỉ, thái độ đều biểu hiện qua lời hát. Độc đáo nhất là khả năng ứng đối của chủ nhà và phường bùa. Hội hát Sắc bùa mang đậm nét văn hóa của người Mường.

Related Figures

Lễ hội khai mùa Mường Thàng tỉnh Hòa Bình

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 6/1- 7/1 Âm lịch Lễ khai hạ Mường Thàng là lễ hội truyền thống hàng năm của dân tộc Mường ở Cao Phong để cầu mùa và mở cửa rừng. Cứ mỗi độ Tết đến xuân về, khắp các bản Mường lại ngân vang tiếng chiêng khai hội, cầu một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, nhà nhà no ấm. Thầy Mo làm lễ cúng Thành Hoàng trong lễ hội khai mùa Mường Thàng Mường Thàng (huyện Cao Phong) là một trong bốn vùng Mường lớn tỉnh Hòa Bình (nhất Bi, nhì Vang, tam Thàng, tứ Động). Lễ khai hạ Mường Thàng được bắt đầu bằng lễ cúng Tam vị Tản viên Sơn Thánh tại Miếu cả Mường Thàng, lễ cúng tại mộ Công chúa thời Lê , lễ rước kiệu Thành Hoàng từ Miếu Cả về trung tâm xã (sân vận động xã Dũng Phong). Kiệu Thành Hoàng ở Miếu Cả trong lễ hội khai mùa Mường Thàng Tiếp đến là màn trình diễn chiêng của 200 cô gái Mường. Tiếng chiêng mùa xuân hòa cùng đất trời cầu cho một năm mới mùa màng tốt tươi, nhà nhà ấm no hạnh phúc. Khi hồi chiêng và nhạc tế kết thúc, thầy Mo đọc lời cúng xin phép mở hội bằng tiếng Mường, áng Sử thi Đẻ đất, Đẻ nước nổi tiếng. Thiếu nữ Mường biểu diễn chiêng trong lễ hội khai mùa Mường Thàng Sau phần lễ là phần hội diễn ra sôi nổi với nhiều hoạt động hấp dẫn như: thi hát Ví, Đúm, trình tấu chiêng Mường, tổ chức các trò chơi dân gian, các giải đấu thể thao, giao lưu văn nghệ... Lễ khai hạ Mường Thàng là dịp để người Mường bày tỏ lòng tôn kính với các vị thần linh, cầu mong những điều tốt đẹp sẽ đến trong năm mới. Ngoài ra, lễ hội còn là nơi gặp gỡ, giao lưu cho dân bản trong dịp Tết đến xuân về.

Thầy Mo làm lễ cúng Thành Hoàng trong lễ hội khai mùa Mường Thàng Mường Thàng (huyện Cao Phong) là một trong bốn vùng Mường lớn tỉnh Hòa Bình (nhất Bi, nhì Vang, tam Thàng, tứ Động). Lễ khai hạ Mường Thàng được bắt đầu bằng lễ cúng Tam vị Tản viên Sơn Thánh tại Miếu cả Mường Thàng, lễ cúng tại mộ Công chúa thời Lê , lễ rước kiệu Thành Hoàng từ Miếu Cả về trung tâm xã (sân vận động xã Dũng Phong). Kiệu Thành Hoàng ở Miếu Cả trong lễ hội khai mùa Mường Thàng Tiếp đến là màn trình diễn chiêng của 200 cô gái Mường. Tiếng chiêng mùa xuân hòa cùng đất trời cầu cho một năm mới mùa màng tốt tươi, nhà nhà ấm no hạnh phúc. Khi hồi chiêng và nhạc tế kết thúc, thầy Mo đọc lời cúng xin phép mở hội bằng tiếng Mường, áng Sử thi Đẻ đất, Đẻ nước nổi tiếng. Thiếu nữ Mường biểu diễn chiêng trong lễ hội khai mùa Mường Thàng Sau phần lễ là phần hội diễn ra sôi nổi với nhiều hoạt động hấp dẫn như: thi hát Ví, Đúm, trình tấu chiêng Mường, tổ chức các trò chơi dân gian, các giải đấu thể thao, giao lưu văn nghệ... Lễ khai hạ Mường Thàng là dịp để người Mường bày tỏ lòng tôn kính với các vị thần linh, cầu mong những điều tốt đẹp sẽ đến trong năm mới. Ngoài ra, lễ hội còn là nơi gặp gỡ, giao lưu cho dân bản trong dịp Tết đến xuân về.

Mường Thàng (huyện Cao Phong) là một trong bốn vùng Mường lớn tỉnh Hòa Bình (nhất Bi, nhì Vang, tam Thàng, tứ Động). Lễ khai hạ Mường Thàng được bắt đầu bằng lễ cúng Tam vị Tản viên Sơn Thánh tại Miếu cả Mường Thàng, lễ cúng tại mộ Công chúa thời Lê , lễ rước kiệu Thành Hoàng từ Miếu Cả về trung tâm xã (sân vận động xã Dũng Phong).

Kiệu Thành Hoàng ở Miếu Cả trong lễ hội khai mùa Mường Thàng

Tiếp đến là màn trình diễn chiêng của 200 cô gái Mường. Tiếng chiêng mùa xuân hòa cùng đất trời cầu cho một năm mới mùa màng tốt tươi, nhà nhà ấm no hạnh phúc. Khi hồi chiêng và nhạc tế kết thúc, thầy Mo đọc lời cúng xin phép mở hội bằng tiếng Mường, áng Sử thi Đẻ đất, Đẻ nước nổi tiếng.

Thiếu nữ Mường biểu diễn chiêng trong lễ hội khai mùa Mường Thàng

Sau phần lễ là phần hội diễn ra sôi nổi với nhiều hoạt động hấp dẫn như: thi hát Ví, Đúm, trình tấu chiêng Mường, tổ chức các trò chơi dân gian, các giải đấu thể thao, giao lưu văn nghệ...

Lễ khai hạ Mường Thàng là dịp để người Mường bày tỏ lòng tôn kính với các vị thần linh, cầu mong những điều tốt đẹp sẽ đến trong năm mới. Ngoài ra, lễ hội còn là nơi gặp gỡ, giao lưu cho dân bản trong dịp Tết đến xuân về.

Related Figures

Rộn ràng lễ hội Gầu Tào

Thông tin thời kỳ

Lễ hội Gầu Tào được xem là biểu tượng văn hóa và là một trong những lễ hội quan trọng nhất của đồng bào dân tộc Mông ở Hòa Bình. Đây là lễ hội lớn nhất trong năm phản ánh tín ngưỡng, phong tục tập quán của người Mông. Lễ hội Gầu Tào được tổ chức nhằm tạ ơn đất trời, thần linh đã ban tài lộc, cầu mong mọi điều tốt lành sẽ đến với dân bản. Lễ hội Gầu Tào là lễ hội truyền thống của người Mông ở Hòa Bình Gầu Tào trong tiếng Mông có nghĩa là "chơi ngoài trời" hay còn gọi là đạp núi. Lễ hội Gầu Tào được Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thể Thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia tháng 12/2012. Lễ hội được UBND tỉnh Hòa Bình chủ trương phục dựng năm 2017. Lễ hội Gầu Tào được tổ chức theo hình thức luân phiên. Mỗi năm, dân bản chọn một gia đình trong cộng đồng đứng ra tổ chức. Gia đình nào được chọn tổ chức lễ hội Gầu Tào là một niềm vinh dự lớn. Công việc chuẩn bị cho lễ hội được thực hiện trong suốt 1 năm, trong đó việc tìm và dựng cây nêu là quan trọng nhất. Người dân dựng cây nêu trong lễ hội Gầu Tào Cây tre để làm cây nêu phải thẳng, đều dóng, cao từ 9-12m, không sâu bệnh, không cụt ngọn, không ra hoa và ngọn cây hướng về phía mặt trời mọc. Cây nêu được trồng trên bãi đất bằng phẳng, ngọn cây bao giờ cũng hướng về hướng Đông - hướng sinh với mong muốn cầu sinh con và cũng là hướng mặt trời mọc với mong ước mùa màng bội thu. Cây nêu được coi là cây thiêng của người Mông, là tín hiệu của hội hè, hạnh phúc và sự ấm no. Thầy cúng làm lễ cúng trong lễ hội Gầu Tào Sau khi dựng xong cây nêu, thầy cúng bắt đầu làm lễ cầu xin thần linh phù hộ cho năm mới mùa màng bội thu, mưa thuận gió hòa, cầu chúc mọi người mọi nhà yên vui, khỏe mạnh... Điểm đặc biệt trong lễ hội Gầu Tào là lễ hội không chỉ dành cho đồng bào người Mông nơi đây mà mọi du khách gần xa đều có thể hòa mình vào lễ hội với tiếng khèn rộn rã, những điệu múa ô và những trò chơi dân gian hấp dẫn.

Lễ hội Gầu Tào là lễ hội truyền thống của người Mông ở Hòa Bình Gầu Tào trong tiếng Mông có nghĩa là "chơi ngoài trời" hay còn gọi là đạp núi. Lễ hội Gầu Tào được Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thể Thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia tháng 12/2012. Lễ hội được UBND tỉnh Hòa Bình chủ trương phục dựng năm 2017. Lễ hội Gầu Tào được tổ chức theo hình thức luân phiên. Mỗi năm, dân bản chọn một gia đình trong cộng đồng đứng ra tổ chức. Gia đình nào được chọn tổ chức lễ hội Gầu Tào là một niềm vinh dự lớn. Công việc chuẩn bị cho lễ hội được thực hiện trong suốt 1 năm, trong đó việc tìm và dựng cây nêu là quan trọng nhất. Người dân dựng cây nêu trong lễ hội Gầu Tào Cây tre để làm cây nêu phải thẳng, đều dóng, cao từ 9-12m, không sâu bệnh, không cụt ngọn, không ra hoa và ngọn cây hướng về phía mặt trời mọc. Cây nêu được trồng trên bãi đất bằng phẳng, ngọn cây bao giờ cũng hướng về hướng Đông - hướng sinh với mong muốn cầu sinh con và cũng là hướng mặt trời mọc với mong ước mùa màng bội thu. Cây nêu được coi là cây thiêng của người Mông, là tín hiệu của hội hè, hạnh phúc và sự ấm no. Thầy cúng làm lễ cúng trong lễ hội Gầu Tào Sau khi dựng xong cây nêu, thầy cúng bắt đầu làm lễ cầu xin thần linh phù hộ cho năm mới mùa màng bội thu, mưa thuận gió hòa, cầu chúc mọi người mọi nhà yên vui, khỏe mạnh... Điểm đặc biệt trong lễ hội Gầu Tào là lễ hội không chỉ dành cho đồng bào người Mông nơi đây mà mọi du khách gần xa đều có thể hòa mình vào lễ hội với tiếng khèn rộn rã, những điệu múa ô và những trò chơi dân gian hấp dẫn.

Gầu Tào trong tiếng Mông có nghĩa là "chơi ngoài trời" hay còn gọi là đạp núi. Lễ hội Gầu Tào được Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thể Thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia tháng 12/2012. Lễ hội được UBND tỉnh Hòa Bình chủ trương phục dựng năm 2017.

Lễ hội Gầu Tào được tổ chức theo hình thức luân phiên. Mỗi năm, dân bản chọn một gia đình trong cộng đồng đứng ra tổ chức. Gia đình nào được chọn tổ chức lễ hội Gầu Tào là một niềm vinh dự lớn. Công việc chuẩn bị cho lễ hội được thực hiện trong suốt 1 năm, trong đó việc tìm và dựng cây nêu là quan trọng nhất.

Người dân dựng cây nêu trong lễ hội Gầu Tào

Cây tre để làm cây nêu phải thẳng, đều dóng, cao từ 9-12m, không sâu bệnh, không cụt ngọn, không ra hoa và ngọn cây hướng về phía mặt trời mọc. Cây nêu được trồng trên bãi đất bằng phẳng, ngọn cây bao giờ cũng hướng về hướng Đông - hướng sinh với mong muốn cầu sinh con và cũng là hướng mặt trời mọc với mong ước mùa màng bội thu. Cây nêu được coi là cây thiêng của người Mông, là tín hiệu của hội hè, hạnh phúc và sự ấm no.

Thầy cúng làm lễ cúng trong lễ hội Gầu Tào

Sau khi dựng xong cây nêu, thầy cúng bắt đầu làm lễ cầu xin thần linh phù hộ cho năm mới mùa màng bội thu, mưa thuận gió hòa, cầu chúc mọi người mọi nhà yên vui, khỏe mạnh...

Điểm đặc biệt trong lễ hội Gầu Tào là lễ hội không chỉ dành cho đồng bào người Mông nơi đây mà mọi du khách gần xa đều có thể hòa mình vào lễ hội với tiếng khèn rộn rã, những điệu múa ô và những trò chơi dân gian hấp dẫn.

Related Figures

Lễ hội cầu yên

Thông tin thời kỳ

Lễ cầu yên (Raja Prông) là lễ hội truyền thống của người Chăm Bà Ni được tổ chức vào đầu tháng Giêng theo lịch Chăm (tức là vào tháng 4 dương lịch). Lễ cầu yên diễn ra trong khoảng 3 ngày 3 đêm để cầu an, xua đuổi những điều xấu, không may trong năm cũ, cầu may mắn và hạnh phúc cho người dân. Lễ cầu yên là lễ hội truyền thống của người Chăm Lễ cầu yên là một trong những lễ hội truyền thống của người Chăm ở Bình Thuận, được tổ chức ở các xóm làng, các vùng dân tộc Chăm Bà Ni. Không ai biết lễ cầu yên được tổ chức lần đầu tiên khi nào nhưng chắc chắn nó đã có từ rất lâu, được tổ chức đều đặn và mang đậm bản sắc văn hóa truyền thống của người dân nơi đây. Lễ cầu yên được bắt đầu lúc chạng vạng tối Người Chăm làm lễ cầu yên để tống tiễn những điều không may của năm cũ, cầu may mắn, bình an, mua thuận gió hòa, làm ăn thuận lợi trong năm mới. Lễ cầu yên được bắt đầu lúc chạng vạng tối. Sau phần nghi lễ, dân làng tổ chức các cuộc vui chơi, múa hát những tiết mục truyền thống của dân tộc Chăm và trò chơi thả thuyền. Tất cả mọi hoạt động diễn ra vô cùng hứng khởi. Ngoài lễ cầu yên người Chăm còn có nhiều lễ hội truyền thống đặc sắc khác Lễ cầu yên ngày nay vẫn được người Chăm Bà Ni lưu giữ và bảo tồn. Lễ hội cũng là dịp để đồng bào Chăm giới thiệu những nét văn hóa đặc sắc, giáo dục con cháu bảo tổn những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình. Ngoài lễ cầu yên, đồng bào dân tộc Chăm ở Bình Thuận thường xuyên tổ chức các lễ hội khác như: lễ Cầu Ðảo, lễ Rija Nưa, lễ Ðấp Ðập, lễ Cấm Phòng..

Lễ cầu yên là lễ hội truyền thống của người Chăm Lễ cầu yên là một trong những lễ hội truyền thống của người Chăm ở Bình Thuận, được tổ chức ở các xóm làng, các vùng dân tộc Chăm Bà Ni. Không ai biết lễ cầu yên được tổ chức lần đầu tiên khi nào nhưng chắc chắn nó đã có từ rất lâu, được tổ chức đều đặn và mang đậm bản sắc văn hóa truyền thống của người dân nơi đây. Lễ cầu yên được bắt đầu lúc chạng vạng tối Người Chăm làm lễ cầu yên để tống tiễn những điều không may của năm cũ, cầu may mắn, bình an, mua thuận gió hòa, làm ăn thuận lợi trong năm mới. Lễ cầu yên được bắt đầu lúc chạng vạng tối. Sau phần nghi lễ, dân làng tổ chức các cuộc vui chơi, múa hát những tiết mục truyền thống của dân tộc Chăm và trò chơi thả thuyền. Tất cả mọi hoạt động diễn ra vô cùng hứng khởi. Ngoài lễ cầu yên người Chăm còn có nhiều lễ hội truyền thống đặc sắc khác Lễ cầu yên ngày nay vẫn được người Chăm Bà Ni lưu giữ và bảo tồn. Lễ hội cũng là dịp để đồng bào Chăm giới thiệu những nét văn hóa đặc sắc, giáo dục con cháu bảo tổn những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình. Ngoài lễ cầu yên, đồng bào dân tộc Chăm ở Bình Thuận thường xuyên tổ chức các lễ hội khác như: lễ Cầu Ðảo, lễ Rija Nưa, lễ Ðấp Ðập, lễ Cấm Phòng..

Lễ cầu yên là một trong những lễ hội truyền thống của người Chăm ở Bình Thuận, được tổ chức ở các xóm làng, các vùng dân tộc Chăm Bà Ni. Không ai biết lễ cầu yên được tổ chức lần đầu tiên khi nào nhưng chắc chắn nó đã có từ rất lâu, được tổ chức đều đặn và mang đậm bản sắc văn hóa truyền thống của người dân nơi đây.

Lễ cầu yên được bắt đầu lúc chạng vạng tối

Người Chăm làm lễ cầu yên để tống tiễn những điều không may của năm cũ, cầu may mắn, bình an, mua thuận gió hòa, làm ăn thuận lợi trong năm mới. Lễ cầu yên được bắt đầu lúc chạng vạng tối. Sau phần nghi lễ, dân làng tổ chức các cuộc vui chơi, múa hát những tiết mục truyền thống của dân tộc Chăm và trò chơi thả thuyền. Tất cả mọi hoạt động diễn ra vô cùng hứng khởi.

Ngoài lễ cầu yên người Chăm còn có nhiều lễ hội truyền thống đặc sắc khác

Lễ cầu yên ngày nay vẫn được người Chăm Bà Ni lưu giữ và bảo tồn. Lễ hội cũng là dịp để đồng bào Chăm giới thiệu những nét văn hóa đặc sắc, giáo dục con cháu bảo tổn những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình. Ngoài lễ cầu yên, đồng bào dân tộc Chăm ở Bình Thuận thường xuyên tổ chức các lễ hội khác như: lễ Cầu Ðảo, lễ Rija Nưa, lễ Ðấp Ðập, lễ Cấm Phòng..

Related Figures

Tưng bừng lễ hội chọi trâu Sơn La

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 5/1 Âm lịch Đã thành thông lệ, lễ hội chọi trâu Sơn La được tổ chức ngày 5 tháng Giêng âm lịch hàng năm. Lễ hội không chỉ gắn kết tinh thần đoàn kết của các dân tộc miền núi phía Bắc mà còn khuyến khích phong trào chăn nuôi gia súc. Du khách tham gia hội chọi trâu Sơn La sẽ được hòa mình vào không khí náo nhiệt, được chứng kiến những trận đấu sừng hấp dẫn. Lễ hội chọi trâu Sơn La thu hút hàng nghìn người tham gia Lễ hội chọi trâu Sơn La là lễ hội mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc; tạo bầu không khí vui tươi, phấn khởi cho người dân địa phương và du khách thập phương trong dịp Tết đến xuân về. Lễ hội chọi trâu không chỉ thể hiện giá trị văn hóa, tín ngưỡng độc đáo mà còn thể hiện tính táo bạo, lòng quả cảm, sức mạnh và tinh thần thượng võ với nhiều miếng đòn hiểm hóc mang lại những trận đấu hấp dẫn và kịch tính. Những trận đấu thường diễn ra sôi nổi với nhiều đòn hiểm, đánh áp đảo, hạ knock out đối thủ tạo sự bất ngờ, hấp dẫn cho người xem. Màn tranh tài hấp dẫn trong lễ hội chọi trâu Sơn La Một nét rất riêng và độc đáo của lễ hội chọi trâu Sơn La là tất cả trâu chọi đều được chọn lọc kỹ từ các hộ gia đình ở địa phương. Khi thi đấu xong, trâu chọi được các chủ hộ đưa về chăm sóc để tiếp tục tham gia sản xuất và đến mùa xuân năm sau lại tham gia lễ hội. Trâu chọi ở Sơn La không bị giết thịt như ở nhiều lễ hội chọi trâu khác. Vì vậy, có những ông trâu được nhận tới 2,3 chức vô địch qua các năm thi đấu. Trận đấu sôi nổi trong lễ hội chọi trâu Sơn La Lễ hội chọi trâu Sơn La được tổ chức hàng năm thể hiện mong ước của bà con nơi đây vào một năm mới sản xuất thắng lợi, mùa màng bội thu, đồng thời khuyến khích bà con thi đua chăn nuôi sản xuất phát triển đàn gia súc bởi con trâu là đầu cơ nghiệp. Lễ hội chọi trâu Sơn La hàng năm thu hút đông đảo người dân các dân tộc trên địa bàn và các vùng lân cận tới xem và cổ vũ.

Lễ hội chọi trâu Sơn La thu hút hàng nghìn người tham gia Lễ hội chọi trâu Sơn La là lễ hội mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc; tạo bầu không khí vui tươi, phấn khởi cho người dân địa phương và du khách thập phương trong dịp Tết đến xuân về. Lễ hội chọi trâu không chỉ thể hiện giá trị văn hóa, tín ngưỡng độc đáo mà còn thể hiện tính táo bạo, lòng quả cảm, sức mạnh và tinh thần thượng võ với nhiều miếng đòn hiểm hóc mang lại những trận đấu hấp dẫn và kịch tính. Những trận đấu thường diễn ra sôi nổi với nhiều đòn hiểm, đánh áp đảo, hạ knock out đối thủ tạo sự bất ngờ, hấp dẫn cho người xem. Màn tranh tài hấp dẫn trong lễ hội chọi trâu Sơn La Một nét rất riêng và độc đáo của lễ hội chọi trâu Sơn La là tất cả trâu chọi đều được chọn lọc kỹ từ các hộ gia đình ở địa phương. Khi thi đấu xong, trâu chọi được các chủ hộ đưa về chăm sóc để tiếp tục tham gia sản xuất và đến mùa xuân năm sau lại tham gia lễ hội. Trâu chọi ở Sơn La không bị giết thịt như ở nhiều lễ hội chọi trâu khác. Vì vậy, có những ông trâu được nhận tới 2,3 chức vô địch qua các năm thi đấu. Trận đấu sôi nổi trong lễ hội chọi trâu Sơn La Lễ hội chọi trâu Sơn La được tổ chức hàng năm thể hiện mong ước của bà con nơi đây vào một năm mới sản xuất thắng lợi, mùa màng bội thu, đồng thời khuyến khích bà con thi đua chăn nuôi sản xuất phát triển đàn gia súc bởi con trâu là đầu cơ nghiệp. Lễ hội chọi trâu Sơn La hàng năm thu hút đông đảo người dân các dân tộc trên địa bàn và các vùng lân cận tới xem và cổ vũ.

Lễ hội chọi trâu Sơn La là lễ hội mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc; tạo bầu không khí vui tươi, phấn khởi cho người dân địa phương và du khách thập phương trong dịp Tết đến xuân về. Lễ hội chọi trâu không chỉ thể hiện giá trị văn hóa, tín ngưỡng độc đáo mà còn thể hiện tính táo bạo, lòng quả cảm, sức mạnh và tinh thần thượng võ với nhiều miếng đòn hiểm hóc mang lại những trận đấu hấp dẫn và kịch tính.

Những trận đấu thường diễn ra sôi nổi với nhiều đòn hiểm, đánh áp đảo, hạ knock out đối thủ tạo sự bất ngờ, hấp dẫn cho người xem.

Màn tranh tài hấp dẫn trong lễ hội chọi trâu Sơn La

Một nét rất riêng và độc đáo của lễ hội chọi trâu Sơn La là tất cả trâu chọi đều được chọn lọc kỹ từ các hộ gia đình ở địa phương. Khi thi đấu xong, trâu chọi được các chủ hộ đưa về chăm sóc để tiếp tục tham gia sản xuất và đến mùa xuân năm sau lại tham gia lễ hội. Trâu chọi ở Sơn La không bị giết thịt như ở nhiều lễ hội chọi trâu khác. Vì vậy, có những ông trâu được nhận tới 2,3 chức vô địch qua các năm thi đấu.

Trận đấu sôi nổi trong lễ hội chọi trâu Sơn La

Lễ hội chọi trâu Sơn La được tổ chức hàng năm thể hiện mong ước của bà con nơi đây vào một năm mới sản xuất thắng lợi, mùa màng bội thu, đồng thời khuyến khích bà con thi đua chăn nuôi sản xuất phát triển đàn gia súc bởi con trâu là đầu cơ nghiệp.

Lễ hội chọi trâu Sơn La hàng năm thu hút đông đảo người dân các dân tộc trên địa bàn và các vùng lân cận tới xem và cổ vũ.

Lễ hội chọi trâu Sơn La hàng năm thu hút đông đảo người dân các dân tộc trên địa bàn và các vùng lân cận tới xem và cổ vũ.

Lễ hội chọi trâu Sơn La hàng năm thu hút đông đảo người dân các dân tộc trên địa bàn và các vùng lân cận tới xem và cổ vũ.

Related Figures

Đặc sắc Lễ mừng cơm mới của người La Hủ tỉnh Lai Châu

Thông tin thời kỳ

Dân tộc La Hủ tỉnh Lai Châu có nhiều lễ tết trong năm, trong đó lễ mừng cơm mới là lễ quan trọng nhằm tạ ơn đất trời, thần linh và tổ tiên đã phù hộ để mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, con cháu có cái ăn và cầu cho vụ mùa sau thuận lợi hơn. Lễ mừng cơm mới là nghi lễ quan trọng của người La Hủ tỉnh Lai Châu Để chuẩn bị cho lễ mừng cơm mới, những người đàn ông trong gia đình dọn dẹp bàn thờ tổ tiên, còn người phụ nữ lên nương lấy lúa về làm lễ cúng. Người mẹ dẫn theo một người con gái lên nương để dạy cách chọn và lấy bông lúa để sau khi về nhà chồng sẽ phải thực hiện công việc này. Giã gạo chuẩn bị lễ mừng cơm mới của người La Hủ Những bông lúa được chọn phải là những bông lúa dày và mẩy hạt. Sau khi đem lúa về nhà, người phụ nữ sẽ bó lại và treo ngược lên bếp để sấy khô, sau đó tuốt ra và giã thành gạo. Người La Hủ trộn đều gạo mới với gạo cũ với ý nghĩa tạo nên sự dung hòa giữa thành quả vụ mùa cũ với vụ mùa mới, kế thừa thành quả đạt được và tiếp nối những vụ mùa tiếp theo. Theo quan niệm của đồng bào nơi đây, thành quả có được của vụ mùa mới là sự kế thừa của vụ trước; cũng như ý nghĩa dẫn con gái đi theo để lấy lúa là cách dạy con tiếp bước, kế thừa kinh nghiệm của thế hệ đi trước. Chủ nhà thực hiện lễ cúng mừng cơm mới Bàn thờ cũng tổ tiên của người La Hủ được đặt nơi đầu giường của chủ nhà. Lễ vật cúng gồm cơm mới, cơm nhuộm vàng, các bộ phận của con lợn mỗi thứ một ít và một quả trứng bỏ trên bát gạo. Tất cả lễ vật được sắp xếp gọn gàng trên một cái sàng gạo. Tất cả mọi thành viên trong gia đình phải có mặt để cúng lạy tổ tiên, cầu mong một vụ mùa tốt tươi, thóc lúa nhiều, vật nuôi đầy đàn, sức khỏe và bình an. Việc cúng mừng cơm mới của người La Hủ được thực hiện đầu tiên ở gia đình trưởng họ. Những người con thứ đã lập gia đình phải chờ nhà anh trưởng cúng mừng cơm mới xong thì mới cúng ở nhà mình.

Lễ mừng cơm mới là nghi lễ quan trọng của người La Hủ tỉnh Lai Châu Để chuẩn bị cho lễ mừng cơm mới, những người đàn ông trong gia đình dọn dẹp bàn thờ tổ tiên, còn người phụ nữ lên nương lấy lúa về làm lễ cúng. Người mẹ dẫn theo một người con gái lên nương để dạy cách chọn và lấy bông lúa để sau khi về nhà chồng sẽ phải thực hiện công việc này. Giã gạo chuẩn bị lễ mừng cơm mới của người La Hủ Những bông lúa được chọn phải là những bông lúa dày và mẩy hạt. Sau khi đem lúa về nhà, người phụ nữ sẽ bó lại và treo ngược lên bếp để sấy khô, sau đó tuốt ra và giã thành gạo. Người La Hủ trộn đều gạo mới với gạo cũ với ý nghĩa tạo nên sự dung hòa giữa thành quả vụ mùa cũ với vụ mùa mới, kế thừa thành quả đạt được và tiếp nối những vụ mùa tiếp theo. Theo quan niệm của đồng bào nơi đây, thành quả có được của vụ mùa mới là sự kế thừa của vụ trước; cũng như ý nghĩa dẫn con gái đi theo để lấy lúa là cách dạy con tiếp bước, kế thừa kinh nghiệm của thế hệ đi trước. Chủ nhà thực hiện lễ cúng mừng cơm mới Bàn thờ cũng tổ tiên của người La Hủ được đặt nơi đầu giường của chủ nhà. Lễ vật cúng gồm cơm mới, cơm nhuộm vàng, các bộ phận của con lợn mỗi thứ một ít và một quả trứng bỏ trên bát gạo. Tất cả lễ vật được sắp xếp gọn gàng trên một cái sàng gạo. Tất cả mọi thành viên trong gia đình phải có mặt để cúng lạy tổ tiên, cầu mong một vụ mùa tốt tươi, thóc lúa nhiều, vật nuôi đầy đàn, sức khỏe và bình an. Việc cúng mừng cơm mới của người La Hủ được thực hiện đầu tiên ở gia đình trưởng họ. Những người con thứ đã lập gia đình phải chờ nhà anh trưởng cúng mừng cơm mới xong thì mới cúng ở nhà mình.

Để chuẩn bị cho lễ mừng cơm mới, những người đàn ông trong gia đình dọn dẹp bàn thờ tổ tiên, còn người phụ nữ lên nương lấy lúa về làm lễ cúng. Người mẹ dẫn theo một người con gái lên nương để dạy cách chọn và lấy bông lúa để sau khi về nhà chồng sẽ phải thực hiện công việc này.

Giã gạo chuẩn bị lễ mừng cơm mới của người La Hủ

Những bông lúa được chọn phải là những bông lúa dày và mẩy hạt. Sau khi đem lúa về nhà, người phụ nữ sẽ bó lại và treo ngược lên bếp để sấy khô, sau đó tuốt ra và giã thành gạo. Người La Hủ trộn đều gạo mới với gạo cũ với ý nghĩa tạo nên sự dung hòa giữa thành quả vụ mùa cũ với vụ mùa mới, kế thừa thành quả đạt được và tiếp nối những vụ mùa tiếp theo. Theo quan niệm của đồng bào nơi đây, thành quả có được của vụ mùa mới là sự kế thừa của vụ trước; cũng như ý nghĩa dẫn con gái đi theo để lấy lúa là cách dạy con tiếp bước, kế thừa kinh nghiệm của thế hệ đi trước.

Chủ nhà thực hiện lễ cúng mừng cơm mới

Bàn thờ cũng tổ tiên của người La Hủ được đặt nơi đầu giường của chủ nhà. Lễ vật cúng gồm cơm mới, cơm nhuộm vàng, các bộ phận của con lợn mỗi thứ một ít và một quả trứng bỏ trên bát gạo. Tất cả lễ vật được sắp xếp gọn gàng trên một cái sàng gạo. Tất cả mọi thành viên trong gia đình phải có mặt để cúng lạy tổ tiên, cầu mong một vụ mùa tốt tươi, thóc lúa nhiều, vật nuôi đầy đàn, sức khỏe và bình an.

Việc cúng mừng cơm mới của người La Hủ được thực hiện đầu tiên ở gia đình trưởng họ. Những người con thứ đã lập gia đình phải chờ nhà anh trưởng cúng mừng cơm mới xong thì mới cúng ở nhà mình.

Related Figures

Lễ hội vải thiều Thanh Hà tỉnh Hải Dương lần đầu tiên

Thông tin thời kỳ

Lễ hội vải thiều Thanh Hà lần đầu tiên dự kiến tổ chức cuối tháng 5 với khoảng 600 khách mời. Lễ hội vải thiều Thanh Hà là cơ hội để quảng bá, giới thiệu đặc sản địa phương; qua đó thúc đẩy giao lưu, mở rộng việc thu mua xuất nhập khẩu nhằm nâng cao giá trị nông sản, xúc tiến đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp và du lịch. Lễ hội vải thiều Thanh Hà lần đầu tiên tổ chức tháng 5/2018 Sản lượng vải Hải Dương 2018 ước tính đạt 55.000-60.000 tấn, cao gần gấp đôi sản lượng năm 2017. Huyện Thanh Hà bố trí 26 gian hàng trưng bày nông sản địa phương như vải quả, mật ong, ổi, sắn dây, gạo nếp... Chọn 2 cây vải (1 cây vải sớm và 1 cây vải chính vụ) để trang trí cho lễ hội; bố trí 3 vườn vải để du khách tham quan. Người dân hân hoan chào đón lễ hội vải thiều Thanh Hà lần đầu tiên Lễ hội vải Thanh Hà dự kiến đón khoảng 600 khách mời, trong đó có 200 khách mời là đại diện các doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất, kinh doanh nông sản, thực phẩm, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực du lịch trong và ngoài tỉnh. Lễ hội là cơ hội giao lưu, kết nối nông dân sản xuất, kinh doanh vải thiều và các nông sản khác của tỉnh với các siêu thị, trung tâm thương mai, doanh nghiệp chế biến, thu mua xuất khẩu và tiêu thụ vải, nông sản. Cũng trong chương trình tổ chức lễ hội, Hải Dương sẽ công bố, giới thiệu quy hoạch xây dựng khu du lịch sinh thái nghỉ dưỡng sông Hương. Du khách tham gia lễ hội vải Thanh Hà sẽ được tham quan cây Vải Tổ, thăm các vùng sản xuất vải thiều theo tiêu chuẩn VietGap, trải nghiệm hái vải... Lễ hội vải thiều Thanh Hà là cơ hội quảng bá đặc sản địa phương Lễ hội vải thiều lần đầu tiên là dịp để Hải Dương phát triển thương hiệu vải thiều Thanh Hà, thu hút đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, kết nối các tour du lịch nông nghiệp, từ đó nâng cao giá trị nông sản và thu nhập của nông dân.

Lễ hội vải thiều Thanh Hà lần đầu tiên tổ chức tháng 5/2018 Sản lượng vải Hải Dương 2018 ước tính đạt 55.000-60.000 tấn, cao gần gấp đôi sản lượng năm 2017. Huyện Thanh Hà bố trí 26 gian hàng trưng bày nông sản địa phương như vải quả, mật ong, ổi, sắn dây, gạo nếp... Chọn 2 cây vải (1 cây vải sớm và 1 cây vải chính vụ) để trang trí cho lễ hội; bố trí 3 vườn vải để du khách tham quan. Người dân hân hoan chào đón lễ hội vải thiều Thanh Hà lần đầu tiên Lễ hội vải Thanh Hà dự kiến đón khoảng 600 khách mời, trong đó có 200 khách mời là đại diện các doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất, kinh doanh nông sản, thực phẩm, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực du lịch trong và ngoài tỉnh. Lễ hội là cơ hội giao lưu, kết nối nông dân sản xuất, kinh doanh vải thiều và các nông sản khác của tỉnh với các siêu thị, trung tâm thương mai, doanh nghiệp chế biến, thu mua xuất khẩu và tiêu thụ vải, nông sản. Cũng trong chương trình tổ chức lễ hội, Hải Dương sẽ công bố, giới thiệu quy hoạch xây dựng khu du lịch sinh thái nghỉ dưỡng sông Hương. Du khách tham gia lễ hội vải Thanh Hà sẽ được tham quan cây Vải Tổ, thăm các vùng sản xuất vải thiều theo tiêu chuẩn VietGap, trải nghiệm hái vải... Lễ hội vải thiều Thanh Hà là cơ hội quảng bá đặc sản địa phương Lễ hội vải thiều lần đầu tiên là dịp để Hải Dương phát triển thương hiệu vải thiều Thanh Hà, thu hút đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, kết nối các tour du lịch nông nghiệp, từ đó nâng cao giá trị nông sản và thu nhập của nông dân.

Sản lượng vải Hải Dương 2018 ước tính đạt 55.000-60.000 tấn, cao gần gấp đôi sản lượng năm 2017. Huyện Thanh Hà bố trí 26 gian hàng trưng bày nông sản địa phương như vải quả, mật ong, ổi, sắn dây, gạo nếp... Chọn 2 cây vải (1 cây vải sớm và 1 cây vải chính vụ) để trang trí cho lễ hội; bố trí 3 vườn vải để du khách tham quan.

Người dân hân hoan chào đón lễ hội vải thiều Thanh Hà lần đầu tiên

Lễ hội vải Thanh Hà dự kiến đón khoảng 600 khách mời, trong đó có 200 khách mời là đại diện các doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất, kinh doanh nông sản, thực phẩm, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực du lịch trong và ngoài tỉnh. Lễ hội là cơ hội giao lưu, kết nối nông dân sản xuất, kinh doanh vải thiều và các nông sản khác của tỉnh với các siêu thị, trung tâm thương mai, doanh nghiệp chế biến, thu mua xuất khẩu và tiêu thụ vải, nông sản. Cũng trong chương trình tổ chức lễ hội, Hải Dương sẽ công bố, giới thiệu quy hoạch xây dựng khu du lịch sinh thái nghỉ dưỡng sông Hương.

Du khách tham gia lễ hội vải Thanh Hà sẽ được tham quan cây Vải Tổ, thăm các vùng sản xuất vải thiều theo tiêu chuẩn VietGap, trải nghiệm hái vải...

Lễ hội vải thiều Thanh Hà là cơ hội quảng bá đặc sản địa phương

Lễ hội vải thiều lần đầu tiên là dịp để Hải Dương phát triển thương hiệu vải thiều Thanh Hà, thu hút đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, kết nối các tour du lịch nông nghiệp, từ đó nâng cao giá trị nông sản và thu nhập của nông dân.

Related Figures

Độc đáo phiên chợ Chuộng choảng nhau cầu may

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 6/1 Âm lịch Đến hẹn lại lên, năm nào cũng vậy, cứ đến ngày 6 tháng Giêng âm lịch, hàng nghìn người dân lại nô nức tham dự phiên chợ Chuộng xã Đông Hoàng, huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa choảng nhau để cầu may. Phiên chợ đặc biệt này còn có tên gọi chợ ẩu đả, chợ choảng nhau, chợ ân oán... chỉ họp 1 lần trong năm. Độc đáo phiên chợ Chuộng ném nhau cầu bình an Khác với hình ảnh thanh tịnh, nhẹ nhàng khi đi đền chùa miếu mạo cầu may dịp đầu năm, người dân tham dự phiên chợ Chuộng choảng nhau chí tử bằng cà chua, táo và trứng... để cầu may. Nguồn gốc phiên chợ Chuộng có từ thờ nhà Lê. Vào mừng 6 tháng Giêng, một vị tướng bị giặc truy đuổi chạy qua đây. Để tránh bị quân địch phát hiện, vị tướng này ra lệnh cho quân lính cùng dân làng tổ chức họp chợ. Khi quân địch kéo đến, tưởng đây chỉ là phiên chợ quê bình thường nên không đề phòng. Đến khi vị tướng phát lệnh quân lính và dân làng tấn công, quân địch bị bất ngờ không kịp trở tay và bị đánh tan tác. Để tưởng nhớ công ơn vị tướng, ngày 6 tháng Giêng âm lịch, người dân nô lức kéo đến đây để họp chợ. Nét độc đáo của phiên chợ Chuộng là không phân biệt già trẻ, gái trai, càng nhiều người tham gia càng vui. Người dân và du khách đến chợ sẽ được hòa vào không khí rượt đuổi, đánh ném nhau để xua đi cái xui xẻo của năm cũ, cầu may mắn cho năm mới. Thanh niên dùng cà chua ném nhau trong phiên chợ Chuộng Những tiểu thương buôn bán các loại quả cho người đi chợ, dù đắt hay rẻ đều bán cả. Khi bán hết xem như một năm buôn bán thành công, còn nếu không bán hết thì mang số hoa quả đó để ném vào mọi người cầu may. Hàng nghìn người tham gia phiên chợ Chuộng ném nhau cầu may mắn Người dân nơi đây quan niệm năm nào càng "choảng nhau" to thì năm đó càng gặp may mắn, công việc thuận lợi, làm ăn thuận buồm xuôi gió. Du khách tham gia phiên chợ Chuộng vừa du xuân, mua điều may, bán điều rủi và cầu chúc một năm mới an lành, mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi.

Độc đáo phiên chợ Chuộng ném nhau cầu bình an Khác với hình ảnh thanh tịnh, nhẹ nhàng khi đi đền chùa miếu mạo cầu may dịp đầu năm, người dân tham dự phiên chợ Chuộng choảng nhau chí tử bằng cà chua, táo và trứng... để cầu may. Nguồn gốc phiên chợ Chuộng có từ thờ nhà Lê. Vào mừng 6 tháng Giêng, một vị tướng bị giặc truy đuổi chạy qua đây. Để tránh bị quân địch phát hiện, vị tướng này ra lệnh cho quân lính cùng dân làng tổ chức họp chợ. Khi quân địch kéo đến, tưởng đây chỉ là phiên chợ quê bình thường nên không đề phòng. Đến khi vị tướng phát lệnh quân lính và dân làng tấn công, quân địch bị bất ngờ không kịp trở tay và bị đánh tan tác. Để tưởng nhớ công ơn vị tướng, ngày 6 tháng Giêng âm lịch, người dân nô lức kéo đến đây để họp chợ. Nét độc đáo của phiên chợ Chuộng là không phân biệt già trẻ, gái trai, càng nhiều người tham gia càng vui. Người dân và du khách đến chợ sẽ được hòa vào không khí rượt đuổi, đánh ném nhau để xua đi cái xui xẻo của năm cũ, cầu may mắn cho năm mới. Thanh niên dùng cà chua ném nhau trong phiên chợ Chuộng Những tiểu thương buôn bán các loại quả cho người đi chợ, dù đắt hay rẻ đều bán cả. Khi bán hết xem như một năm buôn bán thành công, còn nếu không bán hết thì mang số hoa quả đó để ném vào mọi người cầu may. Hàng nghìn người tham gia phiên chợ Chuộng ném nhau cầu may mắn Người dân nơi đây quan niệm năm nào càng "choảng nhau" to thì năm đó càng gặp may mắn, công việc thuận lợi, làm ăn thuận buồm xuôi gió. Du khách tham gia phiên chợ Chuộng vừa du xuân, mua điều may, bán điều rủi và cầu chúc một năm mới an lành, mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi.

Khác với hình ảnh thanh tịnh, nhẹ nhàng khi đi đền chùa miếu mạo cầu may dịp đầu năm, người dân tham dự phiên chợ Chuộng choảng nhau chí tử bằng cà chua, táo và trứng... để cầu may.

Nguồn gốc phiên chợ Chuộng có từ thờ nhà Lê. Vào mừng 6 tháng Giêng, một vị tướng bị giặc truy đuổi chạy qua đây. Để tránh bị quân địch phát hiện, vị tướng này ra lệnh cho quân lính cùng dân làng tổ chức họp chợ. Khi quân địch kéo đến, tưởng đây chỉ là phiên chợ quê bình thường nên không đề phòng. Đến khi vị tướng phát lệnh quân lính và dân làng tấn công, quân địch bị bất ngờ không kịp trở tay và bị đánh tan tác. Để tưởng nhớ công ơn vị tướng, ngày 6 tháng Giêng âm lịch, người dân nô lức kéo đến đây để họp chợ.

Nét độc đáo của phiên chợ Chuộng là không phân biệt già trẻ, gái trai, càng nhiều người tham gia càng vui. Người dân và du khách đến chợ sẽ được hòa vào không khí rượt đuổi, đánh ném nhau để xua đi cái xui xẻo của năm cũ, cầu may mắn cho năm mới.

Thanh niên dùng cà chua ném nhau trong phiên chợ Chuộng

Những tiểu thương buôn bán các loại quả cho người đi chợ, dù đắt hay rẻ đều bán cả. Khi bán hết xem như một năm buôn bán thành công, còn nếu không bán hết thì mang số hoa quả đó để ném vào mọi người cầu may.

Hàng nghìn người tham gia phiên chợ Chuộng ném nhau cầu may mắn

Người dân nơi đây quan niệm năm nào càng "choảng nhau" to thì năm đó càng gặp may mắn, công việc thuận lợi, làm ăn thuận buồm xuôi gió.

Du khách tham gia phiên chợ Chuộng vừa du xuân, mua điều may, bán điều rủi và cầu chúc một năm mới an lành, mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi.

Related Figures

Hội Giằng bông cầu quý tử

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 6/2 Âm lịch Hội Giằng bông được tổ chức ngày 6/2 âm lịch hàng năm (5 năm tổ chức linh đình 1 lần) tại làng Sơn Đồng, huyện Hoài Đức, Hà Nội. Hội Giằng bông là hoạt động văn hóa truyền thống với mong muốn cầu chúc những điều tốt đẹp, may mắn trong năm mới, những người có gia đình thì sẽ sinh được quý tử. Giằng bông là phần được trông đợi và náo nhiệt nhất trong lễ hội. Hội Giằng bông ở Sơn Đồng diễn ra quyết liệt Hội Giằng bông có từ thời tướng Lý Phúc Man. Trong một lần đi qua Sơn Đồng, tướng Lý Phúc Man đã chọn đây là nơi đóng quân, rèn luyện binh lính. Vị tướng này đã dùng ngọn tre cho quân lính tranh tài nhằm chọn ra người khỏe mạnh và mưu trí nhất để dẫn binh xong pha trận mạc. Hàng nghìn người tham gia hội Giằng bông cầu may mắn ở Sơn Đồng Hội Giằng bông là lễ hội lớn được tổ chức ngay sau Tết Nguyên đán. Tiêu chuẩn chọn tre làm bông rất khắt khe. Tre phải là cây đực, già, không bị sâu, không kiến, gióng đều nhau. Người vót bông sẽ trực tiếp chọn tre, mỗi cây lấy một đoạn dài hơn 1m, đếm đủ 5 gióng 4 cọc thuộc cung ngũ phúc rồi vót thành bông, sau đó cuốn xù từng gióng và thêm tua cho đẹp. Cận cảnh cây bông trong hội Giằng bông ở Sơn Đồng Hội Giằng bông hàng năm thu hút hàng nghìn người tham gia. Với quan niệm giằng hay chạm vào cây bông sẽ gặp may mắn, thuận lợi trong công việc, sinh được quý tử nên hàng trăm thanh niên lao vào giằng cướp bông. Theo quy định sẽ có 2 lượt tương ứng với 2 cây bong được phát ra, mỗi cây cách nhau 1 giờ. Người giành được bông phải giơ thẳng cây bông và mang vào đình làng trình Thánh. Người chiến thắng phải gửi lại bông ở đình, sau đó về nhà chuẩn bị đồ lễ rồi mới được rước bông về nhà. Hội Giằng bông hàng năm thu hút sự quan tâm của đông đảo người dân trong làng và du khách thập phương.

Hội Giằng bông ở Sơn Đồng diễn ra quyết liệt Hội Giằng bông có từ thời tướng Lý Phúc Man. Trong một lần đi qua Sơn Đồng, tướng Lý Phúc Man đã chọn đây là nơi đóng quân, rèn luyện binh lính. Vị tướng này đã dùng ngọn tre cho quân lính tranh tài nhằm chọn ra người khỏe mạnh và mưu trí nhất để dẫn binh xong pha trận mạc. Hàng nghìn người tham gia hội Giằng bông cầu may mắn ở Sơn Đồng Hội Giằng bông là lễ hội lớn được tổ chức ngay sau Tết Nguyên đán. Tiêu chuẩn chọn tre làm bông rất khắt khe. Tre phải là cây đực, già, không bị sâu, không kiến, gióng đều nhau. Người vót bông sẽ trực tiếp chọn tre, mỗi cây lấy một đoạn dài hơn 1m, đếm đủ 5 gióng 4 cọc thuộc cung ngũ phúc rồi vót thành bông, sau đó cuốn xù từng gióng và thêm tua cho đẹp. Cận cảnh cây bông trong hội Giằng bông ở Sơn Đồng Hội Giằng bông hàng năm thu hút hàng nghìn người tham gia. Với quan niệm giằng hay chạm vào cây bông sẽ gặp may mắn, thuận lợi trong công việc, sinh được quý tử nên hàng trăm thanh niên lao vào giằng cướp bông. Theo quy định sẽ có 2 lượt tương ứng với 2 cây bong được phát ra, mỗi cây cách nhau 1 giờ. Người giành được bông phải giơ thẳng cây bông và mang vào đình làng trình Thánh. Người chiến thắng phải gửi lại bông ở đình, sau đó về nhà chuẩn bị đồ lễ rồi mới được rước bông về nhà. Hội Giằng bông hàng năm thu hút sự quan tâm của đông đảo người dân trong làng và du khách thập phương.

Hội Giằng bông có từ thời tướng Lý Phúc Man. Trong một lần đi qua Sơn Đồng, tướng Lý Phúc Man đã chọn đây là nơi đóng quân, rèn luyện binh lính. Vị tướng này đã dùng ngọn tre cho quân lính tranh tài nhằm chọn ra người khỏe mạnh và mưu trí nhất để dẫn binh xong pha trận mạc.

Hàng nghìn người tham gia hội Giằng bông cầu may mắn ở Sơn Đồng

Hội Giằng bông là lễ hội lớn được tổ chức ngay sau Tết Nguyên đán. Tiêu chuẩn chọn tre làm bông rất khắt khe. Tre phải là cây đực, già, không bị sâu, không kiến, gióng đều nhau. Người vót bông sẽ trực tiếp chọn tre, mỗi cây lấy một đoạn dài hơn 1m, đếm đủ 5 gióng 4 cọc thuộc cung ngũ phúc rồi vót thành bông, sau đó cuốn xù từng gióng và thêm tua cho đẹp.

Cận cảnh cây bông trong hội Giằng bông ở Sơn Đồng

Hội Giằng bông hàng năm thu hút hàng nghìn người tham gia. Với quan niệm giằng hay chạm vào cây bông sẽ gặp may mắn, thuận lợi trong công việc, sinh được quý tử nên hàng trăm thanh niên lao vào giằng cướp bông. Theo quy định sẽ có 2 lượt tương ứng với 2 cây bong được phát ra, mỗi cây cách nhau 1 giờ. Người giành được bông phải giơ thẳng cây bông và mang vào đình làng trình Thánh. Người chiến thắng phải gửi lại bông ở đình, sau đó về nhà chuẩn bị đồ lễ rồi mới được rước bông về nhà. Hội Giằng bông hàng năm thu hút sự quan tâm của đông đảo người dân trong làng và du khách thập phương.

Hội Giằng bông hàng năm thu hút sự quan tâm của đông đảo người dân trong làng và du khách thập phương.

Related Figures

Lễ hội Hoa Phượng Đỏ

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 11/5- 13/5 Dương lịch Lễ hội Hoa Phượng Đỏ Hải Phòng được tổ chức ngày 11-13/5/2018 nhằm chào mừng kỷ niệm 63 năm Ngày giải phóng Hải Phòng (13/5/1955- 13/5/2018). Lễ hội Hoa Phượng Đỏ được tổ chức với nhiều hoạt động văn hóa nghệ thuật hấp dẫn. Lễ hội Hoa Phượng Đỏ Hải Phòng để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp Lễ hội Hoa Phượng Đỏ là sự kiện du lịch - văn hóa được tổ chức thường niên, trở thành lễ hội truyền thống của thành phố cảng Hải Phòng. Năm 2018 là năm thứ 7 Hải Phòng tổ chức lễ hội Hoa Phượng Đỏ. Trong khuôn khổ lễ hội diễn ra chương trình Đêm hội "Hải Phòng vươn ra biển lớn" tại Quảng trường Nhà hát thành phố chào mừng kỷ niệm 63 năm giải phóng Hải Phòng, khu vực dải trung tâm thành phố có chương trình diễu hành Carnival có sự tham gia biểu diễn của 7 đoàn nghệ thuật nước ngoài. Điểm nhấn đặc biệt trong Lễ hội Hoa Phượng Đỏ là màn bắn pháo hoa tầm thấp với thời lượng 15 phút. Bắn pháo hoa trong lễ hội Hoa Phượng Đỏ Hải Phòng Ngoài ra, Lễ hội Hoa Phượng Đỏ còn có một số chương trình khác như: Giải đua thuyền rồng thành phố Hải Phòng mở rộng trên sông Giá (huyện Thủy Nguyên) Ngày hội xe cổ Hải Phòng "Đồng hành Hoa phượng - Kết nối đam mê" Giao lưu văn hóa ẩm thực Hải Phòng và các quốc gia Triển lãm tranh mỹ thuật "Gặp gỡ Hải Phòng" Giao lưu bóng đá giữ cán bộ Đại sứ quán Colombia tại Việt Nam với trung tâm bóng đá Hải Phòng Chiếu phim về Đất và Con người Hải Phòng Biểu diễn lân sư rồng Bữa tiệc ánh sáng đầy màu sắc lễ hội Hoa Phượng Đỏ Hải Phòng Lễ hội Hoa Phượng Đỏ Hải Phòng 2018 hứa hẹn thu hút số lượng lớn khách du lịch trong và ngoài nước.

Lễ hội Hoa Phượng Đỏ Hải Phòng để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp Lễ hội Hoa Phượng Đỏ là sự kiện du lịch - văn hóa được tổ chức thường niên, trở thành lễ hội truyền thống của thành phố cảng Hải Phòng. Năm 2018 là năm thứ 7 Hải Phòng tổ chức lễ hội Hoa Phượng Đỏ. Trong khuôn khổ lễ hội diễn ra chương trình Đêm hội "Hải Phòng vươn ra biển lớn" tại Quảng trường Nhà hát thành phố chào mừng kỷ niệm 63 năm giải phóng Hải Phòng, khu vực dải trung tâm thành phố có chương trình diễu hành Carnival có sự tham gia biểu diễn của 7 đoàn nghệ thuật nước ngoài. Điểm nhấn đặc biệt trong Lễ hội Hoa Phượng Đỏ là màn bắn pháo hoa tầm thấp với thời lượng 15 phút. Bắn pháo hoa trong lễ hội Hoa Phượng Đỏ Hải Phòng Ngoài ra, Lễ hội Hoa Phượng Đỏ còn có một số chương trình khác như: Giải đua thuyền rồng thành phố Hải Phòng mở rộng trên sông Giá (huyện Thủy Nguyên) Ngày hội xe cổ Hải Phòng "Đồng hành Hoa phượng - Kết nối đam mê" Giao lưu văn hóa ẩm thực Hải Phòng và các quốc gia Triển lãm tranh mỹ thuật "Gặp gỡ Hải Phòng" Giao lưu bóng đá giữ cán bộ Đại sứ quán Colombia tại Việt Nam với trung tâm bóng đá Hải Phòng Chiếu phim về Đất và Con người Hải Phòng Biểu diễn lân sư rồng Bữa tiệc ánh sáng đầy màu sắc lễ hội Hoa Phượng Đỏ Hải Phòng Lễ hội Hoa Phượng Đỏ Hải Phòng 2018 hứa hẹn thu hút số lượng lớn khách du lịch trong và ngoài nước.

Lễ hội Hoa Phượng Đỏ là sự kiện du lịch - văn hóa được tổ chức thường niên, trở thành lễ hội truyền thống của thành phố cảng Hải Phòng. Năm 2018 là năm thứ 7 Hải Phòng tổ chức lễ hội Hoa Phượng Đỏ. Trong khuôn khổ lễ hội diễn ra chương trình Đêm hội "Hải Phòng vươn ra biển lớn" tại Quảng trường Nhà hát thành phố chào mừng kỷ niệm 63 năm giải phóng Hải Phòng, khu vực dải trung tâm thành phố có chương trình diễu hành Carnival có sự tham gia biểu diễn của 7 đoàn nghệ thuật nước ngoài. Điểm nhấn đặc biệt trong Lễ hội Hoa Phượng Đỏ là màn bắn pháo hoa tầm thấp với thời lượng 15 phút.

Bắn pháo hoa trong lễ hội Hoa Phượng Đỏ Hải Phòng Ngoài ra, Lễ hội Hoa Phượng Đỏ còn có một số chương trình khác như: Giải đua thuyền rồng thành phố Hải Phòng mở rộng trên sông Giá (huyện Thủy Nguyên) Ngày hội xe cổ Hải Phòng "Đồng hành Hoa phượng - Kết nối đam mê" Giao lưu văn hóa ẩm thực Hải Phòng và các quốc gia Triển lãm tranh mỹ thuật "Gặp gỡ Hải Phòng" Giao lưu bóng đá giữ cán bộ Đại sứ quán Colombia tại Việt Nam với trung tâm bóng đá Hải Phòng Chiếu phim về Đất và Con người Hải Phòng Biểu diễn lân sư rồng Bữa tiệc ánh sáng đầy màu sắc lễ hội Hoa Phượng Đỏ Hải Phòng Lễ hội Hoa Phượng Đỏ Hải Phòng 2018 hứa hẹn thu hút số lượng lớn khách du lịch trong và ngoài nước.

Ngoài ra, Lễ hội Hoa Phượng Đỏ còn có một số chương trình khác như: Giải đua thuyền rồng thành phố Hải Phòng mở rộng trên sông Giá (huyện Thủy Nguyên) Ngày hội xe cổ Hải Phòng "Đồng hành Hoa phượng - Kết nối đam mê" Giao lưu văn hóa ẩm thực Hải Phòng và các quốc gia Triển lãm tranh mỹ thuật "Gặp gỡ Hải Phòng" Giao lưu bóng đá giữ cán bộ Đại sứ quán Colombia tại Việt Nam với trung tâm bóng đá Hải Phòng Chiếu phim về Đất và Con người Hải Phòng Biểu diễn lân sư rồng Bữa tiệc ánh sáng đầy màu sắc lễ hội Hoa Phượng Đỏ Hải Phòng Lễ hội Hoa Phượng Đỏ Hải Phòng 2018 hứa hẹn thu hút số lượng lớn khách du lịch trong và ngoài nước.

Ngoài ra, Lễ hội Hoa Phượng Đỏ còn có một số chương trình khác như:

Giải đua thuyền rồng thành phố Hải Phòng mở rộng trên sông Giá (huyện Thủy Nguyên) Ngày hội xe cổ Hải Phòng "Đồng hành Hoa phượng - Kết nối đam mê" Giao lưu văn hóa ẩm thực Hải Phòng và các quốc gia Triển lãm tranh mỹ thuật "Gặp gỡ Hải Phòng" Giao lưu bóng đá giữ cán bộ Đại sứ quán Colombia tại Việt Nam với trung tâm bóng đá Hải Phòng Chiếu phim về Đất và Con người Hải Phòng Biểu diễn lân sư rồng Bữa tiệc ánh sáng đầy màu sắc lễ hội Hoa Phượng Đỏ Hải Phòng Lễ hội Hoa Phượng Đỏ Hải Phòng 2018 hứa hẹn thu hút số lượng lớn khách du lịch trong và ngoài nước.

Bữa tiệc ánh sáng đầy màu sắc lễ hội Hoa Phượng Đỏ Hải Phòng

Lễ hội Hoa Phượng Đỏ Hải Phòng 2018 hứa hẹn thu hút số lượng lớn khách du lịch trong và ngoài nước.

Related Figures

Xôn xao thông tin hàng trăm người hôi đồ cúng

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 6/1- 30/3 Âm lịch Lễ hội chùa Hương diễn ra từ tháng 1 đến tháng 3 âm lịch hàng năm thu hút rất đông phật tử và khách du lịch trong nước lẫn quốc tế. Lễ hội là nét văn hóa, tâm linh truyền thống tốt đẹp của người Việt. Nhưng mới đây hình ảnh không đẹp hàng trăm người dân lao vào "hôi đồ cúng" được cho là diễn ra ở khuôn viên chùa Thiên Trù thuộc khu di tích chùa Hương khiến mạng xã hội xôn xao. Hỗn loạn hàng trăm người hôi đồ cúng tại chùa Hương Gần đây, trên mạng xã hội lan truyền hình ảnh và clip ghi lại cảnh hàng trăm người dân, già trẻ thi nhau lao vào "hôi đồ cúng tế" tại khuôn viên chùa Thiên Trù. Sự việc khiến cộng đồng mạng hết sức hoang mang bởi sự hỗn loạn, tranh giành diễn ra ngay trong chốn linh thiêng. Sân đồ cúng ở chùa Hương bị hàng trăm người hôi sạch sẽ Theo thông tin chia sẻ, sau khi nhà chùa làm lễ xong thì cho người dân vào "hôi của". Chỉ trong ít phút, một sân đồ cúng bị "hôi" sạch sẽ. Nhiều người còn lấy được cả bao tải đồ lễ. Trong clip cũng xuất hiện sư thầy và những người trong nhà chùa. Nhiều người cho rằng cảnh "hôi của, cướp lộc" không phù hợp với văn hóa, tôn nghiêm nơi cửa Phật. Hiện chưa rõ sự việc xảy ra tại thời điểm nào nhưng theo người dân, hình ảnh được chia sẻ trên mạng đúng là khuôn viên chùa Thiên Trù. Đại diện ban quản lý di tích chùa Hương cho rằng, tối mai (9/5/2018) mới là ngày cúng tế. Tuy nhiên, trước thông tin chia sẻ trên mạng, ban quản lý sẽ kiểm tra lại. Trước đó vào năm 2017, tại lễ hội chùa Hương cũng từng xảy ra cảnh tranh giành, cướp lộc. Ngay sau sự cố, ban tổ chức đã xử lý, kiểm điểm và có báo cáo lên Sở Văn hóa Thể thao Hà Nội. Sân chùa Thiên Trù được cho là nơi diễn ra cảnh hôi đồ cúng Ban tổ chức lễ hội chùa Hương đã quán triệt không để diễn ra cảnh cướp lộc tại mùa lễ hội năm 2018.

Hỗn loạn hàng trăm người hôi đồ cúng tại chùa Hương Gần đây, trên mạng xã hội lan truyền hình ảnh và clip ghi lại cảnh hàng trăm người dân, già trẻ thi nhau lao vào "hôi đồ cúng tế" tại khuôn viên chùa Thiên Trù. Sự việc khiến cộng đồng mạng hết sức hoang mang bởi sự hỗn loạn, tranh giành diễn ra ngay trong chốn linh thiêng. Sân đồ cúng ở chùa Hương bị hàng trăm người hôi sạch sẽ Theo thông tin chia sẻ, sau khi nhà chùa làm lễ xong thì cho người dân vào "hôi của". Chỉ trong ít phút, một sân đồ cúng bị "hôi" sạch sẽ. Nhiều người còn lấy được cả bao tải đồ lễ. Trong clip cũng xuất hiện sư thầy và những người trong nhà chùa. Nhiều người cho rằng cảnh "hôi của, cướp lộc" không phù hợp với văn hóa, tôn nghiêm nơi cửa Phật. Hiện chưa rõ sự việc xảy ra tại thời điểm nào nhưng theo người dân, hình ảnh được chia sẻ trên mạng đúng là khuôn viên chùa Thiên Trù. Đại diện ban quản lý di tích chùa Hương cho rằng, tối mai (9/5/2018) mới là ngày cúng tế. Tuy nhiên, trước thông tin chia sẻ trên mạng, ban quản lý sẽ kiểm tra lại. Trước đó vào năm 2017, tại lễ hội chùa Hương cũng từng xảy ra cảnh tranh giành, cướp lộc. Ngay sau sự cố, ban tổ chức đã xử lý, kiểm điểm và có báo cáo lên Sở Văn hóa Thể thao Hà Nội. Sân chùa Thiên Trù được cho là nơi diễn ra cảnh hôi đồ cúng Ban tổ chức lễ hội chùa Hương đã quán triệt không để diễn ra cảnh cướp lộc tại mùa lễ hội năm 2018.

Gần đây, trên mạng xã hội lan truyền hình ảnh và clip ghi lại cảnh hàng trăm người dân, già trẻ thi nhau lao vào "hôi đồ cúng tế" tại khuôn viên chùa Thiên Trù. Sự việc khiến cộng đồng mạng hết sức hoang mang bởi sự hỗn loạn, tranh giành diễn ra ngay trong chốn linh thiêng.

Sân đồ cúng ở chùa Hương bị hàng trăm người hôi sạch sẽ

Theo thông tin chia sẻ, sau khi nhà chùa làm lễ xong thì cho người dân vào "hôi của". Chỉ trong ít phút, một sân đồ cúng bị "hôi" sạch sẽ. Nhiều người còn lấy được cả bao tải đồ lễ. Trong clip cũng xuất hiện sư thầy và những người trong nhà chùa. Nhiều người cho rằng cảnh "hôi của, cướp lộc" không phù hợp với văn hóa, tôn nghiêm nơi cửa Phật.

Hiện chưa rõ sự việc xảy ra tại thời điểm nào nhưng theo người dân, hình ảnh được chia sẻ trên mạng đúng là khuôn viên chùa Thiên Trù. Đại diện ban quản lý di tích chùa Hương cho rằng, tối mai (9/5/2018) mới là ngày cúng tế. Tuy nhiên, trước thông tin chia sẻ trên mạng, ban quản lý sẽ kiểm tra lại.

Trước đó vào năm 2017, tại lễ hội chùa Hương cũng từng xảy ra cảnh tranh giành, cướp lộc. Ngay sau sự cố, ban tổ chức đã xử lý, kiểm điểm và có báo cáo lên Sở Văn hóa Thể thao Hà Nội.

Sân chùa Thiên Trù được cho là nơi diễn ra cảnh hôi đồ cúng

Ban tổ chức lễ hội chùa Hương đã quán triệt không để diễn ra cảnh cướp lộc tại mùa lễ hội năm 2018.

Related Figures

Hội đình làng Phú Xuân

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 5/6- 6/6 Âm lịch Hội đình làng Phú Xuân ở Thừa Thiên Huế là một lễ hội truyền thống đã có từ lâu đời của Thừa Thiên Huế. Hàng năm, cứ đến ngày mồng 5 và mồng 6 tháng 6 âm lịch, người dân nơi đây lại mở hội tưng bừng tại đường Thái Phiên, phường Tây Lộc, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiện Huế. Đây là lễ hội có tín ngưỡng vào các vị thần đã khai sáng ra ngôi làng. Đình Phú Xuân thuộc làng Phú Xuân xưa, nằm trong địa phận Kinh thành Huế. Ban đầu, đình được xây dựng ở bên bờ sông Hương gần Ngọ Môn, nhưng sau khi vua Gia Long ra lệnh xây dựng Kinh thành Huế thì đình được di dời về vị trí hiện nay. Từ năm 1738, chúa Nguyễn Phúc Khoát đã chọn làng Phú Xuân làm nơi dựng phủ, sau này đã trở thành kinh đô của nước Việt dưới thời vua Quang Trung và nhà Nguyễn. Đình làng Phú Xuân Tháng 4 năm 1805, vua Gia Long cho xây dựng Kinh thành Huế, nên dân làng Phú Xuân rơi vào cảnh mất hết đất, đành phải lưu tán khắp nơi. Người làng Phú Xuân vốn là người Lý Nhân và Khoái Chây, thuộc trấn Sơn Nam Thương di cư tới từ hơn 20 đời. Cấu trúc của đình Phú Xuân gồm ba gian hay chái. Gian giữa có treo một tấm hoành phi đề ba chữ "Phú Xuân Đình". Đình tế có 5 gian hau chái với sáu hàng cột dọc, 6 hàng cột ngang làm bằng gỗ kim, mái lợp ngói ta, giữa bờ nóc có mặt trời lửa, 2 đầu bờ nóc, 4 đầu đao có gắn hình con lân, 3 mặt xây tường gạch. Gian ở giữa có tấm hoành phi đề bốn chữ "Dữ Quốc Đồng Hưu". Trong đình có 7 đôi câu đối, 2 chiếc lòng và một số lư hương, bài vị... Hội đình làng Phú Xuân ở Thừa Thiên Huế Hàng năm, cứ đến ngày mồng 5 và mồng 6 tháng 6 âm lịch, người dân trong làng lại nô nức mở hội. Lễ hội diễn ra một cách uy nghiêm, trang trọng, nhưng cũng không kém phần sôi động. Thông qua lễ hội này, lớp trẻ sẽ được sống lại những khoảnh khắc trong văn hóa xưa.

Đình Phú Xuân thuộc làng Phú Xuân xưa, nằm trong địa phận Kinh thành Huế. Ban đầu, đình được xây dựng ở bên bờ sông Hương gần Ngọ Môn, nhưng sau khi vua Gia Long ra lệnh xây dựng Kinh thành Huế thì đình được di dời về vị trí hiện nay. Từ năm 1738, chúa Nguyễn Phúc Khoát đã chọn làng Phú Xuân làm nơi dựng phủ, sau này đã trở thành kinh đô của nước Việt dưới thời vua Quang Trung và nhà Nguyễn.

Đình làng Phú Xuân

Tháng 4 năm 1805, vua Gia Long cho xây dựng Kinh thành Huế, nên dân làng Phú Xuân rơi vào cảnh mất hết đất, đành phải lưu tán khắp nơi. Người làng Phú Xuân vốn là người Lý Nhân và Khoái Chây, thuộc trấn Sơn Nam Thương di cư tới từ hơn 20 đời.

Cấu trúc của đình Phú Xuân gồm ba gian hay chái. Gian giữa có treo một tấm hoành phi đề ba chữ "Phú Xuân Đình". Đình tế có 5 gian hau chái với sáu hàng cột dọc, 6 hàng cột ngang làm bằng gỗ kim, mái lợp ngói ta, giữa bờ nóc có mặt trời lửa, 2 đầu bờ nóc, 4 đầu đao có gắn hình con lân, 3 mặt xây tường gạch. Gian ở giữa có tấm hoành phi đề bốn chữ "Dữ Quốc Đồng Hưu". Trong đình có 7 đôi câu đối, 2 chiếc lòng và một số lư hương, bài vị...

Hội đình làng Phú Xuân ở Thừa Thiên Huế

Hàng năm, cứ đến ngày mồng 5 và mồng 6 tháng 6 âm lịch, người dân trong làng lại nô nức mở hội. Lễ hội diễn ra một cách uy nghiêm, trang trọng, nhưng cũng không kém phần sôi động. Thông qua lễ hội này, lớp trẻ sẽ được sống lại những khoảnh khắc trong văn hóa xưa.

Related Figures

Hội đền Lương Văn Chánh

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 6/2 Âm lịch Hội đền Lương Văn Chánh được tổ chức ngày 6/2 âm lịch (ngày nhận sắc lệnh) và ngày 19/9 âm lịch (ngày mất Lương Văn Chánh). Lễ hội thể hiện nét văn hóa truyền thống của người dân Phú Yên, tưởng nhớ công lao to lớn của vị anh hùng dân tộc với người dân nơi đây. Lễ hội đền Lương Văn Chánh thu hút đông đảo người dân tham gia Danh nhân Lương Văn Chánh quê ở Thanh Hóa, lúc khởi nghiệp phò giúp vua Trịnh Tùng lập được nhiều chiến công nên được phong chức "Thiên võ vệ Đô chỉ huy sứ". Cuối thế kỷ XVI, Lương Văn Chánh theo Nguyễn Hoàng vào mở mang vùng đất phương Nam. Lập được nhiều công lớn, ông được thăng chức "Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân" tước Phù Nghĩa Hầu. Trong những năm từ 1578-1611, Lương Văn Chánh theo lệnh chúa Nguyễn Hoàng chiêu mộ lưu dân từ các vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh và Thuận Quảng đưa vào vùng đất nằm giữa đèo Cù Mông và Đèo Cả khai hoang, lập làng hình thành nên vùng đất biên viễn phía Nam nước Đại Việt với tên gọi Trấn Biên. Đây là cơ sở để năm 1611, chúa Nguyễn thành lập phủ Phú Yên với 2 huyện Tuy Hòa và Đồng Xuân. Dâng hương tưởng nhớ công ơn bậc tiền nhân trong hội đền Lương Văn Chánh Lương Văn Chánh mất ngày 19/9 (âm lịch), được suy tôn là Thành hoàng của vùng đất Phú Yên. Để tưởng nhớ công ơn to lớn của ông, mộ và đền thờ Lương Văn Chánh được xây dựng vào những năm 30 của thế kỳ XVII. Năm 1996, đền và mộ danh nhân Lương Văn Chánh được Bộ Văn hóa thông tin công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia. Ngày nay, đền thờ Lương Văn Chánh còn lưu giữ 14 sắc phong, sắc lệnh của các đời vua triều Lê và triều Nguyễn ban cho ông, đáng chú ý nhất là sắc lệnh 1597 của Nguyễn Hoàng giao Lương Văn Chánh chiêu tập lưu dân khai khẩn vùng đất nằm giữa đèo Cù Mông và đèo Cả. Nhiều trò chơi dân gian hấp dẫn trong hội đền Lương Văn Chánh Lễ hội đền Lương Văn Chánh hàng năm thu hút đông đảo người dân địa phương và du khách thập phương. Du khách có thể tham gia nhiều trò chơi dân gian hấp dẫn trong lễ hội như đánh bài chòi, kéo co, bắt vịt dưới sông, thi nấu cơm, đập ấm đất... Lễ hội đền Lương Văn Chánh được tổ chức hàng năm thể hiện sự tri ân với bậc tiền nhân có công khai cơ lập nghiệp, thể hiện đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" của người dân Phú Yên.

Lễ hội đền Lương Văn Chánh thu hút đông đảo người dân tham gia Danh nhân Lương Văn Chánh quê ở Thanh Hóa, lúc khởi nghiệp phò giúp vua Trịnh Tùng lập được nhiều chiến công nên được phong chức "Thiên võ vệ Đô chỉ huy sứ". Cuối thế kỷ XVI, Lương Văn Chánh theo Nguyễn Hoàng vào mở mang vùng đất phương Nam. Lập được nhiều công lớn, ông được thăng chức "Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân" tước Phù Nghĩa Hầu. Trong những năm từ 1578-1611, Lương Văn Chánh theo lệnh chúa Nguyễn Hoàng chiêu mộ lưu dân từ các vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh và Thuận Quảng đưa vào vùng đất nằm giữa đèo Cù Mông và Đèo Cả khai hoang, lập làng hình thành nên vùng đất biên viễn phía Nam nước Đại Việt với tên gọi Trấn Biên. Đây là cơ sở để năm 1611, chúa Nguyễn thành lập phủ Phú Yên với 2 huyện Tuy Hòa và Đồng Xuân. Dâng hương tưởng nhớ công ơn bậc tiền nhân trong hội đền Lương Văn Chánh Lương Văn Chánh mất ngày 19/9 (âm lịch), được suy tôn là Thành hoàng của vùng đất Phú Yên. Để tưởng nhớ công ơn to lớn của ông, mộ và đền thờ Lương Văn Chánh được xây dựng vào những năm 30 của thế kỳ XVII. Năm 1996, đền và mộ danh nhân Lương Văn Chánh được Bộ Văn hóa thông tin công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia. Ngày nay, đền thờ Lương Văn Chánh còn lưu giữ 14 sắc phong, sắc lệnh của các đời vua triều Lê và triều Nguyễn ban cho ông, đáng chú ý nhất là sắc lệnh 1597 của Nguyễn Hoàng giao Lương Văn Chánh chiêu tập lưu dân khai khẩn vùng đất nằm giữa đèo Cù Mông và đèo Cả. Nhiều trò chơi dân gian hấp dẫn trong hội đền Lương Văn Chánh Lễ hội đền Lương Văn Chánh hàng năm thu hút đông đảo người dân địa phương và du khách thập phương. Du khách có thể tham gia nhiều trò chơi dân gian hấp dẫn trong lễ hội như đánh bài chòi, kéo co, bắt vịt dưới sông, thi nấu cơm, đập ấm đất... Lễ hội đền Lương Văn Chánh được tổ chức hàng năm thể hiện sự tri ân với bậc tiền nhân có công khai cơ lập nghiệp, thể hiện đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" của người dân Phú Yên.

Danh nhân Lương Văn Chánh quê ở Thanh Hóa, lúc khởi nghiệp phò giúp vua Trịnh Tùng lập được nhiều chiến công nên được phong chức "Thiên võ vệ Đô chỉ huy sứ". Cuối thế kỷ XVI, Lương Văn Chánh theo Nguyễn Hoàng vào mở mang vùng đất phương Nam. Lập được nhiều công lớn, ông được thăng chức "Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân" tước Phù Nghĩa Hầu. Trong những năm từ 1578-1611, Lương Văn Chánh theo lệnh chúa Nguyễn Hoàng chiêu mộ lưu dân từ các vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh và Thuận Quảng đưa vào vùng đất nằm giữa đèo Cù Mông và Đèo Cả khai hoang, lập làng hình thành nên vùng đất biên viễn phía Nam nước Đại Việt với tên gọi Trấn Biên. Đây là cơ sở để năm 1611, chúa Nguyễn thành lập phủ Phú Yên với 2 huyện Tuy Hòa và Đồng Xuân.

Dâng hương tưởng nhớ công ơn bậc tiền nhân trong hội đền Lương Văn Chánh

Lương Văn Chánh mất ngày 19/9 (âm lịch), được suy tôn là Thành hoàng của vùng đất Phú Yên. Để tưởng nhớ công ơn to lớn của ông, mộ và đền thờ Lương Văn Chánh được xây dựng vào những năm 30 của thế kỳ XVII. Năm 1996, đền và mộ danh nhân Lương Văn Chánh được Bộ Văn hóa thông tin công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia. Ngày nay, đền thờ Lương Văn Chánh còn lưu giữ 14 sắc phong, sắc lệnh của các đời vua triều Lê và triều Nguyễn ban cho ông, đáng chú ý nhất là sắc lệnh 1597 của Nguyễn Hoàng giao Lương Văn Chánh chiêu tập lưu dân khai khẩn vùng đất nằm giữa đèo Cù Mông và đèo Cả.

Nhiều trò chơi dân gian hấp dẫn trong hội đền Lương Văn Chánh

Lễ hội đền Lương Văn Chánh hàng năm thu hút đông đảo người dân địa phương và du khách thập phương. Du khách có thể tham gia nhiều trò chơi dân gian hấp dẫn trong lễ hội như đánh bài chòi, kéo co, bắt vịt dưới sông, thi nấu cơm, đập ấm đất...

Lễ hội đền Lương Văn Chánh được tổ chức hàng năm thể hiện sự tri ân với bậc tiền nhân có công khai cơ lập nghiệp, thể hiện đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" của người dân Phú Yên.

Related Figures

Hội chợ xuân Gia Lạc

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/1- 3/1 Âm lịch Hội chợ Xuân Gia Lạc diễn ra vào đúng dịp tết Nguyên Đán của người Việt Nam. Đây là một lễ hội duy nhất diễn ra trong ba ngày tết tại Phú Thượng - Phú vang - Thừa Thiên Huế. Hội chợ xuân Gia Lạc Trong dịp tết Nguyên Đán, các khu chợ trên toàn quốc đều nghỉ bán hàng. Tuy nhiên, chỉ có độc nhất chợ Gia Lạc lại trở nên đông vui hơn ngày thường. Chợ Gia Lạc cách trung tâm thành Huế khoảng 3km, cách bờ sông Hương khoảng 300m. Chợ được lập từ thời vua Minh Mạng, do Định Viễn Công Nguyễn Phước Binh là người con thứ tư của Gia Long. Ban đầu, chợ chỉ là nơi họp nhóm giới giạn trong những người thân nơi phủ đệ của ông để trao đổi hàng hóa và vui chơi. Hàng hóa mua bán ở chọ Gia Lạc rất phong phú, thường thay đổi theo năm, từ đồ gia dụng, đến đồ chơi trẻ em, đồ ăn thức uống.. Hội chợ xuân Gia Lạc là một nét văn hóa đặc trưng của người dân xứ Huế Những người đi chợ đầu năm không quan trọng việc buôn bán lãi lỗ, và chỉ xem đây là một dịp du xuân để cầu may. Cũng chính vì thế mà nó có tên là Gia Lạc- có nghĩa là vui tươi. Ngoài ra, phiên chợ cũng có nhiều hoạt động văn hóa truyền thống thú vị, và đặc trưng của xứ Huế mộng mơ như chơi bài ghế, bài chòi, bài thái, hò giã gạo... Nếu du khách đến Huế vào dịp tết Nguyên Đán đừng bỏ qua lễ hội đặc trưng ở đây. Bởi lễ hội này sẽ giúp du khách hiểu thêm những nét đặc trưng trong văn hóa và lịch sử của đất nước. Người đi chợ xuân Gia Lạc phải ăn mặc chỉnh tề và ứng xử có văn hóa Người đi chợ xuân Gia Lạc phải ăn mặc chỉnh tề, chải chuốc gọn gàng. Các bà, các chỉ phải mặc y phục cổ truyền, áo mớ năm, mớ ba... Người mua, người bán ăn nói, ứng xử đều văn minh, lịch sự, vui vẻ, không có cảnh ồn ào, cãi cọ. Qua ngày mồng 4 tết, chợ lại trở về sinh hoạt như bình thường.

Hội chợ xuân Gia Lạc Trong dịp tết Nguyên Đán, các khu chợ trên toàn quốc đều nghỉ bán hàng. Tuy nhiên, chỉ có độc nhất chợ Gia Lạc lại trở nên đông vui hơn ngày thường. Chợ Gia Lạc cách trung tâm thành Huế khoảng 3km, cách bờ sông Hương khoảng 300m. Chợ được lập từ thời vua Minh Mạng, do Định Viễn Công Nguyễn Phước Binh là người con thứ tư của Gia Long. Ban đầu, chợ chỉ là nơi họp nhóm giới giạn trong những người thân nơi phủ đệ của ông để trao đổi hàng hóa và vui chơi. Hàng hóa mua bán ở chọ Gia Lạc rất phong phú, thường thay đổi theo năm, từ đồ gia dụng, đến đồ chơi trẻ em, đồ ăn thức uống.. Hội chợ xuân Gia Lạc là một nét văn hóa đặc trưng của người dân xứ Huế Những người đi chợ đầu năm không quan trọng việc buôn bán lãi lỗ, và chỉ xem đây là một dịp du xuân để cầu may. Cũng chính vì thế mà nó có tên là Gia Lạc- có nghĩa là vui tươi. Ngoài ra, phiên chợ cũng có nhiều hoạt động văn hóa truyền thống thú vị, và đặc trưng của xứ Huế mộng mơ như chơi bài ghế, bài chòi, bài thái, hò giã gạo... Nếu du khách đến Huế vào dịp tết Nguyên Đán đừng bỏ qua lễ hội đặc trưng ở đây. Bởi lễ hội này sẽ giúp du khách hiểu thêm những nét đặc trưng trong văn hóa và lịch sử của đất nước. Người đi chợ xuân Gia Lạc phải ăn mặc chỉnh tề và ứng xử có văn hóa Người đi chợ xuân Gia Lạc phải ăn mặc chỉnh tề, chải chuốc gọn gàng. Các bà, các chỉ phải mặc y phục cổ truyền, áo mớ năm, mớ ba... Người mua, người bán ăn nói, ứng xử đều văn minh, lịch sự, vui vẻ, không có cảnh ồn ào, cãi cọ. Qua ngày mồng 4 tết, chợ lại trở về sinh hoạt như bình thường.

Trong dịp tết Nguyên Đán, các khu chợ trên toàn quốc đều nghỉ bán hàng. Tuy nhiên, chỉ có độc nhất chợ Gia Lạc lại trở nên đông vui hơn ngày thường. Chợ Gia Lạc cách trung tâm thành Huế khoảng 3km, cách bờ sông Hương khoảng 300m.

Chợ được lập từ thời vua Minh Mạng, do Định Viễn Công Nguyễn Phước Binh là người con thứ tư của Gia Long. Ban đầu, chợ chỉ là nơi họp nhóm giới giạn trong những người thân nơi phủ đệ của ông để trao đổi hàng hóa và vui chơi. Hàng hóa mua bán ở chọ Gia Lạc rất phong phú, thường thay đổi theo năm, từ đồ gia dụng, đến đồ chơi trẻ em, đồ ăn thức uống..

Hội chợ xuân Gia Lạc là một nét văn hóa đặc trưng của người dân xứ Huế

Những người đi chợ đầu năm không quan trọng việc buôn bán lãi lỗ, và chỉ xem đây là một dịp du xuân để cầu may. Cũng chính vì thế mà nó có tên là Gia Lạc- có nghĩa là vui tươi. Ngoài ra, phiên chợ cũng có nhiều hoạt động văn hóa truyền thống thú vị, và đặc trưng của xứ Huế mộng mơ như chơi bài ghế, bài chòi, bài thái, hò giã gạo...

Nếu du khách đến Huế vào dịp tết Nguyên Đán đừng bỏ qua lễ hội đặc trưng ở đây. Bởi lễ hội này sẽ giúp du khách hiểu thêm những nét đặc trưng trong văn hóa và lịch sử của đất nước.

Người đi chợ xuân Gia Lạc phải ăn mặc chỉnh tề và ứng xử có văn hóa

Người đi chợ xuân Gia Lạc phải ăn mặc chỉnh tề, chải chuốc gọn gàng. Các bà, các chỉ phải mặc y phục cổ truyền, áo mớ năm, mớ ba... Người mua, người bán ăn nói, ứng xử đều văn minh, lịch sự, vui vẻ, không có cảnh ồn ào, cãi cọ. Qua ngày mồng 4 tết, chợ lại trở về sinh hoạt như bình thường.

Related Figures

Lễ hội Tháp Bà Ponagar

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 20/3- 22/3 Âm lịch Lễ hội Tháp Bà Ponagar là một lễ hội nhằm tưởng nhớ tới công ơn của mẹ Thiên Y A Na Thánh Mẫu - người mẹ xứ sở. Thiên Y A Na Thánh Mẫu được xem là người đã hướng dẫn người dân nơi đây cách trồng trọt, chăn nuôi, dệt vải. Lễ hội Tháp Bà Ponagar Lễ hội Tháp Bà Ponagar là một lễ hội lớn nhất của người Chăm, là lễ hội có tín ngưỡng thờ thần Thiên Y Thánh Mẫu. Đã tồn tại được hàng trăm năm nhưng lễ hội này vẫn lưu giữ được nguyên bản so với thời sơ khai. Các cô gái Chăm đang múa những điệu múa đặc trưng của đồng bào mình Lễ hội Tháp Bà Ponagar kéo dài 3 ngày từ ngày 5 - 8/5 (tức 20 - 23/3 Âm lịch). Hàng năm, cứ đến ngày mở hội, có khoảng 100 đoàn hành hương từ các tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận, Phú Yên, Gia Lai, Tp. Hồ Chí Minh, Quảng Nam... Năm 2018, Lễ hội Tháp bà Ponagar sự tính sẽ đón hơn 100.000 lượt người đến tham dự lễ hội. Lễ hội Tháp Bà Ponagar diễn ra trong không khí tươi vui Năm 2018, Lễ hội Tháp bà Ponagar có nhiều hoạt động văn hóa nổi bật của đồng bào dân tộc Chăm như: lễ cầu quốc thái dân an, lễ thay y Thánh Mẫu, thả hoa đăng trên sông Cái, lễ tế cổ truyền, lễ hoàn kinh, múa dâng cúng Mẫu, múa chăm, biểu diễn tuồng... Đến với Lễ hội Tháp Bà Ponagar, du khách sẽ được chiêm ngưỡng tòa tháp bà Ponagar, một nét kiến trúc đặc trưng của người Chăm. Đồng thời, du khách cũng được chiêm ngưỡng những nét văn hóa, tín ngưỡng, những điệu múa độc đáo của đồng bào Chăm ở Nha Trang.

Lễ hội Tháp Bà Ponagar Lễ hội Tháp Bà Ponagar là một lễ hội lớn nhất của người Chăm, là lễ hội có tín ngưỡng thờ thần Thiên Y Thánh Mẫu. Đã tồn tại được hàng trăm năm nhưng lễ hội này vẫn lưu giữ được nguyên bản so với thời sơ khai. Các cô gái Chăm đang múa những điệu múa đặc trưng của đồng bào mình Lễ hội Tháp Bà Ponagar kéo dài 3 ngày từ ngày 5 - 8/5 (tức 20 - 23/3 Âm lịch). Hàng năm, cứ đến ngày mở hội, có khoảng 100 đoàn hành hương từ các tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận, Phú Yên, Gia Lai, Tp. Hồ Chí Minh, Quảng Nam... Năm 2018, Lễ hội Tháp bà Ponagar sự tính sẽ đón hơn 100.000 lượt người đến tham dự lễ hội. Lễ hội Tháp Bà Ponagar diễn ra trong không khí tươi vui Năm 2018, Lễ hội Tháp bà Ponagar có nhiều hoạt động văn hóa nổi bật của đồng bào dân tộc Chăm như: lễ cầu quốc thái dân an, lễ thay y Thánh Mẫu, thả hoa đăng trên sông Cái, lễ tế cổ truyền, lễ hoàn kinh, múa dâng cúng Mẫu, múa chăm, biểu diễn tuồng... Đến với Lễ hội Tháp Bà Ponagar, du khách sẽ được chiêm ngưỡng tòa tháp bà Ponagar, một nét kiến trúc đặc trưng của người Chăm. Đồng thời, du khách cũng được chiêm ngưỡng những nét văn hóa, tín ngưỡng, những điệu múa độc đáo của đồng bào Chăm ở Nha Trang.

Lễ hội Tháp Bà Ponagar là một lễ hội lớn nhất của người Chăm, là lễ hội có tín ngưỡng thờ thần Thiên Y Thánh Mẫu. Đã tồn tại được hàng trăm năm nhưng lễ hội này vẫn lưu giữ được nguyên bản so với thời sơ khai. Các cô gái Chăm đang múa những điệu múa đặc trưng của đồng bào mình Lễ hội Tháp Bà Ponagar kéo dài 3 ngày từ ngày 5 - 8/5 (tức 20 - 23/3 Âm lịch). Hàng năm, cứ đến ngày mở hội, có khoảng 100 đoàn hành hương từ các tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận, Phú Yên, Gia Lai, Tp. Hồ Chí Minh, Quảng Nam... Năm 2018, Lễ hội Tháp bà Ponagar sự tính sẽ đón hơn 100.000 lượt người đến tham dự lễ hội. Lễ hội Tháp Bà Ponagar diễn ra trong không khí tươi vui Năm 2018, Lễ hội Tháp bà Ponagar có nhiều hoạt động văn hóa nổi bật của đồng bào dân tộc Chăm như: lễ cầu quốc thái dân an, lễ thay y Thánh Mẫu, thả hoa đăng trên sông Cái, lễ tế cổ truyền, lễ hoàn kinh, múa dâng cúng Mẫu, múa chăm, biểu diễn tuồng... Đến với Lễ hội Tháp Bà Ponagar, du khách sẽ được chiêm ngưỡng tòa tháp bà Ponagar, một nét kiến trúc đặc trưng của người Chăm. Đồng thời, du khách cũng được chiêm ngưỡng những nét văn hóa, tín ngưỡng, những điệu múa độc đáo của đồng bào Chăm ở Nha Trang.

Lễ hội Tháp Bà Ponagar là một lễ hội lớn nhất của người Chăm, là lễ hội có tín ngưỡng thờ thần Thiên Y Thánh Mẫu. Đã tồn tại được hàng trăm năm nhưng lễ hội này vẫn lưu giữ được nguyên bản so với thời sơ khai.

Các cô gái Chăm đang múa những điệu múa đặc trưng của đồng bào mình

Lễ hội Tháp Bà Ponagar kéo dài 3 ngày từ ngày 5 - 8/5 (tức 20 - 23/3 Âm lịch). Hàng năm, cứ đến ngày mở hội, có khoảng 100 đoàn hành hương từ các tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận, Phú Yên, Gia Lai, Tp. Hồ Chí Minh, Quảng Nam... Năm 2018, Lễ hội Tháp bà Ponagar sự tính sẽ đón hơn 100.000 lượt người đến tham dự lễ hội. Lễ hội Tháp Bà Ponagar diễn ra trong không khí tươi vui Năm 2018, Lễ hội Tháp bà Ponagar có nhiều hoạt động văn hóa nổi bật của đồng bào dân tộc Chăm như: lễ cầu quốc thái dân an, lễ thay y Thánh Mẫu, thả hoa đăng trên sông Cái, lễ tế cổ truyền, lễ hoàn kinh, múa dâng cúng Mẫu, múa chăm, biểu diễn tuồng... Đến với Lễ hội Tháp Bà Ponagar, du khách sẽ được chiêm ngưỡng tòa tháp bà Ponagar, một nét kiến trúc đặc trưng của người Chăm. Đồng thời, du khách cũng được chiêm ngưỡng những nét văn hóa, tín ngưỡng, những điệu múa độc đáo của đồng bào Chăm ở Nha Trang.

Related Figures

Lễ hội đền Lê Thành Phương

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 27/1- 28/1 Âm lịch Lễ hội đền Lê Thành Phương được tổ chức ngày 27-28 tháng Giêng âm lịch hàng năm tại xã An Hiệp, huyện Tuy An (Phú Yên). Lễ hội nhằm tỏ lòng thành kính và tri ân công lao to lớn của nhà chí sĩ cách mạng Lê Thành Phương và một số sĩ phu, văn thân yêu nước, nghĩa quân ở Phú Yên trong phong trào hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi dựng cờ khởi nghĩa chống thực dân Pháp xâm lược. Dâng hương tưởng nhớ người anh hùng yêu nước tại đền thờ Lê Thành Phương Lê Thành Phương sinh năm 1825 trong một gia đình có truyền thống nho học, giàu lòng yêu nước tại làng Mỹ Phú, tổng Xuân Vinh (nay là thôn Mỹ Phú 1, xã An Hiệp, huyện Tuy An). Lê Thành Phương đỗ tú tài năm 30 tuổi nhưng không làm quan mà về quê mở trường dạy học. Đến năm 1885, hưởng ứng chiếu cần vương của vua Hàm Nghi, Lê Thành Phương cùng một số sĩ phu yêu nước đứng lên chiêu tập nghĩa quân ở Phú Yên dựng cờ khởi nghĩa chống thực dân Pháp xâm lược. Lê Thành Phương được vua phong làm thống soái quân vụ đại thần. Ngày 14/2/1887, Lê Thành Phương bị thực dân Pháp bắt giam ở nhà lao An Thổ. Đến ngày 20/2/1887 (tức ngày 28 tháng Giêng âm lịch), ông bị xử tử hình. Biểu diễn võ thuật trong lễ hội đền Lê Thành Phương Hàng năm, đến ngày hội đền Lê Thành Phương, người dân trong và ngoài tỉnh nô nức đổ về khu vực sân đền thờ nhà chí sĩ yêu nước, danh nhân Lê Thành Phương để được đắm chìm trong không khí lễ hội. Sau lễ dâng hương, dâng lễ vật tưởng nhớ công lao các vị anh hùng dân tộc; các trò chơi dân gian như bài chòi, cờ người, kéo co, bịt mắt bắt dê... diễn ra sôi nổi. Lễ hội đền Lê Thành Phương thu hút hàng nghìn người tham gia Lễ hội đền Lê Thành Phương là một trong những lễ hội thu hút đông người tham gia nhất ở Phú Yên. Lễ hội không chỉ tưởng nhớ công lao của các bậc tiền nhân có công với đất nước mà còn giáo dục cho thế hệ trẻ hiểu và tự hào hơn về lịch sử và truyền thống đấu tranh bảo vệ tổ quốc của lớp cha anh đi trước.

Dâng hương tưởng nhớ người anh hùng yêu nước tại đền thờ Lê Thành Phương Lê Thành Phương sinh năm 1825 trong một gia đình có truyền thống nho học, giàu lòng yêu nước tại làng Mỹ Phú, tổng Xuân Vinh (nay là thôn Mỹ Phú 1, xã An Hiệp, huyện Tuy An). Lê Thành Phương đỗ tú tài năm 30 tuổi nhưng không làm quan mà về quê mở trường dạy học. Đến năm 1885, hưởng ứng chiếu cần vương của vua Hàm Nghi, Lê Thành Phương cùng một số sĩ phu yêu nước đứng lên chiêu tập nghĩa quân ở Phú Yên dựng cờ khởi nghĩa chống thực dân Pháp xâm lược. Lê Thành Phương được vua phong làm thống soái quân vụ đại thần. Ngày 14/2/1887, Lê Thành Phương bị thực dân Pháp bắt giam ở nhà lao An Thổ. Đến ngày 20/2/1887 (tức ngày 28 tháng Giêng âm lịch), ông bị xử tử hình. Biểu diễn võ thuật trong lễ hội đền Lê Thành Phương Hàng năm, đến ngày hội đền Lê Thành Phương, người dân trong và ngoài tỉnh nô nức đổ về khu vực sân đền thờ nhà chí sĩ yêu nước, danh nhân Lê Thành Phương để được đắm chìm trong không khí lễ hội. Sau lễ dâng hương, dâng lễ vật tưởng nhớ công lao các vị anh hùng dân tộc; các trò chơi dân gian như bài chòi, cờ người, kéo co, bịt mắt bắt dê... diễn ra sôi nổi. Lễ hội đền Lê Thành Phương thu hút hàng nghìn người tham gia Lễ hội đền Lê Thành Phương là một trong những lễ hội thu hút đông người tham gia nhất ở Phú Yên. Lễ hội không chỉ tưởng nhớ công lao của các bậc tiền nhân có công với đất nước mà còn giáo dục cho thế hệ trẻ hiểu và tự hào hơn về lịch sử và truyền thống đấu tranh bảo vệ tổ quốc của lớp cha anh đi trước.

Lê Thành Phương sinh năm 1825 trong một gia đình có truyền thống nho học, giàu lòng yêu nước tại làng Mỹ Phú, tổng Xuân Vinh (nay là thôn Mỹ Phú 1, xã An Hiệp, huyện Tuy An). Lê Thành Phương đỗ tú tài năm 30 tuổi nhưng không làm quan mà về quê mở trường dạy học. Đến năm 1885, hưởng ứng chiếu cần vương của vua Hàm Nghi, Lê Thành Phương cùng một số sĩ phu yêu nước đứng lên chiêu tập nghĩa quân ở Phú Yên dựng cờ khởi nghĩa chống thực dân Pháp xâm lược. Lê Thành Phương được vua phong làm thống soái quân vụ đại thần. Ngày 14/2/1887, Lê Thành Phương bị thực dân Pháp bắt giam ở nhà lao An Thổ. Đến ngày 20/2/1887 (tức ngày 28 tháng Giêng âm lịch), ông bị xử tử hình.

Biểu diễn võ thuật trong lễ hội đền Lê Thành Phương

Hàng năm, đến ngày hội đền Lê Thành Phương, người dân trong và ngoài tỉnh nô nức đổ về khu vực sân đền thờ nhà chí sĩ yêu nước, danh nhân Lê Thành Phương để được đắm chìm trong không khí lễ hội. Sau lễ dâng hương, dâng lễ vật tưởng nhớ công lao các vị anh hùng dân tộc; các trò chơi dân gian như bài chòi, cờ người, kéo co, bịt mắt bắt dê... diễn ra sôi nổi.

Lễ hội đền Lê Thành Phương thu hút hàng nghìn người tham gia

Lễ hội đền Lê Thành Phương là một trong những lễ hội thu hút đông người tham gia nhất ở Phú Yên. Lễ hội không chỉ tưởng nhớ công lao của các bậc tiền nhân có công với đất nước mà còn giáo dục cho thế hệ trẻ hiểu và tự hào hơn về lịch sử và truyền thống đấu tranh bảo vệ tổ quốc của lớp cha anh đi trước.

Related Figures

Lễ bỏ mả của người Ê Đê

Thông tin thời kỳ

Phú Yên là vùng đất sinh sống của nhiều dân tộc với nhiều nét văn hóa đặc sắc. Người Ê Đê tập trung ở nơi đây khá đông với đời sống văn hóa riêng biệt. Một trong những nét độc đáo trong văn hóa lễ hội của người Ê Đê nơi đây là lễ bỏ mả. Gắn liền với ngày bỏ mả là ngày dựng xong nhà mộ. Lễ bỏ mả - cuộc chia tay với người đã khuất của người Ê Đê ở Phú Yên Người Ê Đê quan niệm con người luôn có phần xác và phần hồn. Phần xác là hình hài con người có thể chết đi nhưng phần hồn không nhìn thấy lại bất tử. Khi phần xác chết đi, phần hồn vẫn tồn tại gọi là "ma". Trước khi làm lễ bỏ mả, phần hồn đó vẫn còn quanh quẩn trong buôn làng, có nhu cầu như người còn sống. Tức là muốn được ăn uống, giao cảm với người thân trong gia đình. Lễ bỏ mả của người Ê Đê là cuộc đoạn tuyệt giữa người sống và người chết Cũng xuất phát từ quan niệm này mà khi người thân mất đi, sau khi chôn cất, người Ê Đê hàng ngày vẫn mang cơm, rượu, nước đến nhà mồ mời người đã mất ăn uống, trò chuyện. Sau một thời gian, người Ê Đê tổ chức lễ bỏ mả để phần hồn của người đã mất về với tổ tiển, rời khỏi gia đình người sống, không quấy rầy và đòi hỏi người sống phục dịch nữa. Lễ bỏ mả là lễ hội độc đáo của người Ê Đê Lễ bỏ mà của người Ê Đê được tổ chức ở từng gia đình nhưng luôn có sự tham gia của các thành viên trong cộng đồng, trở thành lễ hội của cả một vùng. Trong lễ bỏ mả có nhiều hoạt động như đánh cồng chiêng, kể khan... Lễ bỏ mả được xem là lễ hội độc đáo, tưng bừng, phản ánh nét sinh hoạt dân gian, bức tranh văn hóa màu sắc của đồng bào Ê Đê.

Lễ bỏ mả - cuộc chia tay với người đã khuất của người Ê Đê ở Phú Yên Người Ê Đê quan niệm con người luôn có phần xác và phần hồn. Phần xác là hình hài con người có thể chết đi nhưng phần hồn không nhìn thấy lại bất tử. Khi phần xác chết đi, phần hồn vẫn tồn tại gọi là "ma". Trước khi làm lễ bỏ mả, phần hồn đó vẫn còn quanh quẩn trong buôn làng, có nhu cầu như người còn sống. Tức là muốn được ăn uống, giao cảm với người thân trong gia đình. Lễ bỏ mả của người Ê Đê là cuộc đoạn tuyệt giữa người sống và người chết Cũng xuất phát từ quan niệm này mà khi người thân mất đi, sau khi chôn cất, người Ê Đê hàng ngày vẫn mang cơm, rượu, nước đến nhà mồ mời người đã mất ăn uống, trò chuyện. Sau một thời gian, người Ê Đê tổ chức lễ bỏ mả để phần hồn của người đã mất về với tổ tiển, rời khỏi gia đình người sống, không quấy rầy và đòi hỏi người sống phục dịch nữa. Lễ bỏ mả là lễ hội độc đáo của người Ê Đê Lễ bỏ mà của người Ê Đê được tổ chức ở từng gia đình nhưng luôn có sự tham gia của các thành viên trong cộng đồng, trở thành lễ hội của cả một vùng. Trong lễ bỏ mả có nhiều hoạt động như đánh cồng chiêng, kể khan... Lễ bỏ mả được xem là lễ hội độc đáo, tưng bừng, phản ánh nét sinh hoạt dân gian, bức tranh văn hóa màu sắc của đồng bào Ê Đê.

Người Ê Đê quan niệm con người luôn có phần xác và phần hồn. Phần xác là hình hài con người có thể chết đi nhưng phần hồn không nhìn thấy lại bất tử. Khi phần xác chết đi, phần hồn vẫn tồn tại gọi là "ma". Trước khi làm lễ bỏ mả, phần hồn đó vẫn còn quanh quẩn trong buôn làng, có nhu cầu như người còn sống. Tức là muốn được ăn uống, giao cảm với người thân trong gia đình.

Lễ bỏ mả của người Ê Đê là cuộc đoạn tuyệt giữa người sống và người chết

Cũng xuất phát từ quan niệm này mà khi người thân mất đi, sau khi chôn cất, người Ê Đê hàng ngày vẫn mang cơm, rượu, nước đến nhà mồ mời người đã mất ăn uống, trò chuyện. Sau một thời gian, người Ê Đê tổ chức lễ bỏ mả để phần hồn của người đã mất về với tổ tiển, rời khỏi gia đình người sống, không quấy rầy và đòi hỏi người sống phục dịch nữa.

Lễ bỏ mả là lễ hội độc đáo của người Ê Đê

Lễ bỏ mà của người Ê Đê được tổ chức ở từng gia đình nhưng luôn có sự tham gia của các thành viên trong cộng đồng, trở thành lễ hội của cả một vùng. Trong lễ bỏ mả có nhiều hoạt động như đánh cồng chiêng, kể khan...

Lễ bỏ mả được xem là lễ hội độc đáo, tưng bừng, phản ánh nét sinh hoạt dân gian, bức tranh văn hóa màu sắc của đồng bào Ê Đê.

Related Figures

Lễ hội khinh khí cầu quốc tế Đà Nẵng 2018

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/5- 26/5 Dương lịch Lễ hội khinh khí cầu quốc tế Đà Nẵng diễn ra từ 1-26/5 song song với lễ hội pháo hoa Đà Nẵng (DIFF). Những màn trình diễn khinh khí cầu đa sắc trên bầu trời Đà Nẵng sẽ là kỷ niệm đáng nhớ với du khách. Rực rỡ lễ hội khinh khí cầu quốc tế Đà Nẵng 2018 Lễ hội pháo hoa đang đến gần, du khách đến Đà Nẵng không chỉ được thưởng thức những màn trình diễn pháo hoa đặc sắc mà còn được chiêm ngưỡng màn biểu diễn khinh khí cầu thắp sáng bầu trời Đà Nẵng. Lễ hội khinh khí cầu quốc tế Đà Nẵng diễn ra song song với lễ hội pháo hoa Dự kiến sẽ có khoảng 60-70 quả khinh khí cầu bay trên bầu trời Đà Nẵng. Địa điểm tổ chức lễ hội khinh khí cầu ở khu vực hồ Hòa Trung - điểm đến thiên nhiên tuyệt đẹp gần khu công nghệ cao thành phố. Kinh phí tổ chức lễ hội được huy động từ nguồn xã hội hóa. Lễ hội khinh khí cầu quốc tế Đà Nẵng 2018 được tổ chức quy mô, hoành tráng hơn năm trước. Năm 2017, một công ty của Hàn Quốc đã mang đến DIFF 2017 năm khinh khí cầu đủ màu sắc. Ban tổ chức cũng sử dụng 2 dù lượn và các khinh khí cầu thả pháo hoa giấy, tạo nên không gian lấp lánh sắc màu trong những đêm diễn ra cuộc thi pháo hoa quốc tế. Hình ảnh dù lượn trong lễ hội khinh khí cầu và dù lượn 2017 Cùng với lễ hội pháo hoa và lễ hội khinh khí cầu, liên hoan Nghệ thuật biểu diễn thế giới 2018 do Đà Nẵng đăng cai sẽ khai mạc ngày 1/7/2018. Với 3 lễ hội nêu trên, năm 2018 hứa hẹn sẽ mang lại những trải nghiệm về một Đà Nẵng thật khác lạ cho người dân và du khách, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đưa Đà Nẵng trở thành điểm đến của những lễ hội và sự kiện quốc tế.

Lễ hội khinh khí cầu quốc tế Đà Nẵng diễn ra từ 1-26/5 song song với lễ hội pháo hoa Đà Nẵng (DIFF). Những màn trình diễn khinh khí cầu đa sắc trên bầu trời Đà Nẵng sẽ là kỷ niệm đáng nhớ với du khách. Rực rỡ lễ hội khinh khí cầu quốc tế Đà Nẵng 2018 Lễ hội pháo hoa đang đến gần, du khách đến Đà Nẵng không chỉ được thưởng thức những màn trình diễn pháo hoa đặc sắc mà còn được chiêm ngưỡng màn biểu diễn khinh khí cầu thắp sáng bầu trời Đà Nẵng. Lễ hội khinh khí cầu quốc tế Đà Nẵng diễn ra song song với lễ hội pháo hoa Dự kiến sẽ có khoảng 60-70 quả khinh khí cầu bay trên bầu trời Đà Nẵng. Địa điểm tổ chức lễ hội khinh khí cầu ở khu vực hồ Hòa Trung - điểm đến thiên nhiên tuyệt đẹp gần khu công nghệ cao thành phố. Kinh phí tổ chức lễ hội được huy động từ nguồn xã hội hóa. Lễ hội khinh khí cầu quốc tế Đà Nẵng 2018 được tổ chức quy mô, hoành tráng hơn năm trước. Năm 2017, một công ty của Hàn Quốc đã mang đến DIFF 2017 năm khinh khí cầu đủ màu sắc. Ban tổ chức cũng sử dụng 2 dù lượn và các khinh khí cầu thả pháo hoa giấy, tạo nên không gian lấp lánh sắc màu trong những đêm diễn ra cuộc thi pháo hoa quốc tế. Hình ảnh dù lượn trong lễ hội khinh khí cầu và dù lượn 2017 Cùng với lễ hội pháo hoa và lễ hội khinh khí cầu, liên hoan Nghệ thuật biểu diễn thế giới 2018 do Đà Nẵng đăng cai sẽ khai mạc ngày 1/7/2018. Với 3 lễ hội nêu trên, năm 2018 hứa hẹn sẽ mang lại những trải nghiệm về một Đà Nẵng thật khác lạ cho người dân và du khách, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đưa Đà Nẵng trở thành điểm đến của những lễ hội và sự kiện quốc tế.

Lễ hội khinh khí cầu quốc tế Đà Nẵng diễn ra từ 1-26/5 song song với lễ hội pháo hoa Đà Nẵng (DIFF). Những màn trình diễn khinh khí cầu đa sắc trên bầu trời Đà Nẵng sẽ là kỷ niệm đáng nhớ với du khách. Rực rỡ lễ hội khinh khí cầu quốc tế Đà Nẵng 2018 Lễ hội pháo hoa đang đến gần, du khách đến Đà Nẵng không chỉ được thưởng thức những màn trình diễn pháo hoa đặc sắc mà còn được chiêm ngưỡng màn biểu diễn khinh khí cầu thắp sáng bầu trời Đà Nẵng. Lễ hội khinh khí cầu quốc tế Đà Nẵng diễn ra song song với lễ hội pháo hoa Dự kiến sẽ có khoảng 60-70 quả khinh khí cầu bay trên bầu trời Đà Nẵng. Địa điểm tổ chức lễ hội khinh khí cầu ở khu vực hồ Hòa Trung - điểm đến thiên nhiên tuyệt đẹp gần khu công nghệ cao thành phố. Kinh phí tổ chức lễ hội được huy động từ nguồn xã hội hóa. Lễ hội khinh khí cầu quốc tế Đà Nẵng 2018 được tổ chức quy mô, hoành tráng hơn năm trước. Năm 2017, một công ty của Hàn Quốc đã mang đến DIFF 2017 năm khinh khí cầu đủ màu sắc. Ban tổ chức cũng sử dụng 2 dù lượn và các khinh khí cầu thả pháo hoa giấy, tạo nên không gian lấp lánh sắc màu trong những đêm diễn ra cuộc thi pháo hoa quốc tế. Hình ảnh dù lượn trong lễ hội khinh khí cầu và dù lượn 2017 Cùng với lễ hội pháo hoa và lễ hội khinh khí cầu, liên hoan Nghệ thuật biểu diễn thế giới 2018 do Đà Nẵng đăng cai sẽ khai mạc ngày 1/7/2018. Với 3 lễ hội nêu trên, năm 2018 hứa hẹn sẽ mang lại những trải nghiệm về một Đà Nẵng thật khác lạ cho người dân và du khách, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đưa Đà Nẵng trở thành điểm đến của những lễ hội và sự kiện quốc tế.

Lễ hội khinh khí cầu quốc tế Đà Nẵng diễn ra từ 1-26/5 song song với lễ hội pháo hoa Đà Nẵng (DIFF). Những màn trình diễn khinh khí cầu đa sắc trên bầu trời Đà Nẵng sẽ là kỷ niệm đáng nhớ với du khách. Rực rỡ lễ hội khinh khí cầu quốc tế Đà Nẵng 2018 Lễ hội pháo hoa đang đến gần, du khách đến Đà Nẵng không chỉ được thưởng thức những màn trình diễn pháo hoa đặc sắc mà còn được chiêm ngưỡng màn biểu diễn khinh khí cầu thắp sáng bầu trời Đà Nẵng. Lễ hội khinh khí cầu quốc tế Đà Nẵng diễn ra song song với lễ hội pháo hoa Dự kiến sẽ có khoảng 60-70 quả khinh khí cầu bay trên bầu trời Đà Nẵng. Địa điểm tổ chức lễ hội khinh khí cầu ở khu vực hồ Hòa Trung - điểm đến thiên nhiên tuyệt đẹp gần khu công nghệ cao thành phố. Kinh phí tổ chức lễ hội được huy động từ nguồn xã hội hóa. Lễ hội khinh khí cầu quốc tế Đà Nẵng 2018 được tổ chức quy mô, hoành tráng hơn năm trước. Năm 2017, một công ty của Hàn Quốc đã mang đến DIFF 2017 năm khinh khí cầu đủ màu sắc. Ban tổ chức cũng sử dụng 2 dù lượn và các khinh khí cầu thả pháo hoa giấy, tạo nên không gian lấp lánh sắc màu trong những đêm diễn ra cuộc thi pháo hoa quốc tế. Hình ảnh dù lượn trong lễ hội khinh khí cầu và dù lượn 2017 Cùng với lễ hội pháo hoa và lễ hội khinh khí cầu, liên hoan Nghệ thuật biểu diễn thế giới 2018 do Đà Nẵng đăng cai sẽ khai mạc ngày 1/7/2018. Với 3 lễ hội nêu trên, năm 2018 hứa hẹn sẽ mang lại những trải nghiệm về một Đà Nẵng thật khác lạ cho người dân và du khách, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đưa Đà Nẵng trở thành điểm đến của những lễ hội và sự kiện quốc tế.

Lễ hội khinh khí cầu quốc tế Đà Nẵng diễn ra từ 1-26/5 song song với lễ hội pháo hoa Đà Nẵng (DIFF). Những màn trình diễn khinh khí cầu đa sắc trên bầu trời Đà Nẵng sẽ là kỷ niệm đáng nhớ với du khách. Rực rỡ lễ hội khinh khí cầu quốc tế Đà Nẵng 2018 Lễ hội pháo hoa đang đến gần, du khách đến Đà Nẵng không chỉ được thưởng thức những màn trình diễn pháo hoa đặc sắc mà còn được chiêm ngưỡng màn biểu diễn khinh khí cầu thắp sáng bầu trời Đà Nẵng. Lễ hội khinh khí cầu quốc tế Đà Nẵng diễn ra song song với lễ hội pháo hoa Dự kiến sẽ có khoảng 60-70 quả khinh khí cầu bay trên bầu trời Đà Nẵng. Địa điểm tổ chức lễ hội khinh khí cầu ở khu vực hồ Hòa Trung - điểm đến thiên nhiên tuyệt đẹp gần khu công nghệ cao thành phố. Kinh phí tổ chức lễ hội được huy động từ nguồn xã hội hóa. Lễ hội khinh khí cầu quốc tế Đà Nẵng 2018 được tổ chức quy mô, hoành tráng hơn năm trước. Năm 2017, một công ty của Hàn Quốc đã mang đến DIFF 2017 năm khinh khí cầu đủ màu sắc. Ban tổ chức cũng sử dụng 2 dù lượn và các khinh khí cầu thả pháo hoa giấy, tạo nên không gian lấp lánh sắc màu trong những đêm diễn ra cuộc thi pháo hoa quốc tế. Hình ảnh dù lượn trong lễ hội khinh khí cầu và dù lượn 2017 Cùng với lễ hội pháo hoa và lễ hội khinh khí cầu, liên hoan Nghệ thuật biểu diễn thế giới 2018 do Đà Nẵng đăng cai sẽ khai mạc ngày 1/7/2018. Với 3 lễ hội nêu trên, năm 2018 hứa hẹn sẽ mang lại những trải nghiệm về một Đà Nẵng thật khác lạ cho người dân và du khách, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đưa Đà Nẵng trở thành điểm đến của những lễ hội và sự kiện quốc tế.

Lễ hội khinh khí cầu quốc tế Đà Nẵng diễn ra từ 1-26/5 song song với lễ hội pháo hoa Đà Nẵng (DIFF). Những màn trình diễn khinh khí cầu đa sắc trên bầu trời Đà Nẵng sẽ là kỷ niệm đáng nhớ với du khách. Rực rỡ lễ hội khinh khí cầu quốc tế Đà Nẵng 2018 Lễ hội pháo hoa đang đến gần, du khách đến Đà Nẵng không chỉ được thưởng thức những màn trình diễn pháo hoa đặc sắc mà còn được chiêm ngưỡng màn biểu diễn khinh khí cầu thắp sáng bầu trời Đà Nẵng. Lễ hội khinh khí cầu quốc tế Đà Nẵng diễn ra song song với lễ hội pháo hoa Dự kiến sẽ có khoảng 60-70 quả khinh khí cầu bay trên bầu trời Đà Nẵng. Địa điểm tổ chức lễ hội khinh khí cầu ở khu vực hồ Hòa Trung - điểm đến thiên nhiên tuyệt đẹp gần khu công nghệ cao thành phố. Kinh phí tổ chức lễ hội được huy động từ nguồn xã hội hóa. Lễ hội khinh khí cầu quốc tế Đà Nẵng 2018 được tổ chức quy mô, hoành tráng hơn năm trước. Năm 2017, một công ty của Hàn Quốc đã mang đến DIFF 2017 năm khinh khí cầu đủ màu sắc. Ban tổ chức cũng sử dụng 2 dù lượn và các khinh khí cầu thả pháo hoa giấy, tạo nên không gian lấp lánh sắc màu trong những đêm diễn ra cuộc thi pháo hoa quốc tế. Hình ảnh dù lượn trong lễ hội khinh khí cầu và dù lượn 2017 Cùng với lễ hội pháo hoa và lễ hội khinh khí cầu, liên hoan Nghệ thuật biểu diễn thế giới 2018 do Đà Nẵng đăng cai sẽ khai mạc ngày 1/7/2018. Với 3 lễ hội nêu trên, năm 2018 hứa hẹn sẽ mang lại những trải nghiệm về một Đà Nẵng thật khác lạ cho người dân và du khách, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đưa Đà Nẵng trở thành điểm đến của những lễ hội và sự kiện quốc tế.

Lễ hội khinh khí cầu quốc tế Đà Nẵng diễn ra từ 1-26/5 song song với lễ hội pháo hoa Đà Nẵng (DIFF). Những màn trình diễn khinh khí cầu đa sắc trên bầu trời Đà Nẵng sẽ là kỷ niệm đáng nhớ với du khách.

Rực rỡ lễ hội khinh khí cầu quốc tế Đà Nẵng 2018 Lễ hội pháo hoa đang đến gần, du khách đến Đà Nẵng không chỉ được thưởng thức những màn trình diễn pháo hoa đặc sắc mà còn được chiêm ngưỡng màn biểu diễn khinh khí cầu thắp sáng bầu trời Đà Nẵng. Lễ hội khinh khí cầu quốc tế Đà Nẵng diễn ra song song với lễ hội pháo hoa Dự kiến sẽ có khoảng 60-70 quả khinh khí cầu bay trên bầu trời Đà Nẵng. Địa điểm tổ chức lễ hội khinh khí cầu ở khu vực hồ Hòa Trung - điểm đến thiên nhiên tuyệt đẹp gần khu công nghệ cao thành phố. Kinh phí tổ chức lễ hội được huy động từ nguồn xã hội hóa. Lễ hội khinh khí cầu quốc tế Đà Nẵng 2018 được tổ chức quy mô, hoành tráng hơn năm trước. Năm 2017, một công ty của Hàn Quốc đã mang đến DIFF 2017 năm khinh khí cầu đủ màu sắc. Ban tổ chức cũng sử dụng 2 dù lượn và các khinh khí cầu thả pháo hoa giấy, tạo nên không gian lấp lánh sắc màu trong những đêm diễn ra cuộc thi pháo hoa quốc tế. Hình ảnh dù lượn trong lễ hội khinh khí cầu và dù lượn 2017 Cùng với lễ hội pháo hoa và lễ hội khinh khí cầu, liên hoan Nghệ thuật biểu diễn thế giới 2018 do Đà Nẵng đăng cai sẽ khai mạc ngày 1/7/2018. Với 3 lễ hội nêu trên, năm 2018 hứa hẹn sẽ mang lại những trải nghiệm về một Đà Nẵng thật khác lạ cho người dân và du khách, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đưa Đà Nẵng trở thành điểm đến của những lễ hội và sự kiện quốc tế.

Lễ hội pháo hoa đang đến gần, du khách đến Đà Nẵng không chỉ được thưởng thức những màn trình diễn pháo hoa đặc sắc mà còn được chiêm ngưỡng màn biểu diễn khinh khí cầu thắp sáng bầu trời Đà Nẵng.

Lễ hội khinh khí cầu quốc tế Đà Nẵng diễn ra song song với lễ hội pháo hoa

Dự kiến sẽ có khoảng 60-70 quả khinh khí cầu bay trên bầu trời Đà Nẵng. Địa điểm tổ chức lễ hội khinh khí cầu ở khu vực hồ Hòa Trung - điểm đến thiên nhiên tuyệt đẹp gần khu công nghệ cao thành phố. Kinh phí tổ chức lễ hội được huy động từ nguồn xã hội hóa.

Lễ hội khinh khí cầu quốc tế Đà Nẵng 2018 được tổ chức quy mô, hoành tráng hơn năm trước. Năm 2017, một công ty của Hàn Quốc đã mang đến DIFF 2017 năm khinh khí cầu đủ màu sắc. Ban tổ chức cũng sử dụng 2 dù lượn và các khinh khí cầu thả pháo hoa giấy, tạo nên không gian lấp lánh sắc màu trong những đêm diễn ra cuộc thi pháo hoa quốc tế.

Hình ảnh dù lượn trong lễ hội khinh khí cầu và dù lượn 2017

Cùng với lễ hội pháo hoa và lễ hội khinh khí cầu, liên hoan Nghệ thuật biểu diễn thế giới 2018 do Đà Nẵng đăng cai sẽ khai mạc ngày 1/7/2018. Với 3 lễ hội nêu trên, năm 2018 hứa hẹn sẽ mang lại những trải nghiệm về một Đà Nẵng thật khác lạ cho người dân và du khách, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đưa Đà Nẵng trở thành điểm đến của những lễ hội và sự kiện quốc tế.

Related Figures

Lễ hội đua thuyền rồng trên đảo Cát Bà - Hải Phòng

Thông tin thời kỳ

Lễ hội đua thuyền rồng trên đảo Cát Bà được tổ chức hàng năm để kỷ niệm ngày Bác Hồ về thăm làng cá Cát Bà năm 1959 và cũng là ngày truyền thống của ngành thủy sản. Lễ hội đua thuyền rồng được các tỉnh miền Trung, miền Nam tổ chức nhiều năm nhưng đua thuyền rồng trên biển thì chỉ có ở Cát Bà. Lễ hội đua thuyền rồng Cát Bà chính là ngày hội xuống nước của làng chài Thuyền rồng ở Cát Bà có hình thoi dài 11m, rộng 1,5m được đóng kỳ công bằng gỗ khô, nhẹ và bền chắc. Phía mũi thuyền trang trí bằng đầu rồng chạm bằng gỗ, sơn son thếp vàng rực rỡ. Lòng thuyền có chỗ ngồi cho từ 22-26 tay đua. Mở đầu cuộc thi là màn kéo co giữa các đội đua trên biển. Sau tiết mục kéo co đến phần thi lắc thúng thuyền không mái của những ngư dân đến từ vùng biển Nam Trung bộ. Các đội đua tranh tài sôi nổi ở lễ hội đua thuyền rồng Cát Bà Tiếp sau cuộc đua thuyền thúng là đua thuyền rồng. Đường đua dài 1km trên vịnh Cát Bà, dọc theo đường bờ Kè, hai đầu được đánh dấu bằng cột cờ báo hiệu. Sau lệnh nổ, những tay chèo lần lượt khua nước. Ở phía mũi thuyền là một người cầm còi hoặc thúc trống, phía sau là một người cầm lái; Đây là hai người nòng cốt quyết định chiến thắng của đội đua. Đặc biệt, người cầm lái phải xử lý cực kỳ chuẩn xác lúc vào cua để thuyền có thể vòng lại nhanh nhất có thể. Thuyền đua sẽ đi 3 hoặc 4 vòng tùy theo quy định của từng năm, thuyền nào về đích trước sẽ đạt giải. Niềm vui chiến thắng của đội đua trong lễ hội đua thuyền rồng Cát Bà Hội đua thuyền rồng trong lễ hội Cát Bà chính là ngày hội xuống nước của làng chài. Lễ hội đua thuyền rồng là nét văn hóa riêng của Cát Bà. Lễ hội Cát Bà thể hiện sức sống, tinh thần lao động sáng tạo của người dân nơi đây. Du khách tham gia hội đua thuyền rồng Cát Bà được chứng kiến từng pha rượt đuổi đẹp mắt, hồi hộp, hấp dẫn.

Lễ hội đua thuyền rồng Cát Bà chính là ngày hội xuống nước của làng chài Thuyền rồng ở Cát Bà có hình thoi dài 11m, rộng 1,5m được đóng kỳ công bằng gỗ khô, nhẹ và bền chắc. Phía mũi thuyền trang trí bằng đầu rồng chạm bằng gỗ, sơn son thếp vàng rực rỡ. Lòng thuyền có chỗ ngồi cho từ 22-26 tay đua. Mở đầu cuộc thi là màn kéo co giữa các đội đua trên biển. Sau tiết mục kéo co đến phần thi lắc thúng thuyền không mái của những ngư dân đến từ vùng biển Nam Trung bộ. Các đội đua tranh tài sôi nổi ở lễ hội đua thuyền rồng Cát Bà Tiếp sau cuộc đua thuyền thúng là đua thuyền rồng. Đường đua dài 1km trên vịnh Cát Bà, dọc theo đường bờ Kè, hai đầu được đánh dấu bằng cột cờ báo hiệu. Sau lệnh nổ, những tay chèo lần lượt khua nước. Ở phía mũi thuyền là một người cầm còi hoặc thúc trống, phía sau là một người cầm lái; Đây là hai người nòng cốt quyết định chiến thắng của đội đua. Đặc biệt, người cầm lái phải xử lý cực kỳ chuẩn xác lúc vào cua để thuyền có thể vòng lại nhanh nhất có thể. Thuyền đua sẽ đi 3 hoặc 4 vòng tùy theo quy định của từng năm, thuyền nào về đích trước sẽ đạt giải. Niềm vui chiến thắng của đội đua trong lễ hội đua thuyền rồng Cát Bà Hội đua thuyền rồng trong lễ hội Cát Bà chính là ngày hội xuống nước của làng chài. Lễ hội đua thuyền rồng là nét văn hóa riêng của Cát Bà. Lễ hội Cát Bà thể hiện sức sống, tinh thần lao động sáng tạo của người dân nơi đây. Du khách tham gia hội đua thuyền rồng Cát Bà được chứng kiến từng pha rượt đuổi đẹp mắt, hồi hộp, hấp dẫn.

Thuyền rồng ở Cát Bà có hình thoi dài 11m, rộng 1,5m được đóng kỳ công bằng gỗ khô, nhẹ và bền chắc. Phía mũi thuyền trang trí bằng đầu rồng chạm bằng gỗ, sơn son thếp vàng rực rỡ. Lòng thuyền có chỗ ngồi cho từ 22-26 tay đua. Mở đầu cuộc thi là màn kéo co giữa các đội đua trên biển. Sau tiết mục kéo co đến phần thi lắc thúng thuyền không mái của những ngư dân đến từ vùng biển Nam Trung bộ.

Các đội đua tranh tài sôi nổi ở lễ hội đua thuyền rồng Cát Bà

Tiếp sau cuộc đua thuyền thúng là đua thuyền rồng. Đường đua dài 1km trên vịnh Cát Bà, dọc theo đường bờ Kè, hai đầu được đánh dấu bằng cột cờ báo hiệu. Sau lệnh nổ, những tay chèo lần lượt khua nước. Ở phía mũi thuyền là một người cầm còi hoặc thúc trống, phía sau là một người cầm lái; Đây là hai người nòng cốt quyết định chiến thắng của đội đua. Đặc biệt, người cầm lái phải xử lý cực kỳ chuẩn xác lúc vào cua để thuyền có thể vòng lại nhanh nhất có thể. Thuyền đua sẽ đi 3 hoặc 4 vòng tùy theo quy định của từng năm, thuyền nào về đích trước sẽ đạt giải.

Niềm vui chiến thắng của đội đua trong lễ hội đua thuyền rồng Cát Bà

Hội đua thuyền rồng trong lễ hội Cát Bà chính là ngày hội xuống nước của làng chài. Lễ hội đua thuyền rồng là nét văn hóa riêng của Cát Bà. Lễ hội Cát Bà thể hiện sức sống, tinh thần lao động sáng tạo của người dân nơi đây. Du khách tham gia hội đua thuyền rồng Cát Bà được chứng kiến từng pha rượt đuổi đẹp mắt, hồi hộp, hấp dẫn.

Related Figures

Hội đình Dư Hàng

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 16/2- 18/2 Âm lịch Hội đình Dư Hàng được được tổ chức ngày 16-18/2 âm lịch hàng năm tại phường Dư Hàng Kênh, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Đình Dư Hàng thờ Thành hoàng Ngô Vương Quyền vị vua lừng danh trong lịch sử, người nổi tiếng với chiến thắng Bạch Đằng năm 938 đánh đuổi quân Nam Hán ra khỏi bờ cõi nước ta, mở ra thời đại mới, độc lập, tự chủ cho dân tộc Việt Nam. Đình Dư Hàng chuẩn bị vào hội Đình Dư Hàng là công trình kiến trúc nghệ thuật và tín ngưỡng xây dựng năm 1856, được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia năm 1992. Đình Dư Hàng mô phỏng hoàn toàn theo đình Hàng Kênh về kiểu dáng, kích thước và cả cách bài trí hệ thống đồ thờ tự. Kiến trúc đình Dư Hàng có bố cục chữ Công gồm tòa đại đình và tòa hậu cung. Gần như toàn bộ hình thức trang trí trên 7 gian tiền đình đều được dàn trải các mảng chạm khắc hình ảnh tứ quý Tùng - Cúc - Trúc - Mai, tứ linh Long - Ly - Quy - Phụng... Các nghệ nhân dân gian tạo ra kiến trúc gần 200 mảnh điêu khắc, phần lớn là chủ để rồng mây. Những mảng trang trí nghệ thuật này cùng với toàn bộ kết cấu khung gỗ gồm cột cái, cột quân, xà, hoành làm nên giá trị nghệ thuật trang trí triều Nguyễn tiêu biểu của đình Dư Hàng. Lễ khai mạc hội đình Dư Hàng Lễ hội đình Dư Hàng được tổ chức trọng thể tưởng nhớ công ơn của Ngô Vương Quyền cùng chiến thắng Bạch Đằng lịch sử năm 938. Các nghi thức tế lễ, rước thần vị sang các xã giao hiếu: Đông Khê, Hàng Kênh, Phụng Tháp diễn ra trong tiếng nhạc dân tộc kèn, nhị, sênh tiền rộn rã khắp làng xã. Lễ hội đình Dư Hàng còn có nhiều hoạt động biểu diễn nghệ thuật truyền thống như tuồng, chèo, hát ca trù, chầu văn... Du khách tham gia hội đình Dư Hàng cũng được tham gia nhiều trò chơi dân gian hấp dẫn như: cờ tướng, đất vật, chọi gà... Đoàn rước trong hội đình Dư Hàng Hội đình Dư Hàng là một trong những lễ hội độc đáo tái hiện hào khí Bạch Đằng giang lịch sử, tưởng nhớ đông ơn của Đức vương Ngô Quyền.

Đình Dư Hàng chuẩn bị vào hội Đình Dư Hàng là công trình kiến trúc nghệ thuật và tín ngưỡng xây dựng năm 1856, được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia năm 1992. Đình Dư Hàng mô phỏng hoàn toàn theo đình Hàng Kênh về kiểu dáng, kích thước và cả cách bài trí hệ thống đồ thờ tự. Kiến trúc đình Dư Hàng có bố cục chữ Công gồm tòa đại đình và tòa hậu cung. Gần như toàn bộ hình thức trang trí trên 7 gian tiền đình đều được dàn trải các mảng chạm khắc hình ảnh tứ quý Tùng - Cúc - Trúc - Mai, tứ linh Long - Ly - Quy - Phụng... Các nghệ nhân dân gian tạo ra kiến trúc gần 200 mảnh điêu khắc, phần lớn là chủ để rồng mây. Những mảng trang trí nghệ thuật này cùng với toàn bộ kết cấu khung gỗ gồm cột cái, cột quân, xà, hoành làm nên giá trị nghệ thuật trang trí triều Nguyễn tiêu biểu của đình Dư Hàng. Lễ khai mạc hội đình Dư Hàng Lễ hội đình Dư Hàng được tổ chức trọng thể tưởng nhớ công ơn của Ngô Vương Quyền cùng chiến thắng Bạch Đằng lịch sử năm 938. Các nghi thức tế lễ, rước thần vị sang các xã giao hiếu: Đông Khê, Hàng Kênh, Phụng Tháp diễn ra trong tiếng nhạc dân tộc kèn, nhị, sênh tiền rộn rã khắp làng xã. Lễ hội đình Dư Hàng còn có nhiều hoạt động biểu diễn nghệ thuật truyền thống như tuồng, chèo, hát ca trù, chầu văn... Du khách tham gia hội đình Dư Hàng cũng được tham gia nhiều trò chơi dân gian hấp dẫn như: cờ tướng, đất vật, chọi gà... Đoàn rước trong hội đình Dư Hàng Hội đình Dư Hàng là một trong những lễ hội độc đáo tái hiện hào khí Bạch Đằng giang lịch sử, tưởng nhớ đông ơn của Đức vương Ngô Quyền.

Đình Dư Hàng là công trình kiến trúc nghệ thuật và tín ngưỡng xây dựng năm 1856, được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia năm 1992. Đình Dư Hàng mô phỏng hoàn toàn theo đình Hàng Kênh về kiểu dáng, kích thước và cả cách bài trí hệ thống đồ thờ tự.

Kiến trúc đình Dư Hàng có bố cục chữ Công gồm tòa đại đình và tòa hậu cung. Gần như toàn bộ hình thức trang trí trên 7 gian tiền đình đều được dàn trải các mảng chạm khắc hình ảnh tứ quý Tùng - Cúc - Trúc - Mai, tứ linh Long - Ly - Quy - Phụng... Các nghệ nhân dân gian tạo ra kiến trúc gần 200 mảnh điêu khắc, phần lớn là chủ để rồng mây. Những mảng trang trí nghệ thuật này cùng với toàn bộ kết cấu khung gỗ gồm cột cái, cột quân, xà, hoành làm nên giá trị nghệ thuật trang trí triều Nguyễn tiêu biểu của đình Dư Hàng.

Lễ khai mạc hội đình Dư Hàng Lễ hội đình Dư Hàng được tổ chức trọng thể tưởng nhớ công ơn của Ngô Vương Quyền cùng chiến thắng Bạch Đằng lịch sử năm 938. Các nghi thức tế lễ, rước thần vị sang các xã giao hiếu: Đông Khê, Hàng Kênh, Phụng Tháp diễn ra trong tiếng nhạc dân tộc kèn, nhị, sênh tiền rộn rã khắp làng xã. Lễ hội đình Dư Hàng còn có nhiều hoạt động biểu diễn nghệ thuật truyền thống như tuồng, chèo, hát ca trù, chầu văn... Du khách tham gia hội đình Dư Hàng cũng được tham gia nhiều trò chơi dân gian hấp dẫn như: cờ tướng, đất vật, chọi gà... Đoàn rước trong hội đình Dư Hàng Hội đình Dư Hàng là một trong những lễ hội độc đáo tái hiện hào khí Bạch Đằng giang lịch sử, tưởng nhớ đông ơn của Đức vương Ngô Quyền.

Lễ hội đình Dư Hàng được tổ chức trọng thể tưởng nhớ công ơn của Ngô Vương Quyền cùng chiến thắng Bạch Đằng lịch sử năm 938. Các nghi thức tế lễ, rước thần vị sang các xã giao hiếu: Đông Khê, Hàng Kênh, Phụng Tháp diễn ra trong tiếng nhạc dân tộc kèn, nhị, sênh tiền rộn rã khắp làng xã. Lễ hội đình Dư Hàng còn có nhiều hoạt động biểu diễn nghệ thuật truyền thống như tuồng, chèo, hát ca trù, chầu văn... Du khách tham gia hội đình Dư Hàng cũng được tham gia nhiều trò chơi dân gian hấp dẫn như: cờ tướng, đất vật, chọi gà...

Đoàn rước trong hội đình Dư Hàng

Hội đình Dư Hàng là một trong những lễ hội độc đáo tái hiện hào khí Bạch Đằng giang lịch sử, tưởng nhớ đông ơn của Đức vương Ngô Quyền.

Related Figures

Lễ hội chùa Từ Quang

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/1- 11/1 Âm lịch Lễ hội chùa Từ Quang được tổ chức hàng năm để các tăng ni, phật tử và bà con nhân dân gần xa trong cả nước tưởng nhớ công ơn của các vị hòa thượng có công lao khai lập, trị vì và những vị anh hùng có công trong cuộc kháng chiến giữ nước. Chùa Từ Quang nơi diễn ra lễ hội Chùa Từ Quang là ngôi chùa cổ hơn 200 năm tuổi nằm trên một triền núi có nhiều tảng đá trắng nên còn được gọi là chùa Đá Trắng (Bạch Thạch Từ Quang Tự). Chùa tọa lạc ở thôn Cần Lương, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Chùa Từ Quang do Thiền sư Diệu Nghiêm khai sáng năm 1797. Khuôn viên chùa Từ Quang Chùa Từ Quang có diện tích trên 5.000 m², nổi tiếng với khu tháp mộ đồ sộ phía Tây chùa. Mỗi tháp mộ có kích thước, kiến trúc khác nhau, ở phía trước đều ghi khắc công lao của các vị hòa thượng khai sáng và trị vì ngôi chùa này. Chùa Từ Quang gắn liền với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của hai vị anh hùng dân tộc Trần Cao Vân và Võ Trứ. Năm 1885, chùa Từ Quang là căn cứ mật khu của Trần Cao Vân và Võ Trứ trong cuộc khởi nghĩa Lê Thành Phương, chiêu tập nghĩa quân và là pháo đài vững chắc chống thực dân Pháp đổ bộ từ cửa biển Tiên Châu. Năm 1887, cuộc khởi nghĩa Lê Thành Phương kết thúc nhưng Trần Cao Vân và Võ Trứ cùng các bậc sĩ phu yêu nước, tâng ni phật tử vẫn họp bàn việc chống lại thực dân Pháp ở chùa Từ Quang. Xoài đá trắng cây di sản ở chùa Từ Quang Chùa Từ Quang còn nổi tiếng với món xoài đá trắng tiến cung, hương vị đặc biệt vừa thơm vừa ngọt dịu. Món xoài chùa Từ Quang đã đi vào ca dao, huyền tích như: "Bạch thạch yêm ba, Nhị bảo ngự thiên", hay câu ca dao "Muốn lên Đá Trắng ăn xoài, muốn ăn tương ngọt Thiên Thai thiếu gì", hay câu cửa miệng "Xoài Đá Trắng, sắn phường Lụa"... Chùa Từ Quang được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia tháng 6 năm 1997. Tham gia lễ hội chùa Từ Quang không chỉ là dịp tưởng nhớ công lao các bậc tiền nhân, du khách còn được tham gia nhiều hoạt động văn hóa và trò chơi dân gian hấp dẫn, thưởng lãm cảnh đẹp, cầu mong những điều tốt lành.

Chùa Từ Quang nơi diễn ra lễ hội Chùa Từ Quang là ngôi chùa cổ hơn 200 năm tuổi nằm trên một triền núi có nhiều tảng đá trắng nên còn được gọi là chùa Đá Trắng (Bạch Thạch Từ Quang Tự). Chùa tọa lạc ở thôn Cần Lương, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Chùa Từ Quang do Thiền sư Diệu Nghiêm khai sáng năm 1797. Khuôn viên chùa Từ Quang Chùa Từ Quang có diện tích trên 5.000 m², nổi tiếng với khu tháp mộ đồ sộ phía Tây chùa. Mỗi tháp mộ có kích thước, kiến trúc khác nhau, ở phía trước đều ghi khắc công lao của các vị hòa thượng khai sáng và trị vì ngôi chùa này. Chùa Từ Quang gắn liền với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của hai vị anh hùng dân tộc Trần Cao Vân và Võ Trứ. Năm 1885, chùa Từ Quang là căn cứ mật khu của Trần Cao Vân và Võ Trứ trong cuộc khởi nghĩa Lê Thành Phương, chiêu tập nghĩa quân và là pháo đài vững chắc chống thực dân Pháp đổ bộ từ cửa biển Tiên Châu. Năm 1887, cuộc khởi nghĩa Lê Thành Phương kết thúc nhưng Trần Cao Vân và Võ Trứ cùng các bậc sĩ phu yêu nước, tâng ni phật tử vẫn họp bàn việc chống lại thực dân Pháp ở chùa Từ Quang. Xoài đá trắng cây di sản ở chùa Từ Quang Chùa Từ Quang còn nổi tiếng với món xoài đá trắng tiến cung, hương vị đặc biệt vừa thơm vừa ngọt dịu. Món xoài chùa Từ Quang đã đi vào ca dao, huyền tích như: "Bạch thạch yêm ba, Nhị bảo ngự thiên", hay câu ca dao "Muốn lên Đá Trắng ăn xoài, muốn ăn tương ngọt Thiên Thai thiếu gì", hay câu cửa miệng "Xoài Đá Trắng, sắn phường Lụa"... Chùa Từ Quang được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia tháng 6 năm 1997. Tham gia lễ hội chùa Từ Quang không chỉ là dịp tưởng nhớ công lao các bậc tiền nhân, du khách còn được tham gia nhiều hoạt động văn hóa và trò chơi dân gian hấp dẫn, thưởng lãm cảnh đẹp, cầu mong những điều tốt lành.

Chùa Từ Quang là ngôi chùa cổ hơn 200 năm tuổi nằm trên một triền núi có nhiều tảng đá trắng nên còn được gọi là chùa Đá Trắng (Bạch Thạch Từ Quang Tự). Chùa tọa lạc ở thôn Cần Lương, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Chùa Từ Quang do Thiền sư Diệu Nghiêm khai sáng năm 1797.

Khuôn viên chùa Từ Quang

Chùa Từ Quang có diện tích trên 5.000 m², nổi tiếng với khu tháp mộ đồ sộ phía Tây chùa. Mỗi tháp mộ có kích thước, kiến trúc khác nhau, ở phía trước đều ghi khắc công lao của các vị hòa thượng khai sáng và trị vì ngôi chùa này.

Chùa Từ Quang gắn liền với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của hai vị anh hùng dân tộc Trần Cao Vân và Võ Trứ. Năm 1885, chùa Từ Quang là căn cứ mật khu của Trần Cao Vân và Võ Trứ trong cuộc khởi nghĩa Lê Thành Phương, chiêu tập nghĩa quân và là pháo đài vững chắc chống thực dân Pháp đổ bộ từ cửa biển Tiên Châu. Năm 1887, cuộc khởi nghĩa Lê Thành Phương kết thúc nhưng Trần Cao Vân và Võ Trứ cùng các bậc sĩ phu yêu nước, tâng ni phật tử vẫn họp bàn việc chống lại thực dân Pháp ở chùa Từ Quang.

Xoài đá trắng cây di sản ở chùa Từ Quang

Chùa Từ Quang còn nổi tiếng với món xoài đá trắng tiến cung, hương vị đặc biệt vừa thơm vừa ngọt dịu. Món xoài chùa Từ Quang đã đi vào ca dao, huyền tích như: "Bạch thạch yêm ba, Nhị bảo ngự thiên", hay câu ca dao "Muốn lên Đá Trắng ăn xoài, muốn ăn tương ngọt Thiên Thai thiếu gì", hay câu cửa miệng "Xoài Đá Trắng, sắn phường Lụa"...

Chùa Từ Quang được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia tháng 6 năm 1997. Tham gia lễ hội chùa Từ Quang không chỉ là dịp tưởng nhớ công lao các bậc tiền nhân, du khách còn được tham gia nhiều hoạt động văn hóa và trò chơi dân gian hấp dẫn, thưởng lãm cảnh đẹp, cầu mong những điều tốt lành.

Related Figures

Về Phú Yên tham dự lễ hội đâm trâu của người Bana

Thông tin thời kỳ

Lễ hội đâm trâu của người Bana là hoạt động văn hóa giàu bản sắc được tổ chức để tạ ơn đất trời, tạ ơn thần linh, tạ ơn Giàng và cầu Giàng phù hộ cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, cầu mong cho dân trong buôn được khỏe mạnh. Hàng nghìn người tham gia lễ hội đâm trâu của người Bana Lễ hội đâm trâu được xem là lễ hội lớn nhất của người Bana sinh sống ở phía Đông dãy Trường Sơn Nam của Phú Yên. Khác biệt với nhiều lễ hội đâm trâu của các dân tộc khác, lễ hội đâm trâu của người Bana không được tổ chức định kỳ mà được tổ chức để tạ ơn sau những lần vượt qua tai ương, hoạn nạn và cầu mong những điều tốt đẹp. Người Bana tổ chức lễ hội đâm trâu nhằm tỏ lòng biết ơn trời đất, thần linh, biết ơn Giàng giúp dân trong buôn vượt qua bệnh tật, mất mùa, súc vật chết... Đặc sắc lễ hội đâm trâu của người Bana Để tổ chức lễ đâm trâu, người dân tộc Bana chuẩn bị một con trâu đực, 3-4 con bò, 6-7 con lợn cùng hàng chục con gà, hàng trăm ché rượu cần, ba chục cùi gạo. Sau khi già làng quyết định địa điểm xây cột đâm trâu, bà con nơi đây tiến hành dựng cột, trồng một cây gôn làm cột chính. Đặc biệt, dân làng thường dựng cây gôn trước 3 năm để cây đâm chồi nảy lộc. Sau đó, dân làng chọn ngày lành tháng tốt để dựng cây nêu bằng bốn cột gỗ bút trắng. Trên mỗi cây nêu đều được chạm khắc hoa văn tinh tế có tô màu. Trên đỉnh cột chính, bàn thờ Giang được bọc vải rất uy nghi. Lễ hội đâm trâu của người Bana ở Phú Yên thường kéo dài trong 3 ngày. Ngày đầu tiên, lễ hội được mở màn bằng 3 hồi cồng và thầy cúng sẽ làm lễ ở nhà Rông. Sau đó, dân làng đưa con trâu được chọn tế lễ vào cột ở cột chính để cúng. Đến ngày thứ 2, lễ cúng Giàng tiếp tục. Sau lễ cúng, dân làng cử ra một thanh niên trai tráng trong buôn đâm trâu tượng trưng. Ngày thứ 3, nghi lễ đâm trâu mới chính thức được tiến hành. Kết thúc lễ đâm trâu, đầu trâu tế lễ được đưa vào nhà Rông tiếp tục cúng. Bên ngoài, dân làng làm cỗ ăn mừng, nhảy múa trong tiếng cồng chiêng rộn rã. Lễ hội đâm trâu của người Bana tạ ơn Giàng giúp dân làng vượt qua tai ương Lễ hội đâm trâu có từ thời xa xưa, tái hiện sinh động dấu ấn văn hóa tinh thần của người Bana vùng núi Phú Yên. Du khách tham gia lễ hội được chứng kiến những nghi lễ hấp dẫn, được tham gia múa hát, đánh chiêng, uống rượu cần... Lễ hội đâm trâu góp phần giữ gìn nét văn hóa dân gian của người Bana.

Hàng nghìn người tham gia lễ hội đâm trâu của người Bana Lễ hội đâm trâu được xem là lễ hội lớn nhất của người Bana sinh sống ở phía Đông dãy Trường Sơn Nam của Phú Yên. Khác biệt với nhiều lễ hội đâm trâu của các dân tộc khác, lễ hội đâm trâu của người Bana không được tổ chức định kỳ mà được tổ chức để tạ ơn sau những lần vượt qua tai ương, hoạn nạn và cầu mong những điều tốt đẹp. Người Bana tổ chức lễ hội đâm trâu nhằm tỏ lòng biết ơn trời đất, thần linh, biết ơn Giàng giúp dân trong buôn vượt qua bệnh tật, mất mùa, súc vật chết... Đặc sắc lễ hội đâm trâu của người Bana Để tổ chức lễ đâm trâu, người dân tộc Bana chuẩn bị một con trâu đực, 3-4 con bò, 6-7 con lợn cùng hàng chục con gà, hàng trăm ché rượu cần, ba chục cùi gạo. Sau khi già làng quyết định địa điểm xây cột đâm trâu, bà con nơi đây tiến hành dựng cột, trồng một cây gôn làm cột chính. Đặc biệt, dân làng thường dựng cây gôn trước 3 năm để cây đâm chồi nảy lộc. Sau đó, dân làng chọn ngày lành tháng tốt để dựng cây nêu bằng bốn cột gỗ bút trắng. Trên mỗi cây nêu đều được chạm khắc hoa văn tinh tế có tô màu. Trên đỉnh cột chính, bàn thờ Giang được bọc vải rất uy nghi. Lễ hội đâm trâu của người Bana ở Phú Yên thường kéo dài trong 3 ngày. Ngày đầu tiên, lễ hội được mở màn bằng 3 hồi cồng và thầy cúng sẽ làm lễ ở nhà Rông. Sau đó, dân làng đưa con trâu được chọn tế lễ vào cột ở cột chính để cúng. Đến ngày thứ 2, lễ cúng Giàng tiếp tục. Sau lễ cúng, dân làng cử ra một thanh niên trai tráng trong buôn đâm trâu tượng trưng. Ngày thứ 3, nghi lễ đâm trâu mới chính thức được tiến hành. Kết thúc lễ đâm trâu, đầu trâu tế lễ được đưa vào nhà Rông tiếp tục cúng. Bên ngoài, dân làng làm cỗ ăn mừng, nhảy múa trong tiếng cồng chiêng rộn rã. Lễ hội đâm trâu của người Bana tạ ơn Giàng giúp dân làng vượt qua tai ương Lễ hội đâm trâu có từ thời xa xưa, tái hiện sinh động dấu ấn văn hóa tinh thần của người Bana vùng núi Phú Yên. Du khách tham gia lễ hội được chứng kiến những nghi lễ hấp dẫn, được tham gia múa hát, đánh chiêng, uống rượu cần... Lễ hội đâm trâu góp phần giữ gìn nét văn hóa dân gian của người Bana.

Lễ hội đâm trâu được xem là lễ hội lớn nhất của người Bana sinh sống ở phía Đông dãy Trường Sơn Nam của Phú Yên. Khác biệt với nhiều lễ hội đâm trâu của các dân tộc khác, lễ hội đâm trâu của người Bana không được tổ chức định kỳ mà được tổ chức để tạ ơn sau những lần vượt qua tai ương, hoạn nạn và cầu mong những điều tốt đẹp.

Người Bana tổ chức lễ hội đâm trâu nhằm tỏ lòng biết ơn trời đất, thần linh, biết ơn Giàng giúp dân trong buôn vượt qua bệnh tật, mất mùa, súc vật chết...

Đặc sắc lễ hội đâm trâu của người Bana

Để tổ chức lễ đâm trâu, người dân tộc Bana chuẩn bị một con trâu đực, 3-4 con bò, 6-7 con lợn cùng hàng chục con gà, hàng trăm ché rượu cần, ba chục cùi gạo.

Sau khi già làng quyết định địa điểm xây cột đâm trâu, bà con nơi đây tiến hành dựng cột, trồng một cây gôn làm cột chính. Đặc biệt, dân làng thường dựng cây gôn trước 3 năm để cây đâm chồi nảy lộc. Sau đó, dân làng chọn ngày lành tháng tốt để dựng cây nêu bằng bốn cột gỗ bút trắng. Trên mỗi cây nêu đều được chạm khắc hoa văn tinh tế có tô màu. Trên đỉnh cột chính, bàn thờ Giang được bọc vải rất uy nghi.

Lễ hội đâm trâu của người Bana ở Phú Yên thường kéo dài trong 3 ngày. Ngày đầu tiên, lễ hội được mở màn bằng 3 hồi cồng và thầy cúng sẽ làm lễ ở nhà Rông. Sau đó, dân làng đưa con trâu được chọn tế lễ vào cột ở cột chính để cúng. Đến ngày thứ 2, lễ cúng Giàng tiếp tục. Sau lễ cúng, dân làng cử ra một thanh niên trai tráng trong buôn đâm trâu tượng trưng. Ngày thứ 3, nghi lễ đâm trâu mới chính thức được tiến hành. Kết thúc lễ đâm trâu, đầu trâu tế lễ được đưa vào nhà Rông tiếp tục cúng. Bên ngoài, dân làng làm cỗ ăn mừng, nhảy múa trong tiếng cồng chiêng rộn rã.

Lễ hội đâm trâu của người Bana tạ ơn Giàng giúp dân làng vượt qua tai ương

Lễ hội đâm trâu có từ thời xa xưa, tái hiện sinh động dấu ấn văn hóa tinh thần của người Bana vùng núi Phú Yên. Du khách tham gia lễ hội được chứng kiến những nghi lễ hấp dẫn, được tham gia múa hát, đánh chiêng, uống rượu cần... Lễ hội đâm trâu góp phần giữ gìn nét văn hóa dân gian của người Bana.

Related Figures

Lễ Lih của dân tộc Jơ Rai

Thông tin thời kỳ

Lễ Lih của dân tộc Jơ Rai ở Gia Lai là một lễ cúng đã có từ lâu đời. Lễ Lih thường diễn ra vào tháng Ba, còn được xem là lễ tạ ơn, lễ cầu sức khỏe. Lễ thường được tổ chức khá trang trọng, để tạ ơn trời đất, tạ ơn Yang đã cho con người mùa màng bội thu. Hoặc là tạ ơn công lao của đấng sinh thành. Lễ Lil còn để cầu sức khỏe và may mắn cho những người thân trong gia đình, và buôn làng tránh khỏi tai ương... Đồng bào tham dự lễ Lih của dân tộc Jơ Rai ở Gia Lai xong, ai ai cũng cảm thấy thân thể như khỏe thêm, vì họ tin rằng Yang sẽ giúp họ bình an và khỏe mạnh. Lễ vật thường được người dân chuẩn bị để dâng lên Yang, thần Lửa Pơtao là một con gà to, một con heo để cúng cho người cầu sức khỏe và tạ ơn, một con bò để mời họ hàng đến cùng chung vui. Một lễ hội của người Tây Nguyên Khác với các lễ hội khác, là do cả làng cùng nhau tổ chức, lễ Lih của người Jơ Rai là do từng hộ gia đình tự làm. Sau phần kết thúc, mọi người sẽ quây quần bên nhau để uống rượu, ăn mừng và trò chuyện vui vẻ. Lễ Lih của dân tộc Jơ Rai ở Gia Lai là một nét đẹp văn hóa, là tín ngưỡng của người dân nơi đây. Đây cũng là một nét văn hóa đặc trưng của các đồng bào dân tộc Tây Nguyên, nhằm tỏ lòng biết ơn tới Yang, các thần và để cầu sức khỏe, bình an, và mùa màng tươi tốt.

Đồng bào tham dự lễ Lih của dân tộc Jơ Rai ở Gia Lai xong, ai ai cũng cảm thấy thân thể như khỏe thêm, vì họ tin rằng Yang sẽ giúp họ bình an và khỏe mạnh. Lễ vật thường được người dân chuẩn bị để dâng lên Yang, thần Lửa Pơtao là một con gà to, một con heo để cúng cho người cầu sức khỏe và tạ ơn, một con bò để mời họ hàng đến cùng chung vui.

Một lễ hội của người Tây Nguyên Khác với các lễ hội khác, là do cả làng cùng nhau tổ chức, lễ Lih của người Jơ Rai là do từng hộ gia đình tự làm. Sau phần kết thúc, mọi người sẽ quây quần bên nhau để uống rượu, ăn mừng và trò chuyện vui vẻ. Lễ Lih của dân tộc Jơ Rai ở Gia Lai là một nét đẹp văn hóa, là tín ngưỡng của người dân nơi đây. Đây cũng là một nét văn hóa đặc trưng của các đồng bào dân tộc Tây Nguyên, nhằm tỏ lòng biết ơn tới Yang, các thần và để cầu sức khỏe, bình an, và mùa màng tươi tốt.

Khác với các lễ hội khác, là do cả làng cùng nhau tổ chức, lễ Lih của người Jơ Rai là do từng hộ gia đình tự làm. Sau phần kết thúc, mọi người sẽ quây quần bên nhau để uống rượu, ăn mừng và trò chuyện vui vẻ. Lễ Lih của dân tộc Jơ Rai ở Gia Lai là một nét đẹp văn hóa, là tín ngưỡng của người dân nơi đây. Đây cũng là một nét văn hóa đặc trưng của các đồng bào dân tộc Tây Nguyên, nhằm tỏ lòng biết ơn tới Yang, các thần và để cầu sức khỏe, bình an, và mùa màng tươi tốt.

Related Figures

Lễ hội Đập Đồng Cam tỉnh Phú Yên

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 8/1 Âm lịch Lễ hội Đập Đồng Cam được tổ chức ngày 8 tháng Giêng hàng năm nhằm tri ấn những người có công và những người hy sinh trong quá trình xây dựng đập. Lễ hội Đập Đồng Cam thu hút đông đảo du khách gần xa đến tham quan, du xuân đầu năm mới. Đập Đồng Cam có ý nghĩa thủy lợi quan trọng với Phú Yên Công trình thủy nông Đập Đồng Cam được người dân Phú Yên xem như mạch máu quê hương, nuôi dưỡng đồng lúa Tuy Hòa. Đập Đồng Cam được xây dựng trên sông Ba, cách thành phố Tuy Hòa hơn 30km về phía Tây. Đập Đồng Cam được một số kỹ sư người Pháp thiết kế, xây dựng năm 1924, chính thức đưa vào sử dụng từ năm 1932. Hệ thống Đập Đồng Cam gồm một đập nâng dài 680m, hai cống lấy nước vào hai kênh chính nam và chính bắc dài trên 70km, gần 200km kênh mương các cấp. Trên kênh còn có hơn 1.200 công trình lớn nhỏ phục vụ việc điều tiết dẫn nước. Quá trình xây dựng Đập Đồng Cam đã huy động trên 5.530.000 ngày công lao động, với hàng triệu mét khối đất đá, bê tông được đào, đắp thủ công trong điều kiện hết sức khó khăn, môi trường rừng thiêng nước độc. Số lượng công nhân huy động trung bình một ngày khoảng 1.200 người, gồm 200 thợ chuyên nghiệp như thợ bắn mìn, khai thác đá, thợ nề và thợ mộc. Toàn bộ Đập Đồng Cam được hoàn thành với tổng kinh phí 302.620 đồng Đông Dương. Bia tưởng niệm tại Đập Đồng Cam Ngày 1/9/1929, sự cố đau lòng xảy ra trong quá trình xây dựng Đập Đồng Cam. Một chiếc thuyền chở công nhân thi công bị đắm trên sông Ba khiến 52 người thiệt mạng. Ngoài ra còn có hai công nhân khác tử nạn trong khi đắp đê quai và bắn phá mìn đá. Ngoài việc góp phần quan trong trong phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn, Đập Đồng Cam còn là một công trình có giá trị mỹ thuật cao bên canh ý nghĩa lịch sử, kinh tế, du lịch. Dâng hương trong lễ hội Đập Đồng Cam Hàng năm, ngày 8/1 âm lịch, tỉnh Phú Yên tổ chức lễ dâng hương tưởng niệm những bậc tiền nhân có công xây dựng hệ thống đập. Lễ hội Đập Đồng Cam là một trong những lễ hội lớn ở Phú Yên.

Đập Đồng Cam có ý nghĩa thủy lợi quan trọng với Phú Yên Công trình thủy nông Đập Đồng Cam được người dân Phú Yên xem như mạch máu quê hương, nuôi dưỡng đồng lúa Tuy Hòa. Đập Đồng Cam được xây dựng trên sông Ba, cách thành phố Tuy Hòa hơn 30km về phía Tây. Đập Đồng Cam được một số kỹ sư người Pháp thiết kế, xây dựng năm 1924, chính thức đưa vào sử dụng từ năm 1932. Hệ thống Đập Đồng Cam gồm một đập nâng dài 680m, hai cống lấy nước vào hai kênh chính nam và chính bắc dài trên 70km, gần 200km kênh mương các cấp. Trên kênh còn có hơn 1.200 công trình lớn nhỏ phục vụ việc điều tiết dẫn nước. Quá trình xây dựng Đập Đồng Cam đã huy động trên 5.530.000 ngày công lao động, với hàng triệu mét khối đất đá, bê tông được đào, đắp thủ công trong điều kiện hết sức khó khăn, môi trường rừng thiêng nước độc. Số lượng công nhân huy động trung bình một ngày khoảng 1.200 người, gồm 200 thợ chuyên nghiệp như thợ bắn mìn, khai thác đá, thợ nề và thợ mộc. Toàn bộ Đập Đồng Cam được hoàn thành với tổng kinh phí 302.620 đồng Đông Dương. Bia tưởng niệm tại Đập Đồng Cam Ngày 1/9/1929, sự cố đau lòng xảy ra trong quá trình xây dựng Đập Đồng Cam. Một chiếc thuyền chở công nhân thi công bị đắm trên sông Ba khiến 52 người thiệt mạng. Ngoài ra còn có hai công nhân khác tử nạn trong khi đắp đê quai và bắn phá mìn đá. Ngoài việc góp phần quan trong trong phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn, Đập Đồng Cam còn là một công trình có giá trị mỹ thuật cao bên canh ý nghĩa lịch sử, kinh tế, du lịch. Dâng hương trong lễ hội Đập Đồng Cam Hàng năm, ngày 8/1 âm lịch, tỉnh Phú Yên tổ chức lễ dâng hương tưởng niệm những bậc tiền nhân có công xây dựng hệ thống đập. Lễ hội Đập Đồng Cam là một trong những lễ hội lớn ở Phú Yên.

Công trình thủy nông Đập Đồng Cam được người dân Phú Yên xem như mạch máu quê hương, nuôi dưỡng đồng lúa Tuy Hòa. Đập Đồng Cam được xây dựng trên sông Ba, cách thành phố Tuy Hòa hơn 30km về phía Tây. Đập Đồng Cam được một số kỹ sư người Pháp thiết kế, xây dựng năm 1924, chính thức đưa vào sử dụng từ năm 1932. Hệ thống Đập Đồng Cam gồm một đập nâng dài 680m, hai cống lấy nước vào hai kênh chính nam và chính bắc dài trên 70km, gần 200km kênh mương các cấp. Trên kênh còn có hơn 1.200 công trình lớn nhỏ phục vụ việc điều tiết dẫn nước.

Quá trình xây dựng Đập Đồng Cam đã huy động trên 5.530.000 ngày công lao động, với hàng triệu mét khối đất đá, bê tông được đào, đắp thủ công trong điều kiện hết sức khó khăn, môi trường rừng thiêng nước độc. Số lượng công nhân huy động trung bình một ngày khoảng 1.200 người, gồm 200 thợ chuyên nghiệp như thợ bắn mìn, khai thác đá, thợ nề và thợ mộc. Toàn bộ Đập Đồng Cam được hoàn thành với tổng kinh phí 302.620 đồng Đông Dương.

Bia tưởng niệm tại Đập Đồng Cam

Ngày 1/9/1929, sự cố đau lòng xảy ra trong quá trình xây dựng Đập Đồng Cam. Một chiếc thuyền chở công nhân thi công bị đắm trên sông Ba khiến 52 người thiệt mạng. Ngoài ra còn có hai công nhân khác tử nạn trong khi đắp đê quai và bắn phá mìn đá.

Ngoài việc góp phần quan trong trong phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn, Đập Đồng Cam còn là một công trình có giá trị mỹ thuật cao bên canh ý nghĩa lịch sử, kinh tế, du lịch.

Dâng hương trong lễ hội Đập Đồng Cam

Hàng năm, ngày 8/1 âm lịch, tỉnh Phú Yên tổ chức lễ dâng hương tưởng niệm những bậc tiền nhân có công xây dựng hệ thống đập. Lễ hội Đập Đồng Cam là một trong những lễ hội lớn ở Phú Yên.

Related Figures

Lễ hội Giã La

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 6/1- 14/1 Âm lịch Lễ hội Giã La là một lễ hội truyền thống của hai làng Ỷ La ( Làng Cả) và La Nội thuộc phường Dương Nội, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. Lễ hội diễn ra từ ngày mồng 6 đến 14 tháng Giêng âm lịch. Người dân quy tụ về phường Dương Nội xem Lễ hội Giã La Hội Giã La gắn liền với sự tích về Thành Hoàng Đương Cảnh của hai làng Ỷ La và La Nội. Tương truyền, mẹ của Ngài là một người thợ nhuộm đến Đại La Trang và Lỳ La Khu đúng vào dịp có lễ hội. Cô đã dừng chân xem hội và nghỉ qua đêm tại bìa rừng, nay là nền quán. Đêm hôm đó, cô gái được thần mộng triệu rồi mang thai mà sinh ra Ngài. Lớn lên, Đương Cảnh học tại Tản Viên Sơn Thánh rồi kết duyên với Chính Nương và Tuyên Nương. Sau đó, Ngài đưa hai nàng về Đại La sinh sống. Ít năm sau, cả một vùng đất rộng lớn bị thú dữ hoành hành gây thiệt hại mùa màng và gia sức. Vua Hùng Duệ Vương sai sứu giả đi chiêu cầu anh hùng diệt ác thú cứu dân. Đương Cảnh nghe chiếu của Vua liền tuyển mộ tráng sĩ lên kinh đô xin vua được đi diệt ác thú. Hùng Duệ Vương van cho Ngàu làm Đô đốc, Tả Tướng Quân. Nhờ có hai người vợ thông thạo đường rừng núi nên Đương Cảnh đã đến được nơi thú dữ đang hoành hành. Với tài trí và sức lực của mình, Ngài đã bẫy thú dữ và dần dần tiêu diệt chúng. Lễ hội Giã La Con hổ lang vàng mép cuối cùng đã sa bẫy tại Đại La. Đương Cảnh cho dân giết hổ, lột da, xả thịt để mở tiệc ăn mừng. Xương hổ được chất thành một đống, đến nay vẫn còn dấu tích là Đống Hùm trên con đường từ đình lên quán La. Tấm da hổ được giữ làm kỷ niệm, xem như chiến tích diệt thú. Về sau, trong hội rước tấm da hổ đã trải lên kiệu của Đương Cảnh. Sau này, ông được vua Hùng phong chức Đô đốc Linh ứng Đại Vương, nhân dân suy tôn ông Thành hoàng. Dân làng đã lập đình và thờ cúng ông và hai phu nhân. Trong ngày hội Giã La, tiết mục đánh đèn đập hổ là một tiết mục được nhiều người mong đợi nhất. Tiết mục tắt đèn đập hổ là một tiết mục hấp dẫn được nhiều người mong đợi

Người dân quy tụ về phường Dương Nội xem Lễ hội Giã La Hội Giã La gắn liền với sự tích về Thành Hoàng Đương Cảnh của hai làng Ỷ La và La Nội. Tương truyền, mẹ của Ngài là một người thợ nhuộm đến Đại La Trang và Lỳ La Khu đúng vào dịp có lễ hội. Cô đã dừng chân xem hội và nghỉ qua đêm tại bìa rừng, nay là nền quán. Đêm hôm đó, cô gái được thần mộng triệu rồi mang thai mà sinh ra Ngài. Lớn lên, Đương Cảnh học tại Tản Viên Sơn Thánh rồi kết duyên với Chính Nương và Tuyên Nương. Sau đó, Ngài đưa hai nàng về Đại La sinh sống. Ít năm sau, cả một vùng đất rộng lớn bị thú dữ hoành hành gây thiệt hại mùa màng và gia sức. Vua Hùng Duệ Vương sai sứu giả đi chiêu cầu anh hùng diệt ác thú cứu dân. Đương Cảnh nghe chiếu của Vua liền tuyển mộ tráng sĩ lên kinh đô xin vua được đi diệt ác thú. Hùng Duệ Vương van cho Ngàu làm Đô đốc, Tả Tướng Quân. Nhờ có hai người vợ thông thạo đường rừng núi nên Đương Cảnh đã đến được nơi thú dữ đang hoành hành. Với tài trí và sức lực của mình, Ngài đã bẫy thú dữ và dần dần tiêu diệt chúng. Lễ hội Giã La Con hổ lang vàng mép cuối cùng đã sa bẫy tại Đại La. Đương Cảnh cho dân giết hổ, lột da, xả thịt để mở tiệc ăn mừng. Xương hổ được chất thành một đống, đến nay vẫn còn dấu tích là Đống Hùm trên con đường từ đình lên quán La. Tấm da hổ được giữ làm kỷ niệm, xem như chiến tích diệt thú. Về sau, trong hội rước tấm da hổ đã trải lên kiệu của Đương Cảnh. Sau này, ông được vua Hùng phong chức Đô đốc Linh ứng Đại Vương, nhân dân suy tôn ông Thành hoàng. Dân làng đã lập đình và thờ cúng ông và hai phu nhân. Trong ngày hội Giã La, tiết mục đánh đèn đập hổ là một tiết mục được nhiều người mong đợi nhất. Tiết mục tắt đèn đập hổ là một tiết mục hấp dẫn được nhiều người mong đợi

Hội Giã La gắn liền với sự tích về Thành Hoàng Đương Cảnh của hai làng Ỷ La và La Nội. Tương truyền, mẹ của Ngài là một người thợ nhuộm đến Đại La Trang và Lỳ La Khu đúng vào dịp có lễ hội. Cô đã dừng chân xem hội và nghỉ qua đêm tại bìa rừng, nay là nền quán. Đêm hôm đó, cô gái được thần mộng triệu rồi mang thai mà sinh ra Ngài.

Lớn lên, Đương Cảnh học tại Tản Viên Sơn Thánh rồi kết duyên với Chính Nương và Tuyên Nương. Sau đó, Ngài đưa hai nàng về Đại La sinh sống. Ít năm sau, cả một vùng đất rộng lớn bị thú dữ hoành hành gây thiệt hại mùa màng và gia sức. Vua Hùng Duệ Vương sai sứu giả đi chiêu cầu anh hùng diệt ác thú cứu dân. Đương Cảnh nghe chiếu của Vua liền tuyển mộ tráng sĩ lên kinh đô xin vua được đi diệt ác thú. Hùng Duệ Vương van cho Ngàu làm Đô đốc, Tả Tướng Quân. Nhờ có hai người vợ thông thạo đường rừng núi nên Đương Cảnh đã đến được nơi thú dữ đang hoành hành. Với tài trí và sức lực của mình, Ngài đã bẫy thú dữ và dần dần tiêu diệt chúng.

Lễ hội Giã La

Con hổ lang vàng mép cuối cùng đã sa bẫy tại Đại La. Đương Cảnh cho dân giết hổ, lột da, xả thịt để mở tiệc ăn mừng. Xương hổ được chất thành một đống, đến nay vẫn còn dấu tích là Đống Hùm trên con đường từ đình lên quán La. Tấm da hổ được giữ làm kỷ niệm, xem như chiến tích diệt thú. Về sau, trong hội rước tấm da hổ đã trải lên kiệu của Đương Cảnh.

Sau này, ông được vua Hùng phong chức Đô đốc Linh ứng Đại Vương, nhân dân suy tôn ông Thành hoàng. Dân làng đã lập đình và thờ cúng ông và hai phu nhân. Trong ngày hội Giã La, tiết mục đánh đèn đập hổ là một tiết mục được nhiều người mong đợi nhất. Tiết mục tắt đèn đập hổ là một tiết mục hấp dẫn được nhiều người mong đợi

Sau này, ông được vua Hùng phong chức Đô đốc Linh ứng Đại Vương, nhân dân suy tôn ông Thành hoàng. Dân làng đã lập đình và thờ cúng ông và hai phu nhân. Trong ngày hội Giã La, tiết mục đánh đèn đập hổ là một tiết mục được nhiều người mong đợi nhất.

Tiết mục tắt đèn đập hổ là một tiết mục hấp dẫn được nhiều người mong đợi

Related Figures

Lễ hội đình và đền Kim Liên

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/3- 16/3 Âm lịch Lễ hội đình và đền Kim Liên là một lễ hội truyền thống thường diễn ra từ ngày 15 đến 16 tháng Ba âm lịch hàng năm, tại làng Kim Liên cũ, tức phương Phương Liên, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Đền Kim Liên Đình và đền Kim Liên còn có tên gọi là là đền Cao Sơn, năm ở phía Nam trong tứ trấn của kinh thành Thăng Long. Nơi đây là nơi thờ Cao Sơn Đại Vương, theo tín ngưỡng dân gian là một người con của Lạc Long Quân và Âu Cơ. Ngôi đình mang uy danh của thần Cao Sơn nên mỗi lần tổ chức lễ hội đều rất náo nhiệt. Trước đây lễ hội đình và đền Kim Liên diễn ra từ ngày 11 đến 16 tháng Ba âm lịch, nhưng nay chỉ gói gọn trong hai ngày là 15 và 16 tháng Ba, lễ hội chính là vào ngày 16. Ngoài lễ chính còn có các lễ khác như Sóc Vọng, lễ Kỳ An, lễ hóa diễn ra vào ngày 12/8. Tiết mục múa cờ trong ngày hội Vào ngày hội, người dân trong vùng và khách xem hội từ khắp nơi tụ hội về đây, tất cả tạo nên một ngày hội tưng bừng. Từ sáng ngày 15, các bậc cao niên có uy tín trong làng sẽ giám sát một hội cắt tóc. Sau khi trống điểm ba hồi, các anh thợ trẻ sẽ dong ghế vào xới để khoe tài. Các vị giám khảo sẽ chấm điểm từ khâu choàng khăn, đến cách cầm kéo, khua kéo, cắt tỉa... Ngôi làng Kim Liên xưa nay vẫn nổi tiếng với những "tay kéo" điêu luyện, vừa cắt tóc vừa múa kéo như một môn nghệ thuật. Sau cuộc thi này sẽ đến các trò chơi khác như đập niêu, chơi đẩy gậy... buổi tối sẽ tổ chức liên hoan ca múa nhạc. Người dân xếp lễ trước đền Trong ngày chính hội, 6 giờ sáng sẽ làm lễ Tế tại chính điện. Các bậc "bô lão" trong đội nam tế của làng sẽ cung kinh đứng trước sân đình Tế Cáo lên Thượng Đẳng thần Cao Sơn Đại Vương, mở lối thiêng để dân làng bước vào ngày hội chính. Sau đó, lễ dâng hương sẽ diễn ra trước sân đình, rồi các dòng họ thay nhau dâng những mâm cổ của người Hà Nội lên. Lễ hội diễn ra trong không khí sôi động, tươi vui. Đông đảo người dân và khách xem hội được xem những trò chơi dân gian như cờ người, chọi chim, thi đấu võ thuật...

Đền Kim Liên Đình và đền Kim Liên còn có tên gọi là là đền Cao Sơn, năm ở phía Nam trong tứ trấn của kinh thành Thăng Long. Nơi đây là nơi thờ Cao Sơn Đại Vương, theo tín ngưỡng dân gian là một người con của Lạc Long Quân và Âu Cơ. Ngôi đình mang uy danh của thần Cao Sơn nên mỗi lần tổ chức lễ hội đều rất náo nhiệt. Trước đây lễ hội đình và đền Kim Liên diễn ra từ ngày 11 đến 16 tháng Ba âm lịch, nhưng nay chỉ gói gọn trong hai ngày là 15 và 16 tháng Ba, lễ hội chính là vào ngày 16. Ngoài lễ chính còn có các lễ khác như Sóc Vọng, lễ Kỳ An, lễ hóa diễn ra vào ngày 12/8. Tiết mục múa cờ trong ngày hội Vào ngày hội, người dân trong vùng và khách xem hội từ khắp nơi tụ hội về đây, tất cả tạo nên một ngày hội tưng bừng. Từ sáng ngày 15, các bậc cao niên có uy tín trong làng sẽ giám sát một hội cắt tóc. Sau khi trống điểm ba hồi, các anh thợ trẻ sẽ dong ghế vào xới để khoe tài. Các vị giám khảo sẽ chấm điểm từ khâu choàng khăn, đến cách cầm kéo, khua kéo, cắt tỉa... Ngôi làng Kim Liên xưa nay vẫn nổi tiếng với những "tay kéo" điêu luyện, vừa cắt tóc vừa múa kéo như một môn nghệ thuật. Sau cuộc thi này sẽ đến các trò chơi khác như đập niêu, chơi đẩy gậy... buổi tối sẽ tổ chức liên hoan ca múa nhạc. Người dân xếp lễ trước đền Trong ngày chính hội, 6 giờ sáng sẽ làm lễ Tế tại chính điện. Các bậc "bô lão" trong đội nam tế của làng sẽ cung kinh đứng trước sân đình Tế Cáo lên Thượng Đẳng thần Cao Sơn Đại Vương, mở lối thiêng để dân làng bước vào ngày hội chính. Sau đó, lễ dâng hương sẽ diễn ra trước sân đình, rồi các dòng họ thay nhau dâng những mâm cổ của người Hà Nội lên. Lễ hội diễn ra trong không khí sôi động, tươi vui. Đông đảo người dân và khách xem hội được xem những trò chơi dân gian như cờ người, chọi chim, thi đấu võ thuật...

Đình và đền Kim Liên còn có tên gọi là là đền Cao Sơn, năm ở phía Nam trong tứ trấn của kinh thành Thăng Long. Nơi đây là nơi thờ Cao Sơn Đại Vương, theo tín ngưỡng dân gian là một người con của Lạc Long Quân và Âu Cơ. Ngôi đình mang uy danh của thần Cao Sơn nên mỗi lần tổ chức lễ hội đều rất náo nhiệt.

Trước đây lễ hội đình và đền Kim Liên diễn ra từ ngày 11 đến 16 tháng Ba âm lịch, nhưng nay chỉ gói gọn trong hai ngày là 15 và 16 tháng Ba, lễ hội chính là vào ngày 16. Ngoài lễ chính còn có các lễ khác như Sóc Vọng, lễ Kỳ An, lễ hóa diễn ra vào ngày 12/8.

Tiết mục múa cờ trong ngày hội

Vào ngày hội, người dân trong vùng và khách xem hội từ khắp nơi tụ hội về đây, tất cả tạo nên một ngày hội tưng bừng. Từ sáng ngày 15, các bậc cao niên có uy tín trong làng sẽ giám sát một hội cắt tóc. Sau khi trống điểm ba hồi, các anh thợ trẻ sẽ dong ghế vào xới để khoe tài. Các vị giám khảo sẽ chấm điểm từ khâu choàng khăn, đến cách cầm kéo, khua kéo, cắt tỉa... Ngôi làng Kim Liên xưa nay vẫn nổi tiếng với những "tay kéo" điêu luyện, vừa cắt tóc vừa múa kéo như một môn nghệ thuật. Sau cuộc thi này sẽ đến các trò chơi khác như đập niêu, chơi đẩy gậy... buổi tối sẽ tổ chức liên hoan ca múa nhạc.

Người dân xếp lễ trước đền

Trong ngày chính hội, 6 giờ sáng sẽ làm lễ Tế tại chính điện. Các bậc "bô lão" trong đội nam tế của làng sẽ cung kinh đứng trước sân đình Tế Cáo lên Thượng Đẳng thần Cao Sơn Đại Vương, mở lối thiêng để dân làng bước vào ngày hội chính. Sau đó, lễ dâng hương sẽ diễn ra trước sân đình, rồi các dòng họ thay nhau dâng những mâm cổ của người Hà Nội lên.

Lễ hội diễn ra trong không khí sôi động, tươi vui. Đông đảo người dân và khách xem hội được xem những trò chơi dân gian như cờ người, chọi chim, thi đấu võ thuật...

Related Figures

Hàng nghìn ngọn nến lung linh trong đêm hội hoa đăng Tây Thiên tỉnh Vĩnh Phúc

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/2- 5/2 Âm lịch Đêm hội hoa đăng Tây Thiên được tổ chức vào rằm tháng 2 âm lịch hàng năm tại Tam Đảo, Vĩnh Phúc. Hội hoa đăng là nét đẹp văn hóa tâm linh, một lễ hội truyền thống mang lại giá trị tinh thần lớn với người dân Việt Nam, vừa cầu nguyện quốc thái dân an, nhân loại hạnh phúc, đất nước phồn vinh và nhân dân an lạc. Ngọn nến thắp sáng tâm niệm lành trong đêm hội hoa đăng Tây Thiên Tây Thiên là điểm du lịch văn hóa tâm linh nổi tiếng tại miền Bắc. Mỗi năm, hội hoa đăng Tây Thiên thu hút hàng vạn khách du lịch và Phật tử thập phương tham dự. Ban ngày, du khách có thể thăm quan vườn hoa Tây Thiên, Thiền viện Trúc Lâm hay lên núi ngắm cảnh, chụp ảnh với mây bay. Mỗi ngọn nến trong đêm hội hoa đăng Tây Thiên là một lời cầu nguyện Buổi tối, diễn ra lễ hội hoa đăng, mỗi người sẽ mang theo một ngọn nến tượng trưng cho ước muốn sức khỏe, bình an... ngồi cùng nhau cầu nguyện. Những ngọn nến được các nhà sư trong chùa Tây Thiên thắp lên. Mỗi ngọn lửa tượng trưng cho một lời cầu nguyện và kết thúc bằng màn thả hoa đăng tượng trưng cho những lời nguyện ước được gửi đi. Những năm gần đây, ban tổ chức nghiêm cấm việc đốt đèn trời để phòng cháy rừng hoặc ảnh hưởng đến vấn đề môi trường. Những ngọn nến lung linh trong đêm hội hoa đăng Tây Thiên Lễ hội hoa đăng Tây Thiên cũng là sự kiện để người dân về lễ Phật, lễ Mẫu, bày tỏ lòng thành kính trước công đức của Quốc Mẫu Tây Thiên với quê hương đất nước. Theo tích xưa, Quốc Mẫu Lăng Thị Tiêu có công lớn giúp vua đánh giặc giữ nước, mở mang bờ cõi, thống nhất giang sơn, dạy dân làm nông nghiệp. Để tưởng nhớ công ơn Quốc Mẫu Tây Thiên, người dân trong vùng lập đền thờ ở núi Thạch Bàn. Đêm hội hoa đăng Tây Thiên thể hiện sự hài hòa nét đặc sắc tín ngưỡng Phật - Mẫu. Mỗi ngọn nến được thắp lên tượng trưng cho một lời cầu nguyện gửi vào đó tâm niệm thiện lành, an lạc cho bản thân và mọi người.

Ngọn nến thắp sáng tâm niệm lành trong đêm hội hoa đăng Tây Thiên Tây Thiên là điểm du lịch văn hóa tâm linh nổi tiếng tại miền Bắc. Mỗi năm, hội hoa đăng Tây Thiên thu hút hàng vạn khách du lịch và Phật tử thập phương tham dự. Ban ngày, du khách có thể thăm quan vườn hoa Tây Thiên, Thiền viện Trúc Lâm hay lên núi ngắm cảnh, chụp ảnh với mây bay. Mỗi ngọn nến trong đêm hội hoa đăng Tây Thiên là một lời cầu nguyện Buổi tối, diễn ra lễ hội hoa đăng, mỗi người sẽ mang theo một ngọn nến tượng trưng cho ước muốn sức khỏe, bình an... ngồi cùng nhau cầu nguyện. Những ngọn nến được các nhà sư trong chùa Tây Thiên thắp lên. Mỗi ngọn lửa tượng trưng cho một lời cầu nguyện và kết thúc bằng màn thả hoa đăng tượng trưng cho những lời nguyện ước được gửi đi. Những năm gần đây, ban tổ chức nghiêm cấm việc đốt đèn trời để phòng cháy rừng hoặc ảnh hưởng đến vấn đề môi trường. Những ngọn nến lung linh trong đêm hội hoa đăng Tây Thiên Lễ hội hoa đăng Tây Thiên cũng là sự kiện để người dân về lễ Phật, lễ Mẫu, bày tỏ lòng thành kính trước công đức của Quốc Mẫu Tây Thiên với quê hương đất nước. Theo tích xưa, Quốc Mẫu Lăng Thị Tiêu có công lớn giúp vua đánh giặc giữ nước, mở mang bờ cõi, thống nhất giang sơn, dạy dân làm nông nghiệp. Để tưởng nhớ công ơn Quốc Mẫu Tây Thiên, người dân trong vùng lập đền thờ ở núi Thạch Bàn. Đêm hội hoa đăng Tây Thiên thể hiện sự hài hòa nét đặc sắc tín ngưỡng Phật - Mẫu. Mỗi ngọn nến được thắp lên tượng trưng cho một lời cầu nguyện gửi vào đó tâm niệm thiện lành, an lạc cho bản thân và mọi người.

Tây Thiên là điểm du lịch văn hóa tâm linh nổi tiếng tại miền Bắc. Mỗi năm, hội hoa đăng Tây Thiên thu hút hàng vạn khách du lịch và Phật tử thập phương tham dự. Ban ngày, du khách có thể thăm quan vườn hoa Tây Thiên, Thiền viện Trúc Lâm hay lên núi ngắm cảnh, chụp ảnh với mây bay.

Mỗi ngọn nến trong đêm hội hoa đăng Tây Thiên là một lời cầu nguyện

Buổi tối, diễn ra lễ hội hoa đăng, mỗi người sẽ mang theo một ngọn nến tượng trưng cho ước muốn sức khỏe, bình an... ngồi cùng nhau cầu nguyện. Những ngọn nến được các nhà sư trong chùa Tây Thiên thắp lên. Mỗi ngọn lửa tượng trưng cho một lời cầu nguyện và kết thúc bằng màn thả hoa đăng tượng trưng cho những lời nguyện ước được gửi đi. Những năm gần đây, ban tổ chức nghiêm cấm việc đốt đèn trời để phòng cháy rừng hoặc ảnh hưởng đến vấn đề môi trường.

Những ngọn nến lung linh trong đêm hội hoa đăng Tây Thiên

Lễ hội hoa đăng Tây Thiên cũng là sự kiện để người dân về lễ Phật, lễ Mẫu, bày tỏ lòng thành kính trước công đức của Quốc Mẫu Tây Thiên với quê hương đất nước. Theo tích xưa, Quốc Mẫu Lăng Thị Tiêu có công lớn giúp vua đánh giặc giữ nước, mở mang bờ cõi, thống nhất giang sơn, dạy dân làm nông nghiệp. Để tưởng nhớ công ơn Quốc Mẫu Tây Thiên, người dân trong vùng lập đền thờ ở núi Thạch Bàn.

Đêm hội hoa đăng Tây Thiên thể hiện sự hài hòa nét đặc sắc tín ngưỡng Phật - Mẫu. Mỗi ngọn nến được thắp lên tượng trưng cho một lời cầu nguyện gửi vào đó tâm niệm thiện lành, an lạc cho bản thân và mọi người.

Related Figures

Lễ hội truyền thống sông nước Đà Nông

Thông tin thời kỳ

Lễ hội truyền thống sông nước Đà Nông được tổ chức vào dịp đầu xuân năm mới hàng năm tại xã Hòa Hiệp Nam, huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên. Lễ hội không chỉ tạo không khí sôi nổi vui xuân, mà còn mang ý nghĩa rèn luyện sức khỏe, nâng cao kỹ năng chinh phục sông nước, thiên tai. Kế thừa và phát huy tinh hoa của vùng đất giàu truyền thống, Phú Yên là một trong những địa phương có nhiều lễ hội độc đáo. Cư dân vùng sông nước Đà Nông có nét sinh hoạt văn hóa đặc trưng, tạo nên bản sắc riêng. Lễ hội truyền thống sông nước Đà Nông là một trong những lễ hội đặc sắc tại Phú Yên. Vào những ngày diễn ra lễ hội, hàng nghìn người dân địa phương và du khách thập phương đổ dồn về cửa sông Đà Nông để hòa mình vào không khí lễ hội, cổ vũ cho những màn đua tài hấp dẫn. Lễ hội trở thành điểm du xuân hấp dẫn để được xem bà con trong huyện cùng nhau tranh tài với các nội dung thi đấu: bơi lội, lắc thúng chai, đua thuyền rồng... Trước khi diễn ra những màn tranh tài, ban tổ chức lễ hội tổ chức lễ cầu ngư, hát lăng và chương trình nghệ thuật mừng xuân. Hàng nghìn người dân đổ về xem lễ hội truyền thống sông nước Đà Nông Các VĐV tranh tài nội dung lắc thúng chai lễ hội sông nước Đà Nông Hàng nghìn người đứng trên cầu xem bơi lội tại lễ hội sông nước Đà Nông Các đội đua thuyền rồng tranh tài quyết liệt tại lễ hội sông nước Đà Nông Đến hẹn lại lên, lễ hội truyền thống sông nước Đà Nông diễn ra sôi nổi. Lễ hội là dịp người dân trong huyện thể hiện sức khỏe bền bỉ, tinh thần đoàn kết, kỹ năng chinh phục sông nước, tạo không khí thi đua sôi nổi trong lạo động sản xuất những ngày đầu năm.

Lễ hội truyền thống sông nước Đà Nông được tổ chức vào dịp đầu xuân năm mới hàng năm tại xã Hòa Hiệp Nam, huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên. Lễ hội không chỉ tạo không khí sôi nổi vui xuân, mà còn mang ý nghĩa rèn luyện sức khỏe, nâng cao kỹ năng chinh phục sông nước, thiên tai.

Kế thừa và phát huy tinh hoa của vùng đất giàu truyền thống, Phú Yên là một trong những địa phương có nhiều lễ hội độc đáo. Cư dân vùng sông nước Đà Nông có nét sinh hoạt văn hóa đặc trưng, tạo nên bản sắc riêng. Lễ hội truyền thống sông nước Đà Nông là một trong những lễ hội đặc sắc tại Phú Yên.

Vào những ngày diễn ra lễ hội, hàng nghìn người dân địa phương và du khách thập phương đổ dồn về cửa sông Đà Nông để hòa mình vào không khí lễ hội, cổ vũ cho những màn đua tài hấp dẫn. Lễ hội trở thành điểm du xuân hấp dẫn để được xem bà con trong huyện cùng nhau tranh tài với các nội dung thi đấu: bơi lội, lắc thúng chai, đua thuyền rồng... Trước khi diễn ra những màn tranh tài, ban tổ chức lễ hội tổ chức lễ cầu ngư, hát lăng và chương trình nghệ thuật mừng xuân.

Hàng nghìn người dân đổ về xem lễ hội truyền thống sông nước Đà Nông

Các VĐV tranh tài nội dung lắc thúng chai lễ hội sông nước Đà Nông

Hàng nghìn người đứng trên cầu xem bơi lội tại lễ hội sông nước Đà Nông

Các đội đua thuyền rồng tranh tài quyết liệt tại lễ hội sông nước Đà Nông

Đến hẹn lại lên, lễ hội truyền thống sông nước Đà Nông diễn ra sôi nổi. Lễ hội là dịp người dân trong huyện thể hiện sức khỏe bền bỉ, tinh thần đoàn kết, kỹ năng chinh phục sông nước, tạo không khí thi đua sôi nổi trong lạo động sản xuất những ngày đầu năm.

Related Figures

Lễ hội đua thuyền truyền thống đầm Ô Loan

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 7/1 Âm lịch Lễ hội đua thuyền truyền thống đầm Ô Loan được tổ chức vào ngày 7 tháng Giêng âm lịch hàng năm tại thôn Phú Tân, xã An Cư, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Lễ hội đua ghe truyền thống đầm Ô Loan thu hút nhiều đội ghe đua ở các địa phương khác đến tham gia. Các đội đua tranh tài tại lễ hội đua thuyền truyền thống đầm Ô Loan Đầm Ô Loan có diện tích toàn mặt nước là 1.570ha cách thành phố Tuy Hòa về phía Bắc 20km. Nước ở đầm Ô Loan thuộc loại nước lợ do đầm ăn thông ra biển bằng cửa Lễ Thịnh đưa nước mặn vào đầm mỗi khi thủy triều lên. Đầm Ô Loan nhận nước ngọt từ sông Cái và các con suối nhỏ xung quanh đổ vào. Tưng bừng lễ hội đua thuyền truyền thống đầm Ô Loan Trong dân gian có nhiều truyền thuyết về tên gọi đầm Ô Loan, nhưng gần gũi nhất là câu chuyện về nàng Loan và chim Ô thước được truyền tụng từ đời này sang đời khác. Truyền thuyết kể rằng: Ngày xưa, có nàng tiên trên trời rất xinh đẹp tên nàng Loan, tính tình hoạt bát, nghịch ngợm. Một ngày nọ, nàng Loan mượn chim Ô thước bay xuống trần gian dạo chơi khắp nơi mà không để ý chim đã mỏi cánh, đói khát. Đến khi ngang qua đầm Tuy An, chim không còn đủ sức bay nên hạ cánh xuống dãy núi Từ Bi. Sau này, mượn tên chim Ô thước của nàng Loan ghép chung với tên gọi của nàng, gọi tắt là Ô Loan để đặt tên cho đầm. Đua thuyền rồng trong lễ hội truyền thống đầm Ô LOan Lễ hội đua thuyền truyền thống đầm Ô Loan có từ trước ngày giải phóng. Lễ hội là nét đẹp truyền thống của cộng đồng dân cư các xã của huyện Tuy An sống ven đầm. Lễ hội bắt đầu là lễ cầu ngư sau đó là đua thuyền và bơi lội với các nội dung chính: Đua thuyền chài Đua thuyền rồng Đua thuyền thúng Bơi lội với nhiều nội dung nam nữ, cự li 100m, 200m Đua thuyền là hoạt động chính của lễ hội thể hiện tinh thần đoàn kết, sức khỏe dẻo dai, mạnh mẽ của người dân nơi đây.

Các đội đua tranh tài tại lễ hội đua thuyền truyền thống đầm Ô Loan Đầm Ô Loan có diện tích toàn mặt nước là 1.570ha cách thành phố Tuy Hòa về phía Bắc 20km. Nước ở đầm Ô Loan thuộc loại nước lợ do đầm ăn thông ra biển bằng cửa Lễ Thịnh đưa nước mặn vào đầm mỗi khi thủy triều lên. Đầm Ô Loan nhận nước ngọt từ sông Cái và các con suối nhỏ xung quanh đổ vào. Tưng bừng lễ hội đua thuyền truyền thống đầm Ô Loan Trong dân gian có nhiều truyền thuyết về tên gọi đầm Ô Loan, nhưng gần gũi nhất là câu chuyện về nàng Loan và chim Ô thước được truyền tụng từ đời này sang đời khác. Truyền thuyết kể rằng: Ngày xưa, có nàng tiên trên trời rất xinh đẹp tên nàng Loan, tính tình hoạt bát, nghịch ngợm. Một ngày nọ, nàng Loan mượn chim Ô thước bay xuống trần gian dạo chơi khắp nơi mà không để ý chim đã mỏi cánh, đói khát. Đến khi ngang qua đầm Tuy An, chim không còn đủ sức bay nên hạ cánh xuống dãy núi Từ Bi. Sau này, mượn tên chim Ô thước của nàng Loan ghép chung với tên gọi của nàng, gọi tắt là Ô Loan để đặt tên cho đầm. Đua thuyền rồng trong lễ hội truyền thống đầm Ô LOan Lễ hội đua thuyền truyền thống đầm Ô Loan có từ trước ngày giải phóng. Lễ hội là nét đẹp truyền thống của cộng đồng dân cư các xã của huyện Tuy An sống ven đầm. Lễ hội bắt đầu là lễ cầu ngư sau đó là đua thuyền và bơi lội với các nội dung chính: Đua thuyền chài Đua thuyền rồng Đua thuyền thúng Bơi lội với nhiều nội dung nam nữ, cự li 100m, 200m Đua thuyền là hoạt động chính của lễ hội thể hiện tinh thần đoàn kết, sức khỏe dẻo dai, mạnh mẽ của người dân nơi đây.

Đầm Ô Loan có diện tích toàn mặt nước là 1.570ha cách thành phố Tuy Hòa về phía Bắc 20km. Nước ở đầm Ô Loan thuộc loại nước lợ do đầm ăn thông ra biển bằng cửa Lễ Thịnh đưa nước mặn vào đầm mỗi khi thủy triều lên. Đầm Ô Loan nhận nước ngọt từ sông Cái và các con suối nhỏ xung quanh đổ vào.

Tưng bừng lễ hội đua thuyền truyền thống đầm Ô Loan

Trong dân gian có nhiều truyền thuyết về tên gọi đầm Ô Loan, nhưng gần gũi nhất là câu chuyện về nàng Loan và chim Ô thước được truyền tụng từ đời này sang đời khác. Truyền thuyết kể rằng: Ngày xưa, có nàng tiên trên trời rất xinh đẹp tên nàng Loan, tính tình hoạt bát, nghịch ngợm. Một ngày nọ, nàng Loan mượn chim Ô thước bay xuống trần gian dạo chơi khắp nơi mà không để ý chim đã mỏi cánh, đói khát. Đến khi ngang qua đầm Tuy An, chim không còn đủ sức bay nên hạ cánh xuống dãy núi Từ Bi. Sau này, mượn tên chim Ô thước của nàng Loan ghép chung với tên gọi của nàng, gọi tắt là Ô Loan để đặt tên cho đầm.

Đua thuyền rồng trong lễ hội truyền thống đầm Ô LOan

Lễ hội đua thuyền truyền thống đầm Ô Loan có từ trước ngày giải phóng. Lễ hội là nét đẹp truyền thống của cộng đồng dân cư các xã của huyện Tuy An sống ven đầm. Lễ hội bắt đầu là lễ cầu ngư sau đó là đua thuyền và bơi lội với các nội dung chính:

Đua thuyền chài Đua thuyền rồng Đua thuyền thúng Bơi lội với nhiều nội dung nam nữ, cự li 100m, 200m

Đua thuyền là hoạt động chính của lễ hội thể hiện tinh thần đoàn kết, sức khỏe dẻo dai, mạnh mẽ của người dân nơi đây.

Related Figures

Lễ hội đình - đền Chèm

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 14/5- 16/5 Âm lịch Lễ hội đình - đền Chèm diễn ra ngày 14-16/5 âm lịch ở đình Chèm, phường Thụy Phương, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội. Lễ hội đình Chèm gồm 2 phần: phần lễ và phần hội được tổ chức quy mô với nhiều hoạt động sôi nổi và hấp dẫn. Đoàn rước trong lễ hội đình - đền Chèm Đình Chèm (hay còn gọi là đền Chèm) thờ Đức Ông Lý Ông Trọng (người có công lớn với hai triều đại Hùng Duệ Vương và An Dương Vương. Ông cũng là nhà ngoại giao đầu tiên của dân tộc, khi được cử đi sứ sang nước Tần giúp vua Tần dẹp yên sự quấy nhiễu của quân Hung Nô) cùng Đức Bà Bạch Tĩnh Cung và ông Sứ Nguyễn Văn Chất. Đình Chèm được xây dựng từ thời Bắc thuộc, đến nay đã qua nhiều lần trùng tu tôn tạo nhưng vẫn mang dáng vẻ cổ kính tiêu biểu cho kiến trúc thế kỷ XVII. Toàn bộ khu đình được chia làm hai phần: Khu ngoài là Tầu Tượng là ngôi nhà ba gian, hai dĩ, có bốn mái lớn với các hình long, ly, quy, phụng. Lầu mộc dục có hai văn bia, bên phải ghi công đức của người đóng góp, bên trái ghi việc kiệu đình. Khu trong là khu chính cung được thiết kế theo hình chữ công, có tiền cung, trung cung và hậu cung. Theo sử sách ghi lại, lễ hội đình Chèm được tổ chức nhằm kỷ niệm ngày thắng trận khải hoàn mở hội mừng công và làm lễ cầu siêu cho các tướng sĩ của Đức thánh Lý Ông Trọng. Sâu xa hơn, lễ hội cũng là nghi lễ cầu mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu của cư dân nông nghiệp đồng bằng sông Hồng. Lễ hội đình - đền Chèm là lễ hội lớn trong vùng Lễ hội đình - đền Chèm là lễ hội lớn trong vùng, được tổ chức trong 3 ngày với nhiều hội thi và trò chơi truyền thống như: thi làm chè kho, thi bơi, thi vật, thi bắt vịt, chơi cờ người... Lễ hội có sự tham gia của nhân dân 3 làng: Thụy Phương, Hoàng Xá, Hoàng Liên. Theo truyền thuyết địa phương, thì ba làng kết nghĩa anh em, làng Thụy Phương là anh cả, làng Xá là anh hai, làng Liên là em út. Lễ hội đình - đền Chèm được tổ chức quy mô Lễ hội đình Chèm được tiến hành theo trình tự sau: Lễ khai mạc ngày 14/5 bắt đầu lúc 7h sáng. Nghi lễ rước nước (nghênh thủy) được tiến hành ngay sau lễ khai mạc. Đoàn rước xuất phát từ đình, đi xuống bến ngự. Các thành viên trong đội rước mặc trang phục truyền thống diễn lại sự tích Đức Thánh Chèm ra trận. Đi đầu đoàn rước là đội múa rồng do thanh niên đảm nhiệm, theo sau là đội đánh trống, đánh chiêng. Tiếp đến là hàng tổng cờ vừa đi vừa múa cờ, kế đến hàng hàng chức việc cầm vũ khí: gươm hầu, bát bửu, chấp kích... Theo sau là 2 đội nhạc lễ: bát âm, đồng văn (trống) tấu bài lưu thủy rộn ràng réo rắt... Xuống tới bến, đoàn rước lần lượt xuống thuyền, chèo thuyền ra khoảng sông Hồng, thuyền chính quay 3 vòng để lấy nước. Nước rước được dùng làm lễ Mộc Dục tắm bài vị cho Đức Thánh. Buổi chiều, được bắt đầu bằng tiết mục cúng phát tấu do các cụ ông trong trang phục truyền thống thực hiện. Sau cúng phát tấu là lễ rước Văn từ chùa Chèm về đình Chèm. Khi Văn tế về đình, đội tế lễ của 3 làng cùng làm lễ tế để nhập tịch. Ngày 15/5 chính hội. Buổi sáng có lễ rước nước và dâng hương tế Thánh ở trong đình. Khi nước được rước về, đoàn tế lễ làm lễ bái ban Mộc Dục Đức Ông, Đức Bà cùng lễ khai quang, lễ kỳ yên và phóng sinh bồ câu ở cửa đình. Buổi chiều thực hiện lễ rước Đức Thánh hoàn cung và yên vị tại đình. Sau đó, nhân dân địa phương và du khách thập phương dâng hương lễ Đức Thánh. Ngày 16/5 bắt đầu bằng lễ rước nước như hai ngày trước, sau đó đoàn dâng hương của làng làm lễ tế Thánh. Buổi chiều làm lễ rước văn từ chùa Chèm về đình Chèm. Đến xế chiều, các cụ trong đội tế của 3 làng làm lễ tế hạ hội. Hội đình - đền Chèm là lễ hội cổ truyền đặc sắc gắn liền với lịch sử của dân tộc, tiêu biểu cho sinh hoạt văn hóa của cư dân nông nghiệp lúa nước đồng bằng sông Hồng.

Đoàn rước trong lễ hội đình - đền Chèm Đình Chèm (hay còn gọi là đền Chèm) thờ Đức Ông Lý Ông Trọng (người có công lớn với hai triều đại Hùng Duệ Vương và An Dương Vương. Ông cũng là nhà ngoại giao đầu tiên của dân tộc, khi được cử đi sứ sang nước Tần giúp vua Tần dẹp yên sự quấy nhiễu của quân Hung Nô) cùng Đức Bà Bạch Tĩnh Cung và ông Sứ Nguyễn Văn Chất. Đình Chèm được xây dựng từ thời Bắc thuộc, đến nay đã qua nhiều lần trùng tu tôn tạo nhưng vẫn mang dáng vẻ cổ kính tiêu biểu cho kiến trúc thế kỷ XVII. Toàn bộ khu đình được chia làm hai phần: Khu ngoài là Tầu Tượng là ngôi nhà ba gian, hai dĩ, có bốn mái lớn với các hình long, ly, quy, phụng. Lầu mộc dục có hai văn bia, bên phải ghi công đức của người đóng góp, bên trái ghi việc kiệu đình. Khu trong là khu chính cung được thiết kế theo hình chữ công, có tiền cung, trung cung và hậu cung. Theo sử sách ghi lại, lễ hội đình Chèm được tổ chức nhằm kỷ niệm ngày thắng trận khải hoàn mở hội mừng công và làm lễ cầu siêu cho các tướng sĩ của Đức thánh Lý Ông Trọng. Sâu xa hơn, lễ hội cũng là nghi lễ cầu mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu của cư dân nông nghiệp đồng bằng sông Hồng. Lễ hội đình - đền Chèm là lễ hội lớn trong vùng Lễ hội đình - đền Chèm là lễ hội lớn trong vùng, được tổ chức trong 3 ngày với nhiều hội thi và trò chơi truyền thống như: thi làm chè kho, thi bơi, thi vật, thi bắt vịt, chơi cờ người... Lễ hội có sự tham gia của nhân dân 3 làng: Thụy Phương, Hoàng Xá, Hoàng Liên. Theo truyền thuyết địa phương, thì ba làng kết nghĩa anh em, làng Thụy Phương là anh cả, làng Xá là anh hai, làng Liên là em út. Lễ hội đình - đền Chèm được tổ chức quy mô Lễ hội đình Chèm được tiến hành theo trình tự sau: Lễ khai mạc ngày 14/5 bắt đầu lúc 7h sáng. Nghi lễ rước nước (nghênh thủy) được tiến hành ngay sau lễ khai mạc. Đoàn rước xuất phát từ đình, đi xuống bến ngự. Các thành viên trong đội rước mặc trang phục truyền thống diễn lại sự tích Đức Thánh Chèm ra trận. Đi đầu đoàn rước là đội múa rồng do thanh niên đảm nhiệm, theo sau là đội đánh trống, đánh chiêng. Tiếp đến là hàng tổng cờ vừa đi vừa múa cờ, kế đến hàng hàng chức việc cầm vũ khí: gươm hầu, bát bửu, chấp kích... Theo sau là 2 đội nhạc lễ: bát âm, đồng văn (trống) tấu bài lưu thủy rộn ràng réo rắt... Xuống tới bến, đoàn rước lần lượt xuống thuyền, chèo thuyền ra khoảng sông Hồng, thuyền chính quay 3 vòng để lấy nước. Nước rước được dùng làm lễ Mộc Dục tắm bài vị cho Đức Thánh. Buổi chiều, được bắt đầu bằng tiết mục cúng phát tấu do các cụ ông trong trang phục truyền thống thực hiện. Sau cúng phát tấu là lễ rước Văn từ chùa Chèm về đình Chèm. Khi Văn tế về đình, đội tế lễ của 3 làng cùng làm lễ tế để nhập tịch. Ngày 15/5 chính hội. Buổi sáng có lễ rước nước và dâng hương tế Thánh ở trong đình. Khi nước được rước về, đoàn tế lễ làm lễ bái ban Mộc Dục Đức Ông, Đức Bà cùng lễ khai quang, lễ kỳ yên và phóng sinh bồ câu ở cửa đình. Buổi chiều thực hiện lễ rước Đức Thánh hoàn cung và yên vị tại đình. Sau đó, nhân dân địa phương và du khách thập phương dâng hương lễ Đức Thánh. Ngày 16/5 bắt đầu bằng lễ rước nước như hai ngày trước, sau đó đoàn dâng hương của làng làm lễ tế Thánh. Buổi chiều làm lễ rước văn từ chùa Chèm về đình Chèm. Đến xế chiều, các cụ trong đội tế của 3 làng làm lễ tế hạ hội. Hội đình - đền Chèm là lễ hội cổ truyền đặc sắc gắn liền với lịch sử của dân tộc, tiêu biểu cho sinh hoạt văn hóa của cư dân nông nghiệp lúa nước đồng bằng sông Hồng.

Đình Chèm (hay còn gọi là đền Chèm) thờ Đức Ông Lý Ông Trọng (người có công lớn với hai triều đại Hùng Duệ Vương và An Dương Vương. Ông cũng là nhà ngoại giao đầu tiên của dân tộc, khi được cử đi sứ sang nước Tần giúp vua Tần dẹp yên sự quấy nhiễu của quân Hung Nô) cùng Đức Bà Bạch Tĩnh Cung và ông Sứ Nguyễn Văn Chất.

Đình Chèm được xây dựng từ thời Bắc thuộc, đến nay đã qua nhiều lần trùng tu tôn tạo nhưng vẫn mang dáng vẻ cổ kính tiêu biểu cho kiến trúc thế kỷ XVII. Toàn bộ khu đình được chia làm hai phần: Khu ngoài là Tầu Tượng là ngôi nhà ba gian, hai dĩ, có bốn mái lớn với các hình long, ly, quy, phụng. Lầu mộc dục có hai văn bia, bên phải ghi công đức của người đóng góp, bên trái ghi việc kiệu đình. Khu trong là khu chính cung được thiết kế theo hình chữ công, có tiền cung, trung cung và hậu cung.

Đình Chèm được xây dựng từ thời Bắc thuộc, đến nay đã qua nhiều lần trùng tu tôn tạo nhưng vẫn mang dáng vẻ cổ kính tiêu biểu cho kiến trúc thế kỷ XVII. Toàn bộ khu đình được chia làm hai phần:

Khu ngoài là Tầu Tượng là ngôi nhà ba gian, hai dĩ, có bốn mái lớn với các hình long, ly, quy, phụng. Lầu mộc dục có hai văn bia, bên phải ghi công đức của người đóng góp, bên trái ghi việc kiệu đình. Khu trong là khu chính cung được thiết kế theo hình chữ công, có tiền cung, trung cung và hậu cung.

Theo sử sách ghi lại, lễ hội đình Chèm được tổ chức nhằm kỷ niệm ngày thắng trận khải hoàn mở hội mừng công và làm lễ cầu siêu cho các tướng sĩ của Đức thánh Lý Ông Trọng. Sâu xa hơn, lễ hội cũng là nghi lễ cầu mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu của cư dân nông nghiệp đồng bằng sông Hồng.

Lễ hội đình - đền Chèm là lễ hội lớn trong vùng

Lễ hội đình - đền Chèm là lễ hội lớn trong vùng, được tổ chức trong 3 ngày với nhiều hội thi và trò chơi truyền thống như: thi làm chè kho, thi bơi, thi vật, thi bắt vịt, chơi cờ người... Lễ hội có sự tham gia của nhân dân 3 làng: Thụy Phương, Hoàng Xá, Hoàng Liên. Theo truyền thuyết địa phương, thì ba làng kết nghĩa anh em, làng Thụy Phương là anh cả, làng Xá là anh hai, làng Liên là em út.

Lễ hội đình - đền Chèm được tổ chức quy mô

Lễ hội đình Chèm được tiến hành theo trình tự sau:

Lễ khai mạc ngày 14/5 bắt đầu lúc 7h sáng. Nghi lễ rước nước (nghênh thủy) được tiến hành ngay sau lễ khai mạc. Đoàn rước xuất phát từ đình, đi xuống bến ngự. Các thành viên trong đội rước mặc trang phục truyền thống diễn lại sự tích Đức Thánh Chèm ra trận. Đi đầu đoàn rước là đội múa rồng do thanh niên đảm nhiệm, theo sau là đội đánh trống, đánh chiêng. Tiếp đến là hàng tổng cờ vừa đi vừa múa cờ, kế đến hàng hàng chức việc cầm vũ khí: gươm hầu, bát bửu, chấp kích... Theo sau là 2 đội nhạc lễ: bát âm, đồng văn (trống) tấu bài lưu thủy rộn ràng réo rắt... Xuống tới bến, đoàn rước lần lượt xuống thuyền, chèo thuyền ra khoảng sông Hồng, thuyền chính quay 3 vòng để lấy nước. Nước rước được dùng làm lễ Mộc Dục tắm bài vị cho Đức Thánh. Buổi chiều, được bắt đầu bằng tiết mục cúng phát tấu do các cụ ông trong trang phục truyền thống thực hiện. Sau cúng phát tấu là lễ rước Văn từ chùa Chèm về đình Chèm. Khi Văn tế về đình, đội tế lễ của 3 làng cùng làm lễ tế để nhập tịch. Ngày 15/5 chính hội. Buổi sáng có lễ rước nước và dâng hương tế Thánh ở trong đình. Khi nước được rước về, đoàn tế lễ làm lễ bái ban Mộc Dục Đức Ông, Đức Bà cùng lễ khai quang, lễ kỳ yên và phóng sinh bồ câu ở cửa đình. Buổi chiều thực hiện lễ rước Đức Thánh hoàn cung và yên vị tại đình. Sau đó, nhân dân địa phương và du khách thập phương dâng hương lễ Đức Thánh. Ngày 16/5 bắt đầu bằng lễ rước nước như hai ngày trước, sau đó đoàn dâng hương của làng làm lễ tế Thánh. Buổi chiều làm lễ rước văn từ chùa Chèm về đình Chèm. Đến xế chiều, các cụ trong đội tế của 3 làng làm lễ tế hạ hội.

Hội đình - đền Chèm là lễ hội cổ truyền đặc sắc gắn liền với lịch sử của dân tộc, tiêu biểu cho sinh hoạt văn hóa của cư dân nông nghiệp lúa nước đồng bằng sông Hồng.

Hội đình - đền Chèm là lễ hội cổ truyền đặc sắc gắn liền với lịch sử của dân tộc, tiêu biểu cho sinh hoạt văn hóa của cư dân nông nghiệp lúa nước đồng bằng sông Hồng.

Related Figures

Lễ hội đền Chúa Thác Bờ

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 7/1- 30/3 Âm lịch Lễ hội đền Chúa Thác Bờ diễn ra từ ngày 7 tháng Giêng và kéo dài tới hết tháng 3 âm lịch. Trong những ngày diễn ra lễ hội, dòng người khắp bốn phương đổ về lễ tạ, hòa vào không khí náo nhiệt và vui tươi. Lễ hội đền Chúa Thác Bờ điểm du lịch văn hóa tâm linh tỉnh Hòa Bình Thác Bờ xưa còn gọi là thác Vạn Bờ được tạo thành từ hàng trăm mỏm đá lớn nhỏ nhấp nhô như đàn voi khổng lồ giữa dòng sông Đà. Theo truyền thuyết, đền thờ bà chúa Thác Bờ Đinh Thị Vân - người Mường và một bà người Dao ở Vầy Nưa, đã có công giúp vua Lê Lợi lo liệu quân lương, thuyền mảng vượt Thác Bờ tiến quân lên Mường Lễ dẹp loạn đảng Đèo Cát Hãn. Trong khi vận chuyển lương thực, do gặp sóng to gió lớn, thuyền bị đắm ở Hàng Miếng, xác bà trôi dạt về hang. Để tưởng nhớ công ơn, nhà Vua truy phong công trạng, ban chiếu cho dân lập đền thờ hương khói, thờ phụng. Trước đây, đền Thác Bờ thuộc xã Hào Tráng. Sau nhiều lần thay đổi địa giới hành chính, hiện đền tọa lạc tại xã Thung Nai, huyện Cao Phong và xã Vầy Nưa, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình. Ngoài thờ bà Chúa Thác Bờ, đền còn thờ các vị Thần, Thánh trong tín ngưỡng dân gian người Việt như: Ngũ Vị Tôn ông, Tứ phủ Thánh cô, Tứ phủ Thánh cậu, Đức đại vương Trần Quốc Tuấn... Hàng nghìn du khách hành hương lễ hội đền Chúa Thác Bờ Du khách đến thăm đền Thác Bờ dễ dàng tìm được sự bình yên, thư thái trong tâm hồn. Dường như mọi lo toan cuộc sống thường ngày tan biến hết. Ngoài ra, du khách còn được ngắm nhìn cảnh đẹp thiên nhiên nơi đây như một bức tranh sơn thủy hữu tình, nên thơ hòa quyên với nét đẹp văn hóa mộc mạc của người dân địa phương. Bao giờ cũng vậy, người đi lễ sẽ cầu nguyện ở đền Trình, sau đó mới lên tới đền Chúa. Mỗi ngôi đền nằm trên một hòn đảo cách xa nhau khoảng gần 20 phút đi thuyền. Mỗi ngày, đền Thác Bờ đón hàng ngàn du khách thập phương nô nức lễ Phật, lễ Chúa cầu may. Đền Chúa Thác Bà linh thiêng mang vẻ đẹp hùng vĩ Sau khi hành lễ xong, du khách sẽ cùng nhau thưởng thức cá nướng sông Đà chính hiệu, có khi là một con gà xiên nướng trên than củi hồng rực. Đền Thách Bờ mang nét đẹp hùng vĩ, nên thơ. Đáng tiếc hội đền Thác Bờ hiện nay chủ yếu phần lễ còn phần hội hầu như chưa có hoạt động gì.

Lễ hội đền Chúa Thác Bờ điểm du lịch văn hóa tâm linh tỉnh Hòa Bình Thác Bờ xưa còn gọi là thác Vạn Bờ được tạo thành từ hàng trăm mỏm đá lớn nhỏ nhấp nhô như đàn voi khổng lồ giữa dòng sông Đà. Theo truyền thuyết, đền thờ bà chúa Thác Bờ Đinh Thị Vân - người Mường và một bà người Dao ở Vầy Nưa, đã có công giúp vua Lê Lợi lo liệu quân lương, thuyền mảng vượt Thác Bờ tiến quân lên Mường Lễ dẹp loạn đảng Đèo Cát Hãn. Trong khi vận chuyển lương thực, do gặp sóng to gió lớn, thuyền bị đắm ở Hàng Miếng, xác bà trôi dạt về hang. Để tưởng nhớ công ơn, nhà Vua truy phong công trạng, ban chiếu cho dân lập đền thờ hương khói, thờ phụng. Trước đây, đền Thác Bờ thuộc xã Hào Tráng. Sau nhiều lần thay đổi địa giới hành chính, hiện đền tọa lạc tại xã Thung Nai, huyện Cao Phong và xã Vầy Nưa, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình. Ngoài thờ bà Chúa Thác Bờ, đền còn thờ các vị Thần, Thánh trong tín ngưỡng dân gian người Việt như: Ngũ Vị Tôn ông, Tứ phủ Thánh cô, Tứ phủ Thánh cậu, Đức đại vương Trần Quốc Tuấn... Hàng nghìn du khách hành hương lễ hội đền Chúa Thác Bờ Du khách đến thăm đền Thác Bờ dễ dàng tìm được sự bình yên, thư thái trong tâm hồn. Dường như mọi lo toan cuộc sống thường ngày tan biến hết. Ngoài ra, du khách còn được ngắm nhìn cảnh đẹp thiên nhiên nơi đây như một bức tranh sơn thủy hữu tình, nên thơ hòa quyên với nét đẹp văn hóa mộc mạc của người dân địa phương. Bao giờ cũng vậy, người đi lễ sẽ cầu nguyện ở đền Trình, sau đó mới lên tới đền Chúa. Mỗi ngôi đền nằm trên một hòn đảo cách xa nhau khoảng gần 20 phút đi thuyền. Mỗi ngày, đền Thác Bờ đón hàng ngàn du khách thập phương nô nức lễ Phật, lễ Chúa cầu may. Đền Chúa Thác Bà linh thiêng mang vẻ đẹp hùng vĩ Sau khi hành lễ xong, du khách sẽ cùng nhau thưởng thức cá nướng sông Đà chính hiệu, có khi là một con gà xiên nướng trên than củi hồng rực. Đền Thách Bờ mang nét đẹp hùng vĩ, nên thơ. Đáng tiếc hội đền Thác Bờ hiện nay chủ yếu phần lễ còn phần hội hầu như chưa có hoạt động gì.

Thác Bờ xưa còn gọi là thác Vạn Bờ được tạo thành từ hàng trăm mỏm đá lớn nhỏ nhấp nhô như đàn voi khổng lồ giữa dòng sông Đà. Theo truyền thuyết, đền thờ bà chúa Thác Bờ Đinh Thị Vân - người Mường và một bà người Dao ở Vầy Nưa, đã có công giúp vua Lê Lợi lo liệu quân lương, thuyền mảng vượt Thác Bờ tiến quân lên Mường Lễ dẹp loạn đảng Đèo Cát Hãn. Trong khi vận chuyển lương thực, do gặp sóng to gió lớn, thuyền bị đắm ở Hàng Miếng, xác bà trôi dạt về hang. Để tưởng nhớ công ơn, nhà Vua truy phong công trạng, ban chiếu cho dân lập đền thờ hương khói, thờ phụng.

Trước đây, đền Thác Bờ thuộc xã Hào Tráng. Sau nhiều lần thay đổi địa giới hành chính, hiện đền tọa lạc tại xã Thung Nai, huyện Cao Phong và xã Vầy Nưa, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình. Ngoài thờ bà Chúa Thác Bờ, đền còn thờ các vị Thần, Thánh trong tín ngưỡng dân gian người Việt như: Ngũ Vị Tôn ông, Tứ phủ Thánh cô, Tứ phủ Thánh cậu, Đức đại vương Trần Quốc Tuấn...

Hàng nghìn du khách hành hương lễ hội đền Chúa Thác Bờ

Du khách đến thăm đền Thác Bờ dễ dàng tìm được sự bình yên, thư thái trong tâm hồn. Dường như mọi lo toan cuộc sống thường ngày tan biến hết. Ngoài ra, du khách còn được ngắm nhìn cảnh đẹp thiên nhiên nơi đây như một bức tranh sơn thủy hữu tình, nên thơ hòa quyên với nét đẹp văn hóa mộc mạc của người dân địa phương.

Bao giờ cũng vậy, người đi lễ sẽ cầu nguyện ở đền Trình, sau đó mới lên tới đền Chúa. Mỗi ngôi đền nằm trên một hòn đảo cách xa nhau khoảng gần 20 phút đi thuyền. Mỗi ngày, đền Thác Bờ đón hàng ngàn du khách thập phương nô nức lễ Phật, lễ Chúa cầu may.

Đền Chúa Thác Bà linh thiêng mang vẻ đẹp hùng vĩ

Sau khi hành lễ xong, du khách sẽ cùng nhau thưởng thức cá nướng sông Đà chính hiệu, có khi là một con gà xiên nướng trên than củi hồng rực.

Đền Thách Bờ mang nét đẹp hùng vĩ, nên thơ. Đáng tiếc hội đền Thác Bờ hiện nay chủ yếu phần lễ còn phần hội hầu như chưa có hoạt động gì.

Related Figures

Khám phá hội Xên Mường

Thông tin thời kỳ

Hội Xên Mường huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình là lễ hội cầu mùa, cầu phúc của người Thái. Hội thường mở vào mùa hoa ban nở, thể hiện ước vọng lớn lao của đồng bào nơi đây về cuộc sống bình yên, ấm no, hạnh phúc; đồng thời là dịp thi tài, vui chơi, trai gái tìm hiểu, tâm tình qua tiếng hát, tiếng đàn. Tiết mục múa dân gian do các nghệ nhân Thái biểu diễn tại hội Xên Mường Qua nhiều năm tháng, hội Xên Mường không chỉ là lễ hội của riêng người Thái mà đã trở thành ngày hội chung của nhiều dân tộc trên địa bàn, các tỉnh lân cận và du khách gần xa. Hội Xên Mường mở đầu bằng đám rước từ nhà tạo mường ra đình. Dẫn đầu đoàn rước là các chức sắc trong mường, tiếp đến là các cụ già (một số cụ mang theo cả cung nỏ). Một con trâu mộng to béo, được tắm rửa sạch sẽ, da đen bóng được dắt theo, đôi sừng trâu bọc giấy màu lấp lánh, giữa trán và hai bên hông có dán giấy trắng cắt hình hoa ban to như miệng bát. Đi sau cùng là trai tráng trong bản. Dâng lễ trong hội Xên Mường Sau lễ rước là lễ hiến sinh cúng thần. Tại đình, thầy mo có uy tín trong trang phục áo thụng xanh, mũ đuôi én đỏ, quần chàm, đi hài bước ra trước hương án làm lễ cầu thần. Sau phần lễ, thầy mo rung chiếc chuông nhỏ báo hiệu đã cầu thần xong và lệnh dắt con trâu mộng ra làm lễ hiến sinh. Trâu được dắt ra bãi đất rộng cạnh đình để mổ thịt. Thanh niên vui chơi trong hội Xên Mường Kết thúc phần lễ bắt đầu phần hội. Phần hội được mở đầu bằng các tiết mục văn nghệ chào mừng mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Thái do các đội văn nghệ trên địa bàn huyện biểu diễn. Những chàng trai, cô gái trong bản tổ chức múa xòe quanh nơi mổ trâu theo nhịp chiêng trống và các cuộc vui kéo dài cho đến khi pha xong cuộc chơi mới kết thúc. Khi những mâm cỗ được dọn lên, những chàng trai cô gái luân phiên hòa tấu cho tới lúc hạ cô. Đêm đến, nam thanh nữ tú vui chơi, ca hát cho đến khuya mới chia tay. Ngày hôm sau, tổ chức thi bắn súng hỏa mai và cung nỏ. Ngày hội thứ 3 là ngày hội tự do, sôi nổi nhất, thu hút đông đảo người tham gia. Nhiều trò chơi, cuộc thi hấp dẫn được tổ chức như: ném còn, ca hát, thổi kèn, thổi sáo, thi chim hót, thi trâu béo, kéo co, đá gà... Hội Xên Mường thể hiện tấm lòng tôn kính tri ân, tưởng nhớ công lao to lớn của ông cha và cầu cho quốc thái dân an, bản mường no ấm, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, gia đình hạnh phúc.

Tiết mục múa dân gian do các nghệ nhân Thái biểu diễn tại hội Xên Mường Qua nhiều năm tháng, hội Xên Mường không chỉ là lễ hội của riêng người Thái mà đã trở thành ngày hội chung của nhiều dân tộc trên địa bàn, các tỉnh lân cận và du khách gần xa. Hội Xên Mường mở đầu bằng đám rước từ nhà tạo mường ra đình. Dẫn đầu đoàn rước là các chức sắc trong mường, tiếp đến là các cụ già (một số cụ mang theo cả cung nỏ). Một con trâu mộng to béo, được tắm rửa sạch sẽ, da đen bóng được dắt theo, đôi sừng trâu bọc giấy màu lấp lánh, giữa trán và hai bên hông có dán giấy trắng cắt hình hoa ban to như miệng bát. Đi sau cùng là trai tráng trong bản. Dâng lễ trong hội Xên Mường Sau lễ rước là lễ hiến sinh cúng thần. Tại đình, thầy mo có uy tín trong trang phục áo thụng xanh, mũ đuôi én đỏ, quần chàm, đi hài bước ra trước hương án làm lễ cầu thần. Sau phần lễ, thầy mo rung chiếc chuông nhỏ báo hiệu đã cầu thần xong và lệnh dắt con trâu mộng ra làm lễ hiến sinh. Trâu được dắt ra bãi đất rộng cạnh đình để mổ thịt. Thanh niên vui chơi trong hội Xên Mường Kết thúc phần lễ bắt đầu phần hội. Phần hội được mở đầu bằng các tiết mục văn nghệ chào mừng mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Thái do các đội văn nghệ trên địa bàn huyện biểu diễn. Những chàng trai, cô gái trong bản tổ chức múa xòe quanh nơi mổ trâu theo nhịp chiêng trống và các cuộc vui kéo dài cho đến khi pha xong cuộc chơi mới kết thúc. Khi những mâm cỗ được dọn lên, những chàng trai cô gái luân phiên hòa tấu cho tới lúc hạ cô. Đêm đến, nam thanh nữ tú vui chơi, ca hát cho đến khuya mới chia tay. Ngày hôm sau, tổ chức thi bắn súng hỏa mai và cung nỏ. Ngày hội thứ 3 là ngày hội tự do, sôi nổi nhất, thu hút đông đảo người tham gia. Nhiều trò chơi, cuộc thi hấp dẫn được tổ chức như: ném còn, ca hát, thổi kèn, thổi sáo, thi chim hót, thi trâu béo, kéo co, đá gà... Hội Xên Mường thể hiện tấm lòng tôn kính tri ân, tưởng nhớ công lao to lớn của ông cha và cầu cho quốc thái dân an, bản mường no ấm, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, gia đình hạnh phúc.

Qua nhiều năm tháng, hội Xên Mường không chỉ là lễ hội của riêng người Thái mà đã trở thành ngày hội chung của nhiều dân tộc trên địa bàn, các tỉnh lân cận và du khách gần xa.

Hội Xên Mường mở đầu bằng đám rước từ nhà tạo mường ra đình. Dẫn đầu đoàn rước là các chức sắc trong mường, tiếp đến là các cụ già (một số cụ mang theo cả cung nỏ). Một con trâu mộng to béo, được tắm rửa sạch sẽ, da đen bóng được dắt theo, đôi sừng trâu bọc giấy màu lấp lánh, giữa trán và hai bên hông có dán giấy trắng cắt hình hoa ban to như miệng bát. Đi sau cùng là trai tráng trong bản.

Dâng lễ trong hội Xên Mường

Sau lễ rước là lễ hiến sinh cúng thần. Tại đình, thầy mo có uy tín trong trang phục áo thụng xanh, mũ đuôi én đỏ, quần chàm, đi hài bước ra trước hương án làm lễ cầu thần. Sau phần lễ, thầy mo rung chiếc chuông nhỏ báo hiệu đã cầu thần xong và lệnh dắt con trâu mộng ra làm lễ hiến sinh. Trâu được dắt ra bãi đất rộng cạnh đình để mổ thịt.

Thanh niên vui chơi trong hội Xên Mường

Kết thúc phần lễ bắt đầu phần hội. Phần hội được mở đầu bằng các tiết mục văn nghệ chào mừng mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Thái do các đội văn nghệ trên địa bàn huyện biểu diễn. Những chàng trai, cô gái trong bản tổ chức múa xòe quanh nơi mổ trâu theo nhịp chiêng trống và các cuộc vui kéo dài cho đến khi pha xong cuộc chơi mới kết thúc. Khi những mâm cỗ được dọn lên, những chàng trai cô gái luân phiên hòa tấu cho tới lúc hạ cô. Đêm đến, nam thanh nữ tú vui chơi, ca hát cho đến khuya mới chia tay.

Ngày hôm sau, tổ chức thi bắn súng hỏa mai và cung nỏ. Ngày hội thứ 3 là ngày hội tự do, sôi nổi nhất, thu hút đông đảo người tham gia. Nhiều trò chơi, cuộc thi hấp dẫn được tổ chức như: ném còn, ca hát, thổi kèn, thổi sáo, thi chim hót, thi trâu béo, kéo co, đá gà...

Hội Xên Mường thể hiện tấm lòng tôn kính tri ân, tưởng nhớ công lao to lớn của ông cha và cầu cho quốc thái dân an, bản mường no ấm, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, gia đình hạnh phúc.

Related Figures

Hội chùa Đức La xã Trí Yên

Thông tin thời kỳ

Hội chùa Đức La xã Trí Yên ở Bắc Giang còn gọi là chùa Vĩnh Nghiêm diễn ra hàng năm vào ngày 14 tháng 2 âm lịch, tại thôn Đức la, xã Trí Yên, Việt Dũng, Bắc Giang. Đây là một lễ hội truyền thống điển hình của tỉnh Bắc Giang. Khuôn viên chùa Vĩnh Nghiêm Vĩnh Nghiêm là một ngôi chùa cổ được xây dựng từ thời nhà Lý, Trần ở thế kỷ XII-XIII, thuộc dòng Thiền phái Trúc lâm. Phái sau chùa là thôn Đức La, bao quanh chùa có các núi lớn tiêu biểu là ngọn Cô Tiên. Lối ra vào chùa chính là đi theo sông Thương, sông Lục Nam và quốc lệ 31. Hội chùa Đức La xã Trí Yên ở Bắc Giang Chùa Vĩnh Nghiêm còn là một trung tâm, nơi ba vị "Trúc Lâm tam tổ" từng trụ trị và mở lớp giảng pháp, bởi vậy trong chùa có tượng của ba bị này. Các sư thường gọi ngày lễ hội Chùa Đức La là lễ giỗ tổ. Trong ngày hội, các tăng ni trong chùa đều tụng kinh, niệm Phật tại Tam Bảo, nhà tổ đệ nhất và nhà tổ đệ nhị. Đồng thời còn tỉnh chuông Hoằng Dương Phật Pháp từ sáng sớm, tối trong ngày. Người dân và du khách thập phương về chùa Vĩnh Nghiêm dâng hương trong ngày hội Hàng năm, cứ đến ngày 14 tháng 2 âm lịch, du khách thập phương lại từ khắp nẻo đường kéo về chùa Đức La xem hội. Khách trẩy hội thường là các già, các vãi, nam thanh nữ tú. Ở đây hàng quan cũng được mở dọc theo đường từ Tam quan đến nhà Tiền đường. Trong khu bực nội tự có đội văn nghệ diễn tích nhà Phật luôn thu hút nhiều người xem. Hội chùa Đức La là một lễ hội chùa truyền thống, là dịp để người dân quy tụ về đây để dâng hương và nghe Phật Pháp. Đây cũng là dịp để người dân dâng hương và cầu những điều may mắn trong năm mới.

Khuôn viên chùa Vĩnh Nghiêm Vĩnh Nghiêm là một ngôi chùa cổ được xây dựng từ thời nhà Lý, Trần ở thế kỷ XII-XIII, thuộc dòng Thiền phái Trúc lâm. Phái sau chùa là thôn Đức La, bao quanh chùa có các núi lớn tiêu biểu là ngọn Cô Tiên. Lối ra vào chùa chính là đi theo sông Thương, sông Lục Nam và quốc lệ 31. Hội chùa Đức La xã Trí Yên ở Bắc Giang Chùa Vĩnh Nghiêm còn là một trung tâm, nơi ba vị "Trúc Lâm tam tổ" từng trụ trị và mở lớp giảng pháp, bởi vậy trong chùa có tượng của ba bị này. Các sư thường gọi ngày lễ hội Chùa Đức La là lễ giỗ tổ. Trong ngày hội, các tăng ni trong chùa đều tụng kinh, niệm Phật tại Tam Bảo, nhà tổ đệ nhất và nhà tổ đệ nhị. Đồng thời còn tỉnh chuông Hoằng Dương Phật Pháp từ sáng sớm, tối trong ngày. Người dân và du khách thập phương về chùa Vĩnh Nghiêm dâng hương trong ngày hội Hàng năm, cứ đến ngày 14 tháng 2 âm lịch, du khách thập phương lại từ khắp nẻo đường kéo về chùa Đức La xem hội. Khách trẩy hội thường là các già, các vãi, nam thanh nữ tú. Ở đây hàng quan cũng được mở dọc theo đường từ Tam quan đến nhà Tiền đường. Trong khu bực nội tự có đội văn nghệ diễn tích nhà Phật luôn thu hút nhiều người xem. Hội chùa Đức La là một lễ hội chùa truyền thống, là dịp để người dân quy tụ về đây để dâng hương và nghe Phật Pháp. Đây cũng là dịp để người dân dâng hương và cầu những điều may mắn trong năm mới.

Vĩnh Nghiêm là một ngôi chùa cổ được xây dựng từ thời nhà Lý, Trần ở thế kỷ XII-XIII, thuộc dòng Thiền phái Trúc lâm. Phái sau chùa là thôn Đức La, bao quanh chùa có các núi lớn tiêu biểu là ngọn Cô Tiên. Lối ra vào chùa chính là đi theo sông Thương, sông Lục Nam và quốc lệ 31. Hội chùa Đức La xã Trí Yên ở Bắc Giang Chùa Vĩnh Nghiêm còn là một trung tâm, nơi ba vị "Trúc Lâm tam tổ" từng trụ trị và mở lớp giảng pháp, bởi vậy trong chùa có tượng của ba bị này. Các sư thường gọi ngày lễ hội Chùa Đức La là lễ giỗ tổ. Trong ngày hội, các tăng ni trong chùa đều tụng kinh, niệm Phật tại Tam Bảo, nhà tổ đệ nhất và nhà tổ đệ nhị. Đồng thời còn tỉnh chuông Hoằng Dương Phật Pháp từ sáng sớm, tối trong ngày. Người dân và du khách thập phương về chùa Vĩnh Nghiêm dâng hương trong ngày hội Hàng năm, cứ đến ngày 14 tháng 2 âm lịch, du khách thập phương lại từ khắp nẻo đường kéo về chùa Đức La xem hội. Khách trẩy hội thường là các già, các vãi, nam thanh nữ tú. Ở đây hàng quan cũng được mở dọc theo đường từ Tam quan đến nhà Tiền đường. Trong khu bực nội tự có đội văn nghệ diễn tích nhà Phật luôn thu hút nhiều người xem.

Hội chùa Đức La là một lễ hội chùa truyền thống, là dịp để người dân quy tụ về đây để dâng hương và nghe Phật Pháp. Đây cũng là dịp để người dân dâng hương và cầu những điều may mắn trong năm mới.

Related Figures

Hội Làng Đại Lâm

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 24/1- 25/1 Âm lịch Hội Làng Đại Lâm ở Bắc Ninh diễn ra vào ngày 24 và 25 tháng Giêng âm lịch tại xã Tam Đa, huyện Yên Phong. Đây là một lễ hội truyền thống nên hàng năm người dân lại dồn về đây xem hội. Tất cả cùng nhau hướng về dòng sông Cầu để cùng cổ vũ cho đội thi bơi Chải. Lễ rước kiệu Trong tâm thức người dân làng Đại Lâm, môn bơi chải đã ăn sâu và bám rễ trong nếp nghĩ của họ, đã trở thành một phần trong bản sắc văn hóa của họ, không thể thiếu trong lễ hội của làng. Nguồn gốc của môn bơi chải của làng Đại Lâm xuất phát từ cuộc khiến chiến chống quân Tống năm 1077 của nhà Lý, trên dòng sông Cầu (Như Nguyệt). Trải qua nhiều thập kỷ, người dân trong làng từ già đến trẻ đều say mê môn bơi chải này, và luôn gìn giữ môn bơi chải như một nét đẹp văn hóa của vùng miền. Hội Làng Đại Lâm ở Bắc Ninh tham gia cuộc thi bơi chải là những người ở độ tuổi từ 18 đến 40 tuổi. Mỗi đội gồm gồm 12 người. Để giành chiến thắng, các thành viên trong đội phải đồng lòng, chung sức, có tinh thần đồng đội, tất cả phải giữ chung một nhịp thì mới có thể chiến thắng. Những ai tham gia cuộc thi bơi chải đều thấy tinh thần sảng khoái, bởi vì họ đã được tham gia một cuộc thi sôi động, và có tinh thần đoàn kết. Cuộc thi bơi chải luôn thu hút được sự quan tâm của nhiều người xem hội Lễ hội làng Đại Lâm còn có nhiều hoạt động khác như phần lễ với các nghi lễ truyền thống, rước kiệu, tế lễ... Phần hội diễn ra sôi động với các môn thể theo như thi đấu cầu lồng, cờ tướng, đấu vật... Hội làng Đại Lâm tạo nên một không khí vui tươi, giúp người dân cảm thấy thư giản sau những ngày làm việc vất vả.

Lễ rước kiệu Trong tâm thức người dân làng Đại Lâm, môn bơi chải đã ăn sâu và bám rễ trong nếp nghĩ của họ, đã trở thành một phần trong bản sắc văn hóa của họ, không thể thiếu trong lễ hội của làng. Nguồn gốc của môn bơi chải của làng Đại Lâm xuất phát từ cuộc khiến chiến chống quân Tống năm 1077 của nhà Lý, trên dòng sông Cầu (Như Nguyệt). Trải qua nhiều thập kỷ, người dân trong làng từ già đến trẻ đều say mê môn bơi chải này, và luôn gìn giữ môn bơi chải như một nét đẹp văn hóa của vùng miền. Hội Làng Đại Lâm ở Bắc Ninh tham gia cuộc thi bơi chải là những người ở độ tuổi từ 18 đến 40 tuổi. Mỗi đội gồm gồm 12 người. Để giành chiến thắng, các thành viên trong đội phải đồng lòng, chung sức, có tinh thần đồng đội, tất cả phải giữ chung một nhịp thì mới có thể chiến thắng. Những ai tham gia cuộc thi bơi chải đều thấy tinh thần sảng khoái, bởi vì họ đã được tham gia một cuộc thi sôi động, và có tinh thần đoàn kết. Cuộc thi bơi chải luôn thu hút được sự quan tâm của nhiều người xem hội Lễ hội làng Đại Lâm còn có nhiều hoạt động khác như phần lễ với các nghi lễ truyền thống, rước kiệu, tế lễ... Phần hội diễn ra sôi động với các môn thể theo như thi đấu cầu lồng, cờ tướng, đấu vật... Hội làng Đại Lâm tạo nên một không khí vui tươi, giúp người dân cảm thấy thư giản sau những ngày làm việc vất vả.

Trong tâm thức người dân làng Đại Lâm, môn bơi chải đã ăn sâu và bám rễ trong nếp nghĩ của họ, đã trở thành một phần trong bản sắc văn hóa của họ, không thể thiếu trong lễ hội của làng.

Nguồn gốc của môn bơi chải của làng Đại Lâm xuất phát từ cuộc khiến chiến chống quân Tống năm 1077 của nhà Lý, trên dòng sông Cầu (Như Nguyệt). Trải qua nhiều thập kỷ, người dân trong làng từ già đến trẻ đều say mê môn bơi chải này, và luôn gìn giữ môn bơi chải như một nét đẹp văn hóa của vùng miền.

Hội Làng Đại Lâm ở Bắc Ninh

tham gia cuộc thi bơi chải là những người ở độ tuổi từ 18 đến 40 tuổi. Mỗi đội gồm gồm 12 người. Để giành chiến thắng, các thành viên trong đội phải đồng lòng, chung sức, có tinh thần đồng đội, tất cả phải giữ chung một nhịp thì mới có thể chiến thắng. Những ai tham gia cuộc thi bơi chải đều thấy tinh thần sảng khoái, bởi vì họ đã được tham gia một cuộc thi sôi động, và có tinh thần đoàn kết.

Cuộc thi bơi chải luôn thu hút được sự quan tâm của nhiều người xem hội

Lễ hội làng Đại Lâm còn có nhiều hoạt động khác như phần lễ với các nghi lễ truyền thống, rước kiệu, tế lễ... Phần hội diễn ra sôi động với các môn thể theo như thi đấu cầu lồng, cờ tướng, đấu vật... Hội làng Đại Lâm tạo nên một không khí vui tươi, giúp người dân cảm thấy thư giản sau những ngày làm việc vất vả.

Related Figures

Những điểm hấp dẫn của Hội chợ Du lịch quốc tế Việt Nam năm 2018

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 29/3- 1/4 Dương lịch Hội chợ Du lịch quốc tế Việt Nam 2018 (VITM) với chủ đề chính "Du lịch trực tuyến, Du lịch Việt Nam hướng tới công nghệ 4.0" nhằm thúc đẩy mạnh hơn việc ứng dụng CNTT trong kinh doanh của các doanh nghiệp du lịch. Hội chợ năm nay có 500 gian hàng tham gia, có nhiều điểm đổi mới tăng thêm sự hấp dẫn cho sự kiện thường niên này sau 5 lần tổ chức. Hội chợ Du lịch quốc tế Việt Nam gây được tiếng vang trong khu vực Hội chợ Du lịch quốc tế Việt Nam năm 2018 sẽ diễn ra sớm hơn thường lệ từ ngày 29/3 đến 1/4 tại Cung Văn hóa Hữu Nghị, 91 Trần Hưng Đạo, Hoàn Kiếm, Hà Nội. Hội chợ năm nay sẽ tổ chức nhiều hoạt động và không gian triển lãm để khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận, nắm bắt những cơ hội kinh doanh trong kỷ nguyên số. Đến với Hội chợ năm nay, các doanh công nghệ thông tin sẽ giới thiệu những sản phẩm công nghệ phục vụ du lịch đến các doanh nghiệp du lịch sử dụng công nghệ. Hội chợ Du lịch quốc tế Việt Nam với chủ đề Du lịch trực tuyến Hoạt động du lịch trực tuyến tại Hội chợ lần này có 2 nội dung chính: Khu vực gian hàng trực tuyến với sự tham gia của 10 đơn vị kinh doanh du lịch trực tuyến và tọa đàm về du lịch trực tuyến - Xu thế tất yếu của du lịch Việt Nam. Hiện tại, đã có 18 quốc gia và vùng lãnh thổ đăng ký tham gia Hội chợ gồm: Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Nhật Bản, Philippines, Campuchia, Malaysia, Nga, Cuba, Pháp, Lào, Anh, Đức... Đặc biệt, Liên hoan ẩm thực đường phố quốc tế tiếp tục được tổ chức trong khuôn khổ Hội chợ du lịch. Tiếp nối thành công của Liên hoan lần thứ nhất, Liên hoan ẩm thực lần này sẽ mang đến cho du khách những trải nghiệm ẩm thực đường phố đặc sắc của Việt Nam và các nước trong khu vực. Bên canh đó, ban tổ chức hội chợ tổ chức Lễ vinh danh những nghệ nhân ẩm thực và những đầu bếp Việt có đóng góp tích cực cho sự nghiệp phát triểm ẩm thực Việt Nam trong thời gian qua. Hội chợ Du lịch quốc tế Việt Nam 2018 diễn ra sớm hơn thường lệ Hội chợ du lịch quốc tế Việt Nam 2018 vẫn định hướng kích cầu du lịch dịp hè tăng mạnh cả về số lượng lẫn chất lượng với hơn 40.000 vé máy bay giá rẻ và trên 15.000 tour trọn gói giảm giá đặc biệt. Sau 5 lần tổ chức, Hội chợ du lịch quốc tế Việt Nam 2018 trở thành ngày hội thường niên của du lịch Việt Nam, thu hút sự quan tâm của các doanh nghiệp trong nước và khu vực.

Hội chợ Du lịch quốc tế Việt Nam gây được tiếng vang trong khu vực Hội chợ Du lịch quốc tế Việt Nam năm 2018 sẽ diễn ra sớm hơn thường lệ từ ngày 29/3 đến 1/4 tại Cung Văn hóa Hữu Nghị, 91 Trần Hưng Đạo, Hoàn Kiếm, Hà Nội. Hội chợ năm nay sẽ tổ chức nhiều hoạt động và không gian triển lãm để khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận, nắm bắt những cơ hội kinh doanh trong kỷ nguyên số. Đến với Hội chợ năm nay, các doanh công nghệ thông tin sẽ giới thiệu những sản phẩm công nghệ phục vụ du lịch đến các doanh nghiệp du lịch sử dụng công nghệ. Hội chợ Du lịch quốc tế Việt Nam với chủ đề Du lịch trực tuyến Hoạt động du lịch trực tuyến tại Hội chợ lần này có 2 nội dung chính: Khu vực gian hàng trực tuyến với sự tham gia của 10 đơn vị kinh doanh du lịch trực tuyến và tọa đàm về du lịch trực tuyến - Xu thế tất yếu của du lịch Việt Nam. Hiện tại, đã có 18 quốc gia và vùng lãnh thổ đăng ký tham gia Hội chợ gồm: Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Nhật Bản, Philippines, Campuchia, Malaysia, Nga, Cuba, Pháp, Lào, Anh, Đức... Đặc biệt, Liên hoan ẩm thực đường phố quốc tế tiếp tục được tổ chức trong khuôn khổ Hội chợ du lịch. Tiếp nối thành công của Liên hoan lần thứ nhất, Liên hoan ẩm thực lần này sẽ mang đến cho du khách những trải nghiệm ẩm thực đường phố đặc sắc của Việt Nam và các nước trong khu vực. Bên canh đó, ban tổ chức hội chợ tổ chức Lễ vinh danh những nghệ nhân ẩm thực và những đầu bếp Việt có đóng góp tích cực cho sự nghiệp phát triểm ẩm thực Việt Nam trong thời gian qua. Hội chợ Du lịch quốc tế Việt Nam 2018 diễn ra sớm hơn thường lệ Hội chợ du lịch quốc tế Việt Nam 2018 vẫn định hướng kích cầu du lịch dịp hè tăng mạnh cả về số lượng lẫn chất lượng với hơn 40.000 vé máy bay giá rẻ và trên 15.000 tour trọn gói giảm giá đặc biệt. Sau 5 lần tổ chức, Hội chợ du lịch quốc tế Việt Nam 2018 trở thành ngày hội thường niên của du lịch Việt Nam, thu hút sự quan tâm của các doanh nghiệp trong nước và khu vực.

Hội chợ Du lịch quốc tế Việt Nam năm 2018 sẽ diễn ra sớm hơn thường lệ từ ngày 29/3 đến 1/4 tại Cung Văn hóa Hữu Nghị, 91 Trần Hưng Đạo, Hoàn Kiếm, Hà Nội. Hội chợ năm nay sẽ tổ chức nhiều hoạt động và không gian triển lãm để khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận, nắm bắt những cơ hội kinh doanh trong kỷ nguyên số. Đến với Hội chợ năm nay, các doanh công nghệ thông tin sẽ giới thiệu những sản phẩm công nghệ phục vụ du lịch đến các doanh nghiệp du lịch sử dụng công nghệ.

Hội chợ Du lịch quốc tế Việt Nam với chủ đề Du lịch trực tuyến

Hoạt động du lịch trực tuyến tại Hội chợ lần này có 2 nội dung chính: Khu vực gian hàng trực tuyến với sự tham gia của 10 đơn vị kinh doanh du lịch trực tuyến và tọa đàm về du lịch trực tuyến - Xu thế tất yếu của du lịch Việt Nam. Hiện tại, đã có 18 quốc gia và vùng lãnh thổ đăng ký tham gia Hội chợ gồm: Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Nhật Bản, Philippines, Campuchia, Malaysia, Nga, Cuba, Pháp, Lào, Anh, Đức...

Đặc biệt, Liên hoan ẩm thực đường phố quốc tế tiếp tục được tổ chức trong khuôn khổ Hội chợ du lịch. Tiếp nối thành công của Liên hoan lần thứ nhất, Liên hoan ẩm thực lần này sẽ mang đến cho du khách những trải nghiệm ẩm thực đường phố đặc sắc của Việt Nam và các nước trong khu vực. Bên canh đó, ban tổ chức hội chợ tổ chức Lễ vinh danh những nghệ nhân ẩm thực và những đầu bếp Việt có đóng góp tích cực cho sự nghiệp phát triểm ẩm thực Việt Nam trong thời gian qua.

Hội chợ Du lịch quốc tế Việt Nam 2018 diễn ra sớm hơn thường lệ

Hội chợ du lịch quốc tế Việt Nam 2018 vẫn định hướng kích cầu du lịch dịp hè tăng mạnh cả về số lượng lẫn chất lượng với hơn 40.000 vé máy bay giá rẻ và trên 15.000 tour trọn gói giảm giá đặc biệt.

Sau 5 lần tổ chức, Hội chợ du lịch quốc tế Việt Nam 2018 trở thành ngày hội thường niên của du lịch Việt Nam, thu hút sự quan tâm của các doanh nghiệp trong nước và khu vực.

Related Figures

Tháng phim vì môi trường từ 1-31/3

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/3- 31/3 Dương lịch Nhân kỷ niệm chuỗi ngày Quốc tế vì môi trường (cuộc sống hoang dã, tài nguyên rừng, tài nguyên nước) từ ngày 1-31/3, Viện Pháp tại Hà Nội giới thiệu tới khán giả Thủ đô 8 bộ phim tài liệu hấp dẫn, đáng suy ngẫm. Tháng phim vì môi trường giới thiệu 8 bộ phim tài liệu vì môi trường Chủ đề nóng bỏng mang tính chính trị, sinh thái học và sự nóng lên của trái đất là mối quan tâm hàng đầu của mỗi công dân. Qua tháng phim đặc biệt này, khán giả sẽ khám phá thêm nhiều ý tưởng bền vững đã được triển khai tại nhiều quốc gia trên thế giới. Tháng phim cũng là cơ hội gặp gỡ, trao đổi với những người đang hoạt động trong lĩnh vực sinh thái học. Hệ động-thực vật cùng lối sống cũng là chủ đề được đề cập đến làm nổi bật trách nhiệm của con người với tương lai của trái đất. Nhiều bộ phim đáng xem trong Tháng phim vì môi trường Những bộ phim sẽ được trình chiếu trong tháng phim vì môi trường: Ngày mai (thời lượng 1h58') chiếu tại rạp vào 18h30 và 19h00 ngày 1 và ngày 31/3. Nội dung phim nói về việc 2 đạo diễn đã tham gia một nhóm 4 thành viên thực hiện điều tra tại 10 quốc gia để tìm ra nguyên nhân gây thiên tai và tìm cách phòng tránh. Đất thuộc về ai (thời lượng 54') chiếu tại rạp vào 18h30 ngày 7/3. Đất thuộc về ai lấy bối cảnh tại vùng nông nghiệp Quảng Nam, khi người nông dân buộc phải bỏ ruộng để đất dai dành cho việc xây dựng các khu du lịch quy mô lớn. Đi tìm ý nghĩa cuộc sống (thời lượng 1h27') chiếu tại rạp vào 18h30 ngày 8/3. Bộ phim là cuộc hành trình đi tìm nhận thức về thế giới xung quanh. Đặc biệt, bộ phim được sản xuất nhờ sự đóng góp tài chính của 1000 cư dân mạng. Rừng xanh kì diệu (thời lượng 1h18') chiếu tại rạp vào 18h30 ngày 14/3. Nội dung phim nói về chuyến phiêu lưu đặc biệt khám phá thế giới hoang dã còn nguyên trạng với cách kể chuyện độc đáo và lý thú. Trong phim có rất nhiều đại cảnh và cảnh quay từ trên cao khiến người xem như ngụp lặn vào bữa tiệc hình ảnh mãn nhãn. Bộ phim Cá heo hồng được chiếu trong Tháng phim vì môi trường Huyền thoại cá heo hồng (thời lượng 53') chiếu tại rạp vào 18h30 ngày 15/3. Bộ phim lấy bối cảnh của rừng nhiệt đới Amazon rộng lớn, nơi tồn tại sinh vật huyền thoại - cá heo hồng nước ngọt, một trong những loài bí ẩn nhất của vương quốc động vật. Văn hóa vĩnh cửu (thời lượng 1h22") chiếu tại rạp vào 18h ngày 17/3. Văn hóa vĩnh cửu thể hiện vấn đề hy vọng cho các giải pháp bền vững về mặt sinh thái, khả thi về mặt kinh tế và công bằng về mặt xã hội. Đổi thay (thời lượng 1h28') chiếu tại rạp vào 18h30 ngày 21/3. Bộ phim là tưởng tượng về cuộc sống của trái đất năm 2075: không có hành động nào để chống lại sự nóng lên toàn cầu, hành tinh bị tàn phá bởi vô số thảm họa, hạn hán, nắng nóng và cuộc xâm lược của loài dế... Muối của đất (thời lượng 58') chiếu tại rạp vào 18h30 ngày 22/3. Bộ phim phản ánh việc hợp tác khoa học quốc tế nhằm đối phó với việc đất nhiễm mặn ảnh hưởng nghiêm trọng đến các cánh đồng lúa ở vùng đông bắc Thái Lan. Giá vé phim "Ngày mai" và "Đi tìm ý nghĩa cuộc sống 60.000 đồng. Những bộ phim khác có giá vé 40.000 đồng. Vé được bán tại L’Espace.

Tháng phim vì môi trường giới thiệu 8 bộ phim tài liệu vì môi trường Chủ đề nóng bỏng mang tính chính trị, sinh thái học và sự nóng lên của trái đất là mối quan tâm hàng đầu của mỗi công dân. Qua tháng phim đặc biệt này, khán giả sẽ khám phá thêm nhiều ý tưởng bền vững đã được triển khai tại nhiều quốc gia trên thế giới. Tháng phim cũng là cơ hội gặp gỡ, trao đổi với những người đang hoạt động trong lĩnh vực sinh thái học. Hệ động-thực vật cùng lối sống cũng là chủ đề được đề cập đến làm nổi bật trách nhiệm của con người với tương lai của trái đất. Nhiều bộ phim đáng xem trong Tháng phim vì môi trường Những bộ phim sẽ được trình chiếu trong tháng phim vì môi trường: Ngày mai (thời lượng 1h58') chiếu tại rạp vào 18h30 và 19h00 ngày 1 và ngày 31/3. Nội dung phim nói về việc 2 đạo diễn đã tham gia một nhóm 4 thành viên thực hiện điều tra tại 10 quốc gia để tìm ra nguyên nhân gây thiên tai và tìm cách phòng tránh. Đất thuộc về ai (thời lượng 54') chiếu tại rạp vào 18h30 ngày 7/3. Đất thuộc về ai lấy bối cảnh tại vùng nông nghiệp Quảng Nam, khi người nông dân buộc phải bỏ ruộng để đất dai dành cho việc xây dựng các khu du lịch quy mô lớn. Đi tìm ý nghĩa cuộc sống (thời lượng 1h27') chiếu tại rạp vào 18h30 ngày 8/3. Bộ phim là cuộc hành trình đi tìm nhận thức về thế giới xung quanh. Đặc biệt, bộ phim được sản xuất nhờ sự đóng góp tài chính của 1000 cư dân mạng. Rừng xanh kì diệu (thời lượng 1h18') chiếu tại rạp vào 18h30 ngày 14/3. Nội dung phim nói về chuyến phiêu lưu đặc biệt khám phá thế giới hoang dã còn nguyên trạng với cách kể chuyện độc đáo và lý thú. Trong phim có rất nhiều đại cảnh và cảnh quay từ trên cao khiến người xem như ngụp lặn vào bữa tiệc hình ảnh mãn nhãn. Bộ phim Cá heo hồng được chiếu trong Tháng phim vì môi trường Huyền thoại cá heo hồng (thời lượng 53') chiếu tại rạp vào 18h30 ngày 15/3. Bộ phim lấy bối cảnh của rừng nhiệt đới Amazon rộng lớn, nơi tồn tại sinh vật huyền thoại - cá heo hồng nước ngọt, một trong những loài bí ẩn nhất của vương quốc động vật. Văn hóa vĩnh cửu (thời lượng 1h22") chiếu tại rạp vào 18h ngày 17/3. Văn hóa vĩnh cửu thể hiện vấn đề hy vọng cho các giải pháp bền vững về mặt sinh thái, khả thi về mặt kinh tế và công bằng về mặt xã hội. Đổi thay (thời lượng 1h28') chiếu tại rạp vào 18h30 ngày 21/3. Bộ phim là tưởng tượng về cuộc sống của trái đất năm 2075: không có hành động nào để chống lại sự nóng lên toàn cầu, hành tinh bị tàn phá bởi vô số thảm họa, hạn hán, nắng nóng và cuộc xâm lược của loài dế... Muối của đất (thời lượng 58') chiếu tại rạp vào 18h30 ngày 22/3. Bộ phim phản ánh việc hợp tác khoa học quốc tế nhằm đối phó với việc đất nhiễm mặn ảnh hưởng nghiêm trọng đến các cánh đồng lúa ở vùng đông bắc Thái Lan. Giá vé phim "Ngày mai" và "Đi tìm ý nghĩa cuộc sống 60.000 đồng. Những bộ phim khác có giá vé 40.000 đồng. Vé được bán tại L’Espace.

Chủ đề nóng bỏng mang tính chính trị, sinh thái học và sự nóng lên của trái đất là mối quan tâm hàng đầu của mỗi công dân. Qua tháng phim đặc biệt này, khán giả sẽ khám phá thêm nhiều ý tưởng bền vững đã được triển khai tại nhiều quốc gia trên thế giới. Tháng phim cũng là cơ hội gặp gỡ, trao đổi với những người đang hoạt động trong lĩnh vực sinh thái học. Hệ động-thực vật cùng lối sống cũng là chủ đề được đề cập đến làm nổi bật trách nhiệm của con người với tương lai của trái đất.

Nhiều bộ phim đáng xem trong Tháng phim vì môi trường

Những bộ phim sẽ được trình chiếu trong tháng phim vì môi trường:

Ngày mai (thời lượng 1h58') chiếu tại rạp vào 18h30 và 19h00 ngày 1 và ngày 31/3. Nội dung phim nói về việc 2 đạo diễn đã tham gia một nhóm 4 thành viên thực hiện điều tra tại 10 quốc gia để tìm ra nguyên nhân gây thiên tai và tìm cách phòng tránh. Đất thuộc về ai (thời lượng 54') chiếu tại rạp vào 18h30 ngày 7/3. Đất thuộc về ai lấy bối cảnh tại vùng nông nghiệp Quảng Nam, khi người nông dân buộc phải bỏ ruộng để đất dai dành cho việc xây dựng các khu du lịch quy mô lớn. Đi tìm ý nghĩa cuộc sống (thời lượng 1h27') chiếu tại rạp vào 18h30 ngày 8/3. Bộ phim là cuộc hành trình đi tìm nhận thức về thế giới xung quanh. Đặc biệt, bộ phim được sản xuất nhờ sự đóng góp tài chính của 1000 cư dân mạng. Rừng xanh kì diệu (thời lượng 1h18') chiếu tại rạp vào 18h30 ngày 14/3. Nội dung phim nói về chuyến phiêu lưu đặc biệt khám phá thế giới hoang dã còn nguyên trạng với cách kể chuyện độc đáo và lý thú. Trong phim có rất nhiều đại cảnh và cảnh quay từ trên cao khiến người xem như ngụp lặn vào bữa tiệc hình ảnh mãn nhãn. Bộ phim Cá heo hồng được chiếu trong Tháng phim vì môi trường Huyền thoại cá heo hồng (thời lượng 53') chiếu tại rạp vào 18h30 ngày 15/3. Bộ phim lấy bối cảnh của rừng nhiệt đới Amazon rộng lớn, nơi tồn tại sinh vật huyền thoại - cá heo hồng nước ngọt, một trong những loài bí ẩn nhất của vương quốc động vật. Văn hóa vĩnh cửu (thời lượng 1h22") chiếu tại rạp vào 18h ngày 17/3. Văn hóa vĩnh cửu thể hiện vấn đề hy vọng cho các giải pháp bền vững về mặt sinh thái, khả thi về mặt kinh tế và công bằng về mặt xã hội. Đổi thay (thời lượng 1h28') chiếu tại rạp vào 18h30 ngày 21/3. Bộ phim là tưởng tượng về cuộc sống của trái đất năm 2075: không có hành động nào để chống lại sự nóng lên toàn cầu, hành tinh bị tàn phá bởi vô số thảm họa, hạn hán, nắng nóng và cuộc xâm lược của loài dế... Muối của đất (thời lượng 58') chiếu tại rạp vào 18h30 ngày 22/3. Bộ phim phản ánh việc hợp tác khoa học quốc tế nhằm đối phó với việc đất nhiễm mặn ảnh hưởng nghiêm trọng đến các cánh đồng lúa ở vùng đông bắc Thái Lan. Giá vé phim "Ngày mai" và "Đi tìm ý nghĩa cuộc sống 60.000 đồng. Những bộ phim khác có giá vé 40.000 đồng. Vé được bán tại L’Espace.

Bộ phim Cá heo hồng được chiếu trong Tháng phim vì môi trường

Giá vé phim "Ngày mai" và "Đi tìm ý nghĩa cuộc sống 60.000 đồng. Những bộ phim khác có giá vé 40.000 đồng. Vé được bán tại L’Espace.

Related Figures

Những đổi mới trong lễ hội chùa Hương năm 2018

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 6/1- 29/3 Âm lịch Lễ hội chùa Hương là một trong những lễ hội lớn nhất Việt Nam, được xem là hành trình về miền đất Phật - nơi Quan Thế Âm Bồ Tát ứng hiện tu hành. Lễ hội chùa Hương năm 2018 chính thức khai hội mùng 6 tháng Giêng Âm lịch (tức ngày 21/2/2018) với chủ đề "Lễ hội kỷ cương, văn minh du lịch". Lễ hội năm nay có nhiều điểm đổi mới, đáp ứng được nguyện vọng của du khách về với miền đất Phật cầu nguyện đầu năm. Lễ hội chùa Hương 2018 có nhiều điểm đổi mới Lễ hội chùa Hương 2018 là mốc quan trọng vừa kỷ niệm 60 năm Bắc Hồ về thăm Di tích thắng cảnh Hương Sơn, vừa là dịp đón nhận bằng công nhận di tích quốc gia đặc biệt. Ban tổ chức đã đề ra nhiều phương án nâng cao chất lượng dịch vụ, kiên quyết xử lý các vi phạm. Ban tổ chức bố trí hơn 4.500 đò tham gia phục vụ du khách. Tất cả số đò này đều được sơn lại đồng bộ màu xanh, gắn biển số, trang bị phao cứu sinh và giỏ đựng rác. Ban tổ chức lễ hội kiên quyết không để xuồng máy, đò gắn động cơ vận chuyển du khách trên dòng suối Yến. Ban tổ chức thành lập tổ kiểm tra liên ngành trực 24/24 giờ để vận động các chủ phương tiện, thuyền đò chấp hành tốt quy định của ban tổ chức, nâng cao tinh thần, ý thức phục vụ du khách về trẩy hội. Dâng hương tại lễ hội chùa Hương 2018 Ban tổ chức phân công nhiệm vụ cụ thể cho 6 tiểu ban và 3 tổ kiểm tra liên ngành, trạm kiểm soát, yêu cầu hoàn thành mọi công tác chuẩn bị cho mùa lễ hội trước ngày 1/2/2018. Các tổ kiểm tra liên ngành sẽ duy trì hoạt động liên tục trong 3 tháng diễn ra Lễ hội. Lực lượng chức năng tăng cường kiểm soát chặt chẽ và xử lý các đối tượng "cò mồi, chèo kéo, chặt chém giá hay các đối tượng kinh doanh với hình thức "vui chơi có thưởng", bán hàng giá cao, lừa đảo... Lễ hội chùa Hương 2018 không để xuồng máy đò gắn động cơ vận chuyển khách Nhờ thực hiện tốt công tác các lý, tuần tra, lễ hội chùa Hương năm nay không xảy ra hiện tượng trộm cắp, móc túi. Đường vào chùa luôn sạch đẹp, du khách phấn khởi với phong cách phục vụ nhiệt tình của ban tổ chức và nhân dân xã Hương Sơn. Lễ hội chùa Hương 2018 được Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Mỹ Đức dành nhiều tâm sức chuẩn bị, tổ chức nhằm mang lại một mùa lễ hội an toàn, văn minh, đồng thời giữ gìn và phát huy hiệu quả các giá trị của di sản.

Lễ hội chùa Hương 2018 có nhiều điểm đổi mới Lễ hội chùa Hương 2018 là mốc quan trọng vừa kỷ niệm 60 năm Bắc Hồ về thăm Di tích thắng cảnh Hương Sơn, vừa là dịp đón nhận bằng công nhận di tích quốc gia đặc biệt. Ban tổ chức đã đề ra nhiều phương án nâng cao chất lượng dịch vụ, kiên quyết xử lý các vi phạm. Ban tổ chức bố trí hơn 4.500 đò tham gia phục vụ du khách. Tất cả số đò này đều được sơn lại đồng bộ màu xanh, gắn biển số, trang bị phao cứu sinh và giỏ đựng rác. Ban tổ chức lễ hội kiên quyết không để xuồng máy, đò gắn động cơ vận chuyển du khách trên dòng suối Yến. Ban tổ chức thành lập tổ kiểm tra liên ngành trực 24/24 giờ để vận động các chủ phương tiện, thuyền đò chấp hành tốt quy định của ban tổ chức, nâng cao tinh thần, ý thức phục vụ du khách về trẩy hội. Dâng hương tại lễ hội chùa Hương 2018 Ban tổ chức phân công nhiệm vụ cụ thể cho 6 tiểu ban và 3 tổ kiểm tra liên ngành, trạm kiểm soát, yêu cầu hoàn thành mọi công tác chuẩn bị cho mùa lễ hội trước ngày 1/2/2018. Các tổ kiểm tra liên ngành sẽ duy trì hoạt động liên tục trong 3 tháng diễn ra Lễ hội. Lực lượng chức năng tăng cường kiểm soát chặt chẽ và xử lý các đối tượng "cò mồi, chèo kéo, chặt chém giá hay các đối tượng kinh doanh với hình thức "vui chơi có thưởng", bán hàng giá cao, lừa đảo... Lễ hội chùa Hương 2018 không để xuồng máy đò gắn động cơ vận chuyển khách Nhờ thực hiện tốt công tác các lý, tuần tra, lễ hội chùa Hương năm nay không xảy ra hiện tượng trộm cắp, móc túi. Đường vào chùa luôn sạch đẹp, du khách phấn khởi với phong cách phục vụ nhiệt tình của ban tổ chức và nhân dân xã Hương Sơn. Lễ hội chùa Hương 2018 được Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Mỹ Đức dành nhiều tâm sức chuẩn bị, tổ chức nhằm mang lại một mùa lễ hội an toàn, văn minh, đồng thời giữ gìn và phát huy hiệu quả các giá trị của di sản.

Lễ hội chùa Hương 2018 là mốc quan trọng vừa kỷ niệm 60 năm Bắc Hồ về thăm Di tích thắng cảnh Hương Sơn, vừa là dịp đón nhận bằng công nhận di tích quốc gia đặc biệt. Ban tổ chức đã đề ra nhiều phương án nâng cao chất lượng dịch vụ, kiên quyết xử lý các vi phạm. Ban tổ chức bố trí hơn 4.500 đò tham gia phục vụ du khách. Tất cả số đò này đều được sơn lại đồng bộ màu xanh, gắn biển số, trang bị phao cứu sinh và giỏ đựng rác. Ban tổ chức lễ hội kiên quyết không để xuồng máy, đò gắn động cơ vận chuyển du khách trên dòng suối Yến. Ban tổ chức thành lập tổ kiểm tra liên ngành trực 24/24 giờ để vận động các chủ phương tiện, thuyền đò chấp hành tốt quy định của ban tổ chức, nâng cao tinh thần, ý thức phục vụ du khách về trẩy hội.

Dâng hương tại lễ hội chùa Hương 2018

Ban tổ chức phân công nhiệm vụ cụ thể cho 6 tiểu ban và 3 tổ kiểm tra liên ngành, trạm kiểm soát, yêu cầu hoàn thành mọi công tác chuẩn bị cho mùa lễ hội trước ngày 1/2/2018. Các tổ kiểm tra liên ngành sẽ duy trì hoạt động liên tục trong 3 tháng diễn ra Lễ hội. Lực lượng chức năng tăng cường kiểm soát chặt chẽ và xử lý các đối tượng "cò mồi, chèo kéo, chặt chém giá hay các đối tượng kinh doanh với hình thức "vui chơi có thưởng", bán hàng giá cao, lừa đảo...

Lễ hội chùa Hương 2018 không để xuồng máy đò gắn động cơ vận chuyển khách

Nhờ thực hiện tốt công tác các lý, tuần tra, lễ hội chùa Hương năm nay không xảy ra hiện tượng trộm cắp, móc túi. Đường vào chùa luôn sạch đẹp, du khách phấn khởi với phong cách phục vụ nhiệt tình của ban tổ chức và nhân dân xã Hương Sơn.

Lễ hội chùa Hương 2018 được Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Mỹ Đức dành nhiều tâm sức chuẩn bị, tổ chức nhằm mang lại một mùa lễ hội an toàn, văn minh, đồng thời giữ gìn và phát huy hiệu quả các giá trị của di sản.

Related Figures

Lễ hội Hoa Ban năm 2018

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 17/3- 19/3 Dương lịch Lễ hội Hoa Ban bao gồm nhiều hoạt động, diễn ra từ tháng 3-5/2018, trọng tâm các hoạt động được tổ chức ngày 17-19/3/2018 tại trung tâm TP Điện Biên Phủ. Lễ hội Hoa Ban gắn với sự kiện mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu". Lễ hội Hoa Ban 2018 được tổ chức khi hoa ban nở trắng núi rừng Tây Bắc Lễ hội Hoa Ban hay còn gọi là lễ hội Xên Mường được người Thái tổ chức khi hoa ban bắt đầu nở trắng núi rừng Tây Bắc. Lễ hội Hoa Ban lần thứ 5 năm 2018 được tổ chức nhằm tôn vinh, bảo tồn, phát huy các loại hình di sản văn hóa dân tộc của tỉnh Điện Biên; tiếp tục quảng bá hình ảnh Hoa Ban gắn với nét văn hóa đặc trưng của vùng đất Điện Biên đến đông đảo người dân trong nước và quốc tế, qua đó thúc đẩy phát triển du lịch. Lễ hội được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi nhận, đánh giá là Lễ hội tiêu biểu trong việc quảng bá, thúc đẩy phát triển du lịch. Lễ hội Hoa Ban - lễ hội tiêu biểu trong việc thúc đẩy và phát triển du lịch Điểm nhấn của Lễ hội Hoa Ban năm nay là lễ khai mạc và chương trình nghệ thuật với chủ đề "Hoa ban - Tình ca Điện Biên" diễn ra vào 20h tối 17/3/2018 tại Quảng trường 7/5, thành phố Điện Biên Phủ. Chương trình sẽ được truyền hình trực tiếp trên sóng Đài truyền hình Việt Nam, đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh... Lễ hội Hoa Ban năm nay có thêm phần thi trình diễn trang phục truyền thống các dân tộc tỉnh Điện Biên. Đơn vị dự thi gồm các huyện, thị, thành phố trong tỉnh, mỗi đơn vị tham gia cử 3 đại diện tham gia trình diễn trang phục truyền thống của 3 dân tộc tiêu biểu của địa phương, mỗi đoàn dàn dựng thành một tiết mục trình diễn 5-6 phút, có lời bình giới thiệu từng bộ trang phục. Trong khuôn khổ lễ hội còn có nhiều sự kiện hấp dẫn khác như: Trưng bày, giới thiệu, quảng bá sản phẩm du lịch, văn hóa truyền thống dân tộc thiểu số; giao lưu, thi đấu thể thao, trò chơi dân gian có thưởng... Chương trình biểu diễn nghệ thuật trong Lễ hội Hoa Ban Lễ hội Hoa Ban được tổ chức thường niên vào mùa hoa ban nở nhằm thể hiện lòng tôn kính tri ân của nhân dân, tưởng nhớ công lao của các vị tiền bối và cầu cho quốc thái dân an, bản mường no ấm. Hàng năm, lễ hội Hoa Ban thu hút hàng nghìn người dân và du khách thập phương tham dự.

Lễ hội Hoa Ban bao gồm nhiều hoạt động, diễn ra từ tháng 3-5/2018, trọng tâm các hoạt động được tổ chức ngày 17-19/3/2018 tại trung tâm TP Điện Biên Phủ. Lễ hội Hoa Ban gắn với sự kiện mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu".

Lễ hội Hoa Ban 2018 được tổ chức khi hoa ban nở trắng núi rừng Tây Bắc

Lễ hội Hoa Ban hay còn gọi là lễ hội Xên Mường được người Thái tổ chức khi hoa ban bắt đầu nở trắng núi rừng Tây Bắc. Lễ hội Hoa Ban lần thứ 5 năm 2018 được tổ chức nhằm tôn vinh, bảo tồn, phát huy các loại hình di sản văn hóa dân tộc của tỉnh Điện Biên; tiếp tục quảng bá hình ảnh Hoa Ban gắn với nét văn hóa đặc trưng của vùng đất Điện Biên đến đông đảo người dân trong nước và quốc tế, qua đó thúc đẩy phát triển du lịch. Lễ hội được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi nhận, đánh giá là Lễ hội tiêu biểu trong việc quảng bá, thúc đẩy phát triển du lịch.

Lễ hội Hoa Ban - lễ hội tiêu biểu trong việc thúc đẩy và phát triển du lịch

Điểm nhấn của Lễ hội Hoa Ban năm nay là lễ khai mạc và chương trình nghệ thuật với chủ đề "Hoa ban - Tình ca Điện Biên" diễn ra vào 20h tối 17/3/2018 tại Quảng trường 7/5, thành phố Điện Biên Phủ. Chương trình sẽ được truyền hình trực tiếp trên sóng Đài truyền hình Việt Nam, đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh...

Lễ hội Hoa Ban năm nay có thêm phần thi trình diễn trang phục truyền thống các dân tộc tỉnh Điện Biên. Đơn vị dự thi gồm các huyện, thị, thành phố trong tỉnh, mỗi đơn vị tham gia cử 3 đại diện tham gia trình diễn trang phục truyền thống của 3 dân tộc tiêu biểu của địa phương, mỗi đoàn dàn dựng thành một tiết mục trình diễn 5-6 phút, có lời bình giới thiệu từng bộ trang phục.

Trong khuôn khổ lễ hội còn có nhiều sự kiện hấp dẫn khác như: Trưng bày, giới thiệu, quảng bá sản phẩm du lịch, văn hóa truyền thống dân tộc thiểu số; giao lưu, thi đấu thể thao, trò chơi dân gian có thưởng...

Chương trình biểu diễn nghệ thuật trong Lễ hội Hoa Ban

Lễ hội Hoa Ban được tổ chức thường niên vào mùa hoa ban nở nhằm thể hiện lòng tôn kính tri ân của nhân dân, tưởng nhớ công lao của các vị tiền bối và cầu cho quốc thái dân an, bản mường no ấm. Hàng năm, lễ hội Hoa Ban thu hút hàng nghìn người dân và du khách thập phương tham dự.

Related Figures

Lễ hội hoa Anh Đào - Mai Vàng Yên Tử

Thông tin thời kỳ

Lễ hội hoa Anh Đào - Mai Vàng Yên Tử diễn ra trong dịp đầu xuân năm mới. Năm 2018, lễ hội diễn ra từ ngày 15 đến 23 tháng 3, tại Trung tâm tổ chức lễ hội và dịch vụ Yên Tử ở thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Lễ hội hoa Anh Đào - Mai Vàng Yên Tử Chủ đề của Lễ hội hoa Anh Đào - Mai vàng Yên Tử 2018 là "Hợp tác và phát triển - Điểm đến của thành công". Ngoài ra, lễ hội cũng là cầu nối để thúc đấy mối quan hệ giữa Quảng Ninh với các cơ quan, tổ chức của Nhật Bản, góp phần xúc tiến đầu tư và thúc đẩy quan hệ hợp tác. Lễ hội hoa Anh Đào - Mai vàng Yên Tử 2018 được diễn ra trong khủng cảnh kiến trúc, đời sống... dưới thời nhà Trần. Lễ hội diễn ra trong 6 ngày với nhiều hoạt động đặc sắc như: Lễ khai mạc với các chương trình văng nghệ, giao lưu văn hóa giữa Việt và Nhật, triển lãm hoa Anh Đào và hoa Mai vàng, trưng bày, triển lãm các gian hàng của các doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các công ty tiêu biểu trong kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch và nghỉ dưỡng... Du khách thích thú với cảnh đẹp tại Lễ hội hoa Anh Đào - Mai Vàng Yên Tử Ngoài ra, lễ hội này còn có chương trình giao lưu văn hóa, các trò chơi dân gian của dân tộc, các hoạt động thăm chùa Yên Tử và một số điểm du lịch khác của Quảng Ninh. Được biết, theo dự kiến sẽ có tới 120 cây Mai, và hàng ngành cành Mai vàng Yên Tử của Việt Nam sẽ khoe sắc cùng 40 cây hoa Anh Đào của Nhật.

Lễ hội hoa Anh Đào - Mai Vàng Yên Tử Chủ đề của Lễ hội hoa Anh Đào - Mai vàng Yên Tử 2018 là "Hợp tác và phát triển - Điểm đến của thành công". Ngoài ra, lễ hội cũng là cầu nối để thúc đấy mối quan hệ giữa Quảng Ninh với các cơ quan, tổ chức của Nhật Bản, góp phần xúc tiến đầu tư và thúc đẩy quan hệ hợp tác. Lễ hội hoa Anh Đào - Mai vàng Yên Tử 2018 được diễn ra trong khủng cảnh kiến trúc, đời sống... dưới thời nhà Trần. Lễ hội diễn ra trong 6 ngày với nhiều hoạt động đặc sắc như: Lễ khai mạc với các chương trình văng nghệ, giao lưu văn hóa giữa Việt và Nhật, triển lãm hoa Anh Đào và hoa Mai vàng, trưng bày, triển lãm các gian hàng của các doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các công ty tiêu biểu trong kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch và nghỉ dưỡng... Du khách thích thú với cảnh đẹp tại Lễ hội hoa Anh Đào - Mai Vàng Yên Tử Ngoài ra, lễ hội này còn có chương trình giao lưu văn hóa, các trò chơi dân gian của dân tộc, các hoạt động thăm chùa Yên Tử và một số điểm du lịch khác của Quảng Ninh. Được biết, theo dự kiến sẽ có tới 120 cây Mai, và hàng ngành cành Mai vàng Yên Tử của Việt Nam sẽ khoe sắc cùng 40 cây hoa Anh Đào của Nhật.

Chủ đề của Lễ hội hoa Anh Đào - Mai vàng Yên Tử 2018 là "Hợp tác và phát triển - Điểm đến của thành công". Ngoài ra, lễ hội cũng là cầu nối để thúc đấy mối quan hệ giữa Quảng Ninh với các cơ quan, tổ chức của Nhật Bản, góp phần xúc tiến đầu tư và thúc đẩy quan hệ hợp tác.

Lễ hội hoa Anh Đào - Mai vàng Yên Tử 2018 được diễn ra trong khủng cảnh kiến trúc, đời sống... dưới thời nhà Trần. Lễ hội diễn ra trong 6 ngày với nhiều hoạt động đặc sắc như: Lễ khai mạc với các chương trình văng nghệ, giao lưu văn hóa giữa Việt và Nhật, triển lãm hoa Anh Đào và hoa Mai vàng, trưng bày, triển lãm các gian hàng của các doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các công ty tiêu biểu trong kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch và nghỉ dưỡng...

Du khách thích thú với cảnh đẹp tại Lễ hội hoa Anh Đào - Mai Vàng Yên Tử

Ngoài ra, lễ hội này còn có chương trình giao lưu văn hóa, các trò chơi dân gian của dân tộc, các hoạt động thăm chùa Yên Tử và một số điểm du lịch khác của Quảng Ninh. Được biết, theo dự kiến sẽ có tới 120 cây Mai, và hàng ngành cành Mai vàng Yên Tử của Việt Nam sẽ khoe sắc cùng 40 cây hoa Anh Đào của Nhật.

Related Figures

Lễ hội đền Ngô Tướng Công

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 9/1- 11/1 Âm lịch Lễ hội đền Ngô Tướng Công thường diễn ra vào mỗi dịp tết đến xuân về, tại xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Hàng năm, cứ đến ngày mồng 9 đến 11 tháng Giêng âm lịch, lễ hội đền Ngô Tướng Công lại tưng bừng mở hội, với mục đích hướng về cội nguồn, tưởng nhớ tới công đức của những bậc tiền nhân. Lễ tế tại đền Ngô Tướng Công Ngô Tướng ông còn có tên khác là Ngô Miễn, là một danh thần của nhà Hồ. Ông sinh năm 1371, tại thôn Xuân Mai, xã Xuân Hy, nay thuộc xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh phúc. Ông qua đời khi mới 36 tuổi. Sinh thời, Ngô Tướng Công là một người đức độ, yêu nước thương dân. Khi làm quan cho nhà Hồ, ông nổi tiếng là một vị quan thanh liêm, có nhiều đóng góp cho việc cải cách xã hội. Trong cuộc chiến đấu chống quân Minh, ông đã tuẫn tiết tại cửa biển Kỳ La thuộc tỉnh Hà Tĩnh. Để tỏ lòng biết ơn, tôn vinh công đức của ông, người dân ở quê hương ông đã lập đền thờ và suy tôn ông là Đức thành hoàng hay Đức Thánh Tổ. Ngày 02/10/1991, đền Ngô Tướng Công đã được Bộ Văn Hóa, Thông Tin và Thể thao cấp bằng công nhận di tích lịch sử Văn hóa. Lễ hội đền Ngô Tướng Công Từ năm 2012, lễ hội đền Ngô Tướng Công đã được UBND tỉnh quan tâm và đống ý cho tổ chức với quy mô cấp thị xã. Lễ hội diễn ra trong ba ngày mồng 9, 10, 11 tháng Giêng âm lịch. Lễ hội gồm 2 phần chính là phần lễ gồm lễ khai mạc, lễ rước bài vị Ngô Tướng Công, lễ tế... phần hội diễn ra với các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể thao và các trò chơi dân gian như chơi cờ, hát tuồng, thi nấu cơm, chạy hóa trang truyền thống, đấu vật, kéo co, chọi gà, bóng bàn, cầu lông... thu hút sự quan tâm của đông đảo du khách thập phương và người dân địa phương. Cán bộ và người dân Phúc Yên khai mạc Lễ hội đền Ngô Tướng Công Lễ hội đền Ngô Tướng Công mở hội vào dịp đầu xuân nên đây cũng là dịp để giáo dục cho thế hệ trẻ về lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc, truyền thống gìn nước và giữ nước.

Lễ tế tại đền Ngô Tướng Công Ngô Tướng ông còn có tên khác là Ngô Miễn, là một danh thần của nhà Hồ. Ông sinh năm 1371, tại thôn Xuân Mai, xã Xuân Hy, nay thuộc xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh phúc. Ông qua đời khi mới 36 tuổi. Sinh thời, Ngô Tướng Công là một người đức độ, yêu nước thương dân. Khi làm quan cho nhà Hồ, ông nổi tiếng là một vị quan thanh liêm, có nhiều đóng góp cho việc cải cách xã hội. Trong cuộc chiến đấu chống quân Minh, ông đã tuẫn tiết tại cửa biển Kỳ La thuộc tỉnh Hà Tĩnh. Để tỏ lòng biết ơn, tôn vinh công đức của ông, người dân ở quê hương ông đã lập đền thờ và suy tôn ông là Đức thành hoàng hay Đức Thánh Tổ. Ngày 02/10/1991, đền Ngô Tướng Công đã được Bộ Văn Hóa, Thông Tin và Thể thao cấp bằng công nhận di tích lịch sử Văn hóa. Lễ hội đền Ngô Tướng Công Từ năm 2012, lễ hội đền Ngô Tướng Công đã được UBND tỉnh quan tâm và đống ý cho tổ chức với quy mô cấp thị xã. Lễ hội diễn ra trong ba ngày mồng 9, 10, 11 tháng Giêng âm lịch. Lễ hội gồm 2 phần chính là phần lễ gồm lễ khai mạc, lễ rước bài vị Ngô Tướng Công, lễ tế... phần hội diễn ra với các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể thao và các trò chơi dân gian như chơi cờ, hát tuồng, thi nấu cơm, chạy hóa trang truyền thống, đấu vật, kéo co, chọi gà, bóng bàn, cầu lông... thu hút sự quan tâm của đông đảo du khách thập phương và người dân địa phương. Cán bộ và người dân Phúc Yên khai mạc Lễ hội đền Ngô Tướng Công Lễ hội đền Ngô Tướng Công mở hội vào dịp đầu xuân nên đây cũng là dịp để giáo dục cho thế hệ trẻ về lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc, truyền thống gìn nước và giữ nước.

Ngô Tướng ông còn có tên khác là Ngô Miễn, là một danh thần của nhà Hồ. Ông sinh năm 1371, tại thôn Xuân Mai, xã Xuân Hy, nay thuộc xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh phúc. Ông qua đời khi mới 36 tuổi.

Sinh thời, Ngô Tướng Công là một người đức độ, yêu nước thương dân. Khi làm quan cho nhà Hồ, ông nổi tiếng là một vị quan thanh liêm, có nhiều đóng góp cho việc cải cách xã hội. Trong cuộc chiến đấu chống quân Minh, ông đã tuẫn tiết tại cửa biển Kỳ La thuộc tỉnh Hà Tĩnh. Để tỏ lòng biết ơn, tôn vinh công đức của ông, người dân ở quê hương ông đã lập đền thờ và suy tôn ông là Đức thành hoàng hay Đức Thánh Tổ. Ngày 02/10/1991, đền Ngô Tướng Công đã được Bộ Văn Hóa, Thông Tin và Thể thao cấp bằng công nhận di tích lịch sử Văn hóa.

Lễ hội đền Ngô Tướng Công

Từ năm 2012, lễ hội đền Ngô Tướng Công đã được UBND tỉnh quan tâm và đống ý cho tổ chức với quy mô cấp thị xã. Lễ hội diễn ra trong ba ngày mồng 9, 10, 11 tháng Giêng âm lịch. Lễ hội gồm 2 phần chính là phần lễ gồm lễ khai mạc, lễ rước bài vị Ngô Tướng Công, lễ tế... phần hội diễn ra với các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể thao và các trò chơi dân gian như chơi cờ, hát tuồng, thi nấu cơm, chạy hóa trang truyền thống, đấu vật, kéo co, chọi gà, bóng bàn, cầu lông... thu hút sự quan tâm của đông đảo du khách thập phương và người dân địa phương.

Cán bộ và người dân Phúc Yên khai mạc Lễ hội đền Ngô Tướng Công

Lễ hội đền Ngô Tướng Công mở hội vào dịp đầu xuân nên đây cũng là dịp để giáo dục cho thế hệ trẻ về lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc, truyền thống gìn nước và giữ nước.

Related Figures

Lễ hội đền Thính

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 6/1- 20/1 Âm lịch Đền Thính là một ngôi đền tọa lạc ở vùng đồng bằng Yên Lạc, dường như ngôi đền đã tách biệt khỏi sự náo nhiệt của trung tâm thị trấn Yên Lạc. Nhân dân xứ Đoài đã lập 5 cung để thờ Thánh Tản- là một trong tứ bất tử của người Việt Nam, đó là Trung Cung, Tây Cung, Bắc Cung và Nam Cung. Đội tế lễ Đền Thính được xây dựng từ rất lâu, cách đây khoảng 20 thế kỷ. Ngôi đền thờ đức thánh Tản Viên nên còn được gọi là đền Thánh, còn gọi là đền Thính. Thần phả truyền rằng: Đức thánh Tản vẫn còn được gọi là Sơn Tinh, có tên húy là Nguyễn Tuấn. Ông mồ côi cha từ nhỏ, sống với mẹ và hai người anh em họ là Nguyễn Sùng và Nguyễn Hiển. Hàng ngày 3 anh em đều lên núi phát rẫy làm nương. Nơi đây, họ đã gặp được bà chúa thượng ngàn, và được bà nhận làm con nuôi và tặng cho một chiếc gậy đầu tử đầu sinh. Lễ hội đền Thính ở Vĩnh Phúc Sau chiến thắng Thủy Tinh, Sơn Tinh cưới được công chúa Ngọc Hoa, ông đã từ chối ngai vàng và cùng hai em đi du ngoạn, giúp dân khai hoang đất đai, trị thủy, nên được người dân rất tôn kính. Khi đi đến vùng Tam Hồng, ông đã cho quân nghỉ chân tại đây, dạy người dân trồng lúa, đánh cá. Dần làng thấy Đức thánh đã đi, chỉ còn sót lại một số gói thính nên sau này đã lập đền thờ và đặt tên là đền Thính. Hàng năm, cứ đến ngày mồng 6 cho đến ngày 20 tháng Giêng âm lịch, lễ hội đền Thính lại mở hội. Lễ hội gồm phần lễ tế, rước kiệu từ các làng, và phần hội với nhiều trò chơi dân gian. Từ sáng ngày mồng 6 tháng Giêng, người dân nô nức kéo nhau về đến chính để trẩy hội. Công việc chuẩn bị cho lễ hội cũng khá công phu. Trước tiên là chọn đội tế lễ, thông thường là có 8 đến 14 cụ ông. Một cụ sẽ được chọn là chủ tể, 2 cụ được chọn làm Đông xướng và Tây xướng, 2 cụ bồi tế, 4 dâng nhang, hoa.... 6 cụ chấp kích. Người dân tập trung về đền Thính để tham gia các trò chơi dân gian Ban tế được chia là 2 đội, là đội nam và đội nữ. Mỗi đội thường gồm 21 người, trong đó có một người được chọn là chủ tế. Sau lễ khai mạc, các thôn trong và ngoài xã sẽ rước riệu từ Đình thờ làng mình đến đền Thính như đã đăng ký. Khi đám rước của mỗi thôn về tới đình, cuộc tế lễ sẽ chính thức bắt đầu. Những năm gần đây, lễ hội Đền Thính càng càng càng đông, náo nhiệt hơn, vui vẻ hơn. Những cô gái trẻ khăn áo sênh sang đứng quây quần bên đu quay, các chàng trai hăng hái vào sới vật, các cụ già thì đứng bên những chú gà chọi, nhưng thu hút nhiều người xem nhất vẫn là bàn cờ tướng, và trận cờ người. Hàng năm, cứ đến ngày mở hội, Đền Thính lại rực rỡ cờ hoa, lòng người hân hoan, nô nức kéo nhau về trẩy hội, tạo nên một không khí tưng bừng.

Đền Thính là một ngôi đền tọa lạc ở vùng đồng bằng Yên Lạc, dường như ngôi đền đã tách biệt khỏi sự náo nhiệt của trung tâm thị trấn Yên Lạc. Nhân dân xứ Đoài đã lập 5 cung để thờ Thánh Tản- là một trong tứ bất tử của người Việt Nam, đó là Trung Cung, Tây Cung, Bắc Cung và Nam Cung.

Đội tế lễ

Đền Thính được xây dựng từ rất lâu, cách đây khoảng 20 thế kỷ. Ngôi đền thờ đức thánh Tản Viên nên còn được gọi là đền Thánh, còn gọi là đền Thính. Thần phả truyền rằng: Đức thánh Tản vẫn còn được gọi là Sơn Tinh, có tên húy là Nguyễn Tuấn. Ông mồ côi cha từ nhỏ, sống với mẹ và hai người anh em họ là Nguyễn Sùng và Nguyễn Hiển. Hàng ngày 3 anh em đều lên núi phát rẫy làm nương. Nơi đây, họ đã gặp được bà chúa thượng ngàn, và được bà nhận làm con nuôi và tặng cho một chiếc gậy đầu tử đầu sinh.

Lễ hội đền Thính ở Vĩnh Phúc

Sau chiến thắng Thủy Tinh, Sơn Tinh cưới được công chúa Ngọc Hoa, ông đã từ chối ngai vàng và cùng hai em đi du ngoạn, giúp dân khai hoang đất đai, trị thủy, nên được người dân rất tôn kính. Khi đi đến vùng Tam Hồng, ông đã cho quân nghỉ chân tại đây, dạy người dân trồng lúa, đánh cá. Dần làng thấy Đức thánh đã đi, chỉ còn sót lại một số gói thính nên sau này đã lập đền thờ và đặt tên là đền Thính.

Hàng năm, cứ đến ngày mồng 6 cho đến ngày 20 tháng Giêng âm lịch, lễ hội đền Thính lại mở hội. Lễ hội gồm phần lễ tế, rước kiệu từ các làng, và phần hội với nhiều trò chơi dân gian.

Từ sáng ngày mồng 6 tháng Giêng, người dân nô nức kéo nhau về đến chính để trẩy hội. Công việc chuẩn bị cho lễ hội cũng khá công phu. Trước tiên là chọn đội tế lễ, thông thường là có 8 đến 14 cụ ông. Một cụ sẽ được chọn là chủ tể, 2 cụ được chọn làm Đông xướng và Tây xướng, 2 cụ bồi tế, 4 dâng nhang, hoa.... 6 cụ chấp kích.

Người dân tập trung về đền Thính để tham gia các trò chơi dân gian

Ban tế được chia là 2 đội, là đội nam và đội nữ. Mỗi đội thường gồm 21 người, trong đó có một người được chọn là chủ tế. Sau lễ khai mạc, các thôn trong và ngoài xã sẽ rước riệu từ Đình thờ làng mình đến đền Thính như đã đăng ký. Khi đám rước của mỗi thôn về tới đình, cuộc tế lễ sẽ chính thức bắt đầu.

Những năm gần đây, lễ hội Đền Thính càng càng càng đông, náo nhiệt hơn, vui vẻ hơn. Những cô gái trẻ khăn áo sênh sang đứng quây quần bên đu quay, các chàng trai hăng hái vào sới vật, các cụ già thì đứng bên những chú gà chọi, nhưng thu hút nhiều người xem nhất vẫn là bàn cờ tướng, và trận cờ người.

Hàng năm, cứ đến ngày mở hội, Đền Thính lại rực rỡ cờ hoa, lòng người hân hoan, nô nức kéo nhau về trẩy hội, tạo nên một không khí tưng bừng.

Related Figures

Lễ hội kéo co truyền thống làng Hoà Loan

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 4/1- 8/1 Âm lịch Lễ hội kéo co truyền thống làng Hoà Loan, xã Lũng Hòa, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc được tổ chức hàng năm, vào ngày mồng 8 đến mồng 8 tháng Giêng âm lịch. Trong ngày hội, người dân trong vùng và du khách thập phương lại nô nức kéo nhau về đây để tham gia lễ hội. Ai cũng muốn tham dự để cầu những điều may cho cả năm. Theo truyền thuyết, nữ tướng Lê Ngọc Chinh, là một nữ tướng giỏi của Hai Bà Trưng, vó ngựa của bà đi tới đâu là quân giặc bị đánh tan tới đó. Bà là người đã chỉ huy quân lính giải phóng vùng đất từ sông Chảy, sông Lô tới sông Thao. Trong trận đánh tại Gò May(Lũng Hòa), gươm của nữ tướng Lê Ngọc Chinh vị gãy, bà đã lấy đá cuội cho vào thắt lưng bao để làm vũ khí rồi ngồi trên lưng ngựa xông thẳng vào đội quân giặc. Trong lúc hai bên giằng co gay cấn, dài thắt lưng của bà bị văng ra và bay về phía thôn Hòa Loan. còn hòn đá thì văng ra phía làng Lũng Ngoại. Để tưởng nhớ tới công ơn của vị nữ tướng này, cứ đến ngày mồng 10 tháng 9 âm lịch, nhân dân Lũng Hòa lại làm tiệc thánh sinh, và sửa tiệc thánh hóa vào ngày mồng 4 tháng Giêng âm lịch. Lễ hội kéo co truyền thống làng Hoà Loan Đội kéo co sẽ được chia thành hai đội, bên đình Đông là những người thuộc họ Dương, và bên đình Giếng là những người thuộc học Phạm, Nguyễn Đào. Dây cùng để kéo co thường được làm bằng những cây song mật, được lấy ở trên rừng rồi nối lại với nhau. Nhưng khi kéo hoặc lúc mới bắt đầu kéo, du khách có thể tham gia, ai muốn kéo cho đội nào cũng được. Và sau mỗi trận kéo co thường không có phần trao giải thưởng. Ban tổ chức chỉ tuyên bố đội thắng cuộc rồi chuẩn bị cho trận đấu tiếp theo. Trong một buổi chiều có tới 5 đến 7 lượt kéo, mỗi lượt có khoảng 100 đến 150 người tham gia. Trong bốn ngày diễn ra lễ hội, du khách thập phương và người dân địa phương tham gia rất đông. Không khí ngày hội rất đông, khiến tinh thần người dân cũng phấn khởi, và hy vọng rằng một năm mới sẽ tràn ngập hạnh phúc, ấm no.

Lễ hội kéo co truyền thống làng Hoà Loan, xã Lũng Hòa, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc được tổ chức hàng năm, vào ngày mồng 8 đến mồng 8 tháng Giêng âm lịch. Trong ngày hội, người dân trong vùng và du khách thập phương lại nô nức kéo nhau về đây để tham gia lễ hội. Ai cũng muốn tham dự để cầu những điều may cho cả năm.

Theo truyền thuyết, nữ tướng Lê Ngọc Chinh, là một nữ tướng giỏi của Hai Bà Trưng, vó ngựa của bà đi tới đâu là quân giặc bị đánh tan tới đó. Bà là người đã chỉ huy quân lính giải phóng vùng đất từ sông Chảy, sông Lô tới sông Thao. Trong trận đánh tại Gò May(Lũng Hòa), gươm của nữ tướng Lê Ngọc Chinh vị gãy, bà đã lấy đá cuội cho vào thắt lưng bao để làm vũ khí rồi ngồi trên lưng ngựa xông thẳng vào đội quân giặc. Trong lúc hai bên giằng co gay cấn, dài thắt lưng của bà bị văng ra và bay về phía thôn Hòa Loan. còn hòn đá thì văng ra phía làng Lũng Ngoại. Để tưởng nhớ tới công ơn của vị nữ tướng này, cứ đến ngày mồng 10 tháng 9 âm lịch, nhân dân Lũng Hòa lại làm tiệc thánh sinh, và sửa tiệc thánh hóa vào ngày mồng 4 tháng Giêng âm lịch.

Lễ hội kéo co truyền thống làng Hoà Loan

Đội kéo co sẽ được chia thành hai đội, bên đình Đông là những người thuộc họ Dương, và bên đình Giếng là những người thuộc học Phạm, Nguyễn Đào. Dây cùng để kéo co thường được làm bằng những cây song mật, được lấy ở trên rừng rồi nối lại với nhau. Nhưng khi kéo hoặc lúc mới bắt đầu kéo, du khách có thể tham gia, ai muốn kéo cho đội nào cũng được. Và sau mỗi trận kéo co thường không có phần trao giải thưởng. Ban tổ chức chỉ tuyên bố đội thắng cuộc rồi chuẩn bị cho trận đấu tiếp theo. Trong một buổi chiều có tới 5 đến 7 lượt kéo, mỗi lượt có khoảng 100 đến 150 người tham gia.

Trong bốn ngày diễn ra lễ hội, du khách thập phương và người dân địa phương tham gia rất đông. Không khí ngày hội rất đông, khiến tinh thần người dân cũng phấn khởi, và hy vọng rằng một năm mới sẽ tràn ngập hạnh phúc, ấm no.

Related Figures

Lễ hội rước cây bông

Thông tin thời kỳ

Mỗi dịp xuân về, người dân xã làng Thượng Yên - Đồng Thịnh - Sông Lô- tỉnh Vĩnh Phúc lại tưng bừng mở hội Rước cây bông. Mỗi năm, một làng sẽ được vinh dự rước cây bông tại đền Thượng. Làng Thượng Yên trước kia có tên gọi là Kẻ Nộc, còn được gọi là làng Thượng Phan, cái tên Thượng Yên là gắn với địa danh đền Thượng, nơi thờ đức thánh Tản Viên Sơn. Ngày nay, làng Thượng Yên được đổi thành 5 thôn: Yên Thái, Yên Phú, Thượng Yên, Bằng Phí, Yên Bình, thuộc xã Đồng Tĩnh, huyện Sông Lô. Đây là vùng đất nông nghiệp, chủ yếu là trồng lúa nước. Cũng vì là vùng thuần nông nên có nhiều yếu tố thiên nhiên ảnh hưởng đến mùa vụ củ nông dân. Chính vì thế, người dân đã tổ chức lễ hội để cầu mong thiên địa và thánh thần phù hộ cho mùa màng bội thu. Cây bông vàng Đi đầu đoàn rước là "người cầm trịch" - thường là người có uy tín trong làng, theo sau là cờ thần, múa sinh tiền, phường bát âm, tiếp đến là kiệu lễ, và sau nữ là ba cây bông lúa, bông đỗ, bông vải. Người dân trong xã cùng du khách khắp nơi chen chân nhau theo đoàn rước. Khi đoàn rước tiến về sân đến Thượng, lễ hội cũng chính thức bắt đầu. Sau khi các vị tiền bối của làng đọc xong văn tế cây bông, chủ tế sẽ báo hiệu nghi thức cướp bông. Đây cũng chính là phần hấp dẫn và kịch tính nhất của Lễ hội cướp cây bông. Khi tiếng chiêng, tiếng trống vang lên từng hồi, đoàn người cũng chen nhau rút bông. Ai không lấy được bông thì cũng mong chạm được vào cây bông để lấy may. Lễ hội rước cây bông ở Vĩnh Phúc Người đã lấy được bông sẽ mang về, đặt lên bàn thờ gia tiên. Theo quan niệm dân gian, nếu ai cướp được cây bông này thì chỉ cần chạm tay vào linh vật thì cả năm sẽ làm ăn phát đạt, gặp nhiều may mắn. Lễ hội diễn ra trong không khí náo nhiệt. Đây là lễ hội mang tính nhân văn, để đề cao đạo lý uống nước nhớ nguồn. Lễ hội đã để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng người xem hội. Là nét văn hóa thu hút du khách thập phương đến địa phương du xuân. Rất đông người dân địa phương và du khách thập phương đến xem hội

Mỗi dịp xuân về, người dân xã làng Thượng Yên - Đồng Thịnh - Sông Lô- tỉnh Vĩnh Phúc lại tưng bừng mở hội Rước cây bông. Mỗi năm, một làng sẽ được vinh dự rước cây bông tại đền Thượng.

Làng Thượng Yên trước kia có tên gọi là Kẻ Nộc, còn được gọi là làng Thượng Phan, cái tên Thượng Yên là gắn với địa danh đền Thượng, nơi thờ đức thánh Tản Viên Sơn. Ngày nay, làng Thượng Yên được đổi thành 5 thôn: Yên Thái, Yên Phú, Thượng Yên, Bằng Phí, Yên Bình, thuộc xã Đồng Tĩnh, huyện Sông Lô. Đây là vùng đất nông nghiệp, chủ yếu là trồng lúa nước. Cũng vì là vùng thuần nông nên có nhiều yếu tố thiên nhiên ảnh hưởng đến mùa vụ củ nông dân. Chính vì thế, người dân đã tổ chức lễ hội để cầu mong thiên địa và thánh thần phù hộ cho mùa màng bội thu.

Cây bông vàng

Đi đầu đoàn rước là "người cầm trịch" - thường là người có uy tín trong làng, theo sau là cờ thần, múa sinh tiền, phường bát âm, tiếp đến là kiệu lễ, và sau nữ là ba cây bông lúa, bông đỗ, bông vải. Người dân trong xã cùng du khách khắp nơi chen chân nhau theo đoàn rước.

Khi đoàn rước tiến về sân đến Thượng, lễ hội cũng chính thức bắt đầu. Sau khi các vị tiền bối của làng đọc xong văn tế cây bông, chủ tế sẽ báo hiệu nghi thức cướp bông. Đây cũng chính là phần hấp dẫn và kịch tính nhất của Lễ hội cướp cây bông. Khi tiếng chiêng, tiếng trống vang lên từng hồi, đoàn người cũng chen nhau rút bông. Ai không lấy được bông thì cũng mong chạm được vào cây bông để lấy may.

Lễ hội rước cây bông ở Vĩnh Phúc

Người đã lấy được bông sẽ mang về, đặt lên bàn thờ gia tiên. Theo quan niệm dân gian, nếu ai cướp được cây bông này thì chỉ cần chạm tay vào linh vật thì cả năm sẽ làm ăn phát đạt, gặp nhiều may mắn.

Lễ hội diễn ra trong không khí náo nhiệt. Đây là lễ hội mang tính nhân văn, để đề cao đạo lý uống nước nhớ nguồn. Lễ hội đã để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng người xem hội. Là nét văn hóa thu hút du khách thập phương đến địa phương du xuân.

Rất đông người dân địa phương và du khách thập phương đến xem hội

Related Figures

Vây kín miếu Đụ Đị xem lễ hội Tình Phộc

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 11/1- 12/1 Âm lịch Vào đêm 11 rạng sáng ngày 12 tháng Giêng tại xã Tứ Xã, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ diễn ra lễ hội "Linh tinh tình phộc" hay còn gọi là "Lễ hội Trò Trám". Điểm hấp dẫn và thu hút sự quan tâm của người dân và du khách nhất là lễ Mật tại miếu Đụ Đị (hay còn gọi là miếu Trò). Các cụ cao niên làm lễ trong Lễ hội Linh tinh tình phộc Lễ hội "Linh tinh tình phộc được tổ chức thường niên thu hút đông đảo người dân và du khách thập phương tới xem và chứng kiến "cảnh làm chuyện ấy". Ngôi miếu cổ nơi diễn ra lễ hội nằm ở rìa xóm Trám. Đúng 0h, thời khắc giao thời từ ngày 11 sang ngày 12, chủ tế miếu Đụ Đị sẽ thực hiện nghi lễ cúng tế để xin phép thực hiện nghi lễ "Linh tinh tình phộc". Sau đó, hai linh vật Nõ (tượng trung cho bộ phận sinh dục nam) và Nường (tượng trung cho bộ phận sinh dục nữ) được lấy từ trong cung xuống. Cặp vợ chồng được chọn thực hiện Lễ Mật trong Lễ Linh tinh tình phộc Một đôi vợ chồng trong làng sẽ được chọn để thực hiện nghi thức Lễ Mật. Năm nay, gia đình anh Chử Đức Chiến và chị Bùi Thị Thanh Huyền tiếp tục được giao nhiệm vụ này. Khi chủ tế miếu Đụ Đị hô vang "Linh tinh tình phộc", điện sẽ tắt hết trong phòng, người chồng cầm Nõ đâm "phộc" vào Nường. Mọi người nín thở nghe tiếng Nõ đâm vào Nường xem có đủ 3 tiếng kêu không. Theo quan niệm dân gian, nếu cả 3 lần Nõ đâm trúng Nường thì năm đó thời tiết thuận hòa, làm ăn may mắn, mùa màng bội thu. Nếu chỉ đâm trúng hai lần thì năm đó được mùa. Còn nếu đâm trúng một lần thì năm đó làm ăn kém. Rất đông người dân hiếu kỳ vây kín xung quanh xem nghi thức, mỗi khi Nõ đâm trúng Nường lại hô vang "Linh tinh tình phộc" và tươi cười vui vẻ. Kết thúc Lễ Mật, chủ từ đặt sinh thực khí vào rương và khóa kín lại. Người dân thụ lộc sau giờ Tháo khoán trong lễ Linh tinh tình phộc Trước kia, vào giờ "Tháo khoán" các đôi trai gái trong làng được tự do yêu đương, làm chuyện trai gái nếu muốn. Cô gái phải giữ một vật của nam để làm tin. Ngày nay, người dân và du khách thụ lộc ngay trước khuôn viên miếu thay vì phong tục trước đây.

Các cụ cao niên làm lễ trong Lễ hội Linh tinh tình phộc Lễ hội "Linh tinh tình phộc được tổ chức thường niên thu hút đông đảo người dân và du khách thập phương tới xem và chứng kiến "cảnh làm chuyện ấy". Ngôi miếu cổ nơi diễn ra lễ hội nằm ở rìa xóm Trám. Đúng 0h, thời khắc giao thời từ ngày 11 sang ngày 12, chủ tế miếu Đụ Đị sẽ thực hiện nghi lễ cúng tế để xin phép thực hiện nghi lễ "Linh tinh tình phộc". Sau đó, hai linh vật Nõ (tượng trung cho bộ phận sinh dục nam) và Nường (tượng trung cho bộ phận sinh dục nữ) được lấy từ trong cung xuống. Cặp vợ chồng được chọn thực hiện Lễ Mật trong Lễ Linh tinh tình phộc Một đôi vợ chồng trong làng sẽ được chọn để thực hiện nghi thức Lễ Mật. Năm nay, gia đình anh Chử Đức Chiến và chị Bùi Thị Thanh Huyền tiếp tục được giao nhiệm vụ này. Khi chủ tế miếu Đụ Đị hô vang "Linh tinh tình phộc", điện sẽ tắt hết trong phòng, người chồng cầm Nõ đâm "phộc" vào Nường. Mọi người nín thở nghe tiếng Nõ đâm vào Nường xem có đủ 3 tiếng kêu không. Theo quan niệm dân gian, nếu cả 3 lần Nõ đâm trúng Nường thì năm đó thời tiết thuận hòa, làm ăn may mắn, mùa màng bội thu. Nếu chỉ đâm trúng hai lần thì năm đó được mùa. Còn nếu đâm trúng một lần thì năm đó làm ăn kém. Rất đông người dân hiếu kỳ vây kín xung quanh xem nghi thức, mỗi khi Nõ đâm trúng Nường lại hô vang "Linh tinh tình phộc" và tươi cười vui vẻ. Kết thúc Lễ Mật, chủ từ đặt sinh thực khí vào rương và khóa kín lại. Người dân thụ lộc sau giờ Tháo khoán trong lễ Linh tinh tình phộc Trước kia, vào giờ "Tháo khoán" các đôi trai gái trong làng được tự do yêu đương, làm chuyện trai gái nếu muốn. Cô gái phải giữ một vật của nam để làm tin. Ngày nay, người dân và du khách thụ lộc ngay trước khuôn viên miếu thay vì phong tục trước đây.

Lễ hội "Linh tinh tình phộc được tổ chức thường niên thu hút đông đảo người dân và du khách thập phương tới xem và chứng kiến "cảnh làm chuyện ấy". Ngôi miếu cổ nơi diễn ra lễ hội nằm ở rìa xóm Trám.

Đúng 0h, thời khắc giao thời từ ngày 11 sang ngày 12, chủ tế miếu Đụ Đị sẽ thực hiện nghi lễ cúng tế để xin phép thực hiện nghi lễ "Linh tinh tình phộc". Sau đó, hai linh vật Nõ (tượng trung cho bộ phận sinh dục nam) và Nường (tượng trung cho bộ phận sinh dục nữ) được lấy từ trong cung xuống.

Cặp vợ chồng được chọn thực hiện Lễ Mật trong Lễ Linh tinh tình phộc

Một đôi vợ chồng trong làng sẽ được chọn để thực hiện nghi thức Lễ Mật. Năm nay, gia đình anh Chử Đức Chiến và chị Bùi Thị Thanh Huyền tiếp tục được giao nhiệm vụ này. Khi chủ tế miếu Đụ Đị hô vang "Linh tinh tình phộc", điện sẽ tắt hết trong phòng, người chồng cầm Nõ đâm "phộc" vào Nường. Mọi người nín thở nghe tiếng Nõ đâm vào Nường xem có đủ 3 tiếng kêu không. Theo quan niệm dân gian, nếu cả 3 lần Nõ đâm trúng Nường thì năm đó thời tiết thuận hòa, làm ăn may mắn, mùa màng bội thu. Nếu chỉ đâm trúng hai lần thì năm đó được mùa. Còn nếu đâm trúng một lần thì năm đó làm ăn kém.

Rất đông người dân hiếu kỳ vây kín xung quanh xem nghi thức, mỗi khi Nõ đâm trúng Nường lại hô vang "Linh tinh tình phộc" và tươi cười vui vẻ. Kết thúc Lễ Mật, chủ từ đặt sinh thực khí vào rương và khóa kín lại.

Người dân thụ lộc sau giờ Tháo khoán trong lễ Linh tinh tình phộc

Trước kia, vào giờ "Tháo khoán" các đôi trai gái trong làng được tự do yêu đương, làm chuyện trai gái nếu muốn. Cô gái phải giữ một vật của nam để làm tin. Ngày nay, người dân và du khách thụ lộc ngay trước khuôn viên miếu thay vì phong tục trước đây.

Related Figures

Lễ hội Phượng hoàng mùa xuân khu đô thị mới Kenton Node Hotel Complex

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 26/12- 10/1 Âm lịch Lễ hội Phượng hoàng mùa xuân khu đô thị mới Kenton Node Hotel Complex (116A Nguyễn Hữu Thọ, Nam Sài Gòn) là điểm hẹn lý tưởng trong dịp Tết Mậu Tuất. Lễ hội khai mạc từ ngày 6/2/2018, chính thức diễn ra từ 11-25/2 (từ 26 tháng Chạp tới mùng 10 tháng Giêng). Hình ảnh Phượng hàng trong lễ hội mùa xuân Công ty TNHH Xây dựng - Sản xuất - Thương mại Tài Nguyên sẽ mang đến cho du khách những hoạt động vui chơi, giải trí thú vị, độc đáo, đặc biệt là cơ hội thưởng ngoạn tổ hợp vườn đá Nhật Bản với hồ cá Koi may mắn, phúc lộc và vườn xương rồng châu Phi mới lạ, ấn tượng. Trình diễn nhạc nước trong lễ hội Phượng hoàng mùa xuân Lễ hội Phương hoàng mùa xuân có sự kết hợp hài hòa giữa không gian văn hóa (tổ hợp vườn cá Nhật Bản, vườn xương rồng châu Phi), không gian giải trí (nghệ thuật đường phố, bắn pháo hoa trên nhạc nước) và không gian ẩm thực (chuỗi nhà hàng cao cấp có thương hiệu) mang đẳng cấp quốc tế. Phượng hoàng là biểu tượng của hạnh phúc, thịnh vượng trong truyền thuyết Tứ Linh. Lễ hội Phượng hoàng mùa xuân mang đến câu chuyện về Phượng hoàng tái sinh với những màn biểu diễn ánh sáng và âm thanh sống động. Trong khuôn khổ lễ hội Phượng hoàng vào đêm 15/02/2018 (đêm 30 tháng Chạp âm lịch) sẽ diễn ra sự kiện bắn pháo hoa đón Giao thừa. Đặc biệt màn bắn pháo hoa kết hợp trình diễn nhạc nhạc lần đầu tiên ở Việt Nam sẽ vô cùng mãn nhãn và ngoạn mục. Sự kiện "Tết thần Tiên" từ ngày 26 tháng Chạp đến 10 tháng Giêng âm lịch với đa dạng nội dung phù hợp cho cả gia đình du xuân. Lễ hội Phượng hoàng mùa xuân lung linh rực rỡ sắc màu Lễ hội Phượng hoàng mùa xuân là điểm du xuân đẳng cấp và khác biệt, góp phần thúc đẩy du lịch và nâng cao đời sống tinh thần cho người dân TP HCM.

Lễ hội Phượng hoàng mùa xuân khu đô thị mới Kenton Node Hotel Complex (116A Nguyễn Hữu Thọ, Nam Sài Gòn) là điểm hẹn lý tưởng trong dịp Tết Mậu Tuất. Lễ hội khai mạc từ ngày 6/2/2018, chính thức diễn ra từ 11-25/2 (từ 26 tháng Chạp tới mùng 10 tháng Giêng).

Hình ảnh Phượng hàng trong lễ hội mùa xuân

Công ty TNHH Xây dựng - Sản xuất - Thương mại Tài Nguyên sẽ mang đến cho du khách những hoạt động vui chơi, giải trí thú vị, độc đáo, đặc biệt là cơ hội thưởng ngoạn tổ hợp vườn đá Nhật Bản với hồ cá Koi may mắn, phúc lộc và vườn xương rồng châu Phi mới lạ, ấn tượng.

Trình diễn nhạc nước trong lễ hội Phượng hoàng mùa xuân

Lễ hội Phương hoàng mùa xuân có sự kết hợp hài hòa giữa không gian văn hóa (tổ hợp vườn cá Nhật Bản, vườn xương rồng châu Phi), không gian giải trí (nghệ thuật đường phố, bắn pháo hoa trên nhạc nước) và không gian ẩm thực (chuỗi nhà hàng cao cấp có thương hiệu) mang đẳng cấp quốc tế. Phượng hoàng là biểu tượng của hạnh phúc, thịnh vượng trong truyền thuyết Tứ Linh. Lễ hội Phượng hoàng mùa xuân mang đến câu chuyện về Phượng hoàng tái sinh với những màn biểu diễn ánh sáng và âm thanh sống động.

Trong khuôn khổ lễ hội Phượng hoàng vào đêm 15/02/2018 (đêm 30 tháng Chạp âm lịch) sẽ diễn ra sự kiện bắn pháo hoa đón Giao thừa. Đặc biệt màn bắn pháo hoa kết hợp trình diễn nhạc nhạc lần đầu tiên ở Việt Nam sẽ vô cùng mãn nhãn và ngoạn mục. Sự kiện "Tết thần Tiên" từ ngày 26 tháng Chạp đến 10 tháng Giêng âm lịch với đa dạng nội dung phù hợp cho cả gia đình du xuân.

Lễ hội Phượng hoàng mùa xuân lung linh rực rỡ sắc màu

Lễ hội Phượng hoàng mùa xuân là điểm du xuân đẳng cấp và khác biệt, góp phần thúc đẩy du lịch và nâng cao đời sống tinh thần cho người dân TP HCM.

Related Figures

Ý nghĩa lễ cúng Tất niên

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 30/12 Âm lịch Tất niên trong đó "Tất" có nghĩa là xong, hết; chữ niên có nghĩa là năm; là cột mốc đánh dấu kết thúc một năm, chuẩn bị bước sang năm mới. Cúng Tất niên thể hiện nếp sống tâm linh người Việt, thể hiện tấm lòng thành tri ân đất trời, thần linh, tổ tiên... đã phù hộ gia chủ bình an trong một năm qua. Mâm cúng Tất niên được chuẩn bị tươm tất dâng lên gia tiên Tất niên diễn ra vào ngày cuối năm âm lịch, tức ngày 30 tháng Chạp (nếu là năm đủ) hoặc ngày 29 tháng Chạp (nếu là năm thiếu). Tất niên là dịp để các thành viên trong gia đình quây quần, sum họp với nhau. Việc cúng Tất niên có thể diễn ra buổi chiều hay buổi tối ngày này. Giữa ngày 30 (hoặc 29) tháng Chạp và ngày mồng 1 tháng Giêng, giờ Tý (từ 23 giờ hôm trước đến 1 giờ sáng hôm sau), đặc biệt thời điểm đầu giờ Chính Tý (0 giờ 0 phút 0 giây) là thời khắc quan trọng nhất đánh dấu sự chuyển giao năm cũ và năm mới, được gọi là Giao thừa. Trong lễ cúng Tất niên, gia chủ chuẩn bị hai mâm cỗ, một mâm cúng gia tiên tại bàn thờ trong nhà và một mâm cúng thiên địa ở sân trước nhà. Tùy theo điều kiện của gia chủ cũng như phong tục tập quán mỗi vùng mà mâm cỗ cúng thịnh soạn hay thanh đạm. Nhưng có một số đồ lễ bắt buộc phải có theo phong tục Việt Nam gồm: hương hoa, vàng mã, đèn nến, trầu cau, rượu, trà, bánh chưng... Lễ cúng Tất niên là nghi lễ truyền thống, không cần phải quá cầu kỳ miễn sao thể hiện sự thành tâm của gia chủ dâng lên gia tiên. Cúng Tất niên gia chủ chuẩn bị 2 mâm lễ 1 trong nhà và 1 ngoài sân Sau lễ cúng Tất niên, mọi người quây quần bên mâm cơm Tất niên để cùng đón giao thừa và mừng năm mới. Đây là thời khắc thiêng liêng, ấm cúng, tràn ngập niềm vui sau một năm tất bật làm việc, chạy đua với cuộc sống. Mâm lễ cúng Tất niên không nặng về vật chất tùy điều kiện gia chủ Cúng Tất niên là phong tục tập quán lâu đời của người Việt, trở thành nét đẹp truyền thống, đạo lý sâu xa của dân tộc Việt Nam, giáo dục con nháu nhớ về cội nguồn. Đây cũng là dịp sum họp, hàn huyên tâm sự về một năm đã qua và đề ra những dự định trong năm mới. Quan niệm dân gian cũng cho rằng cúng Tất niên chính là cách gia chủ mời thần linh, ông bà về ăn Tết cùng con cháu.

Mâm cúng Tất niên được chuẩn bị tươm tất dâng lên gia tiên Tất niên diễn ra vào ngày cuối năm âm lịch, tức ngày 30 tháng Chạp (nếu là năm đủ) hoặc ngày 29 tháng Chạp (nếu là năm thiếu). Tất niên là dịp để các thành viên trong gia đình quây quần, sum họp với nhau. Việc cúng Tất niên có thể diễn ra buổi chiều hay buổi tối ngày này. Giữa ngày 30 (hoặc 29) tháng Chạp và ngày mồng 1 tháng Giêng, giờ Tý (từ 23 giờ hôm trước đến 1 giờ sáng hôm sau), đặc biệt thời điểm đầu giờ Chính Tý (0 giờ 0 phút 0 giây) là thời khắc quan trọng nhất đánh dấu sự chuyển giao năm cũ và năm mới, được gọi là Giao thừa. Trong lễ cúng Tất niên, gia chủ chuẩn bị hai mâm cỗ, một mâm cúng gia tiên tại bàn thờ trong nhà và một mâm cúng thiên địa ở sân trước nhà. Tùy theo điều kiện của gia chủ cũng như phong tục tập quán mỗi vùng mà mâm cỗ cúng thịnh soạn hay thanh đạm. Nhưng có một số đồ lễ bắt buộc phải có theo phong tục Việt Nam gồm: hương hoa, vàng mã, đèn nến, trầu cau, rượu, trà, bánh chưng... Lễ cúng Tất niên là nghi lễ truyền thống, không cần phải quá cầu kỳ miễn sao thể hiện sự thành tâm của gia chủ dâng lên gia tiên. Cúng Tất niên gia chủ chuẩn bị 2 mâm lễ 1 trong nhà và 1 ngoài sân Sau lễ cúng Tất niên, mọi người quây quần bên mâm cơm Tất niên để cùng đón giao thừa và mừng năm mới. Đây là thời khắc thiêng liêng, ấm cúng, tràn ngập niềm vui sau một năm tất bật làm việc, chạy đua với cuộc sống. Mâm lễ cúng Tất niên không nặng về vật chất tùy điều kiện gia chủ Cúng Tất niên là phong tục tập quán lâu đời của người Việt, trở thành nét đẹp truyền thống, đạo lý sâu xa của dân tộc Việt Nam, giáo dục con nháu nhớ về cội nguồn. Đây cũng là dịp sum họp, hàn huyên tâm sự về một năm đã qua và đề ra những dự định trong năm mới. Quan niệm dân gian cũng cho rằng cúng Tất niên chính là cách gia chủ mời thần linh, ông bà về ăn Tết cùng con cháu.

Tất niên diễn ra vào ngày cuối năm âm lịch, tức ngày 30 tháng Chạp (nếu là năm đủ) hoặc ngày 29 tháng Chạp (nếu là năm thiếu). Tất niên là dịp để các thành viên trong gia đình quây quần, sum họp với nhau. Việc cúng Tất niên có thể diễn ra buổi chiều hay buổi tối ngày này. Giữa ngày 30 (hoặc 29) tháng Chạp và ngày mồng 1 tháng Giêng, giờ Tý (từ 23 giờ hôm trước đến 1 giờ sáng hôm sau), đặc biệt thời điểm đầu giờ Chính Tý (0 giờ 0 phút 0 giây) là thời khắc quan trọng nhất đánh dấu sự chuyển giao năm cũ và năm mới, được gọi là Giao thừa. Trong lễ cúng Tất niên, gia chủ chuẩn bị hai mâm cỗ, một mâm cúng gia tiên tại bàn thờ trong nhà và một mâm cúng thiên địa ở sân trước nhà. Tùy theo điều kiện của gia chủ cũng như phong tục tập quán mỗi vùng mà mâm cỗ cúng thịnh soạn hay thanh đạm. Nhưng có một số đồ lễ bắt buộc phải có theo phong tục Việt Nam gồm: hương hoa, vàng mã, đèn nến, trầu cau, rượu, trà, bánh chưng... Lễ cúng Tất niên là nghi lễ truyền thống, không cần phải quá cầu kỳ miễn sao thể hiện sự thành tâm của gia chủ dâng lên gia tiên.

Cúng Tất niên gia chủ chuẩn bị 2 mâm lễ 1 trong nhà và 1 ngoài sân

Sau lễ cúng Tất niên, mọi người quây quần bên mâm cơm Tất niên để cùng đón giao thừa và mừng năm mới. Đây là thời khắc thiêng liêng, ấm cúng, tràn ngập niềm vui sau một năm tất bật làm việc, chạy đua với cuộc sống.

Mâm lễ cúng Tất niên không nặng về vật chất tùy điều kiện gia chủ

Cúng Tất niên là phong tục tập quán lâu đời của người Việt, trở thành nét đẹp truyền thống, đạo lý sâu xa của dân tộc Việt Nam, giáo dục con nháu nhớ về cội nguồn. Đây cũng là dịp sum họp, hàn huyên tâm sự về một năm đã qua và đề ra những dự định trong năm mới. Quan niệm dân gian cũng cho rằng cúng Tất niên chính là cách gia chủ mời thần linh, ông bà về ăn Tết cùng con cháu.

Related Figures

Đậm đà bản sắc hội hoa xuân Phú Mỹ Hưng 2018

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 23/12- 30/12 Âm lịch Hội hoa xuân Phú Mỹ Hưng diễn ra từ ngày 8-15/2/2018 (tức ngày 23-30/12/2017 âm lịch) tại khu vực The Crescent (Hồ Bán Nguyệt), đô thị Phú Mỹ Hưng, Quận 7, TP.HCM. Hội hoa xuân Phú Mỹ Hưng mang đến không gian văn hóa đặc trưng của miền sông nước với chủ đề "Sông nước tình xuân". Khu vực Bến xuân của Hội hoa xuân Phú Mỹ Hưng Tiếp nối thành công của các chủ đề "Hoa cỏ đồng nội" đã làm nên hình ảnh Hội hoa xuân Phú Mỹ Hưng gắn liền với các giá trị văn hóa dân tộc, năm nay Công ty TNHH Phát triển Phú Mỹ Hưng tổ chức Hội hoa xuân với chủ đề "Sông nước tình xuân". Với lợi thế của một đô thị sinh thái sông nước, nhiều sông, hồ tự nhiên nên dễ dàng tái hiện tại vùng đất Nhà Bè xưa nói riêng và Nam Bộ nói chung. Hội hoa tái hiện khung cảnh làng quê miền sông nước ấm no, hiền hòa nhưng cũng rất thú vị. Những hình ảnh thân thuộc như: Vạt lúa nước, hồ sen, hồ tôm, hồ cá, rừng tràm... được tái hiện chân thật. Khu vực Đường xuân của Hội hoa xuân Phú Mỹ Hưng Hội hoa xuân Phú Mỹ Hưng được tổ chức trên khuôn viên rộng hơn 7ha. Hạng mục Vườn Xuân năm nay được bố trí tại khu vực công viên Hồ Bán Nguyệt, tạo nên sự kết nối giữa hai khu vực Đường Xuân và Vườn Xuân thông qua Cầu Ánh Sao thuận tiện cho du khách tham quan. Các hạng mục trang trí Đường Xuân, Vườn Xuân và Bến Xuân sẽ được trưng bày đến ngày 20/2 (tức mùng 5 Tết). Khung cảnh sông nước mộc mạc của Hội hoa xuân Phú Mỹ Hưng Lễ khai mạc Hội hoa xuân Phú Mỹ Hưng được tổ chức vào 19h ngày 9/2/2018. Trong ngày khai mạc, Hội hoa xuân có nhiều tiết mục biểu diễn nghệ thuật dân gian như múa trống, hòa tấu đàn tranh... Đặc biệt, Hội hoa xuân còn có nhiều chương trình văn hóa nghệ thuật chào đón năm mới. Hội hoa xuân Phú Mỹ Hưng là sự kiện hấp dẫn, hứa hẹn là điểm vui chơi lý tưởng cho người dân trong dịp Tết đến xuân về.

Khu vực Bến xuân của Hội hoa xuân Phú Mỹ Hưng Tiếp nối thành công của các chủ đề "Hoa cỏ đồng nội" đã làm nên hình ảnh Hội hoa xuân Phú Mỹ Hưng gắn liền với các giá trị văn hóa dân tộc, năm nay Công ty TNHH Phát triển Phú Mỹ Hưng tổ chức Hội hoa xuân với chủ đề "Sông nước tình xuân". Với lợi thế của một đô thị sinh thái sông nước, nhiều sông, hồ tự nhiên nên dễ dàng tái hiện tại vùng đất Nhà Bè xưa nói riêng và Nam Bộ nói chung. Hội hoa tái hiện khung cảnh làng quê miền sông nước ấm no, hiền hòa nhưng cũng rất thú vị. Những hình ảnh thân thuộc như: Vạt lúa nước, hồ sen, hồ tôm, hồ cá, rừng tràm... được tái hiện chân thật. Khu vực Đường xuân của Hội hoa xuân Phú Mỹ Hưng Hội hoa xuân Phú Mỹ Hưng được tổ chức trên khuôn viên rộng hơn 7ha. Hạng mục Vườn Xuân năm nay được bố trí tại khu vực công viên Hồ Bán Nguyệt, tạo nên sự kết nối giữa hai khu vực Đường Xuân và Vườn Xuân thông qua Cầu Ánh Sao thuận tiện cho du khách tham quan. Các hạng mục trang trí Đường Xuân, Vườn Xuân và Bến Xuân sẽ được trưng bày đến ngày 20/2 (tức mùng 5 Tết). Khung cảnh sông nước mộc mạc của Hội hoa xuân Phú Mỹ Hưng Lễ khai mạc Hội hoa xuân Phú Mỹ Hưng được tổ chức vào 19h ngày 9/2/2018. Trong ngày khai mạc, Hội hoa xuân có nhiều tiết mục biểu diễn nghệ thuật dân gian như múa trống, hòa tấu đàn tranh... Đặc biệt, Hội hoa xuân còn có nhiều chương trình văn hóa nghệ thuật chào đón năm mới. Hội hoa xuân Phú Mỹ Hưng là sự kiện hấp dẫn, hứa hẹn là điểm vui chơi lý tưởng cho người dân trong dịp Tết đến xuân về.

Tiếp nối thành công của các chủ đề "Hoa cỏ đồng nội" đã làm nên hình ảnh Hội hoa xuân Phú Mỹ Hưng gắn liền với các giá trị văn hóa dân tộc, năm nay Công ty TNHH Phát triển Phú Mỹ Hưng tổ chức Hội hoa xuân với chủ đề "Sông nước tình xuân". Với lợi thế của một đô thị sinh thái sông nước, nhiều sông, hồ tự nhiên nên dễ dàng tái hiện tại vùng đất Nhà Bè xưa nói riêng và Nam Bộ nói chung. Hội hoa tái hiện khung cảnh làng quê miền sông nước ấm no, hiền hòa nhưng cũng rất thú vị. Những hình ảnh thân thuộc như: Vạt lúa nước, hồ sen, hồ tôm, hồ cá, rừng tràm... được tái hiện chân thật.

Khu vực Đường xuân của Hội hoa xuân Phú Mỹ Hưng

Hội hoa xuân Phú Mỹ Hưng được tổ chức trên khuôn viên rộng hơn 7ha. Hạng mục Vườn Xuân năm nay được bố trí tại khu vực công viên Hồ Bán Nguyệt, tạo nên sự kết nối giữa hai khu vực Đường Xuân và Vườn Xuân thông qua Cầu Ánh Sao thuận tiện cho du khách tham quan. Các hạng mục trang trí Đường Xuân, Vườn Xuân và Bến Xuân sẽ được trưng bày đến ngày 20/2 (tức mùng 5 Tết).

Khung cảnh sông nước mộc mạc của Hội hoa xuân Phú Mỹ Hưng

Lễ khai mạc Hội hoa xuân Phú Mỹ Hưng được tổ chức vào 19h ngày 9/2/2018. Trong ngày khai mạc, Hội hoa xuân có nhiều tiết mục biểu diễn nghệ thuật dân gian như múa trống, hòa tấu đàn tranh... Đặc biệt, Hội hoa xuân còn có nhiều chương trình văn hóa nghệ thuật chào đón năm mới.

Hội hoa xuân Phú Mỹ Hưng là sự kiện hấp dẫn, hứa hẹn là điểm vui chơi lý tưởng cho người dân trong dịp Tết đến xuân về.

Related Figures

Về buôn xem lễ cúng sức khỏe cho voi của đồng bào Tây Nguyên

Thông tin thời kỳ

Đồng bào các dân tộc Tây Nguyên xem con voi là đầu cơ nghiệp, tài sản quý giá mà thần linh ban cho họ. Voi là biểu tượng sức mạnh, sự giàu có và tinh thần thượng võ của gia đình và buôn làng. Vì vậy, hàng năm đồng bào nơi đây thường tổ chức lễ cúng sức khỏe cho voi, cầu mong vật nuôi của mình luôn mạnh khỏe, không hung dữ, sống chan hòa với buôn làng. Lễ cúng sức khỏe cho voi được đồng bào Tây Nguyên coi trọng Từ xa xưa, voi đã trở thành biểu tượng của vùng đất Tây Nguyên. Trong sinh hoạt hàng ngày, voi luôn đỡ đần, thay thế con người gánh vác những phần việc nặng nhọc. Voi là niềm tự hào của cả cộng đồng, vì thế sức khỏe của voi được đồng bào Tây Nguyên rất coi trọng. Bà con nơi đây quan niệm sức khỏe voi do Giàng ban cho. Chính vì vậy, việc cầu cúng sức khỏe cho voi được bà con nơi đây tiến hành cẩn thận. Lễ cầu sức khỏe cho voi có ý nghĩa tưởng nhớ đến tổ tiên, cầu cho voi và gia đình có sức khỏe dồi dào, mùa màng bội thu, có cuộc sống no đủ... và nhất là cầu cho voi luôn trung thành với chủ, được thần linh cai quản và che chở. Thầy cúng làm lễ cúng sức khỏe cho voi Trong lễ cúng sức khỏe cho voi, thầy cúng phải là thầy cúng giỏi, có uy tín và am hiểu tập tục của đồng bào. Thầy cúng cùng các nài voi trong buôn đến nhà chủ voi để chuẩn bị lễ vật. Tùy vào điều kiện kinh tế chủ voi mà sự chuẩn bị cho mỗi lễ cúng cũng khác nhau, nhưng 3 lễ vật không thể thiếu là xôi, rượu cần và tiết lợn. Lễ cúng được thực hiện trước hiên nhà. Thầy cúng mời Giàng, Thần Núi, Thần Sông... về chứng kiến và ban sức khỏe cho voi. Nghi lễ bôi tiết lợn lên đầu voi được xem như sự chứng kiến của thần linh. Nghi lễ thực hiện xong, ông chủ ôm từng bó mía ngọt thơm, từng nải chuối đi phân phát cho từng thớt voi. Sau đó, gia chủ làm trâu, lợn hay gà ăn mừng. Lễ cúng sức khỏe cho voi thể hiện sự yêu thương và quý trọng của đồng bào Lễ cúng sức khỏe cho voi của đồng bào Tây Nguyên mang nhiều ý nghĩa tốt đẹp, thể hiện lòng yêu thương, quý trọng của đồng bào với đàn voi.

Đồng bào các dân tộc Tây Nguyên xem con voi là đầu cơ nghiệp, tài sản quý giá mà thần linh ban cho họ. Voi là biểu tượng sức mạnh, sự giàu có và tinh thần thượng võ của gia đình và buôn làng. Vì vậy, hàng năm đồng bào nơi đây thường tổ chức lễ cúng sức khỏe cho voi, cầu mong vật nuôi của mình luôn mạnh khỏe, không hung dữ, sống chan hòa với buôn làng.

Lễ cúng sức khỏe cho voi được đồng bào Tây Nguyên coi trọng

Từ xa xưa, voi đã trở thành biểu tượng của vùng đất Tây Nguyên. Trong sinh hoạt hàng ngày, voi luôn đỡ đần, thay thế con người gánh vác những phần việc nặng nhọc. Voi là niềm tự hào của cả cộng đồng, vì thế sức khỏe của voi được đồng bào Tây Nguyên rất coi trọng. Bà con nơi đây quan niệm sức khỏe voi do Giàng ban cho. Chính vì vậy, việc cầu cúng sức khỏe cho voi được bà con nơi đây tiến hành cẩn thận.

Lễ cầu sức khỏe cho voi có ý nghĩa tưởng nhớ đến tổ tiên, cầu cho voi và gia đình có sức khỏe dồi dào, mùa màng bội thu, có cuộc sống no đủ... và nhất là cầu cho voi luôn trung thành với chủ, được thần linh cai quản và che chở.

Thầy cúng làm lễ cúng sức khỏe cho voi

Trong lễ cúng sức khỏe cho voi, thầy cúng phải là thầy cúng giỏi, có uy tín và am hiểu tập tục của đồng bào. Thầy cúng cùng các nài voi trong buôn đến nhà chủ voi để chuẩn bị lễ vật. Tùy vào điều kiện kinh tế chủ voi mà sự chuẩn bị cho mỗi lễ cúng cũng khác nhau, nhưng 3 lễ vật không thể thiếu là xôi, rượu cần và tiết lợn. Lễ cúng được thực hiện trước hiên nhà. Thầy cúng mời Giàng, Thần Núi, Thần Sông... về chứng kiến và ban sức khỏe cho voi. Nghi lễ bôi tiết lợn lên đầu voi được xem như sự chứng kiến của thần linh. Nghi lễ thực hiện xong, ông chủ ôm từng bó mía ngọt thơm, từng nải chuối đi phân phát cho từng thớt voi. Sau đó, gia chủ làm trâu, lợn hay gà ăn mừng.

Lễ cúng sức khỏe cho voi thể hiện sự yêu thương và quý trọng của đồng bào

Lễ cúng sức khỏe cho voi của đồng bào Tây Nguyên mang nhiều ý nghĩa tốt đẹp, thể hiện lòng yêu thương, quý trọng của đồng bào với đàn voi.

Related Figures

Hội chợ từ thiện "Chợ Tết xưa"

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 4/2 Dương lịch Những ngày cuối năm, ai ai cũng tất bật chuẩn bị đón Tết âm lịch. Hội chợ từ thiện "Chợ Tết xưa" là điểm đến hấp dẫn với 40 gian hàng gồm các mặt hàng phong phú. Hơn nữa, hội chợ còn có ý nghĩa lan tỏa yêu thương, mang đến cái Tết ấm áp cho những bệnh nhân nghèo. Hội chợ từ thiện "Chợ Tết xưa" là hoạt động ý nghĩa dịp cuối năm Hội chợ "Chợ Tết xưa" được tổ chức từ 8h00-21h00 ngày 04/02/2018 tại Hoàng thành Thăng Long - 19C Hoàng Diệu - Hà Nội. Nhóm từ thiện Đồng Thiện Tâm kết hợp với nhóm từ thiện Vui Hành Thiện, nhóm từ thiện Bồ Câu Trắng và Hội liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam chung tay tổ chức sự kiện: Hội chợ từ thiện "Chợ Tết xưa". Mục đích của chương trình là: Gây quỹ tặng quà Tết cho các bệnh nhi phải ở lại điều trị trong dịp Tết tại Bệnh viện Nhi TW và Khoa nhi bệnh viện K3 Tân Triều. Tái hiện không gian chợ Tết xưa để trẻ em hiểu và quý trọng vẻ đẹp văn hóa của dân tộc. Giao lưu, gắn kết các thành viên trong các nhóm từ thiện, lan tỏa tình yêu thương, đề cao tinh thần lá lành đùm lá rách trong cộng đồng, chung tay giúp đỡ những gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Hội chợ từ thiện "Chợ Tết xưa" mang ý nghĩa nhân văn cao đẹp Các mặt hàng được cam kết đảm bảo về giá cả và chất lượng. Du khách thăm quan và mua sắm tại hội chợ sẽ được hòa mình vào không khí chợ Tết xưa, mua sắm các sản phẩm thiết yếu trong dịp Tết. Hội chợ từ thiện "Chợ Tết xưa" có khoảng 40 gian hàng với nhiều mặt hàng đa dạng, phong phú trong dịp Tết cổ truyền như: thực phẩm (giò, gà, chả, gạo nếp, bánh chưng...), đồ khô (măng, miến, mộc nhĩ, bánh đa nem...), bánh kẹo Tết, lì xì, các sản phẩm thời trang... Ngoài ra, Hội chợ còn mang đến nhiều trò chơi và chương trình nghệ thuật dân gian hấp dẫn như: Kéo co, bịt mắt đánh trống, viết thư pháp, nặn tò he, gói bánh chưng, biểu diễn xiếc, ảo thuật... Hơn hết, Hội chợ từ thiện "Chợ Tết xưa" là dịp xã hội chung tay, chia sẻ yêu thương mang Tết về cho những bệnh nhi đón Tết trong bệnh viện. Tò he trong hội chợ từ thiện "Chợ Tết xưa" Hội chợ từ thiện "Chợ Tết xưa" tái hiện tinh tế không gian chợ Tết truyền thống, là hoạt động từ thiện ý nghĩa giúp đỡ bệnh nhi không được về sum họp với gia đình trong dịp Tết.

Hội chợ từ thiện "Chợ Tết xưa" là hoạt động ý nghĩa dịp cuối năm Hội chợ "Chợ Tết xưa" được tổ chức từ 8h00-21h00 ngày 04/02/2018 tại Hoàng thành Thăng Long - 19C Hoàng Diệu - Hà Nội. Nhóm từ thiện Đồng Thiện Tâm kết hợp với nhóm từ thiện Vui Hành Thiện, nhóm từ thiện Bồ Câu Trắng và Hội liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam chung tay tổ chức sự kiện: Hội chợ từ thiện "Chợ Tết xưa". Mục đích của chương trình là: Gây quỹ tặng quà Tết cho các bệnh nhi phải ở lại điều trị trong dịp Tết tại Bệnh viện Nhi TW và Khoa nhi bệnh viện K3 Tân Triều. Tái hiện không gian chợ Tết xưa để trẻ em hiểu và quý trọng vẻ đẹp văn hóa của dân tộc. Giao lưu, gắn kết các thành viên trong các nhóm từ thiện, lan tỏa tình yêu thương, đề cao tinh thần lá lành đùm lá rách trong cộng đồng, chung tay giúp đỡ những gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Hội chợ từ thiện "Chợ Tết xưa" mang ý nghĩa nhân văn cao đẹp Các mặt hàng được cam kết đảm bảo về giá cả và chất lượng. Du khách thăm quan và mua sắm tại hội chợ sẽ được hòa mình vào không khí chợ Tết xưa, mua sắm các sản phẩm thiết yếu trong dịp Tết. Hội chợ từ thiện "Chợ Tết xưa" có khoảng 40 gian hàng với nhiều mặt hàng đa dạng, phong phú trong dịp Tết cổ truyền như: thực phẩm (giò, gà, chả, gạo nếp, bánh chưng...), đồ khô (măng, miến, mộc nhĩ, bánh đa nem...), bánh kẹo Tết, lì xì, các sản phẩm thời trang... Ngoài ra, Hội chợ còn mang đến nhiều trò chơi và chương trình nghệ thuật dân gian hấp dẫn như: Kéo co, bịt mắt đánh trống, viết thư pháp, nặn tò he, gói bánh chưng, biểu diễn xiếc, ảo thuật... Hơn hết, Hội chợ từ thiện "Chợ Tết xưa" là dịp xã hội chung tay, chia sẻ yêu thương mang Tết về cho những bệnh nhi đón Tết trong bệnh viện. Tò he trong hội chợ từ thiện "Chợ Tết xưa" Hội chợ từ thiện "Chợ Tết xưa" tái hiện tinh tế không gian chợ Tết truyền thống, là hoạt động từ thiện ý nghĩa giúp đỡ bệnh nhi không được về sum họp với gia đình trong dịp Tết.

Hội chợ "Chợ Tết xưa" được tổ chức từ 8h00-21h00 ngày 04/02/2018 tại Hoàng thành Thăng Long - 19C Hoàng Diệu - Hà Nội. Nhóm từ thiện Đồng Thiện Tâm kết hợp với nhóm từ thiện Vui Hành Thiện, nhóm từ thiện Bồ Câu Trắng và Hội liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam chung tay tổ chức sự kiện: Hội chợ từ thiện "Chợ Tết xưa". Mục đích của chương trình là:

Gây quỹ tặng quà Tết cho các bệnh nhi phải ở lại điều trị trong dịp Tết tại Bệnh viện Nhi TW và Khoa nhi bệnh viện K3 Tân Triều. Tái hiện không gian chợ Tết xưa để trẻ em hiểu và quý trọng vẻ đẹp văn hóa của dân tộc. Giao lưu, gắn kết các thành viên trong các nhóm từ thiện, lan tỏa tình yêu thương, đề cao tinh thần lá lành đùm lá rách trong cộng đồng, chung tay giúp đỡ những gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Hội chợ từ thiện "Chợ Tết xưa" mang ý nghĩa nhân văn cao đẹp Các mặt hàng được cam kết đảm bảo về giá cả và chất lượng. Du khách thăm quan và mua sắm tại hội chợ sẽ được hòa mình vào không khí chợ Tết xưa, mua sắm các sản phẩm thiết yếu trong dịp Tết. Hội chợ từ thiện "Chợ Tết xưa" có khoảng 40 gian hàng với nhiều mặt hàng đa dạng, phong phú trong dịp Tết cổ truyền như: thực phẩm (giò, gà, chả, gạo nếp, bánh chưng...), đồ khô (măng, miến, mộc nhĩ, bánh đa nem...), bánh kẹo Tết, lì xì, các sản phẩm thời trang... Ngoài ra, Hội chợ còn mang đến nhiều trò chơi và chương trình nghệ thuật dân gian hấp dẫn như: Kéo co, bịt mắt đánh trống, viết thư pháp, nặn tò he, gói bánh chưng, biểu diễn xiếc, ảo thuật... Hơn hết, Hội chợ từ thiện "Chợ Tết xưa" là dịp xã hội chung tay, chia sẻ yêu thương mang Tết về cho những bệnh nhi đón Tết trong bệnh viện.

Hội chợ từ thiện "Chợ Tết xưa" mang ý nghĩa nhân văn cao đẹp

Các mặt hàng được cam kết đảm bảo về giá cả và chất lượng. Du khách thăm quan và mua sắm tại hội chợ sẽ được hòa mình vào không khí chợ Tết xưa, mua sắm các sản phẩm thiết yếu trong dịp Tết. Hội chợ từ thiện "Chợ Tết xưa" có khoảng 40 gian hàng với nhiều mặt hàng đa dạng, phong phú trong dịp Tết cổ truyền như: thực phẩm (giò, gà, chả, gạo nếp, bánh chưng...), đồ khô (măng, miến, mộc nhĩ, bánh đa nem...), bánh kẹo Tết, lì xì, các sản phẩm thời trang... Ngoài ra, Hội chợ còn mang đến nhiều trò chơi và chương trình nghệ thuật dân gian hấp dẫn như: Kéo co, bịt mắt đánh trống, viết thư pháp, nặn tò he, gói bánh chưng, biểu diễn xiếc, ảo thuật... Hơn hết, Hội chợ từ thiện "Chợ Tết xưa" là dịp xã hội chung tay, chia sẻ yêu thương mang Tết về cho những bệnh nhi đón Tết trong bệnh viện.

Tò he trong hội chợ từ thiện "Chợ Tết xưa"

Hội chợ từ thiện "Chợ Tết xưa" tái hiện tinh tế không gian chợ Tết truyền thống, là hoạt động từ thiện ý nghĩa giúp đỡ bệnh nhi không được về sum họp với gia đình trong dịp Tết.

Related Figures

Lễ hội chùa Tà Lài (chùa Bụt Bay)

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 8/1 Âm lịch Chùa Tà Lài (còn có nhiều tên gọi khác là chùa Bụt Bay hay chùa Thanh Hương) được người dân xứ Lạng và du khách thập phương ví như chùa Hương thu nhỏ thứ 2; bởi đây là ngôi chùa rất linh thiêng, cầu được ước thấy, xin sao được vậy. Lễ hội chùa Tà Lài được tổ chức vào ngày 8 tháng Giêng âm lịch hàng năm. Đông đảo người dân và du khách tham gia lễ hội chùa Tà Lài Chùa Tà Lài được dòng họ Nguyễn Đình dựng lên từ thế kỷ XVIII, ghi danh tích Đô tổng binh sứ ty, Bắc quân Đô Đốc phủ Hữu đô đốc Nguyễn Đình Lộc. Chùa Tà Lài nằm ở lưng chừng núi Phia Chàu thuộc thôn Tà Lài, xã Tân Mỹ, huyện Văn Lãng, cách thành phố Lạng Sơn 20km. Theo truyền thuyêt, sau một đêm mưa to gió lớn, gió giật, sấm chớp đùng đùng; sáng hôm sau trời quang mây tạnh người dân nghe tiếng chuông lạ vọng ra từ núi Phia Chàu. Các cụ trong làng cử người đi kiểm tra thì phát hiện một quả chuông và một gắp gianh ở trong hang. Cho người đi xem hang Bó Chi thì thấy mất chuông, tranh tre đổ ngôn ngang. Vì vậy, các cụ cho lập chùa tại đây, vì thế chùa còn có tên là chùa Bụt Bay. Từ đó đến nay, chùa trải qua nhiều đợt tu bổ, tôn tạo để có được cảnh quan như hiện tại. Đặc biệt, năm 2006 chùa được tu bổ, tôn tạo với quy mô lớn, hệ thống cung thờ và tượng thờ được bổ sung phong phú hơn (cung Mẫu, cung Sơn Trang, các tượng mẫu...) thể hiện sự phối thờ "Tiền Thánh - Hậu Phật". Chùa Tà Lài nổi tiếng linh thiêng thu hút đông đảo người dân cúng lễ Lễ hội chùa Tà Lài đông nhất từ khoảng 9h sáng kéo dài đến khoảng 16h chiều. Nổi tiếng linh thiếng, chùa Tà Lài thu hút đông đảo du khách trong và ngoài tỉnh tới thăm quan, cầu tài, cầu lộc. Trong ngày diễn ra lễ hội, du khách đứng chật cứng cầu khấn tại chùa Tà Lài. Bàn thờ các vị thánh trong lễ hội chùa Tà Lài Trải qua nhiều biến cố và thăng trầm lịch sử, chùa Tà Lài vẫn luôn tồn tại cùng thời gian, trở thành điểm sinh hoạt văn hóa tâm linh của người dân địa phương và du khách thập phương. Lễ hội chùa Tà Lài là lễ hội hấp dẫn du khách hành hương không thể bỏ qua trong dịp lễ đầu năm tại xứ Lạng.

Đông đảo người dân và du khách tham gia lễ hội chùa Tà Lài Chùa Tà Lài được dòng họ Nguyễn Đình dựng lên từ thế kỷ XVIII, ghi danh tích Đô tổng binh sứ ty, Bắc quân Đô Đốc phủ Hữu đô đốc Nguyễn Đình Lộc. Chùa Tà Lài nằm ở lưng chừng núi Phia Chàu thuộc thôn Tà Lài, xã Tân Mỹ, huyện Văn Lãng, cách thành phố Lạng Sơn 20km. Theo truyền thuyêt, sau một đêm mưa to gió lớn, gió giật, sấm chớp đùng đùng; sáng hôm sau trời quang mây tạnh người dân nghe tiếng chuông lạ vọng ra từ núi Phia Chàu. Các cụ trong làng cử người đi kiểm tra thì phát hiện một quả chuông và một gắp gianh ở trong hang. Cho người đi xem hang Bó Chi thì thấy mất chuông, tranh tre đổ ngôn ngang. Vì vậy, các cụ cho lập chùa tại đây, vì thế chùa còn có tên là chùa Bụt Bay. Từ đó đến nay, chùa trải qua nhiều đợt tu bổ, tôn tạo để có được cảnh quan như hiện tại. Đặc biệt, năm 2006 chùa được tu bổ, tôn tạo với quy mô lớn, hệ thống cung thờ và tượng thờ được bổ sung phong phú hơn (cung Mẫu, cung Sơn Trang, các tượng mẫu...) thể hiện sự phối thờ "Tiền Thánh - Hậu Phật". Chùa Tà Lài nổi tiếng linh thiêng thu hút đông đảo người dân cúng lễ Lễ hội chùa Tà Lài đông nhất từ khoảng 9h sáng kéo dài đến khoảng 16h chiều. Nổi tiếng linh thiếng, chùa Tà Lài thu hút đông đảo du khách trong và ngoài tỉnh tới thăm quan, cầu tài, cầu lộc. Trong ngày diễn ra lễ hội, du khách đứng chật cứng cầu khấn tại chùa Tà Lài. Bàn thờ các vị thánh trong lễ hội chùa Tà Lài Trải qua nhiều biến cố và thăng trầm lịch sử, chùa Tà Lài vẫn luôn tồn tại cùng thời gian, trở thành điểm sinh hoạt văn hóa tâm linh của người dân địa phương và du khách thập phương. Lễ hội chùa Tà Lài là lễ hội hấp dẫn du khách hành hương không thể bỏ qua trong dịp lễ đầu năm tại xứ Lạng.

Chùa Tà Lài được dòng họ Nguyễn Đình dựng lên từ thế kỷ XVIII, ghi danh tích Đô tổng binh sứ ty, Bắc quân Đô Đốc phủ Hữu đô đốc Nguyễn Đình Lộc. Chùa Tà Lài nằm ở lưng chừng núi Phia Chàu thuộc thôn Tà Lài, xã Tân Mỹ, huyện Văn Lãng, cách thành phố Lạng Sơn 20km. Theo truyền thuyêt, sau một đêm mưa to gió lớn, gió giật, sấm chớp đùng đùng; sáng hôm sau trời quang mây tạnh người dân nghe tiếng chuông lạ vọng ra từ núi Phia Chàu. Các cụ trong làng cử người đi kiểm tra thì phát hiện một quả chuông và một gắp gianh ở trong hang. Cho người đi xem hang Bó Chi thì thấy mất chuông, tranh tre đổ ngôn ngang. Vì vậy, các cụ cho lập chùa tại đây, vì thế chùa còn có tên là chùa Bụt Bay. Từ đó đến nay, chùa trải qua nhiều đợt tu bổ, tôn tạo để có được cảnh quan như hiện tại. Đặc biệt, năm 2006 chùa được tu bổ, tôn tạo với quy mô lớn, hệ thống cung thờ và tượng thờ được bổ sung phong phú hơn (cung Mẫu, cung Sơn Trang, các tượng mẫu...) thể hiện sự phối thờ "Tiền Thánh - Hậu Phật".

Chùa Tà Lài nổi tiếng linh thiêng thu hút đông đảo người dân cúng lễ

Lễ hội chùa Tà Lài đông nhất từ khoảng 9h sáng kéo dài đến khoảng 16h chiều. Nổi tiếng linh thiếng, chùa Tà Lài thu hút đông đảo du khách trong và ngoài tỉnh tới thăm quan, cầu tài, cầu lộc. Trong ngày diễn ra lễ hội, du khách đứng chật cứng cầu khấn tại chùa Tà Lài.

Bàn thờ các vị thánh trong lễ hội chùa Tà Lài

Trải qua nhiều biến cố và thăng trầm lịch sử, chùa Tà Lài vẫn luôn tồn tại cùng thời gian, trở thành điểm sinh hoạt văn hóa tâm linh của người dân địa phương và du khách thập phương. Lễ hội chùa Tà Lài là lễ hội hấp dẫn du khách hành hương không thể bỏ qua trong dịp lễ đầu năm tại xứ Lạng.

Related Figures

Lễ tế Cá Ông

Thông tin thời kỳ

Lễ tế Cá Ông của các làng chài Hội An - Quảng Nam thường được tổ chức vào dịp cầu ngư hàng năm. Đây được xem là lễ hội lớn nhất của ngư dân tỉnh Quảng Nam. Thờ phụng cá ông không chỉ thể hiện sự tôn kính với thần linh mà còn gắn liền vợi sự hưng thịnh của cả làng cá. Lễ tế Cá Ông tại Quảng Nam diễn ra trang nghiêm Cá Ông là cá voi lưng xám, theo ngư dân ở đây chính là thần Nam Hải. Việc Cá Ông liên tục cứu giúp ngư diên miền biển khi gặp giông bão khiến tục tờ Cá Ông trở thành nét văn hóa của Việt Nam. Ngư dân thường phối thờ Cá Ông cùng các vị thần khác đã giúp đỡ và phù hộ cho họ có cuộc sống no ấm như: Ngũ Hành nương nương, Hữu Lý Ngư, Tả Lý Lịch... Lễ rước trong lễ tế Cá Ông tại Quảng Nam Trong ngày lễ hội Tế Cá Ông, bàn thờ được trang hoàng rực rỡ, trang nghiêm. Tất cả ngư dân đều đặt bàn hương án bày đồ lễ cúng. Trên các tàu thuyền đều chăng đèn, kết hoa. Lễ cầu an được tổ chức vào đêm đầu tiên tại làng Cá Ông với sự điều khiển của các vị chánh bái, là những vị cao niên có uy tín lớn trong làng chài. Chánh bái dâng đồ lễ và đọc văn tế thể hiện lòng biết ơn của dân làng với công đức Cá Ông và cầu mong thuyền bè ra khơi về lọng an toàn, đánh bắt bội thu. Rạng sáng hôm sau, dân làng đánh trống làm lễ rước trên biển. Tất cả tàu thuyền ra khơi đến một vị trí đã được xác định trước để vị chánh tế tổ chức "xin keo". Đây là nghi lễ để Cá Ông chứng dám lòng thành của ngư dân. Đến nửa đêm hôm sau, dân làng làm lễ chánh tế bao gồm lễ khai mõ, đội học trò dâng hương, tổ chức hát bá trạo, hát bội và hát trò khoan. Chèo bá trạo là loại hình văn nghệ dân gian với trang phục đặc biệt. Những người tham gia vừa hò, vừa lĩnh xướng, vừa làm động tác chèo thuyền ở trên bờ nhằm miêu tả cảnh sinh hoạt trên sông nước của ngư dân. Những câu hát là lời tri ân Cá Ông đã cứu giúp ngư dân thoát nạn. Chánh bái làm lễ trong lễ tế Cá Ông Lễ tế Cá Ông thường diễn ra trong hai ngày vào trung tuần tháng 3 âm lịch. Vào ngày lễ, tàu thuyền dù ở xa cũng tập trung về bến để tham gia lễ hội Cá Ông ở Quảng Nam. Đây là lễ hội thu hút đông đảo người dân và du khách thập phương tham gia.

Lễ tế Cá Ông tại Quảng Nam diễn ra trang nghiêm Cá Ông là cá voi lưng xám, theo ngư dân ở đây chính là thần Nam Hải. Việc Cá Ông liên tục cứu giúp ngư diên miền biển khi gặp giông bão khiến tục tờ Cá Ông trở thành nét văn hóa của Việt Nam. Ngư dân thường phối thờ Cá Ông cùng các vị thần khác đã giúp đỡ và phù hộ cho họ có cuộc sống no ấm như: Ngũ Hành nương nương, Hữu Lý Ngư, Tả Lý Lịch... Lễ rước trong lễ tế Cá Ông tại Quảng Nam Trong ngày lễ hội Tế Cá Ông, bàn thờ được trang hoàng rực rỡ, trang nghiêm. Tất cả ngư dân đều đặt bàn hương án bày đồ lễ cúng. Trên các tàu thuyền đều chăng đèn, kết hoa. Lễ cầu an được tổ chức vào đêm đầu tiên tại làng Cá Ông với sự điều khiển của các vị chánh bái, là những vị cao niên có uy tín lớn trong làng chài. Chánh bái dâng đồ lễ và đọc văn tế thể hiện lòng biết ơn của dân làng với công đức Cá Ông và cầu mong thuyền bè ra khơi về lọng an toàn, đánh bắt bội thu. Rạng sáng hôm sau, dân làng đánh trống làm lễ rước trên biển. Tất cả tàu thuyền ra khơi đến một vị trí đã được xác định trước để vị chánh tế tổ chức "xin keo". Đây là nghi lễ để Cá Ông chứng dám lòng thành của ngư dân. Đến nửa đêm hôm sau, dân làng làm lễ chánh tế bao gồm lễ khai mõ, đội học trò dâng hương, tổ chức hát bá trạo, hát bội và hát trò khoan. Chèo bá trạo là loại hình văn nghệ dân gian với trang phục đặc biệt. Những người tham gia vừa hò, vừa lĩnh xướng, vừa làm động tác chèo thuyền ở trên bờ nhằm miêu tả cảnh sinh hoạt trên sông nước của ngư dân. Những câu hát là lời tri ân Cá Ông đã cứu giúp ngư dân thoát nạn. Chánh bái làm lễ trong lễ tế Cá Ông Lễ tế Cá Ông thường diễn ra trong hai ngày vào trung tuần tháng 3 âm lịch. Vào ngày lễ, tàu thuyền dù ở xa cũng tập trung về bến để tham gia lễ hội Cá Ông ở Quảng Nam. Đây là lễ hội thu hút đông đảo người dân và du khách thập phương tham gia.

Cá Ông là cá voi lưng xám, theo ngư dân ở đây chính là thần Nam Hải. Việc Cá Ông liên tục cứu giúp ngư diên miền biển khi gặp giông bão khiến tục tờ Cá Ông trở thành nét văn hóa của Việt Nam. Ngư dân thường phối thờ Cá Ông cùng các vị thần khác đã giúp đỡ và phù hộ cho họ có cuộc sống no ấm như: Ngũ Hành nương nương, Hữu Lý Ngư, Tả Lý Lịch...

Lễ rước trong lễ tế Cá Ông tại Quảng Nam

Trong ngày lễ hội Tế Cá Ông, bàn thờ được trang hoàng rực rỡ, trang nghiêm. Tất cả ngư dân đều đặt bàn hương án bày đồ lễ cúng. Trên các tàu thuyền đều chăng đèn, kết hoa. Lễ cầu an được tổ chức vào đêm đầu tiên tại làng Cá Ông với sự điều khiển của các vị chánh bái, là những vị cao niên có uy tín lớn trong làng chài. Chánh bái dâng đồ lễ và đọc văn tế thể hiện lòng biết ơn của dân làng với công đức Cá Ông và cầu mong thuyền bè ra khơi về lọng an toàn, đánh bắt bội thu. Rạng sáng hôm sau, dân làng đánh trống làm lễ rước trên biển. Tất cả tàu thuyền ra khơi đến một vị trí đã được xác định trước để vị chánh tế tổ chức "xin keo". Đây là nghi lễ để Cá Ông chứng dám lòng thành của ngư dân. Đến nửa đêm hôm sau, dân làng làm lễ chánh tế bao gồm lễ khai mõ, đội học trò dâng hương, tổ chức hát bá trạo, hát bội và hát trò khoan. Chèo bá trạo là loại hình văn nghệ dân gian với trang phục đặc biệt. Những người tham gia vừa hò, vừa lĩnh xướng, vừa làm động tác chèo thuyền ở trên bờ nhằm miêu tả cảnh sinh hoạt trên sông nước của ngư dân. Những câu hát là lời tri ân Cá Ông đã cứu giúp ngư dân thoát nạn.

Chánh bái làm lễ trong lễ tế Cá Ông

Lễ tế Cá Ông thường diễn ra trong hai ngày vào trung tuần tháng 3 âm lịch. Vào ngày lễ, tàu thuyền dù ở xa cũng tập trung về bến để tham gia lễ hội Cá Ông ở Quảng Nam. Đây là lễ hội thu hút đông đảo người dân và du khách thập phương tham gia.

Related Figures

Hoạt động văn hóa - lễ hội dọc bờ sông Hàn

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 27/1- 24/2 Dương lịch Hoạt động văn hóa - lễ hội dọc bờ sông Hàn năm 2018 nhằm tạo môi trường sinh hoạt văn hóa tại hai tuyến đường bờ sông Hàn; góp phần vào việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa nghệ thuật đặc sắc tại địa phương; đáp ứng nhu cầu thưởng thức, giao lưu, giải trí của người dân đồng thời thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế. Sẽ diễn ra nhiều hoạt động văn hóa - lễ hội dọc bờ sông Hàn năm 2018 Vũ hội đường phố được tổ chức định kỳ vào 19h30-21h30 thứ bảy cuối cùng mỗi tháng từ 27/01-24/02/2018 tại đường Trần Hưng Đạo (đoạn đường từ Lý Nam Đế đến Triệu Việt Vương). Vũ hội đường phố sẽ biểu diễn nhạc hơi bao gồm nhiều tác phẩm âm nhạc nổi tiếng trong nước và quốc tế với giai điệu vui tươi, nhộn nhịp, hùng tráng... Những vũ công trong trang phục đẹp mắt, diễu hành và khiêu vũ tại chỗ là điểm thu hút của vũ hội đường phố. Vũ hội đường phố trong hoạt động văn hóa - lễ hội dọc bờ sông Hàn Hô hát bài chòi được tổ chức từ 17h-21h30 thứ bảy, chủ nhật hàng tuần tại vỉa hè đường Trần Hưng Đạo, đoạn phía nam bờ đông cầu Rồng, quận Sơn Trà. Hô hát bài chòi góp phần tạo nên không khí sôi động trong chuỗi văn hóa, giải trí dọc hai bờ sông Hàn tại Đà Nẵng. Hiện tại, hô hát bài chòi do CLB Dân ca bài chòi (thuộc Trung tâm Văn hóa thành phố) thực hiện. CLB có 15 thành viên là những nghệ nhân ưu tú về bài chòi. Khi tham gia chơi, mỗi người nhận được một thẻ bài, trên đó có dán ba lá bài khác nhau và ngồi vào các chòi dựng sẵn, nghe anh hiệu hô hát cho đến khi có người thắng cuộc thì kết thúc một lượt chơi. Chương trình biểu diễn trong hoạt động văn hóa - lễ hội dọc bờ sông Hàn Chương trình biểu diễn nhạc hơi đem đến những ca khúc Cách mạng Việt Nam hào hùng và nhiều ca khúc quốc tế được thể hiện bằng nhạc cụ hơi. Chương trình âm nhạc đường phố số đặc biệt chào xuân Mậu Tuất 2018 được tổ chức từ 19h30-21h30 ngày 24/02/2018 tại Công viên phía Nam, bờ Tây cầu Rồng.

Hoạt động văn hóa - lễ hội dọc bờ sông Hàn năm 2018 nhằm tạo môi trường sinh hoạt văn hóa tại hai tuyến đường bờ sông Hàn; góp phần vào việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa nghệ thuật đặc sắc tại địa phương; đáp ứng nhu cầu thưởng thức, giao lưu, giải trí của người dân đồng thời thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế. Sẽ diễn ra nhiều hoạt động văn hóa - lễ hội dọc bờ sông Hàn năm 2018 Vũ hội đường phố được tổ chức định kỳ vào 19h30-21h30 thứ bảy cuối cùng mỗi tháng từ 27/01-24/02/2018 tại đường Trần Hưng Đạo (đoạn đường từ Lý Nam Đế đến Triệu Việt Vương). Vũ hội đường phố sẽ biểu diễn nhạc hơi bao gồm nhiều tác phẩm âm nhạc nổi tiếng trong nước và quốc tế với giai điệu vui tươi, nhộn nhịp, hùng tráng... Những vũ công trong trang phục đẹp mắt, diễu hành và khiêu vũ tại chỗ là điểm thu hút của vũ hội đường phố. Vũ hội đường phố trong hoạt động văn hóa - lễ hội dọc bờ sông Hàn Hô hát bài chòi được tổ chức từ 17h-21h30 thứ bảy, chủ nhật hàng tuần tại vỉa hè đường Trần Hưng Đạo, đoạn phía nam bờ đông cầu Rồng, quận Sơn Trà. Hô hát bài chòi góp phần tạo nên không khí sôi động trong chuỗi văn hóa, giải trí dọc hai bờ sông Hàn tại Đà Nẵng. Hiện tại, hô hát bài chòi do CLB Dân ca bài chòi (thuộc Trung tâm Văn hóa thành phố) thực hiện. CLB có 15 thành viên là những nghệ nhân ưu tú về bài chòi. Khi tham gia chơi, mỗi người nhận được một thẻ bài, trên đó có dán ba lá bài khác nhau và ngồi vào các chòi dựng sẵn, nghe anh hiệu hô hát cho đến khi có người thắng cuộc thì kết thúc một lượt chơi. Chương trình biểu diễn trong hoạt động văn hóa - lễ hội dọc bờ sông Hàn Chương trình biểu diễn nhạc hơi đem đến những ca khúc Cách mạng Việt Nam hào hùng và nhiều ca khúc quốc tế được thể hiện bằng nhạc cụ hơi. Chương trình âm nhạc đường phố số đặc biệt chào xuân Mậu Tuất 2018 được tổ chức từ 19h30-21h30 ngày 24/02/2018 tại Công viên phía Nam, bờ Tây cầu Rồng.

Hoạt động văn hóa - lễ hội dọc bờ sông Hàn năm 2018 nhằm tạo môi trường sinh hoạt văn hóa tại hai tuyến đường bờ sông Hàn; góp phần vào việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa nghệ thuật đặc sắc tại địa phương; đáp ứng nhu cầu thưởng thức, giao lưu, giải trí của người dân đồng thời thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế.

Sẽ diễn ra nhiều hoạt động văn hóa - lễ hội dọc bờ sông Hàn năm 2018 Vũ hội đường phố được tổ chức định kỳ vào 19h30-21h30 thứ bảy cuối cùng mỗi tháng từ 27/01-24/02/2018 tại đường Trần Hưng Đạo (đoạn đường từ Lý Nam Đế đến Triệu Việt Vương). Vũ hội đường phố sẽ biểu diễn nhạc hơi bao gồm nhiều tác phẩm âm nhạc nổi tiếng trong nước và quốc tế với giai điệu vui tươi, nhộn nhịp, hùng tráng... Những vũ công trong trang phục đẹp mắt, diễu hành và khiêu vũ tại chỗ là điểm thu hút của vũ hội đường phố. Vũ hội đường phố trong hoạt động văn hóa - lễ hội dọc bờ sông Hàn Hô hát bài chòi được tổ chức từ 17h-21h30 thứ bảy, chủ nhật hàng tuần tại vỉa hè đường Trần Hưng Đạo, đoạn phía nam bờ đông cầu Rồng, quận Sơn Trà. Hô hát bài chòi góp phần tạo nên không khí sôi động trong chuỗi văn hóa, giải trí dọc hai bờ sông Hàn tại Đà Nẵng. Hiện tại, hô hát bài chòi do CLB Dân ca bài chòi (thuộc Trung tâm Văn hóa thành phố) thực hiện. CLB có 15 thành viên là những nghệ nhân ưu tú về bài chòi. Khi tham gia chơi, mỗi người nhận được một thẻ bài, trên đó có dán ba lá bài khác nhau và ngồi vào các chòi dựng sẵn, nghe anh hiệu hô hát cho đến khi có người thắng cuộc thì kết thúc một lượt chơi. Chương trình biểu diễn trong hoạt động văn hóa - lễ hội dọc bờ sông Hàn Chương trình biểu diễn nhạc hơi đem đến những ca khúc Cách mạng Việt Nam hào hùng và nhiều ca khúc quốc tế được thể hiện bằng nhạc cụ hơi. Chương trình âm nhạc đường phố số đặc biệt chào xuân Mậu Tuất 2018 được tổ chức từ 19h30-21h30 ngày 24/02/2018 tại Công viên phía Nam, bờ Tây cầu Rồng.

Vũ hội đường phố được tổ chức định kỳ vào 19h30-21h30 thứ bảy cuối cùng mỗi tháng từ 27/01-24/02/2018 tại đường Trần Hưng Đạo (đoạn đường từ Lý Nam Đế đến Triệu Việt Vương). Vũ hội đường phố sẽ biểu diễn nhạc hơi bao gồm nhiều tác phẩm âm nhạc nổi tiếng trong nước và quốc tế với giai điệu vui tươi, nhộn nhịp, hùng tráng... Những vũ công trong trang phục đẹp mắt, diễu hành và khiêu vũ tại chỗ là điểm thu hút của vũ hội đường phố. Vũ hội đường phố trong hoạt động văn hóa - lễ hội dọc bờ sông Hàn Hô hát bài chòi được tổ chức từ 17h-21h30 thứ bảy, chủ nhật hàng tuần tại vỉa hè đường Trần Hưng Đạo, đoạn phía nam bờ đông cầu Rồng, quận Sơn Trà. Hô hát bài chòi góp phần tạo nên không khí sôi động trong chuỗi văn hóa, giải trí dọc hai bờ sông Hàn tại Đà Nẵng. Hiện tại, hô hát bài chòi do CLB Dân ca bài chòi (thuộc Trung tâm Văn hóa thành phố) thực hiện. CLB có 15 thành viên là những nghệ nhân ưu tú về bài chòi. Khi tham gia chơi, mỗi người nhận được một thẻ bài, trên đó có dán ba lá bài khác nhau và ngồi vào các chòi dựng sẵn, nghe anh hiệu hô hát cho đến khi có người thắng cuộc thì kết thúc một lượt chơi. Chương trình biểu diễn trong hoạt động văn hóa - lễ hội dọc bờ sông Hàn Chương trình biểu diễn nhạc hơi đem đến những ca khúc Cách mạng Việt Nam hào hùng và nhiều ca khúc quốc tế được thể hiện bằng nhạc cụ hơi. Chương trình âm nhạc đường phố số đặc biệt chào xuân Mậu Tuất 2018 được tổ chức từ 19h30-21h30 ngày 24/02/2018 tại Công viên phía Nam, bờ Tây cầu Rồng.

Vũ hội đường phố được tổ chức định kỳ vào 19h30-21h30 thứ bảy cuối cùng mỗi tháng từ 27/01-24/02/2018 tại đường Trần Hưng Đạo (đoạn đường từ Lý Nam Đế đến Triệu Việt Vương). Vũ hội đường phố sẽ biểu diễn nhạc hơi bao gồm nhiều tác phẩm âm nhạc nổi tiếng trong nước và quốc tế với giai điệu vui tươi, nhộn nhịp, hùng tráng... Những vũ công trong trang phục đẹp mắt, diễu hành và khiêu vũ tại chỗ là điểm thu hút của vũ hội đường phố.

Vũ hội đường phố trong hoạt động văn hóa - lễ hội dọc bờ sông Hàn

Hô hát bài chòi được tổ chức từ 17h-21h30 thứ bảy, chủ nhật hàng tuần tại vỉa hè đường Trần Hưng Đạo, đoạn phía nam bờ đông cầu Rồng, quận Sơn Trà. Hô hát bài chòi góp phần tạo nên không khí sôi động trong chuỗi văn hóa, giải trí dọc hai bờ sông Hàn tại Đà Nẵng. Hiện tại, hô hát bài chòi do CLB Dân ca bài chòi (thuộc Trung tâm Văn hóa thành phố) thực hiện. CLB có 15 thành viên là những nghệ nhân ưu tú về bài chòi. Khi tham gia chơi, mỗi người nhận được một thẻ bài, trên đó có dán ba lá bài khác nhau và ngồi vào các chòi dựng sẵn, nghe anh hiệu hô hát cho đến khi có người thắng cuộc thì kết thúc một lượt chơi.

Chương trình biểu diễn trong hoạt động văn hóa - lễ hội dọc bờ sông Hàn

Chương trình biểu diễn nhạc hơi đem đến những ca khúc Cách mạng Việt Nam hào hùng và nhiều ca khúc quốc tế được thể hiện bằng nhạc cụ hơi.

Chương trình âm nhạc đường phố số đặc biệt chào xuân Mậu Tuất 2018 được tổ chức từ 19h30-21h30 ngày 24/02/2018 tại Công viên phía Nam, bờ Tây cầu Rồng.

Related Figures

Hội Tết Nguyên Đán Mậu Tuất Hội An 2018

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 8/2- 4/3 Dương lịch Tết Nguyên Đán là ngày lễ thiêng liêng và quan trọng nhất trong đời sống văn hóa người Việt. Đây là dịp để mỗi người hướng về cội nguồn, về những giá trị tâm linh đã trở thành truyền thống tốt đẹp từ bao đời nay của dân tộc ta. Đây cũng là dịp gắn kết gia đình, dòng họ. Hòa trong không khí sôi nổi dịp Tết đến xuân về, Hội An tổ chức nhiều hoạt động vui chơi, giải trí trong ngày Hội Tết Nguyên Đán Mậu Tuất 2018. Hội Tết Nguyên Đán Mậu Tuất Hội An 2018 hứa hẹn thu hút đông khách du lịch Thành phố Hội An nằm cách Đà Nẵng 20km sẽ tổ chức nhiều hoạt động vui chơi, giải trí mang màu sắc văn hóa đặc trưng của mảnh đất "Phố Hội, sông Hoài". Lễ hội hứa hẹn sẽ mang lại cho người dân và du khách khoảng thời gian giải trí trong dịp Tết Nguyên Đán Mậu Tuất 2018. Kế hoạch hội Tết Nguyên Đán Mậu Tuất Hội An 2018 Phố cổ Hội An trong những ngày đầu năm tràn ngập không khí sắc màu Tết cổ truyền với nhiều nét văn hóa cổ kết hợp với kiến trúc cổ đem đến cho du khách cảm giác hoài niệm về những thế kỷ trước. Đến Hội An, du khách không chỉ được chiêm ngưỡng nét văn hóa đặc sắc, những công trình trúc độc đáo mà còn được thưởng thức những món ăn nổi tiếng miền Trung. Đặc biệt, nhiều chương trình và hoạt động sôi nổi đang chờ đón du khách như: Ngày hội bánh chưng; Liên hoan ca khúc Xuân, Bolero; Hội đón giao thừa Mậu Tuất 2018; Đoàn rước Sắc bùa chúc xuân, Lễ hội cầu Bông Trà Quế... Hoạt động thường xuyên của Hội Tết Nguyên Đán Mậu Tuất Hội An 2018 Hội Tết Nguyên Đán Mậu Tuất Hội An 2018 là một trong những lễ hội tạo điểm nhấ cho du lịch Hội An trong dịp năm mới. Đây là dịp để Quảng Nam thu hút khách du lịch du xuân.

Hội Tết Nguyên Đán Mậu Tuất Hội An 2018 hứa hẹn thu hút đông khách du lịch Thành phố Hội An nằm cách Đà Nẵng 20km sẽ tổ chức nhiều hoạt động vui chơi, giải trí mang màu sắc văn hóa đặc trưng của mảnh đất "Phố Hội, sông Hoài". Lễ hội hứa hẹn sẽ mang lại cho người dân và du khách khoảng thời gian giải trí trong dịp Tết Nguyên Đán Mậu Tuất 2018. Kế hoạch hội Tết Nguyên Đán Mậu Tuất Hội An 2018 Phố cổ Hội An trong những ngày đầu năm tràn ngập không khí sắc màu Tết cổ truyền với nhiều nét văn hóa cổ kết hợp với kiến trúc cổ đem đến cho du khách cảm giác hoài niệm về những thế kỷ trước. Đến Hội An, du khách không chỉ được chiêm ngưỡng nét văn hóa đặc sắc, những công trình trúc độc đáo mà còn được thưởng thức những món ăn nổi tiếng miền Trung. Đặc biệt, nhiều chương trình và hoạt động sôi nổi đang chờ đón du khách như: Ngày hội bánh chưng; Liên hoan ca khúc Xuân, Bolero; Hội đón giao thừa Mậu Tuất 2018; Đoàn rước Sắc bùa chúc xuân, Lễ hội cầu Bông Trà Quế... Hoạt động thường xuyên của Hội Tết Nguyên Đán Mậu Tuất Hội An 2018 Hội Tết Nguyên Đán Mậu Tuất Hội An 2018 là một trong những lễ hội tạo điểm nhấ cho du lịch Hội An trong dịp năm mới. Đây là dịp để Quảng Nam thu hút khách du lịch du xuân.

Thành phố Hội An nằm cách Đà Nẵng 20km sẽ tổ chức nhiều hoạt động vui chơi, giải trí mang màu sắc văn hóa đặc trưng của mảnh đất "Phố Hội, sông Hoài". Lễ hội hứa hẹn sẽ mang lại cho người dân và du khách khoảng thời gian giải trí trong dịp Tết Nguyên Đán Mậu Tuất 2018.

Kế hoạch hội Tết Nguyên Đán Mậu Tuất Hội An 2018

Phố cổ Hội An trong những ngày đầu năm tràn ngập không khí sắc màu Tết cổ truyền với nhiều nét văn hóa cổ kết hợp với kiến trúc cổ đem đến cho du khách cảm giác hoài niệm về những thế kỷ trước. Đến Hội An, du khách không chỉ được chiêm ngưỡng nét văn hóa đặc sắc, những công trình trúc độc đáo mà còn được thưởng thức những món ăn nổi tiếng miền Trung. Đặc biệt, nhiều chương trình và hoạt động sôi nổi đang chờ đón du khách như: Ngày hội bánh chưng; Liên hoan ca khúc Xuân, Bolero; Hội đón giao thừa Mậu Tuất 2018; Đoàn rước Sắc bùa chúc xuân, Lễ hội cầu Bông Trà Quế...

Hoạt động thường xuyên của Hội Tết Nguyên Đán Mậu Tuất Hội An 2018

Hội Tết Nguyên Đán Mậu Tuất Hội An 2018 là một trong những lễ hội tạo điểm nhấ cho du lịch Hội An trong dịp năm mới. Đây là dịp để Quảng Nam thu hút khách du lịch du xuân.

Related Figures

Lễ hội hoa Sun World Ba Na Hills 2018

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/2- 9/3 Dương lịch Lễ hội hoa Sun World Ba Na Hills 2018 là lễ hội hoa tưng bừng sắc màu của hàng trăm loài hoa đua nhau khoe sắc cùng nhiều chương trình biểu diễn nghệ thuật đặc sắc. Lễ hội hoa Sun World Ba Na Hills diễn ra ở thiên đường hoa trên mây Từ ngày 10/2-9/3/2018, lễ hội hoa Sun World Ba Na Hills sẽ diễn ra tại khu du lịch Sun World Ba Na Hills - Đường lên tiên cảnh. Hàng ngàn cây hoa đủ chủng loại sẽ hội tụ, đua nhau khoe sắc, mang hương xuân về Bà Nà Núi Chúa. Du khách tham dự lễ hội hoa sẽ cảm nhận bầu không khí lễ hội thực sự của nhiều hoạt động trình diễn nghệ thuật, lễ hội đường phố... Hàng trăm loài hoa lạ và quý hiếm đua sắc, giai điệu êm dịu và những nét đẹp văn hóa châu Âu tinh tế thể hiện ở khắp nơi trên Ba Na Hills. Hoa đào chuông không thể thiếu trong lễ hội hoa Sun World Ba Na Hills Ghé thiên đường nghỉ dưỡng Ba Na Hills tham dự lễ hội hoa, du khách không chỉ được trải nghiệp 1 trong 10 hệ thống cáp treo hiện đại nhất thế giới và chiêm ngưỡng các công trình kiến trúc độc đáo mang nét cổ kính đặc trưng của châu Âu, mà còn được đắm mình vào không gian thơ mộng với muôn vàn loài hoa khoe sắc. Đặc trưng nhất ở Ba Na Hills là hoa Đào chuông, Cẩm tú cầu và Hồng tỉ muôi. Cẩm tú cầu khoe sắc trong lễ hội hoa Sun World Ba Na Hills Lễ hội hoa Sun World Ba Na Hills 2018 hứa hẹn mang lại cho du khách trong và ngoài nước không gian Tết Việt thuần chất, ấm cúng. Có thể nói không khí tại Lễ hội hoa khiến du khách vui quên lối về. Rất nhiều điều thú vị đang chờ đón du khách tại Lễ hội hoa Sun World Ba Na Hills 2018.

Lễ hội hoa Sun World Ba Na Hills diễn ra ở thiên đường hoa trên mây Từ ngày 10/2-9/3/2018, lễ hội hoa Sun World Ba Na Hills sẽ diễn ra tại khu du lịch Sun World Ba Na Hills - Đường lên tiên cảnh. Hàng ngàn cây hoa đủ chủng loại sẽ hội tụ, đua nhau khoe sắc, mang hương xuân về Bà Nà Núi Chúa. Du khách tham dự lễ hội hoa sẽ cảm nhận bầu không khí lễ hội thực sự của nhiều hoạt động trình diễn nghệ thuật, lễ hội đường phố... Hàng trăm loài hoa lạ và quý hiếm đua sắc, giai điệu êm dịu và những nét đẹp văn hóa châu Âu tinh tế thể hiện ở khắp nơi trên Ba Na Hills. Hoa đào chuông không thể thiếu trong lễ hội hoa Sun World Ba Na Hills Ghé thiên đường nghỉ dưỡng Ba Na Hills tham dự lễ hội hoa, du khách không chỉ được trải nghiệp 1 trong 10 hệ thống cáp treo hiện đại nhất thế giới và chiêm ngưỡng các công trình kiến trúc độc đáo mang nét cổ kính đặc trưng của châu Âu, mà còn được đắm mình vào không gian thơ mộng với muôn vàn loài hoa khoe sắc. Đặc trưng nhất ở Ba Na Hills là hoa Đào chuông, Cẩm tú cầu và Hồng tỉ muôi. Cẩm tú cầu khoe sắc trong lễ hội hoa Sun World Ba Na Hills Lễ hội hoa Sun World Ba Na Hills 2018 hứa hẹn mang lại cho du khách trong và ngoài nước không gian Tết Việt thuần chất, ấm cúng. Có thể nói không khí tại Lễ hội hoa khiến du khách vui quên lối về. Rất nhiều điều thú vị đang chờ đón du khách tại Lễ hội hoa Sun World Ba Na Hills 2018.

Từ ngày 10/2-9/3/2018, lễ hội hoa Sun World Ba Na Hills sẽ diễn ra tại khu du lịch Sun World Ba Na Hills - Đường lên tiên cảnh. Hàng ngàn cây hoa đủ chủng loại sẽ hội tụ, đua nhau khoe sắc, mang hương xuân về Bà Nà Núi Chúa. Du khách tham dự lễ hội hoa sẽ cảm nhận bầu không khí lễ hội thực sự của nhiều hoạt động trình diễn nghệ thuật, lễ hội đường phố... Hàng trăm loài hoa lạ và quý hiếm đua sắc, giai điệu êm dịu và những nét đẹp văn hóa châu Âu tinh tế thể hiện ở khắp nơi trên Ba Na Hills.

Hoa đào chuông không thể thiếu trong lễ hội hoa Sun World Ba Na Hills

Ghé thiên đường nghỉ dưỡng Ba Na Hills tham dự lễ hội hoa, du khách không chỉ được trải nghiệp 1 trong 10 hệ thống cáp treo hiện đại nhất thế giới và chiêm ngưỡng các công trình kiến trúc độc đáo mang nét cổ kính đặc trưng của châu Âu, mà còn được đắm mình vào không gian thơ mộng với muôn vàn loài hoa khoe sắc. Đặc trưng nhất ở Ba Na Hills là hoa Đào chuông, Cẩm tú cầu và Hồng tỉ muôi.

Cẩm tú cầu khoe sắc trong lễ hội hoa Sun World Ba Na Hills

Lễ hội hoa Sun World Ba Na Hills 2018 hứa hẹn mang lại cho du khách trong và ngoài nước không gian Tết Việt thuần chất, ấm cúng. Có thể nói không khí tại Lễ hội hoa khiến du khách vui quên lối về. Rất nhiều điều thú vị đang chờ đón du khách tại Lễ hội hoa Sun World Ba Na Hills 2018.

Related Figures

Lễ cúng bản của người Cống

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/3- 31/3 Âm lịch Lễ cúng bản của người Cống là sinh hoạt văn hóa cộng đồng gắn kết mọi người dân trong bản. Vào những ngày lễ, các ngả đường vào bản đều dựng cổng, cắm dấu hiệu kiêng kị không ai được vào bản. Sau đó, từng gia đình làm lễ cúng trên nương cầu mùa màng tốt tươi, cầu thần nước, thần rừng cho mùa màng thuận lợi, côn trùng và chim chóc không phá hoại. Thầy mo người Cống làm lễ cúng bản Người Cống là dân tộc thiểu số, cư trú chủ yếu ở huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu. Dẫu ít người nhưng người Cống vẫn giữ được nhiều nét văn hóa cổ truyền độc đáo. Ngoài kho tàng truyện thần thoại, ngụ ngôn phong phú thì tục cúng bản vẫn được người Cống lưu giữ nguyên vẹn. Không chỉ là hoạt động văn hóa tâm linh, tục cúng bản còn là hoạt động sinh hoạt văn hóa cộng đồng gắn kết bà con trong bản. Việc chuẩn bị thường do trưởng bản lo liệu nhưng việc hành lễ do một mình thầy mo tiến hành. Người dân trong bản mang lễ vật đến góp tại sân nhà trưởng bản. Thầy mo và vợ sẽ chuẩn bị mâm lễ vật cúng thần tại nhà. Mâm lễ vật bao gồm: gạo, hai cặp vòng tay bằng bạc của vợ thầy mo, hai quả trứng, những chiếc lá cây và một bó sợi dây màu sắc sặc sỡ. Lễ cúng bản không diễn ra tại nhà thầy mo mà được thực hiện ở một số nơi đặc biệt với người Cống. Mâm lễ cúng bản của người Cống Người Cống cho rằng nơi có nguồn nước là khu đất linh thiêng nhất trong bản, có sự hiện diện của thần nước và thần rừng. Ngày thường người dân trong bản không được qua lại khu vực này. Đến giờ tốt, thầy mo và người dân trong bản mới được lên đây làm lễ cúng bản. Sàn đặt lễ vật trong lễ cúng bản của người Cống Trai tráng trong bản chặt cây, phát quang tạo khoảng trống rồi dùng tre, nứa dựng một căn sàn nhỏ để thầy mo đặt lễ vật dâng lên các vị thần. Thầy mo kính cẩn dâng lễ, rót rượu rồi đọc bài cúng. Những bài cúng trong lễ cúng bản đều do tổ tiên truyền lại. Sau đó, thầy mo giết gà và mổ lợn để tế thần. Lông gà và gan lợn sẽ được giữ lại để làm thủ tục quan trọng trong phần sau lễ cúng bản. Những chiếc lông gà được cắm xuống ngôi nhà mới dựng để trừ tà. Gan lợn để thầy mo xem bói. Thầy mo nhìn những đường gân trên gan để dự đoán mọi việc sắp tới. Cùng lúc đó, đàn ông trong bản sẽ bắt bếp nấu chín đồ ăn. Sau lễ cúng, mọi người cùng nhau ăn uống theo cách của tổ tiên bao đời của người Cống trên khu đất thiêng, kê đá làm ghế, chặt lá chuối làm mâm. Cuối buổi lễ, thầy mo đan tấm liếp, cài lá cây xanh và những chiếc lông gà lên đó làm dấu hiệu cấm bản. Người Cống quan niệm nếu giữ được tấm liếp trong suốt những ngày cấm bản, dân làng sẽ được bình yên. Lễ cúng bản không chỉ là dịp thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn mà còn là dịp để đồng bào gặp gỡ nhau, vui chơi thỏa thích, thắt chặt tình đoàn kết, giúp đỡ nhau, xây dựng thôn bản.

Thầy mo người Cống làm lễ cúng bản Người Cống là dân tộc thiểu số, cư trú chủ yếu ở huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu. Dẫu ít người nhưng người Cống vẫn giữ được nhiều nét văn hóa cổ truyền độc đáo. Ngoài kho tàng truyện thần thoại, ngụ ngôn phong phú thì tục cúng bản vẫn được người Cống lưu giữ nguyên vẹn. Không chỉ là hoạt động văn hóa tâm linh, tục cúng bản còn là hoạt động sinh hoạt văn hóa cộng đồng gắn kết bà con trong bản. Việc chuẩn bị thường do trưởng bản lo liệu nhưng việc hành lễ do một mình thầy mo tiến hành. Người dân trong bản mang lễ vật đến góp tại sân nhà trưởng bản. Thầy mo và vợ sẽ chuẩn bị mâm lễ vật cúng thần tại nhà. Mâm lễ vật bao gồm: gạo, hai cặp vòng tay bằng bạc của vợ thầy mo, hai quả trứng, những chiếc lá cây và một bó sợi dây màu sắc sặc sỡ. Lễ cúng bản không diễn ra tại nhà thầy mo mà được thực hiện ở một số nơi đặc biệt với người Cống. Mâm lễ cúng bản của người Cống Người Cống cho rằng nơi có nguồn nước là khu đất linh thiêng nhất trong bản, có sự hiện diện của thần nước và thần rừng. Ngày thường người dân trong bản không được qua lại khu vực này. Đến giờ tốt, thầy mo và người dân trong bản mới được lên đây làm lễ cúng bản. Sàn đặt lễ vật trong lễ cúng bản của người Cống Trai tráng trong bản chặt cây, phát quang tạo khoảng trống rồi dùng tre, nứa dựng một căn sàn nhỏ để thầy mo đặt lễ vật dâng lên các vị thần. Thầy mo kính cẩn dâng lễ, rót rượu rồi đọc bài cúng. Những bài cúng trong lễ cúng bản đều do tổ tiên truyền lại. Sau đó, thầy mo giết gà và mổ lợn để tế thần. Lông gà và gan lợn sẽ được giữ lại để làm thủ tục quan trọng trong phần sau lễ cúng bản. Những chiếc lông gà được cắm xuống ngôi nhà mới dựng để trừ tà. Gan lợn để thầy mo xem bói. Thầy mo nhìn những đường gân trên gan để dự đoán mọi việc sắp tới. Cùng lúc đó, đàn ông trong bản sẽ bắt bếp nấu chín đồ ăn. Sau lễ cúng, mọi người cùng nhau ăn uống theo cách của tổ tiên bao đời của người Cống trên khu đất thiêng, kê đá làm ghế, chặt lá chuối làm mâm. Cuối buổi lễ, thầy mo đan tấm liếp, cài lá cây xanh và những chiếc lông gà lên đó làm dấu hiệu cấm bản. Người Cống quan niệm nếu giữ được tấm liếp trong suốt những ngày cấm bản, dân làng sẽ được bình yên. Lễ cúng bản không chỉ là dịp thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn mà còn là dịp để đồng bào gặp gỡ nhau, vui chơi thỏa thích, thắt chặt tình đoàn kết, giúp đỡ nhau, xây dựng thôn bản.

Người Cống là dân tộc thiểu số, cư trú chủ yếu ở huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu. Dẫu ít người nhưng người Cống vẫn giữ được nhiều nét văn hóa cổ truyền độc đáo. Ngoài kho tàng truyện thần thoại, ngụ ngôn phong phú thì tục cúng bản vẫn được người Cống lưu giữ nguyên vẹn. Không chỉ là hoạt động văn hóa tâm linh, tục cúng bản còn là hoạt động sinh hoạt văn hóa cộng đồng gắn kết bà con trong bản. Việc chuẩn bị thường do trưởng bản lo liệu nhưng việc hành lễ do một mình thầy mo tiến hành.

Người dân trong bản mang lễ vật đến góp tại sân nhà trưởng bản. Thầy mo và vợ sẽ chuẩn bị mâm lễ vật cúng thần tại nhà. Mâm lễ vật bao gồm: gạo, hai cặp vòng tay bằng bạc của vợ thầy mo, hai quả trứng, những chiếc lá cây và một bó sợi dây màu sắc sặc sỡ. Lễ cúng bản không diễn ra tại nhà thầy mo mà được thực hiện ở một số nơi đặc biệt với người Cống.

Mâm lễ cúng bản của người Cống

Người Cống cho rằng nơi có nguồn nước là khu đất linh thiêng nhất trong bản, có sự hiện diện của thần nước và thần rừng. Ngày thường người dân trong bản không được qua lại khu vực này. Đến giờ tốt, thầy mo và người dân trong bản mới được lên đây làm lễ cúng bản.

Sàn đặt lễ vật trong lễ cúng bản của người Cống Trai tráng trong bản chặt cây, phát quang tạo khoảng trống rồi dùng tre, nứa dựng một căn sàn nhỏ để thầy mo đặt lễ vật dâng lên các vị thần. Thầy mo kính cẩn dâng lễ, rót rượu rồi đọc bài cúng. Những bài cúng trong lễ cúng bản đều do tổ tiên truyền lại. Sau đó, thầy mo giết gà và mổ lợn để tế thần. Lông gà và gan lợn sẽ được giữ lại để làm thủ tục quan trọng trong phần sau lễ cúng bản. Những chiếc lông gà được cắm xuống ngôi nhà mới dựng để trừ tà. Gan lợn để thầy mo xem bói. Thầy mo nhìn những đường gân trên gan để dự đoán mọi việc sắp tới. Cùng lúc đó, đàn ông trong bản sẽ bắt bếp nấu chín đồ ăn. Sau lễ cúng, mọi người cùng nhau ăn uống theo cách của tổ tiên bao đời của người Cống trên khu đất thiêng, kê đá làm ghế, chặt lá chuối làm mâm. Cuối buổi lễ, thầy mo đan tấm liếp, cài lá cây xanh và những chiếc lông gà lên đó làm dấu hiệu cấm bản. Người Cống quan niệm nếu giữ được tấm liếp trong suốt những ngày cấm bản, dân làng sẽ được bình yên.

Trai tráng trong bản chặt cây, phát quang tạo khoảng trống rồi dùng tre, nứa dựng một căn sàn nhỏ để thầy mo đặt lễ vật dâng lên các vị thần. Thầy mo kính cẩn dâng lễ, rót rượu rồi đọc bài cúng. Những bài cúng trong lễ cúng bản đều do tổ tiên truyền lại.

Sau đó, thầy mo giết gà và mổ lợn để tế thần. Lông gà và gan lợn sẽ được giữ lại để làm thủ tục quan trọng trong phần sau lễ cúng bản. Những chiếc lông gà được cắm xuống ngôi nhà mới dựng để trừ tà. Gan lợn để thầy mo xem bói. Thầy mo nhìn những đường gân trên gan để dự đoán mọi việc sắp tới. Cùng lúc đó, đàn ông trong bản sẽ bắt bếp nấu chín đồ ăn. Sau lễ cúng, mọi người cùng nhau ăn uống theo cách của tổ tiên bao đời của người Cống trên khu đất thiêng, kê đá làm ghế, chặt lá chuối làm mâm.

Cuối buổi lễ, thầy mo đan tấm liếp, cài lá cây xanh và những chiếc lông gà lên đó làm dấu hiệu cấm bản. Người Cống quan niệm nếu giữ được tấm liếp trong suốt những ngày cấm bản, dân làng sẽ được bình yên.

Lễ cúng bản không chỉ là dịp thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn mà còn là dịp để đồng bào gặp gỡ nhau, vui chơi thỏa thích, thắt chặt tình đoàn kết, giúp đỡ nhau, xây dựng thôn bản.

Related Figures

Hội chùa Thanh Mai tỉnh Hải Dương

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/3- 3/3 Âm lịch Chùa Thanh Mai (xã Hoàng Hoa Thám, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương) là một trong những trung tâm của Phật giáo Việt Nam, nơi trụ trì của Pháp Loa tôn giả - vị tổ thứ hai của Thiền phái Trúc Lâm. Hội chùa Thanh Mai diễn ra ngày 1-3/3 âm lịch để tưởng niệm ngày mất Trúc Lâm đệ nhị Tổ Pháp Loa. Khai hội chùa Thanh Mai Chùa Thanh Mai được xây dựng trên sườn núi Phật Tích (nay gọi là núi Tam Ban) được biết đến là ngôi chùa linh thiêng của Thiền phái Trúc Lâm. Hiện nay, chùa Thanh Mai vẫn lưu giữ được nhiều hiện vật có giá trị như: Viên Thông Bảo Tháp xây dựng năm 1334, tháp Phổ Quang được xây dựng năm Chính Hòa thứ 23, tháp Linh Quang xây dựng năm Chính Hòa thứ 24, 6 tấm bia thời Trần và Lê... Trong đó, Thanh mai Viên Thông tháp bi được công nhận là bảo vật quốc gia. Thanh Mai cổ tự nơi diễn ra lễ hội hàng năm Ngôi chùa cổ kính không chỉ trang nghiêm, tĩnh mịch mà còn nổi tiếng với rừng phong lá đỏ vào mùa đông. Du khách đến thăm chùa Thanh Mai không chỉ lạc vào không gian tâm linh cổ kính mà còn có thể chiêm ngưỡng vẻ đẹp rừng phong lá thường xuất hiện ở các nước phương Tây. Rừng phong bao quanh chùa Thanh mai đã tạo nên cho nơi đây cảnh sắc quyến rũ mỗi độ đông sang. Lễ hội truyền thống chùa Thanh Mai diễn ra trang trọng Hội chùa Thanh Mai bắt đầu từ 1-2/3 âm lịch. Lễ hội hàng năm được nhân dân tổ chức trọng thể với nhiều nghi lễ như giảng kinh, chay đàn, mộc dục... Chùa Thanh Mai cùng với Côn Sơn và Yên Tử là những trung tâm của Thiền phái Trúc Lâm phát triển rực rỡ của dòng Phật giáo thời Trần.

Khai hội chùa Thanh Mai Chùa Thanh Mai được xây dựng trên sườn núi Phật Tích (nay gọi là núi Tam Ban) được biết đến là ngôi chùa linh thiêng của Thiền phái Trúc Lâm. Hiện nay, chùa Thanh Mai vẫn lưu giữ được nhiều hiện vật có giá trị như: Viên Thông Bảo Tháp xây dựng năm 1334, tháp Phổ Quang được xây dựng năm Chính Hòa thứ 23, tháp Linh Quang xây dựng năm Chính Hòa thứ 24, 6 tấm bia thời Trần và Lê... Trong đó, Thanh mai Viên Thông tháp bi được công nhận là bảo vật quốc gia. Thanh Mai cổ tự nơi diễn ra lễ hội hàng năm Ngôi chùa cổ kính không chỉ trang nghiêm, tĩnh mịch mà còn nổi tiếng với rừng phong lá đỏ vào mùa đông. Du khách đến thăm chùa Thanh Mai không chỉ lạc vào không gian tâm linh cổ kính mà còn có thể chiêm ngưỡng vẻ đẹp rừng phong lá thường xuất hiện ở các nước phương Tây. Rừng phong bao quanh chùa Thanh mai đã tạo nên cho nơi đây cảnh sắc quyến rũ mỗi độ đông sang. Lễ hội truyền thống chùa Thanh Mai diễn ra trang trọng Hội chùa Thanh Mai bắt đầu từ 1-2/3 âm lịch. Lễ hội hàng năm được nhân dân tổ chức trọng thể với nhiều nghi lễ như giảng kinh, chay đàn, mộc dục... Chùa Thanh Mai cùng với Côn Sơn và Yên Tử là những trung tâm của Thiền phái Trúc Lâm phát triển rực rỡ của dòng Phật giáo thời Trần.

Chùa Thanh Mai được xây dựng trên sườn núi Phật Tích (nay gọi là núi Tam Ban) được biết đến là ngôi chùa linh thiêng của Thiền phái Trúc Lâm. Hiện nay, chùa Thanh Mai vẫn lưu giữ được nhiều hiện vật có giá trị như: Viên Thông Bảo Tháp xây dựng năm 1334, tháp Phổ Quang được xây dựng năm Chính Hòa thứ 23, tháp Linh Quang xây dựng năm Chính Hòa thứ 24, 6 tấm bia thời Trần và Lê... Trong đó, Thanh mai Viên Thông tháp bi được công nhận là bảo vật quốc gia.

Thanh Mai cổ tự nơi diễn ra lễ hội hàng năm

Ngôi chùa cổ kính không chỉ trang nghiêm, tĩnh mịch mà còn nổi tiếng với rừng phong lá đỏ vào mùa đông. Du khách đến thăm chùa Thanh Mai không chỉ lạc vào không gian tâm linh cổ kính mà còn có thể chiêm ngưỡng vẻ đẹp rừng phong lá thường xuất hiện ở các nước phương Tây. Rừng phong bao quanh chùa Thanh mai đã tạo nên cho nơi đây cảnh sắc quyến rũ mỗi độ đông sang.

Lễ hội truyền thống chùa Thanh Mai diễn ra trang trọng

Hội chùa Thanh Mai bắt đầu từ 1-2/3 âm lịch. Lễ hội hàng năm được nhân dân tổ chức trọng thể với nhiều nghi lễ như giảng kinh, chay đàn, mộc dục... Chùa Thanh Mai cùng với Côn Sơn và Yên Tử là những trung tâm của Thiền phái Trúc Lâm phát triển rực rỡ của dòng Phật giáo thời Trần.

Related Figures

Hội đền Quan Lớn Tuần Tranh

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/2- 20/2 Âm lịch Lễ hội Quan Lớn Tuần Tranh là lễ hội lớn, tổ chức dài ngày có tục xiên đình độc đáo trong đám rước và hát chầu văn, thu hút đông đảo người dân và du khách thập phương về dự hội. Đặc biệt, lễ hội Quan Lớn Tuần Tranh là lễ cúng thủy thần linh thiêng có tiếng ở vùng sông nước Việt Nam. Lễ rước long trọng hội đền Quan Lớn Tuần Tranh Đền Tranh hay còn gọi là đền Quan Lớn Tuần Tranh thuộc thôn Tranh Xuyên, xã Đồng Tâm, huyện Ninh Giang là một di tích lịch sử văn hóa tâm linh. Quan Lớn Tuần Tranh là một vị quan Tuần Phủ được giao cai quản ngã 3 sông Chanh, nơi giao nhau của 3 vùng đất Ninh Giang - Vĩnh Bảo - Thái Bình. Quan Lớn Tuần Tranh là một vị quan mẫu mực, hết lòng vì dân vì nước, bảo vệ vùng đất Ninh Giang, xây dựng cuộc sống ấm no cho người dân. Quan Lớn Tuần Tranh sống trong lòng mỗi người con Ninh Giang như một vị Thần. Để tưởng nhớ công đức to lớn của Quan Lớn Tuần Tranh, chính quyền địa phương và những người con Ninh Giang đã xây dựng ngôi đền thờ ông. Hội đền Quan Lớn Tuần Tranh tưởng nhớ công đức vị quan phụ mẫu đức độ Mỗi năm, hội đền Quan Lớn Tuần Tranh (hay hội đền Tranh) có 2 kỳ lễ hội. Kỳ thứ nhất được tổ chức từ ngày 10-20/2 âm lịch, trọng hội là ngày 14/2. Kỳ thứ 2 là từ ngày 10-20/8 âm lịch, trọng hội là ngày 22/8. Trọng tâm là kỳ hội thứ nhất kỷ niệm ngày sinh của Quan Lớn Tuần Tranh. Sáng ngày 10/2, đền làm lễ ban ấn. Ngày 13/2, làm lễ thỉnh kinh rước nước qua các cửa đền rồi ra bờ sông Tranh. Ngày 14/2, thực hiện rước kiệu Quan Lớn Tuần Tranh. Bánh gai Ninh Giang món quà đặc sắc từ Hội đền Quan Lớn Tuần Tranh Đền Tranh có tiếng linh thiêng nên trong các dịp lễ hội, hàng vạn người dân cả nước về dự hội. Hàng quan mọc lên san sát để phục vụ du khách tham gia lễ hội. Đặc sản bánh gai Ninh Giang nổi tiếng được du khách gần xa ưa chuộng, trở thành món quà ý nghĩa tại lễ hội Quan Lớn Tuần Tranh.

Lễ rước long trọng hội đền Quan Lớn Tuần Tranh Đền Tranh hay còn gọi là đền Quan Lớn Tuần Tranh thuộc thôn Tranh Xuyên, xã Đồng Tâm, huyện Ninh Giang là một di tích lịch sử văn hóa tâm linh. Quan Lớn Tuần Tranh là một vị quan Tuần Phủ được giao cai quản ngã 3 sông Chanh, nơi giao nhau của 3 vùng đất Ninh Giang - Vĩnh Bảo - Thái Bình. Quan Lớn Tuần Tranh là một vị quan mẫu mực, hết lòng vì dân vì nước, bảo vệ vùng đất Ninh Giang, xây dựng cuộc sống ấm no cho người dân. Quan Lớn Tuần Tranh sống trong lòng mỗi người con Ninh Giang như một vị Thần. Để tưởng nhớ công đức to lớn của Quan Lớn Tuần Tranh, chính quyền địa phương và những người con Ninh Giang đã xây dựng ngôi đền thờ ông. Hội đền Quan Lớn Tuần Tranh tưởng nhớ công đức vị quan phụ mẫu đức độ Mỗi năm, hội đền Quan Lớn Tuần Tranh (hay hội đền Tranh) có 2 kỳ lễ hội. Kỳ thứ nhất được tổ chức từ ngày 10-20/2 âm lịch, trọng hội là ngày 14/2. Kỳ thứ 2 là từ ngày 10-20/8 âm lịch, trọng hội là ngày 22/8. Trọng tâm là kỳ hội thứ nhất kỷ niệm ngày sinh của Quan Lớn Tuần Tranh. Sáng ngày 10/2, đền làm lễ ban ấn. Ngày 13/2, làm lễ thỉnh kinh rước nước qua các cửa đền rồi ra bờ sông Tranh. Ngày 14/2, thực hiện rước kiệu Quan Lớn Tuần Tranh. Bánh gai Ninh Giang món quà đặc sắc từ Hội đền Quan Lớn Tuần Tranh Đền Tranh có tiếng linh thiêng nên trong các dịp lễ hội, hàng vạn người dân cả nước về dự hội. Hàng quan mọc lên san sát để phục vụ du khách tham gia lễ hội. Đặc sản bánh gai Ninh Giang nổi tiếng được du khách gần xa ưa chuộng, trở thành món quà ý nghĩa tại lễ hội Quan Lớn Tuần Tranh.

Đền Tranh hay còn gọi là đền Quan Lớn Tuần Tranh thuộc thôn Tranh Xuyên, xã Đồng Tâm, huyện Ninh Giang là một di tích lịch sử văn hóa tâm linh. Quan Lớn Tuần Tranh là một vị quan Tuần Phủ được giao cai quản ngã 3 sông Chanh, nơi giao nhau của 3 vùng đất Ninh Giang - Vĩnh Bảo - Thái Bình. Quan Lớn Tuần Tranh là một vị quan mẫu mực, hết lòng vì dân vì nước, bảo vệ vùng đất Ninh Giang, xây dựng cuộc sống ấm no cho người dân. Quan Lớn Tuần Tranh sống trong lòng mỗi người con Ninh Giang như một vị Thần. Để tưởng nhớ công đức to lớn của Quan Lớn Tuần Tranh, chính quyền địa phương và những người con Ninh Giang đã xây dựng ngôi đền thờ ông. Hội đền Quan Lớn Tuần Tranh tưởng nhớ công đức vị quan phụ mẫu đức độ Mỗi năm, hội đền Quan Lớn Tuần Tranh (hay hội đền Tranh) có 2 kỳ lễ hội. Kỳ thứ nhất được tổ chức từ ngày 10-20/2 âm lịch, trọng hội là ngày 14/2. Kỳ thứ 2 là từ ngày 10-20/8 âm lịch, trọng hội là ngày 22/8. Trọng tâm là kỳ hội thứ nhất kỷ niệm ngày sinh của Quan Lớn Tuần Tranh. Sáng ngày 10/2, đền làm lễ ban ấn. Ngày 13/2, làm lễ thỉnh kinh rước nước qua các cửa đền rồi ra bờ sông Tranh. Ngày 14/2, thực hiện rước kiệu Quan Lớn Tuần Tranh. Bánh gai Ninh Giang món quà đặc sắc từ Hội đền Quan Lớn Tuần Tranh Đền Tranh có tiếng linh thiêng nên trong các dịp lễ hội, hàng vạn người dân cả nước về dự hội. Hàng quan mọc lên san sát để phục vụ du khách tham gia lễ hội. Đặc sản bánh gai Ninh Giang nổi tiếng được du khách gần xa ưa chuộng, trở thành món quà ý nghĩa tại lễ hội Quan Lớn Tuần Tranh.

Đền Tranh hay còn gọi là đền Quan Lớn Tuần Tranh thuộc thôn Tranh Xuyên, xã Đồng Tâm, huyện Ninh Giang là một di tích lịch sử văn hóa tâm linh. Quan Lớn Tuần Tranh là một vị quan Tuần Phủ được giao cai quản ngã 3 sông Chanh, nơi giao nhau của 3 vùng đất Ninh Giang - Vĩnh Bảo - Thái Bình. Quan Lớn Tuần Tranh là một vị quan mẫu mực, hết lòng vì dân vì nước, bảo vệ vùng đất Ninh Giang, xây dựng cuộc sống ấm no cho người dân. Quan Lớn Tuần Tranh sống trong lòng mỗi người con Ninh Giang như một vị Thần. Để tưởng nhớ công đức to lớn của Quan Lớn Tuần Tranh, chính quyền địa phương và những người con Ninh Giang đã xây dựng ngôi đền thờ ông.

Hội đền Quan Lớn Tuần Tranh tưởng nhớ công đức vị quan phụ mẫu đức độ

Mỗi năm, hội đền Quan Lớn Tuần Tranh (hay hội đền Tranh) có 2 kỳ lễ hội. Kỳ thứ nhất được tổ chức từ ngày 10-20/2 âm lịch, trọng hội là ngày 14/2. Kỳ thứ 2 là từ ngày 10-20/8 âm lịch, trọng hội là ngày 22/8. Trọng tâm là kỳ hội thứ nhất kỷ niệm ngày sinh của Quan Lớn Tuần Tranh. Sáng ngày 10/2, đền làm lễ ban ấn. Ngày 13/2, làm lễ thỉnh kinh rước nước qua các cửa đền rồi ra bờ sông Tranh. Ngày 14/2, thực hiện rước kiệu Quan Lớn Tuần Tranh.

Bánh gai Ninh Giang món quà đặc sắc từ Hội đền Quan Lớn Tuần Tranh

Đền Tranh có tiếng linh thiêng nên trong các dịp lễ hội, hàng vạn người dân cả nước về dự hội. Hàng quan mọc lên san sát để phục vụ du khách tham gia lễ hội. Đặc sản bánh gai Ninh Giang nổi tiếng được du khách gần xa ưa chuộng, trở thành món quà ý nghĩa tại lễ hội Quan Lớn Tuần Tranh.

Related Figures

Lễ hội Nam Trì

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 8/3- 12/3 Âm lịch Hàng năm, cứ đến ngày mồng 8 tháng 3 âm lịch, người dân làng Nam Trì, xã Đặng Lễ, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên lại tưng bừng mở hội Nam Trì. Đây là một lễ hội tế thần đã xuất hiện từ thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên. Đối tượng được người dân nơi đây suy tôn là ba vị Thành hoàng làng: Bảo, Lang, Biền, là những người đã có công trừ ác, làm thuốc chữa bệnh cho người dân trong vùng. Lễ hội Nam Trì có nguồn gốc từ 3 bị thần là Bảo, Lang, Biền; Nguyễn Danh Lang hiệu là Lang Công, tướng ba đời nhà Triệu nước Nam Việt; Thừa tướng 4 đời nhà Triệu; Lữ Gia hiệu là Bảo Công; Tướng quốc Cao Biền. Khi Lang Công, Bảo Công, công chúa Hùng vương Lâu nương (Phu nhân Lữ Gia) chết, người dân trong làng đã xây miếu phụng thờ. Sau khi Cao Biền chết, người dân phụng thờ cùng hai bị Bảo, Lang. Lễ hội Nam Trì còn gắn liên với một vị Thánh địa lý của Việt Nam là Tả Ao Vũ Đức Huyền, là người đã có công giúp dân Nam Trì dựng lại làng xóm, xây dựng đình chùa nên người dân đã phụng thờ ông để tỏ lòng biết ơn. Nghi lễ cúng Thần trong ngày Hội Nam Trì tại Hưng Yên Hội Nam Trì là một nghi lễ tôn giáo tế Thần, xuất hiện từ thời thượng cổ. Lễ hội này vừa mang tính chất tín ngưỡng, vừa là văn hóa cộng đồng làng xã. Sau khi các Thần ở đây được tôn lên làm Thành Hoàng nên lễ hội được tổ chức theo nghi lễ tế Thành Hoàng. Đây là lễ hội chung của ba làng là Nam Trì, Bảo Tàng và Đới Khê. Lễ hội thường diễn ra vào tháng 3 âm lịch hàng năm. Từ ngày mồng 8/3, người dân đã cùng nhau dọn hai khu đền miếu, rước Thần về sở Công đồng để làm lễ yết cáo, sau đó rước đi các nơi để làm lễ tắm Thánh. Ngày 09/3 là ngày lễ chính. Ngày 10/3 là làm lễ lại, lễ đón Cao Vương. Ngày 12/3, cả ba làng cùng làm lễ tạ. Lễ rước kiệu Thần trong lễ hội Nam Trì tại Hưng Yên Lễ vật được dâng lên Thành Hoàng gồm trâu, bò, lợn, gà, xôi, rượu, bánh mật. Phần hội diễn ra trong 10 ngày, người dân cùng ca hát, chơi cờ, đấu vật. Khi rã đám thì ba làng cùng dọn đình, sau đó rước Thần về làm lễ.

Hàng năm, cứ đến ngày mồng 8 tháng 3 âm lịch, người dân làng Nam Trì, xã Đặng Lễ, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên lại tưng bừng mở hội Nam Trì. Đây là một lễ hội tế thần đã xuất hiện từ thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên. Đối tượng được người dân nơi đây suy tôn là ba vị Thành hoàng làng: Bảo, Lang, Biền, là những người đã có công trừ ác, làm thuốc chữa bệnh cho người dân trong vùng.

Lễ hội Nam Trì có nguồn gốc từ 3 bị thần là Bảo, Lang, Biền; Nguyễn Danh Lang hiệu là Lang Công, tướng ba đời nhà Triệu nước Nam Việt; Thừa tướng 4 đời nhà Triệu; Lữ Gia hiệu là Bảo Công; Tướng quốc Cao Biền. Khi Lang Công, Bảo Công, công chúa Hùng vương Lâu nương (Phu nhân Lữ Gia) chết, người dân trong làng đã xây miếu phụng thờ. Sau khi Cao Biền chết, người dân phụng thờ cùng hai bị Bảo, Lang. Lễ hội Nam Trì còn gắn liên với một vị Thánh địa lý của Việt Nam là Tả Ao Vũ Đức Huyền, là người đã có công giúp dân Nam Trì dựng lại làng xóm, xây dựng đình chùa nên người dân đã phụng thờ ông để tỏ lòng biết ơn.

Nghi lễ cúng Thần trong ngày Hội Nam Trì tại Hưng Yên

Hội Nam Trì là một nghi lễ tôn giáo tế Thần, xuất hiện từ thời thượng cổ. Lễ hội này vừa mang tính chất tín ngưỡng, vừa là văn hóa cộng đồng làng xã. Sau khi các Thần ở đây được tôn lên làm Thành Hoàng nên lễ hội được tổ chức theo nghi lễ tế Thành Hoàng. Đây là lễ hội chung của ba làng là Nam Trì, Bảo Tàng và Đới Khê.

Lễ hội thường diễn ra vào tháng 3 âm lịch hàng năm. Từ ngày mồng 8/3, người dân đã cùng nhau dọn hai khu đền miếu, rước Thần về sở Công đồng để làm lễ yết cáo, sau đó rước đi các nơi để làm lễ tắm Thánh. Ngày 09/3 là ngày lễ chính. Ngày 10/3 là làm lễ lại, lễ đón Cao Vương. Ngày 12/3, cả ba làng cùng làm lễ tạ.

Lễ rước kiệu Thần trong lễ hội Nam Trì tại Hưng Yên

Lễ vật được dâng lên Thành Hoàng gồm trâu, bò, lợn, gà, xôi, rượu, bánh mật. Phần hội diễn ra trong 10 ngày, người dân cùng ca hát, chơi cờ, đấu vật. Khi rã đám thì ba làng cùng dọn đình, sau đó rước Thần về làm lễ.

Related Figures

Hội chùa Tứ Pháp

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 6/4- 8/4 Âm lịch Hội chùa Tứ Pháp diễn ra hàng năm tại huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. Đối tượng được người dân nơi đây suy tôn là Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện. Chùa Pháp Vân còn có tên gọi khác là Thái Lạc, là một ngôi chùa cổ đã được xây dựng từ triều Lý, thuộc quần thể chùa thờ Tứ Pháp tại xã Lạc Hồng, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. Lễ hội cầu mưa gắn liền với hệ thống thờ Tứ Pháp và cầu cho quốc thái dân an thường được tổ chức từ ngày mồng 6 đến mồng 8 tháng 4. Chùa Pháp Vân thuộc quần thể chùa thờ Tứ Pháp tại Hưng Yên Tứ Pháp là để chỉ 4 nữ thần trong tín ngưỡng tâm linh của người Việt Nam gồm: Mây, mưa, Sấm và Chớp, là đại diện của các hiện tượng tự nhiên. Theo các nhà nghiên cứu khóa học, tín ngưỡng thờ Tứ Pháp được định hình và phát triển trong những ngày đầu Phật giáo du nhập và Việt Nam. Tín ngưỡng thờ Tứ Pháp là một hiện tượng tín ngưỡng của bản địa ở nước ta, mang đậm màu sắc của nền văn minh lúa nước. Trong công việc trồng lúa nước, 4 nhu cầu cần thiết nhất mà người dân đã đúc kết ra là "nước, phân, cần, giống", thì nước là yếu tố hàng đầu. Ở nước ta, khi nói đến nước người ta sẽ nghĩ đến mưa. chính vì thế khi Phật giáo mới truyền vào nước ta thì tại trung tâm đầu tiên của nó là Luy Lâu, tức vùng chùa Dâu, nó đã gắn liền với tín ngưỡng sùng bái 4 nữ thần Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện. Các hội chùa Tứ Pháp còn cho ta thấy một cách sống động sự tiếp hợp giữa Phật giáp và nghi thức cầu mưa của người nông dân Việt Nam. Hội chùa Tứ Pháp tại Hưng Yên Theo truyền thống của người Việt, tại chùa Pháp Vân, lúc có hạn hán thì người dân rước tượng Pháp Vân ra khỏi chùa, cùng tượng của Pháp lôi, Pháp Vũ ở chùa gần đó đến chùa Ôn Xá, nơi thờ Pháp Điện để cử hành lễ cầu mưa. Cũng giống với các lễ hội của người dân làm nông, lễ hội Tứ Pháp là một hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng mang ý nghĩa tâm linh của người làm nông nghiệp. Mục đích của lễ hội là để phục vụ nông nghiệp, để cầu cho cây cối tươi tốt, mùa màng bội thu.

Chùa Pháp Vân còn có tên gọi khác là Thái Lạc, là một ngôi chùa cổ đã được xây dựng từ triều Lý, thuộc quần thể chùa thờ Tứ Pháp tại xã Lạc Hồng, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. Lễ hội cầu mưa gắn liền với hệ thống thờ Tứ Pháp và cầu cho quốc thái dân an thường được tổ chức từ ngày mồng 6 đến mồng 8 tháng 4.

Chùa Pháp Vân thuộc quần thể chùa thờ Tứ Pháp tại Hưng Yên

Tứ Pháp là để chỉ 4 nữ thần trong tín ngưỡng tâm linh của người Việt Nam gồm: Mây, mưa, Sấm và Chớp, là đại diện của các hiện tượng tự nhiên. Theo các nhà nghiên cứu khóa học, tín ngưỡng thờ Tứ Pháp được định hình và phát triển trong những ngày đầu Phật giáo du nhập và Việt Nam.

Tín ngưỡng thờ Tứ Pháp là một hiện tượng tín ngưỡng của bản địa ở nước ta, mang đậm màu sắc của nền văn minh lúa nước. Trong công việc trồng lúa nước, 4 nhu cầu cần thiết nhất mà người dân đã đúc kết ra là "nước, phân, cần, giống", thì nước là yếu tố hàng đầu. Ở nước ta, khi nói đến nước người ta sẽ nghĩ đến mưa. chính vì thế khi Phật giáo mới truyền vào nước ta thì tại trung tâm đầu tiên của nó là Luy Lâu, tức vùng chùa Dâu, nó đã gắn liền với tín ngưỡng sùng bái 4 nữ thần Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện. Các hội chùa Tứ Pháp còn cho ta thấy một cách sống động sự tiếp hợp giữa Phật giáp và nghi thức cầu mưa của người nông dân Việt Nam.

Hội chùa Tứ Pháp tại Hưng Yên

Theo truyền thống của người Việt, tại chùa Pháp Vân, lúc có hạn hán thì người dân rước tượng Pháp Vân ra khỏi chùa, cùng tượng của Pháp lôi, Pháp Vũ ở chùa gần đó đến chùa Ôn Xá, nơi thờ Pháp Điện để cử hành lễ cầu mưa.

Cũng giống với các lễ hội của người dân làm nông, lễ hội Tứ Pháp là một hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng mang ý nghĩa tâm linh của người làm nông nghiệp. Mục đích của lễ hội là để phục vụ nông nghiệp, để cầu cho cây cối tươi tốt, mùa màng bội thu.

Related Figures

Lễ hội đền Kim Đằng

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/11- 17/11 Âm lịch Lễ hội đền Kim Đằng diễn ra vào ngày 15 đến 17 tháng 11 âm lịch, tại thôn Kim Đằng, thị xã Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên. Đối tượng được người dân nơi đây suy tôn là Thành hoàng làng Tế Thế Hộ quốc, Môi Nương Trình Thục phu nhân đã có công trợ giúp Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12 xứ quân. Đền Kim Đằng tọa lạc ở trung tâm thôn Kim Đằng, thuộc phương Lam Sơn, thị xã Hưng Yên. Xưa kia, vùng đất này là trang Đằng man, thuộc phủ Khoái Châu, trấn Sơn nam thượng. Tương truyền, đền Kim Đằng được xây dựng trên mảnh đất Đinh Điền, được chọn làm đại bản doanh với thế "Thanh Long, Bạch Hổ chầu về". Lễ hội đền Kim Đằng tại Hưng Yên Trải qua thời gian dài, đền Kim Đằng đã được trùng tu nhiều lần. Hiện nay, ngôi đền này vẫn còn giữ được khá nhiều nét kiến trúc độc đáo của thời Hậu Lê và thời Nguyễn. Năm 1997, Bộ VHTT đã cấp chứng nhận di tích lịch sử cho ngôi đến này. Đến cò kiến trúc kiểu chữ đinh, gồm năm gian tiền tế, ba gian hậu cung. Tòa tiền tế thường được làm theo kiểu chồng diêm 2 tầng, 8 mái, trên đường bờ nóc có đắp hình 2 con rồng, 2 đầu kìm đắp "lưỡng ngư" tức hai con cá chép, phần mái lợp ngói vẩy rồng... Hàng năm, cứ đến ngày mở hội, người dân trong làng lại nô nức keo nhau về làng để chuẩn bị mở hội. Lễ hội gồm hai phần là phần lễ và phần hội. Phần lễ diễn ra với các nghi thức cúng, tế, rước kiệu truyền thống. Phần hội diễn ra hết sức sôi động với các trò chơi dân gian như: múa lân, chọi gà, hát nói, múa rối nước, hát trống quân... để góp phần xây dựng cuộc sống của người dân thêm ấm no hạnh phúc, đồng thời giáo dục truyền thống uống nước nhớ nguồn, yêu nước, tinh thần bất khuất của dân tộc Việt Nam.

Đền Kim Đằng tọa lạc ở trung tâm thôn Kim Đằng, thuộc phương Lam Sơn, thị xã Hưng Yên. Xưa kia, vùng đất này là trang Đằng man, thuộc phủ Khoái Châu, trấn Sơn nam thượng. Tương truyền, đền Kim Đằng được xây dựng trên mảnh đất Đinh Điền, được chọn làm đại bản doanh với thế "Thanh Long, Bạch Hổ chầu về".

Lễ hội đền Kim Đằng tại Hưng Yên

Trải qua thời gian dài, đền Kim Đằng đã được trùng tu nhiều lần. Hiện nay, ngôi đền này vẫn còn giữ được khá nhiều nét kiến trúc độc đáo của thời Hậu Lê và thời Nguyễn. Năm 1997, Bộ VHTT đã cấp chứng nhận di tích lịch sử cho ngôi đến này. Đến cò kiến trúc kiểu chữ đinh, gồm năm gian tiền tế, ba gian hậu cung. Tòa tiền tế thường được làm theo kiểu chồng diêm 2 tầng, 8 mái, trên đường bờ nóc có đắp hình 2 con rồng, 2 đầu kìm đắp "lưỡng ngư" tức hai con cá chép, phần mái lợp ngói vẩy rồng...

Hàng năm, cứ đến ngày mở hội, người dân trong làng lại nô nức keo nhau về làng để chuẩn bị mở hội. Lễ hội gồm hai phần là phần lễ và phần hội. Phần lễ diễn ra với các nghi thức cúng, tế, rước kiệu truyền thống. Phần hội diễn ra hết sức sôi động với các trò chơi dân gian như: múa lân, chọi gà, hát nói, múa rối nước, hát trống quân... để góp phần xây dựng cuộc sống của người dân thêm ấm no hạnh phúc, đồng thời giáo dục truyền thống uống nước nhớ nguồn, yêu nước, tinh thần bất khuất của dân tộc Việt Nam.

Related Figures

Hội trám rụng

Thông tin thời kỳ

Hội trám rụng thường được tổ chức vào mùa trám rụng khoảng tháng 8 âm lịch hàng năm tại xã Đông Vương, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang. Một mùa trám là một mùa ngon, một mùa thương nhớ. Hội trám rụng được tổ chức tháng 8 âm lịch hàng năm Cây trám có lẽ gắn bó với người dân Bắc Giang từ lâu lắm rồi. Quan niệm của người Dao Thanh Man xã Đồng Vương cho rằng "trám là của trời cho nên phải chọn một người thật công tâm đem phát cho nhân dân". Ngày hội là ngày làm lễ phong chức cấp sắc cho thầy mo trong bản. Nơi mở hội là ngôi nhà tốt nhất trong bản. Dân bản trải chiếu ngồi dưới đất, thầy mo khấn bái, chuyển lời thỉnh cầu của dân bản tới trời đất, thần linh và xin thay trời phân chia cho mọi người. Hội trám rụng cầu mong năm mới may mắn Lễ vật trong hội trám rụng là những quả trám làm bằng xôi, cho xôi đồ vào trong một khuôn gỗ hình quả trám và đóng như đóng oản. Đến giờ tốt, thầy mo và dân làng đến hội hô to "trám rụng", sau đó thầy mo ném những quả trám xuống sàn nhà để dân bản nhặt cầu may. Dân bản tin rằng ai nhặt được nhiều quả trám sẽ gặp nhiều may mắn. Trám bùi được tôn vinh là món quà quý do thiên nhiên ban tặng. Dân làng làm lễ tạ ơn, chia các phần trám cho mọi nhà với mong ước năm sau được mùa, cuộc sống no đủ. Người dân tin rằng ai nhặt được nhiều trám trong hội trám rụng sẽ gặp may Bắc Giang là mảnh đất có nhiều dân tộc sinh sống như: Việt, Nùng, Tày, Sán Dìu, Sán Chay, Hoa... Là vùng đất có truyền thống văn hóa phong phú, Bắc Giang có nhiều lễ hội đặc sắc, trong đó không thể không kể đến hội trám rụng.

Hội trám rụng được tổ chức tháng 8 âm lịch hàng năm Cây trám có lẽ gắn bó với người dân Bắc Giang từ lâu lắm rồi. Quan niệm của người Dao Thanh Man xã Đồng Vương cho rằng "trám là của trời cho nên phải chọn một người thật công tâm đem phát cho nhân dân". Ngày hội là ngày làm lễ phong chức cấp sắc cho thầy mo trong bản. Nơi mở hội là ngôi nhà tốt nhất trong bản. Dân bản trải chiếu ngồi dưới đất, thầy mo khấn bái, chuyển lời thỉnh cầu của dân bản tới trời đất, thần linh và xin thay trời phân chia cho mọi người. Hội trám rụng cầu mong năm mới may mắn Lễ vật trong hội trám rụng là những quả trám làm bằng xôi, cho xôi đồ vào trong một khuôn gỗ hình quả trám và đóng như đóng oản. Đến giờ tốt, thầy mo và dân làng đến hội hô to "trám rụng", sau đó thầy mo ném những quả trám xuống sàn nhà để dân bản nhặt cầu may. Dân bản tin rằng ai nhặt được nhiều quả trám sẽ gặp nhiều may mắn. Trám bùi được tôn vinh là món quà quý do thiên nhiên ban tặng. Dân làng làm lễ tạ ơn, chia các phần trám cho mọi nhà với mong ước năm sau được mùa, cuộc sống no đủ.

Cây trám có lẽ gắn bó với người dân Bắc Giang từ lâu lắm rồi. Quan niệm của người Dao Thanh Man xã Đồng Vương cho rằng "trám là của trời cho nên phải chọn một người thật công tâm đem phát cho nhân dân". Ngày hội là ngày làm lễ phong chức cấp sắc cho thầy mo trong bản. Nơi mở hội là ngôi nhà tốt nhất trong bản. Dân bản trải chiếu ngồi dưới đất, thầy mo khấn bái, chuyển lời thỉnh cầu của dân bản tới trời đất, thần linh và xin thay trời phân chia cho mọi người.

Hội trám rụng cầu mong năm mới may mắn

Người dân tin rằng ai nhặt được nhiều trám trong hội trám rụng sẽ gặp may

Bắc Giang là mảnh đất có nhiều dân tộc sinh sống như: Việt, Nùng, Tày, Sán Dìu, Sán Chay, Hoa... Là vùng đất có truyền thống văn hóa phong phú, Bắc Giang có nhiều lễ hội đặc sắc, trong đó không thể không kể đến hội trám rụng.

Related Figures

Đầu xuân vui hội Tiên Lục

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 9/1 Âm lịch Hội xuân Tiên Lục được tổ chức ngày 9 tháng Giêng âm lịch hàng năm. Du khách không chỉ được tham gia ngày hội vui xuân mà còn được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của xóm làng, của cây dã hương nghìn năm tuổi bên mái đình Viễn Sơn. Hàng nghìn người tham gia hội xuân Tiên Lục Hội xuân Tiên Lục diễn ra chủ yếu ở khu vực đình Viễn Sơn, đình Thuận Hòa và chùa Phúc Quang. Đình Viễn Sơn tọa lạc ở một sườn đồi thấp kề sát cây Dã Hương cổ thụ. Đình được xây dựng vào thế kỷ XVIII, thờ 2 vị Thành hoàng làng là Cao Sơn và Quý Minh. Đây là 2 vị tướng thời vua Hùng đã có công đánh đuổi giặc ngoại xâm đem lại bình yên cho đất nước, khi 2 vị thác luôn hiển thánh phù hộ cho dân làng được no đủ. Đến hội Tiên Lục trong cảnh sắc mùa xuân, núi đồi xanh thắm nên thơ bạn sẽ không khỏi ngạc nhiên bởi hỉnh ảnh cây Dã hương nghìn năm tuổi sừng sững theo năm tháng bên mái đình Viễn Sơn. Du khách tham gia hội xuân Tiên Lục ấn tượng với cây Dã hương nghìn năm Hội xuân Tiên Lục bắt đầu từ 1 giời sáng ngày 9 tháng Giêng, bắt đầu là lễ khai Thánh rồi đến lễ tranh chiêng, tranh trống giữa làng. Sau đó là lễ rước kiệu vào đền rồi làm lễ tế thần Cao Sơn. Vào ngày hội, không chỉ người dân địa phương, du khách thập phương mà cả con cháu đi làm ăn xa từ khắp mọi nơi đều về trảy hội tạo nên không khí vô cùng náo nhiệt. Sau phần nghi lễ uy nghiêm là hàng loạt các trò vui được tổ chưucs như cuộc thi cướp cầu, thi kéo chữ, đánh đu, kéo co, vật, chọi gà... và cả thi cỗ. Hội xuân Tiên Lục có nhiều trò chơi dân gian hấp dẫn Hội xuân Tiên Lục là ngày hội lớn trong vùng thu hút hàng nghìn người tham gia. Hàng năm, hội xuân Tiên Lục vẫn luôn được UBND huyện Lạng Giang quan tâm và chỉ đạo tổ chức.

Hàng nghìn người tham gia hội xuân Tiên Lục Hội xuân Tiên Lục diễn ra chủ yếu ở khu vực đình Viễn Sơn, đình Thuận Hòa và chùa Phúc Quang. Đình Viễn Sơn tọa lạc ở một sườn đồi thấp kề sát cây Dã Hương cổ thụ. Đình được xây dựng vào thế kỷ XVIII, thờ 2 vị Thành hoàng làng là Cao Sơn và Quý Minh. Đây là 2 vị tướng thời vua Hùng đã có công đánh đuổi giặc ngoại xâm đem lại bình yên cho đất nước, khi 2 vị thác luôn hiển thánh phù hộ cho dân làng được no đủ. Đến hội Tiên Lục trong cảnh sắc mùa xuân, núi đồi xanh thắm nên thơ bạn sẽ không khỏi ngạc nhiên bởi hỉnh ảnh cây Dã hương nghìn năm tuổi sừng sững theo năm tháng bên mái đình Viễn Sơn. Du khách tham gia hội xuân Tiên Lục ấn tượng với cây Dã hương nghìn năm Hội xuân Tiên Lục bắt đầu từ 1 giời sáng ngày 9 tháng Giêng, bắt đầu là lễ khai Thánh rồi đến lễ tranh chiêng, tranh trống giữa làng. Sau đó là lễ rước kiệu vào đền rồi làm lễ tế thần Cao Sơn. Vào ngày hội, không chỉ người dân địa phương, du khách thập phương mà cả con cháu đi làm ăn xa từ khắp mọi nơi đều về trảy hội tạo nên không khí vô cùng náo nhiệt. Sau phần nghi lễ uy nghiêm là hàng loạt các trò vui được tổ chưucs như cuộc thi cướp cầu, thi kéo chữ, đánh đu, kéo co, vật, chọi gà... và cả thi cỗ. Hội xuân Tiên Lục có nhiều trò chơi dân gian hấp dẫn Hội xuân Tiên Lục là ngày hội lớn trong vùng thu hút hàng nghìn người tham gia. Hàng năm, hội xuân Tiên Lục vẫn luôn được UBND huyện Lạng Giang quan tâm và chỉ đạo tổ chức.

Hội xuân Tiên Lục diễn ra chủ yếu ở khu vực đình Viễn Sơn, đình Thuận Hòa và chùa Phúc Quang. Đình Viễn Sơn tọa lạc ở một sườn đồi thấp kề sát cây Dã Hương cổ thụ. Đình được xây dựng vào thế kỷ XVIII, thờ 2 vị Thành hoàng làng là Cao Sơn và Quý Minh. Đây là 2 vị tướng thời vua Hùng đã có công đánh đuổi giặc ngoại xâm đem lại bình yên cho đất nước, khi 2 vị thác luôn hiển thánh phù hộ cho dân làng được no đủ.

Đến hội Tiên Lục trong cảnh sắc mùa xuân, núi đồi xanh thắm nên thơ bạn sẽ không khỏi ngạc nhiên bởi hỉnh ảnh cây Dã hương nghìn năm tuổi sừng sững theo năm tháng bên mái đình Viễn Sơn.

Du khách tham gia hội xuân Tiên Lục ấn tượng với cây Dã hương nghìn năm

Hội xuân Tiên Lục bắt đầu từ 1 giời sáng ngày 9 tháng Giêng, bắt đầu là lễ khai Thánh rồi đến lễ tranh chiêng, tranh trống giữa làng. Sau đó là lễ rước kiệu vào đền rồi làm lễ tế thần Cao Sơn. Vào ngày hội, không chỉ người dân địa phương, du khách thập phương mà cả con cháu đi làm ăn xa từ khắp mọi nơi đều về trảy hội tạo nên không khí vô cùng náo nhiệt. Sau phần nghi lễ uy nghiêm là hàng loạt các trò vui được tổ chưucs như cuộc thi cướp cầu, thi kéo chữ, đánh đu, kéo co, vật, chọi gà... và cả thi cỗ.

Hội xuân Tiên Lục có nhiều trò chơi dân gian hấp dẫn

Hội xuân Tiên Lục là ngày hội lớn trong vùng thu hút hàng nghìn người tham gia. Hàng năm, hội xuân Tiên Lục vẫn luôn được UBND huyện Lạng Giang quan tâm và chỉ đạo tổ chức.

Related Figures

Hội làng Đông Linh

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/2 Âm lịch Hội làng Đông Linh tại Thái Bình thường diễn ra hàng năm vào ngày 15 tháng Hai, với nhiều hoạt động như dâng hương tưởng nhớ, các trò chơi dân gian... Điểm nổi bật nhất của hội làng Đông Linh là tục gói bánh chưng "làng Nghìn" với kích thước và khối lượng lớn. Có năm bánh chưng còn được làm với trọng lượng là 100kg. Đình làng Đông Linh còn được gọi là đình làng Nghìn, nằm trên một khoảng đất rộng chừng 3.000m2. theo hướng Tây Nam. Nằm giữa khu vực dân cư sầm uất của thị trấn An Bài, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Dọc theo quốc lộ 10 Thái Bình - Hải Phòng đến km 24, rẽ trái đi thê, 30m sẽ đến ngôi đình này. Tục làm bánh chưng to là một điểm nổi bật trong Hội làng Đông Linh tại Thái Bình Đình gồm 3 tòa nhà: từ khoảng sân rộng vào là tòa Đại Bái gồm 2 bộ bát tiểu tượng trưng cho binh khí của các vị tướng trong các cuộc kháng chiến, phía trên treo 3 bức đại tự được sơn son thiếp vàng. Sau đó là tòa Đình Trung, là nơi linh thiêng để người dân đến dâng hương vào ngày mồng 1, rằm và lễ hội. Sau đình Trung là Cung cấm. Tương truyền nơi đây là mộ của 4 vị tướng quân là Phạm Lưu, Phạm Bôi, Phạm Ru, Phạm Châu. Vào ngày hội, các nghi lễ và phần hội đều diễn ra tại đình Đông Linh. Tục làm bánh chưng trong lễ hội Đông Linh được kể lại là có từ thời xưa, khi các tướng lãm lễ khảo quân thường mở vào ngày 15 tháng 2 âm lịch. Trong ngày này, quân lính sẽ tập trung về đây ăn một cái bánh chưng to để thể hiện tinh thần đồng lòng, đồng sức. Sau này, người dân vì để tưởng nhớ tới công lao của các tướng sĩ mà mở hội làng để lưu lại tục làm bánh chưng đặc biệt này.

Đình làng Đông Linh còn được gọi là đình làng Nghìn, nằm trên một khoảng đất rộng chừng 3.000m2. theo hướng Tây Nam. Nằm giữa khu vực dân cư sầm uất của thị trấn An Bài, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Dọc theo quốc lộ 10 Thái Bình - Hải Phòng đến km 24, rẽ trái đi thê, 30m sẽ đến ngôi đình này.

Tục làm bánh chưng to là một điểm nổi bật trong Hội làng Đông Linh tại Thái Bình

Đình gồm 3 tòa nhà: từ khoảng sân rộng vào là tòa Đại Bái gồm 2 bộ bát tiểu tượng trưng cho binh khí của các vị tướng trong các cuộc kháng chiến, phía trên treo 3 bức đại tự được sơn son thiếp vàng. Sau đó là tòa Đình Trung, là nơi linh thiêng để người dân đến dâng hương vào ngày mồng 1, rằm và lễ hội. Sau đình Trung là Cung cấm. Tương truyền nơi đây là mộ của 4 vị tướng quân là Phạm Lưu, Phạm Bôi, Phạm Ru, Phạm Châu.

Vào ngày hội, các nghi lễ và phần hội đều diễn ra tại đình Đông Linh. Tục làm bánh chưng trong lễ hội Đông Linh được kể lại là có từ thời xưa, khi các tướng lãm lễ khảo quân thường mở vào ngày 15 tháng 2 âm lịch. Trong ngày này, quân lính sẽ tập trung về đây ăn một cái bánh chưng to để thể hiện tinh thần đồng lòng, đồng sức. Sau này, người dân vì để tưởng nhớ tới công lao của các tướng sĩ mà mở hội làng để lưu lại tục làm bánh chưng đặc biệt này.

Related Figures

Lễ hội La Vang

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/8 Dương lịch Lễ hội La Vang tại Quảng Trị là một lễ hội lớn và độc đáo của người Công giáo Quảng Trị. Lễ hội thường tổ chức vào ngày 15 tháng 8 dương lịch hàng năm. Lễ hội La Vang tại Quảng Trị Tục truyền, bắt đầu từ năm 1864 đã có tới 30 giáo dân Cổ Vưu tổ chức hàng hương La Vang và các cuộc hành hương như thế đã diễn ra hàng năm với số người càng ngày càng đông, đã biến cuộc hàng hương La Vang cấp giáo xứ (Cổ Vưu) được nâng lên thành giáo hạt (Dinh Cát). Lễ hội La Vang là ngày hội lớn của Công giáo Việt Nam Sau khi dựng nhà thờ ngói, cứ đến ngày 15 tháng 8 dương lịch hàng năm tại La Vang lại tổ chức lễ hội hành hương, gọi là "Kiệu". Cứ ba năm lại có một "Kiệu" lớn, còn được gọi là "Đại hội La Vang". Năm chẵn sẽ tổ chức "kiệu" hơn năm lẻ, và cứ ba năm lại tổ chức một "kiệu đại hội". Người hành hương đến đây có thể mua đã lá cây vằng, là một lá cây dùng để nấu lấy nước uống, có tác dụng thanh lọc, mát, rất tốt cho người phụ nữ mới sinh nở. Ngoài ra, khách hành hương còn được xin ơn lành mà người Công giáo tin rằng Đức bà sẽ ban cho họ được như ý. Lễ hội La Vang là một lễ hội lớn và quan trọng trong năm của người dân Quảng Trị Sao một thời gian lễ hội này bị gián đoạn, từ năm 1990, chính quyền địa phương đã cho phép người dân hành lễ trở lại. La Vang đã trở thành thánh địa hành hương quan trọng bậc nhất của những người theo Công giáo Việt Nam. Hàng năm, có đến hơn nửa triệu người lại về đây hành hương.

Lễ hội La Vang tại Quảng Trị Tục truyền, bắt đầu từ năm 1864 đã có tới 30 giáo dân Cổ Vưu tổ chức hàng hương La Vang và các cuộc hành hương như thế đã diễn ra hàng năm với số người càng ngày càng đông, đã biến cuộc hàng hương La Vang cấp giáo xứ (Cổ Vưu) được nâng lên thành giáo hạt (Dinh Cát). Lễ hội La Vang là ngày hội lớn của Công giáo Việt Nam Sau khi dựng nhà thờ ngói, cứ đến ngày 15 tháng 8 dương lịch hàng năm tại La Vang lại tổ chức lễ hội hành hương, gọi là "Kiệu". Cứ ba năm lại có một "Kiệu" lớn, còn được gọi là "Đại hội La Vang". Năm chẵn sẽ tổ chức "kiệu" hơn năm lẻ, và cứ ba năm lại tổ chức một "kiệu đại hội". Người hành hương đến đây có thể mua đã lá cây vằng, là một lá cây dùng để nấu lấy nước uống, có tác dụng thanh lọc, mát, rất tốt cho người phụ nữ mới sinh nở. Ngoài ra, khách hành hương còn được xin ơn lành mà người Công giáo tin rằng Đức bà sẽ ban cho họ được như ý. Lễ hội La Vang là một lễ hội lớn và quan trọng trong năm của người dân Quảng Trị Sao một thời gian lễ hội này bị gián đoạn, từ năm 1990, chính quyền địa phương đã cho phép người dân hành lễ trở lại. La Vang đã trở thành thánh địa hành hương quan trọng bậc nhất của những người theo Công giáo Việt Nam. Hàng năm, có đến hơn nửa triệu người lại về đây hành hương.

Tục truyền, bắt đầu từ năm 1864 đã có tới 30 giáo dân Cổ Vưu tổ chức hàng hương La Vang và các cuộc hành hương như thế đã diễn ra hàng năm với số người càng ngày càng đông, đã biến cuộc hàng hương La Vang cấp giáo xứ (Cổ Vưu) được nâng lên thành giáo hạt (Dinh Cát).

Lễ hội La Vang là ngày hội lớn của Công giáo Việt Nam

Sau khi dựng nhà thờ ngói, cứ đến ngày 15 tháng 8 dương lịch hàng năm tại La Vang lại tổ chức lễ hội hành hương, gọi là "Kiệu". Cứ ba năm lại có một "Kiệu" lớn, còn được gọi là "Đại hội La Vang". Năm chẵn sẽ tổ chức "kiệu" hơn năm lẻ, và cứ ba năm lại tổ chức một "kiệu đại hội".

Người hành hương đến đây có thể mua đã lá cây vằng, là một lá cây dùng để nấu lấy nước uống, có tác dụng thanh lọc, mát, rất tốt cho người phụ nữ mới sinh nở. Ngoài ra, khách hành hương còn được xin ơn lành mà người Công giáo tin rằng Đức bà sẽ ban cho họ được như ý.

Lễ hội La Vang là một lễ hội lớn và quan trọng trong năm của người dân Quảng Trị

Sao một thời gian lễ hội này bị gián đoạn, từ năm 1990, chính quyền địa phương đã cho phép người dân hành lễ trở lại. La Vang đã trở thành thánh địa hành hương quan trọng bậc nhất của những người theo Công giáo Việt Nam. Hàng năm, có đến hơn nửa triệu người lại về đây hành hương.

Related Figures

Tết Chôl Chnăm Thmây của người Khơme

Thông tin thời kỳ

Tết Chôl Chnăm Thmây còn gọi là Tết chịu tuổi của người Khơme tại Sóc Trăng. Đây là một lễ hội truyền thống có qui mô lớn của đồng bào Khơme nói chung, và người Khơme tại Sóc Trăng nói riêng. Theo quan niệm của người Khơme, đây là thời điểm chuyển giao giữ đất trời, cỏ cây tươi tốt, sự đâm chồi nảy lộc của cây cối, như sự khởi đầu của một năm mới. Tết Chôl Chnăm Thmây của người Khơme ở Sóc Trăng Tết Chôl Chnăm Thmây năm 2017 diễn ra từ ngày 14 đến 16 tháng Tư âm lịch. Những ngày này, trong phum, sóc của người Khơme luôn rộn ràng không khí đón tết. Mặc dù vẫn còn gặp nhiều khó khăn vì tình hình thời tiết biến đổi, hạn mặn đâu đó khiến mùa vụ không được như ý, nhưng người dân Khơme nơi đây vẫn ngập tràn niềm vui đón Tết Chôl Chnăm Thmây. Người dân mang cơm và lễ vật lên chùa dâng lên chư tăng Trong những ngày tết Chôl Chnăm Thmây, ngày đầu tiên của năm mới, tùy theo điều kiện kinh tế của gia đình mà chuẩn bị lễ vật và dâng cơm cúng dường lên vị chư tăng. Ngày thứ hai, đồng bào Khơme vẫn tiếp tục dâng cơm và lễ vật lên các vị chư tăng. Theo các vị Achar, trong các ngày này Phật tử đi chùa lạy Phật phải có trách nhiệm dâng cơm lên sư sãi và lắng nghe họ chúc tục, thuyết pháp và cầu an. Ngày thứ ba, người Khơme vẫn tiếp tục dâng cơm lên các vị chưa tăng. Sau đó, họ sẽ tiến hành làm lễ lễ chắk kompi (tục bốc thăm) rồi thỉnh mời các chưa tăng thuyết pháp theo Satra-slấk ríth (loại thư viết trên lá buông). Các chư tăng đang tiến hành một nghi lễ Người Khơme có quan niệm rằng, nếu năm mới mà bốc được câu chuyện gặp những điều tốt lành thì năm đó họ sẽ được may mắn. Bản thân họ sẽ làm nhiều việc thiện để được hưởng điều may. Nếu bốc thăm vào câu chuyện không may thì sẽ phải tu tâm, dưỡng tình và làm những việc tốt để mong tai qua nạn khỏi.

Tết Chôl Chnăm Thmây của người Khơme ở Sóc Trăng Tết Chôl Chnăm Thmây năm 2017 diễn ra từ ngày 14 đến 16 tháng Tư âm lịch. Những ngày này, trong phum, sóc của người Khơme luôn rộn ràng không khí đón tết. Mặc dù vẫn còn gặp nhiều khó khăn vì tình hình thời tiết biến đổi, hạn mặn đâu đó khiến mùa vụ không được như ý, nhưng người dân Khơme nơi đây vẫn ngập tràn niềm vui đón Tết Chôl Chnăm Thmây. Người dân mang cơm và lễ vật lên chùa dâng lên chư tăng Trong những ngày tết Chôl Chnăm Thmây, ngày đầu tiên của năm mới, tùy theo điều kiện kinh tế của gia đình mà chuẩn bị lễ vật và dâng cơm cúng dường lên vị chư tăng. Ngày thứ hai, đồng bào Khơme vẫn tiếp tục dâng cơm và lễ vật lên các vị chư tăng. Theo các vị Achar, trong các ngày này Phật tử đi chùa lạy Phật phải có trách nhiệm dâng cơm lên sư sãi và lắng nghe họ chúc tục, thuyết pháp và cầu an. Ngày thứ ba, người Khơme vẫn tiếp tục dâng cơm lên các vị chưa tăng. Sau đó, họ sẽ tiến hành làm lễ lễ chắk kompi (tục bốc thăm) rồi thỉnh mời các chưa tăng thuyết pháp theo Satra-slấk ríth (loại thư viết trên lá buông). Các chư tăng đang tiến hành một nghi lễ Người Khơme có quan niệm rằng, nếu năm mới mà bốc được câu chuyện gặp những điều tốt lành thì năm đó họ sẽ được may mắn. Bản thân họ sẽ làm nhiều việc thiện để được hưởng điều may. Nếu bốc thăm vào câu chuyện không may thì sẽ phải tu tâm, dưỡng tình và làm những việc tốt để mong tai qua nạn khỏi.

Tết Chôl Chnăm Thmây năm 2017 diễn ra từ ngày 14 đến 16 tháng Tư âm lịch. Những ngày này, trong phum, sóc của người Khơme luôn rộn ràng không khí đón tết. Mặc dù vẫn còn gặp nhiều khó khăn vì tình hình thời tiết biến đổi, hạn mặn đâu đó khiến mùa vụ không được như ý, nhưng người dân Khơme nơi đây vẫn ngập tràn niềm vui đón Tết Chôl Chnăm Thmây.

Người dân mang cơm và lễ vật lên chùa dâng lên chư tăng

Trong những ngày tết Chôl Chnăm Thmây, ngày đầu tiên của năm mới, tùy theo điều kiện kinh tế của gia đình mà chuẩn bị lễ vật và dâng cơm cúng dường lên vị chư tăng. Ngày thứ hai, đồng bào Khơme vẫn tiếp tục dâng cơm và lễ vật lên các vị chư tăng. Theo các vị Achar, trong các ngày này Phật tử đi chùa lạy Phật phải có trách nhiệm dâng cơm lên sư sãi và lắng nghe họ chúc tục, thuyết pháp và cầu an.

Ngày thứ ba, người Khơme vẫn tiếp tục dâng cơm lên các vị chưa tăng. Sau đó, họ sẽ tiến hành làm lễ lễ chắk kompi (tục bốc thăm) rồi thỉnh mời các chưa tăng thuyết pháp theo Satra-slấk ríth (loại thư viết trên lá buông).

Các chư tăng đang tiến hành một nghi lễ

Người Khơme có quan niệm rằng, nếu năm mới mà bốc được câu chuyện gặp những điều tốt lành thì năm đó họ sẽ được may mắn. Bản thân họ sẽ làm nhiều việc thiện để được hưởng điều may. Nếu bốc thăm vào câu chuyện không may thì sẽ phải tu tâm, dưỡng tình và làm những việc tốt để mong tai qua nạn khỏi.

Related Figures

Lễ hội đền thờ vua Lê Thái Tông

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/1- 17/1 Âm lịch Lễ hội đền thờ vua Lê Thái Tông tại Sơn La diễn ra từ ngày 22 đến ngày 24 tháng Giêng âm lịch, tại phường Chiềng Lề, Thành phố Sơn La. Đây là một sự kiện văn hóa quan trọng của tỉnh Sơn La, với chủ đề "Hướng về cội nguồn". Lễ hội nhằm tôn vĩnh công lao to lớn của vua Lê Thái Tông cùng các tướng sĩ và nhân dân trong lịch sử dựng nước và giữ nước. Lễ hội đền thờ vua Lê Thái Tông tại Sơn La Vua Lê Thái Tông là vị vua thứ hai của triều nhà Lê sơ. Ông sinh ngày 20/11/1423, lên ngôi vào ngày 08/9/1433, lấy niên hiệu là Thiệu Bình. Năm thứ 7 ông đổi niên hiệu là Đại Bảo, hiệu là "Quế lâm động chủ" tiếp nối hiệu "Lam sơn động chủ' của vua cha. Ông đã hai lần chỉ huy quân sĩ lên Tây Bắc dẹp quân phản nghịch. Ông qua đời ngày 27/7/1442. Năm 2016 là năm đầu tiên tổ chức Lễ hội đền thờ vua Lê Thái Tông tại Sơn La Năm 2016 là năm đầu tiên Sơn La tổ chức lễ hội đền thờ vua Lê Thái Tông. Lễ hội diễn ra từ ngày 15-17 tháng Giêng âm lịch. Phần lễ gồm các nghi lễ dâng hương, dâng lễ tại ngôi Đến thờ vua Lê Thái Tông. Phần hội diễn ra trong không khí sôi nổi với màn biểu diễn "Trống hội tế xuân", các ca khúc và điệu múa với chủ đề "Nổi trống Lạc Hồng", múa lân, múa rồng. Đặc biệt là các hoạt động trong phần như: thi ẩm thực, các trò chơi dân gian hay các môn thi đấu thể thao dân tộc... Tiết mục múa rồng trong ngày hội đền thờ vua Lê Thái Tông tại Sơn La Lễ hội Đền thờ vua Lê Thái Tông là dịp để người dân Sơn La ôn lại truyền thống uống nước nhớ nguồn, khơi dậy lòng yêu nước, tự hào dân tộc và kế tục sự nghiệp dựng nước và giữ nước của ông cha ta. Đây cũng là một lễ hội phục vụ nhu cầu hưởng thụ giá trị văn hóa tinh thần, là nét đẹp trong đời sống tâm linh của người dân thành phố Sơn La. Thông qua lễ hội Đền thờ vua Lê Thái Tông, phát huy năng lực sáng tạo của người dân, động viên, cổ vũ người người, nhà nhà cùng thi đua sản xuất, công tác, học tập và gắn kết cộng đồng xây dựng một thành phố Sơn La ngày càng văn mình và giàu đẹp.

Lễ hội đền thờ vua Lê Thái Tông tại Sơn La Vua Lê Thái Tông là vị vua thứ hai của triều nhà Lê sơ. Ông sinh ngày 20/11/1423, lên ngôi vào ngày 08/9/1433, lấy niên hiệu là Thiệu Bình. Năm thứ 7 ông đổi niên hiệu là Đại Bảo, hiệu là "Quế lâm động chủ" tiếp nối hiệu "Lam sơn động chủ' của vua cha. Ông đã hai lần chỉ huy quân sĩ lên Tây Bắc dẹp quân phản nghịch. Ông qua đời ngày 27/7/1442. Năm 2016 là năm đầu tiên tổ chức Lễ hội đền thờ vua Lê Thái Tông tại Sơn La Năm 2016 là năm đầu tiên Sơn La tổ chức lễ hội đền thờ vua Lê Thái Tông. Lễ hội diễn ra từ ngày 15-17 tháng Giêng âm lịch. Phần lễ gồm các nghi lễ dâng hương, dâng lễ tại ngôi Đến thờ vua Lê Thái Tông. Phần hội diễn ra trong không khí sôi nổi với màn biểu diễn "Trống hội tế xuân", các ca khúc và điệu múa với chủ đề "Nổi trống Lạc Hồng", múa lân, múa rồng. Đặc biệt là các hoạt động trong phần như: thi ẩm thực, các trò chơi dân gian hay các môn thi đấu thể thao dân tộc... Tiết mục múa rồng trong ngày hội đền thờ vua Lê Thái Tông tại Sơn La Lễ hội Đền thờ vua Lê Thái Tông là dịp để người dân Sơn La ôn lại truyền thống uống nước nhớ nguồn, khơi dậy lòng yêu nước, tự hào dân tộc và kế tục sự nghiệp dựng nước và giữ nước của ông cha ta. Đây cũng là một lễ hội phục vụ nhu cầu hưởng thụ giá trị văn hóa tinh thần, là nét đẹp trong đời sống tâm linh của người dân thành phố Sơn La. Thông qua lễ hội Đền thờ vua Lê Thái Tông, phát huy năng lực sáng tạo của người dân, động viên, cổ vũ người người, nhà nhà cùng thi đua sản xuất, công tác, học tập và gắn kết cộng đồng xây dựng một thành phố Sơn La ngày càng văn mình và giàu đẹp.

Vua Lê Thái Tông là vị vua thứ hai của triều nhà Lê sơ. Ông sinh ngày 20/11/1423, lên ngôi vào ngày 08/9/1433, lấy niên hiệu là Thiệu Bình. Năm thứ 7 ông đổi niên hiệu là Đại Bảo, hiệu là "Quế lâm động chủ" tiếp nối hiệu "Lam sơn động chủ' của vua cha. Ông đã hai lần chỉ huy quân sĩ lên Tây Bắc dẹp quân phản nghịch. Ông qua đời ngày 27/7/1442.

Năm 2016 là năm đầu tiên tổ chức Lễ hội đền thờ vua Lê Thái Tông tại Sơn La Năm 2016 là năm đầu tiên Sơn La tổ chức lễ hội đền thờ vua Lê Thái Tông. Lễ hội diễn ra từ ngày 15-17 tháng Giêng âm lịch. Phần lễ gồm các nghi lễ dâng hương, dâng lễ tại ngôi Đến thờ vua Lê Thái Tông. Phần hội diễn ra trong không khí sôi nổi với màn biểu diễn "Trống hội tế xuân", các ca khúc và điệu múa với chủ đề "Nổi trống Lạc Hồng", múa lân, múa rồng. Đặc biệt là các hoạt động trong phần như: thi ẩm thực, các trò chơi dân gian hay các môn thi đấu thể thao dân tộc... Tiết mục múa rồng trong ngày hội đền thờ vua Lê Thái Tông tại Sơn La Lễ hội Đền thờ vua Lê Thái Tông là dịp để người dân Sơn La ôn lại truyền thống uống nước nhớ nguồn, khơi dậy lòng yêu nước, tự hào dân tộc và kế tục sự nghiệp dựng nước và giữ nước của ông cha ta. Đây cũng là một lễ hội phục vụ nhu cầu hưởng thụ giá trị văn hóa tinh thần, là nét đẹp trong đời sống tâm linh của người dân thành phố Sơn La. Thông qua lễ hội Đền thờ vua Lê Thái Tông, phát huy năng lực sáng tạo của người dân, động viên, cổ vũ người người, nhà nhà cùng thi đua sản xuất, công tác, học tập và gắn kết cộng đồng xây dựng một thành phố Sơn La ngày càng văn mình và giàu đẹp.

Năm 2016 là năm đầu tiên Sơn La tổ chức lễ hội đền thờ vua Lê Thái Tông. Lễ hội diễn ra từ ngày 15-17 tháng Giêng âm lịch. Phần lễ gồm các nghi lễ dâng hương, dâng lễ tại ngôi Đến thờ vua Lê Thái Tông. Phần hội diễn ra trong không khí sôi nổi với màn biểu diễn "Trống hội tế xuân", các ca khúc và điệu múa với chủ đề "Nổi trống Lạc Hồng", múa lân, múa rồng. Đặc biệt là các hoạt động trong phần như: thi ẩm thực, các trò chơi dân gian hay các môn thi đấu thể thao dân tộc...

Tiết mục múa rồng trong ngày hội đền thờ vua Lê Thái Tông tại Sơn La

Lễ hội Đền thờ vua Lê Thái Tông là dịp để người dân Sơn La ôn lại truyền thống uống nước nhớ nguồn, khơi dậy lòng yêu nước, tự hào dân tộc và kế tục sự nghiệp dựng nước và giữ nước của ông cha ta. Đây cũng là một lễ hội phục vụ nhu cầu hưởng thụ giá trị văn hóa tinh thần, là nét đẹp trong đời sống tâm linh của người dân thành phố Sơn La. Thông qua lễ hội Đền thờ vua Lê Thái Tông, phát huy năng lực sáng tạo của người dân, động viên, cổ vũ người người, nhà nhà cùng thi đua sản xuất, công tác, học tập và gắn kết cộng đồng xây dựng một thành phố Sơn La ngày càng văn mình và giàu đẹp.

Related Figures

Lễ hội đền Phủ Na

Thông tin thời kỳ

Hàng năm cứ đến ngoài mồng 2 tết, người dân trong vùng và du khách khắp nơi lại kéo nhau về đền Phủ Na để cầu điều may. Lễ hội đền Phủ Na thường kéo dài suốt tháng Giêng, tháng Hai và tháng Tám âm lịch hàng năm. Lễ hội đền Phủ Na tại Thanh Hóa Phủ Na còn có tên khác là Na Sơn Động Phủ, tọa lạc trên địa bàn xã Xuân Du, huyện Như Thanh , tỉnh Thanh Hóa. Đền nằm bên dưới chân núi Nữa, là nơi nữ tướng Triệu Thị Trinh dấy binh đánh đuổi quân Đông Ngô xâm lược. Đây là vùng đất có phong cảnh hữu tình, có rừng, có khe suối.. làm nên một Phủ Na đẹp như tranh vẽ. Ngày 28/1/1993, đền Phủ Na được nhà nước công nhận là Di tích lịch sử văn hóa và thắng cảnh. Đền Phủ Na cũng là nơi thờ nhiều vị thánh, nhưng nổi bật nhất là Bà Triệu, mẫu Thượng Ngàn, công chúa Liễu Hạnh... Du khách tới Phủ Na thường xin được bình an, may mắn, làm ăn được phát đạt, và thưởng ngoạn cảnh vật, mua các loại đặc sản của vùng miền núi như chè tươi, lá đắng, xin nước thánh... Cứ mỗi dịp xuân về đền Phủ Na lại đón tiếp hàng vạn du khách mỗi ngày Lễ hội đền Phủ Na diễn ra tương tự các lễ hội truyền thống khác. Ngoài các lễ cúng tế mang đậm tín ngưỡng thờ Mẫu còn có các hoạt động văn hóa, văn nghệ, các trò chơi dân gian, góp phần làm sinh động thêm cho lễ hội. Lễ hội Phủ Na từ lâu đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống tâm linh của người dân xứ Thanh mỗi độ xuân về. Những ngày đầu xuân, Phủ Na đón tiếp hàng vạn du khách mỗi ngày. Tuy nhiên, bên cạnh những nét đẹp trong văn hóa tâm linh ra thì lễ hội đền Phủ Na cũng còn tồn tại nhiều điều khiến du khách không hài lòng, đó là vấn nạn ăn xin, trò đỏ đen.. Người xem hội vẫn còn chen lấn nhau, vứt rác bừa bãi, tạo nên những hình ảnh chưa đẹp mắt cho lễ hội. Người dân chen lấn nhau tại Lễ hội đền Phủ Na tại Thanh Hóa

Lễ hội đền Phủ Na tại Thanh Hóa Phủ Na còn có tên khác là Na Sơn Động Phủ, tọa lạc trên địa bàn xã Xuân Du, huyện Như Thanh , tỉnh Thanh Hóa. Đền nằm bên dưới chân núi Nữa, là nơi nữ tướng Triệu Thị Trinh dấy binh đánh đuổi quân Đông Ngô xâm lược. Đây là vùng đất có phong cảnh hữu tình, có rừng, có khe suối.. làm nên một Phủ Na đẹp như tranh vẽ. Ngày 28/1/1993, đền Phủ Na được nhà nước công nhận là Di tích lịch sử văn hóa và thắng cảnh. Đền Phủ Na cũng là nơi thờ nhiều vị thánh, nhưng nổi bật nhất là Bà Triệu, mẫu Thượng Ngàn, công chúa Liễu Hạnh... Du khách tới Phủ Na thường xin được bình an, may mắn, làm ăn được phát đạt, và thưởng ngoạn cảnh vật, mua các loại đặc sản của vùng miền núi như chè tươi, lá đắng, xin nước thánh... Cứ mỗi dịp xuân về đền Phủ Na lại đón tiếp hàng vạn du khách mỗi ngày Lễ hội đền Phủ Na diễn ra tương tự các lễ hội truyền thống khác. Ngoài các lễ cúng tế mang đậm tín ngưỡng thờ Mẫu còn có các hoạt động văn hóa, văn nghệ, các trò chơi dân gian, góp phần làm sinh động thêm cho lễ hội. Lễ hội Phủ Na từ lâu đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống tâm linh của người dân xứ Thanh mỗi độ xuân về. Những ngày đầu xuân, Phủ Na đón tiếp hàng vạn du khách mỗi ngày. Tuy nhiên, bên cạnh những nét đẹp trong văn hóa tâm linh ra thì lễ hội đền Phủ Na cũng còn tồn tại nhiều điều khiến du khách không hài lòng, đó là vấn nạn ăn xin, trò đỏ đen.. Người xem hội vẫn còn chen lấn nhau, vứt rác bừa bãi, tạo nên những hình ảnh chưa đẹp mắt cho lễ hội.

Phủ Na còn có tên khác là Na Sơn Động Phủ, tọa lạc trên địa bàn xã Xuân Du, huyện Như Thanh , tỉnh Thanh Hóa. Đền nằm bên dưới chân núi Nữa, là nơi nữ tướng Triệu Thị Trinh dấy binh đánh đuổi quân Đông Ngô xâm lược. Đây là vùng đất có phong cảnh hữu tình, có rừng, có khe suối.. làm nên một Phủ Na đẹp như tranh vẽ. Ngày 28/1/1993, đền Phủ Na được nhà nước công nhận là Di tích lịch sử văn hóa và thắng cảnh.

Đền Phủ Na cũng là nơi thờ nhiều vị thánh, nhưng nổi bật nhất là Bà Triệu, mẫu Thượng Ngàn, công chúa Liễu Hạnh... Du khách tới Phủ Na thường xin được bình an, may mắn, làm ăn được phát đạt, và thưởng ngoạn cảnh vật, mua các loại đặc sản của vùng miền núi như chè tươi, lá đắng, xin nước thánh...

Cứ mỗi dịp xuân về đền Phủ Na lại đón tiếp hàng vạn du khách mỗi ngày

Lễ hội đền Phủ Na diễn ra tương tự các lễ hội truyền thống khác. Ngoài các lễ cúng tế mang đậm tín ngưỡng thờ Mẫu còn có các hoạt động văn hóa, văn nghệ, các trò chơi dân gian, góp phần làm sinh động thêm cho lễ hội.

Lễ hội Phủ Na từ lâu đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống tâm linh của người dân xứ Thanh mỗi độ xuân về. Những ngày đầu xuân, Phủ Na đón tiếp hàng vạn du khách mỗi ngày. Tuy nhiên, bên cạnh những nét đẹp trong văn hóa tâm linh ra thì lễ hội đền Phủ Na cũng còn tồn tại nhiều điều khiến du khách không hài lòng, đó là vấn nạn ăn xin, trò đỏ đen.. Người xem hội vẫn còn chen lấn nhau, vứt rác bừa bãi, tạo nên những hình ảnh chưa đẹp mắt cho lễ hội.

Người dân chen lấn nhau tại Lễ hội đền Phủ Na tại Thanh Hóa

Related Figures

Lễ hội khai xuân Khánh Hạ

Thông tin thời kỳ

Lễ hội khai xuân Khánh Hạ tại Vĩnh Phúc diễn ra hàng năm vào ngày mồng 9 tháng Giêng âm lịch. Đây là ngày hội của 3 làng Mậu Thông, Mậu Lâm và Vĩnh Thịnh thuộc phường Khai Quang, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc. Trong ngày hội, lễ rước kiệu sẽ bắt đầu từ làng Mậu Thông đến điện Linh Tiêu (Sau này đổi tên là chùa Phú Cung), còn được gọi là chùa Phú. Phần hội diễn ra độc đáo với màn trình diễn tích trò Tứ dân (Sỹ, Nông, Công, Cổ) còn được gọi là Tứ phú nhân lương- đây là một trò diễn dân gian thú vị, thể hiện niềm ước mong có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc, yên bình của người dân. Lễ hội khai xuân Khánh Hạ tại Vĩnh Phúc Đoàn rước diễn có 26 người trong thành phần đoàn: một người cầm trống, một người cầm chiêng, bốn người cầm bảng "tứ hình", sư, vãi, thầy cô, người cày, quốc, gắt, súc tôm, ếch, thợ mộc, học trò, lái buôn. Khi biểu diễn thường đeo mặt nạ thường được dán bằng giấy bản hoặc mo cau. Trang phục thường được chọn theo màu sắc hoặc tùy theo nghề nghiệp. Nam đóng giả nữ. Trâu bò chỉ có mô phỏng phần đầu. Các nhóm trò biểu diễn sẽ mô phỏng lại cách sinh hoạt xã hội nông nghiệp thời xưa của các ngành nghề như: nông phu đi cầy cấy, câu ếch, xúc tép, thương nhân đi buôn bán, thầy đồ dạy học, thợ mộc đục bào... Các dụng cụ được cầm ngược kèm theo các động tác ngộ nghĩnh gây cười. Trò diễn diễn ra rất hấp dẫn, đem lại tiếng cười vui vẻ cho người xem hội. Lễ hội khai xuân Khánh Hạ tại Vĩnh Phúc là một nét đẹp trong văn hóa của người dân ba làng Mậu Thông, Mậu Lâm và Vĩnh Thịnh. Lễ hội đã tái diễn lại cuộc sống hằng ngày của người dân lao động. Qua lễ hội này, người dân cũng có cơ hội giới thiệu về nét đẹp của quê hương mình.

Trong ngày hội, lễ rước kiệu sẽ bắt đầu từ làng Mậu Thông đến điện Linh Tiêu (Sau này đổi tên là chùa Phú Cung), còn được gọi là chùa Phú. Phần hội diễn ra độc đáo với màn trình diễn tích trò Tứ dân (Sỹ, Nông, Công, Cổ) còn được gọi là Tứ phú nhân lương- đây là một trò diễn dân gian thú vị, thể hiện niềm ước mong có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc, yên bình của người dân.

Lễ hội khai xuân Khánh Hạ tại Vĩnh Phúc

Đoàn rước diễn có 26 người trong thành phần đoàn: một người cầm trống, một người cầm chiêng, bốn người cầm bảng "tứ hình", sư, vãi, thầy cô, người cày, quốc, gắt, súc tôm, ếch, thợ mộc, học trò, lái buôn. Khi biểu diễn thường đeo mặt nạ thường được dán bằng giấy bản hoặc mo cau. Trang phục thường được chọn theo màu sắc hoặc tùy theo nghề nghiệp. Nam đóng giả nữ. Trâu bò chỉ có mô phỏng phần đầu. Các nhóm trò biểu diễn sẽ mô phỏng lại cách sinh hoạt xã hội nông nghiệp thời xưa của các ngành nghề như: nông phu đi cầy cấy, câu ếch, xúc tép, thương nhân đi buôn bán, thầy đồ dạy học, thợ mộc đục bào... Các dụng cụ được cầm ngược kèm theo các động tác ngộ nghĩnh gây cười. Trò diễn diễn ra rất hấp dẫn, đem lại tiếng cười vui vẻ cho người xem hội.

Đoàn rước diễn có 26 người trong thành phần đoàn: một người cầm trống, một người cầm chiêng, bốn người cầm bảng "tứ hình", sư, vãi, thầy cô, người cày, quốc, gắt, súc tôm, ếch, thợ mộc, học trò, lái buôn. Khi biểu diễn thường đeo mặt nạ thường được dán bằng giấy bản hoặc mo cau. Trang phục thường được chọn theo màu sắc hoặc tùy theo nghề nghiệp. Nam đóng giả nữ. Trâu bò chỉ có mô phỏng phần đầu.

Các nhóm trò biểu diễn sẽ mô phỏng lại cách sinh hoạt xã hội nông nghiệp thời xưa của các ngành nghề như: nông phu đi cầy cấy, câu ếch, xúc tép, thương nhân đi buôn bán, thầy đồ dạy học, thợ mộc đục bào... Các dụng cụ được cầm ngược kèm theo các động tác ngộ nghĩnh gây cười. Trò diễn diễn ra rất hấp dẫn, đem lại tiếng cười vui vẻ cho người xem hội.

Lễ hội khai xuân Khánh Hạ tại Vĩnh Phúc là một nét đẹp trong văn hóa của người dân ba làng Mậu Thông, Mậu Lâm và Vĩnh Thịnh. Lễ hội đã tái diễn lại cuộc sống hằng ngày của người dân lao động. Qua lễ hội này, người dân cũng có cơ hội giới thiệu về nét đẹp của quê hương mình.

Related Figures

Hội Xuân làng Thổ Tang

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 14/1- 23/1 Âm lịch Hội Xuân làng Thổ Tang ở Vĩnh Phúc thường tổ chức hàng năm tại làng Địa Tang, thuộc địa phận huyện Vĩnh Tường. Lễ hội diễn ra từ ngày 14 đến 23 tháng Giêng âm lịch. Đối tượng được người dân làng Địa Tang suy tôn là Thần Đất (Nuôi Ná), Phùng Thị Dung tiên nương, Lâu Hổ Hầu là người đã có công trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông. Tục truyền, Lâu Hổ Hầu chính là người đã hóa đất Thổ Tang. Để tướng nhớ tới công ơn của người xưa, hàng năm cứ đến ngày 14 tháng Giêng âm lịch, người dân lại từng bừng mở hội để rước thần về dự hội. Hội Xuân làng Thổ Tang ở Vĩnh Phúc Nơi đây là vùng trung du đẹp tươi với phong cảnh hùng vĩ, phía Tây và phía Đông có những ngọn đồi lớn, cây cối tươi tốt, lại còn có một con ngòi ôm ấp cánh bãi ven làng. Trong làng, đường xá được lát gạch sạch sẽ, nhà ngói san sát nhau. Cũng như nhiều ngôi làng ở miền Bắc, làng Thổ Tang thường mở hội mừng xuân. Lễ hội Xuân làng Thổ Tang thường được bắt đầu từ ngày 14 và kết thúc vào ngày 24 tháng Giêng âm lịch. Hội Xuân của làng Thổ Tang thường bắt đầu bằng cuộ rước từ miếu Trúc về đình làng theo nghi lễ truyền thống. Trong lễ tế Thành Hoàng và lễ cúng Thần Hổ, lễ vật được chuẩn bị bao giờ cũng có các ông Đô. Ông Đô chính là một con lợn được làng nuôi. Ông Đô yêu cầu thân phải dài, đen tuyền, béo mập. Tục làng không chấp nhận lợn bị lang nên ông Đô dù có đẹp đến mấy nhưng có lẫn sợi lông trắng đều bị loại. Khi mổ thịt cúng thần, làng phải chọn trai tân là người chọc tiết. Ngoài phần thịt để dâng lên thần, thịt các ông Đô sẽ được chia cho các giáp trong làng. Lễ rước trong ngày Hội Xuân làng Thổ Tang ở Vĩnh Phúc Việc chọn các Ông Đô là một tục lệ khuyến khích việc chăn nuôi tại làng Thổ Tang. Trên thực tế, người dân quanh vùng đều công nhận người dân làng Thổ Tang rất giỏi chăn nuôi. Đặc biệt, người làng Thổ Tang có nhiều kinh nghiệm trong việc chọn giống và chăn nuôi lợn. Ngoài trồng trọt, nuôi lợn cũng là một nghề mang lại nguồn thu cho người Thổ Tang ở Vĩnh Phúc.

Đối tượng được người dân làng Địa Tang suy tôn là Thần Đất (Nuôi Ná), Phùng Thị Dung tiên nương, Lâu Hổ Hầu là người đã có công trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông. Tục truyền, Lâu Hổ Hầu chính là người đã hóa đất Thổ Tang. Để tướng nhớ tới công ơn của người xưa, hàng năm cứ đến ngày 14 tháng Giêng âm lịch, người dân lại từng bừng mở hội để rước thần về dự hội.

Hội Xuân làng Thổ Tang ở Vĩnh Phúc

Nơi đây là vùng trung du đẹp tươi với phong cảnh hùng vĩ, phía Tây và phía Đông có những ngọn đồi lớn, cây cối tươi tốt, lại còn có một con ngòi ôm ấp cánh bãi ven làng. Trong làng, đường xá được lát gạch sạch sẽ, nhà ngói san sát nhau. Cũng như nhiều ngôi làng ở miền Bắc, làng Thổ Tang thường mở hội mừng xuân. Lễ hội Xuân làng Thổ Tang thường được bắt đầu từ ngày 14 và kết thúc vào ngày 24 tháng Giêng âm lịch.

Hội Xuân của làng Thổ Tang thường bắt đầu bằng cuộ rước từ miếu Trúc về đình làng theo nghi lễ truyền thống. Trong lễ tế Thành Hoàng và lễ cúng Thần Hổ, lễ vật được chuẩn bị bao giờ cũng có các ông Đô. Ông Đô chính là một con lợn được làng nuôi. Ông Đô yêu cầu thân phải dài, đen tuyền, béo mập. Tục làng không chấp nhận lợn bị lang nên ông Đô dù có đẹp đến mấy nhưng có lẫn sợi lông trắng đều bị loại. Khi mổ thịt cúng thần, làng phải chọn trai tân là người chọc tiết. Ngoài phần thịt để dâng lên thần, thịt các ông Đô sẽ được chia cho các giáp trong làng.

Lễ rước trong ngày Hội Xuân làng Thổ Tang ở Vĩnh Phúc

Việc chọn các Ông Đô là một tục lệ khuyến khích việc chăn nuôi tại làng Thổ Tang. Trên thực tế, người dân quanh vùng đều công nhận người dân làng Thổ Tang rất giỏi chăn nuôi. Đặc biệt, người làng Thổ Tang có nhiều kinh nghiệm trong việc chọn giống và chăn nuôi lợn. Ngoài trồng trọt, nuôi lợn cũng là một nghề mang lại nguồn thu cho người Thổ Tang ở Vĩnh Phúc.

Related Figures

Không gian văn hóa hội Rưng

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 6/1 Âm lịch Hội Rưng tổ chức ngày mùng 6 Tết âm lịch một trong những hội làng truyền thống đặc sắc nhất của tỉnh Vĩnh Phúc. Người dân Tứ Trưng tổ chức hội Rưng với mong ước cả năm đó có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc, mùa màng tốt tươi. Đông đảo người dân tham gia hội Rưng Hội Rưng được tổ chức cùng ngày với phiên chợ Rưng đầu tiên của năm mới. Từ xa xưa, người dân Tứ Trưng có nhiều câu ca nhắc nhở về ngày hội đầu năm như: Tháng Giêng mồng sáu tiệc vui Gần xa nô nức đến chơi chợ này Hay Bỏ con, bỏ cháu không ai bỏ mùng sáu hội Rưng Hội Rưng là lễ hội chung của các làng "Trưng" thuộc phủ Vĩnh Tường xưa (nay thuộc thị trấn Tứ Trưng, huyện Vĩnh Tường). Sở dĩ có tên Tứ Trưng là do được hình thành từ 4 làng Thế Trưng, Văn Trưng, Vĩnh Trưng và Bảo Trưng. Hội Rưng được tổ chức vào dịp đầu xuân năm mới, thời điểm nông nhàn, người nông dân được nghỉ ngơi sau một năm lam lũ, vất vả. Chợ Rưng nhìn ra đầm Rưng Chợ Rưng nằm ở trung tâm xã thị trấn nhìn ra đầm Rưng. Trước đây ở giữa chợ Rưng có một Miếu Ông thờ ông Nguyễn Văn Nhượng - danh tướng thời Lý Cao Tông. Sinh thời ông lập công đánh tan giặc Ai Lao và được vua ban cho nhiều ấn tín. Khi hóa ông được nhân dân lập miếu thờ ngay tại chợ Rưng. Ngày giỗ ông Nguyễn Văn Nhượng vào 7 tháng Giêng nên nhiều người nói hội Rưng chuẩn bị cho ngày giỗ ông. Trò chơi bắt trạch trong chum ở hội Rưng Hội Rưng chỉ diễn ra trong 1 ngày nên cả dân làng già trẻ, gái trai dù bận trăm công nghìn việc cũng phải gác lại tập trung ra chợ Rưng cùng nhau vui chơi nhiều trò chơi dân gian như: đánh đu, kéo co, đấu vật, đánh cờ người, bắt trạch trong chum... Người dân Tứ Trưng bảo nhau rằng trò bắt trạch trong chum có nguồn gốc từ nơi đây. Dân làng Tứ Trưng tổ chức hội Rưng hàng năm để chào đón một năm mới làm ăn phát đạt. Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống hội Rưng là thách thức với người dân Tứ Trưng trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước và hội nhập quốc tế.

Đông đảo người dân tham gia hội Rưng Hội Rưng được tổ chức cùng ngày với phiên chợ Rưng đầu tiên của năm mới. Từ xa xưa, người dân Tứ Trưng có nhiều câu ca nhắc nhở về ngày hội đầu năm như: Tháng Giêng mồng sáu tiệc vui Gần xa nô nức đến chơi chợ này Hay Bỏ con, bỏ cháu không ai bỏ mùng sáu hội Rưng Hội Rưng là lễ hội chung của các làng "Trưng" thuộc phủ Vĩnh Tường xưa (nay thuộc thị trấn Tứ Trưng, huyện Vĩnh Tường). Sở dĩ có tên Tứ Trưng là do được hình thành từ 4 làng Thế Trưng, Văn Trưng, Vĩnh Trưng và Bảo Trưng. Hội Rưng được tổ chức vào dịp đầu xuân năm mới, thời điểm nông nhàn, người nông dân được nghỉ ngơi sau một năm lam lũ, vất vả. Chợ Rưng nhìn ra đầm Rưng Chợ Rưng nằm ở trung tâm xã thị trấn nhìn ra đầm Rưng. Trước đây ở giữa chợ Rưng có một Miếu Ông thờ ông Nguyễn Văn Nhượng - danh tướng thời Lý Cao Tông. Sinh thời ông lập công đánh tan giặc Ai Lao và được vua ban cho nhiều ấn tín. Khi hóa ông được nhân dân lập miếu thờ ngay tại chợ Rưng. Ngày giỗ ông Nguyễn Văn Nhượng vào 7 tháng Giêng nên nhiều người nói hội Rưng chuẩn bị cho ngày giỗ ông. Trò chơi bắt trạch trong chum ở hội Rưng Hội Rưng chỉ diễn ra trong 1 ngày nên cả dân làng già trẻ, gái trai dù bận trăm công nghìn việc cũng phải gác lại tập trung ra chợ Rưng cùng nhau vui chơi nhiều trò chơi dân gian như: đánh đu, kéo co, đấu vật, đánh cờ người, bắt trạch trong chum... Người dân Tứ Trưng bảo nhau rằng trò bắt trạch trong chum có nguồn gốc từ nơi đây. Dân làng Tứ Trưng tổ chức hội Rưng hàng năm để chào đón một năm mới làm ăn phát đạt. Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống hội Rưng là thách thức với người dân Tứ Trưng trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước và hội nhập quốc tế.

Hội Rưng được tổ chức cùng ngày với phiên chợ Rưng đầu tiên của năm mới. Từ xa xưa, người dân Tứ Trưng có nhiều câu ca nhắc nhở về ngày hội đầu năm như:

Tháng Giêng mồng sáu tiệc vui

Gần xa nô nức đến chơi chợ này

Hay

Bỏ con, bỏ cháu không ai bỏ mùng sáu hội Rưng

Hội Rưng là lễ hội chung của các làng "Trưng" thuộc phủ Vĩnh Tường xưa (nay thuộc thị trấn Tứ Trưng, huyện Vĩnh Tường). Sở dĩ có tên Tứ Trưng là do được hình thành từ 4 làng Thế Trưng, Văn Trưng, Vĩnh Trưng và Bảo Trưng. Hội Rưng được tổ chức vào dịp đầu xuân năm mới, thời điểm nông nhàn, người nông dân được nghỉ ngơi sau một năm lam lũ, vất vả.

Chợ Rưng nhìn ra đầm Rưng

Chợ Rưng nằm ở trung tâm xã thị trấn nhìn ra đầm Rưng. Trước đây ở giữa chợ Rưng có một Miếu Ông thờ ông Nguyễn Văn Nhượng - danh tướng thời Lý Cao Tông. Sinh thời ông lập công đánh tan giặc Ai Lao và được vua ban cho nhiều ấn tín. Khi hóa ông được nhân dân lập miếu thờ ngay tại chợ Rưng. Ngày giỗ ông Nguyễn Văn Nhượng vào 7 tháng Giêng nên nhiều người nói hội Rưng chuẩn bị cho ngày giỗ ông.

Trò chơi bắt trạch trong chum ở hội Rưng

Hội Rưng chỉ diễn ra trong 1 ngày nên cả dân làng già trẻ, gái trai dù bận trăm công nghìn việc cũng phải gác lại tập trung ra chợ Rưng cùng nhau vui chơi nhiều trò chơi dân gian như: đánh đu, kéo co, đấu vật, đánh cờ người, bắt trạch trong chum... Người dân Tứ Trưng bảo nhau rằng trò bắt trạch trong chum có nguồn gốc từ nơi đây.

Dân làng Tứ Trưng tổ chức hội Rưng hàng năm để chào đón một năm mới làm ăn phát đạt. Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống hội Rưng là thách thức với người dân Tứ Trưng trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước và hội nhập quốc tế.

Related Figures

Sau một năm dừng Hà Nội bắn pháo hoa dịp tết nguyên đán 2018

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 30/12 Âm lịch Sau một năm tạm dừng, Tết Nguyên đán Mậu Tuất năm nay, thành phố Hà Nội sẽ tổ chức bắn pháo hoa tại nhiều điểm trên địa bàn. Đây là chương trình được người dân chờ đón trong đêm Giao thừa. Hà Nội bắn pháo hoa chào đón năm mới UBND Hà Nội vừa ban hành kế hoạch số 12 về tổ chức các hoạt động biểu diễn văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao kỷ niệm 88 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và chào mừng Tết Nguyên đán Mậu Tuất 2018. Cùng với nhiều hoạt động biểu diễn, thành phố Hà Nội sẽ tổ chức bắn pháo hoa tại nhiều điểm. Hàng nghìn người dân chờ đón bắn pháo hoa đêm giao thừa Bắn pháo hoa chào đón năm mới là hoạt động thường niên, những năm trước Hà Nội thường tổ chức bắn pháo hoa tại 30 điểm, trong đó có 5 điểm bắn pháo hoa tầm cao (hồ Hoàn Kiếm, vườn hoa Lạc Long Quân, SVĐ Quốc gia Mỹ Đình, công viên Thống Nhất, hồ Văn Quán), 25 điểm bắn tầm thấp tương ứng với 25 quận, huyện, thị xã không có điểm bắn tầm cao. Kế hoạch bắn pháo hoa được thành phố Hà Nội giao Bộ Tư lệnh thủ đô lên phương án chi tiết sau đó trình thành phố duyệt. Hà Nội bắn pháo hoa chào đón năm mới ở Hồ Hoàn Kiếm Bên cạnh bắn pháo hoa chào đón năm mới, các chương trình biểu diễn văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao được tổ chức tại một số sân khấu lớn như: Vườn hoa Tượng đài Lý Thái Tổ, Quảng trường Cách mạng tháng Tám, Trung tâm quận Hà Đông... Tết Nguyên Đán năm ngoái, Hà Nội thực hiện chỉ thị của Trung Ương không tổ chức bắn pháo hoa và dành số tiền hơn 10 tỷ đồng dự tính phục vụ kế hoạch bắn pháo hoa để ủng hộ đồng bào miền Trung bị lũ lụt.

Hà Nội bắn pháo hoa chào đón năm mới UBND Hà Nội vừa ban hành kế hoạch số 12 về tổ chức các hoạt động biểu diễn văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao kỷ niệm 88 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và chào mừng Tết Nguyên đán Mậu Tuất 2018. Cùng với nhiều hoạt động biểu diễn, thành phố Hà Nội sẽ tổ chức bắn pháo hoa tại nhiều điểm. Hàng nghìn người dân chờ đón bắn pháo hoa đêm giao thừa Bắn pháo hoa chào đón năm mới là hoạt động thường niên, những năm trước Hà Nội thường tổ chức bắn pháo hoa tại 30 điểm, trong đó có 5 điểm bắn pháo hoa tầm cao (hồ Hoàn Kiếm, vườn hoa Lạc Long Quân, SVĐ Quốc gia Mỹ Đình, công viên Thống Nhất, hồ Văn Quán), 25 điểm bắn tầm thấp tương ứng với 25 quận, huyện, thị xã không có điểm bắn tầm cao. Kế hoạch bắn pháo hoa được thành phố Hà Nội giao Bộ Tư lệnh thủ đô lên phương án chi tiết sau đó trình thành phố duyệt. Hà Nội bắn pháo hoa chào đón năm mới ở Hồ Hoàn Kiếm Bên cạnh bắn pháo hoa chào đón năm mới, các chương trình biểu diễn văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao được tổ chức tại một số sân khấu lớn như: Vườn hoa Tượng đài Lý Thái Tổ, Quảng trường Cách mạng tháng Tám, Trung tâm quận Hà Đông... Tết Nguyên Đán năm ngoái, Hà Nội thực hiện chỉ thị của Trung Ương không tổ chức bắn pháo hoa và dành số tiền hơn 10 tỷ đồng dự tính phục vụ kế hoạch bắn pháo hoa để ủng hộ đồng bào miền Trung bị lũ lụt.

UBND Hà Nội vừa ban hành kế hoạch số 12 về tổ chức các hoạt động biểu diễn văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao kỷ niệm 88 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và chào mừng Tết Nguyên đán Mậu Tuất 2018. Cùng với nhiều hoạt động biểu diễn, thành phố Hà Nội sẽ tổ chức bắn pháo hoa tại nhiều điểm.

Hàng nghìn người dân chờ đón bắn pháo hoa đêm giao thừa

Bắn pháo hoa chào đón năm mới là hoạt động thường niên, những năm trước Hà Nội thường tổ chức bắn pháo hoa tại 30 điểm, trong đó có 5 điểm bắn pháo hoa tầm cao (hồ Hoàn Kiếm, vườn hoa Lạc Long Quân, SVĐ Quốc gia Mỹ Đình, công viên Thống Nhất, hồ Văn Quán), 25 điểm bắn tầm thấp tương ứng với 25 quận, huyện, thị xã không có điểm bắn tầm cao. Kế hoạch bắn pháo hoa được thành phố Hà Nội giao Bộ Tư lệnh thủ đô lên phương án chi tiết sau đó trình thành phố duyệt.

Hà Nội bắn pháo hoa chào đón năm mới ở Hồ Hoàn Kiếm

Bên cạnh bắn pháo hoa chào đón năm mới, các chương trình biểu diễn văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao được tổ chức tại một số sân khấu lớn như: Vườn hoa Tượng đài Lý Thái Tổ, Quảng trường Cách mạng tháng Tám, Trung tâm quận Hà Đông...

Tết Nguyên Đán năm ngoái, Hà Nội thực hiện chỉ thị của Trung Ương không tổ chức bắn pháo hoa và dành số tiền hơn 10 tỷ đồng dự tính phục vụ kế hoạch bắn pháo hoa để ủng hộ đồng bào miền Trung bị lũ lụt.

Related Figures

Tết đón hồn lúa mới của người Xa Phó

Thông tin thời kỳ

Tết đón hồn lúa mới của người Xa Phó ở Sapa mang bản sắc riêng của người vùng núi. Ngay gia đình ăn tết bằng gạo mới, toàn bộ thóc gạo cũ của gia đều được mang cất đi, nhà cửa được dọn sạch sẽ với ý nghĩa đón hồn lúa mới về khắp nhà, thay thế mùa vụ cũ. Gia đình sẽ cử những người phụ nữ khỏe mạnh, xinh tươi thường là vợ hoặc con gái của chủ nhà đi cắt lúa mới. Người được chọn đi cắt lúa sẽ dậy sớm hơn thường ngày, mặc quần áo mới rồi lặng lẽ đi ra ruộng, nương để cắt lúa, họ kiêng để người khác trông thấy, đặc biệt là kiêng gặp người trong làng trên đường đi. Nếu thấy người cùng làng thường phải tránh, bởi việc đi cắt lúa không đơn thuần là việc cắt lúa mà còn là nghi thức đón hồn lúa về nhà, nên công việc phải diễn ra một cách bí mật. Khi cắt lúa, người phụ nữ phải quay mặt về hướng đông, nơi có ánh bình minh để tượng trưng cho sự sinh sôi nảy nở cho mùa tiếp theo. Sáng ngày hôm sau, họ sẽ mang những cun lúa mới xuống giã thành gạo để nấu cơm cúng tổ tiên. Cánh đồng lúa ở Sapa Lễ vật trong lễ cơm mới thường được bày thành hai mâm, một mâm cúng thần thổ công thường được đặt ở gần cửa chính ra vào, còn một mâm thì được đặt ở ngoài sàn ngoài trời. Trên mấm cúng tổ tiên có 1 gói xôi, 1 đĩa thịt gà, 1 gói cát, 1 gói hoa chuối, 1 gói cà xanh. Rượu cúng thường đựng trong ống nứa và chén rót rượu được bày trên mâm lễ thường làm bằng ống nứa tươi. Trong phần lễ cúng cơm mới không thể thiếu 2 cuộn chỉ được dùng để buộc vào tay các thành viên trong gia đình, với ý nghĩa cầu những điều may mắn, sức khỏe, sự gắn kết, cùng về ăn tết với gia đình. Những bộ quần áo mới, vòng bạc, trang sức của gia đình được bày treo gần mâm lễ. Trong bữa cơm ngày lễ, chủ nhà sẽ rót 3 lần rượu, mọi người đều phải uống càn chén ba lần để làm "lý" rồi mới được tự do mời và chúc nhau. Cuối cùng, mọi người cùng cầm tay nhau múa điệu xòe quanh bếp lửa rồi cùng nhau nâng chén rượu, cầu chúc cho gia đình những điều may mắn, ấm no và hạnh phúc.

Người được chọn đi cắt lúa sẽ dậy sớm hơn thường ngày, mặc quần áo mới rồi lặng lẽ đi ra ruộng, nương để cắt lúa, họ kiêng để người khác trông thấy, đặc biệt là kiêng gặp người trong làng trên đường đi. Nếu thấy người cùng làng thường phải tránh, bởi việc đi cắt lúa không đơn thuần là việc cắt lúa mà còn là nghi thức đón hồn lúa về nhà, nên công việc phải diễn ra một cách bí mật.

Khi cắt lúa, người phụ nữ phải quay mặt về hướng đông, nơi có ánh bình minh để tượng trưng cho sự sinh sôi nảy nở cho mùa tiếp theo. Sáng ngày hôm sau, họ sẽ mang những cun lúa mới xuống giã thành gạo để nấu cơm cúng tổ tiên.

Cánh đồng lúa ở Sapa

Lễ vật trong lễ cơm mới thường được bày thành hai mâm, một mâm cúng thần thổ công thường được đặt ở gần cửa chính ra vào, còn một mâm thì được đặt ở ngoài sàn ngoài trời. Trên mấm cúng tổ tiên có 1 gói xôi, 1 đĩa thịt gà, 1 gói cát, 1 gói hoa chuối, 1 gói cà xanh. Rượu cúng thường đựng trong ống nứa và chén rót rượu được bày trên mâm lễ thường làm bằng ống nứa tươi.

Trong phần lễ cúng cơm mới không thể thiếu 2 cuộn chỉ được dùng để buộc vào tay các thành viên trong gia đình, với ý nghĩa cầu những điều may mắn, sức khỏe, sự gắn kết, cùng về ăn tết với gia đình. Những bộ quần áo mới, vòng bạc, trang sức của gia đình được bày treo gần mâm lễ.

Trong bữa cơm ngày lễ, chủ nhà sẽ rót 3 lần rượu, mọi người đều phải uống càn chén ba lần để làm "lý" rồi mới được tự do mời và chúc nhau. Cuối cùng, mọi người cùng cầm tay nhau múa điệu xòe quanh bếp lửa rồi cùng nhau nâng chén rượu, cầu chúc cho gia đình những điều may mắn, ấm no và hạnh phúc.

Related Figures

Lễ quét làng của người Xá Phó

Thông tin thời kỳ

Lễ quét làng của người Xá Phó ở Lào Cai mang ý nghĩa cầu một năm mới được yên bình, cây cối tươi tốt, súc vật khỏe mạnh, sinh sôi nảy nở. Lễ hội thường diễn ra vào ngày Ngọ và Mùi tháng 2 âm lịch. Lễ quét làng của người Xá Phó ở Lào Cai Theo quan niệm của người Xà Phó, tháng Hai âm lịch là tháng ma đói, ma làng sẽ về phá hoại cuộc sống của người dên nên phải tổ chức lễ hội quét làng để năm mới được bình yên. Trước ngày tổ chức lễ cúng, người đàn ông trụ cột của các gia đình sẽ ngồi với nhau để họp bàn công việc tại nhà người cao tuổi nhất làng. Thời điểm bắt đầu lễ hội Quét làng, mỗi người dân trong làng sẽ cầm theo một con gà, một bát gạo, hương, rượu tới bãi đất trống của làng để mổ và làm lễ. Những ai mang chó, dê, lợn đến để góp thì dân làng sẽ phải làm trả công cho người đó trong 1 ngày. Đến ngày lễ, những người đàn ông trong làng sẽ mang lễ vật ra một bãi trống đầu làng. Những người được phân công sẽ cùng nhau mổ gà, lợn, dê, chó. Lễ quét làng của người Xá Phó có ý nghĩa đuổi hết ma quỷ cầu một năm mới ấm no Các thầy cúng tay cầm chiếc kiếm gỗ, một cành lá đao, mặt bôi nhọ, chia nhau vào các thôn để làm lễ cho cả làng. Khi vào đến nhà dân, thầy cúng rót chén rượu rồi đặt lên bàn thờ của gia đình, đọc tên của những thành viên trong gia đình đó. Đọc xong, thầy cúng cầm chiếc kiếm gỗ múa khắp nơi trong nhà. Sau đó, một thành viên trong gia đình đó sẽ cầm ngô tung qua đầu thấy cúng. Khi các lễ vật đã được làm xong, Dê, lợn, chó đã được xếp lại trong mâm tượng trưng, xung quanh có đặt các bát gạo của các gia đình. Thầy cúng bày 8 đôi đũa, 8 chiếc bát, 8 chén rượu, thầy cúng ngồi xếp hàng trước mâm lễ và bắt đầu khấn. Cuối cùng, mọi người sẽ cùng nhau ăn uống vui vẻ. Thức anh cúng ma đều phải ăn hết nếu không cũng không được mang vào làng. Thấy cúng lấy một cành tre cắm xung quanh bãi đất rồi lấy đuôi và tai chó cắm xuống đất để ma không vào làng hại người. Sau đó, thầy cúng sẽ đốt một đống lửa để mọi người bước qua để trở về nhà. Người dân Xá Phó trong lễ Quét làng

Lễ quét làng của người Xá Phó ở Lào Cai Theo quan niệm của người Xà Phó, tháng Hai âm lịch là tháng ma đói, ma làng sẽ về phá hoại cuộc sống của người dên nên phải tổ chức lễ hội quét làng để năm mới được bình yên. Trước ngày tổ chức lễ cúng, người đàn ông trụ cột của các gia đình sẽ ngồi với nhau để họp bàn công việc tại nhà người cao tuổi nhất làng. Thời điểm bắt đầu lễ hội Quét làng, mỗi người dân trong làng sẽ cầm theo một con gà, một bát gạo, hương, rượu tới bãi đất trống của làng để mổ và làm lễ. Những ai mang chó, dê, lợn đến để góp thì dân làng sẽ phải làm trả công cho người đó trong 1 ngày. Đến ngày lễ, những người đàn ông trong làng sẽ mang lễ vật ra một bãi trống đầu làng. Những người được phân công sẽ cùng nhau mổ gà, lợn, dê, chó. Lễ quét làng của người Xá Phó có ý nghĩa đuổi hết ma quỷ cầu một năm mới ấm no Các thầy cúng tay cầm chiếc kiếm gỗ, một cành lá đao, mặt bôi nhọ, chia nhau vào các thôn để làm lễ cho cả làng. Khi vào đến nhà dân, thầy cúng rót chén rượu rồi đặt lên bàn thờ của gia đình, đọc tên của những thành viên trong gia đình đó. Đọc xong, thầy cúng cầm chiếc kiếm gỗ múa khắp nơi trong nhà. Sau đó, một thành viên trong gia đình đó sẽ cầm ngô tung qua đầu thấy cúng. Khi các lễ vật đã được làm xong, Dê, lợn, chó đã được xếp lại trong mâm tượng trưng, xung quanh có đặt các bát gạo của các gia đình. Thầy cúng bày 8 đôi đũa, 8 chiếc bát, 8 chén rượu, thầy cúng ngồi xếp hàng trước mâm lễ và bắt đầu khấn. Cuối cùng, mọi người sẽ cùng nhau ăn uống vui vẻ. Thức anh cúng ma đều phải ăn hết nếu không cũng không được mang vào làng. Thấy cúng lấy một cành tre cắm xung quanh bãi đất rồi lấy đuôi và tai chó cắm xuống đất để ma không vào làng hại người. Sau đó, thầy cúng sẽ đốt một đống lửa để mọi người bước qua để trở về nhà. Người dân Xá Phó trong lễ Quét làng

Theo quan niệm của người Xà Phó, tháng Hai âm lịch là tháng ma đói, ma làng sẽ về phá hoại cuộc sống của người dên nên phải tổ chức lễ hội quét làng để năm mới được bình yên. Trước ngày tổ chức lễ cúng, người đàn ông trụ cột của các gia đình sẽ ngồi với nhau để họp bàn công việc tại nhà người cao tuổi nhất làng. Thời điểm bắt đầu lễ hội Quét làng, mỗi người dân trong làng sẽ cầm theo một con gà, một bát gạo, hương, rượu tới bãi đất trống của làng để mổ và làm lễ. Những ai mang chó, dê, lợn đến để góp thì dân làng sẽ phải làm trả công cho người đó trong 1 ngày. Đến ngày lễ, những người đàn ông trong làng sẽ mang lễ vật ra một bãi trống đầu làng. Những người được phân công sẽ cùng nhau mổ gà, lợn, dê, chó. Lễ quét làng của người Xá Phó có ý nghĩa đuổi hết ma quỷ cầu một năm mới ấm no Các thầy cúng tay cầm chiếc kiếm gỗ, một cành lá đao, mặt bôi nhọ, chia nhau vào các thôn để làm lễ cho cả làng. Khi vào đến nhà dân, thầy cúng rót chén rượu rồi đặt lên bàn thờ của gia đình, đọc tên của những thành viên trong gia đình đó. Đọc xong, thầy cúng cầm chiếc kiếm gỗ múa khắp nơi trong nhà. Sau đó, một thành viên trong gia đình đó sẽ cầm ngô tung qua đầu thấy cúng. Khi các lễ vật đã được làm xong, Dê, lợn, chó đã được xếp lại trong mâm tượng trưng, xung quanh có đặt các bát gạo của các gia đình. Thầy cúng bày 8 đôi đũa, 8 chiếc bát, 8 chén rượu, thầy cúng ngồi xếp hàng trước mâm lễ và bắt đầu khấn. Cuối cùng, mọi người sẽ cùng nhau ăn uống vui vẻ. Thức anh cúng ma đều phải ăn hết nếu không cũng không được mang vào làng. Thấy cúng lấy một cành tre cắm xung quanh bãi đất rồi lấy đuôi và tai chó cắm xuống đất để ma không vào làng hại người. Sau đó, thầy cúng sẽ đốt một đống lửa để mọi người bước qua để trở về nhà. Người dân Xá Phó trong lễ Quét làng

Thời điểm bắt đầu lễ hội Quét làng, mỗi người dân trong làng sẽ cầm theo một con gà, một bát gạo, hương, rượu tới bãi đất trống của làng để mổ và làm lễ. Những ai mang chó, dê, lợn đến để góp thì dân làng sẽ phải làm trả công cho người đó trong 1 ngày. Đến ngày lễ, những người đàn ông trong làng sẽ mang lễ vật ra một bãi trống đầu làng. Những người được phân công sẽ cùng nhau mổ gà, lợn, dê, chó.

Lễ quét làng của người Xá Phó có ý nghĩa đuổi hết ma quỷ cầu một năm mới ấm no

Các thầy cúng tay cầm chiếc kiếm gỗ, một cành lá đao, mặt bôi nhọ, chia nhau vào các thôn để làm lễ cho cả làng. Khi vào đến nhà dân, thầy cúng rót chén rượu rồi đặt lên bàn thờ của gia đình, đọc tên của những thành viên trong gia đình đó. Đọc xong, thầy cúng cầm chiếc kiếm gỗ múa khắp nơi trong nhà. Sau đó, một thành viên trong gia đình đó sẽ cầm ngô tung qua đầu thấy cúng.

Khi các lễ vật đã được làm xong, Dê, lợn, chó đã được xếp lại trong mâm tượng trưng, xung quanh có đặt các bát gạo của các gia đình. Thầy cúng bày 8 đôi đũa, 8 chiếc bát, 8 chén rượu, thầy cúng ngồi xếp hàng trước mâm lễ và bắt đầu khấn. Cuối cùng, mọi người sẽ cùng nhau ăn uống vui vẻ. Thức anh cúng ma đều phải ăn hết nếu không cũng không được mang vào làng. Thấy cúng lấy một cành tre cắm xung quanh bãi đất rồi lấy đuôi và tai chó cắm xuống đất để ma không vào làng hại người. Sau đó, thầy cúng sẽ đốt một đống lửa để mọi người bước qua để trở về nhà.

Người dân Xá Phó trong lễ Quét làng

Related Figures

Lễ hội Nhặn Sồng của người Dao đỏ

Thông tin thời kỳ

Lễ hội Nhặn Sồng của người Dao đỏ thường diễn ra vào ngày tốt của tháng đầu năm, tại làng Giàng Tả Chải thuộc Tả Van, Sapa. Lễ hội này thường được tổ chức tại một khu rừng cấm của làng. Lễ hội Nhặn Sồng của người Dao đỏ ở Sapa Lào Cai Từ những năm đầu thập kỷ 50, dân số gia tăng mạnh, nạn phá rừng, rẫy cũng phát triển, nên năm nào mà rừng bọ phá nhiều, trâu ngựa thả rông phá hoại mùa màng thì người Dao mới tổ chức lễ hội Nhặn Sồng. Đồ cúng lễ thường là một con lợn. Con lợn này phải do người trong làng nuôi, lợn dâng phải có lông đen tuyền, khỏe mạnh, béo tốt. Ngày diễn ra Lễ hội Nhặn Sồng, mỗi hộ gia đình sẽ cử 1-2 người đàn ông đi dự. Người đi dự lễ hội phải ăn mặc quần áo chỉnh tề, mang theo nửa lít rượu, 1 bát gạo, nét mặt vui tươi tiến vào khu rừng hay bị phá nhất. Địa điểm tổ chức lễ hội cũng có khi là một ngôi nhà gần khu rừng hay bị phá, bởi theo quan niệm của đồng bào nơi đâu thì nhà ở gần rừng thường hay thả rông gia súc, hay phá rừng. Người Dao đỏ trong nghi lễ cúng thần Khi mọi người đã đến đông đủ, dân làng sẽ chọn ra một người "Chẩu chiếu" là đứng đầu việc coi sóc rừng trong năm. Người này phải là người khỏe mạnh, giỏi lý lẽ, nắm rõ lệ tục. Sau khi đã chọn ra người làm "Chẩu chiếu" sẽ tiến hành lễ cúng thần thổ địa "Thủ vi", là vị thần cai quản cộng đồng làng. Sau đó sẽ đến phần đọc quy ước của làng. Sau khi cả làng đã thống nhất quy ước, mọi người sẽ cùng nhau ăn một bữa thật vui. Thịt, cơm được bầy ra lá rừng, rượu được rót vào cốc bương nhưng mọi người đều hân hoan nâng cốc. Phần hội diễn ra với không khí sôi động Lễ hội Nhặn Sồng của người Dao đỏ ở Sapa mang nét văn hóa đặc trưng của người dân ở vùng núi.

Lễ hội Nhặn Sồng của người Dao đỏ thường diễn ra vào ngày tốt của tháng đầu năm, tại làng Giàng Tả Chải thuộc Tả Van, Sapa. Lễ hội này thường được tổ chức tại một khu rừng cấm của làng. Lễ hội Nhặn Sồng của người Dao đỏ ở Sapa Lào Cai Từ những năm đầu thập kỷ 50, dân số gia tăng mạnh, nạn phá rừng, rẫy cũng phát triển, nên năm nào mà rừng bọ phá nhiều, trâu ngựa thả rông phá hoại mùa màng thì người Dao mới tổ chức lễ hội Nhặn Sồng. Đồ cúng lễ thường là một con lợn. Con lợn này phải do người trong làng nuôi, lợn dâng phải có lông đen tuyền, khỏe mạnh, béo tốt. Ngày diễn ra Lễ hội Nhặn Sồng, mỗi hộ gia đình sẽ cử 1-2 người đàn ông đi dự. Người đi dự lễ hội phải ăn mặc quần áo chỉnh tề, mang theo nửa lít rượu, 1 bát gạo, nét mặt vui tươi tiến vào khu rừng hay bị phá nhất. Địa điểm tổ chức lễ hội cũng có khi là một ngôi nhà gần khu rừng hay bị phá, bởi theo quan niệm của đồng bào nơi đâu thì nhà ở gần rừng thường hay thả rông gia súc, hay phá rừng. Người Dao đỏ trong nghi lễ cúng thần Khi mọi người đã đến đông đủ, dân làng sẽ chọn ra một người "Chẩu chiếu" là đứng đầu việc coi sóc rừng trong năm. Người này phải là người khỏe mạnh, giỏi lý lẽ, nắm rõ lệ tục. Sau khi đã chọn ra người làm "Chẩu chiếu" sẽ tiến hành lễ cúng thần thổ địa "Thủ vi", là vị thần cai quản cộng đồng làng. Sau đó sẽ đến phần đọc quy ước của làng. Sau khi cả làng đã thống nhất quy ước, mọi người sẽ cùng nhau ăn một bữa thật vui. Thịt, cơm được bầy ra lá rừng, rượu được rót vào cốc bương nhưng mọi người đều hân hoan nâng cốc. Phần hội diễn ra với không khí sôi động Lễ hội Nhặn Sồng của người Dao đỏ ở Sapa mang nét văn hóa đặc trưng của người dân ở vùng núi.

Lễ hội Nhặn Sồng của người Dao đỏ thường diễn ra vào ngày tốt của tháng đầu năm, tại làng Giàng Tả Chải thuộc Tả Van, Sapa. Lễ hội này thường được tổ chức tại một khu rừng cấm của làng.

Lễ hội Nhặn Sồng của người Dao đỏ ở Sapa Lào Cai

Từ những năm đầu thập kỷ 50, dân số gia tăng mạnh, nạn phá rừng, rẫy cũng phát triển, nên năm nào mà rừng bọ phá nhiều, trâu ngựa thả rông phá hoại mùa màng thì người Dao mới tổ chức lễ hội Nhặn Sồng. Đồ cúng lễ thường là một con lợn. Con lợn này phải do người trong làng nuôi, lợn dâng phải có lông đen tuyền, khỏe mạnh, béo tốt.

Ngày diễn ra Lễ hội Nhặn Sồng, mỗi hộ gia đình sẽ cử 1-2 người đàn ông đi dự. Người đi dự lễ hội phải ăn mặc quần áo chỉnh tề, mang theo nửa lít rượu, 1 bát gạo, nét mặt vui tươi tiến vào khu rừng hay bị phá nhất. Địa điểm tổ chức lễ hội cũng có khi là một ngôi nhà gần khu rừng hay bị phá, bởi theo quan niệm của đồng bào nơi đâu thì nhà ở gần rừng thường hay thả rông gia súc, hay phá rừng.

Người Dao đỏ trong nghi lễ cúng thần

Khi mọi người đã đến đông đủ, dân làng sẽ chọn ra một người "Chẩu chiếu" là đứng đầu việc coi sóc rừng trong năm. Người này phải là người khỏe mạnh, giỏi lý lẽ, nắm rõ lệ tục. Sau khi đã chọn ra người làm "Chẩu chiếu" sẽ tiến hành lễ cúng thần thổ địa "Thủ vi", là vị thần cai quản cộng đồng làng. Sau đó sẽ đến phần đọc quy ước của làng.

Sau khi cả làng đã thống nhất quy ước, mọi người sẽ cùng nhau ăn một bữa thật vui. Thịt, cơm được bầy ra lá rừng, rượu được rót vào cốc bương nhưng mọi người đều hân hoan nâng cốc.

Phần hội diễn ra với không khí sôi động

Lễ hội Nhặn Sồng của người Dao đỏ ở Sapa mang nét văn hóa đặc trưng của người dân ở vùng núi.

Related Figures

Hội làng Bồ Sao

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 14/5- 16/5 Âm lịch Hội làng Bồ Sao được tổ chức tại di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia đền Đuông. Đền Đuông thờ Đông Hải Long Vương, con thứ 25 trong số 100 người con của Lạc Long Quân và Âu Cơ. Làng Bồ Sao nằm ở ngã ba sông Bạch Hạc, nơi gặp gỡ của 3 con sông lớn: Sông Thao, sông Lô và sông Đà. Ngày đó, Bồ Sao còn chưa có đê bảo vệ, khi xảy ra nạn Đại hồng thủy, Vua Hùng phái Đinh Giang Quan và Đông Hải Quan đi trị thủy giúp dân. Sau khi trị thủy xong, Đông Hải Quan đóng bản doanh tại làng Bồ Sao chăm lo đời sống cho nhân dân, giúp dân làm ăn sinh sống, bảo vệ xóm làng. Đông Hải Quan cai quản Bồ Sao được 3 năm, nhân dân trong vùng yên vui, no ấm. Sau đó, vua Hùng lại phái Đông Hải Quan về Khoái Châu (Hưng Yên) để trị thủy. Một lần nữa Đông Hải Quan lập công, đẩy lùi thiên tai, lũ lụt. Ông trở về Bồ Sao được vài năm thì hóa. Nhân dân trong vùng thương tiếc lập đền thờ tưởng nhớ công ơn. Các triều đại đều sắc phong ông là "Đông Hải Long Vương tế chi thần". Hàng năm, dân làng Bồ Sao tổ chức 7 ngày lễ tiệc để tưởng nhớ công ơn trị thủy của Đông Hải Long Vương gồm: Ngày 4 tháng Giêng mở hội du xuân của các vị thần linh Ngày 7 tháng Giêng kỷ niệm ngày sinh của Hoàng Hậu Ngày 12 tháng 3 là ngày hóa của Đông Hải Long Vương Ngày 15 tháng 5 là ngày sinh công chúa Hoàng Bà Ngày 24 tháng 5 là ngày sinh Đông Long Vương Ngày 12 tháng 9 là ngày chính tiệc của ba vị tại đền Đuông Ngày 24 tháng 11 là kỷ niệm trièu Lê sắc phong Trong những ngày lễ tiệc thì kỷ niệm ngày sinh công chúa Hoàng Bà là ngày lễ lớn nhất với hội cướp bông, cướp gươm thu hút đông đảo người dân và du khách. Tiệc bắt đầu từ ngày 12 tháng 5 là ngày mở của đền Đuông. Ngày 15 tháng 5, dân làng Bồ Sao tổ chức lễ rước kiệu long trọng, trống chiêng rộn ràng khắp vùng. Ngày 15 tháng 5 là ngyà chính tiệc của Công chúa. Chiều ngày 15 tháng 5, tổ chức cướp gươm, cướp bông. Gươm và bông biểu tượng cho âm dương hợp đức. Làng Bồ Sao chọn người trong sạch, gia đình không có tang giao cho vót một cây bông và một thanh gươm. Chiều ngày 15 tháng 5, bông và gươm được đem ra tế thần rồi rước ra bãi. Sau khi chủ tế đọc xong văn tế thì một nam, một nữ được chọn vào múa, nam múa gươm, nữ múa bông. Múa xong chiêng trống nổi lên, gươm và bông được tung ra bãi. Ai muốn sinh con trai thì cướp gươm, ai muốn sinh con gái thì cướp bông. Đến ngày 24 tháng 5, người cướp được gươm và bông phải đem lễ vật ra đền tạ Thánh. Sáng ngày 16 tháng 5, dân làng Bồ Sao cử hành lễ cấy mạ. Mạ được đặt lên kiệu bát cống, rước từ nhà ông đai cai ra đền Đuông theo nghi thức rước Thần, có đầy đủ tàn, long, cờ quat... Đám rước tới sân đền, ông mệnh bái nâng mâm mạ lên bàn thờ làm lễ. Sau đó, mạ được ông đem cấy ở thửa ruộng đã được cày bừa tước đền. Cấy xong, một người vác cây nêu xuống cắm ở giữa khóm lúa mới cấy. Lễ xuống đồng kết thúc. Lễ hội Bồ Sao là lễ hội độc đáo thu hút đông đảo người dân và du khách tham gia. Lễ hội phản ánh ước vọng ngàn đời về cuộc sống ấm no, hạnh phúc, thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn của người dân Bồ Sao.

Làng Bồ Sao nằm ở ngã ba sông Bạch Hạc, nơi gặp gỡ của 3 con sông lớn: Sông Thao, sông Lô và sông Đà. Ngày đó, Bồ Sao còn chưa có đê bảo vệ, khi xảy ra nạn Đại hồng thủy, Vua Hùng phái Đinh Giang Quan và Đông Hải Quan đi trị thủy giúp dân. Sau khi trị thủy xong, Đông Hải Quan đóng bản doanh tại làng Bồ Sao chăm lo đời sống cho nhân dân, giúp dân làm ăn sinh sống, bảo vệ xóm làng. Đông Hải Quan cai quản Bồ Sao được 3 năm, nhân dân trong vùng yên vui, no ấm. Sau đó, vua Hùng lại phái Đông Hải Quan về Khoái Châu (Hưng Yên) để trị thủy. Một lần nữa Đông Hải Quan lập công, đẩy lùi thiên tai, lũ lụt. Ông trở về Bồ Sao được vài năm thì hóa. Nhân dân trong vùng thương tiếc lập đền thờ tưởng nhớ công ơn. Các triều đại đều sắc phong ông là "Đông Hải Long Vương tế chi thần".

Hàng năm, dân làng Bồ Sao tổ chức 7 ngày lễ tiệc để tưởng nhớ công ơn trị thủy của Đông Hải Long Vương gồm:

Ngày 4 tháng Giêng mở hội du xuân của các vị thần linh Ngày 7 tháng Giêng kỷ niệm ngày sinh của Hoàng Hậu Ngày 12 tháng 3 là ngày hóa của Đông Hải Long Vương Ngày 15 tháng 5 là ngày sinh công chúa Hoàng Bà Ngày 24 tháng 5 là ngày sinh Đông Long Vương Ngày 12 tháng 9 là ngày chính tiệc của ba vị tại đền Đuông Ngày 24 tháng 11 là kỷ niệm trièu Lê sắc phong

Trong những ngày lễ tiệc thì kỷ niệm ngày sinh công chúa Hoàng Bà là ngày lễ lớn nhất với hội cướp bông, cướp gươm thu hút đông đảo người dân và du khách. Tiệc bắt đầu từ ngày 12 tháng 5 là ngày mở của đền Đuông. Ngày 15 tháng 5, dân làng Bồ Sao tổ chức lễ rước kiệu long trọng, trống chiêng rộn ràng khắp vùng. Ngày 15 tháng 5 là ngyà chính tiệc của Công chúa. Chiều ngày 15 tháng 5, tổ chức cướp gươm, cướp bông. Gươm và bông biểu tượng cho âm dương hợp đức. Làng Bồ Sao chọn người trong sạch, gia đình không có tang giao cho vót một cây bông và một thanh gươm. Chiều ngày 15 tháng 5, bông và gươm được đem ra tế thần rồi rước ra bãi. Sau khi chủ tế đọc xong văn tế thì một nam, một nữ được chọn vào múa, nam múa gươm, nữ múa bông. Múa xong chiêng trống nổi lên, gươm và bông được tung ra bãi. Ai muốn sinh con trai thì cướp gươm, ai muốn sinh con gái thì cướp bông. Đến ngày 24 tháng 5, người cướp được gươm và bông phải đem lễ vật ra đền tạ Thánh. Sáng ngày 16 tháng 5, dân làng Bồ Sao cử hành lễ cấy mạ. Mạ được đặt lên kiệu bát cống, rước từ nhà ông đai cai ra đền Đuông theo nghi thức rước Thần, có đầy đủ tàn, long, cờ quat... Đám rước tới sân đền, ông mệnh bái nâng mâm mạ lên bàn thờ làm lễ. Sau đó, mạ được ông đem cấy ở thửa ruộng đã được cày bừa tước đền. Cấy xong, một người vác cây nêu xuống cắm ở giữa khóm lúa mới cấy. Lễ xuống đồng kết thúc. Lễ hội Bồ Sao là lễ hội độc đáo thu hút đông đảo người dân và du khách tham gia. Lễ hội phản ánh ước vọng ngàn đời về cuộc sống ấm no, hạnh phúc, thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn của người dân Bồ Sao.

Trong những ngày lễ tiệc thì kỷ niệm ngày sinh công chúa Hoàng Bà là ngày lễ lớn nhất với hội cướp bông, cướp gươm thu hút đông đảo người dân và du khách. Tiệc bắt đầu từ ngày 12 tháng 5 là ngày mở của đền Đuông. Ngày 15 tháng 5, dân làng Bồ Sao tổ chức lễ rước kiệu long trọng, trống chiêng rộn ràng khắp vùng. Ngày 15 tháng 5 là ngyà chính tiệc của Công chúa. Chiều ngày 15 tháng 5, tổ chức cướp gươm, cướp bông. Gươm và bông biểu tượng cho âm dương hợp đức. Làng Bồ Sao chọn người trong sạch, gia đình không có tang giao cho vót một cây bông và một thanh gươm. Chiều ngày 15 tháng 5, bông và gươm được đem ra tế thần rồi rước ra bãi. Sau khi chủ tế đọc xong văn tế thì một nam, một nữ được chọn vào múa, nam múa gươm, nữ múa bông. Múa xong chiêng trống nổi lên, gươm và bông được tung ra bãi. Ai muốn sinh con trai thì cướp gươm, ai muốn sinh con gái thì cướp bông. Đến ngày 24 tháng 5, người cướp được gươm và bông phải đem lễ vật ra đền tạ Thánh.

Sáng ngày 16 tháng 5, dân làng Bồ Sao cử hành lễ cấy mạ. Mạ được đặt lên kiệu bát cống, rước từ nhà ông đai cai ra đền Đuông theo nghi thức rước Thần, có đầy đủ tàn, long, cờ quat... Đám rước tới sân đền, ông mệnh bái nâng mâm mạ lên bàn thờ làm lễ. Sau đó, mạ được ông đem cấy ở thửa ruộng đã được cày bừa tước đền. Cấy xong, một người vác cây nêu xuống cắm ở giữa khóm lúa mới cấy. Lễ xuống đồng kết thúc.

Lễ hội Bồ Sao là lễ hội độc đáo thu hút đông đảo người dân và du khách tham gia. Lễ hội phản ánh ước vọng ngàn đời về cuộc sống ấm no, hạnh phúc, thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn của người dân Bồ Sao.

Related Figures

Hội bơi trải trên sông Cánh

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/7 Âm lịch Xưa kia, cứ đến tháng 7 âm lịch hàng năm, nước sông Cánh dâng cao, khắp từ Bến Ươm, Cầu Sổ, Đồng Mong, Cầu Treo, Đồng Máy là một biển nước mênh mông. Thời điểm đó, người dân Hương Canh cày cấy xong vụ chiêm. Dân làng nghỉ việc đồng áng, chợ búa để tổ chức hội bơi trải. Sôi động lễ hội bơi trải trên sông Cánh Tục bơi trải có từ xa xưa, đây là hình thức luyện quân thủy của cha ông ta, thể hiện tinh thần đoàn kết của những đội thủy binh. Sau này, bơi trải trở thành cuộc đua tài của các thôn, xóm ven sông. Hội bơi trải trên sông Cánh được tổ chức ngày 15/7 âm lịch tại thị trấn Hương Canh, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Mỗi địa phận tham gia lễ hội phải chuẩn bị hai chiếc trải, tiến hành luyện tập từ hơn một tháng trước ở Cầu Treo. Lễ hội diễn ra sôi động với hoạt động tế lễ thần sông và cuộc thi bơi trải. Vốn là vùng sản xuất nông nghiệp, cuộc sống của người dân Hương Canh gắn liền với tín ngưỡng thờ thần sông. Từ tín ngưỡng và sự tôn thờ với các vị thần sông đã xuất hiện hình thái lễ hội trên sông nước. Lễ hội truyền thống bơi trải trên sông Cánh Trải là một loại thuyền đóng bằng gỗ nhừ hoặc chò chỉ, hình thoi, phần giữa rộng khoảng 1,5m. Dọc theo lòng trải nối từ mũi đến lái là một xà gỗ hình hộp, mỗi mặt dầy 25cm như xương sống cá chia làm 16 khoang. Mũi trải được làm bằng gỗ mít hoặc gỗ thừng mực, thới mịn và xoắn, khó nứt vỡ. Để hình tượng thêm sự linh thiêng, dân làng tạo dáng cho đầu thuyền. Làng Ngọc Canh làm trải đầu phương, mỏ nhọn và sắc. Làng Tiên Canh làm trải đầu rồng, mũi vút lên lướt rất nhẹ. Làng Hương Canh làm trải đầu kỳ lân rất oai phong. Trải có 32 thủy thủ chia làm 16 cặp ngồi ở 16 khoang. Tất cả các thủy thủy đều cởi trần, đóng khố, quấn khăn trên đầu. Nghe tiếng trống hội, các thủy thủy cầm giầm bơi đều tăm tắp, các trải lao vút ra giữa dòng sông Cánh. Mỗi làng có 2 trải thi đấu, trải thứ nhất cắt đường bơi của đối phương, ép chặt không cho đi để mở lối cho trải thứ hai bên mình có đường bơi ngắn nhất, không gặp vật cản về đích. Chạm khắc lễ hội bơi trải ở đình Tiên Canh Hội bơi trải trên sống Cánh diễn ra sôi nổi, hấp dẫn thu hút nhiều người dân tham gia và cổ vũ nhiệt tình.

Sôi động lễ hội bơi trải trên sông Cánh Tục bơi trải có từ xa xưa, đây là hình thức luyện quân thủy của cha ông ta, thể hiện tinh thần đoàn kết của những đội thủy binh. Sau này, bơi trải trở thành cuộc đua tài của các thôn, xóm ven sông. Hội bơi trải trên sông Cánh được tổ chức ngày 15/7 âm lịch tại thị trấn Hương Canh, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Mỗi địa phận tham gia lễ hội phải chuẩn bị hai chiếc trải, tiến hành luyện tập từ hơn một tháng trước ở Cầu Treo. Lễ hội diễn ra sôi động với hoạt động tế lễ thần sông và cuộc thi bơi trải. Vốn là vùng sản xuất nông nghiệp, cuộc sống của người dân Hương Canh gắn liền với tín ngưỡng thờ thần sông. Từ tín ngưỡng và sự tôn thờ với các vị thần sông đã xuất hiện hình thái lễ hội trên sông nước. Lễ hội truyền thống bơi trải trên sông Cánh Trải là một loại thuyền đóng bằng gỗ nhừ hoặc chò chỉ, hình thoi, phần giữa rộng khoảng 1,5m. Dọc theo lòng trải nối từ mũi đến lái là một xà gỗ hình hộp, mỗi mặt dầy 25cm như xương sống cá chia làm 16 khoang. Mũi trải được làm bằng gỗ mít hoặc gỗ thừng mực, thới mịn và xoắn, khó nứt vỡ. Để hình tượng thêm sự linh thiêng, dân làng tạo dáng cho đầu thuyền. Làng Ngọc Canh làm trải đầu phương, mỏ nhọn và sắc. Làng Tiên Canh làm trải đầu rồng, mũi vút lên lướt rất nhẹ. Làng Hương Canh làm trải đầu kỳ lân rất oai phong. Trải có 32 thủy thủ chia làm 16 cặp ngồi ở 16 khoang. Tất cả các thủy thủy đều cởi trần, đóng khố, quấn khăn trên đầu. Nghe tiếng trống hội, các thủy thủy cầm giầm bơi đều tăm tắp, các trải lao vút ra giữa dòng sông Cánh. Mỗi làng có 2 trải thi đấu, trải thứ nhất cắt đường bơi của đối phương, ép chặt không cho đi để mở lối cho trải thứ hai bên mình có đường bơi ngắn nhất, không gặp vật cản về đích. Chạm khắc lễ hội bơi trải ở đình Tiên Canh Hội bơi trải trên sống Cánh diễn ra sôi nổi, hấp dẫn thu hút nhiều người dân tham gia và cổ vũ nhiệt tình.

Tục bơi trải có từ xa xưa, đây là hình thức luyện quân thủy của cha ông ta, thể hiện tinh thần đoàn kết của những đội thủy binh. Sau này, bơi trải trở thành cuộc đua tài của các thôn, xóm ven sông.

Hội bơi trải trên sông Cánh được tổ chức ngày 15/7 âm lịch tại thị trấn Hương Canh, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Mỗi địa phận tham gia lễ hội phải chuẩn bị hai chiếc trải, tiến hành luyện tập từ hơn một tháng trước ở Cầu Treo. Lễ hội diễn ra sôi động với hoạt động tế lễ thần sông và cuộc thi bơi trải. Vốn là vùng sản xuất nông nghiệp, cuộc sống của người dân Hương Canh gắn liền với tín ngưỡng thờ thần sông. Từ tín ngưỡng và sự tôn thờ với các vị thần sông đã xuất hiện hình thái lễ hội trên sông nước. Lễ hội truyền thống bơi trải trên sông Cánh Trải là một loại thuyền đóng bằng gỗ nhừ hoặc chò chỉ, hình thoi, phần giữa rộng khoảng 1,5m. Dọc theo lòng trải nối từ mũi đến lái là một xà gỗ hình hộp, mỗi mặt dầy 25cm như xương sống cá chia làm 16 khoang. Mũi trải được làm bằng gỗ mít hoặc gỗ thừng mực, thới mịn và xoắn, khó nứt vỡ. Để hình tượng thêm sự linh thiêng, dân làng tạo dáng cho đầu thuyền. Làng Ngọc Canh làm trải đầu phương, mỏ nhọn và sắc. Làng Tiên Canh làm trải đầu rồng, mũi vút lên lướt rất nhẹ. Làng Hương Canh làm trải đầu kỳ lân rất oai phong. Trải có 32 thủy thủ chia làm 16 cặp ngồi ở 16 khoang. Tất cả các thủy thủy đều cởi trần, đóng khố, quấn khăn trên đầu. Nghe tiếng trống hội, các thủy thủy cầm giầm bơi đều tăm tắp, các trải lao vút ra giữa dòng sông Cánh. Mỗi làng có 2 trải thi đấu, trải thứ nhất cắt đường bơi của đối phương, ép chặt không cho đi để mở lối cho trải thứ hai bên mình có đường bơi ngắn nhất, không gặp vật cản về đích. Chạm khắc lễ hội bơi trải ở đình Tiên Canh Hội bơi trải trên sống Cánh diễn ra sôi nổi, hấp dẫn thu hút nhiều người dân tham gia và cổ vũ nhiệt tình.

Hội bơi trải trên sông Cánh được tổ chức ngày 15/7 âm lịch tại thị trấn Hương Canh, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Mỗi địa phận tham gia lễ hội phải chuẩn bị hai chiếc trải, tiến hành luyện tập từ hơn một tháng trước ở Cầu Treo. Lễ hội diễn ra sôi động với hoạt động tế lễ thần sông và cuộc thi bơi trải. Vốn là vùng sản xuất nông nghiệp, cuộc sống của người dân Hương Canh gắn liền với tín ngưỡng thờ thần sông. Từ tín ngưỡng và sự tôn thờ với các vị thần sông đã xuất hiện hình thái lễ hội trên sông nước.

Lễ hội truyền thống bơi trải trên sông Cánh

Trải là một loại thuyền đóng bằng gỗ nhừ hoặc chò chỉ, hình thoi, phần giữa rộng khoảng 1,5m. Dọc theo lòng trải nối từ mũi đến lái là một xà gỗ hình hộp, mỗi mặt dầy 25cm như xương sống cá chia làm 16 khoang. Mũi trải được làm bằng gỗ mít hoặc gỗ thừng mực, thới mịn và xoắn, khó nứt vỡ. Để hình tượng thêm sự linh thiêng, dân làng tạo dáng cho đầu thuyền. Làng Ngọc Canh làm trải đầu phương, mỏ nhọn và sắc. Làng Tiên Canh làm trải đầu rồng, mũi vút lên lướt rất nhẹ. Làng Hương Canh làm trải đầu kỳ lân rất oai phong. Trải có 32 thủy thủ chia làm 16 cặp ngồi ở 16 khoang. Tất cả các thủy thủy đều cởi trần, đóng khố, quấn khăn trên đầu. Nghe tiếng trống hội, các thủy thủy cầm giầm bơi đều tăm tắp, các trải lao vút ra giữa dòng sông Cánh. Mỗi làng có 2 trải thi đấu, trải thứ nhất cắt đường bơi của đối phương, ép chặt không cho đi để mở lối cho trải thứ hai bên mình có đường bơi ngắn nhất, không gặp vật cản về đích.

Chạm khắc lễ hội bơi trải ở đình Tiên Canh Hội bơi trải trên sống Cánh diễn ra sôi nổi, hấp dẫn thu hút nhiều người dân tham gia và cổ vũ nhiệt tình.

Hội bơi trải trên sống Cánh diễn ra sôi nổi, hấp dẫn thu hút nhiều người dân tham gia và cổ vũ nhiệt tình.

Related Figures

Hội hát trống quân Đức Bác

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/1- 3/1 Âm lịch Tục hát trống quân đã được người dân xã Đức Bác, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc lưu truyền bao đời nay. Hát trống quân là loại hình sinh hoạt âm nhạc dân gian đặc sắc của người dân Đức Bác. Theo phong tục, hội trống quân Đức Bác diễn ra trong 3 ngày đầu tháng giêng nhằm mục đích cầu may mắn, bình an và hạnh phúc cho dân làng. Đào kép trong hội hát trống quân Đức Bác Đức Bác là một vùng đất giàu truyền thống văn hóa nằm bên bờ sông Lô, cái nôi của làn điệu trống quân đầy mê hoặc. Hát trống quân là hình thức sinh hoạt văn hóa có từ lâu đời ở vùng đất này gắn với huyền tích về một trận lũ lớn ở sông Lô thưở xưa đã chia cắt một phần đất thuộc xã Đức Bác sang xã Phù Ninh (Phú Thọ). Khúc sông Lô ấy còn gắn với sự tích con gái cả của vua Hùng theo thuyền xuôi dòng bị sóng lớn nhấm chìm. Còn một truyền thuyết nữa kể về một bé gái được mẹ xinh ra trong giấc mộng, tự xưng là Nương công chúa theo Hai Bà Trưng đánh giặc. Chiến thắng trở về, cô hóa trên vùng đất này. Thấy linh thiêng, người dân Đức Bác sang Phù Ninh xin tên nàng về lập đền thờ. Từ đó, hai xã có quan hệ nước nghĩa, hàng năm người dân Đức Bác sang đón người Phù Ninh qua sông làm lễ tế thờ. Hội hát trống quân Đức Bác (hay còn gọi là Hội khai xuân Cầu Đinh) ra đời từ đó, được tổ chức trong 3 ngày đầu tháng Giêng hàng năm. Hội hát trống quân Đức Bác giá trị văn hóa cần được bảo tồn Theo thông lệ, đến giữa Ngọ ngày mồng 1 Tết, các chàng trai Đức Bác trong trang phục quần trắng, áo trắng, đầu buộc khăn đỏ, đai lưng đỏ đeo trống kéo nhau ra bến quán đón đào sang hội. Điệu hát được đệm bằng trống nhỏ mặt da, tang gỗ có dây đeo bằng lụa hồng. Cuộc hát đôi diễn ra liên tục từ bến quán đến làng Xốm, cho đến khi về đến cửa đình của làng thì mới mãn cuộc. Điều hấp dẫn, lôi cuốn trong hát trống quân Đức Bác là sự kết hợp chặt chẽ giữa làn điệu và tiết tấu. Những chàng trai Đức Bác và những cô đào Phù Nình thể hiện những khúc hát trao tình, những câu hát đối đáp khéo léo. Sau mỗi câu hát đều được đệm bằng câu hát "kìa hởi a trống quân" giống như lời khẳng định nguồn cội, phân chia tuần tự không đứt quãng giữa đôi bên. Hội hát trống quân Đức Bác hay còn gọi là lễ hội khai xuân Cầu Đinh Hội hát trống quân Đức Bác là một sân chơi bổ ích và thú vị vào những ngày đầu năm mới cho người dân nơi đây sau những ngày làm việc vất vả trong năm cũ và chào đón năm mới an khang thịnh vượng.

Đào kép trong hội hát trống quân Đức Bác Đức Bác là một vùng đất giàu truyền thống văn hóa nằm bên bờ sông Lô, cái nôi của làn điệu trống quân đầy mê hoặc. Hát trống quân là hình thức sinh hoạt văn hóa có từ lâu đời ở vùng đất này gắn với huyền tích về một trận lũ lớn ở sông Lô thưở xưa đã chia cắt một phần đất thuộc xã Đức Bác sang xã Phù Ninh (Phú Thọ). Khúc sông Lô ấy còn gắn với sự tích con gái cả của vua Hùng theo thuyền xuôi dòng bị sóng lớn nhấm chìm. Còn một truyền thuyết nữa kể về một bé gái được mẹ xinh ra trong giấc mộng, tự xưng là Nương công chúa theo Hai Bà Trưng đánh giặc. Chiến thắng trở về, cô hóa trên vùng đất này. Thấy linh thiêng, người dân Đức Bác sang Phù Ninh xin tên nàng về lập đền thờ. Từ đó, hai xã có quan hệ nước nghĩa, hàng năm người dân Đức Bác sang đón người Phù Ninh qua sông làm lễ tế thờ. Hội hát trống quân Đức Bác (hay còn gọi là Hội khai xuân Cầu Đinh) ra đời từ đó, được tổ chức trong 3 ngày đầu tháng Giêng hàng năm. Hội hát trống quân Đức Bác giá trị văn hóa cần được bảo tồn Theo thông lệ, đến giữa Ngọ ngày mồng 1 Tết, các chàng trai Đức Bác trong trang phục quần trắng, áo trắng, đầu buộc khăn đỏ, đai lưng đỏ đeo trống kéo nhau ra bến quán đón đào sang hội. Điệu hát được đệm bằng trống nhỏ mặt da, tang gỗ có dây đeo bằng lụa hồng. Cuộc hát đôi diễn ra liên tục từ bến quán đến làng Xốm, cho đến khi về đến cửa đình của làng thì mới mãn cuộc. Điều hấp dẫn, lôi cuốn trong hát trống quân Đức Bác là sự kết hợp chặt chẽ giữa làn điệu và tiết tấu. Những chàng trai Đức Bác và những cô đào Phù Nình thể hiện những khúc hát trao tình, những câu hát đối đáp khéo léo. Sau mỗi câu hát đều được đệm bằng câu hát "kìa hởi a trống quân" giống như lời khẳng định nguồn cội, phân chia tuần tự không đứt quãng giữa đôi bên. Hội hát trống quân Đức Bác hay còn gọi là lễ hội khai xuân Cầu Đinh Hội hát trống quân Đức Bác là một sân chơi bổ ích và thú vị vào những ngày đầu năm mới cho người dân nơi đây sau những ngày làm việc vất vả trong năm cũ và chào đón năm mới an khang thịnh vượng.

Đức Bác là một vùng đất giàu truyền thống văn hóa nằm bên bờ sông Lô, cái nôi của làn điệu trống quân đầy mê hoặc. Hát trống quân là hình thức sinh hoạt văn hóa có từ lâu đời ở vùng đất này gắn với huyền tích về một trận lũ lớn ở sông Lô thưở xưa đã chia cắt một phần đất thuộc xã Đức Bác sang xã Phù Ninh (Phú Thọ). Khúc sông Lô ấy còn gắn với sự tích con gái cả của vua Hùng theo thuyền xuôi dòng bị sóng lớn nhấm chìm. Còn một truyền thuyết nữa kể về một bé gái được mẹ xinh ra trong giấc mộng, tự xưng là Nương công chúa theo Hai Bà Trưng đánh giặc. Chiến thắng trở về, cô hóa trên vùng đất này. Thấy linh thiêng, người dân Đức Bác sang Phù Ninh xin tên nàng về lập đền thờ. Từ đó, hai xã có quan hệ nước nghĩa, hàng năm người dân Đức Bác sang đón người Phù Ninh qua sông làm lễ tế thờ. Hội hát trống quân Đức Bác (hay còn gọi là Hội khai xuân Cầu Đinh) ra đời từ đó, được tổ chức trong 3 ngày đầu tháng Giêng hàng năm. Hội hát trống quân Đức Bác giá trị văn hóa cần được bảo tồn Theo thông lệ, đến giữa Ngọ ngày mồng 1 Tết, các chàng trai Đức Bác trong trang phục quần trắng, áo trắng, đầu buộc khăn đỏ, đai lưng đỏ đeo trống kéo nhau ra bến quán đón đào sang hội. Điệu hát được đệm bằng trống nhỏ mặt da, tang gỗ có dây đeo bằng lụa hồng. Cuộc hát đôi diễn ra liên tục từ bến quán đến làng Xốm, cho đến khi về đến cửa đình của làng thì mới mãn cuộc. Điều hấp dẫn, lôi cuốn trong hát trống quân Đức Bác là sự kết hợp chặt chẽ giữa làn điệu và tiết tấu. Những chàng trai Đức Bác và những cô đào Phù Nình thể hiện những khúc hát trao tình, những câu hát đối đáp khéo léo. Sau mỗi câu hát đều được đệm bằng câu hát "kìa hởi a trống quân" giống như lời khẳng định nguồn cội, phân chia tuần tự không đứt quãng giữa đôi bên. Hội hát trống quân Đức Bác hay còn gọi là lễ hội khai xuân Cầu Đinh Hội hát trống quân Đức Bác là một sân chơi bổ ích và thú vị vào những ngày đầu năm mới cho người dân nơi đây sau những ngày làm việc vất vả trong năm cũ và chào đón năm mới an khang thịnh vượng.

Đức Bác là một vùng đất giàu truyền thống văn hóa nằm bên bờ sông Lô, cái nôi của làn điệu trống quân đầy mê hoặc. Hát trống quân là hình thức sinh hoạt văn hóa có từ lâu đời ở vùng đất này gắn với huyền tích về một trận lũ lớn ở sông Lô thưở xưa đã chia cắt một phần đất thuộc xã Đức Bác sang xã Phù Ninh (Phú Thọ). Khúc sông Lô ấy còn gắn với sự tích con gái cả của vua Hùng theo thuyền xuôi dòng bị sóng lớn nhấm chìm. Còn một truyền thuyết nữa kể về một bé gái được mẹ xinh ra trong giấc mộng, tự xưng là Nương công chúa theo Hai Bà Trưng đánh giặc. Chiến thắng trở về, cô hóa trên vùng đất này. Thấy linh thiêng, người dân Đức Bác sang Phù Ninh xin tên nàng về lập đền thờ. Từ đó, hai xã có quan hệ nước nghĩa, hàng năm người dân Đức Bác sang đón người Phù Ninh qua sông làm lễ tế thờ. Hội hát trống quân Đức Bác (hay còn gọi là Hội khai xuân Cầu Đinh) ra đời từ đó, được tổ chức trong 3 ngày đầu tháng Giêng hàng năm.

Hội hát trống quân Đức Bác giá trị văn hóa cần được bảo tồn

Theo thông lệ, đến giữa Ngọ ngày mồng 1 Tết, các chàng trai Đức Bác trong trang phục quần trắng, áo trắng, đầu buộc khăn đỏ, đai lưng đỏ đeo trống kéo nhau ra bến quán đón đào sang hội. Điệu hát được đệm bằng trống nhỏ mặt da, tang gỗ có dây đeo bằng lụa hồng. Cuộc hát đôi diễn ra liên tục từ bến quán đến làng Xốm, cho đến khi về đến cửa đình của làng thì mới mãn cuộc. Điều hấp dẫn, lôi cuốn trong hát trống quân Đức Bác là sự kết hợp chặt chẽ giữa làn điệu và tiết tấu. Những chàng trai Đức Bác và những cô đào Phù Nình thể hiện những khúc hát trao tình, những câu hát đối đáp khéo léo. Sau mỗi câu hát đều được đệm bằng câu hát "kìa hởi a trống quân" giống như lời khẳng định nguồn cội, phân chia tuần tự không đứt quãng giữa đôi bên.

Hội hát trống quân Đức Bác hay còn gọi là lễ hội khai xuân Cầu Đinh

Hội hát trống quân Đức Bác là một sân chơi bổ ích và thú vị vào những ngày đầu năm mới cho người dân nơi đây sau những ngày làm việc vất vả trong năm cũ và chào đón năm mới an khang thịnh vượng.

Related Figures

Lễ hội xuống đồng ngày xuân của dân tộc Tày Dao

Thông tin thời kỳ

Lễ hội xuống đồng ngày xuân của dân tộc Tày, Dao thường diễn ra vào ngày mồng 8 tháng Giêng hàng năm. Đến Sapa vào dịp đầu xuân năm mới, du khách sẽ được tham dự một lễ hội đặc sắc, mang đậm nét truyền thống và văn hóa của người dân tộc Tày và Dao ở Sapa, đó chính là lễ hội xuống đồng. Đây được xem là lễ hội truyền thống thu hút nhiều khách thập phương và du khách nước ngoài nhất của Sapa. Lễ hội xuống đồng ngày xuân của dân tộc Tày Dao ở Lào Cai Lễ hội xuống đồng ngày xuân của người Tày và Dao ở Sapa gồm có nhiều phần như rước nước, rước đất, lễ cúng, cày đồng... nhưng nổi bật và sôi động có lẽ là những tiết mục văn nghệ và các trò chơi của đồng bào dân tộc Tày, Dao. Những tiếng trong vang dội, điệu múa xòe dập dìu trong tiếng kèn, những trò chơi dân gian luôn thu hút khách xem hội. Cày ruộng là một phần không thể thiếu trong ngày hội xuống đồng Đoàn rước gồm thầy cúng, đội khèn, đội trống, hai đôi nam thanh nữ tú khiêng kiệu rước. Kiệu rước được trang trí với nhiều màu sắc âm dương ngũ hành. Thầy cúng là người đi đầu đoàn rước, người dân bản được cử làm sứ giả để giao tiếp với thần linh sẽ cầm một cây nêu biểu tượng cho sự sinh sôi nảy nở. Đi sau kiệu là đoàn rước nước, nước được đựng trong 2 chiếc ống bương to. Tiếp đến là kiệu rước đất, đất thiêng thường được lấy từ trên ngọn núi gọi là đất mẹ. Phần hội là một phần không thể thiếu trong Lễ hội xuống đồng ở Sapa. Đây là phần đặc sắc khiến nhiều người mong chờ nhất, với những màn múa xòe độc đáo, tiếng kèn trống vang lên, và những trò chơi vui. Việc tổ chức lễ hội xuống đồng của người dân nơi đây không chỉ mang tính chất giải trí mà còn có một ý nghĩa tâm linh vô cùng quan trọng. Người dân nơi đây tin rằng lễ hội này sẽ giúp họ có một mùa màng bội thu và cuộc sống ấm no hạnh phúc.

Lễ hội xuống đồng ngày xuân của dân tộc Tày Dao ở Lào Cai

Lễ hội xuống đồng ngày xuân của người Tày và Dao ở Sapa gồm có nhiều phần như rước nước, rước đất, lễ cúng, cày đồng... nhưng nổi bật và sôi động có lẽ là những tiết mục văn nghệ và các trò chơi của đồng bào dân tộc Tày, Dao. Những tiếng trong vang dội, điệu múa xòe dập dìu trong tiếng kèn, những trò chơi dân gian luôn thu hút khách xem hội. Cày ruộng là một phần không thể thiếu trong ngày hội xuống đồng Đoàn rước gồm thầy cúng, đội khèn, đội trống, hai đôi nam thanh nữ tú khiêng kiệu rước. Kiệu rước được trang trí với nhiều màu sắc âm dương ngũ hành. Thầy cúng là người đi đầu đoàn rước, người dân bản được cử làm sứ giả để giao tiếp với thần linh sẽ cầm một cây nêu biểu tượng cho sự sinh sôi nảy nở. Đi sau kiệu là đoàn rước nước, nước được đựng trong 2 chiếc ống bương to. Tiếp đến là kiệu rước đất, đất thiêng thường được lấy từ trên ngọn núi gọi là đất mẹ. Phần hội là một phần không thể thiếu trong Lễ hội xuống đồng ở Sapa. Đây là phần đặc sắc khiến nhiều người mong chờ nhất, với những màn múa xòe độc đáo, tiếng kèn trống vang lên, và những trò chơi vui. Việc tổ chức lễ hội xuống đồng của người dân nơi đây không chỉ mang tính chất giải trí mà còn có một ý nghĩa tâm linh vô cùng quan trọng. Người dân nơi đây tin rằng lễ hội này sẽ giúp họ có một mùa màng bội thu và cuộc sống ấm no hạnh phúc.

Lễ hội xuống đồng ngày xuân của người Tày và Dao ở Sapa gồm có nhiều phần như rước nước, rước đất, lễ cúng, cày đồng... nhưng nổi bật và sôi động có lẽ là những tiết mục văn nghệ và các trò chơi của đồng bào dân tộc Tày, Dao. Những tiếng trong vang dội, điệu múa xòe dập dìu trong tiếng kèn, những trò chơi dân gian luôn thu hút khách xem hội. Cày ruộng là một phần không thể thiếu trong ngày hội xuống đồng Đoàn rước gồm thầy cúng, đội khèn, đội trống, hai đôi nam thanh nữ tú khiêng kiệu rước. Kiệu rước được trang trí với nhiều màu sắc âm dương ngũ hành. Thầy cúng là người đi đầu đoàn rước, người dân bản được cử làm sứ giả để giao tiếp với thần linh sẽ cầm một cây nêu biểu tượng cho sự sinh sôi nảy nở. Đi sau kiệu là đoàn rước nước, nước được đựng trong 2 chiếc ống bương to. Tiếp đến là kiệu rước đất, đất thiêng thường được lấy từ trên ngọn núi gọi là đất mẹ. Phần hội là một phần không thể thiếu trong Lễ hội xuống đồng ở Sapa. Đây là phần đặc sắc khiến nhiều người mong chờ nhất, với những màn múa xòe độc đáo, tiếng kèn trống vang lên, và những trò chơi vui. Việc tổ chức lễ hội xuống đồng của người dân nơi đây không chỉ mang tính chất giải trí mà còn có một ý nghĩa tâm linh vô cùng quan trọng. Người dân nơi đây tin rằng lễ hội này sẽ giúp họ có một mùa màng bội thu và cuộc sống ấm no hạnh phúc.

Cày ruộng là một phần không thể thiếu trong ngày hội xuống đồng

Đoàn rước gồm thầy cúng, đội khèn, đội trống, hai đôi nam thanh nữ tú khiêng kiệu rước. Kiệu rước được trang trí với nhiều màu sắc âm dương ngũ hành. Thầy cúng là người đi đầu đoàn rước, người dân bản được cử làm sứ giả để giao tiếp với thần linh sẽ cầm một cây nêu biểu tượng cho sự sinh sôi nảy nở. Đi sau kiệu là đoàn rước nước, nước được đựng trong 2 chiếc ống bương to. Tiếp đến là kiệu rước đất, đất thiêng thường được lấy từ trên ngọn núi gọi là đất mẹ.

Phần hội là một phần không thể thiếu trong Lễ hội xuống đồng ở Sapa. Đây là phần đặc sắc khiến nhiều người mong chờ nhất, với những màn múa xòe độc đáo, tiếng kèn trống vang lên, và những trò chơi vui. Việc tổ chức lễ hội xuống đồng của người dân nơi đây không chỉ mang tính chất giải trí mà còn có một ý nghĩa tâm linh vô cùng quan trọng. Người dân nơi đây tin rằng lễ hội này sẽ giúp họ có một mùa màng bội thu và cuộc sống ấm no hạnh phúc.

Related Figures

Hội đánh cờ

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 9/9- 14/9 Dương lịch Hội đánh cờ diễn ra từ ngày 10-14/9 dương lịch tại làng Bích Đại và Đồng Vệ, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc. Đánh cờ tướng là trò chơi dân gian không chỉ đơn thuần để giải trí mà còn thể hiện tinh thần thể thao, trí tuệ, trách nhiệm của người cầm quân. Hội đánh cờ mang đậm bản sắc dân tộc Việt. Đặc sắc hội đánh cờ tỉnh Vĩnh Phúc Không giống như không khí nhộn nhịp, tưng bừng của những môn thể thao khác như bóng đá, đấu vật hay bóng chuyền, hội đánh cờ thường thu hút đông đảo người xem nhưng khán giả đều cố gắng giữ im lặng để người chơi tập trung, không bị phân tán tư tưởng. Trước khi những ván đấu cờ diễn ra là nghi thức làm lễ. Từ sáng ngày 9/9 tiến hành lễ mở cửa làm vệ sinh, phong y. 16h chiều làm lễ cáo tiệc, đến 19h làm lễ trực đêm. Ngày 10/9, dân làng tổ chức lễ vào tiệc ở miếu. 12h, các vị cao niên trong làng cùng các chân cờ, chân kiệu tập trung ở đình Bích Đại lên miếu Đồng Vệ đón kiệu. 13h, khởi kiệu rước xuống đình Bích Đại tế tiệc. Kiệu thờ được ở lại đình Bích Đại một đêm. Buổi tối, dân làng tổ chức hát ca trù mừng thánh trong đình, hát chèo ngoài sân đình. Sáng ngày 11/9, đoàn rước tập trung ở miếu từ 7h30 xuống đình đón kiệu Thánh, tiến hành rước kiệu từ đình lên miếu. Hội đánh cờ tỉnh Vĩnh Phúc thu hút hàng nghìn người tham gia Từ ngày 12/9, các ván đấu cờ người chính thức bắt đầu. Quân cờ là các nam thanh, nữ tú trong làng. Kiệu Thánh và bài vị Thánh được ngự ở gian tiền tế, hướng ra sân miếu. Mở đầu, một số nam nữ đại diện cho hai bên quân theo đoàn nhạc trống, kèn chạy một vòng sân, rồi tiến vào giữa sân làm lễ trình thánh. Mở đầu hội cờ làng, hai vị bô lão cao cờ vào đấu khai mạc. Những đấu thủ khi vào giao đấu và đến khi kết thúc ván đầu đều phải vào miếu làm lễ trình Thánh. Hội đánh cờ mang đậm bản sắc dân tộc Việt Hội đánh cờ Vĩnh Phúc hàng năm thu hút hàng nghìn người tham gia. Đây là môn thi đấu đòi hỏi tính chiến thuật rất cao, đôi khi chỉ đi sai một nước có thể thay đổi cục diện cả bàn cờ. Hội đánh cờ là dịp để người chơi được sống lại với những trận chiến oanh liệt trong lịch sử với niềm tự hào về những chiến công hiển hách của dân tộc.

Đặc sắc hội đánh cờ tỉnh Vĩnh Phúc Không giống như không khí nhộn nhịp, tưng bừng của những môn thể thao khác như bóng đá, đấu vật hay bóng chuyền, hội đánh cờ thường thu hút đông đảo người xem nhưng khán giả đều cố gắng giữ im lặng để người chơi tập trung, không bị phân tán tư tưởng. Trước khi những ván đấu cờ diễn ra là nghi thức làm lễ. Từ sáng ngày 9/9 tiến hành lễ mở cửa làm vệ sinh, phong y. 16h chiều làm lễ cáo tiệc, đến 19h làm lễ trực đêm. Ngày 10/9, dân làng tổ chức lễ vào tiệc ở miếu. 12h, các vị cao niên trong làng cùng các chân cờ, chân kiệu tập trung ở đình Bích Đại lên miếu Đồng Vệ đón kiệu. 13h, khởi kiệu rước xuống đình Bích Đại tế tiệc. Kiệu thờ được ở lại đình Bích Đại một đêm. Buổi tối, dân làng tổ chức hát ca trù mừng thánh trong đình, hát chèo ngoài sân đình. Sáng ngày 11/9, đoàn rước tập trung ở miếu từ 7h30 xuống đình đón kiệu Thánh, tiến hành rước kiệu từ đình lên miếu. Hội đánh cờ tỉnh Vĩnh Phúc thu hút hàng nghìn người tham gia Từ ngày 12/9, các ván đấu cờ người chính thức bắt đầu. Quân cờ là các nam thanh, nữ tú trong làng. Kiệu Thánh và bài vị Thánh được ngự ở gian tiền tế, hướng ra sân miếu. Mở đầu, một số nam nữ đại diện cho hai bên quân theo đoàn nhạc trống, kèn chạy một vòng sân, rồi tiến vào giữa sân làm lễ trình thánh. Mở đầu hội cờ làng, hai vị bô lão cao cờ vào đấu khai mạc. Những đấu thủ khi vào giao đấu và đến khi kết thúc ván đầu đều phải vào miếu làm lễ trình Thánh. Hội đánh cờ mang đậm bản sắc dân tộc Việt Hội đánh cờ Vĩnh Phúc hàng năm thu hút hàng nghìn người tham gia. Đây là môn thi đấu đòi hỏi tính chiến thuật rất cao, đôi khi chỉ đi sai một nước có thể thay đổi cục diện cả bàn cờ. Hội đánh cờ là dịp để người chơi được sống lại với những trận chiến oanh liệt trong lịch sử với niềm tự hào về những chiến công hiển hách của dân tộc.

Không giống như không khí nhộn nhịp, tưng bừng của những môn thể thao khác như bóng đá, đấu vật hay bóng chuyền, hội đánh cờ thường thu hút đông đảo người xem nhưng khán giả đều cố gắng giữ im lặng để người chơi tập trung, không bị phân tán tư tưởng. Trước khi những ván đấu cờ diễn ra là nghi thức làm lễ. Từ sáng ngày 9/9 tiến hành lễ mở cửa làm vệ sinh, phong y. 16h chiều làm lễ cáo tiệc, đến 19h làm lễ trực đêm. Ngày 10/9, dân làng tổ chức lễ vào tiệc ở miếu. 12h, các vị cao niên trong làng cùng các chân cờ, chân kiệu tập trung ở đình Bích Đại lên miếu Đồng Vệ đón kiệu. 13h, khởi kiệu rước xuống đình Bích Đại tế tiệc. Kiệu thờ được ở lại đình Bích Đại một đêm. Buổi tối, dân làng tổ chức hát ca trù mừng thánh trong đình, hát chèo ngoài sân đình. Sáng ngày 11/9, đoàn rước tập trung ở miếu từ 7h30 xuống đình đón kiệu Thánh, tiến hành rước kiệu từ đình lên miếu. Hội đánh cờ tỉnh Vĩnh Phúc thu hút hàng nghìn người tham gia Từ ngày 12/9, các ván đấu cờ người chính thức bắt đầu. Quân cờ là các nam thanh, nữ tú trong làng. Kiệu Thánh và bài vị Thánh được ngự ở gian tiền tế, hướng ra sân miếu. Mở đầu, một số nam nữ đại diện cho hai bên quân theo đoàn nhạc trống, kèn chạy một vòng sân, rồi tiến vào giữa sân làm lễ trình thánh. Mở đầu hội cờ làng, hai vị bô lão cao cờ vào đấu khai mạc. Những đấu thủ khi vào giao đấu và đến khi kết thúc ván đầu đều phải vào miếu làm lễ trình Thánh. Hội đánh cờ mang đậm bản sắc dân tộc Việt Hội đánh cờ Vĩnh Phúc hàng năm thu hút hàng nghìn người tham gia. Đây là môn thi đấu đòi hỏi tính chiến thuật rất cao, đôi khi chỉ đi sai một nước có thể thay đổi cục diện cả bàn cờ. Hội đánh cờ là dịp để người chơi được sống lại với những trận chiến oanh liệt trong lịch sử với niềm tự hào về những chiến công hiển hách của dân tộc.

Trước khi những ván đấu cờ diễn ra là nghi thức làm lễ. Từ sáng ngày 9/9 tiến hành lễ mở cửa làm vệ sinh, phong y. 16h chiều làm lễ cáo tiệc, đến 19h làm lễ trực đêm.

Ngày 10/9, dân làng tổ chức lễ vào tiệc ở miếu. 12h, các vị cao niên trong làng cùng các chân cờ, chân kiệu tập trung ở đình Bích Đại lên miếu Đồng Vệ đón kiệu. 13h, khởi kiệu rước xuống đình Bích Đại tế tiệc. Kiệu thờ được ở lại đình Bích Đại một đêm. Buổi tối, dân làng tổ chức hát ca trù mừng thánh trong đình, hát chèo ngoài sân đình.

Sáng ngày 11/9, đoàn rước tập trung ở miếu từ 7h30 xuống đình đón kiệu Thánh, tiến hành rước kiệu từ đình lên miếu.

Hội đánh cờ tỉnh Vĩnh Phúc thu hút hàng nghìn người tham gia

Từ ngày 12/9, các ván đấu cờ người chính thức bắt đầu. Quân cờ là các nam thanh, nữ tú trong làng. Kiệu Thánh và bài vị Thánh được ngự ở gian tiền tế, hướng ra sân miếu. Mở đầu, một số nam nữ đại diện cho hai bên quân theo đoàn nhạc trống, kèn chạy một vòng sân, rồi tiến vào giữa sân làm lễ trình thánh. Mở đầu hội cờ làng, hai vị bô lão cao cờ vào đấu khai mạc. Những đấu thủ khi vào giao đấu và đến khi kết thúc ván đầu đều phải vào miếu làm lễ trình Thánh.

Hội đánh cờ mang đậm bản sắc dân tộc Việt

Hội đánh cờ Vĩnh Phúc hàng năm thu hút hàng nghìn người tham gia. Đây là môn thi đấu đòi hỏi tính chiến thuật rất cao, đôi khi chỉ đi sai một nước có thể thay đổi cục diện cả bàn cờ. Hội đánh cờ là dịp để người chơi được sống lại với những trận chiến oanh liệt trong lịch sử với niềm tự hào về những chiến công hiển hách của dân tộc.

Hội đánh cờ Vĩnh Phúc hàng năm thu hút hàng nghìn người tham gia. Đây là môn thi đấu đòi hỏi tính chiến thuật rất cao, đôi khi chỉ đi sai một nước có thể thay đổi cục diện cả bàn cờ. Hội đánh cờ là dịp để người chơi được sống lại với những trận chiến oanh liệt trong lịch sử với niềm tự hào về những chiến công hiển hách của dân tộc.

Related Figures

Vó ngựa tung trời trong hội đua ngựa Gò Thì Thùng tỉnh Phú Yên

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 9/1 Âm lịch Lễ hội đua ngựa Gò Thì Thùng là một trong hai lễ hội đua ngựa truyền thống còn tồn tại ở Việt Nam. Hội đua ngựa được tổ chức tại di tích lịch sử cấp quốc gia địa đạo Gò Thì Thùng (xã vùng cao An Xuân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên). Lễ hội đua ngựa là hoạt động văn hóa, thể thao nhận được sự quan tâm, hưởng ứng nồng nhiệt của người dân địa phương và du khách thập phương. Hội đua ngựa Gò Thì Thùng thu hút hàng nghìn người tham gia Ngay cả những người dân nơi đây cũng không nhớ chính xác hội đua ngựa Gò Thì Thùng có từ bao giờ. Trong những năm tháng chiến tranh, xã vùng cao An Xuân là căn cứ cách mạng, những chú ngựa nơi đây tham gia tải gạo, muối lên vùng căn cứ nuôi bộ đội nên hội đua ngựa không thể duy trì. Những ngày mới giải phóng ở vùng núi này vắng vẻ quá nên thanh niên lại rủ nhau dắt ngựa ra Gò Thì Thùng để đua. Từ đó, hội đua ngựa trên Gò Thì Thùng được khôi phục lại. Ngựa phi nước đại trong hội đua ngựa Gò Thì Thùng Ngựa đua trong hội đua ngựa Gò Thì Thùng không cao lớn, vạm vỡ như ngựa trong trường đua mà là những chú ngựa thồ hàng hóa, nông sản của người dân vùng cao. Kỵ sĩ tham gia đua ngựa cũng không phải tay đua chuyên nghiệp, họ là những người nông dân quanh năm chân lấm tay bùn. Dù vậy, những tay đua vẫn hết mình trên trường đua trong sự cổ vũ, reo hò của hàng nghìn khán giả. Sau tiếng trống khai hội, những chú ngựa đua bắt đầu cất vó, phi nước đại theo tiếng trống hội giục giã. Ngoài phần đua, lễ hội còn có nhiều trò chơi dân gian hấp dẫn. Kỵ sĩ điều khiển ngựa đua trong hội đua ngựa Gò Thì Thùng Người và ngựa trong hội đua ngựa Gò Thì Thùng đều không chuyên nhưng không khí trường đua rất hấp dẫn. Người dân và du khách trong và ngoài tỉnh nô nức đổ về Gò Thì Thùng để cổ vũ nhiệt tình cho kỵ sĩ và chiến mã tham gia cuộc đua.

Hội đua ngựa Gò Thì Thùng thu hút hàng nghìn người tham gia Ngay cả những người dân nơi đây cũng không nhớ chính xác hội đua ngựa Gò Thì Thùng có từ bao giờ. Trong những năm tháng chiến tranh, xã vùng cao An Xuân là căn cứ cách mạng, những chú ngựa nơi đây tham gia tải gạo, muối lên vùng căn cứ nuôi bộ đội nên hội đua ngựa không thể duy trì. Những ngày mới giải phóng ở vùng núi này vắng vẻ quá nên thanh niên lại rủ nhau dắt ngựa ra Gò Thì Thùng để đua. Từ đó, hội đua ngựa trên Gò Thì Thùng được khôi phục lại. Ngựa phi nước đại trong hội đua ngựa Gò Thì Thùng Ngựa đua trong hội đua ngựa Gò Thì Thùng không cao lớn, vạm vỡ như ngựa trong trường đua mà là những chú ngựa thồ hàng hóa, nông sản của người dân vùng cao. Kỵ sĩ tham gia đua ngựa cũng không phải tay đua chuyên nghiệp, họ là những người nông dân quanh năm chân lấm tay bùn. Dù vậy, những tay đua vẫn hết mình trên trường đua trong sự cổ vũ, reo hò của hàng nghìn khán giả. Sau tiếng trống khai hội, những chú ngựa đua bắt đầu cất vó, phi nước đại theo tiếng trống hội giục giã. Ngoài phần đua, lễ hội còn có nhiều trò chơi dân gian hấp dẫn. Kỵ sĩ điều khiển ngựa đua trong hội đua ngựa Gò Thì Thùng Người và ngựa trong hội đua ngựa Gò Thì Thùng đều không chuyên nhưng không khí trường đua rất hấp dẫn. Người dân và du khách trong và ngoài tỉnh nô nức đổ về Gò Thì Thùng để cổ vũ nhiệt tình cho kỵ sĩ và chiến mã tham gia cuộc đua.

Ngay cả những người dân nơi đây cũng không nhớ chính xác hội đua ngựa Gò Thì Thùng có từ bao giờ. Trong những năm tháng chiến tranh, xã vùng cao An Xuân là căn cứ cách mạng, những chú ngựa nơi đây tham gia tải gạo, muối lên vùng căn cứ nuôi bộ đội nên hội đua ngựa không thể duy trì. Những ngày mới giải phóng ở vùng núi này vắng vẻ quá nên thanh niên lại rủ nhau dắt ngựa ra Gò Thì Thùng để đua. Từ đó, hội đua ngựa trên Gò Thì Thùng được khôi phục lại.

Ngựa phi nước đại trong hội đua ngựa Gò Thì Thùng

Ngựa đua trong hội đua ngựa Gò Thì Thùng không cao lớn, vạm vỡ như ngựa trong trường đua mà là những chú ngựa thồ hàng hóa, nông sản của người dân vùng cao. Kỵ sĩ tham gia đua ngựa cũng không phải tay đua chuyên nghiệp, họ là những người nông dân quanh năm chân lấm tay bùn. Dù vậy, những tay đua vẫn hết mình trên trường đua trong sự cổ vũ, reo hò của hàng nghìn khán giả. Sau tiếng trống khai hội, những chú ngựa đua bắt đầu cất vó, phi nước đại theo tiếng trống hội giục giã. Ngoài phần đua, lễ hội còn có nhiều trò chơi dân gian hấp dẫn.

Kỵ sĩ điều khiển ngựa đua trong hội đua ngựa Gò Thì Thùng

Người và ngựa trong hội đua ngựa Gò Thì Thùng đều không chuyên nhưng không khí trường đua rất hấp dẫn. Người dân và du khách trong và ngoài tỉnh nô nức đổ về Gò Thì Thùng để cổ vũ nhiệt tình cho kỵ sĩ và chiến mã tham gia cuộc đua.

Related Figures

Lễ cầu mưa của người Thái

Thông tin thời kỳ

Lễ cầu mưa của người Thái ở Mộc Châu được xem là một trong những sự kiện lớn và quan trọng nhất trong năm của người Thái ở bản Nà Bó, Mộc Châu, Sơn la. Lễ hội này là khởi đầu cho mùa màng tươi tốt và bội thu. Lễ cầu mưa xuất hiện từ thế kỷ thứ IX, thế nhưng đã bị thất truyền sau chiến trang, cho tới năm 2011 mới được khôi phục. Lễ cầu mưa của người Thái ở Mộc Châu Đối với người Thái ở bản Nà Nó, lễ cầu mưa là sự kiện trọng đại nhất trong năm. Kể từ đêm trước ngày diễn ra lễ hội, mọi người đã chuẩn bị quần áo sạch sẽ, nhà cửa tươm tất, thái độ nghiêm túc. Công việc chuẩn bị đồ cúng dường thường do người phụ nữ đảm nhận. Đồ cúng khá đơn giản, là những đồ ăn thường ngày của người Thái nơi đây. Đó là chuối xanh, cơm lam, măng đắng, cá xông khói, bánh ít uôi, gà luộc, bánh trưng, gạo nếp... Một ngày trước ngày mở hội, người dân đã dựng sẵn cây nếu và các vật dụng cần thiết cho buổi lễ. Những vật dụng thường là những đồ dùng gần gũi với đời sống của người dân, để truyền tải thông điệp của người dân đến ông Then (tức ông trời). Đó là những chiếc cầy, bừa, cối giã gạo... Đồ ăn hàng ngày của người Thái như bầu bí, củ mài, trứng, ngô... hay là các con thú được đan bằng na như chim, ve... Cây niêu là thứ không thể thiếu trong ngày hội, nó là biểu tượng để thu hút sự chú ý của ông Then. Trò ném gòn giao duyên Từ sáng sớm ngày lễ hội, người phụ nữ Thái sẽ đi lấy nước và làm lễ tại một mó nước đầu nguồn của bản. Có 2 phần lễ, phần 1 là lấy nước và cúng thổ địa để xin nước. Sau đó, một lễ khác là để xin nước về làm lễ cầu mưa. Các lễ vật sẽ được dựng tại một cái miếu tạm để bà chủ tề làm lễ. Người phụ nữ là người tham gia cúng tế. Mỗi lễ cũng thường diễn ra trong khoảng 1 tiếng đồng hồ, sao cho khi mặt trời ló rạng thì nghi lễ cũng vừa kết thúc. Sau lễ cúng, họ sẽ vứt một vật phẩm trong lễ cúng là trứng vào trong mó nước nguồn với ý nghĩa tặng các vị thần linh. Người dân Thái ở Mộc Châu đang tưng bừng trong phần hội Sau khi lễ cầu mưa kết thúc, để ăn mừng vì ông Then đã đồng ý cho mưa, tất cả người dân Thái sẽ bắt đầu chơi hội. Họ múa xòe, chơi Tó Má lẹ, chơi ném gòn giao duyên, và uống rượu.

Lễ cầu mưa của người Thái ở Mộc Châu Đối với người Thái ở bản Nà Nó, lễ cầu mưa là sự kiện trọng đại nhất trong năm. Kể từ đêm trước ngày diễn ra lễ hội, mọi người đã chuẩn bị quần áo sạch sẽ, nhà cửa tươm tất, thái độ nghiêm túc. Công việc chuẩn bị đồ cúng dường thường do người phụ nữ đảm nhận. Đồ cúng khá đơn giản, là những đồ ăn thường ngày của người Thái nơi đây. Đó là chuối xanh, cơm lam, măng đắng, cá xông khói, bánh ít uôi, gà luộc, bánh trưng, gạo nếp... Một ngày trước ngày mở hội, người dân đã dựng sẵn cây nếu và các vật dụng cần thiết cho buổi lễ. Những vật dụng thường là những đồ dùng gần gũi với đời sống của người dân, để truyền tải thông điệp của người dân đến ông Then (tức ông trời). Đó là những chiếc cầy, bừa, cối giã gạo... Đồ ăn hàng ngày của người Thái như bầu bí, củ mài, trứng, ngô... hay là các con thú được đan bằng na như chim, ve... Cây niêu là thứ không thể thiếu trong ngày hội, nó là biểu tượng để thu hút sự chú ý của ông Then. Trò ném gòn giao duyên Từ sáng sớm ngày lễ hội, người phụ nữ Thái sẽ đi lấy nước và làm lễ tại một mó nước đầu nguồn của bản. Có 2 phần lễ, phần 1 là lấy nước và cúng thổ địa để xin nước. Sau đó, một lễ khác là để xin nước về làm lễ cầu mưa. Các lễ vật sẽ được dựng tại một cái miếu tạm để bà chủ tề làm lễ. Người phụ nữ là người tham gia cúng tế. Mỗi lễ cũng thường diễn ra trong khoảng 1 tiếng đồng hồ, sao cho khi mặt trời ló rạng thì nghi lễ cũng vừa kết thúc. Sau lễ cúng, họ sẽ vứt một vật phẩm trong lễ cúng là trứng vào trong mó nước nguồn với ý nghĩa tặng các vị thần linh. Người dân Thái ở Mộc Châu đang tưng bừng trong phần hội Sau khi lễ cầu mưa kết thúc, để ăn mừng vì ông Then đã đồng ý cho mưa, tất cả người dân Thái sẽ bắt đầu chơi hội. Họ múa xòe, chơi Tó Má lẹ, chơi ném gòn giao duyên, và uống rượu.

Đối với người Thái ở bản Nà Nó, lễ cầu mưa là sự kiện trọng đại nhất trong năm. Kể từ đêm trước ngày diễn ra lễ hội, mọi người đã chuẩn bị quần áo sạch sẽ, nhà cửa tươm tất, thái độ nghiêm túc. Công việc chuẩn bị đồ cúng dường thường do người phụ nữ đảm nhận. Đồ cúng khá đơn giản, là những đồ ăn thường ngày của người Thái nơi đây. Đó là chuối xanh, cơm lam, măng đắng, cá xông khói, bánh ít uôi, gà luộc, bánh trưng, gạo nếp...

Một ngày trước ngày mở hội, người dân đã dựng sẵn cây nếu và các vật dụng cần thiết cho buổi lễ. Những vật dụng thường là những đồ dùng gần gũi với đời sống của người dân, để truyền tải thông điệp của người dân đến ông Then (tức ông trời). Đó là những chiếc cầy, bừa, cối giã gạo... Đồ ăn hàng ngày của người Thái như bầu bí, củ mài, trứng, ngô... hay là các con thú được đan bằng na như chim, ve... Cây niêu là thứ không thể thiếu trong ngày hội, nó là biểu tượng để thu hút sự chú ý của ông Then.

Trò ném gòn giao duyên

Từ sáng sớm ngày lễ hội, người phụ nữ Thái sẽ đi lấy nước và làm lễ tại một mó nước đầu nguồn của bản. Có 2 phần lễ, phần 1 là lấy nước và cúng thổ địa để xin nước. Sau đó, một lễ khác là để xin nước về làm lễ cầu mưa. Các lễ vật sẽ được dựng tại một cái miếu tạm để bà chủ tề làm lễ.

Người phụ nữ là người tham gia cúng tế. Mỗi lễ cũng thường diễn ra trong khoảng 1 tiếng đồng hồ, sao cho khi mặt trời ló rạng thì nghi lễ cũng vừa kết thúc. Sau lễ cúng, họ sẽ vứt một vật phẩm trong lễ cúng là trứng vào trong mó nước nguồn với ý nghĩa tặng các vị thần linh.

Người dân Thái ở Mộc Châu đang tưng bừng trong phần hội

Sau khi lễ cầu mưa kết thúc, để ăn mừng vì ông Then đã đồng ý cho mưa, tất cả người dân Thái sẽ bắt đầu chơi hội. Họ múa xòe, chơi Tó Má lẹ, chơi ném gòn giao duyên, và uống rượu.

Related Figures

Lễ hội Nào Cống

Thông tin thời kỳ

Lễ hội Nào Cống ở Lào Cai là một lễ hội truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số người Dao, Giáy, H'Mông. Bắt đầu từ thập kỷ 50 về trước, Tả Van có dựng một ngôi miếu thờ 3 gian. Ngôi miếu này được dựng ngay đầu cầu treo sang làng Tả Van Giáy. Ngôi miếu nãy đã trở thành nơi tổ chức lễ "Nào cống" của người dân vùng thung lũng Mường Hoa. Mỗi gia đình sẽ cử ra một người đại diện, có thể là vợ hoặc chồng, không phân biệt nam, nữ, già, trẻ. Ngôi miếu thờ này được người H'Mông gọi là "Chế đáng". Miếu gồm 3 gian thờ, gian giữa là nơi thờ hai viên quan họ Nguyễn và họ Đào đã có công xây dựng Mường Hoa. Gian bên trái thờ thần núi (Sơn thần), thần Suối Hoa người Giáy gọi là "Sía ta", "Sía po". Gian bên phải thờ các bà vợ của ông quan họ Đào, họ Nguyễn. Lễ hội Nào Cống ở Lào Cai Lễ vật dân chúng thường dâng lên gồm lợn đen, trâu đen, gà vịt do các làng góp tiền mua. Làng Tả Van Giáy sẽ có trách nhiệm chuẩn bị bát đĩa, vàng hương dâng cúng. Trước kia, người chủ lễ mời thầy mo người Tày. Từ thập kỷ 40-50 của thế kỷ này, chủ lễ là thầy mo người Giáy tại Tả Van. Thầy mo sẽ đọc bài cúng để mời các vị thần về dự lễ, cầu mong những điều tốt lành cho người dân, cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, gia súc sinh sôi nảy nở. Phần hội, mọi người sẽ ngồi vào mâm cơm và cùng ăn uống, trò truyện những câu chuyện vui. Dân của làng nào tự nấu thức ăn cho dân của làng ấy, và cùng ăn với nhau tại miếu. Trong miếu, các chức dịch như lý trưởng, phó lý, thầy mo, sẽ ngồi ăn cùng nhau. Trong làng, gia đình nào không có người đến dự sẽ được để dành phần thức ăn. Lễ "Nào Cống" gồm 3 phần chính: Phần lễ cúng thần, phần công bố quy ước chung của vùng, phần ăn uống và kết thúc là phần lễ hội.

Mỗi gia đình sẽ cử ra một người đại diện, có thể là vợ hoặc chồng, không phân biệt nam, nữ, già, trẻ. Ngôi miếu thờ này được người H'Mông gọi là "Chế đáng". Miếu gồm 3 gian thờ, gian giữa là nơi thờ hai viên quan họ Nguyễn và họ Đào đã có công xây dựng Mường Hoa. Gian bên trái thờ thần núi (Sơn thần), thần Suối Hoa người Giáy gọi là "Sía ta", "Sía po". Gian bên phải thờ các bà vợ của ông quan họ Đào, họ Nguyễn.

Lễ hội Nào Cống ở Lào Cai

Lễ vật dân chúng thường dâng lên gồm lợn đen, trâu đen, gà vịt do các làng góp tiền mua. Làng Tả Van Giáy sẽ có trách nhiệm chuẩn bị bát đĩa, vàng hương dâng cúng. Trước kia, người chủ lễ mời thầy mo người Tày. Từ thập kỷ 40-50 của thế kỷ này, chủ lễ là thầy mo người Giáy tại Tả Van. Thầy mo sẽ đọc bài cúng để mời các vị thần về dự lễ, cầu mong những điều tốt lành cho người dân, cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, gia súc sinh sôi nảy nở.

Phần hội, mọi người sẽ ngồi vào mâm cơm và cùng ăn uống, trò truyện những câu chuyện vui. Dân của làng nào tự nấu thức ăn cho dân của làng ấy, và cùng ăn với nhau tại miếu. Trong miếu, các chức dịch như lý trưởng, phó lý, thầy mo, sẽ ngồi ăn cùng nhau. Trong làng, gia đình nào không có người đến dự sẽ được để dành phần thức ăn. Lễ "Nào Cống" gồm 3 phần chính: Phần lễ cúng thần, phần công bố quy ước chung của vùng, phần ăn uống và kết thúc là phần lễ hội.

Related Figures

Lễ hội bắt chồng của người Chu Ru

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/1- 31/3 Âm lịch Trong những ngày đầu năm mới, khắp các bản làng Chu Ru rộn ràng lễ hội xuân - lễ hội bắt chồng. Như nét văn hóa tồn tại lâu đời, thiếu nữ dân tộc Chu Ru ở Tây Nguyên muốn có chồng phải đi bắt. Vào ban đêm, khi mọi người say giấc nồng, cô gái dân tộc Chu Ru cùng 10 người thân trong gia đình sẽ đến nhà trai thực hiện việc bắt chồng. Đặc sắc hội bắt chồng của người Chu Ru Người dân tộc Chu Ru ở Tây Nguyên sống theo chế độ mẫu hệ, vì vậy thiếu nữ đến tuổi lấy chồng phải đem lễ vật đi hỏi chồng. Nếu thiếu nữ không đủ tiền để hỏi cưới chồng thì phải dệt 3 chiếc khăn thổ cẩm để làm lễ vật sang nhà trai. Thiếu nữ Chu Ru khi thích một chàng trai nào đó sẽ về thông báo cho gia đình và dòng họ biết. Nếu được hai dòng họ đồng ý, cô gái sẽ mang tín vật kết nối là cặp Sri (nhẫn cưới) đeo vào tay người con trai trong đêm đẹp trời (gọi là đêm thiêng). Nếu chàng trai không đồng ý có thể tháo nhẫn trả lại nhưng 7 ngày sau, cô gái lại chọn đêm đẹp trời để đeo nhẫn cho chàng trai. Cứ thế lặp đi lặp lại cho đến khi nào chàng trai chấp nhận thì đám cưới diễn ra. Trước đám cưới 1 ngày, buôn làng tổ chức đêm hội gọi là "Đêm bắt chồng". Tái hiện lễ hội bắt chồng của người Chu Ru Trong đêm hội này, chàng trai và cô gái phải đọc một số câu luật tục riêng của đồng bào Chu Ru như: "Tìm vợ, tìm chồng phải hỏi mẹ cha; ăn ruộng, ăn rẫy phải hỏi tai con trâu, con bò; làm bẫy phải hỏi thần núi; về với vợ như về với nước...". Cô dâu (Sơ đíu) và chú rể (pơ sang) sẽ chùm chung một tấm khăn trong khi nghe các bậc cao niên trong họ răn dạy về cuộc sống gia đình. Chùm khăn lên cô dâu chú rể là nghi thức quan trọng cầu cho lứa đôi chung sống hạnh phúc bên nhau trọn đời. Đến khoảng 1-2 giờ sáng, cô dâu và chú rể được đưa về nhà gái, chính thức thành vợ chồng. Lễ hội bắt chồng người Chu Ru là phong tục cưới hỏi độc đáo ở Việt Nam Sau lễ cưới 7 ngày, cô dâu tháo nhẫn cưới đưa mẹ chồng giữ và chú rể tháo nhẫn cưới đưa mẹ cô dâu cất giữ. Trong lễ cưới, người thân và dân làng sẽ tổ chức màn đấu chiêng với mục đích xóa bỏ mọi mâu thuẫn, bất đồng giữa hai hại, cùng chung vui với cặp vợ chồng mới cưới.

Đặc sắc hội bắt chồng của người Chu Ru Người dân tộc Chu Ru ở Tây Nguyên sống theo chế độ mẫu hệ, vì vậy thiếu nữ đến tuổi lấy chồng phải đem lễ vật đi hỏi chồng. Nếu thiếu nữ không đủ tiền để hỏi cưới chồng thì phải dệt 3 chiếc khăn thổ cẩm để làm lễ vật sang nhà trai. Thiếu nữ Chu Ru khi thích một chàng trai nào đó sẽ về thông báo cho gia đình và dòng họ biết. Nếu được hai dòng họ đồng ý, cô gái sẽ mang tín vật kết nối là cặp Sri (nhẫn cưới) đeo vào tay người con trai trong đêm đẹp trời (gọi là đêm thiêng). Nếu chàng trai không đồng ý có thể tháo nhẫn trả lại nhưng 7 ngày sau, cô gái lại chọn đêm đẹp trời để đeo nhẫn cho chàng trai. Cứ thế lặp đi lặp lại cho đến khi nào chàng trai chấp nhận thì đám cưới diễn ra. Trước đám cưới 1 ngày, buôn làng tổ chức đêm hội gọi là "Đêm bắt chồng". Tái hiện lễ hội bắt chồng của người Chu Ru Trong đêm hội này, chàng trai và cô gái phải đọc một số câu luật tục riêng của đồng bào Chu Ru như: "Tìm vợ, tìm chồng phải hỏi mẹ cha; ăn ruộng, ăn rẫy phải hỏi tai con trâu, con bò; làm bẫy phải hỏi thần núi; về với vợ như về với nước...". Cô dâu (Sơ đíu) và chú rể (pơ sang) sẽ chùm chung một tấm khăn trong khi nghe các bậc cao niên trong họ răn dạy về cuộc sống gia đình. Chùm khăn lên cô dâu chú rể là nghi thức quan trọng cầu cho lứa đôi chung sống hạnh phúc bên nhau trọn đời. Đến khoảng 1-2 giờ sáng, cô dâu và chú rể được đưa về nhà gái, chính thức thành vợ chồng. Lễ hội bắt chồng người Chu Ru là phong tục cưới hỏi độc đáo ở Việt Nam Sau lễ cưới 7 ngày, cô dâu tháo nhẫn cưới đưa mẹ chồng giữ và chú rể tháo nhẫn cưới đưa mẹ cô dâu cất giữ. Trong lễ cưới, người thân và dân làng sẽ tổ chức màn đấu chiêng với mục đích xóa bỏ mọi mâu thuẫn, bất đồng giữa hai hại, cùng chung vui với cặp vợ chồng mới cưới.

Người dân tộc Chu Ru ở Tây Nguyên sống theo chế độ mẫu hệ, vì vậy thiếu nữ đến tuổi lấy chồng phải đem lễ vật đi hỏi chồng. Nếu thiếu nữ không đủ tiền để hỏi cưới chồng thì phải dệt 3 chiếc khăn thổ cẩm để làm lễ vật sang nhà trai. Thiếu nữ Chu Ru khi thích một chàng trai nào đó sẽ về thông báo cho gia đình và dòng họ biết. Nếu được hai dòng họ đồng ý, cô gái sẽ mang tín vật kết nối là cặp Sri (nhẫn cưới) đeo vào tay người con trai trong đêm đẹp trời (gọi là đêm thiêng). Nếu chàng trai không đồng ý có thể tháo nhẫn trả lại nhưng 7 ngày sau, cô gái lại chọn đêm đẹp trời để đeo nhẫn cho chàng trai. Cứ thế lặp đi lặp lại cho đến khi nào chàng trai chấp nhận thì đám cưới diễn ra. Trước đám cưới 1 ngày, buôn làng tổ chức đêm hội gọi là "Đêm bắt chồng".

Tái hiện lễ hội bắt chồng của người Chu Ru Trong đêm hội này, chàng trai và cô gái phải đọc một số câu luật tục riêng của đồng bào Chu Ru như: "Tìm vợ, tìm chồng phải hỏi mẹ cha; ăn ruộng, ăn rẫy phải hỏi tai con trâu, con bò; làm bẫy phải hỏi thần núi; về với vợ như về với nước...". Cô dâu (Sơ đíu) và chú rể (pơ sang) sẽ chùm chung một tấm khăn trong khi nghe các bậc cao niên trong họ răn dạy về cuộc sống gia đình. Chùm khăn lên cô dâu chú rể là nghi thức quan trọng cầu cho lứa đôi chung sống hạnh phúc bên nhau trọn đời. Đến khoảng 1-2 giờ sáng, cô dâu và chú rể được đưa về nhà gái, chính thức thành vợ chồng. Lễ hội bắt chồng người Chu Ru là phong tục cưới hỏi độc đáo ở Việt Nam Sau lễ cưới 7 ngày, cô dâu tháo nhẫn cưới đưa mẹ chồng giữ và chú rể tháo nhẫn cưới đưa mẹ cô dâu cất giữ. Trong lễ cưới, người thân và dân làng sẽ tổ chức màn đấu chiêng với mục đích xóa bỏ mọi mâu thuẫn, bất đồng giữa hai hại, cùng chung vui với cặp vợ chồng mới cưới.

Trong đêm hội này, chàng trai và cô gái phải đọc một số câu luật tục riêng của đồng bào Chu Ru như: "Tìm vợ, tìm chồng phải hỏi mẹ cha; ăn ruộng, ăn rẫy phải hỏi tai con trâu, con bò; làm bẫy phải hỏi thần núi; về với vợ như về với nước...". Cô dâu (Sơ đíu) và chú rể (pơ sang) sẽ chùm chung một tấm khăn trong khi nghe các bậc cao niên trong họ răn dạy về cuộc sống gia đình. Chùm khăn lên cô dâu chú rể là nghi thức quan trọng cầu cho lứa đôi chung sống hạnh phúc bên nhau trọn đời. Đến khoảng 1-2 giờ sáng, cô dâu và chú rể được đưa về nhà gái, chính thức thành vợ chồng. Lễ hội bắt chồng người Chu Ru là phong tục cưới hỏi độc đáo ở Việt Nam Sau lễ cưới 7 ngày, cô dâu tháo nhẫn cưới đưa mẹ chồng giữ và chú rể tháo nhẫn cưới đưa mẹ cô dâu cất giữ. Trong lễ cưới, người thân và dân làng sẽ tổ chức màn đấu chiêng với mục đích xóa bỏ mọi mâu thuẫn, bất đồng giữa hai hại, cùng chung vui với cặp vợ chồng mới cưới.

Trong đêm hội này, chàng trai và cô gái phải đọc một số câu luật tục riêng của đồng bào Chu Ru như: "Tìm vợ, tìm chồng phải hỏi mẹ cha; ăn ruộng, ăn rẫy phải hỏi tai con trâu, con bò; làm bẫy phải hỏi thần núi; về với vợ như về với nước...". Cô dâu (Sơ đíu) và chú rể (pơ sang) sẽ chùm chung một tấm khăn trong khi nghe các bậc cao niên trong họ răn dạy về cuộc sống gia đình. Chùm khăn lên cô dâu chú rể là nghi thức quan trọng cầu cho lứa đôi chung sống hạnh phúc bên nhau trọn đời. Đến khoảng 1-2 giờ sáng, cô dâu và chú rể được đưa về nhà gái, chính thức thành vợ chồng.

Lễ hội bắt chồng người Chu Ru là phong tục cưới hỏi độc đáo ở Việt Nam

Sau lễ cưới 7 ngày, cô dâu tháo nhẫn cưới đưa mẹ chồng giữ và chú rể tháo nhẫn cưới đưa mẹ cô dâu cất giữ.

Trong lễ cưới, người thân và dân làng sẽ tổ chức màn đấu chiêng với mục đích xóa bỏ mọi mâu thuẫn, bất đồng giữa hai hại, cùng chung vui với cặp vợ chồng mới cưới.

Related Figures

Lễ hội chọi trâu Hải Lựu tỉnh Vĩnh Phúc

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 16/1- 17/1 Âm lịch Lễ hội chọi trâu Hải Lựu (còn gọi là đấu ngưu) được tổ chức ngày 17/1 âm lịch hàng năm thể hiện tinh thần thượng võ của dân tộc ta từ ngàn xưa để lại. Lễ hội chọi trâu là một tập tục cổ xưa, di sản văn hóa phi vật thể của xã Hải Lựu, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc. Đặc sắc lễ hội chọi trâu Hải Lựu Lễ hội chọi trâu Hải Lựu được xem là lễ hội chọi trâu cổ xưa nhất ở nước ta. Tương truyền, lễ hội chọi trâu Hải Lựu có từ thế kỷ II trước Công Nguyên. Khi quân Hán xâm lược Nam Việt, nhà Triệu tan rã, Lữ Gia thừa tướng Nam Việt lui quân về vùng núi Hải Lựu tổ chức lực lượng đánh giặc. Sau mỗi trận thắng, thừa tướng Lữ Gia tổ chức chọi trâu để đông viên tinh thần, truyền cho quân sĩ tinh thần chiến đấu anh dũng, kiên cường như các đấu sĩ trâu. Trâu sau khi chọi được giết để khao quân. Sau khi Lữ Gia hóa, dân làng tôn làm Thành hoàng làng tại đình Bạch Lưu hạ. Lễ hội chọi trâu cũng bắt đầu từ đó, đến nay được hơn 2.000 năm. Truyền rằng, các quân sĩ được ăn thịt trâu chọi nên sức khỏe hơn người, vì thế Hải Lựu luôn trụ vững trước quân xâm lược. Lễ hội chọi trâu Hải Lựu thể hiện tinh thần thượng võ Người dân Hải Lựu lưu truyền câu ca: Dù ai đi đâu, ở đâu Tháng giêng mười bảy chọi trâu thì về Dù ai buôn bán trăm nghề Tháng giêng mười bảy nhớ về chọi trâu Từ năm 1947, lễ hội chọi trâu Hải Lựu không được tổ chức do chiến tranh ác liệt và nhiều biến động lịch sử. Đến năm 2002, lễ hội chọi trâu Hải Lựu được khôi phục lại. Lễ hội vẫn giữ được nhiều nét tối cổ, nguyên sơ gồm 2 phần chính: phần lễ và phần hội. Phần lễ trong lễ hội chọi trâu Hải Lựu trước kia được tổ chức ở đình làng, ngày nay được tổ chức ở vọng đài tưởng niệm tâm linh nơi thờ Thành hoàng làng. Phần lễ trong hội chọi trâu Hải Lựu gồm có: lễ trình trâu, lễ rước và lễ dâng hương. Tưng bừng hội chọi trâu Hải Lựu Ở phần hội, các ông Cầu đại diện cho các thôn, xã, phường, các đoàn, hội tham gia vòng đấu loại trực tiếp. Ba ông Cầu xuất sắc nhát được chọn vào vòng chung kết tranh giải nhất, nhì, ba. Độc đáo, nguyên gốc và tối cổ là nét đặc trưng của lễ hội chọi trâu Hải Lựu. Hàng năm, lễ hội chọi trâu thu hút hàng nghìn người dân địa phương và du khách tham gia.

Đặc sắc lễ hội chọi trâu Hải Lựu Lễ hội chọi trâu Hải Lựu được xem là lễ hội chọi trâu cổ xưa nhất ở nước ta. Tương truyền, lễ hội chọi trâu Hải Lựu có từ thế kỷ II trước Công Nguyên. Khi quân Hán xâm lược Nam Việt, nhà Triệu tan rã, Lữ Gia thừa tướng Nam Việt lui quân về vùng núi Hải Lựu tổ chức lực lượng đánh giặc. Sau mỗi trận thắng, thừa tướng Lữ Gia tổ chức chọi trâu để đông viên tinh thần, truyền cho quân sĩ tinh thần chiến đấu anh dũng, kiên cường như các đấu sĩ trâu. Trâu sau khi chọi được giết để khao quân. Sau khi Lữ Gia hóa, dân làng tôn làm Thành hoàng làng tại đình Bạch Lưu hạ. Lễ hội chọi trâu cũng bắt đầu từ đó, đến nay được hơn 2.000 năm. Truyền rằng, các quân sĩ được ăn thịt trâu chọi nên sức khỏe hơn người, vì thế Hải Lựu luôn trụ vững trước quân xâm lược. Lễ hội chọi trâu Hải Lựu thể hiện tinh thần thượng võ Người dân Hải Lựu lưu truyền câu ca: Dù ai đi đâu, ở đâu Tháng giêng mười bảy chọi trâu thì về Dù ai buôn bán trăm nghề Tháng giêng mười bảy nhớ về chọi trâu Từ năm 1947, lễ hội chọi trâu Hải Lựu không được tổ chức do chiến tranh ác liệt và nhiều biến động lịch sử. Đến năm 2002, lễ hội chọi trâu Hải Lựu được khôi phục lại. Lễ hội vẫn giữ được nhiều nét tối cổ, nguyên sơ gồm 2 phần chính: phần lễ và phần hội. Phần lễ trong lễ hội chọi trâu Hải Lựu trước kia được tổ chức ở đình làng, ngày nay được tổ chức ở vọng đài tưởng niệm tâm linh nơi thờ Thành hoàng làng. Phần lễ trong hội chọi trâu Hải Lựu gồm có: lễ trình trâu, lễ rước và lễ dâng hương. Tưng bừng hội chọi trâu Hải Lựu Ở phần hội, các ông Cầu đại diện cho các thôn, xã, phường, các đoàn, hội tham gia vòng đấu loại trực tiếp. Ba ông Cầu xuất sắc nhát được chọn vào vòng chung kết tranh giải nhất, nhì, ba. Độc đáo, nguyên gốc và tối cổ là nét đặc trưng của lễ hội chọi trâu Hải Lựu. Hàng năm, lễ hội chọi trâu thu hút hàng nghìn người dân địa phương và du khách tham gia.

Lễ hội chọi trâu Hải Lựu được xem là lễ hội chọi trâu cổ xưa nhất ở nước ta. Tương truyền, lễ hội chọi trâu Hải Lựu có từ thế kỷ II trước Công Nguyên. Khi quân Hán xâm lược Nam Việt, nhà Triệu tan rã, Lữ Gia thừa tướng Nam Việt lui quân về vùng núi Hải Lựu tổ chức lực lượng đánh giặc. Sau mỗi trận thắng, thừa tướng Lữ Gia tổ chức chọi trâu để đông viên tinh thần, truyền cho quân sĩ tinh thần chiến đấu anh dũng, kiên cường như các đấu sĩ trâu. Trâu sau khi chọi được giết để khao quân. Sau khi Lữ Gia hóa, dân làng tôn làm Thành hoàng làng tại đình Bạch Lưu hạ. Lễ hội chọi trâu cũng bắt đầu từ đó, đến nay được hơn 2.000 năm. Truyền rằng, các quân sĩ được ăn thịt trâu chọi nên sức khỏe hơn người, vì thế Hải Lựu luôn trụ vững trước quân xâm lược.

Lễ hội chọi trâu Hải Lựu thể hiện tinh thần thượng võ

Người dân Hải Lựu lưu truyền câu ca:

Dù ai đi đâu, ở đâu Tháng giêng mười bảy chọi trâu thì về Dù ai buôn bán trăm nghề Tháng giêng mười bảy nhớ về chọi trâu

Từ năm 1947, lễ hội chọi trâu Hải Lựu không được tổ chức do chiến tranh ác liệt và nhiều biến động lịch sử. Đến năm 2002, lễ hội chọi trâu Hải Lựu được khôi phục lại. Lễ hội vẫn giữ được nhiều nét tối cổ, nguyên sơ gồm 2 phần chính: phần lễ và phần hội. Phần lễ trong lễ hội chọi trâu Hải Lựu trước kia được tổ chức ở đình làng, ngày nay được tổ chức ở vọng đài tưởng niệm tâm linh nơi thờ Thành hoàng làng. Phần lễ trong hội chọi trâu Hải Lựu gồm có: lễ trình trâu, lễ rước và lễ dâng hương.

Tưng bừng hội chọi trâu Hải Lựu

Ở phần hội, các ông Cầu đại diện cho các thôn, xã, phường, các đoàn, hội tham gia vòng đấu loại trực tiếp. Ba ông Cầu xuất sắc nhát được chọn vào vòng chung kết tranh giải nhất, nhì, ba.

Độc đáo, nguyên gốc và tối cổ là nét đặc trưng của lễ hội chọi trâu Hải Lựu. Hàng năm, lễ hội chọi trâu thu hút hàng nghìn người dân địa phương và du khách tham gia.

Related Figures

Tưng bừng lễ hội chào đón năm mới 2018

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 16/12- 31/12 Dương lịch Hòa chung không khí rộn ràng trước thềm năm mới 2018, công viên Văn hóa Đầm Sen có nhiều hoạt động hấp dẫn du khách như: Đại nhạc hội "Kết nối tương lai", bắn pháo hoa tầm trung... Tất cả tạo nên khoảnh khắc tạm biệt năm cũ và chào đón năm mới ngập tràn niềm vui và hy vọng. Bắn pháo hoa chào đón năm mới tại công viên Văn hóa Đầm Sen Công viên Văn hóa Đầm Sen là công viên giải trí nằm trên đường Hòa Bình, quận 11, TP HCM. Trong dịp lễ hội, công viên Văn hóa Đầm Sen miễn phí vé vào cổng, giảm 50% giá vé trọn gói cho khách mặc trang phục ông già Noel hay công chúa Disney. Chương trình nhạc hội "kết nối tương lai" siêu hoành tráng tổ chức ngày 31/12/2017 tại Quảng trường La Mã có sự góp mặt của nhiều nghệ sĩ nổi tiếng như: Tấn Beo, Dương Ngọc Thái, Vĩnh Thuyên Kim, Nam Cường, Bạch Công Khanh... Đan xen giữa những tiết mục hài kịch, ca nhạc trong nước còn có nhiều tiết mục đến từ các quốc gia trên thế giới. Không khí Giáng sinh tại lễ hội Công viên Văn hóa Đầm Sen Đặc biệt chương trình bắn pháo hoa chào năm mới 2018 chính là hoạt động được mong chờ nhất trong dịp Tết dương lịch. Bắn pháo hoa tại công viên Văn hóa Đầm Sen là hoạt động thường niên nhằm đa dạng hóa loại hình dịch vụ thu hút khách du lịch trong và ngoài nước đến vui chơi. Chương trình bắn pháo hoa tầm thấp tại Công viên Văn hóa Đầm Sen bắt đầu lúc 0h ngày 1/1/2018 tại Cầu Cửu Khúc. Ẩm thực đặc sắc tại Lễ hội chào đón năm mới ở Công viên Văn hóa Đầm Sen Nằm trong chuỗi sự kiện chào đón năm mới còn có hoạt động ẩm thực đặc sắc. Công viên Văn hóa Đầm Sen sẽ phục vụ du khách nhiều món ăn đủ phong cách và hương vị ẩm thực các nước. Tham gia "lễ hội kem" du khách sẽ được thưởng thức hương vị tuyệt vời của những cây kem mát lành của nhiều nhãn hàng kem nổi tiếng như: Wall’s, Kido, Monterosa... Du khách sẽ được tận hưởng không khí Giáng sinh và năm mới với nhiều sự kiện đặc sắc khi đến Công viên Văn hóa Đầm Sen trong những ngày cuối năm 2017.

Bắn pháo hoa chào đón năm mới tại công viên Văn hóa Đầm Sen Công viên Văn hóa Đầm Sen là công viên giải trí nằm trên đường Hòa Bình, quận 11, TP HCM. Trong dịp lễ hội, công viên Văn hóa Đầm Sen miễn phí vé vào cổng, giảm 50% giá vé trọn gói cho khách mặc trang phục ông già Noel hay công chúa Disney. Chương trình nhạc hội "kết nối tương lai" siêu hoành tráng tổ chức ngày 31/12/2017 tại Quảng trường La Mã có sự góp mặt của nhiều nghệ sĩ nổi tiếng như: Tấn Beo, Dương Ngọc Thái, Vĩnh Thuyên Kim, Nam Cường, Bạch Công Khanh... Đan xen giữa những tiết mục hài kịch, ca nhạc trong nước còn có nhiều tiết mục đến từ các quốc gia trên thế giới. Không khí Giáng sinh tại lễ hội Công viên Văn hóa Đầm Sen Đặc biệt chương trình bắn pháo hoa chào năm mới 2018 chính là hoạt động được mong chờ nhất trong dịp Tết dương lịch. Bắn pháo hoa tại công viên Văn hóa Đầm Sen là hoạt động thường niên nhằm đa dạng hóa loại hình dịch vụ thu hút khách du lịch trong và ngoài nước đến vui chơi. Chương trình bắn pháo hoa tầm thấp tại Công viên Văn hóa Đầm Sen bắt đầu lúc 0h ngày 1/1/2018 tại Cầu Cửu Khúc. Ẩm thực đặc sắc tại Lễ hội chào đón năm mới ở Công viên Văn hóa Đầm Sen Nằm trong chuỗi sự kiện chào đón năm mới còn có hoạt động ẩm thực đặc sắc. Công viên Văn hóa Đầm Sen sẽ phục vụ du khách nhiều món ăn đủ phong cách và hương vị ẩm thực các nước. Tham gia "lễ hội kem" du khách sẽ được thưởng thức hương vị tuyệt vời của những cây kem mát lành của nhiều nhãn hàng kem nổi tiếng như: Wall’s, Kido, Monterosa... Du khách sẽ được tận hưởng không khí Giáng sinh và năm mới với nhiều sự kiện đặc sắc khi đến Công viên Văn hóa Đầm Sen trong những ngày cuối năm 2017.

Công viên Văn hóa Đầm Sen là công viên giải trí nằm trên đường Hòa Bình, quận 11, TP HCM. Trong dịp lễ hội, công viên Văn hóa Đầm Sen miễn phí vé vào cổng, giảm 50% giá vé trọn gói cho khách mặc trang phục ông già Noel hay công chúa Disney.

Chương trình nhạc hội "kết nối tương lai" siêu hoành tráng tổ chức ngày 31/12/2017 tại Quảng trường La Mã có sự góp mặt của nhiều nghệ sĩ nổi tiếng như: Tấn Beo, Dương Ngọc Thái, Vĩnh Thuyên Kim, Nam Cường, Bạch Công Khanh... Đan xen giữa những tiết mục hài kịch, ca nhạc trong nước còn có nhiều tiết mục đến từ các quốc gia trên thế giới.

Không khí Giáng sinh tại lễ hội Công viên Văn hóa Đầm Sen

Đặc biệt chương trình bắn pháo hoa chào năm mới 2018 chính là hoạt động được mong chờ nhất trong dịp Tết dương lịch. Bắn pháo hoa tại công viên Văn hóa Đầm Sen là hoạt động thường niên nhằm đa dạng hóa loại hình dịch vụ thu hút khách du lịch trong và ngoài nước đến vui chơi. Chương trình bắn pháo hoa tầm thấp tại Công viên Văn hóa Đầm Sen bắt đầu lúc 0h ngày 1/1/2018 tại Cầu Cửu Khúc.

Ẩm thực đặc sắc tại Lễ hội chào đón năm mới ở Công viên Văn hóa Đầm Sen

Nằm trong chuỗi sự kiện chào đón năm mới còn có hoạt động ẩm thực đặc sắc. Công viên Văn hóa Đầm Sen sẽ phục vụ du khách nhiều món ăn đủ phong cách và hương vị ẩm thực các nước. Tham gia "lễ hội kem" du khách sẽ được thưởng thức hương vị tuyệt vời của những cây kem mát lành của nhiều nhãn hàng kem nổi tiếng như: Wall’s, Kido, Monterosa...

Du khách sẽ được tận hưởng không khí Giáng sinh và năm mới với nhiều sự kiện đặc sắc khi đến Công viên Văn hóa Đầm Sen trong những ngày cuối năm 2017.

Related Figures

Lễ hội mùa đông - thiên đường tuyết rơi

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 23/12- 2/1 Dương lịch Lễ hội mùa đông ở Fansipan Legend được tổ chức trong 10 ngày từ 23/12/2017 tới 2/1/2018. Trong những ngày diễn ra lễ hội, du khách được lạc vào không gian tuyết rơi như ở trời Âu, được thưởng thức những tiết mục ca múa nhạc dân tộc và nhiều tiết mục biểu diễn đường phố... Lễ hội mùa đông ở Fansipan Legend đẹp đến ngỡ ngàng Đến với Sun World Fansipan Legend những ngày lễ hội mùa đông, du khách không chỉ được chiêm ngưỡng cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, tráng lệ của dãy Hoàng Liên Sơn và Thung lũng Mường Hoa từ trên cao... mà còn có những trải nghiệm khó quên với thiên đường tuyết rơi. Lễ hội mùa đông tại Fansipan Legend lần đầu tiên mang tới những cây thông Noel độc đáo như: cây thông Noel chóp tam giác biểu tượng của đỉnh Fansipan, cây thông kết từ 5.000 bắp ngô cao 6m, cây thông được kết từ 1 tấn quả su su. Lễ hội mùa đông ở Fansipan Legend tuyệt đẹp với con đường tuyết rơi Khu du lịch Sun World Fansipan Legend trở thành "thiên đường tuyết rơi đẹp ngỡ ngàng với tông trắng chủ đạo. Nóc nhà Đông Dương trở thành xứ sở băng giá, lãng mạn với những bông tuyết trắng muốt, những con đường mùa đông ngợp tuyết, những hàng cây trắng xóa điểm tô những quả cầu xanh dương nổi bật. Giữa thời tiết se lạnh vùng cao, ngắm tuyết lất phất bay, du khách có cảm giác như lạc trong miền cổ tích ở châu Âu xa xôi. Du khách có thể chụp ảnh check in cùng ông già Noel hay những chú Mascot trong hình dáng nhân vật hoạt hình nổi tiếng. Lễ hội mùa đông ở Fansipan Legend thu hút với cây thông từ 5000 bắp ngô Lễ hội mùa đông ở Fansipan Legend có sự kết hợp khéo léo giữa văn hóa đặc trưng châu Âu với văn hóa bản địa, tạo thành lễ hội có một không hai ở vùng cao Tây Bắc với những tiết mục biểu diễn đặc sắc. Hàng ngàn du khách tham gia lễ hội mùa đông ở Fansipan Legend sẽ được tận hưởng không khí sôi động, vui tươi, mới lạ và hấp dẫn. Lễ hội mùa đông tại Sun World Fansipan Legend là sự kiện được mong chờ để tạm biệt năm 2017, chào đón 2018 với vô vàn hứng khởi.

Lễ hội mùa đông ở Fansipan Legend đẹp đến ngỡ ngàng Đến với Sun World Fansipan Legend những ngày lễ hội mùa đông, du khách không chỉ được chiêm ngưỡng cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, tráng lệ của dãy Hoàng Liên Sơn và Thung lũng Mường Hoa từ trên cao... mà còn có những trải nghiệm khó quên với thiên đường tuyết rơi. Lễ hội mùa đông tại Fansipan Legend lần đầu tiên mang tới những cây thông Noel độc đáo như: cây thông Noel chóp tam giác biểu tượng của đỉnh Fansipan, cây thông kết từ 5.000 bắp ngô cao 6m, cây thông được kết từ 1 tấn quả su su. Lễ hội mùa đông ở Fansipan Legend tuyệt đẹp với con đường tuyết rơi Khu du lịch Sun World Fansipan Legend trở thành "thiên đường tuyết rơi đẹp ngỡ ngàng với tông trắng chủ đạo. Nóc nhà Đông Dương trở thành xứ sở băng giá, lãng mạn với những bông tuyết trắng muốt, những con đường mùa đông ngợp tuyết, những hàng cây trắng xóa điểm tô những quả cầu xanh dương nổi bật. Giữa thời tiết se lạnh vùng cao, ngắm tuyết lất phất bay, du khách có cảm giác như lạc trong miền cổ tích ở châu Âu xa xôi. Du khách có thể chụp ảnh check in cùng ông già Noel hay những chú Mascot trong hình dáng nhân vật hoạt hình nổi tiếng. Lễ hội mùa đông ở Fansipan Legend thu hút với cây thông từ 5000 bắp ngô Lễ hội mùa đông ở Fansipan Legend có sự kết hợp khéo léo giữa văn hóa đặc trưng châu Âu với văn hóa bản địa, tạo thành lễ hội có một không hai ở vùng cao Tây Bắc với những tiết mục biểu diễn đặc sắc. Hàng ngàn du khách tham gia lễ hội mùa đông ở Fansipan Legend sẽ được tận hưởng không khí sôi động, vui tươi, mới lạ và hấp dẫn. Lễ hội mùa đông tại Sun World Fansipan Legend là sự kiện được mong chờ để tạm biệt năm 2017, chào đón 2018 với vô vàn hứng khởi.

Đến với Sun World Fansipan Legend những ngày lễ hội mùa đông, du khách không chỉ được chiêm ngưỡng cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, tráng lệ của dãy Hoàng Liên Sơn và Thung lũng Mường Hoa từ trên cao... mà còn có những trải nghiệm khó quên với thiên đường tuyết rơi. Lễ hội mùa đông tại Fansipan Legend lần đầu tiên mang tới những cây thông Noel độc đáo như: cây thông Noel chóp tam giác biểu tượng của đỉnh Fansipan, cây thông kết từ 5.000 bắp ngô cao 6m, cây thông được kết từ 1 tấn quả su su. Lễ hội mùa đông ở Fansipan Legend tuyệt đẹp với con đường tuyết rơi Khu du lịch Sun World Fansipan Legend trở thành "thiên đường tuyết rơi đẹp ngỡ ngàng với tông trắng chủ đạo. Nóc nhà Đông Dương trở thành xứ sở băng giá, lãng mạn với những bông tuyết trắng muốt, những con đường mùa đông ngợp tuyết, những hàng cây trắng xóa điểm tô những quả cầu xanh dương nổi bật. Giữa thời tiết se lạnh vùng cao, ngắm tuyết lất phất bay, du khách có cảm giác như lạc trong miền cổ tích ở châu Âu xa xôi. Du khách có thể chụp ảnh check in cùng ông già Noel hay những chú Mascot trong hình dáng nhân vật hoạt hình nổi tiếng. Lễ hội mùa đông ở Fansipan Legend thu hút với cây thông từ 5000 bắp ngô Lễ hội mùa đông ở Fansipan Legend có sự kết hợp khéo léo giữa văn hóa đặc trưng châu Âu với văn hóa bản địa, tạo thành lễ hội có một không hai ở vùng cao Tây Bắc với những tiết mục biểu diễn đặc sắc. Hàng ngàn du khách tham gia lễ hội mùa đông ở Fansipan Legend sẽ được tận hưởng không khí sôi động, vui tươi, mới lạ và hấp dẫn. Lễ hội mùa đông tại Sun World Fansipan Legend là sự kiện được mong chờ để tạm biệt năm 2017, chào đón 2018 với vô vàn hứng khởi.

Đến với Sun World Fansipan Legend những ngày lễ hội mùa đông, du khách không chỉ được chiêm ngưỡng cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, tráng lệ của dãy Hoàng Liên Sơn và Thung lũng Mường Hoa từ trên cao... mà còn có những trải nghiệm khó quên với thiên đường tuyết rơi. Lễ hội mùa đông tại Fansipan Legend lần đầu tiên mang tới những cây thông Noel độc đáo như: cây thông Noel chóp tam giác biểu tượng của đỉnh Fansipan, cây thông kết từ 5.000 bắp ngô cao 6m, cây thông được kết từ 1 tấn quả su su.

Lễ hội mùa đông ở Fansipan Legend tuyệt đẹp với con đường tuyết rơi

Khu du lịch Sun World Fansipan Legend trở thành "thiên đường tuyết rơi đẹp ngỡ ngàng với tông trắng chủ đạo. Nóc nhà Đông Dương trở thành xứ sở băng giá, lãng mạn với những bông tuyết trắng muốt, những con đường mùa đông ngợp tuyết, những hàng cây trắng xóa điểm tô những quả cầu xanh dương nổi bật. Giữa thời tiết se lạnh vùng cao, ngắm tuyết lất phất bay, du khách có cảm giác như lạc trong miền cổ tích ở châu Âu xa xôi. Du khách có thể chụp ảnh check in cùng ông già Noel hay những chú Mascot trong hình dáng nhân vật hoạt hình nổi tiếng.

Lễ hội mùa đông ở Fansipan Legend thu hút với cây thông từ 5000 bắp ngô

Lễ hội mùa đông ở Fansipan Legend có sự kết hợp khéo léo giữa văn hóa đặc trưng châu Âu với văn hóa bản địa, tạo thành lễ hội có một không hai ở vùng cao Tây Bắc với những tiết mục biểu diễn đặc sắc.

Hàng ngàn du khách tham gia lễ hội mùa đông ở Fansipan Legend sẽ được tận hưởng không khí sôi động, vui tươi, mới lạ và hấp dẫn. Lễ hội mùa đông tại Sun World Fansipan Legend là sự kiện được mong chờ để tạm biệt năm 2017, chào đón 2018 với vô vàn hứng khởi.

Related Figures

Lễ hội âm nhạc Tiger Remix - Đánh thức bản lĩnh đếm ngược chào năm mới 2018

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 31/12 Dương lịch Lễ hội âm nhạc Tiger Remix - Đếm ngược chào đón năm mới với thông điệp "Đánh thức bản lĩnh" là nơi quy tụ những màn trình diễn đặc sắc giao thoa giữa các thế hệ. Khán giả sẽ được bước vào thế giới âm nhạc đầy màu sắc, hoành tráng, sôi động và cuồng nhiệt trong Siêu đại nhạc hội Tiger Remix. Lễ hội âm nhạc Tiger Remix - Đánh thức bản lĩnh thu hút đông đảo khán giả Siêu đại nhạc hội Tiger Remix tiếp tục là sự kiện tâm điểm dịp cuối năm, khởi động hoành tráng trên đại lộ Lê Duẩn, quận 1. Chương trình quy tụ dàn sao khủng là những nhân vật thuộc "thế hệ vàng" như: Đàm Vĩnh Hưng, Mỹ Tâm, Lam Trường... và những ca sĩ trẻ đang được yêu mến như: Sơn Tùng M-TP, Issac. Đông Nhi, Lynk Lee... Siêu đại nhạc hội Tiger Remix hứa hẹn mang lại những màn trình diễn đặc sắc, có một không hai. Lễ hội âm nhạc Tiger Remix - Đánh thức bản lĩnh chào đón năm mới 2018 Lễ hội âm nhạc Tiger Remix chính thức khai pháo lúc 16h với nhiều hoạt động vui nhộn kéo dài đến đêm. Đại tiệc âm nhạc chào đón năm mới 2018 với những tiết mục đỉnh cao khiến khán giả bùng nổ các giác quan với âm nhạc cực chất, hệ thống âm thanh, ánh sáng đẳng cấp. Các khu vực trong lễ hội âm nhạc Tiger Remix: Khu vực trò chơi: Đến với lễ hội âm nhạc Tiger Remix, du khách có thể trải nghiệm những tiết mục xiếc, ảo thuật mới lạ, trình diễn Pakour hào hứng. Ngoài ra, còn có thể tham gia thử thách "Thử tài bắt lộc" và "Ném bóng bản lĩnh" để nhận ngay nhiều quà tặng bản lĩnh thú vị. Khu vực chụp ảnh: Đến với "Góc chụp bản lĩnh", du khách không chỉ "phá đảo thế giới ảo" của riêng mình mà còn có cơ hội nhận được Iphone 8+ 256GB sành điệu. Khu vực ẩm thực và trải nghiệm bia: thưởng thức những lon bia hảo hạng và nhâm nhi một chút thức ăn nạp thêm năng lượng cho du khách để có thể tham gia nhiều hoạt động náo nhiệt đến tận đêm khuya. Khu vực DJ và trải nghiệm âm nhạc: Những DJ đình đám sẽ làm nóng sân khấu bằng những bản nhạc rung chuyển để chuẩn bị cho đại tiệc chính. Lễ hội âm nhạc Tiger Remix - Đánh thức bản lĩnh thế giới âm nhạc màu sắc Lễ hội âm nhạc Tiger Remix mang tới thông điệp "Vượt qua mọi rào cản, đánh thức bản lĩnh để chào đón năm mới thật hoành tráng và bản lĩnh nhất".

Lễ hội âm nhạc Tiger Remix - Đánh thức bản lĩnh thu hút đông đảo khán giả Siêu đại nhạc hội Tiger Remix tiếp tục là sự kiện tâm điểm dịp cuối năm, khởi động hoành tráng trên đại lộ Lê Duẩn, quận 1. Chương trình quy tụ dàn sao khủng là những nhân vật thuộc "thế hệ vàng" như: Đàm Vĩnh Hưng, Mỹ Tâm, Lam Trường... và những ca sĩ trẻ đang được yêu mến như: Sơn Tùng M-TP, Issac. Đông Nhi, Lynk Lee... Siêu đại nhạc hội Tiger Remix hứa hẹn mang lại những màn trình diễn đặc sắc, có một không hai. Lễ hội âm nhạc Tiger Remix - Đánh thức bản lĩnh chào đón năm mới 2018 Lễ hội âm nhạc Tiger Remix chính thức khai pháo lúc 16h với nhiều hoạt động vui nhộn kéo dài đến đêm. Đại tiệc âm nhạc chào đón năm mới 2018 với những tiết mục đỉnh cao khiến khán giả bùng nổ các giác quan với âm nhạc cực chất, hệ thống âm thanh, ánh sáng đẳng cấp. Các khu vực trong lễ hội âm nhạc Tiger Remix: Khu vực trò chơi: Đến với lễ hội âm nhạc Tiger Remix, du khách có thể trải nghiệm những tiết mục xiếc, ảo thuật mới lạ, trình diễn Pakour hào hứng. Ngoài ra, còn có thể tham gia thử thách "Thử tài bắt lộc" và "Ném bóng bản lĩnh" để nhận ngay nhiều quà tặng bản lĩnh thú vị. Khu vực chụp ảnh: Đến với "Góc chụp bản lĩnh", du khách không chỉ "phá đảo thế giới ảo" của riêng mình mà còn có cơ hội nhận được Iphone 8+ 256GB sành điệu. Khu vực ẩm thực và trải nghiệm bia: thưởng thức những lon bia hảo hạng và nhâm nhi một chút thức ăn nạp thêm năng lượng cho du khách để có thể tham gia nhiều hoạt động náo nhiệt đến tận đêm khuya. Khu vực DJ và trải nghiệm âm nhạc: Những DJ đình đám sẽ làm nóng sân khấu bằng những bản nhạc rung chuyển để chuẩn bị cho đại tiệc chính. Lễ hội âm nhạc Tiger Remix - Đánh thức bản lĩnh thế giới âm nhạc màu sắc Lễ hội âm nhạc Tiger Remix mang tới thông điệp "Vượt qua mọi rào cản, đánh thức bản lĩnh để chào đón năm mới thật hoành tráng và bản lĩnh nhất".

Siêu đại nhạc hội Tiger Remix tiếp tục là sự kiện tâm điểm dịp cuối năm, khởi động hoành tráng trên đại lộ Lê Duẩn, quận 1. Chương trình quy tụ dàn sao khủng là những nhân vật thuộc "thế hệ vàng" như: Đàm Vĩnh Hưng, Mỹ Tâm, Lam Trường... và những ca sĩ trẻ đang được yêu mến như: Sơn Tùng M-TP, Issac. Đông Nhi, Lynk Lee... Siêu đại nhạc hội Tiger Remix hứa hẹn mang lại những màn trình diễn đặc sắc, có một không hai.

Lễ hội âm nhạc Tiger Remix - Đánh thức bản lĩnh chào đón năm mới 2018

Lễ hội âm nhạc Tiger Remix chính thức khai pháo lúc 16h với nhiều hoạt động vui nhộn kéo dài đến đêm. Đại tiệc âm nhạc chào đón năm mới 2018 với những tiết mục đỉnh cao khiến khán giả bùng nổ các giác quan với âm nhạc cực chất, hệ thống âm thanh, ánh sáng đẳng cấp. Các khu vực trong lễ hội âm nhạc Tiger Remix: Khu vực trò chơi: Đến với lễ hội âm nhạc Tiger Remix, du khách có thể trải nghiệm những tiết mục xiếc, ảo thuật mới lạ, trình diễn Pakour hào hứng. Ngoài ra, còn có thể tham gia thử thách "Thử tài bắt lộc" và "Ném bóng bản lĩnh" để nhận ngay nhiều quà tặng bản lĩnh thú vị. Khu vực chụp ảnh: Đến với "Góc chụp bản lĩnh", du khách không chỉ "phá đảo thế giới ảo" của riêng mình mà còn có cơ hội nhận được Iphone 8+ 256GB sành điệu. Khu vực ẩm thực và trải nghiệm bia: thưởng thức những lon bia hảo hạng và nhâm nhi một chút thức ăn nạp thêm năng lượng cho du khách để có thể tham gia nhiều hoạt động náo nhiệt đến tận đêm khuya. Khu vực DJ và trải nghiệm âm nhạc: Những DJ đình đám sẽ làm nóng sân khấu bằng những bản nhạc rung chuyển để chuẩn bị cho đại tiệc chính. Lễ hội âm nhạc Tiger Remix - Đánh thức bản lĩnh thế giới âm nhạc màu sắc Lễ hội âm nhạc Tiger Remix mang tới thông điệp "Vượt qua mọi rào cản, đánh thức bản lĩnh để chào đón năm mới thật hoành tráng và bản lĩnh nhất".

Lễ hội âm nhạc Tiger Remix chính thức khai pháo lúc 16h với nhiều hoạt động vui nhộn kéo dài đến đêm. Đại tiệc âm nhạc chào đón năm mới 2018 với những tiết mục đỉnh cao khiến khán giả bùng nổ các giác quan với âm nhạc cực chất, hệ thống âm thanh, ánh sáng đẳng cấp.

Các khu vực trong lễ hội âm nhạc Tiger Remix:

Khu vực trò chơi: Đến với lễ hội âm nhạc Tiger Remix, du khách có thể trải nghiệm những tiết mục xiếc, ảo thuật mới lạ, trình diễn Pakour hào hứng. Ngoài ra, còn có thể tham gia thử thách "Thử tài bắt lộc" và "Ném bóng bản lĩnh" để nhận ngay nhiều quà tặng bản lĩnh thú vị. Khu vực chụp ảnh: Đến với "Góc chụp bản lĩnh", du khách không chỉ "phá đảo thế giới ảo" của riêng mình mà còn có cơ hội nhận được Iphone 8+ 256GB sành điệu. Khu vực ẩm thực và trải nghiệm bia: thưởng thức những lon bia hảo hạng và nhâm nhi một chút thức ăn nạp thêm năng lượng cho du khách để có thể tham gia nhiều hoạt động náo nhiệt đến tận đêm khuya. Khu vực DJ và trải nghiệm âm nhạc: Những DJ đình đám sẽ làm nóng sân khấu bằng những bản nhạc rung chuyển để chuẩn bị cho đại tiệc chính. Lễ hội âm nhạc Tiger Remix - Đánh thức bản lĩnh thế giới âm nhạc màu sắc Lễ hội âm nhạc Tiger Remix mang tới thông điệp "Vượt qua mọi rào cản, đánh thức bản lĩnh để chào đón năm mới thật hoành tráng và bản lĩnh nhất".

Lễ hội âm nhạc Tiger Remix - Đánh thức bản lĩnh thế giới âm nhạc màu sắc

Lễ hội âm nhạc Tiger Remix mang tới thông điệp "Vượt qua mọi rào cản, đánh thức bản lĩnh để chào đón năm mới thật hoành tráng và bản lĩnh nhất".

Related Figures

Đại tiệc âm nhạc ánh sáng Heineken Countdown Party 2018

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 31/12 Dương lịch Đại tiệc âm nhạc ánh sáng đỉnh cao Heineken Countdown Party 2018 - sự kiện thường niên diễn ra từ 20h tối ngày 31/12/2017 tới 0h30 ngày 1/1/2018 mang đến trải nghiệm bất ngờ thú vị, độc đáo và cuồng nhiệt chào đón năm mới. Heineken Countdown Party 2018 hứa hẹn mang lại bữa tiệc âm nhạc hấp dẫn Heineken Countdown Party năm nay được tổ chức tại Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục với chủ đề "Du hành tới tương lai". Đây là sự kiện được chờ đợi nhiều nhất trong những ngày cuối năm. Heineken thực hiện đại tiệc âm nhạc vô cùng hoành tráng, trang bị công nghệ âm thanh, ánh sáng và hiệu ứng hình ảnh hiện đại nhất thế giới. Chuyến "Du hành tới tương lai" sẽ mang lại những điều tuyệt vời vượt xa những gì bạn có thể tưởng tượng. Các bạn trẻ và người dân Thủ đô sẽ được hòa mình vào không gian âm nhạc đầy sắc màu. Bữa tiệc âm nhạc quy tụ nhiều ngôi sao hàng đầu như:Thu Minh, Tóc Tiên, Tuấn Hưng, Miu Lê, Mr.A... và nhiều DJ hàng đầu thế giới sẽ bùng nổ hết mình. Khán giả thủ đô sẽ bùng nổ trong Heineken Countdown Party 2018 Kể từ khi xuất hiện năm 2008, luôn ghi dấu ấn bởi những bản sắc tinh túy là bùng nổ, sôi động và cuồng nhiệt, Heineken Countdown đã trở thành một sự kiện thường niên, “đặc sản” không thể thiếu của Hà Nội mỗi dịp chuyển giao năm mới đầy nghĩa. Heineken Countdown Party 2018 sự kiện được chờ đợi cuối năm Heineken Countdown hàng năm thu hút hàng nghìn người tham gia, là dịp để các bạn trẻ thỏa sức bùng nổ trong không gian tràn ngập âm nhạc và ánh sáng sôi động.

Đại tiệc âm nhạc ánh sáng đỉnh cao Heineken Countdown Party 2018 - sự kiện thường niên diễn ra từ 20h tối ngày 31/12/2017 tới 0h30 ngày 1/1/2018 mang đến trải nghiệm bất ngờ thú vị, độc đáo và cuồng nhiệt chào đón năm mới.

Heineken Countdown Party 2018 hứa hẹn mang lại bữa tiệc âm nhạc hấp dẫn Heineken Countdown Party năm nay được tổ chức tại Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục với chủ đề "Du hành tới tương lai". Đây là sự kiện được chờ đợi nhiều nhất trong những ngày cuối năm. Heineken thực hiện đại tiệc âm nhạc vô cùng hoành tráng, trang bị công nghệ âm thanh, ánh sáng và hiệu ứng hình ảnh hiện đại nhất thế giới. Chuyến "Du hành tới tương lai" sẽ mang lại những điều tuyệt vời vượt xa những gì bạn có thể tưởng tượng. Các bạn trẻ và người dân Thủ đô sẽ được hòa mình vào không gian âm nhạc đầy sắc màu. Bữa tiệc âm nhạc quy tụ nhiều ngôi sao hàng đầu như:Thu Minh, Tóc Tiên, Tuấn Hưng, Miu Lê, Mr.A... và nhiều DJ hàng đầu thế giới sẽ bùng nổ hết mình. Khán giả thủ đô sẽ bùng nổ trong Heineken Countdown Party 2018 Kể từ khi xuất hiện năm 2008, luôn ghi dấu ấn bởi những bản sắc tinh túy là bùng nổ, sôi động và cuồng nhiệt, Heineken Countdown đã trở thành một sự kiện thường niên, “đặc sản” không thể thiếu của Hà Nội mỗi dịp chuyển giao năm mới đầy nghĩa. Heineken Countdown Party 2018 sự kiện được chờ đợi cuối năm Heineken Countdown hàng năm thu hút hàng nghìn người tham gia, là dịp để các bạn trẻ thỏa sức bùng nổ trong không gian tràn ngập âm nhạc và ánh sáng sôi động.

Heineken Countdown Party năm nay được tổ chức tại Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục với chủ đề "Du hành tới tương lai". Đây là sự kiện được chờ đợi nhiều nhất trong những ngày cuối năm. Heineken thực hiện đại tiệc âm nhạc vô cùng hoành tráng, trang bị công nghệ âm thanh, ánh sáng và hiệu ứng hình ảnh hiện đại nhất thế giới. Chuyến "Du hành tới tương lai" sẽ mang lại những điều tuyệt vời vượt xa những gì bạn có thể tưởng tượng. Các bạn trẻ và người dân Thủ đô sẽ được hòa mình vào không gian âm nhạc đầy sắc màu. Bữa tiệc âm nhạc quy tụ nhiều ngôi sao hàng đầu như:Thu Minh, Tóc Tiên, Tuấn Hưng, Miu Lê, Mr.A... và nhiều DJ hàng đầu thế giới sẽ bùng nổ hết mình.

Khán giả thủ đô sẽ bùng nổ trong Heineken Countdown Party 2018

Kể từ khi xuất hiện năm 2008, luôn ghi dấu ấn bởi những bản sắc tinh túy là bùng nổ, sôi động và cuồng nhiệt, Heineken Countdown đã trở thành một sự kiện thường niên, “đặc sản” không thể thiếu của Hà Nội mỗi dịp chuyển giao năm mới đầy nghĩa.

Heineken Countdown Party 2018 sự kiện được chờ đợi cuối năm

Heineken Countdown hàng năm thu hút hàng nghìn người tham gia, là dịp để các bạn trẻ thỏa sức bùng nổ trong không gian tràn ngập âm nhạc và ánh sáng sôi động.

Related Figures

Tuần lễ âm vang nhạc cụ dân tộc

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 23/12- 27/12 Dương lịch Tuần lễ âm vang nhạc cụ dân tộc tại Đà Lạt năm 2017 với chủ đề "Âm vang Tây Nguyên" sẽ diễn ra trong 4 ngày từ 23-27/12 tại khu du lịch Đồi Mộng Mơ, số 5 Mai Anh Đào, phường 8, TP Đà Lạt. Tuần lễ âm vang nhạc cụ dân tộc diễn ra cuối năm 2017 Những ngày cuối năm là thời điểm thời tiết Đà Lạt đẹp nhất trong năm, nghìn hoa khoe sắc rực rỡ và nhiều lễ hội thú vị đang chờ đón du khách. Tuần lễ âm vang nhạc cụ dân tộc góp phần quảng bá, giới thiệu đến du khách trong nước và quốc tế các loại hình, nhạc cụ như: đàn đá, đàn T'rưng, công chiêng... của các dân tộc bản địa Churu, Mạ, K'Ho, Ê Đê ở Tây Nguyên. Du khách tham gia được chiêm ngưỡng nhiều nhạc cụ dân tộc Tây Nguyên Du khách đến với tuần lễ âm vang nhạc cụ dân tộc được hòa mình vào không khí sôi động của lễ hội; được khám phá giá trị văn hóa, phong tục tập quán, ẩm thực, đặc biệt là âm nhạc - kiệt tác văn hóa phi vật thể của các dân tộc Tây Nguyên. Tại đây, du khách có dịp tham gia nhiều hoạt động đặc sắc như: chiêm ngưỡng nhạc cụ dân tộc, thưởng thức cafe K'Ho, biểu diễn âm nhạc Tây Nguyên, chơi nhiều trò chơi dân gian Tây Nguyên (đi cà kheo, đi dép gỗ 3 người, cầu thăng bằng, đấu gậy...), hóa trang trong trang phục Tây Nguyên. Được đắm mình trong không gian mang đặc trưng của các dân tộc Tây Nguyên là trải nghiệm thú vị cho du khách. Nghệ sĩ biểu diễn nhạc cụ dân tộc Tây Nguyên Tuần lễ âm vang nhạc cụ dân tộc tại Đà Lạt có ý nghĩa bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc Tây Nguyên. Đồng thời đây cũng là sự kiện văn hóa thu hút khách du lịch đến với Đà Lạt - Tây Nguyên.

Tuần lễ âm vang nhạc cụ dân tộc diễn ra cuối năm 2017

Những ngày cuối năm là thời điểm thời tiết Đà Lạt đẹp nhất trong năm, nghìn hoa khoe sắc rực rỡ và nhiều lễ hội thú vị đang chờ đón du khách. Tuần lễ âm vang nhạc cụ dân tộc góp phần quảng bá, giới thiệu đến du khách trong nước và quốc tế các loại hình, nhạc cụ như: đàn đá, đàn T'rưng, công chiêng... của các dân tộc bản địa Churu, Mạ, K'Ho, Ê Đê ở Tây Nguyên. Du khách tham gia được chiêm ngưỡng nhiều nhạc cụ dân tộc Tây Nguyên Du khách đến với tuần lễ âm vang nhạc cụ dân tộc được hòa mình vào không khí sôi động của lễ hội; được khám phá giá trị văn hóa, phong tục tập quán, ẩm thực, đặc biệt là âm nhạc - kiệt tác văn hóa phi vật thể của các dân tộc Tây Nguyên. Tại đây, du khách có dịp tham gia nhiều hoạt động đặc sắc như: chiêm ngưỡng nhạc cụ dân tộc, thưởng thức cafe K'Ho, biểu diễn âm nhạc Tây Nguyên, chơi nhiều trò chơi dân gian Tây Nguyên (đi cà kheo, đi dép gỗ 3 người, cầu thăng bằng, đấu gậy...), hóa trang trong trang phục Tây Nguyên. Được đắm mình trong không gian mang đặc trưng của các dân tộc Tây Nguyên là trải nghiệm thú vị cho du khách. Nghệ sĩ biểu diễn nhạc cụ dân tộc Tây Nguyên Tuần lễ âm vang nhạc cụ dân tộc tại Đà Lạt có ý nghĩa bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc Tây Nguyên. Đồng thời đây cũng là sự kiện văn hóa thu hút khách du lịch đến với Đà Lạt - Tây Nguyên.

Những ngày cuối năm là thời điểm thời tiết Đà Lạt đẹp nhất trong năm, nghìn hoa khoe sắc rực rỡ và nhiều lễ hội thú vị đang chờ đón du khách.

Tuần lễ âm vang nhạc cụ dân tộc góp phần quảng bá, giới thiệu đến du khách trong nước và quốc tế các loại hình, nhạc cụ như: đàn đá, đàn T'rưng, công chiêng... của các dân tộc bản địa Churu, Mạ, K'Ho, Ê Đê ở Tây Nguyên.

Du khách tham gia được chiêm ngưỡng nhiều nhạc cụ dân tộc Tây Nguyên

Du khách đến với tuần lễ âm vang nhạc cụ dân tộc được hòa mình vào không khí sôi động của lễ hội; được khám phá giá trị văn hóa, phong tục tập quán, ẩm thực, đặc biệt là âm nhạc - kiệt tác văn hóa phi vật thể của các dân tộc Tây Nguyên. Tại đây, du khách có dịp tham gia nhiều hoạt động đặc sắc như: chiêm ngưỡng nhạc cụ dân tộc, thưởng thức cafe K'Ho, biểu diễn âm nhạc Tây Nguyên, chơi nhiều trò chơi dân gian Tây Nguyên (đi cà kheo, đi dép gỗ 3 người, cầu thăng bằng, đấu gậy...), hóa trang trong trang phục Tây Nguyên. Được đắm mình trong không gian mang đặc trưng của các dân tộc Tây Nguyên là trải nghiệm thú vị cho du khách.

Nghệ sĩ biểu diễn nhạc cụ dân tộc Tây Nguyên

Tuần lễ âm vang nhạc cụ dân tộc tại Đà Lạt có ý nghĩa bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc Tây Nguyên. Đồng thời đây cũng là sự kiện văn hóa thu hút khách du lịch đến với Đà Lạt - Tây Nguyên.

Related Figures

Lễ Hội Hái Mận Mộc Châu

Thông tin thời kỳ

Lễ Hội Hái Mận Mộc Châu thường diễn ra vào ngày thứ Bảy cuối cùng của tháng Năm hằng năm, tại thung lũng mận Nà Ka. Đây là một lễ hội nhằm tôn vinh loại quả đặc trung của vùng đất này. Lễ Hội Hái Mận Mộc Châu ở Sơn La Khi những quả mận bắt đầu chuyển từ màu xanh sang màu tìm đậm cũng chính là lúc người dân Mộc Châu, Sơn La bước vào vụ mùa thu hoạch. Dọc hai bên con đường đi vào thung lũng mận Nà Ka có rất nhiều cây mận, những quả mận đã chín màu tím treo lủng lẳng trên cây khiến thu khách rất thích thú. Mận mới hái xong vẫn còn phấn Lễ hội hái mận Mộc Châu người dân trong vùng và du khách tập trung về xem hội rất đông. Từ sáng sớm, những đoàn người, những chiếc xe lớn chở đoàn người đến xem hội rất đông. Những chàng trai, cô gái người Mông cũng đến xem hội từ rất sớm. Trong thung lũng mận, các thí sinh tham gia cuộc thi hái mận nhanh luôn nhận được sự cỗ vũ nhiệt tình từ khách xem hội. Các đội thi xếp hình bằng mận Những giỏ mận được hái xong sẽ được mang ra mời khách xem hội ăn. Những trái mận vẫn còn tươi và nguyên phấn vô cùng hấp dẫn thu hút du khách. Các đội thi còn dùng mận đã hái được để xếp thành những bức hình rồi đưa lên giám khảo chấm điểm. Đến với lễ hội, du khách còn được thuê các bộ trang phục của đồng bào người dân ở đây để mặc và chụp ảnh kỷ niệm.

Lễ Hội Hái Mận Mộc Châu ở Sơn La

Khi những quả mận bắt đầu chuyển từ màu xanh sang màu tìm đậm cũng chính là lúc người dân Mộc Châu, Sơn La bước vào vụ mùa thu hoạch. Dọc hai bên con đường đi vào thung lũng mận Nà Ka có rất nhiều cây mận, những quả mận đã chín màu tím treo lủng lẳng trên cây khiến thu khách rất thích thú. Mận mới hái xong vẫn còn phấn Lễ hội hái mận Mộc Châu người dân trong vùng và du khách tập trung về xem hội rất đông. Từ sáng sớm, những đoàn người, những chiếc xe lớn chở đoàn người đến xem hội rất đông. Những chàng trai, cô gái người Mông cũng đến xem hội từ rất sớm. Trong thung lũng mận, các thí sinh tham gia cuộc thi hái mận nhanh luôn nhận được sự cỗ vũ nhiệt tình từ khách xem hội. Các đội thi xếp hình bằng mận Những giỏ mận được hái xong sẽ được mang ra mời khách xem hội ăn. Những trái mận vẫn còn tươi và nguyên phấn vô cùng hấp dẫn thu hút du khách. Các đội thi còn dùng mận đã hái được để xếp thành những bức hình rồi đưa lên giám khảo chấm điểm. Đến với lễ hội, du khách còn được thuê các bộ trang phục của đồng bào người dân ở đây để mặc và chụp ảnh kỷ niệm.

Mận mới hái xong vẫn còn phấn

Lễ hội hái mận Mộc Châu người dân trong vùng và du khách tập trung về xem hội rất đông. Từ sáng sớm, những đoàn người, những chiếc xe lớn chở đoàn người đến xem hội rất đông. Những chàng trai, cô gái người Mông cũng đến xem hội từ rất sớm. Trong thung lũng mận, các thí sinh tham gia cuộc thi hái mận nhanh luôn nhận được sự cỗ vũ nhiệt tình từ khách xem hội.

Các đội thi xếp hình bằng mận

Những giỏ mận được hái xong sẽ được mang ra mời khách xem hội ăn. Những trái mận vẫn còn tươi và nguyên phấn vô cùng hấp dẫn thu hút du khách. Các đội thi còn dùng mận đã hái được để xếp thành những bức hình rồi đưa lên giám khảo chấm điểm. Đến với lễ hội, du khách còn được thuê các bộ trang phục của đồng bào người dân ở đây để mặc và chụp ảnh kỷ niệm.

Related Figures

Lễ hội gội đầu của người Thái

Thông tin thời kỳ

Lễ hội gội đầu của người Thái là một lễ hội độc đáo. Theo người Thái, gội đầu là để rửa hết tội khổ, xả đi những cái vất vả, bệnh tật, những điều không may ủa năm cũ theo dòng nước, đi mãi không bao giờ lặp lại, đông thời cầu những điều may mắn, sức khỏe, cho năm mới. Người phụ nữ Thái trắng có mái tóc dài rất đẹp Lễ hội gội đầu là lễ hội của đồng bào vùng Thái trắng ở huyện Quỳnh Nhai, Phù Yên, thuộc địa phận huyện Mường La. Người Thái gọi những búi tóc cao trên đỉnh đầu là "tăng cẩu", đó là dấu hiệu để chứng nhận rằng cô gái người Thái đó đã có gia đình. Từ khi kết hôn thì búi tóc đó rất ít khi bị xõa ra nhờ bí quyết vấn tóc kỳ diệu của người Thái. Bên cạnh chiếc khăn Piêu, điệu xòe, thì mái tóc cũng trở thành một rét riêng độc đáo của người phụ nữ Thái. Lễ hội gội đầu của người Thái ở Sơn La Lễ gội đầu của người Thái trắng thường diễn ra như sau: Một thầy no hoặc ông trưởng họ sẽ mời bà con trong bản xuống bến nước để chuẩn bị gội đầu đón chào năm mới. Sau đó, các nam thanh nữ tú sẽ khiêng trống, chiêng đi ra nơi dòng suối, vừa đi vừa khua rộn rã, thúc giục mọi người đi theo sau. Chậu nước gội đầu được bà con người Thái đun sôi để pha với nước gồm vỏ cây xo xe, bồ kết, hoa đào, cánh hoa rừng và hoa mận. Lễ hội gội đầu là một nét đẹp văn hóa của người Thái ở Sơn La Lễ hội này cần được phục dựng để đáp ứng đời sống tinh thần của người dân, đồng thời bảo tồn và phát huy nét đẹp văn hóa truyền thống của các dân tộc. Lễ hội còn là nơi quảng bá những tiềm năng, văn hóa, du lịch, thể thao và con người Quỳnh Nhai. Lễ hội này còn mang tính nhân văn sâu sắc là thể hiện lòng yêu hòa bình, sống hòa hợp với thiên nhiên, có sức khỏe tốt.

Người phụ nữ Thái trắng có mái tóc dài rất đẹp Lễ hội gội đầu là lễ hội của đồng bào vùng Thái trắng ở huyện Quỳnh Nhai, Phù Yên, thuộc địa phận huyện Mường La. Người Thái gọi những búi tóc cao trên đỉnh đầu là "tăng cẩu", đó là dấu hiệu để chứng nhận rằng cô gái người Thái đó đã có gia đình. Từ khi kết hôn thì búi tóc đó rất ít khi bị xõa ra nhờ bí quyết vấn tóc kỳ diệu của người Thái. Bên cạnh chiếc khăn Piêu, điệu xòe, thì mái tóc cũng trở thành một rét riêng độc đáo của người phụ nữ Thái. Lễ hội gội đầu của người Thái ở Sơn La Lễ gội đầu của người Thái trắng thường diễn ra như sau: Một thầy no hoặc ông trưởng họ sẽ mời bà con trong bản xuống bến nước để chuẩn bị gội đầu đón chào năm mới. Sau đó, các nam thanh nữ tú sẽ khiêng trống, chiêng đi ra nơi dòng suối, vừa đi vừa khua rộn rã, thúc giục mọi người đi theo sau. Chậu nước gội đầu được bà con người Thái đun sôi để pha với nước gồm vỏ cây xo xe, bồ kết, hoa đào, cánh hoa rừng và hoa mận. Lễ hội gội đầu là một nét đẹp văn hóa của người Thái ở Sơn La Lễ hội này cần được phục dựng để đáp ứng đời sống tinh thần của người dân, đồng thời bảo tồn và phát huy nét đẹp văn hóa truyền thống của các dân tộc. Lễ hội còn là nơi quảng bá những tiềm năng, văn hóa, du lịch, thể thao và con người Quỳnh Nhai. Lễ hội này còn mang tính nhân văn sâu sắc là thể hiện lòng yêu hòa bình, sống hòa hợp với thiên nhiên, có sức khỏe tốt.

Lễ hội gội đầu là lễ hội của đồng bào vùng Thái trắng ở huyện Quỳnh Nhai, Phù Yên, thuộc địa phận huyện Mường La. Người Thái gọi những búi tóc cao trên đỉnh đầu là "tăng cẩu", đó là dấu hiệu để chứng nhận rằng cô gái người Thái đó đã có gia đình. Từ khi kết hôn thì búi tóc đó rất ít khi bị xõa ra nhờ bí quyết vấn tóc kỳ diệu của người Thái. Bên cạnh chiếc khăn Piêu, điệu xòe, thì mái tóc cũng trở thành một rét riêng độc đáo của người phụ nữ Thái.

Lễ hội gội đầu của người Thái ở Sơn La

Lễ gội đầu của người Thái trắng thường diễn ra như sau: Một thầy no hoặc ông trưởng họ sẽ mời bà con trong bản xuống bến nước để chuẩn bị gội đầu đón chào năm mới. Sau đó, các nam thanh nữ tú sẽ khiêng trống, chiêng đi ra nơi dòng suối, vừa đi vừa khua rộn rã, thúc giục mọi người đi theo sau. Chậu nước gội đầu được bà con người Thái đun sôi để pha với nước gồm vỏ cây xo xe, bồ kết, hoa đào, cánh hoa rừng và hoa mận. Lễ hội gội đầu là một nét đẹp văn hóa của người Thái ở Sơn La Lễ hội này cần được phục dựng để đáp ứng đời sống tinh thần của người dân, đồng thời bảo tồn và phát huy nét đẹp văn hóa truyền thống của các dân tộc. Lễ hội còn là nơi quảng bá những tiềm năng, văn hóa, du lịch, thể thao và con người Quỳnh Nhai. Lễ hội này còn mang tính nhân văn sâu sắc là thể hiện lòng yêu hòa bình, sống hòa hợp với thiên nhiên, có sức khỏe tốt.

Lễ gội đầu của người Thái trắng thường diễn ra như sau: Một thầy no hoặc ông trưởng họ sẽ mời bà con trong bản xuống bến nước để chuẩn bị gội đầu đón chào năm mới. Sau đó, các nam thanh nữ tú sẽ khiêng trống, chiêng đi ra nơi dòng suối, vừa đi vừa khua rộn rã, thúc giục mọi người đi theo sau. Chậu nước gội đầu được bà con người Thái đun sôi để pha với nước gồm vỏ cây xo xe, bồ kết, hoa đào, cánh hoa rừng và hoa mận.

Lễ hội gội đầu là một nét đẹp văn hóa của người Thái ở Sơn La

Lễ hội này cần được phục dựng để đáp ứng đời sống tinh thần của người dân, đồng thời bảo tồn và phát huy nét đẹp văn hóa truyền thống của các dân tộc. Lễ hội còn là nơi quảng bá những tiềm năng, văn hóa, du lịch, thể thao và con người Quỳnh Nhai. Lễ hội này còn mang tính nhân văn sâu sắc là thể hiện lòng yêu hòa bình, sống hòa hợp với thiên nhiên, có sức khỏe tốt.

Related Figures

Lễ Lập tịch của người Dao

Thông tin thời kỳ

Lễ Lập tịch của người Dao ở Yên Bái là một lễ hội mang tính chất tâm linh, là một nghi lễ truyền thống, bắt buộc những người đàn ông của dân tộc Dao đều phải thực hiện. Đàn ông người Dao nếu khi còn sống mà chưa được làm lễ Lập tịch thì khi chết đi con cháu phải làm lễ cho. Đây được xem là nghi lễ truyền thống bắt buộc, thể hiện nét văn hóa độc đáo riêng của đồng bào dân tộc Dao. Trong quan niệm của người Dao ở Yên Bái, họ cho rằng phải trải qua lễ Lập tịch thì mới được công nhận là người đã trưởng thành, làm ăn mới được may mắn. Sau lễ Lập tịch, người được Lập tịch sẽ được đặt cho một cái tên mới, thường gọi là tên "âm", đến khi chết các thầy cúng sẽ gọi tên này chứ không gọi tên bình thường. Lễ Lập tịch có nhiều bậc: người "lập tịch" được cấp cho 3 đèn và 36 binh mã, bậc hai sẽ được cấp 7 đèn và 72 binh mã, bậc 3 là 12 đèn và 120 binh mã. Tuy nhiên, nếu người nào đã được xã hội công nhận là người trưởng thành thì chỉ cần thực hiện bậc 1. Với người Dao ở Yên Bái, nét văn hóa này mang ý nghĩa quan trọng về mặt tâm linh và tinh thần. Đây được xem là "vật chứng" để khẳng định người đàn ông đó đã trưởng thành, đồng thời còn nhận được điều may mắn, binh an và hạnh phúc. Trong lễ Lập tịch, ngoài các nghi thức do thầy cúng thực hiện ra thì còn có phần hội. Phần hội được tiến hành với các điệu múa, những trò chơi vui nhộn. Khi các nghi lễ kết thúc, bà con dân bản, dòng họ, gia đình mổ lợn để làm tiệc mừng. Họ ngồi quây quần cùng nhau, và cùng nói những câu chuyện vui rất vui vẻ. Lễ Lập tịch của người Dao ở Yên Bái là một lễ hội truyền thống vẫn còn giữ được nhiều nét nguyên bản, cần được lưu trữ, bảo tồn và phát huy trong kho tàng văn hóa dân tộc Việt.

Trong quan niệm của người Dao ở Yên Bái, họ cho rằng phải trải qua lễ Lập tịch thì mới được công nhận là người đã trưởng thành, làm ăn mới được may mắn. Sau lễ Lập tịch, người được Lập tịch sẽ được đặt cho một cái tên mới, thường gọi là tên "âm", đến khi chết các thầy cúng sẽ gọi tên này chứ không gọi tên bình thường. Lễ Lập tịch có nhiều bậc: người "lập tịch" được cấp cho 3 đèn và 36 binh mã, bậc hai sẽ được cấp 7 đèn và 72 binh mã, bậc 3 là 12 đèn và 120 binh mã. Tuy nhiên, nếu người nào đã được xã hội công nhận là người trưởng thành thì chỉ cần thực hiện bậc 1. Với người Dao ở Yên Bái, nét văn hóa này mang ý nghĩa quan trọng về mặt tâm linh và tinh thần. Đây được xem là "vật chứng" để khẳng định người đàn ông đó đã trưởng thành, đồng thời còn nhận được điều may mắn, binh an và hạnh phúc.

Trong quan niệm của người Dao ở Yên Bái, họ cho rằng phải trải qua lễ Lập tịch thì mới được công nhận là người đã trưởng thành, làm ăn mới được may mắn. Sau lễ Lập tịch, người được Lập tịch sẽ được đặt cho một cái tên mới, thường gọi là tên "âm", đến khi chết các thầy cúng sẽ gọi tên này chứ không gọi tên bình thường.

Lễ Lập tịch có nhiều bậc: người "lập tịch" được cấp cho 3 đèn và 36 binh mã, bậc hai sẽ được cấp 7 đèn và 72 binh mã, bậc 3 là 12 đèn và 120 binh mã. Tuy nhiên, nếu người nào đã được xã hội công nhận là người trưởng thành thì chỉ cần thực hiện bậc 1. Với người Dao ở Yên Bái, nét văn hóa này mang ý nghĩa quan trọng về mặt tâm linh và tinh thần. Đây được xem là "vật chứng" để khẳng định người đàn ông đó đã trưởng thành, đồng thời còn nhận được điều may mắn, binh an và hạnh phúc.

Trong lễ Lập tịch, ngoài các nghi thức do thầy cúng thực hiện ra thì còn có phần hội. Phần hội được tiến hành với các điệu múa, những trò chơi vui nhộn. Khi các nghi lễ kết thúc, bà con dân bản, dòng họ, gia đình mổ lợn để làm tiệc mừng. Họ ngồi quây quần cùng nhau, và cùng nói những câu chuyện vui rất vui vẻ.

Lễ Lập tịch của người Dao ở Yên Bái là một lễ hội truyền thống vẫn còn giữ được nhiều nét nguyên bản, cần được lưu trữ, bảo tồn và phát huy trong kho tàng văn hóa dân tộc Việt.

Related Figures

Lễ hội TUSU của dân tộc H'Mông

Thông tin thời kỳ

Lễ hội TUSU của dân tộc H'Mông là một nghi lễ mang tính tâm linh, có ý nghĩa cao đẹp của một cộng đồng người trên một địa bàn. Lễ hội được tổ chức thành 2 cấ, cấp độ thứ nhất là từ ngày 28-29 tháng 9 hàng năm tại xã Tý Nang - huyện Yên Châu, cấp độ thứ hai là 3 năm một lần tại bản Phiêng Ban, xã Phiêng Ban, huyện Bắc Yên. Người H'Mông có quan niệm rằng bạn vật hữu hình. Ho cho rằng việc quản lý, ngự trị, điều hành thế giới đều do một lực lượng siêu nhiên làm. Lực lượng siêu nhiên đó là ma, ma có mặt ở mọi lúc, mọi nơi. Vạn vật như đất đai, sông suối, chim muông, con thú... đều có linh hồn và sống như một thực thể đích thực. Con người phải biết kiêng kỵ, thờ cũng, phải làm các nghi lễ để cầu may, mong cho thần linh phù hộ. Lễ hội Tusu là dịp tập trung, giao lưu và kết nối con người trong cộng đồng, là thông điệp gửi tới tổ tiên và thần linh, xin cho mưa thuận gió hòa, cây cối tươi tốt, cuộc sống con người được ấm no hạnh phúc. Người H'Mông có quan niệm rằng, những ngày xấu nhất trong năm là những ngày nên được chọn để tổ chức lễ cầu may, giải hạn. Lễ hội Tusu cũng được xem là dịp để người dân ôn lại truyền thống gia đình, để bày tỏ lòng thành kính, biết ơn tới ông bà, tổ tiển, với thần linh. Du khách tham quan và trải nghiệm tại lễ hội Tusu sẽ được thưởng thức, khám phá nhiều điều thú vị của đồng bào người H'Mông, có thể tiếp xúc những nét đẹp trong văn hóa truyền thống của họ. Lễ hội Tusu có một điều đặc biệt là chỉ có nam giới mới được vào lễ, nấu nướng, làm cơm... Đêm đến họ trái chiếu ra nền nhà để cả chủ và khách cùng ngủ.

Người H'Mông có quan niệm rằng bạn vật hữu hình. Ho cho rằng việc quản lý, ngự trị, điều hành thế giới đều do một lực lượng siêu nhiên làm. Lực lượng siêu nhiên đó là ma, ma có mặt ở mọi lúc, mọi nơi. Vạn vật như đất đai, sông suối, chim muông, con thú... đều có linh hồn và sống như một thực thể đích thực. Con người phải biết kiêng kỵ, thờ cũng, phải làm các nghi lễ để cầu may, mong cho thần linh phù hộ. Lễ hội Tusu là dịp tập trung, giao lưu và kết nối con người trong cộng đồng, là thông điệp gửi tới tổ tiên và thần linh, xin cho mưa thuận gió hòa, cây cối tươi tốt, cuộc sống con người được ấm no hạnh phúc. Người H'Mông có quan niệm rằng, những ngày xấu nhất trong năm là những ngày nên được chọn để tổ chức lễ cầu may, giải hạn. Lễ hội Tusu cũng được xem là dịp để người dân ôn lại truyền thống gia đình, để bày tỏ lòng thành kính, biết ơn tới ông bà, tổ tiển, với thần linh. Du khách tham quan và trải nghiệm tại lễ hội Tusu sẽ được thưởng thức, khám phá nhiều điều thú vị của đồng bào người H'Mông, có thể tiếp xúc những nét đẹp trong văn hóa truyền thống của họ. Lễ hội Tusu có một điều đặc biệt là chỉ có nam giới mới được vào lễ, nấu nướng, làm cơm... Đêm đến họ trái chiếu ra nền nhà để cả chủ và khách cùng ngủ.

Người H'Mông có quan niệm rằng bạn vật hữu hình. Ho cho rằng việc quản lý, ngự trị, điều hành thế giới đều do một lực lượng siêu nhiên làm. Lực lượng siêu nhiên đó là ma, ma có mặt ở mọi lúc, mọi nơi. Vạn vật như đất đai, sông suối, chim muông, con thú... đều có linh hồn và sống như một thực thể đích thực. Con người phải biết kiêng kỵ, thờ cũng, phải làm các nghi lễ để cầu may, mong cho thần linh phù hộ. Lễ hội Tusu là dịp tập trung, giao lưu và kết nối con người trong cộng đồng, là thông điệp gửi tới tổ tiên và thần linh, xin cho mưa thuận gió hòa, cây cối tươi tốt, cuộc sống con người được ấm no hạnh phúc. Người H'Mông có quan niệm rằng, những ngày xấu nhất trong năm là những ngày nên được chọn để tổ chức lễ cầu may, giải hạn. Lễ hội Tusu cũng được xem là dịp để người dân ôn lại truyền thống gia đình, để bày tỏ lòng thành kính, biết ơn tới ông bà, tổ tiển, với thần linh. Du khách tham quan và trải nghiệm tại lễ hội Tusu sẽ được thưởng thức, khám phá nhiều điều thú vị của đồng bào người H'Mông, có thể tiếp xúc những nét đẹp trong văn hóa truyền thống của họ. Lễ hội Tusu có một điều đặc biệt là chỉ có nam giới mới được vào lễ, nấu nướng, làm cơm... Đêm đến họ trái chiếu ra nền nhà để cả chủ và khách cùng ngủ.

Người H'Mông có quan niệm rằng bạn vật hữu hình. Ho cho rằng việc quản lý, ngự trị, điều hành thế giới đều do một lực lượng siêu nhiên làm. Lực lượng siêu nhiên đó là ma, ma có mặt ở mọi lúc, mọi nơi. Vạn vật như đất đai, sông suối, chim muông, con thú... đều có linh hồn và sống như một thực thể đích thực. Con người phải biết kiêng kỵ, thờ cũng, phải làm các nghi lễ để cầu may, mong cho thần linh phù hộ.

Lễ hội Tusu là dịp tập trung, giao lưu và kết nối con người trong cộng đồng, là thông điệp gửi tới tổ tiên và thần linh, xin cho mưa thuận gió hòa, cây cối tươi tốt, cuộc sống con người được ấm no hạnh phúc.

Người H'Mông có quan niệm rằng, những ngày xấu nhất trong năm là những ngày nên được chọn để tổ chức lễ cầu may, giải hạn. Lễ hội Tusu cũng được xem là dịp để người dân ôn lại truyền thống gia đình, để bày tỏ lòng thành kính, biết ơn tới ông bà, tổ tiển, với thần linh.

Người H'Mông có quan niệm rằng, những ngày xấu nhất trong năm là những ngày nên được chọn để tổ chức lễ cầu may, giải hạn. Lễ hội Tusu cũng được xem là dịp để người dân ôn lại truyền thống gia đình, để bày tỏ lòng thành kính, biết ơn tới ông bà, tổ tiển, với thần linh.

Du khách tham quan và trải nghiệm tại lễ hội Tusu sẽ được thưởng thức, khám phá nhiều điều thú vị của đồng bào người H'Mông, có thể tiếp xúc những nét đẹp trong văn hóa truyền thống của họ. Lễ hội Tusu có một điều đặc biệt là chỉ có nam giới mới được vào lễ, nấu nướng, làm cơm... Đêm đến họ trái chiếu ra nền nhà để cả chủ và khách cùng ngủ.

Related Figures

Lễ hội Hết Chá của dân tộc Thái

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 24/3- 25/3 Âm lịch Lễ hội Hết Chá của dân tộc Thái ở Sơn La diễn ra từ ngày 24 đến ngày 25 tháng Ba hàng năm, tại xã Đông Sang, huyện Mộc Châu, Sơn La. Lễ hội Hết Chá của dân tộc Thái ở Sơn La Lễ hội Hết Chá gồm 2 phần chính là phần lễ và phần hội. Lễ hội mang tín ngưỡng, tâm linh của người dân đồng bào dân tộc Thái ở huyện Mộc Châu. Đây được xem là lễ tạ ơn trời đất, cầu phúc cho vạn vật được sinh sôi nảy nở, cuộc sống yên bình, hạnh phúc. Lễ hội Hết Chá còn là dịp để người Thái thể hiện tinh thần đoàn kết cộng đồng, giúp đỡ lẫn nhau vươn lên trong cuộc sống. Theo truyền thuyết xưa, ở Mường Mốc - tức Mường Sang ngày nay, có một ông thầy cúng là Phỉ Mun có tài bốc thuốc nam chữa bệnh, cứu người. Số lượng người được thấy Phỉ Mun chữ trị càng ngày càng đông. Những người ốm sau khi lành bệnh đã xin thầy Phỉ Mun nhận họ làm con nuôi, để trả ơn ông. Từ đó, cứ mỗi dịp xuân về, là lúc các người con nuôi của thầy Phỉ Mun lại từ khắp mọi miền trở về thăm thầy. Mỗi người có chuẩn bị những món lễ vật khác nhau để tặng cha nuôi của mình. Cây nêu là thứ không thể thiếu trong Lễ hội Hết Chá của dân tộc Thái ở Sơn La Lễ Hội Hết Chá chính vì thế mà được xem là ngày hội đoàn kết, gắn bó cộng đồng, có giá trị nhân văn sâu sắc, thể hiện lối sống bình dị của người dân và thiên nhiên. Tất cả những giá trị văn hóa và tinh thần đó đều được thể hiện trên cây nêu cùng nhiều loại động thực vật tượng trưng cho trời, đất, sông núi... Trong ngày lễ hội Hết Chá, nhạc cụ dân tộc và những món lễ cúng được chuẩn bị đầy đủ và khá cầu kỳ. Trước khi hành lễ, thầy cúng phải hát lời mời tổ tiên. Khi các con nuôi đã tới đủ thì mới mới bắt đầu phần tặng quà. Phần hội diễn ra rất sôi nổi với nhiều trò chơi dân gian và các trò chơi thể thao, đã tái hiện được phần nào cuộc sống bình dị của đồng bào người Thái. Người dân quây quần bên cây nêu trong ngày hội Hết Chá

Lễ hội Hết Chá của dân tộc Thái ở Sơn La Lễ hội Hết Chá gồm 2 phần chính là phần lễ và phần hội. Lễ hội mang tín ngưỡng, tâm linh của người dân đồng bào dân tộc Thái ở huyện Mộc Châu. Đây được xem là lễ tạ ơn trời đất, cầu phúc cho vạn vật được sinh sôi nảy nở, cuộc sống yên bình, hạnh phúc. Lễ hội Hết Chá còn là dịp để người Thái thể hiện tinh thần đoàn kết cộng đồng, giúp đỡ lẫn nhau vươn lên trong cuộc sống. Theo truyền thuyết xưa, ở Mường Mốc - tức Mường Sang ngày nay, có một ông thầy cúng là Phỉ Mun có tài bốc thuốc nam chữa bệnh, cứu người. Số lượng người được thấy Phỉ Mun chữ trị càng ngày càng đông. Những người ốm sau khi lành bệnh đã xin thầy Phỉ Mun nhận họ làm con nuôi, để trả ơn ông. Từ đó, cứ mỗi dịp xuân về, là lúc các người con nuôi của thầy Phỉ Mun lại từ khắp mọi miền trở về thăm thầy. Mỗi người có chuẩn bị những món lễ vật khác nhau để tặng cha nuôi của mình. Cây nêu là thứ không thể thiếu trong Lễ hội Hết Chá của dân tộc Thái ở Sơn La Lễ Hội Hết Chá chính vì thế mà được xem là ngày hội đoàn kết, gắn bó cộng đồng, có giá trị nhân văn sâu sắc, thể hiện lối sống bình dị của người dân và thiên nhiên. Tất cả những giá trị văn hóa và tinh thần đó đều được thể hiện trên cây nêu cùng nhiều loại động thực vật tượng trưng cho trời, đất, sông núi... Trong ngày lễ hội Hết Chá, nhạc cụ dân tộc và những món lễ cúng được chuẩn bị đầy đủ và khá cầu kỳ. Trước khi hành lễ, thầy cúng phải hát lời mời tổ tiên. Khi các con nuôi đã tới đủ thì mới mới bắt đầu phần tặng quà. Phần hội diễn ra rất sôi nổi với nhiều trò chơi dân gian và các trò chơi thể thao, đã tái hiện được phần nào cuộc sống bình dị của đồng bào người Thái. Người dân quây quần bên cây nêu trong ngày hội Hết Chá

Lễ hội Hết Chá gồm 2 phần chính là phần lễ và phần hội. Lễ hội mang tín ngưỡng, tâm linh của người dân đồng bào dân tộc Thái ở huyện Mộc Châu. Đây được xem là lễ tạ ơn trời đất, cầu phúc cho vạn vật được sinh sôi nảy nở, cuộc sống yên bình, hạnh phúc. Lễ hội Hết Chá còn là dịp để người Thái thể hiện tinh thần đoàn kết cộng đồng, giúp đỡ lẫn nhau vươn lên trong cuộc sống.

Theo truyền thuyết xưa, ở Mường Mốc - tức Mường Sang ngày nay, có một ông thầy cúng là Phỉ Mun có tài bốc thuốc nam chữa bệnh, cứu người. Số lượng người được thấy Phỉ Mun chữ trị càng ngày càng đông. Những người ốm sau khi lành bệnh đã xin thầy Phỉ Mun nhận họ làm con nuôi, để trả ơn ông. Từ đó, cứ mỗi dịp xuân về, là lúc các người con nuôi của thầy Phỉ Mun lại từ khắp mọi miền trở về thăm thầy. Mỗi người có chuẩn bị những món lễ vật khác nhau để tặng cha nuôi của mình.

Cây nêu là thứ không thể thiếu trong Lễ hội Hết Chá của dân tộc Thái ở Sơn La

Lễ Hội Hết Chá chính vì thế mà được xem là ngày hội đoàn kết, gắn bó cộng đồng, có giá trị nhân văn sâu sắc, thể hiện lối sống bình dị của người dân và thiên nhiên. Tất cả những giá trị văn hóa và tinh thần đó đều được thể hiện trên cây nêu cùng nhiều loại động thực vật tượng trưng cho trời, đất, sông núi... Trong ngày lễ hội Hết Chá, nhạc cụ dân tộc và những món lễ cúng được chuẩn bị đầy đủ và khá cầu kỳ. Trước khi hành lễ, thầy cúng phải hát lời mời tổ tiên. Khi các con nuôi đã tới đủ thì mới mới bắt đầu phần tặng quà. Phần hội diễn ra rất sôi nổi với nhiều trò chơi dân gian và các trò chơi thể thao, đã tái hiện được phần nào cuộc sống bình dị của đồng bào người Thái. Người dân quây quần bên cây nêu trong ngày hội Hết Chá

Lễ Hội Hết Chá chính vì thế mà được xem là ngày hội đoàn kết, gắn bó cộng đồng, có giá trị nhân văn sâu sắc, thể hiện lối sống bình dị của người dân và thiên nhiên. Tất cả những giá trị văn hóa và tinh thần đó đều được thể hiện trên cây nêu cùng nhiều loại động thực vật tượng trưng cho trời, đất, sông núi...

Trong ngày lễ hội Hết Chá, nhạc cụ dân tộc và những món lễ cúng được chuẩn bị đầy đủ và khá cầu kỳ. Trước khi hành lễ, thầy cúng phải hát lời mời tổ tiên. Khi các con nuôi đã tới đủ thì mới mới bắt đầu phần tặng quà. Phần hội diễn ra rất sôi nổi với nhiều trò chơi dân gian và các trò chơi thể thao, đã tái hiện được phần nào cuộc sống bình dị của đồng bào người Thái.

Người dân quây quần bên cây nêu trong ngày hội Hết Chá

Related Figures

Festival hoa Đà Lạt năm 2017

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 23/12- 27/12 Dương lịch Festival hoa Đà Lạt lần thứ VII năm 2017 sẽ diễn ra trong 5 ngày từ 23-27/12 với chủ đề "Hoa Đà Lạt - Kết tinh kỳ diệu từ đất lành". Rực rỡ Festival hoa Đà Lạt Nhắc tới Đà Lạt, mọi người thường nhớ ngay tới hình ảnh "thành phố ngàn hoa". Đến với Đà Lạt, du khách sẽ được chìm đắm vào không gian thơ mộng và chiêm ngưỡng muôn hoa khoe sắc. Hoa Đà Lạt có ở khắp mọi nơi, từ những đường phố xinh đẹp đến những cánh đồng bát ngát hương thơm, hay ngay chính trong khách sạn và những quán cafe bên lề đường. Hoa tô điểm cho thành phố Đà Lạt thêm phần thơ mộng và lãng mạn. Festival hoa Đà Lạt nhằm tôn vinh các loài hoa và cây cảnh Festival hoa là sự kiện tôn vinh các loài hoa và cây cảnh, thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế đến với Đà Lạt. Festival hoa Đà Lạt được tổ chức định kỳ 2 năm một lần. Festival hoa Đà Lạt 2017 có 15 chương trình chính và 14 chương trình hưởng ứng như: Đêm hội rượu vang Đà Lạt; không gian hoa; trưng bày triển lãm hoa, cây cảnh quốc tế, đêm hội tơ - trà, không gian thư pháp, tranh chạm bút lửa và nhiếp ảnh về hoa... Đặc biệt, trong khuôn khổ Festival hoa Đà Lạt lần thứ VII còn có 2 nội dung bán vé là Tuần lễ thời trang áo dài - lụa và chương trình nghệ thuật thời trang "Duyên dáng Việt Nam". Lễ khai mạc Festival hoa Đà Lạt diễn ra vào 20h ngày 23/12 tại quảng trường Lâm Viên. Festival hoa Đà Lạt 2017 diễn ra trong năm ngày Festival hoa Đà Lạt lần thứ VII năm 2017 được xem là sự kiện văn hóa, xã hội, du lịch xúc tiến đầu tư thương mại tỉnh Lâm Đồng. Du khách tham gia Festival hoa Đà Lạt được hòa mình vào không gian rực rỡ sắc hoa, chiêm ngưỡng đủ loại hoa khoe sắc hương quanh hồ Xuân Hương, quảng trường và các làng hoa...

Rực rỡ Festival hoa Đà Lạt Nhắc tới Đà Lạt, mọi người thường nhớ ngay tới hình ảnh "thành phố ngàn hoa". Đến với Đà Lạt, du khách sẽ được chìm đắm vào không gian thơ mộng và chiêm ngưỡng muôn hoa khoe sắc. Hoa Đà Lạt có ở khắp mọi nơi, từ những đường phố xinh đẹp đến những cánh đồng bát ngát hương thơm, hay ngay chính trong khách sạn và những quán cafe bên lề đường. Hoa tô điểm cho thành phố Đà Lạt thêm phần thơ mộng và lãng mạn. Festival hoa Đà Lạt nhằm tôn vinh các loài hoa và cây cảnh Festival hoa là sự kiện tôn vinh các loài hoa và cây cảnh, thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế đến với Đà Lạt. Festival hoa Đà Lạt được tổ chức định kỳ 2 năm một lần. Festival hoa Đà Lạt 2017 có 15 chương trình chính và 14 chương trình hưởng ứng như: Đêm hội rượu vang Đà Lạt; không gian hoa; trưng bày triển lãm hoa, cây cảnh quốc tế, đêm hội tơ - trà, không gian thư pháp, tranh chạm bút lửa và nhiếp ảnh về hoa... Đặc biệt, trong khuôn khổ Festival hoa Đà Lạt lần thứ VII còn có 2 nội dung bán vé là Tuần lễ thời trang áo dài - lụa và chương trình nghệ thuật thời trang "Duyên dáng Việt Nam". Lễ khai mạc Festival hoa Đà Lạt diễn ra vào 20h ngày 23/12 tại quảng trường Lâm Viên. Festival hoa Đà Lạt 2017 diễn ra trong năm ngày Festival hoa Đà Lạt lần thứ VII năm 2017 được xem là sự kiện văn hóa, xã hội, du lịch xúc tiến đầu tư thương mại tỉnh Lâm Đồng. Du khách tham gia Festival hoa Đà Lạt được hòa mình vào không gian rực rỡ sắc hoa, chiêm ngưỡng đủ loại hoa khoe sắc hương quanh hồ Xuân Hương, quảng trường và các làng hoa...

Nhắc tới Đà Lạt, mọi người thường nhớ ngay tới hình ảnh "thành phố ngàn hoa". Đến với Đà Lạt, du khách sẽ được chìm đắm vào không gian thơ mộng và chiêm ngưỡng muôn hoa khoe sắc. Hoa Đà Lạt có ở khắp mọi nơi, từ những đường phố xinh đẹp đến những cánh đồng bát ngát hương thơm, hay ngay chính trong khách sạn và những quán cafe bên lề đường. Hoa tô điểm cho thành phố Đà Lạt thêm phần thơ mộng và lãng mạn.

Festival hoa Đà Lạt nhằm tôn vinh các loài hoa và cây cảnh

Festival hoa là sự kiện tôn vinh các loài hoa và cây cảnh, thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế đến với Đà Lạt. Festival hoa Đà Lạt được tổ chức định kỳ 2 năm một lần.

Festival hoa Đà Lạt 2017 có 15 chương trình chính và 14 chương trình hưởng ứng như: Đêm hội rượu vang Đà Lạt; không gian hoa; trưng bày triển lãm hoa, cây cảnh quốc tế, đêm hội tơ - trà, không gian thư pháp, tranh chạm bút lửa và nhiếp ảnh về hoa... Đặc biệt, trong khuôn khổ Festival hoa Đà Lạt lần thứ VII còn có 2 nội dung bán vé là Tuần lễ thời trang áo dài - lụa và chương trình nghệ thuật thời trang "Duyên dáng Việt Nam". Lễ khai mạc Festival hoa Đà Lạt diễn ra vào 20h ngày 23/12 tại quảng trường Lâm Viên.

Festival hoa Đà Lạt 2017 diễn ra trong năm ngày

Festival hoa Đà Lạt lần thứ VII năm 2017 được xem là sự kiện văn hóa, xã hội, du lịch xúc tiến đầu tư thương mại tỉnh Lâm Đồng. Du khách tham gia Festival hoa Đà Lạt được hòa mình vào không gian rực rỡ sắc hoa, chiêm ngưỡng đủ loại hoa khoe sắc hương quanh hồ Xuân Hương, quảng trường và các làng hoa...

Related Figures

Lễ hội Unrealland - Happy New Year 2018 - Vung Tau beach

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 30/12- 1/1 Dương lịch Lễ hội Unrealland - Happy New Year 2018 - Vung Tau beach (UHV 2018) là sự kiện giải trí bãi biển kết hợp giữa âm nhạc, ẩm thực và du lịch được tổ chức ngày 30-31/12/2017 và 1/1/2018 tại Khu du lịch Biển Đông - số 8 đường Thùy Vân, TP Vũng Tàu. Unrealland - Happy New Year 2018 - Vung Tau beach lễ hội dành cho giới trẻ UHV 2018 hứa hẹn mang lại lễ hội giải trí tầm cỡ tại Việt Nam theo mô hình đại nhạc hội kết hợp đang thịnh hành trên thế giới. UHV 2018 hướng tới mục tiêu giới thiệu văn hóa và con người Việt Nam cho các bạn trẻ trong nước và cộng đồng quốc tế. UHV 2018 được xây dựng dựa trên hai yếu tố: Âm nhạc điện tử EDM sôi động và chương trình giải trí - ẩm thực bãi biển đặc sắc thể hiện tinh hoa văn hóa Việt Nam và thế giới. Trong khuôn khổ chương trình có các tour tham quan, khám phá những địa danh nổi tiếng, tìm hiểu văn hóa, đời sống của người dân vùng biển Vũng Tàu. Sự kiện UHV 2018 còn có nhiều trò chơi dân gian hấp dẫn. Nam Phong và Lương Thái Trân là đại diện hình ảnh cho lễ hội UHV 2018 Lễ hội Unrealland - Happy New Year 2018 - Vung Tau beach mang đến những trải nghiệm thú vị cho du khách trong dịp cuối năm ở 4 khu vực chính: Khu vực Sân khấu chính, Khu vực cắm trại bãi biển, Khu lễ hội ẩm thực và Khu trò chơi. Du khách tham gia lễ hội còn được trải nghiệm khoảnh khắc đón giao thừa ấn tượng diễn ra đêm 31/12/2017 với nhiều hoạt động đặc sắc: tiệc countdown, biểu diễn âm nhạc, bắn pháo hoa trên biển. Unrealland - Happy New Year - Vung Tau beach mang lại hình ảnh trẻ trung Lễ hội Unrealland - Happy New Year 2018 - Vung Tau beach dự kiến thu hút nhiều khách du lịch đến với thành phố biển Vũng Tàu.

Unrealland - Happy New Year 2018 - Vung Tau beach lễ hội dành cho giới trẻ UHV 2018 hứa hẹn mang lại lễ hội giải trí tầm cỡ tại Việt Nam theo mô hình đại nhạc hội kết hợp đang thịnh hành trên thế giới. UHV 2018 hướng tới mục tiêu giới thiệu văn hóa và con người Việt Nam cho các bạn trẻ trong nước và cộng đồng quốc tế. UHV 2018 được xây dựng dựa trên hai yếu tố: Âm nhạc điện tử EDM sôi động và chương trình giải trí - ẩm thực bãi biển đặc sắc thể hiện tinh hoa văn hóa Việt Nam và thế giới. Trong khuôn khổ chương trình có các tour tham quan, khám phá những địa danh nổi tiếng, tìm hiểu văn hóa, đời sống của người dân vùng biển Vũng Tàu. Sự kiện UHV 2018 còn có nhiều trò chơi dân gian hấp dẫn. Nam Phong và Lương Thái Trân là đại diện hình ảnh cho lễ hội UHV 2018 Lễ hội Unrealland - Happy New Year 2018 - Vung Tau beach mang đến những trải nghiệm thú vị cho du khách trong dịp cuối năm ở 4 khu vực chính: Khu vực Sân khấu chính, Khu vực cắm trại bãi biển, Khu lễ hội ẩm thực và Khu trò chơi. Du khách tham gia lễ hội còn được trải nghiệm khoảnh khắc đón giao thừa ấn tượng diễn ra đêm 31/12/2017 với nhiều hoạt động đặc sắc: tiệc countdown, biểu diễn âm nhạc, bắn pháo hoa trên biển. Unrealland - Happy New Year - Vung Tau beach mang lại hình ảnh trẻ trung Lễ hội Unrealland - Happy New Year 2018 - Vung Tau beach dự kiến thu hút nhiều khách du lịch đến với thành phố biển Vũng Tàu.

UHV 2018 hứa hẹn mang lại lễ hội giải trí tầm cỡ tại Việt Nam theo mô hình đại nhạc hội kết hợp đang thịnh hành trên thế giới. UHV 2018 hướng tới mục tiêu giới thiệu văn hóa và con người Việt Nam cho các bạn trẻ trong nước và cộng đồng quốc tế. UHV 2018 được xây dựng dựa trên hai yếu tố: Âm nhạc điện tử EDM sôi động và chương trình giải trí - ẩm thực bãi biển đặc sắc thể hiện tinh hoa văn hóa Việt Nam và thế giới. Trong khuôn khổ chương trình có các tour tham quan, khám phá những địa danh nổi tiếng, tìm hiểu văn hóa, đời sống của người dân vùng biển Vũng Tàu. Sự kiện UHV 2018 còn có nhiều trò chơi dân gian hấp dẫn.

Nam Phong và Lương Thái Trân là đại diện hình ảnh cho lễ hội UHV 2018

Lễ hội Unrealland - Happy New Year 2018 - Vung Tau beach mang đến những trải nghiệm thú vị cho du khách trong dịp cuối năm ở 4 khu vực chính: Khu vực Sân khấu chính, Khu vực cắm trại bãi biển, Khu lễ hội ẩm thực và Khu trò chơi. Du khách tham gia lễ hội còn được trải nghiệm khoảnh khắc đón giao thừa ấn tượng diễn ra đêm 31/12/2017 với nhiều hoạt động đặc sắc: tiệc countdown, biểu diễn âm nhạc, bắn pháo hoa trên biển.

Unrealland - Happy New Year - Vung Tau beach mang lại hình ảnh trẻ trung

Lễ hội Unrealland - Happy New Year 2018 - Vung Tau beach dự kiến thu hút nhiều khách du lịch đến với thành phố biển Vũng Tàu.

Related Figures

Lễ hội Sinh Mình Cao Bằng

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 6/1 Âm lịch Lễ hội Sinh Mình Cao Bằng diễn ra vào ngày mồng 6 tháng Ba âm lịch hàng năm, tại xã Phúc Sen, huyện Quảng Uyên. Lễ hội này mang ý nghĩa nhớ tới ông bà, tổ tiên, cầu cho mùa màng tươi tốt, bản làng được bình yên, gia đình đoàn kết, hạnh phúc. Lễ hội Sinh Mình được bắt chuyện từ một câu chuyện xưa, chuyện kể rằng có một đôi trai gái của dân tộc Nùng tên là Sinh và Mình yêu nhau say đắm. Nhưng vì những hủ tục lạc hậu từ xưa mà tình yêu của họ vị ngăn cấm. Tuyệt vọng vì không thể đến được với người mình yêu, cả hai đã tìm đến cái chết để có thể mãi được ở bên nhau. Một câu chuyện buồn về mối tình chung thủy, son sắt của cặp đôi Sinh, Mình đã khiến dân làng thương cảm. Kể từ đó, cứ đến tiết Thanh minh, khi người dân Cao Bằng làm tảo mộ xong đều dâng hoa, lễ vật để cúng tế đôi trai gái này nhằm bày tỏ sự cảm thông và an ủi linh hồn của họ. Câu chuyện về chàng trai và cô gái người Nùng này và lễ Sinh Mình nhằm nhắc nhở các bậc làm cha làm mẹ, không nên áp đặt những hủ tục không còn phù hợp lên những đứa con của mình. Giếng nước mà đôi trai gái chọn làm nơi quyên sinh năm xưa nay đã trở thành địa điểm tổ chức lễ hội Thanh minh. Nhiều hoạt động vui chơi được tổ chức như: hát đối đáp, hát lượn, và các trò chơi dân gian mạng đậm nét truyền thống như trò tùng còn... Trong ngày hội, từng tốp trai thanh gái tú trong trang phục truyền tống sẽ đứng cạnh nhau để cất lên bài hát để thêm hiểu và yêu bản làng của mình hơn. Đây cũng là cơ hội để mọi người giao lưu, gặp, gỡ và kết bạn.

Lễ hội Sinh Mình được bắt chuyện từ một câu chuyện xưa, chuyện kể rằng có một đôi trai gái của dân tộc Nùng tên là Sinh và Mình yêu nhau say đắm. Nhưng vì những hủ tục lạc hậu từ xưa mà tình yêu của họ vị ngăn cấm. Tuyệt vọng vì không thể đến được với người mình yêu, cả hai đã tìm đến cái chết để có thể mãi được ở bên nhau. Một câu chuyện buồn về mối tình chung thủy, son sắt của cặp đôi Sinh, Mình đã khiến dân làng thương cảm. Kể từ đó, cứ đến tiết Thanh minh, khi người dân Cao Bằng làm tảo mộ xong đều dâng hoa, lễ vật để cúng tế đôi trai gái này nhằm bày tỏ sự cảm thông và an ủi linh hồn của họ. Câu chuyện về chàng trai và cô gái người Nùng này và lễ Sinh Mình nhằm nhắc nhở các bậc làm cha làm mẹ, không nên áp đặt những hủ tục không còn phù hợp lên những đứa con của mình. Giếng nước mà đôi trai gái chọn làm nơi quyên sinh năm xưa nay đã trở thành địa điểm tổ chức lễ hội Thanh minh. Nhiều hoạt động vui chơi được tổ chức như: hát đối đáp, hát lượn, và các trò chơi dân gian mạng đậm nét truyền thống như trò tùng còn... Trong ngày hội, từng tốp trai thanh gái tú trong trang phục truyền tống sẽ đứng cạnh nhau để cất lên bài hát để thêm hiểu và yêu bản làng của mình hơn. Đây cũng là cơ hội để mọi người giao lưu, gặp, gỡ và kết bạn.

Lễ hội Sinh Mình được bắt chuyện từ một câu chuyện xưa, chuyện kể rằng có một đôi trai gái của dân tộc Nùng tên là Sinh và Mình yêu nhau say đắm. Nhưng vì những hủ tục lạc hậu từ xưa mà tình yêu của họ vị ngăn cấm. Tuyệt vọng vì không thể đến được với người mình yêu, cả hai đã tìm đến cái chết để có thể mãi được ở bên nhau. Một câu chuyện buồn về mối tình chung thủy, son sắt của cặp đôi Sinh, Mình đã khiến dân làng thương cảm. Kể từ đó, cứ đến tiết Thanh minh, khi người dân Cao Bằng làm tảo mộ xong đều dâng hoa, lễ vật để cúng tế đôi trai gái này nhằm bày tỏ sự cảm thông và an ủi linh hồn của họ.

Câu chuyện về chàng trai và cô gái người Nùng này và lễ Sinh Mình nhằm nhắc nhở các bậc làm cha làm mẹ, không nên áp đặt những hủ tục không còn phù hợp lên những đứa con của mình. Giếng nước mà đôi trai gái chọn làm nơi quyên sinh năm xưa nay đã trở thành địa điểm tổ chức lễ hội Thanh minh. Nhiều hoạt động vui chơi được tổ chức như: hát đối đáp, hát lượn, và các trò chơi dân gian mạng đậm nét truyền thống như trò tùng còn... Trong ngày hội, từng tốp trai thanh gái tú trong trang phục truyền tống sẽ đứng cạnh nhau để cất lên bài hát để thêm hiểu và yêu bản làng của mình hơn. Đây cũng là cơ hội để mọi người giao lưu, gặp, gỡ và kết bạn.

Related Figures

Lễ hội đua thuyền Quỳnh Nhai

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/1 Âm lịch Lễ hội đua thuyền Quỳnh Nhai ở Sơn La là một hình thức sinh hoạt văn hóa cộng động độc đáo và mang ý nghĩa quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc. Lễ hội này còn có ý nghĩa trong việc giáo dục thế hệ con cháu đời đời nhớ lấy đạo lý uống nước nhớ nguồn, cùng nhau đoàn kết tương ái, vượt qua khó khăn. Mặc dù chỉ diễn ra chỉ trong một ngày nhưng lễ hội này đã để lại dư âm tốt trong trái tim và suy nghĩ của những ai tham dự, để cùng nhau hẹn đến mùa xuân năm sau cùng đến xem hội. Lễ hội đua thuyền Quỳnh Nhai ở Sơn La Quỳnh Nhai là một huyện của tỉnh Sơn La. Người dân ở đây chủ yếu là dân tộc Thái, sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa, đánh bắt cá và trồng lâm sản. Từ bao đời nay họ đã gắn bó với sông nước, với những chiếc thuyền. Chèo thuyền nhu cầu không thể thiếu trong sinh hoạt cũng như trong lao động của người dân nơi đây. Rất đông người dân đến xem Lễ hội đua thuyền Quỳnh Nhai Cũng chí vì thế, cứ đến ngày mồng 10 tháng Giêng âm lịch hàng năm, người dân huyện Quỳnh Nhai lại tưng bừng tổ chức lễ hội đua thuyền nhằm duy trì nét đẹp và bản sắc văn hóa của dân tộc mình, tạo bầu không khí vui tươi, thi đua sôi nổi, giúp con người gắn kết lại với nhau hơn. Đến Quỳnh Nhai tận hưởng không khí tưng bừng của ngày hội Lễ hội đua thuyền Năm 2015, lễ hội đua thuyền có 16 đội tham gia, với hơn 200 vận động viên đến từ các xã trong huyện Quỳnh Nhai. Ngoài giải đua thuyền, lễ hội còn tổ chức nhiều hoạt động khác như kéo co, bắm còn, bắn nỏ, chọi gà...

Lễ hội đua thuyền Quỳnh Nhai ở Sơn La Quỳnh Nhai là một huyện của tỉnh Sơn La. Người dân ở đây chủ yếu là dân tộc Thái, sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa, đánh bắt cá và trồng lâm sản. Từ bao đời nay họ đã gắn bó với sông nước, với những chiếc thuyền. Chèo thuyền nhu cầu không thể thiếu trong sinh hoạt cũng như trong lao động của người dân nơi đây. Rất đông người dân đến xem Lễ hội đua thuyền Quỳnh Nhai Cũng chí vì thế, cứ đến ngày mồng 10 tháng Giêng âm lịch hàng năm, người dân huyện Quỳnh Nhai lại tưng bừng tổ chức lễ hội đua thuyền nhằm duy trì nét đẹp và bản sắc văn hóa của dân tộc mình, tạo bầu không khí vui tươi, thi đua sôi nổi, giúp con người gắn kết lại với nhau hơn. Đến Quỳnh Nhai tận hưởng không khí tưng bừng của ngày hội Lễ hội đua thuyền Năm 2015, lễ hội đua thuyền có 16 đội tham gia, với hơn 200 vận động viên đến từ các xã trong huyện Quỳnh Nhai. Ngoài giải đua thuyền, lễ hội còn tổ chức nhiều hoạt động khác như kéo co, bắm còn, bắn nỏ, chọi gà...

Quỳnh Nhai là một huyện của tỉnh Sơn La. Người dân ở đây chủ yếu là dân tộc Thái, sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa, đánh bắt cá và trồng lâm sản. Từ bao đời nay họ đã gắn bó với sông nước, với những chiếc thuyền. Chèo thuyền nhu cầu không thể thiếu trong sinh hoạt cũng như trong lao động của người dân nơi đây.

Rất đông người dân đến xem Lễ hội đua thuyền Quỳnh Nhai

Cũng chí vì thế, cứ đến ngày mồng 10 tháng Giêng âm lịch hàng năm, người dân huyện Quỳnh Nhai lại tưng bừng tổ chức lễ hội đua thuyền nhằm duy trì nét đẹp và bản sắc văn hóa của dân tộc mình, tạo bầu không khí vui tươi, thi đua sôi nổi, giúp con người gắn kết lại với nhau hơn.

Đến Quỳnh Nhai tận hưởng không khí tưng bừng của ngày hội Lễ hội đua thuyền Năm 2015, lễ hội đua thuyền có 16 đội tham gia, với hơn 200 vận động viên đến từ các xã trong huyện Quỳnh Nhai. Ngoài giải đua thuyền, lễ hội còn tổ chức nhiều hoạt động khác như kéo co, bắm còn, bắn nỏ, chọi gà...

Năm 2015, lễ hội đua thuyền có 16 đội tham gia, với hơn 200 vận động viên đến từ các xã trong huyện Quỳnh Nhai. Ngoài giải đua thuyền, lễ hội còn tổ chức nhiều hoạt động khác như kéo co, bắm còn, bắn nỏ, chọi gà...

Related Figures

Lễ hội đèn lồng lớn nhất Việt Nam Allunee – Kết nối cộng đồng

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 8/12- 21/1 Dương lịch Sự kiện Allunee – Kết nối cộng đồng được xem là lễ hội đèn lồng lớn nhất Việt Nam 2017, diễn ra trong 45 ngày từ ngày 8/12/2017 đến ngày 21/1/2018 tại khu đô thị Vạn Phúc, phường Hiệp Bình Phước, quận Thủ Đức, TP HCM. Họp báo công bố lễ hội đèn lồng lớn nhất Việt Nam Allunee Sự kiện giải trí hoành tráng Allunee tổ chức đúng dịp kỷ niệm 25 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hàn Quốc. Allunee là sự kiện giải trí, nghệ thuật, giao lưu văn hóa và xúc tiến thương mại. Lễ hội đèn lồng lớn nhất Việt Nam Allunee thu hút sự quan tâm của báo giới Trong khuôn khổ sự kiện có 3 loại hình chính: lễ hội, biểu diễn và thương mại. Du khách tham gia lễ hội (mở cửa vào các buổi tối 16-22 giờ) có cơ hội chiêm ngưỡng 45 chiếc đèn lồng khổng lồ cùng hàng trăm đèn lồng các loại. Đèn lồng từ lâu được biết đến là biểu tượng mang lại sự may mắn, tạo không gian ấm áp. Mỗi chiếc đèn lồng là hình ảnh mô phỏng các công trình kiến trúc của Việt Nam và thế giới như: Tháp Eiffel, Văn Miếu Môn, Cổng thành Kwang Hae Mun...Tiếp theo, du khách có thể tham quan những gian hàng kinh doanh với nhiều sản phẩm đa dạng, các món ăn đặc trưng của nền văn hóa Việt - Hàn. Hầu hết các mặt hàng tham gia sự kiện đều là hàng Việt Nam chất lượng cao và một số mặt hàng chất lượng đến từ doanh nghiệp Hàn Quốc. Cuối cùng là các chương trình biểu diễn nghệ thuật hàng đêm với 300 tiết mục biểu diễn của 200 ca sĩ, diễn viên hàng đầu Việt Nam và Hàn Quốc. Sự kiện Allunee – Kết nối cộng đồng cũng có sự xuất hiện của Hoa hậu biển Việt Nam 2016 Bùi Thị Hà. Cô là gương mặt đại diện, vẻ thân thiện của Bùi Thị Hà là cầu nối vững chắc giúp cộng đồng gắn kết. Hoa hậu biển Bùi Thị Hà là gương mặt đại diện của sự kiện Allunee Lễ hội được tổ chức trong không gian thoáng đãng, rộng lớn lên tới 5ha, hứa hẹn thu hút gần 1 triệu khách thăm quan và mua sắm. Allunee – Kết nối cộng đồng là sự kiện giải trí lớn giúp người dân TP HCM và các tỉnh lân cận có sân chơi bổ ích nhân dịp đầu năm mới.

Họp báo công bố lễ hội đèn lồng lớn nhất Việt Nam Allunee Sự kiện giải trí hoành tráng Allunee tổ chức đúng dịp kỷ niệm 25 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hàn Quốc. Allunee là sự kiện giải trí, nghệ thuật, giao lưu văn hóa và xúc tiến thương mại. Lễ hội đèn lồng lớn nhất Việt Nam Allunee thu hút sự quan tâm của báo giới Trong khuôn khổ sự kiện có 3 loại hình chính: lễ hội, biểu diễn và thương mại. Du khách tham gia lễ hội (mở cửa vào các buổi tối 16-22 giờ) có cơ hội chiêm ngưỡng 45 chiếc đèn lồng khổng lồ cùng hàng trăm đèn lồng các loại. Đèn lồng từ lâu được biết đến là biểu tượng mang lại sự may mắn, tạo không gian ấm áp. Mỗi chiếc đèn lồng là hình ảnh mô phỏng các công trình kiến trúc của Việt Nam và thế giới như: Tháp Eiffel, Văn Miếu Môn, Cổng thành Kwang Hae Mun...Tiếp theo, du khách có thể tham quan những gian hàng kinh doanh với nhiều sản phẩm đa dạng, các món ăn đặc trưng của nền văn hóa Việt - Hàn. Hầu hết các mặt hàng tham gia sự kiện đều là hàng Việt Nam chất lượng cao và một số mặt hàng chất lượng đến từ doanh nghiệp Hàn Quốc. Cuối cùng là các chương trình biểu diễn nghệ thuật hàng đêm với 300 tiết mục biểu diễn của 200 ca sĩ, diễn viên hàng đầu Việt Nam và Hàn Quốc. Sự kiện Allunee – Kết nối cộng đồng cũng có sự xuất hiện của Hoa hậu biển Việt Nam 2016 Bùi Thị Hà. Cô là gương mặt đại diện, vẻ thân thiện của Bùi Thị Hà là cầu nối vững chắc giúp cộng đồng gắn kết. Hoa hậu biển Bùi Thị Hà là gương mặt đại diện của sự kiện Allunee Lễ hội được tổ chức trong không gian thoáng đãng, rộng lớn lên tới 5ha, hứa hẹn thu hút gần 1 triệu khách thăm quan và mua sắm. Allunee – Kết nối cộng đồng là sự kiện giải trí lớn giúp người dân TP HCM và các tỉnh lân cận có sân chơi bổ ích nhân dịp đầu năm mới.

Sự kiện giải trí hoành tráng Allunee tổ chức đúng dịp kỷ niệm 25 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hàn Quốc. Allunee là sự kiện giải trí, nghệ thuật, giao lưu văn hóa và xúc tiến thương mại.

Lễ hội đèn lồng lớn nhất Việt Nam Allunee thu hút sự quan tâm của báo giới

Trong khuôn khổ sự kiện có 3 loại hình chính: lễ hội, biểu diễn và thương mại. Du khách tham gia lễ hội (mở cửa vào các buổi tối 16-22 giờ) có cơ hội chiêm ngưỡng 45 chiếc đèn lồng khổng lồ cùng hàng trăm đèn lồng các loại. Đèn lồng từ lâu được biết đến là biểu tượng mang lại sự may mắn, tạo không gian ấm áp. Mỗi chiếc đèn lồng là hình ảnh mô phỏng các công trình kiến trúc của Việt Nam và thế giới như: Tháp Eiffel, Văn Miếu Môn, Cổng thành Kwang Hae Mun...Tiếp theo, du khách có thể tham quan những gian hàng kinh doanh với nhiều sản phẩm đa dạng, các món ăn đặc trưng của nền văn hóa Việt - Hàn. Hầu hết các mặt hàng tham gia sự kiện đều là hàng Việt Nam chất lượng cao và một số mặt hàng chất lượng đến từ doanh nghiệp Hàn Quốc. Cuối cùng là các chương trình biểu diễn nghệ thuật hàng đêm với 300 tiết mục biểu diễn của 200 ca sĩ, diễn viên hàng đầu Việt Nam và Hàn Quốc. Sự kiện Allunee – Kết nối cộng đồng cũng có sự xuất hiện của Hoa hậu biển Việt Nam 2016 Bùi Thị Hà. Cô là gương mặt đại diện, vẻ thân thiện của Bùi Thị Hà là cầu nối vững chắc giúp cộng đồng gắn kết.

Hoa hậu biển Bùi Thị Hà là gương mặt đại diện của sự kiện Allunee

Lễ hội được tổ chức trong không gian thoáng đãng, rộng lớn lên tới 5ha, hứa hẹn thu hút gần 1 triệu khách thăm quan và mua sắm.

Allunee – Kết nối cộng đồng là sự kiện giải trí lớn giúp người dân TP HCM và các tỉnh lân cận có sân chơi bổ ích nhân dịp đầu năm mới.

Related Figures

Lễ hội Xên Mường dân tộc Thái đen

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 31/12 Âm lịch Lễ hội Xên Mường dân tộc Thái đen thường được tổ chức vào dịp năm hết, tết đến, với quan niệm là cầu cho vạn vật bảo vệ con người, mùa màng được tươi tốt, bản mường được đoàn kết, cùng nhau xây dựng cuộc sống âm no hạnh phúc. Lễ hội này thường được tổ chức 2 năm 1 lần. Lễ hội Xên Mường được tổ chức tại xã Chiềng Cơi, thuộc thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Lễ hội này thu hút được một lượng lớn đồng bào trong vùng và người dân các vùng lân cận tham gia. Lễ hội Xên Mường dân tộc Thái đen Lễ hội Xên Mường còn có tên khác là cúng mường, được phục dựng nhắm lưu giữ và giới thiệu nét đẹp lễ hội truyền thống của dân tộc Thái Đen ở Mường La sau 80 năm bị lãng quên. Nơi diễn ra lễ hội Xen Mường là một cánh rừng già được gọi là "Đông Xên". Lễ vật gồm có thịt trâu, lợn, gà, thóc gạo, hoa quả, sản vật... Phần lễ của lễ hội Xên Mường gồm có ông mo, bà "một tức là người khấn vái chính, gọi mời các vị thân sông, múi, thổ địa, cai quản ruộng nương về dự lễ hội và ăn lễ vật do bản mường dâng lên. Các cô gái trong bản đang nhảy sạp Phần hội diễn ra ngay sau khi phần lễ kết thúc, gồm nhiều trò chơi dân gian như" Ném còn, bắn nỏ, kéo co, tó má lẹ, múa xòe bên đống lửa, đánh chân đánh đầu, tổ chuawcs dân ca dân vũ, chúc tụng nhau... Lễ hội Xên Mường của người Thái vùng Tây Bắc được phục dựng nhằm đáp ứng nhu cầu thưởng thức văn hóa tinh thần của người dân. Ngoài ra, còn góp phần bổ sung vào kho tàng di sản văn hóa dân tộc, phát triển nền văn Hóa của Việt Nam ngày càng đậm đà bản sắc dân tộc. Phần hội diễn ra rất náo nhiệt

Lễ hội Xên Mường dân tộc Thái đen Lễ hội Xên Mường còn có tên khác là cúng mường, được phục dựng nhắm lưu giữ và giới thiệu nét đẹp lễ hội truyền thống của dân tộc Thái Đen ở Mường La sau 80 năm bị lãng quên. Nơi diễn ra lễ hội Xen Mường là một cánh rừng già được gọi là "Đông Xên". Lễ vật gồm có thịt trâu, lợn, gà, thóc gạo, hoa quả, sản vật... Phần lễ của lễ hội Xên Mường gồm có ông mo, bà "một tức là người khấn vái chính, gọi mời các vị thân sông, múi, thổ địa, cai quản ruộng nương về dự lễ hội và ăn lễ vật do bản mường dâng lên. Các cô gái trong bản đang nhảy sạp Phần hội diễn ra ngay sau khi phần lễ kết thúc, gồm nhiều trò chơi dân gian như" Ném còn, bắn nỏ, kéo co, tó má lẹ, múa xòe bên đống lửa, đánh chân đánh đầu, tổ chuawcs dân ca dân vũ, chúc tụng nhau... Lễ hội Xên Mường của người Thái vùng Tây Bắc được phục dựng nhằm đáp ứng nhu cầu thưởng thức văn hóa tinh thần của người dân. Ngoài ra, còn góp phần bổ sung vào kho tàng di sản văn hóa dân tộc, phát triển nền văn Hóa của Việt Nam ngày càng đậm đà bản sắc dân tộc. Phần hội diễn ra rất náo nhiệt

Lễ hội Xên Mường dân tộc Thái đen Lễ hội Xên Mường còn có tên khác là cúng mường, được phục dựng nhắm lưu giữ và giới thiệu nét đẹp lễ hội truyền thống của dân tộc Thái Đen ở Mường La sau 80 năm bị lãng quên. Nơi diễn ra lễ hội Xen Mường là một cánh rừng già được gọi là "Đông Xên". Lễ vật gồm có thịt trâu, lợn, gà, thóc gạo, hoa quả, sản vật... Phần lễ của lễ hội Xên Mường gồm có ông mo, bà "một tức là người khấn vái chính, gọi mời các vị thân sông, múi, thổ địa, cai quản ruộng nương về dự lễ hội và ăn lễ vật do bản mường dâng lên. Các cô gái trong bản đang nhảy sạp Phần hội diễn ra ngay sau khi phần lễ kết thúc, gồm nhiều trò chơi dân gian như" Ném còn, bắn nỏ, kéo co, tó má lẹ, múa xòe bên đống lửa, đánh chân đánh đầu, tổ chuawcs dân ca dân vũ, chúc tụng nhau... Lễ hội Xên Mường của người Thái vùng Tây Bắc được phục dựng nhằm đáp ứng nhu cầu thưởng thức văn hóa tinh thần của người dân. Ngoài ra, còn góp phần bổ sung vào kho tàng di sản văn hóa dân tộc, phát triển nền văn Hóa của Việt Nam ngày càng đậm đà bản sắc dân tộc.

Lễ hội Xên Mường còn có tên khác là cúng mường, được phục dựng nhắm lưu giữ và giới thiệu nét đẹp lễ hội truyền thống của dân tộc Thái Đen ở Mường La sau 80 năm bị lãng quên. Nơi diễn ra lễ hội Xen Mường là một cánh rừng già được gọi là "Đông Xên". Lễ vật gồm có thịt trâu, lợn, gà, thóc gạo, hoa quả, sản vật...

Phần lễ của lễ hội Xên Mường gồm có ông mo, bà "một tức là người khấn vái chính, gọi mời các vị thân sông, múi, thổ địa, cai quản ruộng nương về dự lễ hội và ăn lễ vật do bản mường dâng lên.

Các cô gái trong bản đang nhảy sạp

Phần hội diễn ra ngay sau khi phần lễ kết thúc, gồm nhiều trò chơi dân gian như" Ném còn, bắn nỏ, kéo co, tó má lẹ, múa xòe bên đống lửa, đánh chân đánh đầu, tổ chuawcs dân ca dân vũ, chúc tụng nhau...

Lễ hội Xên Mường của người Thái vùng Tây Bắc được phục dựng nhằm đáp ứng nhu cầu thưởng thức văn hóa tinh thần của người dân. Ngoài ra, còn góp phần bổ sung vào kho tàng di sản văn hóa dân tộc, phát triển nền văn Hóa của Việt Nam ngày càng đậm đà bản sắc dân tộc.

Lễ hội Xên Mường của người Thái vùng Tây Bắc được phục dựng nhằm đáp ứng nhu cầu thưởng thức văn hóa tinh thần của người dân. Ngoài ra, còn góp phần bổ sung vào kho tàng di sản văn hóa dân tộc, phát triển nền văn Hóa của Việt Nam ngày càng đậm đà bản sắc dân tộc.

Phần hội diễn ra rất náo nhiệt

Related Figures

Lễ hội Khu Cù Tê – Tết tháng bảy của người La Chí

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/7- 15/7 Âm lịch Lễ hội Khu Cù Tê còn được gọi là tết uống rượu tháng Bảy của người La Chí. Đây là một ngày tết có ý nghĩa quan trọng đối với người dân La Chí, có ý nghĩa lớn trong đời sống sinh hoạt văn hóa cũng như tín ngưỡng cử họ. Đây còn là dịp người cầu cho mưa thuận gió hòa, bản làng được bình yên và mùa màng được tươi tốt. Lễ hội Khu Cù Tê của người dân La Chí Người La Chí sinh sống chủ yếu tại các huyện Hoàng Su Phì, Xí Mần thuộc tỉnh Hà Giang, hay huyện Mương Khương và Bắc Hà tỉnh Lào Cai. Trong một cuộc điều tra dân số thực hiện năm 2009, người La Chí tại Việt Nam có 13.158 người, xư trú tại 38 tỉnh, thành phố trong nước, chủ yếu tập trung tại Hà Giang. Người La Chí thường ăn tết trong nửa tháng, kể từ ngày 01/7 đến 15/7 mới kết thúc. Ngày mồng 2 là ngày các dòng họ trong làng quây quần lại cùng mổ trâu để ăn tết. phong tục truyền thống này đã có từ rất lâu đời, bởi vì ngày tết của người La Chí không thể thiếu thịt trâu. Trước đây, trâu được mổ trong ngày tết tháng Bảy thường là trâu của làng, người dân trong làng sẽ góp tiền lại để mua rồi cử một vài gia đình trong làng nuôi để đến ngày tết thì mổ thịt. Rượu "hoằng" là loại rượu đặc trưng trong ngày tết tháng Bảy của người La Chí Vào ngày mổ trâu, các dòng họ đều quây quần về nhà tộc trưởng của dòng họ để tổ chức lễ tết. Sau khi con cháu trong gia đình đã tập trung đông đủ thì trưởng họ sẽ tháo trống, chiêng treo gần nơi bàn thờ tổ tiên để lấy chiếc giỏ tre treo trên bàn thờ tổ tiên xuống, dùng lá chuối để lót thịt trâu rồi đặt vào trong, lấy một miếng là chuối khác úp lên miếng thịt trâu. Trong ngày tết tháng Bảy, các tộc trưởng đều làm rượu "hoẵng", là loại rượu đặc trưng được dùng trong ngày tết của người La Chí. Rượu hoẵng sẽ được đổ vào các sừng trâu để tộc trưởng làm lễ cúng. Trưởng tộc mặc trang phục truyền thống, lưng đeo một miếng da trâu, tay cầm một chiếc sừng trâu, một tay cầm sợi dây buộc củ gừng rồi lẩm nhẩm cúng. Sau lễ cúng, tiếng trống, tiếng chiêng nổi lên rộn rã. Lễ cúng thường diễn ra tai gian giữa, dưới bàn thở tổ tiên tại nhà già làng. Ngày tiễn các cụ đi thường được làm vào ngày "Dậu" của tháng.

Lễ hội Khu Cù Tê của người dân La Chí Người La Chí sinh sống chủ yếu tại các huyện Hoàng Su Phì, Xí Mần thuộc tỉnh Hà Giang, hay huyện Mương Khương và Bắc Hà tỉnh Lào Cai. Trong một cuộc điều tra dân số thực hiện năm 2009, người La Chí tại Việt Nam có 13.158 người, xư trú tại 38 tỉnh, thành phố trong nước, chủ yếu tập trung tại Hà Giang. Người La Chí thường ăn tết trong nửa tháng, kể từ ngày 01/7 đến 15/7 mới kết thúc. Ngày mồng 2 là ngày các dòng họ trong làng quây quần lại cùng mổ trâu để ăn tết. phong tục truyền thống này đã có từ rất lâu đời, bởi vì ngày tết của người La Chí không thể thiếu thịt trâu. Trước đây, trâu được mổ trong ngày tết tháng Bảy thường là trâu của làng, người dân trong làng sẽ góp tiền lại để mua rồi cử một vài gia đình trong làng nuôi để đến ngày tết thì mổ thịt. Rượu "hoằng" là loại rượu đặc trưng trong ngày tết tháng Bảy của người La Chí Vào ngày mổ trâu, các dòng họ đều quây quần về nhà tộc trưởng của dòng họ để tổ chức lễ tết. Sau khi con cháu trong gia đình đã tập trung đông đủ thì trưởng họ sẽ tháo trống, chiêng treo gần nơi bàn thờ tổ tiên để lấy chiếc giỏ tre treo trên bàn thờ tổ tiên xuống, dùng lá chuối để lót thịt trâu rồi đặt vào trong, lấy một miếng là chuối khác úp lên miếng thịt trâu. Trong ngày tết tháng Bảy, các tộc trưởng đều làm rượu "hoẵng", là loại rượu đặc trưng được dùng trong ngày tết của người La Chí. Rượu hoẵng sẽ được đổ vào các sừng trâu để tộc trưởng làm lễ cúng. Trưởng tộc mặc trang phục truyền thống, lưng đeo một miếng da trâu, tay cầm một chiếc sừng trâu, một tay cầm sợi dây buộc củ gừng rồi lẩm nhẩm cúng. Sau lễ cúng, tiếng trống, tiếng chiêng nổi lên rộn rã. Lễ cúng thường diễn ra tai gian giữa, dưới bàn thở tổ tiên tại nhà già làng. Ngày tiễn các cụ đi thường được làm vào ngày "Dậu" của tháng.

Người La Chí sinh sống chủ yếu tại các huyện Hoàng Su Phì, Xí Mần thuộc tỉnh Hà Giang, hay huyện Mương Khương và Bắc Hà tỉnh Lào Cai. Trong một cuộc điều tra dân số thực hiện năm 2009, người La Chí tại Việt Nam có 13.158 người, xư trú tại 38 tỉnh, thành phố trong nước, chủ yếu tập trung tại Hà Giang. Người La Chí thường ăn tết trong nửa tháng, kể từ ngày 01/7 đến 15/7 mới kết thúc. Ngày mồng 2 là ngày các dòng họ trong làng quây quần lại cùng mổ trâu để ăn tết. phong tục truyền thống này đã có từ rất lâu đời, bởi vì ngày tết của người La Chí không thể thiếu thịt trâu. Trước đây, trâu được mổ trong ngày tết tháng Bảy thường là trâu của làng, người dân trong làng sẽ góp tiền lại để mua rồi cử một vài gia đình trong làng nuôi để đến ngày tết thì mổ thịt.

Người La Chí thường ăn tết trong nửa tháng, kể từ ngày 01/7 đến 15/7 mới kết thúc. Ngày mồng 2 là ngày các dòng họ trong làng quây quần lại cùng mổ trâu để ăn tết. phong tục truyền thống này đã có từ rất lâu đời, bởi vì ngày tết của người La Chí không thể thiếu thịt trâu. Trước đây, trâu được mổ trong ngày tết tháng Bảy thường là trâu của làng, người dân trong làng sẽ góp tiền lại để mua rồi cử một vài gia đình trong làng nuôi để đến ngày tết thì mổ thịt.

Người La Chí thường ăn tết trong nửa tháng, kể từ ngày 01/7 đến 15/7 mới kết thúc. Ngày mồng 2 là ngày các dòng họ trong làng quây quần lại cùng mổ trâu để ăn tết. phong tục truyền thống này đã có từ rất lâu đời, bởi vì ngày tết của người La Chí không thể thiếu thịt trâu. Trước đây, trâu được mổ trong ngày tết tháng Bảy thường là trâu của làng, người dân trong làng sẽ góp tiền lại để mua rồi cử một vài gia đình trong làng nuôi để đến ngày tết thì mổ thịt.

Rượu "hoằng" là loại rượu đặc trưng trong ngày tết tháng Bảy của người La Chí

Vào ngày mổ trâu, các dòng họ đều quây quần về nhà tộc trưởng của dòng họ để tổ chức lễ tết. Sau khi con cháu trong gia đình đã tập trung đông đủ thì trưởng họ sẽ tháo trống, chiêng treo gần nơi bàn thờ tổ tiên để lấy chiếc giỏ tre treo trên bàn thờ tổ tiên xuống, dùng lá chuối để lót thịt trâu rồi đặt vào trong, lấy một miếng là chuối khác úp lên miếng thịt trâu.

Trong ngày tết tháng Bảy, các tộc trưởng đều làm rượu "hoẵng", là loại rượu đặc trưng được dùng trong ngày tết của người La Chí. Rượu hoẵng sẽ được đổ vào các sừng trâu để tộc trưởng làm lễ cúng. Trưởng tộc mặc trang phục truyền thống, lưng đeo một miếng da trâu, tay cầm một chiếc sừng trâu, một tay cầm sợi dây buộc củ gừng rồi lẩm nhẩm cúng. Sau lễ cúng, tiếng trống, tiếng chiêng nổi lên rộn rã.

Lễ cúng thường diễn ra tai gian giữa, dưới bàn thở tổ tiên tại nhà già làng. Ngày tiễn các cụ đi thường được làm vào ngày "Dậu" của tháng.

Related Figures

Ý nghĩa Tết Táo Quân

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 23/12 Âm lịch Vào ngày 23 tháng Chạp, người Việt tổ chức lễ cúng tiễn đưa ông Công ông Táo về chầu trời. Theo quan niệm của người Việt, Táo Quân cưỡi cá chép về trời để trình báo chuyện bếp núc và mọi việc xảy ra trong gia đình trong năm qua với Ngọc Hoàng. Tết Táo Quân có ý nghĩa thiêng liêng với người dân Việt Nam Việc thờ cúng Táo Quân nhằm thể hiện mong muốn Thần Bếp giúp giữ bếp lửa gia đình để luôn hạnh phúc và ấm áp. Ngày ông Táo về chầu trời được xem là ngày đầu tiên của Tết Nguyên Đán nên ai cũng háo hức, trông chờ. Táo Quân gồm ba vị định đoạt phước cho gia đình gồm: Thổ Địa Long Mạch Tôn Thần, Ngũ Phương Ngũ Thổ Phúc Đức Chánh Thần và Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân. Táo Quân là Thần Bếp trong nhà ghi chép tất cả những việc gia chủ làm trong năm cũ và báo cáo với Ngọc Hoàng những vấn đề "tai nghe mắt thấy". Mâm lễ cúng trong Tết Táo Quân Vào ngày 23 tháng Chạp, các gia đình Việt Nam thường làm lễ tiễn đưa Táo Quân một cách long trọng. Lễ vật gồm có 2 mũ ông Táo, một mũ bà Táo bằng giấy và 3 con cá chép. Cá chép là phương tiện duy nhất để Táo Quân về trời. Sau khi làm lễ xong, các gia đình mang cá chép ra sông, ao, hồ thả với ý nghĩa cá chép hóa rồng, vượt vũ môn đưa Táo Quân lên Thiên Đình gặp Ngọc Hoàng. Việc "cá chép hóa rồng" hay "cá vượt vũ môn" thể hiện sự thăng hoa, biểu tượng của tinh thần vượt khó, kiên trì để đạt được thành công. Cá chép là lễ vật không thể thiếu trong Tết Táo Quân Trước đây, người Việt còn có tục dựng cây nêu ngày Tết vào đúng ngày Tết Táo Quân. Vì kể từ ngày Táo Quân về trời và vắng mặt cho đến đêm Giao thừa mới trở lại thì ma quỷ sẽ lẻn vào quấy nhiễu nên phải dựng cây nêu để trừ tà. Đến nay, một số vùng miền vẫn giữ phong tục cổ truyền này. Sau khi tiễn đưa ông Táo, các gia đình bắt đầu dọn dẹp nhà cửa, lau chùi đồ cúng ông bà tổ tiên... để chuẩn bị đón Tết. Việc lau rửa không chỉ có ý nghĩa làm vệ sinh môi trường mà còn tạo sự thanh tịnh trong tâm hồn, phản tỉnh những sai lầm mắc phải trong năm.

Vào ngày 23 tháng Chạp, người Việt tổ chức lễ cúng tiễn đưa ông Công ông Táo về chầu trời. Theo quan niệm của người Việt, Táo Quân cưỡi cá chép về trời để trình báo chuyện bếp núc và mọi việc xảy ra trong gia đình trong năm qua với Ngọc Hoàng.

Tết Táo Quân có ý nghĩa thiêng liêng với người dân Việt Nam

Việc thờ cúng Táo Quân nhằm thể hiện mong muốn Thần Bếp giúp giữ bếp lửa gia đình để luôn hạnh phúc và ấm áp. Ngày ông Táo về chầu trời được xem là ngày đầu tiên của Tết Nguyên Đán nên ai cũng háo hức, trông chờ.

Táo Quân gồm ba vị định đoạt phước cho gia đình gồm: Thổ Địa Long Mạch Tôn Thần, Ngũ Phương Ngũ Thổ Phúc Đức Chánh Thần và Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân. Táo Quân là Thần Bếp trong nhà ghi chép tất cả những việc gia chủ làm trong năm cũ và báo cáo với Ngọc Hoàng những vấn đề "tai nghe mắt thấy".

Mâm lễ cúng trong Tết Táo Quân

Vào ngày 23 tháng Chạp, các gia đình Việt Nam thường làm lễ tiễn đưa Táo Quân một cách long trọng. Lễ vật gồm có 2 mũ ông Táo, một mũ bà Táo bằng giấy và 3 con cá chép. Cá chép là phương tiện duy nhất để Táo Quân về trời. Sau khi làm lễ xong, các gia đình mang cá chép ra sông, ao, hồ thả với ý nghĩa cá chép hóa rồng, vượt vũ môn đưa Táo Quân lên Thiên Đình gặp Ngọc Hoàng. Việc "cá chép hóa rồng" hay "cá vượt vũ môn" thể hiện sự thăng hoa, biểu tượng của tinh thần vượt khó, kiên trì để đạt được thành công.

Cá chép là lễ vật không thể thiếu trong Tết Táo Quân

Trước đây, người Việt còn có tục dựng cây nêu ngày Tết vào đúng ngày Tết Táo Quân. Vì kể từ ngày Táo Quân về trời và vắng mặt cho đến đêm Giao thừa mới trở lại thì ma quỷ sẽ lẻn vào quấy nhiễu nên phải dựng cây nêu để trừ tà. Đến nay, một số vùng miền vẫn giữ phong tục cổ truyền này.

Sau khi tiễn đưa ông Táo, các gia đình bắt đầu dọn dẹp nhà cửa, lau chùi đồ cúng ông bà tổ tiên... để chuẩn bị đón Tết. Việc lau rửa không chỉ có ý nghĩa làm vệ sinh môi trường mà còn tạo sự thanh tịnh trong tâm hồn, phản tỉnh những sai lầm mắc phải trong năm.

Related Figures

Đại lễ Phật Giáo Hòa Hảo 18-5 tỉnh An Giang

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 18/5 Âm lịch Đại lễ Phật Giáo Hòa Hảo 18-5 tỉnh An Giang được tổ chức ngày 18/5 âm lịch để kỷ niệm ngày Đức Huỳnh Giáo chủ khai sáng đạo Phật Giáo Hòa Hảo (18/5/1939 năm Kỷ Mão). Cổng chào trước An Hòa Tự lộng lẫy mừng Đại lễ Phật Giáo Hòa Hảo Phật Giáo Hòa Hảo (hay còn gọi là đạo Hòa Hảo) là tông phái lấy pháp môn Tịnh Độ tông làm căn bản và chủ trương tu hành tại gia. Phật Giáo Hòa Hảo ra đời tại làng Hòa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc (nay thuộc thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang). Theo thống kê năm 2009, Phật Giáo Hòa Hảo là tôn giáo có tín đồ đông thứ tư tại Việt Nam với hơn 1,4 triệu tín đồ. Những tín đồ của Phật Giáo Hòa Hảo tập trung chủ yếu ở miền Tây Nam Bộ, đông nhất tại An Giang với hơn 900.000 tín đồ, chiếm 44% dân số toàn tỉnh. Bà con đồng đạo bày tỏ đức tin tại Đại lẽ Phật giáo Hòa Hảo Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ còn được gọi là "Thầy Tư Hòa Hảo", "Đức Huỳnh Giáo chủ" tự nhận mình là bậc "Sinh nhi tri" nhìn xuyên quá khứ, nhìn thấu tương lai, được thọ mệnh cùng với Phật Thích Ca Mâu Ni và Phật A Di Đà. Đức Huỳnh Giáo chủ hạ giới nhằm truyền bá cho dân chúng tư tưởng để "Chấn hưng, cứu độ chúng sinh khỏi sông mê, biển khổ và đưa tới chốn Tây phương cực lạc". Đức Huỳnh Giáo chủ truyền dạy giáo lý bằng những bài "sám giảng" (còn gọi là sấm giảng) do ông soạn thảo. Ngày 18/5/1939, Đức Huỳnh Giáo chủ bắt đầu khai đạo tại gia đình khi chưa đầy 20 tuổi. Ông lấy tên ngôi làng Hòa Hảo để đặt tên cho tôn giáo của mình. Kể từ đó, Đức Huỳnh Giáo chủ lần lượt sáng tác nhiều bài thơ ca, sau này được tập hợp lại thành cuốn "Sấm giảng thi văn giáo lý". Đại lễ Phật Giáo Hòa Hảo kỷ niệm ngày Đức Huỳnh Giáo chủ khai sáng đạo Đại lễ Phật Giáo Hòa Hảo là lễ hội của một tôn giáo mới hình thành hơn nửa thế kỷ nhưng đã ăn sâu vào nếp sống của người dân miền Tây Nam Bộ. Những ngày diễn ra lễ hội, hàng nghìn tín đồ Hòa Hảo từ khắp mọi vùng tụ tập về thánh địa để tưởng nhớ giáo chủ Huỳnh Phú Sổ.

Cổng chào trước An Hòa Tự lộng lẫy mừng Đại lễ Phật Giáo Hòa Hảo Phật Giáo Hòa Hảo (hay còn gọi là đạo Hòa Hảo) là tông phái lấy pháp môn Tịnh Độ tông làm căn bản và chủ trương tu hành tại gia. Phật Giáo Hòa Hảo ra đời tại làng Hòa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc (nay thuộc thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang). Theo thống kê năm 2009, Phật Giáo Hòa Hảo là tôn giáo có tín đồ đông thứ tư tại Việt Nam với hơn 1,4 triệu tín đồ. Những tín đồ của Phật Giáo Hòa Hảo tập trung chủ yếu ở miền Tây Nam Bộ, đông nhất tại An Giang với hơn 900.000 tín đồ, chiếm 44% dân số toàn tỉnh. Bà con đồng đạo bày tỏ đức tin tại Đại lẽ Phật giáo Hòa Hảo Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ còn được gọi là "Thầy Tư Hòa Hảo", "Đức Huỳnh Giáo chủ" tự nhận mình là bậc "Sinh nhi tri" nhìn xuyên quá khứ, nhìn thấu tương lai, được thọ mệnh cùng với Phật Thích Ca Mâu Ni và Phật A Di Đà. Đức Huỳnh Giáo chủ hạ giới nhằm truyền bá cho dân chúng tư tưởng để "Chấn hưng, cứu độ chúng sinh khỏi sông mê, biển khổ và đưa tới chốn Tây phương cực lạc". Đức Huỳnh Giáo chủ truyền dạy giáo lý bằng những bài "sám giảng" (còn gọi là sấm giảng) do ông soạn thảo. Ngày 18/5/1939, Đức Huỳnh Giáo chủ bắt đầu khai đạo tại gia đình khi chưa đầy 20 tuổi. Ông lấy tên ngôi làng Hòa Hảo để đặt tên cho tôn giáo của mình. Kể từ đó, Đức Huỳnh Giáo chủ lần lượt sáng tác nhiều bài thơ ca, sau này được tập hợp lại thành cuốn "Sấm giảng thi văn giáo lý". Đại lễ Phật Giáo Hòa Hảo kỷ niệm ngày Đức Huỳnh Giáo chủ khai sáng đạo Đại lễ Phật Giáo Hòa Hảo là lễ hội của một tôn giáo mới hình thành hơn nửa thế kỷ nhưng đã ăn sâu vào nếp sống của người dân miền Tây Nam Bộ. Những ngày diễn ra lễ hội, hàng nghìn tín đồ Hòa Hảo từ khắp mọi vùng tụ tập về thánh địa để tưởng nhớ giáo chủ Huỳnh Phú Sổ.

Phật Giáo Hòa Hảo (hay còn gọi là đạo Hòa Hảo) là tông phái lấy pháp môn Tịnh Độ tông làm căn bản và chủ trương tu hành tại gia. Phật Giáo Hòa Hảo ra đời tại làng Hòa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc (nay thuộc thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang). Theo thống kê năm 2009, Phật Giáo Hòa Hảo là tôn giáo có tín đồ đông thứ tư tại Việt Nam với hơn 1,4 triệu tín đồ. Những tín đồ của Phật Giáo Hòa Hảo tập trung chủ yếu ở miền Tây Nam Bộ, đông nhất tại An Giang với hơn 900.000 tín đồ, chiếm 44% dân số toàn tỉnh.

Bà con đồng đạo bày tỏ đức tin tại Đại lẽ Phật giáo Hòa Hảo

Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ còn được gọi là "Thầy Tư Hòa Hảo", "Đức Huỳnh Giáo chủ" tự nhận mình là bậc "Sinh nhi tri" nhìn xuyên quá khứ, nhìn thấu tương lai, được thọ mệnh cùng với Phật Thích Ca Mâu Ni và Phật A Di Đà. Đức Huỳnh Giáo chủ hạ giới nhằm truyền bá cho dân chúng tư tưởng để "Chấn hưng, cứu độ chúng sinh khỏi sông mê, biển khổ và đưa tới chốn Tây phương cực lạc". Đức Huỳnh Giáo chủ truyền dạy giáo lý bằng những bài "sám giảng" (còn gọi là sấm giảng) do ông soạn thảo.

Ngày 18/5/1939, Đức Huỳnh Giáo chủ bắt đầu khai đạo tại gia đình khi chưa đầy 20 tuổi. Ông lấy tên ngôi làng Hòa Hảo để đặt tên cho tôn giáo của mình. Kể từ đó, Đức Huỳnh Giáo chủ lần lượt sáng tác nhiều bài thơ ca, sau này được tập hợp lại thành cuốn "Sấm giảng thi văn giáo lý".

Đại lễ Phật Giáo Hòa Hảo kỷ niệm ngày Đức Huỳnh Giáo chủ khai sáng đạo

Đại lễ Phật Giáo Hòa Hảo là lễ hội của một tôn giáo mới hình thành hơn nửa thế kỷ nhưng đã ăn sâu vào nếp sống của người dân miền Tây Nam Bộ. Những ngày diễn ra lễ hội, hàng nghìn tín đồ Hòa Hảo từ khắp mọi vùng tụ tập về thánh địa để tưởng nhớ giáo chủ Huỳnh Phú Sổ.

Related Figures

Độc đáo lễ hội rước Mẫu thành Tuyên

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 11/2- 16/2 Âm lịch Lễ hội rước Mẫu là lễ hội cổ truyền, sinh hoạt văn hóa tâm linh, giàu bản sắc dân tộc của vùng đất Tuyên Quang. Lễ hội rước Mẫu mang đến hình ảnh tươi đẹp về cuộc sống ấm no, hạnh phúc của vùng đất giàu truyền thống cách mạng. Đông đảo người dân tham gia lễ hội rước Mẫu Tương truyền xưa kia có hai nàng công chúa con gái Hùng Vương là Phương Dung và Ngọc Lân theo xa giá đến bờ sông Lô đỗ thuyền. Nửa đêm trời nổi giông bão, hai nàng đều hóa. Nhân dân trong vùng lập đền thờ. Năm Mậu Ngọ (1738) thời vua Cảnh Hưng đền thờ được xây dựng quy mô hơn. Năm Đinh Hợi (1767), người dân địa phương xây dựng thêm một đền thờ nữa bên bờ tả sông Lô phía thượng nguồn, đặt tên là Đền Thượng. Đền Hiệp Thuận được xây dựng phía hạ lưu nên được gọi là đền Hạ thờ công chúa Phương Dung. Đền Thượng thờ công cúa Ngọc Lân. Khi bị giặc dã xâm lược, người dân trong vùng chuyển hai nàng công chúa lên gốc đa để thờ, rồi lập ra đền Ỷ La. Hàng năm, cứ vào ngày 11-16/2 âm lịch, lễ rước kiệu Mẫu bắt đầu từ Đền Mẫu Ỷ La ra đền Hạ. Sau đó, rước kiệu Mẫu từ đền Thượng qua sông về đền Hạ để cùng hợp tế. Đặc sắc lễ hội rước Mẫu thành Tuyên Người tham gia rước kiệu Mẫu phải là nam thanh, nữ tú. Trong khuôn khổ lễ hội diễn ra nhiều hoạt động như: lễ rước, thả đèn hoa đăng trên sông Lô, lễ tế... Phần hội cũng có nhiều hoạt động văn hóa đặc sắc như: Hội thi ẩm thực, triển lãm ảnh và nhiều trò chơi dân gian hấp dẫn. Kiệu Mẫu trong lễ hội rước Mẫu thành Tuyên Sau nhiều năm tổ chức, lễ hội rước Mẫu dần thu hút đông đảo người dân địa phương, du khách trong và ngoài tỉnh tham gia. Lễ hội rước Mẫu là nét văn hóa đặc sắc của Thành phố Tuyên Quang. Lễ hội rước Mẫu được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di sản phi vật thể cấp Quốc gia. Lễ hội rước Mẫu là nét rất riêng của người thành Tuyên.

Đông đảo người dân tham gia lễ hội rước Mẫu Tương truyền xưa kia có hai nàng công chúa con gái Hùng Vương là Phương Dung và Ngọc Lân theo xa giá đến bờ sông Lô đỗ thuyền. Nửa đêm trời nổi giông bão, hai nàng đều hóa. Nhân dân trong vùng lập đền thờ. Năm Mậu Ngọ (1738) thời vua Cảnh Hưng đền thờ được xây dựng quy mô hơn. Năm Đinh Hợi (1767), người dân địa phương xây dựng thêm một đền thờ nữa bên bờ tả sông Lô phía thượng nguồn, đặt tên là Đền Thượng. Đền Hiệp Thuận được xây dựng phía hạ lưu nên được gọi là đền Hạ thờ công chúa Phương Dung. Đền Thượng thờ công cúa Ngọc Lân. Khi bị giặc dã xâm lược, người dân trong vùng chuyển hai nàng công chúa lên gốc đa để thờ, rồi lập ra đền Ỷ La. Hàng năm, cứ vào ngày 11-16/2 âm lịch, lễ rước kiệu Mẫu bắt đầu từ Đền Mẫu Ỷ La ra đền Hạ. Sau đó, rước kiệu Mẫu từ đền Thượng qua sông về đền Hạ để cùng hợp tế. Đặc sắc lễ hội rước Mẫu thành Tuyên Người tham gia rước kiệu Mẫu phải là nam thanh, nữ tú. Trong khuôn khổ lễ hội diễn ra nhiều hoạt động như: lễ rước, thả đèn hoa đăng trên sông Lô, lễ tế... Phần hội cũng có nhiều hoạt động văn hóa đặc sắc như: Hội thi ẩm thực, triển lãm ảnh và nhiều trò chơi dân gian hấp dẫn. Kiệu Mẫu trong lễ hội rước Mẫu thành Tuyên Sau nhiều năm tổ chức, lễ hội rước Mẫu dần thu hút đông đảo người dân địa phương, du khách trong và ngoài tỉnh tham gia. Lễ hội rước Mẫu là nét văn hóa đặc sắc của Thành phố Tuyên Quang. Lễ hội rước Mẫu được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di sản phi vật thể cấp Quốc gia. Lễ hội rước Mẫu là nét rất riêng của người thành Tuyên.

Tương truyền xưa kia có hai nàng công chúa con gái Hùng Vương là Phương Dung và Ngọc Lân theo xa giá đến bờ sông Lô đỗ thuyền. Nửa đêm trời nổi giông bão, hai nàng đều hóa. Nhân dân trong vùng lập đền thờ. Năm Mậu Ngọ (1738) thời vua Cảnh Hưng đền thờ được xây dựng quy mô hơn. Năm Đinh Hợi (1767), người dân địa phương xây dựng thêm một đền thờ nữa bên bờ tả sông Lô phía thượng nguồn, đặt tên là Đền Thượng. Đền Hiệp Thuận được xây dựng phía hạ lưu nên được gọi là đền Hạ thờ công chúa Phương Dung. Đền Thượng thờ công cúa Ngọc Lân. Khi bị giặc dã xâm lược, người dân trong vùng chuyển hai nàng công chúa lên gốc đa để thờ, rồi lập ra đền Ỷ La. Hàng năm, cứ vào ngày 11-16/2 âm lịch, lễ rước kiệu Mẫu bắt đầu từ Đền Mẫu Ỷ La ra đền Hạ. Sau đó, rước kiệu Mẫu từ đền Thượng qua sông về đền Hạ để cùng hợp tế. Đặc sắc lễ hội rước Mẫu thành Tuyên Người tham gia rước kiệu Mẫu phải là nam thanh, nữ tú. Trong khuôn khổ lễ hội diễn ra nhiều hoạt động như: lễ rước, thả đèn hoa đăng trên sông Lô, lễ tế... Phần hội cũng có nhiều hoạt động văn hóa đặc sắc như: Hội thi ẩm thực, triển lãm ảnh và nhiều trò chơi dân gian hấp dẫn. Kiệu Mẫu trong lễ hội rước Mẫu thành Tuyên Sau nhiều năm tổ chức, lễ hội rước Mẫu dần thu hút đông đảo người dân địa phương, du khách trong và ngoài tỉnh tham gia. Lễ hội rước Mẫu là nét văn hóa đặc sắc của Thành phố Tuyên Quang. Lễ hội rước Mẫu được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di sản phi vật thể cấp Quốc gia. Lễ hội rước Mẫu là nét rất riêng của người thành Tuyên.

Tương truyền xưa kia có hai nàng công chúa con gái Hùng Vương là Phương Dung và Ngọc Lân theo xa giá đến bờ sông Lô đỗ thuyền. Nửa đêm trời nổi giông bão, hai nàng đều hóa. Nhân dân trong vùng lập đền thờ. Năm Mậu Ngọ (1738) thời vua Cảnh Hưng đền thờ được xây dựng quy mô hơn. Năm Đinh Hợi (1767), người dân địa phương xây dựng thêm một đền thờ nữa bên bờ tả sông Lô phía thượng nguồn, đặt tên là Đền Thượng. Đền Hiệp Thuận được xây dựng phía hạ lưu nên được gọi là đền Hạ thờ công chúa Phương Dung. Đền Thượng thờ công cúa Ngọc Lân. Khi bị giặc dã xâm lược, người dân trong vùng chuyển hai nàng công chúa lên gốc đa để thờ, rồi lập ra đền Ỷ La.

Hàng năm, cứ vào ngày 11-16/2 âm lịch, lễ rước kiệu Mẫu bắt đầu từ Đền Mẫu Ỷ La ra đền Hạ. Sau đó, rước kiệu Mẫu từ đền Thượng qua sông về đền Hạ để cùng hợp tế.

Đặc sắc lễ hội rước Mẫu thành Tuyên

Người tham gia rước kiệu Mẫu phải là nam thanh, nữ tú. Trong khuôn khổ lễ hội diễn ra nhiều hoạt động như: lễ rước, thả đèn hoa đăng trên sông Lô, lễ tế... Phần hội cũng có nhiều hoạt động văn hóa đặc sắc như: Hội thi ẩm thực, triển lãm ảnh và nhiều trò chơi dân gian hấp dẫn.

Kiệu Mẫu trong lễ hội rước Mẫu thành Tuyên

Sau nhiều năm tổ chức, lễ hội rước Mẫu dần thu hút đông đảo người dân địa phương, du khách trong và ngoài tỉnh tham gia. Lễ hội rước Mẫu là nét văn hóa đặc sắc của Thành phố Tuyên Quang. Lễ hội rước Mẫu được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di sản phi vật thể cấp Quốc gia. Lễ hội rước Mẫu là nét rất riêng của người thành Tuyên.

Related Figures

Lễ hội đình Giếng Tanh

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 9/1- 10/1 Âm lịch Lễ hội đình Giếng Tanh là lễ hội lớn nhất trong năm của dân tộc Cao Lan. Lễ hội được tổ chức ngày 9-10 tháng Giêng âm lịch tại xã Kim Phú, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Lễ hội là dịp tỏ lòng biết ơn và cầu mong Thành hoàng làng, Thần nông, Thổ địa phù hộ cho dân làng khỏe mạnh, mưa thuận gió hòa, làm ăn thuận lợi. Lễ hội đình làng Giếng Tanh diễn ra trang trọng Làng Giếng Tanh hiện nay vẫn còn lưu giữ được nhiều nét văn hóa truyền thống của người Cao Lan. Đình Giếng Tanh được xây dựng đầu thế kỷ XVIII (năm 1706) thờ hai vị tướng thời Hùng Vương là "Đức vua Cả Nghiêm Sơn trung chính lệnh ứng Đại Vương" và "Đức vua Ngọc Sơn quân linh ứng Đại Vương". Đây là hai vị tướng được vua Hùng cắt cử đến vùng Yên Sơn bảo hộ dân làng Giếng Tanh cuộc sống yên ổn, làm ăn thuận lợi. Ngoài ra, đình Giếng Tanh còn thờ Quốc mẫu Thiên Hoa công chúa, Thần nông, Thổ địa, Long Vương, bà Lương Thị Hai. Lễ hội đình Giếng Tanh được tổ chức để tạ ơn trời đất và các vị thần đã bảo trợ dân làng. Đình Giếng Tanh nơi diễn ra lễ hội Phần lễ trong lễ hội đình Giếng Tanh diễn ra từ đêm mùng 9 tháng Giêng đến hết trưa ngày mùng 10. Chiều và đêm 10 tháng Giêng được dành cho phần hội. Bắt đầu từ chiều mùng 9, các cụ trong Hội đồng Chấp sự cùng con cháu trong làng ra đình làm lễ mở cửa đình. Dân làng chuẩn bị mâm cỗ để thắp hương làm lễ thỉnh mời các vị thần và tổ tông về dự lễ. Mâm lễ vật khao quân được đặt dưới gầm bệ thờ gồm: một đầu trâu, chân trâu, thịt trâu, đuôi trâu... Lễ mời được cử hành đơn giản trong khoảng 30 phút, ông trùm và chấp sự đứng trước hương án khấn nhỏ thỉnh tên các vị thần. Sau phần lễ, người Cao Lan quan niệm các vị thần đã có mặt cùng dân làng mở hội. Trong đêm mùng 9, dân làng Giếng Tanh hầu như không ngủ, người thắp hương cầu lộc, cầu bình an... trai gái rủ nhau hát Sình đến sáng. Dâng lễ trong lễ hội đình Giếng Tanh Chính hội ngày 10 tháng Giêng, các ban thờ được bày biện cỗ cúng. Đúng giờ Thìn, ông xướng tế làm lễ, đưa tay vòng ngang mặt hô dõng dạc "Khởi chiêng, khởi trống", 3 hồi trống nổi lên đưa tâm trang của mọi người hòa vào không gian thiêng của lễ hội. Ba hồi trống dứt, ông xướng tế dõng dạc hô "Sinh cung cử nhạc", sau đó điệu "lưu thủy" được tấu lên. Tiếp theo là lễ "Củ soạn lễ vật", "Thượng đèn", "Nghệ hương án tiền", "Thượng hương". Ông Trùm đọc bài cúng bằng chữ Hán nêu bật công lao của hai vị Thành hoàng đánh tan quân xâm lược, mang lại sự bình yên cho người Cao Lan. Tiếp tục là lễ dâng rượu (gồm 3 tuần dâng rượu), đọc văn tế, hành lễ Nhân lộc, mân quả được thư ký lễ hội tung vào đám đông người dự hội. Theo quan niệm của người Cao Lan, ai bắt được quả còn (lộc) thì năm đó gặp may mắn. Phần hội trong lễ hội đình Giếng Tanh được diễn ra sôi nổi với nhiều trò chơi dân gian hấp dẫn như: Tung còn, chọi gà, đánh đu, đánh gậy... Hát Sình Ca là nét văn hóa đặc trưng của người Cao Lan. Lễ hội đình Giếng Tanh hàng năm thu hút hàng nghìn người dân địa phương và du khách thập phương tới tham dự.

Lễ hội đình làng Giếng Tanh diễn ra trang trọng Làng Giếng Tanh hiện nay vẫn còn lưu giữ được nhiều nét văn hóa truyền thống của người Cao Lan. Đình Giếng Tanh được xây dựng đầu thế kỷ XVIII (năm 1706) thờ hai vị tướng thời Hùng Vương là "Đức vua Cả Nghiêm Sơn trung chính lệnh ứng Đại Vương" và "Đức vua Ngọc Sơn quân linh ứng Đại Vương". Đây là hai vị tướng được vua Hùng cắt cử đến vùng Yên Sơn bảo hộ dân làng Giếng Tanh cuộc sống yên ổn, làm ăn thuận lợi. Ngoài ra, đình Giếng Tanh còn thờ Quốc mẫu Thiên Hoa công chúa, Thần nông, Thổ địa, Long Vương, bà Lương Thị Hai. Lễ hội đình Giếng Tanh được tổ chức để tạ ơn trời đất và các vị thần đã bảo trợ dân làng. Đình Giếng Tanh nơi diễn ra lễ hội Phần lễ trong lễ hội đình Giếng Tanh diễn ra từ đêm mùng 9 tháng Giêng đến hết trưa ngày mùng 10. Chiều và đêm 10 tháng Giêng được dành cho phần hội. Bắt đầu từ chiều mùng 9, các cụ trong Hội đồng Chấp sự cùng con cháu trong làng ra đình làm lễ mở cửa đình. Dân làng chuẩn bị mâm cỗ để thắp hương làm lễ thỉnh mời các vị thần và tổ tông về dự lễ. Mâm lễ vật khao quân được đặt dưới gầm bệ thờ gồm: một đầu trâu, chân trâu, thịt trâu, đuôi trâu... Lễ mời được cử hành đơn giản trong khoảng 30 phút, ông trùm và chấp sự đứng trước hương án khấn nhỏ thỉnh tên các vị thần. Sau phần lễ, người Cao Lan quan niệm các vị thần đã có mặt cùng dân làng mở hội. Trong đêm mùng 9, dân làng Giếng Tanh hầu như không ngủ, người thắp hương cầu lộc, cầu bình an... trai gái rủ nhau hát Sình đến sáng. Dâng lễ trong lễ hội đình Giếng Tanh Chính hội ngày 10 tháng Giêng, các ban thờ được bày biện cỗ cúng. Đúng giờ Thìn, ông xướng tế làm lễ, đưa tay vòng ngang mặt hô dõng dạc "Khởi chiêng, khởi trống", 3 hồi trống nổi lên đưa tâm trang của mọi người hòa vào không gian thiêng của lễ hội. Ba hồi trống dứt, ông xướng tế dõng dạc hô "Sinh cung cử nhạc", sau đó điệu "lưu thủy" được tấu lên. Tiếp theo là lễ "Củ soạn lễ vật", "Thượng đèn", "Nghệ hương án tiền", "Thượng hương". Ông Trùm đọc bài cúng bằng chữ Hán nêu bật công lao của hai vị Thành hoàng đánh tan quân xâm lược, mang lại sự bình yên cho người Cao Lan. Tiếp tục là lễ dâng rượu (gồm 3 tuần dâng rượu), đọc văn tế, hành lễ Nhân lộc, mân quả được thư ký lễ hội tung vào đám đông người dự hội. Theo quan niệm của người Cao Lan, ai bắt được quả còn (lộc) thì năm đó gặp may mắn. Phần hội trong lễ hội đình Giếng Tanh được diễn ra sôi nổi với nhiều trò chơi dân gian hấp dẫn như: Tung còn, chọi gà, đánh đu, đánh gậy... Hát Sình Ca là nét văn hóa đặc trưng của người Cao Lan. Lễ hội đình Giếng Tanh hàng năm thu hút hàng nghìn người dân địa phương và du khách thập phương tới tham dự.

Làng Giếng Tanh hiện nay vẫn còn lưu giữ được nhiều nét văn hóa truyền thống của người Cao Lan. Đình Giếng Tanh được xây dựng đầu thế kỷ XVIII (năm 1706) thờ hai vị tướng thời Hùng Vương là "Đức vua Cả Nghiêm Sơn trung chính lệnh ứng Đại Vương" và "Đức vua Ngọc Sơn quân linh ứng Đại Vương". Đây là hai vị tướng được vua Hùng cắt cử đến vùng Yên Sơn bảo hộ dân làng Giếng Tanh cuộc sống yên ổn, làm ăn thuận lợi. Ngoài ra, đình Giếng Tanh còn thờ Quốc mẫu Thiên Hoa công chúa, Thần nông, Thổ địa, Long Vương, bà Lương Thị Hai. Lễ hội đình Giếng Tanh được tổ chức để tạ ơn trời đất và các vị thần đã bảo trợ dân làng.

Đình Giếng Tanh nơi diễn ra lễ hội

Phần lễ trong lễ hội đình Giếng Tanh diễn ra từ đêm mùng 9 tháng Giêng đến hết trưa ngày mùng 10. Chiều và đêm 10 tháng Giêng được dành cho phần hội. Bắt đầu từ chiều mùng 9, các cụ trong Hội đồng Chấp sự cùng con cháu trong làng ra đình làm lễ mở cửa đình. Dân làng chuẩn bị mâm cỗ để thắp hương làm lễ thỉnh mời các vị thần và tổ tông về dự lễ. Mâm lễ vật khao quân được đặt dưới gầm bệ thờ gồm: một đầu trâu, chân trâu, thịt trâu, đuôi trâu... Lễ mời được cử hành đơn giản trong khoảng 30 phút, ông trùm và chấp sự đứng trước hương án khấn nhỏ thỉnh tên các vị thần. Sau phần lễ, người Cao Lan quan niệm các vị thần đã có mặt cùng dân làng mở hội. Trong đêm mùng 9, dân làng Giếng Tanh hầu như không ngủ, người thắp hương cầu lộc, cầu bình an... trai gái rủ nhau hát Sình đến sáng. Dâng lễ trong lễ hội đình Giếng Tanh Chính hội ngày 10 tháng Giêng, các ban thờ được bày biện cỗ cúng. Đúng giờ Thìn, ông xướng tế làm lễ, đưa tay vòng ngang mặt hô dõng dạc "Khởi chiêng, khởi trống", 3 hồi trống nổi lên đưa tâm trang của mọi người hòa vào không gian thiêng của lễ hội. Ba hồi trống dứt, ông xướng tế dõng dạc hô "Sinh cung cử nhạc", sau đó điệu "lưu thủy" được tấu lên. Tiếp theo là lễ "Củ soạn lễ vật", "Thượng đèn", "Nghệ hương án tiền", "Thượng hương". Ông Trùm đọc bài cúng bằng chữ Hán nêu bật công lao của hai vị Thành hoàng đánh tan quân xâm lược, mang lại sự bình yên cho người Cao Lan. Tiếp tục là lễ dâng rượu (gồm 3 tuần dâng rượu), đọc văn tế, hành lễ Nhân lộc, mân quả được thư ký lễ hội tung vào đám đông người dự hội. Theo quan niệm của người Cao Lan, ai bắt được quả còn (lộc) thì năm đó gặp may mắn. Phần hội trong lễ hội đình Giếng Tanh được diễn ra sôi nổi với nhiều trò chơi dân gian hấp dẫn như: Tung còn, chọi gà, đánh đu, đánh gậy... Hát Sình Ca là nét văn hóa đặc trưng của người Cao Lan. Lễ hội đình Giếng Tanh hàng năm thu hút hàng nghìn người dân địa phương và du khách thập phương tới tham dự.

Phần lễ trong lễ hội đình Giếng Tanh diễn ra từ đêm mùng 9 tháng Giêng đến hết trưa ngày mùng 10. Chiều và đêm 10 tháng Giêng được dành cho phần hội.

Bắt đầu từ chiều mùng 9, các cụ trong Hội đồng Chấp sự cùng con cháu trong làng ra đình làm lễ mở cửa đình. Dân làng chuẩn bị mâm cỗ để thắp hương làm lễ thỉnh mời các vị thần và tổ tông về dự lễ. Mâm lễ vật khao quân được đặt dưới gầm bệ thờ gồm: một đầu trâu, chân trâu, thịt trâu, đuôi trâu... Lễ mời được cử hành đơn giản trong khoảng 30 phút, ông trùm và chấp sự đứng trước hương án khấn nhỏ thỉnh tên các vị thần. Sau phần lễ, người Cao Lan quan niệm các vị thần đã có mặt cùng dân làng mở hội. Trong đêm mùng 9, dân làng Giếng Tanh hầu như không ngủ, người thắp hương cầu lộc, cầu bình an... trai gái rủ nhau hát Sình đến sáng.

Dâng lễ trong lễ hội đình Giếng Tanh

Chính hội ngày 10 tháng Giêng, các ban thờ được bày biện cỗ cúng. Đúng giờ Thìn, ông xướng tế làm lễ, đưa tay vòng ngang mặt hô dõng dạc "Khởi chiêng, khởi trống", 3 hồi trống nổi lên đưa tâm trang của mọi người hòa vào không gian thiêng của lễ hội. Ba hồi trống dứt, ông xướng tế dõng dạc hô "Sinh cung cử nhạc", sau đó điệu "lưu thủy" được tấu lên. Tiếp theo là lễ "Củ soạn lễ vật", "Thượng đèn", "Nghệ hương án tiền", "Thượng hương". Ông Trùm đọc bài cúng bằng chữ Hán nêu bật công lao của hai vị Thành hoàng đánh tan quân xâm lược, mang lại sự bình yên cho người Cao Lan. Tiếp tục là lễ dâng rượu (gồm 3 tuần dâng rượu), đọc văn tế, hành lễ Nhân lộc, mân quả được thư ký lễ hội tung vào đám đông người dự hội. Theo quan niệm của người Cao Lan, ai bắt được quả còn (lộc) thì năm đó gặp may mắn.

Phần hội trong lễ hội đình Giếng Tanh được diễn ra sôi nổi với nhiều trò chơi dân gian hấp dẫn như: Tung còn, chọi gà, đánh đu, đánh gậy... Hát Sình Ca là nét văn hóa đặc trưng của người Cao Lan.

Lễ hội đình Giếng Tanh hàng năm thu hút hàng nghìn người dân địa phương và du khách thập phương tới tham dự.

Related Figures

Lễ cúng gọi hồn lúa của người La Chí

Thông tin thời kỳ

Lễ cúng hồn lúa mới của người La Chí ở Lào Cai được thực hiện khi các gia đình làm xong đất, trước khi cấy phải làm lễ cúng gọi hồn lúa về nhập hạt giống. Theo quan niệm của người La Chí, sau vụ mùa hồn cây lúa thường ngủ quên chưa tỉnh giấc hoặc đi lang thang nên gia đình phải nhờ thầy cúng gọi hồn lúa về. Lễ cúng hồn lúa giúp cây trồng phát triển tốt, mùa màng bội thu. Độc đáo lễ cúng gọi hồn lúa của người La Chí Người La Chí sinh sống chủ yếu ở thôn Nậm Táng, Mào Phố, Nậm Khánh, xã Nậm Khánh, huyện Bắc Hà và thôn Hóa Chư Phùng ở xã Nàn Sán, huyện Si Ma Cai. Cuộc sống của người dân nơi đây chủ yếu dựa vào nông nghiệp. Người La Chí cải tạo các sườn đồi, núi thành ruộng bậc thang để canh tác, trồng lúa nước. Tập quán canh tác của người La Chí mang đậm nét tín ngưỡng như: lễ cúng cầu mùa, lễ cúng cơm mới, cúng trừ sâu bệnh... Trong đó, lễ cúng gọi hồn lúa là nghi lễ quan trọng mang nét văn hóa đặc trưng trong tín ngưỡng nông nghiệp của người La Chí. Lễ cúng gọi hồn lúa của người La Chí cầu mong vụ mùa bội thu Trước khi làm lễ cúng, người La Chí phải chuẩn bị các lễ vật gồm: một con lợn, một gói cá, một chai rượu hoẵng, một củ gừng, một bó mạ... bày lên một chiếc mâm gỗ để trước bàn thờ. Chủ nhà lấy hai chiếc nan tre uốn thành vòng cung đặt trước mâm thờ với ý nghĩa tượng trưng cho chiếc cầu để thầy cúng đón hồn lúa về cho gia đình. Thầy cúng ngồi hướng về phía bàn thờ tổ tiên, khấn báo cáo tổ tiên 3 đời rằng gia đình làm lễ cúng, con cháu thành tâm mời các cụ về hưởng rồi phù hộ cho gia đình làm ăn thuận lợi, mùa màng bội thu. Thầy cúng tay cầm một chiếc sừng trâu thay chén uống rượu, mỗi khi thầy gọi đến ai thì lấy một con cá hay một miếng thịt đặt sang bên cạnh thành một phần riêng, thầy cũng cũng bỏ một phần riêng bên cạnh là phần thầy cúng được hưởng. Sau khi cúng mời tổ tiên, gia chủ mang lợn vào giết thịt, đặt gần mâm thầy cúng giao cho tổ tiên và các vị thần. Chủ nhà lấy dao xẻ một miếng thịt bụng của con lợn đem thái thành từng miếng nhỏ nấu chín để thầy cúng dâng lên tổ tiên và các vị thần. Thầy cúng thực hiện lễ cúng gọi hồn lúa của người La Chí Gọi hồn lúa là phần quan trọng nhất của buổi lễ. Thầy cúng giúp gia chủ tìm hồn lúa đang ở đâu để gọi về. Gia chủ phải chuẩn bị một bát nước đặt trước mâm thờ, một củ gừng buộc vào đầu một sợi dây để tìm hồn lúa. Thầy cúng gọi lần lượt mầm ở đầu mỗi hạt thóc, phần hạt, vỏ trấu, cây mạ non, cây lúa... cho đến khi lúa thành hạt. Khi hồn lúa về nhà, sợi dây treo củ gừng sẽ đung đưa. Hồn lúa chưa về thì sợ dây sẽ đứng im, thầy cúng gọi cho tới khi hồn lúa về thì mới kết thúc lễ cúng. Chủ nhà mang những bó mạ ở mâm cúng ra đồng để cấy. Ngày nay, lễ cúng gọi hồn lúa mới vẫn được bao thế hệ người La Chí ở Lào Cai duy trì và coi đây là nét văn hóa độc đáo trong tập quán canh tác nông nghiệp.

Độc đáo lễ cúng gọi hồn lúa của người La Chí Người La Chí sinh sống chủ yếu ở thôn Nậm Táng, Mào Phố, Nậm Khánh, xã Nậm Khánh, huyện Bắc Hà và thôn Hóa Chư Phùng ở xã Nàn Sán, huyện Si Ma Cai. Cuộc sống của người dân nơi đây chủ yếu dựa vào nông nghiệp. Người La Chí cải tạo các sườn đồi, núi thành ruộng bậc thang để canh tác, trồng lúa nước. Tập quán canh tác của người La Chí mang đậm nét tín ngưỡng như: lễ cúng cầu mùa, lễ cúng cơm mới, cúng trừ sâu bệnh... Trong đó, lễ cúng gọi hồn lúa là nghi lễ quan trọng mang nét văn hóa đặc trưng trong tín ngưỡng nông nghiệp của người La Chí. Lễ cúng gọi hồn lúa của người La Chí cầu mong vụ mùa bội thu Trước khi làm lễ cúng, người La Chí phải chuẩn bị các lễ vật gồm: một con lợn, một gói cá, một chai rượu hoẵng, một củ gừng, một bó mạ... bày lên một chiếc mâm gỗ để trước bàn thờ. Chủ nhà lấy hai chiếc nan tre uốn thành vòng cung đặt trước mâm thờ với ý nghĩa tượng trưng cho chiếc cầu để thầy cúng đón hồn lúa về cho gia đình. Thầy cúng ngồi hướng về phía bàn thờ tổ tiên, khấn báo cáo tổ tiên 3 đời rằng gia đình làm lễ cúng, con cháu thành tâm mời các cụ về hưởng rồi phù hộ cho gia đình làm ăn thuận lợi, mùa màng bội thu. Thầy cúng tay cầm một chiếc sừng trâu thay chén uống rượu, mỗi khi thầy gọi đến ai thì lấy một con cá hay một miếng thịt đặt sang bên cạnh thành một phần riêng, thầy cũng cũng bỏ một phần riêng bên cạnh là phần thầy cúng được hưởng. Sau khi cúng mời tổ tiên, gia chủ mang lợn vào giết thịt, đặt gần mâm thầy cúng giao cho tổ tiên và các vị thần. Chủ nhà lấy dao xẻ một miếng thịt bụng của con lợn đem thái thành từng miếng nhỏ nấu chín để thầy cúng dâng lên tổ tiên và các vị thần. Thầy cúng thực hiện lễ cúng gọi hồn lúa của người La Chí Gọi hồn lúa là phần quan trọng nhất của buổi lễ. Thầy cúng giúp gia chủ tìm hồn lúa đang ở đâu để gọi về. Gia chủ phải chuẩn bị một bát nước đặt trước mâm thờ, một củ gừng buộc vào đầu một sợi dây để tìm hồn lúa. Thầy cúng gọi lần lượt mầm ở đầu mỗi hạt thóc, phần hạt, vỏ trấu, cây mạ non, cây lúa... cho đến khi lúa thành hạt. Khi hồn lúa về nhà, sợi dây treo củ gừng sẽ đung đưa. Hồn lúa chưa về thì sợ dây sẽ đứng im, thầy cúng gọi cho tới khi hồn lúa về thì mới kết thúc lễ cúng. Chủ nhà mang những bó mạ ở mâm cúng ra đồng để cấy. Ngày nay, lễ cúng gọi hồn lúa mới vẫn được bao thế hệ người La Chí ở Lào Cai duy trì và coi đây là nét văn hóa độc đáo trong tập quán canh tác nông nghiệp.

Người La Chí sinh sống chủ yếu ở thôn Nậm Táng, Mào Phố, Nậm Khánh, xã Nậm Khánh, huyện Bắc Hà và thôn Hóa Chư Phùng ở xã Nàn Sán, huyện Si Ma Cai. Cuộc sống của người dân nơi đây chủ yếu dựa vào nông nghiệp. Người La Chí cải tạo các sườn đồi, núi thành ruộng bậc thang để canh tác, trồng lúa nước. Tập quán canh tác của người La Chí mang đậm nét tín ngưỡng như: lễ cúng cầu mùa, lễ cúng cơm mới, cúng trừ sâu bệnh... Trong đó, lễ cúng gọi hồn lúa là nghi lễ quan trọng mang nét văn hóa đặc trưng trong tín ngưỡng nông nghiệp của người La Chí. Lễ cúng gọi hồn lúa của người La Chí cầu mong vụ mùa bội thu Trước khi làm lễ cúng, người La Chí phải chuẩn bị các lễ vật gồm: một con lợn, một gói cá, một chai rượu hoẵng, một củ gừng, một bó mạ... bày lên một chiếc mâm gỗ để trước bàn thờ. Chủ nhà lấy hai chiếc nan tre uốn thành vòng cung đặt trước mâm thờ với ý nghĩa tượng trưng cho chiếc cầu để thầy cúng đón hồn lúa về cho gia đình. Thầy cúng ngồi hướng về phía bàn thờ tổ tiên, khấn báo cáo tổ tiên 3 đời rằng gia đình làm lễ cúng, con cháu thành tâm mời các cụ về hưởng rồi phù hộ cho gia đình làm ăn thuận lợi, mùa màng bội thu. Thầy cúng tay cầm một chiếc sừng trâu thay chén uống rượu, mỗi khi thầy gọi đến ai thì lấy một con cá hay một miếng thịt đặt sang bên cạnh thành một phần riêng, thầy cũng cũng bỏ một phần riêng bên cạnh là phần thầy cúng được hưởng. Sau khi cúng mời tổ tiên, gia chủ mang lợn vào giết thịt, đặt gần mâm thầy cúng giao cho tổ tiên và các vị thần. Chủ nhà lấy dao xẻ một miếng thịt bụng của con lợn đem thái thành từng miếng nhỏ nấu chín để thầy cúng dâng lên tổ tiên và các vị thần. Thầy cúng thực hiện lễ cúng gọi hồn lúa của người La Chí Gọi hồn lúa là phần quan trọng nhất của buổi lễ. Thầy cúng giúp gia chủ tìm hồn lúa đang ở đâu để gọi về. Gia chủ phải chuẩn bị một bát nước đặt trước mâm thờ, một củ gừng buộc vào đầu một sợi dây để tìm hồn lúa. Thầy cúng gọi lần lượt mầm ở đầu mỗi hạt thóc, phần hạt, vỏ trấu, cây mạ non, cây lúa... cho đến khi lúa thành hạt. Khi hồn lúa về nhà, sợi dây treo củ gừng sẽ đung đưa. Hồn lúa chưa về thì sợ dây sẽ đứng im, thầy cúng gọi cho tới khi hồn lúa về thì mới kết thúc lễ cúng. Chủ nhà mang những bó mạ ở mâm cúng ra đồng để cấy. Ngày nay, lễ cúng gọi hồn lúa mới vẫn được bao thế hệ người La Chí ở Lào Cai duy trì và coi đây là nét văn hóa độc đáo trong tập quán canh tác nông nghiệp.

Người La Chí sinh sống chủ yếu ở thôn Nậm Táng, Mào Phố, Nậm Khánh, xã Nậm Khánh, huyện Bắc Hà và thôn Hóa Chư Phùng ở xã Nàn Sán, huyện Si Ma Cai. Cuộc sống của người dân nơi đây chủ yếu dựa vào nông nghiệp. Người La Chí cải tạo các sườn đồi, núi thành ruộng bậc thang để canh tác, trồng lúa nước. Tập quán canh tác của người La Chí mang đậm nét tín ngưỡng như: lễ cúng cầu mùa, lễ cúng cơm mới, cúng trừ sâu bệnh... Trong đó, lễ cúng gọi hồn lúa là nghi lễ quan trọng mang nét văn hóa đặc trưng trong tín ngưỡng nông nghiệp của người La Chí.

Lễ cúng gọi hồn lúa của người La Chí cầu mong vụ mùa bội thu

Trước khi làm lễ cúng, người La Chí phải chuẩn bị các lễ vật gồm: một con lợn, một gói cá, một chai rượu hoẵng, một củ gừng, một bó mạ... bày lên một chiếc mâm gỗ để trước bàn thờ. Chủ nhà lấy hai chiếc nan tre uốn thành vòng cung đặt trước mâm thờ với ý nghĩa tượng trưng cho chiếc cầu để thầy cúng đón hồn lúa về cho gia đình. Thầy cúng ngồi hướng về phía bàn thờ tổ tiên, khấn báo cáo tổ tiên 3 đời rằng gia đình làm lễ cúng, con cháu thành tâm mời các cụ về hưởng rồi phù hộ cho gia đình làm ăn thuận lợi, mùa màng bội thu. Thầy cúng tay cầm một chiếc sừng trâu thay chén uống rượu, mỗi khi thầy gọi đến ai thì lấy một con cá hay một miếng thịt đặt sang bên cạnh thành một phần riêng, thầy cũng cũng bỏ một phần riêng bên cạnh là phần thầy cúng được hưởng.

Sau khi cúng mời tổ tiên, gia chủ mang lợn vào giết thịt, đặt gần mâm thầy cúng giao cho tổ tiên và các vị thần. Chủ nhà lấy dao xẻ một miếng thịt bụng của con lợn đem thái thành từng miếng nhỏ nấu chín để thầy cúng dâng lên tổ tiên và các vị thần.

Thầy cúng thực hiện lễ cúng gọi hồn lúa của người La Chí

Gọi hồn lúa là phần quan trọng nhất của buổi lễ. Thầy cúng giúp gia chủ tìm hồn lúa đang ở đâu để gọi về. Gia chủ phải chuẩn bị một bát nước đặt trước mâm thờ, một củ gừng buộc vào đầu một sợi dây để tìm hồn lúa. Thầy cúng gọi lần lượt mầm ở đầu mỗi hạt thóc, phần hạt, vỏ trấu, cây mạ non, cây lúa... cho đến khi lúa thành hạt. Khi hồn lúa về nhà, sợi dây treo củ gừng sẽ đung đưa. Hồn lúa chưa về thì sợ dây sẽ đứng im, thầy cúng gọi cho tới khi hồn lúa về thì mới kết thúc lễ cúng. Chủ nhà mang những bó mạ ở mâm cúng ra đồng để cấy.

Ngày nay, lễ cúng gọi hồn lúa mới vẫn được bao thế hệ người La Chí ở Lào Cai duy trì và coi đây là nét văn hóa độc đáo trong tập quán canh tác nông nghiệp.

Related Figures

Lễ hội đua thuyền truyền thống trên sông Lô

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 4/1 Âm lịch Lễ hội đua thuyền truyền thống trên sông Lô là lễ hội đặc sắc trong dịp đầu xuân năm mới ở Tuyên Quang. Lễ hội đua thuyền là nét đẹp độc đáo của người dân vùng sông nước, thu hút đông đảo người dân trong và ngoài tỉnh tham gia. Lễ hội đua thuyền truyền thống trên sông Lô Lễ hội đua thuyền truyền thống trên sông Lô là lễ hội được tổ chức thường niên, thể hiện tinh thần đoàn kết, lòng dũng cảm, tinh thần thượng võ và khát khao chinh phục thiên nhiên của bà con vùng sông nước Tuyên Quang. Trước đây, lễ hội đua thuyền trên sông Lô bị gián đoạn trên 20 năm. Ngày đó, lễ hội đua thuyền được gọi là bơi chải trên sông Lô với hình thức thi đấu 6 người, bơi bằng thuyền gỗ. Năm 2007, lễ hội được thành phố Tuyên Quang khôi phục lại. Đến nay, lễ hội thu hút 13 xã, phường trên địa bàn tỉnh tham gia. Các đội thi đấu phải trải qua 1 vòng đua trên sông Lô từ bến phà Nông Tiến cũ đến soi Tình Húc và quay trở lại. Đường đua có chiều dài 2,5km. Bà con nơi đây quan niệm việc hạ thủy rất quan trọng, lễ hạ thủy thuận buồm xuôi gió báo hiệu một năm bình yên, mưa thuận gió hòa. Các đội đua tham gia lễ hội đua thuyền trên sông Lô Lễ hội đua thuyền trên sông Lô góp phần tạo không khí vui tươi, phấn khởi, mừng Đảng, mừng xuân, mừng đất nước trong dịp đầu xuân năm mới. Lễ hội góp phần cổ vũ, động viên nhân dân hăng hái thi đua lao động, sản xuất, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội địa phương. Đông đảo người dân theo dõi lễ hội đua thuyền trên sông Lô Lễ hội đua thuyền trên sông Lô tạo nên bản sắc văn hóa riêng của vùng đất và con người Tuyên Quang mà bất cứ ai đi xa cũng nhớ về.

Lễ hội đua thuyền truyền thống trên sông Lô Lễ hội đua thuyền truyền thống trên sông Lô là lễ hội được tổ chức thường niên, thể hiện tinh thần đoàn kết, lòng dũng cảm, tinh thần thượng võ và khát khao chinh phục thiên nhiên của bà con vùng sông nước Tuyên Quang. Trước đây, lễ hội đua thuyền trên sông Lô bị gián đoạn trên 20 năm. Ngày đó, lễ hội đua thuyền được gọi là bơi chải trên sông Lô với hình thức thi đấu 6 người, bơi bằng thuyền gỗ. Năm 2007, lễ hội được thành phố Tuyên Quang khôi phục lại. Đến nay, lễ hội thu hút 13 xã, phường trên địa bàn tỉnh tham gia. Các đội thi đấu phải trải qua 1 vòng đua trên sông Lô từ bến phà Nông Tiến cũ đến soi Tình Húc và quay trở lại. Đường đua có chiều dài 2,5km. Bà con nơi đây quan niệm việc hạ thủy rất quan trọng, lễ hạ thủy thuận buồm xuôi gió báo hiệu một năm bình yên, mưa thuận gió hòa. Các đội đua tham gia lễ hội đua thuyền trên sông Lô Lễ hội đua thuyền trên sông Lô góp phần tạo không khí vui tươi, phấn khởi, mừng Đảng, mừng xuân, mừng đất nước trong dịp đầu xuân năm mới. Lễ hội góp phần cổ vũ, động viên nhân dân hăng hái thi đua lao động, sản xuất, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội địa phương. Đông đảo người dân theo dõi lễ hội đua thuyền trên sông Lô Lễ hội đua thuyền trên sông Lô tạo nên bản sắc văn hóa riêng của vùng đất và con người Tuyên Quang mà bất cứ ai đi xa cũng nhớ về.

Lễ hội đua thuyền truyền thống trên sông Lô là lễ hội được tổ chức thường niên, thể hiện tinh thần đoàn kết, lòng dũng cảm, tinh thần thượng võ và khát khao chinh phục thiên nhiên của bà con vùng sông nước Tuyên Quang. Trước đây, lễ hội đua thuyền trên sông Lô bị gián đoạn trên 20 năm. Ngày đó, lễ hội đua thuyền được gọi là bơi chải trên sông Lô với hình thức thi đấu 6 người, bơi bằng thuyền gỗ. Năm 2007, lễ hội được thành phố Tuyên Quang khôi phục lại. Đến nay, lễ hội thu hút 13 xã, phường trên địa bàn tỉnh tham gia. Các đội thi đấu phải trải qua 1 vòng đua trên sông Lô từ bến phà Nông Tiến cũ đến soi Tình Húc và quay trở lại. Đường đua có chiều dài 2,5km. Bà con nơi đây quan niệm việc hạ thủy rất quan trọng, lễ hạ thủy thuận buồm xuôi gió báo hiệu một năm bình yên, mưa thuận gió hòa.

Các đội đua tham gia lễ hội đua thuyền trên sông Lô

Lễ hội đua thuyền trên sông Lô góp phần tạo không khí vui tươi, phấn khởi, mừng Đảng, mừng xuân, mừng đất nước trong dịp đầu xuân năm mới. Lễ hội góp phần cổ vũ, động viên nhân dân hăng hái thi đua lao động, sản xuất, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội địa phương.

Đông đảo người dân theo dõi lễ hội đua thuyền trên sông Lô

Lễ hội đua thuyền trên sông Lô tạo nên bản sắc văn hóa riêng của vùng đất và con người Tuyên Quang mà bất cứ ai đi xa cũng nhớ về.

Related Figures

Lễ hội chùa Hang

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 6/1- 8/1 Âm lịch Lễ hội chùa Hang được tổ chức ngày 6-8/1 âm lịch hàng năm tại xã An Khang, thành phố Tuyên Quang. Lễ hội chùa Hang diễn ra lễ cầu an, lễ rước nước (nước được rước từ sông Lô về chùa) và nhiều trò chơi dân gian hấp dẫn. Lễ cầu an trong lễ hội chùa Hang Chùa Hang (hay còn gọi chùa Hương Nghiêm) được xây dựng năm Đại chính thứ 8 (năm 1537) thời Mạc Đăng Doanh trong một hang núi đá ở núi Hương Nghiêm. Chùa Hang nằm trong quần thể di tích thành nhà Bầu, bến Bình Ca. Từ đầu thôn Phúc Lộc tới cuối thôn Tân Thành ở xã An Khang có một dãy núi mang hình dáng con rồng uốn lượn mềm mại, núi Hương Nghiêm được xem như đầu rồng. Chùa Hang là nơi có phong cảnh thiên nhiên hữu tình, dựa vào hang đá với nhiều nhũ đá đủ hình thù rủ xuống. Càng vào sâu, nền chùa càng thấp, ở giữa có một phiến đá giống như con thuyền đang lướt sóng. Chùa Hang ngày nay còn lưu giữ nhiều hiện vật cổ như: tấm bia cổ khắc trên vách đá, hai pho tượng Bồ tát bằng đồng, giá đọc văn tế, hương án... Đông đảo người dân tham gia lễ hội chùa Hang Chùa Hang còn nổi tiếng là nơi chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử quan trọng trong thời kỳ khởi nghĩa. Chùa Hang là nơi cất giấu, lắp ráp và sửa chữa hai chiếc máy bay của Quân đội Nhân dân Việt Nam trước khi chuyển lên sân bay Đọi Súng. Chùa Hang cũng là kho chứa vũ khí, đạn dược của Trạm vận tải và Trung đoàn 331. Ngày 3/2/1941 (tức ngày 8/1 tết Tân Tỵ) chi bộ Mỏ Than tiến hành rải truyền đơn tại lễ hội để tuyên truyền đường lối cách mạng và chủ trương giải phóng dân tộc của Đảng. Hình ảnh chùa Hang trong mùa lễ hội năm 2017 Người dân tham gia lễ hội chùa Hang để cầu mong những điều tốt lành, may mắn, quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi. Lễ hội chùa Hang hàng năm thu hút hàng nghìn du khách trong và ngoài tỉnh tham gia.

Lễ cầu an trong lễ hội chùa Hang Chùa Hang (hay còn gọi chùa Hương Nghiêm) được xây dựng năm Đại chính thứ 8 (năm 1537) thời Mạc Đăng Doanh trong một hang núi đá ở núi Hương Nghiêm. Chùa Hang nằm trong quần thể di tích thành nhà Bầu, bến Bình Ca. Từ đầu thôn Phúc Lộc tới cuối thôn Tân Thành ở xã An Khang có một dãy núi mang hình dáng con rồng uốn lượn mềm mại, núi Hương Nghiêm được xem như đầu rồng. Chùa Hang là nơi có phong cảnh thiên nhiên hữu tình, dựa vào hang đá với nhiều nhũ đá đủ hình thù rủ xuống. Càng vào sâu, nền chùa càng thấp, ở giữa có một phiến đá giống như con thuyền đang lướt sóng. Chùa Hang ngày nay còn lưu giữ nhiều hiện vật cổ như: tấm bia cổ khắc trên vách đá, hai pho tượng Bồ tát bằng đồng, giá đọc văn tế, hương án... Đông đảo người dân tham gia lễ hội chùa Hang Chùa Hang còn nổi tiếng là nơi chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử quan trọng trong thời kỳ khởi nghĩa. Chùa Hang là nơi cất giấu, lắp ráp và sửa chữa hai chiếc máy bay của Quân đội Nhân dân Việt Nam trước khi chuyển lên sân bay Đọi Súng. Chùa Hang cũng là kho chứa vũ khí, đạn dược của Trạm vận tải và Trung đoàn 331. Ngày 3/2/1941 (tức ngày 8/1 tết Tân Tỵ) chi bộ Mỏ Than tiến hành rải truyền đơn tại lễ hội để tuyên truyền đường lối cách mạng và chủ trương giải phóng dân tộc của Đảng. Hình ảnh chùa Hang trong mùa lễ hội năm 2017 Người dân tham gia lễ hội chùa Hang để cầu mong những điều tốt lành, may mắn, quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi. Lễ hội chùa Hang hàng năm thu hút hàng nghìn du khách trong và ngoài tỉnh tham gia.

Chùa Hang (hay còn gọi chùa Hương Nghiêm) được xây dựng năm Đại chính thứ 8 (năm 1537) thời Mạc Đăng Doanh trong một hang núi đá ở núi Hương Nghiêm. Chùa Hang nằm trong quần thể di tích thành nhà Bầu, bến Bình Ca. Từ đầu thôn Phúc Lộc tới cuối thôn Tân Thành ở xã An Khang có một dãy núi mang hình dáng con rồng uốn lượn mềm mại, núi Hương Nghiêm được xem như đầu rồng. Chùa Hang là nơi có phong cảnh thiên nhiên hữu tình, dựa vào hang đá với nhiều nhũ đá đủ hình thù rủ xuống. Càng vào sâu, nền chùa càng thấp, ở giữa có một phiến đá giống như con thuyền đang lướt sóng. Chùa Hang ngày nay còn lưu giữ nhiều hiện vật cổ như: tấm bia cổ khắc trên vách đá, hai pho tượng Bồ tát bằng đồng, giá đọc văn tế, hương án...

Đông đảo người dân tham gia lễ hội chùa Hang

Chùa Hang còn nổi tiếng là nơi chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử quan trọng trong thời kỳ khởi nghĩa. Chùa Hang là nơi cất giấu, lắp ráp và sửa chữa hai chiếc máy bay của Quân đội Nhân dân Việt Nam trước khi chuyển lên sân bay Đọi Súng. Chùa Hang cũng là kho chứa vũ khí, đạn dược của Trạm vận tải và Trung đoàn 331. Ngày 3/2/1941 (tức ngày 8/1 tết Tân Tỵ) chi bộ Mỏ Than tiến hành rải truyền đơn tại lễ hội để tuyên truyền đường lối cách mạng và chủ trương giải phóng dân tộc của Đảng. Hình ảnh chùa Hang trong mùa lễ hội năm 2017 Người dân tham gia lễ hội chùa Hang để cầu mong những điều tốt lành, may mắn, quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi. Lễ hội chùa Hang hàng năm thu hút hàng nghìn du khách trong và ngoài tỉnh tham gia.

Chùa Hang còn nổi tiếng là nơi chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử quan trọng trong thời kỳ khởi nghĩa. Chùa Hang là nơi cất giấu, lắp ráp và sửa chữa hai chiếc máy bay của Quân đội Nhân dân Việt Nam trước khi chuyển lên sân bay Đọi Súng. Chùa Hang cũng là kho chứa vũ khí, đạn dược của Trạm vận tải và Trung đoàn 331. Ngày 3/2/1941 (tức ngày 8/1 tết Tân Tỵ) chi bộ Mỏ Than tiến hành rải truyền đơn tại lễ hội để tuyên truyền đường lối cách mạng và chủ trương giải phóng dân tộc của Đảng.

Hình ảnh chùa Hang trong mùa lễ hội năm 2017

Người dân tham gia lễ hội chùa Hang để cầu mong những điều tốt lành, may mắn, quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi. Lễ hội chùa Hang hàng năm thu hút hàng nghìn du khách trong và ngoài tỉnh tham gia.

Related Figures

Lễ hội Động Tiên

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 9/1 Âm lịch Lễ hội Động Tiên là lễ hội truyền thống được tổ chức ngày 9/1 âm lịch hàng năm tại di tích danh thắng quốc gia Động Tiên, huyện Hàm Yên, tình Tuyên Quang. Hàng năm, lễ hội thu hút đông đảo bà con dân tộc trong tỉnh cũng như du khách trong và ngoài tỉnh về tham quan, ngắm cảnh, du xuân. Lễ hội Động Tiên là nét đẹp văn hóa người dân Hàm Yên Di tích thắng cảnh quốc gia Động Tiên thu hút du khách bởi cảnh quan hữu tình, được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là thắng cảnh quốc gia. Động Tiên là quần thể bao gồm nhiều hang động huyền bí như: động Đàn đá, động Tam cung, động Thiên Đình, động Thạch Sanh, động Âm Phủ... Đông đảo người dân tham gia lễ hội Động Tiên Lễ hội Động Tiên thể hiện mong ước của người dân về một năm quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Lễ hội cũng là dịp quảng bá nông sản địa phương như: cam sành Hàm Yên, vịt bầu Minh Hương... đến với du khách. Chọi dê trong lễ hội Động Tiên Lễ hội Động Tiên diễn ra trang trọng phần lễ và sôi nổi phần hội với nhiều trò chơi dân gian như: đánh cờ người, chọi dê, bịt mắt bắt dê, đánh quay, thi bóng chuyền, leo cột mỡ,... Lễ hội Động Tiên góp phần bảo tồn những nét đẹp văn hóa truyền thống, là nơi tụ hội của bà con dân tộc ở Hàm Yên trong dịp Tết đến xuân về. Tham gia lễ hội, có phần thi múa khèn của đồng bào dân tộc Mông, hát Sình ca của dân tộc Cao Lan, hát Páo dung của dân tộc Dao... Lễ hội Động Tiên góp phần bảo tồn những nét đẹp truyền thống và bản sắc văn hóa của người dân nơi đây. Lễ hội cũng là nơi gặp gỡ của bà con dân tộc trên địa bàn huyện mỗi độ xuân về.

Lễ hội Động Tiên là nét đẹp văn hóa người dân Hàm Yên Di tích thắng cảnh quốc gia Động Tiên thu hút du khách bởi cảnh quan hữu tình, được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là thắng cảnh quốc gia. Động Tiên là quần thể bao gồm nhiều hang động huyền bí như: động Đàn đá, động Tam cung, động Thiên Đình, động Thạch Sanh, động Âm Phủ... Đông đảo người dân tham gia lễ hội Động Tiên Lễ hội Động Tiên thể hiện mong ước của người dân về một năm quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Lễ hội cũng là dịp quảng bá nông sản địa phương như: cam sành Hàm Yên, vịt bầu Minh Hương... đến với du khách. Chọi dê trong lễ hội Động Tiên Lễ hội Động Tiên diễn ra trang trọng phần lễ và sôi nổi phần hội với nhiều trò chơi dân gian như: đánh cờ người, chọi dê, bịt mắt bắt dê, đánh quay, thi bóng chuyền, leo cột mỡ,... Lễ hội Động Tiên góp phần bảo tồn những nét đẹp văn hóa truyền thống, là nơi tụ hội của bà con dân tộc ở Hàm Yên trong dịp Tết đến xuân về. Tham gia lễ hội, có phần thi múa khèn của đồng bào dân tộc Mông, hát Sình ca của dân tộc Cao Lan, hát Páo dung của dân tộc Dao... Lễ hội Động Tiên góp phần bảo tồn những nét đẹp truyền thống và bản sắc văn hóa của người dân nơi đây. Lễ hội cũng là nơi gặp gỡ của bà con dân tộc trên địa bàn huyện mỗi độ xuân về.

Di tích thắng cảnh quốc gia Động Tiên thu hút du khách bởi cảnh quan hữu tình, được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là thắng cảnh quốc gia. Động Tiên là quần thể bao gồm nhiều hang động huyền bí như: động Đàn đá, động Tam cung, động Thiên Đình, động Thạch Sanh, động Âm Phủ...

Đông đảo người dân tham gia lễ hội Động Tiên Lễ hội Động Tiên thể hiện mong ước của người dân về một năm quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Lễ hội cũng là dịp quảng bá nông sản địa phương như: cam sành Hàm Yên, vịt bầu Minh Hương... đến với du khách. Chọi dê trong lễ hội Động Tiên Lễ hội Động Tiên diễn ra trang trọng phần lễ và sôi nổi phần hội với nhiều trò chơi dân gian như: đánh cờ người, chọi dê, bịt mắt bắt dê, đánh quay, thi bóng chuyền, leo cột mỡ,... Lễ hội Động Tiên góp phần bảo tồn những nét đẹp văn hóa truyền thống, là nơi tụ hội của bà con dân tộc ở Hàm Yên trong dịp Tết đến xuân về. Tham gia lễ hội, có phần thi múa khèn của đồng bào dân tộc Mông, hát Sình ca của dân tộc Cao Lan, hát Páo dung của dân tộc Dao... Lễ hội Động Tiên góp phần bảo tồn những nét đẹp truyền thống và bản sắc văn hóa của người dân nơi đây. Lễ hội cũng là nơi gặp gỡ của bà con dân tộc trên địa bàn huyện mỗi độ xuân về.

Lễ hội Động Tiên thể hiện mong ước của người dân về một năm quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Lễ hội cũng là dịp quảng bá nông sản địa phương như: cam sành Hàm Yên, vịt bầu Minh Hương... đến với du khách.

Chọi dê trong lễ hội Động Tiên

Lễ hội Động Tiên diễn ra trang trọng phần lễ và sôi nổi phần hội với nhiều trò chơi dân gian như: đánh cờ người, chọi dê, bịt mắt bắt dê, đánh quay, thi bóng chuyền, leo cột mỡ,... Lễ hội Động Tiên góp phần bảo tồn những nét đẹp văn hóa truyền thống, là nơi tụ hội của bà con dân tộc ở Hàm Yên trong dịp Tết đến xuân về. Tham gia lễ hội, có phần thi múa khèn của đồng bào dân tộc Mông, hát Sình ca của dân tộc Cao Lan, hát Páo dung của dân tộc Dao...

Lễ hội Động Tiên góp phần bảo tồn những nét đẹp truyền thống và bản sắc văn hóa của người dân nơi đây. Lễ hội cũng là nơi gặp gỡ của bà con dân tộc trên địa bàn huyện mỗi độ xuân về.

Related Figures

Lễ hội Cầu may và Cầu mùa

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 2/1- 10/1 Âm lịch Lễ hội Cầu may và Cầu mùa tại xã Tân Trào mang đậm bản sắc của đồng bào dân tộc Tày. Lễ hội mang ý nghĩa bày tỏ lòng biết ơn đối với công đức Thành hoàng làng, các vị sơn thần và gửi gắm mong ước về những điều tốt đẹp trong năm mới, cầu mong năm mới mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, mùa màng bội thu. Lễ hội Cầu may và Cầu mùa được tổ chức tại đình Tân Trào Đình Tân Trào (trong khu di tích lịch sử cách mạng Tân Trào) có kiến trúc nhà sàn của người Tày thờ Thành hoàng làng và 7 vị Sơn thần. Lễ hội Cầu may và Cầu mùa là lễ hội truyền thống của đồng bào dân tộc Tày. Bô lão làm lễ Cầu may và Cầu mùa ở đình Tân Trào Lễ hội được tổ chức tại đình Tân Trào gồm hai phần chính: phần lễ và phần hội. Phần lễ thực hiện cúng tế long trọng trong đình thể hiện mong ước của người dân cầu mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, người dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.Lễ hội cũng là dịp tỏ lòng thành kính với Thành Hoàng làng có công khai canh lập địa. Sau phần tế lễ là lễ rước Thành hoàng, Sơn thần. Hương án được 8 trai tráng trong làng kính cẩn rước bằng kiệu bát cống. Phần hội sôi nổi với nhiều trò chơi dân gian như: Cày bừa khai địa, tung còn, kéo co, bắt cá trong vại, thi văn nghệ... Lễ rước trong lễ hội Cầu may và Cầu mùa Lễ hội Cầu may và Cầu mùa được tổ chức vào dịp tết đến xuân về thu hút đông đảo người dân địa phương và du khách thập phương tham gia lễ hội và tham quan Khu di tích lịch sử cách mạng Tân Trào. Lễ hội là hoạt động văn hóa không thể thiếu trong đời sống văn hóa, tinh thần của người dân nơi đây. Lễ hội cũng là dịp giáo dục truyền thống cách mạng cho nhân dân.

Lễ hội Cầu may và Cầu mùa được tổ chức tại đình Tân Trào

Đình Tân Trào (trong khu di tích lịch sử cách mạng Tân Trào) có kiến trúc nhà sàn của người Tày thờ Thành hoàng làng và 7 vị Sơn thần. Lễ hội Cầu may và Cầu mùa là lễ hội truyền thống của đồng bào dân tộc Tày. Bô lão làm lễ Cầu may và Cầu mùa ở đình Tân Trào Lễ hội được tổ chức tại đình Tân Trào gồm hai phần chính: phần lễ và phần hội. Phần lễ thực hiện cúng tế long trọng trong đình thể hiện mong ước của người dân cầu mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, người dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.Lễ hội cũng là dịp tỏ lòng thành kính với Thành Hoàng làng có công khai canh lập địa. Sau phần tế lễ là lễ rước Thành hoàng, Sơn thần. Hương án được 8 trai tráng trong làng kính cẩn rước bằng kiệu bát cống. Phần hội sôi nổi với nhiều trò chơi dân gian như: Cày bừa khai địa, tung còn, kéo co, bắt cá trong vại, thi văn nghệ... Lễ rước trong lễ hội Cầu may và Cầu mùa Lễ hội Cầu may và Cầu mùa được tổ chức vào dịp tết đến xuân về thu hút đông đảo người dân địa phương và du khách thập phương tham gia lễ hội và tham quan Khu di tích lịch sử cách mạng Tân Trào. Lễ hội là hoạt động văn hóa không thể thiếu trong đời sống văn hóa, tinh thần của người dân nơi đây. Lễ hội cũng là dịp giáo dục truyền thống cách mạng cho nhân dân.

Đình Tân Trào (trong khu di tích lịch sử cách mạng Tân Trào) có kiến trúc nhà sàn của người Tày thờ Thành hoàng làng và 7 vị Sơn thần. Lễ hội Cầu may và Cầu mùa là lễ hội truyền thống của đồng bào dân tộc Tày.

Bô lão làm lễ Cầu may và Cầu mùa ở đình Tân Trào

Lễ hội được tổ chức tại đình Tân Trào gồm hai phần chính: phần lễ và phần hội. Phần lễ thực hiện cúng tế long trọng trong đình thể hiện mong ước của người dân cầu mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, người dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.Lễ hội cũng là dịp tỏ lòng thành kính với Thành Hoàng làng có công khai canh lập địa. Sau phần tế lễ là lễ rước Thành hoàng, Sơn thần. Hương án được 8 trai tráng trong làng kính cẩn rước bằng kiệu bát cống. Phần hội sôi nổi với nhiều trò chơi dân gian như: Cày bừa khai địa, tung còn, kéo co, bắt cá trong vại, thi văn nghệ...

Lễ rước trong lễ hội Cầu may và Cầu mùa

Lễ hội Cầu may và Cầu mùa được tổ chức vào dịp tết đến xuân về thu hút đông đảo người dân địa phương và du khách thập phương tham gia lễ hội và tham quan Khu di tích lịch sử cách mạng Tân Trào. Lễ hội là hoạt động văn hóa không thể thiếu trong đời sống văn hóa, tinh thần của người dân nơi đây. Lễ hội cũng là dịp giáo dục truyền thống cách mạng cho nhân dân.

Related Figures

Lễ trao giải âm nhạc MAMA (Mnet Asian Music Awards)

Thông tin thời kỳ

Lễ trao giải âm nhạc đình đám châu Á MAMA (Mnet Asian Music Awards) ra đời năm 1999, vào thời điểm đó MAMA là lễ trao giải âm nhạc duy nhất Hàn Quốc. MAMA là một trong 4 lễ trao giải âm nhạc lớn nhất năm của Hàn Quốc. Lễ trao giải âm nhạc MAMA là một trong 4 lễ trao giải âm nhạc lớn Hàn Quốc Lễ trao giải âm nhạc MAMA do Công ty truyền thông và giải trí CJ E&M tổ chức định kỳ hàng năm. Không chỉ là sự kiện âm nhạc lớn nhất xứ kim chi, MAMA còn có sức ảnh hưởng tới nhiều nước châu Á. MAMA luôn là lễ trao giải được người hâm mộ chờ đợi nhất vì những màn biểu diễn kết hợp hoành tráng cũng như dàn nghệ sĩ đình đám tham gia. Lễ trao giải âm nhạc MAMA được truyền hình trực tiếp tại Trung Quốc, Nhật Bản, Hồng Kông và nhiều quốc gia Đông Nam Á qua kênh Channel V International. Lễ trao giải âm nhạc MAMA quy tụ nhiều nghệ sĩ nổi tiếng Bắt đầu từ năm 2010, lễ trao giải âm nhạc MAMA được tổ chức ở nước ngoài. Khẩu hiệu của MAMA là "Music Makes One" mang ý nghĩa "Âm nhạc đưa mọi người đến gần nhau hơn bất chấp sự khác biệt nguồn gốc, văn hóa, ngôn ngữ, quốc gia". Các giải thưởng lớn trong lễ trao giải MAMA: Album của năm Nghệ sĩ của năm Bài hát của năm Nam ca sĩ xuất sắc nhất Nữ ca sĩ xuất sắc nhất Nhóm nhạc nam xuất sắc nhất Nhóm nhạc nữ xuất sắc nhất Nhạc phim xuất sắc nhất Video âm nhạc xuất sắc nhất Ca sĩ Noo Phước Thịnh tham dự Lễ trao giải âm nhạc MAMA MAMA 2017 có sự đổi mới so với những năm trước khi tổ chức tại nhiều quốc gia trong nhiều ngày. Ngày 25/11/2017, lễ trao giải âm nhạc danh tiếng MAMA sẽ tổ chức đêm diễn đầu tiên tại nhà hát Hòa Bình TP HCM. Lễ trao giải MAMA tổ chức tại Việt Nam có sự tham gia của nhiều nghệ sĩ nổi tiếng Hàn Quốc như SEVENTEEN, Wanna One, Samuel Kim... và nhiều nghệ sĩ nổi tiếng Việt Nam.

Lễ trao giải âm nhạc MAMA là một trong 4 lễ trao giải âm nhạc lớn Hàn Quốc Lễ trao giải âm nhạc MAMA do Công ty truyền thông và giải trí CJ E&M tổ chức định kỳ hàng năm. Không chỉ là sự kiện âm nhạc lớn nhất xứ kim chi, MAMA còn có sức ảnh hưởng tới nhiều nước châu Á. MAMA luôn là lễ trao giải được người hâm mộ chờ đợi nhất vì những màn biểu diễn kết hợp hoành tráng cũng như dàn nghệ sĩ đình đám tham gia. Lễ trao giải âm nhạc MAMA được truyền hình trực tiếp tại Trung Quốc, Nhật Bản, Hồng Kông và nhiều quốc gia Đông Nam Á qua kênh Channel V International. Lễ trao giải âm nhạc MAMA quy tụ nhiều nghệ sĩ nổi tiếng Bắt đầu từ năm 2010, lễ trao giải âm nhạc MAMA được tổ chức ở nước ngoài. Khẩu hiệu của MAMA là "Music Makes One" mang ý nghĩa "Âm nhạc đưa mọi người đến gần nhau hơn bất chấp sự khác biệt nguồn gốc, văn hóa, ngôn ngữ, quốc gia". Các giải thưởng lớn trong lễ trao giải MAMA: Album của năm Nghệ sĩ của năm Bài hát của năm Nam ca sĩ xuất sắc nhất Nữ ca sĩ xuất sắc nhất Nhóm nhạc nam xuất sắc nhất Nhóm nhạc nữ xuất sắc nhất Nhạc phim xuất sắc nhất Video âm nhạc xuất sắc nhất Ca sĩ Noo Phước Thịnh tham dự Lễ trao giải âm nhạc MAMA MAMA 2017 có sự đổi mới so với những năm trước khi tổ chức tại nhiều quốc gia trong nhiều ngày. Ngày 25/11/2017, lễ trao giải âm nhạc danh tiếng MAMA sẽ tổ chức đêm diễn đầu tiên tại nhà hát Hòa Bình TP HCM. Lễ trao giải MAMA tổ chức tại Việt Nam có sự tham gia của nhiều nghệ sĩ nổi tiếng Hàn Quốc như SEVENTEEN, Wanna One, Samuel Kim... và nhiều nghệ sĩ nổi tiếng Việt Nam.

Lễ trao giải âm nhạc MAMA do Công ty truyền thông và giải trí CJ E&M tổ chức định kỳ hàng năm. Không chỉ là sự kiện âm nhạc lớn nhất xứ kim chi, MAMA còn có sức ảnh hưởng tới nhiều nước châu Á. MAMA luôn là lễ trao giải được người hâm mộ chờ đợi nhất vì những màn biểu diễn kết hợp hoành tráng cũng như dàn nghệ sĩ đình đám tham gia. Lễ trao giải âm nhạc MAMA được truyền hình trực tiếp tại Trung Quốc, Nhật Bản, Hồng Kông và nhiều quốc gia Đông Nam Á qua kênh Channel V International.

Lễ trao giải âm nhạc MAMA quy tụ nhiều nghệ sĩ nổi tiếng

Bắt đầu từ năm 2010, lễ trao giải âm nhạc MAMA được tổ chức ở nước ngoài. Khẩu hiệu của MAMA là "Music Makes One" mang ý nghĩa "Âm nhạc đưa mọi người đến gần nhau hơn bất chấp sự khác biệt nguồn gốc, văn hóa, ngôn ngữ, quốc gia".

Các giải thưởng lớn trong lễ trao giải MAMA:

Album của năm Nghệ sĩ của năm Bài hát của năm Nam ca sĩ xuất sắc nhất Nữ ca sĩ xuất sắc nhất Nhóm nhạc nam xuất sắc nhất Nhóm nhạc nữ xuất sắc nhất Nhạc phim xuất sắc nhất Video âm nhạc xuất sắc nhất Ca sĩ Noo Phước Thịnh tham dự Lễ trao giải âm nhạc MAMA MAMA 2017 có sự đổi mới so với những năm trước khi tổ chức tại nhiều quốc gia trong nhiều ngày. Ngày 25/11/2017, lễ trao giải âm nhạc danh tiếng MAMA sẽ tổ chức đêm diễn đầu tiên tại nhà hát Hòa Bình TP HCM. Lễ trao giải MAMA tổ chức tại Việt Nam có sự tham gia của nhiều nghệ sĩ nổi tiếng Hàn Quốc như SEVENTEEN, Wanna One, Samuel Kim... và nhiều nghệ sĩ nổi tiếng Việt Nam.

Ca sĩ Noo Phước Thịnh tham dự Lễ trao giải âm nhạc MAMA

MAMA 2017 có sự đổi mới so với những năm trước khi tổ chức tại nhiều quốc gia trong nhiều ngày. Ngày 25/11/2017, lễ trao giải âm nhạc danh tiếng MAMA sẽ tổ chức đêm diễn đầu tiên tại nhà hát Hòa Bình TP HCM. Lễ trao giải MAMA tổ chức tại Việt Nam có sự tham gia của nhiều nghệ sĩ nổi tiếng Hàn Quốc như SEVENTEEN, Wanna One, Samuel Kim... và nhiều nghệ sĩ nổi tiếng Việt Nam.

Related Figures

Hội làng Tư Thế

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/3 Âm lịch Hội làng Tư Thế diễn ra ngày 10/3 âm lịch hàng năm nhằm tưởng nhớ công đức Thành hoàng trông coi nghề nông, phù trì cho dân làng cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Làng Tư Thế nổi tiếng với nghề làm mực Tàu Làng Tư Thế (tên nôm là làng kẻ Thúi) là ngôi làng cổ ở xã Trí Quả, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Tư Thế nổi danh với nghề làm mực nho (mực Tàu), chế tác bút lông. Từ xưa dân làng lưu truyền câu ca "Tư Thế bút mực làm giàu". Tại đây, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn thể hiện tài năng quân sự xuất chúng, huấn luyện tướng lĩnh tài giỏi làm trụ cột trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông. Sau khi An Sinh Vương qua đời, dân làng Tư Thế tu sửa lại doanh phủ nơi ngài từng ở làm nơi thờ cúng khang trang, tôn ngài làm Thành Hoàng để tưởng nhớ công ơn. Trước đây, Đình làng Tư Thế bị thực dân Pháp phá hủy toàn bộ. Khuôn viên đình có thời trở thành nơi họp chợ của người dân. Gần đây, đình làng được khôi phục lại theo đúng dấu cũ nền xưa, khang trang hiện đại hơn. Bên cạnh những đồ thờ mới được mua sắm, dâng làng còn đừa về đình nhiều hiện vật cũ còn lưu giữ được như: bia thần tích, bia hậu thần, sắc phong, ngai thờ, bát bửu, hoành phi, câu đối... Đông đảo người dân tham gia hội làng Tư thế Hội làng diễn ra ngày 10/3 âm lịch nhưng công tác chuẩn bị được thực hiện từ sớm. Từ ngày 8/3, các cụ hương lão thực hiện tế thánh cáo yết tại đình. Buổi chiều ngay 9/3 là nghi thức phong áo tại đình làng để chuẩn bị rước ngai thánh ra đình tế lễ vào sáng hôm sau. Cuộc rước thánh diễn ra sáng sớm ngày 10/3. Khi đoàn rước về đến đình thì bắt đầu thực hiện nghi thức tế thánh, cầu phúc cho dân làng. Hội làng Tư Thế hấp dẫn với đánh cờ người Phần lễ diễn ra trọng thế tại đình, phần hội sổi nổi ở khu trung tâm văn hóa với nhiều trò chơi hấp dẫn như: cờ người, bóng bàn, bóng chuyền, cầu lông... Buổi có có biểu diễn nhiều tiết mục văn nghệ. Ngày hội làng thu hút đông đảo người dân địa phương, con em trong làng đi làm ăn xa hồi hương và cả du khách thập phương.

Làng Tư Thế nổi tiếng với nghề làm mực Tàu Làng Tư Thế (tên nôm là làng kẻ Thúi) là ngôi làng cổ ở xã Trí Quả, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Tư Thế nổi danh với nghề làm mực nho (mực Tàu), chế tác bút lông. Từ xưa dân làng lưu truyền câu ca "Tư Thế bút mực làm giàu". Tại đây, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn thể hiện tài năng quân sự xuất chúng, huấn luyện tướng lĩnh tài giỏi làm trụ cột trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông. Sau khi An Sinh Vương qua đời, dân làng Tư Thế tu sửa lại doanh phủ nơi ngài từng ở làm nơi thờ cúng khang trang, tôn ngài làm Thành Hoàng để tưởng nhớ công ơn. Trước đây, Đình làng Tư Thế bị thực dân Pháp phá hủy toàn bộ. Khuôn viên đình có thời trở thành nơi họp chợ của người dân. Gần đây, đình làng được khôi phục lại theo đúng dấu cũ nền xưa, khang trang hiện đại hơn. Bên cạnh những đồ thờ mới được mua sắm, dâng làng còn đừa về đình nhiều hiện vật cũ còn lưu giữ được như: bia thần tích, bia hậu thần, sắc phong, ngai thờ, bát bửu, hoành phi, câu đối... Đông đảo người dân tham gia hội làng Tư thế Hội làng diễn ra ngày 10/3 âm lịch nhưng công tác chuẩn bị được thực hiện từ sớm. Từ ngày 8/3, các cụ hương lão thực hiện tế thánh cáo yết tại đình. Buổi chiều ngay 9/3 là nghi thức phong áo tại đình làng để chuẩn bị rước ngai thánh ra đình tế lễ vào sáng hôm sau. Cuộc rước thánh diễn ra sáng sớm ngày 10/3. Khi đoàn rước về đến đình thì bắt đầu thực hiện nghi thức tế thánh, cầu phúc cho dân làng. Hội làng Tư Thế hấp dẫn với đánh cờ người Phần lễ diễn ra trọng thế tại đình, phần hội sổi nổi ở khu trung tâm văn hóa với nhiều trò chơi hấp dẫn như: cờ người, bóng bàn, bóng chuyền, cầu lông... Buổi có có biểu diễn nhiều tiết mục văn nghệ. Ngày hội làng thu hút đông đảo người dân địa phương, con em trong làng đi làm ăn xa hồi hương và cả du khách thập phương.

Làng Tư Thế (tên nôm là làng kẻ Thúi) là ngôi làng cổ ở xã Trí Quả, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Tư Thế nổi danh với nghề làm mực nho (mực Tàu), chế tác bút lông. Từ xưa dân làng lưu truyền câu ca "Tư Thế bút mực làm giàu". Tại đây, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn thể hiện tài năng quân sự xuất chúng, huấn luyện tướng lĩnh tài giỏi làm trụ cột trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông. Sau khi An Sinh Vương qua đời, dân làng Tư Thế tu sửa lại doanh phủ nơi ngài từng ở làm nơi thờ cúng khang trang, tôn ngài làm Thành Hoàng để tưởng nhớ công ơn. Trước đây, Đình làng Tư Thế bị thực dân Pháp phá hủy toàn bộ. Khuôn viên đình có thời trở thành nơi họp chợ của người dân. Gần đây, đình làng được khôi phục lại theo đúng dấu cũ nền xưa, khang trang hiện đại hơn. Bên cạnh những đồ thờ mới được mua sắm, dâng làng còn đừa về đình nhiều hiện vật cũ còn lưu giữ được như: bia thần tích, bia hậu thần, sắc phong, ngai thờ, bát bửu, hoành phi, câu đối... Đông đảo người dân tham gia hội làng Tư thế Hội làng diễn ra ngày 10/3 âm lịch nhưng công tác chuẩn bị được thực hiện từ sớm. Từ ngày 8/3, các cụ hương lão thực hiện tế thánh cáo yết tại đình. Buổi chiều ngay 9/3 là nghi thức phong áo tại đình làng để chuẩn bị rước ngai thánh ra đình tế lễ vào sáng hôm sau. Cuộc rước thánh diễn ra sáng sớm ngày 10/3. Khi đoàn rước về đến đình thì bắt đầu thực hiện nghi thức tế thánh, cầu phúc cho dân làng. Hội làng Tư Thế hấp dẫn với đánh cờ người Phần lễ diễn ra trọng thế tại đình, phần hội sổi nổi ở khu trung tâm văn hóa với nhiều trò chơi hấp dẫn như: cờ người, bóng bàn, bóng chuyền, cầu lông... Buổi có có biểu diễn nhiều tiết mục văn nghệ. Ngày hội làng thu hút đông đảo người dân địa phương, con em trong làng đi làm ăn xa hồi hương và cả du khách thập phương.

Làng Tư Thế (tên nôm là làng kẻ Thúi) là ngôi làng cổ ở xã Trí Quả, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Tư Thế nổi danh với nghề làm mực nho (mực Tàu), chế tác bút lông. Từ xưa dân làng lưu truyền câu ca "Tư Thế bút mực làm giàu".

Tại đây, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn thể hiện tài năng quân sự xuất chúng, huấn luyện tướng lĩnh tài giỏi làm trụ cột trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông. Sau khi An Sinh Vương qua đời, dân làng Tư Thế tu sửa lại doanh phủ nơi ngài từng ở làm nơi thờ cúng khang trang, tôn ngài làm Thành Hoàng để tưởng nhớ công ơn.

Trước đây, Đình làng Tư Thế bị thực dân Pháp phá hủy toàn bộ. Khuôn viên đình có thời trở thành nơi họp chợ của người dân. Gần đây, đình làng được khôi phục lại theo đúng dấu cũ nền xưa, khang trang hiện đại hơn. Bên cạnh những đồ thờ mới được mua sắm, dâng làng còn đừa về đình nhiều hiện vật cũ còn lưu giữ được như: bia thần tích, bia hậu thần, sắc phong, ngai thờ, bát bửu, hoành phi, câu đối...

Đông đảo người dân tham gia hội làng Tư thế

Hội làng diễn ra ngày 10/3 âm lịch nhưng công tác chuẩn bị được thực hiện từ sớm. Từ ngày 8/3, các cụ hương lão thực hiện tế thánh cáo yết tại đình. Buổi chiều ngay 9/3 là nghi thức phong áo tại đình làng để chuẩn bị rước ngai thánh ra đình tế lễ vào sáng hôm sau. Cuộc rước thánh diễn ra sáng sớm ngày 10/3. Khi đoàn rước về đến đình thì bắt đầu thực hiện nghi thức tế thánh, cầu phúc cho dân làng.

Hội làng Tư Thế hấp dẫn với đánh cờ người

Phần lễ diễn ra trọng thế tại đình, phần hội sổi nổi ở khu trung tâm văn hóa với nhiều trò chơi hấp dẫn như: cờ người, bóng bàn, bóng chuyền, cầu lông... Buổi có có biểu diễn nhiều tiết mục văn nghệ.

Ngày hội làng thu hút đông đảo người dân địa phương, con em trong làng đi làm ăn xa hồi hương và cả du khách thập phương.

Related Figures

Hội làng Long Khám

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 20/8 Âm lịch Hội làng Long Khám được tổ chức ngày 20/8 tại làng Long Khám, xã Việt Đoàn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Đặc trưng của hội làng Long Khám là cục cướp cây mộc tất (cây gỗ đỏ) dành cho trai đinh trong làng. Cuộc cướp có thể diễn ra thâu đêm suốt sáng. Long Khám có truyền thống vật võ nổi tiếng Long Khám là vùng đất có truyền thống võ vật nổi tiếng, tục cướp cây mộc tất trong hội làng thể hiện tinh thần thượng võ của Thành hoàng làng Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn. Hàng năm, người dân lấy ngày mất của Đức thành hoàng Trần Quốc Tuấn là ngày mở hội làng. Hội làng Long Khám diễn lại chiến tích của thành hoàng làng, đặc sắc nhất là nghi thức cướp cây mộc tất. Cuộc cướp diễn ra từ đêm hôm trước tới sáng ngày hôm sau dành cho trai đinh của làng Long Khám. Nghi thức cướp cây mộc tất diễn ra như sau: làng Long Khám chia 8 giáp ra làm 2, mỗi bên 4 giáp với đại diện các gia đình đứng ra đăng cai tổ chức lễ hội. Mỗi gia đình được cấp 3 sào ruộng để cấy lấy tiền sắm sửa lễ hội gồm: hương hoa, trầu cau, rượu ngon, đặc sản địa phương trám đen... Lễ vật trong hội làng Long Khám Đêm ngày 20/8, 8 giáp soạn lễ gà, lợn, xôi, rượu, trầu mang ra đình tế lễ. Rượu được đổ ra chum. Trám đen được nấu chín với giá rồi đổ ra chậu Phù Lãng để những người tham gia lễ hội được ăn uống no say. 8h tối, kỳ mục, tư văn tề tựu ở đình để tế thần. Sau phần tế lễ, toàn dân hội họp ăn uống ngay tại đình. Đến 12h đêm, khi chủ tế ra hiệu lệnh, mỗi bên chọn ra những trai đinh khỏe mạnh từ 20-50 tuổi của 4 giáp. Chủ tế cởi trần đóng khố, đồng thời cử hai ba người đánh trống lớn liên thanh. Chủ tế ném cây gỗ sơn đỏ ra sân đình. Trai đinh hai bên cùng vỗ tay, miệng la lớn "cướp cướp" và tranh giành nhau cây gỗ đỏ hòa trong tiếng trống và tiếng hô khiến đám hội trở nên náo nhiệt hơn. Bên nào cướp được thì bên ấy giành phần thắng. Sau khi cướp được, dân làng kéo cây gỗ từ sân đình ra ngoài đồng rồi ai về nhà đấy. 10h sáng hôm sau, viên kỳ mục trong xã ra đồng lấy cây gỗ này mang về ao trước đình rửa rồi cất vào hậu cung. Bên nào giành chiến thắng thì năm đó gặp may mắn, làm ăn thuận buồm xuôi gió. Ngoài nghi thức cướp cây mộc tất, lễ hội còn có lệ tiến nộp phụ nữ cho Thần để kỷ niệm lúc sinh thời Thần giúp nhà Lý đánh đuổi giặc Man khi chúng đốt phá đồn Đại Lịch, bắt phụ nữ của đồn. Lễ hội được tổ chức tại đình làng Long Khám. Với người dân nơi đây, lễ hội là dịp gắn kết toàn dân, tục cướp cây mộc tất cũng như tinh thần thượng võ sẽ trường tồn mãi cùng đất nước.

Hội làng Long Khám được tổ chức ngày 20/8 tại làng Long Khám, xã Việt Đoàn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Đặc trưng của hội làng Long Khám là cục cướp cây mộc tất (cây gỗ đỏ) dành cho trai đinh trong làng. Cuộc cướp có thể diễn ra thâu đêm suốt sáng. Long Khám có truyền thống vật võ nổi tiếng Long Khám là vùng đất có truyền thống võ vật nổi tiếng, tục cướp cây mộc tất trong hội làng thể hiện tinh thần thượng võ của Thành hoàng làng Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn. Hàng năm, người dân lấy ngày mất của Đức thành hoàng Trần Quốc Tuấn là ngày mở hội làng. Hội làng Long Khám diễn lại chiến tích của thành hoàng làng, đặc sắc nhất là nghi thức cướp cây mộc tất. Cuộc cướp diễn ra từ đêm hôm trước tới sáng ngày hôm sau dành cho trai đinh của làng Long Khám. Nghi thức cướp cây mộc tất diễn ra như sau: làng Long Khám chia 8 giáp ra làm 2, mỗi bên 4 giáp với đại diện các gia đình đứng ra đăng cai tổ chức lễ hội. Mỗi gia đình được cấp 3 sào ruộng để cấy lấy tiền sắm sửa lễ hội gồm: hương hoa, trầu cau, rượu ngon, đặc sản địa phương trám đen... Lễ vật trong hội làng Long Khám Đêm ngày 20/8, 8 giáp soạn lễ gà, lợn, xôi, rượu, trầu mang ra đình tế lễ. Rượu được đổ ra chum. Trám đen được nấu chín với giá rồi đổ ra chậu Phù Lãng để những người tham gia lễ hội được ăn uống no say. 8h tối, kỳ mục, tư văn tề tựu ở đình để tế thần. Sau phần tế lễ, toàn dân hội họp ăn uống ngay tại đình. Đến 12h đêm, khi chủ tế ra hiệu lệnh, mỗi bên chọn ra những trai đinh khỏe mạnh từ 20-50 tuổi của 4 giáp. Chủ tế cởi trần đóng khố, đồng thời cử hai ba người đánh trống lớn liên thanh. Chủ tế ném cây gỗ sơn đỏ ra sân đình. Trai đinh hai bên cùng vỗ tay, miệng la lớn "cướp cướp" và tranh giành nhau cây gỗ đỏ hòa trong tiếng trống và tiếng hô khiến đám hội trở nên náo nhiệt hơn. Bên nào cướp được thì bên ấy giành phần thắng. Sau khi cướp được, dân làng kéo cây gỗ từ sân đình ra ngoài đồng rồi ai về nhà đấy. 10h sáng hôm sau, viên kỳ mục trong xã ra đồng lấy cây gỗ này mang về ao trước đình rửa rồi cất vào hậu cung. Bên nào giành chiến thắng thì năm đó gặp may mắn, làm ăn thuận buồm xuôi gió. Ngoài nghi thức cướp cây mộc tất, lễ hội còn có lệ tiến nộp phụ nữ cho Thần để kỷ niệm lúc sinh thời Thần giúp nhà Lý đánh đuổi giặc Man khi chúng đốt phá đồn Đại Lịch, bắt phụ nữ của đồn. Lễ hội được tổ chức tại đình làng Long Khám. Với người dân nơi đây, lễ hội là dịp gắn kết toàn dân, tục cướp cây mộc tất cũng như tinh thần thượng võ sẽ trường tồn mãi cùng đất nước.

Hội làng Long Khám được tổ chức ngày 20/8 tại làng Long Khám, xã Việt Đoàn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Đặc trưng của hội làng Long Khám là cục cướp cây mộc tất (cây gỗ đỏ) dành cho trai đinh trong làng. Cuộc cướp có thể diễn ra thâu đêm suốt sáng. Long Khám có truyền thống vật võ nổi tiếng Long Khám là vùng đất có truyền thống võ vật nổi tiếng, tục cướp cây mộc tất trong hội làng thể hiện tinh thần thượng võ của Thành hoàng làng Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn. Hàng năm, người dân lấy ngày mất của Đức thành hoàng Trần Quốc Tuấn là ngày mở hội làng. Hội làng Long Khám diễn lại chiến tích của thành hoàng làng, đặc sắc nhất là nghi thức cướp cây mộc tất. Cuộc cướp diễn ra từ đêm hôm trước tới sáng ngày hôm sau dành cho trai đinh của làng Long Khám. Nghi thức cướp cây mộc tất diễn ra như sau: làng Long Khám chia 8 giáp ra làm 2, mỗi bên 4 giáp với đại diện các gia đình đứng ra đăng cai tổ chức lễ hội. Mỗi gia đình được cấp 3 sào ruộng để cấy lấy tiền sắm sửa lễ hội gồm: hương hoa, trầu cau, rượu ngon, đặc sản địa phương trám đen... Lễ vật trong hội làng Long Khám Đêm ngày 20/8, 8 giáp soạn lễ gà, lợn, xôi, rượu, trầu mang ra đình tế lễ. Rượu được đổ ra chum. Trám đen được nấu chín với giá rồi đổ ra chậu Phù Lãng để những người tham gia lễ hội được ăn uống no say. 8h tối, kỳ mục, tư văn tề tựu ở đình để tế thần. Sau phần tế lễ, toàn dân hội họp ăn uống ngay tại đình. Đến 12h đêm, khi chủ tế ra hiệu lệnh, mỗi bên chọn ra những trai đinh khỏe mạnh từ 20-50 tuổi của 4 giáp. Chủ tế cởi trần đóng khố, đồng thời cử hai ba người đánh trống lớn liên thanh. Chủ tế ném cây gỗ sơn đỏ ra sân đình. Trai đinh hai bên cùng vỗ tay, miệng la lớn "cướp cướp" và tranh giành nhau cây gỗ đỏ hòa trong tiếng trống và tiếng hô khiến đám hội trở nên náo nhiệt hơn. Bên nào cướp được thì bên ấy giành phần thắng. Sau khi cướp được, dân làng kéo cây gỗ từ sân đình ra ngoài đồng rồi ai về nhà đấy. 10h sáng hôm sau, viên kỳ mục trong xã ra đồng lấy cây gỗ này mang về ao trước đình rửa rồi cất vào hậu cung. Bên nào giành chiến thắng thì năm đó gặp may mắn, làm ăn thuận buồm xuôi gió. Ngoài nghi thức cướp cây mộc tất, lễ hội còn có lệ tiến nộp phụ nữ cho Thần để kỷ niệm lúc sinh thời Thần giúp nhà Lý đánh đuổi giặc Man khi chúng đốt phá đồn Đại Lịch, bắt phụ nữ của đồn. Lễ hội được tổ chức tại đình làng Long Khám. Với người dân nơi đây, lễ hội là dịp gắn kết toàn dân, tục cướp cây mộc tất cũng như tinh thần thượng võ sẽ trường tồn mãi cùng đất nước.

Hội làng Long Khám được tổ chức ngày 20/8 tại làng Long Khám, xã Việt Đoàn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Đặc trưng của hội làng Long Khám là cục cướp cây mộc tất (cây gỗ đỏ) dành cho trai đinh trong làng. Cuộc cướp có thể diễn ra thâu đêm suốt sáng.

Long Khám có truyền thống vật võ nổi tiếng Long Khám là vùng đất có truyền thống võ vật nổi tiếng, tục cướp cây mộc tất trong hội làng thể hiện tinh thần thượng võ của Thành hoàng làng Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn. Hàng năm, người dân lấy ngày mất của Đức thành hoàng Trần Quốc Tuấn là ngày mở hội làng. Hội làng Long Khám diễn lại chiến tích của thành hoàng làng, đặc sắc nhất là nghi thức cướp cây mộc tất. Cuộc cướp diễn ra từ đêm hôm trước tới sáng ngày hôm sau dành cho trai đinh của làng Long Khám. Nghi thức cướp cây mộc tất diễn ra như sau: làng Long Khám chia 8 giáp ra làm 2, mỗi bên 4 giáp với đại diện các gia đình đứng ra đăng cai tổ chức lễ hội. Mỗi gia đình được cấp 3 sào ruộng để cấy lấy tiền sắm sửa lễ hội gồm: hương hoa, trầu cau, rượu ngon, đặc sản địa phương trám đen... Lễ vật trong hội làng Long Khám Đêm ngày 20/8, 8 giáp soạn lễ gà, lợn, xôi, rượu, trầu mang ra đình tế lễ. Rượu được đổ ra chum. Trám đen được nấu chín với giá rồi đổ ra chậu Phù Lãng để những người tham gia lễ hội được ăn uống no say. 8h tối, kỳ mục, tư văn tề tựu ở đình để tế thần. Sau phần tế lễ, toàn dân hội họp ăn uống ngay tại đình. Đến 12h đêm, khi chủ tế ra hiệu lệnh, mỗi bên chọn ra những trai đinh khỏe mạnh từ 20-50 tuổi của 4 giáp. Chủ tế cởi trần đóng khố, đồng thời cử hai ba người đánh trống lớn liên thanh. Chủ tế ném cây gỗ sơn đỏ ra sân đình. Trai đinh hai bên cùng vỗ tay, miệng la lớn "cướp cướp" và tranh giành nhau cây gỗ đỏ hòa trong tiếng trống và tiếng hô khiến đám hội trở nên náo nhiệt hơn. Bên nào cướp được thì bên ấy giành phần thắng. Sau khi cướp được, dân làng kéo cây gỗ từ sân đình ra ngoài đồng rồi ai về nhà đấy. 10h sáng hôm sau, viên kỳ mục trong xã ra đồng lấy cây gỗ này mang về ao trước đình rửa rồi cất vào hậu cung. Bên nào giành chiến thắng thì năm đó gặp may mắn, làm ăn thuận buồm xuôi gió. Ngoài nghi thức cướp cây mộc tất, lễ hội còn có lệ tiến nộp phụ nữ cho Thần để kỷ niệm lúc sinh thời Thần giúp nhà Lý đánh đuổi giặc Man khi chúng đốt phá đồn Đại Lịch, bắt phụ nữ của đồn. Lễ hội được tổ chức tại đình làng Long Khám. Với người dân nơi đây, lễ hội là dịp gắn kết toàn dân, tục cướp cây mộc tất cũng như tinh thần thượng võ sẽ trường tồn mãi cùng đất nước.

Long Khám là vùng đất có truyền thống võ vật nổi tiếng, tục cướp cây mộc tất trong hội làng thể hiện tinh thần thượng võ của Thành hoàng làng Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn. Hàng năm, người dân lấy ngày mất của Đức thành hoàng Trần Quốc Tuấn là ngày mở hội làng.

Hội làng Long Khám diễn lại chiến tích của thành hoàng làng, đặc sắc nhất là nghi thức cướp cây mộc tất. Cuộc cướp diễn ra từ đêm hôm trước tới sáng ngày hôm sau dành cho trai đinh của làng Long Khám. Nghi thức cướp cây mộc tất diễn ra như sau: làng Long Khám chia 8 giáp ra làm 2, mỗi bên 4 giáp với đại diện các gia đình đứng ra đăng cai tổ chức lễ hội. Mỗi gia đình được cấp 3 sào ruộng để cấy lấy tiền sắm sửa lễ hội gồm: hương hoa, trầu cau, rượu ngon, đặc sản địa phương trám đen...

Lễ vật trong hội làng Long Khám

Đêm ngày 20/8, 8 giáp soạn lễ gà, lợn, xôi, rượu, trầu mang ra đình tế lễ. Rượu được đổ ra chum. Trám đen được nấu chín với giá rồi đổ ra chậu Phù Lãng để những người tham gia lễ hội được ăn uống no say. 8h tối, kỳ mục, tư văn tề tựu ở đình để tế thần. Sau phần tế lễ, toàn dân hội họp ăn uống ngay tại đình. Đến 12h đêm, khi chủ tế ra hiệu lệnh, mỗi bên chọn ra những trai đinh khỏe mạnh từ 20-50 tuổi của 4 giáp. Chủ tế cởi trần đóng khố, đồng thời cử hai ba người đánh trống lớn liên thanh. Chủ tế ném cây gỗ sơn đỏ ra sân đình. Trai đinh hai bên cùng vỗ tay, miệng la lớn "cướp cướp" và tranh giành nhau cây gỗ đỏ hòa trong tiếng trống và tiếng hô khiến đám hội trở nên náo nhiệt hơn. Bên nào cướp được thì bên ấy giành phần thắng. Sau khi cướp được, dân làng kéo cây gỗ từ sân đình ra ngoài đồng rồi ai về nhà đấy. 10h sáng hôm sau, viên kỳ mục trong xã ra đồng lấy cây gỗ này mang về ao trước đình rửa rồi cất vào hậu cung. Bên nào giành chiến thắng thì năm đó gặp may mắn, làm ăn thuận buồm xuôi gió.

Ngoài nghi thức cướp cây mộc tất, lễ hội còn có lệ tiến nộp phụ nữ cho Thần để kỷ niệm lúc sinh thời Thần giúp nhà Lý đánh đuổi giặc Man khi chúng đốt phá đồn Đại Lịch, bắt phụ nữ của đồn.

Lễ hội được tổ chức tại đình làng Long Khám. Với người dân nơi đây, lễ hội là dịp gắn kết toàn dân, tục cướp cây mộc tất cũng như tinh thần thượng võ sẽ trường tồn mãi cùng đất nước.

Related Figures

Hội làng Hựu tỉnh Bắc Giang

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 19/1- 20/1 Âm lịch Ngày 19-20/1 âm lịch hàng năm, người dân làng Hựu và nhân dân trong vùng được sống trong không khí lễ hội tưng bừng của ngày hội làng. Đông đảo người dân tham gia hội làng Hụi Làng Hựu là ngôi làng cổ thuộc tổng Trù Hựu, huyện Lục Na (nay là xã Trù Hựu, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang). Làng Hựu có truyền thống văn hóa cộng đồng bền chặt từ bao đời nay. Khu di tích đền, chùa Hựu là công trình kiến trúc cố kính từ thời Lê Mạc. Nơi đây còn lưu giữ nhiều tài liệu, hiện vật có giá trị, sắc phong của các triều đại. Ngày 31/12/2003, khu di tích được UBND tỉnh Bắc Giang cấp bằng công nhận "Di tích Lịch sử - Văn hóa". Kể từ đó, thôn Hựu lấy ngày đón bằng công nhận "Di tích Lịch sử - Văn hóa" (ngày âm 20 tháng Giêng) là ngày hội làng thường niên. Hát quan họ là nét văn hóa đặc sắc hội làng Hui Hội làng là dịp ôn lại truyền thống và tưởng nhớ công đức của hai tướng quân Cao Sơn, Quý Minh và các vị anh hùng dân tộc đã có công đánh đuổi giặc ngoại xâm, mang lại cuộc sống bình yên cho nhân dân. Phần lễ được cử hành trang trọng, có lễ dâng hương, rước sắc phong, tế lễ. Phần hội diễn ra sôi nổi với nhiều trò chơi dân gian hấp dẫn như: cờ bỏi, đẩy gậy, kéo co, chọi gà, bịt mắt đập niêu, bắt vịt dưới hồ... Đặc biệt, trong hội làng Hựu còn có giao lưu văn nghệ giữa các thôn, làng lân cận, phần hát quan họ trên thuyền gây bất ngờ cho du khách. Thi lễ trong hội làng Hụi Đặc sắc của hội làng Hụi là phần thi lễ dâng cúng Thành hoàng làng. Mỗi gia tộc, dòng họ hay theo khu vực xóm, bản chuẩn bị một mâm lễ vật gồm: lợn, xôi, gà, hoa quả... dâng cúng Thành hoàng tại đình làng. Sau đó, đem ra trưng bày thi lễ. Phần thi có chấm điểm, xếp hạng và trao giải. Hội làng Hụi vẫn giữ được truyền thống văn hóa, không bị biến tướng như những lễ hội khác. Các nghi lễ trang trọng, cung kính, không chen lấn, xô đẩy, không nói to văng tục. Hội làng chính là chất keo kết dính cộng đồng, góp phần nâng cao đời sống tinh thần, xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minh.

Đông đảo người dân tham gia hội làng Hụi Làng Hựu là ngôi làng cổ thuộc tổng Trù Hựu, huyện Lục Na (nay là xã Trù Hựu, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang). Làng Hựu có truyền thống văn hóa cộng đồng bền chặt từ bao đời nay. Khu di tích đền, chùa Hựu là công trình kiến trúc cố kính từ thời Lê Mạc. Nơi đây còn lưu giữ nhiều tài liệu, hiện vật có giá trị, sắc phong của các triều đại. Ngày 31/12/2003, khu di tích được UBND tỉnh Bắc Giang cấp bằng công nhận "Di tích Lịch sử - Văn hóa". Kể từ đó, thôn Hựu lấy ngày đón bằng công nhận "Di tích Lịch sử - Văn hóa" (ngày âm 20 tháng Giêng) là ngày hội làng thường niên. Hát quan họ là nét văn hóa đặc sắc hội làng Hui Hội làng là dịp ôn lại truyền thống và tưởng nhớ công đức của hai tướng quân Cao Sơn, Quý Minh và các vị anh hùng dân tộc đã có công đánh đuổi giặc ngoại xâm, mang lại cuộc sống bình yên cho nhân dân. Phần lễ được cử hành trang trọng, có lễ dâng hương, rước sắc phong, tế lễ. Phần hội diễn ra sôi nổi với nhiều trò chơi dân gian hấp dẫn như: cờ bỏi, đẩy gậy, kéo co, chọi gà, bịt mắt đập niêu, bắt vịt dưới hồ... Đặc biệt, trong hội làng Hựu còn có giao lưu văn nghệ giữa các thôn, làng lân cận, phần hát quan họ trên thuyền gây bất ngờ cho du khách. Thi lễ trong hội làng Hụi Đặc sắc của hội làng Hụi là phần thi lễ dâng cúng Thành hoàng làng. Mỗi gia tộc, dòng họ hay theo khu vực xóm, bản chuẩn bị một mâm lễ vật gồm: lợn, xôi, gà, hoa quả... dâng cúng Thành hoàng tại đình làng. Sau đó, đem ra trưng bày thi lễ. Phần thi có chấm điểm, xếp hạng và trao giải. Hội làng Hụi vẫn giữ được truyền thống văn hóa, không bị biến tướng như những lễ hội khác. Các nghi lễ trang trọng, cung kính, không chen lấn, xô đẩy, không nói to văng tục. Hội làng chính là chất keo kết dính cộng đồng, góp phần nâng cao đời sống tinh thần, xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minh.

Làng Hựu là ngôi làng cổ thuộc tổng Trù Hựu, huyện Lục Na (nay là xã Trù Hựu, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang). Làng Hựu có truyền thống văn hóa cộng đồng bền chặt từ bao đời nay. Khu di tích đền, chùa Hựu là công trình kiến trúc cố kính từ thời Lê Mạc. Nơi đây còn lưu giữ nhiều tài liệu, hiện vật có giá trị, sắc phong của các triều đại. Ngày 31/12/2003, khu di tích được UBND tỉnh Bắc Giang cấp bằng công nhận "Di tích Lịch sử - Văn hóa". Kể từ đó, thôn Hựu lấy ngày đón bằng công nhận "Di tích Lịch sử - Văn hóa" (ngày âm 20 tháng Giêng) là ngày hội làng thường niên.

Hát quan họ là nét văn hóa đặc sắc hội làng Hui

Hội làng là dịp ôn lại truyền thống và tưởng nhớ công đức của hai tướng quân Cao Sơn, Quý Minh và các vị anh hùng dân tộc đã có công đánh đuổi giặc ngoại xâm, mang lại cuộc sống bình yên cho nhân dân. Phần lễ được cử hành trang trọng, có lễ dâng hương, rước sắc phong, tế lễ. Phần hội diễn ra sôi nổi với nhiều trò chơi dân gian hấp dẫn như: cờ bỏi, đẩy gậy, kéo co, chọi gà, bịt mắt đập niêu, bắt vịt dưới hồ... Đặc biệt, trong hội làng Hựu còn có giao lưu văn nghệ giữa các thôn, làng lân cận, phần hát quan họ trên thuyền gây bất ngờ cho du khách.

Thi lễ trong hội làng Hụi

Đặc sắc của hội làng Hụi là phần thi lễ dâng cúng Thành hoàng làng. Mỗi gia tộc, dòng họ hay theo khu vực xóm, bản chuẩn bị một mâm lễ vật gồm: lợn, xôi, gà, hoa quả... dâng cúng Thành hoàng tại đình làng. Sau đó, đem ra trưng bày thi lễ. Phần thi có chấm điểm, xếp hạng và trao giải. Hội làng Hụi vẫn giữ được truyền thống văn hóa, không bị biến tướng như những lễ hội khác. Các nghi lễ trang trọng, cung kính, không chen lấn, xô đẩy, không nói to văng tục.

Hội làng chính là chất keo kết dính cộng đồng, góp phần nâng cao đời sống tinh thần, xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minh.

Related Figures

Hội Đức Vua Bà

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 7/2 Âm lịch Hội Đức Vua Bà tổ chức ngày 6-7/2 âm lịch, là lễ hội quan trọng nhất của làng Viêm Xá, xã Hòa Long, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Đây là lễ hội Thủy tổ quan họ, mọi hoạt động trong lễ hội đều liên quan trực tiếp đến quan họ. Lễ rước hội Đức Vua Bà Thôn Quả Cảm (thuộc xã Hòa Long) là ngôi làng cổ ở chân dãy núi Quả Cảm. Đây là vùng đất sơn thủy hữu tình, địa linh nhân kiệt, là quê hương của Đức Vua Bà được 72 thôn làng trong vùng thờ làm Thành hoàng. Hội Đức Vua Bà là lễ hội Thủy tổ quan họ Hội Đức Vua Bà tổ chức ngày 6-7/2 âm lịch. Tương truyền, ngày 6/2 là ngày Đức Vua Bà được trời giáng xuống ấp Viêm Trang (nay là làng Viêm Xá). Bà là con gái vua Hùng. Khi bà tới tuổi cấp kê, rất nhiều người tới cầu hôn. Vua Hùng phải tổ chức hội cướp cầu để tuyển chọn phò mã. Tuy nhiên, bà không ưng thuận lấy người thắng cuộc, xin vua cha cho đi chu du trong nước. Khi bà và các thị nữ vừa rời khỏi kinh thành thì xuất hiện cơn mưa giông to, gió lớn cuốn cả đoàn người lên trời rồi lại giáng xuống ấp Viêm Trang. Viêm Trang khi ấy là vùng đất hoang sơ, cây đước, lau sậy um tùm. Bà tổ chức khai hoang, bờ bãi, lập nên ruộng đồng, xóm làng, dựng vợ gả chồng cho mọi người. Bà cũng dạy người dân nơi đây cách làm ruộng, trồng mía kéo mật, trồng dâu, nuôi tằm... Bà cũng sáng tác nhiều làn điệu quan họ và dạy người dân hát. Sau khi mất, bà được dân làng tôn vinh là Đức Vương Mẫu, Vua Bà - Thủy tổ quan họ và là Phúc Thần. Chính hội là 6/2 nhưng ngay từ chiều ngày 5, dân làng Viêm Xá đã tổ chức lễ mở cửa đền, dâng hương, lễ cầu mưa rửa đền. Lễ tế Thần ngày 6 bao giờ cũng có hát quan họ ca ngợi công đức to lớn của Vua Bà, cầu Đức Vua Bà phù hộ mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, làm ăn thuận lợi. Hát thờ ở đền Vua Bà chỉ được sử dụng giọng La rằng. Sau này, dân làng Viêm Xá còn dựng và diễn sự tích Vua Bà ở sân đền. Đền thờ Đức Vua bà nơi diễn ra lễ hội Đền thờ Đức Vua Bà là ngôi đền gắn với văn hóa tâm linh, tín ngưỡng thờ Mẫu, góp phần làm nên sắc thái văn hóa xứ Kinh Bắc.

Lễ rước hội Đức Vua Bà Thôn Quả Cảm (thuộc xã Hòa Long) là ngôi làng cổ ở chân dãy núi Quả Cảm. Đây là vùng đất sơn thủy hữu tình, địa linh nhân kiệt, là quê hương của Đức Vua Bà được 72 thôn làng trong vùng thờ làm Thành hoàng. Hội Đức Vua Bà là lễ hội Thủy tổ quan họ Hội Đức Vua Bà tổ chức ngày 6-7/2 âm lịch. Tương truyền, ngày 6/2 là ngày Đức Vua Bà được trời giáng xuống ấp Viêm Trang (nay là làng Viêm Xá). Bà là con gái vua Hùng. Khi bà tới tuổi cấp kê, rất nhiều người tới cầu hôn. Vua Hùng phải tổ chức hội cướp cầu để tuyển chọn phò mã. Tuy nhiên, bà không ưng thuận lấy người thắng cuộc, xin vua cha cho đi chu du trong nước. Khi bà và các thị nữ vừa rời khỏi kinh thành thì xuất hiện cơn mưa giông to, gió lớn cuốn cả đoàn người lên trời rồi lại giáng xuống ấp Viêm Trang. Viêm Trang khi ấy là vùng đất hoang sơ, cây đước, lau sậy um tùm. Bà tổ chức khai hoang, bờ bãi, lập nên ruộng đồng, xóm làng, dựng vợ gả chồng cho mọi người. Bà cũng dạy người dân nơi đây cách làm ruộng, trồng mía kéo mật, trồng dâu, nuôi tằm... Bà cũng sáng tác nhiều làn điệu quan họ và dạy người dân hát. Sau khi mất, bà được dân làng tôn vinh là Đức Vương Mẫu, Vua Bà - Thủy tổ quan họ và là Phúc Thần. Chính hội là 6/2 nhưng ngay từ chiều ngày 5, dân làng Viêm Xá đã tổ chức lễ mở cửa đền, dâng hương, lễ cầu mưa rửa đền. Lễ tế Thần ngày 6 bao giờ cũng có hát quan họ ca ngợi công đức to lớn của Vua Bà, cầu Đức Vua Bà phù hộ mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, làm ăn thuận lợi. Hát thờ ở đền Vua Bà chỉ được sử dụng giọng La rằng. Sau này, dân làng Viêm Xá còn dựng và diễn sự tích Vua Bà ở sân đền. Đền thờ Đức Vua bà nơi diễn ra lễ hội Đền thờ Đức Vua Bà là ngôi đền gắn với văn hóa tâm linh, tín ngưỡng thờ Mẫu, góp phần làm nên sắc thái văn hóa xứ Kinh Bắc.

Thôn Quả Cảm (thuộc xã Hòa Long) là ngôi làng cổ ở chân dãy núi Quả Cảm. Đây là vùng đất sơn thủy hữu tình, địa linh nhân kiệt, là quê hương của Đức Vua Bà được 72 thôn làng trong vùng thờ làm Thành hoàng.

Hội Đức Vua Bà là lễ hội Thủy tổ quan họ

Hội Đức Vua Bà tổ chức ngày 6-7/2 âm lịch. Tương truyền, ngày 6/2 là ngày Đức Vua Bà được trời giáng xuống ấp Viêm Trang (nay là làng Viêm Xá). Bà là con gái vua Hùng. Khi bà tới tuổi cấp kê, rất nhiều người tới cầu hôn. Vua Hùng phải tổ chức hội cướp cầu để tuyển chọn phò mã. Tuy nhiên, bà không ưng thuận lấy người thắng cuộc, xin vua cha cho đi chu du trong nước. Khi bà và các thị nữ vừa rời khỏi kinh thành thì xuất hiện cơn mưa giông to, gió lớn cuốn cả đoàn người lên trời rồi lại giáng xuống ấp Viêm Trang.

Viêm Trang khi ấy là vùng đất hoang sơ, cây đước, lau sậy um tùm. Bà tổ chức khai hoang, bờ bãi, lập nên ruộng đồng, xóm làng, dựng vợ gả chồng cho mọi người. Bà cũng dạy người dân nơi đây cách làm ruộng, trồng mía kéo mật, trồng dâu, nuôi tằm... Bà cũng sáng tác nhiều làn điệu quan họ và dạy người dân hát. Sau khi mất, bà được dân làng tôn vinh là Đức Vương Mẫu, Vua Bà - Thủy tổ quan họ và là Phúc Thần. Chính hội là 6/2 nhưng ngay từ chiều ngày 5, dân làng Viêm Xá đã tổ chức lễ mở cửa đền, dâng hương, lễ cầu mưa rửa đền. Lễ tế Thần ngày 6 bao giờ cũng có hát quan họ ca ngợi công đức to lớn của Vua Bà, cầu Đức Vua Bà phù hộ mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, làm ăn thuận lợi. Hát thờ ở đền Vua Bà chỉ được sử dụng giọng La rằng. Sau này, dân làng Viêm Xá còn dựng và diễn sự tích Vua Bà ở sân đền. Đền thờ Đức Vua bà nơi diễn ra lễ hội Đền thờ Đức Vua Bà là ngôi đền gắn với văn hóa tâm linh, tín ngưỡng thờ Mẫu, góp phần làm nên sắc thái văn hóa xứ Kinh Bắc.

Chính hội là 6/2 nhưng ngay từ chiều ngày 5, dân làng Viêm Xá đã tổ chức lễ mở cửa đền, dâng hương, lễ cầu mưa rửa đền. Lễ tế Thần ngày 6 bao giờ cũng có hát quan họ ca ngợi công đức to lớn của Vua Bà, cầu Đức Vua Bà phù hộ mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, làm ăn thuận lợi. Hát thờ ở đền Vua Bà chỉ được sử dụng giọng La rằng. Sau này, dân làng Viêm Xá còn dựng và diễn sự tích Vua Bà ở sân đền. Đền thờ Đức Vua bà nơi diễn ra lễ hội Đền thờ Đức Vua Bà là ngôi đền gắn với văn hóa tâm linh, tín ngưỡng thờ Mẫu, góp phần làm nên sắc thái văn hóa xứ Kinh Bắc.

Chính hội là 6/2 nhưng ngay từ chiều ngày 5, dân làng Viêm Xá đã tổ chức lễ mở cửa đền, dâng hương, lễ cầu mưa rửa đền. Lễ tế Thần ngày 6 bao giờ cũng có hát quan họ ca ngợi công đức to lớn của Vua Bà, cầu Đức Vua Bà phù hộ mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, làm ăn thuận lợi. Hát thờ ở đền Vua Bà chỉ được sử dụng giọng La rằng. Sau này, dân làng Viêm Xá còn dựng và diễn sự tích Vua Bà ở sân đền.

Đền thờ Đức Vua bà nơi diễn ra lễ hội

Đền thờ Đức Vua Bà là ngôi đền gắn với văn hóa tâm linh, tín ngưỡng thờ Mẫu, góp phần làm nên sắc thái văn hóa xứ Kinh Bắc.

Related Figures

Hội làng Đông Hồ tỉnh Bắc Ninh

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 14/3- 16/3 Âm lịch Hội làng Đông Hồ diễn ra từ 14-16/3 âm lịch tại xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Hội làng Đông Hồ mang đặc trưng của hội làng nghề. Hội làng tranh Đông Hồ tại Bắc Ninh Làng Đông Hồ là làng nghề nổi tiếng với nghề làm tranh dân gian. Nghề làm tranh và làm vàng mã đồng hành cùng nhau. Hàng năm, từ tháng 3-7, người dân làm đồ vàng mã. Từ tháng 8-12, dân làng Đông Hồ làm tranh dân gian. Làng Đông Hồ còn có tên gọi khác là làng Mái. Các cụ làng Đông Hồ vẫn truyền lại mấy câu ca: Hỡi cô thắt lưng bao xanh Có về làng Mái với anh thì về Làng Mái có lịch có lề Có sông tắm mát có nghề làm tranh Đông Hồ nổi tiếng với nghề làm tranh dân gian Ngay từ những ngày đầu tháng 3, người dân làng Đông Hồ bắt đầu chuẩn bị những sản phẩm vàng mã để trưng bày trong hội làng. Mỗi dòng họ trong làng được phân công làm một vật phẩm. Trong quá trình làm vật phẩm, các dòng họ quây quần bên nhau, chia sẻ những câu chuyện trong cuộc sống, công việc làm ăn, buôn bán. Những vật phẩm được dùng trong ngày hội luôn hài hòa và đẹp mắt. Trong hội làng có những nghi thức truyền thống như: tế thần, thi mã, thi tranh rất vui vẻ. Dân làng lưu truyền câu ca: Hỡi anh đi đường cái quan Dừng chân ngắm cảnh mà tan nỗi sầu Mua tờ tranh điệp tươi màu Mua đàn gà lợn thi nhau đẻ nhiều. Nghệ nhân làng tranh dân gian Đông Hồ Những năm gần đây, tranh Đông Hồ ít được treo trong dịp lễ hội. Lễ hội bây giờ chỉ tập trung vào đồ mã. Khi giã hội ngày 16/3 âm lịch, những đồ mã trưng bày được hóa với ước nguyện một năm thuận hòa, quốc thái dân an, cuộc sống no đủ. Những ngày diễn ra lễ hội, du khách muốn xem tranh Đông Hồ có thể tham quan ở gia đình các nghệ nhân trong làng.

Hội làng tranh Đông Hồ tại Bắc Ninh Làng Đông Hồ là làng nghề nổi tiếng với nghề làm tranh dân gian. Nghề làm tranh và làm vàng mã đồng hành cùng nhau. Hàng năm, từ tháng 3-7, người dân làm đồ vàng mã. Từ tháng 8-12, dân làng Đông Hồ làm tranh dân gian. Làng Đông Hồ còn có tên gọi khác là làng Mái. Các cụ làng Đông Hồ vẫn truyền lại mấy câu ca: Hỡi cô thắt lưng bao xanh Có về làng Mái với anh thì về Làng Mái có lịch có lề Có sông tắm mát có nghề làm tranh Đông Hồ nổi tiếng với nghề làm tranh dân gian Ngay từ những ngày đầu tháng 3, người dân làng Đông Hồ bắt đầu chuẩn bị những sản phẩm vàng mã để trưng bày trong hội làng. Mỗi dòng họ trong làng được phân công làm một vật phẩm. Trong quá trình làm vật phẩm, các dòng họ quây quần bên nhau, chia sẻ những câu chuyện trong cuộc sống, công việc làm ăn, buôn bán. Những vật phẩm được dùng trong ngày hội luôn hài hòa và đẹp mắt. Trong hội làng có những nghi thức truyền thống như: tế thần, thi mã, thi tranh rất vui vẻ. Dân làng lưu truyền câu ca: Hỡi anh đi đường cái quan Dừng chân ngắm cảnh mà tan nỗi sầu Mua tờ tranh điệp tươi màu Mua đàn gà lợn thi nhau đẻ nhiều. Nghệ nhân làng tranh dân gian Đông Hồ Những năm gần đây, tranh Đông Hồ ít được treo trong dịp lễ hội. Lễ hội bây giờ chỉ tập trung vào đồ mã. Khi giã hội ngày 16/3 âm lịch, những đồ mã trưng bày được hóa với ước nguyện một năm thuận hòa, quốc thái dân an, cuộc sống no đủ. Những ngày diễn ra lễ hội, du khách muốn xem tranh Đông Hồ có thể tham quan ở gia đình các nghệ nhân trong làng.

Làng Đông Hồ là làng nghề nổi tiếng với nghề làm tranh dân gian. Nghề làm tranh và làm vàng mã đồng hành cùng nhau. Hàng năm, từ tháng 3-7, người dân làm đồ vàng mã. Từ tháng 8-12, dân làng Đông Hồ làm tranh dân gian. Làng Đông Hồ còn có tên gọi khác là làng Mái. Các cụ làng Đông Hồ vẫn truyền lại mấy câu ca: Hỡi cô thắt lưng bao xanh Có về làng Mái với anh thì về Làng Mái có lịch có lề Có sông tắm mát có nghề làm tranh Đông Hồ nổi tiếng với nghề làm tranh dân gian Ngay từ những ngày đầu tháng 3, người dân làng Đông Hồ bắt đầu chuẩn bị những sản phẩm vàng mã để trưng bày trong hội làng. Mỗi dòng họ trong làng được phân công làm một vật phẩm. Trong quá trình làm vật phẩm, các dòng họ quây quần bên nhau, chia sẻ những câu chuyện trong cuộc sống, công việc làm ăn, buôn bán. Những vật phẩm được dùng trong ngày hội luôn hài hòa và đẹp mắt. Trong hội làng có những nghi thức truyền thống như: tế thần, thi mã, thi tranh rất vui vẻ. Dân làng lưu truyền câu ca: Hỡi anh đi đường cái quan Dừng chân ngắm cảnh mà tan nỗi sầu Mua tờ tranh điệp tươi màu Mua đàn gà lợn thi nhau đẻ nhiều. Nghệ nhân làng tranh dân gian Đông Hồ Những năm gần đây, tranh Đông Hồ ít được treo trong dịp lễ hội. Lễ hội bây giờ chỉ tập trung vào đồ mã. Khi giã hội ngày 16/3 âm lịch, những đồ mã trưng bày được hóa với ước nguyện một năm thuận hòa, quốc thái dân an, cuộc sống no đủ. Những ngày diễn ra lễ hội, du khách muốn xem tranh Đông Hồ có thể tham quan ở gia đình các nghệ nhân trong làng.

Hỡi cô thắt lưng bao xanh Có về làng Mái với anh thì về Làng Mái có lịch có lề Có sông tắm mát có nghề làm tranh Đông Hồ nổi tiếng với nghề làm tranh dân gian Ngay từ những ngày đầu tháng 3, người dân làng Đông Hồ bắt đầu chuẩn bị những sản phẩm vàng mã để trưng bày trong hội làng. Mỗi dòng họ trong làng được phân công làm một vật phẩm. Trong quá trình làm vật phẩm, các dòng họ quây quần bên nhau, chia sẻ những câu chuyện trong cuộc sống, công việc làm ăn, buôn bán. Những vật phẩm được dùng trong ngày hội luôn hài hòa và đẹp mắt. Trong hội làng có những nghi thức truyền thống như: tế thần, thi mã, thi tranh rất vui vẻ. Dân làng lưu truyền câu ca: Hỡi anh đi đường cái quan Dừng chân ngắm cảnh mà tan nỗi sầu Mua tờ tranh điệp tươi màu Mua đàn gà lợn thi nhau đẻ nhiều. Nghệ nhân làng tranh dân gian Đông Hồ Những năm gần đây, tranh Đông Hồ ít được treo trong dịp lễ hội. Lễ hội bây giờ chỉ tập trung vào đồ mã. Khi giã hội ngày 16/3 âm lịch, những đồ mã trưng bày được hóa với ước nguyện một năm thuận hòa, quốc thái dân an, cuộc sống no đủ. Những ngày diễn ra lễ hội, du khách muốn xem tranh Đông Hồ có thể tham quan ở gia đình các nghệ nhân trong làng.

Nghệ nhân làng tranh dân gian Đông Hồ Những năm gần đây, tranh Đông Hồ ít được treo trong dịp lễ hội. Lễ hội bây giờ chỉ tập trung vào đồ mã. Khi giã hội ngày 16/3 âm lịch, những đồ mã trưng bày được hóa với ước nguyện một năm thuận hòa, quốc thái dân an, cuộc sống no đủ. Những ngày diễn ra lễ hội, du khách muốn xem tranh Đông Hồ có thể tham quan ở gia đình các nghệ nhân trong làng.

Related Figures

Hội chen Nga Hoàng

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 6/1- 15/1 Âm lịch Hội chen Nga Hoàng diễn ra tưng bừng từ 6-15/1 âm lịch tại xã Nga Hoàng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Hội Nga Hoàng là người chen người, chen ngã dúi ngã dụi, chen văng xuống ruộng xuống ao cho hết "nam nữ thụ thụ bất thân". Đình Nga Hoàng nơi diễn ra lễ hội Hội chen Nga Hoàng chia làm 4 giai đoạn. Ngày 6/1, cử hành tế lễ tại miếu làng. Giữa cuộc tế, trai làng và cả ông lão chạy đến chen lấn giữa gái làng và các bà lão, trẻ chen với trẻ, già dong với già. Xô đẩy, chen nhau rồi giằng co nhau. Nhiều chàng trai trong lúc xô đẩy có những cử chỉ mạnh bạo, đưa tay sờ soạn cô gái. Cố gái chống cự, chen lại. Cuộc chen lấn diễn ra hỗn loạn, tự do, phóng túng không câu nệ gì đạo đức. Chen lấn xong, dân làng bắt đầu phần rước bắt đầu từ miếu. Trong đám rước, bà lão và những cô gái tấn công, chen lấn lại trai làng và ông lão cho đến khi đám rước kết thúc. Sau đó, những cô gái trong làng tìm tới các chàng trai thiên hạ tới xem hội mà chen. Gặp khách xem hội là gái làng rủ nhau chen, có khi xô cả khách xuống ao bùn, xuống ruộng. Khách nào không muốn bị chen thì phải trốn lên cây hoặc trốn vào buồng kín một nhà nào đó trong làng. Các cô gái có thể vào nhà xin phép chủ nhà để chen khách: "thưa cụ, nhất niên nhất lệ. Hôm nay, chúng cháu được phép chen, xin phép cụ cho chúng cháu được chen với khách quý." Rồi các cô gái vào chen cho khách ngã dúi ngã dụi. Qua ngày 6/1, trong làng vẫn còn hội nhưng chỉ để dân làng lễ bái. Đến ngày 11/1, dân làng tổ chức tế lễ tại đình. Sau buổi tế, trai gái trong làng lại chen lấn nhau, đùa nghịch ngay trong sân đình. Những cặp có cảm tình với nhau tìm nơi tình tự hoặc tính chuyện đình Giáp non Vu. Đến ngày 15/1, dân làng làm lễ tại miếu trên núi. Giữa cuộc lễ, trai gái trong làng lại xổ đẩy, cùng nhau chen. Sau phần tế lễ là đám rước từ núi về đình. Dọc đường, nam nữ lại tự do chen lấn và đùa nghịch với nhau. Hội chen Nga Hoàng là lễ hội lớn ở huyện Quế Võ Hội chen Nga Hoàng là một lễ hội mang đậm màu sắc tín ngưỡng phồn thực với một nét riêng không lẫn vào đâu được của người dân nơi đây.

Đình Nga Hoàng nơi diễn ra lễ hội Hội chen Nga Hoàng chia làm 4 giai đoạn. Ngày 6/1, cử hành tế lễ tại miếu làng. Giữa cuộc tế, trai làng và cả ông lão chạy đến chen lấn giữa gái làng và các bà lão, trẻ chen với trẻ, già dong với già. Xô đẩy, chen nhau rồi giằng co nhau. Nhiều chàng trai trong lúc xô đẩy có những cử chỉ mạnh bạo, đưa tay sờ soạn cô gái. Cố gái chống cự, chen lại. Cuộc chen lấn diễn ra hỗn loạn, tự do, phóng túng không câu nệ gì đạo đức. Chen lấn xong, dân làng bắt đầu phần rước bắt đầu từ miếu. Trong đám rước, bà lão và những cô gái tấn công, chen lấn lại trai làng và ông lão cho đến khi đám rước kết thúc. Sau đó, những cô gái trong làng tìm tới các chàng trai thiên hạ tới xem hội mà chen. Gặp khách xem hội là gái làng rủ nhau chen, có khi xô cả khách xuống ao bùn, xuống ruộng. Khách nào không muốn bị chen thì phải trốn lên cây hoặc trốn vào buồng kín một nhà nào đó trong làng. Các cô gái có thể vào nhà xin phép chủ nhà để chen khách: "thưa cụ, nhất niên nhất lệ. Hôm nay, chúng cháu được phép chen, xin phép cụ cho chúng cháu được chen với khách quý." Rồi các cô gái vào chen cho khách ngã dúi ngã dụi. Qua ngày 6/1, trong làng vẫn còn hội nhưng chỉ để dân làng lễ bái. Đến ngày 11/1, dân làng tổ chức tế lễ tại đình. Sau buổi tế, trai gái trong làng lại chen lấn nhau, đùa nghịch ngay trong sân đình. Những cặp có cảm tình với nhau tìm nơi tình tự hoặc tính chuyện đình Giáp non Vu. Đến ngày 15/1, dân làng làm lễ tại miếu trên núi. Giữa cuộc lễ, trai gái trong làng lại xổ đẩy, cùng nhau chen. Sau phần tế lễ là đám rước từ núi về đình. Dọc đường, nam nữ lại tự do chen lấn và đùa nghịch với nhau. Hội chen Nga Hoàng là lễ hội lớn ở huyện Quế Võ Hội chen Nga Hoàng là một lễ hội mang đậm màu sắc tín ngưỡng phồn thực với một nét riêng không lẫn vào đâu được của người dân nơi đây.

Hội chen Nga Hoàng chia làm 4 giai đoạn. Ngày 6/1, cử hành tế lễ tại miếu làng. Giữa cuộc tế, trai làng và cả ông lão chạy đến chen lấn giữa gái làng và các bà lão, trẻ chen với trẻ, già dong với già. Xô đẩy, chen nhau rồi giằng co nhau. Nhiều chàng trai trong lúc xô đẩy có những cử chỉ mạnh bạo, đưa tay sờ soạn cô gái. Cố gái chống cự, chen lại. Cuộc chen lấn diễn ra hỗn loạn, tự do, phóng túng không câu nệ gì đạo đức. Chen lấn xong, dân làng bắt đầu phần rước bắt đầu từ miếu. Trong đám rước, bà lão và những cô gái tấn công, chen lấn lại trai làng và ông lão cho đến khi đám rước kết thúc. Sau đó, những cô gái trong làng tìm tới các chàng trai thiên hạ tới xem hội mà chen. Gặp khách xem hội là gái làng rủ nhau chen, có khi xô cả khách xuống ao bùn, xuống ruộng. Khách nào không muốn bị chen thì phải trốn lên cây hoặc trốn vào buồng kín một nhà nào đó trong làng. Các cô gái có thể vào nhà xin phép chủ nhà để chen khách: "thưa cụ, nhất niên nhất lệ. Hôm nay, chúng cháu được phép chen, xin phép cụ cho chúng cháu được chen với khách quý." Rồi các cô gái vào chen cho khách ngã dúi ngã dụi.

Qua ngày 6/1, trong làng vẫn còn hội nhưng chỉ để dân làng lễ bái. Đến ngày 11/1, dân làng tổ chức tế lễ tại đình. Sau buổi tế, trai gái trong làng lại chen lấn nhau, đùa nghịch ngay trong sân đình. Những cặp có cảm tình với nhau tìm nơi tình tự hoặc tính chuyện đình Giáp non Vu.

Đến ngày 15/1, dân làng làm lễ tại miếu trên núi. Giữa cuộc lễ, trai gái trong làng lại xổ đẩy, cùng nhau chen. Sau phần tế lễ là đám rước từ núi về đình. Dọc đường, nam nữ lại tự do chen lấn và đùa nghịch với nhau.

Hội chen Nga Hoàng là lễ hội lớn ở huyện Quế Võ

Hội chen Nga Hoàng là một lễ hội mang đậm màu sắc tín ngưỡng phồn thực với một nét riêng không lẫn vào đâu được của người dân nơi đây.

Related Figures

Hội làng Bồ Sơn

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 9/1- 12/1 Âm lịch Bồ Sơn là một trong 5 làng quan họ cổ nhất ở tỉnh Bắc Ninh. Hội Bồ Sơn được tổ chức từ 9-12/1 âm lịch, mời kết chạ kết nghĩa tới hát nghi lễ, hát giao duyên. Bồ Sơn là làng quan họ cổ ở Bắc Ninh Giờ đây, Bồ Sơn đã có nhiều thay đổi, hiện đại hơn, nhà cao tầng mọc lên nhiều hơn, đường đi được bê tông hóa... nhưng Bồ Sơn vẫn giữ cho mình nét cổ kính của đình chùa, cổng làng rêu phong, đặc biệt là quan họ cổ. Chỉ khi đến đây mới thấy được quan họ có sức sống, sức cuốn hút mãnh liệt đến nhường nào đối với người dân địa phương và hiểu được vì sao Quan họ cổ có sức quyến rũ, lay động kỳ ảo đến vậy với du khách thập phương. Người hát quan họ không chỉ hát bằng chất giọng "Vang - rền, nền - nẩy" mà còn hát bằng cả ánh mắt. Vì vậy mới có câu "Mắt em lúng liếng đáy trời. Hễ ai vướng phải một đời ngẩn ngơ". Quan họ có sức hút mãnh liệt trong hội Bồ Sơn Du khách tham gia hội làng có cảm giác ngợp trong sắc xuân, trong muôn câu ca quan họ. Ở trong sân đình, các cụ cao niên hát tiếp khách thập phương. Ở ngoài ao làng, các liền anh liền chị chèo thuyền rồng hát đối đáp cả ngày. Liền anh liền chị chèo thuyền rồng hát quan họ Các làng quan họ từ xưa có tục kết chạ với nhau. Làng Bồ Sơn kết chạ với làng Y Na, khi kết chạ thì xem như anh em trong nhà không được lấy nhau làm vợ chồng. Quan họ có một sức hút lạ kì. Người tham gia hội khó có thể dứt khỏi làn điệu quan họ mà ra về trong chốc lát. Du khách ra về vương vấn trong lời mời nồng hậu của người quan họ "người ơi người ở đừng về".

Bồ Sơn là làng quan họ cổ ở Bắc Ninh Giờ đây, Bồ Sơn đã có nhiều thay đổi, hiện đại hơn, nhà cao tầng mọc lên nhiều hơn, đường đi được bê tông hóa... nhưng Bồ Sơn vẫn giữ cho mình nét cổ kính của đình chùa, cổng làng rêu phong, đặc biệt là quan họ cổ. Chỉ khi đến đây mới thấy được quan họ có sức sống, sức cuốn hút mãnh liệt đến nhường nào đối với người dân địa phương và hiểu được vì sao Quan họ cổ có sức quyến rũ, lay động kỳ ảo đến vậy với du khách thập phương. Người hát quan họ không chỉ hát bằng chất giọng "Vang - rền, nền - nẩy" mà còn hát bằng cả ánh mắt. Vì vậy mới có câu "Mắt em lúng liếng đáy trời. Hễ ai vướng phải một đời ngẩn ngơ". Quan họ có sức hút mãnh liệt trong hội Bồ Sơn Du khách tham gia hội làng có cảm giác ngợp trong sắc xuân, trong muôn câu ca quan họ. Ở trong sân đình, các cụ cao niên hát tiếp khách thập phương. Ở ngoài ao làng, các liền anh liền chị chèo thuyền rồng hát đối đáp cả ngày. Liền anh liền chị chèo thuyền rồng hát quan họ Các làng quan họ từ xưa có tục kết chạ với nhau. Làng Bồ Sơn kết chạ với làng Y Na, khi kết chạ thì xem như anh em trong nhà không được lấy nhau làm vợ chồng. Quan họ có một sức hút lạ kì. Người tham gia hội khó có thể dứt khỏi làn điệu quan họ mà ra về trong chốc lát. Du khách ra về vương vấn trong lời mời nồng hậu của người quan họ "người ơi người ở đừng về".

Giờ đây, Bồ Sơn đã có nhiều thay đổi, hiện đại hơn, nhà cao tầng mọc lên nhiều hơn, đường đi được bê tông hóa... nhưng Bồ Sơn vẫn giữ cho mình nét cổ kính của đình chùa, cổng làng rêu phong, đặc biệt là quan họ cổ. Chỉ khi đến đây mới thấy được quan họ có sức sống, sức cuốn hút mãnh liệt đến nhường nào đối với người dân địa phương và hiểu được vì sao Quan họ cổ có sức quyến rũ, lay động kỳ ảo đến vậy với du khách thập phương. Người hát quan họ không chỉ hát bằng chất giọng "Vang - rền, nền - nẩy" mà còn hát bằng cả ánh mắt. Vì vậy mới có câu "Mắt em lúng liếng đáy trời. Hễ ai vướng phải một đời ngẩn ngơ". Quan họ có sức hút mãnh liệt trong hội Bồ Sơn Du khách tham gia hội làng có cảm giác ngợp trong sắc xuân, trong muôn câu ca quan họ. Ở trong sân đình, các cụ cao niên hát tiếp khách thập phương. Ở ngoài ao làng, các liền anh liền chị chèo thuyền rồng hát đối đáp cả ngày. Liền anh liền chị chèo thuyền rồng hát quan họ Các làng quan họ từ xưa có tục kết chạ với nhau. Làng Bồ Sơn kết chạ với làng Y Na, khi kết chạ thì xem như anh em trong nhà không được lấy nhau làm vợ chồng. Quan họ có một sức hút lạ kì. Người tham gia hội khó có thể dứt khỏi làn điệu quan họ mà ra về trong chốc lát. Du khách ra về vương vấn trong lời mời nồng hậu của người quan họ "người ơi người ở đừng về".

Giờ đây, Bồ Sơn đã có nhiều thay đổi, hiện đại hơn, nhà cao tầng mọc lên nhiều hơn, đường đi được bê tông hóa... nhưng Bồ Sơn vẫn giữ cho mình nét cổ kính của đình chùa, cổng làng rêu phong, đặc biệt là quan họ cổ. Chỉ khi đến đây mới thấy được quan họ có sức sống, sức cuốn hút mãnh liệt đến nhường nào đối với người dân địa phương và hiểu được vì sao Quan họ cổ có sức quyến rũ, lay động kỳ ảo đến vậy với du khách thập phương. Người hát quan họ không chỉ hát bằng chất giọng "Vang - rền, nền - nẩy" mà còn hát bằng cả ánh mắt. Vì vậy mới có câu "Mắt em lúng liếng đáy trời. Hễ ai vướng phải một đời ngẩn ngơ".

Quan họ có sức hút mãnh liệt trong hội Bồ Sơn

Du khách tham gia hội làng có cảm giác ngợp trong sắc xuân, trong muôn câu ca quan họ. Ở trong sân đình, các cụ cao niên hát tiếp khách thập phương. Ở ngoài ao làng, các liền anh liền chị chèo thuyền rồng hát đối đáp cả ngày.

Liền anh liền chị chèo thuyền rồng hát quan họ

Các làng quan họ từ xưa có tục kết chạ với nhau. Làng Bồ Sơn kết chạ với làng Y Na, khi kết chạ thì xem như anh em trong nhà không được lấy nhau làm vợ chồng.

Quan họ có một sức hút lạ kì. Người tham gia hội khó có thể dứt khỏi làn điệu quan họ mà ra về trong chốc lát. Du khách ra về vương vấn trong lời mời nồng hậu của người quan họ "người ơi người ở đừng về".

Related Figures

Hội đình Đình Bảng

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 14/2- 15/2 Âm lịch Hội đình Đình Bảng được tổ chức ngày 14-15/2 âm lịch tại đình làng Đình Bảng, xã Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Đình Đình Bảng ngôi đình cổ nơi diễn ra lễ hội Đình làng Đình Bảng nổi tiếng với kiến trúc đình làng độc đáo bậc nhất nước ta. Ngôi đình là niềm tự hào của người dân Kinh Bắc. Đình làng Đình Bảng là ngôi đình cổ được xây dựng từ thế kỷ XVIII, còn lưu giữ nhiều nét kiến trúc đặc sắc thời Lê - Trịnh. Trải qua nhiều biến động lịch sử, đình làng Đình Bảng bị hư hỏng đôi chút nhưng được tôn tạo, giữ nguyên kiến trúc cổ. Từ xa xưa ông bà ta có câu: "Thứ nhất đình Đông Khang/ Thứ nhì đình Báng (đình Đình Bảng). Vẻ vang đình Diềm". Ngày nay, đình Đông Khang không còn nữa, đình Diềm cũng không còn nguyên vẹn, trước kia đình có 5 gian giờ chỉ còn 3 gian. Chỉ có đình Đình Bảng còn tương đối nguyên vẹn. Đông đảo người dân tham gia lễ hội trước cửa đình Đình Bảng Truyền thuyết kể rằng, xưa kia người dân Đình Bảng phải vật lộn với thú dữ, thủy quái mà không biết trồng trọt, chăn nuôi. Một ngày nọ, có một vị lão nông xuất hiện dạy mọi người khai hoang, đất cao trồng hoa màu, đất thấp trồng lúa... Cuộc sống của người dân được cải thiện, ấm no, hạnh phúc. Đến một năm, khi mùa màng bội thu, vị lão nông đó họp người dân lại và đưa ra bức tranh vẽ Lệ Thần và bảo dân làng lập miếu thờ thần bảo hộ. Đến ngày hôm sau, lão nông biến mất. Lúc đó, dân làng mới biết là thần hiển linh, suy tôn là Thành hoàng làng với hiệu là Bạch Lệ Đại vương. Từ đó, dân làng Đình Bảng mở hội ngày 12-15/2 âm lịch để tưởng nhớ công đức của thần. Phẩm vật tế thần chủ yếu là xôi nếp, thịt lợn luộc; riêng đêm ngày 13/2 có tục tế thần bằng một cặp lợn sống. Sau khi tế lễ, lợn được giết mổ và chia đều cho các "hiệu" mang thịt về nhà. Đặc biệt trong những ngày diễn ra hội, làng Đình Bảng còn vinh dự đón "chạ anh" từ Cẩm Giàng (Hải Dương) sang dự hội. Đấu vật thu hút đông đảo người dân tham gia tại hội đình Đình Bảng Tham dự hội làng Đình Bảng, du khách sẽ rất hào hứng tham gia các trò diễn hội đình như: chọi gà, thả chim câu, hát tuồng, chèo... Thú vị nhất là chèo đò hát Quan họ và đầu vật.

Đình Đình Bảng ngôi đình cổ nơi diễn ra lễ hội Đình làng Đình Bảng nổi tiếng với kiến trúc đình làng độc đáo bậc nhất nước ta. Ngôi đình là niềm tự hào của người dân Kinh Bắc. Đình làng Đình Bảng là ngôi đình cổ được xây dựng từ thế kỷ XVIII, còn lưu giữ nhiều nét kiến trúc đặc sắc thời Lê - Trịnh. Trải qua nhiều biến động lịch sử, đình làng Đình Bảng bị hư hỏng đôi chút nhưng được tôn tạo, giữ nguyên kiến trúc cổ. Từ xa xưa ông bà ta có câu: "Thứ nhất đình Đông Khang/ Thứ nhì đình Báng (đình Đình Bảng). Vẻ vang đình Diềm". Ngày nay, đình Đông Khang không còn nữa, đình Diềm cũng không còn nguyên vẹn, trước kia đình có 5 gian giờ chỉ còn 3 gian. Chỉ có đình Đình Bảng còn tương đối nguyên vẹn. Đông đảo người dân tham gia lễ hội trước cửa đình Đình Bảng Truyền thuyết kể rằng, xưa kia người dân Đình Bảng phải vật lộn với thú dữ, thủy quái mà không biết trồng trọt, chăn nuôi. Một ngày nọ, có một vị lão nông xuất hiện dạy mọi người khai hoang, đất cao trồng hoa màu, đất thấp trồng lúa... Cuộc sống của người dân được cải thiện, ấm no, hạnh phúc. Đến một năm, khi mùa màng bội thu, vị lão nông đó họp người dân lại và đưa ra bức tranh vẽ Lệ Thần và bảo dân làng lập miếu thờ thần bảo hộ. Đến ngày hôm sau, lão nông biến mất. Lúc đó, dân làng mới biết là thần hiển linh, suy tôn là Thành hoàng làng với hiệu là Bạch Lệ Đại vương. Từ đó, dân làng Đình Bảng mở hội ngày 12-15/2 âm lịch để tưởng nhớ công đức của thần. Phẩm vật tế thần chủ yếu là xôi nếp, thịt lợn luộc; riêng đêm ngày 13/2 có tục tế thần bằng một cặp lợn sống. Sau khi tế lễ, lợn được giết mổ và chia đều cho các "hiệu" mang thịt về nhà. Đặc biệt trong những ngày diễn ra hội, làng Đình Bảng còn vinh dự đón "chạ anh" từ Cẩm Giàng (Hải Dương) sang dự hội. Đấu vật thu hút đông đảo người dân tham gia tại hội đình Đình Bảng Tham dự hội làng Đình Bảng, du khách sẽ rất hào hứng tham gia các trò diễn hội đình như: chọi gà, thả chim câu, hát tuồng, chèo... Thú vị nhất là chèo đò hát Quan họ và đầu vật.

Đình làng Đình Bảng nổi tiếng với kiến trúc đình làng độc đáo bậc nhất nước ta. Ngôi đình là niềm tự hào của người dân Kinh Bắc. Đình làng Đình Bảng là ngôi đình cổ được xây dựng từ thế kỷ XVIII, còn lưu giữ nhiều nét kiến trúc đặc sắc thời Lê - Trịnh. Trải qua nhiều biến động lịch sử, đình làng Đình Bảng bị hư hỏng đôi chút nhưng được tôn tạo, giữ nguyên kiến trúc cổ. Từ xa xưa ông bà ta có câu: "Thứ nhất đình Đông Khang/ Thứ nhì đình Báng (đình Đình Bảng). Vẻ vang đình Diềm". Ngày nay, đình Đông Khang không còn nữa, đình Diềm cũng không còn nguyên vẹn, trước kia đình có 5 gian giờ chỉ còn 3 gian. Chỉ có đình Đình Bảng còn tương đối nguyên vẹn.

Đông đảo người dân tham gia lễ hội trước cửa đình Đình Bảng Truyền thuyết kể rằng, xưa kia người dân Đình Bảng phải vật lộn với thú dữ, thủy quái mà không biết trồng trọt, chăn nuôi. Một ngày nọ, có một vị lão nông xuất hiện dạy mọi người khai hoang, đất cao trồng hoa màu, đất thấp trồng lúa... Cuộc sống của người dân được cải thiện, ấm no, hạnh phúc. Đến một năm, khi mùa màng bội thu, vị lão nông đó họp người dân lại và đưa ra bức tranh vẽ Lệ Thần và bảo dân làng lập miếu thờ thần bảo hộ. Đến ngày hôm sau, lão nông biến mất. Lúc đó, dân làng mới biết là thần hiển linh, suy tôn là Thành hoàng làng với hiệu là Bạch Lệ Đại vương. Từ đó, dân làng Đình Bảng mở hội ngày 12-15/2 âm lịch để tưởng nhớ công đức của thần. Phẩm vật tế thần chủ yếu là xôi nếp, thịt lợn luộc; riêng đêm ngày 13/2 có tục tế thần bằng một cặp lợn sống. Sau khi tế lễ, lợn được giết mổ và chia đều cho các "hiệu" mang thịt về nhà. Đặc biệt trong những ngày diễn ra hội, làng Đình Bảng còn vinh dự đón "chạ anh" từ Cẩm Giàng (Hải Dương) sang dự hội. Đấu vật thu hút đông đảo người dân tham gia tại hội đình Đình Bảng Tham dự hội làng Đình Bảng, du khách sẽ rất hào hứng tham gia các trò diễn hội đình như: chọi gà, thả chim câu, hát tuồng, chèo... Thú vị nhất là chèo đò hát Quan họ và đầu vật.

Truyền thuyết kể rằng, xưa kia người dân Đình Bảng phải vật lộn với thú dữ, thủy quái mà không biết trồng trọt, chăn nuôi. Một ngày nọ, có một vị lão nông xuất hiện dạy mọi người khai hoang, đất cao trồng hoa màu, đất thấp trồng lúa... Cuộc sống của người dân được cải thiện, ấm no, hạnh phúc. Đến một năm, khi mùa màng bội thu, vị lão nông đó họp người dân lại và đưa ra bức tranh vẽ Lệ Thần và bảo dân làng lập miếu thờ thần bảo hộ. Đến ngày hôm sau, lão nông biến mất. Lúc đó, dân làng mới biết là thần hiển linh, suy tôn là Thành hoàng làng với hiệu là Bạch Lệ Đại vương. Từ đó, dân làng Đình Bảng mở hội ngày 12-15/2 âm lịch để tưởng nhớ công đức của thần. Phẩm vật tế thần chủ yếu là xôi nếp, thịt lợn luộc; riêng đêm ngày 13/2 có tục tế thần bằng một cặp lợn sống. Sau khi tế lễ, lợn được giết mổ và chia đều cho các "hiệu" mang thịt về nhà. Đặc biệt trong những ngày diễn ra hội, làng Đình Bảng còn vinh dự đón "chạ anh" từ Cẩm Giàng (Hải Dương) sang dự hội.

Đấu vật thu hút đông đảo người dân tham gia tại hội đình Đình Bảng

Tham dự hội làng Đình Bảng, du khách sẽ rất hào hứng tham gia các trò diễn hội đình như: chọi gà, thả chim câu, hát tuồng, chèo... Thú vị nhất là chèo đò hát Quan họ và đầu vật.

Related Figures

Lễ cúng Thần Suối

Thông tin thời kỳ

Lễ cúng Thần Suối là một trong những lễ hội quan trọng trong các lễ hội truyền thống của người Mạ ở Lâm Đồng. Lễ cúng Thần Suối được tổ chức vào tháng 3 âm lịch hàng năm nhằm tạ ơn Thần Nươc đã mang lại may mắn trong năm cũ, cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi trong năm tới. Lễ cúng Thần Suối là lễ hội cổ truyền của người Mạ Lễ cúng Thần Suối thường được tiến hành sau khi thu hoạch vụ mùa và lễ mừng lúa mới. Theo quan niệm của người Mạ, Thần Đất, Thần Núi, Thần Nước là những vị thần linh thiêng nhất. Những vị Thần cùng với tổ tiên che chở cho buôn làng tránh khỏi thiên tai, bảo vệ mùa màng, làm cho mưa thuận gió hòa, vụ mùa bội thu. Người dân trong buôn chuẩn bị lễ cúng Thần Suối Để chuẩn bị cho lễ cúng Thần Suối, bà con trong buôn chọn ngày tốt để dọn vệ sinh buôn làng, dọn Suối, soạn lại máng nước, làm thịt lợn, gà để hiến tế cúng thần. Khu vực suối được chọn tổ chức lễ cúng Thần Suối được trang hoàng với cồng chào được kết bằng lá cây, cỏ lá dài, treo đồ trang trí và dựng cả trụ trang trí giống như cây nêu của người Kinh. Trước khi bắt đầu lễ cúng Thần Suối, bà con trong buôn làng tập trung ra Suối. Thầy cúng chủ trì lễ cúng Thần Suối với mâm đồ cúng thịt lợn, gà và một chậu tiết pha loãng. Sau khi cử hành xong nghi lễ cúng Thần Suối, bà con cùng lấy nước vào các vật dụng đựng nước cõng về nhà lấy khước. Lễ cúng Thần Suối là văn hóa đặc sắc của người Mạ Trong khi đó sẽ có một đoàn người đi theo chủ lễ đến cầu thang từng nhà trong buôn hát điệu cầu cúng và rưới tiết vào chân cầu thang để cầu may cho gia chủ. Sau cùng, bà con tập trung về nhà cộng đồng chung của buôn làng để dự tiệc, uống rượu và nhảy múa trong không khí rộn ràng của tiếng cồng chiêng... Du khách sẽ có trải nghiệm tuyệt vời và có thêm hiểu biết về những nét văn hóa đặc sắc của người dân nơi đây khi tham gia lễ cúng Thần Suối.

Lễ cúng Thần Suối là lễ hội cổ truyền của người Mạ Lễ cúng Thần Suối thường được tiến hành sau khi thu hoạch vụ mùa và lễ mừng lúa mới. Theo quan niệm của người Mạ, Thần Đất, Thần Núi, Thần Nước là những vị thần linh thiêng nhất. Những vị Thần cùng với tổ tiên che chở cho buôn làng tránh khỏi thiên tai, bảo vệ mùa màng, làm cho mưa thuận gió hòa, vụ mùa bội thu. Người dân trong buôn chuẩn bị lễ cúng Thần Suối Để chuẩn bị cho lễ cúng Thần Suối, bà con trong buôn chọn ngày tốt để dọn vệ sinh buôn làng, dọn Suối, soạn lại máng nước, làm thịt lợn, gà để hiến tế cúng thần. Khu vực suối được chọn tổ chức lễ cúng Thần Suối được trang hoàng với cồng chào được kết bằng lá cây, cỏ lá dài, treo đồ trang trí và dựng cả trụ trang trí giống như cây nêu của người Kinh. Trước khi bắt đầu lễ cúng Thần Suối, bà con trong buôn làng tập trung ra Suối. Thầy cúng chủ trì lễ cúng Thần Suối với mâm đồ cúng thịt lợn, gà và một chậu tiết pha loãng. Sau khi cử hành xong nghi lễ cúng Thần Suối, bà con cùng lấy nước vào các vật dụng đựng nước cõng về nhà lấy khước. Lễ cúng Thần Suối là văn hóa đặc sắc của người Mạ Trong khi đó sẽ có một đoàn người đi theo chủ lễ đến cầu thang từng nhà trong buôn hát điệu cầu cúng và rưới tiết vào chân cầu thang để cầu may cho gia chủ. Sau cùng, bà con tập trung về nhà cộng đồng chung của buôn làng để dự tiệc, uống rượu và nhảy múa trong không khí rộn ràng của tiếng cồng chiêng... Du khách sẽ có trải nghiệm tuyệt vời và có thêm hiểu biết về những nét văn hóa đặc sắc của người dân nơi đây khi tham gia lễ cúng Thần Suối.

Lễ cúng Thần Suối thường được tiến hành sau khi thu hoạch vụ mùa và lễ mừng lúa mới. Theo quan niệm của người Mạ, Thần Đất, Thần Núi, Thần Nước là những vị thần linh thiêng nhất. Những vị Thần cùng với tổ tiên che chở cho buôn làng tránh khỏi thiên tai, bảo vệ mùa màng, làm cho mưa thuận gió hòa, vụ mùa bội thu.

Người dân trong buôn chuẩn bị lễ cúng Thần Suối

Để chuẩn bị cho lễ cúng Thần Suối, bà con trong buôn chọn ngày tốt để dọn vệ sinh buôn làng, dọn Suối, soạn lại máng nước, làm thịt lợn, gà để hiến tế cúng thần. Khu vực suối được chọn tổ chức lễ cúng Thần Suối được trang hoàng với cồng chào được kết bằng lá cây, cỏ lá dài, treo đồ trang trí và dựng cả trụ trang trí giống như cây nêu của người Kinh. Trước khi bắt đầu lễ cúng Thần Suối, bà con trong buôn làng tập trung ra Suối. Thầy cúng chủ trì lễ cúng Thần Suối với mâm đồ cúng thịt lợn, gà và một chậu tiết pha loãng. Sau khi cử hành xong nghi lễ cúng Thần Suối, bà con cùng lấy nước vào các vật dụng đựng nước cõng về nhà lấy khước.

Lễ cúng Thần Suối là văn hóa đặc sắc của người Mạ

Trong khi đó sẽ có một đoàn người đi theo chủ lễ đến cầu thang từng nhà trong buôn hát điệu cầu cúng và rưới tiết vào chân cầu thang để cầu may cho gia chủ. Sau cùng, bà con tập trung về nhà cộng đồng chung của buôn làng để dự tiệc, uống rượu và nhảy múa trong không khí rộn ràng của tiếng cồng chiêng...

Du khách sẽ có trải nghiệm tuyệt vời và có thêm hiểu biết về những nét văn hóa đặc sắc của người dân nơi đây khi tham gia lễ cúng Thần Suối.

Related Figures

Lễ cúng thần Bơmung

Thông tin thời kỳ

Lễ cúng thần Bơmung diễn ra trong 3 ngày vào tháng 2 âm lịch hàng năm. Lễ cúng thần Bơmung là lễ hội truyền thống của người Churu ở Lâm Đồng. Lễ cúng thần Bơmung là nghi lễ cổ truyền của người Churu Trong phong tục tập quán của đồng bào người Churu (một trong ba dân tộc bản địa ở Lâm Đồng) có nhiều nghi lễ nông nghiệp như: cúng thần nước, cúng thần lúa khi gieo hạt, cúng mừng lúa mới, cúng sau mùa gặt... Trong các nghi lễ cổ truyền đó, đáng chú ý là lễ cúng thần đập nước. Từ sáng sơm tinh mơ, đồng bào Churu đã tập trung đông đảo trước sân đình Bơmung. Mọi người im lặng, xếp hàng ngay ngắn thành hai bên: một bên dành cho nam giới, một bên dành cho nữ giới. Sau khi kết thúc nghi thức cúng thần, thầy cúng sẽ giao cho mỗi bên một cặp gà để làm cỗ, cúng tạ ơn Yàng đã ban cho buôn làng nhiều điều tốt lành và cầu mong Yàng phù hộ cho mọi người trong buôn được khỏe mạnh, đoàn kết, yêu thương nhau, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, cuộc sống no đủ. Chuẩn bị lễ cúng thần Bơmung Đồng bào tin tưởng giao trọng trách cho 2 thầy cúng cùng bàn bạc với già làng để tổ chức lễ cúng thần. Đồng bào trong buôn luôn tự đóng góp lễ vật như: gà, vịt, trái cây... mà không có sự ép buộc nào cả. Đồng bào Churu tham gia lễ cúng thần Bơmung Lễ cúng thần Bơmung gắn liền với các nghi lễ nông nghiệp như: cúng Thần mương nước, ăn mừng lúa mới, Thần Lúa... Tuy nhiên, lễ cúng thần Bơmung ngày càng mai một theo thời gian, đến nay chỉ còn một số buôn làng ở vùng hẻo lánh lưu giữ lại. Du khách tham gia lễ cúng thần Bơmung không chỉ được chứng kiến nhiều nghi lễ đặc sắc của đồng bào mà còn được tham quan nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng ở Lâm Đồng.

Lễ cúng thần Bơmung là nghi lễ cổ truyền của người Churu Trong phong tục tập quán của đồng bào người Churu (một trong ba dân tộc bản địa ở Lâm Đồng) có nhiều nghi lễ nông nghiệp như: cúng thần nước, cúng thần lúa khi gieo hạt, cúng mừng lúa mới, cúng sau mùa gặt... Trong các nghi lễ cổ truyền đó, đáng chú ý là lễ cúng thần đập nước. Từ sáng sơm tinh mơ, đồng bào Churu đã tập trung đông đảo trước sân đình Bơmung. Mọi người im lặng, xếp hàng ngay ngắn thành hai bên: một bên dành cho nam giới, một bên dành cho nữ giới. Sau khi kết thúc nghi thức cúng thần, thầy cúng sẽ giao cho mỗi bên một cặp gà để làm cỗ, cúng tạ ơn Yàng đã ban cho buôn làng nhiều điều tốt lành và cầu mong Yàng phù hộ cho mọi người trong buôn được khỏe mạnh, đoàn kết, yêu thương nhau, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, cuộc sống no đủ. Chuẩn bị lễ cúng thần Bơmung Đồng bào tin tưởng giao trọng trách cho 2 thầy cúng cùng bàn bạc với già làng để tổ chức lễ cúng thần. Đồng bào trong buôn luôn tự đóng góp lễ vật như: gà, vịt, trái cây... mà không có sự ép buộc nào cả. Đồng bào Churu tham gia lễ cúng thần Bơmung Lễ cúng thần Bơmung gắn liền với các nghi lễ nông nghiệp như: cúng Thần mương nước, ăn mừng lúa mới, Thần Lúa... Tuy nhiên, lễ cúng thần Bơmung ngày càng mai một theo thời gian, đến nay chỉ còn một số buôn làng ở vùng hẻo lánh lưu giữ lại. Du khách tham gia lễ cúng thần Bơmung không chỉ được chứng kiến nhiều nghi lễ đặc sắc của đồng bào mà còn được tham quan nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng ở Lâm Đồng.

Trong phong tục tập quán của đồng bào người Churu (một trong ba dân tộc bản địa ở Lâm Đồng) có nhiều nghi lễ nông nghiệp như: cúng thần nước, cúng thần lúa khi gieo hạt, cúng mừng lúa mới, cúng sau mùa gặt... Trong các nghi lễ cổ truyền đó, đáng chú ý là lễ cúng thần đập nước. Từ sáng sơm tinh mơ, đồng bào Churu đã tập trung đông đảo trước sân đình Bơmung. Mọi người im lặng, xếp hàng ngay ngắn thành hai bên: một bên dành cho nam giới, một bên dành cho nữ giới. Sau khi kết thúc nghi thức cúng thần, thầy cúng sẽ giao cho mỗi bên một cặp gà để làm cỗ, cúng tạ ơn Yàng đã ban cho buôn làng nhiều điều tốt lành và cầu mong Yàng phù hộ cho mọi người trong buôn được khỏe mạnh, đoàn kết, yêu thương nhau, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, cuộc sống no đủ.

Chuẩn bị lễ cúng thần Bơmung Đồng bào tin tưởng giao trọng trách cho 2 thầy cúng cùng bàn bạc với già làng để tổ chức lễ cúng thần. Đồng bào trong buôn luôn tự đóng góp lễ vật như: gà, vịt, trái cây... mà không có sự ép buộc nào cả.

Đồng bào Churu tham gia lễ cúng thần Bơmung

Lễ cúng thần Bơmung gắn liền với các nghi lễ nông nghiệp như: cúng Thần mương nước, ăn mừng lúa mới, Thần Lúa... Tuy nhiên, lễ cúng thần Bơmung ngày càng mai một theo thời gian, đến nay chỉ còn một số buôn làng ở vùng hẻo lánh lưu giữ lại.

Du khách tham gia lễ cúng thần Bơmung không chỉ được chứng kiến nhiều nghi lễ đặc sắc của đồng bào mà còn được tham quan nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng ở Lâm Đồng.

Related Figures

Lễ hội văn hóa trà

Thông tin thời kỳ

Lễ hội văn hóa trà ở Lâm Đồng không chỉ nhằm mục đích tôn vinh những người trồng và chế biến trà, quảng bá sản phẩm trà của địa phương, giao lưu hợp tác phát triển nghề trà mà còn góp phần hình thành văn hóa uống trà cho người dân, đặc biệt là giới trẻ. Lễ hội văn hóa trà tôn vinh những người trồng và chế biến trà Lâm Đồng có hơn 26.000ha trồng trà (chè), chiếm 21% diện tích cây trà và 27% sản lượng trà cả nước. Đà Lạt có Nhà máy chè Cầu Đất đạt thương hiệu Sao vàng Đất Việt, đã hoạt động ổn định 80 năm nay. Trà hương B'Lao của Lâm Đồng được người tiêu dùng trong và ngoài nước ưa chuộng. Du khách thưởng thức trà trong lễ hội Lễ hội văn hóa trà là ngày hội lớn gắn với niềm tự hào của những người trồng và chế biến trà. Lễ hội cũng tạo môi trường thuận lợi để hợp tác, đầu tư, phát triển ngành trà trong bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Lễ hội trà ở Lâm Đồng còn có nhiều chương trình do các doanh nghiệp trà đảm nhận như: chương trình tham quan vùng nguyên liệu trả với chủ đề "Hương sắc trà B'Lao", chương trình nghệ thuật đặc sắc chủ đề "Sắc màu Tây Nguyên", "Hội thi hái trà", Liên hoan "Giọng hát hay xứ trà", Hội thi "Kiến thức trà và cuộc sống"... Đặc biệt, không gian lễ hội văn hóa trà mở rộng tổ chức ở cả 3 địa bản làm nghề trà ở Lâm Đồng là Bảo Lâm, Di Linh, Cầu Đất. Đông đảo người dân tham gia lễ hội văn hóa trà ở Lâm Đồng Du khách đến Lâm Đồng không nên bỏ qua cơ hội tham gia lễ hội văn hóa trà, được thưởng thức những tách trà thơm ngon của vùng đất nổi tiếng với nghề trồng trànày.

Lễ hội văn hóa trà tôn vinh những người trồng và chế biến trà Lâm Đồng có hơn 26.000ha trồng trà (chè), chiếm 21% diện tích cây trà và 27% sản lượng trà cả nước. Đà Lạt có Nhà máy chè Cầu Đất đạt thương hiệu Sao vàng Đất Việt, đã hoạt động ổn định 80 năm nay. Trà hương B'Lao của Lâm Đồng được người tiêu dùng trong và ngoài nước ưa chuộng. Du khách thưởng thức trà trong lễ hội Lễ hội văn hóa trà là ngày hội lớn gắn với niềm tự hào của những người trồng và chế biến trà. Lễ hội cũng tạo môi trường thuận lợi để hợp tác, đầu tư, phát triển ngành trà trong bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Lễ hội trà ở Lâm Đồng còn có nhiều chương trình do các doanh nghiệp trà đảm nhận như: chương trình tham quan vùng nguyên liệu trả với chủ đề "Hương sắc trà B'Lao", chương trình nghệ thuật đặc sắc chủ đề "Sắc màu Tây Nguyên", "Hội thi hái trà", Liên hoan "Giọng hát hay xứ trà", Hội thi "Kiến thức trà và cuộc sống"... Đặc biệt, không gian lễ hội văn hóa trà mở rộng tổ chức ở cả 3 địa bản làm nghề trà ở Lâm Đồng là Bảo Lâm, Di Linh, Cầu Đất. Đông đảo người dân tham gia lễ hội văn hóa trà ở Lâm Đồng Du khách đến Lâm Đồng không nên bỏ qua cơ hội tham gia lễ hội văn hóa trà, được thưởng thức những tách trà thơm ngon của vùng đất nổi tiếng với nghề trồng trànày.

Lâm Đồng có hơn 26.000ha trồng trà (chè), chiếm 21% diện tích cây trà và 27% sản lượng trà cả nước. Đà Lạt có Nhà máy chè Cầu Đất đạt thương hiệu Sao vàng Đất Việt, đã hoạt động ổn định 80 năm nay. Trà hương B'Lao của Lâm Đồng được người tiêu dùng trong và ngoài nước ưa chuộng.

Du khách thưởng thức trà trong lễ hội

Lễ hội văn hóa trà là ngày hội lớn gắn với niềm tự hào của những người trồng và chế biến trà. Lễ hội cũng tạo môi trường thuận lợi để hợp tác, đầu tư, phát triển ngành trà trong bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.

Lễ hội trà ở Lâm Đồng còn có nhiều chương trình do các doanh nghiệp trà đảm nhận như: chương trình tham quan vùng nguyên liệu trả với chủ đề "Hương sắc trà B'Lao", chương trình nghệ thuật đặc sắc chủ đề "Sắc màu Tây Nguyên", "Hội thi hái trà", Liên hoan "Giọng hát hay xứ trà", Hội thi "Kiến thức trà và cuộc sống"... Đặc biệt, không gian lễ hội văn hóa trà mở rộng tổ chức ở cả 3 địa bản làm nghề trà ở Lâm Đồng là Bảo Lâm, Di Linh, Cầu Đất.

Đông đảo người dân tham gia lễ hội văn hóa trà ở Lâm Đồng Du khách đến Lâm Đồng không nên bỏ qua cơ hội tham gia lễ hội văn hóa trà, được thưởng thức những tách trà thơm ngon của vùng đất nổi tiếng với nghề trồng trànày.

Du khách đến Lâm Đồng không nên bỏ qua cơ hội tham gia lễ hội văn hóa trà, được thưởng thức những tách trà thơm ngon của vùng đất nổi tiếng với nghề trồng trànày.

Du khách đến Lâm Đồng không nên bỏ qua cơ hội tham gia lễ hội văn hóa trà, được thưởng thức những tách trà thơm ngon của vùng đất nổi tiếng với nghề trồng trànày.

Related Figures

Lễ hội đâm châu

Thông tin thời kỳ

Lễ hội đâm trâu còn được gọi là lễ "Sa-rơpu" được tổ chức trước nhà Rông, nhà cộng đồng hay dưới tán cây cổ thụ trong ánh lửa bập bùng tại chân núi Lang Biang, tỉnh Lâm Đồng. Đông đảo người dân tham gia lễ hội đâm trâu Lễ hội đâm trâu là lễ hội truyền thống của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên nhằm tạ ơn các vị thần đã phù hộ cho bà con dân bản khỏe mạnh, mùa màng bội thu. Đặc biệt, trong nghi thức cúng Giàng của người Cơ Ho thường gắn với việc sử dụng trâu là vật hiến tế. Bắt đầu lễ hội, thầy cúng khấn cầu xin thần trời, thần nước, thần núi, thần sông, thần suối đến chứng kiến ngày hội đâm trâu của dân bản và xin thần phù hộ cho dân làng trồng được nhiều lúa, nuôi được nhiều trâu bò... Đặc sắc lễ hội đâm trâu ở Lâm Đồng Sau đó, những thiếu nữ trong làng trong trang phục áo "Phia" kiểu áo lễ của nữ giới và váy hoa "Kteh" đầu đội khăn trắng như đóa lan rừng nở rộ, nhảy múa theo điệu nhạc của tiếng cồng chiêng. Lễ hội đâm trâu truyền thống ở Lâm Đồng Sau màn múa hát, những chàng trai khỏe mạnh trong làng đầu chít khăn đỏ, mặc áo lễ "Blan" hoặc áo ló chui đầu không tay có thêu hoa văn sặc sỡ hai bên vạt áo, đóng khố hoa "Kteh" sẵn sàng đợi lệnh. Trong khoảng thời gian này, tiếng cồng chiêng liên tục vang lên để khấy động không khí. Các chàng trai cầm cây dao dài "Peh" chặt đứng nhượng hai chân con châu để nó quỵ xuống và cắm mũi lao vào tử huyệt con trâu. Chàng nào đâm 1 nhát mà châu chết ngay thì được khen ngợi. Trâu ngã xuống cũng là lúc tiếng cồng chiêng vang dội, tiếng hàn cùng những điệu múa thôn rộn ràng. Sau khi đâm trâu, trâu sẽ được xẻ thịt và chia đều cho từng bếp trong buôn làng. Một phần thịt trâu được sử dụng ăn uống tại nhà Rông. Đầu trâu được gác lên trên cột lề. Đến sáng ngày hôm sau, dân bản thực hiện lễ rước đầu trâu lên nhà Rông. Máu trâu được hòa chung với rượu để rữa những bảo vật trong nhà Rông. Sau đó, dân làng uống rượu, vui chơi, thi thố tài năng như đánh vật, đánh roi... Gần đây, UBND tỉnh Lâm Đồng chỉ đạo không tổ chức nghi thức đâm trâu trong các lễ hội truyền thống của địa phương.

Đông đảo người dân tham gia lễ hội đâm trâu Lễ hội đâm trâu là lễ hội truyền thống của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên nhằm tạ ơn các vị thần đã phù hộ cho bà con dân bản khỏe mạnh, mùa màng bội thu. Đặc biệt, trong nghi thức cúng Giàng của người Cơ Ho thường gắn với việc sử dụng trâu là vật hiến tế. Bắt đầu lễ hội, thầy cúng khấn cầu xin thần trời, thần nước, thần núi, thần sông, thần suối đến chứng kiến ngày hội đâm trâu của dân bản và xin thần phù hộ cho dân làng trồng được nhiều lúa, nuôi được nhiều trâu bò... Đặc sắc lễ hội đâm trâu ở Lâm Đồng Sau đó, những thiếu nữ trong làng trong trang phục áo "Phia" kiểu áo lễ của nữ giới và váy hoa "Kteh" đầu đội khăn trắng như đóa lan rừng nở rộ, nhảy múa theo điệu nhạc của tiếng cồng chiêng. Lễ hội đâm trâu truyền thống ở Lâm Đồng Sau màn múa hát, những chàng trai khỏe mạnh trong làng đầu chít khăn đỏ, mặc áo lễ "Blan" hoặc áo ló chui đầu không tay có thêu hoa văn sặc sỡ hai bên vạt áo, đóng khố hoa "Kteh" sẵn sàng đợi lệnh. Trong khoảng thời gian này, tiếng cồng chiêng liên tục vang lên để khấy động không khí. Các chàng trai cầm cây dao dài "Peh" chặt đứng nhượng hai chân con châu để nó quỵ xuống và cắm mũi lao vào tử huyệt con trâu. Chàng nào đâm 1 nhát mà châu chết ngay thì được khen ngợi. Trâu ngã xuống cũng là lúc tiếng cồng chiêng vang dội, tiếng hàn cùng những điệu múa thôn rộn ràng. Sau khi đâm trâu, trâu sẽ được xẻ thịt và chia đều cho từng bếp trong buôn làng. Một phần thịt trâu được sử dụng ăn uống tại nhà Rông. Đầu trâu được gác lên trên cột lề. Đến sáng ngày hôm sau, dân bản thực hiện lễ rước đầu trâu lên nhà Rông. Máu trâu được hòa chung với rượu để rữa những bảo vật trong nhà Rông. Sau đó, dân làng uống rượu, vui chơi, thi thố tài năng như đánh vật, đánh roi... Gần đây, UBND tỉnh Lâm Đồng chỉ đạo không tổ chức nghi thức đâm trâu trong các lễ hội truyền thống của địa phương.

Lễ hội đâm trâu là lễ hội truyền thống của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên nhằm tạ ơn các vị thần đã phù hộ cho bà con dân bản khỏe mạnh, mùa màng bội thu. Đặc biệt, trong nghi thức cúng Giàng của người Cơ Ho thường gắn với việc sử dụng trâu là vật hiến tế.

Bắt đầu lễ hội, thầy cúng khấn cầu xin thần trời, thần nước, thần núi, thần sông, thần suối đến chứng kiến ngày hội đâm trâu của dân bản và xin thần phù hộ cho dân làng trồng được nhiều lúa, nuôi được nhiều trâu bò...

Đặc sắc lễ hội đâm trâu ở Lâm Đồng

Sau đó, những thiếu nữ trong làng trong trang phục áo "Phia" kiểu áo lễ của nữ giới và váy hoa "Kteh" đầu đội khăn trắng như đóa lan rừng nở rộ, nhảy múa theo điệu nhạc của tiếng cồng chiêng.

Lễ hội đâm trâu truyền thống ở Lâm Đồng

Sau màn múa hát, những chàng trai khỏe mạnh trong làng đầu chít khăn đỏ, mặc áo lễ "Blan" hoặc áo ló chui đầu không tay có thêu hoa văn sặc sỡ hai bên vạt áo, đóng khố hoa "Kteh" sẵn sàng đợi lệnh. Trong khoảng thời gian này, tiếng cồng chiêng liên tục vang lên để khấy động không khí. Các chàng trai cầm cây dao dài "Peh" chặt đứng nhượng hai chân con châu để nó quỵ xuống và cắm mũi lao vào tử huyệt con trâu. Chàng nào đâm 1 nhát mà châu chết ngay thì được khen ngợi. Trâu ngã xuống cũng là lúc tiếng cồng chiêng vang dội, tiếng hàn cùng những điệu múa thôn rộn ràng. Sau khi đâm trâu, trâu sẽ được xẻ thịt và chia đều cho từng bếp trong buôn làng. Một phần thịt trâu được sử dụng ăn uống tại nhà Rông. Đầu trâu được gác lên trên cột lề. Đến sáng ngày hôm sau, dân bản thực hiện lễ rước đầu trâu lên nhà Rông. Máu trâu được hòa chung với rượu để rữa những bảo vật trong nhà Rông. Sau đó, dân làng uống rượu, vui chơi, thi thố tài năng như đánh vật, đánh roi...

Gần đây, UBND tỉnh Lâm Đồng chỉ đạo không tổ chức nghi thức đâm trâu trong các lễ hội truyền thống của địa phương.

Related Figures

Lễ cúng cơm mới

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/1- 2/1 Âm lịch Lễ cúng cơm mới là một trong những lễ hội truyền thống đặc sắc của đồng bào người Mạ, Cơ Ho tại B'lao, thị xã Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. Lễ cúng cơm mới tại Lâm Đồng trùng với ngày Tết Nguyên Đán của người Việt. Đặc sắc lễ cúng cơm mới ở Lâm Đồng Lễ cúng cơm mới ở Lâm Đồng mang đậm dấu ấn của tục "ăn năm uống tháng". Trong lễ cúng cơm mới, người dân nơi đây cầu cho mưa thuận gió hòa, ngăn thú rừng không phá nương rẫy. Lễ cúng cơm mới cũng là dịp để giáo dục con cháu biết quý trọng hạt thóc, hạt gạo. Người dân chuẩn bị lễ cúng cơm mới ở Lâm Đồng Lễ vật được người dân chuẩn bị gồm: gạo thơm mới, chén rượu cần, gà trống giò, heo đực thiến và thú rừng săn bắt được. Địa điểm tổ chức lễ cúng cơm mới thường là nhà Rông hay những nơi sinh hoạt chung của cộng đồng. Lễ cúng cơm mới bắt đầu bằng việc cúng Giàng của thầy cúng, tiếp đến là tục vẩy rượu để chúc mừng mọi người. Cuối cùng là uống rượu, ca hát trong tiếng cồng chiêng rộn ràng. Lễ hội được kéo dài suốt đêm cho đến tận sáng hôm sau. Lễ cúng cơm mới ở Lâm Đồng trùng với Tết Nguyên Đán Lễ cúng cơm mới là lễ hội thu hút đông đảo người dân và khách du lịch tham gia. Ngày buôn làng làm lễ cúng cơm mới thì cả buôn nều náo nức, phấn chấn. Ai nấy đều muốn chung vui vào không khí sôi động ngày hội. Có thể nói lễ cúng cơm mới là ngyà hội của cả buôn làng. Đối với người dân Tây Nguyên nói chung và người dân Lâm Đồng nói riêng, lễ cúng cơm mới là lễ hội mang giá trị văn hóa tâm linh vô cùng ý nghĩa và sâu sắc, mang đậm bản sắc văn hóa cộng đồng của miền đất Tây Nguyên huyền thoại.

Đặc sắc lễ cúng cơm mới ở Lâm Đồng Lễ cúng cơm mới ở Lâm Đồng mang đậm dấu ấn của tục "ăn năm uống tháng". Trong lễ cúng cơm mới, người dân nơi đây cầu cho mưa thuận gió hòa, ngăn thú rừng không phá nương rẫy. Lễ cúng cơm mới cũng là dịp để giáo dục con cháu biết quý trọng hạt thóc, hạt gạo. Người dân chuẩn bị lễ cúng cơm mới ở Lâm Đồng Lễ vật được người dân chuẩn bị gồm: gạo thơm mới, chén rượu cần, gà trống giò, heo đực thiến và thú rừng săn bắt được. Địa điểm tổ chức lễ cúng cơm mới thường là nhà Rông hay những nơi sinh hoạt chung của cộng đồng. Lễ cúng cơm mới bắt đầu bằng việc cúng Giàng của thầy cúng, tiếp đến là tục vẩy rượu để chúc mừng mọi người. Cuối cùng là uống rượu, ca hát trong tiếng cồng chiêng rộn ràng. Lễ hội được kéo dài suốt đêm cho đến tận sáng hôm sau. Lễ cúng cơm mới ở Lâm Đồng trùng với Tết Nguyên Đán Lễ cúng cơm mới là lễ hội thu hút đông đảo người dân và khách du lịch tham gia. Ngày buôn làng làm lễ cúng cơm mới thì cả buôn nều náo nức, phấn chấn. Ai nấy đều muốn chung vui vào không khí sôi động ngày hội. Có thể nói lễ cúng cơm mới là ngyà hội của cả buôn làng. Đối với người dân Tây Nguyên nói chung và người dân Lâm Đồng nói riêng, lễ cúng cơm mới là lễ hội mang giá trị văn hóa tâm linh vô cùng ý nghĩa và sâu sắc, mang đậm bản sắc văn hóa cộng đồng của miền đất Tây Nguyên huyền thoại.

Lễ cúng cơm mới ở Lâm Đồng mang đậm dấu ấn của tục "ăn năm uống tháng". Trong lễ cúng cơm mới, người dân nơi đây cầu cho mưa thuận gió hòa, ngăn thú rừng không phá nương rẫy. Lễ cúng cơm mới cũng là dịp để giáo dục con cháu biết quý trọng hạt thóc, hạt gạo.

Người dân chuẩn bị lễ cúng cơm mới ở Lâm Đồng Lễ vật được người dân chuẩn bị gồm: gạo thơm mới, chén rượu cần, gà trống giò, heo đực thiến và thú rừng săn bắt được. Địa điểm tổ chức lễ cúng cơm mới thường là nhà Rông hay những nơi sinh hoạt chung của cộng đồng. Lễ cúng cơm mới bắt đầu bằng việc cúng Giàng của thầy cúng, tiếp đến là tục vẩy rượu để chúc mừng mọi người. Cuối cùng là uống rượu, ca hát trong tiếng cồng chiêng rộn ràng. Lễ hội được kéo dài suốt đêm cho đến tận sáng hôm sau. Lễ cúng cơm mới ở Lâm Đồng trùng với Tết Nguyên Đán Lễ cúng cơm mới là lễ hội thu hút đông đảo người dân và khách du lịch tham gia. Ngày buôn làng làm lễ cúng cơm mới thì cả buôn nều náo nức, phấn chấn. Ai nấy đều muốn chung vui vào không khí sôi động ngày hội. Có thể nói lễ cúng cơm mới là ngyà hội của cả buôn làng. Đối với người dân Tây Nguyên nói chung và người dân Lâm Đồng nói riêng, lễ cúng cơm mới là lễ hội mang giá trị văn hóa tâm linh vô cùng ý nghĩa và sâu sắc, mang đậm bản sắc văn hóa cộng đồng của miền đất Tây Nguyên huyền thoại.

Lễ vật được người dân chuẩn bị gồm: gạo thơm mới, chén rượu cần, gà trống giò, heo đực thiến và thú rừng săn bắt được. Địa điểm tổ chức lễ cúng cơm mới thường là nhà Rông hay những nơi sinh hoạt chung của cộng đồng.

Lễ cúng cơm mới bắt đầu bằng việc cúng Giàng của thầy cúng, tiếp đến là tục vẩy rượu để chúc mừng mọi người. Cuối cùng là uống rượu, ca hát trong tiếng cồng chiêng rộn ràng. Lễ hội được kéo dài suốt đêm cho đến tận sáng hôm sau.

Lễ cúng cơm mới ở Lâm Đồng trùng với Tết Nguyên Đán

Lễ cúng cơm mới là lễ hội thu hút đông đảo người dân và khách du lịch tham gia. Ngày buôn làng làm lễ cúng cơm mới thì cả buôn nều náo nức, phấn chấn. Ai nấy đều muốn chung vui vào không khí sôi động ngày hội. Có thể nói lễ cúng cơm mới là ngyà hội của cả buôn làng.

Đối với người dân Tây Nguyên nói chung và người dân Lâm Đồng nói riêng, lễ cúng cơm mới là lễ hội mang giá trị văn hóa tâm linh vô cùng ý nghĩa và sâu sắc, mang đậm bản sắc văn hóa cộng đồng của miền đất Tây Nguyên huyền thoại.

Related Figures

Lễ hội Lồng Tồng

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 5/1- 15/1 Âm lịch Lễ hội Lồng Tồng là một trong những nét văn hóa độc đáo của đồng bào dân tộc Lào Cai nói riêng và đồng bào vùng Tây Bắc nói chung. Lễ hội Lồng Tồng là hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể hiện khát vọng của người dân về sự hòa hợp âm dương, đất trời; cầu mong cuộc sống ấm no, hạnh phúc, vạn vật sinh sôi. Độc đáo lễ hội Lồng Tồng ở Lào Cai Ngay từ sáng sớm những ngày diễn ra lễ hội Lồng Tồng (hay ngày hội xuống đồng), người dân địa phương tụ hội về nơi tổ chức. Lễ hội Lồng Tồng gồm 2 phần: phần lễ và phần hội. Người dân xuống đồng trong lễ hội Lồng Tồng Phần nghi lễ trang trọng chủ yếu là cúng tế thần linh, trời đất cầu mong mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, con người khỏe mạnh, mùa màng bội thu. Mỗi thôn bản chuẩn bị một mâm cỗ cúng gồm xôi, thịt gà, bánh chưng, thịt lơn, cơm lam, xôi bày màu... Các mâm lễ được xếp ngay ngắn, thẳng hàng trước lễ đài. Chủ lễ là thầy mo đứng trước mâm lễ khán tạ ơn. Sau đó, lần lượt cán bộ và nhân dân lên thắp hương cúng tế đất trời. Đông đảo người dân tham gia lễ hội Lồng Tồng Sau phần lễ là đến phần hội với những điệu múa truyền thống như múa xòe, múa khăn, múa gậy, múa quạt... và các trò chơi dân gian như ném còn, kéo co, bắn nỏ... Phần thi trâu cày ruộng thu hút hàng nghìn người xem và cổ vũ. Những trò chơi trong lễ hội Lồng Tồng gắn với những tập tục lâu đời của người dân, thể hiện nét đẹp tâm hồn phong phú. Lễ hội Lồng Tồng góp phần mang lại niềm vui đến với mọi người, mọi nhà trong dịp đầu xuân năm mới.

Độc đáo lễ hội Lồng Tồng ở Lào Cai Ngay từ sáng sớm những ngày diễn ra lễ hội Lồng Tồng (hay ngày hội xuống đồng), người dân địa phương tụ hội về nơi tổ chức. Lễ hội Lồng Tồng gồm 2 phần: phần lễ và phần hội. Người dân xuống đồng trong lễ hội Lồng Tồng Phần nghi lễ trang trọng chủ yếu là cúng tế thần linh, trời đất cầu mong mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, con người khỏe mạnh, mùa màng bội thu. Mỗi thôn bản chuẩn bị một mâm cỗ cúng gồm xôi, thịt gà, bánh chưng, thịt lơn, cơm lam, xôi bày màu... Các mâm lễ được xếp ngay ngắn, thẳng hàng trước lễ đài. Chủ lễ là thầy mo đứng trước mâm lễ khán tạ ơn. Sau đó, lần lượt cán bộ và nhân dân lên thắp hương cúng tế đất trời. Đông đảo người dân tham gia lễ hội Lồng Tồng Sau phần lễ là đến phần hội với những điệu múa truyền thống như múa xòe, múa khăn, múa gậy, múa quạt... và các trò chơi dân gian như ném còn, kéo co, bắn nỏ... Phần thi trâu cày ruộng thu hút hàng nghìn người xem và cổ vũ. Những trò chơi trong lễ hội Lồng Tồng gắn với những tập tục lâu đời của người dân, thể hiện nét đẹp tâm hồn phong phú. Lễ hội Lồng Tồng góp phần mang lại niềm vui đến với mọi người, mọi nhà trong dịp đầu xuân năm mới.

Ngay từ sáng sớm những ngày diễn ra lễ hội Lồng Tồng (hay ngày hội xuống đồng), người dân địa phương tụ hội về nơi tổ chức. Lễ hội Lồng Tồng gồm 2 phần: phần lễ và phần hội.

Người dân xuống đồng trong lễ hội Lồng Tồng

Phần nghi lễ trang trọng chủ yếu là cúng tế thần linh, trời đất cầu mong mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, con người khỏe mạnh, mùa màng bội thu. Mỗi thôn bản chuẩn bị một mâm cỗ cúng gồm xôi, thịt gà, bánh chưng, thịt lơn, cơm lam, xôi bày màu... Các mâm lễ được xếp ngay ngắn, thẳng hàng trước lễ đài. Chủ lễ là thầy mo đứng trước mâm lễ khán tạ ơn. Sau đó, lần lượt cán bộ và nhân dân lên thắp hương cúng tế đất trời.

Đông đảo người dân tham gia lễ hội Lồng Tồng

Sau phần lễ là đến phần hội với những điệu múa truyền thống như múa xòe, múa khăn, múa gậy, múa quạt... và các trò chơi dân gian như ném còn, kéo co, bắn nỏ... Phần thi trâu cày ruộng thu hút hàng nghìn người xem và cổ vũ. Những trò chơi trong lễ hội Lồng Tồng gắn với những tập tục lâu đời của người dân, thể hiện nét đẹp tâm hồn phong phú. Lễ hội Lồng Tồng góp phần mang lại niềm vui đến với mọi người, mọi nhà trong dịp đầu xuân năm mới.

Related Figures

Hội Cốm của người Tày

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/9 Âm lịch Hội cốm của người Tày là nét văn hóa đặc sắc của người Tày ở Lào Cai. Hàng năm, vào Rằm tháng chín âm lịch, khi lúa nếp trên nương đã hoe đầu, người Tày mở hội cốm. Người dân Lào Cai chuẩn bị ngày hội cốm Hội cốm của người Tày ở huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai thường bắt đầu sau vụ gặt, thời điểm nhàn rỗi trong năm. Đây là dịp để người dân nghỉ ngơi sau một năm dãi nắng dầm mưa, hưởng thụ thành quả sau những ngày lao động mệt nhọc. Hội cốm của người Tày cũng là dịp để tạ ơn thần linh, trời đất đã phù họ mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, ngô thóc đầy bồ. Công tác chuẩn bị cho ngày hội cốm được chuẩn bị từ đầu vụ lúa nhưng phải đến gần ngày hội không khí khẩn trương, nhộn nhịp mới lan tỏa khắp các bản làng. Các gia đình ở huyện miền núi Bảo Yên rộn ràng làm cốm. Chị em phụ nữ trong bản đảm nhận việc gặt lứa còn cánh đàn ông phụ trách phơi lò, chẻ lạt, bổ củi, làm sàn gác sấy cốm. Lúa nếp sau khi được thu hoạch về sắp hàng bên suối rồi nhặt rửa từng bông một. Bông lúa sau đó được đưa lên xếp trên vỉ liếp đan bằng than tre đặt trên miệng lò. Chị em phụ nữ trong bản đặt mỗi lần 5 bông lên vỉ rồi nhanh tay lật đi lật lại sai cho hạt lúa chín đều. Cóm sau khi được sấy xong phải mềm, có mùi thơm dịu. Giã cốm là công đoạn quan trọng nhất trong ngày hội cốm Giã cốm là công đoạn quan trọng nhất trong ngày hội cốm. Bên bờ suối, những chàng trai khỏe mạnh và cả các bà, các mẹ cũng tham gia giã cốm. Người rang, người giã, người sàng, người sảy... tạo nên không khí ngày hội náo nhiệt, đông vui. Hội cốm không chỉ mang ý nghĩa thông báo mùa vụ bội thu mà còn là dịp mời tổ tiên, thần linh về thưởng cốm. Cơm cốm là món ăn không thể thiếu trên bàn thờ tổ tiên trong những ngày này. Cơm cốm được nấu bằng cách rưới nước luộc vịt đã tẩm sẵn gia vị vào nồi cốm hạt. Cơm cốm được múc ra lá dong, gói thành hình chữ nhật hoặc hình vuông. Sau khi làm lễ, từng hạt cốm được dân làng mời nhau để thưởng thức hạt ngọc bản. Bánh cốm sử dụng thịt vịt luộc chín tới để làm nhân. Ngoài ra còn có thịt băm viên xào với hạt dổi, bột đậu đen, nhân quả đài hái... Nhân được cho vào giữa cốm, dùng lá dong gói lại như bánh chưng. Mâm cỗ cúng trong ngày hội cốm Hội cốm là ngày hội mang đậm văn hóa truyền thống của người Tày. Du khách tham dự hội cốm được thưởng thức những hạt cốm xanh đều, hấp dẫn và những món ăn đặc trưng của người Tày.

Người dân Lào Cai chuẩn bị ngày hội cốm Hội cốm của người Tày ở huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai thường bắt đầu sau vụ gặt, thời điểm nhàn rỗi trong năm. Đây là dịp để người dân nghỉ ngơi sau một năm dãi nắng dầm mưa, hưởng thụ thành quả sau những ngày lao động mệt nhọc. Hội cốm của người Tày cũng là dịp để tạ ơn thần linh, trời đất đã phù họ mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, ngô thóc đầy bồ. Công tác chuẩn bị cho ngày hội cốm được chuẩn bị từ đầu vụ lúa nhưng phải đến gần ngày hội không khí khẩn trương, nhộn nhịp mới lan tỏa khắp các bản làng. Các gia đình ở huyện miền núi Bảo Yên rộn ràng làm cốm. Chị em phụ nữ trong bản đảm nhận việc gặt lứa còn cánh đàn ông phụ trách phơi lò, chẻ lạt, bổ củi, làm sàn gác sấy cốm. Lúa nếp sau khi được thu hoạch về sắp hàng bên suối rồi nhặt rửa từng bông một. Bông lúa sau đó được đưa lên xếp trên vỉ liếp đan bằng than tre đặt trên miệng lò. Chị em phụ nữ trong bản đặt mỗi lần 5 bông lên vỉ rồi nhanh tay lật đi lật lại sai cho hạt lúa chín đều. Cóm sau khi được sấy xong phải mềm, có mùi thơm dịu. Giã cốm là công đoạn quan trọng nhất trong ngày hội cốm Giã cốm là công đoạn quan trọng nhất trong ngày hội cốm. Bên bờ suối, những chàng trai khỏe mạnh và cả các bà, các mẹ cũng tham gia giã cốm. Người rang, người giã, người sàng, người sảy... tạo nên không khí ngày hội náo nhiệt, đông vui. Hội cốm không chỉ mang ý nghĩa thông báo mùa vụ bội thu mà còn là dịp mời tổ tiên, thần linh về thưởng cốm. Cơm cốm là món ăn không thể thiếu trên bàn thờ tổ tiên trong những ngày này. Cơm cốm được nấu bằng cách rưới nước luộc vịt đã tẩm sẵn gia vị vào nồi cốm hạt. Cơm cốm được múc ra lá dong, gói thành hình chữ nhật hoặc hình vuông. Sau khi làm lễ, từng hạt cốm được dân làng mời nhau để thưởng thức hạt ngọc bản. Bánh cốm sử dụng thịt vịt luộc chín tới để làm nhân. Ngoài ra còn có thịt băm viên xào với hạt dổi, bột đậu đen, nhân quả đài hái... Nhân được cho vào giữa cốm, dùng lá dong gói lại như bánh chưng. Mâm cỗ cúng trong ngày hội cốm Hội cốm là ngày hội mang đậm văn hóa truyền thống của người Tày. Du khách tham dự hội cốm được thưởng thức những hạt cốm xanh đều, hấp dẫn và những món ăn đặc trưng của người Tày.

Hội cốm của người Tày ở huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai thường bắt đầu sau vụ gặt, thời điểm nhàn rỗi trong năm. Đây là dịp để người dân nghỉ ngơi sau một năm dãi nắng dầm mưa, hưởng thụ thành quả sau những ngày lao động mệt nhọc. Hội cốm của người Tày cũng là dịp để tạ ơn thần linh, trời đất đã phù họ mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, ngô thóc đầy bồ.

Công tác chuẩn bị cho ngày hội cốm được chuẩn bị từ đầu vụ lúa nhưng phải đến gần ngày hội không khí khẩn trương, nhộn nhịp mới lan tỏa khắp các bản làng. Các gia đình ở huyện miền núi Bảo Yên rộn ràng làm cốm. Chị em phụ nữ trong bản đảm nhận việc gặt lứa còn cánh đàn ông phụ trách phơi lò, chẻ lạt, bổ củi, làm sàn gác sấy cốm. Lúa nếp sau khi được thu hoạch về sắp hàng bên suối rồi nhặt rửa từng bông một. Bông lúa sau đó được đưa lên xếp trên vỉ liếp đan bằng than tre đặt trên miệng lò. Chị em phụ nữ trong bản đặt mỗi lần 5 bông lên vỉ rồi nhanh tay lật đi lật lại sai cho hạt lúa chín đều. Cóm sau khi được sấy xong phải mềm, có mùi thơm dịu.

Giã cốm là công đoạn quan trọng nhất trong ngày hội cốm

Giã cốm là công đoạn quan trọng nhất trong ngày hội cốm. Bên bờ suối, những chàng trai khỏe mạnh và cả các bà, các mẹ cũng tham gia giã cốm. Người rang, người giã, người sàng, người sảy... tạo nên không khí ngày hội náo nhiệt, đông vui. Hội cốm không chỉ mang ý nghĩa thông báo mùa vụ bội thu mà còn là dịp mời tổ tiên, thần linh về thưởng cốm. Cơm cốm là món ăn không thể thiếu trên bàn thờ tổ tiên trong những ngày này. Cơm cốm được nấu bằng cách rưới nước luộc vịt đã tẩm sẵn gia vị vào nồi cốm hạt. Cơm cốm được múc ra lá dong, gói thành hình chữ nhật hoặc hình vuông. Sau khi làm lễ, từng hạt cốm được dân làng mời nhau để thưởng thức hạt ngọc bản. Bánh cốm sử dụng thịt vịt luộc chín tới để làm nhân. Ngoài ra còn có thịt băm viên xào với hạt dổi, bột đậu đen, nhân quả đài hái... Nhân được cho vào giữa cốm, dùng lá dong gói lại như bánh chưng.

Mâm cỗ cúng trong ngày hội cốm

Hội cốm là ngày hội mang đậm văn hóa truyền thống của người Tày. Du khách tham dự hội cốm được thưởng thức những hạt cốm xanh đều, hấp dẫn và những món ăn đặc trưng của người Tày.

Related Figures

Lễ hội vật Liễu Đôi

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 5/1- 7/1 Âm lịch Liễu Đôi là làng giàu truyền thống thượng võ. Hội vật Liễu Đôi được tổ chức tại làng Liễu Đôi, xã Liêm Túc, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Hội vật Liễu Đôi nổi tiếng xa gần, thu hút rất đông các đô vật đến tranh tài. Thắp hương dâng lễ trong hội vật Liễu Đôi Hội vật Liễu Đôi là hội làng tiêu biểu ở Hà Nam diễn ra từ 5-7/1 âm lịch. Hội vật là dịp tưởng nhớ công lao Thánh Ông - chàng trai họ Đoàn giỏi võ, có công đánh giặc phương Bắc cứu nước. Ông đồng thời là ông tổ nghề vật võ. Hội vật Liễu Đôi cho phép chị em phụ nữ tham gia. Trận đấu gay cấn trong hội vật Liễu Đôi Không giống những lễ hội khác, vật võ chỉ là một trò vui trong lễ hội. Ở hội vật Liễu Đôi, vật là nội dung chính. Mở đầu nghi thức trong hội vật Liễu Đôi là lễ Rước Thánh và dóng. Lễ rước nghiêm trang thể hiện tinh thần thượng võ. Lễ rước trong hội vật Liễu Đôi được cử hành trang trọng từ đền Ông đến xới vật. Sau đó tới lễ phát hỏa, một ngọn lửa thật sáng được đốt lên, ông Trùm trao gươm và khăn đào cho đô vật danh dự (đây được gọi là lễ trao gươm và thắt khăn đào). Cuối cùng là lễ Thanh Đông (hay lễ múa cờ tụ nghĩa). Sau phần nghi lễ, các cuộc đấu vật chính thức bắt đầu. Hai bé trai được dân làng cử ra vật năm keo để trình làng, sau đó các đô vật Liễu Đôi giao đấu trước rồi mới đến phần tranh tài các các đô vật nơi khác. Đông đảo người dân tham gia hội vật Liễu Đôi Ngoài vật võ, hội vật Liễu Đôi còn biểu diễn nhiều tiết mục văn nghệ đặc sắc như: hát vè, hát đối đáp... Du khách tham dự hội vật Liễu Đôi còn được thưởng thức nhiều món đặc sản do người dân địa phương chế biến.

Thắp hương dâng lễ trong hội vật Liễu Đôi Hội vật Liễu Đôi là hội làng tiêu biểu ở Hà Nam diễn ra từ 5-7/1 âm lịch. Hội vật là dịp tưởng nhớ công lao Thánh Ông - chàng trai họ Đoàn giỏi võ, có công đánh giặc phương Bắc cứu nước. Ông đồng thời là ông tổ nghề vật võ. Hội vật Liễu Đôi cho phép chị em phụ nữ tham gia. Trận đấu gay cấn trong hội vật Liễu Đôi Không giống những lễ hội khác, vật võ chỉ là một trò vui trong lễ hội. Ở hội vật Liễu Đôi, vật là nội dung chính. Mở đầu nghi thức trong hội vật Liễu Đôi là lễ Rước Thánh và dóng. Lễ rước nghiêm trang thể hiện tinh thần thượng võ. Lễ rước trong hội vật Liễu Đôi được cử hành trang trọng từ đền Ông đến xới vật. Sau đó tới lễ phát hỏa, một ngọn lửa thật sáng được đốt lên, ông Trùm trao gươm và khăn đào cho đô vật danh dự (đây được gọi là lễ trao gươm và thắt khăn đào). Cuối cùng là lễ Thanh Đông (hay lễ múa cờ tụ nghĩa). Sau phần nghi lễ, các cuộc đấu vật chính thức bắt đầu. Hai bé trai được dân làng cử ra vật năm keo để trình làng, sau đó các đô vật Liễu Đôi giao đấu trước rồi mới đến phần tranh tài các các đô vật nơi khác. Đông đảo người dân tham gia hội vật Liễu Đôi Ngoài vật võ, hội vật Liễu Đôi còn biểu diễn nhiều tiết mục văn nghệ đặc sắc như: hát vè, hát đối đáp... Du khách tham dự hội vật Liễu Đôi còn được thưởng thức nhiều món đặc sản do người dân địa phương chế biến.

Hội vật Liễu Đôi là hội làng tiêu biểu ở Hà Nam diễn ra từ 5-7/1 âm lịch. Hội vật là dịp tưởng nhớ công lao Thánh Ông - chàng trai họ Đoàn giỏi võ, có công đánh giặc phương Bắc cứu nước. Ông đồng thời là ông tổ nghề vật võ. Hội vật Liễu Đôi cho phép chị em phụ nữ tham gia.

Trận đấu gay cấn trong hội vật Liễu Đôi

Không giống những lễ hội khác, vật võ chỉ là một trò vui trong lễ hội. Ở hội vật Liễu Đôi, vật là nội dung chính. Mở đầu nghi thức trong hội vật Liễu Đôi là lễ Rước Thánh và dóng. Lễ rước nghiêm trang thể hiện tinh thần thượng võ. Lễ rước trong hội vật Liễu Đôi được cử hành trang trọng từ đền Ông đến xới vật. Sau đó tới lễ phát hỏa, một ngọn lửa thật sáng được đốt lên, ông Trùm trao gươm và khăn đào cho đô vật danh dự (đây được gọi là lễ trao gươm và thắt khăn đào). Cuối cùng là lễ Thanh Đông (hay lễ múa cờ tụ nghĩa). Sau phần nghi lễ, các cuộc đấu vật chính thức bắt đầu. Hai bé trai được dân làng cử ra vật năm keo để trình làng, sau đó các đô vật Liễu Đôi giao đấu trước rồi mới đến phần tranh tài các các đô vật nơi khác.

Đông đảo người dân tham gia hội vật Liễu Đôi

Ngoài vật võ, hội vật Liễu Đôi còn biểu diễn nhiều tiết mục văn nghệ đặc sắc như: hát vè, hát đối đáp... Du khách tham dự hội vật Liễu Đôi còn được thưởng thức nhiều món đặc sản do người dân địa phương chế biến.

Related Figures

Lễ hội chùa Châu

Thông tin thời kỳ

Lễ hội truyền thống chùa Châu mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc với các hoạt động tế, lễ rước... tại tiểu khu Châu Giang và thôn Sáp. Song song với phần nghi lễ long trọng là nhiều hoạt động thi đấu thể thao sôi nổi như: bóng chuyền hơi, đua thuyền, cầu lông... thu hút đông đảo người dân tham gia. Lễ hội truyền thống chùa Châu Chùa Châu có tên Châu Sơn Tự (ngôi chùa trên núi Châu). Chùa Châu là ngôi chùa cổ, được trùng tu năm Thành Thái thứ 9. Chùa Châu có 3 tòa, kiến trúc kiểu tiền hình chữ nhất, hậu hình chữ Đinh, cột đồng trụ và bờ bảng theo phong cách cổ. Chùa Châu quay hướng nam, phía tây giáp 3 gian đền thờ danh tướng Phạm Ngũ Lão, phía đông có 5 gian thờ tổ. Phía tước có 2 tòa phủ 5 gian biệt lập thờ Thủy Tinh phu nhân và Bạch Hoa công chúa. Toàn khu vực chùa gồm 30 gian lớn nhỏ. Chùa Châu là ngôi chùa cổ ở Hà Nam Chùa Châu có nhiều tượng phật không thật lớn nhưng đẹp như tượng Tam Thế, tượng A Di Đà, tượng Di Lặc, tượng Tuyết Sơn...Chùa Châu còn có một số đồ thờ bằng đá như bát hương mâm bồng, bình hương được trạm khắc công phu. Trong sân chùa có nhiều cây lâu năm, phía trước có khoảng sân rộng là đường chính đạo đi ra cổng. Chùa Châu được Bộ Văn hóa - Thông tin cấp bằng công nhận Di tích lịch sử Văn hóa và Thắng cảnh cấp Nhà nước năm 1994. Động Phúc Long dáng rồng thắt ở chùa Châu Trải qua những thăng trầm lịch sử, nhân dân Châu Giang vẫn giữ gìn được di sản văn hóa có giá trị là "Quần thể di tích, đình, chùa Châu". Hội chùa Châu là sinh hoạt văn hóa dân gian không thể thiếu của người dân nơi đây.

Lễ hội truyền thống chùa Châu Chùa Châu có tên Châu Sơn Tự (ngôi chùa trên núi Châu). Chùa Châu là ngôi chùa cổ, được trùng tu năm Thành Thái thứ 9. Chùa Châu có 3 tòa, kiến trúc kiểu tiền hình chữ nhất, hậu hình chữ Đinh, cột đồng trụ và bờ bảng theo phong cách cổ. Chùa Châu quay hướng nam, phía tây giáp 3 gian đền thờ danh tướng Phạm Ngũ Lão, phía đông có 5 gian thờ tổ. Phía tước có 2 tòa phủ 5 gian biệt lập thờ Thủy Tinh phu nhân và Bạch Hoa công chúa. Toàn khu vực chùa gồm 30 gian lớn nhỏ. Chùa Châu là ngôi chùa cổ ở Hà Nam Chùa Châu có nhiều tượng phật không thật lớn nhưng đẹp như tượng Tam Thế, tượng A Di Đà, tượng Di Lặc, tượng Tuyết Sơn...Chùa Châu còn có một số đồ thờ bằng đá như bát hương mâm bồng, bình hương được trạm khắc công phu. Trong sân chùa có nhiều cây lâu năm, phía trước có khoảng sân rộng là đường chính đạo đi ra cổng. Chùa Châu được Bộ Văn hóa - Thông tin cấp bằng công nhận Di tích lịch sử Văn hóa và Thắng cảnh cấp Nhà nước năm 1994. Động Phúc Long dáng rồng thắt ở chùa Châu Trải qua những thăng trầm lịch sử, nhân dân Châu Giang vẫn giữ gìn được di sản văn hóa có giá trị là "Quần thể di tích, đình, chùa Châu". Hội chùa Châu là sinh hoạt văn hóa dân gian không thể thiếu của người dân nơi đây.

Chùa Châu có tên Châu Sơn Tự (ngôi chùa trên núi Châu). Chùa Châu là ngôi chùa cổ, được trùng tu năm Thành Thái thứ 9. Chùa Châu có 3 tòa, kiến trúc kiểu tiền hình chữ nhất, hậu hình chữ Đinh, cột đồng trụ và bờ bảng theo phong cách cổ. Chùa Châu quay hướng nam, phía tây giáp 3 gian đền thờ danh tướng Phạm Ngũ Lão, phía đông có 5 gian thờ tổ. Phía tước có 2 tòa phủ 5 gian biệt lập thờ Thủy Tinh phu nhân và Bạch Hoa công chúa. Toàn khu vực chùa gồm 30 gian lớn nhỏ.

Chùa Châu là ngôi chùa cổ ở Hà Nam

Chùa Châu có nhiều tượng phật không thật lớn nhưng đẹp như tượng Tam Thế, tượng A Di Đà, tượng Di Lặc, tượng Tuyết Sơn...Chùa Châu còn có một số đồ thờ bằng đá như bát hương mâm bồng, bình hương được trạm khắc công phu. Trong sân chùa có nhiều cây lâu năm, phía trước có khoảng sân rộng là đường chính đạo đi ra cổng. Chùa Châu được Bộ Văn hóa - Thông tin cấp bằng công nhận Di tích lịch sử Văn hóa và Thắng cảnh cấp Nhà nước năm 1994.

Động Phúc Long dáng rồng thắt ở chùa Châu

Trải qua những thăng trầm lịch sử, nhân dân Châu Giang vẫn giữ gìn được di sản văn hóa có giá trị là "Quần thể di tích, đình, chùa Châu". Hội chùa Châu là sinh hoạt văn hóa dân gian không thể thiếu của người dân nơi đây.

Related Figures

Hội vật đuổi giải đình Vĩnh Mỗ

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 7/1- 11/1 Âm lịch Hội vật đuổi giải đình Vĩnh Mộ tổ chức ngày 7-11/1 âm lịch tại thôn Vĩnh Tề, xã Cao Xá, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Hội đình Vĩnh Mộ nhằm tưởng nhớ công ơn Thành hoàng làng. Hội vật đuổi giải truyền thống Vĩnh Mộ Vĩnh Tề là vùng đất cổ có tên là kẻ Mạc, là vùng đất văn hiến, giàu truyền thống khoa bảng. Chỉ riêng thời Hậu Lê, Vĩnh Tề có tới 3 tiến sĩ là Nguyễn Như Thức (đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ), Nguyễn Tự (đỗ đệ nhị giáp tiến sĩ) và Nguyễn Văn Oánh (đỗ đệ táp giáp đồng tiến sĩ). Đông đảo người dân tham gia hội vật đuổi giải Vĩnh Mộ Đình Vĩnh Mộ thờ thần hoàng làng là Nguyễn Như Kỳ thời Hùng Vương thứ 18 có công cùng Tản Viên Sơn Thánh đánh đuổi giặc Thục. Ông cũng là người có công chiêu dân, khai khẩn lập ra ấp Thanh Hà. Để tưởng nhớ công ơn to lớn của Nguyễn Như Kỳ, người dân lập miếu thờ ông ở trong đê sông Hồng. Đến thời Lê Mạc, người dân trong vùng dựng ngôi đình thờ ông ở trung tâm thôn Vĩnh Tề. Đô vật tham gia hội vật đuổi giải Vĩnh Mộ Hội vật đuổi giải đầu xuân đình Vĩnh Tề là lễ hội truyền thống tưởng nhớ những trận chiến của quân sĩ, đồng thời thể hiện tinh thần thượng võ của người dân Vĩnh Tề. Ngày 7/1 bắt đầu vào đám. Tất cả các xóm trong thôn Vĩnh Tề đều dâng lễ vật cúng Thần gồm thủ lợn, bánh trái, hoa quả... Dân làng rước kiệu về xóm Dương Khuê (nơi tập trung quân linh đi đánh giặc Thục). Sau đó, tổ chức những trận đấu vật giữa các xóm có treo giải. Xóm Nguyễn Xá có hội vật "đuổi giải" rất độc đáo. Phong tục này có nguồn gốc từ việc rượt đuổi quân giặc ra khỏi làng. Lệ này kéo dài đến ngày 11/1 thì kết thúc. Hội vật đuổi giải đình Vĩnh Mộ có đặc trưng khác với tất cả các hội vật khác trên cả nước. Đuổi giải chính là nét đặc biệt làm cho hội vật Vĩnh Mộ trở nên độc nhất vô nhị. Sau trận chung kết đến phần đuổi giải. Đô vật giành chiến thắng tuyệt đối, người thắng cuộc phải leo lên cột cờ giật lấy giải rồi cắm đầu cắm cổ chạy ra khỏi làng. Dân làng đuỏi theo, đến khi người thắng cuộc nhảy xuống nước thì dân làng mới không đuổi nữa. Nếu người cầm giải quay đầu lại thì sẽ bị người dân đánh đòn, năm đó không gặp may mắn. Hội vật đuổi giải Vĩnh Mộ là một trong những lễ hội truyền thống độc đáo ở Phú Thọ. Lễ hội bị gián đoạn hơn 60 năm, đến năm 2010 được khôi phục lại.

Hội vật đuổi giải truyền thống Vĩnh Mộ Vĩnh Tề là vùng đất cổ có tên là kẻ Mạc, là vùng đất văn hiến, giàu truyền thống khoa bảng. Chỉ riêng thời Hậu Lê, Vĩnh Tề có tới 3 tiến sĩ là Nguyễn Như Thức (đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ), Nguyễn Tự (đỗ đệ nhị giáp tiến sĩ) và Nguyễn Văn Oánh (đỗ đệ táp giáp đồng tiến sĩ). Đông đảo người dân tham gia hội vật đuổi giải Vĩnh Mộ Đình Vĩnh Mộ thờ thần hoàng làng là Nguyễn Như Kỳ thời Hùng Vương thứ 18 có công cùng Tản Viên Sơn Thánh đánh đuổi giặc Thục. Ông cũng là người có công chiêu dân, khai khẩn lập ra ấp Thanh Hà. Để tưởng nhớ công ơn to lớn của Nguyễn Như Kỳ, người dân lập miếu thờ ông ở trong đê sông Hồng. Đến thời Lê Mạc, người dân trong vùng dựng ngôi đình thờ ông ở trung tâm thôn Vĩnh Tề. Đô vật tham gia hội vật đuổi giải Vĩnh Mộ Hội vật đuổi giải đầu xuân đình Vĩnh Tề là lễ hội truyền thống tưởng nhớ những trận chiến của quân sĩ, đồng thời thể hiện tinh thần thượng võ của người dân Vĩnh Tề. Ngày 7/1 bắt đầu vào đám. Tất cả các xóm trong thôn Vĩnh Tề đều dâng lễ vật cúng Thần gồm thủ lợn, bánh trái, hoa quả... Dân làng rước kiệu về xóm Dương Khuê (nơi tập trung quân linh đi đánh giặc Thục). Sau đó, tổ chức những trận đấu vật giữa các xóm có treo giải. Xóm Nguyễn Xá có hội vật "đuổi giải" rất độc đáo. Phong tục này có nguồn gốc từ việc rượt đuổi quân giặc ra khỏi làng. Lệ này kéo dài đến ngày 11/1 thì kết thúc. Hội vật đuổi giải đình Vĩnh Mộ có đặc trưng khác với tất cả các hội vật khác trên cả nước. Đuổi giải chính là nét đặc biệt làm cho hội vật Vĩnh Mộ trở nên độc nhất vô nhị. Sau trận chung kết đến phần đuổi giải. Đô vật giành chiến thắng tuyệt đối, người thắng cuộc phải leo lên cột cờ giật lấy giải rồi cắm đầu cắm cổ chạy ra khỏi làng. Dân làng đuỏi theo, đến khi người thắng cuộc nhảy xuống nước thì dân làng mới không đuổi nữa. Nếu người cầm giải quay đầu lại thì sẽ bị người dân đánh đòn, năm đó không gặp may mắn. Hội vật đuổi giải Vĩnh Mộ là một trong những lễ hội truyền thống độc đáo ở Phú Thọ. Lễ hội bị gián đoạn hơn 60 năm, đến năm 2010 được khôi phục lại.

Vĩnh Tề là vùng đất cổ có tên là kẻ Mạc, là vùng đất văn hiến, giàu truyền thống khoa bảng. Chỉ riêng thời Hậu Lê, Vĩnh Tề có tới 3 tiến sĩ là Nguyễn Như Thức (đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ), Nguyễn Tự (đỗ đệ nhị giáp tiến sĩ) và Nguyễn Văn Oánh (đỗ đệ táp giáp đồng tiến sĩ).

Đông đảo người dân tham gia hội vật đuổi giải Vĩnh Mộ

Đình Vĩnh Mộ thờ thần hoàng làng là Nguyễn Như Kỳ thời Hùng Vương thứ 18 có công cùng Tản Viên Sơn Thánh đánh đuổi giặc Thục. Ông cũng là người có công chiêu dân, khai khẩn lập ra ấp Thanh Hà. Để tưởng nhớ công ơn to lớn của Nguyễn Như Kỳ, người dân lập miếu thờ ông ở trong đê sông Hồng. Đến thời Lê Mạc, người dân trong vùng dựng ngôi đình thờ ông ở trung tâm thôn Vĩnh Tề.

Đô vật tham gia hội vật đuổi giải Vĩnh Mộ

Hội vật đuổi giải đầu xuân đình Vĩnh Tề là lễ hội truyền thống tưởng nhớ những trận chiến của quân sĩ, đồng thời thể hiện tinh thần thượng võ của người dân Vĩnh Tề. Ngày 7/1 bắt đầu vào đám. Tất cả các xóm trong thôn Vĩnh Tề đều dâng lễ vật cúng Thần gồm thủ lợn, bánh trái, hoa quả... Dân làng rước kiệu về xóm Dương Khuê (nơi tập trung quân linh đi đánh giặc Thục). Sau đó, tổ chức những trận đấu vật giữa các xóm có treo giải. Xóm Nguyễn Xá có hội vật "đuổi giải" rất độc đáo. Phong tục này có nguồn gốc từ việc rượt đuổi quân giặc ra khỏi làng. Lệ này kéo dài đến ngày 11/1 thì kết thúc. Hội vật đuổi giải đình Vĩnh Mộ có đặc trưng khác với tất cả các hội vật khác trên cả nước. Đuổi giải chính là nét đặc biệt làm cho hội vật Vĩnh Mộ trở nên độc nhất vô nhị. Sau trận chung kết đến phần đuổi giải. Đô vật giành chiến thắng tuyệt đối, người thắng cuộc phải leo lên cột cờ giật lấy giải rồi cắm đầu cắm cổ chạy ra khỏi làng. Dân làng đuỏi theo, đến khi người thắng cuộc nhảy xuống nước thì dân làng mới không đuổi nữa. Nếu người cầm giải quay đầu lại thì sẽ bị người dân đánh đòn, năm đó không gặp may mắn.

Hội vật đuổi giải Vĩnh Mộ là một trong những lễ hội truyền thống độc đáo ở Phú Thọ. Lễ hội bị gián đoạn hơn 60 năm, đến năm 2010 được khôi phục lại.

Related Figures

Hội bắt lợn Ông Cầu

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 5/1 Âm lịch Hội bắt lợn Ông Cầu là lễ hội cổ truyền độc đáo của người dân Hà Thạch. Hôi bắt lợn Ông Cầu tái hiện lại cuộc sống sinh hoạt của người Việt cổ thời kỳ đầu dựng nước. Hội bắt Ông Cầu truyền thống làng Hà Thạch Tương truyền, từ thời các vua Hùng, làng Hà Thạch là khu rừng rậm nguyên sơ, thú rừng hoang dã. Đây là vùng có địa hình thuận lợi về mặt quân sự, vùng vành đai bảo vệ kinh đô. Hà Thạch thường được chọn là điểm đóng quân và quyệt binh của quân đội nhà nước Văn Lang. Các vị lạc hầu, tướng thường tổ chức các cuộc đi săn lợn rừng để rèn luyện tinh thần thể lực, nâng cao tinh thần thượng võ và khao quân sau mỗi lần thắng trận. Cuộc đi săn này được duy trì từ đời này sang đời khác, hình thành nên lễ hội bắt Ông Cầu điich đáo này. Trải qua nhiều thăng trầm lịch sử, lễ hội bắt Ông Cầu làng Hà Thạch đã từng bị mai một nhưng được chính quyền địa phương phục dựng lại năm 1992 theo đúng nghi lễ truyền thống. Ông Cầu được đưa về đình Tế lễ Dân làng Hà Thạch chọn lợn rất khắt khe: đó phải là con lợn đực, choai choai, chạy khỏe, đen tuyền. Ngày 23 tháng Chạp, hai hộ dân khá giả, gia đình nề nếp gia phong được dân làng chọn nuôi lợn. Nhà của Ông Cầu được làm mới tinh tươm, khung tre, lợp lá cọ, trên nóc phải dựng cờ lễ, cửa chuồng hướng về phía đền. Việc cho Ông Cầu ăn cũng rất cầu kỳ, không được cho ăn cám, ăn rau như lợn thường mà phải cho ăn cháo hoa ngày 3 bữa, cháo được đổ vào máng gỗ. Chuồng ông Cầu lúc nào cũng phải sạch sẽ, tắm rửa thường xuyên. Trước khi cho Ông Cầu ăn, chủ nuôi phải mặc quần áo lễ, trịnh trọng thắp hương xin phép Thành hoàng làng. Đông đảo người dân tham gia hội bắt Ông Cầu Hà Thạch Ngày 5/1, dân làng rước Ông Cầu ra một bãi đất rộng làm nghi lễ ôn lại ý nghĩa, lịch sử của lễ hội, chủ tế đánh trống khai hội và phát lệnh thả Ông Cầu để bắt đầu cuộc đi săn. Dân làng Hà Thạch quan niệm ai bắt được Ông Cầu hoặc chạm vào Ông Cầu thì cả năm đó gặp may mắn, làm ăn thuận lợi. Kết thúc cuộc đi săn, 2 Ông Cầu được đưa về đình làng làm lễ tế Thần và Thành hoàng làng. Hội Ông Cầu trở thành ngày hội đoàn kết của người dân, là lễ hội độc đáo cần được giữ gìn và phát huy.

Hội bắt lợn Ông Cầu là lễ hội cổ truyền độc đáo của người dân Hà Thạch. Hôi bắt lợn Ông Cầu tái hiện lại cuộc sống sinh hoạt của người Việt cổ thời kỳ đầu dựng nước.

Hội bắt Ông Cầu truyền thống làng Hà Thạch

Tương truyền, từ thời các vua Hùng, làng Hà Thạch là khu rừng rậm nguyên sơ, thú rừng hoang dã. Đây là vùng có địa hình thuận lợi về mặt quân sự, vùng vành đai bảo vệ kinh đô. Hà Thạch thường được chọn là điểm đóng quân và quyệt binh của quân đội nhà nước Văn Lang. Các vị lạc hầu, tướng thường tổ chức các cuộc đi săn lợn rừng để rèn luyện tinh thần thể lực, nâng cao tinh thần thượng võ và khao quân sau mỗi lần thắng trận. Cuộc đi săn này được duy trì từ đời này sang đời khác, hình thành nên lễ hội bắt Ông Cầu điich đáo này. Trải qua nhiều thăng trầm lịch sử, lễ hội bắt Ông Cầu làng Hà Thạch đã từng bị mai một nhưng được chính quyền địa phương phục dựng lại năm 1992 theo đúng nghi lễ truyền thống.

Ông Cầu được đưa về đình Tế lễ

Dân làng Hà Thạch chọn lợn rất khắt khe: đó phải là con lợn đực, choai choai, chạy khỏe, đen tuyền. Ngày 23 tháng Chạp, hai hộ dân khá giả, gia đình nề nếp gia phong được dân làng chọn nuôi lợn. Nhà của Ông Cầu được làm mới tinh tươm, khung tre, lợp lá cọ, trên nóc phải dựng cờ lễ, cửa chuồng hướng về phía đền. Việc cho Ông Cầu ăn cũng rất cầu kỳ, không được cho ăn cám, ăn rau như lợn thường mà phải cho ăn cháo hoa ngày 3 bữa, cháo được đổ vào máng gỗ. Chuồng ông Cầu lúc nào cũng phải sạch sẽ, tắm rửa thường xuyên. Trước khi cho Ông Cầu ăn, chủ nuôi phải mặc quần áo lễ, trịnh trọng thắp hương xin phép Thành hoàng làng.

Đông đảo người dân tham gia hội bắt Ông Cầu Hà Thạch

Ngày 5/1, dân làng rước Ông Cầu ra một bãi đất rộng làm nghi lễ ôn lại ý nghĩa, lịch sử của lễ hội, chủ tế đánh trống khai hội và phát lệnh thả Ông Cầu để bắt đầu cuộc đi săn. Dân làng Hà Thạch quan niệm ai bắt được Ông Cầu hoặc chạm vào Ông Cầu thì cả năm đó gặp may mắn, làm ăn thuận lợi. Kết thúc cuộc đi săn, 2 Ông Cầu được đưa về đình làng làm lễ tế Thần và Thành hoàng làng.

Hội Ông Cầu trở thành ngày hội đoàn kết của người dân, là lễ hội độc đáo cần được giữ gìn và phát huy.

Related Figures

Hội Hà Thạch

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/10 Âm lịch Hàng năm, dân làng Hà Thạch tổ chức nhiều lễ hội truyền thống, lớn nhất là lễ chém lợn ngày 5/1 âm lịch và lễ cầu truyền thống ngày 10/10 âm lịch. Hội Hà Thạch được tổ chức trang nghiêm theo nghi thức truyền thống, cầu quốc thái dân an, nhà nhà ấm no hạnh phúc, làm ăn thuận lợi. Lễ hội truyền thống Hà Thạch Làng Hà Thạch có tên tục là Kẻ Thiệc thuộc xã Hà Thạch, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ. Làng Hà Thạch thờ nhiều vị Thành hoàng: Vua Hùng, Đức thánh Tản Viên, Chử Đồng Tử - Tiên Dung, Hai Bà Trưng, nữ tướng Mai Hoa, Thủy thần... Đông đảo người dân Hà Thạch tham gia lễ hội Trong hội Hà Thạch, cả ba thôn Thượng, Trung, Hạ rước kiệu thôn về đình Cả. Có 5 cô gái nhà tơ trình diễn điệu múa quanh 3 cỗ kiệu. 5 cô gái duyên dáng, dịu dàng trong trang phục áo và khăn đội đầu khác màu, người đi đầu trang phục màu vàng. Trong hội Hà Thạch có biểu diễn múa rồng rắn, tung bông... Cô gái đi đầu đưa tay trái về phía trước làm đầu rắn, tay kia múa. Những cô gái theo sau, một tay giữ vào thắt lưng người đi trước, tay kia múa. Cô gái đi sau cùng, đưa một tay về phía sau làm đuôi rắn. Những cô gái múa lượn vòng quanh kiệu vòng. Hội Hà Thạch nét văn hóa độc đáo miền quê đất tổ Ngoài nghi thức rước kiệu, tế lễ... người dân làng Hà Thạch còn tổ chức nhiều hoạt động văn hóa sôi nổi như: hát xoan, hát dân ca, múa bông, múa rồng rắn... Đây chính là nét văn hóa độc đáo của miền quê đất tổ. Hội Hà Thạch là dịp thể hiện lòng tri ân, tưởng nhớ công đức những vị thần có công với dân, với nước. Qua đây cũng giáo dục truyền thống "Uống nước nhớ nguồn" cho thế hệ con cháu. Hội Hà Thạch cũng là dịp để nhân dân gắn kết cộng đồng, cùng nhau giữ gìn giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp, xây dựng quê hương giàu mạnh, văn minh.

Lễ hội truyền thống Hà Thạch Làng Hà Thạch có tên tục là Kẻ Thiệc thuộc xã Hà Thạch, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ. Làng Hà Thạch thờ nhiều vị Thành hoàng: Vua Hùng, Đức thánh Tản Viên, Chử Đồng Tử - Tiên Dung, Hai Bà Trưng, nữ tướng Mai Hoa, Thủy thần... Đông đảo người dân Hà Thạch tham gia lễ hội Trong hội Hà Thạch, cả ba thôn Thượng, Trung, Hạ rước kiệu thôn về đình Cả. Có 5 cô gái nhà tơ trình diễn điệu múa quanh 3 cỗ kiệu. 5 cô gái duyên dáng, dịu dàng trong trang phục áo và khăn đội đầu khác màu, người đi đầu trang phục màu vàng. Trong hội Hà Thạch có biểu diễn múa rồng rắn, tung bông... Cô gái đi đầu đưa tay trái về phía trước làm đầu rắn, tay kia múa. Những cô gái theo sau, một tay giữ vào thắt lưng người đi trước, tay kia múa. Cô gái đi sau cùng, đưa một tay về phía sau làm đuôi rắn. Những cô gái múa lượn vòng quanh kiệu vòng. Hội Hà Thạch nét văn hóa độc đáo miền quê đất tổ Ngoài nghi thức rước kiệu, tế lễ... người dân làng Hà Thạch còn tổ chức nhiều hoạt động văn hóa sôi nổi như: hát xoan, hát dân ca, múa bông, múa rồng rắn... Đây chính là nét văn hóa độc đáo của miền quê đất tổ. Hội Hà Thạch là dịp thể hiện lòng tri ân, tưởng nhớ công đức những vị thần có công với dân, với nước. Qua đây cũng giáo dục truyền thống "Uống nước nhớ nguồn" cho thế hệ con cháu. Hội Hà Thạch cũng là dịp để nhân dân gắn kết cộng đồng, cùng nhau giữ gìn giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp, xây dựng quê hương giàu mạnh, văn minh.

Làng Hà Thạch có tên tục là Kẻ Thiệc thuộc xã Hà Thạch, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ. Làng Hà Thạch thờ nhiều vị Thành hoàng: Vua Hùng, Đức thánh Tản Viên, Chử Đồng Tử - Tiên Dung, Hai Bà Trưng, nữ tướng Mai Hoa, Thủy thần...

Đông đảo người dân Hà Thạch tham gia lễ hội

Trong hội Hà Thạch, cả ba thôn Thượng, Trung, Hạ rước kiệu thôn về đình Cả. Có 5 cô gái nhà tơ trình diễn điệu múa quanh 3 cỗ kiệu. 5 cô gái duyên dáng, dịu dàng trong trang phục áo và khăn đội đầu khác màu, người đi đầu trang phục màu vàng. Trong hội Hà Thạch có biểu diễn múa rồng rắn, tung bông... Cô gái đi đầu đưa tay trái về phía trước làm đầu rắn, tay kia múa. Những cô gái theo sau, một tay giữ vào thắt lưng người đi trước, tay kia múa. Cô gái đi sau cùng, đưa một tay về phía sau làm đuôi rắn. Những cô gái múa lượn vòng quanh kiệu vòng.

Hội Hà Thạch nét văn hóa độc đáo miền quê đất tổ

Ngoài nghi thức rước kiệu, tế lễ... người dân làng Hà Thạch còn tổ chức nhiều hoạt động văn hóa sôi nổi như: hát xoan, hát dân ca, múa bông, múa rồng rắn... Đây chính là nét văn hóa độc đáo của miền quê đất tổ.

Hội Hà Thạch là dịp thể hiện lòng tri ân, tưởng nhớ công đức những vị thần có công với dân, với nước. Qua đây cũng giáo dục truyền thống "Uống nước nhớ nguồn" cho thế hệ con cháu. Hội Hà Thạch cũng là dịp để nhân dân gắn kết cộng đồng, cùng nhau giữ gìn giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp, xây dựng quê hương giàu mạnh, văn minh.

Related Figures

Hội chùa Thắm

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 5/5 Âm lịch Hội chùa Thắm được tổ chức ngày 5/5 âm lịch hàng năm tại xã Võ Lao, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ. Đặc điểm của hội chùa Thắm có lễ dâng cúng Bà Chúa mở cửa rừng. Hội chùa Thắm dâng lễ Bà Chúa mở cửa rừng Chùa Thắm được xây dựng ngay dưới chân vách đá đứng của núi Thắm. Hậu cung chùa Thắm chỉ thờ duy nhất pho tượng Thích Ca tay cầm quyền trượng đứng trong vòng cửu long. Giữa sân chùa Thắm có một phiến đá thẳng, rộng, cao như một cái sập. Giữa phiến đá có một dấu chân to gấp 4 lần chân của người bình thường. Tương truyền, đây là dấu chân vua Hùng để lại khi người giã từ núi Thắm trở về núi Nghĩa Linh. Núi Thắm là ngọn núi đá, trong lòng núi có nhiều hang động. Chùa Thắm được xây dựng ở núi Thắm Hang Cả rộng lớn và sâu nhất, chưa ai đi được vào trong cùng hang. Người dân địa phương truyền nhau trong hang có đường lên trời và đường xuống âm phủ, nếu thả quả bưởi vào hang quả bưởi sẽ trôi về giếng đền Hùng. Hang thứ hai là hang Bà Chúa, bên trong hang có tiền và giếng ngọc. Giếng nhỏ và nông nhưng không bao giờ cạn. Hang thứ ba là hang Bụt do nhũ đá tạo nên. Ông Bụt có công thi lặn với quỷ để giành đất trần gian cho con người. Hang động trong núi Thắm Ngày hội chùa Thắm không giống những ngày hội hè thông lệ. Người dân dâng lễ cúng để Bà Chúa mở cửa rừng. Người cầu may, khấn vái ở Hang Bụt, hang Bà Chúa. Người ước hẹn, thanh minh thì đốt vàng mã, đập bát ở hang Thề. Nhiều người tham dự hội chùa Thăm để vãn cảnh chùa, đào củi, hái lá kiếm vị thuốc giữ nhà quanh năm. Người dân và du khách tham dự hội chùa Thắm ra về tuy mệt mỏi nhưng trong lòng nhẹ nhàng, không quên vái vọng ngôi chùa, thầm tạ ơn Bà Chúa phù hộ.

Hội chùa Thắm dâng lễ Bà Chúa mở cửa rừng Chùa Thắm được xây dựng ngay dưới chân vách đá đứng của núi Thắm. Hậu cung chùa Thắm chỉ thờ duy nhất pho tượng Thích Ca tay cầm quyền trượng đứng trong vòng cửu long. Giữa sân chùa Thắm có một phiến đá thẳng, rộng, cao như một cái sập. Giữa phiến đá có một dấu chân to gấp 4 lần chân của người bình thường. Tương truyền, đây là dấu chân vua Hùng để lại khi người giã từ núi Thắm trở về núi Nghĩa Linh. Núi Thắm là ngọn núi đá, trong lòng núi có nhiều hang động. Chùa Thắm được xây dựng ở núi Thắm Hang Cả rộng lớn và sâu nhất, chưa ai đi được vào trong cùng hang. Người dân địa phương truyền nhau trong hang có đường lên trời và đường xuống âm phủ, nếu thả quả bưởi vào hang quả bưởi sẽ trôi về giếng đền Hùng. Hang thứ hai là hang Bà Chúa, bên trong hang có tiền và giếng ngọc. Giếng nhỏ và nông nhưng không bao giờ cạn. Hang thứ ba là hang Bụt do nhũ đá tạo nên. Ông Bụt có công thi lặn với quỷ để giành đất trần gian cho con người. Hang động trong núi Thắm Ngày hội chùa Thắm không giống những ngày hội hè thông lệ. Người dân dâng lễ cúng để Bà Chúa mở cửa rừng. Người cầu may, khấn vái ở Hang Bụt, hang Bà Chúa. Người ước hẹn, thanh minh thì đốt vàng mã, đập bát ở hang Thề. Nhiều người tham dự hội chùa Thăm để vãn cảnh chùa, đào củi, hái lá kiếm vị thuốc giữ nhà quanh năm. Người dân và du khách tham dự hội chùa Thắm ra về tuy mệt mỏi nhưng trong lòng nhẹ nhàng, không quên vái vọng ngôi chùa, thầm tạ ơn Bà Chúa phù hộ.

Chùa Thắm được xây dựng ngay dưới chân vách đá đứng của núi Thắm. Hậu cung chùa Thắm chỉ thờ duy nhất pho tượng Thích Ca tay cầm quyền trượng đứng trong vòng cửu long. Giữa sân chùa Thắm có một phiến đá thẳng, rộng, cao như một cái sập. Giữa phiến đá có một dấu chân to gấp 4 lần chân của người bình thường. Tương truyền, đây là dấu chân vua Hùng để lại khi người giã từ núi Thắm trở về núi Nghĩa Linh.

Núi Thắm là ngọn núi đá, trong lòng núi có nhiều hang động.

Chùa Thắm được xây dựng ở núi Thắm

Hang Cả rộng lớn và sâu nhất, chưa ai đi được vào trong cùng hang. Người dân địa phương truyền nhau trong hang có đường lên trời và đường xuống âm phủ, nếu thả quả bưởi vào hang quả bưởi sẽ trôi về giếng đền Hùng. Hang thứ hai là hang Bà Chúa, bên trong hang có tiền và giếng ngọc. Giếng nhỏ và nông nhưng không bao giờ cạn. Hang thứ ba là hang Bụt do nhũ đá tạo nên. Ông Bụt có công thi lặn với quỷ để giành đất trần gian cho con người.

Hang động trong núi Thắm

Ngày hội chùa Thắm không giống những ngày hội hè thông lệ. Người dân dâng lễ cúng để Bà Chúa mở cửa rừng. Người cầu may, khấn vái ở Hang Bụt, hang Bà Chúa. Người ước hẹn, thanh minh thì đốt vàng mã, đập bát ở hang Thề. Nhiều người tham dự hội chùa Thăm để vãn cảnh chùa, đào củi, hái lá kiếm vị thuốc giữ nhà quanh năm. Người dân và du khách tham dự hội chùa Thắm ra về tuy mệt mỏi nhưng trong lòng nhẹ nhàng, không quên vái vọng ngôi chùa, thầm tạ ơn Bà Chúa phù hộ.

Ngày hội chùa Thắm không giống những ngày hội hè thông lệ. Người dân dâng lễ cúng để Bà Chúa mở cửa rừng. Người cầu may, khấn vái ở Hang Bụt, hang Bà Chúa. Người ước hẹn, thanh minh thì đốt vàng mã, đập bát ở hang Thề. Nhiều người tham dự hội chùa Thăm để vãn cảnh chùa, đào củi, hái lá kiếm vị thuốc giữ nhà quanh năm.

Người dân và du khách tham dự hội chùa Thắm ra về tuy mệt mỏi nhưng trong lòng nhẹ nhàng, không quên vái vọng ngôi chùa, thầm tạ ơn Bà Chúa phù hộ.

Related Figures

Hội đình Cả

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/3 Âm lịch Vào dịp đầu xuân năm mới hàng năm, người dân và du khách thập phương về tham dự hội đình Cả, thôn Phương Xá, xã Phương Xá, huyện Cẩm Khê, Phú Thọ được hòa mình vào không khí náo nhiệt trong lễ rước voi, rước ngưa... Hội đình Cả được tổ chức trang nghiêm Đình Cả được xây dựng trên một bãi đất rộng, bằng phẳng ở Phương Xá. Đình Cả thờ hai vị Thành hoàng làng là đức vua Muôn Khê và Đương Cảnh Đại vương. Hai vị đều là người làng Phùng Xá có công lớn giúp vua Lý Nhân Tông đánh đuổi quân Tống. Đình Cả cũng thờ ngũ vị Long Vương húy là: Chàng cả Minh Tự, chàng cả Dâm Di, chàng nhị Dâm Vấn, chàng ba Vấn Đôi và chàng út Đối Đầu. Ngoài ra, đình Cả còn thờ vọng bà Đào Tiên công chúa. Đoàn rước hội đình Cả Tương truyền, trước kia ở làng Phùng Xá có gia đình bà Nguyễn Thị Nãi. Ngày 3/1, bà sinh đôi được hai người con trai là Muôn Khê và Đương Cảnh. Càng lớn càng thông minh, uyên bác hơn người, văn võ toàn tài. Khi giặc Tống xâm lược nước ta, hai ông cầm quân đánh giặc cứu nước. Dẹp xong giặc ngoại xâm, hai ông trở về làng Phùng Xá mở trâu khao quân sĩ và nhân dân. Ngày 10/3, hai ông hóa tại đây. Nhà vua sắc phong hai ông là Thượng đẳng phúc thân, nhân dân lập đền thờ để tưởng nhớ. Ngũ vị Long Vương phù giúp hai ông được sắc phong nhiều lần, công trạng được ghi "Hộ quốc tế dân". Tế lễ hội đình Cả Hội đình Cả hàng năm có nhiều nghi lễ độc đáo. Đặc biệt nghi lễ tế trâu mang đậm tín ngưỡng nông nghiệp với ước mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Từ những năm 1956 trở về trước, dân làng Phùng Xá mở hội ngày 3/1 (ngày sinh) và 10/3 (ngày hóa) và ngày hiển thánh 10/8. Đêm ngày 2/1 và ngày 3/1, tổ chức cũng lễ, lễ vật gồm xôi, gà. Ngày 10/3, lễ vật cúng trên thượng cúng là gà trống thiến được dân làng tuyển chọn cẩn thận. Đặc biệt trong ngày này có lễ tế trâu. Để chuẩn bị cho lễ tế trâu, dân làng họp bàn phân cho 4 giáp đi chọn mua trâu. Trâu được chọn phải có màu đen tuyền, khỏe và đẹp. Trâu được chọn đem về nhà đăng cai nuôi đến ngày 9/3 dắt ra đình làm lễ sát sinh. Lòng trâu được đem nấu chín để cúng tế vào đêm 9/3. Lễ vật cúng xong được đem chia cho dân đinh 4 giáp. Đêm hôm đó có hát ca trù. Sáng ngày 10/3, dân làng tổ chức rước kiệu từ đình Cả ra đền Nghè. Trong đám rước có một con voi và một con ngựa đi trước (gọi là rước voi, rước ngựa). Trong hội đình Cả có nhiều trò chơi dân gian hấp dẫn như: đánh vật, chọi gà... Lễ hội đình Cả được tổ chức trang trọng, hoành tráng thể hiện văn hóa cội nguồn trong tiềm thức của người dân nơi đây.

Vào dịp đầu xuân năm mới hàng năm, người dân và du khách thập phương về tham dự hội đình Cả, thôn Phương Xá, xã Phương Xá, huyện Cẩm Khê, Phú Thọ được hòa mình vào không khí náo nhiệt trong lễ rước voi, rước ngưa...

Hội đình Cả được tổ chức trang nghiêm

Đình Cả được xây dựng trên một bãi đất rộng, bằng phẳng ở Phương Xá. Đình Cả thờ hai vị Thành hoàng làng là đức vua Muôn Khê và Đương Cảnh Đại vương. Hai vị đều là người làng Phùng Xá có công lớn giúp vua Lý Nhân Tông đánh đuổi quân Tống. Đình Cả cũng thờ ngũ vị Long Vương húy là: Chàng cả Minh Tự, chàng cả Dâm Di, chàng nhị Dâm Vấn, chàng ba Vấn Đôi và chàng út Đối Đầu. Ngoài ra, đình Cả còn thờ vọng bà Đào Tiên công chúa.

Đoàn rước hội đình Cả

Tương truyền, trước kia ở làng Phùng Xá có gia đình bà Nguyễn Thị Nãi. Ngày 3/1, bà sinh đôi được hai người con trai là Muôn Khê và Đương Cảnh. Càng lớn càng thông minh, uyên bác hơn người, văn võ toàn tài. Khi giặc Tống xâm lược nước ta, hai ông cầm quân đánh giặc cứu nước. Dẹp xong giặc ngoại xâm, hai ông trở về làng Phùng Xá mở trâu khao quân sĩ và nhân dân. Ngày 10/3, hai ông hóa tại đây. Nhà vua sắc phong hai ông là Thượng đẳng phúc thân, nhân dân lập đền thờ để tưởng nhớ. Ngũ vị Long Vương phù giúp hai ông được sắc phong nhiều lần, công trạng được ghi "Hộ quốc tế dân".

Tế lễ hội đình Cả

Hội đình Cả hàng năm có nhiều nghi lễ độc đáo. Đặc biệt nghi lễ tế trâu mang đậm tín ngưỡng nông nghiệp với ước mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Từ những năm 1956 trở về trước, dân làng Phùng Xá mở hội ngày 3/1 (ngày sinh) và 10/3 (ngày hóa) và ngày hiển thánh 10/8. Đêm ngày 2/1 và ngày 3/1, tổ chức cũng lễ, lễ vật gồm xôi, gà. Ngày 10/3, lễ vật cúng trên thượng cúng là gà trống thiến được dân làng tuyển chọn cẩn thận. Đặc biệt trong ngày này có lễ tế trâu. Để chuẩn bị cho lễ tế trâu, dân làng họp bàn phân cho 4 giáp đi chọn mua trâu. Trâu được chọn phải có màu đen tuyền, khỏe và đẹp. Trâu được chọn đem về nhà đăng cai nuôi đến ngày 9/3 dắt ra đình làm lễ sát sinh. Lòng trâu được đem nấu chín để cúng tế vào đêm 9/3. Lễ vật cúng xong được đem chia cho dân đinh 4 giáp. Đêm hôm đó có hát ca trù. Sáng ngày 10/3, dân làng tổ chức rước kiệu từ đình Cả ra đền Nghè. Trong đám rước có một con voi và một con ngựa đi trước (gọi là rước voi, rước ngựa). Trong hội đình Cả có nhiều trò chơi dân gian hấp dẫn như: đánh vật, chọi gà...

Lễ hội đình Cả được tổ chức trang trọng, hoành tráng thể hiện văn hóa cội nguồn trong tiềm thức của người dân nơi đây.

Related Figures

Hội đình làng Lâu Thượng

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 9/1- 10/1 Âm lịch Hội đình làng Lâu Thượng là một trong những lễ hội truyền thống từ xa xưa nhưng đã bị mai một và thất truyền từ hơn 60 năm qua, đến năm 2010 mới được phục dựng lại. Đình làng Lâu Thượng nơi diễn ra lễ hội Lâu Thượng là địa phương gắn với thời đại Hùng Vương và Kinh đô Văn Lang. Làng Lâu Thượng có hai ngôi đình đều thờ chung Tứ vị Đại vương là: Cao Sơn, Quý Minh Đại vương, Hai Bà Trưng và Thành hoàng làng Lý Hồng Liên (người có công khai dân lập ấp, dạy học cho nhân dân). Theo truyền thuyết, trước đây làng Lâu Thượng chỉ có một ngôi đình được xây dựng từ thời Lê thế kỷ XV. Người dân ở Lâu Thượng ngày càng đông đúc, nhân dân xây thêm một ngôi đình nữa là đình Nội để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa, hội họp của người dân. ANh1 Ngày 9 tháng Giêng âm lịch hàng năm, dân làng Lâu Thượng tổ chức rước kiệu từ đình Ngoài vào đình Nội tế lễ, sau đó rước kiệu ra trước miếu vật ở Đình Ngoại để tế lễ. Trong ngày hội làng, người dân tổ chức nhiều hoạt động vui chơi như: Đấu vật, cờ người, kéo co, đu tiên, chọi gà... Đến ngày 10 tháng Giêng, dân làng mở tiệc ăn mừng. Lễ hội truyền thống làng Lâu Thượng Qua nhiều triều đại, hội làng Lâu Thượng vẫn được bảo tồn, duy trì hàng năm. Đến năm 1947, thực dân Pháp chiếm đóng, dân làng Lâu Thượng phải đi tản cư khắp nơi. Từ đó, lễ hội không được tổ chức, đồ tế lễ bị thất lạc, đình đền xuống cấp nghiêm trọng. Những năm gần đây, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương, đình Lâu Thượng được tôn tạo và tu bổ. Để lễ hội được phục dựng lại theo đúng với truyền thống xưa, xã Trưng Vương cùng với nhiều cơ quan đơn vị của tỉnh và thành phố đã dày công tìm hiểu, tra cứu tư liệu cổ. Hội đình Lâu Thượng phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của cha ông ta. Sau nhiều năm thất truyền, hội được phụng dựng lại theo đúng truyền thống xưa.

Đình làng Lâu Thượng nơi diễn ra lễ hội Lâu Thượng là địa phương gắn với thời đại Hùng Vương và Kinh đô Văn Lang. Làng Lâu Thượng có hai ngôi đình đều thờ chung Tứ vị Đại vương là: Cao Sơn, Quý Minh Đại vương, Hai Bà Trưng và Thành hoàng làng Lý Hồng Liên (người có công khai dân lập ấp, dạy học cho nhân dân). Theo truyền thuyết, trước đây làng Lâu Thượng chỉ có một ngôi đình được xây dựng từ thời Lê thế kỷ XV. Người dân ở Lâu Thượng ngày càng đông đúc, nhân dân xây thêm một ngôi đình nữa là đình Nội để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa, hội họp của người dân. ANh1 Ngày 9 tháng Giêng âm lịch hàng năm, dân làng Lâu Thượng tổ chức rước kiệu từ đình Ngoài vào đình Nội tế lễ, sau đó rước kiệu ra trước miếu vật ở Đình Ngoại để tế lễ. Trong ngày hội làng, người dân tổ chức nhiều hoạt động vui chơi như: Đấu vật, cờ người, kéo co, đu tiên, chọi gà... Đến ngày 10 tháng Giêng, dân làng mở tiệc ăn mừng. Lễ hội truyền thống làng Lâu Thượng Qua nhiều triều đại, hội làng Lâu Thượng vẫn được bảo tồn, duy trì hàng năm. Đến năm 1947, thực dân Pháp chiếm đóng, dân làng Lâu Thượng phải đi tản cư khắp nơi. Từ đó, lễ hội không được tổ chức, đồ tế lễ bị thất lạc, đình đền xuống cấp nghiêm trọng. Những năm gần đây, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương, đình Lâu Thượng được tôn tạo và tu bổ. Để lễ hội được phục dựng lại theo đúng với truyền thống xưa, xã Trưng Vương cùng với nhiều cơ quan đơn vị của tỉnh và thành phố đã dày công tìm hiểu, tra cứu tư liệu cổ. Hội đình Lâu Thượng phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của cha ông ta. Sau nhiều năm thất truyền, hội được phụng dựng lại theo đúng truyền thống xưa.

Lâu Thượng là địa phương gắn với thời đại Hùng Vương và Kinh đô Văn Lang. Làng Lâu Thượng có hai ngôi đình đều thờ chung Tứ vị Đại vương là: Cao Sơn, Quý Minh Đại vương, Hai Bà Trưng và Thành hoàng làng Lý Hồng Liên (người có công khai dân lập ấp, dạy học cho nhân dân). Theo truyền thuyết, trước đây làng Lâu Thượng chỉ có một ngôi đình được xây dựng từ thời Lê thế kỷ XV. Người dân ở Lâu Thượng ngày càng đông đúc, nhân dân xây thêm một ngôi đình nữa là đình Nội để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa, hội họp của người dân.

ANh1

Ngày 9 tháng Giêng âm lịch hàng năm, dân làng Lâu Thượng tổ chức rước kiệu từ đình Ngoài vào đình Nội tế lễ, sau đó rước kiệu ra trước miếu vật ở Đình Ngoại để tế lễ. Trong ngày hội làng, người dân tổ chức nhiều hoạt động vui chơi như: Đấu vật, cờ người, kéo co, đu tiên, chọi gà... Đến ngày 10 tháng Giêng, dân làng mở tiệc ăn mừng.

Lễ hội truyền thống làng Lâu Thượng Qua nhiều triều đại, hội làng Lâu Thượng vẫn được bảo tồn, duy trì hàng năm. Đến năm 1947, thực dân Pháp chiếm đóng, dân làng Lâu Thượng phải đi tản cư khắp nơi. Từ đó, lễ hội không được tổ chức, đồ tế lễ bị thất lạc, đình đền xuống cấp nghiêm trọng. Những năm gần đây, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương, đình Lâu Thượng được tôn tạo và tu bổ. Để lễ hội được phục dựng lại theo đúng với truyền thống xưa, xã Trưng Vương cùng với nhiều cơ quan đơn vị của tỉnh và thành phố đã dày công tìm hiểu, tra cứu tư liệu cổ.

Hội đình Lâu Thượng phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của cha ông ta. Sau nhiều năm thất truyền, hội được phụng dựng lại theo đúng truyền thống xưa.

Related Figures

Lễ rước ông Khiu bà Khiu

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 4/1 Âm lịch Lễ rước ông Khiu bà Khiu (hay còn gọi lễ cầu mùa) được tổ chức ngày 4/1 âm lịch tại xã Thanh Đình, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Lễ rước ông Khiu, bà Khiu là một trong những lễ hội mang đậm nét văn hóa truyền thống được gìn giữ bao đời nay. Độc đáo lễ rước ông Khiu bà Khiu tại Phú Thọ Công tác chuẩn bị cho lễ rước ông Khiu bà Khiu được tiến hành hết sức nghiêm túc và cẩn thận. Bốn giáp phải cứ ra một ông cai hội. Sáng ngày 3/1, ông cai hội làm bánh chưng để rước. Bánh chưng phải được gói bằng nếp cái hoa vàng, là dong bánh tẻ to. Bánh chưng trong lễ rước ông Khiu bà Khiu có kích thước khoảng 40cm, to hơn bánh chưng ngày tết một chút. Bánh luộc chín được đặt lên mâm cùng một cành hoa đào để mang ra đình làng. Ông Khiu mặc áo chàm lam thụng xanh trong lễ rước Ông cai hội chọn một số cụ cao niên và một số thanh niên sắp lễ. Mâm lễ vật gồm có: bánh chưng, 1cành đào, 1 bó lúa nếp, 1 bó lúa tẻ, bên dưới có nhiều hạt ngô, đậu, lạc, vừng... Xung quanh có dắt những cành lau, bông chít. Giàn Khiu được làm sẵn từ ngày hôm trước, gồm 4 cây tre, 4 cây gỗ có đục mộng xà để lát ván làm sàn. Giàn Khiu cao khoảng 2m, dài 2, rộng 1,8m. Sàn giàn Khiu làm bằng gỗ, phía trên không có mái che. Ông cai hội cũng chuẩn bị 10 đoạn tre dán hình đầu trâu, đầu bò; phía trên đầu cây làm một cái nơm, một cái rổ, một lá cờ hồng bằng vải có vẽ 1 con trâu mẹ, 1 con nghé để trai làng vác trong cuộc rước. Lễ rước ông Khiu bà Khiu được tổ chức long trọng Người được chọn đóng ông Khiu phải là người đàn ông 60-65 tuổi, khỏe mạnh, đầy đủ con trai con gái, gia đình không có tang, đạo đức tốt. Ông Khiu mặc trang phục áo trắng ở trong cùng, bên ngoài mặc áo chàm lam xanh thụng, đầu đội mũ tế, quần trắng, chân đi hia. Bà Khiu do một thanh niên nam từ 12-17 tuổi đóng giả, khỏe mạnh, khôi ngô tuấn tú. Trước khi đóng bà Khiu phải tắm rửa sạch sẽ, che mặt bằng một chiếc khăn đỏ. Sau khi rước xong, bà Khiu được đưa xuống chuồng trâu để thay đồ theo tục lệ thần thánh khỏi lấy mất vía người trần tục. Bà Khiu mặc váy trắng bên trong. Bên ngoài mặc váy mớ 3 mớ 7, váy màu đen đầu đội nón ba tầm, chân đi guốc mỏ... Tay bà Khiu cầm túi hoa nhỏ bên trong có 9 miếng trầu têm cánh phượng, 9 miếng cau, 9 miếng vỏ cay. Trước khi tiến hành lễ rước, ông cai hội đánh ba hồi trống. Khi dứt trống thì rước kiệu đi từ điếm Giõng. Ông Khiu bà Khiu được rước đến sân đình. Lễ vật được đưa vào trong đình để tế lễ. Ông Khiu làm lễ đầu xuân tại đình làng. Sau đó, ông Khiu tung bánh chưng, bà Khiu tung ngũ cốc. Dân làng đổ xô thi nhau cướp bánh chưng, ngũ cốc lấy may. Ai cướp được nhiều bánh chưng, ngũ cốc thì năm đó may mắn, làm ăn phát đạt. Tế lễ xong, đội cờ, đội bát bửu, trống chiêng, sinh tiền...kiệu ông Khiu, bà Khiu được rước đi. Kết thúc cuộc rước ông Khiu bà Khiu, dân làng tổ chức nhiều trò chơi dân gian sôi nổi như đấu vật, văn nghệ, đánh cờ, kéo co...

Độc đáo lễ rước ông Khiu bà Khiu tại Phú Thọ Công tác chuẩn bị cho lễ rước ông Khiu bà Khiu được tiến hành hết sức nghiêm túc và cẩn thận. Bốn giáp phải cứ ra một ông cai hội. Sáng ngày 3/1, ông cai hội làm bánh chưng để rước. Bánh chưng phải được gói bằng nếp cái hoa vàng, là dong bánh tẻ to. Bánh chưng trong lễ rước ông Khiu bà Khiu có kích thước khoảng 40cm, to hơn bánh chưng ngày tết một chút. Bánh luộc chín được đặt lên mâm cùng một cành hoa đào để mang ra đình làng. Ông Khiu mặc áo chàm lam thụng xanh trong lễ rước Ông cai hội chọn một số cụ cao niên và một số thanh niên sắp lễ. Mâm lễ vật gồm có: bánh chưng, 1cành đào, 1 bó lúa nếp, 1 bó lúa tẻ, bên dưới có nhiều hạt ngô, đậu, lạc, vừng... Xung quanh có dắt những cành lau, bông chít. Giàn Khiu được làm sẵn từ ngày hôm trước, gồm 4 cây tre, 4 cây gỗ có đục mộng xà để lát ván làm sàn. Giàn Khiu cao khoảng 2m, dài 2, rộng 1,8m. Sàn giàn Khiu làm bằng gỗ, phía trên không có mái che. Ông cai hội cũng chuẩn bị 10 đoạn tre dán hình đầu trâu, đầu bò; phía trên đầu cây làm một cái nơm, một cái rổ, một lá cờ hồng bằng vải có vẽ 1 con trâu mẹ, 1 con nghé để trai làng vác trong cuộc rước. Lễ rước ông Khiu bà Khiu được tổ chức long trọng Người được chọn đóng ông Khiu phải là người đàn ông 60-65 tuổi, khỏe mạnh, đầy đủ con trai con gái, gia đình không có tang, đạo đức tốt. Ông Khiu mặc trang phục áo trắng ở trong cùng, bên ngoài mặc áo chàm lam xanh thụng, đầu đội mũ tế, quần trắng, chân đi hia. Bà Khiu do một thanh niên nam từ 12-17 tuổi đóng giả, khỏe mạnh, khôi ngô tuấn tú. Trước khi đóng bà Khiu phải tắm rửa sạch sẽ, che mặt bằng một chiếc khăn đỏ. Sau khi rước xong, bà Khiu được đưa xuống chuồng trâu để thay đồ theo tục lệ thần thánh khỏi lấy mất vía người trần tục. Bà Khiu mặc váy trắng bên trong. Bên ngoài mặc váy mớ 3 mớ 7, váy màu đen đầu đội nón ba tầm, chân đi guốc mỏ... Tay bà Khiu cầm túi hoa nhỏ bên trong có 9 miếng trầu têm cánh phượng, 9 miếng cau, 9 miếng vỏ cay. Trước khi tiến hành lễ rước, ông cai hội đánh ba hồi trống. Khi dứt trống thì rước kiệu đi từ điếm Giõng. Ông Khiu bà Khiu được rước đến sân đình. Lễ vật được đưa vào trong đình để tế lễ. Ông Khiu làm lễ đầu xuân tại đình làng. Sau đó, ông Khiu tung bánh chưng, bà Khiu tung ngũ cốc. Dân làng đổ xô thi nhau cướp bánh chưng, ngũ cốc lấy may. Ai cướp được nhiều bánh chưng, ngũ cốc thì năm đó may mắn, làm ăn phát đạt. Tế lễ xong, đội cờ, đội bát bửu, trống chiêng, sinh tiền...kiệu ông Khiu, bà Khiu được rước đi. Kết thúc cuộc rước ông Khiu bà Khiu, dân làng tổ chức nhiều trò chơi dân gian sôi nổi như đấu vật, văn nghệ, đánh cờ, kéo co...

Công tác chuẩn bị cho lễ rước ông Khiu bà Khiu được tiến hành hết sức nghiêm túc và cẩn thận. Bốn giáp phải cứ ra một ông cai hội. Sáng ngày 3/1, ông cai hội làm bánh chưng để rước. Bánh chưng phải được gói bằng nếp cái hoa vàng, là dong bánh tẻ to. Bánh chưng trong lễ rước ông Khiu bà Khiu có kích thước khoảng 40cm, to hơn bánh chưng ngày tết một chút. Bánh luộc chín được đặt lên mâm cùng một cành hoa đào để mang ra đình làng.

Ông Khiu mặc áo chàm lam thụng xanh trong lễ rước

Ông cai hội chọn một số cụ cao niên và một số thanh niên sắp lễ. Mâm lễ vật gồm có: bánh chưng, 1cành đào, 1 bó lúa nếp, 1 bó lúa tẻ, bên dưới có nhiều hạt ngô, đậu, lạc, vừng... Xung quanh có dắt những cành lau, bông chít. Giàn Khiu được làm sẵn từ ngày hôm trước, gồm 4 cây tre, 4 cây gỗ có đục mộng xà để lát ván làm sàn. Giàn Khiu cao khoảng 2m, dài 2, rộng 1,8m. Sàn giàn Khiu làm bằng gỗ, phía trên không có mái che.

Ông cai hội cũng chuẩn bị 10 đoạn tre dán hình đầu trâu, đầu bò; phía trên đầu cây làm một cái nơm, một cái rổ, một lá cờ hồng bằng vải có vẽ 1 con trâu mẹ, 1 con nghé để trai làng vác trong cuộc rước.

Lễ rước ông Khiu bà Khiu được tổ chức long trọng

Người được chọn đóng ông Khiu phải là người đàn ông 60-65 tuổi, khỏe mạnh, đầy đủ con trai con gái, gia đình không có tang, đạo đức tốt. Ông Khiu mặc trang phục áo trắng ở trong cùng, bên ngoài mặc áo chàm lam xanh thụng, đầu đội mũ tế, quần trắng, chân đi hia.

Bà Khiu do một thanh niên nam từ 12-17 tuổi đóng giả, khỏe mạnh, khôi ngô tuấn tú. Trước khi đóng bà Khiu phải tắm rửa sạch sẽ, che mặt bằng một chiếc khăn đỏ. Sau khi rước xong, bà Khiu được đưa xuống chuồng trâu để thay đồ theo tục lệ thần thánh khỏi lấy mất vía người trần tục. Bà Khiu mặc váy trắng bên trong. Bên ngoài mặc váy mớ 3 mớ 7, váy màu đen đầu đội nón ba tầm, chân đi guốc mỏ... Tay bà Khiu cầm túi hoa nhỏ bên trong có 9 miếng trầu têm cánh phượng, 9 miếng cau, 9 miếng vỏ cay.

Trước khi tiến hành lễ rước, ông cai hội đánh ba hồi trống. Khi dứt trống thì rước kiệu đi từ điếm Giõng. Ông Khiu bà Khiu được rước đến sân đình. Lễ vật được đưa vào trong đình để tế lễ. Ông Khiu làm lễ đầu xuân tại đình làng. Sau đó, ông Khiu tung bánh chưng, bà Khiu tung ngũ cốc. Dân làng đổ xô thi nhau cướp bánh chưng, ngũ cốc lấy may. Ai cướp được nhiều bánh chưng, ngũ cốc thì năm đó may mắn, làm ăn phát đạt. Tế lễ xong, đội cờ, đội bát bửu, trống chiêng, sinh tiền...kiệu ông Khiu, bà Khiu được rước đi.

Kết thúc cuộc rước ông Khiu bà Khiu, dân làng tổ chức nhiều trò chơi dân gian sôi nổi như đấu vật, văn nghệ, đánh cờ, kéo co...

Related Figures

Chợ phiên bò

Thông tin thời kỳ

Chợ phiên là một nét văn hóa độc đáo của người dân miền cao nguyên đá Hà Giang. Không chỉ đặc sắc với những chợ phiên trao đổi hàng hóa thông thường hay chợ tình giao duyên... ngày nay nơi đây lại độc đáo với những phiên chợ gia súc, tươi vui, nhộn nhịp. Độc đáo chợ phiên bò ở miền Cao nguyên đá Hà Giang Do địa hình phần lớn là núi đá, nghề trồng trọt khó đảm bảo cuộc sống nên những năm gần đây, đồng bào dân tộc vùng cao nguyên đã phát triển nghề chăn nuôi bò là nguồn thu nhập chính. Số lượng bò được mua bán tại các phiên chợ ngày một tăng. Người dân mua bê con về vỗ béo rồi lại mang bán ở phiên tại đây. Không chỉ có bò thịt mà bò cung cấp sức kéo cũng được mua bán ở phiên chợ này. Những chú bò đem bán trong chợ phiên bò ở miền Cao nguyên đá Hà Giang Giống như mọi phiên chợ vùng cao khác, khu mua bán bò ở chợ Sà Phìn nằm tách biệt với khu chợ hàng hóa, thực phẩm. Chợ phiên bò lúc nào cũng tấp nập kẻ mua người bán nhưng cũng có nhiều người chỉ đi chơi, đi xem chợ. Không phải tất cả số bò trong phiên chợ này đều được mua bán, nhiều người không bán được phải dắt bò về nhà chờ phiên chợ sau. Với đồng bào nơi đây, bò có thể không bán được nhưng phải uống bát rượu vui. Đông đảo người dân tham gia chợ phiên bò miền Cao nguyên đá Hà Giang Dù không nhiều hàng hóa như những phiên chợ khác, chợ phiên bò vẫn cứ nhộn nhịp, vui tươi, ấm áp đến lạ. Chợ phiên bò cũng với những chợ phiên khác không chỉ là nơi trao đổi hàng hóa mà còn là nếp sinh hoạt văn hóa đầm đà bản sắc văn hóa dân tộc vùng cao Hà Giang.

Độc đáo chợ phiên bò ở miền Cao nguyên đá Hà Giang Do địa hình phần lớn là núi đá, nghề trồng trọt khó đảm bảo cuộc sống nên những năm gần đây, đồng bào dân tộc vùng cao nguyên đã phát triển nghề chăn nuôi bò là nguồn thu nhập chính. Số lượng bò được mua bán tại các phiên chợ ngày một tăng. Người dân mua bê con về vỗ béo rồi lại mang bán ở phiên tại đây. Không chỉ có bò thịt mà bò cung cấp sức kéo cũng được mua bán ở phiên chợ này. Những chú bò đem bán trong chợ phiên bò ở miền Cao nguyên đá Hà Giang Giống như mọi phiên chợ vùng cao khác, khu mua bán bò ở chợ Sà Phìn nằm tách biệt với khu chợ hàng hóa, thực phẩm. Chợ phiên bò lúc nào cũng tấp nập kẻ mua người bán nhưng cũng có nhiều người chỉ đi chơi, đi xem chợ. Không phải tất cả số bò trong phiên chợ này đều được mua bán, nhiều người không bán được phải dắt bò về nhà chờ phiên chợ sau. Với đồng bào nơi đây, bò có thể không bán được nhưng phải uống bát rượu vui. Đông đảo người dân tham gia chợ phiên bò miền Cao nguyên đá Hà Giang Dù không nhiều hàng hóa như những phiên chợ khác, chợ phiên bò vẫn cứ nhộn nhịp, vui tươi, ấm áp đến lạ. Chợ phiên bò cũng với những chợ phiên khác không chỉ là nơi trao đổi hàng hóa mà còn là nếp sinh hoạt văn hóa đầm đà bản sắc văn hóa dân tộc vùng cao Hà Giang.

Do địa hình phần lớn là núi đá, nghề trồng trọt khó đảm bảo cuộc sống nên những năm gần đây, đồng bào dân tộc vùng cao nguyên đã phát triển nghề chăn nuôi bò là nguồn thu nhập chính. Số lượng bò được mua bán tại các phiên chợ ngày một tăng. Người dân mua bê con về vỗ béo rồi lại mang bán ở phiên tại đây. Không chỉ có bò thịt mà bò cung cấp sức kéo cũng được mua bán ở phiên chợ này.

Những chú bò đem bán trong chợ phiên bò ở miền Cao nguyên đá Hà Giang

Giống như mọi phiên chợ vùng cao khác, khu mua bán bò ở chợ Sà Phìn nằm tách biệt với khu chợ hàng hóa, thực phẩm. Chợ phiên bò lúc nào cũng tấp nập kẻ mua người bán nhưng cũng có nhiều người chỉ đi chơi, đi xem chợ. Không phải tất cả số bò trong phiên chợ này đều được mua bán, nhiều người không bán được phải dắt bò về nhà chờ phiên chợ sau. Với đồng bào nơi đây, bò có thể không bán được nhưng phải uống bát rượu vui.

Đông đảo người dân tham gia chợ phiên bò miền Cao nguyên đá Hà Giang

Dù không nhiều hàng hóa như những phiên chợ khác, chợ phiên bò vẫn cứ nhộn nhịp, vui tươi, ấm áp đến lạ. Chợ phiên bò cũng với những chợ phiên khác không chỉ là nơi trao đổi hàng hóa mà còn là nếp sinh hoạt văn hóa đầm đà bản sắc văn hóa dân tộc vùng cao Hà Giang.

Related Figures

Lễ cúng ma khô

Thông tin thời kỳ

Lễ cúng ma khô là một trong những nghi lễ truyền thống độc đáo của người Mông tại Hà Giang. Lễ cúng ma khô được tổ chức khi có một người nào đó trong bản qua đời với mục đích cầu cho linh hồn người chết siêu thoát, hồn ma không theo quấy rối gia đình có tang. Lễ cúng ma khô là nghi thức truyền thống của người Mông Lễ cúng ma khô là phong tục truyền thống diễn ra 12 ngày sau khi một người nào đó qua đời. Vào hôm có người chết, thầy cúng sẽ hứa với hồn ma đó sau 12 ngay sẽ làm lễ ma khô để thả hồn người chết về với tổ tiên, cội nguồn, cầu mong linh hồn đó được siêu thoát. Sau khi chôn cất, nếu gia chủ không có điều kiện tổ chức lễ cúng ma khô thì có thể nhờ thầy cúng làm lễ gia hạn (được gọi là lễ hứa lại). Có thể lùi lại 1 tháng hay vài năm cũng được nhưng nếu không làm sẽ bị hồn ma quấy rối không làm ăn được. Sáng sớm ngày diễn ra lễ cúng ma khô, gia chủ đến mộ lấy hai mảnh tre khô buộc chéo nhau (tượng trưng cho linh hồn người chết) cạnh mộ mang về nhà. Thầy cúng đặt 2 mảnh tre xuống nền nhà và làm lễ khấn gọi hồn người chết về. Nếu mảnh tre đổ úp nghĩa là linh hồn người chết đã về nhà. Nếu mảnh tre đổ ngửa là linh hồn đó còn ở bên ngoài, thầy cungs phải khấn cho đến khi mặt tre đổ úp mới dừng lại. Lễ cúng ma khô cầu cho linh hồn người chết siêu thoát Sau khi gọi hồn người chết về thành công, người nhà dựng hình bù nhìn đầy đủ áo quần, khăn vấn đầu từ hai mảnh tre đó rồi để đứng trong một cái mẹt giữa nhà, xung quanh để cơm, thịt, rượu... rồi bắt đầu lễ cúng. Lễ cúng bắt đầu với bài khèn cúng ma khô. Thầy cúng đi một vòng quanh nhà rồi mới vào nhà. Thầy cúng, thầy kèn, thầy khèn cùng múa và làm lễ mời người chết về ăn rồi ra đi thanh thản, đừng lưu luyến trần gian. Sau một hồi cúng lại rót rượu, xúc cơm, thịt mời linh hồn người chết dùng. Những người trong gia đình khóc than để tỏ lòng thương tiếc. Lễ cúng ma khô diễn ra trong tiếng khóc than ai oán, tiếng kèn sầu thảm. Sau thời gian làm lễ, thầy cúng hỏi ý kiến con ma xem đã có thể ra đồng hay chưa bằng cách tung hai nửa một gióng tre, nếu hai mặt đối lập nhau tức là con ma đồng ý. Sau đó, thầy cúng lấy bù nhìn từ trong mẹt ra rồi từ từ lăn mẹt ra khỏi nhà. Nếu mẹt đổ ngửa nghĩa là con ma vẫn ở trong nhà chưa siêu thoát, thầy cúng pahỉ làm lễ cúng lại cho tới khi mẹt úp xuống đất mới thôi. Kết thúc nghi lễ cúng ma, thầy cúng đốt mẹt và bù nhìn ở ngoài mộ để tiễn linh hồn người chết về thế giới bên kia. Dân làng tham gia lễ cúng ma khô Dân làng mang theo rượu, vàng hương, gạo, lợn, gà sang phúng viếng. Những người có mặt trong lễ cúng ma khô lặng lẽ ôn lại những kỷ niệm với người đã mất. Một số người thân của gia chủ mổ bò, lợn, chuẩn bị nấu nướng để sau lễ cúng ma khô mời cả làng ăn cỗ cúng.

Lễ cúng ma khô là nghi thức truyền thống của người Mông Lễ cúng ma khô là phong tục truyền thống diễn ra 12 ngày sau khi một người nào đó qua đời. Vào hôm có người chết, thầy cúng sẽ hứa với hồn ma đó sau 12 ngay sẽ làm lễ ma khô để thả hồn người chết về với tổ tiên, cội nguồn, cầu mong linh hồn đó được siêu thoát. Sau khi chôn cất, nếu gia chủ không có điều kiện tổ chức lễ cúng ma khô thì có thể nhờ thầy cúng làm lễ gia hạn (được gọi là lễ hứa lại). Có thể lùi lại 1 tháng hay vài năm cũng được nhưng nếu không làm sẽ bị hồn ma quấy rối không làm ăn được. Sáng sớm ngày diễn ra lễ cúng ma khô, gia chủ đến mộ lấy hai mảnh tre khô buộc chéo nhau (tượng trưng cho linh hồn người chết) cạnh mộ mang về nhà. Thầy cúng đặt 2 mảnh tre xuống nền nhà và làm lễ khấn gọi hồn người chết về. Nếu mảnh tre đổ úp nghĩa là linh hồn người chết đã về nhà. Nếu mảnh tre đổ ngửa là linh hồn đó còn ở bên ngoài, thầy cungs phải khấn cho đến khi mặt tre đổ úp mới dừng lại. Lễ cúng ma khô cầu cho linh hồn người chết siêu thoát Sau khi gọi hồn người chết về thành công, người nhà dựng hình bù nhìn đầy đủ áo quần, khăn vấn đầu từ hai mảnh tre đó rồi để đứng trong một cái mẹt giữa nhà, xung quanh để cơm, thịt, rượu... rồi bắt đầu lễ cúng. Lễ cúng bắt đầu với bài khèn cúng ma khô. Thầy cúng đi một vòng quanh nhà rồi mới vào nhà. Thầy cúng, thầy kèn, thầy khèn cùng múa và làm lễ mời người chết về ăn rồi ra đi thanh thản, đừng lưu luyến trần gian. Sau một hồi cúng lại rót rượu, xúc cơm, thịt mời linh hồn người chết dùng. Những người trong gia đình khóc than để tỏ lòng thương tiếc. Lễ cúng ma khô diễn ra trong tiếng khóc than ai oán, tiếng kèn sầu thảm. Sau thời gian làm lễ, thầy cúng hỏi ý kiến con ma xem đã có thể ra đồng hay chưa bằng cách tung hai nửa một gióng tre, nếu hai mặt đối lập nhau tức là con ma đồng ý. Sau đó, thầy cúng lấy bù nhìn từ trong mẹt ra rồi từ từ lăn mẹt ra khỏi nhà. Nếu mẹt đổ ngửa nghĩa là con ma vẫn ở trong nhà chưa siêu thoát, thầy cúng pahỉ làm lễ cúng lại cho tới khi mẹt úp xuống đất mới thôi. Kết thúc nghi lễ cúng ma, thầy cúng đốt mẹt và bù nhìn ở ngoài mộ để tiễn linh hồn người chết về thế giới bên kia. Dân làng tham gia lễ cúng ma khô Dân làng mang theo rượu, vàng hương, gạo, lợn, gà sang phúng viếng. Những người có mặt trong lễ cúng ma khô lặng lẽ ôn lại những kỷ niệm với người đã mất. Một số người thân của gia chủ mổ bò, lợn, chuẩn bị nấu nướng để sau lễ cúng ma khô mời cả làng ăn cỗ cúng.

Lễ cúng ma khô là phong tục truyền thống diễn ra 12 ngày sau khi một người nào đó qua đời. Vào hôm có người chết, thầy cúng sẽ hứa với hồn ma đó sau 12 ngay sẽ làm lễ ma khô để thả hồn người chết về với tổ tiên, cội nguồn, cầu mong linh hồn đó được siêu thoát. Sau khi chôn cất, nếu gia chủ không có điều kiện tổ chức lễ cúng ma khô thì có thể nhờ thầy cúng làm lễ gia hạn (được gọi là lễ hứa lại). Có thể lùi lại 1 tháng hay vài năm cũng được nhưng nếu không làm sẽ bị hồn ma quấy rối không làm ăn được.

Sáng sớm ngày diễn ra lễ cúng ma khô, gia chủ đến mộ lấy hai mảnh tre khô buộc chéo nhau (tượng trưng cho linh hồn người chết) cạnh mộ mang về nhà. Thầy cúng đặt 2 mảnh tre xuống nền nhà và làm lễ khấn gọi hồn người chết về. Nếu mảnh tre đổ úp nghĩa là linh hồn người chết đã về nhà. Nếu mảnh tre đổ ngửa là linh hồn đó còn ở bên ngoài, thầy cungs phải khấn cho đến khi mặt tre đổ úp mới dừng lại.

Lễ cúng ma khô cầu cho linh hồn người chết siêu thoát

Sau khi gọi hồn người chết về thành công, người nhà dựng hình bù nhìn đầy đủ áo quần, khăn vấn đầu từ hai mảnh tre đó rồi để đứng trong một cái mẹt giữa nhà, xung quanh để cơm, thịt, rượu... rồi bắt đầu lễ cúng.

Lễ cúng bắt đầu với bài khèn cúng ma khô. Thầy cúng đi một vòng quanh nhà rồi mới vào nhà. Thầy cúng, thầy kèn, thầy khèn cùng múa và làm lễ mời người chết về ăn rồi ra đi thanh thản, đừng lưu luyến trần gian. Sau một hồi cúng lại rót rượu, xúc cơm, thịt mời linh hồn người chết dùng. Những người trong gia đình khóc than để tỏ lòng thương tiếc.

Lễ cúng ma khô diễn ra trong tiếng khóc than ai oán, tiếng kèn sầu thảm.

Sau thời gian làm lễ, thầy cúng hỏi ý kiến con ma xem đã có thể ra đồng hay chưa bằng cách tung hai nửa một gióng tre, nếu hai mặt đối lập nhau tức là con ma đồng ý. Sau đó, thầy cúng lấy bù nhìn từ trong mẹt ra rồi từ từ lăn mẹt ra khỏi nhà. Nếu mẹt đổ ngửa nghĩa là con ma vẫn ở trong nhà chưa siêu thoát, thầy cúng pahỉ làm lễ cúng lại cho tới khi mẹt úp xuống đất mới thôi. Kết thúc nghi lễ cúng ma, thầy cúng đốt mẹt và bù nhìn ở ngoài mộ để tiễn linh hồn người chết về thế giới bên kia.

Dân làng tham gia lễ cúng ma khô

Dân làng mang theo rượu, vàng hương, gạo, lợn, gà sang phúng viếng. Những người có mặt trong lễ cúng ma khô lặng lẽ ôn lại những kỷ niệm với người đã mất. Một số người thân của gia chủ mổ bò, lợn, chuẩn bị nấu nướng để sau lễ cúng ma khô mời cả làng ăn cỗ cúng.

Related Figures

Lễ cấp sắc của người Dao

Thông tin thời kỳ

Lễ cấp sắc là một trong những nghi lễ độc đáo của dân tộc Dao ở Hà Giang. Đây là buổi lễ quan trọng trong cuộc đời người đàn ông Dao. Trong những ngày diễn ra cấp sắc, người thụ lễ không được phép nói tục, chửi bậy, không được gần gũi với phụ nữ. Lễ cấp sắc độc đáo của người Dao ở Hà Giang Người Dao quan niệm người trải qua lễ cấp sắc mới có tâm, có đức, mới biết phải trái ở đời, biết làm việc thiện, không làm điều ác và được công nhận là con cháu Bàn Vương, khi chết hồn mới đoàn tụ với tổ tiên. Đàn ông chưa trải qua lễ cấp sắc thì dù có già đến mấy vẫn coi là trẻ con vì chưa có thầy cấp sắc, chưa được cấp đạo sắc, chưa có tên âm. Người đã qua cấp sắc thì dù ít tuổi vẫn được coi là trưởng thành, được tham gia vào việc lớn trong làng. Lễ cấp sắc là nghi lễ quan trọng của người Dao Lễ cấp sắc thường dược thực hiện vào khoảng thời gian nông nhàn tháng 11, tháng 12 hoặc tháng Giêng âm lịch. Người Dao Đỏ, Dao Tiền thường làm lễ cấp sắc trong độ tuổi 12-30, người Dao Áo Dài làm lễ cấp sắc ở độ tuổi 11-19. Người Dao Đỏ tổ chức cấp sắc một đợt tối đa 13 người (nếu ít hơn thì phải thực hiện theo số lẻ) tại nhà trưởng họ. Người Dao Áo Dài tổ chức cấp sắc cho một người tại nhà người đó. Gần tới ngày cấp sắc, các gia đình phải cử người mang lễ vật đi mời thầy cúng và chuẩn bị lợn, thóc gạo, rượu... để khoản đãi dân làng. Mỗi lễ cấp sắc có 6 thầy cúng đảm nhiệm các nhiệm vụ và nghi lễ lớn nhỏ khác nhau. Khi hành lễ, các thầy cúng phải thực hiện rất nhiều bài cúng, múa, điệu bộ phép thuật theo sách cấp sắc. Người thụ lễ phải thực hiện nhiều nghi lễ theo hướng dẫn của thầy cúng. Sau khi hoàn thành lễ hóa kiếp, tiếp tục tiến hành lễ giáo huấn, lễ thề và lễ đặt tên cấp sắc. Cuối cùng, thầy cúng lễ tạ ơn tổ tiên, thần thánh đã về dự. Lễ cấp sắc có ý nghĩa giáo dục to lớn với đồng bào Dao Lễ cấp sắc là một trong những nghi lễ quan trọng của đồng bào dân tộc Dao, có ý nghĩa giáo dục to lớn với đồng bào nơi đây.

Lễ cấp sắc độc đáo của người Dao ở Hà Giang Người Dao quan niệm người trải qua lễ cấp sắc mới có tâm, có đức, mới biết phải trái ở đời, biết làm việc thiện, không làm điều ác và được công nhận là con cháu Bàn Vương, khi chết hồn mới đoàn tụ với tổ tiên. Đàn ông chưa trải qua lễ cấp sắc thì dù có già đến mấy vẫn coi là trẻ con vì chưa có thầy cấp sắc, chưa được cấp đạo sắc, chưa có tên âm. Người đã qua cấp sắc thì dù ít tuổi vẫn được coi là trưởng thành, được tham gia vào việc lớn trong làng. Lễ cấp sắc là nghi lễ quan trọng của người Dao Lễ cấp sắc thường dược thực hiện vào khoảng thời gian nông nhàn tháng 11, tháng 12 hoặc tháng Giêng âm lịch. Người Dao Đỏ, Dao Tiền thường làm lễ cấp sắc trong độ tuổi 12-30, người Dao Áo Dài làm lễ cấp sắc ở độ tuổi 11-19. Người Dao Đỏ tổ chức cấp sắc một đợt tối đa 13 người (nếu ít hơn thì phải thực hiện theo số lẻ) tại nhà trưởng họ. Người Dao Áo Dài tổ chức cấp sắc cho một người tại nhà người đó. Gần tới ngày cấp sắc, các gia đình phải cử người mang lễ vật đi mời thầy cúng và chuẩn bị lợn, thóc gạo, rượu... để khoản đãi dân làng. Mỗi lễ cấp sắc có 6 thầy cúng đảm nhiệm các nhiệm vụ và nghi lễ lớn nhỏ khác nhau. Khi hành lễ, các thầy cúng phải thực hiện rất nhiều bài cúng, múa, điệu bộ phép thuật theo sách cấp sắc. Người thụ lễ phải thực hiện nhiều nghi lễ theo hướng dẫn của thầy cúng. Sau khi hoàn thành lễ hóa kiếp, tiếp tục tiến hành lễ giáo huấn, lễ thề và lễ đặt tên cấp sắc. Cuối cùng, thầy cúng lễ tạ ơn tổ tiên, thần thánh đã về dự. Lễ cấp sắc có ý nghĩa giáo dục to lớn với đồng bào Dao Lễ cấp sắc là một trong những nghi lễ quan trọng của đồng bào dân tộc Dao, có ý nghĩa giáo dục to lớn với đồng bào nơi đây.

Người Dao quan niệm người trải qua lễ cấp sắc mới có tâm, có đức, mới biết phải trái ở đời, biết làm việc thiện, không làm điều ác và được công nhận là con cháu Bàn Vương, khi chết hồn mới đoàn tụ với tổ tiên. Đàn ông chưa trải qua lễ cấp sắc thì dù có già đến mấy vẫn coi là trẻ con vì chưa có thầy cấp sắc, chưa được cấp đạo sắc, chưa có tên âm. Người đã qua cấp sắc thì dù ít tuổi vẫn được coi là trưởng thành, được tham gia vào việc lớn trong làng.

Lễ cấp sắc là nghi lễ quan trọng của người Dao

Lễ cấp sắc thường dược thực hiện vào khoảng thời gian nông nhàn tháng 11, tháng 12 hoặc tháng Giêng âm lịch. Người Dao Đỏ, Dao Tiền thường làm lễ cấp sắc trong độ tuổi 12-30, người Dao Áo Dài làm lễ cấp sắc ở độ tuổi 11-19. Người Dao Đỏ tổ chức cấp sắc một đợt tối đa 13 người (nếu ít hơn thì phải thực hiện theo số lẻ) tại nhà trưởng họ. Người Dao Áo Dài tổ chức cấp sắc cho một người tại nhà người đó. Gần tới ngày cấp sắc, các gia đình phải cử người mang lễ vật đi mời thầy cúng và chuẩn bị lợn, thóc gạo, rượu... để khoản đãi dân làng. Mỗi lễ cấp sắc có 6 thầy cúng đảm nhiệm các nhiệm vụ và nghi lễ lớn nhỏ khác nhau. Khi hành lễ, các thầy cúng phải thực hiện rất nhiều bài cúng, múa, điệu bộ phép thuật theo sách cấp sắc. Người thụ lễ phải thực hiện nhiều nghi lễ theo hướng dẫn của thầy cúng. Sau khi hoàn thành lễ hóa kiếp, tiếp tục tiến hành lễ giáo huấn, lễ thề và lễ đặt tên cấp sắc. Cuối cùng, thầy cúng lễ tạ ơn tổ tiên, thần thánh đã về dự.

Lễ cấp sắc có ý nghĩa giáo dục to lớn với đồng bào Dao Lễ cấp sắc là một trong những nghi lễ quan trọng của đồng bào dân tộc Dao, có ý nghĩa giáo dục to lớn với đồng bào nơi đây.

Lễ cấp sắc là một trong những nghi lễ quan trọng của đồng bào dân tộc Dao, có ý nghĩa giáo dục to lớn với đồng bào nơi đây.

Related Figures

Lễ hội cầu Trăng của người Tày

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/8 Âm lịch Du khách đến Hà Giang vào ngày Rằm tháng 8 (âm lịch) sẽ được tham gia lễ hội cầu Trăng hết sức độc đáo của người Tày ở bản Loan, xã Yên Định, huyện Bắc Mê. Đây là một trong những ngày hội vui nhất của người Tày ở Hà Giang. Lễ hội cầu Trăng của người Tày tổ chức đêm Rằm tháng 8 Lễ hội cầu Trăng là dịp để người lớn tuổi gặp mặt hỏi thăm nhau chuyện gia đình, làm ăn, phát triển sản xuất. Lễ hội cầu Trăng cũng là dịp để những chàng trai, cô gái gặp gỡ nhau qua những câu hát trao duyên. Tín ngưỡng dân gian của người Tày quan niệm trên cung trăng có mẹ trăng và 12 nằng tiên (là con gái của mẹ). Mẹ trăng cùng 12 nàng tiên luôn chăm lo, bảo vệ mùa màng để người dân có cuộc sống ấm no. Người Tày ở bản Loan duy trì tổ chức lễ hội cầu Trăng với ý nghĩa đón mẹ trăng và 12 nàng tiên xuống vui tết Trung thu với dân làng. Lễ hội cầu Trăng gồm hai phần: phần lễ và phần hội. Phần lễ được tổ chức vào tối ngày 14/8 (âm lịch) trên một bãi đất rộng với nghi thức "cúng thổ công chúa bản" long trọng tại miếu chung để xin phép dân bản được tổ chức lễ hội cầu Trăng vào ngày rằm. Lễ cúng trong hội cầu Trăng của người Tày Mở đầu hội cầu Trăng là phần múa quan bàn lễ đặt ngoài trời. Tiếp đến, bà con dân bản thi nấu các món ẩm thực truyền thống như: cơm lam, xôi ngũ sắc, mắm thịt lợn, mắm cá chép, trám muối... Sau đó tham gia nhiều trò chơi dân gian, quây quần uống rượu và thưởng thức những món ăn vừa chế biến. Hòa chung men rượu thơm nồng, dân bản cùng nhau múa hát những giai điệu mượt mà, đằm thắm, chứa chan tình yêu quê hương đất nước... Hội cầu Trăng của người Tày là dịp gặp gỡ của những chàng trai và cô gái Đêm ngày 15/8, khi mẹ trăng lên khỏi đỉnh núi và bắt đầu tỏa sáng xuống bản làng, bà con tập trung ở sân để thầy cúng tiến hành cúng thổ công và thần linh. Nghệ nhân cúng tế thực hiện múa vòng quanh dàn cúng khi khai hội đón trăng. Đêm hội cầu Trăng kết thúc khi mẹ trăng lên giữa đỉnh đầu. Dân bản lưu luyến làm lễ tiễn mẹ trăng về trời. Kết thúc lễ cầu Trăng, già làng sẽ ban phát hạt giống cho dân bản, cầu cho tất cả một năm gieo trồng thuận lợi, mùa màng bội thu. Lễ hội cầu Trăng chứa đựng những giá trị văn hóa truyền thống, đậm đà bản sắc dân tộc. Du khách tham gia lễ hội cầu Trăng được hòa mình vào cuộc sống của người dân nơi đây với những làn điệu dân ca, những món ẩm thực truyền thống...

Lễ hội cầu Trăng của người Tày tổ chức đêm Rằm tháng 8 Lễ hội cầu Trăng là dịp để người lớn tuổi gặp mặt hỏi thăm nhau chuyện gia đình, làm ăn, phát triển sản xuất. Lễ hội cầu Trăng cũng là dịp để những chàng trai, cô gái gặp gỡ nhau qua những câu hát trao duyên. Tín ngưỡng dân gian của người Tày quan niệm trên cung trăng có mẹ trăng và 12 nằng tiên (là con gái của mẹ). Mẹ trăng cùng 12 nàng tiên luôn chăm lo, bảo vệ mùa màng để người dân có cuộc sống ấm no. Người Tày ở bản Loan duy trì tổ chức lễ hội cầu Trăng với ý nghĩa đón mẹ trăng và 12 nàng tiên xuống vui tết Trung thu với dân làng. Lễ hội cầu Trăng gồm hai phần: phần lễ và phần hội. Phần lễ được tổ chức vào tối ngày 14/8 (âm lịch) trên một bãi đất rộng với nghi thức "cúng thổ công chúa bản" long trọng tại miếu chung để xin phép dân bản được tổ chức lễ hội cầu Trăng vào ngày rằm. Lễ cúng trong hội cầu Trăng của người Tày Mở đầu hội cầu Trăng là phần múa quan bàn lễ đặt ngoài trời. Tiếp đến, bà con dân bản thi nấu các món ẩm thực truyền thống như: cơm lam, xôi ngũ sắc, mắm thịt lợn, mắm cá chép, trám muối... Sau đó tham gia nhiều trò chơi dân gian, quây quần uống rượu và thưởng thức những món ăn vừa chế biến. Hòa chung men rượu thơm nồng, dân bản cùng nhau múa hát những giai điệu mượt mà, đằm thắm, chứa chan tình yêu quê hương đất nước... Hội cầu Trăng của người Tày là dịp gặp gỡ của những chàng trai và cô gái Đêm ngày 15/8, khi mẹ trăng lên khỏi đỉnh núi và bắt đầu tỏa sáng xuống bản làng, bà con tập trung ở sân để thầy cúng tiến hành cúng thổ công và thần linh. Nghệ nhân cúng tế thực hiện múa vòng quanh dàn cúng khi khai hội đón trăng. Đêm hội cầu Trăng kết thúc khi mẹ trăng lên giữa đỉnh đầu. Dân bản lưu luyến làm lễ tiễn mẹ trăng về trời. Kết thúc lễ cầu Trăng, già làng sẽ ban phát hạt giống cho dân bản, cầu cho tất cả một năm gieo trồng thuận lợi, mùa màng bội thu. Lễ hội cầu Trăng chứa đựng những giá trị văn hóa truyền thống, đậm đà bản sắc dân tộc. Du khách tham gia lễ hội cầu Trăng được hòa mình vào cuộc sống của người dân nơi đây với những làn điệu dân ca, những món ẩm thực truyền thống...

Lễ hội cầu Trăng là dịp để người lớn tuổi gặp mặt hỏi thăm nhau chuyện gia đình, làm ăn, phát triển sản xuất. Lễ hội cầu Trăng cũng là dịp để những chàng trai, cô gái gặp gỡ nhau qua những câu hát trao duyên. Tín ngưỡng dân gian của người Tày quan niệm trên cung trăng có mẹ trăng và 12 nằng tiên (là con gái của mẹ). Mẹ trăng cùng 12 nàng tiên luôn chăm lo, bảo vệ mùa màng để người dân có cuộc sống ấm no.

Người Tày ở bản Loan duy trì tổ chức lễ hội cầu Trăng với ý nghĩa đón mẹ trăng và 12 nàng tiên xuống vui tết Trung thu với dân làng. Lễ hội cầu Trăng gồm hai phần: phần lễ và phần hội. Phần lễ được tổ chức vào tối ngày 14/8 (âm lịch) trên một bãi đất rộng với nghi thức "cúng thổ công chúa bản" long trọng tại miếu chung để xin phép dân bản được tổ chức lễ hội cầu Trăng vào ngày rằm.

Lễ cúng trong hội cầu Trăng của người Tày

Mở đầu hội cầu Trăng là phần múa quan bàn lễ đặt ngoài trời. Tiếp đến, bà con dân bản thi nấu các món ẩm thực truyền thống như: cơm lam, xôi ngũ sắc, mắm thịt lợn, mắm cá chép, trám muối... Sau đó tham gia nhiều trò chơi dân gian, quây quần uống rượu và thưởng thức những món ăn vừa chế biến. Hòa chung men rượu thơm nồng, dân bản cùng nhau múa hát những giai điệu mượt mà, đằm thắm, chứa chan tình yêu quê hương đất nước...

Hội cầu Trăng của người Tày là dịp gặp gỡ của những chàng trai và cô gái

Đêm ngày 15/8, khi mẹ trăng lên khỏi đỉnh núi và bắt đầu tỏa sáng xuống bản làng, bà con tập trung ở sân để thầy cúng tiến hành cúng thổ công và thần linh. Nghệ nhân cúng tế thực hiện múa vòng quanh dàn cúng khi khai hội đón trăng. Đêm hội cầu Trăng kết thúc khi mẹ trăng lên giữa đỉnh đầu. Dân bản lưu luyến làm lễ tiễn mẹ trăng về trời. Kết thúc lễ cầu Trăng, già làng sẽ ban phát hạt giống cho dân bản, cầu cho tất cả một năm gieo trồng thuận lợi, mùa màng bội thu.

Lễ hội cầu Trăng chứa đựng những giá trị văn hóa truyền thống, đậm đà bản sắc dân tộc. Du khách tham gia lễ hội cầu Trăng được hòa mình vào cuộc sống của người dân nơi đây với những làn điệu dân ca, những món ẩm thực truyền thống...

Related Figures

Lễ hội hoa Tam giác mạch

Thông tin thời kỳ

Lễ hội hoa Tam giác mạch được tổ chức tại Hà Giang khoảng tháng 10, tháng 11 hàng năm - thời điểm hoa nở rộ chính vụ đẹp nhất trong năm. Các hoạt động trong lễ hội hoa Tam giác mạch sẽ diễn ra tại 4 huyện vùng Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn. Lễ hội hoa Tam giác mạch tổ chức tháng 10 hoặc tháng 11 Từ đầu tháng 9, chính quyền địa phương đã chỉ đạo người dân gieo trồng Tam giác mạch. Hoa Tam giác mạch ở Hà Giang kéo dài trong 3 tháng 10,11,12 (thường hoa nở rộ vào cuối tháng 10 đầu tháng 11). Màu sắc hoa Tam giác mạch tùy thuộc vòng đời của nó: mới nở hoa màu trắng, sau đó chuyển sang hồng nhạt, tím và cuối cùng là đỏ đậm. Trong những năm gần đây, hoa Tam giác mạch trở thành điểm nhấn, thu hút đông khách du lịch trong và ngoài nước đến chiêm ngưỡng vẻ đẹp của hoa, phong cảnh núi non hùng vĩ và hòa mình vào cuộc sống đồng bảo dân tộc thiểu số vùng Cao nguyên đá Đồng Văn. Lễ hội hoa Tam giác mạch hướng đi mới phát triển du lịch Hà Giang Lễ hội hoa Tam giác mạch được Hà Giang xác định là hướng đi mới, hoạt động quan trọng nhằm phát huy tiềm năng thé mạnh du lịch Hà Giang, thu hút khách du lịch, cải thiện đời sống cho người dân vùng cao nguyên đá. Đông đảo du khách tham gia lễ hội hoa Tam giác mạch Tới Đồng Văn dịp lễ hội, du khách vừa được hòa mình vào không khí mùa hoa, tham quan chụp ảnh hoa Tam giác mạch vừa được thưởng thức lễ hội âm nhạc dân gian đường phố, xem biểu diễn rối cạn, trình diễn những trang phục đường phố. Ngoài ra, du khách còn tham quan nhiều điểm đến hấp dẫn như Di tích Nhà Vương (Dinh thự vua Mèo), cột cờ Quốc gia Lũng Cú, làng văn hóa du lịch Lũng Cẩm...

Lễ hội hoa Tam giác mạch tổ chức tháng 10 hoặc tháng 11 Từ đầu tháng 9, chính quyền địa phương đã chỉ đạo người dân gieo trồng Tam giác mạch. Hoa Tam giác mạch ở Hà Giang kéo dài trong 3 tháng 10,11,12 (thường hoa nở rộ vào cuối tháng 10 đầu tháng 11). Màu sắc hoa Tam giác mạch tùy thuộc vòng đời của nó: mới nở hoa màu trắng, sau đó chuyển sang hồng nhạt, tím và cuối cùng là đỏ đậm. Trong những năm gần đây, hoa Tam giác mạch trở thành điểm nhấn, thu hút đông khách du lịch trong và ngoài nước đến chiêm ngưỡng vẻ đẹp của hoa, phong cảnh núi non hùng vĩ và hòa mình vào cuộc sống đồng bảo dân tộc thiểu số vùng Cao nguyên đá Đồng Văn. Lễ hội hoa Tam giác mạch hướng đi mới phát triển du lịch Hà Giang Lễ hội hoa Tam giác mạch được Hà Giang xác định là hướng đi mới, hoạt động quan trọng nhằm phát huy tiềm năng thé mạnh du lịch Hà Giang, thu hút khách du lịch, cải thiện đời sống cho người dân vùng cao nguyên đá. Đông đảo du khách tham gia lễ hội hoa Tam giác mạch Tới Đồng Văn dịp lễ hội, du khách vừa được hòa mình vào không khí mùa hoa, tham quan chụp ảnh hoa Tam giác mạch vừa được thưởng thức lễ hội âm nhạc dân gian đường phố, xem biểu diễn rối cạn, trình diễn những trang phục đường phố. Ngoài ra, du khách còn tham quan nhiều điểm đến hấp dẫn như Di tích Nhà Vương (Dinh thự vua Mèo), cột cờ Quốc gia Lũng Cú, làng văn hóa du lịch Lũng Cẩm...

Từ đầu tháng 9, chính quyền địa phương đã chỉ đạo người dân gieo trồng Tam giác mạch. Hoa Tam giác mạch ở Hà Giang kéo dài trong 3 tháng 10,11,12 (thường hoa nở rộ vào cuối tháng 10 đầu tháng 11). Màu sắc hoa Tam giác mạch tùy thuộc vòng đời của nó: mới nở hoa màu trắng, sau đó chuyển sang hồng nhạt, tím và cuối cùng là đỏ đậm. Trong những năm gần đây, hoa Tam giác mạch trở thành điểm nhấn, thu hút đông khách du lịch trong và ngoài nước đến chiêm ngưỡng vẻ đẹp của hoa, phong cảnh núi non hùng vĩ và hòa mình vào cuộc sống đồng bảo dân tộc thiểu số vùng Cao nguyên đá Đồng Văn.

Lễ hội hoa Tam giác mạch hướng đi mới phát triển du lịch Hà Giang

Lễ hội hoa Tam giác mạch được Hà Giang xác định là hướng đi mới, hoạt động quan trọng nhằm phát huy tiềm năng thé mạnh du lịch Hà Giang, thu hút khách du lịch, cải thiện đời sống cho người dân vùng cao nguyên đá.

Đông đảo du khách tham gia lễ hội hoa Tam giác mạch

Tới Đồng Văn dịp lễ hội, du khách vừa được hòa mình vào không khí mùa hoa, tham quan chụp ảnh hoa Tam giác mạch vừa được thưởng thức lễ hội âm nhạc dân gian đường phố, xem biểu diễn rối cạn, trình diễn những trang phục đường phố. Ngoài ra, du khách còn tham quan nhiều điểm đến hấp dẫn như Di tích Nhà Vương (Dinh thự vua Mèo), cột cờ Quốc gia Lũng Cú, làng văn hóa du lịch Lũng Cẩm...

Related Figures

Lễ kỳ yên đình Trường Thọ

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 17/2 Âm lịch Đình Trường Thọ không giống những ngôi đình làng miền Bắc có kiến trúc đồ sộ 5-7 gian, đình là một quần thể kiến trúc gỗ, gồm nhiều dãy nhà liền nhau theo kiểu sắp đọi hay trùng thềm điệp ốc. Đình Trường Thọ tọa lạc trên gò đất đỏ, ít bị chi phối bởi thuật phong thủy. Không khí trang nghiêm trong lễ kỳ yên đình Trường Thọ Mặc dù được trùng tu tôn tạo nhiều lần nhưng đình Trường Thọ vẫn giữ được lối kiến trúc truyền thống của đình làng Nam Bộ, không mất đi cái hồn di sản của cha ông. Qua cổng đình Trường Thọ là đến bình phong nằm chính giữa trước sân đình. Mặt bình phong đắp nổi tượng cọp vàng đứng bên gộp đá. Trong sân đình Trường Thọ có đàn thờ Thần Nông. Lễ kỳ yên là lễ câu an lớn nhất đình Trường Thọ Đình chính tổng diện tích 518 mét vuông gồm: tiền điện, chính điện, hậu điện, nhà túc và nhà kho. Hai bên ngôi đình chính là hiên phụ. Nét đặc sắc của đình Trường Thọ được thể hiện ở nghệ thuật trang trí và chạm khắc trên các khảm thờ, hoành phi, bao lam, liễn và đồ thờ cúng. Đình Trường Thọ chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa phương Nam. Bên trong đình còn lưu giữ nhiều hiện vật quý như: ba khảm thờ chạm long phụng sơn son thếp vàng, mười bức hoành phi chạm rồng, chữ Hán và hoa văn, hai cặp hạc đứng trên lưng rùa tạc bằng gỗ... Đình Trường Thọ tổ chức lễ kỳ yên tháng 2 âm lịch Gỗ mõ của đình Trường Thọ dài 1,95m, đường kính 0,4m được làm bằng gỗ quý, bề mặt mõ sơn màu đỏ, hai đầu chạm nổi hình đầu rồng thếp vàng. Mõ đình Trường Thọ được đặt trên giá đỡ bằng gỗ cao 1,5m. Đặc biệt, chiếc mõ này chỉ được đánh mỗi năm một lần và dịp Đại lễ cầu an (tháng 2 âm lịch). Chiếc mỗ trên 200 tuổi được xem là một trong những mõ cổ nhất ở đình làng TP HCM, tiếng trong, vang xa hàng cây số. Lễ Kỳ yên đình Trường Thọ là lễ cầu an, tế Thành hoàng lớn nhất trong năm tại đình.

Không khí trang nghiêm trong lễ kỳ yên đình Trường Thọ Mặc dù được trùng tu tôn tạo nhiều lần nhưng đình Trường Thọ vẫn giữ được lối kiến trúc truyền thống của đình làng Nam Bộ, không mất đi cái hồn di sản của cha ông. Qua cổng đình Trường Thọ là đến bình phong nằm chính giữa trước sân đình. Mặt bình phong đắp nổi tượng cọp vàng đứng bên gộp đá. Trong sân đình Trường Thọ có đàn thờ Thần Nông. Lễ kỳ yên là lễ câu an lớn nhất đình Trường Thọ Đình chính tổng diện tích 518 mét vuông gồm: tiền điện, chính điện, hậu điện, nhà túc và nhà kho. Hai bên ngôi đình chính là hiên phụ. Nét đặc sắc của đình Trường Thọ được thể hiện ở nghệ thuật trang trí và chạm khắc trên các khảm thờ, hoành phi, bao lam, liễn và đồ thờ cúng. Đình Trường Thọ chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa phương Nam. Bên trong đình còn lưu giữ nhiều hiện vật quý như: ba khảm thờ chạm long phụng sơn son thếp vàng, mười bức hoành phi chạm rồng, chữ Hán và hoa văn, hai cặp hạc đứng trên lưng rùa tạc bằng gỗ... Đình Trường Thọ tổ chức lễ kỳ yên tháng 2 âm lịch Gỗ mõ của đình Trường Thọ dài 1,95m, đường kính 0,4m được làm bằng gỗ quý, bề mặt mõ sơn màu đỏ, hai đầu chạm nổi hình đầu rồng thếp vàng. Mõ đình Trường Thọ được đặt trên giá đỡ bằng gỗ cao 1,5m. Đặc biệt, chiếc mõ này chỉ được đánh mỗi năm một lần và dịp Đại lễ cầu an (tháng 2 âm lịch). Chiếc mỗ trên 200 tuổi được xem là một trong những mõ cổ nhất ở đình làng TP HCM, tiếng trong, vang xa hàng cây số. Lễ Kỳ yên đình Trường Thọ là lễ cầu an, tế Thành hoàng lớn nhất trong năm tại đình.

Mặc dù được trùng tu tôn tạo nhiều lần nhưng đình Trường Thọ vẫn giữ được lối kiến trúc truyền thống của đình làng Nam Bộ, không mất đi cái hồn di sản của cha ông. Qua cổng đình Trường Thọ là đến bình phong nằm chính giữa trước sân đình. Mặt bình phong đắp nổi tượng cọp vàng đứng bên gộp đá. Trong sân đình Trường Thọ có đàn thờ Thần Nông.

Lễ kỳ yên là lễ câu an lớn nhất đình Trường Thọ

Đình chính tổng diện tích 518 mét vuông gồm: tiền điện, chính điện, hậu điện, nhà túc và nhà kho. Hai bên ngôi đình chính là hiên phụ. Nét đặc sắc của đình Trường Thọ được thể hiện ở nghệ thuật trang trí và chạm khắc trên các khảm thờ, hoành phi, bao lam, liễn và đồ thờ cúng. Đình Trường Thọ chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa phương Nam. Bên trong đình còn lưu giữ nhiều hiện vật quý như: ba khảm thờ chạm long phụng sơn son thếp vàng, mười bức hoành phi chạm rồng, chữ Hán và hoa văn, hai cặp hạc đứng trên lưng rùa tạc bằng gỗ...

Đình Trường Thọ tổ chức lễ kỳ yên tháng 2 âm lịch

Gỗ mõ của đình Trường Thọ dài 1,95m, đường kính 0,4m được làm bằng gỗ quý, bề mặt mõ sơn màu đỏ, hai đầu chạm nổi hình đầu rồng thếp vàng. Mõ đình Trường Thọ được đặt trên giá đỡ bằng gỗ cao 1,5m. Đặc biệt, chiếc mõ này chỉ được đánh mỗi năm một lần và dịp Đại lễ cầu an (tháng 2 âm lịch). Chiếc mỗ trên 200 tuổi được xem là một trong những mõ cổ nhất ở đình làng TP HCM, tiếng trong, vang xa hàng cây số.

Lễ Kỳ yên đình Trường Thọ là lễ cầu an, tế Thành hoàng lớn nhất trong năm tại đình.

Related Figures

Hội đền thờ Phan Công Hớn

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 25/2 Âm lịch Ngày 25/2 âm lịch hàng năm, thân tộc và bà con nhân dân xã Bà Điểm tổ chức lễ giỗ Phan Công Hớn theo nghi thức cúng thần. Đông đảo bà con nhân dân tham dự lễ để tưởng nhớ vị anh hùng đã hy sinh thân mình để nhân dân khỏi bị đàn áp. Đền thờ anh hùng Phan Công Hớn Phan Công Hớn người làng Tân Thới Nhứt (nay là xã Bà Điểm), huyện Hóc Môn, TP Hồ Chí Minh. Ông là người nông dân giỏi võ, mưu trí, tấm lòng ngay thẳng, yêu thương đồng bào. Ông thường đứng ra chống lại bòn cường hào nên bị bọn chúng căm ghét. Năm 1879, Phan Công Hớn bị đốc phủ Trần Tử Ca vu khống, bị đày ra Côn Đảo 5 năm. Sau khi mãn hạn tù, Phan Công Hớn tổ chức trường đá gà để che mắt đối phương và tiện liên hệ với những người cùng chí hướng, tập hợp dân nghèo khởi nghĩa. Đền thờ Phan Công Hớn nơi diễn ra lễ hội Phan Công Hớn là lãnh tụ cuộc khởi nghĩa chống Pháp "Mười tám thôn Vườn Trầu" cuối năm 1884. Cuộc khởi nghĩa bị thực dân Pháp đàn áp, ông tự nộp mình và bị hành quyết. Sau khi Phan Công Hớn hy sinh, người dân dân địa phương đem thi hài Phan Công Hớn về an táng tại ấp Tây Bắc Lân, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn. Sau này, lập đền thờ tại nghĩa trang tộc họ Phan (gần mộ) để hàng ngày hương khói. Cuộc khởi nghĩa của Phan Công Hớn được một người dân chứng kiến đầu đuôi sáng tác bài vè 69 câu thờ lục bát "Vè ông Hớn, ông Quá giết đốc phủ Ca". Người dân tham gia hội đền Phan Công Hớn Lễ giỗ người anh hùng làm rạng danh truyền thống mười tám thôn Vườn Trầu tổ chức ngày 25/2. Nghi thức lễ tại đền thờ Phan Công Hớn được cử hành như lễ tế Thần ở đình làng Việt Nam.

Đền thờ anh hùng Phan Công Hớn Phan Công Hớn người làng Tân Thới Nhứt (nay là xã Bà Điểm), huyện Hóc Môn, TP Hồ Chí Minh. Ông là người nông dân giỏi võ, mưu trí, tấm lòng ngay thẳng, yêu thương đồng bào. Ông thường đứng ra chống lại bòn cường hào nên bị bọn chúng căm ghét. Năm 1879, Phan Công Hớn bị đốc phủ Trần Tử Ca vu khống, bị đày ra Côn Đảo 5 năm. Sau khi mãn hạn tù, Phan Công Hớn tổ chức trường đá gà để che mắt đối phương và tiện liên hệ với những người cùng chí hướng, tập hợp dân nghèo khởi nghĩa. Đền thờ Phan Công Hớn nơi diễn ra lễ hội Phan Công Hớn là lãnh tụ cuộc khởi nghĩa chống Pháp "Mười tám thôn Vườn Trầu" cuối năm 1884. Cuộc khởi nghĩa bị thực dân Pháp đàn áp, ông tự nộp mình và bị hành quyết. Sau khi Phan Công Hớn hy sinh, người dân dân địa phương đem thi hài Phan Công Hớn về an táng tại ấp Tây Bắc Lân, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn. Sau này, lập đền thờ tại nghĩa trang tộc họ Phan (gần mộ) để hàng ngày hương khói. Cuộc khởi nghĩa của Phan Công Hớn được một người dân chứng kiến đầu đuôi sáng tác bài vè 69 câu thờ lục bát "Vè ông Hớn, ông Quá giết đốc phủ Ca". Người dân tham gia hội đền Phan Công Hớn Lễ giỗ người anh hùng làm rạng danh truyền thống mười tám thôn Vườn Trầu tổ chức ngày 25/2. Nghi thức lễ tại đền thờ Phan Công Hớn được cử hành như lễ tế Thần ở đình làng Việt Nam.

Phan Công Hớn người làng Tân Thới Nhứt (nay là xã Bà Điểm), huyện Hóc Môn, TP Hồ Chí Minh. Ông là người nông dân giỏi võ, mưu trí, tấm lòng ngay thẳng, yêu thương đồng bào. Ông thường đứng ra chống lại bòn cường hào nên bị bọn chúng căm ghét. Năm 1879, Phan Công Hớn bị đốc phủ Trần Tử Ca vu khống, bị đày ra Côn Đảo 5 năm. Sau khi mãn hạn tù, Phan Công Hớn tổ chức trường đá gà để che mắt đối phương và tiện liên hệ với những người cùng chí hướng, tập hợp dân nghèo khởi nghĩa.

Đền thờ Phan Công Hớn nơi diễn ra lễ hội

Phan Công Hớn là lãnh tụ cuộc khởi nghĩa chống Pháp "Mười tám thôn Vườn Trầu" cuối năm 1884. Cuộc khởi nghĩa bị thực dân Pháp đàn áp, ông tự nộp mình và bị hành quyết. Sau khi Phan Công Hớn hy sinh, người dân dân địa phương đem thi hài Phan Công Hớn về an táng tại ấp Tây Bắc Lân, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn. Sau này, lập đền thờ tại nghĩa trang tộc họ Phan (gần mộ) để hàng ngày hương khói. Cuộc khởi nghĩa của Phan Công Hớn được một người dân chứng kiến đầu đuôi sáng tác bài vè 69 câu thờ lục bát "Vè ông Hớn, ông Quá giết đốc phủ Ca".

Người dân tham gia hội đền Phan Công Hớn

Lễ giỗ người anh hùng làm rạng danh truyền thống mười tám thôn Vườn Trầu tổ chức ngày 25/2. Nghi thức lễ tại đền thờ Phan Công Hớn được cử hành như lễ tế Thần ở đình làng Việt Nam.

Related Figures

Hội chùa Ông

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 24/6 Âm lịch Chùa Ông là ngôi chùa linh thiêng giữa lòng phố thị Sài Gòn. Hàng năm, lễ cúng Quan Đế tại chùa Ông được tổ chức ngày 24/6 âm lịch. Chùa Ông ngôi chùa linh thiêng giữa lòng thành phố Chùa Ông còn được gọi là Nghĩa An Hội Quán hay miếu Quan Đế, là ngôi chùa mang đậm nét kiến trúc độc đáo Trung Hoa. Chùa Ông vốn là hội quán của người Triều Châu. Chùa Ông tọa lạc tại số 676 đường Nguyễn Trãi, phường 11, quận 5, TP HCM. Dù quy mô chùa không quá lớn nhưng sự linh thiêng của chùa Ông nức tiếng xa gần. Ngày 7/11/1993, chùa Ông được Bộ Văn hóa - Thông tin cấp giấy chứng nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia. Kiến trúc chùa Ông mang đậm văn hóa người Hoa Chùa Ông là địa chỉ tâm linh của cộng đồng người Hoa và người Việt tìm đến cầu nguyện mỗi ngày. Không gian tâm linh uy nghiêm, thoát tục với những câu chuyện linh thiêng khiến chùa Ông lúc nào cũng khoác lên mình chiếc áo bí ẩn đầy lôi cuốn. Giống như phần lớn đền miếu của người Hoa, chùa Ông có kiến trúc hình chữ "Khẩu" hay chữ "Quốc" với những dãy nhà khép kín vuông góc. Mái chùa Ông có 3 cấp: giữa cao, hai bên thấp hơn. Trên nóc chùa có gắn tượng sành hình lưỡng long tranh châu. Chính điện chùa Ông có gian thờ Quan Thánh, tượng cao 3m, mặc áo gấm xanh, ngồi trên ngai. Đứng hầu hai bên trước bệ thờ là tượng Quan Bình và Châu Xương cao gần 2m đặt trong tủ kính. Tượng Bồ Tát nằm ở bên trái khuôn viên chùa, uy nghiêm trong khói hương nghi ngút. Du khách đến thăm chùa Ông ấn tượng với ngựa Xích Thố đặt một bên đại sảnh. Ông Mã có màu đen, có cơ bắp và mũi to. Người đến chùa Ông ngoài thắp hương Quan Công, ông Bổn Địa và các chư vị thần linh cũng không quên thắp hương trước tượng ông Mã. Đông đảo người dân tham gia hội chùa Ông Hàng năm, chùa Ông mở hội ngày cúng Quan Đế 26/4 và rằm tháng Giêng. Ngoài ra, chùa Ông còn có các lễ cúng Bà Thiên Hậu, Phúc Đức chính thần...

Chùa Ông là ngôi chùa linh thiêng giữa lòng phố thị Sài Gòn. Hàng năm, lễ cúng Quan Đế tại chùa Ông được tổ chức ngày 24/6 âm lịch.

Chùa Ông ngôi chùa linh thiêng giữa lòng thành phố

Chùa Ông còn được gọi là Nghĩa An Hội Quán hay miếu Quan Đế, là ngôi chùa mang đậm nét kiến trúc độc đáo Trung Hoa. Chùa Ông vốn là hội quán của người Triều Châu. Chùa Ông tọa lạc tại số 676 đường Nguyễn Trãi, phường 11, quận 5, TP HCM. Dù quy mô chùa không quá lớn nhưng sự linh thiêng của chùa Ông nức tiếng xa gần. Ngày 7/11/1993, chùa Ông được Bộ Văn hóa - Thông tin cấp giấy chứng nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia. Kiến trúc chùa Ông mang đậm văn hóa người Hoa Chùa Ông là địa chỉ tâm linh của cộng đồng người Hoa và người Việt tìm đến cầu nguyện mỗi ngày. Không gian tâm linh uy nghiêm, thoát tục với những câu chuyện linh thiêng khiến chùa Ông lúc nào cũng khoác lên mình chiếc áo bí ẩn đầy lôi cuốn. Giống như phần lớn đền miếu của người Hoa, chùa Ông có kiến trúc hình chữ "Khẩu" hay chữ "Quốc" với những dãy nhà khép kín vuông góc. Mái chùa Ông có 3 cấp: giữa cao, hai bên thấp hơn. Trên nóc chùa có gắn tượng sành hình lưỡng long tranh châu. Chính điện chùa Ông có gian thờ Quan Thánh, tượng cao 3m, mặc áo gấm xanh, ngồi trên ngai. Đứng hầu hai bên trước bệ thờ là tượng Quan Bình và Châu Xương cao gần 2m đặt trong tủ kính. Tượng Bồ Tát nằm ở bên trái khuôn viên chùa, uy nghiêm trong khói hương nghi ngút. Du khách đến thăm chùa Ông ấn tượng với ngựa Xích Thố đặt một bên đại sảnh. Ông Mã có màu đen, có cơ bắp và mũi to. Người đến chùa Ông ngoài thắp hương Quan Công, ông Bổn Địa và các chư vị thần linh cũng không quên thắp hương trước tượng ông Mã. Đông đảo người dân tham gia hội chùa Ông Hàng năm, chùa Ông mở hội ngày cúng Quan Đế 26/4 và rằm tháng Giêng. Ngoài ra, chùa Ông còn có các lễ cúng Bà Thiên Hậu, Phúc Đức chính thần...

Related Figures

Hội đền Quán Thánh

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 3/3 Âm lịch Hội đền Quán Thánh mở ngày 3/3 âm lịch hàng năm để tế lễ Huyền Thiên Trấn Vũ (một trong bốn vị thần trấn giữ kinh thành Thăng Long). Đền Quán Thánh thờ thần Huyền Thiên Trấn Vũ Trải qua hàng trăm năm, đền Quán Thánh vẫn là ngôi đền uy nghi, di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng mà khách du lịch và người hành hương về dâng hương, chiêm bái. Trong tâm linh người Việt, Huyền Thiên Trấn Vũ là vị thần linh thiêng có công diệt trừ yêu quái, là biểu tượng của sự trấn an, bảo vệ phía Bắc kinh thành Thăng Long, đem lại cuộc sống yên vui, thái bình cho nhân dân. Theo thần tích của đền, ngày xưa có một hồ ly chín đuôi tung hoành khắp nơi, làm hại dân lành. Người dân vùng hồ Tây sống cảnh lầm than. Ngọc Hoàng Thược tế động lòng, cử thần Huyền Thiên giáng hạ, diệt yêu trừ hại cho dân. Thần Huyền Thiên dùng kiếm thần, phù phép giết chết hồ tinh. Ngoài nạn hồ ly chín đuôi, vua Lý xây dựng đền Quán Thánh để trừ nhiều yêu ma khác, giữ yên kinh thành phía Bắc. Ngoài thần Huyền Thiên, đền Quán Thánh còn thờ những vị thần khác như Tứ đại Nguyên súy Pháp tượng, Bạch Ngọc thần Pháp tượng... Đền Quán Thánh mở hội tưởng nhớ công ơn thân trấn giữ kinh thành Thăng Long Đền Quán Thánh (hay quán Trấn Vũ) thuộc quận Ba Đình, Hà Nội. Đền Quán Thánh là ngôi đền lớn với tam quan kỳ vĩ. Đền Quán Thánh có phong cảnh thâm u, kiến trúc đường bệ hấp dân người dân và du khách. Đền Quán Thánh được xây dựng từ thời vua Lý Thái Tổ, trải qua nhiều lần trùng tu. Vẻ uy nghi đền Quán Thánh giữa lòng Hà Nội Hàng năm, dân làng Yên Quang hai lần cử hành lễ rước "Thần Hồ" theo bờ Hồ Tây để biểu hiện sự uy quyền của Thánh và sức mạnh của nhân dân nhắm trấn áp các loài yêu quan và áp đảo các thế lực hắc ám. Trước khi tiến hành lễ rước, dân làng có lệ tuyên đọc sắc chỉ của vua. Chính hội là ngày 3/3 âm lịch, dân làng thực hiện tước từ đền Quán Thánh tới đền Thụy Khuê. Từ khi tượng thần Văn Xương được chuyển ra thờ ở đền Ngọc Sơn thì tục lệ này không còn nữa.

Đền Quán Thánh thờ thần Huyền Thiên Trấn Vũ Trải qua hàng trăm năm, đền Quán Thánh vẫn là ngôi đền uy nghi, di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng mà khách du lịch và người hành hương về dâng hương, chiêm bái. Trong tâm linh người Việt, Huyền Thiên Trấn Vũ là vị thần linh thiêng có công diệt trừ yêu quái, là biểu tượng của sự trấn an, bảo vệ phía Bắc kinh thành Thăng Long, đem lại cuộc sống yên vui, thái bình cho nhân dân. Theo thần tích của đền, ngày xưa có một hồ ly chín đuôi tung hoành khắp nơi, làm hại dân lành. Người dân vùng hồ Tây sống cảnh lầm than. Ngọc Hoàng Thược tế động lòng, cử thần Huyền Thiên giáng hạ, diệt yêu trừ hại cho dân. Thần Huyền Thiên dùng kiếm thần, phù phép giết chết hồ tinh. Ngoài nạn hồ ly chín đuôi, vua Lý xây dựng đền Quán Thánh để trừ nhiều yêu ma khác, giữ yên kinh thành phía Bắc. Ngoài thần Huyền Thiên, đền Quán Thánh còn thờ những vị thần khác như Tứ đại Nguyên súy Pháp tượng, Bạch Ngọc thần Pháp tượng... Đền Quán Thánh mở hội tưởng nhớ công ơn thân trấn giữ kinh thành Thăng Long Đền Quán Thánh (hay quán Trấn Vũ) thuộc quận Ba Đình, Hà Nội. Đền Quán Thánh là ngôi đền lớn với tam quan kỳ vĩ. Đền Quán Thánh có phong cảnh thâm u, kiến trúc đường bệ hấp dân người dân và du khách. Đền Quán Thánh được xây dựng từ thời vua Lý Thái Tổ, trải qua nhiều lần trùng tu. Vẻ uy nghi đền Quán Thánh giữa lòng Hà Nội Hàng năm, dân làng Yên Quang hai lần cử hành lễ rước "Thần Hồ" theo bờ Hồ Tây để biểu hiện sự uy quyền của Thánh và sức mạnh của nhân dân nhắm trấn áp các loài yêu quan và áp đảo các thế lực hắc ám. Trước khi tiến hành lễ rước, dân làng có lệ tuyên đọc sắc chỉ của vua. Chính hội là ngày 3/3 âm lịch, dân làng thực hiện tước từ đền Quán Thánh tới đền Thụy Khuê. Từ khi tượng thần Văn Xương được chuyển ra thờ ở đền Ngọc Sơn thì tục lệ này không còn nữa.

Trải qua hàng trăm năm, đền Quán Thánh vẫn là ngôi đền uy nghi, di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng mà khách du lịch và người hành hương về dâng hương, chiêm bái. Trong tâm linh người Việt, Huyền Thiên Trấn Vũ là vị thần linh thiêng có công diệt trừ yêu quái, là biểu tượng của sự trấn an, bảo vệ phía Bắc kinh thành Thăng Long, đem lại cuộc sống yên vui, thái bình cho nhân dân. Theo thần tích của đền, ngày xưa có một hồ ly chín đuôi tung hoành khắp nơi, làm hại dân lành. Người dân vùng hồ Tây sống cảnh lầm than. Ngọc Hoàng Thược tế động lòng, cử thần Huyền Thiên giáng hạ, diệt yêu trừ hại cho dân. Thần Huyền Thiên dùng kiếm thần, phù phép giết chết hồ tinh. Ngoài nạn hồ ly chín đuôi, vua Lý xây dựng đền Quán Thánh để trừ nhiều yêu ma khác, giữ yên kinh thành phía Bắc. Ngoài thần Huyền Thiên, đền Quán Thánh còn thờ những vị thần khác như Tứ đại Nguyên súy Pháp tượng, Bạch Ngọc thần Pháp tượng...

Đền Quán Thánh mở hội tưởng nhớ công ơn thân trấn giữ kinh thành Thăng Long

Đền Quán Thánh (hay quán Trấn Vũ) thuộc quận Ba Đình, Hà Nội. Đền Quán Thánh là ngôi đền lớn với tam quan kỳ vĩ. Đền Quán Thánh có phong cảnh thâm u, kiến trúc đường bệ hấp dân người dân và du khách. Đền Quán Thánh được xây dựng từ thời vua Lý Thái Tổ, trải qua nhiều lần trùng tu.

Vẻ uy nghi đền Quán Thánh giữa lòng Hà Nội

Hàng năm, dân làng Yên Quang hai lần cử hành lễ rước "Thần Hồ" theo bờ Hồ Tây để biểu hiện sự uy quyền của Thánh và sức mạnh của nhân dân nhắm trấn áp các loài yêu quan và áp đảo các thế lực hắc ám. Trước khi tiến hành lễ rước, dân làng có lệ tuyên đọc sắc chỉ của vua. Chính hội là ngày 3/3 âm lịch, dân làng thực hiện tước từ đền Quán Thánh tới đền Thụy Khuê. Từ khi tượng thần Văn Xương được chuyển ra thờ ở đền Ngọc Sơn thì tục lệ này không còn nữa.

Related Figures

Hội đền Lư Giang

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 18/8- 20/8 Âm lịch Hội đền Lư Giang được mở hai lần vào tháng ba và tháng tám hàng năm. Chính hội vào tháng tám, được tổ chức ngày húy kỵ của Quốc công tiết chế Hưng đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn (ngày 20/8). Đền Lư Giang mở hội hai lần tháng ba và tháng tám hàng năm Đền Lư Giang (tên gọi khác là đền Lừ) được xây dựng từ thời Lê Sơ thuộc làng Thanh Mai, phường Hoàng Văn Thụ, quận Hoàng Mai, Hà Nội. Đền Lư Giang thờ Phạm Tổ Thu và Phạm Ngưu Tất (hai tùy tướng của Trần Khát Chân) có công lớn trong việc đánh bại quân Chế Bồng Nga. Hai vị được phong thái ấp ở vùng Hoàng Mai, Mai Động. Ngoài ra, đền Lư Giang thờ Trần Hưng Đạo và công chú Thủy Tinh con vua Thủy Tề (một trong ba vị thần quan trọng trong truyền thuyết Tam tòa Thánh Mẫu Mẫu Thiên - Mẫu Thủy - Mẫu Địa). Múa rồng hội làng Lư Giang Hội đền Lư Giang là một trong những lễ hội lớn nhất nhì thành Thăng Long. Sáng ngày 18/8, các vị bô lão trong làng làm lễ tế yết trong đền và làm lễ bao sái tượng và đồ lễ. Buổi chiều thực hiện mở cửa đền, tổ chức nhiều chương trình biểu diễn văn nghệ và trò chơi dân gian. Ngày 19/8, bắt đầu từ 6h sáng, đội tế nam trong trang phục truyền thống tiến hành tế lễ. Sau đó, đoàn rước kiệu từ đền Lư Giang tới đình Hoàng Mai rồi trở về đền. Dẫn đầu đoàn rước là đội múa sư tử, múa rồng do trai tráng trong làng đảm nhiệm. Theo sau là đội bát âm, võ sinh, bát bửu, sênh tiền, đội tế nam, đội dâng hương nữ, thanh đông... Nam thanh nữ tú trong đội rước kiệu phụ trách ngai Trần Hưng Đạo, kiệu phò giá (ngai Mẫu Thủy Tinh), đồ thờ (tượng trưng Liễu Hạnh). Chiều cùng ngày tổ chức dâng hương lễ Thánh của người dân địa phương và du khách thập phương. Đoàn rước hội làng Lư Giang Sáng ngày 20/8, các cụ bô lão trong đội tế nam thực hiện tế giã hội để kết thúc hội làng.

Đền Lư Giang mở hội hai lần tháng ba và tháng tám hàng năm Đền Lư Giang (tên gọi khác là đền Lừ) được xây dựng từ thời Lê Sơ thuộc làng Thanh Mai, phường Hoàng Văn Thụ, quận Hoàng Mai, Hà Nội. Đền Lư Giang thờ Phạm Tổ Thu và Phạm Ngưu Tất (hai tùy tướng của Trần Khát Chân) có công lớn trong việc đánh bại quân Chế Bồng Nga. Hai vị được phong thái ấp ở vùng Hoàng Mai, Mai Động. Ngoài ra, đền Lư Giang thờ Trần Hưng Đạo và công chú Thủy Tinh con vua Thủy Tề (một trong ba vị thần quan trọng trong truyền thuyết Tam tòa Thánh Mẫu Mẫu Thiên - Mẫu Thủy - Mẫu Địa). Múa rồng hội làng Lư Giang Hội đền Lư Giang là một trong những lễ hội lớn nhất nhì thành Thăng Long. Sáng ngày 18/8, các vị bô lão trong làng làm lễ tế yết trong đền và làm lễ bao sái tượng và đồ lễ. Buổi chiều thực hiện mở cửa đền, tổ chức nhiều chương trình biểu diễn văn nghệ và trò chơi dân gian. Ngày 19/8, bắt đầu từ 6h sáng, đội tế nam trong trang phục truyền thống tiến hành tế lễ. Sau đó, đoàn rước kiệu từ đền Lư Giang tới đình Hoàng Mai rồi trở về đền. Dẫn đầu đoàn rước là đội múa sư tử, múa rồng do trai tráng trong làng đảm nhiệm. Theo sau là đội bát âm, võ sinh, bát bửu, sênh tiền, đội tế nam, đội dâng hương nữ, thanh đông... Nam thanh nữ tú trong đội rước kiệu phụ trách ngai Trần Hưng Đạo, kiệu phò giá (ngai Mẫu Thủy Tinh), đồ thờ (tượng trưng Liễu Hạnh). Chiều cùng ngày tổ chức dâng hương lễ Thánh của người dân địa phương và du khách thập phương. Đoàn rước hội làng Lư Giang Sáng ngày 20/8, các cụ bô lão trong đội tế nam thực hiện tế giã hội để kết thúc hội làng.

Đền Lư Giang (tên gọi khác là đền Lừ) được xây dựng từ thời Lê Sơ thuộc làng Thanh Mai, phường Hoàng Văn Thụ, quận Hoàng Mai, Hà Nội. Đền Lư Giang thờ Phạm Tổ Thu và Phạm Ngưu Tất (hai tùy tướng của Trần Khát Chân) có công lớn trong việc đánh bại quân Chế Bồng Nga. Hai vị được phong thái ấp ở vùng Hoàng Mai, Mai Động. Ngoài ra, đền Lư Giang thờ Trần Hưng Đạo và công chú Thủy Tinh con vua Thủy Tề (một trong ba vị thần quan trọng trong truyền thuyết Tam tòa Thánh Mẫu Mẫu Thiên - Mẫu Thủy - Mẫu Địa).

Múa rồng hội làng Lư Giang

Hội đền Lư Giang là một trong những lễ hội lớn nhất nhì thành Thăng Long. Sáng ngày 18/8, các vị bô lão trong làng làm lễ tế yết trong đền và làm lễ bao sái tượng và đồ lễ. Buổi chiều thực hiện mở cửa đền, tổ chức nhiều chương trình biểu diễn văn nghệ và trò chơi dân gian. Ngày 19/8, bắt đầu từ 6h sáng, đội tế nam trong trang phục truyền thống tiến hành tế lễ. Sau đó, đoàn rước kiệu từ đền Lư Giang tới đình Hoàng Mai rồi trở về đền. Dẫn đầu đoàn rước là đội múa sư tử, múa rồng do trai tráng trong làng đảm nhiệm. Theo sau là đội bát âm, võ sinh, bát bửu, sênh tiền, đội tế nam, đội dâng hương nữ, thanh đông... Nam thanh nữ tú trong đội rước kiệu phụ trách ngai Trần Hưng Đạo, kiệu phò giá (ngai Mẫu Thủy Tinh), đồ thờ (tượng trưng Liễu Hạnh). Chiều cùng ngày tổ chức dâng hương lễ Thánh của người dân địa phương và du khách thập phương.

Đoàn rước hội làng Lư Giang

Sáng ngày 20/8, các cụ bô lão trong đội tế nam thực hiện tế giã hội để kết thúc hội làng.

Related Figures

Hội làng Thọ Am

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 7/2- 9/2 Âm lịch Hội làng Thọ Am được tổ chức trong 3 ngày từ 7-9/2 âm lịch tại đình và miếu Thọ Am thuộc làng Thọ Am, xã Liên Ninh, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Làng Thọ Am thờ hai vị Thành hoàng làng là Tướng quân Đoàn Thượng ở miếu Thọ Am và Quan nghè Nguyễn Phục ở đình Thọ Am. Làng Thọ Am chuẩn bị vào hội Đoàn Thượng là dũng tướng nhất mực trung thành triều Lý. Khi Lý Chiêu Hoàng thoái vị, nhường ngôi cho Trần Thái Tông, Đoàn Thượng quyết không quy phục triều Trần, chống lại việc sát hại con cháu nhà Lý. Trần Thủ Độ nhận thấy ông là bậc anh hùng, bèn sai người mang tiền bạc, chức tước tới quy phục. Không màng danh lợi, Đoàn Thượng quyết giữ đất Hồng Châu, xây dựng thành lũy, thu mua lương thực phát cho dân nghèo nên rất được lòng dân chúng trong vùng. Số người đầu quân giúp ông chống lại nhà Trần khôi phục triều Lý ngày một đông. Năm 1228, ông hy sinh khi bại dưới tay Trần Thủ Độ. Dân chúng tiếc thương lập miếu thờ ở Thọ Am để tưởng nhớ công lao tướng quân trung nghĩa. Đoàn rước hội làng Thọ Am Nguyễn Phục là vị quan phụ trách quân lương trong triều Lê. Năm 1470, ông được vua Lê Thanh Tông phong làm Đốc tướng chỉ huy vận tải quân lương trong trận chiến ở Chiêm Thành. Đoàn thuyền quân lương do ông chỉ huy khi đến Cửa Tùng bị gió bão phải neo lại tránh bão nên tiếp viện chậm trễ mấy ngày. Chiểu theo quân lệnh, Nguyễn Phục bị xử trảm tại bãi Nam thuộc vịnh Sơn Trà. Sau này, ông được minh oan và được vua Lê Thánh Tông phong làm Phúc Thần. Lễ rước kiệu và sắc hội làng Thọ Am Hội làng Thọ Am được tổ chức nhằm tưởng nhớ công ơn tướng quân Đoàn Thượng và quan nghè Nguyễn Phục. Buổi sáng ngày 7/2, dân làng tổ chức lễ rước nước để làm lễ mộc dục và mở cửa đình. Buổi chiều, đội tế nam tiến hành tế Thánh. Chính hội ngày 8/2, tổ chức lễ rước kiệu và sắc từ đình Thọ Am đến miếu Thọ Am. Đoàn rước bao gồm: đội đánh trống, đánh chiêng, đội cầm vũ khí, gươm hầu, bát bửu, chấp kích, đội khiêng kiệu, bát cống, long đình, đôi nhạc lễ và cấm vệ quân hầu Thánh. Khi kiệu được rước về miếu Thọ Am, đội tế nam và nữ tiến hành lễ tế Thánh. Sau đó, kiệu và long ngai được rước từ miếu Thọ Am về đình Thọ Am. Buổi tối, đội nữ dâng hương trong đình. Ngày 9/2 tổ chức rước long ngai Tướng quân Đoàn Thượng về miếu Thọ Am, đội tế nam thực hiện lễ tế yên vị. Sau cùng tế hạ hội và khao thỉnh dân làng cùng du khách thập phương tham gia lễ hội.

Làng Thọ Am thờ hai vị Thành hoàng làng là Tướng quân Đoàn Thượng ở miếu Thọ Am và Quan nghè Nguyễn Phục ở đình Thọ Am.

Làng Thọ Am chuẩn bị vào hội

Đoàn Thượng là dũng tướng nhất mực trung thành triều Lý. Khi Lý Chiêu Hoàng thoái vị, nhường ngôi cho Trần Thái Tông, Đoàn Thượng quyết không quy phục triều Trần, chống lại việc sát hại con cháu nhà Lý. Trần Thủ Độ nhận thấy ông là bậc anh hùng, bèn sai người mang tiền bạc, chức tước tới quy phục. Không màng danh lợi, Đoàn Thượng quyết giữ đất Hồng Châu, xây dựng thành lũy, thu mua lương thực phát cho dân nghèo nên rất được lòng dân chúng trong vùng. Số người đầu quân giúp ông chống lại nhà Trần khôi phục triều Lý ngày một đông. Năm 1228, ông hy sinh khi bại dưới tay Trần Thủ Độ. Dân chúng tiếc thương lập miếu thờ ở Thọ Am để tưởng nhớ công lao tướng quân trung nghĩa.

Đoàn rước hội làng Thọ Am

Nguyễn Phục là vị quan phụ trách quân lương trong triều Lê. Năm 1470, ông được vua Lê Thanh Tông phong làm Đốc tướng chỉ huy vận tải quân lương trong trận chiến ở Chiêm Thành. Đoàn thuyền quân lương do ông chỉ huy khi đến Cửa Tùng bị gió bão phải neo lại tránh bão nên tiếp viện chậm trễ mấy ngày. Chiểu theo quân lệnh, Nguyễn Phục bị xử trảm tại bãi Nam thuộc vịnh Sơn Trà. Sau này, ông được minh oan và được vua Lê Thánh Tông phong làm Phúc Thần.

Lễ rước kiệu và sắc hội làng Thọ Am

Hội làng Thọ Am được tổ chức nhằm tưởng nhớ công ơn tướng quân Đoàn Thượng và quan nghè Nguyễn Phục. Buổi sáng ngày 7/2, dân làng tổ chức lễ rước nước để làm lễ mộc dục và mở cửa đình. Buổi chiều, đội tế nam tiến hành tế Thánh.

Chính hội ngày 8/2, tổ chức lễ rước kiệu và sắc từ đình Thọ Am đến miếu Thọ Am. Đoàn rước bao gồm: đội đánh trống, đánh chiêng, đội cầm vũ khí, gươm hầu, bát bửu, chấp kích, đội khiêng kiệu, bát cống, long đình, đôi nhạc lễ và cấm vệ quân hầu Thánh. Khi kiệu được rước về miếu Thọ Am, đội tế nam và nữ tiến hành lễ tế Thánh. Sau đó, kiệu và long ngai được rước từ miếu Thọ Am về đình Thọ Am. Buổi tối, đội nữ dâng hương trong đình.

Ngày 9/2 tổ chức rước long ngai Tướng quân Đoàn Thượng về miếu Thọ Am, đội tế nam thực hiện lễ tế yên vị. Sau cùng tế hạ hội và khao thỉnh dân làng cùng du khách thập phương tham gia lễ hội.

Related Figures

Hội làng Sủi

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/3- 3/3 Âm lịch Hội làng Sủi diễn ra trong 3 ngày từ 1-3/3 âm lịch tại đình - đền Sủi nhằm tưởng nhớ công đức Nguyên phi Ỷ Lan và Tướng quân Đào Liên Hoa. Làng Sủi (tên Nôm là làng Thổ Lỗi) thuộc xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Làng Sủi thờ hai vị Thành hoàng có công với đất nước là Thành hoàng Tây Vị Đại vương tướng quân Đào Liên Hoa (ở đình Sủi) và Nguyên phi Ỷ Lan (ở đền Sủi). Không khí tưng bừng hội làng Sủi Tây Vị Đại vương tướng quân Đào Liên Hoa quê ở Thanh Hóa, là con của ông Đào Lan và bà Nguyễn Thị Huệ. Từ nhỏ, Đào Liên Hoa rất thông minh, chăm học. Khi biết Đinh Bộ Lĩnh khởi nghĩa dẹp loạn 12 sứ quân, ông xin đầu quân. Với tài năng và đức độ, ông được phong làm tướng quân. Lập nhiều công lao, ông được Đinh Bộ Lĩnh phong làm Tây Vị Đại vương rồi được cử Chánh sứ sang Trung Quốc. Khi huyện Gia Lâm xuất hiện giặc loạn, ông đem quân dẹp loạn rồi lập đồn cùng trang ấp ở Thổ Lỗi dạy người dân canh tác, xây dựng nhà cửa ổn định cuộc sống. Ông qua đời ngày 25/12, được nhà vua phong là Thượng Đẳng Tôn Thần, hạ chiếu cho các làng trong địa hạt ông cai quản lập đình hương khói thờ phụng muôn đời. Dân làng Sủi lập đình và tôn ông là Thành hoàng làng. Nguyên phi Ỷ Lan (vợ vua Lý Thánh Tông) là con cụ Lê Khâm người làng Thổ Lỗi. Bà là người thông minh, tinh thông đạo Phật, đạo Nho giúp vua rất nhiều trong việc trị nước, yên dân. Bà đã hai lần nhiếp chính thay vua cai trị đất nước. Nguyên phi Ỷ Lan qua đời ngày 25/7 âm lịch. Để tưởng nhớ công ơn bà, vua Lý Nhân Tông cho xây dựng đền Sủi, phong bà là Thượng đẳng thần để nhân dân hương khói thờ phụng. Đoàn rước hội làng Sủi Hàng năm, làng Sủi có 3 kỳ lễ: lễ hội làng Sủi (1-3/3 âm lịch), giỗ Nguyên phi Ỷ Lan và giỗ Tây Vị Đại vương tướng quân Đào Liên Hoa. Trong 3 kỳ lễ, làng Sủi tập trung mở hội chính vào tháng 3, hai kỳ lễ còn lại làng chỉ tổ chức cũng lễ. Hội làng Sủi có nghi thức đọc Mục Lục để ngợi ca cảnh đẹp, sự trù phú, truyền thống khoa bảng của làng cùng với lễ Bông Sòng. Lễ Bông Sòng có nội dung giải oan cho Nguyễn Bông quan thái giám theo hầu Nguyên phi Ỷ Lan. Sáng ngày 1/3, cùng với tiếng trống khai hội rộn ràng là lễ mở cửa đền, cửa đình. Sau đó, tổ chức lễ Thánh và lễ đọc Mục Lục. Chiều cùng ngày, người dân địa phương và du khách thập phương vào lễ Thánh. Đội tế nam thực hiện tế lễ trong hội làng Sủi Sáng ngày 2/3, đội tế nam và đội tế nữ lễ tế song song. Đội tế nam thực hiện tế lễ tại đình còn đội tế nữ tế lễ tại đền. Buổi chiều, đội tế ở các địa phương khác lễ tế tại đình và đền Sủi. Chính hội ngày 3/3, lễ rước kiệu của Nguyên phi Ỷ Lan được tổ chức long trọng. Những thanh niên khỏe mạnh. đạo đức tốt trong làng được lựa chọn vào vai hiệu cờ, hiệu trống, hiệu chiêng, đô tùy... Các vai Chánh sứ, Phó sứ được lựa chọn từ những cháu thiếu niên, nhi đồng nam. Đoàn rước đi một vòng trên đường lớn rồi trở về đền. Khi kiệu đã an vị trong sân, đội tế nam và đội tế nữ tiến hành lễ tế Thánh. 14h chiều, sau ba hồi chiêng, 10-20 thanh niên mặc áo dài, khăn xếp hay khăn lượt mang theo trầu cau, rượu, miệng hô "Song Bông Sòng" tổ chức lễ Bông Sòng. Xế chiều tổ chức tế hạ hội để kết thúc lễ hội. Lễ Bông Sòng tạo nên sức hấp dẫn, độc đáo và sinh động cho hội làng Sủi. Trong thời gian diễn ra lễ hội còn có nhiều chương trình biểu diễn văn nghệ và trò chơi dân gian như: đọc thơ, hát trống quân, quan họ, cờ tướng, đánh đu tre...

Làng Sủi (tên Nôm là làng Thổ Lỗi) thuộc xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Làng Sủi thờ hai vị Thành hoàng có công với đất nước là Thành hoàng Tây Vị Đại vương tướng quân Đào Liên Hoa (ở đình Sủi) và Nguyên phi Ỷ Lan (ở đền Sủi).

Không khí tưng bừng hội làng Sủi

Tây Vị Đại vương tướng quân Đào Liên Hoa quê ở Thanh Hóa, là con của ông Đào Lan và bà Nguyễn Thị Huệ. Từ nhỏ, Đào Liên Hoa rất thông minh, chăm học. Khi biết Đinh Bộ Lĩnh khởi nghĩa dẹp loạn 12 sứ quân, ông xin đầu quân. Với tài năng và đức độ, ông được phong làm tướng quân. Lập nhiều công lao, ông được Đinh Bộ Lĩnh phong làm Tây Vị Đại vương rồi được cử Chánh sứ sang Trung Quốc. Khi huyện Gia Lâm xuất hiện giặc loạn, ông đem quân dẹp loạn rồi lập đồn cùng trang ấp ở Thổ Lỗi dạy người dân canh tác, xây dựng nhà cửa ổn định cuộc sống. Ông qua đời ngày 25/12, được nhà vua phong là Thượng Đẳng Tôn Thần, hạ chiếu cho các làng trong địa hạt ông cai quản lập đình hương khói thờ phụng muôn đời. Dân làng Sủi lập đình và tôn ông là Thành hoàng làng.

Nguyên phi Ỷ Lan (vợ vua Lý Thánh Tông) là con cụ Lê Khâm người làng Thổ Lỗi. Bà là người thông minh, tinh thông đạo Phật, đạo Nho giúp vua rất nhiều trong việc trị nước, yên dân. Bà đã hai lần nhiếp chính thay vua cai trị đất nước. Nguyên phi Ỷ Lan qua đời ngày 25/7 âm lịch. Để tưởng nhớ công ơn bà, vua Lý Nhân Tông cho xây dựng đền Sủi, phong bà là Thượng đẳng thần để nhân dân hương khói thờ phụng.

Đoàn rước hội làng Sủi

Hàng năm, làng Sủi có 3 kỳ lễ: lễ hội làng Sủi (1-3/3 âm lịch), giỗ Nguyên phi Ỷ Lan và giỗ Tây Vị Đại vương tướng quân Đào Liên Hoa. Trong 3 kỳ lễ, làng Sủi tập trung mở hội chính vào tháng 3, hai kỳ lễ còn lại làng chỉ tổ chức cũng lễ.

Hội làng Sủi có nghi thức đọc Mục Lục để ngợi ca cảnh đẹp, sự trù phú, truyền thống khoa bảng của làng cùng với lễ Bông Sòng. Lễ Bông Sòng có nội dung giải oan cho Nguyễn Bông quan thái giám theo hầu Nguyên phi Ỷ Lan.

Sáng ngày 1/3, cùng với tiếng trống khai hội rộn ràng là lễ mở cửa đền, cửa đình. Sau đó, tổ chức lễ Thánh và lễ đọc Mục Lục. Chiều cùng ngày, người dân địa phương và du khách thập phương vào lễ Thánh.

Đội tế nam thực hiện tế lễ trong hội làng Sủi

Sáng ngày 2/3, đội tế nam và đội tế nữ lễ tế song song. Đội tế nam thực hiện tế lễ tại đình còn đội tế nữ tế lễ tại đền. Buổi chiều, đội tế ở các địa phương khác lễ tế tại đình và đền Sủi.

Chính hội ngày 3/3, lễ rước kiệu của Nguyên phi Ỷ Lan được tổ chức long trọng. Những thanh niên khỏe mạnh. đạo đức tốt trong làng được lựa chọn vào vai hiệu cờ, hiệu trống, hiệu chiêng, đô tùy... Các vai Chánh sứ, Phó sứ được lựa chọn từ những cháu thiếu niên, nhi đồng nam. Đoàn rước đi một vòng trên đường lớn rồi trở về đền. Khi kiệu đã an vị trong sân, đội tế nam và đội tế nữ tiến hành lễ tế Thánh. 14h chiều, sau ba hồi chiêng, 10-20 thanh niên mặc áo dài, khăn xếp hay khăn lượt mang theo trầu cau, rượu, miệng hô "Song Bông Sòng" tổ chức lễ Bông Sòng. Xế chiều tổ chức tế hạ hội để kết thúc lễ hội.

Lễ Bông Sòng tạo nên sức hấp dẫn, độc đáo và sinh động cho hội làng Sủi. Trong thời gian diễn ra lễ hội còn có nhiều chương trình biểu diễn văn nghệ và trò chơi dân gian như: đọc thơ, hát trống quân, quan họ, cờ tướng, đánh đu tre...

Related Figures

Hội làng Hạ Thái

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 9/11- 11/11 Âm lịch Hội làng Hạ Thái tổ chức trong 3 ngày từ 9-11/11 âm lịch hàng năm tại làng Hạ Thái, xã Duyên Thái, huyện Thường Tín, Hà Nội. Hội làng Hạ Thái thu hút đông đảo người dân và du khách thập phương tham gia. Đoàn rước hội làng Hạ Thái Đình Hạ Thái (còn có tên gọi khác đình Bà Lạy) thờ hai vị Thành hoàng làng là quan võ thời Lê Bùi Sĩ Lương và bà Đinh Thị Trạch (bà Lạy) người phụ nữ tự nộp mình cho hổ dữ để giải cho dân làng không phải cống nộp người hàng năm. Theo thần phả của đình: thuở xưa khi vùng đất này còn hoang vu, cây cối um tùm, dân cư thưa thớt. Trong rừng xuất hiện một con hổ dữ thành tinh (gọi là hổ lang) về làng bắt người và gia súc để ăn thịt. Dân làng không thể thu phục được hổ dữ đành phải cống nạp cho hổ lang mỗi năm 1 người (ngày 10/11) để được sống yên lành. Khi ấy, bà Lạy đã lớn tuổi, không có chồng con. Bà làm lễ khấn trời đất và tự nguyện xin thế mạng cho hổ với tâm nguyện từ nay dân làng không phải chịu vấn nạn đó. Đúng ngày 10/11, hồ về tha bà đi mất. Cũng kể từ đó, dân làng không thấy hổ dữ về quấy phá. Cảm kích tấm lòng, công lao của bà Lạy, dân làng Hạ Thái lập miếu thờ bà và tôn bà là Thành Hoàng làng. Quan võ thờ Lê Bùi Sĩ Lượng là người học rộng tài cao, văn võ song toàn. Khi nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê, ông chỉ huy 10 vạn quân tinh nhuệ diệt Mạc phò Lê, đem lại cảnh thái bình cho đất nước. Khi qua làng Hạ Thái, nhận thấy nơi đây có địa thế rồng chầu hổ phục bèn xây dựng gia trang, dạy nhân dân lập nghiệp. Sau khi mất, ông cũng được dân làng Hạ Thái tôn làm Thành hoàng làng. Hội làng Hạ Thái được tổ chức trang trọng. Sáng ngày 9/11, các cụ cao niên trong trang phục truyền thống cùng dân làng ra đình dự lễ mở cửa đình, khai mạc lễ hội. Chủ tế thắp hương, cung thỉnh hai vị Thành hoàng. Sau đó tổ chức lế chấp thủy tại giếng chùa Hạ Thái. Nước giếng được rước về đình để làm lễ mộc dục, bao sái. Buổi chiều, tổ chức lễ rước cỗ vào đình để lễ Thánh. Dẫn đầu đoàn rước là đội múa lân, cờ ngũ phương, đội bát âm, đồng văn... Buổi tối, sư sãi chùa Hạ Thái làm lễ cúng với đầy đủ lễ vật bao gồm: hương, hoa, nến, trà, quả, thức (oản, xôi nén, cơm). Dân làng Hạ Thái trong trang phục truyền thống tham gia hội làng Chính hội ngày 10/11, ngay từ sáng sớm dân làng tổ chức rước kiệu từ đình ra miếu Đức Ông để xin sắc. Những người khiêng kiệu phải là chàng trai, cô gái trong làng, khỏe mạnh, đạo đức tốt, chưa có gia đình. Kiệu Ông (kiệu Long Đình) do 4 chàng trai khiêng, kiệu Bà (kiệu Bát Cống) do 8 cô gái khiêng. Không khí rước kiệu tưng bừng, náo nhiệt. Khi đoàn rước về đến miếu, đội tế đem lễ vật vào làm lễ cáo yết Thánh và xin sắc để rước về đình. Khi kiệu rước yên vị trong sân đình, đội tế nữ cử hành dâng hương tế Thánh. Buổi chiều, đội tế nam tiến hành lễ tế Thánh. Buổi tối hội làng Hạ Thái có nhiều tiết mục giao lưu văn nghệ. Hội làng Hạ Thái thu hút đông đảo người dân tham gia Ngày 11/11, các đội tế ở các làng lân cận trong trang phục truyền thống lần lượt vào đình làm lễ tế và dâng hương Đức Thánh. Xế chiều, đội tế nam làng Hạ Thái làm lễ tế giã hội và phát lộc cho những người tham gia. Trong những ngày diễn ra lễ hội, người dân và du khách còn được thưởng thức nhiều tiết mục văn nghệ hấp dẫn và tham gia nhiều trò chơi dân gian sôi nổi như: múa sênh tiền, hát quan họ, cờ tướng...

Đoàn rước hội làng Hạ Thái Đình Hạ Thái (còn có tên gọi khác đình Bà Lạy) thờ hai vị Thành hoàng làng là quan võ thời Lê Bùi Sĩ Lương và bà Đinh Thị Trạch (bà Lạy) người phụ nữ tự nộp mình cho hổ dữ để giải cho dân làng không phải cống nộp người hàng năm. Theo thần phả của đình: thuở xưa khi vùng đất này còn hoang vu, cây cối um tùm, dân cư thưa thớt. Trong rừng xuất hiện một con hổ dữ thành tinh (gọi là hổ lang) về làng bắt người và gia súc để ăn thịt. Dân làng không thể thu phục được hổ dữ đành phải cống nạp cho hổ lang mỗi năm 1 người (ngày 10/11) để được sống yên lành. Khi ấy, bà Lạy đã lớn tuổi, không có chồng con. Bà làm lễ khấn trời đất và tự nguyện xin thế mạng cho hổ với tâm nguyện từ nay dân làng không phải chịu vấn nạn đó. Đúng ngày 10/11, hồ về tha bà đi mất. Cũng kể từ đó, dân làng không thấy hổ dữ về quấy phá. Cảm kích tấm lòng, công lao của bà Lạy, dân làng Hạ Thái lập miếu thờ bà và tôn bà là Thành Hoàng làng. Quan võ thờ Lê Bùi Sĩ Lượng là người học rộng tài cao, văn võ song toàn. Khi nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê, ông chỉ huy 10 vạn quân tinh nhuệ diệt Mạc phò Lê, đem lại cảnh thái bình cho đất nước. Khi qua làng Hạ Thái, nhận thấy nơi đây có địa thế rồng chầu hổ phục bèn xây dựng gia trang, dạy nhân dân lập nghiệp. Sau khi mất, ông cũng được dân làng Hạ Thái tôn làm Thành hoàng làng. Hội làng Hạ Thái được tổ chức trang trọng. Sáng ngày 9/11, các cụ cao niên trong trang phục truyền thống cùng dân làng ra đình dự lễ mở cửa đình, khai mạc lễ hội. Chủ tế thắp hương, cung thỉnh hai vị Thành hoàng. Sau đó tổ chức lế chấp thủy tại giếng chùa Hạ Thái. Nước giếng được rước về đình để làm lễ mộc dục, bao sái. Buổi chiều, tổ chức lễ rước cỗ vào đình để lễ Thánh. Dẫn đầu đoàn rước là đội múa lân, cờ ngũ phương, đội bát âm, đồng văn... Buổi tối, sư sãi chùa Hạ Thái làm lễ cúng với đầy đủ lễ vật bao gồm: hương, hoa, nến, trà, quả, thức (oản, xôi nén, cơm). Dân làng Hạ Thái trong trang phục truyền thống tham gia hội làng Chính hội ngày 10/11, ngay từ sáng sớm dân làng tổ chức rước kiệu từ đình ra miếu Đức Ông để xin sắc. Những người khiêng kiệu phải là chàng trai, cô gái trong làng, khỏe mạnh, đạo đức tốt, chưa có gia đình. Kiệu Ông (kiệu Long Đình) do 4 chàng trai khiêng, kiệu Bà (kiệu Bát Cống) do 8 cô gái khiêng. Không khí rước kiệu tưng bừng, náo nhiệt. Khi đoàn rước về đến miếu, đội tế đem lễ vật vào làm lễ cáo yết Thánh và xin sắc để rước về đình. Khi kiệu rước yên vị trong sân đình, đội tế nữ cử hành dâng hương tế Thánh. Buổi chiều, đội tế nam tiến hành lễ tế Thánh. Buổi tối hội làng Hạ Thái có nhiều tiết mục giao lưu văn nghệ. Hội làng Hạ Thái thu hút đông đảo người dân tham gia Ngày 11/11, các đội tế ở các làng lân cận trong trang phục truyền thống lần lượt vào đình làm lễ tế và dâng hương Đức Thánh. Xế chiều, đội tế nam làng Hạ Thái làm lễ tế giã hội và phát lộc cho những người tham gia. Trong những ngày diễn ra lễ hội, người dân và du khách còn được thưởng thức nhiều tiết mục văn nghệ hấp dẫn và tham gia nhiều trò chơi dân gian sôi nổi như: múa sênh tiền, hát quan họ, cờ tướng...

Đình Hạ Thái (còn có tên gọi khác đình Bà Lạy) thờ hai vị Thành hoàng làng là quan võ thời Lê Bùi Sĩ Lương và bà Đinh Thị Trạch (bà Lạy) người phụ nữ tự nộp mình cho hổ dữ để giải cho dân làng không phải cống nộp người hàng năm. Theo thần phả của đình: thuở xưa khi vùng đất này còn hoang vu, cây cối um tùm, dân cư thưa thớt. Trong rừng xuất hiện một con hổ dữ thành tinh (gọi là hổ lang) về làng bắt người và gia súc để ăn thịt. Dân làng không thể thu phục được hổ dữ đành phải cống nạp cho hổ lang mỗi năm 1 người (ngày 10/11) để được sống yên lành. Khi ấy, bà Lạy đã lớn tuổi, không có chồng con. Bà làm lễ khấn trời đất và tự nguyện xin thế mạng cho hổ với tâm nguyện từ nay dân làng không phải chịu vấn nạn đó. Đúng ngày 10/11, hồ về tha bà đi mất. Cũng kể từ đó, dân làng không thấy hổ dữ về quấy phá. Cảm kích tấm lòng, công lao của bà Lạy, dân làng Hạ Thái lập miếu thờ bà và tôn bà là Thành Hoàng làng.

Quan võ thờ Lê Bùi Sĩ Lượng là người học rộng tài cao, văn võ song toàn. Khi nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê, ông chỉ huy 10 vạn quân tinh nhuệ diệt Mạc phò Lê, đem lại cảnh thái bình cho đất nước. Khi qua làng Hạ Thái, nhận thấy nơi đây có địa thế rồng chầu hổ phục bèn xây dựng gia trang, dạy nhân dân lập nghiệp. Sau khi mất, ông cũng được dân làng Hạ Thái tôn làm Thành hoàng làng. Hội làng Hạ Thái được tổ chức trang trọng. Sáng ngày 9/11, các cụ cao niên trong trang phục truyền thống cùng dân làng ra đình dự lễ mở cửa đình, khai mạc lễ hội. Chủ tế thắp hương, cung thỉnh hai vị Thành hoàng. Sau đó tổ chức lế chấp thủy tại giếng chùa Hạ Thái. Nước giếng được rước về đình để làm lễ mộc dục, bao sái. Buổi chiều, tổ chức lễ rước cỗ vào đình để lễ Thánh. Dẫn đầu đoàn rước là đội múa lân, cờ ngũ phương, đội bát âm, đồng văn... Buổi tối, sư sãi chùa Hạ Thái làm lễ cúng với đầy đủ lễ vật bao gồm: hương, hoa, nến, trà, quả, thức (oản, xôi nén, cơm).

Dân làng Hạ Thái trong trang phục truyền thống tham gia hội làng Chính hội ngày 10/11, ngay từ sáng sớm dân làng tổ chức rước kiệu từ đình ra miếu Đức Ông để xin sắc. Những người khiêng kiệu phải là chàng trai, cô gái trong làng, khỏe mạnh, đạo đức tốt, chưa có gia đình. Kiệu Ông (kiệu Long Đình) do 4 chàng trai khiêng, kiệu Bà (kiệu Bát Cống) do 8 cô gái khiêng. Không khí rước kiệu tưng bừng, náo nhiệt. Khi đoàn rước về đến miếu, đội tế đem lễ vật vào làm lễ cáo yết Thánh và xin sắc để rước về đình. Khi kiệu rước yên vị trong sân đình, đội tế nữ cử hành dâng hương tế Thánh. Buổi chiều, đội tế nam tiến hành lễ tế Thánh. Buổi tối hội làng Hạ Thái có nhiều tiết mục giao lưu văn nghệ. Hội làng Hạ Thái thu hút đông đảo người dân tham gia Ngày 11/11, các đội tế ở các làng lân cận trong trang phục truyền thống lần lượt vào đình làm lễ tế và dâng hương Đức Thánh. Xế chiều, đội tế nam làng Hạ Thái làm lễ tế giã hội và phát lộc cho những người tham gia. Trong những ngày diễn ra lễ hội, người dân và du khách còn được thưởng thức nhiều tiết mục văn nghệ hấp dẫn và tham gia nhiều trò chơi dân gian sôi nổi như: múa sênh tiền, hát quan họ, cờ tướng...

Related Figures

Hội làng Chàng Sơn

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 17/8- 18/8 Âm lịch Hội làng Chàng Sơn diễn ra ngày 17-18/8 âm lịch tại xã Tràng Sơn, huyện Thạch Thất, Hà Nội. Làng Chàng Sơn là một trong những làng nghề mộc lâu đời nhất Việt Nam. Những người thợ Chàng Sơn đã chạm khắc nên bao tác phẩm nghệ thuật độc đáo, được người dân trong và ngoài nước ưa chuộng. Tác phẩm tiêu biểu nhất của Chàng Sơn có lẽ là 18 pho tượng La Hán và bộ tượng Phật tại chùa Tây Phương. Trải qua bao thăng trầm lịch sử, nghề mộc ở Chàng Sơn không bị mai một mà ngày càng phát triển hơn. Chàng Sơn được hội làng nghề Việt Nam công nhận là "Làng nghề truyền thống tiêu biểu Việt Nam". Lễ Thánh hội làng Chàng Sơn Đình làng Chàng Sơn thờ Đức Thánh Tản Viên cùng Tiếu Thiện Đại Vương và Trầm Đồng Đại Vương. Đức Thánh Tản Viên (cùng với Phù Đổng Thiên Vương, Chử Đồng Tử là công chúa Liễu Hạnh) là một trong "tứ bất tử" trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Tiểu Thiện Đại Vương và Trầm Đồng Đại VƯơng là hai vị tướng có công lớn trong đánh đuổi giặc ngoại xâm. Ngoài thờ trong đình Chàng Sơn còn được dân làng lập quán và đền thờ riêng ở gần đình. Phần tế lễ diễn ra trang nghiêm trong hội làng Chàng Sơn Lễ hội Chàng Sơn được tổ chức trong hai ngày 17-18/8 âm lịch để tưởng nhớ công ơn các vị anh hùng dân tộc có công với dân, với nước. Đọc thần phả trong hội làng Chàng Sơn Buổi sáng ngày 17/8, dân làng long trọng tổ chức lễ rước lễ vật dang Thánh. Dẫn đầu đoàn rước là đội múa lân, theo sau là đội cờ, trống chiêng, sinh tiền, bát âm, đội kiệu lễ... Khi rước đến đình Chàng Sơn, các thôn trong làng lần lượt dâng lễ vật lễ Thánh. Buổi chiều, đội tế nam làm lễ yết Thánh. Đế tối, đội tế nữ làm lễ dâng hương tế Thánh. Chính hội ngày 18/8, khai mạc lễ hội với phần đọc thần phả của đình. Sau đó, đội tế nam tiến hành tế Thánh ở đình làng, quán và đền. Chiều cùng ngày, các phường, xã lân cận làm lễ dâng hương, tế thỉnh. Xế chiều đội tế nam tế tạ kết thúc lễ hội. Trong những ngày diễn ra hội làng Chàng Sơn còn có nhiều hoạt động biểu diễn văn nghệ, nhiều trò chơi dân gian sôi nổi như: cờ tướng, chọi gà, múa rối nước ở thủy đình...

Làng Chàng Sơn là một trong những làng nghề mộc lâu đời nhất Việt Nam. Những người thợ Chàng Sơn đã chạm khắc nên bao tác phẩm nghệ thuật độc đáo, được người dân trong và ngoài nước ưa chuộng. Tác phẩm tiêu biểu nhất của Chàng Sơn có lẽ là 18 pho tượng La Hán và bộ tượng Phật tại chùa Tây Phương. Trải qua bao thăng trầm lịch sử, nghề mộc ở Chàng Sơn không bị mai một mà ngày càng phát triển hơn. Chàng Sơn được hội làng nghề Việt Nam công nhận là "Làng nghề truyền thống tiêu biểu Việt Nam".

Lễ Thánh hội làng Chàng Sơn

Đình làng Chàng Sơn thờ Đức Thánh Tản Viên cùng Tiếu Thiện Đại Vương và Trầm Đồng Đại Vương. Đức Thánh Tản Viên (cùng với Phù Đổng Thiên Vương, Chử Đồng Tử là công chúa Liễu Hạnh) là một trong "tứ bất tử" trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Tiểu Thiện Đại Vương và Trầm Đồng Đại VƯơng là hai vị tướng có công lớn trong đánh đuổi giặc ngoại xâm. Ngoài thờ trong đình Chàng Sơn còn được dân làng lập quán và đền thờ riêng ở gần đình.

Phần tế lễ diễn ra trang nghiêm trong hội làng Chàng Sơn

Lễ hội Chàng Sơn được tổ chức trong hai ngày 17-18/8 âm lịch để tưởng nhớ công ơn các vị anh hùng dân tộc có công với dân, với nước.

Đọc thần phả trong hội làng Chàng Sơn

Buổi sáng ngày 17/8, dân làng long trọng tổ chức lễ rước lễ vật dang Thánh. Dẫn đầu đoàn rước là đội múa lân, theo sau là đội cờ, trống chiêng, sinh tiền, bát âm, đội kiệu lễ... Khi rước đến đình Chàng Sơn, các thôn trong làng lần lượt dâng lễ vật lễ Thánh. Buổi chiều, đội tế nam làm lễ yết Thánh. Đế tối, đội tế nữ làm lễ dâng hương tế Thánh.

Chính hội ngày 18/8, khai mạc lễ hội với phần đọc thần phả của đình. Sau đó, đội tế nam tiến hành tế Thánh ở đình làng, quán và đền. Chiều cùng ngày, các phường, xã lân cận làm lễ dâng hương, tế thỉnh. Xế chiều đội tế nam tế tạ kết thúc lễ hội.

Trong những ngày diễn ra hội làng Chàng Sơn còn có nhiều hoạt động biểu diễn văn nghệ, nhiều trò chơi dân gian sôi nổi như: cờ tướng, chọi gà, múa rối nước ở thủy đình...

Related Figures

Lễ hội truyền thống làng Bắc Biên

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 5/3- 6/3 Âm lịch Đến hẹn lại lên, hàng năm làng Bắc Biên mở hội ngày 5-6/3 âm lịch tại đình Phúc Xá, làng Bắc Biên, phường Ngọc Thụy, quận Long Biên để tưởng nhớ công ơn Thành hoàng làng Lý Thường Kiệt - người có nhiều công lao cho đất nước dưới triều Nhà Lý. Đoàn rước hội làng Bắc Biên Bắc Biên là ngôi làng nhỏ nằm ở bờ trái sông Hồng, sát ngã ba sông Đuống. Bắc Biên trước đây có nguồn gốc từ làng An Xá - quê hương của anh hùng dân tộc Lý Thường Kiệt. Đình làng thờ Thành hoàng Lý Thường Kiệt và hai danh tướng dưới thời Hai Bà Trưng là vợ chồng Phương Dung và Đào Kỳ. Ngoài ra, đình làng thờ Thánh nương công chúa cùng 3 vị Bảo Trung, Minh Khiết, Hiến Trung. Lý Thường Kiệt là con của Sùng tiết tướng quân Ngô An Ngữ. Gia đình ông nhiều đời làm quan trong triều, lập nhiều công lao. Lý Thường Kiệt là một trong 14 vị anh hùng dân tộc tiêu biểu nhất trong lịch sử Việt Nam. Ông là nhà quân sự, chính trị nổi tiếng có công lớn trong việc đánh đuổi quân Tống xâm lược. Do có nhiều đóng góp cho đất nước nên được nhà vua ban cho họ Lý và phong nhiều tước hầu. Năm 1105, sau khi qua đời, Lý Thường Kiệt được dân làng An Xá lập đền thờ ở phía Bắc của bãi giữa sông Hồng. Sau này, đất lở đình làng được dời về vị trí ngày nay. Hội làng Bắc Biên tổ chức trong hai ngày 5-6/3 âm lịch thu hút đông đảo người dân địa phương và du khách thập phương tham dự. Màn trống hội trong hội làng Bắc Biên Sáng ngày 5/3, các cụ trong đội tế lễ mặc trang phục truyền thống rước kiệu. Đoàn rước xuất phát từ đình Phúc Xá lên làng Bắc Cầu gần bến Đông Trù đón chạ anh từ làng Hội Phụ sang rồi quay về đình. Làng Bắc Biên kết chạ với làng Hôi Phụ vì cùng thờ Tướng quân Đào Kỳ. Sau khi rước kiệu về đình, đội tế nam làm lễ tế Thánh. Lễ dâng hương hội làng Bắc Biên Chính hội ngày 6/3, ông Từ (người trông đình) đọc thần phả. Sau đó, đội dâng hương nữ tiến hành lễ tế Thánh. Chiều cùng ngày, đội tế nam làng Hội Phụ làm lễ tế Thánh. Sau đó đến phần thả cá chép ra sông. Tục thả cá chép để tưởng nhớ tướng sĩ trong trận tập kích rằng không may thuyền bị thủng rồi đắm, nhiều cá chép nhảy vào trong thuyền. Trong những ngày diễn ra hội làng Bắc Biên còn có nhiều hoạt động văn nghệ và trò chơi dân gian như: đánh trống hội, múa quạt, cờ tướng.....

Đoàn rước hội làng Bắc Biên Bắc Biên là ngôi làng nhỏ nằm ở bờ trái sông Hồng, sát ngã ba sông Đuống. Bắc Biên trước đây có nguồn gốc từ làng An Xá - quê hương của anh hùng dân tộc Lý Thường Kiệt. Đình làng thờ Thành hoàng Lý Thường Kiệt và hai danh tướng dưới thời Hai Bà Trưng là vợ chồng Phương Dung và Đào Kỳ. Ngoài ra, đình làng thờ Thánh nương công chúa cùng 3 vị Bảo Trung, Minh Khiết, Hiến Trung. Lý Thường Kiệt là con của Sùng tiết tướng quân Ngô An Ngữ. Gia đình ông nhiều đời làm quan trong triều, lập nhiều công lao. Lý Thường Kiệt là một trong 14 vị anh hùng dân tộc tiêu biểu nhất trong lịch sử Việt Nam. Ông là nhà quân sự, chính trị nổi tiếng có công lớn trong việc đánh đuổi quân Tống xâm lược. Do có nhiều đóng góp cho đất nước nên được nhà vua ban cho họ Lý và phong nhiều tước hầu. Năm 1105, sau khi qua đời, Lý Thường Kiệt được dân làng An Xá lập đền thờ ở phía Bắc của bãi giữa sông Hồng. Sau này, đất lở đình làng được dời về vị trí ngày nay. Hội làng Bắc Biên tổ chức trong hai ngày 5-6/3 âm lịch thu hút đông đảo người dân địa phương và du khách thập phương tham dự. Màn trống hội trong hội làng Bắc Biên Sáng ngày 5/3, các cụ trong đội tế lễ mặc trang phục truyền thống rước kiệu. Đoàn rước xuất phát từ đình Phúc Xá lên làng Bắc Cầu gần bến Đông Trù đón chạ anh từ làng Hội Phụ sang rồi quay về đình. Làng Bắc Biên kết chạ với làng Hôi Phụ vì cùng thờ Tướng quân Đào Kỳ. Sau khi rước kiệu về đình, đội tế nam làm lễ tế Thánh. Lễ dâng hương hội làng Bắc Biên Chính hội ngày 6/3, ông Từ (người trông đình) đọc thần phả. Sau đó, đội dâng hương nữ tiến hành lễ tế Thánh. Chiều cùng ngày, đội tế nam làng Hội Phụ làm lễ tế Thánh. Sau đó đến phần thả cá chép ra sông. Tục thả cá chép để tưởng nhớ tướng sĩ trong trận tập kích rằng không may thuyền bị thủng rồi đắm, nhiều cá chép nhảy vào trong thuyền. Trong những ngày diễn ra hội làng Bắc Biên còn có nhiều hoạt động văn nghệ và trò chơi dân gian như: đánh trống hội, múa quạt, cờ tướng.....

Bắc Biên là ngôi làng nhỏ nằm ở bờ trái sông Hồng, sát ngã ba sông Đuống. Bắc Biên trước đây có nguồn gốc từ làng An Xá - quê hương của anh hùng dân tộc Lý Thường Kiệt. Đình làng thờ Thành hoàng Lý Thường Kiệt và hai danh tướng dưới thời Hai Bà Trưng là vợ chồng Phương Dung và Đào Kỳ. Ngoài ra, đình làng thờ Thánh nương công chúa cùng 3 vị Bảo Trung, Minh Khiết, Hiến Trung.

Lý Thường Kiệt là con của Sùng tiết tướng quân Ngô An Ngữ. Gia đình ông nhiều đời làm quan trong triều, lập nhiều công lao. Lý Thường Kiệt là một trong 14 vị anh hùng dân tộc tiêu biểu nhất trong lịch sử Việt Nam. Ông là nhà quân sự, chính trị nổi tiếng có công lớn trong việc đánh đuổi quân Tống xâm lược. Do có nhiều đóng góp cho đất nước nên được nhà vua ban cho họ Lý và phong nhiều tước hầu. Năm 1105, sau khi qua đời, Lý Thường Kiệt được dân làng An Xá lập đền thờ ở phía Bắc của bãi giữa sông Hồng. Sau này, đất lở đình làng được dời về vị trí ngày nay.

Hội làng Bắc Biên tổ chức trong hai ngày 5-6/3 âm lịch thu hút đông đảo người dân địa phương và du khách thập phương tham dự.

Màn trống hội trong hội làng Bắc Biên

Sáng ngày 5/3, các cụ trong đội tế lễ mặc trang phục truyền thống rước kiệu. Đoàn rước xuất phát từ đình Phúc Xá lên làng Bắc Cầu gần bến Đông Trù đón chạ anh từ làng Hội Phụ sang rồi quay về đình. Làng Bắc Biên kết chạ với làng Hôi Phụ vì cùng thờ Tướng quân Đào Kỳ. Sau khi rước kiệu về đình, đội tế nam làm lễ tế Thánh.

Lễ dâng hương hội làng Bắc Biên

Chính hội ngày 6/3, ông Từ (người trông đình) đọc thần phả. Sau đó, đội dâng hương nữ tiến hành lễ tế Thánh. Chiều cùng ngày, đội tế nam làng Hội Phụ làm lễ tế Thánh. Sau đó đến phần thả cá chép ra sông. Tục thả cá chép để tưởng nhớ tướng sĩ trong trận tập kích rằng không may thuyền bị thủng rồi đắm, nhiều cá chép nhảy vào trong thuyền.

Trong những ngày diễn ra hội làng Bắc Biên còn có nhiều hoạt động văn nghệ và trò chơi dân gian như: đánh trống hội, múa quạt, cờ tướng.....

Related Figures

Lễ hội làng Đăm

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 9/3- 11/3 Âm lịch Hội làng Đăm là lễ hội có lịch sử lâu đời với nhiều nét văn hóa độc đáo như rước kiệu, đua thuyền, múa lân cướp tiền... Hội làng Đăm 5 năm mới tổ chức một lần nên người dân rất háo hức, chờ đợi. Trong những ngày diễn ra lễ hội, các gia đình treo đèn lồng, cờ hội đỏ và đều soan một mâm cỗ đặt ngay ngoài đường cúng Thành hoàng làng. Làng Đăm thuộc xã Tây Tựu, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Đình làng Đăm thờ đức thánh Bạch Hạc Tam Giang. Sự quyết liệt trong hội đua thuyền làng Đăm Hội làng Đăm diễn ra trong 3 ngày từ 9-11/3 âm lịch, trước đây hội kéo dài 5 ngày. Hội đua thuyền làng Đăm có truyền thống lâu đời đi vào ca dao như "Bơi Đăm, rước Giá, hội Thầy" hay "Làng La canh cửi, làng Đăm đua thuyền". Ngày nay, 5 năm người dân làng Đăm mới tổ chức đua thuyền bởi mất nhiều thời gian và công sức để chuẩn bị. Cái quyết liệt của đua thuyền làng Đăm không phải ở độ dài đường đua (như hội bơi chải Đồng Xâm), không phải bởi sự khó khăn, bơi ngang sông Hồng (đua thuyền Sa Lãng), không phải bơi ngang khi thuyền bị đục sẵn từ trước (đua thuyền Gia Lương, Hà Bắc)... Cái quyết liệt ở đua thuyền làng Đăm nằm ở bước xuất phát cuộc đua, phải búng thuyền đẩy, chen thuyền bạn để lấy chỗ cho thuyền mình, dóc thuyền để thuyền bứt lên mà không va chạm, là lạng thuyền không cho thuyền bạn chạm vào thuyền mình, là vuốt ở góc sao cho thuyền lướt nhanh không bị vướng tại đó... Đua thuyền làng Đăm thể hiện sự khéo léo, mau lẹ, quyết đoán, tính toán chính xác để thuyền đạt tốc độ tối đa mà chỉ mát sức tối thiểu. Đua thuyền làng Đăm đòi hỏi kinh nghiệm dày dạn và sự từng trải của những ngư dân sống vùng sông nước. Đông đảo người dân tham gia hội làng Đăm Màn rước kiệu trong hội làng Đăm diễn ra công phu và hoành tráng. Đoàn rước gần 1000 người, dài hơn 1km. Đoàn rước làng Đăm đi từ đình Tây Tựu quanh các thôn làng Đăm rồi về đình Thủy Tạ. Theo tục lệ địa phương, ngày thường Thánh ngự ở đình Tây Tựu nhưng những ngày hội Thánh về ngự ở đình Thủy Tạ. Pha húc thuyền táo bạo trong hội làng Đăm Người dân và du khách thập phương cũng vô cùng thích thú với màn múa lân cướp tiền dọc các con đường ở làng Đăm. Hai con lân được 8 trai tráng khỏe mạnh trong làng thay nhau múa. Đến cổng mỗi nhà dân, chủ nhà buộc những đồng tiền lẻ vào sợi chỉ rồi treo lên cây gậy dài. Hai con lân dùng miệng cướp những đồng tiền rồi cúi đầu cảm ơn gia chủ. Người dân nơi đây quan niệm, gia đình nào được Lân lễ hội cướp tiền thì cả năm gặp may mắn, sung túc. Hội làng Đăm được tổ chức được tổ chức từ năm 1940. Hội làng Đăm là một trong những lễ hội còn lưu giữ được nhiều giá trị văn hóa của kinh thành Thăng Long xưa.

Làng Đăm thuộc xã Tây Tựu, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Đình làng Đăm thờ đức thánh Bạch Hạc Tam Giang. Sự quyết liệt trong hội đua thuyền làng Đăm Hội làng Đăm diễn ra trong 3 ngày từ 9-11/3 âm lịch, trước đây hội kéo dài 5 ngày. Hội đua thuyền làng Đăm có truyền thống lâu đời đi vào ca dao như "Bơi Đăm, rước Giá, hội Thầy" hay "Làng La canh cửi, làng Đăm đua thuyền". Ngày nay, 5 năm người dân làng Đăm mới tổ chức đua thuyền bởi mất nhiều thời gian và công sức để chuẩn bị. Cái quyết liệt của đua thuyền làng Đăm không phải ở độ dài đường đua (như hội bơi chải Đồng Xâm), không phải bởi sự khó khăn, bơi ngang sông Hồng (đua thuyền Sa Lãng), không phải bơi ngang khi thuyền bị đục sẵn từ trước (đua thuyền Gia Lương, Hà Bắc)... Cái quyết liệt ở đua thuyền làng Đăm nằm ở bước xuất phát cuộc đua, phải búng thuyền đẩy, chen thuyền bạn để lấy chỗ cho thuyền mình, dóc thuyền để thuyền bứt lên mà không va chạm, là lạng thuyền không cho thuyền bạn chạm vào thuyền mình, là vuốt ở góc sao cho thuyền lướt nhanh không bị vướng tại đó... Đua thuyền làng Đăm thể hiện sự khéo léo, mau lẹ, quyết đoán, tính toán chính xác để thuyền đạt tốc độ tối đa mà chỉ mát sức tối thiểu. Đua thuyền làng Đăm đòi hỏi kinh nghiệm dày dạn và sự từng trải của những ngư dân sống vùng sông nước. Đông đảo người dân tham gia hội làng Đăm Màn rước kiệu trong hội làng Đăm diễn ra công phu và hoành tráng. Đoàn rước gần 1000 người, dài hơn 1km. Đoàn rước làng Đăm đi từ đình Tây Tựu quanh các thôn làng Đăm rồi về đình Thủy Tạ. Theo tục lệ địa phương, ngày thường Thánh ngự ở đình Tây Tựu nhưng những ngày hội Thánh về ngự ở đình Thủy Tạ. Pha húc thuyền táo bạo trong hội làng Đăm Người dân và du khách thập phương cũng vô cùng thích thú với màn múa lân cướp tiền dọc các con đường ở làng Đăm. Hai con lân được 8 trai tráng khỏe mạnh trong làng thay nhau múa. Đến cổng mỗi nhà dân, chủ nhà buộc những đồng tiền lẻ vào sợi chỉ rồi treo lên cây gậy dài. Hai con lân dùng miệng cướp những đồng tiền rồi cúi đầu cảm ơn gia chủ. Người dân nơi đây quan niệm, gia đình nào được Lân lễ hội cướp tiền thì cả năm gặp may mắn, sung túc. Hội làng Đăm được tổ chức được tổ chức từ năm 1940. Hội làng Đăm là một trong những lễ hội còn lưu giữ được nhiều giá trị văn hóa của kinh thành Thăng Long xưa.

Làng Đăm thuộc xã Tây Tựu, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Đình làng Đăm thờ đức thánh Bạch Hạc Tam Giang.

Sự quyết liệt trong hội đua thuyền làng Đăm

Hội làng Đăm diễn ra trong 3 ngày từ 9-11/3 âm lịch, trước đây hội kéo dài 5 ngày. Hội đua thuyền làng Đăm có truyền thống lâu đời đi vào ca dao như "Bơi Đăm, rước Giá, hội Thầy" hay "Làng La canh cửi, làng Đăm đua thuyền". Ngày nay, 5 năm người dân làng Đăm mới tổ chức đua thuyền bởi mất nhiều thời gian và công sức để chuẩn bị. Cái quyết liệt của đua thuyền làng Đăm không phải ở độ dài đường đua (như hội bơi chải Đồng Xâm), không phải bởi sự khó khăn, bơi ngang sông Hồng (đua thuyền Sa Lãng), không phải bơi ngang khi thuyền bị đục sẵn từ trước (đua thuyền Gia Lương, Hà Bắc)... Cái quyết liệt ở đua thuyền làng Đăm nằm ở bước xuất phát cuộc đua, phải búng thuyền đẩy, chen thuyền bạn để lấy chỗ cho thuyền mình, dóc thuyền để thuyền bứt lên mà không va chạm, là lạng thuyền không cho thuyền bạn chạm vào thuyền mình, là vuốt ở góc sao cho thuyền lướt nhanh không bị vướng tại đó... Đua thuyền làng Đăm thể hiện sự khéo léo, mau lẹ, quyết đoán, tính toán chính xác để thuyền đạt tốc độ tối đa mà chỉ mát sức tối thiểu. Đua thuyền làng Đăm đòi hỏi kinh nghiệm dày dạn và sự từng trải của những ngư dân sống vùng sông nước.

Đông đảo người dân tham gia hội làng Đăm

Màn rước kiệu trong hội làng Đăm diễn ra công phu và hoành tráng. Đoàn rước gần 1000 người, dài hơn 1km. Đoàn rước làng Đăm đi từ đình Tây Tựu quanh các thôn làng Đăm rồi về đình Thủy Tạ. Theo tục lệ địa phương, ngày thường Thánh ngự ở đình Tây Tựu nhưng những ngày hội Thánh về ngự ở đình Thủy Tạ.

Pha húc thuyền táo bạo trong hội làng Đăm

Người dân và du khách thập phương cũng vô cùng thích thú với màn múa lân cướp tiền dọc các con đường ở làng Đăm. Hai con lân được 8 trai tráng khỏe mạnh trong làng thay nhau múa. Đến cổng mỗi nhà dân, chủ nhà buộc những đồng tiền lẻ vào sợi chỉ rồi treo lên cây gậy dài. Hai con lân dùng miệng cướp những đồng tiền rồi cúi đầu cảm ơn gia chủ. Người dân nơi đây quan niệm, gia đình nào được Lân lễ hội cướp tiền thì cả năm gặp may mắn, sung túc.

Hội làng Đăm được tổ chức được tổ chức từ năm 1940. Hội làng Đăm là một trong những lễ hội còn lưu giữ được nhiều giá trị văn hóa của kinh thành Thăng Long xưa.

Hội làng Đăm được tổ chức được tổ chức từ năm 1940. Hội làng Đăm là một trong những lễ hội còn lưu giữ được nhiều giá trị văn hóa của kinh thành Thăng Long xưa.

Related Figures

Lễ hội sâm núi Ngọc Linh

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/6- 13/6 Dương lịch Lễ hội sâm núi Ngọc Linh là lễ hội mới ở Quảng Nam, được tổ chức vào ngày 10 tháng 6, tại vùng sâm Ngọc Linh, huyện Nam Trà My. Đây là năm đầu tiên tỉnh Quảng Nam tổ chức lễ hội này, và chủ đề của lễ hội năm nay là "Huyền thoại Ngọc Linh". Lễ hội sâm núi Ngọc Linh tại Quảng Nam Lễ hội bao gồm nhiều hoạt động như giới triệu, trưng bày sản phẩm sâm Ngọc Linh, các hoạt động văn hóa nghệ thuật, trải nghiệm vùng trồng sâm Ngọc Linh, khám phá văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số tại Nam Trà My. Cây sâm Ngọc Linh đã có từ lâu đời tại vùng núi Ngọc Linh, nằm trên địa bàn huyện Nam Trà My của tỉnh Quảng Nam, huyện Tu Mơ Rông của tỉnh Kon Tum. Là một loại dược liệu quý hiếm có chứa đến 52 hợp chất, và là một trong 5 loại sâm quý hiếm nhất trên thế giới. Năm 2016, Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt đề án bảo tồn và phát triển cây sâm ở núi Ngọc Linh. Hiện tại, tỉnh Quảng Nam đã quy hoạch hơn 15.000 ha đất để trồng sâm, với trên 1.000 hộ trồng sâm. Đặc biệt, nhận thức của người dân các dân tộc trong vùng về sâm cũng được nâng lên, họ đã biết bảo vệ rừng, phục hồi rừng để trồng sâm. Khách xem hội đang mua sâm Lễ hội này có ý nghĩa quảng bá tới bạn bè trong và ngoài nước một loại dược liệu thiên nhiên quý hiếm của Việt Nam, đưa sâm núi Ngọc Linh trở thành loại dược liệu có thương hiệu, giá thành cao hơn, xứng tầm các loại sâm quý trên thế giới như sâm hàn Quốc, sâm Nga, sâm Mỹ, sâm Canada... Lễ hội sâm núi Ngọc Linh tổ chức lần đầu tiên tại Quảng Nam

Lễ hội sâm núi Ngọc Linh là lễ hội mới ở Quảng Nam, được tổ chức vào ngày 10 tháng 6, tại vùng sâm Ngọc Linh, huyện Nam Trà My. Đây là năm đầu tiên tỉnh Quảng Nam tổ chức lễ hội này, và chủ đề của lễ hội năm nay là "Huyền thoại Ngọc Linh".

Lễ hội sâm núi Ngọc Linh tại Quảng Nam

Lễ hội bao gồm nhiều hoạt động như giới triệu, trưng bày sản phẩm sâm Ngọc Linh, các hoạt động văn hóa nghệ thuật, trải nghiệm vùng trồng sâm Ngọc Linh, khám phá văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số tại Nam Trà My.

Cây sâm Ngọc Linh đã có từ lâu đời tại vùng núi Ngọc Linh, nằm trên địa bàn huyện Nam Trà My của tỉnh Quảng Nam, huyện Tu Mơ Rông của tỉnh Kon Tum. Là một loại dược liệu quý hiếm có chứa đến 52 hợp chất, và là một trong 5 loại sâm quý hiếm nhất trên thế giới. Năm 2016, Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt đề án bảo tồn và phát triển cây sâm ở núi Ngọc Linh. Hiện tại, tỉnh Quảng Nam đã quy hoạch hơn 15.000 ha đất để trồng sâm, với trên 1.000 hộ trồng sâm. Đặc biệt, nhận thức của người dân các dân tộc trong vùng về sâm cũng được nâng lên, họ đã biết bảo vệ rừng, phục hồi rừng để trồng sâm.

Khách xem hội đang mua sâm

Lễ hội này có ý nghĩa quảng bá tới bạn bè trong và ngoài nước một loại dược liệu thiên nhiên quý hiếm của Việt Nam, đưa sâm núi Ngọc Linh trở thành loại dược liệu có thương hiệu, giá thành cao hơn, xứng tầm các loại sâm quý trên thế giới như sâm hàn Quốc, sâm Nga, sâm Mỹ, sâm Canada...

Lễ hội sâm núi Ngọc Linh tổ chức lần đầu tiên tại Quảng Nam

Related Figures

Hội chùa Thầy

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 5/3- 7/3 Âm lịch Hội chùa Thầy diễn ra ngày 5-7/3 âm lịch hàng năm là một trong những lễ hội lớn ở xứ Đoài. Chùa Thầy là điểm đến du lịch văn hóa tâm linh hấp dẫn với du khách gần xa. Hoa gạo nở là thời điểm diễn ra hội chùa Thầy Chùa Thầy - ngôi chùa cổ có lịch sử hơn 1000 năm tuổi, tọa lạc trên khu đất thiêng (đất hàm rồng) ở xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, Hà Nội. Chùa Thầy là một quần thể kiến trúc gồm chùa Hạ, chùa Trung, chùa Thượng, gác Chuông, gác Trống, chùa Cao, chùa Long Đầu, chùa Một Mái, đền Thượng, đền Văn Xương, đền Quán Thánh, quán Hoàng Xá... Trong những ngày diễn ra lễ hội truyền thống chùa Thầy, tăng ni Phật tử từ khắp mọi vùng miền cùng về đây dự lễ. Hội chùa Thầy bao gồm nhiều nghi lễ độc đáo như: mộc dục, lễ nghinh bài vị Đức thánh Từ Đạo Hạnh từ chùa Thượng xuống chùa Trung, lễ cúng yên vị, lễ tế, lễ rước... Chạy đàn là một diễn xướng có tính chất tôn giáo với sự phối hợp các nhạc cụ dân tộc, trang nghiêm. Người dân và du khách bị cuốn hút theo nhịp hát của các nhà sư. Không khí rộn ràng hội chùa Thầy Ngoài những nghi thức tôn giáo, hội chùa Thầy còn hấp dẫn người dân và du khách thập phương với màn múa rối nước và nhiều trò chơi dân gian sôi nổi. Sân khấu biểu diễn rối nước được đặt ngay trước Thủy Đình. Có nhiều tích trò rối nổi tiếng như Thạch Sanh, Tấm Cám hay cảnh sinh hoạt dân dã bắt vịt, đấu vật... Du khách trẩy hội chùa Thầy cũng được thưởng ngoạn cảnh trí thiên nhiên xứ Đoài. Đoàn rước hội chùa Thầy Chùa Thầy linh thiêng, núi non hùng vĩ là điểm đến hấp dẫn với du khách thập phương, đặc biệt trong những ngày diễn ra lễ hội.

Hoa gạo nở là thời điểm diễn ra hội chùa Thầy Chùa Thầy - ngôi chùa cổ có lịch sử hơn 1000 năm tuổi, tọa lạc trên khu đất thiêng (đất hàm rồng) ở xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, Hà Nội. Chùa Thầy là một quần thể kiến trúc gồm chùa Hạ, chùa Trung, chùa Thượng, gác Chuông, gác Trống, chùa Cao, chùa Long Đầu, chùa Một Mái, đền Thượng, đền Văn Xương, đền Quán Thánh, quán Hoàng Xá... Trong những ngày diễn ra lễ hội truyền thống chùa Thầy, tăng ni Phật tử từ khắp mọi vùng miền cùng về đây dự lễ. Hội chùa Thầy bao gồm nhiều nghi lễ độc đáo như: mộc dục, lễ nghinh bài vị Đức thánh Từ Đạo Hạnh từ chùa Thượng xuống chùa Trung, lễ cúng yên vị, lễ tế, lễ rước... Chạy đàn là một diễn xướng có tính chất tôn giáo với sự phối hợp các nhạc cụ dân tộc, trang nghiêm. Người dân và du khách bị cuốn hút theo nhịp hát của các nhà sư. Không khí rộn ràng hội chùa Thầy Ngoài những nghi thức tôn giáo, hội chùa Thầy còn hấp dẫn người dân và du khách thập phương với màn múa rối nước và nhiều trò chơi dân gian sôi nổi. Sân khấu biểu diễn rối nước được đặt ngay trước Thủy Đình. Có nhiều tích trò rối nổi tiếng như Thạch Sanh, Tấm Cám hay cảnh sinh hoạt dân dã bắt vịt, đấu vật... Du khách trẩy hội chùa Thầy cũng được thưởng ngoạn cảnh trí thiên nhiên xứ Đoài. Đoàn rước hội chùa Thầy Chùa Thầy linh thiêng, núi non hùng vĩ là điểm đến hấp dẫn với du khách thập phương, đặc biệt trong những ngày diễn ra lễ hội.

Chùa Thầy - ngôi chùa cổ có lịch sử hơn 1000 năm tuổi, tọa lạc trên khu đất thiêng (đất hàm rồng) ở xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, Hà Nội. Chùa Thầy là một quần thể kiến trúc gồm chùa Hạ, chùa Trung, chùa Thượng, gác Chuông, gác Trống, chùa Cao, chùa Long Đầu, chùa Một Mái, đền Thượng, đền Văn Xương, đền Quán Thánh, quán Hoàng Xá...

Trong những ngày diễn ra lễ hội truyền thống chùa Thầy, tăng ni Phật tử từ khắp mọi vùng miền cùng về đây dự lễ. Hội chùa Thầy bao gồm nhiều nghi lễ độc đáo như: mộc dục, lễ nghinh bài vị Đức thánh Từ Đạo Hạnh từ chùa Thượng xuống chùa Trung, lễ cúng yên vị, lễ tế, lễ rước... Chạy đàn là một diễn xướng có tính chất tôn giáo với sự phối hợp các nhạc cụ dân tộc, trang nghiêm. Người dân và du khách bị cuốn hút theo nhịp hát của các nhà sư.

Không khí rộn ràng hội chùa Thầy

Ngoài những nghi thức tôn giáo, hội chùa Thầy còn hấp dẫn người dân và du khách thập phương với màn múa rối nước và nhiều trò chơi dân gian sôi nổi. Sân khấu biểu diễn rối nước được đặt ngay trước Thủy Đình. Có nhiều tích trò rối nổi tiếng như Thạch Sanh, Tấm Cám hay cảnh sinh hoạt dân dã bắt vịt, đấu vật... Du khách trẩy hội chùa Thầy cũng được thưởng ngoạn cảnh trí thiên nhiên xứ Đoài.

Đoàn rước hội chùa Thầy

Chùa Thầy linh thiêng, núi non hùng vĩ là điểm đến hấp dẫn với du khách thập phương, đặc biệt trong những ngày diễn ra lễ hội.

Related Figures

Lễ Hội Rước Cộ Chợ Được

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/1- 11/1 Âm lịch Lễ Hội Rước Cộ Chợ Được là một nét văn hóa đặc trưng của người Quảng Nam, mang đậm yếu tố tâm linh và tín ngưỡng của người dân nơi đây. Lễ hội diễn ra vào ngày hai ngày là mồng 10 và 11 tháng Giêng âm lịch hàng năm, tại Lăng Bà thuộc thuôn Phước Ấm - Chợ Được - xã Bình Triều- huyện Thăng Bình. Lễ Hội Rước Cộ Chợ Được ở Quảng Nam Lễ hội Rước cộ chợ Được gồm các lễ cầu an, rước Cộ Bà, truy niệm Đức Bà và một số trò diễn xướng dân gian. Theo truyền thuyết, vào năm Tự Đức thứ 5 tức năm 1852, một lần Bà vân du qua thôn Phước Toản (Phước Ấm) thấy nơi này có cỏ cây mọc rậm rạp, dân thưa thớt, trông ra bóng nắng trên bãi cát chói lòa nhưng phong cảnh lại rất hữu tình nên Bà muốn quy tụ thành chợ tại nơi đây. Sau này dân chúng gọi nơi đây là Chợ Được. Người dân trong vùng đã lập lăng thờ Bà nhằm tri ân những việc Bà đã dựng chợ, phù trợ cho dân chúng làm ăn phát tài. Theo Thần phải có ghi: vào năm Thành Thái thứ 6 Bà được triều đình sắc phong là "Trai thục dực bảo trung hưng trung đẳng thần". Người dân cầm hoa đăng trong đêm hội Hội cộ thường diễn ra ban đêm, các vị bô lão trong làng tiến hàng các phần lễ tại lăng thờ Bà, các món cúng đều là món chay, sắc phong được 6 người khiêng sẽ dẫn đầu đoàn cộ, có phường bát âm, tàn lọng, trung đại cổ và cờ phướn, người dân hai bên đường sẽ bày hương án đốt để cung nghinh Bà, lệ đó đến nay vẫn còn. Lễ rước Bà Đi đầu đoàn rước Cộ Bà là các cộ hoa được trang trí với hoa lá, giấy ngũ sắc và vải lụa đủ màu sắc rực rơ, phục vụ các tuồng tích xưa. Sau lễ rước Cộ Bà mới tới phần hội: múa lân, hát bội, đua thuyền, các hoạt động thể dục thể thao... đặc biệt là hội đua thuyền trên sông Trường Giang luôn là phần được nhiều người dân và khách xem hội mong đợi. Đã thành lệ, hội đua thuyền diễn ra hằng năm, không thiếu các ghe đua từ Duy Xuyên, Hội An, Núi Thành, Đại Lộc... Đây quả thật là một cuộc so tài, đọ sức hết sức quyết liệt, khiến không khí ngày hội càng thêm sôi động.

Lễ Hội Rước Cộ Chợ Được ở Quảng Nam Lễ hội Rước cộ chợ Được gồm các lễ cầu an, rước Cộ Bà, truy niệm Đức Bà và một số trò diễn xướng dân gian. Theo truyền thuyết, vào năm Tự Đức thứ 5 tức năm 1852, một lần Bà vân du qua thôn Phước Toản (Phước Ấm) thấy nơi này có cỏ cây mọc rậm rạp, dân thưa thớt, trông ra bóng nắng trên bãi cát chói lòa nhưng phong cảnh lại rất hữu tình nên Bà muốn quy tụ thành chợ tại nơi đây. Sau này dân chúng gọi nơi đây là Chợ Được. Người dân trong vùng đã lập lăng thờ Bà nhằm tri ân những việc Bà đã dựng chợ, phù trợ cho dân chúng làm ăn phát tài. Theo Thần phải có ghi: vào năm Thành Thái thứ 6 Bà được triều đình sắc phong là "Trai thục dực bảo trung hưng trung đẳng thần". Người dân cầm hoa đăng trong đêm hội Hội cộ thường diễn ra ban đêm, các vị bô lão trong làng tiến hàng các phần lễ tại lăng thờ Bà, các món cúng đều là món chay, sắc phong được 6 người khiêng sẽ dẫn đầu đoàn cộ, có phường bát âm, tàn lọng, trung đại cổ và cờ phướn, người dân hai bên đường sẽ bày hương án đốt để cung nghinh Bà, lệ đó đến nay vẫn còn. Lễ rước Bà Đi đầu đoàn rước Cộ Bà là các cộ hoa được trang trí với hoa lá, giấy ngũ sắc và vải lụa đủ màu sắc rực rơ, phục vụ các tuồng tích xưa. Sau lễ rước Cộ Bà mới tới phần hội: múa lân, hát bội, đua thuyền, các hoạt động thể dục thể thao... đặc biệt là hội đua thuyền trên sông Trường Giang luôn là phần được nhiều người dân và khách xem hội mong đợi. Đã thành lệ, hội đua thuyền diễn ra hằng năm, không thiếu các ghe đua từ Duy Xuyên, Hội An, Núi Thành, Đại Lộc... Đây quả thật là một cuộc so tài, đọ sức hết sức quyết liệt, khiến không khí ngày hội càng thêm sôi động.

Lễ hội Rước cộ chợ Được gồm các lễ cầu an, rước Cộ Bà, truy niệm Đức Bà và một số trò diễn xướng dân gian. Theo truyền thuyết, vào năm Tự Đức thứ 5 tức năm 1852, một lần Bà vân du qua thôn Phước Toản (Phước Ấm) thấy nơi này có cỏ cây mọc rậm rạp, dân thưa thớt, trông ra bóng nắng trên bãi cát chói lòa nhưng phong cảnh lại rất hữu tình nên Bà muốn quy tụ thành chợ tại nơi đây. Sau này dân chúng gọi nơi đây là Chợ Được. Người dân trong vùng đã lập lăng thờ Bà nhằm tri ân những việc Bà đã dựng chợ, phù trợ cho dân chúng làm ăn phát tài. Theo Thần phải có ghi: vào năm Thành Thái thứ 6 Bà được triều đình sắc phong là "Trai thục dực bảo trung hưng trung đẳng thần".

Người dân cầm hoa đăng trong đêm hội

Hội cộ thường diễn ra ban đêm, các vị bô lão trong làng tiến hàng các phần lễ tại lăng thờ Bà, các món cúng đều là món chay, sắc phong được 6 người khiêng sẽ dẫn đầu đoàn cộ, có phường bát âm, tàn lọng, trung đại cổ và cờ phướn, người dân hai bên đường sẽ bày hương án đốt để cung nghinh Bà, lệ đó đến nay vẫn còn.

Lễ rước Bà

Đi đầu đoàn rước Cộ Bà là các cộ hoa được trang trí với hoa lá, giấy ngũ sắc và vải lụa đủ màu sắc rực rơ, phục vụ các tuồng tích xưa. Sau lễ rước Cộ Bà mới tới phần hội: múa lân, hát bội, đua thuyền, các hoạt động thể dục thể thao... đặc biệt là hội đua thuyền trên sông Trường Giang luôn là phần được nhiều người dân và khách xem hội mong đợi. Đã thành lệ, hội đua thuyền diễn ra hằng năm, không thiếu các ghe đua từ Duy Xuyên, Hội An, Núi Thành, Đại Lộc... Đây quả thật là một cuộc so tài, đọ sức hết sức quyết liệt, khiến không khí ngày hội càng thêm sôi động.

Related Figures

Hội chùa Thánh Chúa

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 25/1 Âm lịch Lễ hội chùa Thánh Chúa được các ni sư, chính quyền và người dân địa phương tổ chức ngày 25/1 âm lịch hàng năm. Chùa Thánh Chúa là một hòn ngọc giữa trung tâm văn hóa, "Đài sen" giữa lòng Đại học Sư Phạm, là nơi sinh viên trong trường tìm sự yên tĩnh sau những giờ học căng thẳng. Tế lễ trong hội chùa Thánh Chúa Hiếm thấy ngôi chùa nào ở Bắc Bộ có nhiều truyền thuyết ghi trong chính sử như chùa Thánh Chúa. Chùa được coi là nơi cầu tự ứng nghiệm sinh ra vua Lý Nhân Tông. 400 năm sau, chùa Thánh Chúa là nơi nương náu, nuôi dưỡng vua Lê Thánh Tông. Trong dân gian có câu ca dao để nói về chùa Thánh Chúa liên hệ mật thiết với hai bậc minh quân trong lịch sử: Ngàn năm nay có mấy chùa Như chùa Thánh Chúa hai vua tôn thờ Cầu quốc thái dân an trong hội chùa Thánh Chúa Chùa Thánh Chúa thờ Phật và Nguyên phi Ỷ Lan. Chùa Thánh Chúa là nơi Nguyên Phi Ỷ Lan thường xuyên lui tới, ở lại chùa để ăn chay niệm Phật. Chùa Thánh Chúa cũng là nơi các vị vua nhà Lý tới nghiên cứu Phật pháp. Dâng hương hoa trong hội chùa Thánh Chúa Hội chùa Thánh Chúa được tổ chức ngày 25/1 âm lịch. Ngay từ sáng sớm, sư thầy và vãi già hai làng Dịch Vọng Hậu và Mai Dịch làm lễ tụng kinh cúng Phật cầu quốc thái dân an. Sau đó, hai đội dâng hương nữ của hai làng lần lượt tiến hành lễ tưởng niệm Nguyên phi Ỷ Lan. Chiều cùng ngày, diễn ra các hoạt cảnh về Nguyên phi Ỷ Lan và thời thơ ấu của vua Lê Thánh Tông. Ngoài ra, còn có trình diễn múa hoa sen cúng Phật, múa chim phương, hát chèo đò đưa thuyền về Tây Trúc. Trong hội chùa Thánh Chúa còn có nhiều trò chơi dân gian sôi nổi như: cờ bỏi, bịt mắt đập niêu...

Tế lễ trong hội chùa Thánh Chúa Hiếm thấy ngôi chùa nào ở Bắc Bộ có nhiều truyền thuyết ghi trong chính sử như chùa Thánh Chúa. Chùa được coi là nơi cầu tự ứng nghiệm sinh ra vua Lý Nhân Tông. 400 năm sau, chùa Thánh Chúa là nơi nương náu, nuôi dưỡng vua Lê Thánh Tông. Trong dân gian có câu ca dao để nói về chùa Thánh Chúa liên hệ mật thiết với hai bậc minh quân trong lịch sử: Ngàn năm nay có mấy chùa Như chùa Thánh Chúa hai vua tôn thờ Cầu quốc thái dân an trong hội chùa Thánh Chúa Chùa Thánh Chúa thờ Phật và Nguyên phi Ỷ Lan. Chùa Thánh Chúa là nơi Nguyên Phi Ỷ Lan thường xuyên lui tới, ở lại chùa để ăn chay niệm Phật. Chùa Thánh Chúa cũng là nơi các vị vua nhà Lý tới nghiên cứu Phật pháp. Dâng hương hoa trong hội chùa Thánh Chúa Hội chùa Thánh Chúa được tổ chức ngày 25/1 âm lịch. Ngay từ sáng sớm, sư thầy và vãi già hai làng Dịch Vọng Hậu và Mai Dịch làm lễ tụng kinh cúng Phật cầu quốc thái dân an. Sau đó, hai đội dâng hương nữ của hai làng lần lượt tiến hành lễ tưởng niệm Nguyên phi Ỷ Lan. Chiều cùng ngày, diễn ra các hoạt cảnh về Nguyên phi Ỷ Lan và thời thơ ấu của vua Lê Thánh Tông. Ngoài ra, còn có trình diễn múa hoa sen cúng Phật, múa chim phương, hát chèo đò đưa thuyền về Tây Trúc. Trong hội chùa Thánh Chúa còn có nhiều trò chơi dân gian sôi nổi như: cờ bỏi, bịt mắt đập niêu...

Hiếm thấy ngôi chùa nào ở Bắc Bộ có nhiều truyền thuyết ghi trong chính sử như chùa Thánh Chúa. Chùa được coi là nơi cầu tự ứng nghiệm sinh ra vua Lý Nhân Tông. 400 năm sau, chùa Thánh Chúa là nơi nương náu, nuôi dưỡng vua Lê Thánh Tông. Trong dân gian có câu ca dao để nói về chùa Thánh Chúa liên hệ mật thiết với hai bậc minh quân trong lịch sử:

Ngàn năm nay có mấy chùa

Như chùa Thánh Chúa hai vua tôn thờ

Cầu quốc thái dân an trong hội chùa Thánh Chúa

Chùa Thánh Chúa thờ Phật và Nguyên phi Ỷ Lan. Chùa Thánh Chúa là nơi Nguyên Phi Ỷ Lan thường xuyên lui tới, ở lại chùa để ăn chay niệm Phật. Chùa Thánh Chúa cũng là nơi các vị vua nhà Lý tới nghiên cứu Phật pháp.

Dâng hương hoa trong hội chùa Thánh Chúa

Hội chùa Thánh Chúa được tổ chức ngày 25/1 âm lịch. Ngay từ sáng sớm, sư thầy và vãi già hai làng Dịch Vọng Hậu và Mai Dịch làm lễ tụng kinh cúng Phật cầu quốc thái dân an. Sau đó, hai đội dâng hương nữ của hai làng lần lượt tiến hành lễ tưởng niệm Nguyên phi Ỷ Lan. Chiều cùng ngày, diễn ra các hoạt cảnh về Nguyên phi Ỷ Lan và thời thơ ấu của vua Lê Thánh Tông. Ngoài ra, còn có trình diễn múa hoa sen cúng Phật, múa chim phương, hát chèo đò đưa thuyền về Tây Trúc. Trong hội chùa Thánh Chúa còn có nhiều trò chơi dân gian sôi nổi như: cờ bỏi, bịt mắt đập niêu...

Hội chùa Thánh Chúa được tổ chức ngày 25/1 âm lịch. Ngay từ sáng sớm, sư thầy và vãi già hai làng Dịch Vọng Hậu và Mai Dịch làm lễ tụng kinh cúng Phật cầu quốc thái dân an. Sau đó, hai đội dâng hương nữ của hai làng lần lượt tiến hành lễ tưởng niệm Nguyên phi Ỷ Lan. Chiều cùng ngày, diễn ra các hoạt cảnh về Nguyên phi Ỷ Lan và thời thơ ấu của vua Lê Thánh Tông. Ngoài ra, còn có trình diễn múa hoa sen cúng Phật, múa chim phương, hát chèo đò đưa thuyền về Tây Trúc.

Trong hội chùa Thánh Chúa còn có nhiều trò chơi dân gian sôi nổi như: cờ bỏi, bịt mắt đập niêu...

Related Figures

Lễ hội chùa Nành

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 4/2- 6/2 Âm lịch Đến hẹn lại lên, hòa chung niềm vui của nhân dân cả nước chào đón năm mới, chùa Nành xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm, Hà Nội tổ chức lễ hội ngày 4-6/2 âm lịch (chính hội ngày 5/2). Chùa Nành nơi diễn ra lễ hội Chùa Nành còn có tên chùa Pháp Vân hay chùa Cả, được xem là "Bắc Giang đệ nhất Thiền môn". Chùa Nành là một trong bốn ngôi chùa thờ Tứ Pháp lớn nhất miền Bắc nước ta. Chùa Nành được xây dựng từ thời nhà Lý với quy mô khá lớn gồm: Thủy đình, Tam quan, Tiền đường, cầu, Tam Bảo, Tả vu, Hữu vu, điện Mẫu, Nhà tổ... Bên trong chùa Nành còn lưu giữ nhiều di vật ở thế kỷ XVII, XVIII như chuông đồng, khánh đồng, bia đá cùng nhiều bộ tượng gỗ quý (tượng Tam thế Phật, tượng Tuyết Sơn, tượng Bát bộ kim cương...) Chùa Nành được xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia năm 1989. Hội chùa Nành là lễ hội đặc sắc ở Hà Nội Hội chùa Nành có nhiều nghi lễ của người dân với nền nông nghiệp lúa nước ở đồng bằng châu thổ sông Hồng như: cầu mưa, cầu nước, cầu phồn thực...có lễ rước kiệu Bà Nành ra Thạch Bàn (bãi cây vông) và có nhiều trò chơi dân gian sôi nổi như: Bơi thuyền, thi nấu cơm, thi nâng cây phan... Cây phan là một bó khoảng 60 cây tre được giữ nguyên cả thân và ngọn. Người dân nơi đây tin rằng cuộc sống ấm no của dân làng phụ thuộc vào việc nâng cây phan. Vì vậy, các chàng trai trong làng phải luyện tập nâng cây phan rất kỹ trước ngày diễn ra lễ hội. Hát quan họ trong hội chùa Nành Hội chùa Nành là lễ hội đặc sắc ở Hà Nội, còn giữ được nét sinh hoạt văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc.

Chùa Nành nơi diễn ra lễ hội Chùa Nành còn có tên chùa Pháp Vân hay chùa Cả, được xem là "Bắc Giang đệ nhất Thiền môn". Chùa Nành là một trong bốn ngôi chùa thờ Tứ Pháp lớn nhất miền Bắc nước ta. Chùa Nành được xây dựng từ thời nhà Lý với quy mô khá lớn gồm: Thủy đình, Tam quan, Tiền đường, cầu, Tam Bảo, Tả vu, Hữu vu, điện Mẫu, Nhà tổ... Bên trong chùa Nành còn lưu giữ nhiều di vật ở thế kỷ XVII, XVIII như chuông đồng, khánh đồng, bia đá cùng nhiều bộ tượng gỗ quý (tượng Tam thế Phật, tượng Tuyết Sơn, tượng Bát bộ kim cương...) Chùa Nành được xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia năm 1989. Hội chùa Nành là lễ hội đặc sắc ở Hà Nội Hội chùa Nành có nhiều nghi lễ của người dân với nền nông nghiệp lúa nước ở đồng bằng châu thổ sông Hồng như: cầu mưa, cầu nước, cầu phồn thực...có lễ rước kiệu Bà Nành ra Thạch Bàn (bãi cây vông) và có nhiều trò chơi dân gian sôi nổi như: Bơi thuyền, thi nấu cơm, thi nâng cây phan... Cây phan là một bó khoảng 60 cây tre được giữ nguyên cả thân và ngọn. Người dân nơi đây tin rằng cuộc sống ấm no của dân làng phụ thuộc vào việc nâng cây phan. Vì vậy, các chàng trai trong làng phải luyện tập nâng cây phan rất kỹ trước ngày diễn ra lễ hội. Hát quan họ trong hội chùa Nành Hội chùa Nành là lễ hội đặc sắc ở Hà Nội, còn giữ được nét sinh hoạt văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc.

Chùa Nành còn có tên chùa Pháp Vân hay chùa Cả, được xem là "Bắc Giang đệ nhất Thiền môn". Chùa Nành là một trong bốn ngôi chùa thờ Tứ Pháp lớn nhất miền Bắc nước ta. Chùa Nành được xây dựng từ thời nhà Lý với quy mô khá lớn gồm: Thủy đình, Tam quan, Tiền đường, cầu, Tam Bảo, Tả vu, Hữu vu, điện Mẫu, Nhà tổ... Bên trong chùa Nành còn lưu giữ nhiều di vật ở thế kỷ XVII, XVIII như chuông đồng, khánh đồng, bia đá cùng nhiều bộ tượng gỗ quý (tượng Tam thế Phật, tượng Tuyết Sơn, tượng Bát bộ kim cương...) Chùa Nành được xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia năm 1989.

Hội chùa Nành là lễ hội đặc sắc ở Hà Nội

Hội chùa Nành có nhiều nghi lễ của người dân với nền nông nghiệp lúa nước ở đồng bằng châu thổ sông Hồng như: cầu mưa, cầu nước, cầu phồn thực...có lễ rước kiệu Bà Nành ra Thạch Bàn (bãi cây vông) và có nhiều trò chơi dân gian sôi nổi như: Bơi thuyền, thi nấu cơm, thi nâng cây phan... Cây phan là một bó khoảng 60 cây tre được giữ nguyên cả thân và ngọn. Người dân nơi đây tin rằng cuộc sống ấm no của dân làng phụ thuộc vào việc nâng cây phan. Vì vậy, các chàng trai trong làng phải luyện tập nâng cây phan rất kỹ trước ngày diễn ra lễ hội.

Hát quan họ trong hội chùa Nành

Hội chùa Nành là lễ hội đặc sắc ở Hà Nội, còn giữ được nét sinh hoạt văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc.

Related Figures

Lễ hội truyền thống chùa Duệ Tú

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 6/3- 7/3 Âm lịch Lễ hội truyền thống chùa Duệ Tú được nhân dân thôn Tiền tổ chức trang nghiêm ngày 6-7/3 âm lịch hàng năm. Lễ hội chùa Duệ Tú là lễ giỗ tổ Thiền sư - Đức Thánh Tổ Lê Nghĩa - Hiệu Đại Điên Thượng Đẳng thần. Hội truyền thống chùa Duệ Tú được tổ chức trang nghiêm Chùa Duệ Tú là quần thể di tích lịch sử văn hóa, danh thắng tâm linh phía Tây thủ đô Hà Nội. Chùa Duệ Tú nằm trên khu đất rộng, mặt hướng về phía Đông.Theo thần phả của chùa, trước đây có ông bà Lê Hưng và Nguyễn Thị Phan người ở thôn Tiền, trang Dịch Vọng, huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai tu nhân tích đức, mến mộ đạo Phật, luôn làm điều thiện. Ông bà chưa có con, lập đàn cầu tự tại nhà, 3 tháng sau thì ứng nghiệm. Bà Nguyễn Thị Phan mang thai đến ngày 18/3 năm Mậu Ngọ sinh được một cậu con trai đặt tên là Lê Nghĩa. Cậu bé lớn lên mặt mày sáng sủa, thân hình cao lớn hơn hẳn người thường. Năm Lê Nghĩa 18 tuổi, cha mẹ mất. Ngài làm lễ an táng cha mẹ rồi xây chùa trên mảnh đất của gia đình để sớm hôm đọc kinh thờ Phật, thờ phụng cha mẹ. Ngài là thiền sư, lương y nổi tiếng, là công thân giúp dân giúp nước thời Lý. Ngài bị bệnh qua đời ngày 7/3, được sắc phong "Lê Đại Điên Giác Hoàng Thiền sư Đại vương (người dân vẫn quen gọi là Pháp sư Đại Điên). Nhà vua truyền cho nhân dân thôn Tiền Trang, Dịch Vọng tu sửa chùa để phụng thờ, ban cho 30 quan tiền làm quốc lễ xuân thu. Từ đấy trở đi, cứ đến ngày 7/3 dân làng mở hội để kỷ niệm ngày mất Pháp sư Đại Điên. Đông đảo Phật tử tham dự hội truyền thống chùa Duệ Tú Lễ hội truyền thống chùa Duệ Tú được tổ chức trang nghiêm trong 2 ngày với sự tham gia của đông đảo người dân địa phương và du khách thập phương. Buổi sáng ngày 6/3, Hòa thượng trụ trì và các vãi trong chùa tiến hành lễ Mộc dục, bao sái. Tiếp đó là lễ cáo thỉnh. Sau đó, người dân và du khách vào lễ Phật, lễ Thánh. Buổi chiều tổ chức đọc kinh A Di Đà, biểu diễn văn nghệ truyền thống và các trò chơi dân gian. Chính hội ngày 7/3, bắt đầu với màn tế lễ của đội tế nam và nữ do các cụ cao niên phường Quan Hoa thực hiện. Sau đó, dân làng và du khách thập phương dâng hương Phật Thánh, rồi thụ lộc. Thành kính lễ Phật trong hội truyền thống chùa Duệ Tú Chiều ngày 7/3, đoàn Phật tử và người dân địa phương thực hiện khóa lễ tụng Dược Sư hội và khóa niệm Phật. Sau đó, hội chùa Duệ Tú tiếp tục với những tiết mục văn nghệ đặc sắc và trò chơi dân gian sôi nổi như: hat squan họ, múa phượng, múa đèn hoa đăng, chọi gà, cờ tướng... Đông đảo Phật tử tham dự hội truyền thống chùa Duệ Tú Hội chùa Duệ Tú được tổ chức cùng ngày với hội chùa Láng và hội chùa Thầy.

Hội truyền thống chùa Duệ Tú được tổ chức trang nghiêm Chùa Duệ Tú là quần thể di tích lịch sử văn hóa, danh thắng tâm linh phía Tây thủ đô Hà Nội. Chùa Duệ Tú nằm trên khu đất rộng, mặt hướng về phía Đông.Theo thần phả của chùa, trước đây có ông bà Lê Hưng và Nguyễn Thị Phan người ở thôn Tiền, trang Dịch Vọng, huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai tu nhân tích đức, mến mộ đạo Phật, luôn làm điều thiện. Ông bà chưa có con, lập đàn cầu tự tại nhà, 3 tháng sau thì ứng nghiệm. Bà Nguyễn Thị Phan mang thai đến ngày 18/3 năm Mậu Ngọ sinh được một cậu con trai đặt tên là Lê Nghĩa. Cậu bé lớn lên mặt mày sáng sủa, thân hình cao lớn hơn hẳn người thường. Năm Lê Nghĩa 18 tuổi, cha mẹ mất. Ngài làm lễ an táng cha mẹ rồi xây chùa trên mảnh đất của gia đình để sớm hôm đọc kinh thờ Phật, thờ phụng cha mẹ. Ngài là thiền sư, lương y nổi tiếng, là công thân giúp dân giúp nước thời Lý. Ngài bị bệnh qua đời ngày 7/3, được sắc phong "Lê Đại Điên Giác Hoàng Thiền sư Đại vương (người dân vẫn quen gọi là Pháp sư Đại Điên). Nhà vua truyền cho nhân dân thôn Tiền Trang, Dịch Vọng tu sửa chùa để phụng thờ, ban cho 30 quan tiền làm quốc lễ xuân thu. Từ đấy trở đi, cứ đến ngày 7/3 dân làng mở hội để kỷ niệm ngày mất Pháp sư Đại Điên. Đông đảo Phật tử tham dự hội truyền thống chùa Duệ Tú Lễ hội truyền thống chùa Duệ Tú được tổ chức trang nghiêm trong 2 ngày với sự tham gia của đông đảo người dân địa phương và du khách thập phương. Buổi sáng ngày 6/3, Hòa thượng trụ trì và các vãi trong chùa tiến hành lễ Mộc dục, bao sái. Tiếp đó là lễ cáo thỉnh. Sau đó, người dân và du khách vào lễ Phật, lễ Thánh. Buổi chiều tổ chức đọc kinh A Di Đà, biểu diễn văn nghệ truyền thống và các trò chơi dân gian. Chính hội ngày 7/3, bắt đầu với màn tế lễ của đội tế nam và nữ do các cụ cao niên phường Quan Hoa thực hiện. Sau đó, dân làng và du khách thập phương dâng hương Phật Thánh, rồi thụ lộc. Thành kính lễ Phật trong hội truyền thống chùa Duệ Tú Chiều ngày 7/3, đoàn Phật tử và người dân địa phương thực hiện khóa lễ tụng Dược Sư hội và khóa niệm Phật. Sau đó, hội chùa Duệ Tú tiếp tục với những tiết mục văn nghệ đặc sắc và trò chơi dân gian sôi nổi như: hat squan họ, múa phượng, múa đèn hoa đăng, chọi gà, cờ tướng... Đông đảo Phật tử tham dự hội truyền thống chùa Duệ Tú Hội chùa Duệ Tú được tổ chức cùng ngày với hội chùa Láng và hội chùa Thầy.

Chùa Duệ Tú là quần thể di tích lịch sử văn hóa, danh thắng tâm linh phía Tây thủ đô Hà Nội. Chùa Duệ Tú nằm trên khu đất rộng, mặt hướng về phía Đông.Theo thần phả của chùa, trước đây có ông bà Lê Hưng và Nguyễn Thị Phan người ở thôn Tiền, trang Dịch Vọng, huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai tu nhân tích đức, mến mộ đạo Phật, luôn làm điều thiện. Ông bà chưa có con, lập đàn cầu tự tại nhà, 3 tháng sau thì ứng nghiệm. Bà Nguyễn Thị Phan mang thai đến ngày 18/3 năm Mậu Ngọ sinh được một cậu con trai đặt tên là Lê Nghĩa. Cậu bé lớn lên mặt mày sáng sủa, thân hình cao lớn hơn hẳn người thường. Năm Lê Nghĩa 18 tuổi, cha mẹ mất. Ngài làm lễ an táng cha mẹ rồi xây chùa trên mảnh đất của gia đình để sớm hôm đọc kinh thờ Phật, thờ phụng cha mẹ. Ngài là thiền sư, lương y nổi tiếng, là công thân giúp dân giúp nước thời Lý. Ngài bị bệnh qua đời ngày 7/3, được sắc phong "Lê Đại Điên Giác Hoàng Thiền sư Đại vương (người dân vẫn quen gọi là Pháp sư Đại Điên). Nhà vua truyền cho nhân dân thôn Tiền Trang, Dịch Vọng tu sửa chùa để phụng thờ, ban cho 30 quan tiền làm quốc lễ xuân thu. Từ đấy trở đi, cứ đến ngày 7/3 dân làng mở hội để kỷ niệm ngày mất Pháp sư Đại Điên.

Đông đảo Phật tử tham dự hội truyền thống chùa Duệ Tú

Lễ hội truyền thống chùa Duệ Tú được tổ chức trang nghiêm trong 2 ngày với sự tham gia của đông đảo người dân địa phương và du khách thập phương.

Buổi sáng ngày 6/3, Hòa thượng trụ trì và các vãi trong chùa tiến hành lễ Mộc dục, bao sái. Tiếp đó là lễ cáo thỉnh. Sau đó, người dân và du khách vào lễ Phật, lễ Thánh. Buổi chiều tổ chức đọc kinh A Di Đà, biểu diễn văn nghệ truyền thống và các trò chơi dân gian.

Chính hội ngày 7/3, bắt đầu với màn tế lễ của đội tế nam và nữ do các cụ cao niên phường Quan Hoa thực hiện. Sau đó, dân làng và du khách thập phương dâng hương Phật Thánh, rồi thụ lộc.

Thành kính lễ Phật trong hội truyền thống chùa Duệ Tú

Chiều ngày 7/3, đoàn Phật tử và người dân địa phương thực hiện khóa lễ tụng Dược Sư hội và khóa niệm Phật. Sau đó, hội chùa Duệ Tú tiếp tục với những tiết mục văn nghệ đặc sắc và trò chơi dân gian sôi nổi như: hat squan họ, múa phượng, múa đèn hoa đăng, chọi gà, cờ tướng... Đông đảo Phật tử tham dự hội truyền thống chùa Duệ Tú Hội chùa Duệ Tú được tổ chức cùng ngày với hội chùa Láng và hội chùa Thầy.

Chiều ngày 7/3, đoàn Phật tử và người dân địa phương thực hiện khóa lễ tụng Dược Sư hội và khóa niệm Phật. Sau đó, hội chùa Duệ Tú tiếp tục với những tiết mục văn nghệ đặc sắc và trò chơi dân gian sôi nổi như: hat squan họ, múa phượng, múa đèn hoa đăng, chọi gà, cờ tướng... Đông đảo Phật tử tham dự hội truyền thống chùa Duệ Tú Hội chùa Duệ Tú được tổ chức cùng ngày với hội chùa Láng và hội chùa Thầy.

Related Figures

Hội đền Voi Phục

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 9/2- 10/2 Âm lịch Hội đền Voi Phục là sinh hoạt văn hóa thường niên của làng Thủ Lệ, phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, Hà Nội. Hội đền Voi Phục diễn ra ngày 9-10/2 âm lịch hàng năm, đặc trưng là lễ rước kiệu, tế lễ, dâng hương... Rực rỡ cờ hoa hội đền Voi Phục Đền Voi Phục (cùng với đền Bạch Mã, Quán Thánh, Kim Liên) là một trong tứ trấn của kinh thành Thăng Long xưa. Đền Voi Phục thờ Linh Lang đại vương (hoàng tử thứ 4 của vua Lý Thánh Tông) người có công lớn trong kháng chiến chống quân Tống xâm lược. Sau khi đánh tan quân xâm lược, nhà vua có ý nhường ngôi cho hoàng tử Linh Lang nhưng Ngài từ chối. Ít lâu sau Ngài lâm bệnh rồi qua đời ngày 10/2 âm lịch. Vua cha vô cùng thương xót sắc phong Ngài là "Lang đại vương thượng đẳng phúc thần" và cho lập đền thờ để nhân dân hương khói thờ phụng muôn đời. Hàng năm, lễ hội truyền thống đền Voi Phục được tổ chức với sự tham gia của 4 đình gồm: đình Yên Hòa, đình Hào Nam, đình Ngọc Khánh, Đình Xa La để kỷ niệm ngày mất Linh Lang Đại vương. Lễ rước hội đền Voi Phục Từ sáng sớm ngày 9/2, cụ Từ (người trông đền) thực hiện lễ cáo thính Đức Thánh, sau đó là khóa tụng kinh và đội tế nam đền Voi Phục thực hiện tế Thánh. Tiếp đến, đội dâng hương nữ của 4 đình dâng hương lễ Thánh. Chiều cùng ngày, tổ chức các trò chơi dân gian và các tiết mục biểu diễn văn nghệ truyền thống. Người dân địa phương và du khách thập phương vào lễ Thánh. Múa lân hội đền Voi Phục Chính hội ngày 10/2, 4 kiệu được rước từ 4 đình về đền Voi Phục để tế vài bái yết Thánh. Đoàn rước bao gồm đội múa rồng, đội đánh trống, đánh chiêng, đội cầm vũ khí, bát bửu, chấp kích, đội nhạc lễ, bát âm... Các đoàn rước biểu diễn nhiều hoạt cảnh mang đậm tính dân gian truyền thống như: múa sênh tiền, múa rồng, múa lân... Sau khi đoàn rước về đền Voi Phục, ban tổ chức đọc diễn văn khai mạc lễ hội và thần phả của Đức Thánh. Đội dâng hương đền Voi Phục vào lễ Thánh. Lễ tế hạ hội được tổ chức vào xế chiều để kết thúc lễ hội. Trong những ngày diễn ra hội đền Voi Phục còn có nhiều trò chơi dân gian như cờ tướng, chọi gà, đập niêu...

Rực rỡ cờ hoa hội đền Voi Phục Đền Voi Phục (cùng với đền Bạch Mã, Quán Thánh, Kim Liên) là một trong tứ trấn của kinh thành Thăng Long xưa. Đền Voi Phục thờ Linh Lang đại vương (hoàng tử thứ 4 của vua Lý Thánh Tông) người có công lớn trong kháng chiến chống quân Tống xâm lược. Sau khi đánh tan quân xâm lược, nhà vua có ý nhường ngôi cho hoàng tử Linh Lang nhưng Ngài từ chối. Ít lâu sau Ngài lâm bệnh rồi qua đời ngày 10/2 âm lịch. Vua cha vô cùng thương xót sắc phong Ngài là "Lang đại vương thượng đẳng phúc thần" và cho lập đền thờ để nhân dân hương khói thờ phụng muôn đời. Hàng năm, lễ hội truyền thống đền Voi Phục được tổ chức với sự tham gia của 4 đình gồm: đình Yên Hòa, đình Hào Nam, đình Ngọc Khánh, Đình Xa La để kỷ niệm ngày mất Linh Lang Đại vương. Lễ rước hội đền Voi Phục Từ sáng sớm ngày 9/2, cụ Từ (người trông đền) thực hiện lễ cáo thính Đức Thánh, sau đó là khóa tụng kinh và đội tế nam đền Voi Phục thực hiện tế Thánh. Tiếp đến, đội dâng hương nữ của 4 đình dâng hương lễ Thánh. Chiều cùng ngày, tổ chức các trò chơi dân gian và các tiết mục biểu diễn văn nghệ truyền thống. Người dân địa phương và du khách thập phương vào lễ Thánh. Múa lân hội đền Voi Phục Chính hội ngày 10/2, 4 kiệu được rước từ 4 đình về đền Voi Phục để tế vài bái yết Thánh. Đoàn rước bao gồm đội múa rồng, đội đánh trống, đánh chiêng, đội cầm vũ khí, bát bửu, chấp kích, đội nhạc lễ, bát âm... Các đoàn rước biểu diễn nhiều hoạt cảnh mang đậm tính dân gian truyền thống như: múa sênh tiền, múa rồng, múa lân... Sau khi đoàn rước về đền Voi Phục, ban tổ chức đọc diễn văn khai mạc lễ hội và thần phả của Đức Thánh. Đội dâng hương đền Voi Phục vào lễ Thánh. Lễ tế hạ hội được tổ chức vào xế chiều để kết thúc lễ hội. Trong những ngày diễn ra hội đền Voi Phục còn có nhiều trò chơi dân gian như cờ tướng, chọi gà, đập niêu...

Đền Voi Phục (cùng với đền Bạch Mã, Quán Thánh, Kim Liên) là một trong tứ trấn của kinh thành Thăng Long xưa. Đền Voi Phục thờ Linh Lang đại vương (hoàng tử thứ 4 của vua Lý Thánh Tông) người có công lớn trong kháng chiến chống quân Tống xâm lược. Sau khi đánh tan quân xâm lược, nhà vua có ý nhường ngôi cho hoàng tử Linh Lang nhưng Ngài từ chối. Ít lâu sau Ngài lâm bệnh rồi qua đời ngày 10/2 âm lịch. Vua cha vô cùng thương xót sắc phong Ngài là "Lang đại vương thượng đẳng phúc thần" và cho lập đền thờ để nhân dân hương khói thờ phụng muôn đời. Hàng năm, lễ hội truyền thống đền Voi Phục được tổ chức với sự tham gia của 4 đình gồm: đình Yên Hòa, đình Hào Nam, đình Ngọc Khánh, Đình Xa La để kỷ niệm ngày mất Linh Lang Đại vương.

Lễ rước hội đền Voi Phục

Từ sáng sớm ngày 9/2, cụ Từ (người trông đền) thực hiện lễ cáo thính Đức Thánh, sau đó là khóa tụng kinh và đội tế nam đền Voi Phục thực hiện tế Thánh. Tiếp đến, đội dâng hương nữ của 4 đình dâng hương lễ Thánh. Chiều cùng ngày, tổ chức các trò chơi dân gian và các tiết mục biểu diễn văn nghệ truyền thống. Người dân địa phương và du khách thập phương vào lễ Thánh.

Múa lân hội đền Voi Phục

Chính hội ngày 10/2, 4 kiệu được rước từ 4 đình về đền Voi Phục để tế vài bái yết Thánh. Đoàn rước bao gồm đội múa rồng, đội đánh trống, đánh chiêng, đội cầm vũ khí, bát bửu, chấp kích, đội nhạc lễ, bát âm... Các đoàn rước biểu diễn nhiều hoạt cảnh mang đậm tính dân gian truyền thống như: múa sênh tiền, múa rồng, múa lân... Sau khi đoàn rước về đền Voi Phục, ban tổ chức đọc diễn văn khai mạc lễ hội và thần phả của Đức Thánh. Đội dâng hương đền Voi Phục vào lễ Thánh. Lễ tế hạ hội được tổ chức vào xế chiều để kết thúc lễ hội.

Trong những ngày diễn ra hội đền Voi Phục còn có nhiều trò chơi dân gian như cờ tướng, chọi gà, đập niêu...

Related Figures

Hội đền Bạch Mã

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 12/2- 13/2 Âm lịch Hội đền Bạch Mã tổ chức ngày 12-13/2 âm lịch tại đền Bạch Mã (số 76 Hàng Buồm, Hà Nội) với nhiều hoạt động phong phú, mang đậm bản sắc văn hóa kinh thành Thăng Long - Hà Nội như: lễ rước, dâng hương, tế lễ... Hội đền Bạch Mã diễn ra trang trọng Đền Bạch Mã là một trong tứ trấn của kinh thành Thăng Long xưa, đền Bạch Mã (trấn giữ phía Đông kinh thành), đền Voi Phục (trấn giữ phía Tây kinh thành), đến Quán Thánh (trấn giữ phía Bắc kinh thành), đền Kim Liên (trấn giữ phía Nam kinh thành). Đền Bạch Mã thờ thần Long Đỗ, người có công lớn giúp vua Lý Thái Tổ xây thành Đại La. Theo truyền thuyết và thần phả lưu giữ tại đền, năm 1010, vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Thăng Lăng. Vua cho đắt thành để mở rộng thành Đại La nhưng cứ đắp lên lại sụp đổ. Tìm hiểu thông tin từ dân chúng mới biết đất này có hiển linh từ trước. Nhà vua bèn sai biện lễ để cầu đảo. Biểu diễn văn nghệ trong hội đền Bạch Mã Đêm ấy, nhà vua nằm mộng được thần Long Đỗ tới chúc mừng và dặn nhà vua cứ theo dấu vó ngựa đắp thành nhất định sẽ thành công. Sau đó, nhà vua thấy một con ngựa trắng phi thẳng vào đền rồi biến mất. Sáng hôm sau, nhà vua thấy có dấu hiệu in trên mặt đât đúng như giấc mộng tối qua bèn sai người theo đó mà đắp thành. Để tỏ lòng biết ơn, nhà vua cho tạc một con ngựa trắng để thờ và phong cho thần là "Thăng Long Thành hoàng Đại vương". Hội đền Bạch Mã bắt đầu với lễ rước kiệu từ đền Mã Mây đi qua các con phố lớn đến đền Bạch Mã. Dẫn đầu đoàn rước là đội múa rồng, múa sư tử, tiếp theo là đội cờ, trống chiêng, sinh tiền, bát âm.. Trong đội kiệu bát cống đền Bạch Mã có đầy đủ tàn, tán, lọng, đội tế nam, đội dâng hương nữ. Trong đoàn rước còn có mục đồng và mô hình trâu để làm lễ tiến Xuân Ngưu. Lễ hội được khai mạc bằng lễ cáo thỉnh do người trông đền thực hiện. Tiếp đến đội tế nam đền Bạch Mã làm lễ tế Thánh. Sau phần lễ tế, mô hình trâu sẽ được rước từ đền ra bờ sông Hồng làm lễ hóa tiến Xuân Ngưu. Cũng trong chiều 12, đội tế nữ thực hiễn dâng hương lễ Thánh. Sau đóm người dân và du khách thập phương và lễ Thánh. Đội tế nam và đội tế nữ trong hội đền Bạch Mã Ngày 13/2, các cụ ông trong trang phục truyền thống của đội tế nam làm lễ tế thánh. Đến chiều, đội tế nam và đội dâng hương nữ các làng lân cận và lễ Thánh. Sau đó, đội tế nam đền Bạch Mã thực hiện lễ tế giã hội để kết thúc lễ hội. Ngoài phần tế lễ trang trọng, hội đền Bạch Mã còn diễn ra nhiều hoạt động vui chơi giải trí như: biểu diễn ca trù, chầu văn, chèo, quan họ, trình diễn võ thuật... Hội đền Bạch Mã là dịp để người dân tưởng nhớ công đức của thần Long Đỗ trong việc xây dựng thành.

Hội đền Bạch Mã diễn ra trang trọng Đền Bạch Mã là một trong tứ trấn của kinh thành Thăng Long xưa, đền Bạch Mã (trấn giữ phía Đông kinh thành), đền Voi Phục (trấn giữ phía Tây kinh thành), đến Quán Thánh (trấn giữ phía Bắc kinh thành), đền Kim Liên (trấn giữ phía Nam kinh thành). Đền Bạch Mã thờ thần Long Đỗ, người có công lớn giúp vua Lý Thái Tổ xây thành Đại La. Theo truyền thuyết và thần phả lưu giữ tại đền, năm 1010, vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Thăng Lăng. Vua cho đắt thành để mở rộng thành Đại La nhưng cứ đắp lên lại sụp đổ. Tìm hiểu thông tin từ dân chúng mới biết đất này có hiển linh từ trước. Nhà vua bèn sai biện lễ để cầu đảo. Biểu diễn văn nghệ trong hội đền Bạch Mã Đêm ấy, nhà vua nằm mộng được thần Long Đỗ tới chúc mừng và dặn nhà vua cứ theo dấu vó ngựa đắp thành nhất định sẽ thành công. Sau đó, nhà vua thấy một con ngựa trắng phi thẳng vào đền rồi biến mất. Sáng hôm sau, nhà vua thấy có dấu hiệu in trên mặt đât đúng như giấc mộng tối qua bèn sai người theo đó mà đắp thành. Để tỏ lòng biết ơn, nhà vua cho tạc một con ngựa trắng để thờ và phong cho thần là "Thăng Long Thành hoàng Đại vương". Hội đền Bạch Mã bắt đầu với lễ rước kiệu từ đền Mã Mây đi qua các con phố lớn đến đền Bạch Mã. Dẫn đầu đoàn rước là đội múa rồng, múa sư tử, tiếp theo là đội cờ, trống chiêng, sinh tiền, bát âm.. Trong đội kiệu bát cống đền Bạch Mã có đầy đủ tàn, tán, lọng, đội tế nam, đội dâng hương nữ. Trong đoàn rước còn có mục đồng và mô hình trâu để làm lễ tiến Xuân Ngưu. Lễ hội được khai mạc bằng lễ cáo thỉnh do người trông đền thực hiện. Tiếp đến đội tế nam đền Bạch Mã làm lễ tế Thánh. Sau phần lễ tế, mô hình trâu sẽ được rước từ đền ra bờ sông Hồng làm lễ hóa tiến Xuân Ngưu. Cũng trong chiều 12, đội tế nữ thực hiễn dâng hương lễ Thánh. Sau đóm người dân và du khách thập phương và lễ Thánh. Đội tế nam và đội tế nữ trong hội đền Bạch Mã Ngày 13/2, các cụ ông trong trang phục truyền thống của đội tế nam làm lễ tế thánh. Đến chiều, đội tế nam và đội dâng hương nữ các làng lân cận và lễ Thánh. Sau đó, đội tế nam đền Bạch Mã thực hiện lễ tế giã hội để kết thúc lễ hội. Ngoài phần tế lễ trang trọng, hội đền Bạch Mã còn diễn ra nhiều hoạt động vui chơi giải trí như: biểu diễn ca trù, chầu văn, chèo, quan họ, trình diễn võ thuật... Hội đền Bạch Mã là dịp để người dân tưởng nhớ công đức của thần Long Đỗ trong việc xây dựng thành.

Đền Bạch Mã là một trong tứ trấn của kinh thành Thăng Long xưa, đền Bạch Mã (trấn giữ phía Đông kinh thành), đền Voi Phục (trấn giữ phía Tây kinh thành), đến Quán Thánh (trấn giữ phía Bắc kinh thành), đền Kim Liên (trấn giữ phía Nam kinh thành). Đền Bạch Mã thờ thần Long Đỗ, người có công lớn giúp vua Lý Thái Tổ xây thành Đại La. Theo truyền thuyết và thần phả lưu giữ tại đền, năm 1010, vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Thăng Lăng. Vua cho đắt thành để mở rộng thành Đại La nhưng cứ đắp lên lại sụp đổ. Tìm hiểu thông tin từ dân chúng mới biết đất này có hiển linh từ trước. Nhà vua bèn sai biện lễ để cầu đảo.

Biểu diễn văn nghệ trong hội đền Bạch Mã

Đêm ấy, nhà vua nằm mộng được thần Long Đỗ tới chúc mừng và dặn nhà vua cứ theo dấu vó ngựa đắp thành nhất định sẽ thành công. Sau đó, nhà vua thấy một con ngựa trắng phi thẳng vào đền rồi biến mất. Sáng hôm sau, nhà vua thấy có dấu hiệu in trên mặt đât đúng như giấc mộng tối qua bèn sai người theo đó mà đắp thành. Để tỏ lòng biết ơn, nhà vua cho tạc một con ngựa trắng để thờ và phong cho thần là "Thăng Long Thành hoàng Đại vương".

Hội đền Bạch Mã bắt đầu với lễ rước kiệu từ đền Mã Mây đi qua các con phố lớn đến đền Bạch Mã. Dẫn đầu đoàn rước là đội múa rồng, múa sư tử, tiếp theo là đội cờ, trống chiêng, sinh tiền, bát âm.. Trong đội kiệu bát cống đền Bạch Mã có đầy đủ tàn, tán, lọng, đội tế nam, đội dâng hương nữ. Trong đoàn rước còn có mục đồng và mô hình trâu để làm lễ tiến Xuân Ngưu. Lễ hội được khai mạc bằng lễ cáo thỉnh do người trông đền thực hiện. Tiếp đến đội tế nam đền Bạch Mã làm lễ tế Thánh. Sau phần lễ tế, mô hình trâu sẽ được rước từ đền ra bờ sông Hồng làm lễ hóa tiến Xuân Ngưu. Cũng trong chiều 12, đội tế nữ thực hiễn dâng hương lễ Thánh. Sau đóm người dân và du khách thập phương và lễ Thánh.

Đội tế nam và đội tế nữ trong hội đền Bạch Mã

Ngày 13/2, các cụ ông trong trang phục truyền thống của đội tế nam làm lễ tế thánh. Đến chiều, đội tế nam và đội dâng hương nữ các làng lân cận và lễ Thánh. Sau đó, đội tế nam đền Bạch Mã thực hiện lễ tế giã hội để kết thúc lễ hội. Ngoài phần tế lễ trang trọng, hội đền Bạch Mã còn diễn ra nhiều hoạt động vui chơi giải trí như: biểu diễn ca trù, chầu văn, chèo, quan họ, trình diễn võ thuật...

Hội đền Bạch Mã là dịp để người dân tưởng nhớ công đức của thần Long Đỗ trong việc xây dựng thành.

Related Figures

Hội đền Bích Câu

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 12/8 Âm lịch Hội đền Bích Câu tổ chức ngày 12/8 âm lịch hàng năm tại phố Cát Linh, quận Đống Đa, Hà Nội. Đền Bích Câu nơi diễn ra lễ hội Đền Bích Câu còn có tên khác là Bích Câu Đạo Quán hay đền Tú Uyên, là di tích Đạo giáo Việt Nam thờ tiên ông Trần Tú Uyên. Đền Bích Câu được xây dựng cuối thế kỷ XV trên chính phòng học của Tiên ông Tú Uyên. Tương truyền, Trần Tú Uyên thuở nhỏ sống trong cảnh hàn vi nhưng rất hay chữ. Cha mẹ mất sớm, ông dựng một căn lều bên gò Kim Quy làm nơi học nghề thuốc cứu người. Ông được người dân trong vùng kính trọng vì chữa bệnh cho nhiều người nghèo khó. Khi nước ta bị giặc ngoại xâm xâm lấn, Trần Tú Uyên còn trị khỏi bệnh cho tướng giặc Trà Toàn. Cảm kích trước tấm lòng lương y, tướng giặc rút quân về nước, trả lại sự bình yên cho nước ta. Chờ công lao này, vua Lê Thánh Tông phong tặng Trần Tú Uyên là "An quốc chân nhân". Đội tế nam làm lễ tế trong hội đền Bích Câu Để tưởng nhớ công ơn của Trần Tú Uyên, 7 dòng họ làng An Trạch (nay thuộc phường Quốc Tử Giám) đã xây dựng cụm di tích Bích Câu đạo quán để thờ tự. Bích Câu đạo quán được xếp hạng Di tích Lịch sử Văn hóa năm 1990. Biểu diễn văn nghệ trong hội đền Bích Câu Hàng năm, người dân địa phương mở hội tế ngày 4/2 (ngày thành đạo của Tiên Ông), ngày 3/6 (ngày Tiên Ông bay về trời) và ngày 12/8 chính hội (ngày sinh của Tiên Ông). Trong những ngày diễn ra lễ hội có các chương trình lễ tụng kinh thỉnh Phật, thỉnh Thánh của các bà Vãi trong đền. Sau đó, các cụ ông trong đội tế nam An Trạch - Bích Câu trong trang phục áo thụng xanh, đầu đội mũ thư sinh, đi hài xanh tiến hành tế lễ. Sau phần tế lễ là chương trình biểu diễn nghệ thuật ca trù và hoạt cảnh diễn lại cảnh Tiên Ông tu học, làm thuốc cứu người và gặp tiên nữ. Buổi chiều, dân làng và du khách thập phương vào đền Bích Câu dâng hương làm lễ. Hội đền Bích Câu mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam, được giữ gìn nguyên vẹn theo lối xưa. Đền Bích Câu cũng nổi tiếng là một trong những điểm duy trì và phát triển nghệ thuật ca trù Hà Nội.

Đền Bích Câu nơi diễn ra lễ hội Đền Bích Câu còn có tên khác là Bích Câu Đạo Quán hay đền Tú Uyên, là di tích Đạo giáo Việt Nam thờ tiên ông Trần Tú Uyên. Đền Bích Câu được xây dựng cuối thế kỷ XV trên chính phòng học của Tiên ông Tú Uyên. Tương truyền, Trần Tú Uyên thuở nhỏ sống trong cảnh hàn vi nhưng rất hay chữ. Cha mẹ mất sớm, ông dựng một căn lều bên gò Kim Quy làm nơi học nghề thuốc cứu người. Ông được người dân trong vùng kính trọng vì chữa bệnh cho nhiều người nghèo khó. Khi nước ta bị giặc ngoại xâm xâm lấn, Trần Tú Uyên còn trị khỏi bệnh cho tướng giặc Trà Toàn. Cảm kích trước tấm lòng lương y, tướng giặc rút quân về nước, trả lại sự bình yên cho nước ta. Chờ công lao này, vua Lê Thánh Tông phong tặng Trần Tú Uyên là "An quốc chân nhân". Đội tế nam làm lễ tế trong hội đền Bích Câu Để tưởng nhớ công ơn của Trần Tú Uyên, 7 dòng họ làng An Trạch (nay thuộc phường Quốc Tử Giám) đã xây dựng cụm di tích Bích Câu đạo quán để thờ tự. Bích Câu đạo quán được xếp hạng Di tích Lịch sử Văn hóa năm 1990. Biểu diễn văn nghệ trong hội đền Bích Câu Hàng năm, người dân địa phương mở hội tế ngày 4/2 (ngày thành đạo của Tiên Ông), ngày 3/6 (ngày Tiên Ông bay về trời) và ngày 12/8 chính hội (ngày sinh của Tiên Ông). Trong những ngày diễn ra lễ hội có các chương trình lễ tụng kinh thỉnh Phật, thỉnh Thánh của các bà Vãi trong đền. Sau đó, các cụ ông trong đội tế nam An Trạch - Bích Câu trong trang phục áo thụng xanh, đầu đội mũ thư sinh, đi hài xanh tiến hành tế lễ. Sau phần tế lễ là chương trình biểu diễn nghệ thuật ca trù và hoạt cảnh diễn lại cảnh Tiên Ông tu học, làm thuốc cứu người và gặp tiên nữ. Buổi chiều, dân làng và du khách thập phương vào đền Bích Câu dâng hương làm lễ. Hội đền Bích Câu mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam, được giữ gìn nguyên vẹn theo lối xưa. Đền Bích Câu cũng nổi tiếng là một trong những điểm duy trì và phát triển nghệ thuật ca trù Hà Nội.

Đền Bích Câu còn có tên khác là Bích Câu Đạo Quán hay đền Tú Uyên, là di tích Đạo giáo Việt Nam thờ tiên ông Trần Tú Uyên. Đền Bích Câu được xây dựng cuối thế kỷ XV trên chính phòng học của Tiên ông Tú Uyên. Tương truyền, Trần Tú Uyên thuở nhỏ sống trong cảnh hàn vi nhưng rất hay chữ. Cha mẹ mất sớm, ông dựng một căn lều bên gò Kim Quy làm nơi học nghề thuốc cứu người. Ông được người dân trong vùng kính trọng vì chữa bệnh cho nhiều người nghèo khó. Khi nước ta bị giặc ngoại xâm xâm lấn, Trần Tú Uyên còn trị khỏi bệnh cho tướng giặc Trà Toàn. Cảm kích trước tấm lòng lương y, tướng giặc rút quân về nước, trả lại sự bình yên cho nước ta. Chờ công lao này, vua Lê Thánh Tông phong tặng Trần Tú Uyên là "An quốc chân nhân".

Đội tế nam làm lễ tế trong hội đền Bích Câu

Để tưởng nhớ công ơn của Trần Tú Uyên, 7 dòng họ làng An Trạch (nay thuộc phường Quốc Tử Giám) đã xây dựng cụm di tích Bích Câu đạo quán để thờ tự. Bích Câu đạo quán được xếp hạng Di tích Lịch sử Văn hóa năm 1990.

Biểu diễn văn nghệ trong hội đền Bích Câu Hàng năm, người dân địa phương mở hội tế ngày 4/2 (ngày thành đạo của Tiên Ông), ngày 3/6 (ngày Tiên Ông bay về trời) và ngày 12/8 chính hội (ngày sinh của Tiên Ông). Trong những ngày diễn ra lễ hội có các chương trình lễ tụng kinh thỉnh Phật, thỉnh Thánh của các bà Vãi trong đền. Sau đó, các cụ ông trong đội tế nam An Trạch - Bích Câu trong trang phục áo thụng xanh, đầu đội mũ thư sinh, đi hài xanh tiến hành tế lễ. Sau phần tế lễ là chương trình biểu diễn nghệ thuật ca trù và hoạt cảnh diễn lại cảnh Tiên Ông tu học, làm thuốc cứu người và gặp tiên nữ. Buổi chiều, dân làng và du khách thập phương vào đền Bích Câu dâng hương làm lễ. Hội đền Bích Câu mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam, được giữ gìn nguyên vẹn theo lối xưa. Đền Bích Câu cũng nổi tiếng là một trong những điểm duy trì và phát triển nghệ thuật ca trù Hà Nội.

Hàng năm, người dân địa phương mở hội tế ngày 4/2 (ngày thành đạo của Tiên Ông), ngày 3/6 (ngày Tiên Ông bay về trời) và ngày 12/8 chính hội (ngày sinh của Tiên Ông). Trong những ngày diễn ra lễ hội có các chương trình lễ tụng kinh thỉnh Phật, thỉnh Thánh của các bà Vãi trong đền. Sau đó, các cụ ông trong đội tế nam An Trạch - Bích Câu trong trang phục áo thụng xanh, đầu đội mũ thư sinh, đi hài xanh tiến hành tế lễ. Sau phần tế lễ là chương trình biểu diễn nghệ thuật ca trù và hoạt cảnh diễn lại cảnh Tiên Ông tu học, làm thuốc cứu người và gặp tiên nữ. Buổi chiều, dân làng và du khách thập phương vào đền Bích Câu dâng hương làm lễ.

Hội đền Bích Câu mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam, được giữ gìn nguyên vẹn theo lối xưa. Đền Bích Câu cũng nổi tiếng là một trong những điểm duy trì và phát triển nghệ thuật ca trù Hà Nội.

Related Figures

Hội đền Bà Chúa

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 30/7- 2/8 Âm lịch Hội đền Bà Chúa được tổ chức từ ngày 30/7-2/8 âm lịch hàng năm tại thôn Viên, xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm, Hà Nội để tưởng nhớ công ơn khai hoang phục hóa của công chúa Túc Trinh. Long trọng tổ chức hội đền Túc Trinh Đền Bà Chúa thờ công chúa Túc Trinh, con gái vua Trần Nhân Tông người có công giúp dân làng khai hoang, lập làng. Tương truyền, sau đại thắng quân Nguyên Mông lần thứ nhất (năm 1258), vua Trần xuống chiếu cho các vương hầu, công chúa chiêu tập phiên tán khai khẩn đất hoang, mở rộng kinh thành, phát triển sản xuất. Theo chiếu chỉ vua cha, công chúa Túc Trinh rời khỏi cung điện nguy nga ra ngoại thành, về phía làng Noi cổ (nay là xã Cổ Nhuế) phát chẩn tiền bạc, cấp vốn cho dân nghèo dựng nhà, vỡ đất trồng cây, làm ăn sinh sống. Dần dần thành xóm, thành làng. Sau khi lập làng Cổ Nhuế Viên, công chúa Túc Trinh đến làng An Nội, xã Liên Mạc, huyện Từ Liêm giúp dân làng khai hoang, ổn định cuộc sống. Công chúa Túc Trinh qua đời ngày 2/8 âm lịch. Đến ngày kỵ của bà, dân làng tổ chức lễ hội để tưởng nhớ công ơn khai hoang phục hóa, tạo dựng xóm làng của bà. Đoàn rước hội đền Túc Trinh Hội đền Bà Chúa được tổ chức trong 3 ngày ở hai làng An Hội và Cổ Nhuế. Sáng ngày 30/7, đội kiêu nam bao sái kiệu và chuyển giá văn ở đình về đền. Sau đó, đội tế lễ mang lễ lên mộ Chúa để làm lễ cáo Chúa tại đền. Buổi chiều hôm đó, ban tế và đội dâng hương An Hội cúng tế Chúa. Đến đêm, các cụ cao niên trong đội tế làm lễ mở cửa đền. Rạng sáng ngày 1/8, bắt đầu thực hiện lễ mộc dục và cúng thức. Lễ mộc dục do các cụ bô lão trong làng đảm nhiệm, trang phục lễ hội truyền thống chỉnh tề, quần trùng áo dài, đầu đội khăn xếp... Nước dùng trong lễ mộc dục phải là nước mưa tinh khiết nấu với ngũ vị hương. Trước khi làm lễ mộc dục, các vị bô lão phải rửa tay sạch sẽ gọi là quán tẩy, vẩy nước hoa vào người gọi là tẩy uế. Sau khi tiến hành lễ mộc dục cho Bà Chúa, các bô lão mang đốt đồ mã cũ, dâng đồ mã mới. Sau đó, chủ tế đọc chúc văn ca ngợi công đức của công chúa Túc Trinh với dân làng, cầu xin hồng ân của trời đất, Phật, Thánh, Chúa Bà ban phúc lành quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa. Đông đảo người dân tham gia hội đền Túc Trinh Ngày 2/8 ngày giỗ Chúa gọi là cúng đội kỵ, có dâng lục cúng: hương, trà, hoa, quả, thực, đăng. Lễ cúng gồm có cơm tẻ nấu bằng gạo lật, muối vừng, trám đen muối, giá luộc, tương, canh đậu xanh. Sau lễ cúng thực, dân làng dâng chè kho, chè lam, kẹo lạc... Ngày giỗ Chúa, toàn dân làm cỗ chay và ăn chay. Sau lễ khai quang, các đoàn là các xã lân cân, người dân địa phương và du khách thập phương vào dâng hương lễ Chúa đến tận xế chiều.

Long trọng tổ chức hội đền Túc Trinh Đền Bà Chúa thờ công chúa Túc Trinh, con gái vua Trần Nhân Tông người có công giúp dân làng khai hoang, lập làng. Tương truyền, sau đại thắng quân Nguyên Mông lần thứ nhất (năm 1258), vua Trần xuống chiếu cho các vương hầu, công chúa chiêu tập phiên tán khai khẩn đất hoang, mở rộng kinh thành, phát triển sản xuất. Theo chiếu chỉ vua cha, công chúa Túc Trinh rời khỏi cung điện nguy nga ra ngoại thành, về phía làng Noi cổ (nay là xã Cổ Nhuế) phát chẩn tiền bạc, cấp vốn cho dân nghèo dựng nhà, vỡ đất trồng cây, làm ăn sinh sống. Dần dần thành xóm, thành làng. Sau khi lập làng Cổ Nhuế Viên, công chúa Túc Trinh đến làng An Nội, xã Liên Mạc, huyện Từ Liêm giúp dân làng khai hoang, ổn định cuộc sống. Công chúa Túc Trinh qua đời ngày 2/8 âm lịch. Đến ngày kỵ của bà, dân làng tổ chức lễ hội để tưởng nhớ công ơn khai hoang phục hóa, tạo dựng xóm làng của bà. Đoàn rước hội đền Túc Trinh Hội đền Bà Chúa được tổ chức trong 3 ngày ở hai làng An Hội và Cổ Nhuế. Sáng ngày 30/7, đội kiêu nam bao sái kiệu và chuyển giá văn ở đình về đền. Sau đó, đội tế lễ mang lễ lên mộ Chúa để làm lễ cáo Chúa tại đền. Buổi chiều hôm đó, ban tế và đội dâng hương An Hội cúng tế Chúa. Đến đêm, các cụ cao niên trong đội tế làm lễ mở cửa đền. Rạng sáng ngày 1/8, bắt đầu thực hiện lễ mộc dục và cúng thức. Lễ mộc dục do các cụ bô lão trong làng đảm nhiệm, trang phục lễ hội truyền thống chỉnh tề, quần trùng áo dài, đầu đội khăn xếp... Nước dùng trong lễ mộc dục phải là nước mưa tinh khiết nấu với ngũ vị hương. Trước khi làm lễ mộc dục, các vị bô lão phải rửa tay sạch sẽ gọi là quán tẩy, vẩy nước hoa vào người gọi là tẩy uế. Sau khi tiến hành lễ mộc dục cho Bà Chúa, các bô lão mang đốt đồ mã cũ, dâng đồ mã mới. Sau đó, chủ tế đọc chúc văn ca ngợi công đức của công chúa Túc Trinh với dân làng, cầu xin hồng ân của trời đất, Phật, Thánh, Chúa Bà ban phúc lành quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa. Đông đảo người dân tham gia hội đền Túc Trinh Ngày 2/8 ngày giỗ Chúa gọi là cúng đội kỵ, có dâng lục cúng: hương, trà, hoa, quả, thực, đăng. Lễ cúng gồm có cơm tẻ nấu bằng gạo lật, muối vừng, trám đen muối, giá luộc, tương, canh đậu xanh. Sau lễ cúng thực, dân làng dâng chè kho, chè lam, kẹo lạc... Ngày giỗ Chúa, toàn dân làm cỗ chay và ăn chay. Sau lễ khai quang, các đoàn là các xã lân cân, người dân địa phương và du khách thập phương vào dâng hương lễ Chúa đến tận xế chiều.

Đền Bà Chúa thờ công chúa Túc Trinh, con gái vua Trần Nhân Tông người có công giúp dân làng khai hoang, lập làng. Tương truyền, sau đại thắng quân Nguyên Mông lần thứ nhất (năm 1258), vua Trần xuống chiếu cho các vương hầu, công chúa chiêu tập phiên tán khai khẩn đất hoang, mở rộng kinh thành, phát triển sản xuất. Theo chiếu chỉ vua cha, công chúa Túc Trinh rời khỏi cung điện nguy nga ra ngoại thành, về phía làng Noi cổ (nay là xã Cổ Nhuế) phát chẩn tiền bạc, cấp vốn cho dân nghèo dựng nhà, vỡ đất trồng cây, làm ăn sinh sống. Dần dần thành xóm, thành làng. Sau khi lập làng Cổ Nhuế Viên, công chúa Túc Trinh đến làng An Nội, xã Liên Mạc, huyện Từ Liêm giúp dân làng khai hoang, ổn định cuộc sống. Công chúa Túc Trinh qua đời ngày 2/8 âm lịch. Đến ngày kỵ của bà, dân làng tổ chức lễ hội để tưởng nhớ công ơn khai hoang phục hóa, tạo dựng xóm làng của bà.

Đoàn rước hội đền Túc Trinh

Hội đền Bà Chúa được tổ chức trong 3 ngày ở hai làng An Hội và Cổ Nhuế. Sáng ngày 30/7, đội kiêu nam bao sái kiệu và chuyển giá văn ở đình về đền. Sau đó, đội tế lễ mang lễ lên mộ Chúa để làm lễ cáo Chúa tại đền. Buổi chiều hôm đó, ban tế và đội dâng hương An Hội cúng tế Chúa. Đến đêm, các cụ cao niên trong đội tế làm lễ mở cửa đền.

Rạng sáng ngày 1/8, bắt đầu thực hiện lễ mộc dục và cúng thức. Lễ mộc dục do các cụ bô lão trong làng đảm nhiệm, trang phục lễ hội truyền thống chỉnh tề, quần trùng áo dài, đầu đội khăn xếp... Nước dùng trong lễ mộc dục phải là nước mưa tinh khiết nấu với ngũ vị hương. Trước khi làm lễ mộc dục, các vị bô lão phải rửa tay sạch sẽ gọi là quán tẩy, vẩy nước hoa vào người gọi là tẩy uế. Sau khi tiến hành lễ mộc dục cho Bà Chúa, các bô lão mang đốt đồ mã cũ, dâng đồ mã mới. Sau đó, chủ tế đọc chúc văn ca ngợi công đức của công chúa Túc Trinh với dân làng, cầu xin hồng ân của trời đất, Phật, Thánh, Chúa Bà ban phúc lành quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa.

Đông đảo người dân tham gia hội đền Túc Trinh

Ngày 2/8 ngày giỗ Chúa gọi là cúng đội kỵ, có dâng lục cúng: hương, trà, hoa, quả, thực, đăng. Lễ cúng gồm có cơm tẻ nấu bằng gạo lật, muối vừng, trám đen muối, giá luộc, tương, canh đậu xanh. Sau lễ cúng thực, dân làng dâng chè kho, chè lam, kẹo lạc... Ngày giỗ Chúa, toàn dân làm cỗ chay và ăn chay. Sau lễ khai quang, các đoàn là các xã lân cân, người dân địa phương và du khách thập phương vào dâng hương lễ Chúa đến tận xế chiều.

Related Figures

Lễ hội truyền thống đình Tứ Liên (đình Ngọc Xuyên)

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 16/3 Âm lịch Hội đình Tứ Liên được tổ chức 2 kỳ lễ hội chính: ngày 16/3 lễ đức Thánh Bà (chính hội) và 12/10 lễ đức Thánh Ông. Lễ hội truyền thống đình Tứ Liên chứa đựng nhiều giá trị văn hóa, thể hiện lòng thành kính của những người con đất Tứ Liên với những vị Thành hoàng làng cai quản vùng đất này. Tế lễ trang trọng trong hội đình Tứ Liên Đình Tứ Liên (đình Ngọc Xuyên) thờ 3 vị THành hoàng làng Tứ Liên vốn là 3 anh em (Bảo Trung, Minh Khiết và em gái tên Phương). Thần tích của đình ghi lại rằng: 3 anh em là con trong một gia đình thuộc dòng họ Nguyễn thuộc trang Đồng Lục, phủ Khoái Châu, đạo Sơn Nam (nay là xã Tứ Dân, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên). Khi quân Chiêm Thành kéo sang xâm lược nước ta, nhà vua ban chiếu cầu người hiền tài, hai anh em Bảo Trung, Minh Khiết yết kiến vua xin đem quân đánh giặc. Hai người được vua phong Tướng quân Trung phẩm. Hai ông chiêu mộ, huấn luyện 3 vạn tinh binh, chia làm hai đạo quân thủy và bộ tiến đánh đồn giặc. Đánh tan quân Chiêm Thành không lâu thì hai ông qua đời. Nhà vua vô cùng thương tiếc sắc phong hai ông là "Thượng Đẳng Phúc Thần" hạ lệnh cho nhân dân lập miếu thờ phụng và hương khói ngàn đời. Em gái hai ông là người trồng dâu nuôi tằm rất giỏi. Tương truyền, một hôm đang trồng dâu ở bãi cát ven sông, bỗng đâu rồng rắn nổi lên mặt nước quấn lấy bà đưa về thủy quốc. Sau này, dân làng nhiều lần thấy bà nổi lên mặt nước với một cái chén ngọc ở trước trán liền lập miếu thờ phụng, gọi là mả Bà Chén. Trong các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược, nhiều lần bà hiển linh giúp nhà vua thắng trận. Cảm kích trước anh linh của bà, nhà vua truyên mang sắc chỉ phong cho bà là "Ý Hạnh Phu Nhân Tôn Công Chúa Thượng Đẳng Phúc Thần". Người dân Tứ Liên chuẩn bị lễ Thánh Hội đình Tứ Liên được tổ chức ngày 16/3 âm lịch (kỵ đức Thánh Bà) và 12/10 (kỵ đức Thánh Ông) hàng năm. Cứ 5 năm một lần tổ chức lễ hội lớn vào ngày 16/3. Hội đình Tứ Liên được tổ chức long trọng với nghi lễ rước kiệu, tế lễ, dâng hương... Đặc sắc nhất trong ngày hội lớn là lễ rước nước. Lễ rước nước được bắt đầu từ sáng sớm tinh mơ, đoàn rước xuất phát từ đình ra bãi sông Hồng để rước nước về lễ Thánh. Đi đầu đoàn rước là kiệu Long Đình, theo sau là kiệu rước nước và 3 kiệu Thánh. Kiệu rước nước được đưa lên thuyền làm lễ cúng trời đất, cầu mong thần linh phù hộ. Trưởng ban tổ chức hội đình Tứ Liên đứng ra xin nước từ sông về dâng Thánh. Lễ rước nước là nghi thức tâm linh đặc sắc mang đậm tín ngưỡng cầu nước của những cư dân sống với nền văn minh lúa nước bên sông Hồng. Thổi cơm thi trong hội đình Tứ Liên Trong thời gian diễn ra lễ hội, người dân và du khách thập phương còn được tham gia nhiều hoạt động sôi nổi như: thổi cơm thi, cờ tướng, chọi gà, kéo co...

Tế lễ trang trọng trong hội đình Tứ Liên Đình Tứ Liên (đình Ngọc Xuyên) thờ 3 vị THành hoàng làng Tứ Liên vốn là 3 anh em (Bảo Trung, Minh Khiết và em gái tên Phương). Thần tích của đình ghi lại rằng: 3 anh em là con trong một gia đình thuộc dòng họ Nguyễn thuộc trang Đồng Lục, phủ Khoái Châu, đạo Sơn Nam (nay là xã Tứ Dân, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên). Khi quân Chiêm Thành kéo sang xâm lược nước ta, nhà vua ban chiếu cầu người hiền tài, hai anh em Bảo Trung, Minh Khiết yết kiến vua xin đem quân đánh giặc. Hai người được vua phong Tướng quân Trung phẩm. Hai ông chiêu mộ, huấn luyện 3 vạn tinh binh, chia làm hai đạo quân thủy và bộ tiến đánh đồn giặc. Đánh tan quân Chiêm Thành không lâu thì hai ông qua đời. Nhà vua vô cùng thương tiếc sắc phong hai ông là "Thượng Đẳng Phúc Thần" hạ lệnh cho nhân dân lập miếu thờ phụng và hương khói ngàn đời. Em gái hai ông là người trồng dâu nuôi tằm rất giỏi. Tương truyền, một hôm đang trồng dâu ở bãi cát ven sông, bỗng đâu rồng rắn nổi lên mặt nước quấn lấy bà đưa về thủy quốc. Sau này, dân làng nhiều lần thấy bà nổi lên mặt nước với một cái chén ngọc ở trước trán liền lập miếu thờ phụng, gọi là mả Bà Chén. Trong các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược, nhiều lần bà hiển linh giúp nhà vua thắng trận. Cảm kích trước anh linh của bà, nhà vua truyên mang sắc chỉ phong cho bà là "Ý Hạnh Phu Nhân Tôn Công Chúa Thượng Đẳng Phúc Thần". Người dân Tứ Liên chuẩn bị lễ Thánh Hội đình Tứ Liên được tổ chức ngày 16/3 âm lịch (kỵ đức Thánh Bà) và 12/10 (kỵ đức Thánh Ông) hàng năm. Cứ 5 năm một lần tổ chức lễ hội lớn vào ngày 16/3. Hội đình Tứ Liên được tổ chức long trọng với nghi lễ rước kiệu, tế lễ, dâng hương... Đặc sắc nhất trong ngày hội lớn là lễ rước nước. Lễ rước nước được bắt đầu từ sáng sớm tinh mơ, đoàn rước xuất phát từ đình ra bãi sông Hồng để rước nước về lễ Thánh. Đi đầu đoàn rước là kiệu Long Đình, theo sau là kiệu rước nước và 3 kiệu Thánh. Kiệu rước nước được đưa lên thuyền làm lễ cúng trời đất, cầu mong thần linh phù hộ. Trưởng ban tổ chức hội đình Tứ Liên đứng ra xin nước từ sông về dâng Thánh. Lễ rước nước là nghi thức tâm linh đặc sắc mang đậm tín ngưỡng cầu nước của những cư dân sống với nền văn minh lúa nước bên sông Hồng. Thổi cơm thi trong hội đình Tứ Liên Trong thời gian diễn ra lễ hội, người dân và du khách thập phương còn được tham gia nhiều hoạt động sôi nổi như: thổi cơm thi, cờ tướng, chọi gà, kéo co...

Đình Tứ Liên (đình Ngọc Xuyên) thờ 3 vị THành hoàng làng Tứ Liên vốn là 3 anh em (Bảo Trung, Minh Khiết và em gái tên Phương). Thần tích của đình ghi lại rằng: 3 anh em là con trong một gia đình thuộc dòng họ Nguyễn thuộc trang Đồng Lục, phủ Khoái Châu, đạo Sơn Nam (nay là xã Tứ Dân, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên).

Khi quân Chiêm Thành kéo sang xâm lược nước ta, nhà vua ban chiếu cầu người hiền tài, hai anh em Bảo Trung, Minh Khiết yết kiến vua xin đem quân đánh giặc. Hai người được vua phong Tướng quân Trung phẩm. Hai ông chiêu mộ, huấn luyện 3 vạn tinh binh, chia làm hai đạo quân thủy và bộ tiến đánh đồn giặc. Đánh tan quân Chiêm Thành không lâu thì hai ông qua đời. Nhà vua vô cùng thương tiếc sắc phong hai ông là "Thượng Đẳng Phúc Thần" hạ lệnh cho nhân dân lập miếu thờ phụng và hương khói ngàn đời.

Em gái hai ông là người trồng dâu nuôi tằm rất giỏi. Tương truyền, một hôm đang trồng dâu ở bãi cát ven sông, bỗng đâu rồng rắn nổi lên mặt nước quấn lấy bà đưa về thủy quốc. Sau này, dân làng nhiều lần thấy bà nổi lên mặt nước với một cái chén ngọc ở trước trán liền lập miếu thờ phụng, gọi là mả Bà Chén. Trong các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược, nhiều lần bà hiển linh giúp nhà vua thắng trận. Cảm kích trước anh linh của bà, nhà vua truyên mang sắc chỉ phong cho bà là "Ý Hạnh Phu Nhân Tôn Công Chúa Thượng Đẳng Phúc Thần".

Người dân Tứ Liên chuẩn bị lễ Thánh

Hội đình Tứ Liên được tổ chức ngày 16/3 âm lịch (kỵ đức Thánh Bà) và 12/10 (kỵ đức Thánh Ông) hàng năm. Cứ 5 năm một lần tổ chức lễ hội lớn vào ngày 16/3. Hội đình Tứ Liên được tổ chức long trọng với nghi lễ rước kiệu, tế lễ, dâng hương... Đặc sắc nhất trong ngày hội lớn là lễ rước nước. Lễ rước nước được bắt đầu từ sáng sớm tinh mơ, đoàn rước xuất phát từ đình ra bãi sông Hồng để rước nước về lễ Thánh. Đi đầu đoàn rước là kiệu Long Đình, theo sau là kiệu rước nước và 3 kiệu Thánh. Kiệu rước nước được đưa lên thuyền làm lễ cúng trời đất, cầu mong thần linh phù hộ. Trưởng ban tổ chức hội đình Tứ Liên đứng ra xin nước từ sông về dâng Thánh. Lễ rước nước là nghi thức tâm linh đặc sắc mang đậm tín ngưỡng cầu nước của những cư dân sống với nền văn minh lúa nước bên sông Hồng.

Thổi cơm thi trong hội đình Tứ Liên

Trong thời gian diễn ra lễ hội, người dân và du khách thập phương còn được tham gia nhiều hoạt động sôi nổi như: thổi cơm thi, cờ tướng, chọi gà, kéo co...

Related Figures

Hội đình Nhật Tân

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 8/2- 11/2 Âm lịch Vào ngày 8-11/2 âm lịch, đình Nhật Tân thuộc phường Nhật Tân, quận Tây Hồ, Hà Nội long trọng tổ chức lễ hội để tưởng nhớ công ơn Đức Đại vương Uy Linh Lang. Không khí trang nghiêm hội đình Nhật Tân được tổ chức Đình Nhật Tân trước kia được gọi là đền Nhật Chiêu. Đến triều Khải Định mới được đổi thành Nhật Tân. Đình Nhật Tân thờ đức Thánh Uy Đô Đại Vương Trần Linh Lang (con vua Lý Thánh Thông) sinh ngày 2/2 năm Ất Sửu (năm 1265). Linh Lang nổi tiếng thông minh hơn người, văn võ song toàn. Khi quân Nguyên Mông đem 40 vạn quân xâm lược nước ta, Linh Lang dâng biểu xin vua cha được dẫn quân đánh giặc và soạn bài hịch kêu gọi được nhân dân hưởng ứng nhiệt tình. Ngài thành lập đội quan "Thiên tử quân" đại thắng quân Nguyên Mông. Đất nước sạch bóng quân thù, Ngài được vua phong làm Dâm Đàm Đại vương (Đại vương Hồ Tây). Linh Lang Đại vương mất ngày 9/8 năm Canh Tý (năm 1300). Nhà vua thương tiếc cho xây dựng đền tại nơi mất hạ để nhân dân hương khói thờ phụng muôn đời. Đình Nhật Tân rực rỡ cờ hoa chuẩn bị vào hội Hội đình Nhật Tân được tổ chức 5 năm một lần và thường diễn ra trong 4 ngày từ 8-11/2 âm lịch. Ngày 8/2 khai hội, buổi sáng bắt đầu với lễ tế yết và lễ bao sái tượng, đồ tế. Buổi chiều cùng ngày tổ chức chương trình ca nhạc dân gian, truyền thống do đội văn nghệ của làng biểu diễn. Sáng ngày 9/2, các cụ cao niên trong đội tế nam làm lễ mở cửa đình để người dân địa phương và du khách thập phương vào làm lễ dâng hương. Buổi chiều tổ chức lễ tuyên dương con em trong làng có thành tích học tập tốt, những gia đình có nề nếp gia phong, có công với đất nước. Sau đó, đội tế nữ tế khai hội. Lễ phóng noãn được tổ chức vào lúc nửa đêm trên sông Hồng thu hút đông đảo người dân tham gia. Lễ rước hội đình Nhật Tân Chính hội ngày 10/2, đội tế và đội rước kiệu của 10 tổng thực hiện lễ rước Thần xuất cung. Đoàn rước gồm 9 kiệu, dẫn đầu là đội kiệu Long đình thờ thần linh công đồng Thánh đế, tiếp theo là kiệu đức Uy đô Đại vương rồi đến kiệu rước Thánh Mẫu Chính cung Minh Đức, kiệu rước Thánh Bạch Giáp, Hoàng Giáp, Hắc Giáp, Thanh Giáp, Chu Giáp và Tử Giáp. Đoàn rước thực hiện rước kiệu từ đình ra cung Nhật Tân (nơi sinh Linh Lang Đại vương) rồi trở lại đình. Đội rước nước do các thiếu nữ 15-18 tuổi trong làng đảm nhiệm đi thuyền gia ngã 3 sông lấy nước. Nước này được lưu trong đình trong vòng 5 năm. Ngày 11/2, đội tế nam thực hiện tế tạ ơn và giã hội. Đan xem trong hội đình Nhật Tân còn có rất nhiều trò chơi và các tiết mục biểu diễn văn nghệ truyền thống. Hội đình Nhật Tân mang đậm nét văn hóa truyền thống, đậm đà bản sắc dân tộc, thể hiện sự tôn kính với bậc tiền nhân có công với dân, với nước và cầu mong quốc thái dân an.

Không khí trang nghiêm hội đình Nhật Tân được tổ chức Đình Nhật Tân trước kia được gọi là đền Nhật Chiêu. Đến triều Khải Định mới được đổi thành Nhật Tân. Đình Nhật Tân thờ đức Thánh Uy Đô Đại Vương Trần Linh Lang (con vua Lý Thánh Thông) sinh ngày 2/2 năm Ất Sửu (năm 1265). Linh Lang nổi tiếng thông minh hơn người, văn võ song toàn. Khi quân Nguyên Mông đem 40 vạn quân xâm lược nước ta, Linh Lang dâng biểu xin vua cha được dẫn quân đánh giặc và soạn bài hịch kêu gọi được nhân dân hưởng ứng nhiệt tình. Ngài thành lập đội quan "Thiên tử quân" đại thắng quân Nguyên Mông. Đất nước sạch bóng quân thù, Ngài được vua phong làm Dâm Đàm Đại vương (Đại vương Hồ Tây). Linh Lang Đại vương mất ngày 9/8 năm Canh Tý (năm 1300). Nhà vua thương tiếc cho xây dựng đền tại nơi mất hạ để nhân dân hương khói thờ phụng muôn đời. Đình Nhật Tân rực rỡ cờ hoa chuẩn bị vào hội Hội đình Nhật Tân được tổ chức 5 năm một lần và thường diễn ra trong 4 ngày từ 8-11/2 âm lịch. Ngày 8/2 khai hội, buổi sáng bắt đầu với lễ tế yết và lễ bao sái tượng, đồ tế. Buổi chiều cùng ngày tổ chức chương trình ca nhạc dân gian, truyền thống do đội văn nghệ của làng biểu diễn. Sáng ngày 9/2, các cụ cao niên trong đội tế nam làm lễ mở cửa đình để người dân địa phương và du khách thập phương vào làm lễ dâng hương. Buổi chiều tổ chức lễ tuyên dương con em trong làng có thành tích học tập tốt, những gia đình có nề nếp gia phong, có công với đất nước. Sau đó, đội tế nữ tế khai hội. Lễ phóng noãn được tổ chức vào lúc nửa đêm trên sông Hồng thu hút đông đảo người dân tham gia. Lễ rước hội đình Nhật Tân Chính hội ngày 10/2, đội tế và đội rước kiệu của 10 tổng thực hiện lễ rước Thần xuất cung. Đoàn rước gồm 9 kiệu, dẫn đầu là đội kiệu Long đình thờ thần linh công đồng Thánh đế, tiếp theo là kiệu đức Uy đô Đại vương rồi đến kiệu rước Thánh Mẫu Chính cung Minh Đức, kiệu rước Thánh Bạch Giáp, Hoàng Giáp, Hắc Giáp, Thanh Giáp, Chu Giáp và Tử Giáp. Đoàn rước thực hiện rước kiệu từ đình ra cung Nhật Tân (nơi sinh Linh Lang Đại vương) rồi trở lại đình. Đội rước nước do các thiếu nữ 15-18 tuổi trong làng đảm nhiệm đi thuyền gia ngã 3 sông lấy nước. Nước này được lưu trong đình trong vòng 5 năm. Ngày 11/2, đội tế nam thực hiện tế tạ ơn và giã hội. Đan xem trong hội đình Nhật Tân còn có rất nhiều trò chơi và các tiết mục biểu diễn văn nghệ truyền thống. Hội đình Nhật Tân mang đậm nét văn hóa truyền thống, đậm đà bản sắc dân tộc, thể hiện sự tôn kính với bậc tiền nhân có công với dân, với nước và cầu mong quốc thái dân an.

Đình Nhật Tân trước kia được gọi là đền Nhật Chiêu. Đến triều Khải Định mới được đổi thành Nhật Tân. Đình Nhật Tân thờ đức Thánh Uy Đô Đại Vương Trần Linh Lang (con vua Lý Thánh Thông) sinh ngày 2/2 năm Ất Sửu (năm 1265). Linh Lang nổi tiếng thông minh hơn người, văn võ song toàn. Khi quân Nguyên Mông đem 40 vạn quân xâm lược nước ta, Linh Lang dâng biểu xin vua cha được dẫn quân đánh giặc và soạn bài hịch kêu gọi được nhân dân hưởng ứng nhiệt tình. Ngài thành lập đội quan "Thiên tử quân" đại thắng quân Nguyên Mông. Đất nước sạch bóng quân thù, Ngài được vua phong làm Dâm Đàm Đại vương (Đại vương Hồ Tây). Linh Lang Đại vương mất ngày 9/8 năm Canh Tý (năm 1300). Nhà vua thương tiếc cho xây dựng đền tại nơi mất hạ để nhân dân hương khói thờ phụng muôn đời. Đình Nhật Tân rực rỡ cờ hoa chuẩn bị vào hội Hội đình Nhật Tân được tổ chức 5 năm một lần và thường diễn ra trong 4 ngày từ 8-11/2 âm lịch. Ngày 8/2 khai hội, buổi sáng bắt đầu với lễ tế yết và lễ bao sái tượng, đồ tế. Buổi chiều cùng ngày tổ chức chương trình ca nhạc dân gian, truyền thống do đội văn nghệ của làng biểu diễn. Sáng ngày 9/2, các cụ cao niên trong đội tế nam làm lễ mở cửa đình để người dân địa phương và du khách thập phương vào làm lễ dâng hương. Buổi chiều tổ chức lễ tuyên dương con em trong làng có thành tích học tập tốt, những gia đình có nề nếp gia phong, có công với đất nước. Sau đó, đội tế nữ tế khai hội. Lễ phóng noãn được tổ chức vào lúc nửa đêm trên sông Hồng thu hút đông đảo người dân tham gia. Lễ rước hội đình Nhật Tân Chính hội ngày 10/2, đội tế và đội rước kiệu của 10 tổng thực hiện lễ rước Thần xuất cung. Đoàn rước gồm 9 kiệu, dẫn đầu là đội kiệu Long đình thờ thần linh công đồng Thánh đế, tiếp theo là kiệu đức Uy đô Đại vương rồi đến kiệu rước Thánh Mẫu Chính cung Minh Đức, kiệu rước Thánh Bạch Giáp, Hoàng Giáp, Hắc Giáp, Thanh Giáp, Chu Giáp và Tử Giáp. Đoàn rước thực hiện rước kiệu từ đình ra cung Nhật Tân (nơi sinh Linh Lang Đại vương) rồi trở lại đình. Đội rước nước do các thiếu nữ 15-18 tuổi trong làng đảm nhiệm đi thuyền gia ngã 3 sông lấy nước. Nước này được lưu trong đình trong vòng 5 năm. Ngày 11/2, đội tế nam thực hiện tế tạ ơn và giã hội. Đan xem trong hội đình Nhật Tân còn có rất nhiều trò chơi và các tiết mục biểu diễn văn nghệ truyền thống. Hội đình Nhật Tân mang đậm nét văn hóa truyền thống, đậm đà bản sắc dân tộc, thể hiện sự tôn kính với bậc tiền nhân có công với dân, với nước và cầu mong quốc thái dân an.

Đình Nhật Tân trước kia được gọi là đền Nhật Chiêu. Đến triều Khải Định mới được đổi thành Nhật Tân. Đình Nhật Tân thờ đức Thánh Uy Đô Đại Vương Trần Linh Lang (con vua Lý Thánh Thông) sinh ngày 2/2 năm Ất Sửu (năm 1265). Linh Lang nổi tiếng thông minh hơn người, văn võ song toàn. Khi quân Nguyên Mông đem 40 vạn quân xâm lược nước ta, Linh Lang dâng biểu xin vua cha được dẫn quân đánh giặc và soạn bài hịch kêu gọi được nhân dân hưởng ứng nhiệt tình. Ngài thành lập đội quan "Thiên tử quân" đại thắng quân Nguyên Mông. Đất nước sạch bóng quân thù, Ngài được vua phong làm Dâm Đàm Đại vương (Đại vương Hồ Tây). Linh Lang Đại vương mất ngày 9/8 năm Canh Tý (năm 1300). Nhà vua thương tiếc cho xây dựng đền tại nơi mất hạ để nhân dân hương khói thờ phụng muôn đời.

Đình Nhật Tân rực rỡ cờ hoa chuẩn bị vào hội

Hội đình Nhật Tân được tổ chức 5 năm một lần và thường diễn ra trong 4 ngày từ 8-11/2 âm lịch. Ngày 8/2 khai hội, buổi sáng bắt đầu với lễ tế yết và lễ bao sái tượng, đồ tế. Buổi chiều cùng ngày tổ chức chương trình ca nhạc dân gian, truyền thống do đội văn nghệ của làng biểu diễn.

Sáng ngày 9/2, các cụ cao niên trong đội tế nam làm lễ mở cửa đình để người dân địa phương và du khách thập phương vào làm lễ dâng hương. Buổi chiều tổ chức lễ tuyên dương con em trong làng có thành tích học tập tốt, những gia đình có nề nếp gia phong, có công với đất nước. Sau đó, đội tế nữ tế khai hội. Lễ phóng noãn được tổ chức vào lúc nửa đêm trên sông Hồng thu hút đông đảo người dân tham gia. Lễ rước hội đình Nhật Tân Chính hội ngày 10/2, đội tế và đội rước kiệu của 10 tổng thực hiện lễ rước Thần xuất cung. Đoàn rước gồm 9 kiệu, dẫn đầu là đội kiệu Long đình thờ thần linh công đồng Thánh đế, tiếp theo là kiệu đức Uy đô Đại vương rồi đến kiệu rước Thánh Mẫu Chính cung Minh Đức, kiệu rước Thánh Bạch Giáp, Hoàng Giáp, Hắc Giáp, Thanh Giáp, Chu Giáp và Tử Giáp. Đoàn rước thực hiện rước kiệu từ đình ra cung Nhật Tân (nơi sinh Linh Lang Đại vương) rồi trở lại đình. Đội rước nước do các thiếu nữ 15-18 tuổi trong làng đảm nhiệm đi thuyền gia ngã 3 sông lấy nước. Nước này được lưu trong đình trong vòng 5 năm. Ngày 11/2, đội tế nam thực hiện tế tạ ơn và giã hội. Đan xem trong hội đình Nhật Tân còn có rất nhiều trò chơi và các tiết mục biểu diễn văn nghệ truyền thống. Hội đình Nhật Tân mang đậm nét văn hóa truyền thống, đậm đà bản sắc dân tộc, thể hiện sự tôn kính với bậc tiền nhân có công với dân, với nước và cầu mong quốc thái dân an.

Related Figures

Hội đình Ngũ Giáp

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/2- 3/2 Âm lịch Lễ hội truyền thống đình Ngũ Giáp được tổ chức từ 01-03/02 âm lịch tại làng Đoài, xã Liên Hà, huyện Đông Anh, Hà Nội. Hội đình Ngũ Giáp là ngày hội cầu an cho muôn nhà, có giá trị tinh thần vô cùng lớn lao với người dân nơi đây. Lễ hội truyền thống đình Ngũ Giáp Đình Ngũ Giáp (còn được gọi là đình Dày hay đình Hạ Trì), thờ Tể tướng Lã Phủ Quân (Lữ Gia) thời Vua Triệu. Theo thần phả của đình, Lã Phủ Quân sinh ra trong gia đình quyền quý, tướng mạo khôi ngô, thông minh hơn người, văn võ song toàn. Sau khi đỗ đạt trong kì thi Hương, ông được Vua Triệu ban chiếu chỉ cho về vùng ngoại ô kinh thành để dạy học cho dân. Đội tế nam thực hiện tế Thánh trong hội đình Ngũ Giáp Khi nhà Hán kéo quân sang xâm lược nước ta, Lã Phủ Quân được triều đình cử cầm quân đánh giặc. Dẫn quân đến trang Hạ Trì (nay là làng Đoài, xã Liên Hà), ông cho tuyển mộ thêm binh lính, lập các tuyến phòng thủ chắc chắn. Sau do thế giặc mạnh không chống nổi, Lữ Gia anh dũng hy sinh. Để tưởng nhớ công đức của ông, người dân trang Hạ Trì đã lập đình thờ phụng và suy tôn ông là Thành Hoàng làng. Hội đình Ngũ Giáp được tổ chức trong 3 ngày, từ 01-03/02 (chính hội 02/02) âm lịch hàng năm để tưởng nhớ công ơn của Thành Hoàng làng Lữ Gia. Hội thu Ngũ Giáp hút rất đông người dân địa phương và du khách thập phương về tham dự. Hội đình Ngũ Giáp diễn ra trong không khí trang nghiêm Bắt đầu từ sáng 01/02, tổ chức lễ bao sái, mộc dục tượng và lễ tế mở cửa đình. Chiều cùng ngày, đội tế nam tiến hành lễ tế, đội tế nữ làm lễ dâng hương tế thánh. Ngày 02/02, chính hội các thôn rước kiệu ra đình. Đội tế nam tiến hành làm lễ tế Thánh. Đến chiều, đội dâng hương nữ làm lễ tế Thánh. Buổi tối, diễn ra nhiều chương trình giao lưu văn hóa, văn nghệ tại sân đình. Ngày 03/02, các thôn rước lễ lên đình và lần lượt vào tế Thánh. Bắt đầu buổi chiều, đội dâng hương nữ của các thôn tiếp tục dâng hương tế Thánh. Đến xế chiều, đội tế nam tiến hành lễ tế giã hội. Trong những ngày diễn ra hội đình Ngũ Giáp, rất nhiều trò chơi dân gian và các chương trình văn nghệ được tổ chức như: hát quan họ, hát chèo, cờ tướng, chọi gà, tổ tôm điểm, bắt vịt...

Lễ hội truyền thống đình Ngũ Giáp Đình Ngũ Giáp (còn được gọi là đình Dày hay đình Hạ Trì), thờ Tể tướng Lã Phủ Quân (Lữ Gia) thời Vua Triệu. Theo thần phả của đình, Lã Phủ Quân sinh ra trong gia đình quyền quý, tướng mạo khôi ngô, thông minh hơn người, văn võ song toàn. Sau khi đỗ đạt trong kì thi Hương, ông được Vua Triệu ban chiếu chỉ cho về vùng ngoại ô kinh thành để dạy học cho dân. Đội tế nam thực hiện tế Thánh trong hội đình Ngũ Giáp Khi nhà Hán kéo quân sang xâm lược nước ta, Lã Phủ Quân được triều đình cử cầm quân đánh giặc. Dẫn quân đến trang Hạ Trì (nay là làng Đoài, xã Liên Hà), ông cho tuyển mộ thêm binh lính, lập các tuyến phòng thủ chắc chắn. Sau do thế giặc mạnh không chống nổi, Lữ Gia anh dũng hy sinh. Để tưởng nhớ công đức của ông, người dân trang Hạ Trì đã lập đình thờ phụng và suy tôn ông là Thành Hoàng làng. Hội đình Ngũ Giáp được tổ chức trong 3 ngày, từ 01-03/02 (chính hội 02/02) âm lịch hàng năm để tưởng nhớ công ơn của Thành Hoàng làng Lữ Gia. Hội thu Ngũ Giáp hút rất đông người dân địa phương và du khách thập phương về tham dự. Hội đình Ngũ Giáp diễn ra trong không khí trang nghiêm Bắt đầu từ sáng 01/02, tổ chức lễ bao sái, mộc dục tượng và lễ tế mở cửa đình. Chiều cùng ngày, đội tế nam tiến hành lễ tế, đội tế nữ làm lễ dâng hương tế thánh. Ngày 02/02, chính hội các thôn rước kiệu ra đình. Đội tế nam tiến hành làm lễ tế Thánh. Đến chiều, đội dâng hương nữ làm lễ tế Thánh. Buổi tối, diễn ra nhiều chương trình giao lưu văn hóa, văn nghệ tại sân đình. Ngày 03/02, các thôn rước lễ lên đình và lần lượt vào tế Thánh. Bắt đầu buổi chiều, đội dâng hương nữ của các thôn tiếp tục dâng hương tế Thánh. Đến xế chiều, đội tế nam tiến hành lễ tế giã hội. Trong những ngày diễn ra hội đình Ngũ Giáp, rất nhiều trò chơi dân gian và các chương trình văn nghệ được tổ chức như: hát quan họ, hát chèo, cờ tướng, chọi gà, tổ tôm điểm, bắt vịt...

Đình Ngũ Giáp (còn được gọi là đình Dày hay đình Hạ Trì), thờ Tể tướng Lã Phủ Quân (Lữ Gia) thời Vua Triệu. Theo thần phả của đình, Lã Phủ Quân sinh ra trong gia đình quyền quý, tướng mạo khôi ngô, thông minh hơn người, văn võ song toàn. Sau khi đỗ đạt trong kì thi Hương, ông được Vua Triệu ban chiếu chỉ cho về vùng ngoại ô kinh thành để dạy học cho dân. Đội tế nam thực hiện tế Thánh trong hội đình Ngũ Giáp Khi nhà Hán kéo quân sang xâm lược nước ta, Lã Phủ Quân được triều đình cử cầm quân đánh giặc. Dẫn quân đến trang Hạ Trì (nay là làng Đoài, xã Liên Hà), ông cho tuyển mộ thêm binh lính, lập các tuyến phòng thủ chắc chắn. Sau do thế giặc mạnh không chống nổi, Lữ Gia anh dũng hy sinh. Để tưởng nhớ công đức của ông, người dân trang Hạ Trì đã lập đình thờ phụng và suy tôn ông là Thành Hoàng làng. Hội đình Ngũ Giáp được tổ chức trong 3 ngày, từ 01-03/02 (chính hội 02/02) âm lịch hàng năm để tưởng nhớ công ơn của Thành Hoàng làng Lữ Gia. Hội thu Ngũ Giáp hút rất đông người dân địa phương và du khách thập phương về tham dự. Hội đình Ngũ Giáp diễn ra trong không khí trang nghiêm Bắt đầu từ sáng 01/02, tổ chức lễ bao sái, mộc dục tượng và lễ tế mở cửa đình. Chiều cùng ngày, đội tế nam tiến hành lễ tế, đội tế nữ làm lễ dâng hương tế thánh. Ngày 02/02, chính hội các thôn rước kiệu ra đình. Đội tế nam tiến hành làm lễ tế Thánh. Đến chiều, đội dâng hương nữ làm lễ tế Thánh. Buổi tối, diễn ra nhiều chương trình giao lưu văn hóa, văn nghệ tại sân đình. Ngày 03/02, các thôn rước lễ lên đình và lần lượt vào tế Thánh. Bắt đầu buổi chiều, đội dâng hương nữ của các thôn tiếp tục dâng hương tế Thánh. Đến xế chiều, đội tế nam tiến hành lễ tế giã hội. Trong những ngày diễn ra hội đình Ngũ Giáp, rất nhiều trò chơi dân gian và các chương trình văn nghệ được tổ chức như: hát quan họ, hát chèo, cờ tướng, chọi gà, tổ tôm điểm, bắt vịt...

Đình Ngũ Giáp (còn được gọi là đình Dày hay đình Hạ Trì), thờ Tể tướng Lã Phủ Quân (Lữ Gia) thời Vua Triệu. Theo thần phả của đình, Lã Phủ Quân sinh ra trong gia đình quyền quý, tướng mạo khôi ngô, thông minh hơn người, văn võ song toàn. Sau khi đỗ đạt trong kì thi Hương, ông được Vua Triệu ban chiếu chỉ cho về vùng ngoại ô kinh thành để dạy học cho dân.

Đội tế nam thực hiện tế Thánh trong hội đình Ngũ Giáp

Khi nhà Hán kéo quân sang xâm lược nước ta, Lã Phủ Quân được triều đình cử cầm quân đánh giặc. Dẫn quân đến trang Hạ Trì (nay là làng Đoài, xã Liên Hà), ông cho tuyển mộ thêm binh lính, lập các tuyến phòng thủ chắc chắn. Sau do thế giặc mạnh không chống nổi, Lữ Gia anh dũng hy sinh. Để tưởng nhớ công đức của ông, người dân trang Hạ Trì đã lập đình thờ phụng và suy tôn ông là Thành Hoàng làng. Hội đình Ngũ Giáp được tổ chức trong 3 ngày, từ 01-03/02 (chính hội 02/02) âm lịch hàng năm để tưởng nhớ công ơn của Thành Hoàng làng Lữ Gia. Hội thu Ngũ Giáp hút rất đông người dân địa phương và du khách thập phương về tham dự. Hội đình Ngũ Giáp diễn ra trong không khí trang nghiêm Bắt đầu từ sáng 01/02, tổ chức lễ bao sái, mộc dục tượng và lễ tế mở cửa đình. Chiều cùng ngày, đội tế nam tiến hành lễ tế, đội tế nữ làm lễ dâng hương tế thánh. Ngày 02/02, chính hội các thôn rước kiệu ra đình. Đội tế nam tiến hành làm lễ tế Thánh. Đến chiều, đội dâng hương nữ làm lễ tế Thánh. Buổi tối, diễn ra nhiều chương trình giao lưu văn hóa, văn nghệ tại sân đình. Ngày 03/02, các thôn rước lễ lên đình và lần lượt vào tế Thánh. Bắt đầu buổi chiều, đội dâng hương nữ của các thôn tiếp tục dâng hương tế Thánh. Đến xế chiều, đội tế nam tiến hành lễ tế giã hội. Trong những ngày diễn ra hội đình Ngũ Giáp, rất nhiều trò chơi dân gian và các chương trình văn nghệ được tổ chức như: hát quan họ, hát chèo, cờ tướng, chọi gà, tổ tôm điểm, bắt vịt...

Khi nhà Hán kéo quân sang xâm lược nước ta, Lã Phủ Quân được triều đình cử cầm quân đánh giặc. Dẫn quân đến trang Hạ Trì (nay là làng Đoài, xã Liên Hà), ông cho tuyển mộ thêm binh lính, lập các tuyến phòng thủ chắc chắn. Sau do thế giặc mạnh không chống nổi, Lữ Gia anh dũng hy sinh. Để tưởng nhớ công đức của ông, người dân trang Hạ Trì đã lập đình thờ phụng và suy tôn ông là Thành Hoàng làng. Hội đình Ngũ Giáp được tổ chức trong 3 ngày, từ 01-03/02 (chính hội 02/02) âm lịch hàng năm để tưởng nhớ công ơn của Thành Hoàng làng Lữ Gia. Hội thu Ngũ Giáp hút rất đông người dân địa phương và du khách thập phương về tham dự. Hội đình Ngũ Giáp diễn ra trong không khí trang nghiêm Bắt đầu từ sáng 01/02, tổ chức lễ bao sái, mộc dục tượng và lễ tế mở cửa đình. Chiều cùng ngày, đội tế nam tiến hành lễ tế, đội tế nữ làm lễ dâng hương tế thánh. Ngày 02/02, chính hội các thôn rước kiệu ra đình. Đội tế nam tiến hành làm lễ tế Thánh. Đến chiều, đội dâng hương nữ làm lễ tế Thánh. Buổi tối, diễn ra nhiều chương trình giao lưu văn hóa, văn nghệ tại sân đình. Ngày 03/02, các thôn rước lễ lên đình và lần lượt vào tế Thánh. Bắt đầu buổi chiều, đội dâng hương nữ của các thôn tiếp tục dâng hương tế Thánh. Đến xế chiều, đội tế nam tiến hành lễ tế giã hội. Trong những ngày diễn ra hội đình Ngũ Giáp, rất nhiều trò chơi dân gian và các chương trình văn nghệ được tổ chức như: hát quan họ, hát chèo, cờ tướng, chọi gà, tổ tôm điểm, bắt vịt...

Related Figures

Lễ hội Phật đản

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/4 Âm lịch Lễ hội Phật đản tại chùa Thạch Khê ở Quảng Nam diễn ra vào ngày 15 tháng Tư âm lịch, tại chùa Thạch Khê ở Quế Sơn. Ngày lễ Phật đàn là một trong 3 ngày lễ lớn trong năm của đạo Phật( Phật đản, Vu lan và Thành đạo). Lễ hội Phật đản tại chùa Thạch Khê ở Quảng Nam Năm 1999, Liên Hiệp Quốc đã chính thức công nhận ngày lễ Phật đản là ngày lễ hội văn hóa tâm linh thế giới. Lễ Phật đản là một trong ba lễ cấu thành Lễ tam hợp mà Liên Hợp Quốc gọi chung là Vesak. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni sinh vào ngày 15 tháng Tư âm lịch năm 624 trước Tây lịch. Ông là thái tử Tất Đạt Đa, dòng họ Cồ Đàm, mặc dù sống trong nhung lụa nhưng thái tử luôn cảm thấy không được tự do. Ông đã quyết định rũ bỏ tất cả để đi theo con đường tu luyện. Trải qua 6 năm tu hành khổ hạnh, ông đã đắc quả vị Phật. Liên hiệp quốc công nhận lễ hội Phật đản là ngày hội tâm linh thế giới Trong ngày hội, chùa Thạch Khê đã tổ chức các hoạt động kể cả tâm linh cũng như truyền thống, với các nghi lễ như tắm phật, an vị Phật... Ngày lễ Phật đản còn có ý nghĩa sâu sắc, giúp con người hướng thiện, tu nhân học Phật. Việc duy trì lễ hội này không chỉ để tướng nhớ tới sự từ bi lớn lao của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni mà còn nhằm mục tiêu hướng thiện. Cũng qua lễ hội này, góp phần đưa Phật giáo tới công chúng, giáo lý đạo Phật không phải là thứ gì đó quá cao siêu, huyền diệu mà con người không với tới được, mà đơn giản chỉ là cách đối nhân xử thế và hoàn thiện về đạo đức con người. Lễ hội Phật đản tại chùa Thạch Khê thu hút rất đông Phật tử khắp nơi về dự

Lễ hội Phật đản tại chùa Thạch Khê ở Quảng Nam Năm 1999, Liên Hiệp Quốc đã chính thức công nhận ngày lễ Phật đản là ngày lễ hội văn hóa tâm linh thế giới. Lễ Phật đản là một trong ba lễ cấu thành Lễ tam hợp mà Liên Hợp Quốc gọi chung là Vesak. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni sinh vào ngày 15 tháng Tư âm lịch năm 624 trước Tây lịch. Ông là thái tử Tất Đạt Đa, dòng họ Cồ Đàm, mặc dù sống trong nhung lụa nhưng thái tử luôn cảm thấy không được tự do. Ông đã quyết định rũ bỏ tất cả để đi theo con đường tu luyện. Trải qua 6 năm tu hành khổ hạnh, ông đã đắc quả vị Phật. Liên hiệp quốc công nhận lễ hội Phật đản là ngày hội tâm linh thế giới Trong ngày hội, chùa Thạch Khê đã tổ chức các hoạt động kể cả tâm linh cũng như truyền thống, với các nghi lễ như tắm phật, an vị Phật... Ngày lễ Phật đản còn có ý nghĩa sâu sắc, giúp con người hướng thiện, tu nhân học Phật. Việc duy trì lễ hội này không chỉ để tướng nhớ tới sự từ bi lớn lao của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni mà còn nhằm mục tiêu hướng thiện. Cũng qua lễ hội này, góp phần đưa Phật giáo tới công chúng, giáo lý đạo Phật không phải là thứ gì đó quá cao siêu, huyền diệu mà con người không với tới được, mà đơn giản chỉ là cách đối nhân xử thế và hoàn thiện về đạo đức con người. Lễ hội Phật đản tại chùa Thạch Khê thu hút rất đông Phật tử khắp nơi về dự

Năm 1999, Liên Hiệp Quốc đã chính thức công nhận ngày lễ Phật đản là ngày lễ hội văn hóa tâm linh thế giới. Lễ Phật đản là một trong ba lễ cấu thành Lễ tam hợp mà Liên Hợp Quốc gọi chung là Vesak.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni sinh vào ngày 15 tháng Tư âm lịch năm 624 trước Tây lịch. Ông là thái tử Tất Đạt Đa, dòng họ Cồ Đàm, mặc dù sống trong nhung lụa nhưng thái tử luôn cảm thấy không được tự do. Ông đã quyết định rũ bỏ tất cả để đi theo con đường tu luyện. Trải qua 6 năm tu hành khổ hạnh, ông đã đắc quả vị Phật.

Liên hiệp quốc công nhận lễ hội Phật đản là ngày hội tâm linh thế giới

Trong ngày hội, chùa Thạch Khê đã tổ chức các hoạt động kể cả tâm linh cũng như truyền thống, với các nghi lễ như tắm phật, an vị Phật... Ngày lễ Phật đản còn có ý nghĩa sâu sắc, giúp con người hướng thiện, tu nhân học Phật. Việc duy trì lễ hội này không chỉ để tướng nhớ tới sự từ bi lớn lao của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni mà còn nhằm mục tiêu hướng thiện. Cũng qua lễ hội này, góp phần đưa Phật giáo tới công chúng, giáo lý đạo Phật không phải là thứ gì đó quá cao siêu, huyền diệu mà con người không với tới được, mà đơn giản chỉ là cách đối nhân xử thế và hoàn thiện về đạo đức con người.

Lễ hội Phật đản tại chùa Thạch Khê thu hút rất đông Phật tử khắp nơi về dự

Related Figures

Lễ hội đêm phố cổ Hội An - Quảng Nam

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 14/1 Âm lịch Lễ hội đêm phố cổ Hội An diễn ra vào ngày 14 tháng Giêng âm lịch hàng tháng, là ngày trăng bắt đầu tròn. Vào đêm ngày 14, người dân Hội An sẽ cùng nhau sống trong cảnh không khí phồn hoa xưa cũ với những thú vui văn hóa của một ngày hội hè dân gian. Lễ hội bắt đầu từ 18h cho đến tận đêm khuya. Ngày hôm đó, cả khi phố cổ Hội An đều rực rỡ ánh đèn lồng, không có tiếng xe chạy, mọi người cùng nhau đi bộ ngắm cảnh giữa lòng phố. Cả người dân địa phương lẫn du khách, người Việt lẫn người nước ngoài sẽ cùng dạo phố và nói những câu chuyện vui. Lễ hội đêm phố cổ Hội An - Quảng Nam Lễ hội thả đèn hoa đăng được rất nhiều du khách thích thú. Đây được xem là thông lệ của phố cổ Hội An từ những năm về đây. Và đây cũng là mục đích chính của đêm hội này. Những chiếc đèn hoa đăng được làm với nhiều màu sắc rực rỡ với giá chỉ từ 2.500-5000 đồng, được bán trên dọc đường theo đoạn sông trung tâm của thành phố. Tại đây, du khách và đặc biệt là giới trẻ sẽ không ngần ngại mua cho mình chiếc đèn hoa đăng đẹp để thả xuống sông với mong ước những điều may mắn sẽ đến với mình. Để lãng mạn hơn nữa, các cặp đôi sẽ thuê một chiếc thuyền nhỏ ngồi dạo trên dòng nước, mang theo từng đèn hoa nhỏ xinh thả xuống lòng sông. Đường phố Hội An lung linh sắc màu trong đêm rằm Khi đi qua bên kia sông, du khách sẽ ngỡ ngàng trước khu phố bán đèn lồng. Với khoảng 10 cửa hàng bán đèn lồng nhưng đã có đầy đủ kiểu dáng và màu sắc khiến du khách như lạc vào cõi mê. Người Hội An đặc biệt hiếu khách và rất thân thiện, chính vì thế mà những món đồ nho nhỏ ở đây cũng có giá rất phải chăng. Đến với lễ hội đèn hoa đăng ở Hội An, du khách sẽ cảm thấy choáng ngợp trước một khung cảnh lung linh màu sắc, và những con người thân thiện. Thả đèn hoa đăng là một việc được nhiều du khách thích thú khi đến đêm rằm

Lễ hội đêm phố cổ Hội An - Quảng Nam Lễ hội thả đèn hoa đăng được rất nhiều du khách thích thú. Đây được xem là thông lệ của phố cổ Hội An từ những năm về đây. Và đây cũng là mục đích chính của đêm hội này. Những chiếc đèn hoa đăng được làm với nhiều màu sắc rực rỡ với giá chỉ từ 2.500-5000 đồng, được bán trên dọc đường theo đoạn sông trung tâm của thành phố. Tại đây, du khách và đặc biệt là giới trẻ sẽ không ngần ngại mua cho mình chiếc đèn hoa đăng đẹp để thả xuống sông với mong ước những điều may mắn sẽ đến với mình. Để lãng mạn hơn nữa, các cặp đôi sẽ thuê một chiếc thuyền nhỏ ngồi dạo trên dòng nước, mang theo từng đèn hoa nhỏ xinh thả xuống lòng sông. Đường phố Hội An lung linh sắc màu trong đêm rằm Khi đi qua bên kia sông, du khách sẽ ngỡ ngàng trước khu phố bán đèn lồng. Với khoảng 10 cửa hàng bán đèn lồng nhưng đã có đầy đủ kiểu dáng và màu sắc khiến du khách như lạc vào cõi mê. Người Hội An đặc biệt hiếu khách và rất thân thiện, chính vì thế mà những món đồ nho nhỏ ở đây cũng có giá rất phải chăng. Đến với lễ hội đèn hoa đăng ở Hội An, du khách sẽ cảm thấy choáng ngợp trước một khung cảnh lung linh màu sắc, và những con người thân thiện.

Lễ hội thả đèn hoa đăng được rất nhiều du khách thích thú. Đây được xem là thông lệ của phố cổ Hội An từ những năm về đây. Và đây cũng là mục đích chính của đêm hội này. Những chiếc đèn hoa đăng được làm với nhiều màu sắc rực rỡ với giá chỉ từ 2.500-5000 đồng, được bán trên dọc đường theo đoạn sông trung tâm của thành phố. Tại đây, du khách và đặc biệt là giới trẻ sẽ không ngần ngại mua cho mình chiếc đèn hoa đăng đẹp để thả xuống sông với mong ước những điều may mắn sẽ đến với mình. Để lãng mạn hơn nữa, các cặp đôi sẽ thuê một chiếc thuyền nhỏ ngồi dạo trên dòng nước, mang theo từng đèn hoa nhỏ xinh thả xuống lòng sông.

Đường phố Hội An lung linh sắc màu trong đêm rằm

Khi đi qua bên kia sông, du khách sẽ ngỡ ngàng trước khu phố bán đèn lồng. Với khoảng 10 cửa hàng bán đèn lồng nhưng đã có đầy đủ kiểu dáng và màu sắc khiến du khách như lạc vào cõi mê. Người Hội An đặc biệt hiếu khách và rất thân thiện, chính vì thế mà những món đồ nho nhỏ ở đây cũng có giá rất phải chăng.

Đến với lễ hội đèn hoa đăng ở Hội An, du khách sẽ cảm thấy choáng ngợp trước một khung cảnh lung linh màu sắc, và những con người thân thiện.

Thả đèn hoa đăng là một việc được nhiều du khách thích thú khi đến đêm rằm

Related Figures

Lễ tết Nguyên Tiêu

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 16/1 Âm lịch Lễ tết Nguyên Tiêu tại Quảng Nam diễn ra vào ngày 16 tháng Giêng âm lịch, tại hội quán Triều Châu và Quảng Triệu. Đây là một lễ cúng đầu năm của hai bang là Quảng Đông và Triều Châu của cộng đồng người Hoa tại Triều Châu. Lễ tết Nguyên Tiêu tại Quảng Nam Lễ tết Nguyên Tiêu cũng là một lễ tết quan trọng ở Hội An, đặc biệt đối với người Hoa sinh sống tại Hội An. Nguyên tiêu là đêm rằm đầu tiên của năm mới. Người Trung Hoa tương truyền, lễ tết Nguyên Tiêu còn được gọi là lễ tết Thượng Nguyên. Xưa kia, vào đêm rằm đầu tiên của năm này, vua sẽ mời các Trạng Nguyên đến dự tiệc, thưởng trăng tại Kinh đô. Lễ tết Nguyên Tiêu còn được gọi là lễ hội đèn lồng Đối với người Hoa ở Hội An, lễ tết Nguyên Tiêu không chỉ là dịp giao lưu bạn bè, hay thú vui thưởng ngoạn mà đây là một lễ hội mang ý nghĩa tâm linh to lớn, cúng các vị tiên hiền và cầu mong cuộc sống no đủ, thái bình. Trong mỗi người Hoa, ngày lễ tết Nguyên Tiêu còn được xem là ngày quan trời ban bố phước lành đến mỗi người dân trên thế gian, vậy nên phải tổ chức lễ hội để cầu phước lành. Đồng thời, đây cũng là dịp để người dân có những giây phút thư giãn, vui vẻ trước khi bước vào một vụ mùa mới. Lễ tết Nguyên Tiêu là lễ hội mang ý nghĩa tâm linh của cộng đồng người Hoa đang sinh sống tại Hội An Tết Nguyên Tiêu còn được gọi là lễ hội lồng đèn. Ngoài các nghi lễ truyền thống ra thì lễ tết Nguyên Tiêu ở Quảng Nam còn hấp dẫn ở tiết mục múa lân, chơi bài chòi. Hàng năm, lễ hội này đều thu hút một lượng rất đông khách đến xem lễ hội.

Lễ tết Nguyên Tiêu tại Quảng Nam Lễ tết Nguyên Tiêu cũng là một lễ tết quan trọng ở Hội An, đặc biệt đối với người Hoa sinh sống tại Hội An. Nguyên tiêu là đêm rằm đầu tiên của năm mới. Người Trung Hoa tương truyền, lễ tết Nguyên Tiêu còn được gọi là lễ tết Thượng Nguyên. Xưa kia, vào đêm rằm đầu tiên của năm này, vua sẽ mời các Trạng Nguyên đến dự tiệc, thưởng trăng tại Kinh đô. Lễ tết Nguyên Tiêu còn được gọi là lễ hội đèn lồng Đối với người Hoa ở Hội An, lễ tết Nguyên Tiêu không chỉ là dịp giao lưu bạn bè, hay thú vui thưởng ngoạn mà đây là một lễ hội mang ý nghĩa tâm linh to lớn, cúng các vị tiên hiền và cầu mong cuộc sống no đủ, thái bình. Trong mỗi người Hoa, ngày lễ tết Nguyên Tiêu còn được xem là ngày quan trời ban bố phước lành đến mỗi người dân trên thế gian, vậy nên phải tổ chức lễ hội để cầu phước lành. Đồng thời, đây cũng là dịp để người dân có những giây phút thư giãn, vui vẻ trước khi bước vào một vụ mùa mới. Lễ tết Nguyên Tiêu là lễ hội mang ý nghĩa tâm linh của cộng đồng người Hoa đang sinh sống tại Hội An Tết Nguyên Tiêu còn được gọi là lễ hội lồng đèn. Ngoài các nghi lễ truyền thống ra thì lễ tết Nguyên Tiêu ở Quảng Nam còn hấp dẫn ở tiết mục múa lân, chơi bài chòi. Hàng năm, lễ hội này đều thu hút một lượng rất đông khách đến xem lễ hội.

Lễ tết Nguyên Tiêu cũng là một lễ tết quan trọng ở Hội An, đặc biệt đối với người Hoa sinh sống tại Hội An. Nguyên tiêu là đêm rằm đầu tiên của năm mới. Người Trung Hoa tương truyền, lễ tết Nguyên Tiêu còn được gọi là lễ tết Thượng Nguyên. Xưa kia, vào đêm rằm đầu tiên của năm này, vua sẽ mời các Trạng Nguyên đến dự tiệc, thưởng trăng tại Kinh đô.

Lễ tết Nguyên Tiêu còn được gọi là lễ hội đèn lồng

Đối với người Hoa ở Hội An, lễ tết Nguyên Tiêu không chỉ là dịp giao lưu bạn bè, hay thú vui thưởng ngoạn mà đây là một lễ hội mang ý nghĩa tâm linh to lớn, cúng các vị tiên hiền và cầu mong cuộc sống no đủ, thái bình. Trong mỗi người Hoa, ngày lễ tết Nguyên Tiêu còn được xem là ngày quan trời ban bố phước lành đến mỗi người dân trên thế gian, vậy nên phải tổ chức lễ hội để cầu phước lành. Đồng thời, đây cũng là dịp để người dân có những giây phút thư giãn, vui vẻ trước khi bước vào một vụ mùa mới.

Lễ tết Nguyên Tiêu là lễ hội mang ý nghĩa tâm linh của cộng đồng người Hoa đang sinh sống tại Hội An

Tết Nguyên Tiêu còn được gọi là lễ hội lồng đèn. Ngoài các nghi lễ truyền thống ra thì lễ tết Nguyên Tiêu ở Quảng Nam còn hấp dẫn ở tiết mục múa lân, chơi bài chòi. Hàng năm, lễ hội này đều thu hút một lượng rất đông khách đến xem lễ hội.

Related Figures

Hội đình làng Trung Kính Thượng

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/2- 17/2 Âm lịch Đình Trung Kính Thượng là ngôi đình cổ nằm phía tây nam kinh thành cũ, là niềm tự hào của nhân dân hai làng Trung Kính. Đình Trung Kính Thượng ghi dấu ấn một thời dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Lễ hội đình Trung Kính Thượng diễn ra trong không khí trang nghiêm Đình Trung Kính Thượng thờ Đức Quốc Vương Đại Thần Hùng Công. Ngài sinh ngày 14/2 năm Đinh Mùi, thông minh, văn võ song toàn, thuộc dòng dõi Tôn Thất Hùng Vương. Ngài là lạc tướng Hùng Triều, cai quản vùng Ô Châu. Khi giặc kéo quân xâm lược nước ta, Ngài được lệnh đem quân đi phòng bị, khi qua làng Kính Chủ được nhân dân đón tiếp nồng hậu, lại có thêm 142 trai tráng trong làng xin tòng quân chống giặc. Nhận thấy địa hình thuận lợi, Ngài truyền quân dân thiết lập đồn trại tại đây. Giặc từ phương Bắc kéo sang, Hùng Vương ban lệnh cho Phò mã Tản Viên và Ngài cầm quân đánh giặc. Chỉ một trận chiến đã đẩy lùi được quân phương Bắc, Ngai được vua Hùng phong là Bảo Quốc Hầu, lập dinh ở đất Kính Chủ. Một thời gian sau, giặc phương Bắc lại kéo sang xâm lấn, Ngài và Phò mã Tản Viên lại dẫn quân đánh giặc. Đại thắng thu được ấn tín tướng giặc, Ngài được vua Hùng sắc phong Bảo Quốc Công. Ngày 12/10 khi về tới đất Hoan Châu, Bảo Quốc Công lâm bệnh qua đời. Vua Hùng vô cùng thương tiếc, cử người về hành lễ chí tế, ban cho mũ áo phụng thờ, phong là Quốc Vương Đại Thần. Cho nhân dân lập đền thờ tại đồn doanh gọi là Tối Linh Từ thờ phụng muôn đời. Các triều đại sau này ban cho Ngài 14 đạo sắc phong. Hội đình Trung Kính Thượng với nhiều nghi lễ trọng thể Hội đình Trung Kính Thượng diễn ra trong 7 ngày với nhiều nghi lễ trọng thể mang màu sắc truyền thống dân tộc. Đội tế dâng hương và tế lễ hội đình Trung Kính Thượng Ngày 10/2: Buổi sáng, bô lão trong làng làm lễ Mộc dục, bao sái, sau đó là lễ phong áo Thánh. Buổi chiều biểu diễn tiết mục văn nghệ truyền thống và các trò hội. Ngày 11/2: Buổi sáng làm lễ tả văn. Buổi chiều lễ tế yết sau đó đoàn lễ đi thắp hương ở Đài tưởng niệm các liệt sĩ. Ngày 12/2: Buổi sáng làm lễ tế nhập sau đó là dân chúng vào lễ thánh và các tiết mục biểu diễn văn nghệ truyền thống. Ngày 13/2: Các làng lân cận làm lễ dâng hương, lễ Thánh. Ngày 14/2 chính hội bắt đầu từ 3h sáng với màn lễ tế đản của các cụ bô lão trong làng trong không khí trang nghiêm. Các dòng họ và các gia đình thực hiện dâng lễ Thánh. Tiếp đó nhóm tế nữ dâng hương . Buổi chiều nhân dân và du khách thập phương dâng hương lễ Thánh và tham gia các trò chơi dân gian và biểu diễn văn nghệ của làng. Ngày 15/2: Buổi sáng bắt đầu lễ tế xuất do đội tế của làng thực hiện. Ngày 16/2: Là ngày cuối cùng của lễ hội đình Trung Kinh Thượng, diễn ra với lễ giải y và hạ cờ hội do các cụ bô lão trong đội tế nam và tế nữ thực hiện. Trong những ngày diễn ra hội đình Trung Kính Thượng có các tiết mục văn nghệ của dân làng biểu diễn và các trò chơi hấp dẫn do làng tổ chức như hát quan họ, hội thi cờ tướng, chọi gà …

Lễ hội đình Trung Kính Thượng diễn ra trong không khí trang nghiêm Đình Trung Kính Thượng thờ Đức Quốc Vương Đại Thần Hùng Công. Ngài sinh ngày 14/2 năm Đinh Mùi, thông minh, văn võ song toàn, thuộc dòng dõi Tôn Thất Hùng Vương. Ngài là lạc tướng Hùng Triều, cai quản vùng Ô Châu. Khi giặc kéo quân xâm lược nước ta, Ngài được lệnh đem quân đi phòng bị, khi qua làng Kính Chủ được nhân dân đón tiếp nồng hậu, lại có thêm 142 trai tráng trong làng xin tòng quân chống giặc. Nhận thấy địa hình thuận lợi, Ngài truyền quân dân thiết lập đồn trại tại đây. Giặc từ phương Bắc kéo sang, Hùng Vương ban lệnh cho Phò mã Tản Viên và Ngài cầm quân đánh giặc. Chỉ một trận chiến đã đẩy lùi được quân phương Bắc, Ngai được vua Hùng phong là Bảo Quốc Hầu, lập dinh ở đất Kính Chủ. Một thời gian sau, giặc phương Bắc lại kéo sang xâm lấn, Ngài và Phò mã Tản Viên lại dẫn quân đánh giặc. Đại thắng thu được ấn tín tướng giặc, Ngài được vua Hùng sắc phong Bảo Quốc Công. Ngày 12/10 khi về tới đất Hoan Châu, Bảo Quốc Công lâm bệnh qua đời. Vua Hùng vô cùng thương tiếc, cử người về hành lễ chí tế, ban cho mũ áo phụng thờ, phong là Quốc Vương Đại Thần. Cho nhân dân lập đền thờ tại đồn doanh gọi là Tối Linh Từ thờ phụng muôn đời. Các triều đại sau này ban cho Ngài 14 đạo sắc phong. Hội đình Trung Kính Thượng với nhiều nghi lễ trọng thể Hội đình Trung Kính Thượng diễn ra trong 7 ngày với nhiều nghi lễ trọng thể mang màu sắc truyền thống dân tộc. Đội tế dâng hương và tế lễ hội đình Trung Kính Thượng Ngày 10/2: Buổi sáng, bô lão trong làng làm lễ Mộc dục, bao sái, sau đó là lễ phong áo Thánh. Buổi chiều biểu diễn tiết mục văn nghệ truyền thống và các trò hội. Ngày 11/2: Buổi sáng làm lễ tả văn. Buổi chiều lễ tế yết sau đó đoàn lễ đi thắp hương ở Đài tưởng niệm các liệt sĩ. Ngày 12/2: Buổi sáng làm lễ tế nhập sau đó là dân chúng vào lễ thánh và các tiết mục biểu diễn văn nghệ truyền thống. Ngày 13/2: Các làng lân cận làm lễ dâng hương, lễ Thánh. Ngày 14/2 chính hội bắt đầu từ 3h sáng với màn lễ tế đản của các cụ bô lão trong làng trong không khí trang nghiêm. Các dòng họ và các gia đình thực hiện dâng lễ Thánh. Tiếp đó nhóm tế nữ dâng hương . Buổi chiều nhân dân và du khách thập phương dâng hương lễ Thánh và tham gia các trò chơi dân gian và biểu diễn văn nghệ của làng. Ngày 15/2: Buổi sáng bắt đầu lễ tế xuất do đội tế của làng thực hiện. Ngày 16/2: Là ngày cuối cùng của lễ hội đình Trung Kinh Thượng, diễn ra với lễ giải y và hạ cờ hội do các cụ bô lão trong đội tế nam và tế nữ thực hiện. Trong những ngày diễn ra hội đình Trung Kính Thượng có các tiết mục văn nghệ của dân làng biểu diễn và các trò chơi hấp dẫn do làng tổ chức như hát quan họ, hội thi cờ tướng, chọi gà …

Đình Trung Kính Thượng thờ Đức Quốc Vương Đại Thần Hùng Công. Ngài sinh ngày 14/2 năm Đinh Mùi, thông minh, văn võ song toàn, thuộc dòng dõi Tôn Thất Hùng Vương. Ngài là lạc tướng Hùng Triều, cai quản vùng Ô Châu. Khi giặc kéo quân xâm lược nước ta, Ngài được lệnh đem quân đi phòng bị, khi qua làng Kính Chủ được nhân dân đón tiếp nồng hậu, lại có thêm 142 trai tráng trong làng xin tòng quân chống giặc. Nhận thấy địa hình thuận lợi, Ngài truyền quân dân thiết lập đồn trại tại đây. Giặc từ phương Bắc kéo sang, Hùng Vương ban lệnh cho Phò mã Tản Viên và Ngài cầm quân đánh giặc. Chỉ một trận chiến đã đẩy lùi được quân phương Bắc, Ngai được vua Hùng phong là Bảo Quốc Hầu, lập dinh ở đất Kính Chủ. Một thời gian sau, giặc phương Bắc lại kéo sang xâm lấn, Ngài và Phò mã Tản Viên lại dẫn quân đánh giặc. Đại thắng thu được ấn tín tướng giặc, Ngài được vua Hùng sắc phong Bảo Quốc Công. Ngày 12/10 khi về tới đất Hoan Châu, Bảo Quốc Công lâm bệnh qua đời. Vua Hùng vô cùng thương tiếc, cử người về hành lễ chí tế, ban cho mũ áo phụng thờ, phong là Quốc Vương Đại Thần. Cho nhân dân lập đền thờ tại đồn doanh gọi là Tối Linh Từ thờ phụng muôn đời. Các triều đại sau này ban cho Ngài 14 đạo sắc phong.

Hội đình Trung Kính Thượng với nhiều nghi lễ trọng thể

Hội đình Trung Kính Thượng diễn ra trong 7 ngày với nhiều nghi lễ trọng thể mang màu sắc truyền thống dân tộc.

Đội tế dâng hương và tế lễ hội đình Trung Kính Thượng

Ngày 10/2: Buổi sáng, bô lão trong làng làm lễ Mộc dục, bao sái, sau đó là lễ phong áo Thánh. Buổi chiều biểu diễn tiết mục văn nghệ truyền thống và các trò hội. Ngày 11/2: Buổi sáng làm lễ tả văn. Buổi chiều lễ tế yết sau đó đoàn lễ đi thắp hương ở Đài tưởng niệm các liệt sĩ. Ngày 12/2: Buổi sáng làm lễ tế nhập sau đó là dân chúng vào lễ thánh và các tiết mục biểu diễn văn nghệ truyền thống. Ngày 13/2: Các làng lân cận làm lễ dâng hương, lễ Thánh. Ngày 14/2 chính hội bắt đầu từ 3h sáng với màn lễ tế đản của các cụ bô lão trong làng trong không khí trang nghiêm. Các dòng họ và các gia đình thực hiện dâng lễ Thánh. Tiếp đó nhóm tế nữ dâng hương . Buổi chiều nhân dân và du khách thập phương dâng hương lễ Thánh và tham gia các trò chơi dân gian và biểu diễn văn nghệ của làng. Ngày 15/2: Buổi sáng bắt đầu lễ tế xuất do đội tế của làng thực hiện. Ngày 16/2: Là ngày cuối cùng của lễ hội đình Trung Kinh Thượng, diễn ra với lễ giải y và hạ cờ hội do các cụ bô lão trong đội tế nam và tế nữ thực hiện. Trong những ngày diễn ra hội đình Trung Kính Thượng có các tiết mục văn nghệ của dân làng biểu diễn và các trò chơi hấp dẫn do làng tổ chức như hát quan họ, hội thi cờ tướng, chọi gà …

Related Figures

Lễ vía Bà Thiên Hậu

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 23/3 Âm lịch Lễ vía Bà Thiên Hậu là một lễ hội truyền thống của người Hoa đang sinh sống ở Hội An, Quảng Nam. Hội được tổ chức vào ngày 23 tháng Ba âm lịch, tại quán Phúc Kiến và Ngũ Bang. Đây là lễ hội cúng bà Thiên hậu, là người được người dân suy tôn thành thánh, là người đã cứu trợ nhiều tàu thuyền mỗi khi gặp nạn trên biển. Lễ vía Bà Thiên Hậu ở Quảng Nam Bà Thiên hậu là người Phúc Kiến - Trung Quốc, sống dưới thời nhà Tống. Bà nổi tiếng là người có tài đoán mưa, gió, bão lụt, giúp người dân tránh được cơn nguy hiểm, vậy nên được người dân suy tôn thành vị thánh. Lễ hội vía Bà Thiên Hậu được người Hoa kiều đang sinh sống tại thành phố Hội An tổ chức tại Hội quán Phúc Kiến và Ngũ Bang vào ngày 23 tháng 3 hàng năm. Đến nay, lễ hội này đã trở thành một sợi dây gắn kết tình đoàn kết giữa người Việt Nam và người Hoa đang sinh sống tại Việt Nam. Nhiều mâm lễ xếp ngay ngắn để dâng lên bà Thiên Hậu Lễ hội được chia thành hai phần, phần lễ và phần hội. Phần lễ gồm các nghi lễ truyền thống của người Hoa. Sau đó là phần hội với múa lân, xin xăm. từ ngày 22, ban trị sự của Hội quá đã vận động người dọn dẹp vệ sinh, trang hoàng Hội quán, chọn một số người đại diện để làm lễ mộc dục. Ngày 23 là ngày lễ chính thức. Ban trị sự và một số thành viên khác sẽ thực hiện các công việc cúng tế. Lễ vật cúng bao gồm: heo quay, bộ tam sênh gồm cá-thịt-trứng, bánh bao Phúc Kiến, vịt tiềm bát bửu, bún xào Phước Kiến, hoa quả, hương đèn, đồ vàng mã... Lễ vía Bà Thiên Hậu là lễ hội của người Hoa tại Quảng Nam Lễ hội vía Thiên Hậu ở Quảng Nam là một lễ hội truyền thống của cộng đồng người Hoa sinh sống tại phố cổ Hội An. Đây cũng được xem là một lễ hội mang đậm chất văn hóa Trung Hoa, đã làm phong phú hơn các hoạt động lễ hội ở thành phố Hội An. Vì vậy, lễ hội này cũng cần được duy tri và phát huy để đang dạng, và phong phú hơn di sản văn hóa phi vật thể của Hội An.

Lễ vía Bà Thiên Hậu ở Quảng Nam Bà Thiên hậu là người Phúc Kiến - Trung Quốc, sống dưới thời nhà Tống. Bà nổi tiếng là người có tài đoán mưa, gió, bão lụt, giúp người dân tránh được cơn nguy hiểm, vậy nên được người dân suy tôn thành vị thánh. Lễ hội vía Bà Thiên Hậu được người Hoa kiều đang sinh sống tại thành phố Hội An tổ chức tại Hội quán Phúc Kiến và Ngũ Bang vào ngày 23 tháng 3 hàng năm. Đến nay, lễ hội này đã trở thành một sợi dây gắn kết tình đoàn kết giữa người Việt Nam và người Hoa đang sinh sống tại Việt Nam. Nhiều mâm lễ xếp ngay ngắn để dâng lên bà Thiên Hậu Lễ hội được chia thành hai phần, phần lễ và phần hội. Phần lễ gồm các nghi lễ truyền thống của người Hoa. Sau đó là phần hội với múa lân, xin xăm. từ ngày 22, ban trị sự của Hội quá đã vận động người dọn dẹp vệ sinh, trang hoàng Hội quán, chọn một số người đại diện để làm lễ mộc dục. Ngày 23 là ngày lễ chính thức. Ban trị sự và một số thành viên khác sẽ thực hiện các công việc cúng tế. Lễ vật cúng bao gồm: heo quay, bộ tam sênh gồm cá-thịt-trứng, bánh bao Phúc Kiến, vịt tiềm bát bửu, bún xào Phước Kiến, hoa quả, hương đèn, đồ vàng mã... Lễ vía Bà Thiên Hậu là lễ hội của người Hoa tại Quảng Nam Lễ hội vía Thiên Hậu ở Quảng Nam là một lễ hội truyền thống của cộng đồng người Hoa sinh sống tại phố cổ Hội An. Đây cũng được xem là một lễ hội mang đậm chất văn hóa Trung Hoa, đã làm phong phú hơn các hoạt động lễ hội ở thành phố Hội An. Vì vậy, lễ hội này cũng cần được duy tri và phát huy để đang dạng, và phong phú hơn di sản văn hóa phi vật thể của Hội An.

Bà Thiên hậu là người Phúc Kiến - Trung Quốc, sống dưới thời nhà Tống. Bà nổi tiếng là người có tài đoán mưa, gió, bão lụt, giúp người dân tránh được cơn nguy hiểm, vậy nên được người dân suy tôn thành vị thánh. Lễ hội vía Bà Thiên Hậu được người Hoa kiều đang sinh sống tại thành phố Hội An tổ chức tại Hội quán Phúc Kiến và Ngũ Bang vào ngày 23 tháng 3 hàng năm. Đến nay, lễ hội này đã trở thành một sợi dây gắn kết tình đoàn kết giữa người Việt Nam và người Hoa đang sinh sống tại Việt Nam. Nhiều mâm lễ xếp ngay ngắn để dâng lên bà Thiên Hậu Lễ hội được chia thành hai phần, phần lễ và phần hội. Phần lễ gồm các nghi lễ truyền thống của người Hoa. Sau đó là phần hội với múa lân, xin xăm. từ ngày 22, ban trị sự của Hội quá đã vận động người dọn dẹp vệ sinh, trang hoàng Hội quán, chọn một số người đại diện để làm lễ mộc dục. Ngày 23 là ngày lễ chính thức. Ban trị sự và một số thành viên khác sẽ thực hiện các công việc cúng tế. Lễ vật cúng bao gồm: heo quay, bộ tam sênh gồm cá-thịt-trứng, bánh bao Phúc Kiến, vịt tiềm bát bửu, bún xào Phước Kiến, hoa quả, hương đèn, đồ vàng mã...

Bà Thiên hậu là người Phúc Kiến - Trung Quốc, sống dưới thời nhà Tống. Bà nổi tiếng là người có tài đoán mưa, gió, bão lụt, giúp người dân tránh được cơn nguy hiểm, vậy nên được người dân suy tôn thành vị thánh.

Lễ hội vía Bà Thiên Hậu được người Hoa kiều đang sinh sống tại thành phố Hội An tổ chức tại Hội quán Phúc Kiến và Ngũ Bang vào ngày 23 tháng 3 hàng năm. Đến nay, lễ hội này đã trở thành một sợi dây gắn kết tình đoàn kết giữa người Việt Nam và người Hoa đang sinh sống tại Việt Nam.

Nhiều mâm lễ xếp ngay ngắn để dâng lên bà Thiên Hậu

Lễ hội được chia thành hai phần, phần lễ và phần hội. Phần lễ gồm các nghi lễ truyền thống của người Hoa. Sau đó là phần hội với múa lân, xin xăm. từ ngày 22, ban trị sự của Hội quá đã vận động người dọn dẹp vệ sinh, trang hoàng Hội quán, chọn một số người đại diện để làm lễ mộc dục. Ngày 23 là ngày lễ chính thức. Ban trị sự và một số thành viên khác sẽ thực hiện các công việc cúng tế. Lễ vật cúng bao gồm: heo quay, bộ tam sênh gồm cá-thịt-trứng, bánh bao Phúc Kiến, vịt tiềm bát bửu, bún xào Phước Kiến, hoa quả, hương đèn, đồ vàng mã...

Lễ hội được chia thành hai phần, phần lễ và phần hội. Phần lễ gồm các nghi lễ truyền thống của người Hoa. Sau đó là phần hội với múa lân, xin xăm. từ ngày 22, ban trị sự của Hội quá đã vận động người dọn dẹp vệ sinh, trang hoàng Hội quán, chọn một số người đại diện để làm lễ mộc dục. Ngày 23 là ngày lễ chính thức. Ban trị sự và một số thành viên khác sẽ thực hiện các công việc cúng tế. Lễ vật cúng bao gồm: heo quay, bộ tam sênh gồm cá-thịt-trứng, bánh bao Phúc Kiến, vịt tiềm bát bửu, bún xào Phước Kiến, hoa quả, hương đèn, đồ vàng mã...

Lễ vía Bà Thiên Hậu là lễ hội của người Hoa tại Quảng Nam

Lễ hội vía Thiên Hậu ở Quảng Nam là một lễ hội truyền thống của cộng đồng người Hoa sinh sống tại phố cổ Hội An. Đây cũng được xem là một lễ hội mang đậm chất văn hóa Trung Hoa, đã làm phong phú hơn các hoạt động lễ hội ở thành phố Hội An. Vì vậy, lễ hội này cũng cần được duy tri và phát huy để đang dạng, và phong phú hơn di sản văn hóa phi vật thể của Hội An.

Related Figures

Hội rước Thần Nông

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/2- 1/3 Âm lịch Hội rước Thần Nông ở Quảng Nam diễn ra vào ngày mồng 1 tháng Ba âm lịch hàng năm, tại thành phố Hội An. Đây được xem là ngày hội của trẻ chăn râu, lễ rước và cầu thần nông cho mùa màng tươi tốt, mưa thuận gió hòa. Hội rước Thần Nông ở Quảng Nam Hội rước Thần Nông còn gọi là lễ tế vua Thần Nông có ý nghĩa cầu cho mùa mang tươi tốt, nông nghiệp phát triển. Mục đồng tức là Vua Thần Nông, hình mục đồng và con trâu trên các cuốn lịch cổ hàng năm đều thay đổi hàng năm, tuy theo sự ước tính về mùa màng năm đó. Năm nào ước tính được mùa thì năm đó Thần Nông có giày dép đầy đủ, còn năm nào mua màng kém hơn thì Thần Nông chỉ đi giáy một chân, ý nghĩa là vội vàng hấp tấp. Hội rước Thần Nông còn được xem là ngày hội của trẻ chăn trâu Trước đây, theo lệ thì hội rước Thần Nông chỉ được tổ chức vào các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu, tức là cách 3 năm mới tổ chức một lần. Sau đó lại dãn ra, 6 năm mới tổ chức 1 lần, cuối cùng là 12 năm mới tổ chức một lần. Năm 1936 là năm cuối cùng tổ chức. Bắt đầu từ hạ tuần tháng 3 âm lịch, khi mùa vụ đã hoàn tất cũng là lúc sắp đặt cho lễ hội. Ngoài việc chuẩn bị các lễ tế thì người dân trong làng còn phải chuẩn bị cổ kiệu hai đòn khiêng có giăng hoa để rước kiệu. Trong ngày hội rước Thần Nông người dân cầu cho mùa mang tươi tốt Sáng ngày 30 sẽ bắt đầu lễ rước. Lễ rước diễn ra từ sáng tinh mơ ngày ở giữa đình thần. Sau khi dâng hương, khấn lễ, Trùm Mục sẽ tiến bào hậu tẩm khấn vái, cung kính thỉnh bài vị thần nông rồi mang tới đặt vào trong kiệu. Đoàn người rước kệu có chiêng trống, có cờ xí xếp hàng đâu vào đó.

Hội rước Thần Nông ở Quảng Nam Hội rước Thần Nông còn gọi là lễ tế vua Thần Nông có ý nghĩa cầu cho mùa mang tươi tốt, nông nghiệp phát triển. Mục đồng tức là Vua Thần Nông, hình mục đồng và con trâu trên các cuốn lịch cổ hàng năm đều thay đổi hàng năm, tuy theo sự ước tính về mùa màng năm đó. Năm nào ước tính được mùa thì năm đó Thần Nông có giày dép đầy đủ, còn năm nào mua màng kém hơn thì Thần Nông chỉ đi giáy một chân, ý nghĩa là vội vàng hấp tấp. Hội rước Thần Nông còn được xem là ngày hội của trẻ chăn trâu Trước đây, theo lệ thì hội rước Thần Nông chỉ được tổ chức vào các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu, tức là cách 3 năm mới tổ chức một lần. Sau đó lại dãn ra, 6 năm mới tổ chức 1 lần, cuối cùng là 12 năm mới tổ chức một lần. Năm 1936 là năm cuối cùng tổ chức. Bắt đầu từ hạ tuần tháng 3 âm lịch, khi mùa vụ đã hoàn tất cũng là lúc sắp đặt cho lễ hội. Ngoài việc chuẩn bị các lễ tế thì người dân trong làng còn phải chuẩn bị cổ kiệu hai đòn khiêng có giăng hoa để rước kiệu.

Hội rước Thần Nông còn gọi là lễ tế vua Thần Nông có ý nghĩa cầu cho mùa mang tươi tốt, nông nghiệp phát triển. Mục đồng tức là Vua Thần Nông, hình mục đồng và con trâu trên các cuốn lịch cổ hàng năm đều thay đổi hàng năm, tuy theo sự ước tính về mùa màng năm đó. Năm nào ước tính được mùa thì năm đó Thần Nông có giày dép đầy đủ, còn năm nào mua màng kém hơn thì Thần Nông chỉ đi giáy một chân, ý nghĩa là vội vàng hấp tấp.

Hội rước Thần Nông còn được xem là ngày hội của trẻ chăn trâu Trước đây, theo lệ thì hội rước Thần Nông chỉ được tổ chức vào các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu, tức là cách 3 năm mới tổ chức một lần. Sau đó lại dãn ra, 6 năm mới tổ chức 1 lần, cuối cùng là 12 năm mới tổ chức một lần. Năm 1936 là năm cuối cùng tổ chức. Bắt đầu từ hạ tuần tháng 3 âm lịch, khi mùa vụ đã hoàn tất cũng là lúc sắp đặt cho lễ hội. Ngoài việc chuẩn bị các lễ tế thì người dân trong làng còn phải chuẩn bị cổ kiệu hai đòn khiêng có giăng hoa để rước kiệu.

Trước đây, theo lệ thì hội rước Thần Nông chỉ được tổ chức vào các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu, tức là cách 3 năm mới tổ chức một lần. Sau đó lại dãn ra, 6 năm mới tổ chức 1 lần, cuối cùng là 12 năm mới tổ chức một lần. Năm 1936 là năm cuối cùng tổ chức.

Bắt đầu từ hạ tuần tháng 3 âm lịch, khi mùa vụ đã hoàn tất cũng là lúc sắp đặt cho lễ hội. Ngoài việc chuẩn bị các lễ tế thì người dân trong làng còn phải chuẩn bị cổ kiệu hai đòn khiêng có giăng hoa để rước kiệu.

Trong ngày hội rước Thần Nông người dân cầu cho mùa mang tươi tốt

Sáng ngày 30 sẽ bắt đầu lễ rước. Lễ rước diễn ra từ sáng tinh mơ ngày ở giữa đình thần. Sau khi dâng hương, khấn lễ, Trùm Mục sẽ tiến bào hậu tẩm khấn vái, cung kính thỉnh bài vị thần nông rồi mang tới đặt vào trong kiệu. Đoàn người rước kệu có chiêng trống, có cờ xí xếp hàng đâu vào đó.

Related Figures

Hội đình La Dương

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/1- 15/1 Âm lịch Làng La Dương mở hội truyền thống trịnh trọng và trang nghiêm ngày 10-15/1 âm lịch (chính hội 11/1). Trong những ngày diễn ra lễ hội, dân làng nô nức chẩy hội để tưởng nhớ công đức tam vị Thành Hoàng Minh Tuất Đại Vương. Rực rỡ cờ hoa hội đình La Dương Đình La Dương thuộc làng La Dương, xã Dương Nội, huyện Hoài Đức, Hà Nội được xây dựng từ thời Hùng vương thứ 17. Theo bản thần tích còn ghi lại đình: một cặp vợ chồng huyện Kim Bảng làm nghề đánh cá trên sông, tuổi đã cao nhưng vẫn chưa có con. Nghe ở La Dương có chùa Thiên Vũ linh thiêng, ông bà đến đây cầu tự. Trở về nhà, người vợ có thai. Đến kỳ sinh nở, bà sinh được ba người con trai, tướng mạo khôi ngô đặt tên là Minh Tuất Nhất Long, Nhị Long, Tam Long. Được ông bà nuôi dạy cẩn thân, ba người con chăm chỉ học hành tinh thông binh thư, binh pháp. Năm 3 chàng 24 tuổi, phía Bắc có giặc quấy nhiễu. Vua Hùng mở khoa thi tuyển người tài giỏi đánh giặc giúp nước. Ba anh tham lên kinh đô dự thi và đều trúng tuyển. Ông Nhất Long được cử làm Chỉ huy sứ, ông Nhị Long và Tam Long được cử làm Tả tướng quân và Hữu tướng quân. Khi dẫn quân đánh giặc, ba ông chọn La Dương làm nơi đồn trú. Thắng lợi trở về, vua ban đất La Dương cho ba anh em làm thực ấp. Sau khi hóa, ba ông được dân làng lập đình thờ và tôn làm Thành hoàng. Đông đảo người dân và du khách tham gia rước kiệu hội đình La Dương Lễ hội truyền thống đình La Dương hàng năm thu hút rất đông người dân và du khách thập phương về tham dự. Trong lễ hội có hai phần: phần lễ với những nghi thức lễ thánh, rước thánh trang nghiêm và phần hội với các trò chơi dân gian sôi nổi như đập niêu, quăng vòng, bịt mắt bắt lợn, hát quan họ, thả đèn hoa đăng... Lễ rước kiệu hội đình La Dương Lễ rước kiệu hội làng La Dương được thực hiện từ sáng sớm, rước kiệu bát cống từ đình La Dương ra quán La Dương. Dẫn đầu đoàn rước là đội múa sư tử, kế tiếp là phường bát âm, đội mang cờ, đồ bát bảo, đội khiêng kiệu, đội tế nam, đội tế nữ... Khi kiệu yên vị tại sân quán La Dương thì đội tế nam tiến hành lễ tế Thánh. Trong những ngày diễn ra hội đình La Dương có nhiều trò chơi dân gian, hoạt động văn hóa như: múa sư tử, múa sênh tiền, hát quan họ, hát chèo, hát văn, thi cờ tướng, chọi gà …

Rực rỡ cờ hoa hội đình La Dương Đình La Dương thuộc làng La Dương, xã Dương Nội, huyện Hoài Đức, Hà Nội được xây dựng từ thời Hùng vương thứ 17. Theo bản thần tích còn ghi lại đình: một cặp vợ chồng huyện Kim Bảng làm nghề đánh cá trên sông, tuổi đã cao nhưng vẫn chưa có con. Nghe ở La Dương có chùa Thiên Vũ linh thiêng, ông bà đến đây cầu tự. Trở về nhà, người vợ có thai. Đến kỳ sinh nở, bà sinh được ba người con trai, tướng mạo khôi ngô đặt tên là Minh Tuất Nhất Long, Nhị Long, Tam Long. Được ông bà nuôi dạy cẩn thân, ba người con chăm chỉ học hành tinh thông binh thư, binh pháp. Năm 3 chàng 24 tuổi, phía Bắc có giặc quấy nhiễu. Vua Hùng mở khoa thi tuyển người tài giỏi đánh giặc giúp nước. Ba anh tham lên kinh đô dự thi và đều trúng tuyển. Ông Nhất Long được cử làm Chỉ huy sứ, ông Nhị Long và Tam Long được cử làm Tả tướng quân và Hữu tướng quân. Khi dẫn quân đánh giặc, ba ông chọn La Dương làm nơi đồn trú. Thắng lợi trở về, vua ban đất La Dương cho ba anh em làm thực ấp. Sau khi hóa, ba ông được dân làng lập đình thờ và tôn làm Thành hoàng. Đông đảo người dân và du khách tham gia rước kiệu hội đình La Dương Lễ hội truyền thống đình La Dương hàng năm thu hút rất đông người dân và du khách thập phương về tham dự. Trong lễ hội có hai phần: phần lễ với những nghi thức lễ thánh, rước thánh trang nghiêm và phần hội với các trò chơi dân gian sôi nổi như đập niêu, quăng vòng, bịt mắt bắt lợn, hát quan họ, thả đèn hoa đăng... Lễ rước kiệu hội đình La Dương Lễ rước kiệu hội làng La Dương được thực hiện từ sáng sớm, rước kiệu bát cống từ đình La Dương ra quán La Dương. Dẫn đầu đoàn rước là đội múa sư tử, kế tiếp là phường bát âm, đội mang cờ, đồ bát bảo, đội khiêng kiệu, đội tế nam, đội tế nữ... Khi kiệu yên vị tại sân quán La Dương thì đội tế nam tiến hành lễ tế Thánh. Trong những ngày diễn ra hội đình La Dương có nhiều trò chơi dân gian, hoạt động văn hóa như: múa sư tử, múa sênh tiền, hát quan họ, hát chèo, hát văn, thi cờ tướng, chọi gà …

Rực rỡ cờ hoa hội đình La Dương

Đình La Dương thuộc làng La Dương, xã Dương Nội, huyện Hoài Đức, Hà Nội được xây dựng từ thời Hùng vương thứ 17. Theo bản thần tích còn ghi lại đình: một cặp vợ chồng huyện Kim Bảng làm nghề đánh cá trên sông, tuổi đã cao nhưng vẫn chưa có con. Nghe ở La Dương có chùa Thiên Vũ linh thiêng, ông bà đến đây cầu tự. Trở về nhà, người vợ có thai. Đến kỳ sinh nở, bà sinh được ba người con trai, tướng mạo khôi ngô đặt tên là Minh Tuất Nhất Long, Nhị Long, Tam Long. Được ông bà nuôi dạy cẩn thân, ba người con chăm chỉ học hành tinh thông binh thư, binh pháp. Năm 3 chàng 24 tuổi, phía Bắc có giặc quấy nhiễu. Vua Hùng mở khoa thi tuyển người tài giỏi đánh giặc giúp nước. Ba anh tham lên kinh đô dự thi và đều trúng tuyển. Ông Nhất Long được cử làm Chỉ huy sứ, ông Nhị Long và Tam Long được cử làm Tả tướng quân và Hữu tướng quân. Khi dẫn quân đánh giặc, ba ông chọn La Dương làm nơi đồn trú. Thắng lợi trở về, vua ban đất La Dương cho ba anh em làm thực ấp. Sau khi hóa, ba ông được dân làng lập đình thờ và tôn làm Thành hoàng.

Đông đảo người dân và du khách tham gia rước kiệu hội đình La Dương

Lễ hội truyền thống đình La Dương hàng năm thu hút rất đông người dân và du khách thập phương về tham dự. Trong lễ hội có hai phần: phần lễ với những nghi thức lễ thánh, rước thánh trang nghiêm và phần hội với các trò chơi dân gian sôi nổi như đập niêu, quăng vòng, bịt mắt bắt lợn, hát quan họ, thả đèn hoa đăng...

Lễ rước kiệu hội đình La Dương

Lễ rước kiệu hội làng La Dương được thực hiện từ sáng sớm, rước kiệu bát cống từ đình La Dương ra quán La Dương. Dẫn đầu đoàn rước là đội múa sư tử, kế tiếp là phường bát âm, đội mang cờ, đồ bát bảo, đội khiêng kiệu, đội tế nam, đội tế nữ... Khi kiệu yên vị tại sân quán La Dương thì đội tế nam tiến hành lễ tế Thánh.

Trong những ngày diễn ra hội đình La Dương có nhiều trò chơi dân gian, hoạt động văn hóa như: múa sư tử, múa sênh tiền, hát quan họ, hát chèo, hát văn, thi cờ tướng, chọi gà …

Trong những ngày diễn ra hội đình La Dương có nhiều trò chơi dân gian, hoạt động văn hóa như: múa sư tử, múa sênh tiền, hát quan họ, hát chèo, hát văn, thi cờ tướng, chọi gà …

Related Figures

Hội đình Giảng Võ

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 11/2- 12/2 Âm lịch Đình Giảng Võ xây dựng thế kỷ XV thờ nữ tướng thời Trần là Lý Thị Châu (tức Bà Chúa Kho). Hội đình Giảng Võ diễn ra trong 2 ngày 11-12/2 âm lịch, bao gồm tế yết, dâng hương, biểu diễn văn nghệ và các trò chơi dân gian. Đình Giảng Võ lộng lẫy chuẩn bị vào hội Đình Giảng Võ thờ Lý Thị Châu, con gái ông Lý Quỳnh ở làng Võ Trại, huyện Quảng Đức, phủ Phụng Thiên (nay là phường Giảng Võ, quận Ba Đình). Tương truyền, Lý Thị Châu được cha cho học võ từ nhỏ. Đến năm 16 tuổi, bà đã tinh thông võ nghệ, có tài cưỡi ngựa bắn cung. Năm 22 tuổi, bà thành thân với Trần Thái Bảo, tôn thất và tướng giỏi nhà Trần. Khi quân Nguyên Mông xâm lược nước ta, Lý Thị Châu đóng giả nam nhân cùng chồng cầm quân chống lại quân xâm lược. Bà cùng binh sĩ cố thú bảo vệ kho lương thực, không cho quân giặc cướp phá. Thắng giặc trở về, bà được nhà vua giao trông coi quốc khố và phong là Quốc trưởng quốc khố. Dâng lễ hội đình Giảng Võ Quân Nguyên Mông xâm lược nước ta lần 2, tướng quân Trần Thái Bảo chỉ huy chặn bước tiến quân giặc, bảo vệ cuộc rút lui chiến lược của triều đình. Lý Thị Châu chỉ huy quân lính chuyển kho, bảo vệ quân lương. Nghe tin chồng hy sinh, bà cất giấu kho lương an toàn rồi tuẫn tiết theo chồng. Nhà vua vô cùng cảm phục và thương tiếc, phong cho bà là "Anh linh hiển ứng khổ nương công chúa chư khố đại vương phu nhân thánh mẫu" và lệnh cho người dân Võ Trại lập đền thờ phụng muôn đời. Hội đình Giảng Võ được tổ chức ngày 11-12/2 âm lịch để tưởng nhớ công đức của bà. Sáng ngày 11/2, các cụ cao niên tổ chức lễ bao sái mộc dục. Sau đó, đội tế nữ đình Giảng Võ tế lễ dâng hương. Buổi chiều, diễn ra lễ tế Thánh và tế yết của đội tế nam, lễ dâng hương của các phường lân cận. Buổi tối, có lễ mộc dục, tụng kinh và biểu diễn nhiều tiết mục văn nghệ truyền thống. Biểu diễn văn nghệ hội đình Giảng Võ Ngày 12/2 là ngày chính hội. Sau lễ công bố ngọc phả của đình, nhân dân và các dòng họ trong phường vào lễ Thánh. Tiếp theo đó, đội dâng hương nữ vào tế Thánh và đội tế nam hành lễ tế Thánh. Kết thúc hội đình Giảng Võ là màn tế tạ của đội tế nam lúc xế chiều. Trong hai ngày diễn ra lễ hội còn có nhiều hoạt động và các trò chơi dân gian được tổ chức như: cờ tướng, chọi gà...

Đình Giảng Võ lộng lẫy chuẩn bị vào hội Đình Giảng Võ thờ Lý Thị Châu, con gái ông Lý Quỳnh ở làng Võ Trại, huyện Quảng Đức, phủ Phụng Thiên (nay là phường Giảng Võ, quận Ba Đình). Tương truyền, Lý Thị Châu được cha cho học võ từ nhỏ. Đến năm 16 tuổi, bà đã tinh thông võ nghệ, có tài cưỡi ngựa bắn cung. Năm 22 tuổi, bà thành thân với Trần Thái Bảo, tôn thất và tướng giỏi nhà Trần. Khi quân Nguyên Mông xâm lược nước ta, Lý Thị Châu đóng giả nam nhân cùng chồng cầm quân chống lại quân xâm lược. Bà cùng binh sĩ cố thú bảo vệ kho lương thực, không cho quân giặc cướp phá. Thắng giặc trở về, bà được nhà vua giao trông coi quốc khố và phong là Quốc trưởng quốc khố. Dâng lễ hội đình Giảng Võ Quân Nguyên Mông xâm lược nước ta lần 2, tướng quân Trần Thái Bảo chỉ huy chặn bước tiến quân giặc, bảo vệ cuộc rút lui chiến lược của triều đình. Lý Thị Châu chỉ huy quân lính chuyển kho, bảo vệ quân lương. Nghe tin chồng hy sinh, bà cất giấu kho lương an toàn rồi tuẫn tiết theo chồng. Nhà vua vô cùng cảm phục và thương tiếc, phong cho bà là "Anh linh hiển ứng khổ nương công chúa chư khố đại vương phu nhân thánh mẫu" và lệnh cho người dân Võ Trại lập đền thờ phụng muôn đời. Hội đình Giảng Võ được tổ chức ngày 11-12/2 âm lịch để tưởng nhớ công đức của bà. Sáng ngày 11/2, các cụ cao niên tổ chức lễ bao sái mộc dục. Sau đó, đội tế nữ đình Giảng Võ tế lễ dâng hương. Buổi chiều, diễn ra lễ tế Thánh và tế yết của đội tế nam, lễ dâng hương của các phường lân cận. Buổi tối, có lễ mộc dục, tụng kinh và biểu diễn nhiều tiết mục văn nghệ truyền thống. Biểu diễn văn nghệ hội đình Giảng Võ Ngày 12/2 là ngày chính hội. Sau lễ công bố ngọc phả của đình, nhân dân và các dòng họ trong phường vào lễ Thánh. Tiếp theo đó, đội dâng hương nữ vào tế Thánh và đội tế nam hành lễ tế Thánh. Kết thúc hội đình Giảng Võ là màn tế tạ của đội tế nam lúc xế chiều. Trong hai ngày diễn ra lễ hội còn có nhiều hoạt động và các trò chơi dân gian được tổ chức như: cờ tướng, chọi gà...

Đình Giảng Võ thờ Lý Thị Châu, con gái ông Lý Quỳnh ở làng Võ Trại, huyện Quảng Đức, phủ Phụng Thiên (nay là phường Giảng Võ, quận Ba Đình). Tương truyền, Lý Thị Châu được cha cho học võ từ nhỏ. Đến năm 16 tuổi, bà đã tinh thông võ nghệ, có tài cưỡi ngựa bắn cung. Năm 22 tuổi, bà thành thân với Trần Thái Bảo, tôn thất và tướng giỏi nhà Trần. Khi quân Nguyên Mông xâm lược nước ta, Lý Thị Châu đóng giả nam nhân cùng chồng cầm quân chống lại quân xâm lược. Bà cùng binh sĩ cố thú bảo vệ kho lương thực, không cho quân giặc cướp phá. Thắng giặc trở về, bà được nhà vua giao trông coi quốc khố và phong là Quốc trưởng quốc khố.

Dâng lễ hội đình Giảng Võ

Quân Nguyên Mông xâm lược nước ta lần 2, tướng quân Trần Thái Bảo chỉ huy chặn bước tiến quân giặc, bảo vệ cuộc rút lui chiến lược của triều đình. Lý Thị Châu chỉ huy quân lính chuyển kho, bảo vệ quân lương. Nghe tin chồng hy sinh, bà cất giấu kho lương an toàn rồi tuẫn tiết theo chồng. Nhà vua vô cùng cảm phục và thương tiếc, phong cho bà là "Anh linh hiển ứng khổ nương công chúa chư khố đại vương phu nhân thánh mẫu" và lệnh cho người dân Võ Trại lập đền thờ phụng muôn đời.

Hội đình Giảng Võ được tổ chức ngày 11-12/2 âm lịch để tưởng nhớ công đức của bà. Sáng ngày 11/2, các cụ cao niên tổ chức lễ bao sái mộc dục. Sau đó, đội tế nữ đình Giảng Võ tế lễ dâng hương. Buổi chiều, diễn ra lễ tế Thánh và tế yết của đội tế nam, lễ dâng hương của các phường lân cận. Buổi tối, có lễ mộc dục, tụng kinh và biểu diễn nhiều tiết mục văn nghệ truyền thống.

Biểu diễn văn nghệ hội đình Giảng Võ

Ngày 12/2 là ngày chính hội. Sau lễ công bố ngọc phả của đình, nhân dân và các dòng họ trong phường vào lễ Thánh. Tiếp theo đó, đội dâng hương nữ vào tế Thánh và đội tế nam hành lễ tế Thánh. Kết thúc hội đình Giảng Võ là màn tế tạ của đội tế nam lúc xế chiều.

Trong hai ngày diễn ra lễ hội còn có nhiều hoạt động và các trò chơi dân gian được tổ chức như: cờ tướng, chọi gà...

Related Figures

Hội đình Giàn

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 9/2- 11/2 Âm lịch Hội đình Giàn là một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa của người dân thôn Cáo Đỉnh, xã Xuân Đỉnh, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Hội đình Giàn tổ chức ngày 9-11/2 âm lịch hàng năm, thường có tế lễ, rước kiệu, rước nước, cờ người... Hội truyền thống đình Giàn xã Xuân Đỉnh Hội đình Giàn là dịp để dân làng tưởng nhớ công đức Thành hoàng làng Thái úy Tướng công Thượng đẳng Tôn Thần Lý Phục Man. Sử sách ghi lại: Từ thời vua Nam Đế, trong một lần giao chiến với quân Chiêm Thành, Lý Phục Man bị quân địch bao vây. Không muốn rơi vào tay rặc nên ông đã tự vẫn. Cảm phục tước vị tướng quân quả cảm, tận trung với đất nước, vua ban sắc lệnh đưa thi hài của ông về quê an táng rồi ban chiếu các làng quê ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ hàng năm hương khói thờ phụng. Hội đình Giàn tổ chức ngày 9-11/2 âm lịch không chỉ thu hút người dân địa phương mà còn rất nhiều du khách thập phương về tham dự. Lễ tế đình Giàn diễn ra trang trong Mở đậu hội đình Giàn là lễ rước nước từ chiếc giếng cổ có từ thời Hai Bà Trưng về đình để làm lễ cúng Thành hoàng. Sau đó, các sư thầy chùa Giàn làm lễ cúng Khai Quang. Buổi chiều, đội tế nam làm lễ Cáo Yết. Sau đó, dân làng và đội dâng hương nữ tiến hành lễ Thánh. Chính hội là ngày 11/2. Sau lễ công bố đọc thần phả của đình, dân làng thực hiện lễ rước kiệu Ông, kiệu Bà ra miếu Mẫu nơi thờ mẹ của Lý Phục Man làm lễ rồi rước kiệu trở lại đình. Lễ rước được diễn ra trang trọng theo đúng nghi thức thờ vua chúa, kiệu Ông đi trước, kiệu bà theo sau. Đội nam khiêng kiệu Ông, đội nữ khiêng kiệu Bà, mỗi kiệu có 16 người khiêng. Tham gia vào đoàn rước kiệu còn có phường bát âm, đội sênh tiền, múa bồng, múa tử linh... rộn ràng. Đội nữ khênh kiệu Bà hội đình Giàn Chiều ngày hôm đó, các thôn làm lễ tạ và lễ dâng hương. Sau đó, đội tế nam thực hiện nghi thức tế giã hội để kết thúc hội làng. Trong hội đình Giàn còn có nhiều tiết mục văn nghệ đặc sắc, cờ người, múa rối nước... Hội đình Giàn là món ăn tinh thần không thể thiếu người người dân địa phương. Hội đình Giàn là nét đặc trưng thu hút du khách tới thăm mảnh đất Xuân Đỉnh.

Hội truyền thống đình Giàn xã Xuân Đỉnh Hội đình Giàn là dịp để dân làng tưởng nhớ công đức Thành hoàng làng Thái úy Tướng công Thượng đẳng Tôn Thần Lý Phục Man. Sử sách ghi lại: Từ thời vua Nam Đế, trong một lần giao chiến với quân Chiêm Thành, Lý Phục Man bị quân địch bao vây. Không muốn rơi vào tay rặc nên ông đã tự vẫn. Cảm phục tước vị tướng quân quả cảm, tận trung với đất nước, vua ban sắc lệnh đưa thi hài của ông về quê an táng rồi ban chiếu các làng quê ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ hàng năm hương khói thờ phụng. Hội đình Giàn tổ chức ngày 9-11/2 âm lịch không chỉ thu hút người dân địa phương mà còn rất nhiều du khách thập phương về tham dự. Lễ tế đình Giàn diễn ra trang trong Mở đậu hội đình Giàn là lễ rước nước từ chiếc giếng cổ có từ thời Hai Bà Trưng về đình để làm lễ cúng Thành hoàng. Sau đó, các sư thầy chùa Giàn làm lễ cúng Khai Quang. Buổi chiều, đội tế nam làm lễ Cáo Yết. Sau đó, dân làng và đội dâng hương nữ tiến hành lễ Thánh. Chính hội là ngày 11/2. Sau lễ công bố đọc thần phả của đình, dân làng thực hiện lễ rước kiệu Ông, kiệu Bà ra miếu Mẫu nơi thờ mẹ của Lý Phục Man làm lễ rồi rước kiệu trở lại đình. Lễ rước được diễn ra trang trọng theo đúng nghi thức thờ vua chúa, kiệu Ông đi trước, kiệu bà theo sau. Đội nam khiêng kiệu Ông, đội nữ khiêng kiệu Bà, mỗi kiệu có 16 người khiêng. Tham gia vào đoàn rước kiệu còn có phường bát âm, đội sênh tiền, múa bồng, múa tử linh... rộn ràng. Đội nữ khênh kiệu Bà hội đình Giàn Chiều ngày hôm đó, các thôn làm lễ tạ và lễ dâng hương. Sau đó, đội tế nam thực hiện nghi thức tế giã hội để kết thúc hội làng. Trong hội đình Giàn còn có nhiều tiết mục văn nghệ đặc sắc, cờ người, múa rối nước... Hội đình Giàn là món ăn tinh thần không thể thiếu người người dân địa phương. Hội đình Giàn là nét đặc trưng thu hút du khách tới thăm mảnh đất Xuân Đỉnh.

Hội đình Giàn là dịp để dân làng tưởng nhớ công đức Thành hoàng làng Thái úy Tướng công Thượng đẳng Tôn Thần Lý Phục Man. Sử sách ghi lại: Từ thời vua Nam Đế, trong một lần giao chiến với quân Chiêm Thành, Lý Phục Man bị quân địch bao vây. Không muốn rơi vào tay rặc nên ông đã tự vẫn. Cảm phục tước vị tướng quân quả cảm, tận trung với đất nước, vua ban sắc lệnh đưa thi hài của ông về quê an táng rồi ban chiếu các làng quê ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ hàng năm hương khói thờ phụng. Hội đình Giàn tổ chức ngày 9-11/2 âm lịch không chỉ thu hút người dân địa phương mà còn rất nhiều du khách thập phương về tham dự.

Lễ tế đình Giàn diễn ra trang trong

Mở đậu hội đình Giàn là lễ rước nước từ chiếc giếng cổ có từ thời Hai Bà Trưng về đình để làm lễ cúng Thành hoàng. Sau đó, các sư thầy chùa Giàn làm lễ cúng Khai Quang. Buổi chiều, đội tế nam làm lễ Cáo Yết. Sau đó, dân làng và đội dâng hương nữ tiến hành lễ Thánh. Chính hội là ngày 11/2. Sau lễ công bố đọc thần phả của đình, dân làng thực hiện lễ rước kiệu Ông, kiệu Bà ra miếu Mẫu nơi thờ mẹ của Lý Phục Man làm lễ rồi rước kiệu trở lại đình. Lễ rước được diễn ra trang trọng theo đúng nghi thức thờ vua chúa, kiệu Ông đi trước, kiệu bà theo sau. Đội nam khiêng kiệu Ông, đội nữ khiêng kiệu Bà, mỗi kiệu có 16 người khiêng. Tham gia vào đoàn rước kiệu còn có phường bát âm, đội sênh tiền, múa bồng, múa tử linh... rộn ràng.

Đội nữ khênh kiệu Bà hội đình Giàn

Chiều ngày hôm đó, các thôn làm lễ tạ và lễ dâng hương. Sau đó, đội tế nam thực hiện nghi thức tế giã hội để kết thúc hội làng. Trong hội đình Giàn còn có nhiều tiết mục văn nghệ đặc sắc, cờ người, múa rối nước...

Hội đình Giàn là món ăn tinh thần không thể thiếu người người dân địa phương. Hội đình Giàn là nét đặc trưng thu hút du khách tới thăm mảnh đất Xuân Đỉnh.

Related Figures

Hội đình An Hòa

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 11/2- 13/2 Âm lịch Hội đình Yên Hòa được tổ chức ngày 11-13/2 âm lịch hàng năm tại phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội. Đình Yên Hòa thờ Bạch Hạc Tam Giang và vua Lý Thần Tông. Trong những ngày diễn ra lễ hội, dâng làng tổ chức rước kiệu, tế lễ, biểu diễn nghệ thuật, đánh cờ, chọi gà... Nghi thức trang trong trong hội đình An Hòa Thế kỷ XI, An Hòa là trung tâm Phật giáo lớn phía tây kinh thành Thăng Long. An Hòa cũng là làng cổ có truyền thống khoa bảng, nhiều người đỗ đạt cao, giữ trọng trách lớn trong triều. Đông đảo người dân tham gia lễ rước hội đình An Hòa Đình An Hòa thuộc thôn An Hòa, xã Yên Hòa (nay là phường Yên Hòa) còn lưu giữ được nhiều di vật cổ như thần tích, sắc phong, hoành phi, câu đối... Đình An Hòa thờ hai vị phúc thần có công với dân, với nước là thần Bạch Hạc Tam Giang và vua Lý Thần Tông. Rước kiệu Thánh hội đình An Hòa Đình tọa lạc trên khu đất đẹp, cao, rộng, thoáng. Đình gồm cổng nghi môn, sân đình, tòa chính có kiến trúc hình chữ công. Tòa đại đình năm gian được xây dựng theo kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói mũi hài, bờ nóc đắp kiểu bờ đinh. Nối đại đình với hậu cung là ba gian nhỏ của nhà cầu có kết cấu gồm bốn bộ vì kèo. Tòa hậu cung 3 gian cũng được xây theo kiểu tường hồi bít đốc, lợp mái ngói ta. Đình An Hòa được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia năm 1996. Hội đình An Hòa mang sắc thái của cư dân vùng lúa nước. Trong lễ hội ngoài lễ rước nước còn có nhiều hoạt động đa dạng và phong phú. Lễ rước nước với ý nghĩa cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu.

Nghi thức trang trong trong hội đình An Hòa Thế kỷ XI, An Hòa là trung tâm Phật giáo lớn phía tây kinh thành Thăng Long. An Hòa cũng là làng cổ có truyền thống khoa bảng, nhiều người đỗ đạt cao, giữ trọng trách lớn trong triều. Đông đảo người dân tham gia lễ rước hội đình An Hòa Đình An Hòa thuộc thôn An Hòa, xã Yên Hòa (nay là phường Yên Hòa) còn lưu giữ được nhiều di vật cổ như thần tích, sắc phong, hoành phi, câu đối... Đình An Hòa thờ hai vị phúc thần có công với dân, với nước là thần Bạch Hạc Tam Giang và vua Lý Thần Tông. Rước kiệu Thánh hội đình An Hòa Đình tọa lạc trên khu đất đẹp, cao, rộng, thoáng. Đình gồm cổng nghi môn, sân đình, tòa chính có kiến trúc hình chữ công. Tòa đại đình năm gian được xây dựng theo kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói mũi hài, bờ nóc đắp kiểu bờ đinh. Nối đại đình với hậu cung là ba gian nhỏ của nhà cầu có kết cấu gồm bốn bộ vì kèo. Tòa hậu cung 3 gian cũng được xây theo kiểu tường hồi bít đốc, lợp mái ngói ta. Đình An Hòa được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia năm 1996.

Thế kỷ XI, An Hòa là trung tâm Phật giáo lớn phía tây kinh thành Thăng Long. An Hòa cũng là làng cổ có truyền thống khoa bảng, nhiều người đỗ đạt cao, giữ trọng trách lớn trong triều.

Đông đảo người dân tham gia lễ rước hội đình An Hòa

Đình An Hòa thuộc thôn An Hòa, xã Yên Hòa (nay là phường Yên Hòa) còn lưu giữ được nhiều di vật cổ như thần tích, sắc phong, hoành phi, câu đối... Đình An Hòa thờ hai vị phúc thần có công với dân, với nước là thần Bạch Hạc Tam Giang và vua Lý Thần Tông.

Rước kiệu Thánh hội đình An Hòa

Đình tọa lạc trên khu đất đẹp, cao, rộng, thoáng. Đình gồm cổng nghi môn, sân đình, tòa chính có kiến trúc hình chữ công. Tòa đại đình năm gian được xây dựng theo kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói mũi hài, bờ nóc đắp kiểu bờ đinh. Nối đại đình với hậu cung là ba gian nhỏ của nhà cầu có kết cấu gồm bốn bộ vì kèo. Tòa hậu cung 3 gian cũng được xây theo kiểu tường hồi bít đốc, lợp mái ngói ta. Đình An Hòa được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia năm 1996.

Hội đình An Hòa mang sắc thái của cư dân vùng lúa nước. Trong lễ hội ngoài lễ rước nước còn có nhiều hoạt động đa dạng và phong phú. Lễ rước nước với ý nghĩa cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu.

Related Figures

Hội đình Đông Phù

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 6/2- 7/2 Âm lịch Đình Đông Phù thờ tướng quân Nguyễn Siêu, một trong 12 sứ quân được Tiền Ngô Vương tín nhiệm. Để tưởng nhớ công lao, tài đức của vị anh hùng có công với dân với nước, nhân dân Đông Phù đã suy tôn ông là Thành hoàng với danh hiệu cao quý "Thượng đẳng thần Đại vương". Hàng năm, đình Đông Phù tổ chức lễ hội vào ngày 9/1 âm lịch (ngày sinh Thần) và ngày 7/2 âm lịch (ngày nhập tịch, ngày Nguyễn Siêu chọn Đông Phù làm đại bản doanh). Hội đình Đông Phù được tổ chức trọng thể Sử sách ghi lại: hồi đầu thế kỷ thứ X, sau khi Ngô Quyền qua đời, nước ta bị chia cắt thành 12 vùng miền. Mỗi vùng miền do 1 tướng quân chiếm đóng. Nguyễn Siêu là danh tướng của Ngô Quyền, tinh thông võ nghệ, có tài thao lược, yêu nước thương dân. Đất nước loạn lạc, Nguyễn Siêu nhận thấy Tây Phù Liệt (có xã Đông Mỹ ngày nay) có địa thế đẹp nên đã đóng quân tại đây. Nguyễn Siêu cùng với Nguyễn Thủ Tiệp và Nguyễn Khoan liên kết chặt chẽ với nhau, hợp sức để dẹp loạn các sứ quân khác, thống nhất giang sơn. Trong trận thủy chiến ở sông Hồng, Nguyễn Siêu hy sinh. Xác của ông trôi dạt về Bái Xuyên, Văn Giang được người dân nơi đây chôn cất. Để tưởng nhớ công ơn, nhân dân Đông Phù suy tôn Nguyễn Siêu là Thành Hoàng, lập đình thờ phụng. Trai tráng chuẩn bị lễ rước trong hội đình Đông Phù Đình Đông Phù thuộc xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, Hà Nội, được xây dựng từ thời Trần, đến năm Cảnh Hưng 6 đình được đại tu và giữ nguyên dạng tới nay. Đình Đông Phù quay mặt hướng tây nam, bên ngoài có 4 trụ gạch. Đình Đông Phù xây theo hình chữ công, hai bên có hành lang nội gian hồi tiền đình với hậu cung. Trong đình Đông Phù còn lưu giữ nhiều hiện vật từ thế kỷ XVII, XVIII, XIX. Rước kiệu hội đình Đông Phù Đình Đông Phù được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng "Di tích kiến trúc nghệ thuật" ngày 9/1/1990.

Hội đình Đông Phù được tổ chức trọng thể Sử sách ghi lại: hồi đầu thế kỷ thứ X, sau khi Ngô Quyền qua đời, nước ta bị chia cắt thành 12 vùng miền. Mỗi vùng miền do 1 tướng quân chiếm đóng. Nguyễn Siêu là danh tướng của Ngô Quyền, tinh thông võ nghệ, có tài thao lược, yêu nước thương dân. Đất nước loạn lạc, Nguyễn Siêu nhận thấy Tây Phù Liệt (có xã Đông Mỹ ngày nay) có địa thế đẹp nên đã đóng quân tại đây. Nguyễn Siêu cùng với Nguyễn Thủ Tiệp và Nguyễn Khoan liên kết chặt chẽ với nhau, hợp sức để dẹp loạn các sứ quân khác, thống nhất giang sơn. Trong trận thủy chiến ở sông Hồng, Nguyễn Siêu hy sinh. Xác của ông trôi dạt về Bái Xuyên, Văn Giang được người dân nơi đây chôn cất. Để tưởng nhớ công ơn, nhân dân Đông Phù suy tôn Nguyễn Siêu là Thành Hoàng, lập đình thờ phụng. Trai tráng chuẩn bị lễ rước trong hội đình Đông Phù Đình Đông Phù thuộc xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, Hà Nội, được xây dựng từ thời Trần, đến năm Cảnh Hưng 6 đình được đại tu và giữ nguyên dạng tới nay. Đình Đông Phù quay mặt hướng tây nam, bên ngoài có 4 trụ gạch. Đình Đông Phù xây theo hình chữ công, hai bên có hành lang nội gian hồi tiền đình với hậu cung. Trong đình Đông Phù còn lưu giữ nhiều hiện vật từ thế kỷ XVII, XVIII, XIX. Rước kiệu hội đình Đông Phù Đình Đông Phù được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng "Di tích kiến trúc nghệ thuật" ngày 9/1/1990.

Sử sách ghi lại: hồi đầu thế kỷ thứ X, sau khi Ngô Quyền qua đời, nước ta bị chia cắt thành 12 vùng miền. Mỗi vùng miền do 1 tướng quân chiếm đóng. Nguyễn Siêu là danh tướng của Ngô Quyền, tinh thông võ nghệ, có tài thao lược, yêu nước thương dân. Đất nước loạn lạc, Nguyễn Siêu nhận thấy Tây Phù Liệt (có xã Đông Mỹ ngày nay) có địa thế đẹp nên đã đóng quân tại đây. Nguyễn Siêu cùng với Nguyễn Thủ Tiệp và Nguyễn Khoan liên kết chặt chẽ với nhau, hợp sức để dẹp loạn các sứ quân khác, thống nhất giang sơn. Trong trận thủy chiến ở sông Hồng, Nguyễn Siêu hy sinh. Xác của ông trôi dạt về Bái Xuyên, Văn Giang được người dân nơi đây chôn cất. Để tưởng nhớ công ơn, nhân dân Đông Phù suy tôn Nguyễn Siêu là Thành Hoàng, lập đình thờ phụng.

Trai tráng chuẩn bị lễ rước trong hội đình Đông Phù

Đình Đông Phù thuộc xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, Hà Nội, được xây dựng từ thời Trần, đến năm Cảnh Hưng 6 đình được đại tu và giữ nguyên dạng tới nay. Đình Đông Phù quay mặt hướng tây nam, bên ngoài có 4 trụ gạch. Đình Đông Phù xây theo hình chữ công, hai bên có hành lang nội gian hồi tiền đình với hậu cung. Trong đình Đông Phù còn lưu giữ nhiều hiện vật từ thế kỷ XVII, XVIII, XIX. Rước kiệu hội đình Đông Phù Đình Đông Phù được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng "Di tích kiến trúc nghệ thuật" ngày 9/1/1990.

Đình Đông Phù thuộc xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, Hà Nội, được xây dựng từ thời Trần, đến năm Cảnh Hưng 6 đình được đại tu và giữ nguyên dạng tới nay. Đình Đông Phù quay mặt hướng tây nam, bên ngoài có 4 trụ gạch. Đình Đông Phù xây theo hình chữ công, hai bên có hành lang nội gian hồi tiền đình với hậu cung. Trong đình Đông Phù còn lưu giữ nhiều hiện vật từ thế kỷ XVII, XVIII, XIX.

Rước kiệu hội đình Đông Phù

Đình Đông Phù được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng "Di tích kiến trúc nghệ thuật" ngày 9/1/1990.

Related Figures

Hội xã Tự Nhiên huyện Thường Tín - Hà Nội

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/4 Âm lịch Hội xã Tự Nhiên với đặc trưng là lễ rước nước, vừa là nghi thức tín ngưỡng vừa thể hiện khát vọng của người dân nơi dây, cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Lưỡng long lộng lẫy trong hội xã Tự Nhiên Trước đây, làng Tự Nhiên có tên là làng Gòi, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông. Nay là xã Tự Nhiên, huyện Thường Tín, Hà Nội. Trước năm 1945, xã Tự Nhiên có 3 thôn: thôn Thượng, thôn Hạ, thôn Thủy Cơ (lấy nghề đánh cá làm nghề độ nhật, mang danh thôn Thủy Tộc). Ba thôn của xã đều có đình riêng, đình thông Thượng và Hạ được xây trên bãi đất của làng, đình thôn Thủy Tộc được xây dựng trên một bè lớn (sau này cũng được xây dựng trên đất làng bên bờ sông). Ngoài thờ Đức thánh Chử Đồng Tử và nhị vị phu nhân, làng Tự Nhiên xưa còn thờ Đào Thành - tướng quân giúp Hai Bà Trưng đánh giặc giữ nước. Nghi thức chính trong hội xã Tự Nhiên là đám rước Hội xã Tự nhiên diễn ra ngày 1/4 âm lịch. Trước ngày diễn ra lễ hội, người dân địa phương ngâm gạo để giã bánh giầy. Việc chọn gạo làm bánh được tiến hành cẩn thận và kỹ lưỡng. Nghi thức chính trong hội xã Tự Nhiên là đám rước. Đám rước được cử hành long trọng với bảy long kiệu, đình Hạ ba kiệu và đình Thủy Tộc một kiệu. Sở dĩ thôn Thượng và thôn Hạ có 3 cỗ long kiệu là vì nơi đây thờ 3 vị linh thần là Chử Đồng Tử và nhị vị phu nhân, mỗi vị một long kiệu riêng. Thôn Thủy Tộc thờ cả 3 vị nhưng rước bài vị chung trên một long kiệu. Đám rước được thực hiện đúng theo nghi thức cổ truyền với đầy đủ các tự khí với trống chiêng, cờ quạt, tàn lọng và bát âm nhã nhạc. Đám rước bắt đầu từ đình thôn Thượng tới đình thôn Hạ, tạm ngừng để người dân thôn Hạ cũng rước ba cỗ kiệu với các tự khí theo. Đám rước tiếp tục, thôn Thượng đi trước, thôn Hạ theo sau tiến thẳng tới nẻo sông Hồng. Khi tới ngã ba đường gặp dân thôn Thủy Tộc chờ sẵn với long kiệu của mình cùng đoàn rước tiến ra bờ sông. Tại bến sông, dân làng chuẩn bị bảy chiếc thuyền lớn để rước long kiệu ra giữa dòng sông lấy nước về dùng trong lễ mộc dục. Sau khi lấy nước, thuyền rước quay trở về. Kiệu của thôn Thủy Tộc được rước lên đầu tiên, sau đó đến 3 chiếc kiệu thôn Hạ, cuối cùng là 3 chiếc kiệu thôn Thượng. Trai tráng xã Tự Nhiên chuẩn bị rước nước Theo con đường cũ trở về, đám rước các kiệu theo thứ tự thôn Thủy Tộc, thôn Hạ rồi đến thôn Thượng. Chờ kiệu thôn Thủy Tộc đi trước rồi kiệu thôn Hạ, thôn Thượng theo sau trở về đình. Đám rước của ba thôn tưng bừng, nhộn nhịp với cờ quật, tán, tàn phấp phới, trống chiêng rộn ràng. Cùng với nghi thức rước nước, dân hai thôn Thượng và thôn Hạ ở xã Tự Nhiên còn tổ chức các trò vui chơi như cờ bỏi và tôm điểm.

Lưỡng long lộng lẫy trong hội xã Tự Nhiên Trước đây, làng Tự Nhiên có tên là làng Gòi, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông. Nay là xã Tự Nhiên, huyện Thường Tín, Hà Nội. Trước năm 1945, xã Tự Nhiên có 3 thôn: thôn Thượng, thôn Hạ, thôn Thủy Cơ (lấy nghề đánh cá làm nghề độ nhật, mang danh thôn Thủy Tộc). Ba thôn của xã đều có đình riêng, đình thông Thượng và Hạ được xây trên bãi đất của làng, đình thôn Thủy Tộc được xây dựng trên một bè lớn (sau này cũng được xây dựng trên đất làng bên bờ sông). Ngoài thờ Đức thánh Chử Đồng Tử và nhị vị phu nhân, làng Tự Nhiên xưa còn thờ Đào Thành - tướng quân giúp Hai Bà Trưng đánh giặc giữ nước. Nghi thức chính trong hội xã Tự Nhiên là đám rước Hội xã Tự nhiên diễn ra ngày 1/4 âm lịch. Trước ngày diễn ra lễ hội, người dân địa phương ngâm gạo để giã bánh giầy. Việc chọn gạo làm bánh được tiến hành cẩn thận và kỹ lưỡng. Nghi thức chính trong hội xã Tự Nhiên là đám rước. Đám rước được cử hành long trọng với bảy long kiệu, đình Hạ ba kiệu và đình Thủy Tộc một kiệu. Sở dĩ thôn Thượng và thôn Hạ có 3 cỗ long kiệu là vì nơi đây thờ 3 vị linh thần là Chử Đồng Tử và nhị vị phu nhân, mỗi vị một long kiệu riêng. Thôn Thủy Tộc thờ cả 3 vị nhưng rước bài vị chung trên một long kiệu. Đám rước được thực hiện đúng theo nghi thức cổ truyền với đầy đủ các tự khí với trống chiêng, cờ quạt, tàn lọng và bát âm nhã nhạc. Đám rước bắt đầu từ đình thôn Thượng tới đình thôn Hạ, tạm ngừng để người dân thôn Hạ cũng rước ba cỗ kiệu với các tự khí theo. Đám rước tiếp tục, thôn Thượng đi trước, thôn Hạ theo sau tiến thẳng tới nẻo sông Hồng. Khi tới ngã ba đường gặp dân thôn Thủy Tộc chờ sẵn với long kiệu của mình cùng đoàn rước tiến ra bờ sông. Tại bến sông, dân làng chuẩn bị bảy chiếc thuyền lớn để rước long kiệu ra giữa dòng sông lấy nước về dùng trong lễ mộc dục. Sau khi lấy nước, thuyền rước quay trở về. Kiệu của thôn Thủy Tộc được rước lên đầu tiên, sau đó đến 3 chiếc kiệu thôn Hạ, cuối cùng là 3 chiếc kiệu thôn Thượng. Trai tráng xã Tự Nhiên chuẩn bị rước nước Theo con đường cũ trở về, đám rước các kiệu theo thứ tự thôn Thủy Tộc, thôn Hạ rồi đến thôn Thượng. Chờ kiệu thôn Thủy Tộc đi trước rồi kiệu thôn Hạ, thôn Thượng theo sau trở về đình. Đám rước của ba thôn tưng bừng, nhộn nhịp với cờ quật, tán, tàn phấp phới, trống chiêng rộn ràng. Cùng với nghi thức rước nước, dân hai thôn Thượng và thôn Hạ ở xã Tự Nhiên còn tổ chức các trò vui chơi như cờ bỏi và tôm điểm.

Trước đây, làng Tự Nhiên có tên là làng Gòi, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông. Nay là xã Tự Nhiên, huyện Thường Tín, Hà Nội. Trước năm 1945, xã Tự Nhiên có 3 thôn: thôn Thượng, thôn Hạ, thôn Thủy Cơ (lấy nghề đánh cá làm nghề độ nhật, mang danh thôn Thủy Tộc). Ba thôn của xã đều có đình riêng, đình thông Thượng và Hạ được xây trên bãi đất của làng, đình thôn Thủy Tộc được xây dựng trên một bè lớn (sau này cũng được xây dựng trên đất làng bên bờ sông). Ngoài thờ Đức thánh Chử Đồng Tử và nhị vị phu nhân, làng Tự Nhiên xưa còn thờ Đào Thành - tướng quân giúp Hai Bà Trưng đánh giặc giữ nước.

Nghi thức chính trong hội xã Tự Nhiên là đám rước

Hội xã Tự nhiên diễn ra ngày 1/4 âm lịch. Trước ngày diễn ra lễ hội, người dân địa phương ngâm gạo để giã bánh giầy. Việc chọn gạo làm bánh được tiến hành cẩn thận và kỹ lưỡng. Nghi thức chính trong hội xã Tự Nhiên là đám rước. Đám rước được cử hành long trọng với bảy long kiệu, đình Hạ ba kiệu và đình Thủy Tộc một kiệu. Sở dĩ thôn Thượng và thôn Hạ có 3 cỗ long kiệu là vì nơi đây thờ 3 vị linh thần là Chử Đồng Tử và nhị vị phu nhân, mỗi vị một long kiệu riêng. Thôn Thủy Tộc thờ cả 3 vị nhưng rước bài vị chung trên một long kiệu. Đám rước được thực hiện đúng theo nghi thức cổ truyền với đầy đủ các tự khí với trống chiêng, cờ quạt, tàn lọng và bát âm nhã nhạc. Đám rước bắt đầu từ đình thôn Thượng tới đình thôn Hạ, tạm ngừng để người dân thôn Hạ cũng rước ba cỗ kiệu với các tự khí theo. Đám rước tiếp tục, thôn Thượng đi trước, thôn Hạ theo sau tiến thẳng tới nẻo sông Hồng. Khi tới ngã ba đường gặp dân thôn Thủy Tộc chờ sẵn với long kiệu của mình cùng đoàn rước tiến ra bờ sông. Tại bến sông, dân làng chuẩn bị bảy chiếc thuyền lớn để rước long kiệu ra giữa dòng sông lấy nước về dùng trong lễ mộc dục. Sau khi lấy nước, thuyền rước quay trở về. Kiệu của thôn Thủy Tộc được rước lên đầu tiên, sau đó đến 3 chiếc kiệu thôn Hạ, cuối cùng là 3 chiếc kiệu thôn Thượng.

Trai tráng xã Tự Nhiên chuẩn bị rước nước

Theo con đường cũ trở về, đám rước các kiệu theo thứ tự thôn Thủy Tộc, thôn Hạ rồi đến thôn Thượng. Chờ kiệu thôn Thủy Tộc đi trước rồi kiệu thôn Hạ, thôn Thượng theo sau trở về đình. Đám rước của ba thôn tưng bừng, nhộn nhịp với cờ quật, tán, tàn phấp phới, trống chiêng rộn ràng.

Cùng với nghi thức rước nước, dân hai thôn Thượng và thôn Hạ ở xã Tự Nhiên còn tổ chức các trò vui chơi như cờ bỏi và tôm điểm.

Related Figures

Hội Võng Thị

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 14/2 Âm lịch Hội Võng Thị được tổ chức ngày 14/2 âm lịch hàng năm tại làng Võng Thị, phường Bưởi, quận Tây Hồ, Hà Nội. Đặc trưng của hội Võng Thị có cúng tế, hát tuồng, bơi thuyền và chọi gà. Lễ hội truyền thống Võng Thị Làng Võng Thị là vùng đất cổ thuộc tổng Bưởi. Bao quanh ngôi làng nhỏ Võng Thị hàng trăm năm nay vang vọng tiếng chày giã dó Hồ Khẩu, Yên Thái, Đông Xã và tiếng thoi đệt lụa làng Nghĩa Độ, Bái Ân cùng với tiếng củi nấu rượu tí tách Trích Sài. Những cư dân đầu tiên của làng làm nghề chài lưới. Sông Thiên Phù đổ dòng vào Hồ Tây, mở ra bến đỗ thuyền bè. Ở nơi đó hình thành chợ bán lưới. Khi thôn mạc sầm uất nơi bến chợ, người dân nơi đây đặt tên là Võng Thị. Tế lễ long trọng trong hội Võng Thị Thần được thờ trong đình làng Võng Thị là một ngư dân giỏi nghề sông nước. Tương truyền, trong một trận mưa bão mịt mù, thuyền của lão ngư dân mất tích 7 ngày. Người nhà đã lập bàn thờ để thờ lão. Sang ngày thứ 8, lão ngư dân bất ngờ trở về với một thuyền đầy ắp người. Thì ra trong những ngày qua, thuyền bè của ngư dân bị trôi dạt khắp nơi. Lão ngư dân bơi thuyền khắp hồ để cứu vớt người bị nạn. Đến khi không thấy người trên mặt hồ nữa, lão ngư dân mới chèo thuyền trở về. Để tưởng nhớ công ơn lão ngư dân, dân làng quyên góp tiền xây miếu thờ sống lão, gọi là Mục Thận từ. Hàng năm, vào ngày 14/2 âm lịch là ngày giỗ Mục Thận trở thành ngày hội của làng Võng Thị và một số dân làng lân cận như Hồ Khẩu, Trích Sài. Dân làng Võng Thị tổ chức rước kiệu từ đền Dục Khánh về đền Vệ Quốc (nơi thờ hai con trai của thần Mục Thận có công đánh giặc được phong tướng công về đền Võng Thị). Hội Võng Thị sôi nổi với màn trống hội Lễ hội truyền thống Võng Thị có từ thời Lý, ngoài phần lễ long trọng còn diễn ra nhiều hình thức vui chơi giải trí, đặc sắc nhất là đua thuyền.

Lễ hội truyền thống Võng Thị Làng Võng Thị là vùng đất cổ thuộc tổng Bưởi. Bao quanh ngôi làng nhỏ Võng Thị hàng trăm năm nay vang vọng tiếng chày giã dó Hồ Khẩu, Yên Thái, Đông Xã và tiếng thoi đệt lụa làng Nghĩa Độ, Bái Ân cùng với tiếng củi nấu rượu tí tách Trích Sài. Những cư dân đầu tiên của làng làm nghề chài lưới. Sông Thiên Phù đổ dòng vào Hồ Tây, mở ra bến đỗ thuyền bè. Ở nơi đó hình thành chợ bán lưới. Khi thôn mạc sầm uất nơi bến chợ, người dân nơi đây đặt tên là Võng Thị. Tế lễ long trọng trong hội Võng Thị Thần được thờ trong đình làng Võng Thị là một ngư dân giỏi nghề sông nước. Tương truyền, trong một trận mưa bão mịt mù, thuyền của lão ngư dân mất tích 7 ngày. Người nhà đã lập bàn thờ để thờ lão. Sang ngày thứ 8, lão ngư dân bất ngờ trở về với một thuyền đầy ắp người. Thì ra trong những ngày qua, thuyền bè của ngư dân bị trôi dạt khắp nơi. Lão ngư dân bơi thuyền khắp hồ để cứu vớt người bị nạn. Đến khi không thấy người trên mặt hồ nữa, lão ngư dân mới chèo thuyền trở về. Để tưởng nhớ công ơn lão ngư dân, dân làng quyên góp tiền xây miếu thờ sống lão, gọi là Mục Thận từ. Hàng năm, vào ngày 14/2 âm lịch là ngày giỗ Mục Thận trở thành ngày hội của làng Võng Thị và một số dân làng lân cận như Hồ Khẩu, Trích Sài. Dân làng Võng Thị tổ chức rước kiệu từ đền Dục Khánh về đền Vệ Quốc (nơi thờ hai con trai của thần Mục Thận có công đánh giặc được phong tướng công về đền Võng Thị). Hội Võng Thị sôi nổi với màn trống hội Lễ hội truyền thống Võng Thị có từ thời Lý, ngoài phần lễ long trọng còn diễn ra nhiều hình thức vui chơi giải trí, đặc sắc nhất là đua thuyền.

Làng Võng Thị là vùng đất cổ thuộc tổng Bưởi. Bao quanh ngôi làng nhỏ Võng Thị hàng trăm năm nay vang vọng tiếng chày giã dó Hồ Khẩu, Yên Thái, Đông Xã và tiếng thoi đệt lụa làng Nghĩa Độ, Bái Ân cùng với tiếng củi nấu rượu tí tách Trích Sài. Những cư dân đầu tiên của làng làm nghề chài lưới. Sông Thiên Phù đổ dòng vào Hồ Tây, mở ra bến đỗ thuyền bè. Ở nơi đó hình thành chợ bán lưới. Khi thôn mạc sầm uất nơi bến chợ, người dân nơi đây đặt tên là Võng Thị.

Tế lễ long trọng trong hội Võng Thị

Thần được thờ trong đình làng Võng Thị là một ngư dân giỏi nghề sông nước. Tương truyền, trong một trận mưa bão mịt mù, thuyền của lão ngư dân mất tích 7 ngày. Người nhà đã lập bàn thờ để thờ lão. Sang ngày thứ 8, lão ngư dân bất ngờ trở về với một thuyền đầy ắp người. Thì ra trong những ngày qua, thuyền bè của ngư dân bị trôi dạt khắp nơi. Lão ngư dân bơi thuyền khắp hồ để cứu vớt người bị nạn. Đến khi không thấy người trên mặt hồ nữa, lão ngư dân mới chèo thuyền trở về. Để tưởng nhớ công ơn lão ngư dân, dân làng quyên góp tiền xây miếu thờ sống lão, gọi là Mục Thận từ. Hàng năm, vào ngày 14/2 âm lịch là ngày giỗ Mục Thận trở thành ngày hội của làng Võng Thị và một số dân làng lân cận như Hồ Khẩu, Trích Sài. Dân làng Võng Thị tổ chức rước kiệu từ đền Dục Khánh về đền Vệ Quốc (nơi thờ hai con trai của thần Mục Thận có công đánh giặc được phong tướng công về đền Võng Thị).

Hội Võng Thị sôi nổi với màn trống hội

Lễ hội truyền thống Võng Thị có từ thời Lý, ngoài phần lễ long trọng còn diễn ra nhiều hình thức vui chơi giải trí, đặc sắc nhất là đua thuyền.

Related Figures

Hội thờ Thủy thần

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/2 Âm lịch Hội thờ Thủy thần tổ chức ngày 10/2 âm lịch hàng năm tại thôn Linh Đàm, phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, Hà Nội. Ngày hội ở Linh Đàm tổ chức nhiều trò diễn dân gian ở sân đình như: cờ người, thi bơi thuyền... Đình Linh Đàm nơi diễn ra lễ hội Thôn Linh Đàm có một ngôi đình lớn, kiến trúc theo kiểu chữ công gồm 5 gian đại bái, 3 gian hậu cung, mang đậm phong cách kiến trúc nghệ thuật cuối thời Lê đầu thời Nguyễn. Cửa đình trông ra đầm Linh Đàm. Thở ban đầu, đình Linh Đàm là một đền thờ thần linh thiêng trong vùng. Đền Linh Đàm trước kia là trung tâm tín ngưỡng thủy thần của nhiều cụm dân cư trong vùng đầm Linh Đàm. Sau này, do sự phát triển dân số, từng cụm dân cư đề xuất với nhà nước thành lập đơn vị hành chính riêng. Dân làng chủ động xây dựng đình thờ Thần của làng để độc lập sinh hoạt văn hóa. Đền Linh Đàm chỉ còn là nơi tín ngưỡng thủy thần của riêng làng Linh Đàm và chuyển tên gọi thành đình. Đông đảo người dân tham gia Hội thờ Thủy thần Đình Linh Đàm thờ thủy thần Bảo Ninh. Tương truyền vào đời nhà Trần có nhà nho danh tiếng Chu Văn An mở tường dạy học ở xã Cung Hoàng, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Học trò theo học rất đông, trong số đó có một thư sinh chăm đến nghe thầy giảng bài nhưng không rõ tung tích. Thầy trò Chu Văn An lần tìm tung tích mới hay thư sinh đó học xong thường đi ra đám lau sậy bên bờ đầm Lân Đàm (nay là miếu Gàn) rồi mất tích. Chu Văn An biết đó là thủy thần nhưng dặn học trò không được đối xử khác bạn. Năm ấy mùa hạn, cây cối cạn khô, dân tình đói khổ. Thương cảnh người dân khốn khổ vì thiếu nước, Chu Văn An gọi học trò lại hỏi xem có cách gì giúp dân. Học trò suy nghĩ trong chốc lát rồi thưa thầy: "Luật trời đất nghiêm nhưng lời thầy dạy cũng rất trọng". Dứt lời, chàng thư sinh ấy đứng ở sân trường lấy nghiên bút ra đổ nước mực mài, dùng bút thấm mực đổ khắp bốn phương. Mực đen vung lên trời lập tức mây đen kéo đến, trời mưa tầm tã. Dân chúng rất đỗi phấn khởi, có nước để cày cấy. Sau một tuần, chàng thư sinh ấy từ trường vội đi về đầm Linh Đàm. Trên trời bống có tiếng nổ lớn, thầy trò Chu Văn An chạy ra thì thấy một xác xuồng luồng nổi lên ở đầm. Chu Văn An cùng học trò và dân chúng mai tác xác thuồng luồng. Đến nay mộ Đức Bảo Ninh vẫn còn. Hội thờ Thủy Thần trước kia cả tổng rước lễ ra miếu Gàn Trước kia, lễ hội Thủy thần đền Linh Đàm diễn ra long trọng trong tháng 8. Ngày 16/8, các bô lão đại diện các thôn ở miếu Gàn (tương truyền là nơi Thủy thần hóa thân thành người đến theo học thầy Chu Văn An) bàn việc tổ chức tế lễ. Đến ngày 18/8, cả thôn đều hội họp để tế cộng đồng. Các thôn trong tổng rước lễ từ đình làng đến miếu Gàn, hạ kiệu cỗ trước miếu để quan viên, bô lão vào tế. Tế lễ xong đến chiều các thôn rước kiệu cỗ trở lại đình làng. Sau ngày hòa bình lập lại, việc tổ chức rước lễ và tế hàng tổng không còn tiếp tục được duy trì. Dân thôn Linh Đàm tổ chức hội làng truyền thống ngày 10/2.

Đình Linh Đàm nơi diễn ra lễ hội Thôn Linh Đàm có một ngôi đình lớn, kiến trúc theo kiểu chữ công gồm 5 gian đại bái, 3 gian hậu cung, mang đậm phong cách kiến trúc nghệ thuật cuối thời Lê đầu thời Nguyễn. Cửa đình trông ra đầm Linh Đàm. Thở ban đầu, đình Linh Đàm là một đền thờ thần linh thiêng trong vùng. Đền Linh Đàm trước kia là trung tâm tín ngưỡng thủy thần của nhiều cụm dân cư trong vùng đầm Linh Đàm. Sau này, do sự phát triển dân số, từng cụm dân cư đề xuất với nhà nước thành lập đơn vị hành chính riêng. Dân làng chủ động xây dựng đình thờ Thần của làng để độc lập sinh hoạt văn hóa. Đền Linh Đàm chỉ còn là nơi tín ngưỡng thủy thần của riêng làng Linh Đàm và chuyển tên gọi thành đình. Đông đảo người dân tham gia Hội thờ Thủy thần Đình Linh Đàm thờ thủy thần Bảo Ninh. Tương truyền vào đời nhà Trần có nhà nho danh tiếng Chu Văn An mở tường dạy học ở xã Cung Hoàng, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Học trò theo học rất đông, trong số đó có một thư sinh chăm đến nghe thầy giảng bài nhưng không rõ tung tích. Thầy trò Chu Văn An lần tìm tung tích mới hay thư sinh đó học xong thường đi ra đám lau sậy bên bờ đầm Lân Đàm (nay là miếu Gàn) rồi mất tích. Chu Văn An biết đó là thủy thần nhưng dặn học trò không được đối xử khác bạn. Năm ấy mùa hạn, cây cối cạn khô, dân tình đói khổ. Thương cảnh người dân khốn khổ vì thiếu nước, Chu Văn An gọi học trò lại hỏi xem có cách gì giúp dân. Học trò suy nghĩ trong chốc lát rồi thưa thầy: "Luật trời đất nghiêm nhưng lời thầy dạy cũng rất trọng". Dứt lời, chàng thư sinh ấy đứng ở sân trường lấy nghiên bút ra đổ nước mực mài, dùng bút thấm mực đổ khắp bốn phương. Mực đen vung lên trời lập tức mây đen kéo đến, trời mưa tầm tã. Dân chúng rất đỗi phấn khởi, có nước để cày cấy. Sau một tuần, chàng thư sinh ấy từ trường vội đi về đầm Linh Đàm. Trên trời bống có tiếng nổ lớn, thầy trò Chu Văn An chạy ra thì thấy một xác xuồng luồng nổi lên ở đầm. Chu Văn An cùng học trò và dân chúng mai tác xác thuồng luồng. Đến nay mộ Đức Bảo Ninh vẫn còn. Hội thờ Thủy Thần trước kia cả tổng rước lễ ra miếu Gàn Trước kia, lễ hội Thủy thần đền Linh Đàm diễn ra long trọng trong tháng 8. Ngày 16/8, các bô lão đại diện các thôn ở miếu Gàn (tương truyền là nơi Thủy thần hóa thân thành người đến theo học thầy Chu Văn An) bàn việc tổ chức tế lễ. Đến ngày 18/8, cả thôn đều hội họp để tế cộng đồng. Các thôn trong tổng rước lễ từ đình làng đến miếu Gàn, hạ kiệu cỗ trước miếu để quan viên, bô lão vào tế. Tế lễ xong đến chiều các thôn rước kiệu cỗ trở lại đình làng. Sau ngày hòa bình lập lại, việc tổ chức rước lễ và tế hàng tổng không còn tiếp tục được duy trì. Dân thôn Linh Đàm tổ chức hội làng truyền thống ngày 10/2.

Thôn Linh Đàm có một ngôi đình lớn, kiến trúc theo kiểu chữ công gồm 5 gian đại bái, 3 gian hậu cung, mang đậm phong cách kiến trúc nghệ thuật cuối thời Lê đầu thời Nguyễn. Cửa đình trông ra đầm Linh Đàm. Thở ban đầu, đình Linh Đàm là một đền thờ thần linh thiêng trong vùng. Đền Linh Đàm trước kia là trung tâm tín ngưỡng thủy thần của nhiều cụm dân cư trong vùng đầm Linh Đàm. Sau này, do sự phát triển dân số, từng cụm dân cư đề xuất với nhà nước thành lập đơn vị hành chính riêng. Dân làng chủ động xây dựng đình thờ Thần của làng để độc lập sinh hoạt văn hóa. Đền Linh Đàm chỉ còn là nơi tín ngưỡng thủy thần của riêng làng Linh Đàm và chuyển tên gọi thành đình.

Đông đảo người dân tham gia Hội thờ Thủy thần

Đình Linh Đàm thờ thủy thần Bảo Ninh. Tương truyền vào đời nhà Trần có nhà nho danh tiếng Chu Văn An mở tường dạy học ở xã Cung Hoàng, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Học trò theo học rất đông, trong số đó có một thư sinh chăm đến nghe thầy giảng bài nhưng không rõ tung tích. Thầy trò Chu Văn An lần tìm tung tích mới hay thư sinh đó học xong thường đi ra đám lau sậy bên bờ đầm Lân Đàm (nay là miếu Gàn) rồi mất tích. Chu Văn An biết đó là thủy thần nhưng dặn học trò không được đối xử khác bạn. Năm ấy mùa hạn, cây cối cạn khô, dân tình đói khổ. Thương cảnh người dân khốn khổ vì thiếu nước, Chu Văn An gọi học trò lại hỏi xem có cách gì giúp dân. Học trò suy nghĩ trong chốc lát rồi thưa thầy: "Luật trời đất nghiêm nhưng lời thầy dạy cũng rất trọng". Dứt lời, chàng thư sinh ấy đứng ở sân trường lấy nghiên bút ra đổ nước mực mài, dùng bút thấm mực đổ khắp bốn phương. Mực đen vung lên trời lập tức mây đen kéo đến, trời mưa tầm tã. Dân chúng rất đỗi phấn khởi, có nước để cày cấy. Sau một tuần, chàng thư sinh ấy từ trường vội đi về đầm Linh Đàm. Trên trời bống có tiếng nổ lớn, thầy trò Chu Văn An chạy ra thì thấy một xác xuồng luồng nổi lên ở đầm. Chu Văn An cùng học trò và dân chúng mai tác xác thuồng luồng. Đến nay mộ Đức Bảo Ninh vẫn còn.

Hội thờ Thủy Thần trước kia cả tổng rước lễ ra miếu Gàn

Trước kia, lễ hội Thủy thần đền Linh Đàm diễn ra long trọng trong tháng 8. Ngày 16/8, các bô lão đại diện các thôn ở miếu Gàn (tương truyền là nơi Thủy thần hóa thân thành người đến theo học thầy Chu Văn An) bàn việc tổ chức tế lễ. Đến ngày 18/8, cả thôn đều hội họp để tế cộng đồng. Các thôn trong tổng rước lễ từ đình làng đến miếu Gàn, hạ kiệu cỗ trước miếu để quan viên, bô lão vào tế. Tế lễ xong đến chiều các thôn rước kiệu cỗ trở lại đình làng. Sau ngày hòa bình lập lại, việc tổ chức rước lễ và tế hàng tổng không còn tiếp tục được duy trì. Dân thôn Linh Đàm tổ chức hội làng truyền thống ngày 10/2.

Related Figures

Hội thổi cơm thi Đồng Vân

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/1 Âm lịch Hội thổi cơm thi Đồng Vân được tổ chức ngày 15/1 âm lịch (5 năm 1 lần) tại xã Đồng Tháp, huyện Đan Phượng, Hà Nội. Hội thổi cơm thi Đồng Vân bắt nguồn từ việc khao quân đánh giặc của cha ông bên bờ sông Đáy. Hội thổi cơm thi Đồng Vân thu hút đông đảo người dân tham gia Hội thổi cơm thi vừa là dịp đề rèn luyện sự nhanh nhẹn, khéo léo vừa tiếp nối truyền thống tốt đẹp của cha ông. Sau màn dâng hương, cúng vái Thành hoàng làng, các đội sẽ tập trung tại một bãi đất bên đình. Nhóm lửa thổi cơm thi hội làng Đồng Vân Hội thổi cơm thi bắt đầu bằng việc lấy lửa. Khi tiếng trống hiệu vừa dứt, mỗi đội cử ra một thành viên leo lên bốn cây chuối bôi mỡ để lấy nén hương cắm trên ngọn cây. Đây là cách lấy lửa độc đáo trong hội thổi cơm thi làng Đồng Vân. Khi nén hương được lấy xuống, châm vào ba que diêm cho cháy thành ngọn lửa. Trong khi đó, những thành viên khác trong đội mỗi người một việc. Người vót những thanh tre già thành những chiếc đũa bông, người nhanh tay giã thóc, sàng gạo, người lấy nước bắt đầu thổi cơm. Hội thổi cơm thi Đồng Vân không phân biệt giới tính, tuổi tác, không câu nệ trang phục cũng như cách thức chơi. Những đội chơi hóa trang để vừa trổ tài nấu cơm, vừa chọc cười khán giả. Nét độc đáo trong hội thổi cơm thi Đồng Vân là nam thanh nữ tú tham gia cuộc thi sẽ hoán đổi giới tính cho nhau với những cách tạo hình khiến người xem không thể nhịn cười. Người tham gia thổi cơm thi hội Đồng Vân hóa trang chọc cười khán giả Hội thổi cơm thi làng Đồng Vân diễn ra trong tiếng gõ mõ, khua chiêng, gõ trống của các anh hề nhằm phân tán tư tưởng của người chơi. Khi cơm chín sẽ được ban giám khảo (là những bậc cao niên trong làng) chấm điểm. Nồi cơm ngon, dẻo, trắng, thơm và được nấu nhanh nhất sẽ giành giải.

Hội thổi cơm thi Đồng Vân thu hút đông đảo người dân tham gia Hội thổi cơm thi vừa là dịp đề rèn luyện sự nhanh nhẹn, khéo léo vừa tiếp nối truyền thống tốt đẹp của cha ông. Sau màn dâng hương, cúng vái Thành hoàng làng, các đội sẽ tập trung tại một bãi đất bên đình. Nhóm lửa thổi cơm thi hội làng Đồng Vân Hội thổi cơm thi bắt đầu bằng việc lấy lửa. Khi tiếng trống hiệu vừa dứt, mỗi đội cử ra một thành viên leo lên bốn cây chuối bôi mỡ để lấy nén hương cắm trên ngọn cây. Đây là cách lấy lửa độc đáo trong hội thổi cơm thi làng Đồng Vân. Khi nén hương được lấy xuống, châm vào ba que diêm cho cháy thành ngọn lửa. Trong khi đó, những thành viên khác trong đội mỗi người một việc. Người vót những thanh tre già thành những chiếc đũa bông, người nhanh tay giã thóc, sàng gạo, người lấy nước bắt đầu thổi cơm. Hội thổi cơm thi Đồng Vân không phân biệt giới tính, tuổi tác, không câu nệ trang phục cũng như cách thức chơi. Những đội chơi hóa trang để vừa trổ tài nấu cơm, vừa chọc cười khán giả. Nét độc đáo trong hội thổi cơm thi Đồng Vân là nam thanh nữ tú tham gia cuộc thi sẽ hoán đổi giới tính cho nhau với những cách tạo hình khiến người xem không thể nhịn cười. Người tham gia thổi cơm thi hội Đồng Vân hóa trang chọc cười khán giả Hội thổi cơm thi làng Đồng Vân diễn ra trong tiếng gõ mõ, khua chiêng, gõ trống của các anh hề nhằm phân tán tư tưởng của người chơi. Khi cơm chín sẽ được ban giám khảo (là những bậc cao niên trong làng) chấm điểm. Nồi cơm ngon, dẻo, trắng, thơm và được nấu nhanh nhất sẽ giành giải.

Hội thổi cơm thi vừa là dịp đề rèn luyện sự nhanh nhẹn, khéo léo vừa tiếp nối truyền thống tốt đẹp của cha ông. Sau màn dâng hương, cúng vái Thành hoàng làng, các đội sẽ tập trung tại một bãi đất bên đình.

Nhóm lửa thổi cơm thi hội làng Đồng Vân

Hội thổi cơm thi bắt đầu bằng việc lấy lửa. Khi tiếng trống hiệu vừa dứt, mỗi đội cử ra một thành viên leo lên bốn cây chuối bôi mỡ để lấy nén hương cắm trên ngọn cây. Đây là cách lấy lửa độc đáo trong hội thổi cơm thi làng Đồng Vân. Khi nén hương được lấy xuống, châm vào ba que diêm cho cháy thành ngọn lửa. Trong khi đó, những thành viên khác trong đội mỗi người một việc. Người vót những thanh tre già thành những chiếc đũa bông, người nhanh tay giã thóc, sàng gạo, người lấy nước bắt đầu thổi cơm.

Hội thổi cơm thi Đồng Vân không phân biệt giới tính, tuổi tác, không câu nệ trang phục cũng như cách thức chơi. Những đội chơi hóa trang để vừa trổ tài nấu cơm, vừa chọc cười khán giả. Nét độc đáo trong hội thổi cơm thi Đồng Vân là nam thanh nữ tú tham gia cuộc thi sẽ hoán đổi giới tính cho nhau với những cách tạo hình khiến người xem không thể nhịn cười. Người tham gia thổi cơm thi hội Đồng Vân hóa trang chọc cười khán giả Hội thổi cơm thi làng Đồng Vân diễn ra trong tiếng gõ mõ, khua chiêng, gõ trống của các anh hề nhằm phân tán tư tưởng của người chơi. Khi cơm chín sẽ được ban giám khảo (là những bậc cao niên trong làng) chấm điểm. Nồi cơm ngon, dẻo, trắng, thơm và được nấu nhanh nhất sẽ giành giải.

Hội thổi cơm thi Đồng Vân không phân biệt giới tính, tuổi tác, không câu nệ trang phục cũng như cách thức chơi. Những đội chơi hóa trang để vừa trổ tài nấu cơm, vừa chọc cười khán giả. Nét độc đáo trong hội thổi cơm thi Đồng Vân là nam thanh nữ tú tham gia cuộc thi sẽ hoán đổi giới tính cho nhau với những cách tạo hình khiến người xem không thể nhịn cười.

Người tham gia thổi cơm thi hội Đồng Vân hóa trang chọc cười khán giả

Hội thổi cơm thi làng Đồng Vân diễn ra trong tiếng gõ mõ, khua chiêng, gõ trống của các anh hề nhằm phân tán tư tưởng của người chơi. Khi cơm chín sẽ được ban giám khảo (là những bậc cao niên trong làng) chấm điểm. Nồi cơm ngon, dẻo, trắng, thơm và được nấu nhanh nhất sẽ giành giải.

Related Figures

Hội thả chim làng Dục Tú huyện Đông Anh - Hà Nội

Thông tin thời kỳ

Hội thả chim làng Dục Tú được tổ chức vào dịp cuối xuân sang hè, tháng 3 âm lịch hàng năm. Hội thả chim là dịp để các bậc cao niên tề tựu đông đủ trong đình làng Dục Tú, thể hiện tính nhân văn sâu sắc. Hội thả chim làng Dục Tú đi vào thơ ca: Từ xưa Dục Tú có lệ hay Hàng năm truyền thống thả chim bay Thi chim có nghệ tài cao thấp Giám khảo công bằng khán giả say Hội thả chim làng Dục Tú thể hiện tính nhân văn sâu sắc Hội thả chim làng Dục Tú có từ hàng ngàn năm trước. Tương truyền, vào một ngày đẹp trời, Đức Phật đang thưởng ngoạn cảnh đẹp ven rừng bỗng thấy một con chim ưng đang đuổi theo một con chim bồ câu. Chú bồ câu non nớt vội sà vào lòng Đức Phật để lánh nạn. Đức Phật giang tay che chở cho chú chim bồ câu. Thấy vậy chim ưng bèn xếp cánh xuống một nhành cây và nói: "Ngài muốn cứu bồ câu thoát chết lẽ nào muốn tôi chết đói". Đức phật ung dung lên tiếng: "Ngươi cần những gì để cảm thấy no lòng, ta đây sẵn sàng cho ngươi. Chim ưng lên tiếng đáp "ta muốn ăn thịt". Đức Phật liền rút ra một con dao cắt thịt ở cánh tay của mình cho chim ưng. Đức Phật cắt thịt ở cánh tay tới hết mà chim ưng vẫn chế ít, không bằng thịt bồ câu. Chim ưng hỏi Đức Phạt có hối hận không. Phật đáp: "Ta hoàn toàn không mảy may hối hận. Để cứu một sinh linh thì thịt ở cánh tay ta có gì đáng tiếc. Nếu lời nói này của ta xuất phát từ lòng chí thành thì mong thịt ở cánh tay sẽ liền lại như trước". Vừa cầu nguyện xong, quả nhiên thịt ở cánh tay Ngài trở lại như trước. Chim ưng liền hiện nguyên hình Đế Thích rồi bay lên không trung, hướng về Đức Phật thi lễ. Việc Đức Phật vì lòng từ bi cắt thịt tay mình hiến cho chim ưng được lan truyền khắp nơi, ai nấy đều ca ngợi đức hy sinh cao cả của Ngài. Từ truyền thuyết này, ông cha ta sáng tạo lối chơi dân gian tao nhã "thả chim bồ câu". Mỗi chú chim dự thi đều được nuôi và huấn luyện trước ngày thi hàng năm trời. Ngay từ ban đầu, chủ chim phải chọn giống chim màu ghi đá, mắt nhỏ đen tuyền, ức nở, mình thon, đuôi cụp, thân chắc, lông bóng... Hội truyền thống thả chim bay làng Dục Tú Ban chấm thi trong Hội thả chim làng Dục Tú được tổ chức thành hai địa điểm: Chịch ngoại và chịch nội. Chịch Ngoại (chấm sơ khảo) có nhiệm vụ tổ chức đưa đàn chim vào vị trí đăng ký và phát lệnh để chim bay. Chịch nội (chấm chung khảo) đặt cách chịch ngoại vài trăm mét. Nơi đây đặt một thau nước to trong vắt như tấm gương để các cụ bắt các đàn chim khảo khí. Khi đàn chim xuất hiện trong thau thì chịch nội đánh một tiếng trống báo hiệu cho mọi người biết đã có điểm. Ở các hội thả chim Dục Tú, rất hiếm có đàn chim lọt vào chịch nội, cao nhất 20%. Hội thả chim làng Dục Tú tổ chức cuối xuân sang hè Người và chim thắng cuộc đều cực kỳ danh giá và cao quý, trở thành "Đệ nhất quần anh nghĩa điểu".

Hội thả chim làng Dục Tú đi vào thơ ca:

Từ xưa Dục Tú có lệ hay

Hàng năm truyền thống thả chim bay

Thi chim có nghệ tài cao thấp

Giám khảo công bằng khán giả say

Hội thả chim làng Dục Tú thể hiện tính nhân văn sâu sắc

Hội thả chim làng Dục Tú có từ hàng ngàn năm trước. Tương truyền, vào một ngày đẹp trời, Đức Phật đang thưởng ngoạn cảnh đẹp ven rừng bỗng thấy một con chim ưng đang đuổi theo một con chim bồ câu. Chú bồ câu non nớt vội sà vào lòng Đức Phật để lánh nạn. Đức Phật giang tay che chở cho chú chim bồ câu. Thấy vậy chim ưng bèn xếp cánh xuống một nhành cây và nói: "Ngài muốn cứu bồ câu thoát chết lẽ nào muốn tôi chết đói". Đức phật ung dung lên tiếng: "Ngươi cần những gì để cảm thấy no lòng, ta đây sẵn sàng cho ngươi. Chim ưng lên tiếng đáp "ta muốn ăn thịt". Đức Phật liền rút ra một con dao cắt thịt ở cánh tay của mình cho chim ưng. Đức Phật cắt thịt ở cánh tay tới hết mà chim ưng vẫn chế ít, không bằng thịt bồ câu. Chim ưng hỏi Đức Phạt có hối hận không. Phật đáp: "Ta hoàn toàn không mảy may hối hận. Để cứu một sinh linh thì thịt ở cánh tay ta có gì đáng tiếc. Nếu lời nói này của ta xuất phát từ lòng chí thành thì mong thịt ở cánh tay sẽ liền lại như trước". Vừa cầu nguyện xong, quả nhiên thịt ở cánh tay Ngài trở lại như trước. Chim ưng liền hiện nguyên hình Đế Thích rồi bay lên không trung, hướng về Đức Phật thi lễ. Việc Đức Phật vì lòng từ bi cắt thịt tay mình hiến cho chim ưng được lan truyền khắp nơi, ai nấy đều ca ngợi đức hy sinh cao cả của Ngài. Từ truyền thuyết này, ông cha ta sáng tạo lối chơi dân gian tao nhã "thả chim bồ câu".

Mỗi chú chim dự thi đều được nuôi và huấn luyện trước ngày thi hàng năm trời. Ngay từ ban đầu, chủ chim phải chọn giống chim màu ghi đá, mắt nhỏ đen tuyền, ức nở, mình thon, đuôi cụp, thân chắc, lông bóng...

Hội truyền thống thả chim bay làng Dục Tú

Ban chấm thi trong Hội thả chim làng Dục Tú được tổ chức thành hai địa điểm: Chịch ngoại và chịch nội. Chịch Ngoại (chấm sơ khảo) có nhiệm vụ tổ chức đưa đàn chim vào vị trí đăng ký và phát lệnh để chim bay. Chịch nội (chấm chung khảo) đặt cách chịch ngoại vài trăm mét. Nơi đây đặt một thau nước to trong vắt như tấm gương để các cụ bắt các đàn chim khảo khí. Khi đàn chim xuất hiện trong thau thì chịch nội đánh một tiếng trống báo hiệu cho mọi người biết đã có điểm. Ở các hội thả chim Dục Tú, rất hiếm có đàn chim lọt vào chịch nội, cao nhất 20%.

Hội thả chim làng Dục Tú tổ chức cuối xuân sang hè

Người và chim thắng cuộc đều cực kỳ danh giá và cao quý, trở thành "Đệ nhất quần anh nghĩa điểu".

Related Figures

Lễ hội đình Sài Đồng

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 8/2- 10/2 Âm lịch Lễ hội đình Sài Đồng được tổ chức ngày 8-10/2 âm lịch hàng năm nhằm kỷ niệm ngày hóa Đức thánh Linh Lang Đại vương. Lễ hội đình Sài Đồng kết hợp giữa yếu tố tâm linh và các trò chơi tranh tài, giải trí... kết nối cộng đồng. Lễ hội truyền thống đình Sài Đồng Đình Sài Đồng (hay còn gọi là đình Sài) thuộc phường Phúc Đồng, quận Long Biên, Hà Nội. Theo cuốn Ngọc phả cổ lục nguyên bản chữ Hán do Đông các Đại học sỹ Nguyễn Bính biên soạn ngày 10/1 năm Hồng Phúc nguyên niên (năm 1572) ghi lại đình Sài Đồng thờ Linh Lang Đại vương thời Lý. Lễ hội đình Sài Đồng diễn ra sôi nổi Đình Sài Đồng tạo lạc trên một khu đất cao, rộng, cách quốc lộ 5 khoảng 30m. Đình Sài Đồng xây theo hướng nam, phía trước đình có hồ nước rộng của làng (xưa kia hồ có tên gọi Đấu ruộng chúa). Phía trước cửa đình có "Long tỉnh" (Giếng rồng) mang ý nghĩa tụ thủy theo thuyết phong thủy của người xưa. Đây là nơi lấy nước thờ cúng và nước ăn cho dân làng. Từ giếng nước lên là nhà xây theo dạng thủy tọa, kiểu vòm cuốn (kiến trúc này hiếm thấy ở các tỉnh miền Bắc). Phía trong sân là tòa Đại đình gồm 5 gian xây theo kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói vẩy hến, giữa bờ nóc trang trí hình 2 Nghê chầu, ở giữa đắp nổi Hổ trầu với hai tay khuỳnh ra hai bên. Qua nhiều thăng trầm lịch sử, đình Sài Đồng được như ngày nay là do sự cố gắng của người dân địa phương trong việc giữ gìn và tôn tạo. Đình Sài Đồng được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa năm 1992. Trận đấu bóng chuyền hội đình Sài Đồng Những năm gần đây, lễ hội đình Sài Đồng còn có sự tranh tài của các đội bóng chuyền nữ hàng đầu giải Vô địch quốc gia. Với tính chất biểu diễn, cống hiến cho bà con, rất nhiều nhưng pha bóng đẹp mắt được các nữ tuyển thủ thực hiện. Rất đông khán giả là người dân địa phương và các vùng lân cận tới cổ vũ nhiệt tình cho các đội bóng.

Lễ hội truyền thống đình Sài Đồng Đình Sài Đồng (hay còn gọi là đình Sài) thuộc phường Phúc Đồng, quận Long Biên, Hà Nội. Theo cuốn Ngọc phả cổ lục nguyên bản chữ Hán do Đông các Đại học sỹ Nguyễn Bính biên soạn ngày 10/1 năm Hồng Phúc nguyên niên (năm 1572) ghi lại đình Sài Đồng thờ Linh Lang Đại vương thời Lý. Lễ hội đình Sài Đồng diễn ra sôi nổi Đình Sài Đồng tạo lạc trên một khu đất cao, rộng, cách quốc lộ 5 khoảng 30m. Đình Sài Đồng xây theo hướng nam, phía trước đình có hồ nước rộng của làng (xưa kia hồ có tên gọi Đấu ruộng chúa). Phía trước cửa đình có "Long tỉnh" (Giếng rồng) mang ý nghĩa tụ thủy theo thuyết phong thủy của người xưa. Đây là nơi lấy nước thờ cúng và nước ăn cho dân làng. Từ giếng nước lên là nhà xây theo dạng thủy tọa, kiểu vòm cuốn (kiến trúc này hiếm thấy ở các tỉnh miền Bắc). Phía trong sân là tòa Đại đình gồm 5 gian xây theo kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói vẩy hến, giữa bờ nóc trang trí hình 2 Nghê chầu, ở giữa đắp nổi Hổ trầu với hai tay khuỳnh ra hai bên. Qua nhiều thăng trầm lịch sử, đình Sài Đồng được như ngày nay là do sự cố gắng của người dân địa phương trong việc giữ gìn và tôn tạo. Đình Sài Đồng được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa năm 1992. Trận đấu bóng chuyền hội đình Sài Đồng Những năm gần đây, lễ hội đình Sài Đồng còn có sự tranh tài của các đội bóng chuyền nữ hàng đầu giải Vô địch quốc gia. Với tính chất biểu diễn, cống hiến cho bà con, rất nhiều nhưng pha bóng đẹp mắt được các nữ tuyển thủ thực hiện. Rất đông khán giả là người dân địa phương và các vùng lân cận tới cổ vũ nhiệt tình cho các đội bóng.

Đình Sài Đồng (hay còn gọi là đình Sài) thuộc phường Phúc Đồng, quận Long Biên, Hà Nội. Theo cuốn Ngọc phả cổ lục nguyên bản chữ Hán do Đông các Đại học sỹ Nguyễn Bính biên soạn ngày 10/1 năm Hồng Phúc nguyên niên (năm 1572) ghi lại đình Sài Đồng thờ Linh Lang Đại vương thời Lý.

Lễ hội đình Sài Đồng diễn ra sôi nổi Đình Sài Đồng tạo lạc trên một khu đất cao, rộng, cách quốc lộ 5 khoảng 30m. Đình Sài Đồng xây theo hướng nam, phía trước đình có hồ nước rộng của làng (xưa kia hồ có tên gọi Đấu ruộng chúa). Phía trước cửa đình có "Long tỉnh" (Giếng rồng) mang ý nghĩa tụ thủy theo thuyết phong thủy của người xưa. Đây là nơi lấy nước thờ cúng và nước ăn cho dân làng. Từ giếng nước lên là nhà xây theo dạng thủy tọa, kiểu vòm cuốn (kiến trúc này hiếm thấy ở các tỉnh miền Bắc). Phía trong sân là tòa Đại đình gồm 5 gian xây theo kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói vẩy hến, giữa bờ nóc trang trí hình 2 Nghê chầu, ở giữa đắp nổi Hổ trầu với hai tay khuỳnh ra hai bên. Qua nhiều thăng trầm lịch sử, đình Sài Đồng được như ngày nay là do sự cố gắng của người dân địa phương trong việc giữ gìn và tôn tạo. Đình Sài Đồng được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa năm 1992.

Đình Sài Đồng tạo lạc trên một khu đất cao, rộng, cách quốc lộ 5 khoảng 30m. Đình Sài Đồng xây theo hướng nam, phía trước đình có hồ nước rộng của làng (xưa kia hồ có tên gọi Đấu ruộng chúa). Phía trước cửa đình có "Long tỉnh" (Giếng rồng) mang ý nghĩa tụ thủy theo thuyết phong thủy của người xưa. Đây là nơi lấy nước thờ cúng và nước ăn cho dân làng. Từ giếng nước lên là nhà xây theo dạng thủy tọa, kiểu vòm cuốn (kiến trúc này hiếm thấy ở các tỉnh miền Bắc). Phía trong sân là tòa Đại đình gồm 5 gian xây theo kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói vẩy hến, giữa bờ nóc trang trí hình 2 Nghê chầu, ở giữa đắp nổi Hổ trầu với hai tay khuỳnh ra hai bên. Qua nhiều thăng trầm lịch sử, đình Sài Đồng được như ngày nay là do sự cố gắng của người dân địa phương trong việc giữ gìn và tôn tạo. Đình Sài Đồng được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa năm 1992.

Trận đấu bóng chuyền hội đình Sài Đồng

Những năm gần đây, lễ hội đình Sài Đồng còn có sự tranh tài của các đội bóng chuyền nữ hàng đầu giải Vô địch quốc gia. Với tính chất biểu diễn, cống hiến cho bà con, rất nhiều nhưng pha bóng đẹp mắt được các nữ tuyển thủ thực hiện. Rất đông khán giả là người dân địa phương và các vùng lân cận tới cổ vũ nhiệt tình cho các đội bóng.

Related Figures

Lễ giỗ đại vương Lê Khôi

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/5- 3/5 Âm lịch Hàng năm, cứ đến ngày mồng 1,2,3 tháng 5 âm lịch, đền Chiêu Trưng còn được gọi là đèn Võ Mục lại diễn ra lễ giỗ Lê Khôi, để tưởng nhớ công lao to lớn của vị tướng này trong lịch sử chống lại quân xâm lược nhà Minh. Cán bộ trong vùng cùng người dân và du khách dâng hương lên đại tướng Lê khôi Lê Khôi đầu quân vào nghĩa quân Lam Sơn từ những ngày đầu thành lập nghĩa quân. Ông có thên trong danh sách 35 vị công thần khởi nghĩa và Hội thề Lũng Nhai. Ông sống qua ba triều đại là Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông và Lê Nhân Tông, đã từng giữ tới chức Khâm sai tiết chế thủy lục, Hộ vệ thượng tướng quân. Lễ giỗ đại vương Lê Khôi tại đền Chiêu Trưng ở Hà Tĩnh Năm 1446, Lê Khôi được vua Nhân Tống ra lệnh cầm quân đi đánh Chiêm Thành. Nhưng trên đường trở về ông đã bị bệnh nặng và qua đời tại Cửa Sót, ở ngay dưới chân núi Nam Giới. Thi hài của ông được mai tái ở núi Long Ngâm. Năm 1487, vua Lê Thánh Tông phong tặng Lễ Khôi hiệu "Chiêu Trưng đại vương". Triều đình cũng đã tổ chức quốc tang và lập đền thờ ông. Những người dân địa phương lập đền thờ Lê Khôi tại Cửa Sót và hàng năm tổ chức ngày giỗ ông. Rất đông người dân và du khách về xem lễ giỗ tổ đại vương Lê Khôi Lễ giỗ Lê Khôi được chia thành hai phần là phần lễ và phần hội. Phần lễ diễn ra với các nghi lễ trang nghiêm. Các vị chủ tế và bồi tế đảm nhiệm phần làm lễ bái chiều hồn đại vương Lê Khôi trước mặt người đi lễ. Phần hội diễn ra rất vui và náo nhiệt với nhiều tiết mục nghệ thuật đặc sắc, mang đậm bản sắc của xứ Nghệ, cùng trò chơi dân gian và các hoạt động thể thao.

Cán bộ trong vùng cùng người dân và du khách dâng hương lên đại tướng Lê khôi Lê Khôi đầu quân vào nghĩa quân Lam Sơn từ những ngày đầu thành lập nghĩa quân. Ông có thên trong danh sách 35 vị công thần khởi nghĩa và Hội thề Lũng Nhai. Ông sống qua ba triều đại là Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông và Lê Nhân Tông, đã từng giữ tới chức Khâm sai tiết chế thủy lục, Hộ vệ thượng tướng quân. Lễ giỗ đại vương Lê Khôi tại đền Chiêu Trưng ở Hà Tĩnh Năm 1446, Lê Khôi được vua Nhân Tống ra lệnh cầm quân đi đánh Chiêm Thành. Nhưng trên đường trở về ông đã bị bệnh nặng và qua đời tại Cửa Sót, ở ngay dưới chân núi Nam Giới. Thi hài của ông được mai tái ở núi Long Ngâm. Năm 1487, vua Lê Thánh Tông phong tặng Lễ Khôi hiệu "Chiêu Trưng đại vương". Triều đình cũng đã tổ chức quốc tang và lập đền thờ ông. Những người dân địa phương lập đền thờ Lê Khôi tại Cửa Sót và hàng năm tổ chức ngày giỗ ông. Rất đông người dân và du khách về xem lễ giỗ tổ đại vương Lê Khôi Lễ giỗ Lê Khôi được chia thành hai phần là phần lễ và phần hội. Phần lễ diễn ra với các nghi lễ trang nghiêm. Các vị chủ tế và bồi tế đảm nhiệm phần làm lễ bái chiều hồn đại vương Lê Khôi trước mặt người đi lễ. Phần hội diễn ra rất vui và náo nhiệt với nhiều tiết mục nghệ thuật đặc sắc, mang đậm bản sắc của xứ Nghệ, cùng trò chơi dân gian và các hoạt động thể thao.

Lê Khôi đầu quân vào nghĩa quân Lam Sơn từ những ngày đầu thành lập nghĩa quân. Ông có thên trong danh sách 35 vị công thần khởi nghĩa và Hội thề Lũng Nhai. Ông sống qua ba triều đại là Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông và Lê Nhân Tông, đã từng giữ tới chức Khâm sai tiết chế thủy lục, Hộ vệ thượng tướng quân.

Lễ giỗ đại vương Lê Khôi tại đền Chiêu Trưng ở Hà Tĩnh

Năm 1446, Lê Khôi được vua Nhân Tống ra lệnh cầm quân đi đánh Chiêm Thành. Nhưng trên đường trở về ông đã bị bệnh nặng và qua đời tại Cửa Sót, ở ngay dưới chân núi Nam Giới. Thi hài của ông được mai tái ở núi Long Ngâm. Năm 1487, vua Lê Thánh Tông phong tặng Lễ Khôi hiệu "Chiêu Trưng đại vương". Triều đình cũng đã tổ chức quốc tang và lập đền thờ ông. Những người dân địa phương lập đền thờ Lê Khôi tại Cửa Sót và hàng năm tổ chức ngày giỗ ông.

Rất đông người dân và du khách về xem lễ giỗ tổ đại vương Lê Khôi

Lễ giỗ Lê Khôi được chia thành hai phần là phần lễ và phần hội. Phần lễ diễn ra với các nghi lễ trang nghiêm. Các vị chủ tế và bồi tế đảm nhiệm phần làm lễ bái chiều hồn đại vương Lê Khôi trước mặt người đi lễ. Phần hội diễn ra rất vui và náo nhiệt với nhiều tiết mục nghệ thuật đặc sắc, mang đậm bản sắc của xứ Nghệ, cùng trò chơi dân gian và các hoạt động thể thao.

Related Figures

Lễ hội truyền thống chùa Kim Dung

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 14/3- 13/3 Âm lịch Lễ hội truyền thống chùa Kim Dung ở Hà Tĩnh diễn ra vào ngày 14 tháng 3 âm lịch, tại xã Thạch Bằng, huyện Lộc Hà. Hàng năm, đông đảo tăng ni Phật tử trong vùng và khắp nơi trên toàn quốc đều về chùa Kim Dung để dâng hương lễ Phật. Lễ hội truyền thống chùa Kim Dung ở Hà Tĩnh Chùa Kim Dung được xây dựng dưới thời Trần vào khoảng giữa thế kỷ 13. Công trình kiến trúc này gồm chùa thờ Phật, đền thờ Thánh Mẫu, thờ thân có quy mô lớn, kiến trúc hài hòa, không gian đẹp, thiên nhiên huyền bí mà gần gũi. Ngôi chùa Kim Dung tọa lạc trên dãy núi Bằng Sơn, là nơi táng mổ tổ quận công Nguyễn Hữu Chỉnh. Nơi đây cũng là nơi diễn ra nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của dân tộc, là nơi nhiều chiến sỹ yêu nước hoạt động trong các cuộc kháng chiến. Chùa Kim Dung cũng là nơi đảng ta chọn làm nơi hội họp vào những ngày đầu khó khăn. Lễ rước diễn ra rất long trọng Lễ hội chùa Kim Dung từ xưa chỉ tổ chức dưới hình thức tự phát, với quy mô nhỏ. Sau này khi chùa được tỉnh xếp hạng di tích lịch sử thắng cảnh cấp tỉnh thì lễ hội mới được tổ chức thường niên với quy mô lớn và bài bản hơn. Phần tế lễ tại chùa gồm có lễ rước kiệu rồng xuất phát từ chùa Xuân Đài, thỉnh chuông, Cung nghinh hòa thượng về chua cầu cho quốc thái dân an. Mỗi lần hội, hàng trăm tăng ni, Phật tử và người dân khắp nơi đã về đâu thành tâm dâng hương lễ Phật để cầu những điều may mắn. Tăng ni và Phật tử khắp nơi về chùa Kim Dung dâng hương lễ Phật Lễ hội còn có phần hội với nhiều hoạt động văn hóa phong phú, được tổ chức ở dưới chân núi như chọi gà, tôm trống, kéo co, cắm trại, cờ thẻ, bóng chuyền....

Lễ hội truyền thống chùa Kim Dung ở Hà Tĩnh Chùa Kim Dung được xây dựng dưới thời Trần vào khoảng giữa thế kỷ 13. Công trình kiến trúc này gồm chùa thờ Phật, đền thờ Thánh Mẫu, thờ thân có quy mô lớn, kiến trúc hài hòa, không gian đẹp, thiên nhiên huyền bí mà gần gũi. Ngôi chùa Kim Dung tọa lạc trên dãy núi Bằng Sơn, là nơi táng mổ tổ quận công Nguyễn Hữu Chỉnh. Nơi đây cũng là nơi diễn ra nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của dân tộc, là nơi nhiều chiến sỹ yêu nước hoạt động trong các cuộc kháng chiến. Chùa Kim Dung cũng là nơi đảng ta chọn làm nơi hội họp vào những ngày đầu khó khăn. Lễ rước diễn ra rất long trọng Lễ hội chùa Kim Dung từ xưa chỉ tổ chức dưới hình thức tự phát, với quy mô nhỏ. Sau này khi chùa được tỉnh xếp hạng di tích lịch sử thắng cảnh cấp tỉnh thì lễ hội mới được tổ chức thường niên với quy mô lớn và bài bản hơn. Phần tế lễ tại chùa gồm có lễ rước kiệu rồng xuất phát từ chùa Xuân Đài, thỉnh chuông, Cung nghinh hòa thượng về chua cầu cho quốc thái dân an. Mỗi lần hội, hàng trăm tăng ni, Phật tử và người dân khắp nơi đã về đâu thành tâm dâng hương lễ Phật để cầu những điều may mắn. Tăng ni và Phật tử khắp nơi về chùa Kim Dung dâng hương lễ Phật Lễ hội còn có phần hội với nhiều hoạt động văn hóa phong phú, được tổ chức ở dưới chân núi như chọi gà, tôm trống, kéo co, cắm trại, cờ thẻ, bóng chuyền....

Chùa Kim Dung được xây dựng dưới thời Trần vào khoảng giữa thế kỷ 13. Công trình kiến trúc này gồm chùa thờ Phật, đền thờ Thánh Mẫu, thờ thân có quy mô lớn, kiến trúc hài hòa, không gian đẹp, thiên nhiên huyền bí mà gần gũi. Ngôi chùa Kim Dung tọa lạc trên dãy núi Bằng Sơn, là nơi táng mổ tổ quận công Nguyễn Hữu Chỉnh. Nơi đây cũng là nơi diễn ra nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của dân tộc, là nơi nhiều chiến sỹ yêu nước hoạt động trong các cuộc kháng chiến. Chùa Kim Dung cũng là nơi đảng ta chọn làm nơi hội họp vào những ngày đầu khó khăn.

Lễ rước diễn ra rất long trọng Lễ hội chùa Kim Dung từ xưa chỉ tổ chức dưới hình thức tự phát, với quy mô nhỏ. Sau này khi chùa được tỉnh xếp hạng di tích lịch sử thắng cảnh cấp tỉnh thì lễ hội mới được tổ chức thường niên với quy mô lớn và bài bản hơn. Phần tế lễ tại chùa gồm có lễ rước kiệu rồng xuất phát từ chùa Xuân Đài, thỉnh chuông, Cung nghinh hòa thượng về chua cầu cho quốc thái dân an. Mỗi lần hội, hàng trăm tăng ni, Phật tử và người dân khắp nơi đã về đâu thành tâm dâng hương lễ Phật để cầu những điều may mắn. Tăng ni và Phật tử khắp nơi về chùa Kim Dung dâng hương lễ Phật Lễ hội còn có phần hội với nhiều hoạt động văn hóa phong phú, được tổ chức ở dưới chân núi như chọi gà, tôm trống, kéo co, cắm trại, cờ thẻ, bóng chuyền....

Lễ hội chùa Kim Dung từ xưa chỉ tổ chức dưới hình thức tự phát, với quy mô nhỏ. Sau này khi chùa được tỉnh xếp hạng di tích lịch sử thắng cảnh cấp tỉnh thì lễ hội mới được tổ chức thường niên với quy mô lớn và bài bản hơn.

Phần tế lễ tại chùa gồm có lễ rước kiệu rồng xuất phát từ chùa Xuân Đài, thỉnh chuông, Cung nghinh hòa thượng về chua cầu cho quốc thái dân an. Mỗi lần hội, hàng trăm tăng ni, Phật tử và người dân khắp nơi đã về đâu thành tâm dâng hương lễ Phật để cầu những điều may mắn.

Tăng ni và Phật tử khắp nơi về chùa Kim Dung dâng hương lễ Phật Lễ hội còn có phần hội với nhiều hoạt động văn hóa phong phú, được tổ chức ở dưới chân núi như chọi gà, tôm trống, kéo co, cắm trại, cờ thẻ, bóng chuyền....

Lễ hội còn có phần hội với nhiều hoạt động văn hóa phong phú, được tổ chức ở dưới chân núi như chọi gà, tôm trống, kéo co, cắm trại, cờ thẻ, bóng chuyền....

Lễ hội còn có phần hội với nhiều hoạt động văn hóa phong phú, được tổ chức ở dưới chân núi như chọi gà, tôm trống, kéo co, cắm trại, cờ thẻ, bóng chuyền....

Related Figures

Hội rước Thành hoàng tổng Hà Hồi

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 14/3- 17/3 Âm lịch Hội rước Thành hoàng tổng Hà Hồi diễn ra ngày 16/3 âm lịch hàng năm tại 3 xã Hà Hồi, Liên Phương, Quất Động, huyện Thường Tín, Hà Nội. Hội rước Thành hoàng tổng Hà Hồi là hội rước lớn nhất của cả vùng Thường Tín xưa. Tổng Hà Hồi xưa thuộc huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông (Nay thuộc huyện Thường Tín, Hà Nội). Thành hoàng Cao Phong được người dân tổng Hà Hồi thờ phụng hết sức tôn kính từ bao đời nay. Ngày đản sanh 16/3 âm lịch trở thành ngày hội làng của cả tổng hết sức linh đình, trọng thể. Tế lễ hội rước Thành hoàng tổng Hà Hồi Bắt đầu từ ngày 14/3 âm lịch, các làng đều tổ chức tế ở đình và rước kiệu quanh làng để chuẩn bị, tập dượt nghi thức. Ngày 15/3 âm lịch, tổ chức tế trọng ở đình buổi sáng, buổi chiều cả tổng hội kiệu ở đình Hà Hồi. Tuy cùng thờ Thành hoàng Cao Sơn nhưng làng Hà Hồi được xem là anh cả. Sân đền Hà Hồi rộng hàng mẫu đất, rực rỡ cờ hoa, đèn, kiệu... của cả tổng đi rước về. Tối ngày 15, tổ chức lễ tế long trọng tại đình Hà Hồi. Chủ tế là cụ cao niên, đức độ của làng Hà Hồi còn bồi tế là đại biểu của 6 làng còn lại. Tổng Hà Hồi thờ Thành hoàng Cao Sơn Sáng ngày 16/3, cả tổng rước kiệu lên Miếu tổng (đền Phương Quế). Đây là hội rước lớn, có từ 10-14 kiệu rước, thu hút hàng nghìn người tham gia. Đi đầu là đám rước của hai làng sở tại Bạch Liên, Phương Quế, theo sau là đám rước làng Khê Hồi, Phú Cốc, Hà Hồi, Hòa Lương, Đức Trạch. Hội rước tổng Hà Hồi thường chỉ có đám rước làng Hà Hồi đầy đủ tất cả mọi nghi thức vì đây là làng đông dân, kinh tế khá. Còn đám rước của những làng khác thường giảm số lượng nghi thức và cả số lượng người tham gia. Tuy nhiên, làng nào cũng phải đảm bảo có kiệu rồng, phường trống, phường bát âm, cờ lọng nghiêm chỉnh. Hội rước Thành hoàng tổng Hà Hồi diễn ra sôi nổi Sau hội rước của các làng trong tổng lên Miếu tổng (miếu Phương Quế), chủ tế bắt đầu nghi thức đại tế diễn ra trong Miếu tổng. Chủ tế là người thôn Khê Hồi, tả văn là người thôn Phương Quế, mỗi làng cử ra 2 đại diện tham gia vào ban hành lễ. Sau phần tế lễ, dân làng bắt đầu tham gia những trò diễn như: cờ bỏi, múa gậy, thi bơi, hội thủy chiến... Ngày 17/3 âm lịch, hội rước Thành hoàng tổng Hà Hồi mới rã đám. Hội rước Thành hoàng tổng Hà Hồi là dịp để người dân nơi đây gặp gỡ, vui chơi cùng nhau sau một năm làm việc vất vả.

Tổng Hà Hồi xưa thuộc huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông (Nay thuộc huyện Thường Tín, Hà Nội). Thành hoàng Cao Phong được người dân tổng Hà Hồi thờ phụng hết sức tôn kính từ bao đời nay. Ngày đản sanh 16/3 âm lịch trở thành ngày hội làng của cả tổng hết sức linh đình, trọng thể. Tế lễ hội rước Thành hoàng tổng Hà Hồi Bắt đầu từ ngày 14/3 âm lịch, các làng đều tổ chức tế ở đình và rước kiệu quanh làng để chuẩn bị, tập dượt nghi thức. Ngày 15/3 âm lịch, tổ chức tế trọng ở đình buổi sáng, buổi chiều cả tổng hội kiệu ở đình Hà Hồi. Tuy cùng thờ Thành hoàng Cao Sơn nhưng làng Hà Hồi được xem là anh cả. Sân đền Hà Hồi rộng hàng mẫu đất, rực rỡ cờ hoa, đèn, kiệu... của cả tổng đi rước về. Tối ngày 15, tổ chức lễ tế long trọng tại đình Hà Hồi. Chủ tế là cụ cao niên, đức độ của làng Hà Hồi còn bồi tế là đại biểu của 6 làng còn lại. Tổng Hà Hồi thờ Thành hoàng Cao Sơn Sáng ngày 16/3, cả tổng rước kiệu lên Miếu tổng (đền Phương Quế). Đây là hội rước lớn, có từ 10-14 kiệu rước, thu hút hàng nghìn người tham gia. Đi đầu là đám rước của hai làng sở tại Bạch Liên, Phương Quế, theo sau là đám rước làng Khê Hồi, Phú Cốc, Hà Hồi, Hòa Lương, Đức Trạch. Hội rước tổng Hà Hồi thường chỉ có đám rước làng Hà Hồi đầy đủ tất cả mọi nghi thức vì đây là làng đông dân, kinh tế khá. Còn đám rước của những làng khác thường giảm số lượng nghi thức và cả số lượng người tham gia. Tuy nhiên, làng nào cũng phải đảm bảo có kiệu rồng, phường trống, phường bát âm, cờ lọng nghiêm chỉnh. Hội rước Thành hoàng tổng Hà Hồi diễn ra sôi nổi Sau hội rước của các làng trong tổng lên Miếu tổng (miếu Phương Quế), chủ tế bắt đầu nghi thức đại tế diễn ra trong Miếu tổng. Chủ tế là người thôn Khê Hồi, tả văn là người thôn Phương Quế, mỗi làng cử ra 2 đại diện tham gia vào ban hành lễ. Sau phần tế lễ, dân làng bắt đầu tham gia những trò diễn như: cờ bỏi, múa gậy, thi bơi, hội thủy chiến... Ngày 17/3 âm lịch, hội rước Thành hoàng tổng Hà Hồi mới rã đám. Hội rước Thành hoàng tổng Hà Hồi là dịp để người dân nơi đây gặp gỡ, vui chơi cùng nhau sau một năm làm việc vất vả.

Tổng Hà Hồi xưa thuộc huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông (Nay thuộc huyện Thường Tín, Hà Nội). Thành hoàng Cao Phong được người dân tổng Hà Hồi thờ phụng hết sức tôn kính từ bao đời nay. Ngày đản sanh 16/3 âm lịch trở thành ngày hội làng của cả tổng hết sức linh đình, trọng thể.

Tế lễ hội rước Thành hoàng tổng Hà Hồi

Bắt đầu từ ngày 14/3 âm lịch, các làng đều tổ chức tế ở đình và rước kiệu quanh làng để chuẩn bị, tập dượt nghi thức.

Ngày 15/3 âm lịch, tổ chức tế trọng ở đình buổi sáng, buổi chiều cả tổng hội kiệu ở đình Hà Hồi. Tuy cùng thờ Thành hoàng Cao Sơn nhưng làng Hà Hồi được xem là anh cả. Sân đền Hà Hồi rộng hàng mẫu đất, rực rỡ cờ hoa, đèn, kiệu... của cả tổng đi rước về. Tối ngày 15, tổ chức lễ tế long trọng tại đình Hà Hồi. Chủ tế là cụ cao niên, đức độ của làng Hà Hồi còn bồi tế là đại biểu của 6 làng còn lại.

Tổng Hà Hồi thờ Thành hoàng Cao Sơn

Sáng ngày 16/3, cả tổng rước kiệu lên Miếu tổng (đền Phương Quế). Đây là hội rước lớn, có từ 10-14 kiệu rước, thu hút hàng nghìn người tham gia. Đi đầu là đám rước của hai làng sở tại Bạch Liên, Phương Quế, theo sau là đám rước làng Khê Hồi, Phú Cốc, Hà Hồi, Hòa Lương, Đức Trạch. Hội rước tổng Hà Hồi thường chỉ có đám rước làng Hà Hồi đầy đủ tất cả mọi nghi thức vì đây là làng đông dân, kinh tế khá. Còn đám rước của những làng khác thường giảm số lượng nghi thức và cả số lượng người tham gia. Tuy nhiên, làng nào cũng phải đảm bảo có kiệu rồng, phường trống, phường bát âm, cờ lọng nghiêm chỉnh.

Hội rước Thành hoàng tổng Hà Hồi diễn ra sôi nổi

Sau hội rước của các làng trong tổng lên Miếu tổng (miếu Phương Quế), chủ tế bắt đầu nghi thức đại tế diễn ra trong Miếu tổng. Chủ tế là người thôn Khê Hồi, tả văn là người thôn Phương Quế, mỗi làng cử ra 2 đại diện tham gia vào ban hành lễ. Sau phần tế lễ, dân làng bắt đầu tham gia những trò diễn như: cờ bỏi, múa gậy, thi bơi, hội thủy chiến... Ngày 17/3 âm lịch, hội rước Thành hoàng tổng Hà Hồi mới rã đám. Hội rước Thành hoàng tổng Hà Hồi là dịp để người dân nơi đây gặp gỡ, vui chơi cùng nhau sau một năm làm việc vất vả.

Related Figures

Lễ hội đua thuyền truyền thống

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 2/9 Âm lịch Lễ hội đua thuyền truyền thống ở Hương Khê diễn ra vào ngày mồng 2 tháng 9 hàng năm, tại hồ Bình Sơn, thị trấn Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh. Đây là một hoạt động văn hóa và thể theo truyền thống để kỷ niệm ngày lễ Quốc khánh của Hương, với sự tham gia của 22 xã và thị trấn trong toàn huyện. Lễ hội đua thuyền truyền thống ở Hương Khê - Hà Tĩnh Năm 2017, để kỷ niệm 72 năm Cách mạng tháng 8 thành công và ngày Quốc khánh nước Việt Nam, huyện Hương Khê cùng Sở Văn hóa thể thao du lịch tỉnh Hà Tĩnh đã phối hợp tổ chức giải đua thuyền truyền thống trên hồ Bình Sơn. Giải đấu năm nay gồm 12 đội tham gia, gồm cả nam và nữ từ các huyện, thị xã của tỉnh. Lễ hội đua thuyền truyền thống ở Hương Khê thu hút hàng ngàn khách xem hội Chào mừng kỷ niệm 72 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2.9, tại hồ Bình Sơn, huyện Hương Khê (tỉnh Hà Tĩnh), Sở VHTTDL Hà Tĩnh phối hợp với UBND huyện Hương Khê tổ chức giải đua thuyền truyền thống. Đây là một giải đua truyền thống được tổ chức thường niên nên chất lượng đội đua tham gia yêu cầu phải cao. Lễ hội đã thu hút được hơn 2 nghìn người dân xem và cỗ vũ cho các đội chèo. Các thuyền đua đang chuẩn bị trước trận đấu Với đặc điểm địa hình là một vùng quê sông nước, địa danh thường xuyên xảy ra các vụ chết đuối do lũ lụt, vậy nên đua thuyền chính là một hình thức để người dân nơi đây trau dồi và tập luyện bơi lội để đối phó với cảnh lũ lụt diễn ra thường xuyên. Lễ hội cũng là nơi là dịp để người dân trong và ngoài vùng gặp gỡ, giao lưu, nâng cao mối đoàn kết cộng đồng.

Lễ hội đua thuyền truyền thống ở Hương Khê - Hà Tĩnh Năm 2017, để kỷ niệm 72 năm Cách mạng tháng 8 thành công và ngày Quốc khánh nước Việt Nam, huyện Hương Khê cùng Sở Văn hóa thể thao du lịch tỉnh Hà Tĩnh đã phối hợp tổ chức giải đua thuyền truyền thống trên hồ Bình Sơn. Giải đấu năm nay gồm 12 đội tham gia, gồm cả nam và nữ từ các huyện, thị xã của tỉnh. Lễ hội đua thuyền truyền thống ở Hương Khê thu hút hàng ngàn khách xem hội Chào mừng kỷ niệm 72 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2.9, tại hồ Bình Sơn, huyện Hương Khê (tỉnh Hà Tĩnh), Sở VHTTDL Hà Tĩnh phối hợp với UBND huyện Hương Khê tổ chức giải đua thuyền truyền thống. Đây là một giải đua truyền thống được tổ chức thường niên nên chất lượng đội đua tham gia yêu cầu phải cao. Lễ hội đã thu hút được hơn 2 nghìn người dân xem và cỗ vũ cho các đội chèo. Các thuyền đua đang chuẩn bị trước trận đấu Với đặc điểm địa hình là một vùng quê sông nước, địa danh thường xuyên xảy ra các vụ chết đuối do lũ lụt, vậy nên đua thuyền chính là một hình thức để người dân nơi đây trau dồi và tập luyện bơi lội để đối phó với cảnh lũ lụt diễn ra thường xuyên. Lễ hội cũng là nơi là dịp để người dân trong và ngoài vùng gặp gỡ, giao lưu, nâng cao mối đoàn kết cộng đồng.

Năm 2017, để kỷ niệm 72 năm Cách mạng tháng 8 thành công và ngày Quốc khánh nước Việt Nam, huyện Hương Khê cùng Sở Văn hóa thể thao du lịch tỉnh Hà Tĩnh đã phối hợp tổ chức giải đua thuyền truyền thống trên hồ Bình Sơn. Giải đấu năm nay gồm 12 đội tham gia, gồm cả nam và nữ từ các huyện, thị xã của tỉnh.

Lễ hội đua thuyền truyền thống ở Hương Khê thu hút hàng ngàn khách xem hội

Chào mừng kỷ niệm 72 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2.9, tại hồ Bình Sơn, huyện Hương Khê (tỉnh Hà Tĩnh), Sở VHTTDL Hà Tĩnh phối hợp với UBND huyện Hương Khê tổ chức giải đua thuyền truyền thống. Đây là một giải đua truyền thống được tổ chức thường niên nên chất lượng đội đua tham gia yêu cầu phải cao. Lễ hội đã thu hút được hơn 2 nghìn người dân xem và cỗ vũ cho các đội chèo. Các thuyền đua đang chuẩn bị trước trận đấu

Với đặc điểm địa hình là một vùng quê sông nước, địa danh thường xuyên xảy ra các vụ chết đuối do lũ lụt, vậy nên đua thuyền chính là một hình thức để người dân nơi đây trau dồi và tập luyện bơi lội để đối phó với cảnh lũ lụt diễn ra thường xuyên. Lễ hội cũng là nơi là dịp để người dân trong và ngoài vùng gặp gỡ, giao lưu, nâng cao mối đoàn kết cộng đồng.

Related Figures

Lễ hội tế Lục vị Tổ sư truyền nghề

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 7/1 Âm lịch Lễ hội tế Lục vị Tổ sư truyền nghề diễn ra vào ngày mồng 7 tháng Giêng hàng năm, tại khu di tích Tiên Sơn, phường Trung Lương, thị xã Hồng Linh, tỉnh Hà Tĩnh. Khu di tích văn hóa Tiên Sơn còn được gọi là núi Tiên, tọa lạc ngay dưới chân núi Hồng Lĩnh, là kinh đô Ngàn Hống của người Việt Thường thời cổ xưa. Khu di tích này có kiến trúc tổ hợp gồm đề Tiên, miếu Chúa, điện Thánh, chùa Tiên. Các công trình kiến trúc được xây dựng trên diện tích khoảng 2 hecta, năm bên dòng Minh Giang huyền thoại và được bao bọc bởi con đê La Giang. Cụm quần thể di tích này được xây dựng từ đầu thế kỷ 11 cùng với chùa Hương tích, Long Đàm, Thiên Tượng trên đỉnh Ngàn Hống. Lễ hội bơi thuyền trong ngày hội tế Những năm qua, các công trình kiến trúc thuộc cụm di tích này đã được nhà nước và nhân dân tôn tạo lại trên cơ sở giữ gìn các yếu tố gốc gồm: Thượng điện, Trung điện, Hạ điện, đền tiên và miếu Bà Chúa. Thương điện là nơi thờ lục vị thánh tổ, là tổ sư của nghề đrèn, đúc, may.... Trung điện thờ tứ phủ là Địa phủ, Thủy phủ, Sơn phủ, Thiên phủ, Tam tòa thánh mẫu và hạ điện, là nơi thủ bác Hồ cùng các anh hùng của dân tộc. Hàng năm, vào những ngày đầu xuân, du khách đến thăm Tiên Sơn sẽ có cơ hội được tham dự các dạ hội văn hóa Tiên Sơn, được dự lễ tế lục vị thánh tổ truyền nghề trong dân gian. Ngoài ra, du khách còn được xem hội đua thuyền rồng truyền thống của người dân Trung Lương. Lễ tế lục vị tổ sư truyền nghề năm này cũng thu hút hàng chục ngàn người về xem hội, tập trung ra hai bờ sông Minh Giang để gặp gỡ giao lưu và xem hội.

Khu di tích văn hóa Tiên Sơn còn được gọi là núi Tiên, tọa lạc ngay dưới chân núi Hồng Lĩnh, là kinh đô Ngàn Hống của người Việt Thường thời cổ xưa. Khu di tích này có kiến trúc tổ hợp gồm đề Tiên, miếu Chúa, điện Thánh, chùa Tiên. Các công trình kiến trúc được xây dựng trên diện tích khoảng 2 hecta, năm bên dòng Minh Giang huyền thoại và được bao bọc bởi con đê La Giang. Cụm quần thể di tích này được xây dựng từ đầu thế kỷ 11 cùng với chùa Hương tích, Long Đàm, Thiên Tượng trên đỉnh Ngàn Hống.

Lễ hội bơi thuyền trong ngày hội tế

Những năm qua, các công trình kiến trúc thuộc cụm di tích này đã được nhà nước và nhân dân tôn tạo lại trên cơ sở giữ gìn các yếu tố gốc gồm: Thượng điện, Trung điện, Hạ điện, đền tiên và miếu Bà Chúa. Thương điện là nơi thờ lục vị thánh tổ, là tổ sư của nghề đrèn, đúc, may.... Trung điện thờ tứ phủ là Địa phủ, Thủy phủ, Sơn phủ, Thiên phủ, Tam tòa thánh mẫu và hạ điện, là nơi thủ bác Hồ cùng các anh hùng của dân tộc.

Hàng năm, vào những ngày đầu xuân, du khách đến thăm Tiên Sơn sẽ có cơ hội được tham dự các dạ hội văn hóa Tiên Sơn, được dự lễ tế lục vị thánh tổ truyền nghề trong dân gian. Ngoài ra, du khách còn được xem hội đua thuyền rồng truyền thống của người dân Trung Lương. Lễ tế lục vị tổ sư truyền nghề năm này cũng thu hút hàng chục ngàn người về xem hội, tập trung ra hai bờ sông Minh Giang để gặp gỡ giao lưu và xem hội.

Hàng năm, vào những ngày đầu xuân, du khách đến thăm Tiên Sơn sẽ có cơ hội được tham dự các dạ hội văn hóa Tiên Sơn, được dự lễ tế lục vị thánh tổ truyền nghề trong dân gian. Ngoài ra, du khách còn được xem hội đua thuyền rồng truyền thống của người dân Trung Lương. Lễ tế lục vị tổ sư truyền nghề năm này cũng thu hút hàng chục ngàn người về xem hội, tập trung ra hai bờ sông Minh Giang để gặp gỡ giao lưu và xem hội.

Related Figures

Hội phủ Tây Hồ

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 3/3- 7/3 Âm lịch Hội phủ Tây Hồ được tổ chức từ ngày 3-7/3 âm lịch hàng năm tại phủ Tây Hồ, phường Quảng An, quận Tây Hồ, Hà Nội. Phủ Tây Hồ được xem là một trong những chốn linh thiêng nhất trong hệ thống đền, chùa ở Hà Nội. Phủ Tây Hồ không chỉ thu hút người dân thủ đô mà còn cả du khách thập phương tới thắp hương cầu phúc. Phủ Tây Hồ nơi diễn ra lễ hội Phủ Tây Hồ nằm trên một bán đảo nhô ra giữa Hồ Tây, thờ Chúa Liễu Hạnh. Chúa Liễu Hạnh là người phụ nữ tài hoa, đức độ, giỏi đàn ca thơ phú... được nhân giân tôn làm Thánh Mẫu. Chúa Liễu Hạnh là một trong tứ bất tử (cùng với Sơn Tinh, Thánh Gióng và Chử Đồng Tử), là vị Thánh của tín ngưỡng tứ phủ, tín ngưỡng thờ Mẫu của Việt Nam. Vào những ngày mùng 1, ngày rằm, nhất là dịp tết đến xuân về người dân và du khách đổ về Phủ Tây Hồ rất đông. Bên trong Phủ, trên cao là tượng chúa Liễu Hạnh, hai bên là tượng chầu bà đệ Nhị, bà đệ Nhất. Ở giữa Phủ là tượng vua cha Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu. Vào ngày 3/3 âm lịch hàng năm, ngày giỗ Mẫu Liễu Hạnh, người dân nơi đây tổ chức rước kiệu Mẫu từ Phủ Tây Hồ qua đường Yên Phụ, Cổ Ngư, qua đường Quán Thánh tới Nghĩa Lập lấy mã rồi quay về. Phủ Tây Hồ thờ Mẫu Liễu Hạnh Ngày 13/2/1996, Phủ Tây Hồ được Bộ Văn hóa ( Nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và du lịch) cấp bằng "Di tích lịch sử - văn hóa". Bên ngoài Phủ Tây Hồ có cây si cổ thụ được công nhận là "Cây di sản Việt Nam". Hàng nghìn người dân tham gia hội Phủ Tây Hồ Phủ Tây Hồ thờ Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh, được tôn phong là "Mẫu nghi thiên hạ - Mẹ của muôn dân". Người dân tới Phủ Tây Hồ ngoài việc cầu may mắn, bình an, còn để thưởng ngoạn cảnh đẹp Tây Hồ.

Phủ Tây Hồ nơi diễn ra lễ hội Phủ Tây Hồ nằm trên một bán đảo nhô ra giữa Hồ Tây, thờ Chúa Liễu Hạnh. Chúa Liễu Hạnh là người phụ nữ tài hoa, đức độ, giỏi đàn ca thơ phú... được nhân giân tôn làm Thánh Mẫu. Chúa Liễu Hạnh là một trong tứ bất tử (cùng với Sơn Tinh, Thánh Gióng và Chử Đồng Tử), là vị Thánh của tín ngưỡng tứ phủ, tín ngưỡng thờ Mẫu của Việt Nam. Vào những ngày mùng 1, ngày rằm, nhất là dịp tết đến xuân về người dân và du khách đổ về Phủ Tây Hồ rất đông. Bên trong Phủ, trên cao là tượng chúa Liễu Hạnh, hai bên là tượng chầu bà đệ Nhị, bà đệ Nhất. Ở giữa Phủ là tượng vua cha Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu. Vào ngày 3/3 âm lịch hàng năm, ngày giỗ Mẫu Liễu Hạnh, người dân nơi đây tổ chức rước kiệu Mẫu từ Phủ Tây Hồ qua đường Yên Phụ, Cổ Ngư, qua đường Quán Thánh tới Nghĩa Lập lấy mã rồi quay về. Phủ Tây Hồ thờ Mẫu Liễu Hạnh Ngày 13/2/1996, Phủ Tây Hồ được Bộ Văn hóa ( Nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và du lịch) cấp bằng "Di tích lịch sử - văn hóa". Bên ngoài Phủ Tây Hồ có cây si cổ thụ được công nhận là "Cây di sản Việt Nam". Hàng nghìn người dân tham gia hội Phủ Tây Hồ Phủ Tây Hồ thờ Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh, được tôn phong là "Mẫu nghi thiên hạ - Mẹ của muôn dân". Người dân tới Phủ Tây Hồ ngoài việc cầu may mắn, bình an, còn để thưởng ngoạn cảnh đẹp Tây Hồ.

Phủ Tây Hồ nằm trên một bán đảo nhô ra giữa Hồ Tây, thờ Chúa Liễu Hạnh. Chúa Liễu Hạnh là người phụ nữ tài hoa, đức độ, giỏi đàn ca thơ phú... được nhân giân tôn làm Thánh Mẫu. Chúa Liễu Hạnh là một trong tứ bất tử (cùng với Sơn Tinh, Thánh Gióng và Chử Đồng Tử), là vị Thánh của tín ngưỡng tứ phủ, tín ngưỡng thờ Mẫu của Việt Nam.

Vào những ngày mùng 1, ngày rằm, nhất là dịp tết đến xuân về người dân và du khách đổ về Phủ Tây Hồ rất đông. Bên trong Phủ, trên cao là tượng chúa Liễu Hạnh, hai bên là tượng chầu bà đệ Nhị, bà đệ Nhất. Ở giữa Phủ là tượng vua cha Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu. Vào ngày 3/3 âm lịch hàng năm, ngày giỗ Mẫu Liễu Hạnh, người dân nơi đây tổ chức rước kiệu Mẫu từ Phủ Tây Hồ qua đường Yên Phụ, Cổ Ngư, qua đường Quán Thánh tới Nghĩa Lập lấy mã rồi quay về.

Phủ Tây Hồ thờ Mẫu Liễu Hạnh

Ngày 13/2/1996, Phủ Tây Hồ được Bộ Văn hóa ( Nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và du lịch) cấp bằng "Di tích lịch sử - văn hóa". Bên ngoài Phủ Tây Hồ có cây si cổ thụ được công nhận là "Cây di sản Việt Nam".

Hàng nghìn người dân tham gia hội Phủ Tây Hồ Phủ Tây Hồ thờ Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh, được tôn phong là "Mẫu nghi thiên hạ - Mẹ của muôn dân". Người dân tới Phủ Tây Hồ ngoài việc cầu may mắn, bình an, còn để thưởng ngoạn cảnh đẹp Tây Hồ.

Phủ Tây Hồ thờ Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh, được tôn phong là "Mẫu nghi thiên hạ - Mẹ của muôn dân". Người dân tới Phủ Tây Hồ ngoài việc cầu may mắn, bình an, còn để thưởng ngoạn cảnh đẹp Tây Hồ.

Related Figures

Hội chọi gà Ngũ Xã

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 17/1 Âm lịch Hội chọi gà Ngũ Xã được tổ chức ngày 17/1 âm lịch hàng năm tại làng Nam Tràng, phường Trúc Bạch, quận Ba Đình, Hà Nội. Điểm nổi bật nhất của lễ hội truyền thống này chính là các sân đấu gà. Hội chọi gà Ngũ Xã diễn ra sôi nổi Đặc sắc nhất của hội Ngũ Xã là các trận đấu gà chọi nảy lửa. Hội Ngũ Xã tập trung đông đảo những cao thủ chơi gà chọi từ nhiều vùng miền tới tranh tài. Những sân đấu gà được quây tròn thành nhiều điểm trong hội Ngũ Xã. Tất cả những người yêu mến trò chơi này đều có thể tham gia mà không cần đăng ký với Ban tổ chức. Bên cạnh mỗi sới gà luôn có một chiếc đồng hồ để theo dõi. Việc phân chia các cặp đấu, hình thức, thời gian thi đấu do chủ gà thỏa thuận với nhau. Thời gian thi đấu quy định theo số hồ, mỗi hồ kéo dài 15 phút, nghỉ 5 phút. Hội chọi gà Ngũ Xã thu hút đông đảo người dân tham gia Trước kia, các trận đấu gà không có phần thưởng, chỉ là dịp để những người mê gà, có tinh thần thượng võ giao lưu, học hỏi kinh nghiệm luyện gà; là dịp để những chú gà chọi phô diễn khả năng. Từ một hoạt động mang màu sắc lễ hội truyền thống, hội chọi gà Ngũ Xã đã biến tướng thành sới bạc. Người soạn sách tính toán tỉ lệ cược. Đám đông tập hợp xung quanh nhiều xới gà, hô hào cổ vũ và cá cược. Hội chọi gà Ngũ Xã là dịp người mê gà giao lưu và học hỏi Mỗi ngày, hội chọi gà Ngũ Xã có từ 5-7 sới chọi gà, thu hút hàng trăm người tham gia, chủ yếu là dân cá cược. Hoạt động tổ chức cá cược được diễn ra công khai. Số tiền cá cược giao dịch trong mỗi trận đấu có khi lên tới hàng chục, hàng trăm triệu đồng.

Hội chọi gà Ngũ Xã được tổ chức ngày 17/1 âm lịch hàng năm tại làng Nam Tràng, phường Trúc Bạch, quận Ba Đình, Hà Nội. Điểm nổi bật nhất của lễ hội truyền thống này chính là các sân đấu gà. Hội chọi gà Ngũ Xã diễn ra sôi nổi Đặc sắc nhất của hội Ngũ Xã là các trận đấu gà chọi nảy lửa. Hội Ngũ Xã tập trung đông đảo những cao thủ chơi gà chọi từ nhiều vùng miền tới tranh tài. Những sân đấu gà được quây tròn thành nhiều điểm trong hội Ngũ Xã. Tất cả những người yêu mến trò chơi này đều có thể tham gia mà không cần đăng ký với Ban tổ chức. Bên cạnh mỗi sới gà luôn có một chiếc đồng hồ để theo dõi. Việc phân chia các cặp đấu, hình thức, thời gian thi đấu do chủ gà thỏa thuận với nhau. Thời gian thi đấu quy định theo số hồ, mỗi hồ kéo dài 15 phút, nghỉ 5 phút. Hội chọi gà Ngũ Xã thu hút đông đảo người dân tham gia Trước kia, các trận đấu gà không có phần thưởng, chỉ là dịp để những người mê gà, có tinh thần thượng võ giao lưu, học hỏi kinh nghiệm luyện gà; là dịp để những chú gà chọi phô diễn khả năng. Từ một hoạt động mang màu sắc lễ hội truyền thống, hội chọi gà Ngũ Xã đã biến tướng thành sới bạc. Người soạn sách tính toán tỉ lệ cược. Đám đông tập hợp xung quanh nhiều xới gà, hô hào cổ vũ và cá cược. Hội chọi gà Ngũ Xã là dịp người mê gà giao lưu và học hỏi Mỗi ngày, hội chọi gà Ngũ Xã có từ 5-7 sới chọi gà, thu hút hàng trăm người tham gia, chủ yếu là dân cá cược. Hoạt động tổ chức cá cược được diễn ra công khai. Số tiền cá cược giao dịch trong mỗi trận đấu có khi lên tới hàng chục, hàng trăm triệu đồng.

Hội chọi gà Ngũ Xã được tổ chức ngày 17/1 âm lịch hàng năm tại làng Nam Tràng, phường Trúc Bạch, quận Ba Đình, Hà Nội. Điểm nổi bật nhất của lễ hội truyền thống này chính là các sân đấu gà. Hội chọi gà Ngũ Xã diễn ra sôi nổi Đặc sắc nhất của hội Ngũ Xã là các trận đấu gà chọi nảy lửa. Hội Ngũ Xã tập trung đông đảo những cao thủ chơi gà chọi từ nhiều vùng miền tới tranh tài. Những sân đấu gà được quây tròn thành nhiều điểm trong hội Ngũ Xã. Tất cả những người yêu mến trò chơi này đều có thể tham gia mà không cần đăng ký với Ban tổ chức. Bên cạnh mỗi sới gà luôn có một chiếc đồng hồ để theo dõi. Việc phân chia các cặp đấu, hình thức, thời gian thi đấu do chủ gà thỏa thuận với nhau. Thời gian thi đấu quy định theo số hồ, mỗi hồ kéo dài 15 phút, nghỉ 5 phút. Hội chọi gà Ngũ Xã thu hút đông đảo người dân tham gia Trước kia, các trận đấu gà không có phần thưởng, chỉ là dịp để những người mê gà, có tinh thần thượng võ giao lưu, học hỏi kinh nghiệm luyện gà; là dịp để những chú gà chọi phô diễn khả năng. Từ một hoạt động mang màu sắc lễ hội truyền thống, hội chọi gà Ngũ Xã đã biến tướng thành sới bạc. Người soạn sách tính toán tỉ lệ cược. Đám đông tập hợp xung quanh nhiều xới gà, hô hào cổ vũ và cá cược. Hội chọi gà Ngũ Xã là dịp người mê gà giao lưu và học hỏi Mỗi ngày, hội chọi gà Ngũ Xã có từ 5-7 sới chọi gà, thu hút hàng trăm người tham gia, chủ yếu là dân cá cược. Hoạt động tổ chức cá cược được diễn ra công khai. Số tiền cá cược giao dịch trong mỗi trận đấu có khi lên tới hàng chục, hàng trăm triệu đồng.

Hội chọi gà Ngũ Xã diễn ra sôi nổi Đặc sắc nhất của hội Ngũ Xã là các trận đấu gà chọi nảy lửa. Hội Ngũ Xã tập trung đông đảo những cao thủ chơi gà chọi từ nhiều vùng miền tới tranh tài. Những sân đấu gà được quây tròn thành nhiều điểm trong hội Ngũ Xã. Tất cả những người yêu mến trò chơi này đều có thể tham gia mà không cần đăng ký với Ban tổ chức. Bên cạnh mỗi sới gà luôn có một chiếc đồng hồ để theo dõi. Việc phân chia các cặp đấu, hình thức, thời gian thi đấu do chủ gà thỏa thuận với nhau. Thời gian thi đấu quy định theo số hồ, mỗi hồ kéo dài 15 phút, nghỉ 5 phút. Hội chọi gà Ngũ Xã thu hút đông đảo người dân tham gia Trước kia, các trận đấu gà không có phần thưởng, chỉ là dịp để những người mê gà, có tinh thần thượng võ giao lưu, học hỏi kinh nghiệm luyện gà; là dịp để những chú gà chọi phô diễn khả năng. Từ một hoạt động mang màu sắc lễ hội truyền thống, hội chọi gà Ngũ Xã đã biến tướng thành sới bạc. Người soạn sách tính toán tỉ lệ cược. Đám đông tập hợp xung quanh nhiều xới gà, hô hào cổ vũ và cá cược. Hội chọi gà Ngũ Xã là dịp người mê gà giao lưu và học hỏi Mỗi ngày, hội chọi gà Ngũ Xã có từ 5-7 sới chọi gà, thu hút hàng trăm người tham gia, chủ yếu là dân cá cược. Hoạt động tổ chức cá cược được diễn ra công khai. Số tiền cá cược giao dịch trong mỗi trận đấu có khi lên tới hàng chục, hàng trăm triệu đồng.

Đặc sắc nhất của hội Ngũ Xã là các trận đấu gà chọi nảy lửa. Hội Ngũ Xã tập trung đông đảo những cao thủ chơi gà chọi từ nhiều vùng miền tới tranh tài. Những sân đấu gà được quây tròn thành nhiều điểm trong hội Ngũ Xã. Tất cả những người yêu mến trò chơi này đều có thể tham gia mà không cần đăng ký với Ban tổ chức. Bên cạnh mỗi sới gà luôn có một chiếc đồng hồ để theo dõi. Việc phân chia các cặp đấu, hình thức, thời gian thi đấu do chủ gà thỏa thuận với nhau. Thời gian thi đấu quy định theo số hồ, mỗi hồ kéo dài 15 phút, nghỉ 5 phút.

Hội chọi gà Ngũ Xã thu hút đông đảo người dân tham gia

Trước kia, các trận đấu gà không có phần thưởng, chỉ là dịp để những người mê gà, có tinh thần thượng võ giao lưu, học hỏi kinh nghiệm luyện gà; là dịp để những chú gà chọi phô diễn khả năng. Từ một hoạt động mang màu sắc lễ hội truyền thống, hội chọi gà Ngũ Xã đã biến tướng thành sới bạc. Người soạn sách tính toán tỉ lệ cược. Đám đông tập hợp xung quanh nhiều xới gà, hô hào cổ vũ và cá cược.

Hội chọi gà Ngũ Xã là dịp người mê gà giao lưu và học hỏi

Mỗi ngày, hội chọi gà Ngũ Xã có từ 5-7 sới chọi gà, thu hút hàng trăm người tham gia, chủ yếu là dân cá cược. Hoạt động tổ chức cá cược được diễn ra công khai. Số tiền cá cược giao dịch trong mỗi trận đấu có khi lên tới hàng chục, hàng trăm triệu đồng.

Related Figures

Hội Miếu Vũ

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/2 Âm lịch Hội miếu Vũ được tổ chức ngày 10/2 âm lịch hàng năm tại xã Xuân Đỉnh, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Nét đặc sắc của hội là chuẩn bị hai trăm bánh giầy làm bằng nếp cái hoa vàng, kiệu bay, thi bánh giầy, chè kho... Tưng bừng hội miếu Vũ Làng Xuân Tảo (tên nôm là làng Cáo) nằm cách Hồ Gươm khoảng 10km về phía bắc. Từ chợ Bưởi rẽ tay phải hướng Hồ Tây qua đền Sóc tới Xuân La, qua di tích pháo đài Xuân Tảo thì tới Miếu Vũ. Làng Xuân Tảo có bốn khu: khu Nhang, khu Lộc, khu Trung, khu Đông. Trước kia làng có tên kẻ Cấu (hay kẻ Gạo) rồi Quả Động. Đến thời Lê được gọi là Minh Cảo thuộc phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây. Đời Nguyễn làng có tên Xuân Tảo. Năm 1956, làng Xuân Tảo và làng Cáo Đỉnh sáp nhập lại thành xã Xuân Đỉnh. Hiếm có ngôi miếu nào ở Hà Nội quy mô lớn như miếu Vũ. Trước năm 1946, miếu Vũ bề thế với ngũ môn giống như ở chùa Hà, hai tướng ngoài cổng được đắp nổi to lớn như đền Phù Đổng. Miếu Vũ được xây dựng theo kiểu chuôi vồ, năm gian hai mái chồng diêm. Bên trong miếu có thể chứa tới 300 người, ngoài sân đủ chỗ cho 500 người ngồi. Hội miếu Vũ độc đáo với kiệu bay Sau Tết Nguyên Đán ít ngày, 12 giáp của làng tấp nập chuẩn bị hội làng. Có giáp lo đội nhạc bát âm, múa bồng; có giáp lo rước cờ, ngựa, bát bửu; có giáp lo làm bánh giầy... Dân làng đi xa 20 km về Sấu Giá (Hà Đông) để mua đậu xanh, mất ngọt. Người đi chợ Bưởi mua gò, gà mái ghẹ... Hàng ngày, giai kiệu 32 người, gái kiệu 32 người ra miếu Vũ tập tiến lui theo nhịp trống lệnh. Ngày 6/2 âm lịch, dân làng tổ chức lễ cáo yết, khai quang. Người có học vị cao nhất làng đến văn chỉ mở hòm sắc chép văn tế Thành hoàng. Bánh giầy là nét đặc sắc của hội miếu Vũ Chính hội miếu Vũ được tổ chức ngày 10/2, ngoài dân làng bốn khu còn có dân làng Bái Ân, An Thái và du khách thập phương về dự. Bắt đầu từ 8h sáng, tổ chức lễ cúng, đọc văn tế trước cửa miếu. Các khu và dân làng kết chạ dâng lễ vào miếu. Từ 10h, đoàn rước hùng vĩ với cờ thần, chấp kích, múa bồng, múa sênh tiền... nhộn nhịp tiến về đình. Lễ cổ gồm có lồng oẳn, lồng chè kho được đặt lên bàn vuông gồm 4 người khiêng. Khi đến cửa đình bắt đầu kiệu bay, lượn ngang, lượn dọc, xoay tròn trong nửa giờ. Người thủ kiệu phải vào lễ xin "Ngài" thì kiệu mới dừng lại, quay trở về miếu Vũ. Ngày 11/2, dân làng tổ chức nhiều trò chơi dân gian sôi nổi như: đi cầu noi, bắt vịt trên ao, chạy hóa trang... đặc biệt là trò gậy đập niêu gây cười náo động cả một vùng quê.

Hội miếu Vũ được tổ chức ngày 10/2 âm lịch hàng năm tại xã Xuân Đỉnh, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Nét đặc sắc của hội là chuẩn bị hai trăm bánh giầy làm bằng nếp cái hoa vàng, kiệu bay, thi bánh giầy, chè kho...

Tưng bừng hội miếu Vũ

Làng Xuân Tảo (tên nôm là làng Cáo) nằm cách Hồ Gươm khoảng 10km về phía bắc. Từ chợ Bưởi rẽ tay phải hướng Hồ Tây qua đền Sóc tới Xuân La, qua di tích pháo đài Xuân Tảo thì tới Miếu Vũ. Làng Xuân Tảo có bốn khu: khu Nhang, khu Lộc, khu Trung, khu Đông. Trước kia làng có tên kẻ Cấu (hay kẻ Gạo) rồi Quả Động. Đến thời Lê được gọi là Minh Cảo thuộc phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây. Đời Nguyễn làng có tên Xuân Tảo. Năm 1956, làng Xuân Tảo và làng Cáo Đỉnh sáp nhập lại thành xã Xuân Đỉnh. Hiếm có ngôi miếu nào ở Hà Nội quy mô lớn như miếu Vũ. Trước năm 1946, miếu Vũ bề thế với ngũ môn giống như ở chùa Hà, hai tướng ngoài cổng được đắp nổi to lớn như đền Phù Đổng. Miếu Vũ được xây dựng theo kiểu chuôi vồ, năm gian hai mái chồng diêm. Bên trong miếu có thể chứa tới 300 người, ngoài sân đủ chỗ cho 500 người ngồi. Hội miếu Vũ độc đáo với kiệu bay Sau Tết Nguyên Đán ít ngày, 12 giáp của làng tấp nập chuẩn bị hội làng. Có giáp lo đội nhạc bát âm, múa bồng; có giáp lo rước cờ, ngựa, bát bửu; có giáp lo làm bánh giầy... Dân làng đi xa 20 km về Sấu Giá (Hà Đông) để mua đậu xanh, mất ngọt. Người đi chợ Bưởi mua gò, gà mái ghẹ... Hàng ngày, giai kiệu 32 người, gái kiệu 32 người ra miếu Vũ tập tiến lui theo nhịp trống lệnh. Ngày 6/2 âm lịch, dân làng tổ chức lễ cáo yết, khai quang. Người có học vị cao nhất làng đến văn chỉ mở hòm sắc chép văn tế Thành hoàng. Bánh giầy là nét đặc sắc của hội miếu Vũ Chính hội miếu Vũ được tổ chức ngày 10/2, ngoài dân làng bốn khu còn có dân làng Bái Ân, An Thái và du khách thập phương về dự. Bắt đầu từ 8h sáng, tổ chức lễ cúng, đọc văn tế trước cửa miếu. Các khu và dân làng kết chạ dâng lễ vào miếu. Từ 10h, đoàn rước hùng vĩ với cờ thần, chấp kích, múa bồng, múa sênh tiền... nhộn nhịp tiến về đình. Lễ cổ gồm có lồng oẳn, lồng chè kho được đặt lên bàn vuông gồm 4 người khiêng. Khi đến cửa đình bắt đầu kiệu bay, lượn ngang, lượn dọc, xoay tròn trong nửa giờ. Người thủ kiệu phải vào lễ xin "Ngài" thì kiệu mới dừng lại, quay trở về miếu Vũ. Ngày 11/2, dân làng tổ chức nhiều trò chơi dân gian sôi nổi như: đi cầu noi, bắt vịt trên ao, chạy hóa trang... đặc biệt là trò gậy đập niêu gây cười náo động cả một vùng quê.

Làng Xuân Tảo (tên nôm là làng Cáo) nằm cách Hồ Gươm khoảng 10km về phía bắc. Từ chợ Bưởi rẽ tay phải hướng Hồ Tây qua đền Sóc tới Xuân La, qua di tích pháo đài Xuân Tảo thì tới Miếu Vũ. Làng Xuân Tảo có bốn khu: khu Nhang, khu Lộc, khu Trung, khu Đông. Trước kia làng có tên kẻ Cấu (hay kẻ Gạo) rồi Quả Động. Đến thời Lê được gọi là Minh Cảo thuộc phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây. Đời Nguyễn làng có tên Xuân Tảo. Năm 1956, làng Xuân Tảo và làng Cáo Đỉnh sáp nhập lại thành xã Xuân Đỉnh. Hiếm có ngôi miếu nào ở Hà Nội quy mô lớn như miếu Vũ. Trước năm 1946, miếu Vũ bề thế với ngũ môn giống như ở chùa Hà, hai tướng ngoài cổng được đắp nổi to lớn như đền Phù Đổng. Miếu Vũ được xây dựng theo kiểu chuôi vồ, năm gian hai mái chồng diêm. Bên trong miếu có thể chứa tới 300 người, ngoài sân đủ chỗ cho 500 người ngồi. Hội miếu Vũ độc đáo với kiệu bay Sau Tết Nguyên Đán ít ngày, 12 giáp của làng tấp nập chuẩn bị hội làng. Có giáp lo đội nhạc bát âm, múa bồng; có giáp lo rước cờ, ngựa, bát bửu; có giáp lo làm bánh giầy... Dân làng đi xa 20 km về Sấu Giá (Hà Đông) để mua đậu xanh, mất ngọt. Người đi chợ Bưởi mua gò, gà mái ghẹ... Hàng ngày, giai kiệu 32 người, gái kiệu 32 người ra miếu Vũ tập tiến lui theo nhịp trống lệnh. Ngày 6/2 âm lịch, dân làng tổ chức lễ cáo yết, khai quang. Người có học vị cao nhất làng đến văn chỉ mở hòm sắc chép văn tế Thành hoàng. Bánh giầy là nét đặc sắc của hội miếu Vũ Chính hội miếu Vũ được tổ chức ngày 10/2, ngoài dân làng bốn khu còn có dân làng Bái Ân, An Thái và du khách thập phương về dự. Bắt đầu từ 8h sáng, tổ chức lễ cúng, đọc văn tế trước cửa miếu. Các khu và dân làng kết chạ dâng lễ vào miếu. Từ 10h, đoàn rước hùng vĩ với cờ thần, chấp kích, múa bồng, múa sênh tiền... nhộn nhịp tiến về đình. Lễ cổ gồm có lồng oẳn, lồng chè kho được đặt lên bàn vuông gồm 4 người khiêng. Khi đến cửa đình bắt đầu kiệu bay, lượn ngang, lượn dọc, xoay tròn trong nửa giờ. Người thủ kiệu phải vào lễ xin "Ngài" thì kiệu mới dừng lại, quay trở về miếu Vũ. Ngày 11/2, dân làng tổ chức nhiều trò chơi dân gian sôi nổi như: đi cầu noi, bắt vịt trên ao, chạy hóa trang... đặc biệt là trò gậy đập niêu gây cười náo động cả một vùng quê.

Làng Xuân Tảo (tên nôm là làng Cáo) nằm cách Hồ Gươm khoảng 10km về phía bắc. Từ chợ Bưởi rẽ tay phải hướng Hồ Tây qua đền Sóc tới Xuân La, qua di tích pháo đài Xuân Tảo thì tới Miếu Vũ. Làng Xuân Tảo có bốn khu: khu Nhang, khu Lộc, khu Trung, khu Đông. Trước kia làng có tên kẻ Cấu (hay kẻ Gạo) rồi Quả Động. Đến thời Lê được gọi là Minh Cảo thuộc phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây. Đời Nguyễn làng có tên Xuân Tảo. Năm 1956, làng Xuân Tảo và làng Cáo Đỉnh sáp nhập lại thành xã Xuân Đỉnh. Hiếm có ngôi miếu nào ở Hà Nội quy mô lớn như miếu Vũ. Trước năm 1946, miếu Vũ bề thế với ngũ môn giống như ở chùa Hà, hai tướng ngoài cổng được đắp nổi to lớn như đền Phù Đổng. Miếu Vũ được xây dựng theo kiểu chuôi vồ, năm gian hai mái chồng diêm. Bên trong miếu có thể chứa tới 300 người, ngoài sân đủ chỗ cho 500 người ngồi. Hội miếu Vũ độc đáo với kiệu bay Sau Tết Nguyên Đán ít ngày, 12 giáp của làng tấp nập chuẩn bị hội làng. Có giáp lo đội nhạc bát âm, múa bồng; có giáp lo rước cờ, ngựa, bát bửu; có giáp lo làm bánh giầy... Dân làng đi xa 20 km về Sấu Giá (Hà Đông) để mua đậu xanh, mất ngọt. Người đi chợ Bưởi mua gò, gà mái ghẹ... Hàng ngày, giai kiệu 32 người, gái kiệu 32 người ra miếu Vũ tập tiến lui theo nhịp trống lệnh. Ngày 6/2 âm lịch, dân làng tổ chức lễ cáo yết, khai quang. Người có học vị cao nhất làng đến văn chỉ mở hòm sắc chép văn tế Thành hoàng. Bánh giầy là nét đặc sắc của hội miếu Vũ Chính hội miếu Vũ được tổ chức ngày 10/2, ngoài dân làng bốn khu còn có dân làng Bái Ân, An Thái và du khách thập phương về dự. Bắt đầu từ 8h sáng, tổ chức lễ cúng, đọc văn tế trước cửa miếu. Các khu và dân làng kết chạ dâng lễ vào miếu. Từ 10h, đoàn rước hùng vĩ với cờ thần, chấp kích, múa bồng, múa sênh tiền... nhộn nhịp tiến về đình. Lễ cổ gồm có lồng oẳn, lồng chè kho được đặt lên bàn vuông gồm 4 người khiêng. Khi đến cửa đình bắt đầu kiệu bay, lượn ngang, lượn dọc, xoay tròn trong nửa giờ. Người thủ kiệu phải vào lễ xin "Ngài" thì kiệu mới dừng lại, quay trở về miếu Vũ. Ngày 11/2, dân làng tổ chức nhiều trò chơi dân gian sôi nổi như: đi cầu noi, bắt vịt trên ao, chạy hóa trang... đặc biệt là trò gậy đập niêu gây cười náo động cả một vùng quê.

Related Figures

Lễ tế Thánh sư Thợ rèn

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 7/1 Âm lịch Lễ tế Thánh sư Thợ rèn ở Hà Tĩnh diễn ra vào ngày mồng 7 tháng Giêng âm lịch hàng năm, tại cụm di tích lịch sử Tiên Sơn, phường Trung Lương, thị xã Hồng Lĩnh. Lễ tế Thánh sư Thợ rèn ở Hà Tĩnh Tương truyền, tổ sư nghề rèn của Trung Lương là ông Đùng. Ông sống ở trên núi Hồng Lĩnh, thấy dân trong vùng không có công cụ sản xuất nên đành bới đất lấy sắt, nhổ cây rừng đốt thành than để rèn các công cụ lao động phát cho các hộ dân. Từ đó, người dân trong vùng đến để xin ông học nghề. Ông Đùng rất vui vẻ truyền nghề cho dân làng. Những người học nghề thời đầu đã lập nên làng rèn Trung Lương. Về sau, người dân Trung Lương đã lập đền thờ tại Rú Tiên đẻ tướng nhớ tới công đức của ông. Các bô lão trong làng đang làm lễ tế Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, thợ rèn Trung Lương đã làm ra hàng vạn mã tấu, dao găm, kiếm, hơn 2000 khẩu súng kíp và hàng chục tấn lựu đạn để phục vụ cho bộ đội, dân quân chinh chiến. Nhằm khôi phục lại nét văn hóa vật thể và phi vật thể này, đồng thời giữ gìn truyền thống "uống nước nhớ nguồn", hàng năm cứ đến ngày mồng 7 tháng Giêng âm lịch, nhân dân phường Trung Lương lại tổ chức lễ tế Đức tổ Thánh thợ rèn nhằm nhắc nhở con cháu phải ghi nhớ tới công ơn của người đã có công truyền nghề cho làng, phải biết gìn giữ và phát triền nghề rèn làm rạng danh làng nghề. Lễ tế Thánh sư Thợ rèn nhằm tưởng nhớ tới công ơn của ông tổ nghề Vào ngày khai hội, con em phường Trung Lương dù đang công tác, sinh sống ở đâu cũng đều hướng về quê hương để tướng nhớ tới Đức tổ Thánh thợ rèn.

Lễ tế Thánh sư Thợ rèn ở Hà Tĩnh

Tương truyền, tổ sư nghề rèn của Trung Lương là ông Đùng. Ông sống ở trên núi Hồng Lĩnh, thấy dân trong vùng không có công cụ sản xuất nên đành bới đất lấy sắt, nhổ cây rừng đốt thành than để rèn các công cụ lao động phát cho các hộ dân. Từ đó, người dân trong vùng đến để xin ông học nghề. Ông Đùng rất vui vẻ truyền nghề cho dân làng. Những người học nghề thời đầu đã lập nên làng rèn Trung Lương. Về sau, người dân Trung Lương đã lập đền thờ tại Rú Tiên đẻ tướng nhớ tới công đức của ông.

Các bô lão trong làng đang làm lễ tế

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, thợ rèn Trung Lương đã làm ra hàng vạn mã tấu, dao găm, kiếm, hơn 2000 khẩu súng kíp và hàng chục tấn lựu đạn để phục vụ cho bộ đội, dân quân chinh chiến.

Nhằm khôi phục lại nét văn hóa vật thể và phi vật thể này, đồng thời giữ gìn truyền thống "uống nước nhớ nguồn", hàng năm cứ đến ngày mồng 7 tháng Giêng âm lịch, nhân dân phường Trung Lương lại tổ chức lễ tế Đức tổ Thánh thợ rèn nhằm nhắc nhở con cháu phải ghi nhớ tới công ơn của người đã có công truyền nghề cho làng, phải biết gìn giữ và phát triền nghề rèn làm rạng danh làng nghề.

Lễ tế Thánh sư Thợ rèn nhằm tưởng nhớ tới công ơn của ông tổ nghề

Vào ngày khai hội, con em phường Trung Lương dù đang công tác, sinh sống ở đâu cũng đều hướng về quê hương để tướng nhớ tới Đức tổ Thánh thợ rèn.

Related Figures

Lễ hội Giỗ tổ Hùng Vương

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/3 Âm lịch Lễ hội Giỗ tổ Hùng Vương tại chùa Đại Hùng thuộc phường Đậu Liêu tỉnh Hà Tĩnh diễn ra vào ngày 10 tháng Ba âm lịch hàng năm. Chùa Đại Hùng là một trong bốn ngôi chùa cổ: Long đàm, Thiên Tượng, Cực lạc và Đại Hùng, theo sử sách ghi chép. Công trình này được xây dựng từ đời nhà Trần. Chùa Đại Hùng tọa lạc trên mái núi thuộc tổ dân phố số 6, phường Đậu Liêu, ở độ cao khoảng 40 mét so với mực nước biển. Lễ hội Giỗ tổ Hùng Vương tại chùa Đại Hùng ở phường Đậu Liêu - Hà Tĩnh Ngôi chùa này gồm miếu Cô Chín, tượng Quan Âm, Tam Quan, nhà Tổ, Nhà hạ điện, nhà Thánh Mẫu, nhà Tam Bảo. Trải qua hàng trăm năm lịch sử, với thời tiết khắc nghiệt và những biến động lịch sử, đa số các hạng mục của quần thể di tích này đều bị ảnh hưởng nặng, thậm chí có hạng mục đã trở thành phế tích. Nhưng, với tinh thần giữ gìn và phát huy di sản văn hóa của dân tộc, chính quyền và người dân phường Đậu Liêu cùng phật tử khắp nơi đã đóng góp công đức, quyên góp kinh phí để nâng cấp và tôn tạo di tích này, giữ lại những nét kiến trúc cổ xức của các hạng mục. Đặc biệt, quả chuông cao trên 1,1m, nặng khoảng 100 cân, với các hoa văn được chạm trổ tinh xảo đã được lưu giữ cẩn thận Biểu diễn văn nghệ trong ngày hội Từ bao đời nay, trong tiềm thức của người Việt Nam, Thủy tổ Kinh Dương Vương và vua Hùng được xem là những người có công dựng nước. Từ đó, tín ngưỡng thờ các vua Hùng và Thủy tổ Kinh Dương Vương vốn đã trở thành nét đẹp trong bản sắc văn hóa truyền thống của người dân Việt Nam. Dù là ai, làm gì, ở đâu, đến ngày mồng 10 tháng Ba âm lịch hàng năm đều hướng về tổ tiên, cội nguồn với tấm lòng thành kính. Tiết mục múa sư tử trong lễ khai mạc Lễ gỗ Tổ Hùng Vương năm 2016, chính quyền xã Hồng Lĩnh đã chỉ đạo nâng tầm lên thành đại lễ, với quy mô lớn hơn để người dân trong vùng và ngoài vùng có thể đến để dâng hương lên vua Hùng. Năm 2015, chùa Đại Hùng cũng đã thu hút hàng nghìn du khách thập phương và phật tử khắp nơi về chùa xem hội và dâng hương lên vua Hùng.

Chùa Đại Hùng là một trong bốn ngôi chùa cổ: Long đàm, Thiên Tượng, Cực lạc và Đại Hùng, theo sử sách ghi chép. Công trình này được xây dựng từ đời nhà Trần. Chùa Đại Hùng tọa lạc trên mái núi thuộc tổ dân phố số 6, phường Đậu Liêu, ở độ cao khoảng 40 mét so với mực nước biển.

Lễ hội Giỗ tổ Hùng Vương tại chùa Đại Hùng ở phường Đậu Liêu - Hà Tĩnh

Ngôi chùa này gồm miếu Cô Chín, tượng Quan Âm, Tam Quan, nhà Tổ, Nhà hạ điện, nhà Thánh Mẫu, nhà Tam Bảo. Trải qua hàng trăm năm lịch sử, với thời tiết khắc nghiệt và những biến động lịch sử, đa số các hạng mục của quần thể di tích này đều bị ảnh hưởng nặng, thậm chí có hạng mục đã trở thành phế tích. Nhưng, với tinh thần giữ gìn và phát huy di sản văn hóa của dân tộc, chính quyền và người dân phường Đậu Liêu cùng phật tử khắp nơi đã đóng góp công đức, quyên góp kinh phí để nâng cấp và tôn tạo di tích này, giữ lại những nét kiến trúc cổ xức của các hạng mục. Đặc biệt, quả chuông cao trên 1,1m, nặng khoảng 100 cân, với các hoa văn được chạm trổ tinh xảo đã được lưu giữ cẩn thận

Biểu diễn văn nghệ trong ngày hội

Từ bao đời nay, trong tiềm thức của người Việt Nam, Thủy tổ Kinh Dương Vương và vua Hùng được xem là những người có công dựng nước. Từ đó, tín ngưỡng thờ các vua Hùng và Thủy tổ Kinh Dương Vương vốn đã trở thành nét đẹp trong bản sắc văn hóa truyền thống của người dân Việt Nam. Dù là ai, làm gì, ở đâu, đến ngày mồng 10 tháng Ba âm lịch hàng năm đều hướng về tổ tiên, cội nguồn với tấm lòng thành kính.

Tiết mục múa sư tử trong lễ khai mạc

Lễ gỗ Tổ Hùng Vương năm 2016, chính quyền xã Hồng Lĩnh đã chỉ đạo nâng tầm lên thành đại lễ, với quy mô lớn hơn để người dân trong vùng và ngoài vùng có thể đến để dâng hương lên vua Hùng. Năm 2015, chùa Đại Hùng cũng đã thu hút hàng nghìn du khách thập phương và phật tử khắp nơi về chùa xem hội và dâng hương lên vua Hùng.

Related Figures

Lễ Hội Báo Ân Đô Đài Ngự Sử Bùi Cầm Hổ

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 12/1 Âm lịch Lễ Hội Báo Ân Đô Đài Ngự Sử Bùi Cầm Hổ diễn ra vào ngày 12 tháng Giêng âm lịch hàng năm, tại phường Đậu Liêu, Thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh. Lễ Hội Báo Ân Đô Đài Ngự Sử Bùi Cầm Hổ ở Hà Tĩnh Tương truyền, Bùi Cầm Hồ khi sinh ra đã có tướng mạo khác thường. Khai Thái Bài trở dạ đã nghe thấy tiếng hổ gầm ở quanh nhà, và có một luồng gió với mùi trầm thơm khác lạ thoảng qua. Cụ Bùi Tôn Đường là thân sinh ra Bùi Cầm Hổ thấy vậy đã thỉnh cầu nhà sư ở chùa Đại Hùng, và được nhà sư báo có điềm lành "Thiên nhạc giáng trần". Cụ Bùi Tôn Đường vui cùng mừng rỡ trở về nhà, và đã đặt tên cho con là Bùi Cầm Hổ, có nghĩa là họ Bùi bắt được Hổ. Cán bộ các cấp về dâng hương lên Báo Ân Đô Đài Ngự Sử Bùi Cầm Hổ Thời thơ ấu, Bùi Cầm Hổ lớn lên ở quê hương Đậu Liên, sau này ông mới lên kinh thành Thăng Long để học hành thi bảng. Dưới thời vua Lê Thái Tổ, Bùi Cầm Hổ được xem là một trong hai vị khai quốc công thần. Ông được vua chọn làm thái sư để dạy học cho con trưởng của Lê Lợi là vua Lê Thái Tông. Sau 30 năm làm quan trong điều đình nhà lê thời Hậu Lê, Bùi Cầm Hổ đã có nhiều công trạng to lớn cho đất nước. Ông được sung chức đi sứ nhà Minh ba lần. Sau khi ông qua đời, nhân dâng vì muốn tỏ lòng biết ơn tới những công lao của ông, đã lập đền thờ ghi nhận công ơn của ông. Năm 1992, đền thờ của Báo Ân Đô Đài Ngự Sử Bùi Cầm Hổ được Bộ văn hóa thông tin chứng nhận là Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc Gia. Một nghi lễ trong Lễ Hội Báo Ân Đô Đài Ngự Sử Bùi Cầm Hổ ở Hà Tĩnh Ngày 12 tháng Giêng hàng năm, người dân trong vùng lại tề tựu về đây để tổ chức lễ hội. Lễ hội Đô đài còn được gọi với cái tên khác là "Lễ báo ân". Lễ hội này cũng là dịp để thế hệ người dân trong vùng nói riêng và người dân Việt Nam nói chung ôn lại truyền thống "uống nước nhớ nguồn".

Lễ Hội Báo Ân Đô Đài Ngự Sử Bùi Cầm Hổ ở Hà Tĩnh Tương truyền, Bùi Cầm Hồ khi sinh ra đã có tướng mạo khác thường. Khai Thái Bài trở dạ đã nghe thấy tiếng hổ gầm ở quanh nhà, và có một luồng gió với mùi trầm thơm khác lạ thoảng qua. Cụ Bùi Tôn Đường là thân sinh ra Bùi Cầm Hổ thấy vậy đã thỉnh cầu nhà sư ở chùa Đại Hùng, và được nhà sư báo có điềm lành "Thiên nhạc giáng trần". Cụ Bùi Tôn Đường vui cùng mừng rỡ trở về nhà, và đã đặt tên cho con là Bùi Cầm Hổ, có nghĩa là họ Bùi bắt được Hổ. Cán bộ các cấp về dâng hương lên Báo Ân Đô Đài Ngự Sử Bùi Cầm Hổ Thời thơ ấu, Bùi Cầm Hổ lớn lên ở quê hương Đậu Liên, sau này ông mới lên kinh thành Thăng Long để học hành thi bảng. Dưới thời vua Lê Thái Tổ, Bùi Cầm Hổ được xem là một trong hai vị khai quốc công thần. Ông được vua chọn làm thái sư để dạy học cho con trưởng của Lê Lợi là vua Lê Thái Tông. Sau 30 năm làm quan trong điều đình nhà lê thời Hậu Lê, Bùi Cầm Hổ đã có nhiều công trạng to lớn cho đất nước. Ông được sung chức đi sứ nhà Minh ba lần. Sau khi ông qua đời, nhân dâng vì muốn tỏ lòng biết ơn tới những công lao của ông, đã lập đền thờ ghi nhận công ơn của ông. Năm 1992, đền thờ của Báo Ân Đô Đài Ngự Sử Bùi Cầm Hổ được Bộ văn hóa thông tin chứng nhận là Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc Gia. Một nghi lễ trong Lễ Hội Báo Ân Đô Đài Ngự Sử Bùi Cầm Hổ ở Hà Tĩnh Ngày 12 tháng Giêng hàng năm, người dân trong vùng lại tề tựu về đây để tổ chức lễ hội. Lễ hội Đô đài còn được gọi với cái tên khác là "Lễ báo ân". Lễ hội này cũng là dịp để thế hệ người dân trong vùng nói riêng và người dân Việt Nam nói chung ôn lại truyền thống "uống nước nhớ nguồn".

Tương truyền, Bùi Cầm Hồ khi sinh ra đã có tướng mạo khác thường. Khai Thái Bài trở dạ đã nghe thấy tiếng hổ gầm ở quanh nhà, và có một luồng gió với mùi trầm thơm khác lạ thoảng qua. Cụ Bùi Tôn Đường là thân sinh ra Bùi Cầm Hổ thấy vậy đã thỉnh cầu nhà sư ở chùa Đại Hùng, và được nhà sư báo có điềm lành "Thiên nhạc giáng trần". Cụ Bùi Tôn Đường vui cùng mừng rỡ trở về nhà, và đã đặt tên cho con là Bùi Cầm Hổ, có nghĩa là họ Bùi bắt được Hổ.

Cán bộ các cấp về dâng hương lên Báo Ân Đô Đài Ngự Sử Bùi Cầm Hổ

Thời thơ ấu, Bùi Cầm Hổ lớn lên ở quê hương Đậu Liên, sau này ông mới lên kinh thành Thăng Long để học hành thi bảng. Dưới thời vua Lê Thái Tổ, Bùi Cầm Hổ được xem là một trong hai vị khai quốc công thần. Ông được vua chọn làm thái sư để dạy học cho con trưởng của Lê Lợi là vua Lê Thái Tông.

Sau 30 năm làm quan trong điều đình nhà lê thời Hậu Lê, Bùi Cầm Hổ đã có nhiều công trạng to lớn cho đất nước. Ông được sung chức đi sứ nhà Minh ba lần. Sau khi ông qua đời, nhân dâng vì muốn tỏ lòng biết ơn tới những công lao của ông, đã lập đền thờ ghi nhận công ơn của ông. Năm 1992, đền thờ của Báo Ân Đô Đài Ngự Sử Bùi Cầm Hổ được Bộ văn hóa thông tin chứng nhận là Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc Gia.

Một nghi lễ trong Lễ Hội Báo Ân Đô Đài Ngự Sử Bùi Cầm Hổ ở Hà Tĩnh Ngày 12 tháng Giêng hàng năm, người dân trong vùng lại tề tựu về đây để tổ chức lễ hội. Lễ hội Đô đài còn được gọi với cái tên khác là "Lễ báo ân". Lễ hội này cũng là dịp để thế hệ người dân trong vùng nói riêng và người dân Việt Nam nói chung ôn lại truyền thống "uống nước nhớ nguồn".

Ngày 12 tháng Giêng hàng năm, người dân trong vùng lại tề tựu về đây để tổ chức lễ hội. Lễ hội Đô đài còn được gọi với cái tên khác là "Lễ báo ân". Lễ hội này cũng là dịp để thế hệ người dân trong vùng nói riêng và người dân Việt Nam nói chung ôn lại truyền thống "uống nước nhớ nguồn".

Related Figures

Lễ Hội Hải Thượng Lãn Ông - Lê Hữu Trác

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/1 Âm lịch Lễ Hội Hải Thượng Lãn Ông - Lê Hữu Trác ở Hà Tĩnh diễn ra vào ngày 15 tháng Giêng âm lịch hàng năm, tại huyện Hương Sơn. Đây là lễ hội để tưởng nhớ tới công lao to lớn của đại danh y Hải Thượng Lãn Ông. Hàng năm, cứ đến ngày này, rất đông những người công tác trong ngành y, cùng người dân khắp nơi đều tề tựu về đây để tham dự lễ hội. Khi di tích Hải Thượng Lãn Ông Lễ hội Hải Thưởng Lãn Ông - Lê Hữu Trác là một lễ hội truyền thống quan trọng của tỉnh Hà Tĩnh. Thông qua lễ hội này nhằm nâng cao tấm gương sáng của vị đại danh y này, đồng thời nêu cao truyền thống "uống nước nhớ nguồn" và "tôn sư trọng đạo" của nhân dân Việt Nam. Từ lâu lễ hội này đã trở thành một nét văn hóa không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người dân xã Liêu Xá nói tiêng và người dân Hà Tĩnh nói chung. Lễ hội Hải Thượng Lãn Ông - Lễ Hữu Trác Lê Hữu Trác sinh năm 1724 tại làng xã Liêu Xá, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên ngày nay. Ông là con trai của một gia đình danh gia vọng tộc, có cha là đồ đệ tam giáp tiến sỹ làm Thị Làn Bộ Công triều Lê Dụ Tông. Lê Hữu Trác từng tham gia trận mạc, từng giành nhiều thắng lợi. Nhưng sau vài năm chinh chiến ông cảm thấy chán ghét cảnh chiến trường đầu rơi máu chảy,nên ông đã xin về quê sống với mẹ ở xóm Bàu Thượng, xã Sơn Quang, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh để chuyên tâm nghiên cứu về y dược. Trong lịch sử Việt Nam, Hải Thưỡng Lãn Ông - Lê Hữu Trác là một danh y được người đời ca ngợi bởi tài năng và đạo đức. Tượng đài Hải Thượng Lãn Ông Lễ hội Hải Thượng Lãn Ông - Lễ Hữu Trác có ý nghĩa quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân Hà Tĩnh. Đặc biệt, sau khi Khu lưu niệm Đại danh y này được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia, lễ hội này đã được khôi phục và phát triển với quy mô lớn hơn.

Khi di tích Hải Thượng Lãn Ông Lễ hội Hải Thưởng Lãn Ông - Lê Hữu Trác là một lễ hội truyền thống quan trọng của tỉnh Hà Tĩnh. Thông qua lễ hội này nhằm nâng cao tấm gương sáng của vị đại danh y này, đồng thời nêu cao truyền thống "uống nước nhớ nguồn" và "tôn sư trọng đạo" của nhân dân Việt Nam. Từ lâu lễ hội này đã trở thành một nét văn hóa không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người dân xã Liêu Xá nói tiêng và người dân Hà Tĩnh nói chung. Lễ hội Hải Thượng Lãn Ông - Lễ Hữu Trác Lê Hữu Trác sinh năm 1724 tại làng xã Liêu Xá, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên ngày nay. Ông là con trai của một gia đình danh gia vọng tộc, có cha là đồ đệ tam giáp tiến sỹ làm Thị Làn Bộ Công triều Lê Dụ Tông. Lê Hữu Trác từng tham gia trận mạc, từng giành nhiều thắng lợi. Nhưng sau vài năm chinh chiến ông cảm thấy chán ghét cảnh chiến trường đầu rơi máu chảy,nên ông đã xin về quê sống với mẹ ở xóm Bàu Thượng, xã Sơn Quang, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh để chuyên tâm nghiên cứu về y dược. Trong lịch sử Việt Nam, Hải Thưỡng Lãn Ông - Lê Hữu Trác là một danh y được người đời ca ngợi bởi tài năng và đạo đức. Tượng đài Hải Thượng Lãn Ông Lễ hội Hải Thượng Lãn Ông - Lễ Hữu Trác có ý nghĩa quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân Hà Tĩnh. Đặc biệt, sau khi Khu lưu niệm Đại danh y này được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia, lễ hội này đã được khôi phục và phát triển với quy mô lớn hơn.

Lễ hội Hải Thưởng Lãn Ông - Lê Hữu Trác là một lễ hội truyền thống quan trọng của tỉnh Hà Tĩnh. Thông qua lễ hội này nhằm nâng cao tấm gương sáng của vị đại danh y này, đồng thời nêu cao truyền thống "uống nước nhớ nguồn" và "tôn sư trọng đạo" của nhân dân Việt Nam. Từ lâu lễ hội này đã trở thành một nét văn hóa không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người dân xã Liêu Xá nói tiêng và người dân Hà Tĩnh nói chung.

Lễ hội Hải Thượng Lãn Ông - Lễ Hữu Trác

Lê Hữu Trác sinh năm 1724 tại làng xã Liêu Xá, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên ngày nay. Ông là con trai của một gia đình danh gia vọng tộc, có cha là đồ đệ tam giáp tiến sỹ làm Thị Làn Bộ Công triều Lê Dụ Tông. Lê Hữu Trác từng tham gia trận mạc, từng giành nhiều thắng lợi. Nhưng sau vài năm chinh chiến ông cảm thấy chán ghét cảnh chiến trường đầu rơi máu chảy,nên ông đã xin về quê sống với mẹ ở xóm Bàu Thượng, xã Sơn Quang, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh để chuyên tâm nghiên cứu về y dược. Trong lịch sử Việt Nam, Hải Thưỡng Lãn Ông - Lê Hữu Trác là một danh y được người đời ca ngợi bởi tài năng và đạo đức. Tượng đài Hải Thượng Lãn Ông Lễ hội Hải Thượng Lãn Ông - Lễ Hữu Trác có ý nghĩa quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân Hà Tĩnh. Đặc biệt, sau khi Khu lưu niệm Đại danh y này được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia, lễ hội này đã được khôi phục và phát triển với quy mô lớn hơn.

Lê Hữu Trác sinh năm 1724 tại làng xã Liêu Xá, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên ngày nay. Ông là con trai của một gia đình danh gia vọng tộc, có cha là đồ đệ tam giáp tiến sỹ làm Thị Làn Bộ Công triều Lê Dụ Tông. Lê Hữu Trác từng tham gia trận mạc, từng giành nhiều thắng lợi. Nhưng sau vài năm chinh chiến ông cảm thấy chán ghét cảnh chiến trường đầu rơi máu chảy,nên ông đã xin về quê sống với mẹ ở xóm Bàu Thượng, xã Sơn Quang, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh để chuyên tâm nghiên cứu về y dược. Trong lịch sử Việt Nam, Hải Thưỡng Lãn Ông - Lê Hữu Trác là một danh y được người đời ca ngợi bởi tài năng và đạo đức.

Tượng đài Hải Thượng Lãn Ông

Lễ hội Hải Thượng Lãn Ông - Lễ Hữu Trác có ý nghĩa quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân Hà Tĩnh. Đặc biệt, sau khi Khu lưu niệm Đại danh y này được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia, lễ hội này đã được khôi phục và phát triển với quy mô lớn hơn.

Related Figures

Hội miếu Mèn

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 12/1 Âm lịch Hội miếu Mèn được tổ chức ngày 12/1 âm lịch hàng năm tại xã Cam Thượng, huyện Ba Vì, Hà Nội. Hội miếu Mèn thể hiện lòng thành kính của người dân nơi đây với bà Man Thiện, người phụ nữ anh hùng thế kỷ I. Lễ hội truyền thống miếu Mèn được tổ chức long trọng Di tích miếu Mèn trước kia thuộc thôn Nam Nguyễn, tổng Cam Giá, huyện Minh Nghĩa, phủ Quảng Oai, trấn Sơn Tây. Miếu Mèn thờ bà Man Thiện - bà mẹ anh hùng của Hai Bà Trưng. Hội miếu Mèn sôi nổi với tiết mục múa rối nước Bà Man Thiện sinh thời là người phụ nữ tài sắc vẹn toàn, anh hùng kiệt xuất trong lịch sử dân tộc. Bà Man Thiện chính là người đầu tiên xây dựng và giữ vai trò quan trọng đưa cuộc khởi nghĩa chống quân Hán của Hai Bà Trưng đi đến thắng lợi. Mộ bà Man Thiện được gọi là Mả Dạ, theo sách cổ "Mèn" và "Dạ" đều được dùng để suy tôn người phụ nữ anh hùng, đáng kính. Mả Dạ là ngôi mộ đất, nằm ở phía Bắc cách miếu khoảng 200m. Miếu Mèn là công trình kiến trúc nghệ thuật hình chữ Đình gồm tiền tế và hậu cung. Miếu Mèn có quy mô không lớn nhưng có giá trị to lớn về lịch sử, văn hóa cũng như nghệ thuật - kiến trúc. Hiện nay, miếu Mèn còn lưu giữ nhiều di vật quý giá như: kiệu bát cống, long ngài, bài vị, sắc phong, hoành phi, câu đối... Ngày 27/12/1990, miếu Mèn được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay à Bộ Văn hóa Thể Thao & Du lịch) xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa. Ngoài phần lễ được tổ chức long trọng, phần hội cũng sôi nổi với nhiều trò chơi dân gian như: leo dây, múa rối, bơi thuyền... Lễ hội miếu Mèn là sinh hoạt văn hóa truyền thống, thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, giáo dục con cháu tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc.

Lễ hội truyền thống miếu Mèn được tổ chức long trọng Di tích miếu Mèn trước kia thuộc thôn Nam Nguyễn, tổng Cam Giá, huyện Minh Nghĩa, phủ Quảng Oai, trấn Sơn Tây. Miếu Mèn thờ bà Man Thiện - bà mẹ anh hùng của Hai Bà Trưng. Hội miếu Mèn sôi nổi với tiết mục múa rối nước Bà Man Thiện sinh thời là người phụ nữ tài sắc vẹn toàn, anh hùng kiệt xuất trong lịch sử dân tộc. Bà Man Thiện chính là người đầu tiên xây dựng và giữ vai trò quan trọng đưa cuộc khởi nghĩa chống quân Hán của Hai Bà Trưng đi đến thắng lợi. Mộ bà Man Thiện được gọi là Mả Dạ, theo sách cổ "Mèn" và "Dạ" đều được dùng để suy tôn người phụ nữ anh hùng, đáng kính. Mả Dạ là ngôi mộ đất, nằm ở phía Bắc cách miếu khoảng 200m. Miếu Mèn là công trình kiến trúc nghệ thuật hình chữ Đình gồm tiền tế và hậu cung. Miếu Mèn có quy mô không lớn nhưng có giá trị to lớn về lịch sử, văn hóa cũng như nghệ thuật - kiến trúc. Hiện nay, miếu Mèn còn lưu giữ nhiều di vật quý giá như: kiệu bát cống, long ngài, bài vị, sắc phong, hoành phi, câu đối... Ngày 27/12/1990, miếu Mèn được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay à Bộ Văn hóa Thể Thao & Du lịch) xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa. Ngoài phần lễ được tổ chức long trọng, phần hội cũng sôi nổi với nhiều trò chơi dân gian như: leo dây, múa rối, bơi thuyền... Lễ hội miếu Mèn là sinh hoạt văn hóa truyền thống, thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, giáo dục con cháu tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc.

Di tích miếu Mèn trước kia thuộc thôn Nam Nguyễn, tổng Cam Giá, huyện Minh Nghĩa, phủ Quảng Oai, trấn Sơn Tây. Miếu Mèn thờ bà Man Thiện - bà mẹ anh hùng của Hai Bà Trưng.

Hội miếu Mèn sôi nổi với tiết mục múa rối nước

Bà Man Thiện sinh thời là người phụ nữ tài sắc vẹn toàn, anh hùng kiệt xuất trong lịch sử dân tộc. Bà Man Thiện chính là người đầu tiên xây dựng và giữ vai trò quan trọng đưa cuộc khởi nghĩa chống quân Hán của Hai Bà Trưng đi đến thắng lợi. Mộ bà Man Thiện được gọi là Mả Dạ, theo sách cổ "Mèn" và "Dạ" đều được dùng để suy tôn người phụ nữ anh hùng, đáng kính. Mả Dạ là ngôi mộ đất, nằm ở phía Bắc cách miếu khoảng 200m.

Miếu Mèn là công trình kiến trúc nghệ thuật hình chữ Đình gồm tiền tế và hậu cung. Miếu Mèn có quy mô không lớn nhưng có giá trị to lớn về lịch sử, văn hóa cũng như nghệ thuật - kiến trúc. Hiện nay, miếu Mèn còn lưu giữ nhiều di vật quý giá như: kiệu bát cống, long ngài, bài vị, sắc phong, hoành phi, câu đối... Ngày 27/12/1990, miếu Mèn được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay à Bộ Văn hóa Thể Thao & Du lịch) xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa.

Ngoài phần lễ được tổ chức long trọng, phần hội cũng sôi nổi với nhiều trò chơi dân gian như: leo dây, múa rối, bơi thuyền...

Lễ hội miếu Mèn là sinh hoạt văn hóa truyền thống, thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, giáo dục con cháu tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc.

Related Figures

Hội lễ nhượng bạn

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/6- 30/6 Âm lịch Hội lễ nhượng bạn ở Hà Tĩnh diễn ra từ ngày 15 đến 30 tháng Sáu âm lịch hàng năm, tại xã Cẩm Nhượng, huyện Cẩm Xuyên. Đối tượng được người dân nơi đây suy tôn và thờ cúng là Bà Hoàng Càn, là cung phi Trần Duệ Tông ở thế kỷ thứ 14, và ông Đông Đạo là người đã sáng tạo ra bánh lái thuyền. Hội lễ nhượng bạn ở Hà Tĩnh Làng Nhượng Bạn xưa kia nằm ở phía Bắc của cửa bể Nhượng, cách thị xã Hà Tĩnh về phía Đông Nam khoảng 20km. Cứ đến ngày hội, hội đua thuyền lại được tổ chức trên khúc sông Rác trước khi đổ ra biển. Hội đua thuyền hàng năm gợi nhớ tới những người đã có công truyền dạy nghề đánh cá cho người dân trong vùng, đó là bà Hoàng Càn, được suy tôn là người có công đầu trong việc dựng nên xứ biển này. Sau khi bà qua đời, người dân nơi đây đã lập đền thờ bà để ghi nhớ và biết ơn công ơn to lớn của bà. Người thứ hai được người dân nơi đây thờ là ông Đông Đạo, tương truyền là người đã sáng tạo ra bánh lái cho thuyền, thay thế cho chiếc chèo cả, được người dân xem như một vị thần hộ mệnh cho nghề đi biển. Hội đua thuyền là điểm nhấn của hội lễ Nhượng bạn ở Hà Tĩnh Hội lễ đua thuyền hàng năm được tổ chức từ khá sớm. Trước khi vào hội đua, các nghi lễ sẽ được tổ chức một cách linh đình và trang nghiệm. Một dàn lễ sẽ được lập ngay ở bến sông, các trai trong làng sẽ dùng một con thuyền đã được trang hoàng lộng lẫy, được gọi là thuyền thần. Cuộc rước thuyền mang tính chất tâm linh và là nghi thức cổ truyền, với đầy đủ chiêng, trống, cờ... Sau khi thuyền thần được rước đến nơi đặt đàn lễ, chủ tế sẽ dâng hương và khấn các lợi cầu nguyện của dân làng. Sau khi kết thúc nghi lễ này, thuyền thần sẽ được rước về giữa sông Rác, nơi đang tập kết các thuyền đua. Hội lễ Nhượng bạn diễn ra một cách trang nghiêm, nhưng cũng rất náo nhiệt. Hội đua thuyền trong hội lễ Nhượng Bạn luôn là điểm thu hút sự quan tâm của đông đảo người dân trong vùng lẫn du khách thập phương.

Hội lễ nhượng bạn ở Hà Tĩnh Làng Nhượng Bạn xưa kia nằm ở phía Bắc của cửa bể Nhượng, cách thị xã Hà Tĩnh về phía Đông Nam khoảng 20km. Cứ đến ngày hội, hội đua thuyền lại được tổ chức trên khúc sông Rác trước khi đổ ra biển. Hội đua thuyền hàng năm gợi nhớ tới những người đã có công truyền dạy nghề đánh cá cho người dân trong vùng, đó là bà Hoàng Càn, được suy tôn là người có công đầu trong việc dựng nên xứ biển này. Sau khi bà qua đời, người dân nơi đây đã lập đền thờ bà để ghi nhớ và biết ơn công ơn to lớn của bà. Người thứ hai được người dân nơi đây thờ là ông Đông Đạo, tương truyền là người đã sáng tạo ra bánh lái cho thuyền, thay thế cho chiếc chèo cả, được người dân xem như một vị thần hộ mệnh cho nghề đi biển. Hội đua thuyền là điểm nhấn của hội lễ Nhượng bạn ở Hà Tĩnh Hội lễ đua thuyền hàng năm được tổ chức từ khá sớm. Trước khi vào hội đua, các nghi lễ sẽ được tổ chức một cách linh đình và trang nghiệm. Một dàn lễ sẽ được lập ngay ở bến sông, các trai trong làng sẽ dùng một con thuyền đã được trang hoàng lộng lẫy, được gọi là thuyền thần. Cuộc rước thuyền mang tính chất tâm linh và là nghi thức cổ truyền, với đầy đủ chiêng, trống, cờ... Sau khi thuyền thần được rước đến nơi đặt đàn lễ, chủ tế sẽ dâng hương và khấn các lợi cầu nguyện của dân làng. Sau khi kết thúc nghi lễ này, thuyền thần sẽ được rước về giữa sông Rác, nơi đang tập kết các thuyền đua. Hội lễ Nhượng bạn diễn ra một cách trang nghiêm, nhưng cũng rất náo nhiệt. Hội đua thuyền trong hội lễ Nhượng Bạn luôn là điểm thu hút sự quan tâm của đông đảo người dân trong vùng lẫn du khách thập phương.

Làng Nhượng Bạn xưa kia nằm ở phía Bắc của cửa bể Nhượng, cách thị xã Hà Tĩnh về phía Đông Nam khoảng 20km. Cứ đến ngày hội, hội đua thuyền lại được tổ chức trên khúc sông Rác trước khi đổ ra biển. Hội đua thuyền hàng năm gợi nhớ tới những người đã có công truyền dạy nghề đánh cá cho người dân trong vùng, đó là bà Hoàng Càn, được suy tôn là người có công đầu trong việc dựng nên xứ biển này. Sau khi bà qua đời, người dân nơi đây đã lập đền thờ bà để ghi nhớ và biết ơn công ơn to lớn của bà.

Người thứ hai được người dân nơi đây thờ là ông Đông Đạo, tương truyền là người đã sáng tạo ra bánh lái cho thuyền, thay thế cho chiếc chèo cả, được người dân xem như một vị thần hộ mệnh cho nghề đi biển.

Hội đua thuyền là điểm nhấn của hội lễ Nhượng bạn ở Hà Tĩnh

Hội lễ đua thuyền hàng năm được tổ chức từ khá sớm. Trước khi vào hội đua, các nghi lễ sẽ được tổ chức một cách linh đình và trang nghiệm. Một dàn lễ sẽ được lập ngay ở bến sông, các trai trong làng sẽ dùng một con thuyền đã được trang hoàng lộng lẫy, được gọi là thuyền thần. Cuộc rước thuyền mang tính chất tâm linh và là nghi thức cổ truyền, với đầy đủ chiêng, trống, cờ... Sau khi thuyền thần được rước đến nơi đặt đàn lễ, chủ tế sẽ dâng hương và khấn các lợi cầu nguyện của dân làng. Sau khi kết thúc nghi lễ này, thuyền thần sẽ được rước về giữa sông Rác, nơi đang tập kết các thuyền đua.

Hội lễ Nhượng bạn diễn ra một cách trang nghiêm, nhưng cũng rất náo nhiệt. Hội đua thuyền trong hội lễ Nhượng Bạn luôn là điểm thu hút sự quan tâm của đông đảo người dân trong vùng lẫn du khách thập phương.

Related Figures

Hội Lỗ Khê

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 13/1 Âm lịch Nhắc tới Lỗ Khê người ta nghĩ ngay tới ngôi làng là đất tổ ca trù vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng đến nay được hơn 600 năm. Trong ba làng tổ ca trù được công nhận, Lỗ Khê là nơi có nhà thờ tổ nguyên vẹn nhất. Hội làng Lỗ Khê có vai trò quan trọng trong việc phát triển ca trù ở Bắc Bộ. Lỗ Khê đất tổ hát ca trù Lỗ Khê xưa thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, xứ Kinh Bắc. Nay thuộc xã Liên Hà, huyện Đông Anh. Thành phố Hà Nội có 3 làng gói bánh chưng nổi tiếng là làng Tranh Khúc, làng Bạc và Lỗ Khê. Trong số đó, Lỗ Khê nổi tiếng nhất với tập tục văn hóa "hát ca trù" tại sân đình trong những ngày làm bánh chưng chuẩn bị đón tết. Hát ca trù là sinh hoạt văn hóa độc đáo của người dân nơi đây. Giáo phường Lỗ Khê vẫn còn giữ sinh hoạt đến ngày nay. Trước đây, giáo phường thường tổ chức các cuộc thi để chọn thủ khoa và á nguyên (giải nhất, giải nhì) vào biểu diễn trong triều đình, dinh quan. Lễ hội làng ca trù Lỗ Khê Hàng năm, vào ngày 6/4 và 13/1 âm lịch, tại nhà thờ tổ Lỗ Khê đều tổ chức lễ hát xướng. Trước ngày lễ khoảng một tháng, những giáo phường trong 2-3 huyện giao hiếu với nhau họp bàn, cử ra một người trùm lớn tuổi từng trải để điều khiển mọi việc. Trong khi cử hành các nghi thức tế lễ, các phường đều tuyển đào hay, kép giỏi tới múa hát. Chỉ những người được dự chầu cử mới được phép hát thờ tổ. Tương truyền xưa kia chính Đức Thánh tổ đã làm ra khúc hát đó nên cô đào chỉ dành để hát thờ, không hát ở đền, miếu và cũng không hát cho bất kỳ ai nghe. Hát thờ tổ khác với hát cửa đền ở chỗ: khi bắt đầu vào kép hát, một kép đeo đàn đứng ở giữa gẩy, hai kép đứng hai bên gõ sênh ngâm khúc "Non mai". Sau khúc ngâm này đến các lối hát khác (44 lối), tới gần sáng thì hát múa bỏ bộ: 4 hoặc 8 cô gái ăn mặc dân giã, vừa hát vừa thực hiện động tác minh họa cho lời hát. Khi múa hát không được phép quay lưng lại bàn thờ và cười đùa. Thông thường trong hội Lỗ Khê còn có múa tứ linh và múa bài bông. Múa bài bông là nhã nhạc của bậc đế vương, cầu kỳ và bài bản. Lễ hội truyền thống làng Lỗ Khê Lễ giỗ tổ làng ca trù làng Lỗ Khê là một sinh hoạt văn hóa nghệ thuật độc đáo của Hà Nội ngàn năm văn hiến. Những khúc hát ca trù tạo nên sự hấp dẫn, linh thiêng, sự phong phú đa dạng trong lễ hội truyền thống.

Nhắc tới Lỗ Khê người ta nghĩ ngay tới ngôi làng là đất tổ ca trù vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng đến nay được hơn 600 năm. Trong ba làng tổ ca trù được công nhận, Lỗ Khê là nơi có nhà thờ tổ nguyên vẹn nhất. Hội làng Lỗ Khê có vai trò quan trọng trong việc phát triển ca trù ở Bắc Bộ.

Lỗ Khê đất tổ hát ca trù

Lỗ Khê xưa thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, xứ Kinh Bắc. Nay thuộc xã Liên Hà, huyện Đông Anh.

Thành phố Hà Nội có 3 làng gói bánh chưng nổi tiếng là làng Tranh Khúc, làng Bạc và Lỗ Khê. Trong số đó, Lỗ Khê nổi tiếng nhất với tập tục văn hóa "hát ca trù" tại sân đình trong những ngày làm bánh chưng chuẩn bị đón tết. Hát ca trù là sinh hoạt văn hóa độc đáo của người dân nơi đây. Giáo phường Lỗ Khê vẫn còn giữ sinh hoạt đến ngày nay. Trước đây, giáo phường thường tổ chức các cuộc thi để chọn thủ khoa và á nguyên (giải nhất, giải nhì) vào biểu diễn trong triều đình, dinh quan.

Lễ hội làng ca trù Lỗ Khê

Hàng năm, vào ngày 6/4 và 13/1 âm lịch, tại nhà thờ tổ Lỗ Khê đều tổ chức lễ hát xướng. Trước ngày lễ khoảng một tháng, những giáo phường trong 2-3 huyện giao hiếu với nhau họp bàn, cử ra một người trùm lớn tuổi từng trải để điều khiển mọi việc. Trong khi cử hành các nghi thức tế lễ, các phường đều tuyển đào hay, kép giỏi tới múa hát. Chỉ những người được dự chầu cử mới được phép hát thờ tổ. Tương truyền xưa kia chính Đức Thánh tổ đã làm ra khúc hát đó nên cô đào chỉ dành để hát thờ, không hát ở đền, miếu và cũng không hát cho bất kỳ ai nghe. Hát thờ tổ khác với hát cửa đền ở chỗ: khi bắt đầu vào kép hát, một kép đeo đàn đứng ở giữa gẩy, hai kép đứng hai bên gõ sênh ngâm khúc "Non mai". Sau khúc ngâm này đến các lối hát khác (44 lối), tới gần sáng thì hát múa bỏ bộ: 4 hoặc 8 cô gái ăn mặc dân giã, vừa hát vừa thực hiện động tác minh họa cho lời hát. Khi múa hát không được phép quay lưng lại bàn thờ và cười đùa. Thông thường trong hội Lỗ Khê còn có múa tứ linh và múa bài bông. Múa bài bông là nhã nhạc của bậc đế vương, cầu kỳ và bài bản.

Lễ hội truyền thống làng Lỗ Khê

Lễ giỗ tổ làng ca trù làng Lỗ Khê là một sinh hoạt văn hóa nghệ thuật độc đáo của Hà Nội ngàn năm văn hiến. Những khúc hát ca trù tạo nên sự hấp dẫn, linh thiêng, sự phong phú đa dạng trong lễ hội truyền thống.

Related Figures

Hội vật truyền thống làng Yên Nội

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 12/2 Âm lịch Hội vật truyền thống làng Yên Nội tổ chức ngày 12/2 âm lịch hàng năm tại xã Đồng Quang, huyện Quốc Oai, Hà Nội. Môn vật là sinh hoạt văn hóa ăn sâu vào đời sống tinh thần của người dân nơi đây. Hội vật làng yên Nội hàng năm thu hút hàng ngàn người dân và du khách về xem các đô vật tranh tài. Hội vật truyền thống làng Yên Nội Hội vật truyền thống làng Yên Nội được tổ chức từ 400 năm trước mừng khánh thành đình làng. Từ đó đến nay, người dân Yên Nội nổi tiếng về vật, được các làng khác trong vùng nể trọng. Đô vật làng Yên Nội có phong thái thi đấu riêng mang đặc trưng văn hóa của hội vật tiêu biểu xứ Đoài. Đông đảo người dân tham gia hội vật truyền thống làng Yên Nội Hội vật làng Yên Nội được tổ chức ở khu vực đình làng. Từ sáng sớm, không khí lễ hội rộn ràng tiếng trống hộn, cờ hoa rực rỡ, người xem vây kín các sới vật. Sau màn nghi lễ tôn nghiêm ở đình làng của các vị trưởng bối, hội vật chính thức bắt đầu với màn biểu diễn đẹp mắt của các đô vật. Phần hấp dẫn nhất của lễ hội là cuộc tranh tài giữa các đô vật thanh niên, thiếu niên. Các đô vật thi đấu quyết liệt trong hội vật truyền thống làng Yên Nội Người điều khiển trận đấu vật là Yên Nội là người cầm chầu, có vai trò như trọng tài, thường là các cụ cao niên tinh tường về vật, nhanh tay nhanh mắt. Người cầm chầu dùng tiếng trống để điều khiển trận đấu. Đô vật tham gia trận đấu đóng khố, cởi trần. Trước khi bước vào trận đấu, các đô vật phải làm lễ ra mắt gọi là "xe đài" để biểu diễn động tác, thăm dò tinh thần đối phương, thể hiện tinh thần thượng võ của lò vật.

Hội vật truyền thống làng Yên Nội Hội vật truyền thống làng Yên Nội được tổ chức từ 400 năm trước mừng khánh thành đình làng. Từ đó đến nay, người dân Yên Nội nổi tiếng về vật, được các làng khác trong vùng nể trọng. Đô vật làng Yên Nội có phong thái thi đấu riêng mang đặc trưng văn hóa của hội vật tiêu biểu xứ Đoài. Đông đảo người dân tham gia hội vật truyền thống làng Yên Nội Hội vật làng Yên Nội được tổ chức ở khu vực đình làng. Từ sáng sớm, không khí lễ hội rộn ràng tiếng trống hộn, cờ hoa rực rỡ, người xem vây kín các sới vật. Sau màn nghi lễ tôn nghiêm ở đình làng của các vị trưởng bối, hội vật chính thức bắt đầu với màn biểu diễn đẹp mắt của các đô vật. Phần hấp dẫn nhất của lễ hội là cuộc tranh tài giữa các đô vật thanh niên, thiếu niên. Các đô vật thi đấu quyết liệt trong hội vật truyền thống làng Yên Nội Người điều khiển trận đấu vật là Yên Nội là người cầm chầu, có vai trò như trọng tài, thường là các cụ cao niên tinh tường về vật, nhanh tay nhanh mắt. Người cầm chầu dùng tiếng trống để điều khiển trận đấu. Đô vật tham gia trận đấu đóng khố, cởi trần. Trước khi bước vào trận đấu, các đô vật phải làm lễ ra mắt gọi là "xe đài" để biểu diễn động tác, thăm dò tinh thần đối phương, thể hiện tinh thần thượng võ của lò vật.

Hội vật truyền thống làng Yên Nội được tổ chức từ 400 năm trước mừng khánh thành đình làng. Từ đó đến nay, người dân Yên Nội nổi tiếng về vật, được các làng khác trong vùng nể trọng. Đô vật làng Yên Nội có phong thái thi đấu riêng mang đặc trưng văn hóa của hội vật tiêu biểu xứ Đoài.

Đông đảo người dân tham gia hội vật truyền thống làng Yên Nội

Hội vật làng Yên Nội được tổ chức ở khu vực đình làng. Từ sáng sớm, không khí lễ hội rộn ràng tiếng trống hộn, cờ hoa rực rỡ, người xem vây kín các sới vật. Sau màn nghi lễ tôn nghiêm ở đình làng của các vị trưởng bối, hội vật chính thức bắt đầu với màn biểu diễn đẹp mắt của các đô vật. Phần hấp dẫn nhất của lễ hội là cuộc tranh tài giữa các đô vật thanh niên, thiếu niên.

Các đô vật thi đấu quyết liệt trong hội vật truyền thống làng Yên Nội

Người điều khiển trận đấu vật là Yên Nội là người cầm chầu, có vai trò như trọng tài, thường là các cụ cao niên tinh tường về vật, nhanh tay nhanh mắt. Người cầm chầu dùng tiếng trống để điều khiển trận đấu. Đô vật tham gia trận đấu đóng khố, cởi trần. Trước khi bước vào trận đấu, các đô vật phải làm lễ ra mắt gọi là "xe đài" để biểu diễn động tác, thăm dò tinh thần đối phương, thể hiện tinh thần thượng võ của lò vật.

Related Figures

Hội làng Xuân Nộn

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/10- 15/10 Âm lịch Lễ hội truyền thống làng Xuân Nộn tổ chức ngày 10-15/10 âm lịch, chính hội là ngày 11/10 tại đình Xuân Nộn, xã Xuận Nộn, huyện Đông Anh, Hà Nội. Xuân Nộn trước đây có tên là làng Bê, là ngôi làng cổ được tạo dựng và phát triển từ rất lâu đời. Đình Xuân Nộn thờ 5 vị phúc thần: nữ thần cổ Ả Lã Tuệ Tịnh phu nhân, Thiên Cương tôn thần thời vua Hùng Vương, Vũ Định Đại vương, Trương Hống - Trương Hát (tướng quân thời Triệu Việt Vương - Triệu Quang Phục). Lễ hội truyền thống làng Xuân Nội Theo thần phả ghi chép lại: ở trang An Dương, huyện Lương Giang, phủ Thiệu Thiên, đạo Thanh Hóa có một cặp vợ chồng phúc hậu, tinh hoa, phong nhã. Người chồng họ Lê tên Chính, vợ là bà Đào Thị. Khi vợ chồng ông đem quế đi bán đến trang Xuân Nộn thì trời vừa tối nên nằm ngủ ở án tiền trong ngôi miếu cổ của làng. Canh ba đêm đó, người chồng nằm mơ được một nữ thần tự xưng là Ả Lã Tiên cung ban cho hai người con trai tinh thần xuất thế, sang năm nhất định sẽ sinh vương tướng. Canh tư, Đào Thị hồn phách tựa mộng, bà thấy hào quang giáng xuống hai vì sao, bà nắm trong tay và nuốt mất. Sáng hôm sau, vợ chồng họ nhìn thấy trên miếu xuất hiện hai chữ "Tối linh". Vợ chồng họ dâng lễ bái tạ. Trở về nhà, Đào Thị mang thai đến ngày 11/10 năm Nhâm Tý sinh ra một bọc 2 người con trai. Vợ chồng ông bà hết lòng nuôi dưỡng. Đến khi trưởng thành, hai chàng trai học lực tinh thông, văn võ song toàn, uyên bác hơn người. Năm 18 tuổi, cha mẹ hai chàng trai bệnh nặng qua đời. Hai anh em thăm dự cuộc thi kén chọn người tài do Hùng Duệ Vương tổ chức và được phong chỉ huy sứ tả tướng quân. Nhị vị tướng quân cùng nhân dân đánh tan quân xâm lược phương Bắc khi chúng hành quân đến trang Xuân Nộn. Lập công lớn hai ông được phong thực ấp ở huyện Kim Hoa. Nhị vị tướng quân xây dựng dinh sở ở trang Xuân Nộn. Trong một dịp vui, hai vị mở yến tiệc khao dân. Trong lúc tiệc đang vui, trời đất bỗng rung chuyển, hai vị tướng bay đến Việt Trì rồi hóa. Vua Hùng ban đạo sắc phong tặng cho hai vị là Vũ Định Đại vương Tôn Thần và Thiên Lôi tôn thần. Làng Xuân Nội chuẩn bị chu đáo cho lễ hội 5 vị phúc thần được tôn là Thành hoàng, được nhân dân thờ phụng thành kinh, trang nghiêm. Người dân Xuân Nộn mở hội ngày 11/10 âm lịch hàng năm để tỏ lòng thành kính, thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn với những anh hùng có công với dân, với nước. Hội làng Xuân Nộn diễn ra từ chiều ngày 10/10, dân làng mở cửa đình, làm lễ tế mục dục và tẩy uế đồ Thánh. Tối ngày 10/10, tổ chức diễn tuồng, trò. Xuân Nộn là quê hương nhiều làn điệu tuồng cổ. Sau 4-5 làn điệu, đội tuồng mới ra sân khấu diễn tích trò. Ngày 11/10 chính hội, diễn ra lễ rước kiệu vua Ba, tế Thánh và biểu diễn múa kéo rắn. Đây là dịp ôn lại truyền thống lịch sử, nét văn hóa đặt sắc gắn kết cộng đồng, thể hiện tinh thần thượng võ của nhân dân địa phương. Trò kéo rắn được tổ chức để tưởng nhớ vị thần linh giúp thánh Vũ Định phá vòng vây kẻ địch. Làng Xuân Nội hân hoan chào đón lễ hội Trước đây, hội làng Xuân Nộn thường được tổ chức 5 ngày. Đến ngày 15/10 sau khi rước vua Bà về đền tổ chức kéo rắn và tế giã đám. Ngày nay, do điều kiện kinh tế và xã hội, hội làng Xuân Nộn chỉ tổ chức vào 2 ngày nên tổ chức kéo rắn vào trưa ngày 11/10.

Xuân Nộn trước đây có tên là làng Bê, là ngôi làng cổ được tạo dựng và phát triển từ rất lâu đời. Đình Xuân Nộn thờ 5 vị phúc thần: nữ thần cổ Ả Lã Tuệ Tịnh phu nhân, Thiên Cương tôn thần thời vua Hùng Vương, Vũ Định Đại vương, Trương Hống - Trương Hát (tướng quân thời Triệu Việt Vương - Triệu Quang Phục).

Lễ hội truyền thống làng Xuân Nội Theo thần phả ghi chép lại: ở trang An Dương, huyện Lương Giang, phủ Thiệu Thiên, đạo Thanh Hóa có một cặp vợ chồng phúc hậu, tinh hoa, phong nhã. Người chồng họ Lê tên Chính, vợ là bà Đào Thị. Khi vợ chồng ông đem quế đi bán đến trang Xuân Nộn thì trời vừa tối nên nằm ngủ ở án tiền trong ngôi miếu cổ của làng. Canh ba đêm đó, người chồng nằm mơ được một nữ thần tự xưng là Ả Lã Tiên cung ban cho hai người con trai tinh thần xuất thế, sang năm nhất định sẽ sinh vương tướng. Canh tư, Đào Thị hồn phách tựa mộng, bà thấy hào quang giáng xuống hai vì sao, bà nắm trong tay và nuốt mất. Sáng hôm sau, vợ chồng họ nhìn thấy trên miếu xuất hiện hai chữ "Tối linh". Vợ chồng họ dâng lễ bái tạ. Trở về nhà, Đào Thị mang thai đến ngày 11/10 năm Nhâm Tý sinh ra một bọc 2 người con trai. Vợ chồng ông bà hết lòng nuôi dưỡng. Đến khi trưởng thành, hai chàng trai học lực tinh thông, văn võ song toàn, uyên bác hơn người. Năm 18 tuổi, cha mẹ hai chàng trai bệnh nặng qua đời. Hai anh em thăm dự cuộc thi kén chọn người tài do Hùng Duệ Vương tổ chức và được phong chỉ huy sứ tả tướng quân. Nhị vị tướng quân cùng nhân dân đánh tan quân xâm lược phương Bắc khi chúng hành quân đến trang Xuân Nộn. Lập công lớn hai ông được phong thực ấp ở huyện Kim Hoa. Nhị vị tướng quân xây dựng dinh sở ở trang Xuân Nộn. Trong một dịp vui, hai vị mở yến tiệc khao dân. Trong lúc tiệc đang vui, trời đất bỗng rung chuyển, hai vị tướng bay đến Việt Trì rồi hóa. Vua Hùng ban đạo sắc phong tặng cho hai vị là Vũ Định Đại vương Tôn Thần và Thiên Lôi tôn thần. Làng Xuân Nội chuẩn bị chu đáo cho lễ hội 5 vị phúc thần được tôn là Thành hoàng, được nhân dân thờ phụng thành kinh, trang nghiêm. Người dân Xuân Nộn mở hội ngày 11/10 âm lịch hàng năm để tỏ lòng thành kính, thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn với những anh hùng có công với dân, với nước. Hội làng Xuân Nộn diễn ra từ chiều ngày 10/10, dân làng mở cửa đình, làm lễ tế mục dục và tẩy uế đồ Thánh. Tối ngày 10/10, tổ chức diễn tuồng, trò. Xuân Nộn là quê hương nhiều làn điệu tuồng cổ. Sau 4-5 làn điệu, đội tuồng mới ra sân khấu diễn tích trò. Ngày 11/10 chính hội, diễn ra lễ rước kiệu vua Ba, tế Thánh và biểu diễn múa kéo rắn. Đây là dịp ôn lại truyền thống lịch sử, nét văn hóa đặt sắc gắn kết cộng đồng, thể hiện tinh thần thượng võ của nhân dân địa phương. Trò kéo rắn được tổ chức để tưởng nhớ vị thần linh giúp thánh Vũ Định phá vòng vây kẻ địch. Làng Xuân Nội hân hoan chào đón lễ hội Trước đây, hội làng Xuân Nộn thường được tổ chức 5 ngày. Đến ngày 15/10 sau khi rước vua Bà về đền tổ chức kéo rắn và tế giã đám. Ngày nay, do điều kiện kinh tế và xã hội, hội làng Xuân Nộn chỉ tổ chức vào 2 ngày nên tổ chức kéo rắn vào trưa ngày 11/10.

Lễ hội truyền thống làng Xuân Nội

Theo thần phả ghi chép lại: ở trang An Dương, huyện Lương Giang, phủ Thiệu Thiên, đạo Thanh Hóa có một cặp vợ chồng phúc hậu, tinh hoa, phong nhã. Người chồng họ Lê tên Chính, vợ là bà Đào Thị. Khi vợ chồng ông đem quế đi bán đến trang Xuân Nộn thì trời vừa tối nên nằm ngủ ở án tiền trong ngôi miếu cổ của làng. Canh ba đêm đó, người chồng nằm mơ được một nữ thần tự xưng là Ả Lã Tiên cung ban cho hai người con trai tinh thần xuất thế, sang năm nhất định sẽ sinh vương tướng. Canh tư, Đào Thị hồn phách tựa mộng, bà thấy hào quang giáng xuống hai vì sao, bà nắm trong tay và nuốt mất. Sáng hôm sau, vợ chồng họ nhìn thấy trên miếu xuất hiện hai chữ "Tối linh". Vợ chồng họ dâng lễ bái tạ. Trở về nhà, Đào Thị mang thai đến ngày 11/10 năm Nhâm Tý sinh ra một bọc 2 người con trai. Vợ chồng ông bà hết lòng nuôi dưỡng. Đến khi trưởng thành, hai chàng trai học lực tinh thông, văn võ song toàn, uyên bác hơn người. Năm 18 tuổi, cha mẹ hai chàng trai bệnh nặng qua đời. Hai anh em thăm dự cuộc thi kén chọn người tài do Hùng Duệ Vương tổ chức và được phong chỉ huy sứ tả tướng quân. Nhị vị tướng quân cùng nhân dân đánh tan quân xâm lược phương Bắc khi chúng hành quân đến trang Xuân Nộn. Lập công lớn hai ông được phong thực ấp ở huyện Kim Hoa. Nhị vị tướng quân xây dựng dinh sở ở trang Xuân Nộn. Trong một dịp vui, hai vị mở yến tiệc khao dân. Trong lúc tiệc đang vui, trời đất bỗng rung chuyển, hai vị tướng bay đến Việt Trì rồi hóa. Vua Hùng ban đạo sắc phong tặng cho hai vị là Vũ Định Đại vương Tôn Thần và Thiên Lôi tôn thần.

Theo thần phả ghi chép lại: ở trang An Dương, huyện Lương Giang, phủ Thiệu Thiên, đạo Thanh Hóa có một cặp vợ chồng phúc hậu, tinh hoa, phong nhã. Người chồng họ Lê tên Chính, vợ là bà Đào Thị. Khi vợ chồng ông đem quế đi bán đến trang Xuân Nộn thì trời vừa tối nên nằm ngủ ở án tiền trong ngôi miếu cổ của làng. Canh ba đêm đó, người chồng nằm mơ được một nữ thần tự xưng là Ả Lã Tiên cung ban cho hai người con trai tinh thần xuất thế, sang năm nhất định sẽ sinh vương tướng. Canh tư, Đào Thị hồn phách tựa mộng, bà thấy hào quang giáng xuống hai vì sao, bà nắm trong tay và nuốt mất. Sáng hôm sau, vợ chồng họ nhìn thấy trên miếu xuất hiện hai chữ "Tối linh". Vợ chồng họ dâng lễ bái tạ. Trở về nhà, Đào Thị mang thai đến ngày 11/10 năm Nhâm Tý sinh ra một bọc 2 người con trai. Vợ chồng ông bà hết lòng nuôi dưỡng. Đến khi trưởng thành, hai chàng trai học lực tinh thông, văn võ song toàn, uyên bác hơn người. Năm 18 tuổi, cha mẹ hai chàng trai bệnh nặng qua đời. Hai anh em thăm dự cuộc thi kén chọn người tài do Hùng Duệ Vương tổ chức và được phong chỉ huy sứ tả tướng quân. Nhị vị tướng quân cùng nhân dân đánh tan quân xâm lược phương Bắc khi chúng hành quân đến trang Xuân Nộn. Lập công lớn hai ông được phong thực ấp ở huyện Kim Hoa. Nhị vị tướng quân xây dựng dinh sở ở trang Xuân Nộn. Trong một dịp vui, hai vị mở yến tiệc khao dân. Trong lúc tiệc đang vui, trời đất bỗng rung chuyển, hai vị tướng bay đến Việt Trì rồi hóa. Vua Hùng ban đạo sắc phong tặng cho hai vị là Vũ Định Đại vương Tôn Thần và Thiên Lôi tôn thần.

Làng Xuân Nội chuẩn bị chu đáo cho lễ hội

5 vị phúc thần được tôn là Thành hoàng, được nhân dân thờ phụng thành kinh, trang nghiêm. Người dân Xuân Nộn mở hội ngày 11/10 âm lịch hàng năm để tỏ lòng thành kính, thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn với những anh hùng có công với dân, với nước. Hội làng Xuân Nộn diễn ra từ chiều ngày 10/10, dân làng mở cửa đình, làm lễ tế mục dục và tẩy uế đồ Thánh. Tối ngày 10/10, tổ chức diễn tuồng, trò. Xuân Nộn là quê hương nhiều làn điệu tuồng cổ. Sau 4-5 làn điệu, đội tuồng mới ra sân khấu diễn tích trò. Ngày 11/10 chính hội, diễn ra lễ rước kiệu vua Ba, tế Thánh và biểu diễn múa kéo rắn. Đây là dịp ôn lại truyền thống lịch sử, nét văn hóa đặt sắc gắn kết cộng đồng, thể hiện tinh thần thượng võ của nhân dân địa phương. Trò kéo rắn được tổ chức để tưởng nhớ vị thần linh giúp thánh Vũ Định phá vòng vây kẻ địch.

5 vị phúc thần được tôn là Thành hoàng, được nhân dân thờ phụng thành kinh, trang nghiêm. Người dân Xuân Nộn mở hội ngày 11/10 âm lịch hàng năm để tỏ lòng thành kính, thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn với những anh hùng có công với dân, với nước.

Hội làng Xuân Nộn diễn ra từ chiều ngày 10/10, dân làng mở cửa đình, làm lễ tế mục dục và tẩy uế đồ Thánh. Tối ngày 10/10, tổ chức diễn tuồng, trò. Xuân Nộn là quê hương nhiều làn điệu tuồng cổ. Sau 4-5 làn điệu, đội tuồng mới ra sân khấu diễn tích trò.

Ngày 11/10 chính hội, diễn ra lễ rước kiệu vua Ba, tế Thánh và biểu diễn múa kéo rắn. Đây là dịp ôn lại truyền thống lịch sử, nét văn hóa đặt sắc gắn kết cộng đồng, thể hiện tinh thần thượng võ của nhân dân địa phương. Trò kéo rắn được tổ chức để tưởng nhớ vị thần linh giúp thánh Vũ Định phá vòng vây kẻ địch.

Làng Xuân Nội hân hoan chào đón lễ hội

Trước đây, hội làng Xuân Nộn thường được tổ chức 5 ngày. Đến ngày 15/10 sau khi rước vua Bà về đền tổ chức kéo rắn và tế giã đám. Ngày nay, do điều kiện kinh tế và xã hội, hội làng Xuân Nộn chỉ tổ chức vào 2 ngày nên tổ chức kéo rắn vào trưa ngày 11/10.

Trước đây, hội làng Xuân Nộn thường được tổ chức 5 ngày. Đến ngày 15/10 sau khi rước vua Bà về đền tổ chức kéo rắn và tế giã đám. Ngày nay, do điều kiện kinh tế và xã hội, hội làng Xuân Nộn chỉ tổ chức vào 2 ngày nên tổ chức kéo rắn vào trưa ngày 11/10.

Trước đây, hội làng Xuân Nộn thường được tổ chức 5 ngày. Đến ngày 15/10 sau khi rước vua Bà về đền tổ chức kéo rắn và tế giã đám. Ngày nay, do điều kiện kinh tế và xã hội, hội làng Xuân Nộn chỉ tổ chức vào 2 ngày nên tổ chức kéo rắn vào trưa ngày 11/10.

Related Figures

Hội làng Thượng Phúc

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 14/4 Âm lịch Hội làng Thượng Phúc tổ chức hàng năm vào các ngày 16/2, 14/4 và 27/4 âm lịch. Trong những ngày diễn ra hội làng có các phần thi chính như: bơi thuyền trên sông (có năm bơi thuyền gỗ, có năm bơi thuyền thúng), thổi cơm thi... Buổi tối, có biểu diễn hát trống quân trên thuyền. Tưng bừng lễ rước kiệu hội làng Thượng Phúc Làng Thượng Phúc, xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, Hà Nội do hai làng Nguyễn Thượng và Ngũ Phúc hợp thành (tên Nôm là làng Hạ). Trai tráng khiêng kiệu trong hội làng Thượng Phúc Thượng Phúc xưa kia là làng nông nghiệp đồng chiêm trũng. Cánh đồng làng Thượng Phúc quanh năm trắng nước, canh tác khó khăn, cấy cày vất vả. Đến năm 1939, chính quyèn thuộc địa Pháp tiến hành nắn đoạn sông Nhuệ, làm cho nước sông thoát nhanh hơn vào mùa mưa lũ, nạn úng lụt giảm hẳn, sản lượng nông nghiệp tăng. Ngoài làm ruộng, làng Thượng Phúc còn khai thác nguồn thủy sản dồi dào. Lễ rước kiệu về hội làng Thượng Phúc Làng Thượng Phúc có chùa Bảo Tháp, dân gian vẫn quen gọi là chùa Bồ Tát. Đây là ngôi chùa cổ do nhà sư Lý Thầm - em trai vua Lý Huệ Tông xây dựng và tu hành tại đây. Đến cuối đời Trần, có một vị Cao tăng họ Hồ dòng dõi hoàng thân quốc thích, từ bỏ bổng lộc triều đình tới chùa Bảo Tháp tu hành. Ngoài việc bỏ tiền ra trùng tu, tôn tạo lại chùa, vị Cao tăng này còn giúp đỡ những người già neo đơn, trẻ mồ côi. Biết ơn Ngài, dân làng Thượng Phúc tạc tượng sống ngài. Sau này, Minh Từ Hoàng Thái hậu về chùa lánh nạn giặc Chiêm Thành. Thấy bà là người đức độ, Hòa thượng giao lại chùa cho Bà rồi lập hỏa đàn, sai đệ tử châm lửa rồi trèo lên tụng kinh. Lửa cháy bốn bề nhưng Cao tăng vẫn điềm nhiên đọc kinh Đại Tràng rồi toàn thân Ngài hóa thành than. Đó là ngày 14/4 nên người dân chọn làm ngày giỗ tổ chùa. Sau khi Cao tăng đắc đạo, nhân dân suy tôn là Bồ Tát, chùa Bảo Tháp được gọi là chùa Bồ Tát để suy tôn Ngài. Minh Từ Hoàng Thái hậu sau đó trở thành ni sư sớm hôm đèn nhang thờ Phật, trông nom, mở mang chùa Bồ Tát. Ba năm sau, có lệnh Minh Từ Hoàng Thái hậu phải trở về kinh đô. Trước khi đi, Minh Từ Hoàng Thái hậu mở yến tiệc chiêu đãi dân làng ngày 16/2. Trong lúc tiệc đang vui thì Minh Từ Hoàng Thái hậu đột ngột trúng gió qua đời. Vua Trần hay tin, ban chiếu cho làng Thượng Phúc thờ Thái hậu làm Phúc thần cùng với Bồ Tát.

Tưng bừng lễ rước kiệu hội làng Thượng Phúc Làng Thượng Phúc, xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, Hà Nội do hai làng Nguyễn Thượng và Ngũ Phúc hợp thành (tên Nôm là làng Hạ). Trai tráng khiêng kiệu trong hội làng Thượng Phúc Thượng Phúc xưa kia là làng nông nghiệp đồng chiêm trũng. Cánh đồng làng Thượng Phúc quanh năm trắng nước, canh tác khó khăn, cấy cày vất vả. Đến năm 1939, chính quyèn thuộc địa Pháp tiến hành nắn đoạn sông Nhuệ, làm cho nước sông thoát nhanh hơn vào mùa mưa lũ, nạn úng lụt giảm hẳn, sản lượng nông nghiệp tăng. Ngoài làm ruộng, làng Thượng Phúc còn khai thác nguồn thủy sản dồi dào. Lễ rước kiệu về hội làng Thượng Phúc Làng Thượng Phúc có chùa Bảo Tháp, dân gian vẫn quen gọi là chùa Bồ Tát. Đây là ngôi chùa cổ do nhà sư Lý Thầm - em trai vua Lý Huệ Tông xây dựng và tu hành tại đây. Đến cuối đời Trần, có một vị Cao tăng họ Hồ dòng dõi hoàng thân quốc thích, từ bỏ bổng lộc triều đình tới chùa Bảo Tháp tu hành. Ngoài việc bỏ tiền ra trùng tu, tôn tạo lại chùa, vị Cao tăng này còn giúp đỡ những người già neo đơn, trẻ mồ côi. Biết ơn Ngài, dân làng Thượng Phúc tạc tượng sống ngài. Sau này, Minh Từ Hoàng Thái hậu về chùa lánh nạn giặc Chiêm Thành. Thấy bà là người đức độ, Hòa thượng giao lại chùa cho Bà rồi lập hỏa đàn, sai đệ tử châm lửa rồi trèo lên tụng kinh. Lửa cháy bốn bề nhưng Cao tăng vẫn điềm nhiên đọc kinh Đại Tràng rồi toàn thân Ngài hóa thành than. Đó là ngày 14/4 nên người dân chọn làm ngày giỗ tổ chùa. Sau khi Cao tăng đắc đạo, nhân dân suy tôn là Bồ Tát, chùa Bảo Tháp được gọi là chùa Bồ Tát để suy tôn Ngài. Minh Từ Hoàng Thái hậu sau đó trở thành ni sư sớm hôm đèn nhang thờ Phật, trông nom, mở mang chùa Bồ Tát. Ba năm sau, có lệnh Minh Từ Hoàng Thái hậu phải trở về kinh đô. Trước khi đi, Minh Từ Hoàng Thái hậu mở yến tiệc chiêu đãi dân làng ngày 16/2. Trong lúc tiệc đang vui thì Minh Từ Hoàng Thái hậu đột ngột trúng gió qua đời. Vua Trần hay tin, ban chiếu cho làng Thượng Phúc thờ Thái hậu làm Phúc thần cùng với Bồ Tát.

Làng Thượng Phúc, xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, Hà Nội do hai làng Nguyễn Thượng và Ngũ Phúc hợp thành (tên Nôm là làng Hạ).

Trai tráng khiêng kiệu trong hội làng Thượng Phúc

Thượng Phúc xưa kia là làng nông nghiệp đồng chiêm trũng. Cánh đồng làng Thượng Phúc quanh năm trắng nước, canh tác khó khăn, cấy cày vất vả. Đến năm 1939, chính quyèn thuộc địa Pháp tiến hành nắn đoạn sông Nhuệ, làm cho nước sông thoát nhanh hơn vào mùa mưa lũ, nạn úng lụt giảm hẳn, sản lượng nông nghiệp tăng. Ngoài làm ruộng, làng Thượng Phúc còn khai thác nguồn thủy sản dồi dào.

Lễ rước kiệu về hội làng Thượng Phúc

Làng Thượng Phúc có chùa Bảo Tháp, dân gian vẫn quen gọi là chùa Bồ Tát. Đây là ngôi chùa cổ do nhà sư Lý Thầm - em trai vua Lý Huệ Tông xây dựng và tu hành tại đây. Đến cuối đời Trần, có một vị Cao tăng họ Hồ dòng dõi hoàng thân quốc thích, từ bỏ bổng lộc triều đình tới chùa Bảo Tháp tu hành. Ngoài việc bỏ tiền ra trùng tu, tôn tạo lại chùa, vị Cao tăng này còn giúp đỡ những người già neo đơn, trẻ mồ côi. Biết ơn Ngài, dân làng Thượng Phúc tạc tượng sống ngài.

Sau này, Minh Từ Hoàng Thái hậu về chùa lánh nạn giặc Chiêm Thành. Thấy bà là người đức độ, Hòa thượng giao lại chùa cho Bà rồi lập hỏa đàn, sai đệ tử châm lửa rồi trèo lên tụng kinh. Lửa cháy bốn bề nhưng Cao tăng vẫn điềm nhiên đọc kinh Đại Tràng rồi toàn thân Ngài hóa thành than. Đó là ngày 14/4 nên người dân chọn làm ngày giỗ tổ chùa. Sau khi Cao tăng đắc đạo, nhân dân suy tôn là Bồ Tát, chùa Bảo Tháp được gọi là chùa Bồ Tát để suy tôn Ngài. Minh Từ Hoàng Thái hậu sau đó trở thành ni sư sớm hôm đèn nhang thờ Phật, trông nom, mở mang chùa Bồ Tát. Ba năm sau, có lệnh Minh Từ Hoàng Thái hậu phải trở về kinh đô. Trước khi đi, Minh Từ Hoàng Thái hậu mở yến tiệc chiêu đãi dân làng ngày 16/2. Trong lúc tiệc đang vui thì Minh Từ Hoàng Thái hậu đột ngột trúng gió qua đời. Vua Trần hay tin, ban chiếu cho làng Thượng Phúc thờ Thái hậu làm Phúc thần cùng với Bồ Tát.

Related Figures

Lễ rước kiệu xoay làng Thổ Khối

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 9/2 Âm lịch Vào dịp đầu xuân hàng năm, làng Thổ Khối tưng bừng tổ chức lễ hội. Hội làng Thổ Khối có lễ rước kiệu xoay vô cùng đặc sắc và độc đáo. Nam thanh, nữ tú tham gia rước kiệu Thánh Ông, Thánh Bà nhất định phải là các đồng trinh. Độc đáo lễ rước kiệu xoay làng Thổ Khối Làng Thổ Khối, phường Cự Khối, quận Long Biên, Hà Nội nằm bên bờ sông Hồng. Hội làng Thổ Khối diễn ra tại đình làng, sau đó các kiệu sẽ được rước ra sông Hồng lấy nước thánh về đình cúng quánh năm. Trong lễ rước hội làng Thổ Khối có 7 kiệu, trong đó có 5 kiệu công thần, 2 kiệu Thánh Ông và Thánh Bà. Những bậc cao niên đức cao vọng trọng trong làng đảm nhiệm phần tế lễ. Kiệu của 5 vị công thần sẽ được những người đan ông khỏe mạnh, đạo đức tốt trong làng khiêng. Riêng kiệu Thánh Ông và Thánh Bà do đồng nam, đồng nữ của những gia đình có văn hóa khiêng. Những cô gái rất vất vả giữ thăng bằng kiệu xoay hội làng Thổ Khối Đoàn kiệu rước Thánh Ông và Thánh Bà phải đi qua quãng đường hơn 2km từ đình làng Thổ Khối ra sông Hồng lấy nước rồi trở về đình. Rước kiệu Thánh Bà hội làng Thổ Khối Kiệu Thánh Bà do 8 đồng nữ rước, luôn có những đồng nữ đi kèm thay phiên rước. Trước khi rước kiệu ra sông xin nước, kiệu Thánh Bà được rước một vòng quanh hồ bán nguyệt trước đình làng Thổ Khố. Những chàng trai, cô gái trong trang phục truyền thống phải rất vất vả vì cứ đi một đoạn ngắn lại phải chạy lại một đoạn, kiệu xoay tròn, xoay ngược ngẫu hững không hề báo trước. Mặc dù biết khiêng kiệu sẽ rất vất vả, mệt nhọc nhưng những người được chọn luôn cảm thấy tự hào.

Độc đáo lễ rước kiệu xoay làng Thổ Khối Làng Thổ Khối, phường Cự Khối, quận Long Biên, Hà Nội nằm bên bờ sông Hồng. Hội làng Thổ Khối diễn ra tại đình làng, sau đó các kiệu sẽ được rước ra sông Hồng lấy nước thánh về đình cúng quánh năm. Trong lễ rước hội làng Thổ Khối có 7 kiệu, trong đó có 5 kiệu công thần, 2 kiệu Thánh Ông và Thánh Bà. Những bậc cao niên đức cao vọng trọng trong làng đảm nhiệm phần tế lễ. Kiệu của 5 vị công thần sẽ được những người đan ông khỏe mạnh, đạo đức tốt trong làng khiêng. Riêng kiệu Thánh Ông và Thánh Bà do đồng nam, đồng nữ của những gia đình có văn hóa khiêng. Những cô gái rất vất vả giữ thăng bằng kiệu xoay hội làng Thổ Khối Đoàn kiệu rước Thánh Ông và Thánh Bà phải đi qua quãng đường hơn 2km từ đình làng Thổ Khối ra sông Hồng lấy nước rồi trở về đình. Rước kiệu Thánh Bà hội làng Thổ Khối Kiệu Thánh Bà do 8 đồng nữ rước, luôn có những đồng nữ đi kèm thay phiên rước. Trước khi rước kiệu ra sông xin nước, kiệu Thánh Bà được rước một vòng quanh hồ bán nguyệt trước đình làng Thổ Khố. Những chàng trai, cô gái trong trang phục truyền thống phải rất vất vả vì cứ đi một đoạn ngắn lại phải chạy lại một đoạn, kiệu xoay tròn, xoay ngược ngẫu hững không hề báo trước. Mặc dù biết khiêng kiệu sẽ rất vất vả, mệt nhọc nhưng những người được chọn luôn cảm thấy tự hào.

Làng Thổ Khối, phường Cự Khối, quận Long Biên, Hà Nội nằm bên bờ sông Hồng. Hội làng Thổ Khối diễn ra tại đình làng, sau đó các kiệu sẽ được rước ra sông Hồng lấy nước thánh về đình cúng quánh năm.

Trong lễ rước hội làng Thổ Khối có 7 kiệu, trong đó có 5 kiệu công thần, 2 kiệu Thánh Ông và Thánh Bà. Những bậc cao niên đức cao vọng trọng trong làng đảm nhiệm phần tế lễ. Kiệu của 5 vị công thần sẽ được những người đan ông khỏe mạnh, đạo đức tốt trong làng khiêng. Riêng kiệu Thánh Ông và Thánh Bà do đồng nam, đồng nữ của những gia đình có văn hóa khiêng.

Những cô gái rất vất vả giữ thăng bằng kiệu xoay hội làng Thổ Khối

Đoàn kiệu rước Thánh Ông và Thánh Bà phải đi qua quãng đường hơn 2km từ đình làng Thổ Khối ra sông Hồng lấy nước rồi trở về đình.

Rước kiệu Thánh Bà hội làng Thổ Khối

Kiệu Thánh Bà do 8 đồng nữ rước, luôn có những đồng nữ đi kèm thay phiên rước. Trước khi rước kiệu ra sông xin nước, kiệu Thánh Bà được rước một vòng quanh hồ bán nguyệt trước đình làng Thổ Khố. Những chàng trai, cô gái trong trang phục truyền thống phải rất vất vả vì cứ đi một đoạn ngắn lại phải chạy lại một đoạn, kiệu xoay tròn, xoay ngược ngẫu hững không hề báo trước. Mặc dù biết khiêng kiệu sẽ rất vất vả, mệt nhọc nhưng những người được chọn luôn cảm thấy tự hào.

Related Figures

Hội vật cầu truyền thống làng Thúy Lĩnh

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 4/1- 7/1 Âm lịch Làng Thúy Lĩnh nay đã lên phố, thuộc phường Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai, Hà Nội. Trong quá trình đô thi hóa mạnh mẽ, để không bị mai một, hàng năm dân làng Thúy Lĩnh vẫn tổ chức hội vật cầu cổ truyền tại sân đình. Hội vật cầu Thúy Linh rất độc đáo bởi ai cũng có thể tham gia, mọi lứa tuổi miễn là nam giới. Hội vật cầu Thúy Lĩnh thu hút đông đảo người dân tham gia Hội vật cầu làng Thúy Lĩnh kéo dài từ 4-7 tháng Giêng âm lịch, tiêu biểu là ngày 6/1 với những màn tranh tài của 3 thế hệ. Hội vật cầu Thúy Lĩnh nhằm tưởng nhớ công ơn của Linh Lang Đại vương, con trai thứ 4 vua Lý Thánh Tông. Hàng năm, dù ở bất kỳ đâu người dân làng Thúy Lĩnh vẫn nhắc nhau về xem hội vật cầu qua câu thơ: Ai về Thúy Lĩnh mà xem Làng tôi mở hội tháng Giêng vật cầu Dù ai đi đâu về đâu Nhớ về hội khỏe vật cầu tháng giêng Sân thi đấu vật cầu có hình vuông, ở chính giữa có một hố để đặt quả cầu, 4 góc sân có 4 hố tương ứng với khung thành của 4 đội. Mỗi đội tham gia thi đấu trên sân có 2 cầu thủ, mình trần, mặc quần trắng thắt đai (đỏ, vàng, xanh, tím) tương ứng với 4 cờ cắm ở góc sân. Thanh niên Thúy Lĩnh cởi trần vật cầu Sau khi có hiệu lệnh của trọng tài, cầu thủ của 4 đội từ góc sân lao lên cướp cầu mang về hố của mình. Quả cầu được làm bằng gỗ mít, trọng lượng của quả cầu tùy theo độ tuổi của cầu thủ trên sân. Mỗi lần mang cầu về hố của đội mình sẽ được tính 1 điểm.Theo luật chơi, cầu không được rơi ra ngoài giới hạn đã được căng dây, nếu ra ngoài sẽ được đưa lại vị trí hố giữa sân. Mỗi hiệp thi đấu kéo dài 45', các đội được thay người không giới hạn. Kết thúc trận đấu, cầu thủ nào cũng thấm mệt nhưng tinh thần vui vẻ. Độc đáo hội vật cầu làng Thúy Lĩnh Vật cầu là môn thể thao rèn luyện trí lực và thể lực, là nét đẹp truyền thống của người dân Thúy Lĩnh.

Hội vật cầu Thúy Lĩnh thu hút đông đảo người dân tham gia Hội vật cầu làng Thúy Lĩnh kéo dài từ 4-7 tháng Giêng âm lịch, tiêu biểu là ngày 6/1 với những màn tranh tài của 3 thế hệ. Hội vật cầu Thúy Lĩnh nhằm tưởng nhớ công ơn của Linh Lang Đại vương, con trai thứ 4 vua Lý Thánh Tông. Hàng năm, dù ở bất kỳ đâu người dân làng Thúy Lĩnh vẫn nhắc nhau về xem hội vật cầu qua câu thơ: Ai về Thúy Lĩnh mà xem Làng tôi mở hội tháng Giêng vật cầu Dù ai đi đâu về đâu Nhớ về hội khỏe vật cầu tháng giêng Sân thi đấu vật cầu có hình vuông, ở chính giữa có một hố để đặt quả cầu, 4 góc sân có 4 hố tương ứng với khung thành của 4 đội. Mỗi đội tham gia thi đấu trên sân có 2 cầu thủ, mình trần, mặc quần trắng thắt đai (đỏ, vàng, xanh, tím) tương ứng với 4 cờ cắm ở góc sân. Thanh niên Thúy Lĩnh cởi trần vật cầu Sau khi có hiệu lệnh của trọng tài, cầu thủ của 4 đội từ góc sân lao lên cướp cầu mang về hố của mình. Quả cầu được làm bằng gỗ mít, trọng lượng của quả cầu tùy theo độ tuổi của cầu thủ trên sân. Mỗi lần mang cầu về hố của đội mình sẽ được tính 1 điểm.Theo luật chơi, cầu không được rơi ra ngoài giới hạn đã được căng dây, nếu ra ngoài sẽ được đưa lại vị trí hố giữa sân. Mỗi hiệp thi đấu kéo dài 45', các đội được thay người không giới hạn. Kết thúc trận đấu, cầu thủ nào cũng thấm mệt nhưng tinh thần vui vẻ. Độc đáo hội vật cầu làng Thúy Lĩnh Vật cầu là môn thể thao rèn luyện trí lực và thể lực, là nét đẹp truyền thống của người dân Thúy Lĩnh.

Hội vật cầu làng Thúy Lĩnh kéo dài từ 4-7 tháng Giêng âm lịch, tiêu biểu là ngày 6/1 với những màn tranh tài của 3 thế hệ. Hội vật cầu Thúy Lĩnh nhằm tưởng nhớ công ơn của Linh Lang Đại vương, con trai thứ 4 vua Lý Thánh Tông. Hàng năm, dù ở bất kỳ đâu người dân làng Thúy Lĩnh vẫn nhắc nhau về xem hội vật cầu qua câu thơ:

Ai về Thúy Lĩnh mà xem Làng tôi mở hội tháng Giêng vật cầu Dù ai đi đâu về đâu Nhớ về hội khỏe vật cầu tháng giêng Sân thi đấu vật cầu có hình vuông, ở chính giữa có một hố để đặt quả cầu, 4 góc sân có 4 hố tương ứng với khung thành của 4 đội. Mỗi đội tham gia thi đấu trên sân có 2 cầu thủ, mình trần, mặc quần trắng thắt đai (đỏ, vàng, xanh, tím) tương ứng với 4 cờ cắm ở góc sân. Thanh niên Thúy Lĩnh cởi trần vật cầu Sau khi có hiệu lệnh của trọng tài, cầu thủ của 4 đội từ góc sân lao lên cướp cầu mang về hố của mình. Quả cầu được làm bằng gỗ mít, trọng lượng của quả cầu tùy theo độ tuổi của cầu thủ trên sân. Mỗi lần mang cầu về hố của đội mình sẽ được tính 1 điểm.Theo luật chơi, cầu không được rơi ra ngoài giới hạn đã được căng dây, nếu ra ngoài sẽ được đưa lại vị trí hố giữa sân. Mỗi hiệp thi đấu kéo dài 45', các đội được thay người không giới hạn. Kết thúc trận đấu, cầu thủ nào cũng thấm mệt nhưng tinh thần vui vẻ. Độc đáo hội vật cầu làng Thúy Lĩnh Vật cầu là môn thể thao rèn luyện trí lực và thể lực, là nét đẹp truyền thống của người dân Thúy Lĩnh.

Làng tôi mở hội tháng Giêng vật cầu Dù ai đi đâu về đâu Nhớ về hội khỏe vật cầu tháng giêng Sân thi đấu vật cầu có hình vuông, ở chính giữa có một hố để đặt quả cầu, 4 góc sân có 4 hố tương ứng với khung thành của 4 đội. Mỗi đội tham gia thi đấu trên sân có 2 cầu thủ, mình trần, mặc quần trắng thắt đai (đỏ, vàng, xanh, tím) tương ứng với 4 cờ cắm ở góc sân.

Thanh niên Thúy Lĩnh cởi trần vật cầu

Sau khi có hiệu lệnh của trọng tài, cầu thủ của 4 đội từ góc sân lao lên cướp cầu mang về hố của mình. Quả cầu được làm bằng gỗ mít, trọng lượng của quả cầu tùy theo độ tuổi của cầu thủ trên sân. Mỗi lần mang cầu về hố của đội mình sẽ được tính 1 điểm.Theo luật chơi, cầu không được rơi ra ngoài giới hạn đã được căng dây, nếu ra ngoài sẽ được đưa lại vị trí hố giữa sân. Mỗi hiệp thi đấu kéo dài 45', các đội được thay người không giới hạn. Kết thúc trận đấu, cầu thủ nào cũng thấm mệt nhưng tinh thần vui vẻ.

Độc đáo hội vật cầu làng Thúy Lĩnh

Vật cầu là môn thể thao rèn luyện trí lực và thể lực, là nét đẹp truyền thống của người dân Thúy Lĩnh.

Related Figures

Hội làng Tả Thanh Oai

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 13/1- 16/1 Âm lịch Hội làng Tả Thanh Oai được tổ chức hàng năm từ ngày 13-16 tháng Giêng âm lịch để kỷ niệm cuộc gặp gỡ tình duyên giữa vua Lê Đại Hành và bà Chúa Hến. Đông đảo người dân tham gia hội làng Tả Thanh Oai Làng Tả Thanh Oai (làng Tó hay Tó Tả) nổi tiếng với truyền thống hiếu học và khoa bảng thuộc xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Làng Tả Thanh Oai đã có 12 vị đỗ đại khoa gồm 4 Hoàng Giáp và 8 Tiến sĩ. Làng Tả Thanh Oai cũng là quê hương của dòng họ Ngô gia văn phái với các danh nhân Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Nhậm. Ngoài ra, làng Tả Thanh Oai cũng tự hào có 27 hương cống thời Lê, 10 cử nhân thời Nguyễn. Trước đây, khi vào dịp hội làng 14/1 âm lịch, quan viên trong làng Tả Thanh Oai phải ra lễ mộ tổ và nhà thờ họ của những họ Nguyễn Khai khoa, Ngô Vi, Ngô Thì, Nguyễn Thế có người đỗ Tiến Sĩ. Để khuyến khích tinh thần hiếu học, làng Tả Thanh Oai dành 40 mẫu ruộng để làm học đường. Những người đỗ đạt được dân làng trọng vọng. Cổng làng Tả Thanh Oai Làng Tả Thanh Oai trước đây có hai ngôi đình là đình Tổ Thị và đình Hoa Xá (trải qua nhiều thăng trầm lịch sử nay chỉ còn lại đình Hoa Xá) thờ vua Lê Hòa và bà Chúa Hến - người con gái làng Tó được vua lấy làm phi trong dịp dẫn quân đi đánh giặc ngoại xâm phương Bắc. Hội làng Tả Thanh Oai tổ chức trọng thể trong 4 ngày từ 13-16 tháng Giêng âm lịch. Đặc sắc trong hội làng Tả Thanh Oai là lễ rước cỗ thờ và rước Giầu vàng từ đình đến Ngự Lâu (nhà bà Chúa Hến) nhằm kỷ niệm cuộc gặp gỡ giữa vua Lê Đại Hành và người con gái tài sắc làng Tó. Ngoài ra, hộ làng Tả Thanh Oai còn có các nghi lễ hát xướng ca ngợi công đức Thành hoàng, đề cao truyền thống văn vật, cầu phúc cho dân làng. Đánh cờ người trong hội làng Tả Thanh Oai Trong hội làng Tả Thanh Oai còn có nhiều trò chơi dân gian sôi nổi như: chơi cờ bỏi, cờ người, đập niêu, bắt vịt, hát trống quân...

Đông đảo người dân tham gia hội làng Tả Thanh Oai Làng Tả Thanh Oai (làng Tó hay Tó Tả) nổi tiếng với truyền thống hiếu học và khoa bảng thuộc xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Làng Tả Thanh Oai đã có 12 vị đỗ đại khoa gồm 4 Hoàng Giáp và 8 Tiến sĩ. Làng Tả Thanh Oai cũng là quê hương của dòng họ Ngô gia văn phái với các danh nhân Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Nhậm. Ngoài ra, làng Tả Thanh Oai cũng tự hào có 27 hương cống thời Lê, 10 cử nhân thời Nguyễn. Trước đây, khi vào dịp hội làng 14/1 âm lịch, quan viên trong làng Tả Thanh Oai phải ra lễ mộ tổ và nhà thờ họ của những họ Nguyễn Khai khoa, Ngô Vi, Ngô Thì, Nguyễn Thế có người đỗ Tiến Sĩ. Để khuyến khích tinh thần hiếu học, làng Tả Thanh Oai dành 40 mẫu ruộng để làm học đường. Những người đỗ đạt được dân làng trọng vọng. Cổng làng Tả Thanh Oai Làng Tả Thanh Oai trước đây có hai ngôi đình là đình Tổ Thị và đình Hoa Xá (trải qua nhiều thăng trầm lịch sử nay chỉ còn lại đình Hoa Xá) thờ vua Lê Hòa và bà Chúa Hến - người con gái làng Tó được vua lấy làm phi trong dịp dẫn quân đi đánh giặc ngoại xâm phương Bắc. Hội làng Tả Thanh Oai tổ chức trọng thể trong 4 ngày từ 13-16 tháng Giêng âm lịch. Đặc sắc trong hội làng Tả Thanh Oai là lễ rước cỗ thờ và rước Giầu vàng từ đình đến Ngự Lâu (nhà bà Chúa Hến) nhằm kỷ niệm cuộc gặp gỡ giữa vua Lê Đại Hành và người con gái tài sắc làng Tó. Ngoài ra, hộ làng Tả Thanh Oai còn có các nghi lễ hát xướng ca ngợi công đức Thành hoàng, đề cao truyền thống văn vật, cầu phúc cho dân làng. Đánh cờ người trong hội làng Tả Thanh Oai Trong hội làng Tả Thanh Oai còn có nhiều trò chơi dân gian sôi nổi như: chơi cờ bỏi, cờ người, đập niêu, bắt vịt, hát trống quân...

Làng Tả Thanh Oai (làng Tó hay Tó Tả) nổi tiếng với truyền thống hiếu học và khoa bảng thuộc xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Làng Tả Thanh Oai đã có 12 vị đỗ đại khoa gồm 4 Hoàng Giáp và 8 Tiến sĩ. Làng Tả Thanh Oai cũng là quê hương của dòng họ Ngô gia văn phái với các danh nhân Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Nhậm. Ngoài ra, làng Tả Thanh Oai cũng tự hào có 27 hương cống thời Lê, 10 cử nhân thời Nguyễn. Trước đây, khi vào dịp hội làng 14/1 âm lịch, quan viên trong làng Tả Thanh Oai phải ra lễ mộ tổ và nhà thờ họ của những họ Nguyễn Khai khoa, Ngô Vi, Ngô Thì, Nguyễn Thế có người đỗ Tiến Sĩ. Để khuyến khích tinh thần hiếu học, làng Tả Thanh Oai dành 40 mẫu ruộng để làm học đường. Những người đỗ đạt được dân làng trọng vọng. Cổng làng Tả Thanh Oai Làng Tả Thanh Oai trước đây có hai ngôi đình là đình Tổ Thị và đình Hoa Xá (trải qua nhiều thăng trầm lịch sử nay chỉ còn lại đình Hoa Xá) thờ vua Lê Hòa và bà Chúa Hến - người con gái làng Tó được vua lấy làm phi trong dịp dẫn quân đi đánh giặc ngoại xâm phương Bắc. Hội làng Tả Thanh Oai tổ chức trọng thể trong 4 ngày từ 13-16 tháng Giêng âm lịch. Đặc sắc trong hội làng Tả Thanh Oai là lễ rước cỗ thờ và rước Giầu vàng từ đình đến Ngự Lâu (nhà bà Chúa Hến) nhằm kỷ niệm cuộc gặp gỡ giữa vua Lê Đại Hành và người con gái tài sắc làng Tó. Ngoài ra, hộ làng Tả Thanh Oai còn có các nghi lễ hát xướng ca ngợi công đức Thành hoàng, đề cao truyền thống văn vật, cầu phúc cho dân làng. Đánh cờ người trong hội làng Tả Thanh Oai Trong hội làng Tả Thanh Oai còn có nhiều trò chơi dân gian sôi nổi như: chơi cờ bỏi, cờ người, đập niêu, bắt vịt, hát trống quân...

Làng Tả Thanh Oai trước đây có hai ngôi đình là đình Tổ Thị và đình Hoa Xá (trải qua nhiều thăng trầm lịch sử nay chỉ còn lại đình Hoa Xá) thờ vua Lê Hòa và bà Chúa Hến - người con gái làng Tó được vua lấy làm phi trong dịp dẫn quân đi đánh giặc ngoại xâm phương Bắc. Hội làng Tả Thanh Oai tổ chức trọng thể trong 4 ngày từ 13-16 tháng Giêng âm lịch. Đặc sắc trong hội làng Tả Thanh Oai là lễ rước cỗ thờ và rước Giầu vàng từ đình đến Ngự Lâu (nhà bà Chúa Hến) nhằm kỷ niệm cuộc gặp gỡ giữa vua Lê Đại Hành và người con gái tài sắc làng Tó. Ngoài ra, hộ làng Tả Thanh Oai còn có các nghi lễ hát xướng ca ngợi công đức Thành hoàng, đề cao truyền thống văn vật, cầu phúc cho dân làng. Đánh cờ người trong hội làng Tả Thanh Oai Trong hội làng Tả Thanh Oai còn có nhiều trò chơi dân gian sôi nổi như: chơi cờ bỏi, cờ người, đập niêu, bắt vịt, hát trống quân...

Related Figures

Hội làng Hữu Thanh Oai

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 8/3 Âm lịch Hội làng Hữu Thanh Oai trước đây được tổ chức ngày 13-16 tháng Giêng âm lịch hàng năm nhưng sau khi Lê Hoàn mất, người dân nơi đây lấy ngày húy kị 8/3 âm lịch làm ngày hội. Làng Hữu Thanh Oai trước kia có tên là Hữu Châu, gọi nôm là Hữu Tó. Thời thuộc Pháp, làng Hữu Thanh Oai thuộc tổng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông. Từ sau năm 1979, làng Hữu Tó thuộc ngoại thành Hà Nội. Lễ hội truyền thống làng Hữu Tó Tương truyền, thập đạo tướng quân Lê Hoàn (vị hoàng đế sáng lập nhà Tiền Lê), trên đường từ kinh đô Hoa Lư đi đánh giặc phương Bắc đã dừng chân trên gò đất hình con quy ở xứ đồng Gạch cho binh lĩnh nghỉ ngơi, tổ chức săn bắn và tuyển mộ thêm binh sĩ. Hôm đó, làng Hữu Tó rộn rã, tấp nập cảnh tiễn đưa trai tráng trong làng theo vua đi đánh giặc ngoại xâm. Những người phụ nữ náo nức làm cơm đón khách quý. Bữa tiệc đãi vua và binh lính thật giản dị với cơm nắm và muối vừng. Cảm kích tấm lòng của người dân nơi đây, Lê Hoàn cho duệ hiệu và cắm hướng đình để dân thờ phụng. Khi Ngài đi, dân làng lập miếu thờ, suy tôn là Thành hoàng làng. Đám rước hội truyền thống làng Hữu Tó Ban đầu, đình Hữu Thanh Oai được làm bằng tranh tre, nứa lá được dựng gay trên gò đất hình con quy cách nơi ở của dân làng 200m. Quanh đình có ao bán nguyệt và vườn cây phía trước. Đinh được trùng tu tôn tạo nhiều lần, nhất là vào triều Nguyễn. Thi đấu bóng chuyền hội truyền thống làng HữuTó Trước đây, hội làng Hữu Thanh Oai đươcj tổ chức ngày Rằm tháng Giêng lễ dâng hương, lễ Thánh, cầu phúc cho dân làng; ngày 8/3 để tưởng nhớ công đức anh hùng dân tộc Lê Hoàn. Ngày hội làng, lễ vật dâng lên Thành hoàng gồm oản, bánh chè kho, hương, hoa, quả và một thứ không thể thiếu chính là cơm nắm muối vừng. Tục lệ làng quy định không dâng tiến xôi thịt trong ngày hội.

Làng Hữu Thanh Oai trước kia có tên là Hữu Châu, gọi nôm là Hữu Tó. Thời thuộc Pháp, làng Hữu Thanh Oai thuộc tổng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông. Từ sau năm 1979, làng Hữu Tó thuộc ngoại thành Hà Nội.

Lễ hội truyền thống làng Hữu Tó Tương truyền, thập đạo tướng quân Lê Hoàn (vị hoàng đế sáng lập nhà Tiền Lê), trên đường từ kinh đô Hoa Lư đi đánh giặc phương Bắc đã dừng chân trên gò đất hình con quy ở xứ đồng Gạch cho binh lĩnh nghỉ ngơi, tổ chức săn bắn và tuyển mộ thêm binh sĩ. Hôm đó, làng Hữu Tó rộn rã, tấp nập cảnh tiễn đưa trai tráng trong làng theo vua đi đánh giặc ngoại xâm. Những người phụ nữ náo nức làm cơm đón khách quý. Bữa tiệc đãi vua và binh lính thật giản dị với cơm nắm và muối vừng. Cảm kích tấm lòng của người dân nơi đây, Lê Hoàn cho duệ hiệu và cắm hướng đình để dân thờ phụng. Khi Ngài đi, dân làng lập miếu thờ, suy tôn là Thành hoàng làng. Đám rước hội truyền thống làng Hữu Tó Ban đầu, đình Hữu Thanh Oai được làm bằng tranh tre, nứa lá được dựng gay trên gò đất hình con quy cách nơi ở của dân làng 200m. Quanh đình có ao bán nguyệt và vườn cây phía trước. Đinh được trùng tu tôn tạo nhiều lần, nhất là vào triều Nguyễn. Thi đấu bóng chuyền hội truyền thống làng HữuTó Trước đây, hội làng Hữu Thanh Oai đươcj tổ chức ngày Rằm tháng Giêng lễ dâng hương, lễ Thánh, cầu phúc cho dân làng; ngày 8/3 để tưởng nhớ công đức anh hùng dân tộc Lê Hoàn. Ngày hội làng, lễ vật dâng lên Thành hoàng gồm oản, bánh chè kho, hương, hoa, quả và một thứ không thể thiếu chính là cơm nắm muối vừng. Tục lệ làng quy định không dâng tiến xôi thịt trong ngày hội.

Related Figures

Hội làng Ruộng

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 6/1- 16/1 Âm lịch Hội làng Ruộng diễn ra từ ngày 6-16/1 âm lịch hàng năm ở hai thôn Ngọc Trì và Vĩnh Thanh, xã Vĩnh Ngọc, huyện Đông Anh, Hà Nội. Hội làng Ruộng là nét đẹp truyền thống thượng võ của dân tộc ta từ thời nhà nước Âu Lạc tới nay. Người dân làng Ruộng tham gia hội đua thuyền Hội làng Ruộng được tổ chức nhằm tưởng nhớ công đức của 3 vị Thành hoàng làng là 3 cha con danh tướng Nồi Hầu có công lớn giúp An Dương Vương dựng nước. Cha thường được gọi là ông Hầu và hai con được gọi là Đống và Vực. Tục truyền Nồi Hầu hóa ngày 4/1 âm lịch, hai con hóa ngày 6/1 âm lịch. Múa rối nước trong hội làng Ruộng Hàng năm, hội làng Ruộng thu hút rất đông người dân và du khách thập phương về tham dự. Trong ngày 6/1. sau khi kết thúc phần tế lễ có tổ chức đua thuyền ở hồ Vĩnh Thanh trước miếu. Thuyền bơi được làm từ cây gỗ tạc hình thoi, bốn giáp dự thi. Hai giáp mũi thuyền đầu hạc cờ nheo màu vàng hoa niên, hai giáp mũi thuyền đầu rồng cờ nheo màu đỏ tía. Thyền bơi có một lái, một phụ, một ông mõ, một ông lệnh, một ông bay, một người phát cờ, một người tát nước và mười hai đô bơi. Đô bơi là những thiếu nữ chưa chồng, mặc áo màu chàm, quần đen buộc túm thắt lưng. Khi cờ lệnh phất, các đô bơi bắt đầu phần thi trong tiếng cổ vũ âm vang cùng nhịp trống. Bơi thuyền diễn ra trong 3 ngày liền, thuyền nào được nhiều điểm nhất giành chiến thắng. Ngoài ra, hội làng Ruộng còn có nhiều trò chơi hấp dẫn khác như: chọi gà, tổ tôm, rối nước... Hàng nghìn người dân và du khách tham gia hội làng Ruộng Hội làng Ruộng là nét đẹp truyền thống, thể hiện lòng yêu nước và tinh thần tự hào dân tộc, nhắc nhở con cháu truyền thống thượng võ từ từ thời Âu Lạc.

Người dân làng Ruộng tham gia hội đua thuyền Hội làng Ruộng được tổ chức nhằm tưởng nhớ công đức của 3 vị Thành hoàng làng là 3 cha con danh tướng Nồi Hầu có công lớn giúp An Dương Vương dựng nước. Cha thường được gọi là ông Hầu và hai con được gọi là Đống và Vực. Tục truyền Nồi Hầu hóa ngày 4/1 âm lịch, hai con hóa ngày 6/1 âm lịch. Múa rối nước trong hội làng Ruộng Hàng năm, hội làng Ruộng thu hút rất đông người dân và du khách thập phương về tham dự. Trong ngày 6/1. sau khi kết thúc phần tế lễ có tổ chức đua thuyền ở hồ Vĩnh Thanh trước miếu. Thuyền bơi được làm từ cây gỗ tạc hình thoi, bốn giáp dự thi. Hai giáp mũi thuyền đầu hạc cờ nheo màu vàng hoa niên, hai giáp mũi thuyền đầu rồng cờ nheo màu đỏ tía. Thyền bơi có một lái, một phụ, một ông mõ, một ông lệnh, một ông bay, một người phát cờ, một người tát nước và mười hai đô bơi. Đô bơi là những thiếu nữ chưa chồng, mặc áo màu chàm, quần đen buộc túm thắt lưng. Khi cờ lệnh phất, các đô bơi bắt đầu phần thi trong tiếng cổ vũ âm vang cùng nhịp trống. Bơi thuyền diễn ra trong 3 ngày liền, thuyền nào được nhiều điểm nhất giành chiến thắng. Ngoài ra, hội làng Ruộng còn có nhiều trò chơi hấp dẫn khác như: chọi gà, tổ tôm, rối nước... Hàng nghìn người dân và du khách tham gia hội làng Ruộng Hội làng Ruộng là nét đẹp truyền thống, thể hiện lòng yêu nước và tinh thần tự hào dân tộc, nhắc nhở con cháu truyền thống thượng võ từ từ thời Âu Lạc.

Hội làng Ruộng được tổ chức nhằm tưởng nhớ công đức của 3 vị Thành hoàng làng là 3 cha con danh tướng Nồi Hầu có công lớn giúp An Dương Vương dựng nước. Cha thường được gọi là ông Hầu và hai con được gọi là Đống và Vực. Tục truyền Nồi Hầu hóa ngày 4/1 âm lịch, hai con hóa ngày 6/1 âm lịch.

Múa rối nước trong hội làng Ruộng

Hàng năm, hội làng Ruộng thu hút rất đông người dân và du khách thập phương về tham dự. Trong ngày 6/1. sau khi kết thúc phần tế lễ có tổ chức đua thuyền ở hồ Vĩnh Thanh trước miếu. Thuyền bơi được làm từ cây gỗ tạc hình thoi, bốn giáp dự thi. Hai giáp mũi thuyền đầu hạc cờ nheo màu vàng hoa niên, hai giáp mũi thuyền đầu rồng cờ nheo màu đỏ tía. Thyền bơi có một lái, một phụ, một ông mõ, một ông lệnh, một ông bay, một người phát cờ, một người tát nước và mười hai đô bơi. Đô bơi là những thiếu nữ chưa chồng, mặc áo màu chàm, quần đen buộc túm thắt lưng. Khi cờ lệnh phất, các đô bơi bắt đầu phần thi trong tiếng cổ vũ âm vang cùng nhịp trống. Bơi thuyền diễn ra trong 3 ngày liền, thuyền nào được nhiều điểm nhất giành chiến thắng. Ngoài ra, hội làng Ruộng còn có nhiều trò chơi hấp dẫn khác như: chọi gà, tổ tôm, rối nước...

Hàng nghìn người dân và du khách tham gia hội làng Ruộng

Hội làng Ruộng là nét đẹp truyền thống, thể hiện lòng yêu nước và tinh thần tự hào dân tộc, nhắc nhở con cháu truyền thống thượng võ từ từ thời Âu Lạc.

Related Figures

Hội làng Quậy

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 12/1- 14/1 Âm lịch Lễ hội làng "Anh cả" Quậy diễn ra trong 3 ngày 12-14 tháng Giêng âm lịch hàng năm tại xã Liên Hà, huyện Đông Anh, Hà Nội. Đến làng Quậy trong những ngày diễn ra lễ hội, du khách được vui chơi, trẩy hội với những nét văn hóa độc đáo như tế lễ, rước kiệu, chọi gà... Trong 3 buổi tối diễn ra lễ hội luôn có tiết mục biểu diễn tuồng, chèo. Lễ hội làng Quậy thu hút đông đảo người dân tham gia Theo truyền thuyết, năm 557 trước Công nguyên, vua An Dương Vương dời đô từ Bạch Hạc (Việt Trì, Phú Thọ) đã chọn vùng đất Cổ Loa để xây dựng kinh thành. Người dân nơi đây theo chiếu chỉ vua ban phải di cư sang vùng đất mới sinh sống. Dân làng tấu xin vua ban cho mảnh đất mới để sinh nhai. Đúng lúc đó, nhà vua đánh rơi hòn đá cuội, hòn đá vô tình lăn về hướng đông bắc thành Cổ Loa. Nhà vua nghĩ là điềm trời nên ban vùng đất này cho dân làng. Kể từ đó tên làng Cuội ra đời, lâu dần tên Cuội được đọc chệch thành Quậy. Đến nay, người dân làng Quậy rất tự hào là Anh cả hy sinh mảnh đất mẹ đẻ để nhà vua xây thành. Đình làng Quậy thờ ba vị Thần là Thủy Hải, Đăng Giang, Khổng Chúng là những anh hùng của làng theo Hai Bà Trưng đánh đuổi giặc ngoại xâm và hai vị Thánh Tam Giang, Đông Hải là những bậc tiền nhân có công với đất nước. Các cụ cao niên tế lễ trong hội làng Quậy Hội làng Quậy diễn ra trong không khí náo nhiệt, tưng bừng. Hội làng Quậy hàng năm thu hút hàng nghìn người dân và du khách tham gia. Làng Quậy quy định những bậc cao niên trong làng từ 60 tuổi mới được tham gia tế lễ, những người từ 50 tuổi phụ trách bồi tế và rước lễ, 49 tuổi phụ trách tiếp nước và mời trầu các cụ... Hội làng Quậy sôi nổi với phần thi chọi gà Tục lệ bắt đuổi trong hội làng Quậy thể hiện sự vinh dự được nắm chức trách, thể hiện nét đẹp truyền thống và mong muốn truyền lại những giá trị tốt đẹp cho thế hệ sau. Trước đây, hội làng Quậy diễn ra trong suốt 18 ngày đêm từ ngày 12-30 tháng Giêng âm lịch, nay rút ngắn lại chỉ diễn ra trong bốn ngày nhưng sự háo hức của người dân không hề giảm đi. Người người, nhà nhà nô nức trẩy hội.

Lễ hội làng Quậy thu hút đông đảo người dân tham gia Theo truyền thuyết, năm 557 trước Công nguyên, vua An Dương Vương dời đô từ Bạch Hạc (Việt Trì, Phú Thọ) đã chọn vùng đất Cổ Loa để xây dựng kinh thành. Người dân nơi đây theo chiếu chỉ vua ban phải di cư sang vùng đất mới sinh sống. Dân làng tấu xin vua ban cho mảnh đất mới để sinh nhai. Đúng lúc đó, nhà vua đánh rơi hòn đá cuội, hòn đá vô tình lăn về hướng đông bắc thành Cổ Loa. Nhà vua nghĩ là điềm trời nên ban vùng đất này cho dân làng. Kể từ đó tên làng Cuội ra đời, lâu dần tên Cuội được đọc chệch thành Quậy. Đến nay, người dân làng Quậy rất tự hào là Anh cả hy sinh mảnh đất mẹ đẻ để nhà vua xây thành. Đình làng Quậy thờ ba vị Thần là Thủy Hải, Đăng Giang, Khổng Chúng là những anh hùng của làng theo Hai Bà Trưng đánh đuổi giặc ngoại xâm và hai vị Thánh Tam Giang, Đông Hải là những bậc tiền nhân có công với đất nước. Các cụ cao niên tế lễ trong hội làng Quậy Hội làng Quậy diễn ra trong không khí náo nhiệt, tưng bừng. Hội làng Quậy hàng năm thu hút hàng nghìn người dân và du khách tham gia. Làng Quậy quy định những bậc cao niên trong làng từ 60 tuổi mới được tham gia tế lễ, những người từ 50 tuổi phụ trách bồi tế và rước lễ, 49 tuổi phụ trách tiếp nước và mời trầu các cụ... Hội làng Quậy sôi nổi với phần thi chọi gà Tục lệ bắt đuổi trong hội làng Quậy thể hiện sự vinh dự được nắm chức trách, thể hiện nét đẹp truyền thống và mong muốn truyền lại những giá trị tốt đẹp cho thế hệ sau. Trước đây, hội làng Quậy diễn ra trong suốt 18 ngày đêm từ ngày 12-30 tháng Giêng âm lịch, nay rút ngắn lại chỉ diễn ra trong bốn ngày nhưng sự háo hức của người dân không hề giảm đi. Người người, nhà nhà nô nức trẩy hội.

Theo truyền thuyết, năm 557 trước Công nguyên, vua An Dương Vương dời đô từ Bạch Hạc (Việt Trì, Phú Thọ) đã chọn vùng đất Cổ Loa để xây dựng kinh thành. Người dân nơi đây theo chiếu chỉ vua ban phải di cư sang vùng đất mới sinh sống. Dân làng tấu xin vua ban cho mảnh đất mới để sinh nhai. Đúng lúc đó, nhà vua đánh rơi hòn đá cuội, hòn đá vô tình lăn về hướng đông bắc thành Cổ Loa. Nhà vua nghĩ là điềm trời nên ban vùng đất này cho dân làng. Kể từ đó tên làng Cuội ra đời, lâu dần tên Cuội được đọc chệch thành Quậy. Đến nay, người dân làng Quậy rất tự hào là Anh cả hy sinh mảnh đất mẹ đẻ để nhà vua xây thành.

Đình làng Quậy thờ ba vị Thần là Thủy Hải, Đăng Giang, Khổng Chúng là những anh hùng của làng theo Hai Bà Trưng đánh đuổi giặc ngoại xâm và hai vị Thánh Tam Giang, Đông Hải là những bậc tiền nhân có công với đất nước. Các cụ cao niên tế lễ trong hội làng Quậy Hội làng Quậy diễn ra trong không khí náo nhiệt, tưng bừng. Hội làng Quậy hàng năm thu hút hàng nghìn người dân và du khách tham gia. Làng Quậy quy định những bậc cao niên trong làng từ 60 tuổi mới được tham gia tế lễ, những người từ 50 tuổi phụ trách bồi tế và rước lễ, 49 tuổi phụ trách tiếp nước và mời trầu các cụ... Hội làng Quậy sôi nổi với phần thi chọi gà Tục lệ bắt đuổi trong hội làng Quậy thể hiện sự vinh dự được nắm chức trách, thể hiện nét đẹp truyền thống và mong muốn truyền lại những giá trị tốt đẹp cho thế hệ sau. Trước đây, hội làng Quậy diễn ra trong suốt 18 ngày đêm từ ngày 12-30 tháng Giêng âm lịch, nay rút ngắn lại chỉ diễn ra trong bốn ngày nhưng sự háo hức của người dân không hề giảm đi. Người người, nhà nhà nô nức trẩy hội.

Đình làng Quậy thờ ba vị Thần là Thủy Hải, Đăng Giang, Khổng Chúng là những anh hùng của làng theo Hai Bà Trưng đánh đuổi giặc ngoại xâm và hai vị Thánh Tam Giang, Đông Hải là những bậc tiền nhân có công với đất nước.

Các cụ cao niên tế lễ trong hội làng Quậy

Hội làng Quậy diễn ra trong không khí náo nhiệt, tưng bừng. Hội làng Quậy hàng năm thu hút hàng nghìn người dân và du khách tham gia. Làng Quậy quy định những bậc cao niên trong làng từ 60 tuổi mới được tham gia tế lễ, những người từ 50 tuổi phụ trách bồi tế và rước lễ, 49 tuổi phụ trách tiếp nước và mời trầu các cụ...

Hội làng Quậy sôi nổi với phần thi chọi gà

Tục lệ bắt đuổi trong hội làng Quậy thể hiện sự vinh dự được nắm chức trách, thể hiện nét đẹp truyền thống và mong muốn truyền lại những giá trị tốt đẹp cho thế hệ sau.

Trước đây, hội làng Quậy diễn ra trong suốt 18 ngày đêm từ ngày 12-30 tháng Giêng âm lịch, nay rút ngắn lại chỉ diễn ra trong bốn ngày nhưng sự háo hức của người dân không hề giảm đi. Người người, nhà nhà nô nức trẩy hội.

Related Figures

Hội làng Phú Mỹ - Kiều Mai

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 7/1 Âm lịch Hội làng Phú Mỹ - Kiều Mai diễn ra ngày 7 tháng Giêng âm lịch hàng năm tại phường Mỹ Đình 2, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội. Lễ hội kết chạ - giao hiếu giữa hai làng Phú Mỹ - Kiều Mai là nét đẹp văn hóa, truyền thống của người dân nơi đây. Lễ rước hội làng Phú Mỹ - Kiều Mai Đình Kiều Mai thờ Thành hoàng làng Đào Trường, người có công giúp vua Hùng đánh đuổi giặc ngoại xâm phương bắc, dẹp loạn trong nước, được sắc phong là "Bạch Hạc Tam Giang". Đình Kiều Mai được xây dựng khoảng thế kỷ XVII, đã được trùng tu tôn tạo nhiều lần. Đình Phú Mỹ thờ Quốc vương Thiên tử đại vương tức Lý Nam Đế, Ả Lã Nàng Đê - nữ tướng dưới thời Hai Bà Trưng và Diêm La Thiên tử đại vương tức Lý Phật Tử. Du khách tham dự hội làng Phú Mỹ - Kiều Mai chìm đắm trong làn điệu dân ca Theo phong tục ngày 7 tháng Giêng âm lịch, dân làng Kiều Mai tổ chức rước thần vị Bạch Hạc Tam Giang - Đào Trường tới làng Phú Mỹ lễ tế rồi lại rước về làng. Lễ hội là cuộc giao lưu văn hóa giữa hai làng Kiều Mai và Phú Mỹ. Tham gia hội làng Phú Mỹ - Kiều Mai người dân và du khách thập phương đặc biệt ấn tượng với chiếc thuyền chở liền anh, liền chị trong trang phục khăn xếp, áo the, khăn mỏ quạ, nón quai thao biểu diễn quanh hồ. Mọi người tham gia lễ hội đều chìm đắm trong làn điệu dân ca quan họ ngọt ngào. Liền anh và liền chị biểu diễn trong hội làng Phú Mỹ - Kiều Mai Trước kia, hội làng Phú Mỹ - Kiều Mai được tổ trức long trọng, ngoài phần rước theo nghi thức dân gian, tế lễ còn sôi nổi phần hội với nhiều trò chơi dân gian như đập niêu đất, tuyển ca nương hát ca trù, hát quan họ... Những năm gần đây, do điều kiện đất đai chất chội, hai làng chỉ tổ chức thi đấu giao hữu bóng chuyền.

Lễ rước hội làng Phú Mỹ - Kiều Mai Đình Kiều Mai thờ Thành hoàng làng Đào Trường, người có công giúp vua Hùng đánh đuổi giặc ngoại xâm phương bắc, dẹp loạn trong nước, được sắc phong là "Bạch Hạc Tam Giang". Đình Kiều Mai được xây dựng khoảng thế kỷ XVII, đã được trùng tu tôn tạo nhiều lần. Đình Phú Mỹ thờ Quốc vương Thiên tử đại vương tức Lý Nam Đế, Ả Lã Nàng Đê - nữ tướng dưới thời Hai Bà Trưng và Diêm La Thiên tử đại vương tức Lý Phật Tử. Du khách tham dự hội làng Phú Mỹ - Kiều Mai chìm đắm trong làn điệu dân ca Theo phong tục ngày 7 tháng Giêng âm lịch, dân làng Kiều Mai tổ chức rước thần vị Bạch Hạc Tam Giang - Đào Trường tới làng Phú Mỹ lễ tế rồi lại rước về làng. Lễ hội là cuộc giao lưu văn hóa giữa hai làng Kiều Mai và Phú Mỹ. Tham gia hội làng Phú Mỹ - Kiều Mai người dân và du khách thập phương đặc biệt ấn tượng với chiếc thuyền chở liền anh, liền chị trong trang phục khăn xếp, áo the, khăn mỏ quạ, nón quai thao biểu diễn quanh hồ. Mọi người tham gia lễ hội đều chìm đắm trong làn điệu dân ca quan họ ngọt ngào. Liền anh và liền chị biểu diễn trong hội làng Phú Mỹ - Kiều Mai Trước kia, hội làng Phú Mỹ - Kiều Mai được tổ trức long trọng, ngoài phần rước theo nghi thức dân gian, tế lễ còn sôi nổi phần hội với nhiều trò chơi dân gian như đập niêu đất, tuyển ca nương hát ca trù, hát quan họ... Những năm gần đây, do điều kiện đất đai chất chội, hai làng chỉ tổ chức thi đấu giao hữu bóng chuyền.

Đình Kiều Mai thờ Thành hoàng làng Đào Trường, người có công giúp vua Hùng đánh đuổi giặc ngoại xâm phương bắc, dẹp loạn trong nước, được sắc phong là "Bạch Hạc Tam Giang". Đình Kiều Mai được xây dựng khoảng thế kỷ XVII, đã được trùng tu tôn tạo nhiều lần. Đình Phú Mỹ thờ Quốc vương Thiên tử đại vương tức Lý Nam Đế, Ả Lã Nàng Đê - nữ tướng dưới thời Hai Bà Trưng và Diêm La Thiên tử đại vương tức Lý Phật Tử.

Du khách tham dự hội làng Phú Mỹ - Kiều Mai chìm đắm trong làn điệu dân ca

Theo phong tục ngày 7 tháng Giêng âm lịch, dân làng Kiều Mai tổ chức rước thần vị Bạch Hạc Tam Giang - Đào Trường tới làng Phú Mỹ lễ tế rồi lại rước về làng. Lễ hội là cuộc giao lưu văn hóa giữa hai làng Kiều Mai và Phú Mỹ. Tham gia hội làng Phú Mỹ - Kiều Mai người dân và du khách thập phương đặc biệt ấn tượng với chiếc thuyền chở liền anh, liền chị trong trang phục khăn xếp, áo the, khăn mỏ quạ, nón quai thao biểu diễn quanh hồ. Mọi người tham gia lễ hội đều chìm đắm trong làn điệu dân ca quan họ ngọt ngào.

Theo phong tục ngày 7 tháng Giêng âm lịch, dân làng Kiều Mai tổ chức rước thần vị Bạch Hạc Tam Giang - Đào Trường tới làng Phú Mỹ lễ tế rồi lại rước về làng. Lễ hội là cuộc giao lưu văn hóa giữa hai làng Kiều Mai và Phú Mỹ. Tham gia hội làng Phú Mỹ - Kiều Mai người dân và du khách thập phương đặc biệt ấn tượng với chiếc thuyền chở liền anh, liền chị trong trang phục khăn xếp, áo the, khăn mỏ quạ, nón quai thao biểu diễn quanh hồ. Mọi người tham gia lễ hội đều chìm đắm trong làn điệu dân ca quan họ ngọt ngào.

Liền anh và liền chị biểu diễn trong hội làng Phú Mỹ - Kiều Mai

Trước kia, hội làng Phú Mỹ - Kiều Mai được tổ trức long trọng, ngoài phần rước theo nghi thức dân gian, tế lễ còn sôi nổi phần hội với nhiều trò chơi dân gian như đập niêu đất, tuyển ca nương hát ca trù, hát quan họ... Những năm gần đây, do điều kiện đất đai chất chội, hai làng chỉ tổ chức thi đấu giao hữu bóng chuyền.

Related Figures

Hội làng Nghi Tàm

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/2 Âm lịch Hội làng Nghi Tàm tổ chức ngày 9-10/2 âm lịch hàng năm tại đình Nghi Tàm, phường Quảng An, quận Tây Hồ, Hà Nội nhằm tưởng nhớ công ơn các vị Thành hoàng làng. Nghi Tàm là một trong ba làng cổ tại phường Quảng An, quận Tây Hồ, là địa danh mang đậm dấu tích văn hóa lịch sử từ đình chùa cho đến nét văn hóa đặc sắc trong lễ hội truyền thống. Lễ tế trong hội làng Nghi Tàm Làng Nghi Tàm được hình thành năm 1138 đời vua Lý Thần Tông với tên khai sinh trại Tầm Tang do nhà vua ban. Trại tầm Tang gắn với sự tích công chúa Từ Hoa con vua Lý Thần Tông xuất cung dạy người dân nơi đây trồng dâu, nuôi tằm. Đến đời Trần, trại Tầm Tang được đổi tên là phường Tích Ma, phát triển nghề se gai, dệt lưới đánh cá. Sang thời Lê, phường Tích Ma được đổi tên thành Nghi Tầm nhưng do trùng với tích công chúa Từ Hoa nên đổi thành Nghi Tàm. Chùa Kim Liên ngôi chùa cổ ở Nghi Tàm Chùa Kim Liên được xây dựng cuối thời Trần trên nền đất cũ cung Từ Hoa. Chùa Kim Liên có kiến trúc độc nhất vô nhị ở Hà Nội, được xem là một trong những ngôi chùa đẹp nhất đất kinh kỳ. Chùa Kim Liên được bố trí theo hình chữ Tam, ba ngôi trung - thượng - hạ chạy song song với nhau. Đến nay, chùa Kim Liên còn lưu giữ nhiều bia đá, trong đó tấm bia cổ nhất được dựng năm Thái Hòa nguyên niên (năm 1443). Trong chùa có 47 pho tượng được tạc từ thời Lê và Nguyễn, trong đó có 35 pho tượng Phận. Tượng công chúa Từ Hoa áo trắng và Quỳnh Hoa áo đỏ được tôn làm tổ nghề tằm. Đình Nghi Tàm thờ tới 6 vị Thành hoàng làng là Thượng đẳng tối linh thần gồm Minh Khiết Dực Thánh Thần, Bảo Trung Cương Đoán Thần, Triều Đình Phù Quốc Thần, Lỗ Quốc Thái Sư Thần (4 vị thần giúp Phùng Hưng đánh đuổi quân nhà Đường thế kỷ VIII) và Hoàng Hiệp Tây Hồ Thủy Thần, Quỳnh Hoa Đoan Trang Công chúa Thần. Đình Nghi Tàm gồm 5 gian tiền tế và 3 gian hậu cung. Kiệu rước trong hội làng Nghi Tàm Ngày 9/2, dân làng Nghi Tàm mang lễ vật ra đình dâng hương lễ Thành hoàng làng. Ngày 10/2, tổ chức rước nước, rước kiệu từ đình ra chùa Kim Liên xin nước về trở về đình. Nước sẽ được dùng làm nước cũng Thánh trong suốt cả năm. Trong ngày diễn ra lễ hội, người dân làng Nghi Tàm kiêng nói từ Hoa vì phạm húy tên Thành hoàng Quỳnh Hoa công chúa.

Nghi Tàm là một trong ba làng cổ tại phường Quảng An, quận Tây Hồ, là địa danh mang đậm dấu tích văn hóa lịch sử từ đình chùa cho đến nét văn hóa đặc sắc trong lễ hội truyền thống. Lễ tế trong hội làng Nghi Tàm Làng Nghi Tàm được hình thành năm 1138 đời vua Lý Thần Tông với tên khai sinh trại Tầm Tang do nhà vua ban. Trại tầm Tang gắn với sự tích công chúa Từ Hoa con vua Lý Thần Tông xuất cung dạy người dân nơi đây trồng dâu, nuôi tằm. Đến đời Trần, trại Tầm Tang được đổi tên là phường Tích Ma, phát triển nghề se gai, dệt lưới đánh cá. Sang thời Lê, phường Tích Ma được đổi tên thành Nghi Tầm nhưng do trùng với tích công chúa Từ Hoa nên đổi thành Nghi Tàm. Chùa Kim Liên ngôi chùa cổ ở Nghi Tàm Chùa Kim Liên được xây dựng cuối thời Trần trên nền đất cũ cung Từ Hoa. Chùa Kim Liên có kiến trúc độc nhất vô nhị ở Hà Nội, được xem là một trong những ngôi chùa đẹp nhất đất kinh kỳ. Chùa Kim Liên được bố trí theo hình chữ Tam, ba ngôi trung - thượng - hạ chạy song song với nhau. Đến nay, chùa Kim Liên còn lưu giữ nhiều bia đá, trong đó tấm bia cổ nhất được dựng năm Thái Hòa nguyên niên (năm 1443). Trong chùa có 47 pho tượng được tạc từ thời Lê và Nguyễn, trong đó có 35 pho tượng Phận. Tượng công chúa Từ Hoa áo trắng và Quỳnh Hoa áo đỏ được tôn làm tổ nghề tằm. Đình Nghi Tàm thờ tới 6 vị Thành hoàng làng là Thượng đẳng tối linh thần gồm Minh Khiết Dực Thánh Thần, Bảo Trung Cương Đoán Thần, Triều Đình Phù Quốc Thần, Lỗ Quốc Thái Sư Thần (4 vị thần giúp Phùng Hưng đánh đuổi quân nhà Đường thế kỷ VIII) và Hoàng Hiệp Tây Hồ Thủy Thần, Quỳnh Hoa Đoan Trang Công chúa Thần. Đình Nghi Tàm gồm 5 gian tiền tế và 3 gian hậu cung. Kiệu rước trong hội làng Nghi Tàm Ngày 9/2, dân làng Nghi Tàm mang lễ vật ra đình dâng hương lễ Thành hoàng làng. Ngày 10/2, tổ chức rước nước, rước kiệu từ đình ra chùa Kim Liên xin nước về trở về đình. Nước sẽ được dùng làm nước cũng Thánh trong suốt cả năm. Trong ngày diễn ra lễ hội, người dân làng Nghi Tàm kiêng nói từ Hoa vì phạm húy tên Thành hoàng Quỳnh Hoa công chúa.

Nghi Tàm là một trong ba làng cổ tại phường Quảng An, quận Tây Hồ, là địa danh mang đậm dấu tích văn hóa lịch sử từ đình chùa cho đến nét văn hóa đặc sắc trong lễ hội truyền thống.

Lễ tế trong hội làng Nghi Tàm

Làng Nghi Tàm được hình thành năm 1138 đời vua Lý Thần Tông với tên khai sinh trại Tầm Tang do nhà vua ban. Trại tầm Tang gắn với sự tích công chúa Từ Hoa con vua Lý Thần Tông xuất cung dạy người dân nơi đây trồng dâu, nuôi tằm. Đến đời Trần, trại Tầm Tang được đổi tên là phường Tích Ma, phát triển nghề se gai, dệt lưới đánh cá. Sang thời Lê, phường Tích Ma được đổi tên thành Nghi Tầm nhưng do trùng với tích công chúa Từ Hoa nên đổi thành Nghi Tàm.

Chùa Kim Liên ngôi chùa cổ ở Nghi Tàm

Chùa Kim Liên được xây dựng cuối thời Trần trên nền đất cũ cung Từ Hoa. Chùa Kim Liên có kiến trúc độc nhất vô nhị ở Hà Nội, được xem là một trong những ngôi chùa đẹp nhất đất kinh kỳ. Chùa Kim Liên được bố trí theo hình chữ Tam, ba ngôi trung - thượng - hạ chạy song song với nhau. Đến nay, chùa Kim Liên còn lưu giữ nhiều bia đá, trong đó tấm bia cổ nhất được dựng năm Thái Hòa nguyên niên (năm 1443). Trong chùa có 47 pho tượng được tạc từ thời Lê và Nguyễn, trong đó có 35 pho tượng Phận. Tượng công chúa Từ Hoa áo trắng và Quỳnh Hoa áo đỏ được tôn làm tổ nghề tằm.

Đình Nghi Tàm thờ tới 6 vị Thành hoàng làng là Thượng đẳng tối linh thần gồm Minh Khiết Dực Thánh Thần, Bảo Trung Cương Đoán Thần, Triều Đình Phù Quốc Thần, Lỗ Quốc Thái Sư Thần (4 vị thần giúp Phùng Hưng đánh đuổi quân nhà Đường thế kỷ VIII) và Hoàng Hiệp Tây Hồ Thủy Thần, Quỳnh Hoa Đoan Trang Công chúa Thần. Đình Nghi Tàm gồm 5 gian tiền tế và 3 gian hậu cung.

Kiệu rước trong hội làng Nghi Tàm

Ngày 9/2, dân làng Nghi Tàm mang lễ vật ra đình dâng hương lễ Thành hoàng làng. Ngày 10/2, tổ chức rước nước, rước kiệu từ đình ra chùa Kim Liên xin nước về trở về đình. Nước sẽ được dùng làm nước cũng Thánh trong suốt cả năm. Trong ngày diễn ra lễ hội, người dân làng Nghi Tàm kiêng nói từ Hoa vì phạm húy tên Thành hoàng Quỳnh Hoa công chúa.

Related Figures

Lễ hội Pu Nhạ Thầu

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 24/1- 25/1 Âm lịch Lễ hội Pu Nhạ Thầu ở Nghệ An thường được tổ chức vào ngày 24 và 25 tháng Giêng âm lịch, tại xã Hữu Kiệm, huyện Kỳ Sơn. Đây là một lễ hội với nhiều nghi thức mang đậm nét truyền thống của người dân vùng miền, thu hút rất đông người dân trong vùng và du khách thập phương về xem hội. Lễ hội Pu Nhạ Thầu ở Nghệ An Đền Lễ hội Pu Nhạ Thầu là một di tích lịch sử đã được chứng nhận là di tích văn hóa cấp tỉnh. Đền tọa lạc trên đỉnh một ngọn núi bản Na Lượng. Truyền thuyền gắn liền với ngôi đền này đó là Công chúa La Bình, con gái của Sơn Tinh và Mỵ Nương, cháu ngoại của Hùng Vương thứ 18, là người tài năng, tâm đức, luôn yêu thương và bảo vệ người dân. Công chúa la Bình thích đi chu du khắp nơi và thường đến các vùng núi để giúp đỡ người dân. Người dân vô cùng ngưỡng mộ bà nên suy tôn bà là Mẫu Thượng Ngàn. Hội thi khắc luống Đền Lễ hội Pu Nhạ Thầu và bản Na Lượng còn gắn liền với sự kiện tướng sỹ nhà Trần đánh quân giặc ngoại xâm ở thế kỷ 14. Trong những năm kháng chiến chống thực dân Mỹ, đền Pu Nhạ Thầu đã hai lần bị bom tàn phá, nhưng người dân nơi đây đã dùng gỗ để dựng lại đền. Người dân đồng bào Thái xã Hữu Kiệm luôn có lòng biết ơn các bậc tiền nhân đã có công đánh đuổi giặc ngoại xâm, giữ yên bờ cõi nên người dân luôn cố gắng giữ gìn ngôi đền, xem đền như ngôi nhà của mình vậy. Các cô gái đang nhảy sạp trong Lễ hội Pu Nhạ Thầu ở Nghệ An Năm 2009, lễ hội Pu Nhạ Thầu bắt đầu được khôi phục lại. Đây là dịp để bà con trong huyện Kỳ Sơn gửi gắm tâm linh, giao lưu, vui chơi giải trí, đồng thời khích lệ người dân hăng say lao động sản xuất, cầu mong cho mùa màng bội thu, người và vật nuôi luôn được khỏe mạnh…

Lễ hội Pu Nhạ Thầu ở Nghệ An Đền Lễ hội Pu Nhạ Thầu là một di tích lịch sử đã được chứng nhận là di tích văn hóa cấp tỉnh. Đền tọa lạc trên đỉnh một ngọn núi bản Na Lượng. Truyền thuyền gắn liền với ngôi đền này đó là Công chúa La Bình, con gái của Sơn Tinh và Mỵ Nương, cháu ngoại của Hùng Vương thứ 18, là người tài năng, tâm đức, luôn yêu thương và bảo vệ người dân. Công chúa la Bình thích đi chu du khắp nơi và thường đến các vùng núi để giúp đỡ người dân. Người dân vô cùng ngưỡng mộ bà nên suy tôn bà là Mẫu Thượng Ngàn. Hội thi khắc luống Đền Lễ hội Pu Nhạ Thầu và bản Na Lượng còn gắn liền với sự kiện tướng sỹ nhà Trần đánh quân giặc ngoại xâm ở thế kỷ 14. Trong những năm kháng chiến chống thực dân Mỹ, đền Pu Nhạ Thầu đã hai lần bị bom tàn phá, nhưng người dân nơi đây đã dùng gỗ để dựng lại đền. Người dân đồng bào Thái xã Hữu Kiệm luôn có lòng biết ơn các bậc tiền nhân đã có công đánh đuổi giặc ngoại xâm, giữ yên bờ cõi nên người dân luôn cố gắng giữ gìn ngôi đền, xem đền như ngôi nhà của mình vậy. Các cô gái đang nhảy sạp trong Lễ hội Pu Nhạ Thầu ở Nghệ An Năm 2009, lễ hội Pu Nhạ Thầu bắt đầu được khôi phục lại. Đây là dịp để bà con trong huyện Kỳ Sơn gửi gắm tâm linh, giao lưu, vui chơi giải trí, đồng thời khích lệ người dân hăng say lao động sản xuất, cầu mong cho mùa màng bội thu, người và vật nuôi luôn được khỏe mạnh…

Đền Lễ hội Pu Nhạ Thầu là một di tích lịch sử đã được chứng nhận là di tích văn hóa cấp tỉnh. Đền tọa lạc trên đỉnh một ngọn núi bản Na Lượng. Truyền thuyền gắn liền với ngôi đền này đó là Công chúa La Bình, con gái của Sơn Tinh và Mỵ Nương, cháu ngoại của Hùng Vương thứ 18, là người tài năng, tâm đức, luôn yêu thương và bảo vệ người dân. Công chúa la Bình thích đi chu du khắp nơi và thường đến các vùng núi để giúp đỡ người dân. Người dân vô cùng ngưỡng mộ bà nên suy tôn bà là Mẫu Thượng Ngàn.

Hội thi khắc luống

Đền Lễ hội Pu Nhạ Thầu và bản Na Lượng còn gắn liền với sự kiện tướng sỹ nhà Trần đánh quân giặc ngoại xâm ở thế kỷ 14. Trong những năm kháng chiến chống thực dân Mỹ, đền Pu Nhạ Thầu đã hai lần bị bom tàn phá, nhưng người dân nơi đây đã dùng gỗ để dựng lại đền. Người dân đồng bào Thái xã Hữu Kiệm luôn có lòng biết ơn các bậc tiền nhân đã có công đánh đuổi giặc ngoại xâm, giữ yên bờ cõi nên người dân luôn cố gắng giữ gìn ngôi đền, xem đền như ngôi nhà của mình vậy. Các cô gái đang nhảy sạp trong Lễ hội Pu Nhạ Thầu ở Nghệ An Năm 2009, lễ hội Pu Nhạ Thầu bắt đầu được khôi phục lại. Đây là dịp để bà con trong huyện Kỳ Sơn gửi gắm tâm linh, giao lưu, vui chơi giải trí, đồng thời khích lệ người dân hăng say lao động sản xuất, cầu mong cho mùa màng bội thu, người và vật nuôi luôn được khỏe mạnh…

Trong những năm kháng chiến chống thực dân Mỹ, đền Pu Nhạ Thầu đã hai lần bị bom tàn phá, nhưng người dân nơi đây đã dùng gỗ để dựng lại đền. Người dân đồng bào Thái xã Hữu Kiệm luôn có lòng biết ơn các bậc tiền nhân đã có công đánh đuổi giặc ngoại xâm, giữ yên bờ cõi nên người dân luôn cố gắng giữ gìn ngôi đền, xem đền như ngôi nhà của mình vậy.

Các cô gái đang nhảy sạp trong Lễ hội Pu Nhạ Thầu ở Nghệ An

Năm 2009, lễ hội Pu Nhạ Thầu bắt đầu được khôi phục lại. Đây là dịp để bà con trong huyện Kỳ Sơn gửi gắm tâm linh, giao lưu, vui chơi giải trí, đồng thời khích lệ người dân hăng say lao động sản xuất, cầu mong cho mùa màng bội thu, người và vật nuôi luôn được khỏe mạnh…

Related Figures

Hội làng Ngọc Trì

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 3/3 Âm lịch Hội làng Ngọc Trì được tổ chức ngày 3/3 và 9/9 âm lịch hàng năm tại phường Thạch Bàn, quân Long Biên, Hà Nội. Hội làng được tổ chức nhằm tưởng nhớ công ơn thần Huyền Thiên Trấn Vũ. Hội làng Ngọc Trì được tổ chức tại đền Trấn Vũ Làng Ngọc Trì tên Nôm là làng Đìa, là vùng đất cổ xưa có nhiều ao, hồ, đầm, nằm ven sông Hồng. Đền Trấn Vũ ở làng Ngọc Trì không ai biết chính xác được xây dựng từ bao giờ. Bia sự tích của Thần dựng năm Mậu Thìn (năm 1928) khẳng định đền Trấn Vũ có từ thời Thục An Dương Vương thế kỷ III trước Công Nguyên. Truyền thuyết khác cho rằng thế kỷ XV, vua Lê Thánh Tông dẫn quân chinh phát phương Nam, đóng quân tại xã Cự Linh được Thần ứng mộng nên đã xây dựng đền tại đây, tạc tượng gỗ để thờ, bài vị ghi chữ vàng "Trấn Vũ Quán". Pho tượng Huyền Thiên Trấn Vũ trong đền Ngọc Trì cao 3,8m, nặng 4 tấn, là tượng đồng thau lớn thứ 2 ở Việt Nam (sau tượng Trấn Vũ ở Quán Thánh). Tượng Huyền Thiên Trấn Vũ thể hiện sự điêu luyện và kỹ thuật tinh xảo trong nghệ thuật tạc tượng đồng của nước ta. Ngoài ra, trong đền Ngọc Trì còn có 12 pho tượng nguyên soái (12 vị tướng theo thần trừ yêu) được đúc bằng đất. Do đình làng không còn nên trong đền Trấn Vũ còn có bài vị của Linh Lang đại vương. Hội làng Ngọc Trì sôi nổi với kéo co luồn dây qua lỗ Hàng năm, vào ngày 3/3 âm lịch (ngày sinh của Thần) và 9/9 âm lịch (ngày hóa của Thần) dân làng Ngọc Trì long trọng tổ chức lễ hội. Ngoài phần tế lễ, hội làng Ngọc Trì còn sôi nổi với nhiều trò chơi dân gian đặc biệt là kéo co luồn dây qua cột. Trai tráng tham gia kéo co luồn dây qua cột hội làng Ngọc Trì Trai tráng trong làng cởi trần, đóng khố chia làm hai phe: Mạn đường và Mạn chợ. Mỗi phe có một tổng cờ chỉ huy (mặc áo đỏ, chít khăn đỏ). Sau lễ trình Thánh, hai phe bắt đầu thi đấu kéo co qua một sợi dây to, dài 30m. Sợ dây song to được luồn qua lỗ cột mốc là trụ lim. Khi có hiệu lệnh, tổng cờ chỉ huy quệt lá cờ lệnh vào mặt các chàng trai phe mình để thúc giục họ kéo dây. Theo quan niệm của người dân, nếu phe Mạn đường giành chiến thắng thì năm đó làng có phúc lớn.

Hội làng Ngọc Trì được tổ chức ngày 3/3 và 9/9 âm lịch hàng năm tại phường Thạch Bàn, quân Long Biên, Hà Nội. Hội làng được tổ chức nhằm tưởng nhớ công ơn thần Huyền Thiên Trấn Vũ.

Hội làng Ngọc Trì được tổ chức tại đền Trấn Vũ

Pho tượng Huyền Thiên Trấn Vũ trong đền Ngọc Trì cao 3,8m, nặng 4 tấn, là tượng đồng thau lớn thứ 2 ở Việt Nam (sau tượng Trấn Vũ ở Quán Thánh). Tượng Huyền Thiên Trấn Vũ thể hiện sự điêu luyện và kỹ thuật tinh xảo trong nghệ thuật tạc tượng đồng của nước ta. Ngoài ra, trong đền Ngọc Trì còn có 12 pho tượng nguyên soái (12 vị tướng theo thần trừ yêu) được đúc bằng đất. Do đình làng không còn nên trong đền Trấn Vũ còn có bài vị của Linh Lang đại vương. Hội làng Ngọc Trì sôi nổi với kéo co luồn dây qua lỗ Hàng năm, vào ngày 3/3 âm lịch (ngày sinh của Thần) và 9/9 âm lịch (ngày hóa của Thần) dân làng Ngọc Trì long trọng tổ chức lễ hội. Ngoài phần tế lễ, hội làng Ngọc Trì còn sôi nổi với nhiều trò chơi dân gian đặc biệt là kéo co luồn dây qua cột. Trai tráng tham gia kéo co luồn dây qua cột hội làng Ngọc Trì Trai tráng trong làng cởi trần, đóng khố chia làm hai phe: Mạn đường và Mạn chợ. Mỗi phe có một tổng cờ chỉ huy (mặc áo đỏ, chít khăn đỏ). Sau lễ trình Thánh, hai phe bắt đầu thi đấu kéo co qua một sợi dây to, dài 30m. Sợ dây song to được luồn qua lỗ cột mốc là trụ lim. Khi có hiệu lệnh, tổng cờ chỉ huy quệt lá cờ lệnh vào mặt các chàng trai phe mình để thúc giục họ kéo dây. Theo quan niệm của người dân, nếu phe Mạn đường giành chiến thắng thì năm đó làng có phúc lớn.

Pho tượng Huyền Thiên Trấn Vũ trong đền Ngọc Trì cao 3,8m, nặng 4 tấn, là tượng đồng thau lớn thứ 2 ở Việt Nam (sau tượng Trấn Vũ ở Quán Thánh). Tượng Huyền Thiên Trấn Vũ thể hiện sự điêu luyện và kỹ thuật tinh xảo trong nghệ thuật tạc tượng đồng của nước ta. Ngoài ra, trong đền Ngọc Trì còn có 12 pho tượng nguyên soái (12 vị tướng theo thần trừ yêu) được đúc bằng đất. Do đình làng không còn nên trong đền Trấn Vũ còn có bài vị của Linh Lang đại vương. Hội làng Ngọc Trì sôi nổi với kéo co luồn dây qua lỗ Hàng năm, vào ngày 3/3 âm lịch (ngày sinh của Thần) và 9/9 âm lịch (ngày hóa của Thần) dân làng Ngọc Trì long trọng tổ chức lễ hội. Ngoài phần tế lễ, hội làng Ngọc Trì còn sôi nổi với nhiều trò chơi dân gian đặc biệt là kéo co luồn dây qua cột. Trai tráng tham gia kéo co luồn dây qua cột hội làng Ngọc Trì Trai tráng trong làng cởi trần, đóng khố chia làm hai phe: Mạn đường và Mạn chợ. Mỗi phe có một tổng cờ chỉ huy (mặc áo đỏ, chít khăn đỏ). Sau lễ trình Thánh, hai phe bắt đầu thi đấu kéo co qua một sợi dây to, dài 30m. Sợ dây song to được luồn qua lỗ cột mốc là trụ lim. Khi có hiệu lệnh, tổng cờ chỉ huy quệt lá cờ lệnh vào mặt các chàng trai phe mình để thúc giục họ kéo dây. Theo quan niệm của người dân, nếu phe Mạn đường giành chiến thắng thì năm đó làng có phúc lớn.

Pho tượng Huyền Thiên Trấn Vũ trong đền Ngọc Trì cao 3,8m, nặng 4 tấn, là tượng đồng thau lớn thứ 2 ở Việt Nam (sau tượng Trấn Vũ ở Quán Thánh). Tượng Huyền Thiên Trấn Vũ thể hiện sự điêu luyện và kỹ thuật tinh xảo trong nghệ thuật tạc tượng đồng của nước ta. Ngoài ra, trong đền Ngọc Trì còn có 12 pho tượng nguyên soái (12 vị tướng theo thần trừ yêu) được đúc bằng đất. Do đình làng không còn nên trong đền Trấn Vũ còn có bài vị của Linh Lang đại vương.

Hội làng Ngọc Trì sôi nổi với kéo co luồn dây qua lỗ

Hàng năm, vào ngày 3/3 âm lịch (ngày sinh của Thần) và 9/9 âm lịch (ngày hóa của Thần) dân làng Ngọc Trì long trọng tổ chức lễ hội. Ngoài phần tế lễ, hội làng Ngọc Trì còn sôi nổi với nhiều trò chơi dân gian đặc biệt là kéo co luồn dây qua cột.

Trai tráng tham gia kéo co luồn dây qua cột hội làng Ngọc Trì

Trai tráng trong làng cởi trần, đóng khố chia làm hai phe: Mạn đường và Mạn chợ. Mỗi phe có một tổng cờ chỉ huy (mặc áo đỏ, chít khăn đỏ). Sau lễ trình Thánh, hai phe bắt đầu thi đấu kéo co qua một sợi dây to, dài 30m. Sợ dây song to được luồn qua lỗ cột mốc là trụ lim. Khi có hiệu lệnh, tổng cờ chỉ huy quệt lá cờ lệnh vào mặt các chàng trai phe mình để thúc giục họ kéo dây. Theo quan niệm của người dân, nếu phe Mạn đường giành chiến thắng thì năm đó làng có phúc lớn.

Related Figures

Lễ hội Pẩn pang - Nang ny

Thông tin thời kỳ

Lễ hội Pẩn pang - Nang ny là một lễ hội truyền thống của tỉnh Nghệ An. Đây cũng chính là lễ hội mở đầu cho các lễ hội truyền thống trong năm của tỉnh Nghệ An. Hàng năm, cứ đến ngày 5 đến mồng 7 tháng Giêng âm lịch, người dân bản Mường Ham, xã Châu Cường, huyện Quỳnh Hợp lại tập trung ra sân trước Hang Pẩn Pang - Nang Ny để mở hội. Lễ hội Kin Pang Then là một lễ hội quan trọng của đồng bào dân tộc người Thái trắng, là lễ hội mang tính cộng đồng, có hình thức diễn xướng dân gian vô cùng độc đáo. Hàng năm, cứ đến dịp mùa xuân, thầy mo lại tổ chức lễ cúng và gặp mặt những người đã được thầy mo chữa khỏi bệnh. Đây là một lễ hội truyền thống mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc, không mang yếu tố mê tín di đoan, mà mang đậm tình đoàn kết cộng đồng. Với lối hát Then truyền thống, các cụ già có uy tín trong các bản sẽ là người được hát chính trong lễ hội. Qua lời ca câu hát, ông Then sẽ cầu cúng cho người dân của bản làng, trong mường có một năm mới nhiều may mắn, cho người dân được khở mạnh, no ấm, cầu cho mùa mang tươi tốt. Cùng với việc cầu cúng, lễ hội Lễ hội Pẩn pang - Nang ny cũng được xem là một lễ tạ ơn của con cái đối với công ơn dưỡng thành của cha mẹ. Cầu phúc lộc cho gia đình và con cháu, là dịp để con cháu bày tỏ lòng biết ơn và thành kính đến người thầy trong dịp đầu xuân

Lễ hội Kin Pang Then là một lễ hội quan trọng của đồng bào dân tộc người Thái trắng, là lễ hội mang tính cộng đồng, có hình thức diễn xướng dân gian vô cùng độc đáo. Hàng năm, cứ đến dịp mùa xuân, thầy mo lại tổ chức lễ cúng và gặp mặt những người đã được thầy mo chữa khỏi bệnh. Đây là một lễ hội truyền thống mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc, không mang yếu tố mê tín di đoan, mà mang đậm tình đoàn kết cộng đồng. Với lối hát Then truyền thống, các cụ già có uy tín trong các bản sẽ là người được hát chính trong lễ hội. Qua lời ca câu hát, ông Then sẽ cầu cúng cho người dân của bản làng, trong mường có một năm mới nhiều may mắn, cho người dân được khở mạnh, no ấm, cầu cho mùa mang tươi tốt. Cùng với việc cầu cúng, lễ hội Lễ hội Pẩn pang - Nang ny cũng được xem là một lễ tạ ơn của con cái đối với công ơn dưỡng thành của cha mẹ. Cầu phúc lộc cho gia đình và con cháu, là dịp để con cháu bày tỏ lòng biết ơn và thành kính đến người thầy trong dịp đầu xuân

Lễ hội Kin Pang Then là một lễ hội quan trọng của đồng bào dân tộc người Thái trắng, là lễ hội mang tính cộng đồng, có hình thức diễn xướng dân gian vô cùng độc đáo. Hàng năm, cứ đến dịp mùa xuân, thầy mo lại tổ chức lễ cúng và gặp mặt những người đã được thầy mo chữa khỏi bệnh.

Đây là một lễ hội truyền thống mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc, không mang yếu tố mê tín di đoan, mà mang đậm tình đoàn kết cộng đồng. Với lối hát Then truyền thống, các cụ già có uy tín trong các bản sẽ là người được hát chính trong lễ hội. Qua lời ca câu hát, ông Then sẽ cầu cúng cho người dân của bản làng, trong mường có một năm mới nhiều may mắn, cho người dân được khở mạnh, no ấm, cầu cho mùa mang tươi tốt. Cùng với việc cầu cúng, lễ hội Lễ hội Pẩn pang - Nang ny cũng được xem là một lễ tạ ơn của con cái đối với công ơn dưỡng thành của cha mẹ. Cầu phúc lộc cho gia đình và con cháu, là dịp để con cháu bày tỏ lòng biết ơn và thành kính đến người thầy trong dịp đầu xuân

Related Figures

Lễ hội Xăng Khan của người Thái

Thông tin thời kỳ

Lễ hội Xăng Khan của người Thái ở Nghệ An là một ngày vui của họ hàng các ông mo nói riêng. Đây được xem là dịp để người dân trong bản làng trả ơn thầy mo đã chữa khỏi bệnh cho người thân trong gia đình. Lễ hội cũng là dịp để nam thanh nữ tú có cơ hội gặp gỡ, giao lưu và kết duyên. Thầy mo làm lễ cúng trong ngày hội Cứ 3 hoặc 5 năm một lần vào khoảng 11 âm lịch, khi người dân đã thu hoạch xong mùa vụ trên nương về nhà. Hoặc tháng 2 hoặc tháng 3 âm lịch của năm là thời gian mở hội. Trước đây lễ hội Xăng Khan thường diễn ra từ 2 đến 3 ngày nhưng nay rút gọn chỉ trong 1 ngày. Sau khi lễ cúng kết thíc, các thầy mo cùng người dân trong bản sẽ cùng đứng vây quanh cây hoa cùng nhảy múa. Hội càng về đêm lại càng nhộn nhịp với các trò diễn thú vị của các thầy mo, cũng như người dân bản và du khách xem hội. Người dân nhảy quanh cây Boọc mạy trong lễ hội Xăng Khan Lễ hội Xăng Khan là một lễ hội truyền thống của các bản làng người Thái. Có thể nói đây là một ngày hội có ý nghĩa cộng đồng quan trọng của đồng bào người Thái tại miền tây Nghệ An. trong lễ hội, lễ vật được người dân chuẩn bị gồm 7-10 vò rượu cần, 2 con gà, cá nướng, 2 con lợn, trầu cau, cây Boọc mạy... Cây Boọc mạy được làm từ thân cây tre hoặc cây nứa già, có chiều cao khoảng 4 mét, có khoét nhiều lỗ chia thành các tầng khác nhau. Bỗi lỗ sẽ được treo các vật tượng trưng như cá, chim, rắn, ve sầu... Những vật này thường được làm từ ruột cây sắn, cây tang được lấy từ trong rừng, sau đó nhuộm mày xanh, tím, đỏ, vàng... Trên đỉnh cây Boọc mạy có cắm một ô hình vuông được các thiếu nữ dừng khi ông mo nhảy Xăng Khan. Người dân chung quanh vò rượu cần và trò chuyện những câu chuyện đời thường Điểm nhấn quan trọng nhất của lễ hội Xăng Khan là lúc ông mo cầu khấn những điều an lành cho bản làng, cầu cho dân được no đủ, ruộng nương nhiều lúa, người người được khỏe mạnh. Kếp boóc (hái hoa) là phần cuối cùng của lễ hội này. Đây là lúc chủ nhà sẽ hái hoa tặng cho tất cả người xem hội. Mỗi bông hoa tượng trưng cho sự may mắn trong cuộc sống.

Thầy mo làm lễ cúng trong ngày hội Cứ 3 hoặc 5 năm một lần vào khoảng 11 âm lịch, khi người dân đã thu hoạch xong mùa vụ trên nương về nhà. Hoặc tháng 2 hoặc tháng 3 âm lịch của năm là thời gian mở hội. Trước đây lễ hội Xăng Khan thường diễn ra từ 2 đến 3 ngày nhưng nay rút gọn chỉ trong 1 ngày. Sau khi lễ cúng kết thíc, các thầy mo cùng người dân trong bản sẽ cùng đứng vây quanh cây hoa cùng nhảy múa. Hội càng về đêm lại càng nhộn nhịp với các trò diễn thú vị của các thầy mo, cũng như người dân bản và du khách xem hội. Người dân nhảy quanh cây Boọc mạy trong lễ hội Xăng Khan Lễ hội Xăng Khan là một lễ hội truyền thống của các bản làng người Thái. Có thể nói đây là một ngày hội có ý nghĩa cộng đồng quan trọng của đồng bào người Thái tại miền tây Nghệ An. trong lễ hội, lễ vật được người dân chuẩn bị gồm 7-10 vò rượu cần, 2 con gà, cá nướng, 2 con lợn, trầu cau, cây Boọc mạy... Cây Boọc mạy được làm từ thân cây tre hoặc cây nứa già, có chiều cao khoảng 4 mét, có khoét nhiều lỗ chia thành các tầng khác nhau. Bỗi lỗ sẽ được treo các vật tượng trưng như cá, chim, rắn, ve sầu... Những vật này thường được làm từ ruột cây sắn, cây tang được lấy từ trong rừng, sau đó nhuộm mày xanh, tím, đỏ, vàng... Trên đỉnh cây Boọc mạy có cắm một ô hình vuông được các thiếu nữ dừng khi ông mo nhảy Xăng Khan. Người dân chung quanh vò rượu cần và trò chuyện những câu chuyện đời thường Điểm nhấn quan trọng nhất của lễ hội Xăng Khan là lúc ông mo cầu khấn những điều an lành cho bản làng, cầu cho dân được no đủ, ruộng nương nhiều lúa, người người được khỏe mạnh. Kếp boóc (hái hoa) là phần cuối cùng của lễ hội này. Đây là lúc chủ nhà sẽ hái hoa tặng cho tất cả người xem hội. Mỗi bông hoa tượng trưng cho sự may mắn trong cuộc sống.

Cứ 3 hoặc 5 năm một lần vào khoảng 11 âm lịch, khi người dân đã thu hoạch xong mùa vụ trên nương về nhà. Hoặc tháng 2 hoặc tháng 3 âm lịch của năm là thời gian mở hội. Trước đây lễ hội Xăng Khan thường diễn ra từ 2 đến 3 ngày nhưng nay rút gọn chỉ trong 1 ngày.

Sau khi lễ cúng kết thíc, các thầy mo cùng người dân trong bản sẽ cùng đứng vây quanh cây hoa cùng nhảy múa. Hội càng về đêm lại càng nhộn nhịp với các trò diễn thú vị của các thầy mo, cũng như người dân bản và du khách xem hội. Người dân nhảy quanh cây Boọc mạy trong lễ hội Xăng Khan Lễ hội Xăng Khan là một lễ hội truyền thống của các bản làng người Thái. Có thể nói đây là một ngày hội có ý nghĩa cộng đồng quan trọng của đồng bào người Thái tại miền tây Nghệ An. trong lễ hội, lễ vật được người dân chuẩn bị gồm 7-10 vò rượu cần, 2 con gà, cá nướng, 2 con lợn, trầu cau, cây Boọc mạy... Cây Boọc mạy được làm từ thân cây tre hoặc cây nứa già, có chiều cao khoảng 4 mét, có khoét nhiều lỗ chia thành các tầng khác nhau. Bỗi lỗ sẽ được treo các vật tượng trưng như cá, chim, rắn, ve sầu... Những vật này thường được làm từ ruột cây sắn, cây tang được lấy từ trong rừng, sau đó nhuộm mày xanh, tím, đỏ, vàng... Trên đỉnh cây Boọc mạy có cắm một ô hình vuông được các thiếu nữ dừng khi ông mo nhảy Xăng Khan. Người dân chung quanh vò rượu cần và trò chuyện những câu chuyện đời thường Điểm nhấn quan trọng nhất của lễ hội Xăng Khan là lúc ông mo cầu khấn những điều an lành cho bản làng, cầu cho dân được no đủ, ruộng nương nhiều lúa, người người được khỏe mạnh. Kếp boóc (hái hoa) là phần cuối cùng của lễ hội này. Đây là lúc chủ nhà sẽ hái hoa tặng cho tất cả người xem hội. Mỗi bông hoa tượng trưng cho sự may mắn trong cuộc sống.

Sau khi lễ cúng kết thíc, các thầy mo cùng người dân trong bản sẽ cùng đứng vây quanh cây hoa cùng nhảy múa. Hội càng về đêm lại càng nhộn nhịp với các trò diễn thú vị của các thầy mo, cũng như người dân bản và du khách xem hội.

Người dân nhảy quanh cây Boọc mạy trong lễ hội Xăng Khan

Lễ hội Xăng Khan là một lễ hội truyền thống của các bản làng người Thái. Có thể nói đây là một ngày hội có ý nghĩa cộng đồng quan trọng của đồng bào người Thái tại miền tây Nghệ An. trong lễ hội, lễ vật được người dân chuẩn bị gồm 7-10 vò rượu cần, 2 con gà, cá nướng, 2 con lợn, trầu cau, cây Boọc mạy...

Cây Boọc mạy được làm từ thân cây tre hoặc cây nứa già, có chiều cao khoảng 4 mét, có khoét nhiều lỗ chia thành các tầng khác nhau. Bỗi lỗ sẽ được treo các vật tượng trưng như cá, chim, rắn, ve sầu... Những vật này thường được làm từ ruột cây sắn, cây tang được lấy từ trong rừng, sau đó nhuộm mày xanh, tím, đỏ, vàng... Trên đỉnh cây Boọc mạy có cắm một ô hình vuông được các thiếu nữ dừng khi ông mo nhảy Xăng Khan.

Người dân chung quanh vò rượu cần và trò chuyện những câu chuyện đời thường

Điểm nhấn quan trọng nhất của lễ hội Xăng Khan là lúc ông mo cầu khấn những điều an lành cho bản làng, cầu cho dân được no đủ, ruộng nương nhiều lúa, người người được khỏe mạnh. Kếp boóc (hái hoa) là phần cuối cùng của lễ hội này. Đây là lúc chủ nhà sẽ hái hoa tặng cho tất cả người xem hội. Mỗi bông hoa tượng trưng cho sự may mắn trong cuộc sống.

Related Figures

Hội làng Mạnh Tân

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/11 Âm lịch Lễ hội truyền thống làng Mạnh Tân tổ chức ngày 10/11 âm lịch hàng năm tại làng Mạnh Tân, xã Thụy Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội. Đông đảo người dân tham gia hội làng Mạnh Tân Mạnh Tân xưa kia thuộc trang Bằng Lâm, tổng Phương La, huyện Yên Phong, phủ Từ Sơn, Kinh Bắc. Manh Tân có tên Nôm là Râm Bến, cùng với các làng Râm Chợ, Râm Trầm, Râm Bướu hợp thành 4 làng Râm. Vùng Râm là vùng có truyền thống hiếu học, nhiều người đỗ đạt cao. Đình Mạnh Tân là ngôi đình cổ, bề thế cùng với chùa Phúc Lâm tạo thành khu di tích tín ngưỡng tôn giáo, là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của người dân địa phương. Đình Mạnh Tân thờ hai vị Thành Hoàng có công với đất nước và nhân dân là: Bà Phạm Thị người sinh thành vua Lý Công Uẩn được sắc phong "Lý triều quốc mẫu tiên phi Thái hoàng thái hậu" và thần Đương Giang có công giúp Đinh Tiên Hoàng đánh giặc ngoại xâm, giúp dân làng chữa dịch bệnh, được sắc phong "Đại Đương Giang minh thiên tá phụ đại vương". Tiết mục văn nghệ trong hội làng mạnh Tân Làng Manh Tân đến nay vẫn duy trì phong tục ít nơi còn là tục kết chạ (kết nghĩa anh em giúp nhau vượt qua khó khăn, hoạn nan trong cuộc sống). Vào những ngày diễn ra lễ hội, mọi người đến thăm hỏi, trao đổi kinh nghiệm làm ăn... Làng Mạnh Tân kết chạ với hai làng Xuận Nộn, Xuân Nội ở huyện Đông Anh và 2 làng Phú Yên, Xuân Thu ở huyện Sóc Sơn. Hát giao duyên hội làng Mạnh Tân Hội làng Mạnh Tân diễn ra vào những ngày nông nhàn nên thu hút đông đảo người dân và du khách thập phương tham dự. Hội làng là dịp gắn kết tình làng nghĩa xóm, thể hiện tình yêu quê hương đất nước.

Đông đảo người dân tham gia hội làng Mạnh Tân Mạnh Tân xưa kia thuộc trang Bằng Lâm, tổng Phương La, huyện Yên Phong, phủ Từ Sơn, Kinh Bắc. Manh Tân có tên Nôm là Râm Bến, cùng với các làng Râm Chợ, Râm Trầm, Râm Bướu hợp thành 4 làng Râm. Vùng Râm là vùng có truyền thống hiếu học, nhiều người đỗ đạt cao. Đình Mạnh Tân là ngôi đình cổ, bề thế cùng với chùa Phúc Lâm tạo thành khu di tích tín ngưỡng tôn giáo, là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của người dân địa phương. Đình Mạnh Tân thờ hai vị Thành Hoàng có công với đất nước và nhân dân là: Bà Phạm Thị người sinh thành vua Lý Công Uẩn được sắc phong "Lý triều quốc mẫu tiên phi Thái hoàng thái hậu" và thần Đương Giang có công giúp Đinh Tiên Hoàng đánh giặc ngoại xâm, giúp dân làng chữa dịch bệnh, được sắc phong "Đại Đương Giang minh thiên tá phụ đại vương". Tiết mục văn nghệ trong hội làng mạnh Tân Làng Manh Tân đến nay vẫn duy trì phong tục ít nơi còn là tục kết chạ (kết nghĩa anh em giúp nhau vượt qua khó khăn, hoạn nan trong cuộc sống). Vào những ngày diễn ra lễ hội, mọi người đến thăm hỏi, trao đổi kinh nghiệm làm ăn... Làng Mạnh Tân kết chạ với hai làng Xuận Nộn, Xuân Nội ở huyện Đông Anh và 2 làng Phú Yên, Xuân Thu ở huyện Sóc Sơn. Hát giao duyên hội làng Mạnh Tân Hội làng Mạnh Tân diễn ra vào những ngày nông nhàn nên thu hút đông đảo người dân và du khách thập phương tham dự. Hội làng là dịp gắn kết tình làng nghĩa xóm, thể hiện tình yêu quê hương đất nước.

Mạnh Tân xưa kia thuộc trang Bằng Lâm, tổng Phương La, huyện Yên Phong, phủ Từ Sơn, Kinh Bắc. Manh Tân có tên Nôm là Râm Bến, cùng với các làng Râm Chợ, Râm Trầm, Râm Bướu hợp thành 4 làng Râm. Vùng Râm là vùng có truyền thống hiếu học, nhiều người đỗ đạt cao.

Đình Mạnh Tân là ngôi đình cổ, bề thế cùng với chùa Phúc Lâm tạo thành khu di tích tín ngưỡng tôn giáo, là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của người dân địa phương. Đình Mạnh Tân thờ hai vị Thành Hoàng có công với đất nước và nhân dân là: Bà Phạm Thị người sinh thành vua Lý Công Uẩn được sắc phong "Lý triều quốc mẫu tiên phi Thái hoàng thái hậu" và thần Đương Giang có công giúp Đinh Tiên Hoàng đánh giặc ngoại xâm, giúp dân làng chữa dịch bệnh, được sắc phong "Đại Đương Giang minh thiên tá phụ đại vương".

Tiết mục văn nghệ trong hội làng mạnh Tân

Làng Manh Tân đến nay vẫn duy trì phong tục ít nơi còn là tục kết chạ (kết nghĩa anh em giúp nhau vượt qua khó khăn, hoạn nan trong cuộc sống). Vào những ngày diễn ra lễ hội, mọi người đến thăm hỏi, trao đổi kinh nghiệm làm ăn... Làng Mạnh Tân kết chạ với hai làng Xuận Nộn, Xuân Nội ở huyện Đông Anh và 2 làng Phú Yên, Xuân Thu ở huyện Sóc Sơn.

Hát giao duyên hội làng Mạnh Tân

Hội làng Mạnh Tân diễn ra vào những ngày nông nhàn nên thu hút đông đảo người dân và du khách thập phương tham dự. Hội làng là dịp gắn kết tình làng nghĩa xóm, thể hiện tình yêu quê hương đất nước.

Related Figures

Lễ hội truyền thống làng Liên Bạt

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 14/3- 19/3 Âm lịch Hội làng Liên Bạt được tổ chức vào giữa tháng 3 âm lịch hàng năm để tế tự bài vị thần Thành hoàng là 3 anh em Đặng Sĩ, Đặng Xã, Đặng Lang. Du khách tham dự hội làng Liên Bạt sẽ được sống trong không khí lễ hội độc đáo. Lễ rước trong hội làng Liên Bạt Theo sử sách chép lại, ngày 15/3 là ngày sinh của các vị Thành hoàng làng: ông Đặng Xã và Đặng Lang là hai anh em ruột, là em họ của Đặng Sĩ người có công khai hoang, mở trường học, giúp dân dẹp loạn ổn định cuộc sống. Sau khi ông Đặng Sĩ mất, hai anh em Đặng Xã và Đặng lang kế tục sự nghiệp của ông. Khi giặc Hán sang xâm lược nước ta, hai ông đem quan ra biên ải chiến đấu chống giặc ngoại xâm. Thế giặc mạnh, hai ông phải rút về làng Liên Bạt cố thủ. Bị quân giặc truy lùng ráo riết, hai anh em quyết định tự vẫn để giữ tròn khí tiết ngày 14/8. Tưởng nhớ công ơn của 3 anh em, dân làng lập miếu thờ phụng. Đình Chung nơi diễn ra hội làng Liên Bạt Tương truyền khi vua Lê Đại Hành đem quân đánh giặc Tống ghé qua miếu thờ cầu khấn xin được 3 ngài giúp sức, kết quả giành thắng lợi. Sau đó, nhà vua sắc phong Đặng Sĩ là Đại đô Thành hoàng thánh đức linh thông Thiện Sĩ thượng đẳng thần, sắc phong ông Đặng Xã là Đương cảnh Thành hoàng thánh đức nhân từ Xã thần đại vương và ông Đặng Lang là Hùng liệt Thành hoàng thánh đức Tam Lang quý công đại vương. Để chuẩn bị cho lễ hội hàng năm, dân làng Liên Ban lập ra ban tổ chức lễ hội chuẩn bị cờ, kiệu và cỗ bàn để tế lễ ngày 14/3. Thôn Đặng Chung nơi thờ đức thánh Đặng Lang khởi đầu cho lễ hội giao quan. Dẫn đầu là đội cờ, kiệu sắc và những người mang bát bửu, phường bát âm tấu những bản nhạc rộn ràng, tưng bừng. Theo sau là kiệu bát cống rước đức thánh Tam Lang mặc áo choàng màu vàng. Sau đó, kiệu rước đức thánh đệ nhị Đặng Xã mặc áo choàng màu tím rồi đón kiệu của đức thánh đệ nhất Đặng Sĩ mặc áo choàng màu xanh. Đám rước tập trung tại đình ba thôn tế lễ. Ngày 15/3 là ngày chính hội, mọi nghi lễ được cử hành trọng thể. Dân làng Liên Bạt dâng cỗ cúng, chiều và đêm có hát ca trù. Tới ngày 16/3, rã hội tổ chức rước thánh hồi cung. Thánh Đệ Nhất về đình Bặt Ngõ, Thánh Đệ Nhị rước về đình Bặt Chùa, thánh Đệ Tam rước về đình Bặt Chung. Cổng đình miếu chùa Ba Thôn tại Liên Bạt Hội làng Liên Bạt diễn ra sôi nổi, nhân dân trong vùng kéo nhau đi xem hội rất đông. Mỗi khi kiệu của các vị Thánh dừng lại tại làng nào thì làng ấy mở hội tế tưng bừng.

Hội làng Liên Bạt được tổ chức vào giữa tháng 3 âm lịch hàng năm để tế tự bài vị thần Thành hoàng là 3 anh em Đặng Sĩ, Đặng Xã, Đặng Lang. Du khách tham dự hội làng Liên Bạt sẽ được sống trong không khí lễ hội độc đáo.

Lễ rước trong hội làng Liên Bạt

Theo sử sách chép lại, ngày 15/3 là ngày sinh của các vị Thành hoàng làng: ông Đặng Xã và Đặng Lang là hai anh em ruột, là em họ của Đặng Sĩ người có công khai hoang, mở trường học, giúp dân dẹp loạn ổn định cuộc sống. Sau khi ông Đặng Sĩ mất, hai anh em Đặng Xã và Đặng lang kế tục sự nghiệp của ông. Khi giặc Hán sang xâm lược nước ta, hai ông đem quan ra biên ải chiến đấu chống giặc ngoại xâm. Thế giặc mạnh, hai ông phải rút về làng Liên Bạt cố thủ. Bị quân giặc truy lùng ráo riết, hai anh em quyết định tự vẫn để giữ tròn khí tiết ngày 14/8. Tưởng nhớ công ơn của 3 anh em, dân làng lập miếu thờ phụng.

Đình Chung nơi diễn ra hội làng Liên Bạt

Tương truyền khi vua Lê Đại Hành đem quân đánh giặc Tống ghé qua miếu thờ cầu khấn xin được 3 ngài giúp sức, kết quả giành thắng lợi. Sau đó, nhà vua sắc phong Đặng Sĩ là Đại đô Thành hoàng thánh đức linh thông Thiện Sĩ thượng đẳng thần, sắc phong ông Đặng Xã là Đương cảnh Thành hoàng thánh đức nhân từ Xã thần đại vương và ông Đặng Lang là Hùng liệt Thành hoàng thánh đức Tam Lang quý công đại vương.

Để chuẩn bị cho lễ hội hàng năm, dân làng Liên Ban lập ra ban tổ chức lễ hội chuẩn bị cờ, kiệu và cỗ bàn để tế lễ ngày 14/3. Thôn Đặng Chung nơi thờ đức thánh Đặng Lang khởi đầu cho lễ hội giao quan. Dẫn đầu là đội cờ, kiệu sắc và những người mang bát bửu, phường bát âm tấu những bản nhạc rộn ràng, tưng bừng. Theo sau là kiệu bát cống rước đức thánh Tam Lang mặc áo choàng màu vàng. Sau đó, kiệu rước đức thánh đệ nhị Đặng Xã mặc áo choàng màu tím rồi đón kiệu của đức thánh đệ nhất Đặng Sĩ mặc áo choàng màu xanh. Đám rước tập trung tại đình ba thôn tế lễ. Ngày 15/3 là ngày chính hội, mọi nghi lễ được cử hành trọng thể. Dân làng Liên Bạt dâng cỗ cúng, chiều và đêm có hát ca trù. Tới ngày 16/3, rã hội tổ chức rước thánh hồi cung. Thánh Đệ Nhất về đình Bặt Ngõ, Thánh Đệ Nhị rước về đình Bặt Chùa, thánh Đệ Tam rước về đình Bặt Chung.

Cổng đình miếu chùa Ba Thôn tại Liên Bạt

Hội làng Liên Bạt diễn ra sôi nổi, nhân dân trong vùng kéo nhau đi xem hội rất đông. Mỗi khi kiệu của các vị Thánh dừng lại tại làng nào thì làng ấy mở hội tế tưng bừng.

Related Figures

Lễ hội truyền thống làng Khê Hồi

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 14/3- 17/3 Âm lịch Lễ hội truyền thống làng Khê Hồi tổ chức ngày 14-17/3 âm lịch hàng năm thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, là cầu nối giữa quá khứ với hiện tại. Lễ hội giúp thế hệ trẻ hôm nay hiểu thêm về công lao tổ tiên, tự hào truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc. Lễ hội làng Khê Hồi đặc sắc trò thủy chiến ở ao bán nguyệt mô phỏng trận thủy chiến trên sông Bạch Đằng của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đánh quân Nguyên Mông và Ngô Quyền đánh quân Nam Hán. Đình Khê Hồi nơi diễn ra Lễ hội Làng Khê Hồi thờ Thành hoàng Cao Sơn Đại Vương. Ngoài các nghi lễ truyền thống thì lễ hội làng Khê Hồi, xã Hà Hồi, huyện Thường Tín, Hà Nội có nét đặc sắc riêng là cuộc rước kiệu có phạm vi cả tổng. Đình Khê Hồi được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa Cuộc rước bắt đầu từ sáng ngày 16/3, xuất phát từ đình Hà Hồi vòng qua đường Quốc lộ 1A rồi vòng xuống tỉnh lộ 71, sau đó lên miếu Hàng Tổng (tức Phương Quế từ). Tham gia cuộc rước có 7 làng với nhiều khâu tiết khi tiến hành đại lễ. Chủ tế nhất định phải là người Khê Hồi vì đây là làng có truyền thống Khoa bảng. Sáng ngày 17/3, các làng bắt đầu rước kiệu từ miếu Hàng Tổng về làng mình và cử hành tế lễ. Hội làng Khê Hồi diễn ra sôi nổi Đến chiều ngày 17/3, các làng tổ chức các trò diễn, riêng làng Khê Hồi diễn trò thủy chiến. Trò thủy chiến được tổ chức ở ao bán nguyệt trước đình làng gồm 6 bè mảng ghép từ thân cây chuối, chia làm 2 quân ta và địch (mỗi bên 3 bè). Trên mỗi bè có một người đóng vai tướng quân mặc áo giáp trụ, đeo mặt nạ, cầm đại đao bằng gỗ sơn, kiếm lệnh, chùy đồng… cùng với mỗi tướng là 6 tráng binh và 6 tay chèo. Ở chính giữa bè dựng một bù nhìn cắm cờ hiệu phân biệt quân ta hay quân địch. Mở đầu trò diễn là cuộc diễu hành của 6 bè chiến vòng quanh ao chào người dân và du khách tham dự lễ hội. Sau đó là cuộc thi chèo bè theo chiều rộng ao đình, xem bè nào cán đích sớm nhất. Phần thưởng cho bè thắng cuộc là cờ đuôi nheo cắm trên bè. Khi cuộc chiến bắt đầu, quân xanh (quân địch) tiến sang quân đỏ (quân ta) nghênh chiến trong hồi trống lệnh âm vang và tiếng reo hò của dân chúng trên bờ. Từng đôi bè áp sát nhau, các tráng binh bên này nhảy sang bên kia xô vị tướng đối phương xuống ao. Cảnh tượng hỗn loạn, vũ khí, bù nhìn tan tác... Sau trận thủy chiến là phần thi bắt vịt trong ao, cảnh tượng vui nhộn cho đến khi tan hội.

Related Figures

Hội làng Hồ Khẩu

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 13/2 Âm lịch Cứ đến ngày 13/2 âm lịch hàng năm, dân làng Hồ Khâu nô nức mở hội. Trong hội làng Hồ Khẩu có tiết mục múa bơi trải với sự tham gia của 36 trai tráng trong làng, gọi là giai bơi. Nét đẹp cổ xưa cổng làng Hồ Khẩu Bên cạnh sự ồn ào, tấp nập của Hà Nội đang hội nhập và phát triển, làng Hồ Khẩu trở nên thật đặc biệt, được xem là làng trong phố. Làng Hồ Khẩu thuộc cụm dân cư số 1 và số 2 phường Bưởi, quận Tây Hồ, tức phủ Phụng Thiên xưa. Làng Hồ Khẩu vẫn bảo tồn khá đầy đủ nhưng di sản văn hóa vật thể của một làng cổ thịnh vượng xưa. Làng Hồ Khẩu xưa có truyền thống khoa bảng, nhiều người đỗ đạt làm quan. Dòng họ Lý có 3 người đỗ Hương cống đầu thời Nguyễn. Hai anh em Lý Văn Phức, Lý Văn Hảo cùng đỗ khoa Kỷ Mão đời Gia Long. Em trai hai ông Lý Văn Loát đỗ khoa Tân Tỵ đời Minh Mạng. Làng Hồ Khẩu nổi tiếng với nghề làm giấy dó Người dân làng Hồ Khẩu có nghề làm giấy dó lâu đời. Sản phẩm giấy ở Hồ Khẩu lúc đầu là giấy bản và giấy moi, sang đầu thế kỷ XVII, dân làng cải tiến kỹ thuật làm được giấy sắc để nhà vua dùng vào việc sắc phong thần, phong chức tước cho quan lại, viết chiếu, chỉ... Làng Hồ Khẩu nơi diễn ra lễ hội Làng Hồ Khẩu có nhiều cổng với quy định nghiêm ngặt, không thể tùy tiện đi qua bất kỳ cổng nào. Mỗi cổng được làm cho đối tượng và mục đích rieng. Cổng dành cho quan, cổng dành cho dân, cổng đám ma và đám cưới khác nhau. Làng Hồ Khẩu còn 4 cổng làng khá nguyên vẹn: cổng Giáp Bắc, cổng Hồ Ấp, cổng Giáp Đông, cổng Cầu Dừa. So với các làng khác của phường Bưởi, làng Hồ Khẩu có nhiều đình, đền, chùa hơn cả (1 đình, 2 chùa, 3 đền). Hàng năm, làng Hồ Khẩu mở hội 2 lần là 13/2 âm lịch, ngày sinh của hai vị Thành hoàng: Dực thánh Đại vương (Cống Lễ), Vệ quốc Đại vương (Cá Lễ) và 15/4, ngày lễ cầu mát cho cả làng.

Nét đẹp cổ xưa cổng làng Hồ Khẩu Bên cạnh sự ồn ào, tấp nập của Hà Nội đang hội nhập và phát triển, làng Hồ Khẩu trở nên thật đặc biệt, được xem là làng trong phố. Làng Hồ Khẩu thuộc cụm dân cư số 1 và số 2 phường Bưởi, quận Tây Hồ, tức phủ Phụng Thiên xưa. Làng Hồ Khẩu vẫn bảo tồn khá đầy đủ nhưng di sản văn hóa vật thể của một làng cổ thịnh vượng xưa. Làng Hồ Khẩu xưa có truyền thống khoa bảng, nhiều người đỗ đạt làm quan. Dòng họ Lý có 3 người đỗ Hương cống đầu thời Nguyễn. Hai anh em Lý Văn Phức, Lý Văn Hảo cùng đỗ khoa Kỷ Mão đời Gia Long. Em trai hai ông Lý Văn Loát đỗ khoa Tân Tỵ đời Minh Mạng. Làng Hồ Khẩu nổi tiếng với nghề làm giấy dó Người dân làng Hồ Khẩu có nghề làm giấy dó lâu đời. Sản phẩm giấy ở Hồ Khẩu lúc đầu là giấy bản và giấy moi, sang đầu thế kỷ XVII, dân làng cải tiến kỹ thuật làm được giấy sắc để nhà vua dùng vào việc sắc phong thần, phong chức tước cho quan lại, viết chiếu, chỉ... Làng Hồ Khẩu nơi diễn ra lễ hội Làng Hồ Khẩu có nhiều cổng với quy định nghiêm ngặt, không thể tùy tiện đi qua bất kỳ cổng nào. Mỗi cổng được làm cho đối tượng và mục đích rieng. Cổng dành cho quan, cổng dành cho dân, cổng đám ma và đám cưới khác nhau. Làng Hồ Khẩu còn 4 cổng làng khá nguyên vẹn: cổng Giáp Bắc, cổng Hồ Ấp, cổng Giáp Đông, cổng Cầu Dừa. So với các làng khác của phường Bưởi, làng Hồ Khẩu có nhiều đình, đền, chùa hơn cả (1 đình, 2 chùa, 3 đền). Hàng năm, làng Hồ Khẩu mở hội 2 lần là 13/2 âm lịch, ngày sinh của hai vị Thành hoàng: Dực thánh Đại vương (Cống Lễ), Vệ quốc Đại vương (Cá Lễ) và 15/4, ngày lễ cầu mát cho cả làng.

Bên cạnh sự ồn ào, tấp nập của Hà Nội đang hội nhập và phát triển, làng Hồ Khẩu trở nên thật đặc biệt, được xem là làng trong phố. Làng Hồ Khẩu thuộc cụm dân cư số 1 và số 2 phường Bưởi, quận Tây Hồ, tức phủ Phụng Thiên xưa. Làng Hồ Khẩu vẫn bảo tồn khá đầy đủ nhưng di sản văn hóa vật thể của một làng cổ thịnh vượng xưa. Làng Hồ Khẩu xưa có truyền thống khoa bảng, nhiều người đỗ đạt làm quan. Dòng họ Lý có 3 người đỗ Hương cống đầu thời Nguyễn. Hai anh em Lý Văn Phức, Lý Văn Hảo cùng đỗ khoa Kỷ Mão đời Gia Long. Em trai hai ông Lý Văn Loát đỗ khoa Tân Tỵ đời Minh Mạng.

Làng Hồ Khẩu nổi tiếng với nghề làm giấy dó

Người dân làng Hồ Khẩu có nghề làm giấy dó lâu đời. Sản phẩm giấy ở Hồ Khẩu lúc đầu là giấy bản và giấy moi, sang đầu thế kỷ XVII, dân làng cải tiến kỹ thuật làm được giấy sắc để nhà vua dùng vào việc sắc phong thần, phong chức tước cho quan lại, viết chiếu, chỉ...

Làng Hồ Khẩu nơi diễn ra lễ hội

Làng Hồ Khẩu có nhiều cổng với quy định nghiêm ngặt, không thể tùy tiện đi qua bất kỳ cổng nào. Mỗi cổng được làm cho đối tượng và mục đích rieng. Cổng dành cho quan, cổng dành cho dân, cổng đám ma và đám cưới khác nhau. Làng Hồ Khẩu còn 4 cổng làng khá nguyên vẹn: cổng Giáp Bắc, cổng Hồ Ấp, cổng Giáp Đông, cổng Cầu Dừa. So với các làng khác của phường Bưởi, làng Hồ Khẩu có nhiều đình, đền, chùa hơn cả (1 đình, 2 chùa, 3 đền). Hàng năm, làng Hồ Khẩu mở hội 2 lần là 13/2 âm lịch, ngày sinh của hai vị Thành hoàng: Dực thánh Đại vương (Cống Lễ), Vệ quốc Đại vương (Cá Lễ) và 15/4, ngày lễ cầu mát cho cả làng.

So với các làng khác của phường Bưởi, làng Hồ Khẩu có nhiều đình, đền, chùa hơn cả (1 đình, 2 chùa, 3 đền). Hàng năm, làng Hồ Khẩu mở hội 2 lần là 13/2 âm lịch, ngày sinh của hai vị Thành hoàng: Dực thánh Đại vương (Cống Lễ), Vệ quốc Đại vương (Cá Lễ) và 15/4, ngày lễ cầu mát cho cả làng.

So với các làng khác của phường Bưởi, làng Hồ Khẩu có nhiều đình, đền, chùa hơn cả (1 đình, 2 chùa, 3 đền). Hàng năm, làng Hồ Khẩu mở hội 2 lần là 13/2 âm lịch, ngày sinh của hai vị Thành hoàng: Dực thánh Đại vương (Cống Lễ), Vệ quốc Đại vương (Cá Lễ) và 15/4, ngày lễ cầu mát cho cả làng.

Related Figures

Hội làng Hậu

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 9/2- 11/2 Âm lịch Hàng năm, người dân làng Hậu mở hội làng để ôn lại truyền thống vẻ vang của quê hương, tưởng nhớ ơn đức Thành hoàng làng và cầu năm mới bình an, hạnh phúc. Lễ hội truyền thống làng Hậu Đình làng Hậu, phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, Hà Nội được xây dựng từ thế kỷ XVII, thờ Hậu Nam Đế Lý Phật Tử. Đình làng hậu còn lưu giữ nhiều tư liệu thành văn lịch sử như: Thần tích, sắc phong, hoành phi, câu đối... gắn với truyền thuyết dân gian về nơi phát tích cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc thời Tiền Lý. Trước Tổng khởi nghĩa cách mạng tháng Tám 1945, đình làng Hậu là cơ sở bí mật, nơi hội họp của cán bộ Việt Minh, là an toàn khu của Trung ương. Ngày 17/11/2009, đình làng Hậu được thành phố Hà Nội công nhận Di tích lịch sử cách mạng - kháng chiến.Ngày 5/11/2010, UBND thành phố Hà Nội có quyết định xếp hạng Di tích lịch sử - kiến trúc. Các cụ cao niên tham dự hội làng Hậu Hội làng Hậu tổ chức ngày 9-11/2 âm lịch hàng năm. Ngày 9/2 là ngày báo lễ, ngày 10/2 là ngày lễ chính và ngay 11/2 là ngày rã lễ. Hội làng Hậu bắt đầu phần lễ bằng màn đánh trống báo hiệu. Trong những ngày diễn ra lễ hội, đội trống có vai trò quan trọng, là nhạc cụ chính. Tiếng trống, sáo, đàn tạo ra không khí rộn ràng, uy nghiêm cho hội làng Hậu. Đội tế nữ trong hội làng Hậu Đội tế Thành hoàng gồm đội tế nam và đội tế nữ. Những người trong đội tế là người làng đã lập gia đình, có lối sống tốt, có uy tín trong làng. Kết thúc phần tế lễ là các điệu múa dân gian được dân làng tập luyện kỹ càng. Lễ vật dân làng Hậu dâng lên Thành hoàng chủ yếu là hoa, quả, xôi, gà...

Lễ hội truyền thống làng Hậu Đình làng Hậu, phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, Hà Nội được xây dựng từ thế kỷ XVII, thờ Hậu Nam Đế Lý Phật Tử. Đình làng hậu còn lưu giữ nhiều tư liệu thành văn lịch sử như: Thần tích, sắc phong, hoành phi, câu đối... gắn với truyền thuyết dân gian về nơi phát tích cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc thời Tiền Lý. Trước Tổng khởi nghĩa cách mạng tháng Tám 1945, đình làng Hậu là cơ sở bí mật, nơi hội họp của cán bộ Việt Minh, là an toàn khu của Trung ương. Ngày 17/11/2009, đình làng Hậu được thành phố Hà Nội công nhận Di tích lịch sử cách mạng - kháng chiến.Ngày 5/11/2010, UBND thành phố Hà Nội có quyết định xếp hạng Di tích lịch sử - kiến trúc. Các cụ cao niên tham dự hội làng Hậu Hội làng Hậu tổ chức ngày 9-11/2 âm lịch hàng năm. Ngày 9/2 là ngày báo lễ, ngày 10/2 là ngày lễ chính và ngay 11/2 là ngày rã lễ. Hội làng Hậu bắt đầu phần lễ bằng màn đánh trống báo hiệu. Trong những ngày diễn ra lễ hội, đội trống có vai trò quan trọng, là nhạc cụ chính. Tiếng trống, sáo, đàn tạo ra không khí rộn ràng, uy nghiêm cho hội làng Hậu. Đội tế nữ trong hội làng Hậu Đội tế Thành hoàng gồm đội tế nam và đội tế nữ. Những người trong đội tế là người làng đã lập gia đình, có lối sống tốt, có uy tín trong làng. Kết thúc phần tế lễ là các điệu múa dân gian được dân làng tập luyện kỹ càng. Lễ vật dân làng Hậu dâng lên Thành hoàng chủ yếu là hoa, quả, xôi, gà...

Đình làng Hậu, phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, Hà Nội được xây dựng từ thế kỷ XVII, thờ Hậu Nam Đế Lý Phật Tử. Đình làng hậu còn lưu giữ nhiều tư liệu thành văn lịch sử như: Thần tích, sắc phong, hoành phi, câu đối... gắn với truyền thuyết dân gian về nơi phát tích cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc thời Tiền Lý. Trước Tổng khởi nghĩa cách mạng tháng Tám 1945, đình làng Hậu là cơ sở bí mật, nơi hội họp của cán bộ Việt Minh, là an toàn khu của Trung ương. Ngày 17/11/2009, đình làng Hậu được thành phố Hà Nội công nhận Di tích lịch sử cách mạng - kháng chiến.Ngày 5/11/2010, UBND thành phố Hà Nội có quyết định xếp hạng Di tích lịch sử - kiến trúc. Các cụ cao niên tham dự hội làng Hậu Hội làng Hậu tổ chức ngày 9-11/2 âm lịch hàng năm. Ngày 9/2 là ngày báo lễ, ngày 10/2 là ngày lễ chính và ngay 11/2 là ngày rã lễ. Hội làng Hậu bắt đầu phần lễ bằng màn đánh trống báo hiệu. Trong những ngày diễn ra lễ hội, đội trống có vai trò quan trọng, là nhạc cụ chính. Tiếng trống, sáo, đàn tạo ra không khí rộn ràng, uy nghiêm cho hội làng Hậu. Đội tế nữ trong hội làng Hậu Đội tế Thành hoàng gồm đội tế nam và đội tế nữ. Những người trong đội tế là người làng đã lập gia đình, có lối sống tốt, có uy tín trong làng. Kết thúc phần tế lễ là các điệu múa dân gian được dân làng tập luyện kỹ càng. Lễ vật dân làng Hậu dâng lên Thành hoàng chủ yếu là hoa, quả, xôi, gà...

Đình làng Hậu, phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, Hà Nội được xây dựng từ thế kỷ XVII, thờ Hậu Nam Đế Lý Phật Tử. Đình làng hậu còn lưu giữ nhiều tư liệu thành văn lịch sử như: Thần tích, sắc phong, hoành phi, câu đối... gắn với truyền thuyết dân gian về nơi phát tích cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc thời Tiền Lý. Trước Tổng khởi nghĩa cách mạng tháng Tám 1945, đình làng Hậu là cơ sở bí mật, nơi hội họp của cán bộ Việt Minh, là an toàn khu của Trung ương. Ngày 17/11/2009, đình làng Hậu được thành phố Hà Nội công nhận Di tích lịch sử cách mạng - kháng chiến.Ngày 5/11/2010, UBND thành phố Hà Nội có quyết định xếp hạng Di tích lịch sử - kiến trúc.

Các cụ cao niên tham dự hội làng Hậu

Hội làng Hậu tổ chức ngày 9-11/2 âm lịch hàng năm. Ngày 9/2 là ngày báo lễ, ngày 10/2 là ngày lễ chính và ngay 11/2 là ngày rã lễ. Hội làng Hậu bắt đầu phần lễ bằng màn đánh trống báo hiệu. Trong những ngày diễn ra lễ hội, đội trống có vai trò quan trọng, là nhạc cụ chính. Tiếng trống, sáo, đàn tạo ra không khí rộn ràng, uy nghiêm cho hội làng Hậu.

Đội tế nữ trong hội làng Hậu

Đội tế Thành hoàng gồm đội tế nam và đội tế nữ. Những người trong đội tế là người làng đã lập gia đình, có lối sống tốt, có uy tín trong làng. Kết thúc phần tế lễ là các điệu múa dân gian được dân làng tập luyện kỹ càng. Lễ vật dân làng Hậu dâng lên Thành hoàng chủ yếu là hoa, quả, xôi, gà...

Related Figures

Lễ hội làng Hậu Ái

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 28/5 Âm lịch Hội làng Hậu Ái là nét đẹp văn hóa, là nơi giao lưu, gặp gỡ và cũng là dịp để người dân tưởng nhớ công ơn Thành hoàng làng Đỗ Kính Tu. Lễ rước hội làng Hậu Ái Làng Hậu Ái được nhà văn Nguyễn Khải nói về tinh hoa Hà Nội trong tác phẩm của mình: "Những hạt bụi vàng lấp lánh đâu đó ở mỗi góc phố Hà Nội, hãy mượn gió mà bay lên cho đất kinh kì chói sáng những ánh vàng. Cho tới tận ngày nay, làng Hậu Ái vẫn lấp lánh những ánh vàng. Những "hạt bụi vàng" của làng nghề làm đồ chơi trung thu truyền thống Hậu Ái, xã Vân Canh, huyện Hoài Đức, Hà Nội vẫn bay đi khắp muôn nơi. Làng Hậu Ái có nghề truyền thống làm đồ chơi Trung thu Hội làng Hậu Ái diễn ra trong 3 ngày, chính hội ngày 28.5 âm lịch hàng năm để tưởng nhớ công ơn Thành hoàng làng Đỗ Kinh Tu (thế kỷ XII,XIII). Ngài là đại thần thời Lý được ban quốc tính, từng có công với dân làng. Sau khi mất được dân làng thờ làm Thành hoàng làng tại đình Hậu Ái. Lễ hội Hậu Ái thường kéo dài 3 ngày được dân làng chuẩn bị chu đáo. Tất cả gia đình làm bánh chay, bánh giò, bánh tro vỏ đỏ ăn với mật và góp bánh cho làng mời du khách thập phương. Hôi làng Hậu Ái có nhiều trò chơi hấp dân Ngày đầu tiên diễn ra lễ hội, dân làng Hậu Ái lấy nước ao tưới rau màu. Tục truyền rằng Thành hoàng làng đã tạo ra nước màu nhiệm này. Ngày thứ 2, dân làng Hậu Ái rước tượng thánh đi vòng quanh 3 thôn trong làng, cuộc rước qua nhà ai, chủ nhà đó thắp hương làm lễ rồi bỏ công đức vào hòm. Nếu kiệu dừng lại nghỉ ở nhà ai thì nhà đó có lộc và gia chủ sẽ trả lễ rất hậu. Trường hợp nhà nào có người vi phạm thì kết thúc hội sẽ bị làng phạt theo lệ làng tùy theo mức độ nặng nhẹ. Cùng với các nghi thức tế lễ truyền thống, hội làng Hậu Ái còn có các sinh hoạt văn hóa dân gian hấp dẫn.

Related Figures

Hội làng Hải Bối

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 4/1 Âm lịch Hội làng Hải Bối được tổ chức ngày 4/1 âm lịch hàng năm tại xã Hải Bối, huyện Đông Anh, Hà Nội. Hội làng Hải Bối long trọng phần lễ, sôi động phần hội với những trò chơi như: đấu cờ người, leo cột mỡ, hát giao duyên giữa nam thanh nữ tú... Đình Hai Bối nơi diễn ra lễ hội Làng Hải bối do 3 vị thần vốn là 3 người con của Lạc Long Quân và Âu cơ lập ra. Truyền thuyết kể rằng: ba Ngài theo mẹ Âu Cơ lên rừng khai phá, được phong là Tam Đảo Sơn Thần. Một cặp vợ chồng là Triệu Long và Đào Thị Loan ở huyện Yên Lãng lên chùa Tây Thiên cầu tự. Đêm về, họ mơ thấy 3 người đội mũ, mặc áo đỏ đai đen tự xưng là Sơn Thần báo mộng sẽ đầu thai vào nhà ông bà. Đúng theo điềm báo, bà Loan mang thai sinh ra 3 người con trai là Triệu Nguyên, Triệu Chính và Triệu Lệnh vào ngày 4/1. Ba chàng trai lớn lên đều tinh thông võ nghệ, phò trợ Hai Bà Trưng đánh tan quân Đông Hán. Sau khi lên ngôi, Hai Bà Trưng phong Triệu Nguyên là Chỉ huy sứ Thượng tướng quân, Triệu Chính là Tả đô đại tướng quân, Triệu Lệnh là Hiền phu tướng quân. Sau này, ba Ngài chiêu tập dân lập nên làng ấp ở Hải Bối nên được nhân dân thờ làm Thành hoàng. Lễ hội truyền thống làng Hải Bối Ngoài ba vị Thành hoàng, Hải Bối còn thờ Quốc công Phan Hữu Ngạn, khai quốc công thần nhà Mạc. Ông có công xây dựng hai ngôi chùa Bạch Khôi và Diên Phúc cho Hải Bối, ngoài ra còn cho dân làng 52 mẫu ruộng làm ruộng thờ. Đình Hải Bối được xây dựng thời nhà Mạc, mặt đình quay hướng tây. Đình Hải Bối có kiến trúc đồ sộ, diện tích rộng nhưng bị lấn chiếm nhiều. Trải qua nhiều thăng trầm lịch sử, đình Hải Bối xuống cấp. Năm 2003, đình được trùng tu lại bằng kinh phí do người dân đóng góp. Hát giao duyên trong hội làng Hải Bối Hội làng Hải Bối được tổ chức long trọng và nhộn nhịp. Sáng sớm, kiệu bát cống do 16 trai đinh thay nhau rước, mang theo chóe đựng nước từ đình Hải Bối qua miếu rồi vòng qua bãi sông Hồng. Dẫn đầu đoàn rước là bô lão hóa trang thành ông Địa, trên tay cầm cần câu có buộc một con cá to bằng mo cau. Bô lão cầm cá thả về bên trái, bên phải đẹp đường cho đoàn rước. Sau khi đoàn rước ra tới bờ sông, bô lão làm lễ tạ rồi bốn trai làng khiêng chóe lên thuyền ra giữa sông Hồng lấy nước về đình làm lễ mộc dục.

Đình Hai Bối nơi diễn ra lễ hội Làng Hải bối do 3 vị thần vốn là 3 người con của Lạc Long Quân và Âu cơ lập ra. Truyền thuyết kể rằng: ba Ngài theo mẹ Âu Cơ lên rừng khai phá, được phong là Tam Đảo Sơn Thần. Một cặp vợ chồng là Triệu Long và Đào Thị Loan ở huyện Yên Lãng lên chùa Tây Thiên cầu tự. Đêm về, họ mơ thấy 3 người đội mũ, mặc áo đỏ đai đen tự xưng là Sơn Thần báo mộng sẽ đầu thai vào nhà ông bà. Đúng theo điềm báo, bà Loan mang thai sinh ra 3 người con trai là Triệu Nguyên, Triệu Chính và Triệu Lệnh vào ngày 4/1. Ba chàng trai lớn lên đều tinh thông võ nghệ, phò trợ Hai Bà Trưng đánh tan quân Đông Hán. Sau khi lên ngôi, Hai Bà Trưng phong Triệu Nguyên là Chỉ huy sứ Thượng tướng quân, Triệu Chính là Tả đô đại tướng quân, Triệu Lệnh là Hiền phu tướng quân. Sau này, ba Ngài chiêu tập dân lập nên làng ấp ở Hải Bối nên được nhân dân thờ làm Thành hoàng. Lễ hội truyền thống làng Hải Bối Ngoài ba vị Thành hoàng, Hải Bối còn thờ Quốc công Phan Hữu Ngạn, khai quốc công thần nhà Mạc. Ông có công xây dựng hai ngôi chùa Bạch Khôi và Diên Phúc cho Hải Bối, ngoài ra còn cho dân làng 52 mẫu ruộng làm ruộng thờ. Đình Hải Bối được xây dựng thời nhà Mạc, mặt đình quay hướng tây. Đình Hải Bối có kiến trúc đồ sộ, diện tích rộng nhưng bị lấn chiếm nhiều. Trải qua nhiều thăng trầm lịch sử, đình Hải Bối xuống cấp. Năm 2003, đình được trùng tu lại bằng kinh phí do người dân đóng góp. Hát giao duyên trong hội làng Hải Bối Hội làng Hải Bối được tổ chức long trọng và nhộn nhịp. Sáng sớm, kiệu bát cống do 16 trai đinh thay nhau rước, mang theo chóe đựng nước từ đình Hải Bối qua miếu rồi vòng qua bãi sông Hồng. Dẫn đầu đoàn rước là bô lão hóa trang thành ông Địa, trên tay cầm cần câu có buộc một con cá to bằng mo cau. Bô lão cầm cá thả về bên trái, bên phải đẹp đường cho đoàn rước. Sau khi đoàn rước ra tới bờ sông, bô lão làm lễ tạ rồi bốn trai làng khiêng chóe lên thuyền ra giữa sông Hồng lấy nước về đình làm lễ mộc dục.

Làng Hải bối do 3 vị thần vốn là 3 người con của Lạc Long Quân và Âu cơ lập ra. Truyền thuyết kể rằng: ba Ngài theo mẹ Âu Cơ lên rừng khai phá, được phong là Tam Đảo Sơn Thần. Một cặp vợ chồng là Triệu Long và Đào Thị Loan ở huyện Yên Lãng lên chùa Tây Thiên cầu tự. Đêm về, họ mơ thấy 3 người đội mũ, mặc áo đỏ đai đen tự xưng là Sơn Thần báo mộng sẽ đầu thai vào nhà ông bà. Đúng theo điềm báo, bà Loan mang thai sinh ra 3 người con trai là Triệu Nguyên, Triệu Chính và Triệu Lệnh vào ngày 4/1. Ba chàng trai lớn lên đều tinh thông võ nghệ, phò trợ Hai Bà Trưng đánh tan quân Đông Hán. Sau khi lên ngôi, Hai Bà Trưng phong Triệu Nguyên là Chỉ huy sứ Thượng tướng quân, Triệu Chính là Tả đô đại tướng quân, Triệu Lệnh là Hiền phu tướng quân. Sau này, ba Ngài chiêu tập dân lập nên làng ấp ở Hải Bối nên được nhân dân thờ làm Thành hoàng.

Lễ hội truyền thống làng Hải Bối

Ngoài ba vị Thành hoàng, Hải Bối còn thờ Quốc công Phan Hữu Ngạn, khai quốc công thần nhà Mạc. Ông có công xây dựng hai ngôi chùa Bạch Khôi và Diên Phúc cho Hải Bối, ngoài ra còn cho dân làng 52 mẫu ruộng làm ruộng thờ.

Đình Hải Bối được xây dựng thời nhà Mạc, mặt đình quay hướng tây. Đình Hải Bối có kiến trúc đồ sộ, diện tích rộng nhưng bị lấn chiếm nhiều. Trải qua nhiều thăng trầm lịch sử, đình Hải Bối xuống cấp. Năm 2003, đình được trùng tu lại bằng kinh phí do người dân đóng góp.

Hát giao duyên trong hội làng Hải Bối

Hội làng Hải Bối được tổ chức long trọng và nhộn nhịp. Sáng sớm, kiệu bát cống do 16 trai đinh thay nhau rước, mang theo chóe đựng nước từ đình Hải Bối qua miếu rồi vòng qua bãi sông Hồng. Dẫn đầu đoàn rước là bô lão hóa trang thành ông Địa, trên tay cầm cần câu có buộc một con cá to bằng mo cau. Bô lão cầm cá thả về bên trái, bên phải đẹp đường cho đoàn rước. Sau khi đoàn rước ra tới bờ sông, bô lão làm lễ tạ rồi bốn trai làng khiêng chóe lên thuyền ra giữa sông Hồng lấy nước về đình làm lễ mộc dục.

Related Figures

Lễ hội truyền thống làng Hạ Mỗ

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 11/1- 13/1 Âm lịch Mỗi khi Tết đến xuân về, người dân làng Hạ Mỗ, xã Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng bước vào mùa lễ hội. Dân làng ai ai cũng cảm nhận được không khí lễ hội, bản sắc riêng, đặc trưng cho văn hóa của vùng đất Ô Diên thành sở. Lễ rước hội truyền thống làng Hạ Mỗ Trong những ngày diễn ra lễ hội làng Hạ Mỗ, hàng nghìn người dân và du khách thập phương tới dâng hương tại đình Vạn Xuân. Trong 3 ngày diễn ra lễ hội thực hiện lễ rước kiệu cỗ của 8 cụm dân cữ trong làng Hạ Mỗ. Ngày 11 tháng Giêng có biểu diễn trống hội tại sân đình Vạn Xuân, sau đó là lễ rược kiệu cỗ của 4 cụm dân cư 5,6,7,8 rước Thành hoàng làng từ miếu Hàm Rồng về đình Vạn Xuân. Ngày 12/1, tổ chức lễ dâng hương. Ngày 13/1, lễ rước kiệu của cụm dân cư 1,2,3,4 rước kiệu Thành hoàng từ đình Vạn Xuân về miếu Hàm Rồng. Sau đó thực hiện tế tạ. Đoàn rước hội truyền thống làng Hạ Mỗ Trong những ngày diễn ra hội làng Hạ Mỗ tổ chức nhiều trò chơi dân gian như nấu cơm thi, chọi gà, đập niêu, cờ tướng... thu hút đông đảo bà con nhân dân tham gia. Lễ hội truyền thống làng Hạ Mỗ là nét văn hóa đặc sắc nơi đây Lễ hội truyền thống làng Hạ Mỗ hàng năm được chuẩn bị chu đáo, đảm bảo trang trọng, phát huy được bản sắc của địa phương, đúng phong tục tập quán, an toàn và tiết kiệm. Hội làng Hạ Mỗ được tổ chức hàng năm nhằm tưởng nhớ công ơn Thành hoàng làng Lý Bát Lang, giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Hội làng Hạ Mỗ nhằm giáo dục truyền thống dựng nước và giữ nước của dân ộc, góp phần giáo dục tinh thần yêu nước và lòng tự hào dân tộc.

Mỗi khi Tết đến xuân về, người dân làng Hạ Mỗ, xã Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng bước vào mùa lễ hội. Dân làng ai ai cũng cảm nhận được không khí lễ hội, bản sắc riêng, đặc trưng cho văn hóa của vùng đất Ô Diên thành sở.

Lễ rước hội truyền thống làng Hạ Mỗ

Trong những ngày diễn ra lễ hội làng Hạ Mỗ, hàng nghìn người dân và du khách thập phương tới dâng hương tại đình Vạn Xuân. Trong 3 ngày diễn ra lễ hội thực hiện lễ rước kiệu cỗ của 8 cụm dân cữ trong làng Hạ Mỗ. Ngày 11 tháng Giêng có biểu diễn trống hội tại sân đình Vạn Xuân, sau đó là lễ rược kiệu cỗ của 4 cụm dân cư 5,6,7,8 rước Thành hoàng làng từ miếu Hàm Rồng về đình Vạn Xuân. Ngày 12/1, tổ chức lễ dâng hương. Ngày 13/1, lễ rước kiệu của cụm dân cư 1,2,3,4 rước kiệu Thành hoàng từ đình Vạn Xuân về miếu Hàm Rồng. Sau đó thực hiện tế tạ.

Đoàn rước hội truyền thống làng Hạ Mỗ

Trong những ngày diễn ra hội làng Hạ Mỗ tổ chức nhiều trò chơi dân gian như nấu cơm thi, chọi gà, đập niêu, cờ tướng... thu hút đông đảo bà con nhân dân tham gia.

Lễ hội truyền thống làng Hạ Mỗ là nét văn hóa đặc sắc nơi đây

Lễ hội truyền thống làng Hạ Mỗ hàng năm được chuẩn bị chu đáo, đảm bảo trang trọng, phát huy được bản sắc của địa phương, đúng phong tục tập quán, an toàn và tiết kiệm.

Hội làng Hạ Mỗ được tổ chức hàng năm nhằm tưởng nhớ công ơn Thành hoàng làng Lý Bát Lang, giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Hội làng Hạ Mỗ nhằm giáo dục truyền thống dựng nước và giữ nước của dân ộc, góp phần giáo dục tinh thần yêu nước và lòng tự hào dân tộc.

Related Figures

Hội làng Giáp Lục

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 14/8 Âm lịch Hội làng Giáp Lục đúng vào dịp Tết trung thu nên không làng nào của nước ta ăn tết Trung Thu tưng bừng, nhộn nhịp như ở Giáp Lục. Hội làng Giáp Lục diễn ra đúng dịp Trung thu Làng Giáp Lục thuộc tổng Thịnh Liệt xưa, nay thuộc phường Tân Mai, quận Hoàng Mai, Hà Nội. Tổng Thịnh Liệt vốn có 9 giáp, từ giáp Nhất đến giáp Cửu, là vùng quê cổ được danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi nhắc tới trong sách Dư địa chí. Giáp Lục là làng nhỏ, còn lưu giữ được nhiều di tích cổ tiêu biểu nhất là chùa Sét (tên chữ là Đại Bi tự). Làng Giáp Lục có phủ Bích Tiên thờ gần chùa Sét thờ Mẫu Liễu Hạnh. Trong thời gian bị tạm chiếm, làng Giáp Lục xây thêm chùa Am bên bờ sông Sét để thờ Phật Pháp Vân. Đình làng Giáp Lục thờ tổ nghề dát thiếc là tiến sĩ Nguyễn Chính. Năm 41 tuổi, ông thi đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ khoa Nhâm Dần, niên hiệu Hoàng Định thứ 4. Nguyễn Chính làm phó sứ sang nhà Minh, học được nghề dát thiếc truyền dạy lại cho người dân Giáp Lục. Nhờ nghề truyền thống nên cuộc sống người dân Giáp Lục khá giả hơn nhiều. Nhộn nhịp hội làng Giáp Lục Đình Giáp Lục được xây dựng từ thế kỷ XVII gồm 3 gian hậu cung và 5 gian đại bái. Bên trong đình lưu giữ nhiều thần tích, sắc phong, hoành phi, bia đá... được dân làng giữ gìn cẩn thận. Tháng 12/1972, đình Giáp Lục bị bom B52 của đế quốc Mỹ phá hủy gần như hoàn toàn. Người dân Giáp Lục tìm lại được một số di vật cổ, phục dựng lại ngôi đình trên phần đất cũ. Đông đảo bà con tham gia hội làng Giáp Lục Hội làng Giáp Lục có lễ rước văn náo nức vào sáng ngày 14/8. Tối cùng ngày có tế xướng ca, sau đó là những tiết mục hát ca trù. Có nhiều năm, cuộc hát kéo dài đến tận sáng hôm sau. Hội làng là nét đẹp trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Trẻ nhỏ 4-5 tuổi xin vào làng, lễ yết kiến Thánh gồm 1 chai rượu và 100 khẩu trầu. Mỗi khi ra đình, trẻ nhỏ làng Giáp Lục cũng mặc áo dài, quần trắng, đi giầy Ký Long. Trải qua nhiều biến cố thăng trầm lịch sử, người dân Giáp Lục vẫn luôn cố gắng duy trì, phát huy những giá trị truyền thống của cha ông.

Related Figures

Hội làng chài Vạn Vỹ

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 12/1 Âm lịch Người dân nghèo làng chài Vạn Vỹ còn lưu giữ nhiều lễ hội độc đáo như lễ xuống lưới (ngày 20-22/2 âm lịch), hội tiệc cá chung (ngày 25/2 âm lịch) ngư dân phải để lại con cá lớn nhất để cúng Hà Bá linh thần. Đặc biệt là hội rước nước trên sông (đêm 9 sáng 10 tháng Giêng), những năm gần đây tổ chức giờ Tý ngày 12 tháng Giêng. Hội rước nước là bữa tiệc ánh sáng giàu cảm xúc trong đêm. Làng chài Vạn Vỹ thuộc xã Hồng Hà, huyện Đan Phượng, Hà Nội. Từ xa xưa, nơi đầu ghềnh sông Hồng là nơi sinh sống của ngư dân tứ phương. Đời đời cha truyền con nối, đến nay cuộc sống của người dân Vạn Vỹ vẫn gắn chặt với nghề chài lưới. Nhiều hộ dân mơ ước có được một mảnh đất để dựng nhà trên bờ cho con cái không phải lênh đênh, sống có chỗ ở - chết có chỗ chôn. Hội làng chài Vạn Vỹ trước đây quy định nghiêm ngặt phải dựng đình trên sông, đầy đủ thuyền lớn nhỏ chia khoang... di chuyển ngược trên sông lên tận Yên Bái. Có những đoạn không đủ thuyền phải chuẩn bị dây để đoàn người kéo dọc bờ sông. Hàng năm, dân làng rước nước quý và cát sạch để lọc, chọn để thay tại đình. Hội làng chài Vạn Vĩ lung linh trong đêm Đúng 0h, đoàn rước kiệu, phương đình ra thuyền rồng gồm 1 thuyền lớn, 50 thuyền nhỏ; xuất phát từ đình làng Vạn Vỹ đi ngược lên miếu Đình Nguyên làm lễ lấy nước trên sông. Khi nhận được nước, đoàn thuyền xoáy quanh thuyền rồng, quay 3 vòng rồi mới bơi về đình. Các cụ bô lão đảm nhiệm vai trò chủ tế và đoàn tế. Trai tráng trong làng được lựa chọn rước kiệu, hướng án từ đình ra thuyền rồng và ngược lại. Thuyền chủ đi đầu là thuyền rồng, theo sau là 50 thuyền đò. Tất cả đều được trang hoàng rực rỡ, lung linh cờ đuốc. Chủ tế thực hiện lễ tế trong hội làng chài Vạn Vĩ Không khí, ánh sáng, màu sắc, rộn rã tiếng hò reo tạo nên hình ảnh Rồng thiêng cưỡi nước vươn biển lớn, thể hiện hào khí nghĩa quân Yết Kiêu năm xưa. Chủ tế lấy nước vào bình thiêng trong hội làng chài Vạn Vĩ Đoàn rước mất khoảng 2 tiếng để tới được Thanh Điệp - Mê Linh. Các thuyền tắt tiếng máy, đoàn bắt đầu làm lễ. Cát được đưa từ mâm và lư hương, chủ tế múc nướ thiêng giữa dòng cho vào bình thiêng. Lễ tế bắt đầu với cầu mong quốc thái dân an, mua thuận gió hòa, dân Vạn Vỹ làm ăn thuận lợi đỡ vất vả hơn. Dân Vạn Vỹ bình dị, không cầu mong giàu sang, thăng quan tiến chức. Rồng thiêng Vạn Vỹ quay về đình trong cảm xúc lâng lâng. Sáng 13/1, làng Vạn Vỹ tổ chức lễ Yên Vị, lễ Nam Quan, đến 9h sáng tổ chức lễ dâng hương. Bên cạnh những nghi lễ truyền thống còn phần hội đặc sắc nhất là hội vật.

Làng chài Vạn Vỹ thuộc xã Hồng Hà, huyện Đan Phượng, Hà Nội. Từ xa xưa, nơi đầu ghềnh sông Hồng là nơi sinh sống của ngư dân tứ phương. Đời đời cha truyền con nối, đến nay cuộc sống của người dân Vạn Vỹ vẫn gắn chặt với nghề chài lưới. Nhiều hộ dân mơ ước có được một mảnh đất để dựng nhà trên bờ cho con cái không phải lênh đênh, sống có chỗ ở - chết có chỗ chôn. Hội làng chài Vạn Vỹ trước đây quy định nghiêm ngặt phải dựng đình trên sông, đầy đủ thuyền lớn nhỏ chia khoang... di chuyển ngược trên sông lên tận Yên Bái. Có những đoạn không đủ thuyền phải chuẩn bị dây để đoàn người kéo dọc bờ sông. Hàng năm, dân làng rước nước quý và cát sạch để lọc, chọn để thay tại đình. Hội làng chài Vạn Vĩ lung linh trong đêm Đúng 0h, đoàn rước kiệu, phương đình ra thuyền rồng gồm 1 thuyền lớn, 50 thuyền nhỏ; xuất phát từ đình làng Vạn Vỹ đi ngược lên miếu Đình Nguyên làm lễ lấy nước trên sông. Khi nhận được nước, đoàn thuyền xoáy quanh thuyền rồng, quay 3 vòng rồi mới bơi về đình. Các cụ bô lão đảm nhiệm vai trò chủ tế và đoàn tế. Trai tráng trong làng được lựa chọn rước kiệu, hướng án từ đình ra thuyền rồng và ngược lại. Thuyền chủ đi đầu là thuyền rồng, theo sau là 50 thuyền đò. Tất cả đều được trang hoàng rực rỡ, lung linh cờ đuốc. Chủ tế thực hiện lễ tế trong hội làng chài Vạn Vĩ Không khí, ánh sáng, màu sắc, rộn rã tiếng hò reo tạo nên hình ảnh Rồng thiêng cưỡi nước vươn biển lớn, thể hiện hào khí nghĩa quân Yết Kiêu năm xưa. Chủ tế lấy nước vào bình thiêng trong hội làng chài Vạn Vĩ Đoàn rước mất khoảng 2 tiếng để tới được Thanh Điệp - Mê Linh. Các thuyền tắt tiếng máy, đoàn bắt đầu làm lễ. Cát được đưa từ mâm và lư hương, chủ tế múc nướ thiêng giữa dòng cho vào bình thiêng. Lễ tế bắt đầu với cầu mong quốc thái dân an, mua thuận gió hòa, dân Vạn Vỹ làm ăn thuận lợi đỡ vất vả hơn. Dân Vạn Vỹ bình dị, không cầu mong giàu sang, thăng quan tiến chức. Rồng thiêng Vạn Vỹ quay về đình trong cảm xúc lâng lâng. Sáng 13/1, làng Vạn Vỹ tổ chức lễ Yên Vị, lễ Nam Quan, đến 9h sáng tổ chức lễ dâng hương. Bên cạnh những nghi lễ truyền thống còn phần hội đặc sắc nhất là hội vật.

Hội làng chài Vạn Vỹ trước đây quy định nghiêm ngặt phải dựng đình trên sông, đầy đủ thuyền lớn nhỏ chia khoang... di chuyển ngược trên sông lên tận Yên Bái. Có những đoạn không đủ thuyền phải chuẩn bị dây để đoàn người kéo dọc bờ sông. Hàng năm, dân làng rước nước quý và cát sạch để lọc, chọn để thay tại đình. Hội làng chài Vạn Vĩ lung linh trong đêm Đúng 0h, đoàn rước kiệu, phương đình ra thuyền rồng gồm 1 thuyền lớn, 50 thuyền nhỏ; xuất phát từ đình làng Vạn Vỹ đi ngược lên miếu Đình Nguyên làm lễ lấy nước trên sông. Khi nhận được nước, đoàn thuyền xoáy quanh thuyền rồng, quay 3 vòng rồi mới bơi về đình. Các cụ bô lão đảm nhiệm vai trò chủ tế và đoàn tế. Trai tráng trong làng được lựa chọn rước kiệu, hướng án từ đình ra thuyền rồng và ngược lại. Thuyền chủ đi đầu là thuyền rồng, theo sau là 50 thuyền đò. Tất cả đều được trang hoàng rực rỡ, lung linh cờ đuốc. Chủ tế thực hiện lễ tế trong hội làng chài Vạn Vĩ Không khí, ánh sáng, màu sắc, rộn rã tiếng hò reo tạo nên hình ảnh Rồng thiêng cưỡi nước vươn biển lớn, thể hiện hào khí nghĩa quân Yết Kiêu năm xưa. Chủ tế lấy nước vào bình thiêng trong hội làng chài Vạn Vĩ Đoàn rước mất khoảng 2 tiếng để tới được Thanh Điệp - Mê Linh. Các thuyền tắt tiếng máy, đoàn bắt đầu làm lễ. Cát được đưa từ mâm và lư hương, chủ tế múc nướ thiêng giữa dòng cho vào bình thiêng. Lễ tế bắt đầu với cầu mong quốc thái dân an, mua thuận gió hòa, dân Vạn Vỹ làm ăn thuận lợi đỡ vất vả hơn. Dân Vạn Vỹ bình dị, không cầu mong giàu sang, thăng quan tiến chức. Rồng thiêng Vạn Vỹ quay về đình trong cảm xúc lâng lâng. Sáng 13/1, làng Vạn Vỹ tổ chức lễ Yên Vị, lễ Nam Quan, đến 9h sáng tổ chức lễ dâng hương. Bên cạnh những nghi lễ truyền thống còn phần hội đặc sắc nhất là hội vật.

Hội làng chài Vạn Vĩ lung linh trong đêm Đúng 0h, đoàn rước kiệu, phương đình ra thuyền rồng gồm 1 thuyền lớn, 50 thuyền nhỏ; xuất phát từ đình làng Vạn Vỹ đi ngược lên miếu Đình Nguyên làm lễ lấy nước trên sông. Khi nhận được nước, đoàn thuyền xoáy quanh thuyền rồng, quay 3 vòng rồi mới bơi về đình. Các cụ bô lão đảm nhiệm vai trò chủ tế và đoàn tế. Trai tráng trong làng được lựa chọn rước kiệu, hướng án từ đình ra thuyền rồng và ngược lại. Thuyền chủ đi đầu là thuyền rồng, theo sau là 50 thuyền đò. Tất cả đều được trang hoàng rực rỡ, lung linh cờ đuốc. Chủ tế thực hiện lễ tế trong hội làng chài Vạn Vĩ Không khí, ánh sáng, màu sắc, rộn rã tiếng hò reo tạo nên hình ảnh Rồng thiêng cưỡi nước vươn biển lớn, thể hiện hào khí nghĩa quân Yết Kiêu năm xưa. Chủ tế lấy nước vào bình thiêng trong hội làng chài Vạn Vĩ Đoàn rước mất khoảng 2 tiếng để tới được Thanh Điệp - Mê Linh. Các thuyền tắt tiếng máy, đoàn bắt đầu làm lễ. Cát được đưa từ mâm và lư hương, chủ tế múc nướ thiêng giữa dòng cho vào bình thiêng. Lễ tế bắt đầu với cầu mong quốc thái dân an, mua thuận gió hòa, dân Vạn Vỹ làm ăn thuận lợi đỡ vất vả hơn. Dân Vạn Vỹ bình dị, không cầu mong giàu sang, thăng quan tiến chức. Rồng thiêng Vạn Vỹ quay về đình trong cảm xúc lâng lâng. Sáng 13/1, làng Vạn Vỹ tổ chức lễ Yên Vị, lễ Nam Quan, đến 9h sáng tổ chức lễ dâng hương. Bên cạnh những nghi lễ truyền thống còn phần hội đặc sắc nhất là hội vật.

Hội làng chài Vạn Vĩ lung linh trong đêm

Đúng 0h, đoàn rước kiệu, phương đình ra thuyền rồng gồm 1 thuyền lớn, 50 thuyền nhỏ; xuất phát từ đình làng Vạn Vỹ đi ngược lên miếu Đình Nguyên làm lễ lấy nước trên sông. Khi nhận được nước, đoàn thuyền xoáy quanh thuyền rồng, quay 3 vòng rồi mới bơi về đình.

Các cụ bô lão đảm nhiệm vai trò chủ tế và đoàn tế. Trai tráng trong làng được lựa chọn rước kiệu, hướng án từ đình ra thuyền rồng và ngược lại. Thuyền chủ đi đầu là thuyền rồng, theo sau là 50 thuyền đò. Tất cả đều được trang hoàng rực rỡ, lung linh cờ đuốc.

Chủ tế thực hiện lễ tế trong hội làng chài Vạn Vĩ

Không khí, ánh sáng, màu sắc, rộn rã tiếng hò reo tạo nên hình ảnh Rồng thiêng cưỡi nước vươn biển lớn, thể hiện hào khí nghĩa quân Yết Kiêu năm xưa. Chủ tế lấy nước vào bình thiêng trong hội làng chài Vạn Vĩ Đoàn rước mất khoảng 2 tiếng để tới được Thanh Điệp - Mê Linh. Các thuyền tắt tiếng máy, đoàn bắt đầu làm lễ. Cát được đưa từ mâm và lư hương, chủ tế múc nướ thiêng giữa dòng cho vào bình thiêng. Lễ tế bắt đầu với cầu mong quốc thái dân an, mua thuận gió hòa, dân Vạn Vỹ làm ăn thuận lợi đỡ vất vả hơn. Dân Vạn Vỹ bình dị, không cầu mong giàu sang, thăng quan tiến chức. Rồng thiêng Vạn Vỹ quay về đình trong cảm xúc lâng lâng. Sáng 13/1, làng Vạn Vỹ tổ chức lễ Yên Vị, lễ Nam Quan, đến 9h sáng tổ chức lễ dâng hương. Bên cạnh những nghi lễ truyền thống còn phần hội đặc sắc nhất là hội vật.

Related Figures

Hội làng Canh Hoạch

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 11/3- 13/3 Âm lịch Hội làng Canh Hoạch diễn ra ngày 11-13/3 âm lịch hàng năm. Mở đầu hội làng Canh Hoạch là các nghi thức lễ tế các vị Thành hoàng, sau đó là các trò chơi dân gian sôi nổi. Canh Hoạch tên Nôm là làng Vạc hay làng Vác thuộc xã Dân Hòa, huyện Thanh Oai, Hà Nội. Canh Hoạch nổi tiếng làng làng nghề truyền thống làm đồ chơi trẻ em (đèn kéo quân), làm quạt giấy. Những năm gần đây, Canh Hoạch phát triển thêm nghề làm lồng chim cảnh. Lễ hội truyền thống làng Canh Hoạch Canh Hoạch là vùng đất có truyền thống hiếu học và khoa bảng, nơi sinh của hai trạng nguyên thời phong kiến là Nguyễn Đức Lượng (làm quan tới Lễ bộ Tả thị lang, sau khi mất được phong Thượng thư), Nguyễn Thiến (học trò Nguyễn Đức Lượng, đỗ trạng nguyên trước Nguyễn Bỉnh Khiêm một khoa). Nhắc tới vùng đất địa linh nhân kiệt Canh Hoạch không thể không nhắc tới Nguyễn Quyện vốn là tướng giỏi thời nhà Mạc. Lễ hội làng Canh Hoạch có liên quan mất thiết với trạng nguyên Nguyễn Đức Lượng và thường quốc công Nguyễn Quyện. Hội làng được tổ chức tại đình Canh Hoạch. Đình Canh Hoạch thờ 3 vị thần là Trình Lý, Cao hàn (tướng quân đời vua Hùng Vương thứ 18, đem quân tới Canh Hoạch thấy thế đất đẹp lập đồn lũy đóng quân) và Trần Uất (con trai thứ 2 của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn). Lễ rước hội truyền thống làng Canh Hoạch Ngày 11/3, dân làng Canh Hoạch tổ chức rước 3 cỗ kiệu Thành hoàng, kiệu Đức Thánh Cả Trình Lý đi trước, kế tiếp tới kiệu Đức Thánh Hai Cao Hàn rồi tới kiệu Đức Thánh Ba Trần Uất. Lễ rước thực hiện từ đình xuống cổng Dinh, vào đìnốnắc rước sắc các vị thành hoàng. Sau đó, dân làng Canh Hoạch dùng kiệu đốn xuống rước bát hương trạng nguyên Nguyễn Đức Lượng từ nhà thờ trạng nguyên họ Nguyễn, rước bát nhang Thường quốc công Nguyễn Quyện ở đình Sắc về đình Đụn. Các cỗ kiệu được đặt ngay ngắn trong sân đình, bô lão trong làng lần lượt rước 3 long ngai bài vị các Thánh và bát nhang quan Trạng, quan Võ đặt lên hương án trong hậu cung đình để người dân và du khách vào lễ Thánh. Thiếu nữ làng Canh Hoạch dâng lễ vật Ngày 12/3 âm lịch là chính hội, dân làng dâng lễ mặn gồm đầu lợn và ván xôi đầy. Ngày 13/3 âm lịch, các xóm làng Canh Hoạch ra đình lễ tạ, lễ vật chỉ là đồ chay và tổ chức nhiều trò chơi dân gian. Buổi chiều, sau tuần tế tiễn thì dân làng tổ chức rước kiệu bát nhang quan Trạng và quan Võ về yên vị, gọi là rước hoàn cung Thánh giá. Dân gian truyền miệng câu "mười một rước ra, mười ba rước về". Hội làng Canh Hoạch là lễ hội lớn trong vùng, là nét văn hóa đặc sắc. Việc dân làng Canh Hoạch rước trạng nguyên Nguyễn Đức Lượng và Thường quốc công Nguyễn Quyện thể hiện tinh thần hiếu học và thượng võ của dân làng.

Canh Hoạch tên Nôm là làng Vạc hay làng Vác thuộc xã Dân Hòa, huyện Thanh Oai, Hà Nội. Canh Hoạch nổi tiếng làng làng nghề truyền thống làm đồ chơi trẻ em (đèn kéo quân), làm quạt giấy. Những năm gần đây, Canh Hoạch phát triển thêm nghề làm lồng chim cảnh. Lễ hội truyền thống làng Canh Hoạch Canh Hoạch là vùng đất có truyền thống hiếu học và khoa bảng, nơi sinh của hai trạng nguyên thời phong kiến là Nguyễn Đức Lượng (làm quan tới Lễ bộ Tả thị lang, sau khi mất được phong Thượng thư), Nguyễn Thiến (học trò Nguyễn Đức Lượng, đỗ trạng nguyên trước Nguyễn Bỉnh Khiêm một khoa). Nhắc tới vùng đất địa linh nhân kiệt Canh Hoạch không thể không nhắc tới Nguyễn Quyện vốn là tướng giỏi thời nhà Mạc. Lễ hội làng Canh Hoạch có liên quan mất thiết với trạng nguyên Nguyễn Đức Lượng và thường quốc công Nguyễn Quyện. Hội làng được tổ chức tại đình Canh Hoạch. Đình Canh Hoạch thờ 3 vị thần là Trình Lý, Cao hàn (tướng quân đời vua Hùng Vương thứ 18, đem quân tới Canh Hoạch thấy thế đất đẹp lập đồn lũy đóng quân) và Trần Uất (con trai thứ 2 của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn). Lễ rước hội truyền thống làng Canh Hoạch Ngày 11/3, dân làng Canh Hoạch tổ chức rước 3 cỗ kiệu Thành hoàng, kiệu Đức Thánh Cả Trình Lý đi trước, kế tiếp tới kiệu Đức Thánh Hai Cao Hàn rồi tới kiệu Đức Thánh Ba Trần Uất. Lễ rước thực hiện từ đình xuống cổng Dinh, vào đìnốnắc rước sắc các vị thành hoàng. Sau đó, dân làng Canh Hoạch dùng kiệu đốn xuống rước bát hương trạng nguyên Nguyễn Đức Lượng từ nhà thờ trạng nguyên họ Nguyễn, rước bát nhang Thường quốc công Nguyễn Quyện ở đình Sắc về đình Đụn. Các cỗ kiệu được đặt ngay ngắn trong sân đình, bô lão trong làng lần lượt rước 3 long ngai bài vị các Thánh và bát nhang quan Trạng, quan Võ đặt lên hương án trong hậu cung đình để người dân và du khách vào lễ Thánh. Thiếu nữ làng Canh Hoạch dâng lễ vật Ngày 12/3 âm lịch là chính hội, dân làng dâng lễ mặn gồm đầu lợn và ván xôi đầy. Ngày 13/3 âm lịch, các xóm làng Canh Hoạch ra đình lễ tạ, lễ vật chỉ là đồ chay và tổ chức nhiều trò chơi dân gian. Buổi chiều, sau tuần tế tiễn thì dân làng tổ chức rước kiệu bát nhang quan Trạng và quan Võ về yên vị, gọi là rước hoàn cung Thánh giá. Dân gian truyền miệng câu "mười một rước ra, mười ba rước về". Hội làng Canh Hoạch là lễ hội lớn trong vùng, là nét văn hóa đặc sắc. Việc dân làng Canh Hoạch rước trạng nguyên Nguyễn Đức Lượng và Thường quốc công Nguyễn Quyện thể hiện tinh thần hiếu học và thượng võ của dân làng.

Lễ hội truyền thống làng Canh Hoạch Canh Hoạch là vùng đất có truyền thống hiếu học và khoa bảng, nơi sinh của hai trạng nguyên thời phong kiến là Nguyễn Đức Lượng (làm quan tới Lễ bộ Tả thị lang, sau khi mất được phong Thượng thư), Nguyễn Thiến (học trò Nguyễn Đức Lượng, đỗ trạng nguyên trước Nguyễn Bỉnh Khiêm một khoa). Nhắc tới vùng đất địa linh nhân kiệt Canh Hoạch không thể không nhắc tới Nguyễn Quyện vốn là tướng giỏi thời nhà Mạc. Lễ hội làng Canh Hoạch có liên quan mất thiết với trạng nguyên Nguyễn Đức Lượng và thường quốc công Nguyễn Quyện. Hội làng được tổ chức tại đình Canh Hoạch. Đình Canh Hoạch thờ 3 vị thần là Trình Lý, Cao hàn (tướng quân đời vua Hùng Vương thứ 18, đem quân tới Canh Hoạch thấy thế đất đẹp lập đồn lũy đóng quân) và Trần Uất (con trai thứ 2 của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn). Lễ rước hội truyền thống làng Canh Hoạch Ngày 11/3, dân làng Canh Hoạch tổ chức rước 3 cỗ kiệu Thành hoàng, kiệu Đức Thánh Cả Trình Lý đi trước, kế tiếp tới kiệu Đức Thánh Hai Cao Hàn rồi tới kiệu Đức Thánh Ba Trần Uất. Lễ rước thực hiện từ đình xuống cổng Dinh, vào đìnốnắc rước sắc các vị thành hoàng. Sau đó, dân làng Canh Hoạch dùng kiệu đốn xuống rước bát hương trạng nguyên Nguyễn Đức Lượng từ nhà thờ trạng nguyên họ Nguyễn, rước bát nhang Thường quốc công Nguyễn Quyện ở đình Sắc về đình Đụn. Các cỗ kiệu được đặt ngay ngắn trong sân đình, bô lão trong làng lần lượt rước 3 long ngai bài vị các Thánh và bát nhang quan Trạng, quan Võ đặt lên hương án trong hậu cung đình để người dân và du khách vào lễ Thánh. Thiếu nữ làng Canh Hoạch dâng lễ vật Ngày 12/3 âm lịch là chính hội, dân làng dâng lễ mặn gồm đầu lợn và ván xôi đầy. Ngày 13/3 âm lịch, các xóm làng Canh Hoạch ra đình lễ tạ, lễ vật chỉ là đồ chay và tổ chức nhiều trò chơi dân gian. Buổi chiều, sau tuần tế tiễn thì dân làng tổ chức rước kiệu bát nhang quan Trạng và quan Võ về yên vị, gọi là rước hoàn cung Thánh giá. Dân gian truyền miệng câu "mười một rước ra, mười ba rước về". Hội làng Canh Hoạch là lễ hội lớn trong vùng, là nét văn hóa đặc sắc. Việc dân làng Canh Hoạch rước trạng nguyên Nguyễn Đức Lượng và Thường quốc công Nguyễn Quyện thể hiện tinh thần hiếu học và thượng võ của dân làng.

Canh Hoạch là vùng đất có truyền thống hiếu học và khoa bảng, nơi sinh của hai trạng nguyên thời phong kiến là Nguyễn Đức Lượng (làm quan tới Lễ bộ Tả thị lang, sau khi mất được phong Thượng thư), Nguyễn Thiến (học trò Nguyễn Đức Lượng, đỗ trạng nguyên trước Nguyễn Bỉnh Khiêm một khoa). Nhắc tới vùng đất địa linh nhân kiệt Canh Hoạch không thể không nhắc tới Nguyễn Quyện vốn là tướng giỏi thời nhà Mạc.

Lễ hội làng Canh Hoạch có liên quan mất thiết với trạng nguyên Nguyễn Đức Lượng và thường quốc công Nguyễn Quyện. Hội làng được tổ chức tại đình Canh Hoạch. Đình Canh Hoạch thờ 3 vị thần là Trình Lý, Cao hàn (tướng quân đời vua Hùng Vương thứ 18, đem quân tới Canh Hoạch thấy thế đất đẹp lập đồn lũy đóng quân) và Trần Uất (con trai thứ 2 của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn).

Lễ rước hội truyền thống làng Canh Hoạch

Ngày 11/3, dân làng Canh Hoạch tổ chức rước 3 cỗ kiệu Thành hoàng, kiệu Đức Thánh Cả Trình Lý đi trước, kế tiếp tới kiệu Đức Thánh Hai Cao Hàn rồi tới kiệu Đức Thánh Ba Trần Uất. Lễ rước thực hiện từ đình xuống cổng Dinh, vào đìnốnắc rước sắc các vị thành hoàng. Sau đó, dân làng Canh Hoạch dùng kiệu đốn xuống rước bát hương trạng nguyên Nguyễn Đức Lượng từ nhà thờ trạng nguyên họ Nguyễn, rước bát nhang Thường quốc công Nguyễn Quyện ở đình Sắc về đình Đụn. Các cỗ kiệu được đặt ngay ngắn trong sân đình, bô lão trong làng lần lượt rước 3 long ngai bài vị các Thánh và bát nhang quan Trạng, quan Võ đặt lên hương án trong hậu cung đình để người dân và du khách vào lễ Thánh.

Thiếu nữ làng Canh Hoạch dâng lễ vật

Ngày 12/3 âm lịch là chính hội, dân làng dâng lễ mặn gồm đầu lợn và ván xôi đầy.

Ngày 13/3 âm lịch, các xóm làng Canh Hoạch ra đình lễ tạ, lễ vật chỉ là đồ chay và tổ chức nhiều trò chơi dân gian. Buổi chiều, sau tuần tế tiễn thì dân làng tổ chức rước kiệu bát nhang quan Trạng và quan Võ về yên vị, gọi là rước hoàn cung Thánh giá. Dân gian truyền miệng câu "mười một rước ra, mười ba rước về".

Hội làng Canh Hoạch là lễ hội lớn trong vùng, là nét văn hóa đặc sắc. Việc dân làng Canh Hoạch rước trạng nguyên Nguyễn Đức Lượng và Thường quốc công Nguyễn Quyện thể hiện tinh thần hiếu học và thượng võ của dân làng.

Related Figures

Lễ hội làng Cót

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 12/2- 15/2 Âm lịch Lễ hội làng Cót tổ chức ngày 10-15/2 âm lịch tại đình Cót, phường yên Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội. Lễ rước hội làng Cót gồm 7 kiệu (5 long ngai bài vị, một kiệu sắc, một kiệu chum nước. Xưa hội làng Cót có tục nuôi lợn thờ của các giáp trưởng đăng cai. Hội làng Cót diễn ra trang nghiêm Làng Cót (Kẻ Cót) là tên Nôm của hai làng Thượng Yên Quyết và Hạ Yên Quyết nằm ven sông Tô Lịch. Sau này, Làng Cót được lấy làm tên cho làng Hạ Yên Quyết, còn làng Thượng Yên Quyết được đổi thành làng Giấy. Làng Cót có truyền thống hiếu học và khoa bảng, nằm trong tứ danh hương "Mỗ, La, Canh, Cót". Thời phong kiến, làng Cót có 10 vị đỗ tiến sĩ và gần 30 hương cống thời hậu Lê, 9 cử nhân thời Nguyễn. Trước đây, làng Cót dành 3 mẫu ruộng "độc thư điền" để tặng cho những người đỗ tiến sĩ trở lên. Ngày ông nghè vinh quy bái tổ, dân làng Cót đem cờ lọng đón rước. Múa lân trong hội làng Cót Đình làng Cót to và đẹp nằm ở gò đất cao xóm Đình, mặt quay về hướng đông nam. Đình làng Cót thờ 5 vị thần trong đó có Cao Sơn đại vương là thần bản thổ. Hội làng Cót là lễ hội truyền thống lâu đời, bị gián đoạn trong những năm tháng chiến tranh rồi được khôi phục lại vào những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI. Hình ảnh ấn tượng trong hội làng Cót Trong thời kỳ CNH-HĐH làng Cót vẫn giữ được nhiều phong tục tập quán theo nếp xưa. Ngày hội làng, con cháu dù ở bất cứ đâu cũng sắp xếp thời gian về dâng hương tưởng nhớ tới các bậc tiền nhân. Ngày hội làng, dân làng và du khách thập phương ra đình chung vui, thắp hương cầu Thành hoàng làng phù hộ.

Hội làng Cót diễn ra trang nghiêm Làng Cót (Kẻ Cót) là tên Nôm của hai làng Thượng Yên Quyết và Hạ Yên Quyết nằm ven sông Tô Lịch. Sau này, Làng Cót được lấy làm tên cho làng Hạ Yên Quyết, còn làng Thượng Yên Quyết được đổi thành làng Giấy. Làng Cót có truyền thống hiếu học và khoa bảng, nằm trong tứ danh hương "Mỗ, La, Canh, Cót". Thời phong kiến, làng Cót có 10 vị đỗ tiến sĩ và gần 30 hương cống thời hậu Lê, 9 cử nhân thời Nguyễn. Trước đây, làng Cót dành 3 mẫu ruộng "độc thư điền" để tặng cho những người đỗ tiến sĩ trở lên. Ngày ông nghè vinh quy bái tổ, dân làng Cót đem cờ lọng đón rước. Múa lân trong hội làng Cót Đình làng Cót to và đẹp nằm ở gò đất cao xóm Đình, mặt quay về hướng đông nam. Đình làng Cót thờ 5 vị thần trong đó có Cao Sơn đại vương là thần bản thổ. Hội làng Cót là lễ hội truyền thống lâu đời, bị gián đoạn trong những năm tháng chiến tranh rồi được khôi phục lại vào những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI. Hình ảnh ấn tượng trong hội làng Cót Trong thời kỳ CNH-HĐH làng Cót vẫn giữ được nhiều phong tục tập quán theo nếp xưa. Ngày hội làng, con cháu dù ở bất cứ đâu cũng sắp xếp thời gian về dâng hương tưởng nhớ tới các bậc tiền nhân. Ngày hội làng, dân làng và du khách thập phương ra đình chung vui, thắp hương cầu Thành hoàng làng phù hộ.

Làng Cót (Kẻ Cót) là tên Nôm của hai làng Thượng Yên Quyết và Hạ Yên Quyết nằm ven sông Tô Lịch. Sau này, Làng Cót được lấy làm tên cho làng Hạ Yên Quyết, còn làng Thượng Yên Quyết được đổi thành làng Giấy. Làng Cót có truyền thống hiếu học và khoa bảng, nằm trong tứ danh hương "Mỗ, La, Canh, Cót". Thời phong kiến, làng Cót có 10 vị đỗ tiến sĩ và gần 30 hương cống thời hậu Lê, 9 cử nhân thời Nguyễn. Trước đây, làng Cót dành 3 mẫu ruộng "độc thư điền" để tặng cho những người đỗ tiến sĩ trở lên. Ngày ông nghè vinh quy bái tổ, dân làng Cót đem cờ lọng đón rước.

Múa lân trong hội làng Cót

Đình làng Cót to và đẹp nằm ở gò đất cao xóm Đình, mặt quay về hướng đông nam. Đình làng Cót thờ 5 vị thần trong đó có Cao Sơn đại vương là thần bản thổ. Hội làng Cót là lễ hội truyền thống lâu đời, bị gián đoạn trong những năm tháng chiến tranh rồi được khôi phục lại vào những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI.

Hình ảnh ấn tượng trong hội làng Cót

Trong thời kỳ CNH-HĐH làng Cót vẫn giữ được nhiều phong tục tập quán theo nếp xưa. Ngày hội làng, con cháu dù ở bất cứ đâu cũng sắp xếp thời gian về dâng hương tưởng nhớ tới các bậc tiền nhân. Ngày hội làng, dân làng và du khách thập phương ra đình chung vui, thắp hương cầu Thành hoàng làng phù hộ.

Related Figures

Rộn ràng lễ kỳ Phúc làng Phú Khê - Thanh Hóa

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 16/2- 20/2 Âm lịch Mỗi năm cứ ngày 16/2 âm lịch, ngày sinh của hai vị Thành hoàng làng, người dân Phú Khê sắm sửa lễ vật tổ chức lễ kỳ phúc. Người dân cho rằng, hội làng Phú Khê không chỉ là dịp tưởng nhớ công ơn 2 vị Thành hoàng mà còn cầu mong một năm mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, làm ăn thuận lợi. Đến ngày hội làng, người dân Phú Khê từ khắp mọi miền đều kéo nhau về tham dự lễ hội. Lễ hội truyền thống làng Phú Khê Đình Phú Khê thờ hai vị Thành hoàng là Hiển Hựu Cao Minh và Hồng Vĩ Tiêu Giang. Truyền thuyết kể rằng: vào thời hậu Lý, nhị vị đã có công giúp triều đình đánh tan quân Lão Qua xâm phạm địa giới Thanh Hóa. Hai vị đã được ban tặng nhiều sắc phong của các vua triều Lý. Đến nay, đình Phú Khê còn lưu giữ hơn 30 đạo sắc vua ban. Lễ rước hội truyền thống làng Phú Khê Hội làng Phú Khê là lễ hội truyền thống thể hiện bản sắc độc đáo như rước cỗ, Tế cung đình, hát tuồng, chèo và nhiều trò chơi dân gian như kéo co, bắt trạch, thi nấu cơm... Ngay từ sáng sớm, tiếng trống giục giã các thôn rước cỗ về đình. Đoàn rước rực rỡ cờ hoa, kéo dài tít tắp hết kiệu này tới kiệu khác, hết mâm này tới mâm khác. Lễ vật dâng thần ban ngày gồm có rượu, xôi, gà, lợn... cầu mong các vị thần phù hộ cho dân làng. Lễ vật dâng thần vào buổi tối gồm có hoa quả, bánh, kẹo, chè... Sau khi tế lễ, vật phẩm thờ cúng được chia cho dân làng thụ lộc. Lễ hội kỳ phúc làng Phú Khê kéo dài tới 5 ngày, ít nơi nào ở xứ Thanh có lễ kỳ phúc kéo dài tới vậy. Trong những ngày diễn ra lễ hội, dân làng dâng lễ 2 lần: buổi sáng lễ mặn, buổi chiều lễ chay. Đoàn rước rực rỡ cờ hoa trong hội làng Phú Khê Về Phú Khê trong dịp hội làng, du khách thập phương còn được thưởng thức nhiều đặc sản của địa phương như chè lam, kẹo lạc... Đây là đặc sản nức tiếng một vùng. Hội làng Phú Khê có từ bao giờ không ai biết rõ nhưng đã ăn sâu vào tiềm thức của bao thế hệ người dân nơi đây.

Mỗi năm cứ ngày 16/2 âm lịch, ngày sinh của hai vị Thành hoàng làng, người dân Phú Khê sắm sửa lễ vật tổ chức lễ kỳ phúc. Người dân cho rằng, hội làng Phú Khê không chỉ là dịp tưởng nhớ công ơn 2 vị Thành hoàng mà còn cầu mong một năm mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, làm ăn thuận lợi. Đến ngày hội làng, người dân Phú Khê từ khắp mọi miền đều kéo nhau về tham dự lễ hội.

Lễ hội truyền thống làng Phú Khê

Đình Phú Khê thờ hai vị Thành hoàng là Hiển Hựu Cao Minh và Hồng Vĩ Tiêu Giang. Truyền thuyết kể rằng: vào thời hậu Lý, nhị vị đã có công giúp triều đình đánh tan quân Lão Qua xâm phạm địa giới Thanh Hóa. Hai vị đã được ban tặng nhiều sắc phong của các vua triều Lý. Đến nay, đình Phú Khê còn lưu giữ hơn 30 đạo sắc vua ban.

Lễ rước hội truyền thống làng Phú Khê

Hội làng Phú Khê là lễ hội truyền thống thể hiện bản sắc độc đáo như rước cỗ, Tế cung đình, hát tuồng, chèo và nhiều trò chơi dân gian như kéo co, bắt trạch, thi nấu cơm... Ngay từ sáng sớm, tiếng trống giục giã các thôn rước cỗ về đình. Đoàn rước rực rỡ cờ hoa, kéo dài tít tắp hết kiệu này tới kiệu khác, hết mâm này tới mâm khác. Lễ vật dâng thần ban ngày gồm có rượu, xôi, gà, lợn... cầu mong các vị thần phù hộ cho dân làng. Lễ vật dâng thần vào buổi tối gồm có hoa quả, bánh, kẹo, chè... Sau khi tế lễ, vật phẩm thờ cúng được chia cho dân làng thụ lộc. Lễ hội kỳ phúc làng Phú Khê kéo dài tới 5 ngày, ít nơi nào ở xứ Thanh có lễ kỳ phúc kéo dài tới vậy. Trong những ngày diễn ra lễ hội, dân làng dâng lễ 2 lần: buổi sáng lễ mặn, buổi chiều lễ chay.

Đoàn rước rực rỡ cờ hoa trong hội làng Phú Khê

Về Phú Khê trong dịp hội làng, du khách thập phương còn được thưởng thức nhiều đặc sản của địa phương như chè lam, kẹo lạc... Đây là đặc sản nức tiếng một vùng.

Hội làng Phú Khê có từ bao giờ không ai biết rõ nhưng đã ăn sâu vào tiềm thức của bao thế hệ người dân nơi đây.

Related Figures

Hội làng Đông Dư

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 7/2- 13/2 Âm lịch Vào 9/2 âm lịch hàng năm, làng Đông Dư xã Đông Dư, huyện Gia Lâm, Hà Nội nô nức mở hội. Sau lễ rước là những trò chơi dân gian, độc đáo nhất là đấu kiếm, đấu quyền và múa khiên. Làng Đông Dư chuẩn bị vào hội Làng Đông Dư tên Nôm là làng Gỏi, được chia thành hai cụm dân cư. Đông Dư có cánh đồng ở trong đê và đất bãi ngoài đê rất màu mỡ. Những mặt hàng nông sản nổi tiếng của Đông Dư như: rau cải (nhất là cải bẹ), khoai nước củ to bằng đầu người. Đông Dư cũng là nơi cung cấp rau giống vụ đông cho cả một vùng rộng lớn. Đánh trống khai hội làng Đông Dư Hai đình Đông Dư Thượng và Đông Dư Hạ đều thờ 3 vị Thành Hoàng là Cao Sơn đại vương (anh em với Tản Viên Sơn thánh), Bạch Đa đại vương (người có công giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân) và Linh Lang đại vương (con trai vua Lý Thánh Tông lập công lớn trong cuộc kháng chiến đánh đuổi quân Tống). Riêng đình Đông Dư Thượng thờ thêm Khang Trí đại vương. Hai làng Đông Dư Thượng và Đông Dư Hạ có chung chùa Phủ Quang nằm trên phần đất thôn Đông Dư Hạ. Lễ hội làng Đông Dư diễn ra sôi nổi Mở đầu hội làng Đông Dư là lễ lấy nước và rước nước từ bến sông Hồng về đình tế lễ. Xưa kia, hội làng Đông Dư còn có trò đấu kiếm, đấu quyền và múa khiên nhưng ngày nay mai một dần. Trước cách mạng tháng 8, lệ của làng Đông Dư rất nặng. Mỗi năm, mỗi giáp phải cử 2 người nuôi lợn thờ, một người nuôi chính còn một người nuôi dự phòng. Ngày 11/2 âm lịch phải thổi 20 gánh xôi. Các ông ỷ sau khi mổ sạch, phân loại nhất, nhì, ba đem lược. Sau khi tế lễ, các vị tiên, thứ chỉ và chức sắc được chia lợn nhất, các cụ từ 55 tuổi trở lên được lợn nhì, còn lại chia cho trai đinh các giáp trong làng.

Vào 9/2 âm lịch hàng năm, làng Đông Dư xã Đông Dư, huyện Gia Lâm, Hà Nội nô nức mở hội. Sau lễ rước là những trò chơi dân gian, độc đáo nhất là đấu kiếm, đấu quyền và múa khiên.

Làng Đông Dư chuẩn bị vào hội

Làng Đông Dư tên Nôm là làng Gỏi, được chia thành hai cụm dân cư. Đông Dư có cánh đồng ở trong đê và đất bãi ngoài đê rất màu mỡ. Những mặt hàng nông sản nổi tiếng của Đông Dư như: rau cải (nhất là cải bẹ), khoai nước củ to bằng đầu người. Đông Dư cũng là nơi cung cấp rau giống vụ đông cho cả một vùng rộng lớn.

Đánh trống khai hội làng Đông Dư

Hai đình Đông Dư Thượng và Đông Dư Hạ đều thờ 3 vị Thành Hoàng là Cao Sơn đại vương (anh em với Tản Viên Sơn thánh), Bạch Đa đại vương (người có công giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân) và Linh Lang đại vương (con trai vua Lý Thánh Tông lập công lớn trong cuộc kháng chiến đánh đuổi quân Tống). Riêng đình Đông Dư Thượng thờ thêm Khang Trí đại vương. Hai làng Đông Dư Thượng và Đông Dư Hạ có chung chùa Phủ Quang nằm trên phần đất thôn Đông Dư Hạ.

Lễ hội làng Đông Dư diễn ra sôi nổi

Mở đầu hội làng Đông Dư là lễ lấy nước và rước nước từ bến sông Hồng về đình tế lễ. Xưa kia, hội làng Đông Dư còn có trò đấu kiếm, đấu quyền và múa khiên nhưng ngày nay mai một dần. Trước cách mạng tháng 8, lệ của làng Đông Dư rất nặng. Mỗi năm, mỗi giáp phải cử 2 người nuôi lợn thờ, một người nuôi chính còn một người nuôi dự phòng. Ngày 11/2 âm lịch phải thổi 20 gánh xôi. Các ông ỷ sau khi mổ sạch, phân loại nhất, nhì, ba đem lược. Sau khi tế lễ, các vị tiên, thứ chỉ và chức sắc được chia lợn nhất, các cụ từ 55 tuổi trở lên được lợn nhì, còn lại chia cho trai đinh các giáp trong làng.

Related Figures

Hội làng Đa Sỹ

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 12/1- 15/1 Âm lịch Hội xuân truyền thống làng Đa Sỹ được tổ chức ngày 12-15/1 âm lịch, lễ tế tổ chức ngày 12/1 tại xã Kiến Hưng, quân Hà Đông, Hà Nội. Lễ hội xuân truyền thống làng Đa Sỹ Đình làng Đa Sỹ thờ Thành Hoàng làng Danh nhân văn hóa, Danh y - Lương dược hầu linh thông cư sĩ Hoàng Đôn Hòa. Tương truyền, danh y Hoàng Đôn Hòa tinh thông y dược. Thời vua Lê Thánh Tông, ông được cử làm Điều hộ lục quân, đóng góp công sức to lớn vào việc cứu chữa thương bệnh binh trong quân đội nhà Lê, giúp đánh bại nhà Mạc. Sau đó, Hoàng Đôn Hòa được phong chức thị nội Thái y viện thủ phiên. Ông được vua chọn làm phò mã, gả công chúa Phương Anh cho. Hai vợ chồng lương y Hoàng Đôn Hòa ngày tháng tự trồng những cây thuốc quý.Hoàng Đôn Hòa truyền lại nhiều bài thuốc nam quý cho người dân trị bệnh. Rước kiệu trong hội làng Đa Sỹ Ngày 12/1 âm lịch năm Vĩnh Tộ thứ 5, Hoàng Đôn Hòa "hạc giá vân du". Công lao của Hoàng Đôn Hòa được người dân Đa Sỹ ghi tạc bằng 3 bức hoành phi: " Âm dương hợp đức, Lương y quốc, Thọ tư dân". Các triều đại phong kiến sau truy phong ông là Phúc thần "Lương dược đại vương". Để tưởng nhớ công ơn của ông, người dân làng Đa Sỹ xây đình thờ phụng. Hàng năm vào ngày 12/1, dân làng thực hiện tế lễ ông ở đình làng. Phần thi kéo co sôi nổi trong hội làng Đa Sỹ Lễ hội truyền thống đình làng Đa Sỹ gồm 2 phần: phần lễ được tổ chức trang trọng và phần hội sôi nổi. Phần lễ với các nghi thức lễ thánh, rước thánh... Phần hội sôi nổi thu hút đông đảo người dân tham gia với các trò chơi dân gian như nhẩy bao tải, kéo co, chọi gà...

Lễ hội xuân truyền thống làng Đa Sỹ Đình làng Đa Sỹ thờ Thành Hoàng làng Danh nhân văn hóa, Danh y - Lương dược hầu linh thông cư sĩ Hoàng Đôn Hòa. Tương truyền, danh y Hoàng Đôn Hòa tinh thông y dược. Thời vua Lê Thánh Tông, ông được cử làm Điều hộ lục quân, đóng góp công sức to lớn vào việc cứu chữa thương bệnh binh trong quân đội nhà Lê, giúp đánh bại nhà Mạc. Sau đó, Hoàng Đôn Hòa được phong chức thị nội Thái y viện thủ phiên. Ông được vua chọn làm phò mã, gả công chúa Phương Anh cho. Hai vợ chồng lương y Hoàng Đôn Hòa ngày tháng tự trồng những cây thuốc quý.Hoàng Đôn Hòa truyền lại nhiều bài thuốc nam quý cho người dân trị bệnh. Rước kiệu trong hội làng Đa Sỹ Ngày 12/1 âm lịch năm Vĩnh Tộ thứ 5, Hoàng Đôn Hòa "hạc giá vân du". Công lao của Hoàng Đôn Hòa được người dân Đa Sỹ ghi tạc bằng 3 bức hoành phi: " Âm dương hợp đức, Lương y quốc, Thọ tư dân". Các triều đại phong kiến sau truy phong ông là Phúc thần "Lương dược đại vương". Để tưởng nhớ công ơn của ông, người dân làng Đa Sỹ xây đình thờ phụng. Hàng năm vào ngày 12/1, dân làng thực hiện tế lễ ông ở đình làng. Phần thi kéo co sôi nổi trong hội làng Đa Sỹ Lễ hội truyền thống đình làng Đa Sỹ gồm 2 phần: phần lễ được tổ chức trang trọng và phần hội sôi nổi. Phần lễ với các nghi thức lễ thánh, rước thánh... Phần hội sôi nổi thu hút đông đảo người dân tham gia với các trò chơi dân gian như nhẩy bao tải, kéo co, chọi gà...

Lễ hội xuân truyền thống làng Đa Sỹ

Đình làng Đa Sỹ thờ Thành Hoàng làng Danh nhân văn hóa, Danh y - Lương dược hầu linh thông cư sĩ Hoàng Đôn Hòa. Tương truyền, danh y Hoàng Đôn Hòa tinh thông y dược. Thời vua Lê Thánh Tông, ông được cử làm Điều hộ lục quân, đóng góp công sức to lớn vào việc cứu chữa thương bệnh binh trong quân đội nhà Lê, giúp đánh bại nhà Mạc. Sau đó, Hoàng Đôn Hòa được phong chức thị nội Thái y viện thủ phiên. Ông được vua chọn làm phò mã, gả công chúa Phương Anh cho. Hai vợ chồng lương y Hoàng Đôn Hòa ngày tháng tự trồng những cây thuốc quý.Hoàng Đôn Hòa truyền lại nhiều bài thuốc nam quý cho người dân trị bệnh.

Rước kiệu trong hội làng Đa Sỹ Ngày 12/1 âm lịch năm Vĩnh Tộ thứ 5, Hoàng Đôn Hòa "hạc giá vân du". Công lao của Hoàng Đôn Hòa được người dân Đa Sỹ ghi tạc bằng 3 bức hoành phi: " Âm dương hợp đức, Lương y quốc, Thọ tư dân". Các triều đại phong kiến sau truy phong ông là Phúc thần "Lương dược đại vương". Để tưởng nhớ công ơn của ông, người dân làng Đa Sỹ xây đình thờ phụng. Hàng năm vào ngày 12/1, dân làng thực hiện tế lễ ông ở đình làng. Phần thi kéo co sôi nổi trong hội làng Đa Sỹ Lễ hội truyền thống đình làng Đa Sỹ gồm 2 phần: phần lễ được tổ chức trang trọng và phần hội sôi nổi. Phần lễ với các nghi thức lễ thánh, rước thánh... Phần hội sôi nổi thu hút đông đảo người dân tham gia với các trò chơi dân gian như nhẩy bao tải, kéo co, chọi gà...

Related Figures

Hội làng Giá

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/3- 26/3 Âm lịch Hàng năm, khi người dân cả nước và kiều bào nước ngoài hành hương "trở về cội nguồn" tưởng nhớ các vua Hùng đã có công dựng nước; làng Giá (xã Yên Sở, huyện Hoài Đức, Hà Nội) cũng tưng bừng chuẩn bị cho buổi rước Giá. Tưng bừng lễ hội làng Giá Hai xã Yên Sở và Đắc Sở xưa kia có tên gọi là Cổ Sở là vùng đất cổ có niên đại khoảng 3500 năm, có truyền thống lịch sử văn hóa lâu đời. Làng Giá là mảnh đất sinh ra anh hùng dân tộc - tướng công Phạm Tu. Người con trung hiếu của quê hương đã có công giúp Lý Bí khởi nghĩa đánh tan quân Lâm Ấp ra khỏi bờ cỡi, lập nên nhà nước Vạn Xuân. Đây là nhà nước độc lập đầu tiên của nước ta. Trong trận chiến quyết tại thành Tô Lịch năm 344 (Giáp Tý), Tướng công Phạm Tu anh dũng hy sinh. Thi hài của Tướng quân Phạm Tu được táng tại khu hồ Mã xã Yên Sở. Để tưởng nhớ công ơn to lớn của Ngài, dân làng Giá lập miếu thờ phụng. Lễ hội làng Giá diễn ra trọng thể và trang nghiêm Hội làng Giá vừa là dịp thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn của nhân dân, vừa là dịp để bà con ôn lại truyền thống, hòa mình vào đời sống của những ngày hội dân gian. Mỗi năm, làng Giá mở hội vào đám theo nghi thức Hội lệ, 5 năm mở hội lớn theo nghi thức Đại đám. Dân gian có câu "Bơi Đăm, rước Giá, hội Thầy", nghi thức rước là nghi thức đặc sắc nhất, độc đáo nhất của hội làng Giá. Lễ hội làng Giá xã Yên Sở Vào ngày 10/3 âm lịch, hai thôn Yên Sở, Đắc Sở cùng Đại Đồng, Yên Thái, Diễn Xá thành tâm mang lễ vật lên đình Yên Sở. Từ 10 giờ bắt đầu nghi thức xin phép Thần cho trang trí lại đình. Cỗ kiệu lớn của Thành hoàng được lắp ghép lại cẩn thận, cỗ ngựa bằng đồng hun được kéo ra sân. Chiều ngày 10/3, hai làng thực hiện đám rước văn tế. Buổi tối, người dân trong thôn cùng giã bánh giầy, bánh cuốn để lễ tạ Thánh.

Tưng bừng lễ hội làng Giá Hai xã Yên Sở và Đắc Sở xưa kia có tên gọi là Cổ Sở là vùng đất cổ có niên đại khoảng 3500 năm, có truyền thống lịch sử văn hóa lâu đời. Làng Giá là mảnh đất sinh ra anh hùng dân tộc - tướng công Phạm Tu. Người con trung hiếu của quê hương đã có công giúp Lý Bí khởi nghĩa đánh tan quân Lâm Ấp ra khỏi bờ cỡi, lập nên nhà nước Vạn Xuân. Đây là nhà nước độc lập đầu tiên của nước ta. Trong trận chiến quyết tại thành Tô Lịch năm 344 (Giáp Tý), Tướng công Phạm Tu anh dũng hy sinh. Thi hài của Tướng quân Phạm Tu được táng tại khu hồ Mã xã Yên Sở. Để tưởng nhớ công ơn to lớn của Ngài, dân làng Giá lập miếu thờ phụng. Lễ hội làng Giá diễn ra trọng thể và trang nghiêm Hội làng Giá vừa là dịp thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn của nhân dân, vừa là dịp để bà con ôn lại truyền thống, hòa mình vào đời sống của những ngày hội dân gian. Mỗi năm, làng Giá mở hội vào đám theo nghi thức Hội lệ, 5 năm mở hội lớn theo nghi thức Đại đám. Dân gian có câu "Bơi Đăm, rước Giá, hội Thầy", nghi thức rước là nghi thức đặc sắc nhất, độc đáo nhất của hội làng Giá. Lễ hội làng Giá xã Yên Sở Vào ngày 10/3 âm lịch, hai thôn Yên Sở, Đắc Sở cùng Đại Đồng, Yên Thái, Diễn Xá thành tâm mang lễ vật lên đình Yên Sở. Từ 10 giờ bắt đầu nghi thức xin phép Thần cho trang trí lại đình. Cỗ kiệu lớn của Thành hoàng được lắp ghép lại cẩn thận, cỗ ngựa bằng đồng hun được kéo ra sân. Chiều ngày 10/3, hai làng thực hiện đám rước văn tế. Buổi tối, người dân trong thôn cùng giã bánh giầy, bánh cuốn để lễ tạ Thánh.

Hai xã Yên Sở và Đắc Sở xưa kia có tên gọi là Cổ Sở là vùng đất cổ có niên đại khoảng 3500 năm, có truyền thống lịch sử văn hóa lâu đời.

Làng Giá là mảnh đất sinh ra anh hùng dân tộc - tướng công Phạm Tu. Người con trung hiếu của quê hương đã có công giúp Lý Bí khởi nghĩa đánh tan quân Lâm Ấp ra khỏi bờ cỡi, lập nên nhà nước Vạn Xuân. Đây là nhà nước độc lập đầu tiên của nước ta. Trong trận chiến quyết tại thành Tô Lịch năm 344 (Giáp Tý), Tướng công Phạm Tu anh dũng hy sinh. Thi hài của Tướng quân Phạm Tu được táng tại khu hồ Mã xã Yên Sở. Để tưởng nhớ công ơn to lớn của Ngài, dân làng Giá lập miếu thờ phụng.

Lễ hội làng Giá diễn ra trọng thể và trang nghiêm

Hội làng Giá vừa là dịp thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn của nhân dân, vừa là dịp để bà con ôn lại truyền thống, hòa mình vào đời sống của những ngày hội dân gian. Mỗi năm, làng Giá mở hội vào đám theo nghi thức Hội lệ, 5 năm mở hội lớn theo nghi thức Đại đám. Dân gian có câu "Bơi Đăm, rước Giá, hội Thầy", nghi thức rước là nghi thức đặc sắc nhất, độc đáo nhất của hội làng Giá.

Lễ hội làng Giá xã Yên Sở

Vào ngày 10/3 âm lịch, hai thôn Yên Sở, Đắc Sở cùng Đại Đồng, Yên Thái, Diễn Xá thành tâm mang lễ vật lên đình Yên Sở. Từ 10 giờ bắt đầu nghi thức xin phép Thần cho trang trí lại đình. Cỗ kiệu lớn của Thành hoàng được lắp ghép lại cẩn thận, cỗ ngựa bằng đồng hun được kéo ra sân. Chiều ngày 10/3, hai làng thực hiện đám rước văn tế.

Buổi tối, người dân trong thôn cùng giã bánh giầy, bánh cuốn để lễ tạ Thánh.

Related Figures

Hội Phù Gióng Chi Nam

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 8/4 Âm lịch Hội Phù Gióng Chi Nam tổ chức ngày 8/4 âm lịch tại xã Lệ Chi, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Lễ hội truyền thống bị gián đoạn hơn 60 năm sau đó được phục dựng lại. Độc đáo hội Phù Gióng Chi Nam Hội Phù Gióng Chi Nam gắn liền với việc tôn vinh và thờ phụng Tướng quân Châu Đô Thống Bùi Duy Trí. Ngài có công giúp Phù Đổng Thiên Vương Thánh Gióng đán tan giặc Ân xâm lược. Sau khi dẹp xong giặc Ân, Thánh Gióng cưỡi ngựa bay về trời. Tướng quân Châu Đô Thống ở lại thu quân hạ trại tại Lệ Chi để tiêu diệt nốt quân phản loạn. Ngài lâm bệnh rồi qua đời tại đây. Dân làng suy tôn Ngài là Thành hoàng, lập nghè nhang, hàng năm tổi chức lễ hội tri ân. Diễn xướng trận chiến năm xưa trong hội Phù Gióng Chi Nam Hội Phù Gióng Chi Nam diễn ra với đầy đủ nghi thức như rước kiệu, đánh trận, đấu gậy, cướp gậy, cướp dừa... Hội Phù Gióng Chi Nam gồm phần lễ và phần rước trang trọng. Trong lễ rước có nghi thức đặc sắc là diễn xướng tái hiện tướng quân Đô Thống đánh giặc Ân. Dân làng chọn ra những trai tráng khỏe mạnh trong làng tham gia vào 2 đội quân. Phần diễn xướng diễn ra trong không khí sôi nổi, náo nhiệt, ai ai cũng hào hứng. Khi phần tế lễ hoàn tất, đoàn rước bắt đầu lễ rước từ làng Chi Nam sang làng Phù Đổng.Nếu như đoàn rước làng Chi Nam chưa sang thì làng Phù Đổng không thể cử hành lễ hội được. Các bậc cao niên làm lễ trong hội Phù Gióng Chi Nam Hội Phù Gióng Chi Nam có từ hàng trăm năm, do nhiều nguyên nhân từ năm 1943 không được tổ chức nữa. Đến ngày hội Phù Đổng, làng Chi Nam chỉ cử một số cụ sang đại diện cho đúng thủ tục. Sau hơn 60 năm bị gián đoạn, hội Phù Gióng Chi Nam được phục dựng lại. Hội Phù Gióng Chi Nam là một phần nhỏ nhưng quan trọng của hội Gióng Phù Đổng.

Độc đáo hội Phù Gióng Chi Nam Hội Phù Gióng Chi Nam gắn liền với việc tôn vinh và thờ phụng Tướng quân Châu Đô Thống Bùi Duy Trí. Ngài có công giúp Phù Đổng Thiên Vương Thánh Gióng đán tan giặc Ân xâm lược. Sau khi dẹp xong giặc Ân, Thánh Gióng cưỡi ngựa bay về trời. Tướng quân Châu Đô Thống ở lại thu quân hạ trại tại Lệ Chi để tiêu diệt nốt quân phản loạn. Ngài lâm bệnh rồi qua đời tại đây. Dân làng suy tôn Ngài là Thành hoàng, lập nghè nhang, hàng năm tổi chức lễ hội tri ân. Diễn xướng trận chiến năm xưa trong hội Phù Gióng Chi Nam Hội Phù Gióng Chi Nam diễn ra với đầy đủ nghi thức như rước kiệu, đánh trận, đấu gậy, cướp gậy, cướp dừa... Hội Phù Gióng Chi Nam gồm phần lễ và phần rước trang trọng. Trong lễ rước có nghi thức đặc sắc là diễn xướng tái hiện tướng quân Đô Thống đánh giặc Ân. Dân làng chọn ra những trai tráng khỏe mạnh trong làng tham gia vào 2 đội quân. Phần diễn xướng diễn ra trong không khí sôi nổi, náo nhiệt, ai ai cũng hào hứng. Khi phần tế lễ hoàn tất, đoàn rước bắt đầu lễ rước từ làng Chi Nam sang làng Phù Đổng.Nếu như đoàn rước làng Chi Nam chưa sang thì làng Phù Đổng không thể cử hành lễ hội được. Các bậc cao niên làm lễ trong hội Phù Gióng Chi Nam Hội Phù Gióng Chi Nam có từ hàng trăm năm, do nhiều nguyên nhân từ năm 1943 không được tổ chức nữa. Đến ngày hội Phù Đổng, làng Chi Nam chỉ cử một số cụ sang đại diện cho đúng thủ tục. Sau hơn 60 năm bị gián đoạn, hội Phù Gióng Chi Nam được phục dựng lại. Hội Phù Gióng Chi Nam là một phần nhỏ nhưng quan trọng của hội Gióng Phù Đổng.

Hội Phù Gióng Chi Nam gắn liền với việc tôn vinh và thờ phụng Tướng quân Châu Đô Thống Bùi Duy Trí. Ngài có công giúp Phù Đổng Thiên Vương Thánh Gióng đán tan giặc Ân xâm lược. Sau khi dẹp xong giặc Ân, Thánh Gióng cưỡi ngựa bay về trời. Tướng quân Châu Đô Thống ở lại thu quân hạ trại tại Lệ Chi để tiêu diệt nốt quân phản loạn. Ngài lâm bệnh rồi qua đời tại đây. Dân làng suy tôn Ngài là Thành hoàng, lập nghè nhang, hàng năm tổi chức lễ hội tri ân.

Diễn xướng trận chiến năm xưa trong hội Phù Gióng Chi Nam

Hội Phù Gióng Chi Nam diễn ra với đầy đủ nghi thức như rước kiệu, đánh trận, đấu gậy, cướp gậy, cướp dừa... Hội Phù Gióng Chi Nam gồm phần lễ và phần rước trang trọng. Trong lễ rước có nghi thức đặc sắc là diễn xướng tái hiện tướng quân Đô Thống đánh giặc Ân. Dân làng chọn ra những trai tráng khỏe mạnh trong làng tham gia vào 2 đội quân. Phần diễn xướng diễn ra trong không khí sôi nổi, náo nhiệt, ai ai cũng hào hứng. Khi phần tế lễ hoàn tất, đoàn rước bắt đầu lễ rước từ làng Chi Nam sang làng Phù Đổng.Nếu như đoàn rước làng Chi Nam chưa sang thì làng Phù Đổng không thể cử hành lễ hội được.

Các bậc cao niên làm lễ trong hội Phù Gióng Chi Nam

Hội Phù Gióng Chi Nam có từ hàng trăm năm, do nhiều nguyên nhân từ năm 1943 không được tổ chức nữa. Đến ngày hội Phù Đổng, làng Chi Nam chỉ cử một số cụ sang đại diện cho đúng thủ tục. Sau hơn 60 năm bị gián đoạn, hội Phù Gióng Chi Nam được phục dựng lại. Hội Phù Gióng Chi Nam là một phần nhỏ nhưng quan trọng của hội Gióng Phù Đổng.

Related Figures

Hội làng Chuông

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/3 Âm lịch Làng Chuông xã Phương Trung, huyện Thanh Oai, Hà Nội không chỉ nổi tiếng với nghề làm nón lá truyền thống mà còn thu hút du khách thập phương bởi lẽ hội độc đáo của làng. Hội làng Chuông tổ chức ngày 10/3 âm lịch hàng năm với nhiều hoạt động ý nghĩa và sôi nổi. Đặc sắc hội làng Chuông Nón lá làng Chuông nổi tiếng cách đây nhiều thế kỷ. Trước đây, nón Làng Chuông và vật tiến cung cho hoàng hậu và công chúa. Nón lá cũng là đồ dùng không thể thiếu của phụ nữ Việt Nam. Nón là là biểu tượng văn hóa đặc sắc của Việt Nam nói chung và người dân làng Chuông nói riêng. Nón lá làng Chuông nổi tiếng bền, dày, mũi khâu khéo léo. Du khách tham dự hội làng Chuông vừa được lễ Phật cầu may, vừa được vãn cảnh chợ Chông. Hội làng Chuông mạng đậm bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, có sức sống bên bỉ trong tâm thức người dân. Những nét đặc sắc trong hội làng Chuông được gói gọn trong câu ca dao: "Mồng mười đi chợ Chuông chơi. Xem đánh cờ người xem thổi cơm thi". Thi nấu cơm thi hội làng Chuông Đặc sắc nhất tại hội làng Chuông là phần thi thổi cơm thi. Thổi cơm thi dành cho cả nam và nữ. Những thôn nữ làng chuông có 23 phút để vo gạo, lấy lửa từ bùi nhùi rơm, nhóm củi và nấu cơm. Mỗi đội thi gồm 3 người, một người gánh, hai người còn lại cầm củi đi theo cho tới khi cơm chín. Các cô gái làng chuông được đứng trong vòng tròn vôi đường kính 1,5m, trong đó có 1 đứa trẻ 6-7 tháng tuổi không phai con của họ và một con cóc. Thôn nữ phải vừa náu cơm, nhóm bếp, trông trẻ không khóc và trtoong cho cóc không nhảy ra khỏi vạch vôi. Theo những bô lão địa phương, vòng tròn vôi tượng trưng cho trời, con cóc là cậu ông trời tượng trưng cho mưa. Giữ cóc trong vòng tròn có ý nghĩa cầu mưa, đảm bảo nguồn nước sinh hoạt và sản xuất. Trước đây, thôn nữ dự thi phải ăn chay và khi nấu không được nói cười. Cơm của đội nào chín, dẻo thơm sẽ được làng thưởng. Tục nấu cơm thi cho nam giới được tổ chức ở đầm cạnh chợ. Những trai tráng trong làng dự thi phải ngồi trên thuyền nan câu, trong lòng thuyền chứa sẵn gọa, nước, củi... Khi bắt đầu, các chàng trai bơi tay từ bờ này sang bờ kia. Dù tay ướt cũng phải tìm cách nhóm lửa, vo gạo và nấu cơm. Vừa bơi vừa nấu cơm rất khó đòi hỏi sự khéo léo của trai làng Chuông. Đánh cờ người hội làng Chuông Đánh cờ người được tổ chức ở trước cửa đình trên khu đất họp chợ Chuông. Đánh cờ người thể hiện tài trí của người làng Chuông. Hội làng Chuông là nét văn hóa đặc sắc của người dân nơi đây. Hội làng Chuông có sức sống lâu bền trong tâm trí mỗi người dân.

Đặc sắc hội làng Chuông Nón lá làng Chuông nổi tiếng cách đây nhiều thế kỷ. Trước đây, nón Làng Chuông và vật tiến cung cho hoàng hậu và công chúa. Nón lá cũng là đồ dùng không thể thiếu của phụ nữ Việt Nam. Nón là là biểu tượng văn hóa đặc sắc của Việt Nam nói chung và người dân làng Chuông nói riêng. Nón lá làng Chuông nổi tiếng bền, dày, mũi khâu khéo léo. Du khách tham dự hội làng Chuông vừa được lễ Phật cầu may, vừa được vãn cảnh chợ Chông. Hội làng Chuông mạng đậm bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, có sức sống bên bỉ trong tâm thức người dân. Những nét đặc sắc trong hội làng Chuông được gói gọn trong câu ca dao: "Mồng mười đi chợ Chuông chơi. Xem đánh cờ người xem thổi cơm thi". Thi nấu cơm thi hội làng Chuông Đặc sắc nhất tại hội làng Chuông là phần thi thổi cơm thi. Thổi cơm thi dành cho cả nam và nữ. Những thôn nữ làng chuông có 23 phút để vo gạo, lấy lửa từ bùi nhùi rơm, nhóm củi và nấu cơm. Mỗi đội thi gồm 3 người, một người gánh, hai người còn lại cầm củi đi theo cho tới khi cơm chín. Các cô gái làng chuông được đứng trong vòng tròn vôi đường kính 1,5m, trong đó có 1 đứa trẻ 6-7 tháng tuổi không phai con của họ và một con cóc. Thôn nữ phải vừa náu cơm, nhóm bếp, trông trẻ không khóc và trtoong cho cóc không nhảy ra khỏi vạch vôi. Theo những bô lão địa phương, vòng tròn vôi tượng trưng cho trời, con cóc là cậu ông trời tượng trưng cho mưa. Giữ cóc trong vòng tròn có ý nghĩa cầu mưa, đảm bảo nguồn nước sinh hoạt và sản xuất. Trước đây, thôn nữ dự thi phải ăn chay và khi nấu không được nói cười. Cơm của đội nào chín, dẻo thơm sẽ được làng thưởng. Tục nấu cơm thi cho nam giới được tổ chức ở đầm cạnh chợ. Những trai tráng trong làng dự thi phải ngồi trên thuyền nan câu, trong lòng thuyền chứa sẵn gọa, nước, củi... Khi bắt đầu, các chàng trai bơi tay từ bờ này sang bờ kia. Dù tay ướt cũng phải tìm cách nhóm lửa, vo gạo và nấu cơm. Vừa bơi vừa nấu cơm rất khó đòi hỏi sự khéo léo của trai làng Chuông. Đánh cờ người hội làng Chuông Đánh cờ người được tổ chức ở trước cửa đình trên khu đất họp chợ Chuông. Đánh cờ người thể hiện tài trí của người làng Chuông. Hội làng Chuông là nét văn hóa đặc sắc của người dân nơi đây. Hội làng Chuông có sức sống lâu bền trong tâm trí mỗi người dân.

Nón lá làng Chuông nổi tiếng cách đây nhiều thế kỷ. Trước đây, nón Làng Chuông và vật tiến cung cho hoàng hậu và công chúa. Nón lá cũng là đồ dùng không thể thiếu của phụ nữ Việt Nam. Nón là là biểu tượng văn hóa đặc sắc của Việt Nam nói chung và người dân làng Chuông nói riêng. Nón lá làng Chuông nổi tiếng bền, dày, mũi khâu khéo léo. Du khách tham dự hội làng Chuông vừa được lễ Phật cầu may, vừa được vãn cảnh chợ Chông. Hội làng Chuông mạng đậm bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, có sức sống bên bỉ trong tâm thức người dân. Những nét đặc sắc trong hội làng Chuông được gói gọn trong câu ca dao: "Mồng mười đi chợ Chuông chơi. Xem đánh cờ người xem thổi cơm thi". Thi nấu cơm thi hội làng Chuông Đặc sắc nhất tại hội làng Chuông là phần thi thổi cơm thi. Thổi cơm thi dành cho cả nam và nữ. Những thôn nữ làng chuông có 23 phút để vo gạo, lấy lửa từ bùi nhùi rơm, nhóm củi và nấu cơm. Mỗi đội thi gồm 3 người, một người gánh, hai người còn lại cầm củi đi theo cho tới khi cơm chín. Các cô gái làng chuông được đứng trong vòng tròn vôi đường kính 1,5m, trong đó có 1 đứa trẻ 6-7 tháng tuổi không phai con của họ và một con cóc. Thôn nữ phải vừa náu cơm, nhóm bếp, trông trẻ không khóc và trtoong cho cóc không nhảy ra khỏi vạch vôi. Theo những bô lão địa phương, vòng tròn vôi tượng trưng cho trời, con cóc là cậu ông trời tượng trưng cho mưa. Giữ cóc trong vòng tròn có ý nghĩa cầu mưa, đảm bảo nguồn nước sinh hoạt và sản xuất. Trước đây, thôn nữ dự thi phải ăn chay và khi nấu không được nói cười. Cơm của đội nào chín, dẻo thơm sẽ được làng thưởng. Tục nấu cơm thi cho nam giới được tổ chức ở đầm cạnh chợ. Những trai tráng trong làng dự thi phải ngồi trên thuyền nan câu, trong lòng thuyền chứa sẵn gọa, nước, củi... Khi bắt đầu, các chàng trai bơi tay từ bờ này sang bờ kia. Dù tay ướt cũng phải tìm cách nhóm lửa, vo gạo và nấu cơm. Vừa bơi vừa nấu cơm rất khó đòi hỏi sự khéo léo của trai làng Chuông. Đánh cờ người hội làng Chuông Đánh cờ người được tổ chức ở trước cửa đình trên khu đất họp chợ Chuông. Đánh cờ người thể hiện tài trí của người làng Chuông. Hội làng Chuông là nét văn hóa đặc sắc của người dân nơi đây. Hội làng Chuông có sức sống lâu bền trong tâm trí mỗi người dân.

Du khách tham dự hội làng Chuông vừa được lễ Phật cầu may, vừa được vãn cảnh chợ Chông. Hội làng Chuông mạng đậm bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, có sức sống bên bỉ trong tâm thức người dân. Những nét đặc sắc trong hội làng Chuông được gói gọn trong câu ca dao: "Mồng mười đi chợ Chuông chơi. Xem đánh cờ người xem thổi cơm thi".

Thi nấu cơm thi hội làng Chuông

Đặc sắc nhất tại hội làng Chuông là phần thi thổi cơm thi. Thổi cơm thi dành cho cả nam và nữ. Những thôn nữ làng chuông có 23 phút để vo gạo, lấy lửa từ bùi nhùi rơm, nhóm củi và nấu cơm. Mỗi đội thi gồm 3 người, một người gánh, hai người còn lại cầm củi đi theo cho tới khi cơm chín. Các cô gái làng chuông được đứng trong vòng tròn vôi đường kính 1,5m, trong đó có 1 đứa trẻ 6-7 tháng tuổi không phai con của họ và một con cóc. Thôn nữ phải vừa náu cơm, nhóm bếp, trông trẻ không khóc và trtoong cho cóc không nhảy ra khỏi vạch vôi. Theo những bô lão địa phương, vòng tròn vôi tượng trưng cho trời, con cóc là cậu ông trời tượng trưng cho mưa. Giữ cóc trong vòng tròn có ý nghĩa cầu mưa, đảm bảo nguồn nước sinh hoạt và sản xuất. Trước đây, thôn nữ dự thi phải ăn chay và khi nấu không được nói cười. Cơm của đội nào chín, dẻo thơm sẽ được làng thưởng.

Tục nấu cơm thi cho nam giới được tổ chức ở đầm cạnh chợ. Những trai tráng trong làng dự thi phải ngồi trên thuyền nan câu, trong lòng thuyền chứa sẵn gọa, nước, củi... Khi bắt đầu, các chàng trai bơi tay từ bờ này sang bờ kia. Dù tay ướt cũng phải tìm cách nhóm lửa, vo gạo và nấu cơm. Vừa bơi vừa nấu cơm rất khó đòi hỏi sự khéo léo của trai làng Chuông.

Đánh cờ người hội làng Chuông

Đánh cờ người được tổ chức ở trước cửa đình trên khu đất họp chợ Chuông. Đánh cờ người thể hiện tài trí của người làng Chuông.

Hội làng Chuông là nét văn hóa đặc sắc của người dân nơi đây. Hội làng Chuông có sức sống lâu bền trong tâm trí mỗi người dân.

Related Figures

Hội chùa Tam Huyền

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 6/3 Âm lịch Hội chùa Tam Huyền diễn ra ngày 9/1 và 6/3 âm lịch hàng năm, chính hội là 6/3. Hội chùa Tam Huyền thu hút đông đảo người dân và du khách thập phương về chùa dâng hương, vãn cảnh và tham gia nhiều hoạt động sôi nổi. Chùa Tam Huyền tọa lạc tại phường Hạ Đình, quận Thanh Xuân, Hà Nội thuộc quần thể di tích chùa Láng (thờ thiền sư Từ Đạo Hạnh). Chùa Tam Huyền ghi đậm dấu ấn Phật giáo triều Lý dưới thời sư Vạn Hạnh - thời kỳ hưng thịnh của Phật giáo Việt Nam. Chùa Tam Huyền thuộc quần thể di tích chùa Láng Chùa Tam Huyền có tên chữ là Sùng Phúc tự. Chùa Tam Huyền gắn với truyền thuyết về nhân vật lịch sử là Tăng quan Đô án Từ Vinh, cha của thiền sư Từ Đạo Hạnh. Tương truyền Từ Vinh dùng tà thuật làm mất lòng Diên Thành Hầu (con vua Lý Thánh Tông). Diên Thành Hầu nhờ Đại Điên dùng pháp thuật giết chết Từ Vinh, chặt xác làm 3 phần đầu, thân và 2 chân ném xuống sông Tô Lịch. Đầu Từ Vinh trôi dạt vào địa phận thôn Nhân Mục Cựu, hai chân trôi về thôn Kim Giang, phần thân trôi về Pháp Vân. Thôn Mọc Cự là nơi có lăng ngày Từ Vinh (còn gọi là am Hoàng Long), nay nằm trong khu vực chùa Tam Huyền. Lễ hội chùa Tam Huyền diễn ra trang trọng Chùa Tam Huyền được Bộ Văn hóa và Thông tin xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật năm 1996. Tam quan chùa Tam Huyền đồ sộ nằm sát mặt phố, nhìn về hướng đông nam. Chùa chính gồm tòa tiền đường 5 gian 8 mái, kết cấu theo hình chuôi vò. Chùa Tam huyền nơi diễn ra lễ hội Hội chùa Tam Huyền tổ chức sớm hơn một ngày trước hội chùa Làng và chùa Thấy. Trong lễ hội có lễ rước kiệu ngài Từ Vinh, thi nấu cơm, vật tay, chọi gà...

Hội chùa Tam Huyền diễn ra ngày 9/1 và 6/3 âm lịch hàng năm, chính hội là 6/3. Hội chùa Tam Huyền thu hút đông đảo người dân và du khách thập phương về chùa dâng hương, vãn cảnh và tham gia nhiều hoạt động sôi nổi.

giáo triều Lý dưới thời sư Vạn Hạnh - thời kỳ hưng thịnh của Phật giáo Việt Nam.

Chùa Tam Huyền thuộc quần thể di tích chùa Láng

Chùa Tam Huyền có tên chữ là Sùng Phúc tự. Chùa Tam Huyền gắn với truyền thuyết về nhân vật lịch sử là Tăng quan Đô án Từ Vinh, cha của thiền sư Từ Đạo Hạnh. Tương truyền Từ Vinh dùng tà thuật làm mất lòng Diên Thành Hầu (con vua Lý Thánh Tông). Diên Thành Hầu nhờ Đại Điên dùng pháp thuật giết chết Từ Vinh, chặt xác làm 3 phần đầu, thân và 2 chân ném xuống sông Tô Lịch. Đầu Từ Vinh trôi dạt vào địa phận thôn Nhân Mục Cựu, hai chân trôi về thôn Kim Giang, phần thân trôi về Pháp Vân. Thôn Mọc Cự là nơi có lăng ngày Từ Vinh (còn gọi là am Hoàng Long), nay nằm trong khu vực chùa Tam Huyền.

Chùa Tam Huyền có tên chữ là Sùng Phúc tự. Chùa Tam Huyền gắn với truyền thuyết về nhân vật lịch sử là Tăng quan Đô án Từ Vinh, cha của thiền sư Từ Đạo Hạnh. Tương truyền Từ Vinh dùng tà thuật làm mất lòng Diên Thành Hầu (con vua Lý Thánh Tông). Diên Thành Hầu nhờ Đại Điên dùng pháp thuật giết chết Từ Vinh, chặt xác làm 3 phần đầu, thân và 2 chân ném xuống sông Tô Lịch. Đầu Từ Vinh trôi dạt vào địa phận thôn Nhân Mục Cựu, hai chân trôi về thôn Kim Giang, phần thân trôi về Pháp Vân. Thôn Mọc Cự là nơi có lăng ngày Từ Vinh (còn gọi là am Hoàng Long), nay nằm trong khu vực chùa Tam Huyền.

Lễ hội chùa Tam Huyền diễn ra trang trọng Chùa Tam Huyền được Bộ Văn hóa và Thông tin xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật năm 1996. Tam quan chùa Tam Huyền đồ sộ nằm sát mặt phố, nhìn về hướng đông nam. Chùa chính gồm tòa tiền đường 5 gian 8 mái, kết cấu theo hình chuôi vò. Chùa Tam huyền nơi diễn ra lễ hội Hội chùa Tam Huyền tổ chức sớm hơn một ngày trước hội chùa Làng và chùa Thấy. Trong lễ hội có lễ rước kiệu ngài Từ Vinh, thi nấu cơm, vật tay, chọi gà...

Lễ hội chùa Tam Huyền diễn ra trang trọng

Chùa Tam Huyền được Bộ Văn hóa và Thông tin xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật năm 1996. Tam quan chùa Tam Huyền đồ sộ nằm sát mặt phố, nhìn về hướng đông nam. Chùa chính gồm tòa tiền đường 5 gian 8 mái, kết cấu theo hình chuôi vò.

Chùa Tam huyền nơi diễn ra lễ hội

Hội chùa Tam Huyền tổ chức sớm hơn một ngày trước hội chùa Làng và chùa Thấy. Trong lễ hội có lễ rước kiệu ngài Từ Vinh, thi nấu cơm, vật tay, chọi gà...

Related Figures

Hội chùa Bối Khê

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 11/1 Âm lịch Hội chùa Bối Khê được tổ chức ngày 11 tháng Giêng âm lịch hàng năm tại thôn Song Khê, xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai, Hà Nội. Hội chùa Bối Khê là nơi kết nối cộng đồng, thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn. Ngày chùa Bối Khê khai hội, đông đảo du khách thập phương và nhân dân đến chùa dâng hương lễ Phật, lễ Thánh và tham gia những trò chơi hấp dẫn. Chùa Bối Khê nơi diễn ra lễ hội Chùa Bối Khê là ngôi chùa cổ, một trong những ngôi chùa đẹp nhất Việt Nam. Chùa Bối Khê xây dưng năm 1338 thời nhà Trần dưới sự trị vì của vua Trần Hiến Tông. Sau đó, chùa Bối Khê được trùng tu và mở rộng 8 lần dười các triều Lê Sơ, Mạc, Lê Trung Hưng, Nguyễn. Kiến trúc và hiện vật trong chùa đều vương dấu tích của những triều đại này. Chùa Bối Khê được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia năm 1979. Tưng bừng lễ rước kiệu thánh trong lễ hội chùa Bối Khê Lễ hội chùa Bối Khê hội tụ đầy đủ những đặc điểm của lễ hội truyền thống Việt Nam. Lễ hội chùa Bối Khê cũng được tổ chức "xuân thu nhị kỳ" thời điểm nhàn rỗi nhất của nhà nông. Lễ hội chùa Bối Khê được coi là cái tết thứ 2 của người dân Song Khê. Lễ hội là dịp để người dân cầu cúng, xin tài lộc, vui chơi giải trí, giao lưu, đoàn kết tình làng nghĩa xóm. Lễ hội chùa Bối Khê được tổ chức theo hướng bảo lưu các yếu tố tích cực của lễ hội truyền thống, tránh lãng phí tiền của và công sức của Nhà nước va nhân dân. Chuông cổ trong chùa Bối Khê Lễ hội truyền thống Bối Khê đã tồn tại qua hàng trăm năm lịch sử, là lễ hội đặc trưng tiêu biểu của nông thôn Việt Nam. Lễ hội truyền thống chùa Bối Khê là ngày hội lớn của người dân Song Khê và các xã lân cận. Trong phần hội có nhiều trò chơi dân gian như: cờ người, bắt vịt, đi cầu khỉ đập niêu, ném còn, chọi gà...

Chùa Bối Khê nơi diễn ra lễ hội Chùa Bối Khê là ngôi chùa cổ, một trong những ngôi chùa đẹp nhất Việt Nam. Chùa Bối Khê xây dưng năm 1338 thời nhà Trần dưới sự trị vì của vua Trần Hiến Tông. Sau đó, chùa Bối Khê được trùng tu và mở rộng 8 lần dười các triều Lê Sơ, Mạc, Lê Trung Hưng, Nguyễn. Kiến trúc và hiện vật trong chùa đều vương dấu tích của những triều đại này. Chùa Bối Khê được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia năm 1979. Tưng bừng lễ rước kiệu thánh trong lễ hội chùa Bối Khê Lễ hội chùa Bối Khê hội tụ đầy đủ những đặc điểm của lễ hội truyền thống Việt Nam. Lễ hội chùa Bối Khê cũng được tổ chức "xuân thu nhị kỳ" thời điểm nhàn rỗi nhất của nhà nông. Lễ hội chùa Bối Khê được coi là cái tết thứ 2 của người dân Song Khê. Lễ hội là dịp để người dân cầu cúng, xin tài lộc, vui chơi giải trí, giao lưu, đoàn kết tình làng nghĩa xóm. Lễ hội chùa Bối Khê được tổ chức theo hướng bảo lưu các yếu tố tích cực của lễ hội truyền thống, tránh lãng phí tiền của và công sức của Nhà nước va nhân dân. Chuông cổ trong chùa Bối Khê Lễ hội truyền thống Bối Khê đã tồn tại qua hàng trăm năm lịch sử, là lễ hội đặc trưng tiêu biểu của nông thôn Việt Nam. Lễ hội truyền thống chùa Bối Khê là ngày hội lớn của người dân Song Khê và các xã lân cận. Trong phần hội có nhiều trò chơi dân gian như: cờ người, bắt vịt, đi cầu khỉ đập niêu, ném còn, chọi gà...

Chùa Bối Khê là ngôi chùa cổ, một trong những ngôi chùa đẹp nhất Việt Nam. Chùa Bối Khê xây dưng năm 1338 thời nhà Trần dưới sự trị vì của vua Trần Hiến Tông. Sau đó, chùa Bối Khê được trùng tu và mở rộng 8 lần dười các triều Lê Sơ, Mạc, Lê Trung Hưng, Nguyễn. Kiến trúc và hiện vật trong chùa đều vương dấu tích của những triều đại này. Chùa Bối Khê được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia năm 1979.

Tưng bừng lễ rước kiệu thánh trong lễ hội chùa Bối Khê

Lễ hội chùa Bối Khê hội tụ đầy đủ những đặc điểm của lễ hội truyền thống Việt Nam. Lễ hội chùa Bối Khê cũng được tổ chức "xuân thu nhị kỳ" thời điểm nhàn rỗi nhất của nhà nông. Lễ hội chùa Bối Khê được coi là cái tết thứ 2 của người dân Song Khê. Lễ hội là dịp để người dân cầu cúng, xin tài lộc, vui chơi giải trí, giao lưu, đoàn kết tình làng nghĩa xóm. Lễ hội chùa Bối Khê được tổ chức theo hướng bảo lưu các yếu tố tích cực của lễ hội truyền thống, tránh lãng phí tiền của và công sức của Nhà nước va nhân dân.

Chuông cổ trong chùa Bối Khê

Lễ hội truyền thống Bối Khê đã tồn tại qua hàng trăm năm lịch sử, là lễ hội đặc trưng tiêu biểu của nông thôn Việt Nam. Lễ hội truyền thống chùa Bối Khê là ngày hội lớn của người dân Song Khê và các xã lân cận. Trong phần hội có nhiều trò chơi dân gian như: cờ người, bắt vịt, đi cầu khỉ đập niêu, ném còn, chọi gà...

Related Figures

Hội chùa Đậu

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 8/1- 10/1 Âm lịch Hội chùa Đậu tổ chức ngày 8-10 tháng Giêng âm lịch hàng năm tại xã Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín, Hà Nội. Hội chùa Đậu mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam. Chùa Đậu là ngôi chùa cổ gần 2000 năm tuổi. Theo truyền thuyết chùa được xây dựng từ thời Bắc thuộc lần thứ 2 (năm 602-939), nhưng theo văn tự chùa Đậu được xây dựng thời nhà Lý. Chùa Đậu thờ bà Đậu hay nữ phần Pháp Vũ trong hệ thống Tứ Pháp gồm Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Điện, Pháp Lôi. Chùa Đậu là ngôi chùa cổ tại Hà nội Chùa Đậu có kiến trúc theo kiểu "nội công ngoại quốc". Tam quan chùa Đậu là gác chuông hai tầng, tám mái với các đầu đao cong vút. Những bộ phận bằng gỗ trong chùa được chạm khắc tinh xảo hình rồng, phượng...Tầng trên tam quan treo quả chuông đúc năm Cảnh Thịnh thứ 9. Cổng tam quan chùa Đậu Đi qua tam quan là khoảng sân rộng, hai bên xây dựng tòa giải vũ là nơi nghỉ ngơi cho khách hành hương. Tòa tiền đường phía trước nối liền với hai dãy hành lang hay bên cùng với nhà thờ tổ phía sau tạo thành khung vuông bao bọc tòa thiêu hương và điện bà Bà Đậu. Bên trong chùa Đậu còn lưu giữ nhiều bia đá và những tấm biển sơn son thiếp vàng. Chùa Đậu nơi diễn ra lễ hội Đặc biệt, chùa Đâu là nơi lưu giữ tượng táng của hai vị sư Vũ Khắc Trường và Vũ Khắc Minh. Am thờ nơi nhà sư Vũ Khắc Minh nhập thất vẫn còn khá nguyên vẹn. Tương truyền, 2 vị thiền sư Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường sống vào giữa thế kỷ XVII thay nhau trụ trì chùa Đậu. Theo di chúc của 2 vị thiền sư: "Ta vào nhập thất 100 ngày tụng kinh niệm Phật, sau đó thân xác giữ nguyên". Qua 100 ngày, các Phật tử mở cửa am thấy thiền sư vẫn ngồi tư thế nhập thiền, có mùi thơm. Thi hài "Toàn thân xá lợi" đốt không cháy, ngâm trong nước không tan, không bị bào mòn của 2 vị thiền sư là hiện vật lịch sử quý hiếm của nước ta. Chùa Đậu linh thiêng và trang nghiêm xứng đáng là điểm đến Tâm linh - Văn hóa - Du lịch ở Hà Nội

Hội chùa Đậu tổ chức ngày 8-10 tháng Giêng âm lịch hàng năm tại xã Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín, Hà Nội. Hội chùa Đậu mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam.

Chùa Đậu là ngôi chùa cổ gần 2000 năm tuổi. Theo truyền thuyết chùa được xây dựng từ thời Bắc thuộc lần thứ 2 (năm 602-939), nhưng theo văn tự chùa Đậu được xây dựng thời nhà Lý. Chùa Đậu thờ bà Đậu hay nữ phần Pháp Vũ trong hệ thống Tứ Pháp gồm Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Điện, Pháp Lôi.

Chùa Đậu là ngôi chùa cổ tại Hà nội

Chùa Đậu có kiến trúc theo kiểu "nội công ngoại quốc". Tam quan chùa Đậu là gác chuông hai tầng, tám mái với các đầu đao cong vút. Những bộ phận bằng gỗ trong chùa được chạm khắc tinh xảo hình rồng, phượng...Tầng trên tam quan treo quả chuông đúc năm Cảnh Thịnh thứ 9.

Cổng tam quan chùa Đậu

Đi qua tam quan là khoảng sân rộng, hai bên xây dựng tòa giải vũ là nơi nghỉ ngơi cho khách hành hương.

Tòa tiền đường phía trước nối liền với hai dãy hành lang hay bên cùng với nhà thờ tổ phía sau tạo thành khung vuông bao bọc tòa thiêu hương và điện bà Bà Đậu. Bên trong chùa Đậu còn lưu giữ nhiều bia đá và những tấm biển sơn son thiếp vàng.

Chùa Đậu nơi diễn ra lễ hội

Đặc biệt, chùa Đâu là nơi lưu giữ tượng táng của hai vị sư Vũ Khắc Trường và Vũ Khắc Minh. Am thờ nơi nhà sư Vũ Khắc Minh nhập thất vẫn còn khá nguyên vẹn. Tương truyền, 2 vị thiền sư Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường sống vào giữa thế kỷ XVII thay nhau trụ trì chùa Đậu. Theo di chúc của 2 vị thiền sư: "Ta vào nhập thất 100 ngày tụng kinh niệm Phật, sau đó thân xác giữ nguyên". Qua 100 ngày, các Phật tử mở cửa am thấy thiền sư vẫn ngồi tư thế nhập thiền, có mùi thơm. Thi hài "Toàn thân xá lợi" đốt không cháy, ngâm trong nước không tan, không bị bào mòn của 2 vị thiền sư là hiện vật lịch sử quý hiếm của nước ta.

Chùa Đậu linh thiêng và trang nghiêm xứng đáng là điểm đến Tâm linh - Văn hóa - Du lịch ở Hà Nội

Related Figures

Hội gieo cầu Viên Nội

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 8/1 Âm lịch Hội gieo cầu tổ chức ngày 8/1 âm lịch hàng năm tại thôn Viên Nội, xã Vân Nội, huyện Đông Anh, Hà Nội. Viên Nội tổ chức hội gieo cầu đầu năm, cầu mong mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, mùa màng tươi tốt. Hội gieo cầu Viên Nội cầu năm mới đầu năm Viên Nội thờ Thành Hoàng là hai vị đại tướng quân thời Hai Bà Trưng là Tống Vĩnh và Uông Tá (phần mộ hai danh tướng vẫn còn phía sau làng) cùng Diệu La công chúa, những người có công đánh đuổi giặc ngoại xâm. Sau một thời gian bị gián đoạn, Viên Nội mới tổ chức lại hội gieo cầu đầu năm. Rộn ràng lễ rước trong hội gieo cầu Viên Nội Sau một thời gian bị gián đoạn, Viên Nội mới tổ chức lại hội gieo cầu đầu năm. Tục gieo cầu thể hiện sự vui mừng khi tướng giặc bị quân ta bắt và chặt đầu ngay trên cánh đồng thôn Viên Nội ngày nay. Khác với những lễ cướp cầu khác, hội gieo cầu Viên Nội chỉ dừng lại khi "Thần cầu trở lại đình", khi đó hôi mới thực sự chấm dứt. Khi Ông cầu trở về đình an toàn báo hiệu năm mới may mắn, thịnh vượng. Hội gieo cầu Viên Nội không có sự chiếm hữu mà chỉ có sự cạnh tranh lành mạnh để đưa được Ông cầu vào đình. Dù là cạnh tranh lành mạnh nhưng cũng có lúc khiến Ban tổ chức và người xem toát mồ hôi. Có năm, Ông cầu đi một mạch đến tận 12h đêm mới có người mang ra đình báo tin. Câu cá lộc trong hội gieo cầu Viên Nội Lễ rước Ông Cầu ra đình diễn ra trong không khí nhộn nhịp, tiếng tù và vang lên như tiếng vọng hào khí ngàn năm. Sáng ngày khai hội, ông sãi được cử đi "câu cá lộc" đầu năm. Số tiền ông câu được sẽ được nhập vào quỹ đèn hương cho đình. Trong hội gieo cầu Viên Nội có những tiết mục quan họ phục vụ dân làng đi xem hội.

Hội gieo cầu Viên Nội cầu năm mới đầu năm Viên Nội thờ Thành Hoàng là hai vị đại tướng quân thời Hai Bà Trưng là Tống Vĩnh và Uông Tá (phần mộ hai danh tướng vẫn còn phía sau làng) cùng Diệu La công chúa, những người có công đánh đuổi giặc ngoại xâm. Sau một thời gian bị gián đoạn, Viên Nội mới tổ chức lại hội gieo cầu đầu năm. Rộn ràng lễ rước trong hội gieo cầu Viên Nội Sau một thời gian bị gián đoạn, Viên Nội mới tổ chức lại hội gieo cầu đầu năm. Tục gieo cầu thể hiện sự vui mừng khi tướng giặc bị quân ta bắt và chặt đầu ngay trên cánh đồng thôn Viên Nội ngày nay. Khác với những lễ cướp cầu khác, hội gieo cầu Viên Nội chỉ dừng lại khi "Thần cầu trở lại đình", khi đó hôi mới thực sự chấm dứt. Khi Ông cầu trở về đình an toàn báo hiệu năm mới may mắn, thịnh vượng. Hội gieo cầu Viên Nội không có sự chiếm hữu mà chỉ có sự cạnh tranh lành mạnh để đưa được Ông cầu vào đình. Dù là cạnh tranh lành mạnh nhưng cũng có lúc khiến Ban tổ chức và người xem toát mồ hôi. Có năm, Ông cầu đi một mạch đến tận 12h đêm mới có người mang ra đình báo tin. Câu cá lộc trong hội gieo cầu Viên Nội Lễ rước Ông Cầu ra đình diễn ra trong không khí nhộn nhịp, tiếng tù và vang lên như tiếng vọng hào khí ngàn năm. Sáng ngày khai hội, ông sãi được cử đi "câu cá lộc" đầu năm. Số tiền ông câu được sẽ được nhập vào quỹ đèn hương cho đình. Trong hội gieo cầu Viên Nội có những tiết mục quan họ phục vụ dân làng đi xem hội.

Viên Nội thờ Thành Hoàng là hai vị đại tướng quân thời Hai Bà Trưng là Tống Vĩnh và Uông Tá (phần mộ hai danh tướng vẫn còn phía sau làng) cùng Diệu La công chúa, những người có công đánh đuổi giặc ngoại xâm. Sau một thời gian bị gián đoạn, Viên Nội mới tổ chức lại hội gieo cầu đầu năm. Rộn ràng lễ rước trong hội gieo cầu Viên Nội Sau một thời gian bị gián đoạn, Viên Nội mới tổ chức lại hội gieo cầu đầu năm. Tục gieo cầu thể hiện sự vui mừng khi tướng giặc bị quân ta bắt và chặt đầu ngay trên cánh đồng thôn Viên Nội ngày nay. Khác với những lễ cướp cầu khác, hội gieo cầu Viên Nội chỉ dừng lại khi "Thần cầu trở lại đình", khi đó hôi mới thực sự chấm dứt. Khi Ông cầu trở về đình an toàn báo hiệu năm mới may mắn, thịnh vượng. Hội gieo cầu Viên Nội không có sự chiếm hữu mà chỉ có sự cạnh tranh lành mạnh để đưa được Ông cầu vào đình. Dù là cạnh tranh lành mạnh nhưng cũng có lúc khiến Ban tổ chức và người xem toát mồ hôi. Có năm, Ông cầu đi một mạch đến tận 12h đêm mới có người mang ra đình báo tin. Câu cá lộc trong hội gieo cầu Viên Nội Lễ rước Ông Cầu ra đình diễn ra trong không khí nhộn nhịp, tiếng tù và vang lên như tiếng vọng hào khí ngàn năm. Sáng ngày khai hội, ông sãi được cử đi "câu cá lộc" đầu năm. Số tiền ông câu được sẽ được nhập vào quỹ đèn hương cho đình. Trong hội gieo cầu Viên Nội có những tiết mục quan họ phục vụ dân làng đi xem hội.

Viên Nội thờ Thành Hoàng là hai vị đại tướng quân thời Hai Bà Trưng là Tống Vĩnh và Uông Tá (phần mộ hai danh tướng vẫn còn phía sau làng) cùng Diệu La công chúa, những người có công đánh đuổi giặc ngoại xâm.

Sau một thời gian bị gián đoạn, Viên Nội mới tổ chức lại hội gieo cầu đầu năm.

Rộn ràng lễ rước trong hội gieo cầu Viên Nội

Sau một thời gian bị gián đoạn, Viên Nội mới tổ chức lại hội gieo cầu đầu năm. Tục gieo cầu thể hiện sự vui mừng khi tướng giặc bị quân ta bắt và chặt đầu ngay trên cánh đồng thôn Viên Nội ngày nay. Khác với những lễ cướp cầu khác, hội gieo cầu Viên Nội chỉ dừng lại khi "Thần cầu trở lại đình", khi đó hôi mới thực sự chấm dứt. Khi Ông cầu trở về đình an toàn báo hiệu năm mới may mắn, thịnh vượng. Hội gieo cầu Viên Nội không có sự chiếm hữu mà chỉ có sự cạnh tranh lành mạnh để đưa được Ông cầu vào đình. Dù là cạnh tranh lành mạnh nhưng cũng có lúc khiến Ban tổ chức và người xem toát mồ hôi.

Có năm, Ông cầu đi một mạch đến tận 12h đêm mới có người mang ra đình báo tin.

Câu cá lộc trong hội gieo cầu Viên Nội

Lễ rước Ông Cầu ra đình diễn ra trong không khí nhộn nhịp, tiếng tù và vang lên như tiếng vọng hào khí ngàn năm. Sáng ngày khai hội, ông sãi được cử đi "câu cá lộc" đầu năm. Số tiền ông câu được sẽ được nhập vào quỹ đèn hương cho đình. Trong hội gieo cầu Viên Nội có những tiết mục quan họ phục vụ dân làng đi xem hội.

Related Figures

Hội làng Thượng Cát

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/3- 12/3 Âm lịch Hội làng Thượng Cát diễn ra ngày 10-12/3 âm lịch hàng năm là nét đẹp văn hóa của người dân phường Thượng Cát, Bắc Từ Liêm, Hà Nội. Hội làng Thượng Cát để tưởng nhớ ơn đức tổ tiên. Hội làng Thượng Cát diễn ra trang trọng Hội làng Thượng Cát có từ bao giờ không ai biết chính xác. Trải qua bao biến cố, thăng trầm lịch sử nhưng người dân Thương Cát chưa bao giờ lãng quên hội truyền thống của quê hương. Người dân luôn ý thức việc bảo tồn, lưu giữ giá trị văn hóa tốt đẹp để không bị mai một. Từ năm 1993, đình Thượng Cát được công nhận là Di tích lịch sử cấp Quốc gia, hội làng Thượng Cát càng được mở rộng hơn. Cổng làng Thượng Cát nơi diễn ra lễ hội Hội làng Thượng Cát là dịp để tưởng nhớ, ca ngợi công đức của Thành Hoàng làng Quách tướng quân cùng nhị vị công chúa họ Đinh. Hội làng Thượng Cát gồm hai phần: phần lễ với những hình thức tế lễ long trọng và uy nghiêm; phần hội bao gồm những trò chơi dân gian mang đậm bản sắc dân tộc. Từ sáng ngày 10/3, dâng làng Thượng Cát cùng các đội tế, đội sinh tiền, đội trống, đội cờ, đội dâng hương... quy tụ đông đủ trước cổng đình chuẩn bị cho buổi tế lễ. Lễ tế được tổ chức theo nghi thức truyền thống, dâng hương hoa và sản vật quý của địa phương lên Thành Hoàng Quách tướng công Đô chiêu thảo sứ cùng hai vị công chúa họ Đinh có công giúp Hai Bà Trưng đánh tan quân Đông Hán xâm lược. Đua thuyền rồng là nét đặc sắc của hội làng Thượng Cát Sau phần lễ tế, người dân Thượng Cát bước vào hội với những hoạt động sôi nổi như hội thi bơi thuyền truyền thống, thổi cơm thi, chơi cờ người, kéo co, chọi gà... Chương trình văn nghệ với những tiết mục đặc sắc cây nhà lá vườn thu hút đông đảo người dân. Hội bơi thuyền rồng Thượng Cát là hoạt động truyền thống "bất di bất dịch" trong nhiều năm qua. Dân làng Thượng Cát sống chung với nước lũ sông Hồng nên để tồn tại và phát triển việc bơi lội, bơi thuyền... đã song hành cùng lịch sử. Hội đua thuyền rồng Thượng Cát diễn ra trong cả 3 ngày hội. Mỗi thuyền đua có 16 người, trong đó có 1 người cầm chịch, là tinh thần của đội, vừa điều khiển hướng bơi vừa khích lệ tinh thần đồng đội. Cùng với thi bơi thuyền, hội thị nấu cơm trên sân đình là hoạt động ý nghĩa thể hiện sự khéo léo của người dân Thượng Cát. Những thí sinh tham gia thi nấu cơm phải chuẩn bị đầy đủ vật dụng cần thiết: nồi, dây, đòn gánh, đuốc... Chủ tế vào đình xin lửa sau đó mang ra sân. Mỗi nhóm được dùng ngọn đuốc nấu cơm đi vòng quanh sân theo tiếng trống giục. Sau khi cơm chín được mang vào chấm điểm. Nồi cơm đạt giải nhất được mang vào trong đình lễ Thánh. Hội làng Thượng Cát quy tụ rất nhiều hoạt động. Du khách tham dự lễ hội Thượng Cát không chỉ được chững kiến không khí trang nghiêm của buổi lễ mà còn được tận hương sự sôi nổi, náo nhiệt của phần hội. Lễ hội cũng là dịp giáo dục tình yêu quê hương, đất nước, tinh thần đoàn kết và ý thức bảo vệ giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.

Hội làng Thượng Cát diễn ra trang trọng Hội làng Thượng Cát có từ bao giờ không ai biết chính xác. Trải qua bao biến cố, thăng trầm lịch sử nhưng người dân Thương Cát chưa bao giờ lãng quên hội truyền thống của quê hương. Người dân luôn ý thức việc bảo tồn, lưu giữ giá trị văn hóa tốt đẹp để không bị mai một. Từ năm 1993, đình Thượng Cát được công nhận là Di tích lịch sử cấp Quốc gia, hội làng Thượng Cát càng được mở rộng hơn. Cổng làng Thượng Cát nơi diễn ra lễ hội Hội làng Thượng Cát là dịp để tưởng nhớ, ca ngợi công đức của Thành Hoàng làng Quách tướng quân cùng nhị vị công chúa họ Đinh. Hội làng Thượng Cát gồm hai phần: phần lễ với những hình thức tế lễ long trọng và uy nghiêm; phần hội bao gồm những trò chơi dân gian mang đậm bản sắc dân tộc. Từ sáng ngày 10/3, dâng làng Thượng Cát cùng các đội tế, đội sinh tiền, đội trống, đội cờ, đội dâng hương... quy tụ đông đủ trước cổng đình chuẩn bị cho buổi tế lễ. Lễ tế được tổ chức theo nghi thức truyền thống, dâng hương hoa và sản vật quý của địa phương lên Thành Hoàng Quách tướng công Đô chiêu thảo sứ cùng hai vị công chúa họ Đinh có công giúp Hai Bà Trưng đánh tan quân Đông Hán xâm lược. Đua thuyền rồng là nét đặc sắc của hội làng Thượng Cát Sau phần lễ tế, người dân Thượng Cát bước vào hội với những hoạt động sôi nổi như hội thi bơi thuyền truyền thống, thổi cơm thi, chơi cờ người, kéo co, chọi gà... Chương trình văn nghệ với những tiết mục đặc sắc cây nhà lá vườn thu hút đông đảo người dân. Hội bơi thuyền rồng Thượng Cát là hoạt động truyền thống "bất di bất dịch" trong nhiều năm qua. Dân làng Thượng Cát sống chung với nước lũ sông Hồng nên để tồn tại và phát triển việc bơi lội, bơi thuyền... đã song hành cùng lịch sử. Hội đua thuyền rồng Thượng Cát diễn ra trong cả 3 ngày hội. Mỗi thuyền đua có 16 người, trong đó có 1 người cầm chịch, là tinh thần của đội, vừa điều khiển hướng bơi vừa khích lệ tinh thần đồng đội. Cùng với thi bơi thuyền, hội thị nấu cơm trên sân đình là hoạt động ý nghĩa thể hiện sự khéo léo của người dân Thượng Cát. Những thí sinh tham gia thi nấu cơm phải chuẩn bị đầy đủ vật dụng cần thiết: nồi, dây, đòn gánh, đuốc... Chủ tế vào đình xin lửa sau đó mang ra sân. Mỗi nhóm được dùng ngọn đuốc nấu cơm đi vòng quanh sân theo tiếng trống giục. Sau khi cơm chín được mang vào chấm điểm. Nồi cơm đạt giải nhất được mang vào trong đình lễ Thánh. Hội làng Thượng Cát quy tụ rất nhiều hoạt động. Du khách tham dự lễ hội Thượng Cát không chỉ được chững kiến không khí trang nghiêm của buổi lễ mà còn được tận hương sự sôi nổi, náo nhiệt của phần hội. Lễ hội cũng là dịp giáo dục tình yêu quê hương, đất nước, tinh thần đoàn kết và ý thức bảo vệ giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.

Hội làng Thượng Cát có từ bao giờ không ai biết chính xác. Trải qua bao biến cố, thăng trầm lịch sử nhưng người dân Thương Cát chưa bao giờ lãng quên hội truyền thống của quê hương. Người dân luôn ý thức việc bảo tồn, lưu giữ giá trị văn hóa tốt đẹp để không bị mai một. Từ năm 1993, đình Thượng Cát được công nhận là Di tích lịch sử cấp Quốc gia, hội làng Thượng Cát càng được mở rộng hơn.

Cổng làng Thượng Cát nơi diễn ra lễ hội

Hội làng Thượng Cát là dịp để tưởng nhớ, ca ngợi công đức của Thành Hoàng làng Quách tướng quân cùng nhị vị công chúa họ Đinh. Hội làng Thượng Cát gồm hai phần: phần lễ với những hình thức tế lễ long trọng và uy nghiêm; phần hội bao gồm những trò chơi dân gian mang đậm bản sắc dân tộc.

Từ sáng ngày 10/3, dâng làng Thượng Cát cùng các đội tế, đội sinh tiền, đội trống, đội cờ, đội dâng hương... quy tụ đông đủ trước cổng đình chuẩn bị cho buổi tế lễ. Lễ tế được tổ chức theo nghi thức truyền thống, dâng hương hoa và sản vật quý của địa phương lên Thành Hoàng Quách tướng công Đô chiêu thảo sứ cùng hai vị công chúa họ Đinh có công giúp Hai Bà Trưng đánh tan quân Đông Hán xâm lược.

Đua thuyền rồng là nét đặc sắc của hội làng Thượng Cát

Sau phần lễ tế, người dân Thượng Cát bước vào hội với những hoạt động sôi nổi như hội thi bơi thuyền truyền thống, thổi cơm thi, chơi cờ người, kéo co, chọi gà... Chương trình văn nghệ với những tiết mục đặc sắc cây nhà lá vườn thu hút đông đảo người dân.

Hội bơi thuyền rồng Thượng Cát là hoạt động truyền thống "bất di bất dịch" trong nhiều năm qua. Dân làng Thượng Cát sống chung với nước lũ sông Hồng nên để tồn tại và phát triển việc bơi lội, bơi thuyền... đã song hành cùng lịch sử. Hội đua thuyền rồng Thượng Cát diễn ra trong cả 3 ngày hội. Mỗi thuyền đua có 16 người, trong đó có 1 người cầm chịch, là tinh thần của đội, vừa điều khiển hướng bơi vừa khích lệ tinh thần đồng đội.

Cùng với thi bơi thuyền, hội thị nấu cơm trên sân đình là hoạt động ý nghĩa thể hiện sự khéo léo của người dân Thượng Cát. Những thí sinh tham gia thi nấu cơm phải chuẩn bị đầy đủ vật dụng cần thiết: nồi, dây, đòn gánh, đuốc... Chủ tế vào đình xin lửa sau đó mang ra sân. Mỗi nhóm được dùng ngọn đuốc nấu cơm đi vòng quanh sân theo tiếng trống giục. Sau khi cơm chín được mang vào chấm điểm. Nồi cơm đạt giải nhất được mang vào trong đình lễ Thánh.

Hội làng Thượng Cát quy tụ rất nhiều hoạt động. Du khách tham dự lễ hội Thượng Cát không chỉ được chững kiến không khí trang nghiêm của buổi lễ mà còn được tận hương sự sôi nổi, náo nhiệt của phần hội. Lễ hội cũng là dịp giáo dục tình yêu quê hương, đất nước, tinh thần đoàn kết và ý thức bảo vệ giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.

Related Figures

Hội đền Thanh Nhàn

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 6/1 Âm lịch Hội đền Thanh Nhàn được tổ chức hàng năm ngày 6/1 âm lịch tại thôn Thanh Nhàn, xã Thanh Xuân, huyện Sóc Sơn, Hà Nội nhằm tưởng nhớ ngày Đức Thánh qua đây nghỉ lại. Đền Thanh Nhàn được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 2/3/1990. Đền Thanh Nhàn nơi diễn ra lễ hội Đền Thanh Nhàn là nơi dừng chân nghỉ của Phù Đổng Thiên Vương Thánh Gióng trước khi Ngài hóa tại núi Linh Sóc nay thuộc xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn. Đền Thanh Nhàn nằm sát quốc lộ 2, cách trung tâm Hà Nội khoảng 30km. Đền nằm trên một quả đồi biệt lập với khu dân cư. Điều này khiến không gian đền Thanh Nhàn thanh tịnh và yên tĩnh lạ thường. Đền Thanh Nhàn thờ Phù Đổng Thiên Vương Đền Thanh Nhàn gắn liền với truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc. Đền Thanh Nhàn là 1 trong 12 đền trên cả nước thờ Phù Đổng Thiên Vương. Thời kỳ thực dân Pháp chiếm đóng, đền Thanh Nhàn bị phá hủy nặng nề, chỉ còn lại phần hậu cung. Sau đó, đền Thanh Nhàn được người dân công đức, sửa sang lại. Trong suốt cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ, khắp vùng bị bom đạn đánh phá tan hoang nhưng đền Thanh Nhàn không bị ảnh hưởng gì. Thậm chí, 2 quả bom B52 đã rơi xuống nhưng cũng không nổ. Nhiều người đồn đại, đền Thanh Nhàn linh thiêng nên người Tàu giấu rất nhiều vào phía sau hậu cung nơi thờ Phù Đổng Thiên Vương mà không bị đào trộm. Đền Thanh Nhàn hiện nay vẫn còn lưu giữ được nhiều pho tượng quý giá đúc bằng đồng như đôi pho tượng Thánh Gióng, thần mã ngựa hồng và ngựa bạch, chuông đồng... Đông đảo người dân tham gia hội đền Thanh Nhàn Đền Thanh Nhàn còn có tên gọi là đền Tam Tổng vì có 3 tổng phục vụ lễ hội và thờ phụng. Đền Thanh Nhàn là ngôi đền cổ, có từ cuối thế kỷ XVI. Hội đền Thanh Nhàn hàng năm thu hút đông đảo người dân và du khách thập phương.

Đền Thanh Nhàn nơi diễn ra lễ hội Đền Thanh Nhàn là nơi dừng chân nghỉ của Phù Đổng Thiên Vương Thánh Gióng trước khi Ngài hóa tại núi Linh Sóc nay thuộc xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn. Đền Thanh Nhàn nằm sát quốc lộ 2, cách trung tâm Hà Nội khoảng 30km. Đền nằm trên một quả đồi biệt lập với khu dân cư. Điều này khiến không gian đền Thanh Nhàn thanh tịnh và yên tĩnh lạ thường. Đền Thanh Nhàn thờ Phù Đổng Thiên Vương Đền Thanh Nhàn gắn liền với truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc. Đền Thanh Nhàn là 1 trong 12 đền trên cả nước thờ Phù Đổng Thiên Vương. Thời kỳ thực dân Pháp chiếm đóng, đền Thanh Nhàn bị phá hủy nặng nề, chỉ còn lại phần hậu cung. Sau đó, đền Thanh Nhàn được người dân công đức, sửa sang lại. Trong suốt cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ, khắp vùng bị bom đạn đánh phá tan hoang nhưng đền Thanh Nhàn không bị ảnh hưởng gì. Thậm chí, 2 quả bom B52 đã rơi xuống nhưng cũng không nổ. Nhiều người đồn đại, đền Thanh Nhàn linh thiêng nên người Tàu giấu rất nhiều vào phía sau hậu cung nơi thờ Phù Đổng Thiên Vương mà không bị đào trộm. Đền Thanh Nhàn hiện nay vẫn còn lưu giữ được nhiều pho tượng quý giá đúc bằng đồng như đôi pho tượng Thánh Gióng, thần mã ngựa hồng và ngựa bạch, chuông đồng... Đông đảo người dân tham gia hội đền Thanh Nhàn Đền Thanh Nhàn còn có tên gọi là đền Tam Tổng vì có 3 tổng phục vụ lễ hội và thờ phụng. Đền Thanh Nhàn là ngôi đền cổ, có từ cuối thế kỷ XVI. Hội đền Thanh Nhàn hàng năm thu hút đông đảo người dân và du khách thập phương.

Đền Thanh Nhàn là nơi dừng chân nghỉ của Phù Đổng Thiên Vương Thánh Gióng trước khi Ngài hóa tại núi Linh Sóc nay thuộc xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn. Đền Thanh Nhàn nằm sát quốc lộ 2, cách trung tâm Hà Nội khoảng 30km. Đền nằm trên một quả đồi biệt lập với khu dân cư. Điều này khiến không gian đền Thanh Nhàn thanh tịnh và yên tĩnh lạ thường.

Đền Thanh Nhàn thờ Phù Đổng Thiên Vương

Đền Thanh Nhàn gắn liền với truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc. Đền Thanh Nhàn là 1 trong 12 đền trên cả nước thờ Phù Đổng Thiên Vương. Thời kỳ thực dân Pháp chiếm đóng, đền Thanh Nhàn bị phá hủy nặng nề, chỉ còn lại phần hậu cung. Sau đó, đền Thanh Nhàn được người dân công đức, sửa sang lại. Trong suốt cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ, khắp vùng bị bom đạn đánh phá tan hoang nhưng đền Thanh Nhàn không bị ảnh hưởng gì. Thậm chí, 2 quả bom B52 đã rơi xuống nhưng cũng không nổ. Nhiều người đồn đại, đền Thanh Nhàn linh thiêng nên người Tàu giấu rất nhiều vào phía sau hậu cung nơi thờ Phù Đổng Thiên Vương mà không bị đào trộm.

Đền Thanh Nhàn hiện nay vẫn còn lưu giữ được nhiều pho tượng quý giá đúc bằng đồng như đôi pho tượng Thánh Gióng, thần mã ngựa hồng và ngựa bạch, chuông đồng...

Đông đảo người dân tham gia hội đền Thanh Nhàn

Đền Thanh Nhàn còn có tên gọi là đền Tam Tổng vì có 3 tổng phục vụ lễ hội và thờ phụng. Đền Thanh Nhàn là ngôi đền cổ, có từ cuối thế kỷ XVI. Hội đền Thanh Nhàn hàng năm thu hút đông đảo người dân và du khách thập phương.

Related Figures

Hội đền Thụy Khuê

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/2- 12/2 Âm lịch Hội đền Thụy Khuê diễn ra ngày 10-12/2 âm lịch hàng năm, chính hội ngày 10/2 để tưởng niệm Linh Lang đại vương và 6 vị bộ tướng. Đền Thụy Khuê nơi diễn ra lễ hội Đền Thụy Khuê vốn tên là đền Thụy Chương, là ngôi đền cổ tại Thụy Khuê, Tây Hồ, Hà Nội. Đền Thụy Khuê thờ Linh Lang đại vương và sáu bộ tướng. Trước đây, cổng đền Thụy Khuê hướng về phía tây thành Thăng Long. Vào năm 1608,1618, thời Lê hai hần tổ chức lễ cầu đảo xin mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an đều linh ứng. Từ đó cho lập biển "Hạ mã". Nhưng vì hướng đền trông vào đường thành gây nhiều bất tiện trong giao thông nên được đổi sang hướng bắc năm 1621. Người dân ở đây đào giếng Ngọc trước cửa đền phát hiện đôi voi đá nguyên khối liền xây bệ trước cổng đề thờ. Từ đó trở đi được gọi là đền Voi phục Thụy Chương để phân biệt với đền Voi phục Thủ Lệ. Tên gọi Thụy Chương tồn tại tới năm 1840 khi Thiệu Trị lên ngôi, kiêng tên húy của vua nên được đổi thành Thụy Khuê. Người dân dâng hương trong hội đền Thụy Khuê Hội đền Thụy Khuê được tổ chức theo quy mô hàng tổng theo câu ca vẫn còn lưu truyền: "Mồng mười Thánh hóa giờ thiêng. Mười hai tiệc húy hội đền vua ra". Hàng năm, ngày 10/2, dân làng Thụy Khuê sang Thủ Lệ làm lễ. Đường đi của đám rước từ Thụy Khuê sang Thủ Lệ khá xa nên có trạm nghỉ là miếu Trắng (nay đã bị phá bỏ để mở đường quốc lộ 32). Hội đền Thụy Khuê thu hút đông đảo người dân và du khách xem hội. Do chi phí tốn kém nên năm năm mới tổ chức hội lớn một lần. Đền Thụy Khuê là ngôi đền cổ của Hà Nội Nghi thức đoàn lễ gồm có: Cờ hội, tứ linh, cờ ngũ hành, bộ chấp kích, dàn bát âm, chiêng lớn, trống cái, bốn cô gái múa đánh bồng, hương án. Theo sau là kiệu bát cống do 12 chàng trai cởi trần, đóng khố khiêng. Đến đền Thủ Lệ làm lễ cáo yết. Các cụ ở đền Thụy Khuê quay trở về đền làm lễ bao sái đồ thờ, chuẩn bị đón đoàn Thủ Lệ rước sang. Ngày 12/2, đoàn rước khởi hành từ Thủ Lệ sang Thụy Khuê và cũng thực hiện như làng Thụy Khuê. Ngoài lễ tế và rước, hội đền Thụy Khuê trước đây còn tổ chức trò chơi đu bay, hát chèo...

Hội đền Thụy Khuê diễn ra ngày 10-12/2 âm lịch hàng năm, chính hội ngày 10/2 để tưởng niệm Linh Lang đại vương và 6 vị bộ tướng.

Đền Thụy Khuê nơi diễn ra lễ hội

Tên gọi Thụy Chương tồn tại tới năm 1840 khi Thiệu Trị lên ngôi, kiêng tên húy của vua nên được đổi thành Thụy Khuê.

Người dân dâng hương trong hội đền Thụy Khuê Hội đền Thụy Khuê được tổ chức theo quy mô hàng tổng theo câu ca vẫn còn lưu truyền: "Mồng mười Thánh hóa giờ thiêng. Mười hai tiệc húy hội đền vua ra". Hàng năm, ngày 10/2, dân làng Thụy Khuê sang Thủ Lệ làm lễ. Đường đi của đám rước từ Thụy Khuê sang Thủ Lệ khá xa nên có trạm nghỉ là miếu Trắng (nay đã bị phá bỏ để mở đường quốc lộ 32). Hội đền Thụy Khuê thu hút đông đảo người dân và du khách xem hội. Do chi phí tốn kém nên năm năm mới tổ chức hội lớn một lần. Đền Thụy Khuê là ngôi đền cổ của Hà Nội Nghi thức đoàn lễ gồm có: Cờ hội, tứ linh, cờ ngũ hành, bộ chấp kích, dàn bát âm, chiêng lớn, trống cái, bốn cô gái múa đánh bồng, hương án. Theo sau là kiệu bát cống do 12 chàng trai cởi trần, đóng khố khiêng. Đến đền Thủ Lệ làm lễ cáo yết. Các cụ ở đền Thụy Khuê quay trở về đền làm lễ bao sái đồ thờ, chuẩn bị đón đoàn Thủ Lệ rước sang. Ngày 12/2, đoàn rước khởi hành từ Thủ Lệ sang Thụy Khuê và cũng thực hiện như làng Thụy Khuê. Ngoài lễ tế và rước, hội đền Thụy Khuê trước đây còn tổ chức trò chơi đu bay, hát chèo...

Hội đền Thụy Khuê được tổ chức theo quy mô hàng tổng theo câu ca vẫn còn lưu truyền: "Mồng mười Thánh hóa giờ thiêng. Mười hai tiệc húy hội đền vua ra". Hàng năm, ngày 10/2, dân làng Thụy Khuê sang Thủ Lệ làm lễ. Đường đi của đám rước từ Thụy Khuê sang Thủ Lệ khá xa nên có trạm nghỉ là miếu Trắng (nay đã bị phá bỏ để mở đường quốc lộ 32). Hội đền Thụy Khuê thu hút đông đảo người dân và du khách xem hội. Do chi phí tốn kém nên năm năm mới tổ chức hội lớn một lần.

Đền Thụy Khuê là ngôi đền cổ của Hà Nội

Nghi thức đoàn lễ gồm có: Cờ hội, tứ linh, cờ ngũ hành, bộ chấp kích, dàn bát âm, chiêng lớn, trống cái, bốn cô gái múa đánh bồng, hương án. Theo sau là kiệu bát cống do 12 chàng trai cởi trần, đóng khố khiêng. Đến đền Thủ Lệ làm lễ cáo yết. Các cụ ở đền Thụy Khuê quay trở về đền làm lễ bao sái đồ thờ, chuẩn bị đón đoàn Thủ Lệ rước sang. Ngày 12/2, đoàn rước khởi hành từ Thủ Lệ sang Thụy Khuê và cũng thực hiện như làng Thụy Khuê. Ngoài lễ tế và rước, hội đền Thụy Khuê trước đây còn tổ chức trò chơi đu bay, hát chèo...

Related Figures

Hội đền Sái

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 11/1 Âm lịch Hội đền Sái diễn ra ngày 11 tháng Giêng âm lịch hàng năm tại xã Thụy Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội. Đặc sắc của hội đền Sái là lễ rước vua giả để tưởng nhớ công ơn thần Huyền Thiên Trấn Vũ giúp An Dương Vương trừ yêu, xây dựng thành Cổ Loa. Kiệu Vua trong hội đền Sái Tương truyền hội đền Sái đã có từ 2000 năm trước. Sự tích bắt nguồn từ việc vua An Dương Vương xây dựng thành Cổ Loa, được thần Huyền Thiên Trấn Vũ ra tay tiêu diệt ma gà trắng ân nấp trên núi Thất Diệu Sơn mới xây xong thành. Trước đây, hàng năm cứ vào dịp tết đến xuân về nhà vua đích thân xa giá về bái yết tại đền Sái. Sau này, do việc đi lại khó khăn, lãng phí tiền bạc nên nhà vua ban chiếu cho làng Thụy Lôi cử hành nghi lễ này thật long trọng và trang nghiêm. Lễ hội diễn ra cả ngày nhưng thu hút nhất vào buổi chiều với nghi lễ rước vua giả từ đình làng ra đền Sái rồi về đình. Kiệu Chúa trong hội đền Sái Hàng năm, người dẫn xã Thụy Lâm chọn ra những bậc cao niên xứng đáng đóng vai Vua, Chúa và bốn vị quan tứ trụ của triều đình. Người được chọn vào vai Vua, Chúa phải từ 70 tuổi trở lên, gia đình văn hóa, con cháu đề huề; còn quan thì phải trên 60 tuổi. Bốn vị quan tứ trụ trong hội đền Sái Chuẩn bị cho nghi lễ chính thức, Chúa làm lễ tế tại đền Sái còn Vua làm lễ tế tại đền Thượng. Sau đó, Chú đi bộ về đền Thượng để đón nhà Vua. Theo mỗi kiệu rước Vua, Chúa là 12 thanh niên khỏe mạnh. Vừa rước họ vừa làm động tác nghiêng lắc, nâng cao rồi hạ thấp... Đây là nét đặc sắc nhất của hội đền Sái. Lễ hội rước Vua, Chúa tại hội đền Sái luôn thu hút đông đảo người dân và du khách thập phương tham gia.

Kiệu Vua trong hội đền Sái

Tương truyền hội đền Sái đã có từ 2000 năm trước. Sự tích bắt nguồn từ việc vua An Dương Vương xây dựng thành Cổ Loa, được thần Huyền Thiên Trấn Vũ ra tay tiêu diệt ma gà trắng ân nấp trên núi Thất Diệu Sơn mới xây xong thành. Trước đây, hàng năm cứ vào dịp tết đến xuân về nhà vua đích thân xa giá về bái yết tại đền Sái. Sau này, do việc đi lại khó khăn, lãng phí tiền bạc nên nhà vua ban chiếu cho làng Thụy Lôi cử hành nghi lễ này thật long trọng và trang nghiêm. Lễ hội diễn ra cả ngày nhưng thu hút nhất vào buổi chiều với nghi lễ rước vua giả từ đình làng ra đền Sái rồi về đình.

Kiệu Chúa trong hội đền Sái

Hàng năm, người dẫn xã Thụy Lâm chọn ra những bậc cao niên xứng đáng đóng vai Vua, Chúa và bốn vị quan tứ trụ của triều đình. Người được chọn vào vai Vua, Chúa phải từ 70 tuổi trở lên, gia đình văn hóa, con cháu đề huề; còn quan thì phải trên 60 tuổi.

Bốn vị quan tứ trụ trong hội đền Sái

Chuẩn bị cho nghi lễ chính thức, Chúa làm lễ tế tại đền Sái còn Vua làm lễ tế tại đền Thượng. Sau đó, Chú đi bộ về đền Thượng để đón nhà Vua. Theo mỗi kiệu rước Vua, Chúa là 12 thanh niên khỏe mạnh. Vừa rước họ vừa làm động tác nghiêng lắc, nâng cao rồi hạ thấp... Đây là nét đặc sắc nhất của hội đền Sái. Lễ hội rước Vua, Chúa tại hội đền Sái luôn thu hút đông đảo người dân và du khách thập phương tham gia.

Related Figures

Lễ hội đền Cuông

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/2 Âm lịch Lễ hội đền Cuông ở Nghệ An diễn ra vào ngày 15 tháng Hai âm lịch. Đây là một một trong những lễ hội lớn, quan trọng trong năm của tỉnh Nghệ An. Hàng năm, lễ hội đền Cuông thu hút hàng vạn người dân trong vùng và du khách từ khắp tỉnh thành trong nước về đây trẩy hội. Lễ hội này diễn ra với nghi lễ tế thần, sau đó là các hoạt động văn hóa như thả đèn hoa, hát tuồng, chèo... Lễ hội đền Cuông ở Nghệ An Mùa xuân, du khách đến với đền Cuông không chỉ thắp hương cầu phúc, mà còn được dự lễ hội Cuông. Đây là dịp để người dân tưởng nhớ về đoạn kết của truyền thuyết về Loa Thành: An Dương Vương đưa công chúa Mỵ Châu chạy trốn kẻ thù, khi tới Diễn Châu thì dừng lại. Nhưng khi phát hiện Mỵ Châu để dấu cho giặc, vua đã chém con gái và theo thần Kim Quy đi về phía biển. Mặc dù truyền thuyết có thực có hư, hưng daais tích xưa đã rêu phong, hoen mờ qua thời gian dài, nhưng đền Công linh thiêng vẫn còn đó, và lòng ngưỡng mộ của người dân cũng để để chúng ta rút ra nhiều điều. Lễ tế thần Đền Cuông đã được Nhà nước công nhận. Đây cũng là một danh thắng mà bất cứ ai khi đến Diễn Châu đều muôn đến thăm. Và khi du khách tới đây sẽ có một ấn tượng khó quên bởi sự kết hợp hài hòa giữa cảnh sắc thiên nhiên với kiến trúc đền. Vào ngày hội đền Cuông, khách trẩy hổi muốn vào đền thắp hương phải chen chân từ dưới chân núi. Lòng thành kính của người dân, để cầu những điều bình an đã phải trải qua chặng đường vất vả đã khiến nhiều người phải ngạc nhiên. Một nghi lễ trong Lễ hội đền Cuông ở Nghệ An

Lễ hội đền Cuông ở Nghệ An

Mùa xuân, du khách đến với đền Cuông không chỉ thắp hương cầu phúc, mà còn được dự lễ hội Cuông. Đây là dịp để người dân tưởng nhớ về đoạn kết của truyền thuyết về Loa Thành: An Dương Vương đưa công chúa Mỵ Châu chạy trốn kẻ thù, khi tới Diễn Châu thì dừng lại. Nhưng khi phát hiện Mỵ Châu để dấu cho giặc, vua đã chém con gái và theo thần Kim Quy đi về phía biển. Mặc dù truyền thuyết có thực có hư, hưng daais tích xưa đã rêu phong, hoen mờ qua thời gian dài, nhưng đền Công linh thiêng vẫn còn đó, và lòng ngưỡng mộ của người dân cũng để để chúng ta rút ra nhiều điều. Lễ tế thần Đền Cuông đã được Nhà nước công nhận. Đây cũng là một danh thắng mà bất cứ ai khi đến Diễn Châu đều muôn đến thăm. Và khi du khách tới đây sẽ có một ấn tượng khó quên bởi sự kết hợp hài hòa giữa cảnh sắc thiên nhiên với kiến trúc đền. Vào ngày hội đền Cuông, khách trẩy hổi muốn vào đền thắp hương phải chen chân từ dưới chân núi. Lòng thành kính của người dân, để cầu những điều bình an đã phải trải qua chặng đường vất vả đã khiến nhiều người phải ngạc nhiên.

Mùa xuân, du khách đến với đền Cuông không chỉ thắp hương cầu phúc, mà còn được dự lễ hội Cuông. Đây là dịp để người dân tưởng nhớ về đoạn kết của truyền thuyết về Loa Thành: An Dương Vương đưa công chúa Mỵ Châu chạy trốn kẻ thù, khi tới Diễn Châu thì dừng lại. Nhưng khi phát hiện Mỵ Châu để dấu cho giặc, vua đã chém con gái và theo thần Kim Quy đi về phía biển. Mặc dù truyền thuyết có thực có hư, hưng daais tích xưa đã rêu phong, hoen mờ qua thời gian dài, nhưng đền Công linh thiêng vẫn còn đó, và lòng ngưỡng mộ của người dân cũng để để chúng ta rút ra nhiều điều.

Lễ tế thần

Đền Cuông đã được Nhà nước công nhận. Đây cũng là một danh thắng mà bất cứ ai khi đến Diễn Châu đều muôn đến thăm. Và khi du khách tới đây sẽ có một ấn tượng khó quên bởi sự kết hợp hài hòa giữa cảnh sắc thiên nhiên với kiến trúc đền.

Vào ngày hội đền Cuông, khách trẩy hổi muốn vào đền thắp hương phải chen chân từ dưới chân núi. Lòng thành kính của người dân, để cầu những điều bình an đã phải trải qua chặng đường vất vả đã khiến nhiều người phải ngạc nhiên.

Một nghi lễ trong Lễ hội đền Cuông ở Nghệ An

Related Figures

Lễ Hội Uống Nước Nhớ Nguồn

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 25/7- 27/7 Âm lịch Lễ Hội Uống Nước Nhớ Nguồn ở Nghệ An diễn ra từ ngày 25-27 tháng 7, tại nghĩa trang liệt sĩ Hữu Nghị Việt Lào ở huyện Anh Sơn. Chương trình văn nghệ Các hoạt động trong lễ hội Uống nước nhớ nguồn được chia thành hai phần. Phần lễ diễn ra với các lễ khai quang, lễ tưởng niệm, lễ yết cáo, lễ thấp nến tri ân, và lễ tạ. Trong đó, lễ tưởng niệm diễn ra với các hoạt động dâng hoa, dâng nên, dâng hương để tưởng niệm và tưởng nhớ tới công ơn của các vị anh hùng liệt sĩ của dân tộc. Lễ thắp nến tri ân cũng được xem là lễ chính của hội. Đây là phần mang yếu tố tâm linh, diễn ra một cách trang trọng, uy nghiêm nhưng cũng giàu cảm xúc nhân văn, đã tạo nên một không gian vô cùng thiêng liêng, sâu lắng, đẹp đẽ. Thanh niên tình nguyện thắp nến và hương tưởng niệm các linh hồn anh hùng liệt sĩ Phần hội của lễ hội này gồm các hoạt động sôi nổi như triển lảm ảnh, chiếu phim về đề tài chiến tranh, tổ chức giải bóng chuyền nữ truyền thống huyện Anh Sơn. Giải bóng chuyền nữ truyền thống sẽ được tổ chức ngay sau phần hội của lễ khai mạc. Giải có 19 đội tham gia, đến từ 19 thôn trong xã, sẽ được chia thành 6 bảng đấu, thi đấu theo thể thức vòng tròn, tính điểm cho đến hết giải. Giải bóng chuyền truyền thống là hoạt động được rất nhiều người dân trong vùng và du khách đến xem hội yêu thích, và nhiệt tình tham gia cổ vũ. Lễ Hội Uống Nước Nhớ Nguồn ở Nghệ An Lễ hội Uống nước nhớ nguồn là một lễ hội vừa mang tính tâm linh nhưng cũng mang ý nghĩa nhân văn, là dịp để giáo dục những lớp trẻ phải biết noi gương những tấm gương anh hùng liệt sĩ, yêu nước, tinh thần bất khuất.

Chương trình văn nghệ Các hoạt động trong lễ hội Uống nước nhớ nguồn được chia thành hai phần. Phần lễ diễn ra với các lễ khai quang, lễ tưởng niệm, lễ yết cáo, lễ thấp nến tri ân, và lễ tạ. Trong đó, lễ tưởng niệm diễn ra với các hoạt động dâng hoa, dâng nên, dâng hương để tưởng niệm và tưởng nhớ tới công ơn của các vị anh hùng liệt sĩ của dân tộc. Lễ thắp nến tri ân cũng được xem là lễ chính của hội. Đây là phần mang yếu tố tâm linh, diễn ra một cách trang trọng, uy nghiêm nhưng cũng giàu cảm xúc nhân văn, đã tạo nên một không gian vô cùng thiêng liêng, sâu lắng, đẹp đẽ. Thanh niên tình nguyện thắp nến và hương tưởng niệm các linh hồn anh hùng liệt sĩ Phần hội của lễ hội này gồm các hoạt động sôi nổi như triển lảm ảnh, chiếu phim về đề tài chiến tranh, tổ chức giải bóng chuyền nữ truyền thống huyện Anh Sơn. Giải bóng chuyền nữ truyền thống sẽ được tổ chức ngay sau phần hội của lễ khai mạc. Giải có 19 đội tham gia, đến từ 19 thôn trong xã, sẽ được chia thành 6 bảng đấu, thi đấu theo thể thức vòng tròn, tính điểm cho đến hết giải. Giải bóng chuyền truyền thống là hoạt động được rất nhiều người dân trong vùng và du khách đến xem hội yêu thích, và nhiệt tình tham gia cổ vũ. Lễ Hội Uống Nước Nhớ Nguồn ở Nghệ An Lễ hội Uống nước nhớ nguồn là một lễ hội vừa mang tính tâm linh nhưng cũng mang ý nghĩa nhân văn, là dịp để giáo dục những lớp trẻ phải biết noi gương những tấm gương anh hùng liệt sĩ, yêu nước, tinh thần bất khuất.

Các hoạt động trong lễ hội Uống nước nhớ nguồn được chia thành hai phần. Phần lễ diễn ra với các lễ khai quang, lễ tưởng niệm, lễ yết cáo, lễ thấp nến tri ân, và lễ tạ. Trong đó, lễ tưởng niệm diễn ra với các hoạt động dâng hoa, dâng nên, dâng hương để tưởng niệm và tưởng nhớ tới công ơn của các vị anh hùng liệt sĩ của dân tộc. Lễ thắp nến tri ân cũng được xem là lễ chính của hội. Đây là phần mang yếu tố tâm linh, diễn ra một cách trang trọng, uy nghiêm nhưng cũng giàu cảm xúc nhân văn, đã tạo nên một không gian vô cùng thiêng liêng, sâu lắng, đẹp đẽ. Thanh niên tình nguyện thắp nến và hương tưởng niệm các linh hồn anh hùng liệt sĩ Phần hội của lễ hội này gồm các hoạt động sôi nổi như triển lảm ảnh, chiếu phim về đề tài chiến tranh, tổ chức giải bóng chuyền nữ truyền thống huyện Anh Sơn. Giải bóng chuyền nữ truyền thống sẽ được tổ chức ngay sau phần hội của lễ khai mạc. Giải có 19 đội tham gia, đến từ 19 thôn trong xã, sẽ được chia thành 6 bảng đấu, thi đấu theo thể thức vòng tròn, tính điểm cho đến hết giải. Giải bóng chuyền truyền thống là hoạt động được rất nhiều người dân trong vùng và du khách đến xem hội yêu thích, và nhiệt tình tham gia cổ vũ. Lễ Hội Uống Nước Nhớ Nguồn ở Nghệ An Lễ hội Uống nước nhớ nguồn là một lễ hội vừa mang tính tâm linh nhưng cũng mang ý nghĩa nhân văn, là dịp để giáo dục những lớp trẻ phải biết noi gương những tấm gương anh hùng liệt sĩ, yêu nước, tinh thần bất khuất.

Các hoạt động trong lễ hội Uống nước nhớ nguồn được chia thành hai phần. Phần lễ diễn ra với các lễ khai quang, lễ tưởng niệm, lễ yết cáo, lễ thấp nến tri ân, và lễ tạ. Trong đó, lễ tưởng niệm diễn ra với các hoạt động dâng hoa, dâng nên, dâng hương để tưởng niệm và tưởng nhớ tới công ơn của các vị anh hùng liệt sĩ của dân tộc. Lễ thắp nến tri ân cũng được xem là lễ chính của hội. Đây là phần mang yếu tố tâm linh, diễn ra một cách trang trọng, uy nghiêm nhưng cũng giàu cảm xúc nhân văn, đã tạo nên một không gian vô cùng thiêng liêng, sâu lắng, đẹp đẽ.

Thanh niên tình nguyện thắp nến và hương tưởng niệm các linh hồn anh hùng liệt sĩ

Phần hội của lễ hội này gồm các hoạt động sôi nổi như triển lảm ảnh, chiếu phim về đề tài chiến tranh, tổ chức giải bóng chuyền nữ truyền thống huyện Anh Sơn. Giải bóng chuyền nữ truyền thống sẽ được tổ chức ngay sau phần hội của lễ khai mạc. Giải có 19 đội tham gia, đến từ 19 thôn trong xã, sẽ được chia thành 6 bảng đấu, thi đấu theo thể thức vòng tròn, tính điểm cho đến hết giải. Giải bóng chuyền truyền thống là hoạt động được rất nhiều người dân trong vùng và du khách đến xem hội yêu thích, và nhiệt tình tham gia cổ vũ.

Lễ Hội Uống Nước Nhớ Nguồn ở Nghệ An

Lễ hội Uống nước nhớ nguồn là một lễ hội vừa mang tính tâm linh nhưng cũng mang ý nghĩa nhân văn, là dịp để giáo dục những lớp trẻ phải biết noi gương những tấm gương anh hùng liệt sĩ, yêu nước, tinh thần bất khuất.

Related Figures

Hội đền Đức Thánh Cả

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/1- 12/1 Âm lịch Hội đền Đức Thánh Cả được tổ chức dịp đầu xuân năm mới trong 3 ngày từ 10-12/1 âm lịch. Hàng năm, hội đền Đức Thánh Cả thu hút rất đông du khách thập phương đến dâng hương, thưởng ngoạn. Hội đền Đức Thánh Cả diễn ra trang trọng Lễ đại kỳ phước được dân làng tổ chức long trọng và trang nghiêm. Đặc sắc của hội đền Đức Thánh Cả là lễ rước kiệu bằng thuyền rồng dọc sông, có bơi chải và các thuyền chiến bơi thờ, rước lọng giá từ đền về đình để tế thần. Trong 3 ngày diễn ra hội có nhiều hoạt động sôi nổi như múa rồng, đấu gậy, múa lân... Du khách về tham dự hội đền Đức Thánh Cả, ngoài thể hiện sùng kính với bậc tiền nhân, cầu an còn được thưởng ngoạn khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ núi non sông nước, trên bến dưới thuyền... Lễ rước kiệu hội đền Đức Thánh Cả Đền Đức Thánh Cả tọa lạc ở thôn Hữu Vĩnh, xã Hồng Quang, huyện Ứng Hòa, Hà Nội. Đền Đức Thánh Cả còn có tên gọi khác là Thiên Vựng, được xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa Quốc gia năm 1991. Đền Đức Thánh Cả được xây dựng khoảng 1500 năm trước. Đền Đức Thánh Cả thờ thần là tướng "Nhất phẩm đại vương" triều tiền Lý Nam Đế. Hiện nay, đền Đức Thánh Cả còn lưu giữ được 48 đạo sắc phong từ thời vua Lê Thần Tông đến thời Nguyễn. Đền Đức Thánh Cả được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa Đền Đức Thánh Cả được xây dựng theo kiến trúc chữ "Vương" ngoài chữ "Quốc". Phía ngoài đền có cổng và tường bao quanh. Phía trong đền là hai dãy hành lang, nhà đại bái, nhà hậu cung và tòa ống muống. Tòa hậu cung có 9 con rồng chầu. Trong đền có những bức hoành phi, câu đối sơn son thếp vàng có giá trị. Trải qua nhiều biến cố lịch sử, đền Đức Thánh Cả vẫn trường tồn cùng đất nước. Nhân dân và du khách thập phương thường xuyên về lễ bái, tưởng nhớ công đức bậc tiền nhân.

Hội đền Đức Thánh Cả diễn ra trang trọng Lễ đại kỳ phước được dân làng tổ chức long trọng và trang nghiêm. Đặc sắc của hội đền Đức Thánh Cả là lễ rước kiệu bằng thuyền rồng dọc sông, có bơi chải và các thuyền chiến bơi thờ, rước lọng giá từ đền về đình để tế thần. Trong 3 ngày diễn ra hội có nhiều hoạt động sôi nổi như múa rồng, đấu gậy, múa lân... Du khách về tham dự hội đền Đức Thánh Cả, ngoài thể hiện sùng kính với bậc tiền nhân, cầu an còn được thưởng ngoạn khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ núi non sông nước, trên bến dưới thuyền... Lễ rước kiệu hội đền Đức Thánh Cả Đền Đức Thánh Cả tọa lạc ở thôn Hữu Vĩnh, xã Hồng Quang, huyện Ứng Hòa, Hà Nội. Đền Đức Thánh Cả còn có tên gọi khác là Thiên Vựng, được xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa Quốc gia năm 1991. Đền Đức Thánh Cả được xây dựng khoảng 1500 năm trước. Đền Đức Thánh Cả thờ thần là tướng "Nhất phẩm đại vương" triều tiền Lý Nam Đế. Hiện nay, đền Đức Thánh Cả còn lưu giữ được 48 đạo sắc phong từ thời vua Lê Thần Tông đến thời Nguyễn. Đền Đức Thánh Cả được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa Đền Đức Thánh Cả được xây dựng theo kiến trúc chữ "Vương" ngoài chữ "Quốc". Phía ngoài đền có cổng và tường bao quanh. Phía trong đền là hai dãy hành lang, nhà đại bái, nhà hậu cung và tòa ống muống. Tòa hậu cung có 9 con rồng chầu. Trong đền có những bức hoành phi, câu đối sơn son thếp vàng có giá trị. Trải qua nhiều biến cố lịch sử, đền Đức Thánh Cả vẫn trường tồn cùng đất nước. Nhân dân và du khách thập phương thường xuyên về lễ bái, tưởng nhớ công đức bậc tiền nhân.

Lễ đại kỳ phước được dân làng tổ chức long trọng và trang nghiêm. Đặc sắc của hội đền Đức Thánh Cả là lễ rước kiệu bằng thuyền rồng dọc sông, có bơi chải và các thuyền chiến bơi thờ, rước lọng giá từ đền về đình để tế thần. Trong 3 ngày diễn ra hội có nhiều hoạt động sôi nổi như múa rồng, đấu gậy, múa lân... Du khách về tham dự hội đền Đức Thánh Cả, ngoài thể hiện sùng kính với bậc tiền nhân, cầu an còn được thưởng ngoạn khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ núi non sông nước, trên bến dưới thuyền...

Lễ rước kiệu hội đền Đức Thánh Cả Đền Đức Thánh Cả tọa lạc ở thôn Hữu Vĩnh, xã Hồng Quang, huyện Ứng Hòa, Hà Nội. Đền Đức Thánh Cả còn có tên gọi khác là Thiên Vựng, được xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa Quốc gia năm 1991. Đền Đức Thánh Cả được xây dựng khoảng 1500 năm trước. Đền Đức Thánh Cả thờ thần là tướng "Nhất phẩm đại vương" triều tiền Lý Nam Đế. Hiện nay, đền Đức Thánh Cả còn lưu giữ được 48 đạo sắc phong từ thời vua Lê Thần Tông đến thời Nguyễn. Đền Đức Thánh Cả được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa Đền Đức Thánh Cả được xây dựng theo kiến trúc chữ "Vương" ngoài chữ "Quốc". Phía ngoài đền có cổng và tường bao quanh. Phía trong đền là hai dãy hành lang, nhà đại bái, nhà hậu cung và tòa ống muống. Tòa hậu cung có 9 con rồng chầu. Trong đền có những bức hoành phi, câu đối sơn son thếp vàng có giá trị. Trải qua nhiều biến cố lịch sử, đền Đức Thánh Cả vẫn trường tồn cùng đất nước. Nhân dân và du khách thập phương thường xuyên về lễ bái, tưởng nhớ công đức bậc tiền nhân.

Đền Đức Thánh Cả tọa lạc ở thôn Hữu Vĩnh, xã Hồng Quang, huyện Ứng Hòa, Hà Nội. Đền Đức Thánh Cả còn có tên gọi khác là Thiên Vựng, được xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa Quốc gia năm 1991. Đền Đức Thánh Cả được xây dựng khoảng 1500 năm trước. Đền Đức Thánh Cả thờ thần là tướng "Nhất phẩm đại vương" triều tiền Lý Nam Đế. Hiện nay, đền Đức Thánh Cả còn lưu giữ được 48 đạo sắc phong từ thời vua Lê Thần Tông đến thời Nguyễn. Đền Đức Thánh Cả được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa Đền Đức Thánh Cả được xây dựng theo kiến trúc chữ "Vương" ngoài chữ "Quốc". Phía ngoài đền có cổng và tường bao quanh. Phía trong đền là hai dãy hành lang, nhà đại bái, nhà hậu cung và tòa ống muống. Tòa hậu cung có 9 con rồng chầu. Trong đền có những bức hoành phi, câu đối sơn son thếp vàng có giá trị. Trải qua nhiều biến cố lịch sử, đền Đức Thánh Cả vẫn trường tồn cùng đất nước. Nhân dân và du khách thập phương thường xuyên về lễ bái, tưởng nhớ công đức bậc tiền nhân.

Đền Đức Thánh Cả tọa lạc ở thôn Hữu Vĩnh, xã Hồng Quang, huyện Ứng Hòa, Hà Nội. Đền Đức Thánh Cả còn có tên gọi khác là Thiên Vựng, được xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa Quốc gia năm 1991. Đền Đức Thánh Cả được xây dựng khoảng 1500 năm trước. Đền Đức Thánh Cả thờ thần là tướng "Nhất phẩm đại vương" triều tiền Lý Nam Đế. Hiện nay, đền Đức Thánh Cả còn lưu giữ được 48 đạo sắc phong từ thời vua Lê Thần Tông đến thời Nguyễn.

Đền Đức Thánh Cả được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa

Đền Đức Thánh Cả được xây dựng theo kiến trúc chữ "Vương" ngoài chữ "Quốc". Phía ngoài đền có cổng và tường bao quanh. Phía trong đền là hai dãy hành lang, nhà đại bái, nhà hậu cung và tòa ống muống. Tòa hậu cung có 9 con rồng chầu. Trong đền có những bức hoành phi, câu đối sơn son thếp vàng có giá trị. Trải qua nhiều biến cố lịch sử, đền Đức Thánh Cả vẫn trường tồn cùng đất nước. Nhân dân và du khách thập phương thường xuyên về lễ bái, tưởng nhớ công đức bậc tiền nhân.

Related Figures

Lễ Hội Đền Hồng Sơn

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 20/8 Âm lịch Lễ Hội Đền Hồng Sơn diễn ra vào ngày 20 tháng Tám âm lịch hàng năm, tại phường Hồng Sơn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Lễ Hội Đền Hồng Sơn ở Nghệ An Đền Hồng Sơn ban đầu có tên gọi là Võ Miếu hay đền Đức Ông. Từ năm 1984 mới được chuyển tên thành đền Hồng Sơn. Đền do đốc học Nguyễn Đình Lập và tướng quân Hồ Văn Lưu cho khởi công xây dựng từ năm 1831. Năm 1837, khánh thành thượng điện, trung điện. Trong những năm chiến tranh chống đế quốc Mỹ, bom Mỹ đã phá hỏng hạ điện của đền. Năm 1998, nhân dịp kỷ niệm 210 năm Phượng Hoàng Trung Đô Vinh, hạ điện đã được trùng tu. Đền Hồng Sơn là một công trình kiến trúc nghệ thuật đặc sắc mang đậm phong cách kiến trúc từ thời Nguyễn. Đây cũng là nơi lưu giữ được rất nhiều tượng pháp có giá trị. Hiện tại, đề có 19 hạng mục kiến trúc tương đối hoàn hảo, đã thu hút được rất đông du khách thập phương đến vãn cảnh và lễ bái. Đền đã được xác nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia vào năm 1984. Du khách chen nhau dâng lễ Hàng năm, đền Hồng Sơn có ba ngày đại lễ. Ngày mồng 3 tháng Ba âm lịch là giỗ đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Ngày mồng 10 tháng Ba âm lịch là giỗ tổ Hùng Vương, và ngày 20 tháng Tám âm lịch là ngày giỗ tổ đức Thánh Trần. Lễ hội đền Hồng Sơn thu hút được rất đông người dân trong vùng , cũng như du khách thập phương về dâng lưu, lễ bái và vãn cảnh. Du khách đến với hội đền Hồng Sơn sẽ được hòa mình vào nền văn hóa truyền thống của người dân nơi đây. Ngoài ra, du khách còn được tham gia nhiều trò chơi và cuộc thi truyền thống rất sôi động. Một ban trong đền Hồng Sơn

Lễ Hội Đền Hồng Sơn ở Nghệ An Đền Hồng Sơn ban đầu có tên gọi là Võ Miếu hay đền Đức Ông. Từ năm 1984 mới được chuyển tên thành đền Hồng Sơn. Đền do đốc học Nguyễn Đình Lập và tướng quân Hồ Văn Lưu cho khởi công xây dựng từ năm 1831. Năm 1837, khánh thành thượng điện, trung điện. Trong những năm chiến tranh chống đế quốc Mỹ, bom Mỹ đã phá hỏng hạ điện của đền. Năm 1998, nhân dịp kỷ niệm 210 năm Phượng Hoàng Trung Đô Vinh, hạ điện đã được trùng tu. Đền Hồng Sơn là một công trình kiến trúc nghệ thuật đặc sắc mang đậm phong cách kiến trúc từ thời Nguyễn. Đây cũng là nơi lưu giữ được rất nhiều tượng pháp có giá trị. Hiện tại, đề có 19 hạng mục kiến trúc tương đối hoàn hảo, đã thu hút được rất đông du khách thập phương đến vãn cảnh và lễ bái. Đền đã được xác nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia vào năm 1984. Du khách chen nhau dâng lễ Hàng năm, đền Hồng Sơn có ba ngày đại lễ. Ngày mồng 3 tháng Ba âm lịch là giỗ đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Ngày mồng 10 tháng Ba âm lịch là giỗ tổ Hùng Vương, và ngày 20 tháng Tám âm lịch là ngày giỗ tổ đức Thánh Trần. Lễ hội đền Hồng Sơn thu hút được rất đông người dân trong vùng , cũng như du khách thập phương về dâng lưu, lễ bái và vãn cảnh. Du khách đến với hội đền Hồng Sơn sẽ được hòa mình vào nền văn hóa truyền thống của người dân nơi đây. Ngoài ra, du khách còn được tham gia nhiều trò chơi và cuộc thi truyền thống rất sôi động. Một ban trong đền Hồng Sơn

Đền Hồng Sơn ban đầu có tên gọi là Võ Miếu hay đền Đức Ông. Từ năm 1984 mới được chuyển tên thành đền Hồng Sơn. Đền do đốc học Nguyễn Đình Lập và tướng quân Hồ Văn Lưu cho khởi công xây dựng từ năm 1831. Năm 1837, khánh thành thượng điện, trung điện. Trong những năm chiến tranh chống đế quốc Mỹ, bom Mỹ đã phá hỏng hạ điện của đền. Năm 1998, nhân dịp kỷ niệm 210 năm Phượng Hoàng Trung Đô Vinh, hạ điện đã được trùng tu. Đền Hồng Sơn là một công trình kiến trúc nghệ thuật đặc sắc mang đậm phong cách kiến trúc từ thời Nguyễn. Đây cũng là nơi lưu giữ được rất nhiều tượng pháp có giá trị. Hiện tại, đề có 19 hạng mục kiến trúc tương đối hoàn hảo, đã thu hút được rất đông du khách thập phương đến vãn cảnh và lễ bái. Đền đã được xác nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia vào năm 1984.

Du khách chen nhau dâng lễ

Hàng năm, đền Hồng Sơn có ba ngày đại lễ. Ngày mồng 3 tháng Ba âm lịch là giỗ đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Ngày mồng 10 tháng Ba âm lịch là giỗ tổ Hùng Vương, và ngày 20 tháng Tám âm lịch là ngày giỗ tổ đức Thánh Trần.

Lễ hội đền Hồng Sơn thu hút được rất đông người dân trong vùng , cũng như du khách thập phương về dâng lưu, lễ bái và vãn cảnh. Du khách đến với hội đền Hồng Sơn sẽ được hòa mình vào nền văn hóa truyền thống của người dân nơi đây. Ngoài ra, du khách còn được tham gia nhiều trò chơi và cuộc thi truyền thống rất sôi động.

Một ban trong đền Hồng Sơn

Related Figures

Lễ Hội Đền Vua Mai

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 14/1- 15/1 Âm lịch Hàng năm, cứ vào ngày 14, 15 tháng Giêng âm lịch, người dân xã Vân Diên, huyện Nam Đàn, Nghệ An lại tưng bừng mở hội đền Vua Mai. Đây là một lễ hội văn hóa truyền thống đặc sắc được nhiều người dân ở Nghệ An và nhiều nơi trong toàn quốc mong chờ vào mỗi dịp tết đến xuân về. Lễ hội cũng chính là dịp để mỗi người tưởng nhớ tới công đức của Vua Mai và các tướng lĩnh của ngài. Đây được xem là một lễ hội quan trọng bậc nhất trong các lễ hội trong năm của tỉnh Nghệ An. Lễ Hội Đền Vua Mai ở Nghệ An Lễ hội đền Vua Mai là dịp để người dân trong vùng và du khách xem hội ôn lại lịch sử hào hùng, tinh thần bất khuất của vua và các chiến sĩ trong cuộc khởi nghĩa Hoan Châu, đánh tan quân xâm lược nhà Đường, dựng nên nước Vạn An độc lộc trong suốt 1 thập kỷ. Đây cũng chính là dịp để giáo dục truyền thống anh hùng, bất khuất của cha anh, để thế hệ trẻ tăng thêm niềm tự hào và lòng yêu nước. Lễ rước Đến với lễ hội Đền Vua Mai, du khách thập phương sẽ được hòa mình vào các hoạt động mang đậm bản sắc của vùng đất được mệnh danh là "địa linh nhân kiệt". Phần lễ diễn ra với nhiều nghi lễ như: lễ yết cáo, lễ khai quang, lễ rước nước, lễ dâng hương tưởng nhớ Vua Mai, lễ rước đại tế, lễ rước, lễ tạ lễ thả đèn hoa đăng... Phần hội diễn ra sôi nổi với các hoạt động mang đậm bản sắc truyền thống tốt đẹp của một dân tộc thượng võ và lòng đoàn kết. Các trò chơi và cuộc thi như: đấu vật, đua thuyền, chọi gà, cờ thẻ, đẩy gậy, đu tiên, bóng đá, thi đấu bóng chuyền. Trong ngày hội, người dân huyện Nam Đàn sẽ tổ chức hội thi làm cỗ xôi gà để dâng lên Vua Mai và nghĩa quân, với chủ đề ca ngợi công ơn, ca ngợi tình yêu quê hương đất nước. Lễ Hội Đền Vua Mai là một lễ hội quan trọng trong năm của tỉnh Nghệ An Đến với lễ hội đền Vua Mai, du khách sẽ có cơ hội được tham quan, tìm hiểu và thưởng ngoạn các giá trị văn hóa truyền thống qua các di tích đền, lăng, và miếu Vua Mai, cùng các danh thắng cảnh nằm trên địa bàn. Đồng thời, du khách còn được hòa mình vào các trò chơi hội vô cũng hấp dẫn và sôi nổi.

Lễ Hội Đền Vua Mai ở Nghệ An Lễ hội đền Vua Mai là dịp để người dân trong vùng và du khách xem hội ôn lại lịch sử hào hùng, tinh thần bất khuất của vua và các chiến sĩ trong cuộc khởi nghĩa Hoan Châu, đánh tan quân xâm lược nhà Đường, dựng nên nước Vạn An độc lộc trong suốt 1 thập kỷ. Đây cũng chính là dịp để giáo dục truyền thống anh hùng, bất khuất của cha anh, để thế hệ trẻ tăng thêm niềm tự hào và lòng yêu nước. Lễ rước Đến với lễ hội Đền Vua Mai, du khách thập phương sẽ được hòa mình vào các hoạt động mang đậm bản sắc của vùng đất được mệnh danh là "địa linh nhân kiệt". Phần lễ diễn ra với nhiều nghi lễ như: lễ yết cáo, lễ khai quang, lễ rước nước, lễ dâng hương tưởng nhớ Vua Mai, lễ rước đại tế, lễ rước, lễ tạ lễ thả đèn hoa đăng... Phần hội diễn ra sôi nổi với các hoạt động mang đậm bản sắc truyền thống tốt đẹp của một dân tộc thượng võ và lòng đoàn kết. Các trò chơi và cuộc thi như: đấu vật, đua thuyền, chọi gà, cờ thẻ, đẩy gậy, đu tiên, bóng đá, thi đấu bóng chuyền. Trong ngày hội, người dân huyện Nam Đàn sẽ tổ chức hội thi làm cỗ xôi gà để dâng lên Vua Mai và nghĩa quân, với chủ đề ca ngợi công ơn, ca ngợi tình yêu quê hương đất nước. Lễ Hội Đền Vua Mai là một lễ hội quan trọng trong năm của tỉnh Nghệ An Đến với lễ hội đền Vua Mai, du khách sẽ có cơ hội được tham quan, tìm hiểu và thưởng ngoạn các giá trị văn hóa truyền thống qua các di tích đền, lăng, và miếu Vua Mai, cùng các danh thắng cảnh nằm trên địa bàn. Đồng thời, du khách còn được hòa mình vào các trò chơi hội vô cũng hấp dẫn và sôi nổi.

Lễ hội đền Vua Mai là dịp để người dân trong vùng và du khách xem hội ôn lại lịch sử hào hùng, tinh thần bất khuất của vua và các chiến sĩ trong cuộc khởi nghĩa Hoan Châu, đánh tan quân xâm lược nhà Đường, dựng nên nước Vạn An độc lộc trong suốt 1 thập kỷ. Đây cũng chính là dịp để giáo dục truyền thống anh hùng, bất khuất của cha anh, để thế hệ trẻ tăng thêm niềm tự hào và lòng yêu nước.

Lễ rước Đến với lễ hội Đền Vua Mai, du khách thập phương sẽ được hòa mình vào các hoạt động mang đậm bản sắc của vùng đất được mệnh danh là "địa linh nhân kiệt". Phần lễ diễn ra với nhiều nghi lễ như: lễ yết cáo, lễ khai quang, lễ rước nước, lễ dâng hương tưởng nhớ Vua Mai, lễ rước đại tế, lễ rước, lễ tạ lễ thả đèn hoa đăng... Phần hội diễn ra sôi nổi với các hoạt động mang đậm bản sắc truyền thống tốt đẹp của một dân tộc thượng võ và lòng đoàn kết. Các trò chơi và cuộc thi như: đấu vật, đua thuyền, chọi gà, cờ thẻ, đẩy gậy, đu tiên, bóng đá, thi đấu bóng chuyền. Trong ngày hội, người dân huyện Nam Đàn sẽ tổ chức hội thi làm cỗ xôi gà để dâng lên Vua Mai và nghĩa quân, với chủ đề ca ngợi công ơn, ca ngợi tình yêu quê hương đất nước. Lễ Hội Đền Vua Mai là một lễ hội quan trọng trong năm của tỉnh Nghệ An Đến với lễ hội đền Vua Mai, du khách sẽ có cơ hội được tham quan, tìm hiểu và thưởng ngoạn các giá trị văn hóa truyền thống qua các di tích đền, lăng, và miếu Vua Mai, cùng các danh thắng cảnh nằm trên địa bàn. Đồng thời, du khách còn được hòa mình vào các trò chơi hội vô cũng hấp dẫn và sôi nổi.

Đến với lễ hội Đền Vua Mai, du khách thập phương sẽ được hòa mình vào các hoạt động mang đậm bản sắc của vùng đất được mệnh danh là "địa linh nhân kiệt". Phần lễ diễn ra với nhiều nghi lễ như: lễ yết cáo, lễ khai quang, lễ rước nước, lễ dâng hương tưởng nhớ Vua Mai, lễ rước đại tế, lễ rước, lễ tạ lễ thả đèn hoa đăng... Phần hội diễn ra sôi nổi với các hoạt động mang đậm bản sắc truyền thống tốt đẹp của một dân tộc thượng võ và lòng đoàn kết. Các trò chơi và cuộc thi như: đấu vật, đua thuyền, chọi gà, cờ thẻ, đẩy gậy, đu tiên, bóng đá, thi đấu bóng chuyền. Trong ngày hội, người dân huyện Nam Đàn sẽ tổ chức hội thi làm cỗ xôi gà để dâng lên Vua Mai và nghĩa quân, với chủ đề ca ngợi công ơn, ca ngợi tình yêu quê hương đất nước.

Lễ Hội Đền Vua Mai là một lễ hội quan trọng trong năm của tỉnh Nghệ An

Đến với lễ hội đền Vua Mai, du khách sẽ có cơ hội được tham quan, tìm hiểu và thưởng ngoạn các giá trị văn hóa truyền thống qua các di tích đền, lăng, và miếu Vua Mai, cùng các danh thắng cảnh nằm trên địa bàn. Đồng thời, du khách còn được hòa mình vào các trò chơi hội vô cũng hấp dẫn và sôi nổi.

Related Figures

Hội đền Hạ Lôi thờ Hai Bà Trưng

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 6/1- 10/1 Âm lịch Hội đền Hạ Lôi xã Mê Linh, huyện Mê Linh, Hà Nội được tổ chức ngày 6-10/1 âm lịch khi tết đến xuân về, thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, tưởng nhớ công đức của Hai Bà Trưng. Đền Hạ Lôi thờ Hai Bà Trưng Sau khi Hai Bà Trưng tuẫn tiết, nhân dân nhiều nơi lập đền, miếu để thờ phụng. Trong số 103 đền thờ Hai Bà Trưng ở 9 tỉnh, thành phố trên cả nước (huyện Mê Linh có 25 di tích ở 13 xã), đền thờ Hai Bà Trưng ở thôn Hạ Lôi có ý nghĩa đặc biệt nhất. Đây là nơi lưu dấu thiêng về 2 vị nữ lưu hào kiệt thời thơ ấu đồng thời địa điểm chuẩn bị khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Hội đền Hạ Lôi thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn Không giống với Hội đền Đồng Môn (lễ rước nước và múa đèn), hội đền Hát Môn (dâng bánh trôi), hội Hạ Lôi có nét độc đáo là lễ giao kiệu. Từ ngày 4 tháng Giêng, người dân nơi đây làm lễ mộc dục, thay bao sái tượng Vua bà. Sau đó, làng Hạ Lôi tổ chức lễ tế Hai Bà Trưng ở đình làng cùng với Thành hoàng làng và 4 vị tướng là 4 anh em ruột Đô, Hồ, Bạch, Hạc đã phù thánh Tản Viên dựng lại cơ nghiệp. Trong lễ rước Hai Bà từ đền về đình gồm: 2 cỗ voi, 2 cỗ ngựa, đội nữ binh hộ giá mặc áo nâu quần xà cạp vác gươm, gươm trường, bát bửu, đội thanh nữ mặc áo trắng khênh kiệu, đội vác cờ súy... Bắt đầu lễ rước kiệu từ đền ra, kiệu Trưng Trắc đi trước. Ra đường kéo quân về đình làng, kiệu Trưng Trắc tránh đường để kiệu Trưng Nhị đi trước. Sau 2 lần giao kiệu ở cổng đình và đường kéo quân đến cổng đền, kiệu em tránh đường để kiệu chị lên trước vào đền. Đền Hạ Lôi chuẩn bị vào hội Từ ngày 7-10/1, dân làng tổ chức lễ viếng lục bộ nữ tướng, cầu phúc, đại yến khao quân, tạ lễ. Trong lễ hội còn có nhiều trò chơi dân gian như: đánh đu, cờ tướng, chọi gà, đấu vật... Người dân và du khách thập phương tham gia lễ hội hái lộc cầu may. Đền thờ Hai Bà Trưng ở Hạ Lôi được Bộ Văn hóa Thể thao xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia năm 1980.

Đền Hạ Lôi thờ Hai Bà Trưng Sau khi Hai Bà Trưng tuẫn tiết, nhân dân nhiều nơi lập đền, miếu để thờ phụng. Trong số 103 đền thờ Hai Bà Trưng ở 9 tỉnh, thành phố trên cả nước (huyện Mê Linh có 25 di tích ở 13 xã), đền thờ Hai Bà Trưng ở thôn Hạ Lôi có ý nghĩa đặc biệt nhất. Đây là nơi lưu dấu thiêng về 2 vị nữ lưu hào kiệt thời thơ ấu đồng thời địa điểm chuẩn bị khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Hội đền Hạ Lôi thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn Không giống với Hội đền Đồng Môn (lễ rước nước và múa đèn), hội đền Hát Môn (dâng bánh trôi), hội Hạ Lôi có nét độc đáo là lễ giao kiệu. Từ ngày 4 tháng Giêng, người dân nơi đây làm lễ mộc dục, thay bao sái tượng Vua bà. Sau đó, làng Hạ Lôi tổ chức lễ tế Hai Bà Trưng ở đình làng cùng với Thành hoàng làng và 4 vị tướng là 4 anh em ruột Đô, Hồ, Bạch, Hạc đã phù thánh Tản Viên dựng lại cơ nghiệp. Trong lễ rước Hai Bà từ đền về đình gồm: 2 cỗ voi, 2 cỗ ngựa, đội nữ binh hộ giá mặc áo nâu quần xà cạp vác gươm, gươm trường, bát bửu, đội thanh nữ mặc áo trắng khênh kiệu, đội vác cờ súy... Bắt đầu lễ rước kiệu từ đền ra, kiệu Trưng Trắc đi trước. Ra đường kéo quân về đình làng, kiệu Trưng Trắc tránh đường để kiệu Trưng Nhị đi trước. Sau 2 lần giao kiệu ở cổng đình và đường kéo quân đến cổng đền, kiệu em tránh đường để kiệu chị lên trước vào đền. Đền Hạ Lôi chuẩn bị vào hội Từ ngày 7-10/1, dân làng tổ chức lễ viếng lục bộ nữ tướng, cầu phúc, đại yến khao quân, tạ lễ. Trong lễ hội còn có nhiều trò chơi dân gian như: đánh đu, cờ tướng, chọi gà, đấu vật... Người dân và du khách thập phương tham gia lễ hội hái lộc cầu may. Đền thờ Hai Bà Trưng ở Hạ Lôi được Bộ Văn hóa Thể thao xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia năm 1980.

Sau khi Hai Bà Trưng tuẫn tiết, nhân dân nhiều nơi lập đền, miếu để thờ phụng. Trong số 103 đền thờ Hai Bà Trưng ở 9 tỉnh, thành phố trên cả nước (huyện Mê Linh có 25 di tích ở 13 xã), đền thờ Hai Bà Trưng ở thôn Hạ Lôi có ý nghĩa đặc biệt nhất. Đây là nơi lưu dấu thiêng về 2 vị nữ lưu hào kiệt thời thơ ấu đồng thời địa điểm chuẩn bị khởi nghĩa Hai Bà Trưng.

Hội đền Hạ Lôi thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn

Không giống với Hội đền Đồng Môn (lễ rước nước và múa đèn), hội đền Hát Môn (dâng bánh trôi), hội Hạ Lôi có nét độc đáo là lễ giao kiệu. Từ ngày 4 tháng Giêng, người dân nơi đây làm lễ mộc dục, thay bao sái tượng Vua bà. Sau đó, làng Hạ Lôi tổ chức lễ tế Hai Bà Trưng ở đình làng cùng với Thành hoàng làng và 4 vị tướng là 4 anh em ruột Đô, Hồ, Bạch, Hạc đã phù thánh Tản Viên dựng lại cơ nghiệp. Trong lễ rước Hai Bà từ đền về đình gồm: 2 cỗ voi, 2 cỗ ngựa, đội nữ binh hộ giá mặc áo nâu quần xà cạp vác gươm, gươm trường, bát bửu, đội thanh nữ mặc áo trắng khênh kiệu, đội vác cờ súy... Bắt đầu lễ rước kiệu từ đền ra, kiệu Trưng Trắc đi trước. Ra đường kéo quân về đình làng, kiệu Trưng Trắc tránh đường để kiệu Trưng Nhị đi trước. Sau 2 lần giao kiệu ở cổng đình và đường kéo quân đến cổng đền, kiệu em tránh đường để kiệu chị lên trước vào đền.

Đền Hạ Lôi chuẩn bị vào hội

Từ ngày 7-10/1, dân làng tổ chức lễ viếng lục bộ nữ tướng, cầu phúc, đại yến khao quân, tạ lễ. Trong lễ hội còn có nhiều trò chơi dân gian như: đánh đu, cờ tướng, chọi gà, đấu vật... Người dân và du khách thập phương tham gia lễ hội hái lộc cầu may. Đền thờ Hai Bà Trưng ở Hạ Lôi được Bộ Văn hóa Thể thao xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia năm 1980.

Đền thờ Hai Bà Trưng ở Hạ Lôi được Bộ Văn hóa Thể thao xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia năm 1980.

Related Figures

Hội đền Hát Môn

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 4/3- 7/3 Âm lịch Hội đền Hát Môn được tổ chức ngày 4-7/3 âm lịch hàng năm, chính hội ngày 6/3 tại xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ, Hà Nội. Hội đền Hát Môn là dịp để người dân và du khách thập phương chiêm bái, hướng về cội nguồn, tưởng nhớ công ơn của Hai Bà Trưng. Đông đảo người dân tham gia hội đền Hát Môn Lễ hội đền Hát Môn là di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia, là nét văn hóa đặc sắc của người dân nơi đây. Lễ hội đền Hát Môn được diễn ra trong sự trang nghiêm, thành kính. Dâng bánh trôi trong hội đền Hát Môn Gần 2000 năm qua đi, hội đền Hát Môn với phong tục làm bánh trôi vẫn được bảo tồn, phát huy. Tục rước bánh trôi là nét độc đáo của hội đền Hát Môn. Bắt nguồn từ truyền thuyết Hai Bà Trưng ăn bánh trôi trước khi tuẫn tiết. Theo phong tục, hàng năm làng chọn ra một gia đình hòa thuận là địa điểm làng bánh trôi dâng lên Hai Bà Trưng. Gạo làm bánh phải là gạo nếp cái hoa vàng thượng hạng, nước luộc bánh được lấy từ giếng thiêng trong làng. Đây được coi là bánh Thánh, phải để Thánh hưởng thụ rồi người dân mới được ăn. Chưa hết ngày 6/3, người dân Hát Môn dù đi đâu được mời ăn bánh trôi họ cũng không bao giờ ăn để tỏ lòng thành kính với Hai Bà Trưng. Đền Hát Môn nơi diễn ra lễ hội Đền Hát Môn là di tích lịch sử Quốc gia, nơi thờ Hai Ba Trưng, hai vị nữ lưu hào kiệt có công đánh đuổi giặc Đông Hán xâm lược. Đền Hát Môn nằm bên bờ sông Hát (đoạn sông Đáy nối sông Hồng), sau do đổi dòng nên đền nằm sâu trong đất liền. Tương truyền, đây là nơi Ha Bà Trưng năm xưa lập đàn và mở hội thề tụ nghĩa trước khi xuất quân đánh thái thú Tô Định. Sau khi chiếm được thành trì, Hai Bà Trưng lên ngôi vua, đóng đô ở Mê Linh, Vĩnh Phúc. Hai năm sau, nhà Hán sai Mã Viện đưa quân sang xâm lược nước ta. Hai bà tự vẫn ở sông Hát, dân xã Hát Môn lập đền thờ ở chân đê. Đền Hát Môn còn lưu giữ được nhiều hiện vật giá trị như: kim tự khí, hương án, bài vị... mang đậm nghệ thuật chạm khắc của thời Lê.

Related Figures

Hội đền Dầm

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/2- 10/2 Âm lịch Lễ hội đền Dầm được tổ chức từ 1-10/2 âm lịch hàng năm tại thôn Xâm Dương, xã Ninh Sở, huyện Thường Tín, Hà Nội. Hội đền dâm thu hút đông đảo người dân và du khách thập phương về dâng hương cầu an. Hội đền Dầm diễn ra nhiều nghi lễ và hoạt động như: lễ rước nước, múa lân, múa rồng, kéo chữ, hát quan họ, cờ người, chọi gà... Ước tính mỗi ngày diễn ra lễ hội có hàng nghìn người tham gia, vào chính hội con số này gấp nhiều lần. Quang cảnh đền Dầm nơi diễn ra lễ hội Đền Dầm thuộc cụm di tích 3 đền nằm kề nhau cạnh Đền Lộ, Đền Sở nằm ngoài đê sông Hồng. Đền Dầm còn có tên gọi khác là Xâm Dương Linh Từ. Đền Dầm thờ Mẫu đệ Tam Thoải Cung, một trong Tam Tòa Thánh Mẫu của người Việt. Theo truyền thuyết, công chúa Hoàng Long làm vỡ chén ngọc bị đày xuống thủy cung làm con vua Thủy Tề. Hoàng Long công chúa được chàng Liễu Nghị giải oan. Để trả ơn, nàng đã báo mộng giúp Trần Hưng Đạo đánh bại quân xâm lược. Nàng được vua Trần Nhân Tông phong thần, hạ chỉ cho nhân dân đời đời thờ phụng. Hội đền Dầm thu hút đông đảo người dân tham gia Đền Dầm hiện nay còn lưu giữ được 7 đạo sắc phong. Đền Dầm có kiến trúc cổ gồm một tòa nhà cổ 2 tầng với mái hình lục giác, Nghinh Môn có 6 trụ lực lưỡng và uy nghiêm. Du khách tham dự hội đền Dầm Đền Dầm cao rộng, có 3 cửa vào, tường đắp long mã cùng khuôn viên thoáng đãng. Đền Dầm được sơn màu vàng, nâu. Bên trái chánh điện có một gốc đa cổ thụ 800 tuổi. Gốc đa có nhiều rễ phụ giống như gốc đa ở Tây Thiên. Hương án và bàn thờ trong đền Dầm được trạm trổ nghệ thuật và đều sơn son thếp vàng.

Hội đền Dầm diễn ra nhiều nghi lễ và hoạt động như: lễ rước nước, múa lân, múa rồng, kéo chữ, hát quan họ, cờ người, chọi gà... Ước tính mỗi ngày diễn ra lễ hội có hàng nghìn người tham gia, vào chính hội con số này gấp nhiều lần. Quang cảnh đền Dầm nơi diễn ra lễ hội Đền Dầm thuộc cụm di tích 3 đền nằm kề nhau cạnh Đền Lộ, Đền Sở nằm ngoài đê sông Hồng. Đền Dầm còn có tên gọi khác là Xâm Dương Linh Từ. Đền Dầm thờ Mẫu đệ Tam Thoải Cung, một trong Tam Tòa Thánh Mẫu của người Việt. Theo truyền thuyết, công chúa Hoàng Long làm vỡ chén ngọc bị đày xuống thủy cung làm con vua Thủy Tề. Hoàng Long công chúa được chàng Liễu Nghị giải oan. Để trả ơn, nàng đã báo mộng giúp Trần Hưng Đạo đánh bại quân xâm lược. Nàng được vua Trần Nhân Tông phong thần, hạ chỉ cho nhân dân đời đời thờ phụng. Hội đền Dầm thu hút đông đảo người dân tham gia Đền Dầm hiện nay còn lưu giữ được 7 đạo sắc phong. Đền Dầm có kiến trúc cổ gồm một tòa nhà cổ 2 tầng với mái hình lục giác, Nghinh Môn có 6 trụ lực lưỡng và uy nghiêm. Du khách tham dự hội đền Dầm Đền Dầm cao rộng, có 3 cửa vào, tường đắp long mã cùng khuôn viên thoáng đãng. Đền Dầm được sơn màu vàng, nâu. Bên trái chánh điện có một gốc đa cổ thụ 800 tuổi. Gốc đa có nhiều rễ phụ giống như gốc đa ở Tây Thiên. Hương án và bàn thờ trong đền Dầm được trạm trổ nghệ thuật và đều sơn son thếp vàng.

Quang cảnh đền Dầm nơi diễn ra lễ hội Đền Dầm thuộc cụm di tích 3 đền nằm kề nhau cạnh Đền Lộ, Đền Sở nằm ngoài đê sông Hồng. Đền Dầm còn có tên gọi khác là Xâm Dương Linh Từ. Đền Dầm thờ Mẫu đệ Tam Thoải Cung, một trong Tam Tòa Thánh Mẫu của người Việt. Theo truyền thuyết, công chúa Hoàng Long làm vỡ chén ngọc bị đày xuống thủy cung làm con vua Thủy Tề. Hoàng Long công chúa được chàng Liễu Nghị giải oan. Để trả ơn, nàng đã báo mộng giúp Trần Hưng Đạo đánh bại quân xâm lược. Nàng được vua Trần Nhân Tông phong thần, hạ chỉ cho nhân dân đời đời thờ phụng. Hội đền Dầm thu hút đông đảo người dân tham gia Đền Dầm hiện nay còn lưu giữ được 7 đạo sắc phong. Đền Dầm có kiến trúc cổ gồm một tòa nhà cổ 2 tầng với mái hình lục giác, Nghinh Môn có 6 trụ lực lưỡng và uy nghiêm. Du khách tham dự hội đền Dầm Đền Dầm cao rộng, có 3 cửa vào, tường đắp long mã cùng khuôn viên thoáng đãng. Đền Dầm được sơn màu vàng, nâu. Bên trái chánh điện có một gốc đa cổ thụ 800 tuổi. Gốc đa có nhiều rễ phụ giống như gốc đa ở Tây Thiên. Hương án và bàn thờ trong đền Dầm được trạm trổ nghệ thuật và đều sơn son thếp vàng.

Đền Dầm thuộc cụm di tích 3 đền nằm kề nhau cạnh Đền Lộ, Đền Sở nằm ngoài đê sông Hồng. Đền Dầm còn có tên gọi khác là Xâm Dương Linh Từ. Đền Dầm thờ Mẫu đệ Tam Thoải Cung, một trong Tam Tòa Thánh Mẫu của người Việt. Theo truyền thuyết, công chúa Hoàng Long làm vỡ chén ngọc bị đày xuống thủy cung làm con vua Thủy Tề. Hoàng Long công chúa được chàng Liễu Nghị giải oan. Để trả ơn, nàng đã báo mộng giúp Trần Hưng Đạo đánh bại quân xâm lược. Nàng được vua Trần Nhân Tông phong thần, hạ chỉ cho nhân dân đời đời thờ phụng.

Hội đền Dầm thu hút đông đảo người dân tham gia

Đền Dầm hiện nay còn lưu giữ được 7 đạo sắc phong. Đền Dầm có kiến trúc cổ gồm một tòa nhà cổ 2 tầng với mái hình lục giác, Nghinh Môn có 6 trụ lực lưỡng và uy nghiêm.

Du khách tham dự hội đền Dầm

Đền Dầm cao rộng, có 3 cửa vào, tường đắp long mã cùng khuôn viên thoáng đãng. Đền Dầm được sơn màu vàng, nâu. Bên trái chánh điện có một gốc đa cổ thụ 800 tuổi. Gốc đa có nhiều rễ phụ giống như gốc đa ở Tây Thiên. Hương án và bàn thờ trong đền Dầm được trạm trổ nghệ thuật và đều sơn son thếp vàng.

Related Figures

Hội đền Đồng Cổ quận Tây Hồ - Hà Nội

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 4/4 Âm lịch Hội đền Đồng Cổ diễn ra ngày 4/4 âm lịch hàng năm tại làng Đông Xã, quận Tây Hồ, Hà Nội. Lễ hội đền Đồng Cổ là lễ hội độc đáo, có ý nghĩa lớn trong việc giáo dục đạo lý dân tộc cho thế hệ con cháu. Cho đến nay, hội đền Đồng Cổ vẫn giữ được tục lệ hồi thề Trung hiếu truyền thống. Tham gia lễ hội không chỉ có người dân trong vùng mà còn đông đảo du khách thập phương. Tam quan đền Đồng Cổ quận Tây Hồ Đền Đồng Cổ được xây dựng năm 1028 từ thời nhà Lý. Đền Đồng Cổ thờ Thiên Hạ Minh chủ tôn thần (thần núi Đồng Cổ) đã có công giúp vua Hùng đánh giặc ngoại xâm giữ nước, giúp Thái tử Phật Mã con vua Lý Thái Tổ chiến thắng quân Chiêm Thành mở rộng bờ cõ đất nước, báo mộng để Thái Tử phật mã diệt trừ nghịch tặc. Hội đền Đồng Cổ là lễ hội độc đáo Đền chính đền Đồng Cổ ở xã Đan Nê, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Khi xưa Lý Thái Tông còn là thái tử, phụng mệnh vua cha Lý Thái Tổ đem quân đi đánh Chiêm Thành (năm 1020), khi đến Trường Châu cho quân tạm nghỉ. Đêm đó, Thái tử mơ thấy một người báo mộng: "Tôi là thần núi Đồng Cổ, nghe tin Thái tử đi đánh phương Nam xin đi theo trợ giúp đánh giặc". Quả nhiên, hôm sau quân ta đại thắng trong trận chiến Chiêm Thành. Trở về, Thái tử cho sửa soạn lễ tạ thần sau đó rước thần về kinh đô để phò trợ đất nước và nhân dân. Khi Thái tử phân vân không biết lập đền ở đâu thì lại được thần báo mộng: "Xin lập đền ở bên hữu trong đại thành, phía sau chùa Chánh Thọ". Thái tử theo lời thần xây dựng đền đúng nơi được báo mộng. Đền Đồng Cổ là nơi diễn ra nhiều nghi lễ quan trọng của các triều đình phong kiến nước ta. Trong đền còn lưu giữ rất nhiều thần tích, sắc phong của đền. Đền Đồng Cổ được công nhận di tích cấp quốc gia Đền Đồng Cổ được công nhận di tích lịch sử theo quyết định số 138-QĐ ngày 31 tháng 01 năm 1992 của Bộ Văn hóa thông tin.

Tam quan đền Đồng Cổ quận Tây Hồ Đền Đồng Cổ được xây dựng năm 1028 từ thời nhà Lý. Đền Đồng Cổ thờ Thiên Hạ Minh chủ tôn thần (thần núi Đồng Cổ) đã có công giúp vua Hùng đánh giặc ngoại xâm giữ nước, giúp Thái tử Phật Mã con vua Lý Thái Tổ chiến thắng quân Chiêm Thành mở rộng bờ cõ đất nước, báo mộng để Thái Tử phật mã diệt trừ nghịch tặc. Hội đền Đồng Cổ là lễ hội độc đáo Đền chính đền Đồng Cổ ở xã Đan Nê, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Khi xưa Lý Thái Tông còn là thái tử, phụng mệnh vua cha Lý Thái Tổ đem quân đi đánh Chiêm Thành (năm 1020), khi đến Trường Châu cho quân tạm nghỉ. Đêm đó, Thái tử mơ thấy một người báo mộng: "Tôi là thần núi Đồng Cổ, nghe tin Thái tử đi đánh phương Nam xin đi theo trợ giúp đánh giặc". Quả nhiên, hôm sau quân ta đại thắng trong trận chiến Chiêm Thành. Trở về, Thái tử cho sửa soạn lễ tạ thần sau đó rước thần về kinh đô để phò trợ đất nước và nhân dân. Khi Thái tử phân vân không biết lập đền ở đâu thì lại được thần báo mộng: "Xin lập đền ở bên hữu trong đại thành, phía sau chùa Chánh Thọ". Thái tử theo lời thần xây dựng đền đúng nơi được báo mộng. Đền Đồng Cổ là nơi diễn ra nhiều nghi lễ quan trọng của các triều đình phong kiến nước ta. Trong đền còn lưu giữ rất nhiều thần tích, sắc phong của đền. Đền Đồng Cổ được công nhận di tích cấp quốc gia Đền Đồng Cổ được công nhận di tích lịch sử theo quyết định số 138-QĐ ngày 31 tháng 01 năm 1992 của Bộ Văn hóa thông tin.

Đền Đồng Cổ được xây dựng năm 1028 từ thời nhà Lý. Đền Đồng Cổ thờ Thiên Hạ Minh chủ tôn thần (thần núi Đồng Cổ) đã có công giúp vua Hùng đánh giặc ngoại xâm giữ nước, giúp Thái tử Phật Mã con vua Lý Thái Tổ chiến thắng quân Chiêm Thành mở rộng bờ cõ đất nước, báo mộng để Thái Tử phật mã diệt trừ nghịch tặc. Hội đền Đồng Cổ là lễ hội độc đáo Đền chính đền Đồng Cổ ở xã Đan Nê, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Khi xưa Lý Thái Tông còn là thái tử, phụng mệnh vua cha Lý Thái Tổ đem quân đi đánh Chiêm Thành (năm 1020), khi đến Trường Châu cho quân tạm nghỉ. Đêm đó, Thái tử mơ thấy một người báo mộng: "Tôi là thần núi Đồng Cổ, nghe tin Thái tử đi đánh phương Nam xin đi theo trợ giúp đánh giặc". Quả nhiên, hôm sau quân ta đại thắng trong trận chiến Chiêm Thành. Trở về, Thái tử cho sửa soạn lễ tạ thần sau đó rước thần về kinh đô để phò trợ đất nước và nhân dân. Khi Thái tử phân vân không biết lập đền ở đâu thì lại được thần báo mộng: "Xin lập đền ở bên hữu trong đại thành, phía sau chùa Chánh Thọ". Thái tử theo lời thần xây dựng đền đúng nơi được báo mộng. Đền Đồng Cổ là nơi diễn ra nhiều nghi lễ quan trọng của các triều đình phong kiến nước ta. Trong đền còn lưu giữ rất nhiều thần tích, sắc phong của đền. Đền Đồng Cổ được công nhận di tích cấp quốc gia Đền Đồng Cổ được công nhận di tích lịch sử theo quyết định số 138-QĐ ngày 31 tháng 01 năm 1992 của Bộ Văn hóa thông tin.

Hội đền Đồng Cổ là lễ hội độc đáo Đền chính đền Đồng Cổ ở xã Đan Nê, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Khi xưa Lý Thái Tông còn là thái tử, phụng mệnh vua cha Lý Thái Tổ đem quân đi đánh Chiêm Thành (năm 1020), khi đến Trường Châu cho quân tạm nghỉ. Đêm đó, Thái tử mơ thấy một người báo mộng: "Tôi là thần núi Đồng Cổ, nghe tin Thái tử đi đánh phương Nam xin đi theo trợ giúp đánh giặc". Quả nhiên, hôm sau quân ta đại thắng trong trận chiến Chiêm Thành. Trở về, Thái tử cho sửa soạn lễ tạ thần sau đó rước thần về kinh đô để phò trợ đất nước và nhân dân. Khi Thái tử phân vân không biết lập đền ở đâu thì lại được thần báo mộng: "Xin lập đền ở bên hữu trong đại thành, phía sau chùa Chánh Thọ". Thái tử theo lời thần xây dựng đền đúng nơi được báo mộng. Đền Đồng Cổ là nơi diễn ra nhiều nghi lễ quan trọng của các triều đình phong kiến nước ta. Trong đền còn lưu giữ rất nhiều thần tích, sắc phong của đền. Đền Đồng Cổ được công nhận di tích cấp quốc gia Đền Đồng Cổ được công nhận di tích lịch sử theo quyết định số 138-QĐ ngày 31 tháng 01 năm 1992 của Bộ Văn hóa thông tin.

Đền chính đền Đồng Cổ ở xã Đan Nê, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Khi xưa Lý Thái Tông còn là thái tử, phụng mệnh vua cha Lý Thái Tổ đem quân đi đánh Chiêm Thành (năm 1020), khi đến Trường Châu cho quân tạm nghỉ. Đêm đó, Thái tử mơ thấy một người báo mộng: "Tôi là thần núi Đồng Cổ, nghe tin Thái tử đi đánh phương Nam xin đi theo trợ giúp đánh giặc". Quả nhiên, hôm sau quân ta đại thắng trong trận chiến Chiêm Thành. Trở về, Thái tử cho sửa soạn lễ tạ thần sau đó rước thần về kinh đô để phò trợ đất nước và nhân dân. Khi Thái tử phân vân không biết lập đền ở đâu thì lại được thần báo mộng: "Xin lập đền ở bên hữu trong đại thành, phía sau chùa Chánh Thọ". Thái tử theo lời thần xây dựng đền đúng nơi được báo mộng. Đền Đồng Cổ là nơi diễn ra nhiều nghi lễ quan trọng của các triều đình phong kiến nước ta. Trong đền còn lưu giữ rất nhiều thần tích, sắc phong của đền. Đền Đồng Cổ được công nhận di tích cấp quốc gia Đền Đồng Cổ được công nhận di tích lịch sử theo quyết định số 138-QĐ ngày 31 tháng 01 năm 1992 của Bộ Văn hóa thông tin.

Đền chính đền Đồng Cổ ở xã Đan Nê, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Khi xưa Lý Thái Tông còn là thái tử, phụng mệnh vua cha Lý Thái Tổ đem quân đi đánh Chiêm Thành (năm 1020), khi đến Trường Châu cho quân tạm nghỉ. Đêm đó, Thái tử mơ thấy một người báo mộng: "Tôi là thần núi Đồng Cổ, nghe tin Thái tử đi đánh phương Nam xin đi theo trợ giúp đánh giặc". Quả nhiên, hôm sau quân ta đại thắng trong trận chiến Chiêm Thành. Trở về, Thái tử cho sửa soạn lễ tạ thần sau đó rước thần về kinh đô để phò trợ đất nước và nhân dân. Khi Thái tử phân vân không biết lập đền ở đâu thì lại được thần báo mộng: "Xin lập đền ở bên hữu trong đại thành, phía sau chùa Chánh Thọ". Thái tử theo lời thần xây dựng đền đúng nơi được báo mộng.

Đền Đồng Cổ là nơi diễn ra nhiều nghi lễ quan trọng của các triều đình phong kiến nước ta. Trong đền còn lưu giữ rất nhiều thần tích, sắc phong của đền. Đền Đồng Cổ được công nhận di tích cấp quốc gia Đền Đồng Cổ được công nhận di tích lịch sử theo quyết định số 138-QĐ ngày 31 tháng 01 năm 1992 của Bộ Văn hóa thông tin.

Đền Đồng Cổ là nơi diễn ra nhiều nghi lễ quan trọng của các triều đình phong kiến nước ta. Trong đền còn lưu giữ rất nhiều thần tích, sắc phong của đền.

Đền Đồng Cổ được công nhận di tích cấp quốc gia Đền Đồng Cổ được công nhận di tích lịch sử theo quyết định số 138-QĐ ngày 31 tháng 01 năm 1992 của Bộ Văn hóa thông tin.

Đền Đồng Cổ được công nhận di tích cấp quốc gia

Đền Đồng Cổ được công nhận di tích lịch sử theo quyết định số 138-QĐ ngày 31 tháng 01 năm 1992 của Bộ Văn hóa thông tin.

Đền Đồng Cổ được công nhận di tích lịch sử theo quyết định số 138-QĐ ngày 31 tháng 01 năm 1992 của Bộ Văn hóa thông tin.

Related Figures

Hội đền Đông Bộ Đầu

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 8/1 Âm lịch Hội đền Đông Bộ Đầu là hình thức sinh hoạt văn hóa truyền thống ở xã Thống Nhất, huyện Thường Tín, Hà Nội. Nét đặc sắc, hấp dẫn nhất của hội đền Đông Bộ Đầu là múa gậy. Hội đền Đông Bộ Đầu diễn ra sôi nổi Đền Đông Bộ Đầu là ngôi đền cổ nổi tiếng nhất vùng. Sử quan triều Nguyễn soạn sách "Đại Nam nhất thống chí" xếp đình Đông Bộ Đầu là một trong 36 đền miếu cổ nhất tỉnh Hà Tây cũ. Theo truyền thuyết từ thời Hùng Vương, sông Hồng xuất hiện nhiều thuồng luồng lớn chuyên ăn thịt người. Một ngày nọ, có một người mẹ ra bến đò Giấp gánh nước thì bị 2 con thuồng luồng cuốn bà ra giữa sông. Người mẹ thoảng thốt kêu cứu nhưng không thấy một bóng người, bà bị con thuồng luồng cái nuốt dần vào bụng. Người mẹ ấy ngẩng mặt lên trời than rằng: "Trời ơi... người ta sinh con mong cậy nhờ còn tôi có con mà cũng như không". Lời than của bà thấu tận trời xanh. Người con từ mây cao sà xuống cứu mẹ nhưng không kịp. Thuồng luồng đã nuốt bà vào bụng. Chàng căm giận đứng choai chân hai bên bờ sông, lưng gập xuống khoắng nước từ ngã ba Bạch Hạc đến ngã ba Tuần Vường. Vợ chồng thuồng luồng thấy có bàn tay khổng lồ cào quét ở lòng sông, sóng lớn dữ dội thì lẩn lách tìm chỗ trốn. Chàng trai kịp thời tóm được, vuốt ngược bụng thuồng luồng lấy xác mẹ. Sau đó, chàng trai dìm xác hai con thuồng luồng xuống bùn đen. Sau đó, chàng trai táng mẹ vào lòng bàn tay rồi bay về trời. Kể từ đó, không còn thuồng luồng ăn thịt người ở đây nữa. Bên bờ sông làng Giấp còn lưu lại ba vết chân của chàng trai. Người dân lập đền và miếu thờ tại đây. Làng Giấp có tên là xã Bộ Đầu (có nghĩa là bước chân). Chàng trai hóa thần có tên là Huyền Thiên đại thánh Thiên Vương. Khai mạc hội đền Đông Bộ Đầu Hàng năm, ngày 19/9 âm lịch, sau kỳ lũ cuối cùng dân làng mở hội tế thần, tương truyền đây là ngày hóa của đức Thiên Vương. Ngày 6/2/1979, đền Đông Bộ Đầu được Ủy ban Nhân dân tỉnh xếp hạng di tích lịch sử. Hội đền Đông Bộ Đầu được mở lại từ đó, làng đặt lễ chính hội vào mùa xuân, ngày sinh của đức Thiên Vương. Trò chơi dân gian hội đến Đông Bộ Đầu Hội đền Đông Bộ Đầu duy trì được văn hóa đặc sắc múa gậy. Hầu hết trai đinh trong làng đều tham gia múa gây. Gậy múa được làm từ đoạn tre dài 2,5-2,8m, được trang trí đẹp mắt Các bài múa cơ bản: Múa vớt (bước lên ba bước, lui ba bước, tay gậy đưa hớt trước mặt), Múa ráo đất (tay cầm gậy giơ phía trước rồi đưa vào nách quay người lại sau), Múa vắt khăn (đưa gậy xuống ba lần rồi chuyển gậy ra sau gáy, vào thế đưa gậy ra đỡ)... Du khách tham dự hội đền Đông Bộ Đầu sẽ được tận hưởng không khí lễ hội độc đáo của người dân nơi đây.

Hội đền Đông Bộ Đầu diễn ra sôi nổi Đền Đông Bộ Đầu là ngôi đền cổ nổi tiếng nhất vùng. Sử quan triều Nguyễn soạn sách "Đại Nam nhất thống chí" xếp đình Đông Bộ Đầu là một trong 36 đền miếu cổ nhất tỉnh Hà Tây cũ. Theo truyền thuyết từ thời Hùng Vương, sông Hồng xuất hiện nhiều thuồng luồng lớn chuyên ăn thịt người. Một ngày nọ, có một người mẹ ra bến đò Giấp gánh nước thì bị 2 con thuồng luồng cuốn bà ra giữa sông. Người mẹ thoảng thốt kêu cứu nhưng không thấy một bóng người, bà bị con thuồng luồng cái nuốt dần vào bụng. Người mẹ ấy ngẩng mặt lên trời than rằng: "Trời ơi... người ta sinh con mong cậy nhờ còn tôi có con mà cũng như không". Lời than của bà thấu tận trời xanh. Người con từ mây cao sà xuống cứu mẹ nhưng không kịp. Thuồng luồng đã nuốt bà vào bụng. Chàng căm giận đứng choai chân hai bên bờ sông, lưng gập xuống khoắng nước từ ngã ba Bạch Hạc đến ngã ba Tuần Vường. Vợ chồng thuồng luồng thấy có bàn tay khổng lồ cào quét ở lòng sông, sóng lớn dữ dội thì lẩn lách tìm chỗ trốn. Chàng trai kịp thời tóm được, vuốt ngược bụng thuồng luồng lấy xác mẹ. Sau đó, chàng trai dìm xác hai con thuồng luồng xuống bùn đen. Sau đó, chàng trai táng mẹ vào lòng bàn tay rồi bay về trời. Kể từ đó, không còn thuồng luồng ăn thịt người ở đây nữa. Bên bờ sông làng Giấp còn lưu lại ba vết chân của chàng trai. Người dân lập đền và miếu thờ tại đây. Làng Giấp có tên là xã Bộ Đầu (có nghĩa là bước chân). Chàng trai hóa thần có tên là Huyền Thiên đại thánh Thiên Vương. Khai mạc hội đền Đông Bộ Đầu Hàng năm, ngày 19/9 âm lịch, sau kỳ lũ cuối cùng dân làng mở hội tế thần, tương truyền đây là ngày hóa của đức Thiên Vương. Ngày 6/2/1979, đền Đông Bộ Đầu được Ủy ban Nhân dân tỉnh xếp hạng di tích lịch sử. Hội đền Đông Bộ Đầu được mở lại từ đó, làng đặt lễ chính hội vào mùa xuân, ngày sinh của đức Thiên Vương. Trò chơi dân gian hội đến Đông Bộ Đầu Hội đền Đông Bộ Đầu duy trì được văn hóa đặc sắc múa gậy. Hầu hết trai đinh trong làng đều tham gia múa gây. Gậy múa được làm từ đoạn tre dài 2,5-2,8m, được trang trí đẹp mắt Các bài múa cơ bản: Múa vớt (bước lên ba bước, lui ba bước, tay gậy đưa hớt trước mặt), Múa ráo đất (tay cầm gậy giơ phía trước rồi đưa vào nách quay người lại sau), Múa vắt khăn (đưa gậy xuống ba lần rồi chuyển gậy ra sau gáy, vào thế đưa gậy ra đỡ)... Du khách tham dự hội đền Đông Bộ Đầu sẽ được tận hưởng không khí lễ hội độc đáo của người dân nơi đây.

Đền Đông Bộ Đầu là ngôi đền cổ nổi tiếng nhất vùng. Sử quan triều Nguyễn soạn sách "Đại Nam nhất thống chí" xếp đình Đông Bộ Đầu là một trong 36 đền miếu cổ nhất tỉnh Hà Tây cũ. Theo truyền thuyết từ thời Hùng Vương, sông Hồng xuất hiện nhiều thuồng luồng lớn chuyên ăn thịt người. Một ngày nọ, có một người mẹ ra bến đò Giấp gánh nước thì bị 2 con thuồng luồng cuốn bà ra giữa sông. Người mẹ thoảng thốt kêu cứu nhưng không thấy một bóng người, bà bị con thuồng luồng cái nuốt dần vào bụng. Người mẹ ấy ngẩng mặt lên trời than rằng: "Trời ơi... người ta sinh con mong cậy nhờ còn tôi có con mà cũng như không". Lời than của bà thấu tận trời xanh. Người con từ mây cao sà xuống cứu mẹ nhưng không kịp. Thuồng luồng đã nuốt bà vào bụng. Chàng căm giận đứng choai chân hai bên bờ sông, lưng gập xuống khoắng nước từ ngã ba Bạch Hạc đến ngã ba Tuần Vường. Vợ chồng thuồng luồng thấy có bàn tay khổng lồ cào quét ở lòng sông, sóng lớn dữ dội thì lẩn lách tìm chỗ trốn. Chàng trai kịp thời tóm được, vuốt ngược bụng thuồng luồng lấy xác mẹ. Sau đó, chàng trai dìm xác hai con thuồng luồng xuống bùn đen. Sau đó, chàng trai táng mẹ vào lòng bàn tay rồi bay về trời. Kể từ đó, không còn thuồng luồng ăn thịt người ở đây nữa.

Bên bờ sông làng Giấp còn lưu lại ba vết chân của chàng trai. Người dân lập đền và miếu thờ tại đây. Làng Giấp có tên là xã Bộ Đầu (có nghĩa là bước chân). Chàng trai hóa thần có tên là Huyền Thiên đại thánh Thiên Vương.

Khai mạc hội đền Đông Bộ Đầu

Hàng năm, ngày 19/9 âm lịch, sau kỳ lũ cuối cùng dân làng mở hội tế thần, tương truyền đây là ngày hóa của đức Thiên Vương.

Ngày 6/2/1979, đền Đông Bộ Đầu được Ủy ban Nhân dân tỉnh xếp hạng di tích lịch sử. Hội đền Đông Bộ Đầu được mở lại từ đó, làng đặt lễ chính hội vào mùa xuân, ngày sinh của đức Thiên Vương.

Trò chơi dân gian hội đến Đông Bộ Đầu

Hội đền Đông Bộ Đầu duy trì được văn hóa đặc sắc múa gậy. Hầu hết trai đinh trong làng đều tham gia múa gây. Gậy múa được làm từ đoạn tre dài 2,5-2,8m, được trang trí đẹp mắt Các bài múa cơ bản: Múa vớt (bước lên ba bước, lui ba bước, tay gậy đưa hớt trước mặt), Múa ráo đất (tay cầm gậy giơ phía trước rồi đưa vào nách quay người lại sau), Múa vắt khăn (đưa gậy xuống ba lần rồi chuyển gậy ra sau gáy, vào thế đưa gậy ra đỡ)... Du khách tham dự hội đền Đông Bộ Đầu sẽ được tận hưởng không khí lễ hội độc đáo của người dân nơi đây.

Related Figures

Hội làng Vẽ

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 9/2- 11/2 Âm lịch Hội làng Vẽ diễn ra vào dịp đầu xuân, là nét văn hóa đặc sắc nhất của đất Thăng Long. Hàng năm, hội làng Vẽ thu hút đâu đảo du khách thập phương về tham dự. Hội đình Vẽ diễn ra trang trọng Làng Vẽ thuộc xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Người xưa có câu: "Đất làng Giàn quan làng Vẽ". Làng Vẽ từ khoa thi đời Trần 1396 đến khoa thi 1915 đã có 25 vị đỗ tiến sĩ, 86 vị đỗ bảng nhãn, cử nhân. Đình làng Vẽ có kiến trúc hình chữ Quốc, cổng vào qua hai tam quan đồ sộ. Qua cửa vào tam quan nội đi qua ba cửa thông suốt, một con đường gạch dẫn thẳng vào sân đình rộng 1,2 sào. Hai bên hành lang mỗi dãy dài 7 gian. Đình làng Vẽ có 2 bái đường nội và ngoại, mỗi lớp gần 9 gian, trung cung 3 gian và hậu cung 3 gian. Đình lãng Vẽ thờ 3 vị Thành Hoàng: thiên thần là Độc Cước sơn tiên đại thánh, nhân thần là Lê Khôi (cháu vua Lê Thái Tổ) và thổ thần là Bảo vệ Chương Hòa. Ngoài bái đường nội còn có phụ thờ Phạm Quang Dung (đỗ tiến sĩ khoa Bính Tuất 1706) có công xây dựng lại đình và Mạc quận công (danh tướng thời Hùng Vương). Phía nhà tả vu thờ Phạm Thọ Lý (người cung tiến mấy sào đất để làm đình. Ở bái đường làng Vẽ có đôi hạc: đôi hạc bằng đồng cao 2m cùng bộ ngũ sự cũng bằng đồng. Phía ngoài đình có đôi hạc bằng gỗ cao 3m. Trong đình còn lưu giữ bộ kiệu bát cống, một bộ đòn rồng, một long đình được sơn son thếp vàng rực rỡ. Trong đình còn có nhiều bức tranh cổ đời Lê minh họa nhiều chữ Hán liên hoàn như: cốc, phong, bách, đăng, vạn, niên, ký, phúc, chúc, thọ, thánh, hoàng, tư, dân, an, thái... Thanh niên tham gia lễ rước hội làng Vẽ Hội làng Vẽ được tổ chức trọng thể và trang nghiêm. Tối ngày 9/2, dân làng tổ chức lễ nhập tịch. Ngày 10/2, thực hiện lễ rước chính thức. Trong lễ rước có bốn cỗ kiệu nối tiếp nhau: rước nước, rước hương án, rước long đình. Khiêng kiệu là thanh niên, nam nữ áo màu rực rỡ đi nhịp nhàng theo điệu trống, chiêng. Hội làng Vẽ diễn ra với nhiều hoạt động ý nghĩa Dân làng chuẩn bị đồ tế lễ gồm thủ lợn, xôi gà, hoa quả bốn mùa. Hội làng Vẽ còn có điểm đặc biệt dâng lễ vật là những cây mía tím. Đám rước đi từ đình làng Vẽ qua đê rẽ vè chùa Tư Khánh rồi quay trở lại đình. Hội làng Vẽ còn có nhiều trò chơi dân gian như: Chọi gà, bịt mắt bắt dee, cờ bỏi... Thả thơ là nét đặc sắc của riêng làng Vẽ văn hiến.

Hội đình Vẽ diễn ra trang trọng Làng Vẽ thuộc xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Người xưa có câu: "Đất làng Giàn quan làng Vẽ". Làng Vẽ từ khoa thi đời Trần 1396 đến khoa thi 1915 đã có 25 vị đỗ tiến sĩ, 86 vị đỗ bảng nhãn, cử nhân. Đình làng Vẽ có kiến trúc hình chữ Quốc, cổng vào qua hai tam quan đồ sộ. Qua cửa vào tam quan nội đi qua ba cửa thông suốt, một con đường gạch dẫn thẳng vào sân đình rộng 1,2 sào. Hai bên hành lang mỗi dãy dài 7 gian. Đình làng Vẽ có 2 bái đường nội và ngoại, mỗi lớp gần 9 gian, trung cung 3 gian và hậu cung 3 gian. Đình lãng Vẽ thờ 3 vị Thành Hoàng: thiên thần là Độc Cước sơn tiên đại thánh, nhân thần là Lê Khôi (cháu vua Lê Thái Tổ) và thổ thần là Bảo vệ Chương Hòa. Ngoài bái đường nội còn có phụ thờ Phạm Quang Dung (đỗ tiến sĩ khoa Bính Tuất 1706) có công xây dựng lại đình và Mạc quận công (danh tướng thời Hùng Vương). Phía nhà tả vu thờ Phạm Thọ Lý (người cung tiến mấy sào đất để làm đình. Ở bái đường làng Vẽ có đôi hạc: đôi hạc bằng đồng cao 2m cùng bộ ngũ sự cũng bằng đồng. Phía ngoài đình có đôi hạc bằng gỗ cao 3m. Trong đình còn lưu giữ bộ kiệu bát cống, một bộ đòn rồng, một long đình được sơn son thếp vàng rực rỡ. Trong đình còn có nhiều bức tranh cổ đời Lê minh họa nhiều chữ Hán liên hoàn như: cốc, phong, bách, đăng, vạn, niên, ký, phúc, chúc, thọ, thánh, hoàng, tư, dân, an, thái... Thanh niên tham gia lễ rước hội làng Vẽ Hội làng Vẽ được tổ chức trọng thể và trang nghiêm. Tối ngày 9/2, dân làng tổ chức lễ nhập tịch. Ngày 10/2, thực hiện lễ rước chính thức. Trong lễ rước có bốn cỗ kiệu nối tiếp nhau: rước nước, rước hương án, rước long đình. Khiêng kiệu là thanh niên, nam nữ áo màu rực rỡ đi nhịp nhàng theo điệu trống, chiêng. Hội làng Vẽ diễn ra với nhiều hoạt động ý nghĩa Dân làng chuẩn bị đồ tế lễ gồm thủ lợn, xôi gà, hoa quả bốn mùa. Hội làng Vẽ còn có điểm đặc biệt dâng lễ vật là những cây mía tím. Đám rước đi từ đình làng Vẽ qua đê rẽ vè chùa Tư Khánh rồi quay trở lại đình. Hội làng Vẽ còn có nhiều trò chơi dân gian như: Chọi gà, bịt mắt bắt dee, cờ bỏi... Thả thơ là nét đặc sắc của riêng làng Vẽ văn hiến.

Làng Vẽ thuộc xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Người xưa có câu: "Đất làng Giàn quan làng Vẽ". Làng Vẽ từ khoa thi đời Trần 1396 đến khoa thi 1915 đã có 25 vị đỗ tiến sĩ, 86 vị đỗ bảng nhãn, cử nhân. Đình làng Vẽ có kiến trúc hình chữ Quốc, cổng vào qua hai tam quan đồ sộ. Qua cửa vào tam quan nội đi qua ba cửa thông suốt, một con đường gạch dẫn thẳng vào sân đình rộng 1,2 sào. Hai bên hành lang mỗi dãy dài 7 gian. Đình làng Vẽ có 2 bái đường nội và ngoại, mỗi lớp gần 9 gian, trung cung 3 gian và hậu cung 3 gian. Đình lãng Vẽ thờ 3 vị Thành Hoàng: thiên thần là Độc Cước sơn tiên đại thánh, nhân thần là Lê Khôi (cháu vua Lê Thái Tổ) và thổ thần là Bảo vệ Chương Hòa. Ngoài bái đường nội còn có phụ thờ Phạm Quang Dung (đỗ tiến sĩ khoa Bính Tuất 1706) có công xây dựng lại đình và Mạc quận công (danh tướng thời Hùng Vương). Phía nhà tả vu thờ Phạm Thọ Lý (người cung tiến mấy sào đất để làm đình. Ở bái đường làng Vẽ có đôi hạc: đôi hạc bằng đồng cao 2m cùng bộ ngũ sự cũng bằng đồng. Phía ngoài đình có đôi hạc bằng gỗ cao 3m. Trong đình còn lưu giữ bộ kiệu bát cống, một bộ đòn rồng, một long đình được sơn son thếp vàng rực rỡ. Trong đình còn có nhiều bức tranh cổ đời Lê minh họa nhiều chữ Hán liên hoàn như: cốc, phong, bách, đăng, vạn, niên, ký, phúc, chúc, thọ, thánh, hoàng, tư, dân, an, thái... Thanh niên tham gia lễ rước hội làng Vẽ Hội làng Vẽ được tổ chức trọng thể và trang nghiêm. Tối ngày 9/2, dân làng tổ chức lễ nhập tịch. Ngày 10/2, thực hiện lễ rước chính thức. Trong lễ rước có bốn cỗ kiệu nối tiếp nhau: rước nước, rước hương án, rước long đình. Khiêng kiệu là thanh niên, nam nữ áo màu rực rỡ đi nhịp nhàng theo điệu trống, chiêng. Hội làng Vẽ diễn ra với nhiều hoạt động ý nghĩa Dân làng chuẩn bị đồ tế lễ gồm thủ lợn, xôi gà, hoa quả bốn mùa. Hội làng Vẽ còn có điểm đặc biệt dâng lễ vật là những cây mía tím. Đám rước đi từ đình làng Vẽ qua đê rẽ vè chùa Tư Khánh rồi quay trở lại đình. Hội làng Vẽ còn có nhiều trò chơi dân gian như: Chọi gà, bịt mắt bắt dee, cờ bỏi... Thả thơ là nét đặc sắc của riêng làng Vẽ văn hiến.

Làng Vẽ thuộc xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Người xưa có câu: "Đất làng Giàn quan làng Vẽ". Làng Vẽ từ khoa thi đời Trần 1396 đến khoa thi 1915 đã có 25 vị đỗ tiến sĩ, 86 vị đỗ bảng nhãn, cử nhân. Đình làng Vẽ có kiến trúc hình chữ Quốc, cổng vào qua hai tam quan đồ sộ. Qua cửa vào tam quan nội đi qua ba cửa thông suốt, một con đường gạch dẫn thẳng vào sân đình rộng 1,2 sào. Hai bên hành lang mỗi dãy dài 7 gian. Đình làng Vẽ có 2 bái đường nội và ngoại, mỗi lớp gần 9 gian, trung cung 3 gian và hậu cung 3 gian.

Đình lãng Vẽ thờ 3 vị Thành Hoàng: thiên thần là Độc Cước sơn tiên đại thánh, nhân thần là Lê Khôi (cháu vua Lê Thái Tổ) và thổ thần là Bảo vệ Chương Hòa. Ngoài bái đường nội còn có phụ thờ Phạm Quang Dung (đỗ tiến sĩ khoa Bính Tuất 1706) có công xây dựng lại đình và Mạc quận công (danh tướng thời Hùng Vương). Phía nhà tả vu thờ Phạm Thọ Lý (người cung tiến mấy sào đất để làm đình.

Ở bái đường làng Vẽ có đôi hạc: đôi hạc bằng đồng cao 2m cùng bộ ngũ sự cũng bằng đồng. Phía ngoài đình có đôi hạc bằng gỗ cao 3m. Trong đình còn lưu giữ bộ kiệu bát cống, một bộ đòn rồng, một long đình được sơn son thếp vàng rực rỡ. Trong đình còn có nhiều bức tranh cổ đời Lê minh họa nhiều chữ Hán liên hoàn như: cốc, phong, bách, đăng, vạn, niên, ký, phúc, chúc, thọ, thánh, hoàng, tư, dân, an, thái... Thanh niên tham gia lễ rước hội làng Vẽ Hội làng Vẽ được tổ chức trọng thể và trang nghiêm. Tối ngày 9/2, dân làng tổ chức lễ nhập tịch. Ngày 10/2, thực hiện lễ rước chính thức. Trong lễ rước có bốn cỗ kiệu nối tiếp nhau: rước nước, rước hương án, rước long đình. Khiêng kiệu là thanh niên, nam nữ áo màu rực rỡ đi nhịp nhàng theo điệu trống, chiêng. Hội làng Vẽ diễn ra với nhiều hoạt động ý nghĩa Dân làng chuẩn bị đồ tế lễ gồm thủ lợn, xôi gà, hoa quả bốn mùa. Hội làng Vẽ còn có điểm đặc biệt dâng lễ vật là những cây mía tím. Đám rước đi từ đình làng Vẽ qua đê rẽ vè chùa Tư Khánh rồi quay trở lại đình. Hội làng Vẽ còn có nhiều trò chơi dân gian như: Chọi gà, bịt mắt bắt dee, cờ bỏi... Thả thơ là nét đặc sắc của riêng làng Vẽ văn hiến.

Ở bái đường làng Vẽ có đôi hạc: đôi hạc bằng đồng cao 2m cùng bộ ngũ sự cũng bằng đồng. Phía ngoài đình có đôi hạc bằng gỗ cao 3m. Trong đình còn lưu giữ bộ kiệu bát cống, một bộ đòn rồng, một long đình được sơn son thếp vàng rực rỡ. Trong đình còn có nhiều bức tranh cổ đời Lê minh họa nhiều chữ Hán liên hoàn như: cốc, phong, bách, đăng, vạn, niên, ký, phúc, chúc, thọ, thánh, hoàng, tư, dân, an, thái...

Thanh niên tham gia lễ rước hội làng Vẽ

Hội làng Vẽ được tổ chức trọng thể và trang nghiêm. Tối ngày 9/2, dân làng tổ chức lễ nhập tịch. Ngày 10/2, thực hiện lễ rước chính thức. Trong lễ rước có bốn cỗ kiệu nối tiếp nhau: rước nước, rước hương án, rước long đình. Khiêng kiệu là thanh niên, nam nữ áo màu rực rỡ đi nhịp nhàng theo điệu trống, chiêng.

Hội làng Vẽ diễn ra với nhiều hoạt động ý nghĩa

Dân làng chuẩn bị đồ tế lễ gồm thủ lợn, xôi gà, hoa quả bốn mùa. Hội làng Vẽ còn có điểm đặc biệt dâng lễ vật là những cây mía tím. Đám rước đi từ đình làng Vẽ qua đê rẽ vè chùa Tư Khánh rồi quay trở lại đình. Hội làng Vẽ còn có nhiều trò chơi dân gian như: Chọi gà, bịt mắt bắt dee, cờ bỏi... Thả thơ là nét đặc sắc của riêng làng Vẽ văn hiến.

Related Figures

Lễ hạ cờ

Thông tin thời kỳ

Lễ hạ cờ tại quảng trường Ba Đình là nghi lễ cấp quốc gia của Việt Nam. Bất kể nắng hay mưa, lễ hạ cờ diễn ra trang trọng vào 21h hàng ngày tại quảng trường Ba Đình trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Lễ hạ cờ tại quảng trường Ba Đình lịch sử Gần tới 21h, loa phát thanh yêu cầu mọi người ở khu vực quảng trường dừng hết mọi hoạt động, hướng về Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hàng ngàn người dân và du khách thập phương, không ai bảo ai tự giác lùi về phía sau ô cỏ thứ ba, đứng nghiêm trang. Lễ hạ cờ diễn ra trang nghiêm Lễ hạ cờ bắt đầu. Một đoàn tiêu binh gồm 34 chiến sĩ tượng trưng cho 34 chiến sĩ đầu tiên của đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân tiến ra quảng trường theo tiếng nhạc hùng tráng "Bác đang cùng chúng cháu hành quân". Sau khi đến chân cột cờ, ba chiến sĩ tiến lên thực hiện nghi lễ hạ cờ. Các chiến sĩ không dùng tay kéo dây cờ mà có một mô tơ nhỏ bên trong cột cờ. Đội trưởng bấm nút, lá cờ từ từ hạ xuống trong tiếng nhạc "Tiến quân ca". Lá cờ hạ xuống được gấp gọn gàng. Đoàn 275 Bộ Tư lệnh bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được giao nhiệm vụ thực hiện nghi lễ hạ cờ. Toàn đội nghi lễ rước quốc kỳ đi về phía bên phải rồi vòng qua Lăng Chủ tịch, kết thúc lễ hạ cờ. Toàn bộ lễ hạ cờ diễn ra trong khoảng 7-8 phút. Lễ hạ cờ thu hút đông đảo người dân tới xem Lễ hạ cờ tại quảng trường Ba Đình thể hiện nghĩa cử và tình cảm của người dân cả nước với Bác Hồ kính yêu. Với mỗi người dân Việt Nam, được tham dự lễ hạ cờ cảm thấy trào dâng niềm xúc động, tình yêu quê hương đất nước và lòng tự hào dân tộc.

Lễ hạ cờ tại quảng trường Ba Đình lịch sử Gần tới 21h, loa phát thanh yêu cầu mọi người ở khu vực quảng trường dừng hết mọi hoạt động, hướng về Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hàng ngàn người dân và du khách thập phương, không ai bảo ai tự giác lùi về phía sau ô cỏ thứ ba, đứng nghiêm trang. Lễ hạ cờ diễn ra trang nghiêm Lễ hạ cờ bắt đầu. Một đoàn tiêu binh gồm 34 chiến sĩ tượng trưng cho 34 chiến sĩ đầu tiên của đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân tiến ra quảng trường theo tiếng nhạc hùng tráng "Bác đang cùng chúng cháu hành quân". Sau khi đến chân cột cờ, ba chiến sĩ tiến lên thực hiện nghi lễ hạ cờ. Các chiến sĩ không dùng tay kéo dây cờ mà có một mô tơ nhỏ bên trong cột cờ. Đội trưởng bấm nút, lá cờ từ từ hạ xuống trong tiếng nhạc "Tiến quân ca". Lá cờ hạ xuống được gấp gọn gàng. Đoàn 275 Bộ Tư lệnh bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được giao nhiệm vụ thực hiện nghi lễ hạ cờ. Toàn đội nghi lễ rước quốc kỳ đi về phía bên phải rồi vòng qua Lăng Chủ tịch, kết thúc lễ hạ cờ. Toàn bộ lễ hạ cờ diễn ra trong khoảng 7-8 phút. Lễ hạ cờ thu hút đông đảo người dân tới xem Lễ hạ cờ tại quảng trường Ba Đình thể hiện nghĩa cử và tình cảm của người dân cả nước với Bác Hồ kính yêu. Với mỗi người dân Việt Nam, được tham dự lễ hạ cờ cảm thấy trào dâng niềm xúc động, tình yêu quê hương đất nước và lòng tự hào dân tộc.

Gần tới 21h, loa phát thanh yêu cầu mọi người ở khu vực quảng trường dừng hết mọi hoạt động, hướng về Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hàng ngàn người dân và du khách thập phương, không ai bảo ai tự giác lùi về phía sau ô cỏ thứ ba, đứng nghiêm trang.

Lễ hạ cờ diễn ra trang nghiêm

Lễ hạ cờ bắt đầu. Một đoàn tiêu binh gồm 34 chiến sĩ tượng trưng cho 34 chiến sĩ đầu tiên của đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân tiến ra quảng trường theo tiếng nhạc hùng tráng "Bác đang cùng chúng cháu hành quân". Sau khi đến chân cột cờ, ba chiến sĩ tiến lên thực hiện nghi lễ hạ cờ. Các chiến sĩ không dùng tay kéo dây cờ mà có một mô tơ nhỏ bên trong cột cờ. Đội trưởng bấm nút, lá cờ từ từ hạ xuống trong tiếng nhạc "Tiến quân ca". Lá cờ hạ xuống được gấp gọn gàng. Đoàn 275 Bộ Tư lệnh bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được giao nhiệm vụ thực hiện nghi lễ hạ cờ. Toàn đội nghi lễ rước quốc kỳ đi về phía bên phải rồi vòng qua Lăng Chủ tịch, kết thúc lễ hạ cờ. Toàn bộ lễ hạ cờ diễn ra trong khoảng 7-8 phút.

Lễ hạ cờ thu hút đông đảo người dân tới xem

Lễ hạ cờ tại quảng trường Ba Đình thể hiện nghĩa cử và tình cảm của người dân cả nước với Bác Hồ kính yêu. Với mỗi người dân Việt Nam, được tham dự lễ hạ cờ cảm thấy trào dâng niềm xúc động, tình yêu quê hương đất nước và lòng tự hào dân tộc.

Related Figures

Lễ thượng cờ

Thông tin thời kỳ

Lễ thượng cờ trên quảng trường Ba Đình là nghi lễ cấp Quốc gia của nước ta. Lễ thượng cờ được thực hiện vào 6h sáng hàng ngày trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Lễ thượng cờ là nghi lễ cấp quốc gia Lễ thượng cờ trên quảng trường Ba Đình do Bộ Tư lệnh bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đề xuất và được Chính phủ phê duyệt đúng dịp kỷ niệm 111 năm ngày sinh nhật Bác Hồ. Đoàn 275 - đơn vị đặc trách nhiệm vụ nghi lễ, nghi thức của Bộ Tư lệnh bảo vệ Lăng được giao nhiệm vụ thực hiện nghi lễ này. Lễ thượng cờ diễn ra 6h sáng hàng ngày bất kể nắng hay mưa Đúng 5h55p, đoàn thượng cờ khởi hành từ phía sau Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh từ từ tiến vào chính giữa quảng trường. Dẫn đầu đoàn thượng cờ chính là quân kỳ quyết thắng trên nền nhạc hành khúc Tiến bước dưới quân kỳ. Theo sau là đội tiêu binh với 34 chiến sĩ tượng trưng cho 34 chiến sĩ đầu tiên của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Lễ thượng cờ diễn ra trong không khí trang nghiêm Đoàn thượng cờ vào đội hình ngay ngắn hướng về lăng chủ tịch Hồ Chí Minh. Đến chân cột cờ, ba chiến sĩ đội hồng kỳ tiến lên phía cột cờ chuẩn bị các nghi thức cho lễ thượng cờ. Đây cũng là thời điểm cửa lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu mở. Sau khi có hiệu lệnh, lá cờ được tung ra và bay lên cao theo tiếng nhạc bài Quốc ca. Lá cờ được kéo lên đỉnh của cột cờ cao 29m trước lăng Chủ tịch. Sau khi hoàn thành lễ thượng cờ, đội tiêu binh đi một vòng trước cửa lăng rồi kết thúc nghi lễ. Sau lễ thượng cờ, người dân và du khách thăm quan sẽ thấy hình ảnh cờ đỏ sao vàng tung bay phấp phới ngay chính giữa quảng trường Ba Đình lịch sử.

Lễ thượng cờ là nghi lễ cấp quốc gia Lễ thượng cờ trên quảng trường Ba Đình do Bộ Tư lệnh bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đề xuất và được Chính phủ phê duyệt đúng dịp kỷ niệm 111 năm ngày sinh nhật Bác Hồ. Đoàn 275 - đơn vị đặc trách nhiệm vụ nghi lễ, nghi thức của Bộ Tư lệnh bảo vệ Lăng được giao nhiệm vụ thực hiện nghi lễ này. Lễ thượng cờ diễn ra 6h sáng hàng ngày bất kể nắng hay mưa Đúng 5h55p, đoàn thượng cờ khởi hành từ phía sau Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh từ từ tiến vào chính giữa quảng trường. Dẫn đầu đoàn thượng cờ chính là quân kỳ quyết thắng trên nền nhạc hành khúc Tiến bước dưới quân kỳ. Theo sau là đội tiêu binh với 34 chiến sĩ tượng trưng cho 34 chiến sĩ đầu tiên của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Lễ thượng cờ diễn ra trong không khí trang nghiêm Đoàn thượng cờ vào đội hình ngay ngắn hướng về lăng chủ tịch Hồ Chí Minh. Đến chân cột cờ, ba chiến sĩ đội hồng kỳ tiến lên phía cột cờ chuẩn bị các nghi thức cho lễ thượng cờ. Đây cũng là thời điểm cửa lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu mở. Sau khi có hiệu lệnh, lá cờ được tung ra và bay lên cao theo tiếng nhạc bài Quốc ca. Lá cờ được kéo lên đỉnh của cột cờ cao 29m trước lăng Chủ tịch. Sau khi hoàn thành lễ thượng cờ, đội tiêu binh đi một vòng trước cửa lăng rồi kết thúc nghi lễ. Sau lễ thượng cờ, người dân và du khách thăm quan sẽ thấy hình ảnh cờ đỏ sao vàng tung bay phấp phới ngay chính giữa quảng trường Ba Đình lịch sử.

Lễ thượng cờ trên quảng trường Ba Đình do Bộ Tư lệnh bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đề xuất và được Chính phủ phê duyệt đúng dịp kỷ niệm 111 năm ngày sinh nhật Bác Hồ. Đoàn 275 - đơn vị đặc trách nhiệm vụ nghi lễ, nghi thức của Bộ Tư lệnh bảo vệ Lăng được giao nhiệm vụ thực hiện nghi lễ này.

Lễ thượng cờ diễn ra 6h sáng hàng ngày bất kể nắng hay mưa

Đúng 5h55p, đoàn thượng cờ khởi hành từ phía sau Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh từ từ tiến vào chính giữa quảng trường. Dẫn đầu đoàn thượng cờ chính là quân kỳ quyết thắng trên nền nhạc hành khúc Tiến bước dưới quân kỳ. Theo sau là đội tiêu binh với 34 chiến sĩ tượng trưng cho 34 chiến sĩ đầu tiên của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân.

Lễ thượng cờ diễn ra trong không khí trang nghiêm

Đoàn thượng cờ vào đội hình ngay ngắn hướng về lăng chủ tịch Hồ Chí Minh. Đến chân cột cờ, ba chiến sĩ đội hồng kỳ tiến lên phía cột cờ chuẩn bị các nghi thức cho lễ thượng cờ. Đây cũng là thời điểm cửa lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu mở. Sau khi có hiệu lệnh, lá cờ được tung ra và bay lên cao theo tiếng nhạc bài Quốc ca. Lá cờ được kéo lên đỉnh của cột cờ cao 29m trước lăng Chủ tịch. Sau khi hoàn thành lễ thượng cờ, đội tiêu binh đi một vòng trước cửa lăng rồi kết thúc nghi lễ. Sau lễ thượng cờ, người dân và du khách thăm quan sẽ thấy hình ảnh cờ đỏ sao vàng tung bay phấp phới ngay chính giữa quảng trường Ba Đình lịch sử.

Related Figures

Lễ hội đình Ngoại

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 20/7 Âm lịch Lễ hội đình Ngoại tại Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội tổ chức hàng năm tưởng nhớ ngày mất của Đô Hồ Đại vương Phạm Tu, Thượng Thủy Tổ họ Phạm Việt Nam. Đô Hồ Đại vương Phạm Tu - Trưởng ban Võ nhà nước Vạn Xuân, Đại Thành hoàng Thăng Long, khai quốc công thần triều Lý. Danh tướng Phạm Tu là người làng Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Phạm Tu là nhân vật tài ba, ghi dấu ấn đặc biệt trong cuộc kháng chiến bảo vệ thành Thăng Long xưa. Ngài được tôn là Đại Thành hoàng Thăng Long. Ngài là vị tổng tư lệnh đầu tiên của Việt Nam khi nước ta có bộ máy chính quyền. Phạm Tu anh dũng hy sinh ở chiến thành vùng cửa sông Tô khi đã 70 tuổi. Phạm Tu có công đánh đuổi giặc Lương phương Bắc, giải phóng nước ta khỏi ách đô hộ. Ngài cũng có công dẹp giặc Nam, ccaamf quân giữ yên bờ cõi phía Nam, tham mưu cho vua Lý Nam Đế lập kinh đô... Do lập nhiều công lao to lớn, sau khi mất Phạm Tu được vu Lý Nam Đế phong tặng Long Biên Hầu và xuống chiếu để nhân dân lập miếu thờ phụng ngay tại quê nhà - Đình Ngoại, Thanh Liệt. Lễ hội Đình Ngoại diễn ra sôi nổi Từ nhiều đời nay, Đình Ngoại được các triều đại phong kiến sắc phong, được trùng tu tôn tạo nhiều lần. Nhân dịp kỷ niệm Đại lễ nghìn năng Thăng Long - Hà Nội, Đình Ngoại được thành phố Hà Nội phê duyệt dự án tu bổ, tôn tạo toàn bộ quần thể di tích với tổng kinh phí 29 tỷ đồng. Nghi lễ trang trọng trong lễ hội đình Ngoại Hội đình Ngoại, ngày giỗ Thượng Thủy Tổ Phạm Tu là dịp con cháu họ Phạm khắp mọi nơi có dịp tìm về cội nguồn, tri ân tiên tổ, thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn. Đây cũng là nơi những người họ Phạm thể hiện nghĩa tình đồng tộc, nơi tụ hội để trao đổi kinh nghiệm trong việc họ, liên kết dòng tộc và những việc liên quan tới gia đình-xã hội… Đình Ngoại là điểm hấp dẫn du khách thập phương mỗi khi về tham quan, thắp hương chiêm bái. Đình Ngoại nơi diễn ra lễ hội Hội đình Ngoại diễn ra đông vui, nhộn nhịp và rất cảm động. Người tham gia hội đình Ngoại có cảm giác ấm áp như được về nhà.

Đô Hồ Đại vương Phạm Tu - Trưởng ban Võ nhà nước Vạn Xuân, Đại Thành hoàng Thăng Long, khai quốc công thần triều Lý. Danh tướng Phạm Tu là người làng Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Phạm Tu là nhân vật tài ba, ghi dấu ấn đặc biệt trong cuộc kháng chiến bảo vệ thành Thăng Long xưa. Ngài được tôn là Đại Thành hoàng Thăng Long. Ngài là vị tổng tư lệnh đầu tiên của Việt Nam khi nước ta có bộ máy chính quyền. Phạm Tu anh dũng hy sinh ở chiến thành vùng cửa sông Tô khi đã 70 tuổi. Phạm Tu có công đánh đuổi giặc Lương phương Bắc, giải phóng nước ta khỏi ách đô hộ. Ngài cũng có công dẹp giặc Nam, ccaamf quân giữ yên bờ cõi phía Nam, tham mưu cho vua Lý Nam Đế lập kinh đô... Do lập nhiều công lao to lớn, sau khi mất Phạm Tu được vu Lý Nam Đế phong tặng Long Biên Hầu và xuống chiếu để nhân dân lập miếu thờ phụng ngay tại quê nhà - Đình Ngoại, Thanh Liệt. Lễ hội Đình Ngoại diễn ra sôi nổi Từ nhiều đời nay, Đình Ngoại được các triều đại phong kiến sắc phong, được trùng tu tôn tạo nhiều lần. Nhân dịp kỷ niệm Đại lễ nghìn năng Thăng Long - Hà Nội, Đình Ngoại được thành phố Hà Nội phê duyệt dự án tu bổ, tôn tạo toàn bộ quần thể di tích với tổng kinh phí 29 tỷ đồng. Nghi lễ trang trọng trong lễ hội đình Ngoại Hội đình Ngoại, ngày giỗ Thượng Thủy Tổ Phạm Tu là dịp con cháu họ Phạm khắp mọi nơi có dịp tìm về cội nguồn, tri ân tiên tổ, thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn. Đây cũng là nơi những người họ Phạm thể hiện nghĩa tình đồng tộc, nơi tụ hội để trao đổi kinh nghiệm trong việc họ, liên kết dòng tộc và những việc liên quan tới gia đình-xã hội… Đình Ngoại là điểm hấp dẫn du khách thập phương mỗi khi về tham quan, thắp hương chiêm bái. Đình Ngoại nơi diễn ra lễ hội Hội đình Ngoại diễn ra đông vui, nhộn nhịp và rất cảm động. Người tham gia hội đình Ngoại có cảm giác ấm áp như được về nhà.

Lễ hội Đình Ngoại diễn ra sôi nổi Từ nhiều đời nay, Đình Ngoại được các triều đại phong kiến sắc phong, được trùng tu tôn tạo nhiều lần. Nhân dịp kỷ niệm Đại lễ nghìn năng Thăng Long - Hà Nội, Đình Ngoại được thành phố Hà Nội phê duyệt dự án tu bổ, tôn tạo toàn bộ quần thể di tích với tổng kinh phí 29 tỷ đồng. Nghi lễ trang trọng trong lễ hội đình Ngoại Hội đình Ngoại, ngày giỗ Thượng Thủy Tổ Phạm Tu là dịp con cháu họ Phạm khắp mọi nơi có dịp tìm về cội nguồn, tri ân tiên tổ, thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn. Đây cũng là nơi những người họ Phạm thể hiện nghĩa tình đồng tộc, nơi tụ hội để trao đổi kinh nghiệm trong việc họ, liên kết dòng tộc và những việc liên quan tới gia đình-xã hội… Đình Ngoại là điểm hấp dẫn du khách thập phương mỗi khi về tham quan, thắp hương chiêm bái. Đình Ngoại nơi diễn ra lễ hội Hội đình Ngoại diễn ra đông vui, nhộn nhịp và rất cảm động. Người tham gia hội đình Ngoại có cảm giác ấm áp như được về nhà.

Lễ hội Đình Ngoại diễn ra sôi nổi

Từ nhiều đời nay, Đình Ngoại được các triều đại phong kiến sắc phong, được trùng tu tôn tạo nhiều lần. Nhân dịp kỷ niệm Đại lễ nghìn năng Thăng Long - Hà Nội, Đình Ngoại được thành phố Hà Nội phê duyệt dự án tu bổ, tôn tạo toàn bộ quần thể di tích với tổng kinh phí 29 tỷ đồng.

Nghi lễ trang trọng trong lễ hội đình Ngoại Hội đình Ngoại, ngày giỗ Thượng Thủy Tổ Phạm Tu là dịp con cháu họ Phạm khắp mọi nơi có dịp tìm về cội nguồn, tri ân tiên tổ, thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn. Đây cũng là nơi những người họ Phạm thể hiện nghĩa tình đồng tộc, nơi tụ hội để trao đổi kinh nghiệm trong việc họ, liên kết dòng tộc và những việc liên quan tới gia đình-xã hội… Đình Ngoại là điểm hấp dẫn du khách thập phương mỗi khi về tham quan, thắp hương chiêm bái. Đình Ngoại nơi diễn ra lễ hội Hội đình Ngoại diễn ra đông vui, nhộn nhịp và rất cảm động. Người tham gia hội đình Ngoại có cảm giác ấm áp như được về nhà.

Related Figures

Lễ hội đình Trung

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 17/11- 18/11 Âm lịch Hàng năm, cứ đến giữa tháng 11 âm lịch, người dân trên mảnh đất giàu truyền thống anh hùng xã Phú Lão, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình tưng bừng tổ chức lễ hội tại đình Trung để tưởng nhớ công lao to lớn của 7 vị vua cha, 3 vị Thánh, cầu cho mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, nhân dân no đủ, được hưởng phúc, lộc, thọ. Hội đình Trung là văn hóa đặc trưng huyện Lạc Thủy Đình Trung được xây dựng cách đây gần 300 năm, được trùng tu tôn tạo sau 2 cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Đình Trung trước đây có tên gọi là đình Lão Nội. Trải qua nhiều biến động lịch sử, đình Trung vẫn giữ được nhiều nét văn hóa độc đáo, đậm đà bản sắc dân tộc. Hình ảnh cây đa, giếng nước, sân đình đã in sâu vào tiềm thức của người dân nơi đây. Đông đảo người dân tham gai hội Đình Trung Hội đình Trung diễn ra trang trọng phần lễ và sôi nổi phần hội. Bắt đầu hội đình Trung, có đoàn dâng hương hay còn gọi là "Hội tế" thể hiện lòng thành kính với thượng đẳng anh linh của mỗi người dân trên mảnh đất Phú Lão. Hội Đình Trung sôi nổi với nhiều trò chơi dân gian Phần hội đình Trung diễn ra sôi nổi với nhiều hoạt động vui chơi giải trí phong phú như: Thi đấu bóng chuyền, giao lưu văn nghệ, chơi khăng, đánh cù... thể hiện nét văn hóa độc đáo của người dân, khơi dậy tinh thần, lòng tự hào dân tộc, giữ gìn nét đẹp truyền thống dân tộc. Trong tương lai không xa, lễ hội đình Trung không chỉ là hoạt động sinh hoạt tín ngưỡng của riêng người dân mà còn là niềm tự hào của cả mảnh đất Lạc Thủy lịch sử.

Hàng năm, cứ đến giữa tháng 11 âm lịch, người dân trên mảnh đất giàu truyền thống anh hùng xã Phú Lão, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình tưng bừng tổ chức lễ hội tại đình Trung để tưởng nhớ công lao to lớn của 7 vị vua cha, 3 vị Thánh, cầu cho mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, nhân dân no đủ, được hưởng phúc, lộc, thọ.

Hội đình Trung là văn hóa đặc trưng huyện Lạc Thủy

Đình Trung được xây dựng cách đây gần 300 năm, được trùng tu tôn tạo sau 2 cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Đình Trung trước đây có tên gọi là đình Lão Nội. Trải qua nhiều biến động lịch sử, đình Trung vẫn giữ được nhiều nét văn hóa độc đáo, đậm đà bản sắc dân tộc. Hình ảnh cây đa, giếng nước, sân đình đã in sâu vào tiềm thức của người dân nơi đây.

Đông đảo người dân tham gai hội Đình Trung

Hội đình Trung diễn ra trang trọng phần lễ và sôi nổi phần hội. Bắt đầu hội đình Trung, có đoàn dâng hương hay còn gọi là "Hội tế" thể hiện lòng thành kính với thượng đẳng anh linh của mỗi người dân trên mảnh đất Phú Lão.

Hội Đình Trung sôi nổi với nhiều trò chơi dân gian

Phần hội đình Trung diễn ra sôi nổi với nhiều hoạt động vui chơi giải trí phong phú như: Thi đấu bóng chuyền, giao lưu văn nghệ, chơi khăng, đánh cù... thể hiện nét văn hóa độc đáo của người dân, khơi dậy tinh thần, lòng tự hào dân tộc, giữ gìn nét đẹp truyền thống dân tộc. Trong tương lai không xa, lễ hội đình Trung không chỉ là hoạt động sinh hoạt tín ngưỡng của riêng người dân mà còn là niềm tự hào của cả mảnh đất Lạc Thủy lịch sử.

Related Figures

Rộn ràng hội đình Quảng Bá

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/2- 12/2 Âm lịch Hội đình Quảng Bá diễn ra trọng thể, tưng bừng và náo nhiệt tại đình Quảng Bá ngày 10-12/2 âm lịch hàng năm, chính hội ngày 11/2. Đình Quảng Bá thuộc làng Quảng Bá, quận Tây Hồ, Hà Nội. Đoàn rước của hội đình Quảng Bá Đình Quảng Bá thờ Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng. Cuối thế kỷ VIII, anh hùng dân tộc Phùng Hưng khởi nghĩa từ Đường Lâm, đem quân về vây hãm Tống Bình. Ngài từng đóng quân tại đây. Sau khi mất, dân làng tôn Ngài làm Thành Hoàng, tổ chức hội để tướng nhớ công ơn to lớn của Ngài. Đội cờ và kiệu rước hội đình Quảng Bá Đình Quảng Bá được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận Di tích lịch sử và văn hóa cấp Quốc gia năm 1994. Ban đầu, đình Quảng Bá được xây dựng trên gò con xà. Đến thời Lê, đình được chuyển về địa điểm hiện tại. Hội đình Quảng Bá diễn ra tưng bừng và náo nhiệt Năm 1936, đình Quảng Bá được trùng tu theo kiến trúc kiểu chữ Nhị, hai đầu hồi theo kiểu dốc mái chảy. Nhân kỷ niệm 990 năm Thăng Long Hà Nội, đình Quảng Bá được đại trùng tu. Đến nay, đình Quảng Bá còn lưu giữ được nhiều hiện vật quý, đáng kể nhất là 16 đạo sắc phong của các đời vua, nhiều bức hoành phi và câu đối ngợi ca công đức của anh hùng Phùng Hưng và tướng sĩ. Đình Quảng Bá có tấm bia đã được tạc năm 1841, được nhân dân quen gọi là bia Bố Cái. Hội đình Quảng Bá bắt đầu lễ rước từ đình Quảng Bá tiến ra chùa Hoàng Ân (chùa Quảng Bá) lấy nước mưa tinh khiết để làm lễ Mộc dục. Sau đó bắt đầu phần tế lễ. Sau lễ rước nước và cuộc tế lễ ở đình, hội Quảng Bá còn có các trò chơi dân gian như đánh cờ người, chọi gà... thu hút đông đảo người dân tham gia.

Đoàn rước của hội đình Quảng Bá Đình Quảng Bá thờ Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng. Cuối thế kỷ VIII, anh hùng dân tộc Phùng Hưng khởi nghĩa từ Đường Lâm, đem quân về vây hãm Tống Bình. Ngài từng đóng quân tại đây. Sau khi mất, dân làng tôn Ngài làm Thành Hoàng, tổ chức hội để tướng nhớ công ơn to lớn của Ngài. Đội cờ và kiệu rước hội đình Quảng Bá Đình Quảng Bá được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận Di tích lịch sử và văn hóa cấp Quốc gia năm 1994. Ban đầu, đình Quảng Bá được xây dựng trên gò con xà. Đến thời Lê, đình được chuyển về địa điểm hiện tại. Hội đình Quảng Bá diễn ra tưng bừng và náo nhiệt Năm 1936, đình Quảng Bá được trùng tu theo kiến trúc kiểu chữ Nhị, hai đầu hồi theo kiểu dốc mái chảy. Nhân kỷ niệm 990 năm Thăng Long Hà Nội, đình Quảng Bá được đại trùng tu. Đến nay, đình Quảng Bá còn lưu giữ được nhiều hiện vật quý, đáng kể nhất là 16 đạo sắc phong của các đời vua, nhiều bức hoành phi và câu đối ngợi ca công đức của anh hùng Phùng Hưng và tướng sĩ. Đình Quảng Bá có tấm bia đã được tạc năm 1841, được nhân dân quen gọi là bia Bố Cái.

Đình Quảng Bá thờ Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng. Cuối thế kỷ VIII, anh hùng dân tộc Phùng Hưng khởi nghĩa từ Đường Lâm, đem quân về vây hãm Tống Bình. Ngài từng đóng quân tại đây. Sau khi mất, dân làng tôn Ngài làm Thành Hoàng, tổ chức hội để tướng nhớ công ơn to lớn của Ngài.

Đội cờ và kiệu rước hội đình Quảng Bá

Đình Quảng Bá được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận Di tích lịch sử và văn hóa cấp Quốc gia năm 1994. Ban đầu, đình Quảng Bá được xây dựng trên gò con xà. Đến thời Lê, đình được chuyển về địa điểm hiện tại.

Hội đình Quảng Bá diễn ra tưng bừng và náo nhiệt

Năm 1936, đình Quảng Bá được trùng tu theo kiến trúc kiểu chữ Nhị, hai đầu hồi theo kiểu dốc mái chảy. Nhân kỷ niệm 990 năm Thăng Long Hà Nội, đình Quảng Bá được đại trùng tu. Đến nay, đình Quảng Bá còn lưu giữ được nhiều hiện vật quý, đáng kể nhất là 16 đạo sắc phong của các đời vua, nhiều bức hoành phi và câu đối ngợi ca công đức của anh hùng Phùng Hưng và tướng sĩ. Đình Quảng Bá có tấm bia đã được tạc năm 1841, được nhân dân quen gọi là bia Bố Cái.

Hội đình Quảng Bá bắt đầu lễ rước từ đình Quảng Bá tiến ra chùa Hoàng Ân (chùa Quảng Bá) lấy nước mưa tinh khiết để làm lễ Mộc dục. Sau đó bắt đầu phần tế lễ. Sau lễ rước nước và cuộc tế lễ ở đình, hội Quảng Bá còn có các trò chơi dân gian như đánh cờ người, chọi gà... thu hút đông đảo người dân tham gia.

Related Figures

Hội đình Nhật Tảo

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 11/2- 13/2 Âm lịch Hội đình Nhật Tảo được tổ chức ngày 11-13/2 âm lịch hàng năm. Ngày giỗ Thánh là ngày 20/9 nhưng dân làng mở hội và ngày 11/2. Dân làng Nhật Tảo vẫn truyền nhau câu ca xưa: "Bao giờ cho đến tháng Hai. Nhật Tảo mở hội cho trai ra đình". Lễ rước hội đình Nhật Tảo Nhật Tảo (có nghĩa là mặt trời mọc buổi sáng sớm) là một làng thuộc xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Cổng làng Nhật Tảo sừng sững ngay ven đê sông Nhị, luôn mở rộng cửa chào đón khách thập phương tới thăm làng. Không khí sôi động hội đình Nhật Tảo Đình làng Nhật Tảo được xây dựng ở một khu đất rộng. Đình làng thờ Thành Hoàng Trần Nguyên Trác. Ngài là con thứ hai của vua Trần Minh Tông, được sắc phong Cung Tĩnh vương, làm quan tới chức Thái tể Thượng tướng. Khi vua Trần Dụ Minh băng hà, ban chiếu truyền ngôi cho Dương Nhật Lễ. Đêm ngày 20 tháng 9 năm Canh Tuất (1370), Trần Nguyên Trác đem người tôn thất vào thành định giết chết Dương Nhật Lễ. Dương Nhật Lễ trèo qua tường, nấp dưới cầu mới. Quân của Trần Nguyên Trác không tìm thấy. Hôm sau. Dương Nhật Lễ cho người đi bắt và giết Trần Nguyên Trác cùng 17 người chủ mưu ám sát vua. Sở dĩ có sự kiện Trần Nguyên Trác đem quân vào thành vì: Dương Nhật Lễ làm nhiều việc trái với lệ thường, rượu chè, chơi bời dâm dật. Dương Nhật Lễ không những đã giết Huệ Từ hoàng thái hậu mà còn muốn thay đổi triều đại chính thống đi. Quan trong triều và các tôn thần đều thất vọng về nhà vua. Dân làng thương nhớ người trung nghĩa lập miếu thờ phung. Các vua quan đời sau đều phong, ban tặng vinh hiển. Đình Nhật Tảo còn lưu giữ 26 đạo sắc phong. Lễ rước kiệu Thánh trong hội đình Nhật Tảo Hội làng Nhật Tảo bắt đầu ngày 11/2 với lễ mộc dục rước nước sông Hồng. Ngày 12/2 thực hiện rước Thánh từ chùa về đình có tế chay, thi làm bánh và nấu chè. Ngày 13/2 thực hiện tế giã hội.

Lễ rước hội đình Nhật Tảo Nhật Tảo (có nghĩa là mặt trời mọc buổi sáng sớm) là một làng thuộc xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Cổng làng Nhật Tảo sừng sững ngay ven đê sông Nhị, luôn mở rộng cửa chào đón khách thập phương tới thăm làng. Không khí sôi động hội đình Nhật Tảo Đình làng Nhật Tảo được xây dựng ở một khu đất rộng. Đình làng thờ Thành Hoàng Trần Nguyên Trác. Ngài là con thứ hai của vua Trần Minh Tông, được sắc phong Cung Tĩnh vương, làm quan tới chức Thái tể Thượng tướng. Khi vua Trần Dụ Minh băng hà, ban chiếu truyền ngôi cho Dương Nhật Lễ. Đêm ngày 20 tháng 9 năm Canh Tuất (1370), Trần Nguyên Trác đem người tôn thất vào thành định giết chết Dương Nhật Lễ. Dương Nhật Lễ trèo qua tường, nấp dưới cầu mới. Quân của Trần Nguyên Trác không tìm thấy. Hôm sau. Dương Nhật Lễ cho người đi bắt và giết Trần Nguyên Trác cùng 17 người chủ mưu ám sát vua. Sở dĩ có sự kiện Trần Nguyên Trác đem quân vào thành vì: Dương Nhật Lễ làm nhiều việc trái với lệ thường, rượu chè, chơi bời dâm dật. Dương Nhật Lễ không những đã giết Huệ Từ hoàng thái hậu mà còn muốn thay đổi triều đại chính thống đi. Quan trong triều và các tôn thần đều thất vọng về nhà vua. Dân làng thương nhớ người trung nghĩa lập miếu thờ phung. Các vua quan đời sau đều phong, ban tặng vinh hiển. Đình Nhật Tảo còn lưu giữ 26 đạo sắc phong. Lễ rước kiệu Thánh trong hội đình Nhật Tảo Hội làng Nhật Tảo bắt đầu ngày 11/2 với lễ mộc dục rước nước sông Hồng. Ngày 12/2 thực hiện rước Thánh từ chùa về đình có tế chay, thi làm bánh và nấu chè. Ngày 13/2 thực hiện tế giã hội.

Nhật Tảo (có nghĩa là mặt trời mọc buổi sáng sớm) là một làng thuộc xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Cổng làng Nhật Tảo sừng sững ngay ven đê sông Nhị, luôn mở rộng cửa chào đón khách thập phương tới thăm làng. Không khí sôi động hội đình Nhật Tảo Đình làng Nhật Tảo được xây dựng ở một khu đất rộng. Đình làng thờ Thành Hoàng Trần Nguyên Trác. Ngài là con thứ hai của vua Trần Minh Tông, được sắc phong Cung Tĩnh vương, làm quan tới chức Thái tể Thượng tướng. Khi vua Trần Dụ Minh băng hà, ban chiếu truyền ngôi cho Dương Nhật Lễ. Đêm ngày 20 tháng 9 năm Canh Tuất (1370), Trần Nguyên Trác đem người tôn thất vào thành định giết chết Dương Nhật Lễ. Dương Nhật Lễ trèo qua tường, nấp dưới cầu mới. Quân của Trần Nguyên Trác không tìm thấy. Hôm sau. Dương Nhật Lễ cho người đi bắt và giết Trần Nguyên Trác cùng 17 người chủ mưu ám sát vua. Sở dĩ có sự kiện Trần Nguyên Trác đem quân vào thành vì: Dương Nhật Lễ làm nhiều việc trái với lệ thường, rượu chè, chơi bời dâm dật. Dương Nhật Lễ không những đã giết Huệ Từ hoàng thái hậu mà còn muốn thay đổi triều đại chính thống đi. Quan trong triều và các tôn thần đều thất vọng về nhà vua. Dân làng thương nhớ người trung nghĩa lập miếu thờ phung. Các vua quan đời sau đều phong, ban tặng vinh hiển. Đình Nhật Tảo còn lưu giữ 26 đạo sắc phong. Lễ rước kiệu Thánh trong hội đình Nhật Tảo Hội làng Nhật Tảo bắt đầu ngày 11/2 với lễ mộc dục rước nước sông Hồng. Ngày 12/2 thực hiện rước Thánh từ chùa về đình có tế chay, thi làm bánh và nấu chè. Ngày 13/2 thực hiện tế giã hội.

Nhật Tảo (có nghĩa là mặt trời mọc buổi sáng sớm) là một làng thuộc xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Cổng làng Nhật Tảo sừng sững ngay ven đê sông Nhị, luôn mở rộng cửa chào đón khách thập phương tới thăm làng.

Không khí sôi động hội đình Nhật Tảo

Đình làng Nhật Tảo được xây dựng ở một khu đất rộng. Đình làng thờ Thành Hoàng Trần Nguyên Trác. Ngài là con thứ hai của vua Trần Minh Tông, được sắc phong Cung Tĩnh vương, làm quan tới chức Thái tể Thượng tướng. Khi vua Trần Dụ Minh băng hà, ban chiếu truyền ngôi cho Dương Nhật Lễ. Đêm ngày 20 tháng 9 năm Canh Tuất (1370), Trần Nguyên Trác đem người tôn thất vào thành định giết chết Dương Nhật Lễ. Dương Nhật Lễ trèo qua tường, nấp dưới cầu mới. Quân của Trần Nguyên Trác không tìm thấy. Hôm sau. Dương Nhật Lễ cho người đi bắt và giết Trần Nguyên Trác cùng 17 người chủ mưu ám sát vua. Sở dĩ có sự kiện Trần Nguyên Trác đem quân vào thành vì: Dương Nhật Lễ làm nhiều việc trái với lệ thường, rượu chè, chơi bời dâm dật. Dương Nhật Lễ không những đã giết Huệ Từ hoàng thái hậu mà còn muốn thay đổi triều đại chính thống đi. Quan trong triều và các tôn thần đều thất vọng về nhà vua. Dân làng thương nhớ người trung nghĩa lập miếu thờ phung. Các vua quan đời sau đều phong, ban tặng vinh hiển. Đình Nhật Tảo còn lưu giữ 26 đạo sắc phong.

Lễ rước kiệu Thánh trong hội đình Nhật Tảo

Hội làng Nhật Tảo bắt đầu ngày 11/2 với lễ mộc dục rước nước sông Hồng. Ngày 12/2 thực hiện rước Thánh từ chùa về đình có tế chay, thi làm bánh và nấu chè. Ngày 13/2 thực hiện tế giã hội.

Related Figures

Hội đình Phú Diễn

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 14/3- 15/3 Âm lịch Lễ hội đình Phú Diễn được tổ chức vào ngày 14-15/3 âm lịch hàng năm, chính hội ngày rằm tại phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội. Đình Phú Diễn nơi diễn ra lễ hội hàng năm Điểm nổi bật thu hút nhiều du khách thập phương đến với hội đình Phú Diễn là phần rước kiệu đi quanh làng. Đoàn rước đi qua chùa Bụt Mọc, đến giếng nước cổ lấy nước về làm lễ ở Đình. Đoàn rước cũng đến thắp hương tại Nghĩa trang liệt sĩ của làng. Từ trước ngày diễn ra lễ hội, tất cả các gia đình trong làng đều treo đèn kết hoa ở các ngõ, xóm chào mừng ngày lễ. Phần lễ đình Phú Diễn được tổ chức trang trọng Đình làng Phú Diễn thờ Thành Hoàng là tướng Đào Trường tức thần Bạch Hạc Tam Giang, người lập nhiều công lớn từ thời vua Hùng. Ngài được vua Hùng phong làm Thổ lệnh quốc thống đại vương, trấn giữ kinh thành Bạch Hạc. Thần phả của đình ghi lại: lúc sinh thời Đào Trường là tướng quân chỉ huy đội thủy quân đánh lùi giặc ngoại xâm, dẹp loạn vùng Hồng Châu. Sau khi Ngài hóa, được vua phong làm Thượng đẳng phúc thần, cho phép 172 làng lập đền thờ. Cổng vào đình Phú Diễn Kiến trúc đình Phú Diễn xây theo hình chữ "Công" gồm đại đình, ống muống và hậu cung. Qua nhiều thăng trầm lịch sử, đình Phú Diễn được trùng tụ, tôn tạo nhưng vẫn giữ nguyên kiến trúc cũ. Đại đình được thiết kế 5 gian cửa bức bàn; nhà cầu sâu 2 gian và phần hậu cung rộng 3 gian. Các mảng trang trí thường được chạm, vẽ hình tứ linh, tứ quý... theo phong cách nghệ thuật kiến trúc của thế kỷ XVIII. Đại đình quay mặt hướng tây bắc, cổng đình gồm 4 trụ biểu mở ra hướng đông bắc.

Đình Phú Diễn nơi diễn ra lễ hội hàng năm Điểm nổi bật thu hút nhiều du khách thập phương đến với hội đình Phú Diễn là phần rước kiệu đi quanh làng. Đoàn rước đi qua chùa Bụt Mọc, đến giếng nước cổ lấy nước về làm lễ ở Đình. Đoàn rước cũng đến thắp hương tại Nghĩa trang liệt sĩ của làng. Từ trước ngày diễn ra lễ hội, tất cả các gia đình trong làng đều treo đèn kết hoa ở các ngõ, xóm chào mừng ngày lễ. Phần lễ đình Phú Diễn được tổ chức trang trọng Đình làng Phú Diễn thờ Thành Hoàng là tướng Đào Trường tức thần Bạch Hạc Tam Giang, người lập nhiều công lớn từ thời vua Hùng. Ngài được vua Hùng phong làm Thổ lệnh quốc thống đại vương, trấn giữ kinh thành Bạch Hạc. Thần phả của đình ghi lại: lúc sinh thời Đào Trường là tướng quân chỉ huy đội thủy quân đánh lùi giặc ngoại xâm, dẹp loạn vùng Hồng Châu. Sau khi Ngài hóa, được vua phong làm Thượng đẳng phúc thần, cho phép 172 làng lập đền thờ. Cổng vào đình Phú Diễn Kiến trúc đình Phú Diễn xây theo hình chữ "Công" gồm đại đình, ống muống và hậu cung. Qua nhiều thăng trầm lịch sử, đình Phú Diễn được trùng tụ, tôn tạo nhưng vẫn giữ nguyên kiến trúc cũ. Đại đình được thiết kế 5 gian cửa bức bàn; nhà cầu sâu 2 gian và phần hậu cung rộng 3 gian. Các mảng trang trí thường được chạm, vẽ hình tứ linh, tứ quý... theo phong cách nghệ thuật kiến trúc của thế kỷ XVIII. Đại đình quay mặt hướng tây bắc, cổng đình gồm 4 trụ biểu mở ra hướng đông bắc.

Điểm nổi bật thu hút nhiều du khách thập phương đến với hội đình Phú Diễn là phần rước kiệu đi quanh làng. Đoàn rước đi qua chùa Bụt Mọc, đến giếng nước cổ lấy nước về làm lễ ở Đình. Đoàn rước cũng đến thắp hương tại Nghĩa trang liệt sĩ của làng. Từ trước ngày diễn ra lễ hội, tất cả các gia đình trong làng đều treo đèn kết hoa ở các ngõ, xóm chào mừng ngày lễ.

Phần lễ đình Phú Diễn được tổ chức trang trọng

Đình làng Phú Diễn thờ Thành Hoàng là tướng Đào Trường tức thần Bạch Hạc Tam Giang, người lập nhiều công lớn từ thời vua Hùng. Ngài được vua Hùng phong làm Thổ lệnh quốc thống đại vương, trấn giữ kinh thành Bạch Hạc. Thần phả của đình ghi lại: lúc sinh thời Đào Trường là tướng quân chỉ huy đội thủy quân đánh lùi giặc ngoại xâm, dẹp loạn vùng Hồng Châu. Sau khi Ngài hóa, được vua phong làm Thượng đẳng phúc thần, cho phép 172 làng lập đền thờ.

Cổng vào đình Phú Diễn

Kiến trúc đình Phú Diễn xây theo hình chữ "Công" gồm đại đình, ống muống và hậu cung. Qua nhiều thăng trầm lịch sử, đình Phú Diễn được trùng tụ, tôn tạo nhưng vẫn giữ nguyên kiến trúc cũ. Đại đình được thiết kế 5 gian cửa bức bàn; nhà cầu sâu 2 gian và phần hậu cung rộng 3 gian. Các mảng trang trí thường được chạm, vẽ hình tứ linh, tứ quý... theo phong cách nghệ thuật kiến trúc của thế kỷ XVIII. Đại đình quay mặt hướng tây bắc, cổng đình gồm 4 trụ biểu mở ra hướng đông bắc.

Related Figures

Hội làng nghề dệt Vạn Phúc

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 11/1- 13/1 Âm lịch Lễ hội truyền thống làng nghề dệt lụa Vạn Phúc được tổ chức trong 3 ngày từ 11-13/1 âm lịch hàng năm nhằm chào đón xuân mới đồng thời tôn vinh tổ nghề Đức Thành Hoàng - Ả Lã Đê Nương. Làng Vạn Phúc nằm bên dòng sông Nhuệ được hình thành từ hơn nghìn năm trước. Xưa làng có tên là Vạn Bảo, vốn là trang Vạn Bảo, thuộc xã Thượng Thanh Oai, tổng Thượng Thanh Oai, trấn Sơn Nam; nay thuộc quận Hà Đông, Hà Nội. Làng lụa Vạn Phúc trang hoàng lộng lẫy tổ chức lễ hội Tổ nghề dệt của làng lụa Vạn Phúc là Ả Lã Đê Nương, một người phụ nữ tài sắc đã có công dạy người dân nơi đây canh cửu, tầm tang từ nửa cuối thế kỉ thứ IX. Sau khi qua đời, bà được nhân dân thờ phụng, tôn làm Thành hoàng làng. Các triều đại phong kiến Việt Nam sau này đều có sắc phong cho phép thờ phụng, cấp kinh phí tu sửa đình, miếu. Đặc biệt, làng Vạn Phúc trở thành an toàn khu trước và trong kháng chiến chống thực dânPháp, là nơi Bác Hồ viết Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (tháng 12/1946). Lễ rước là nét độc đáo trong lễ hội truyền thống Vạn Phúc Lễ hội truyền thống làng lụa Vạn Phúc được tổ chức với nhiều hoạt động phong phú như: Hát quan họ tại ao đình, biểu diễn văn nghệ quần chúng, mua rối nước... Nét độc đáo của lễ hội truyền thống làng lụa Vạn Phúc chính là lễ rước kiệu thờ Thành Hoàng làng, các sắc phong và hình Bác Hồ với Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến... Lễ hội truyền thống Vạn Phúc là dịp giới thiệu sản phẩm làng nghề Lễ hội truyền thống làng lụa Vạn Phúc cũng là dịp để người dân giới thiệu sản phẩm của mình tới du khách thập phương tham dự lễ hội.

Làng Vạn Phúc nằm bên dòng sông Nhuệ được hình thành từ hơn nghìn năm trước. Xưa làng có tên là Vạn Bảo, vốn là trang Vạn Bảo, thuộc xã Thượng Thanh Oai, tổng Thượng Thanh Oai, trấn Sơn Nam; nay thuộc quận Hà Đông, Hà Nội. Làng lụa Vạn Phúc trang hoàng lộng lẫy tổ chức lễ hội Tổ nghề dệt của làng lụa Vạn Phúc là Ả Lã Đê Nương, một người phụ nữ tài sắc đã có công dạy người dân nơi đây canh cửu, tầm tang từ nửa cuối thế kỉ thứ IX. Sau khi qua đời, bà được nhân dân thờ phụng, tôn làm Thành hoàng làng. Các triều đại phong kiến Việt Nam sau này đều có sắc phong cho phép thờ phụng, cấp kinh phí tu sửa đình, miếu. Đặc biệt, làng Vạn Phúc trở thành an toàn khu trước và trong kháng chiến chống thực dânPháp, là nơi Bác Hồ viết Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (tháng 12/1946). Lễ rước là nét độc đáo trong lễ hội truyền thống Vạn Phúc Lễ hội truyền thống làng lụa Vạn Phúc được tổ chức với nhiều hoạt động phong phú như: Hát quan họ tại ao đình, biểu diễn văn nghệ quần chúng, mua rối nước... Nét độc đáo của lễ hội truyền thống làng lụa Vạn Phúc chính là lễ rước kiệu thờ Thành Hoàng làng, các sắc phong và hình Bác Hồ với Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến... Lễ hội truyền thống Vạn Phúc là dịp giới thiệu sản phẩm làng nghề Lễ hội truyền thống làng lụa Vạn Phúc cũng là dịp để người dân giới thiệu sản phẩm của mình tới du khách thập phương tham dự lễ hội.

Làng Vạn Phúc nằm bên dòng sông Nhuệ được hình thành từ hơn nghìn năm trước. Xưa làng có tên là Vạn Bảo, vốn là trang Vạn Bảo, thuộc xã Thượng Thanh Oai, tổng Thượng Thanh Oai, trấn Sơn Nam; nay thuộc quận Hà Đông, Hà Nội. Làng lụa Vạn Phúc trang hoàng lộng lẫy tổ chức lễ hội Tổ nghề dệt của làng lụa Vạn Phúc là Ả Lã Đê Nương, một người phụ nữ tài sắc đã có công dạy người dân nơi đây canh cửu, tầm tang từ nửa cuối thế kỉ thứ IX. Sau khi qua đời, bà được nhân dân thờ phụng, tôn làm Thành hoàng làng. Các triều đại phong kiến Việt Nam sau này đều có sắc phong cho phép thờ phụng, cấp kinh phí tu sửa đình, miếu. Đặc biệt, làng Vạn Phúc trở thành an toàn khu trước và trong kháng chiến chống thực dânPháp, là nơi Bác Hồ viết Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (tháng 12/1946). Lễ rước là nét độc đáo trong lễ hội truyền thống Vạn Phúc Lễ hội truyền thống làng lụa Vạn Phúc được tổ chức với nhiều hoạt động phong phú như: Hát quan họ tại ao đình, biểu diễn văn nghệ quần chúng, mua rối nước... Nét độc đáo của lễ hội truyền thống làng lụa Vạn Phúc chính là lễ rước kiệu thờ Thành Hoàng làng, các sắc phong và hình Bác Hồ với Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến... Lễ hội truyền thống Vạn Phúc là dịp giới thiệu sản phẩm làng nghề Lễ hội truyền thống làng lụa Vạn Phúc cũng là dịp để người dân giới thiệu sản phẩm của mình tới du khách thập phương tham dự lễ hội.

Related Figures

Lễ hội đình Vạn Phúc

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 12/9 Âm lịch Lễ hội đình Vạn Phúc (hay còn gọi là đình Tổng) được tổ chức ngày 12/9 âm lịch hàng năm tại phường Kim Mã, Đội Cấn, quận Ba Đình để kỷ niệm ngày "Đại yến khao quân" của Linh Lang Đại vương chiến thắng quân Tống xâm lược thế kỷ XI. Lễ hội truyền thống đình Vạn Phúc Đình Vạn Phúc thờ Linh Lang Đại vương tên hiệu là Hoàng Chân, con trai thứ 4 vua Lý Thánh Tông. Năm 1075, nước nhà có giặc ngoại xâm, Linh Lang xin vua cùng Hoàng tử Chiêu Văn chỉ huy hạm thuyền vượt qua biển Vĩnh An, tấn công, đập tan các đồn bốt giặc. Sau đó, Ngài phối hợp cùng đạo quân của tướng Tôn Đản chiếm được nhiều cơ sở chiến lược, nơi tập trung lương thảo của giặc Tống. Quân ta đại thắng, nhà vua mở Đại yến và có ý muốn nhường ngôi nhưng Hoàng tử từ chối. Đất nước sạch bóng quân thù, thanh bình được một thời gian, đến cuối năm 1076 giặc Tống lại kéo quân sang xam lược nước ta. Hoàng tử Linh Lang cùng hoàng tử Chiêu Văn chỉ huy hạm thuyền từ Vạn Xuân ngược dòng Kháo Túc, bất ngờ tập kích vào phòng tuyến phía Đông của giặc Tống bên bờ bắc sông Như Nguyệt. Tại đây, Hoàng tử Linh Lang anh dũng hy sinh ngày 10/2/1077. Xét thấy công trạng của hoàng tử, nhà vua sắc phong Linh Lang Đại Vương Thượng Đẳng Phúc Thần, cho phép 269 làng trại trong cả nước xây dựng miếu thờ phụng. Lễ hội truyền thống đình Vạn Phúc diễn ra trang trọng Lễ hội đình Vạn Phúc là hoạt động văn hóa thường niên của chính quyền và người dân tưởng nhớ Linh Lang Đại vương, thể hiện tinh thần uống nước nhớ nguồn, tiếp nối truyền thống đánh giặc ngoại xâm của cha ông ta. Đông đảo người dân và du khách tham dự hội đình Vạn Phúc Ngày nay, lễ hội được tổ chức quy mô hơn, thu hút du khách thập phương tới tham dự.

Lễ hội truyền thống đình Vạn Phúc Đình Vạn Phúc thờ Linh Lang Đại vương tên hiệu là Hoàng Chân, con trai thứ 4 vua Lý Thánh Tông. Năm 1075, nước nhà có giặc ngoại xâm, Linh Lang xin vua cùng Hoàng tử Chiêu Văn chỉ huy hạm thuyền vượt qua biển Vĩnh An, tấn công, đập tan các đồn bốt giặc. Sau đó, Ngài phối hợp cùng đạo quân của tướng Tôn Đản chiếm được nhiều cơ sở chiến lược, nơi tập trung lương thảo của giặc Tống. Quân ta đại thắng, nhà vua mở Đại yến và có ý muốn nhường ngôi nhưng Hoàng tử từ chối. Đất nước sạch bóng quân thù, thanh bình được một thời gian, đến cuối năm 1076 giặc Tống lại kéo quân sang xam lược nước ta. Hoàng tử Linh Lang cùng hoàng tử Chiêu Văn chỉ huy hạm thuyền từ Vạn Xuân ngược dòng Kháo Túc, bất ngờ tập kích vào phòng tuyến phía Đông của giặc Tống bên bờ bắc sông Như Nguyệt. Tại đây, Hoàng tử Linh Lang anh dũng hy sinh ngày 10/2/1077. Xét thấy công trạng của hoàng tử, nhà vua sắc phong Linh Lang Đại Vương Thượng Đẳng Phúc Thần, cho phép 269 làng trại trong cả nước xây dựng miếu thờ phụng. Lễ hội truyền thống đình Vạn Phúc diễn ra trang trọng Lễ hội đình Vạn Phúc là hoạt động văn hóa thường niên của chính quyền và người dân tưởng nhớ Linh Lang Đại vương, thể hiện tinh thần uống nước nhớ nguồn, tiếp nối truyền thống đánh giặc ngoại xâm của cha ông ta. Đông đảo người dân và du khách tham dự hội đình Vạn Phúc Ngày nay, lễ hội được tổ chức quy mô hơn, thu hút du khách thập phương tới tham dự.

Đình Vạn Phúc thờ Linh Lang Đại vương tên hiệu là Hoàng Chân, con trai thứ 4 vua Lý Thánh Tông. Năm 1075, nước nhà có giặc ngoại xâm, Linh Lang xin vua cùng Hoàng tử Chiêu Văn chỉ huy hạm thuyền vượt qua biển Vĩnh An, tấn công, đập tan các đồn bốt giặc. Sau đó, Ngài phối hợp cùng đạo quân của tướng Tôn Đản chiếm được nhiều cơ sở chiến lược, nơi tập trung lương thảo của giặc Tống. Quân ta đại thắng, nhà vua mở Đại yến và có ý muốn nhường ngôi nhưng Hoàng tử từ chối. Đất nước sạch bóng quân thù, thanh bình được một thời gian, đến cuối năm 1076 giặc Tống lại kéo quân sang xam lược nước ta. Hoàng tử Linh Lang cùng hoàng tử Chiêu Văn chỉ huy hạm thuyền từ Vạn Xuân ngược dòng Kháo Túc, bất ngờ tập kích vào phòng tuyến phía Đông của giặc Tống bên bờ bắc sông Như Nguyệt. Tại đây, Hoàng tử Linh Lang anh dũng hy sinh ngày 10/2/1077. Xét thấy công trạng của hoàng tử, nhà vua sắc phong Linh Lang Đại Vương Thượng Đẳng Phúc Thần, cho phép 269 làng trại trong cả nước xây dựng miếu thờ phụng.

Lễ hội truyền thống đình Vạn Phúc diễn ra trang trọng

Lễ hội đình Vạn Phúc là hoạt động văn hóa thường niên của chính quyền và người dân tưởng nhớ Linh Lang Đại vương, thể hiện tinh thần uống nước nhớ nguồn, tiếp nối truyền thống đánh giặc ngoại xâm của cha ông ta.

Đông đảo người dân và du khách tham dự hội đình Vạn Phúc

Ngày nay, lễ hội được tổ chức quy mô hơn, thu hút du khách thập phương tới tham dự.

Related Figures

Hội Gióng Phù Đổng huyện Gia Lâm

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 9/4 Âm lịch Hội Gióng Phù Đổng huyện Gia Lâm diễn ra ngày 9/4 âm lịch hàng năm tại Khu di tích lịch sử Phù Đổng huyện Gia Lâm, Hà Nội. Lễ hội Gióng Phù Đổng nhằm tưởng nhớ và tri ân công đức của Thánh Gióng trong việc đánh đuổi giặc ngoại xâm. Hội Gióng Phù Đổng tại Gia Lâm có nhiều đặc trưng riêng Không giống hội Gióng Phù Đổng ở Sóc Sơn diễn ra ngày 6 tháng Giêng (nơi Thánh Gióng dừng chân trước khi cưỡi ngựa bay về trời), hội Gióng ở xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm là nơi tái hiện trận đánh chống giặc Ân xâm lược của Thánh Gióng năm xưa. Hội Gióng mô phỏng lại chiến địa rộng lớn với sự tham gia của hàng nghìn người dân trong vai đạo quân của Thánh Gióng. Người dân nơi đây vẫn nhắc nhở nhau đến ngày 9/4 về trẩy hội: " Ai ơi mùng chín tháng tư. Không đi hội Gióng cũng hư mất người". Trước khi diễn ra hội Gióng Phù Đổng, ngày 6/4 người dân tổ chức rước nước từ giếng trước đền Mẫu. Tái hiện lại trận đánh chống giặc Ân trong Hội Gióng Phù Đổng Hội Gióng ở Gia Lâm gồm 2 phần: phần lễ và phần hội. Lễ tế Thánh thực hiện tại đền Thượng, Ngoại đàn ở sân đền Thượng, Rước Khám đường, lễ rước cỗ về đền Mẫu, đặc sắc nhất là lễ hội trận truyền thống với 2 trận đánh cờ tại Soi Bia và Đống Đàm. Sau khi đánh thắng giặc Ân, dân làng mở hội yến khao quân Đức Thánh Gióng. Phần Lễ của hội Gióng được tổ chức long trọng Phần hội bao gồm nhiều hoạt động văn hóa nghệ thuật như hát quan họ, tuồng, cải lương... và nhiều trò chơi dân gian. Hội Gióng Phù Đổng hàng năm thu hút sự quan tâm lớn của người dân và du khách thập phương.

Hội Gióng Phù Đổng tại Gia Lâm có nhiều đặc trưng riêng Không giống hội Gióng Phù Đổng ở Sóc Sơn diễn ra ngày 6 tháng Giêng (nơi Thánh Gióng dừng chân trước khi cưỡi ngựa bay về trời), hội Gióng ở xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm là nơi tái hiện trận đánh chống giặc Ân xâm lược của Thánh Gióng năm xưa. Hội Gióng mô phỏng lại chiến địa rộng lớn với sự tham gia của hàng nghìn người dân trong vai đạo quân của Thánh Gióng. Người dân nơi đây vẫn nhắc nhở nhau đến ngày 9/4 về trẩy hội: " Ai ơi mùng chín tháng tư. Không đi hội Gióng cũng hư mất người". Trước khi diễn ra hội Gióng Phù Đổng, ngày 6/4 người dân tổ chức rước nước từ giếng trước đền Mẫu. Tái hiện lại trận đánh chống giặc Ân trong Hội Gióng Phù Đổng Hội Gióng ở Gia Lâm gồm 2 phần: phần lễ và phần hội. Lễ tế Thánh thực hiện tại đền Thượng, Ngoại đàn ở sân đền Thượng, Rước Khám đường, lễ rước cỗ về đền Mẫu, đặc sắc nhất là lễ hội trận truyền thống với 2 trận đánh cờ tại Soi Bia và Đống Đàm. Sau khi đánh thắng giặc Ân, dân làng mở hội yến khao quân Đức Thánh Gióng. Phần Lễ của hội Gióng được tổ chức long trọng Phần hội bao gồm nhiều hoạt động văn hóa nghệ thuật như hát quan họ, tuồng, cải lương... và nhiều trò chơi dân gian. Hội Gióng Phù Đổng hàng năm thu hút sự quan tâm lớn của người dân và du khách thập phương.

Không giống hội Gióng Phù Đổng ở Sóc Sơn diễn ra ngày 6 tháng Giêng (nơi Thánh Gióng dừng chân trước khi cưỡi ngựa bay về trời), hội Gióng ở xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm là nơi tái hiện trận đánh chống giặc Ân xâm lược của Thánh Gióng năm xưa. Hội Gióng mô phỏng lại chiến địa rộng lớn với sự tham gia của hàng nghìn người dân trong vai đạo quân của Thánh Gióng. Người dân nơi đây vẫn nhắc nhở nhau đến ngày 9/4 về trẩy hội: " Ai ơi mùng chín tháng tư. Không đi hội Gióng cũng hư mất người". Trước khi diễn ra hội Gióng Phù Đổng, ngày 6/4 người dân tổ chức rước nước từ giếng trước đền Mẫu.

Tái hiện lại trận đánh chống giặc Ân trong Hội Gióng Phù Đổng

Hội Gióng ở Gia Lâm gồm 2 phần: phần lễ và phần hội. Lễ tế Thánh thực hiện tại đền Thượng, Ngoại đàn ở sân đền Thượng, Rước Khám đường, lễ rước cỗ về đền Mẫu, đặc sắc nhất là lễ hội trận truyền thống với 2 trận đánh cờ tại Soi Bia và Đống Đàm. Sau khi đánh thắng giặc Ân, dân làng mở hội yến khao quân Đức Thánh Gióng.

Phần Lễ của hội Gióng được tổ chức long trọng

Phần hội bao gồm nhiều hoạt động văn hóa nghệ thuật như hát quan họ, tuồng, cải lương... và nhiều trò chơi dân gian. Hội Gióng Phù Đổng hàng năm thu hút sự quan tâm lớn của người dân và du khách thập phương.

Related Figures

Lễ Hội Đền Ông Hoàng Mười

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 8/10- 10/10 Âm lịch Lễ Hội Đền Ông Hoàng Mười tại Nghệ An được tổ chức vào ba ngày mồng 8, 9, 10 tháng 10 âm lịch hàng năm, tại xã Hưng Thịnh, Hưng Nguyên. Lễ hội được xem là mùa tạ lễ quan trọng nhất của năm. Lễ Hội Đền Ông Hoàng Mười tại Nghệ An Ông Hoàng Mười được xem là một trong những quan Hoàng của tín ngưỡng Đạo Mẫu, được người dân ngưỡng mộ và tôn thờ ở nhiều địa phương trong nước. Ông được giao cai quản về tâm linh, trông coi vùng non nước dọc sông Lam, nên những đền chùa thờ Tứ Phủ theo Đạo mẫu Nghệ An đều thờ ông, nhưng chỉ là phối thờ, cũng có đền thờ chính là đền Xuân Am tại xã Hưng Thịnh - Hưng Nguyên. Lễ hội đền ông Hoàng Mười là dịp để người dân tôn vinh giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp, giáo dục tình yêu quên hương cho giới trẻ. Đồng thơi, đây cũng là dịp để thu hút khách thập phương về tham quan và chiêm ngưỡng nét đẹp văn hóa truyền thống của người dân nơi đây, nơi đẫ sinh ra và nuôi dưỡng nhiều bậc khoa bảng, hiền tài của đất nước. Cổng đền Ông Hoàng Mười Lễ hội được diễn ra từ ngày mồng 8 đến ngày mồng 10 tháng 10 âm lịch hàng năm. Mỗi ngày, đền đón khoảng hàng trăm lượt du khách về xem hội. Đông ngất là du khách đến từ các tỉnh phía bắc như Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Nội, Ninh Bình... Thậm chí, còn có nhiều du khách vì ở xa chờ làm lễ nên phải thuê phòng trọ ở trước đền. Lễ hội đền Ông Hoàng Mười gồm hai phần là phần lễ và phần hội. Phần Lễ gồm lễ rước bài vị, khai quang, đạo sắc từ làng Xuân Am về dền, lễ đại tế, lễ yết cáo, và lễ tạ. Phần hội diễn ra rất náo nhiệt với các trò chơi dân gian, được tổ chức từ ngày mồng 9 đến hết ngày mồng 10. Các trò chơi được tổ chức trong ngày hội như: kéo co, nhảy bao bố, chọi gà, bóng chuyền giao lưu các xã, giao lưu văn nghệ... Người dân nô nức đội lễ lên dâng hương

Lễ Hội Đền Ông Hoàng Mười tại Nghệ An Ông Hoàng Mười được xem là một trong những quan Hoàng của tín ngưỡng Đạo Mẫu, được người dân ngưỡng mộ và tôn thờ ở nhiều địa phương trong nước. Ông được giao cai quản về tâm linh, trông coi vùng non nước dọc sông Lam, nên những đền chùa thờ Tứ Phủ theo Đạo mẫu Nghệ An đều thờ ông, nhưng chỉ là phối thờ, cũng có đền thờ chính là đền Xuân Am tại xã Hưng Thịnh - Hưng Nguyên. Lễ hội đền ông Hoàng Mười là dịp để người dân tôn vinh giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp, giáo dục tình yêu quên hương cho giới trẻ. Đồng thơi, đây cũng là dịp để thu hút khách thập phương về tham quan và chiêm ngưỡng nét đẹp văn hóa truyền thống của người dân nơi đây, nơi đẫ sinh ra và nuôi dưỡng nhiều bậc khoa bảng, hiền tài của đất nước. Cổng đền Ông Hoàng Mười Lễ hội được diễn ra từ ngày mồng 8 đến ngày mồng 10 tháng 10 âm lịch hàng năm. Mỗi ngày, đền đón khoảng hàng trăm lượt du khách về xem hội. Đông ngất là du khách đến từ các tỉnh phía bắc như Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Nội, Ninh Bình... Thậm chí, còn có nhiều du khách vì ở xa chờ làm lễ nên phải thuê phòng trọ ở trước đền. Lễ hội đền Ông Hoàng Mười gồm hai phần là phần lễ và phần hội. Phần Lễ gồm lễ rước bài vị, khai quang, đạo sắc từ làng Xuân Am về dền, lễ đại tế, lễ yết cáo, và lễ tạ. Phần hội diễn ra rất náo nhiệt với các trò chơi dân gian, được tổ chức từ ngày mồng 9 đến hết ngày mồng 10. Các trò chơi được tổ chức trong ngày hội như: kéo co, nhảy bao bố, chọi gà, bóng chuyền giao lưu các xã, giao lưu văn nghệ... Người dân nô nức đội lễ lên dâng hương

Ông Hoàng Mười được xem là một trong những quan Hoàng của tín ngưỡng Đạo Mẫu, được người dân ngưỡng mộ và tôn thờ ở nhiều địa phương trong nước. Ông được giao cai quản về tâm linh, trông coi vùng non nước dọc sông Lam, nên những đền chùa thờ Tứ Phủ theo Đạo mẫu Nghệ An đều thờ ông, nhưng chỉ là phối thờ, cũng có đền thờ chính là đền Xuân Am tại xã Hưng Thịnh - Hưng Nguyên.

Lễ hội đền ông Hoàng Mười là dịp để người dân tôn vinh giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp, giáo dục tình yêu quên hương cho giới trẻ. Đồng thơi, đây cũng là dịp để thu hút khách thập phương về tham quan và chiêm ngưỡng nét đẹp văn hóa truyền thống của người dân nơi đây, nơi đẫ sinh ra và nuôi dưỡng nhiều bậc khoa bảng, hiền tài của đất nước.

Cổng đền Ông Hoàng Mười

Lễ hội được diễn ra từ ngày mồng 8 đến ngày mồng 10 tháng 10 âm lịch hàng năm. Mỗi ngày, đền đón khoảng hàng trăm lượt du khách về xem hội. Đông ngất là du khách đến từ các tỉnh phía bắc như Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Nội, Ninh Bình... Thậm chí, còn có nhiều du khách vì ở xa chờ làm lễ nên phải thuê phòng trọ ở trước đền.

Lễ hội đền Ông Hoàng Mười gồm hai phần là phần lễ và phần hội. Phần Lễ gồm lễ rước bài vị, khai quang, đạo sắc từ làng Xuân Am về dền, lễ đại tế, lễ yết cáo, và lễ tạ. Phần hội diễn ra rất náo nhiệt với các trò chơi dân gian, được tổ chức từ ngày mồng 9 đến hết ngày mồng 10. Các trò chơi được tổ chức trong ngày hội như: kéo co, nhảy bao bố, chọi gà, bóng chuyền giao lưu các xã, giao lưu văn nghệ...

Người dân nô nức đội lễ lên dâng hương

Related Figures

Hội đình Khương Hạ

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 12/2 Âm lịch Hội đình Khương Hạ (tên Nôm là đình Gừng) là hoạt động văn hóa, tâm linh được tổ chức ngày 12/2 âm lịch hàng năm tại Khương Hạ, phường Khương Đình, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Hội đình Khương Hạ tổ chức nhằm phát huy truyền thống uống nước nhớ nguồn, khơi dậy lòng tự hào dân tộc của người dân địa phương. Đình Khương Hạ nơi diễn ra lễ hội Hội đình Khương Hạ là hoạt động văn hóa sôi nổi, tạo không khí tưng bừng, phấn khởi cho nhân dân trong vùng trong dịp đầu năm mới. Hội đình Khương Hạ diễn ra trang trọng phần lễ, đa dạng và phong phú phần hội với nhiều trò chơi dân gian. Trống hội tưng bừng tại hội đình Khương Hạ Đình Khương Hạ là ngôi đình cổ được xây dựng khá sớm, ít nhất được xây dựng từ thế kỷ XVII. Đạo sắc phong sớm nhất của đình Khương Hạ ghi niên hiệu Đức Long thứ 5 (1633) từ thời vua Lê Thần Tông. Đình Khương Hạ (đình Gừng) thờ Thành hoàng làng Lê Dương Vệ, một danh tướng thời Lê từng lập nhiều công lao. Khi nhà Mạc chiếm ngôi nhà Lê năm 1527, Lê Dương Vệ mang quân phò Lê chống Mạc. Đình Khương Hạ được xếp hạng di kiến trúc nghệ thuật Đình Khương Hạ quay mặt về hướng nam, cổng chính mở ra con đường làng. Nghi môn gồm 4 trụ biểu, trên mỗi cổng chính có đắp 4 chim phượng chụm đuôi, cột phụ đắp con nghê chầu. Từ cổng chính đi vào trong đình, có hai con voi phủ phục, được tạo bằng đá xanh, kích thước gần bằng voi thật. Tòa tiền tế xây 5 gian, tòa đại bái rộng 7 gian. Năm 1993, Đình Khương Hạ được Bộ Văn hoá và Thông tin xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật.

Đình Khương Hạ nơi diễn ra lễ hội Hội đình Khương Hạ là hoạt động văn hóa sôi nổi, tạo không khí tưng bừng, phấn khởi cho nhân dân trong vùng trong dịp đầu năm mới. Hội đình Khương Hạ diễn ra trang trọng phần lễ, đa dạng và phong phú phần hội với nhiều trò chơi dân gian. Trống hội tưng bừng tại hội đình Khương Hạ Đình Khương Hạ là ngôi đình cổ được xây dựng khá sớm, ít nhất được xây dựng từ thế kỷ XVII. Đạo sắc phong sớm nhất của đình Khương Hạ ghi niên hiệu Đức Long thứ 5 (1633) từ thời vua Lê Thần Tông. Đình Khương Hạ (đình Gừng) thờ Thành hoàng làng Lê Dương Vệ, một danh tướng thời Lê từng lập nhiều công lao. Khi nhà Mạc chiếm ngôi nhà Lê năm 1527, Lê Dương Vệ mang quân phò Lê chống Mạc. Đình Khương Hạ được xếp hạng di kiến trúc nghệ thuật Đình Khương Hạ quay mặt về hướng nam, cổng chính mở ra con đường làng. Nghi môn gồm 4 trụ biểu, trên mỗi cổng chính có đắp 4 chim phượng chụm đuôi, cột phụ đắp con nghê chầu. Từ cổng chính đi vào trong đình, có hai con voi phủ phục, được tạo bằng đá xanh, kích thước gần bằng voi thật. Tòa tiền tế xây 5 gian, tòa đại bái rộng 7 gian. Năm 1993, Đình Khương Hạ được Bộ Văn hoá và Thông tin xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật.

Hội đình Khương Hạ là hoạt động văn hóa sôi nổi, tạo không khí tưng bừng, phấn khởi cho nhân dân trong vùng trong dịp đầu năm mới. Hội đình Khương Hạ diễn ra trang trọng phần lễ, đa dạng và phong phú phần hội với nhiều trò chơi dân gian.

Trống hội tưng bừng tại hội đình Khương Hạ Đình Khương Hạ là ngôi đình cổ được xây dựng khá sớm, ít nhất được xây dựng từ thế kỷ XVII. Đạo sắc phong sớm nhất của đình Khương Hạ ghi niên hiệu Đức Long thứ 5 (1633) từ thời vua Lê Thần Tông. Đình Khương Hạ (đình Gừng) thờ Thành hoàng làng Lê Dương Vệ, một danh tướng thời Lê từng lập nhiều công lao. Khi nhà Mạc chiếm ngôi nhà Lê năm 1527, Lê Dương Vệ mang quân phò Lê chống Mạc. Đình Khương Hạ được xếp hạng di kiến trúc nghệ thuật Đình Khương Hạ quay mặt về hướng nam, cổng chính mở ra con đường làng. Nghi môn gồm 4 trụ biểu, trên mỗi cổng chính có đắp 4 chim phượng chụm đuôi, cột phụ đắp con nghê chầu. Từ cổng chính đi vào trong đình, có hai con voi phủ phục, được tạo bằng đá xanh, kích thước gần bằng voi thật. Tòa tiền tế xây 5 gian, tòa đại bái rộng 7 gian. Năm 1993, Đình Khương Hạ được Bộ Văn hoá và Thông tin xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật.

Đình Khương Hạ là ngôi đình cổ được xây dựng khá sớm, ít nhất được xây dựng từ thế kỷ XVII. Đạo sắc phong sớm nhất của đình Khương Hạ ghi niên hiệu Đức Long thứ 5 (1633) từ thời vua Lê Thần Tông. Đình Khương Hạ (đình Gừng) thờ Thành hoàng làng Lê Dương Vệ, một danh tướng thời Lê từng lập nhiều công lao. Khi nhà Mạc chiếm ngôi nhà Lê năm 1527, Lê Dương Vệ mang quân phò Lê chống Mạc.

Đình Khương Hạ được xếp hạng di kiến trúc nghệ thuật

Đình Khương Hạ quay mặt về hướng nam, cổng chính mở ra con đường làng. Nghi môn gồm 4 trụ biểu, trên mỗi cổng chính có đắp 4 chim phượng chụm đuôi, cột phụ đắp con nghê chầu. Từ cổng chính đi vào trong đình, có hai con voi phủ phục, được tạo bằng đá xanh, kích thước gần bằng voi thật. Tòa tiền tế xây 5 gian, tòa đại bái rộng 7 gian. Năm 1993, Đình Khương Hạ được Bộ Văn hoá và Thông tin xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật.

Related Figures

Lễ Hội Sông Nước Cửa Lò

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 30/4- 1/5 Dương lịch Lễ hội sông nước Cửa Lò ở Nghệ An được tổ chức vào ngày 30/04 và 01/05, tại đền Vạn Lộc, phường Nghi Tân. Hội gồm có hai phần chính là phần lễ và phần hội. Phần lễ diễn ra với các nghi lễ như lễ yết cáo diễn ra tại đền Vạn Lộc vào buổi chiều ngày 30/04, và lễ rước kiệu từ đền Vạn Lộc đến Quảng trường trung tâm thị xã vào sáng ngày 01/05. Phần hội gồm chương trình văn nghệ "Nối vòng tay biển" tổ chực tại quảng trường trung tâm vào tối ngày 30/04. Ngoài ra còn tổ chức đốt pháo bông. Ngày 01/05, sẽ tổ chức hội đua thuyền truyền thống trên biển cùng các hoạt động văn hóa thể thao, và văn nghệ. Hội đua thuyền truyền thống Giải đua thuyền truyền thống trong lễ hội sông nước Cửa Lò là phần thu hút được nhiều người xem nhất. Người dân và du khách xem hội cỗ vũ rất náo nhiệt, cuộc đua diễn ra rất gay cấn và nhiều điều bất ngờ. Mỗi thuyền đua thường có 20-30 người và một người cầm chịch thường gõ trống, hoặc thổi còi giống như hiệu lệnh. Khu vực tổ chức hội đua thuyền là bãi biển trước quảng trường trung tâm của thị xã. Bãi biển Cửa Lò Cuộc đua diễn ra rất gay cấn, khiến người xem cũng đứng ngồi không yên. Vì là cuộc đua thuyền trên biển, nên yêu cầu các đội đua phải phối hợp ăn ý, cùng chung sức đưa con thuyền vượt qua các cơn sóng để ra đường đua cho đến khi thuyền trở về đích. Mỗi khi có đội chèo giành chiến thắng, khán giả của phường hoặc xã đó lại chạy ào xuống nước để đón thuyền về. Cuộc đua thuyền này đã làm sống lại nét đẹp văn hóa truyền thống của người dân biển, và trở thành một nét đẹp trong du lịch, thu hút hàng vạn du khách về xem hội. Lễ Hội Sông Nước Cửa Lò ở Nghệ An thu hút hàng vạn du khách về xem hội Lễ hội sông nước Cửa Lò còn trưng này nhiều ảnh và các di tích lịch sử, thắng cảnh của Cửa Lò. Ngày nay, lễ hội này vẫn giữ gìn được phần nào những nghi lễ trong lễ hội truyền thống, đã thu hút hàng vạn du khách về xem hội và tham quan tỉnh.

Hội đua thuyền truyền thống Giải đua thuyền truyền thống trong lễ hội sông nước Cửa Lò là phần thu hút được nhiều người xem nhất. Người dân và du khách xem hội cỗ vũ rất náo nhiệt, cuộc đua diễn ra rất gay cấn và nhiều điều bất ngờ. Mỗi thuyền đua thường có 20-30 người và một người cầm chịch thường gõ trống, hoặc thổi còi giống như hiệu lệnh. Khu vực tổ chức hội đua thuyền là bãi biển trước quảng trường trung tâm của thị xã. Bãi biển Cửa Lò Cuộc đua diễn ra rất gay cấn, khiến người xem cũng đứng ngồi không yên. Vì là cuộc đua thuyền trên biển, nên yêu cầu các đội đua phải phối hợp ăn ý, cùng chung sức đưa con thuyền vượt qua các cơn sóng để ra đường đua cho đến khi thuyền trở về đích. Mỗi khi có đội chèo giành chiến thắng, khán giả của phường hoặc xã đó lại chạy ào xuống nước để đón thuyền về. Cuộc đua thuyền này đã làm sống lại nét đẹp văn hóa truyền thống của người dân biển, và trở thành một nét đẹp trong du lịch, thu hút hàng vạn du khách về xem hội. Lễ Hội Sông Nước Cửa Lò ở Nghệ An thu hút hàng vạn du khách về xem hội Lễ hội sông nước Cửa Lò còn trưng này nhiều ảnh và các di tích lịch sử, thắng cảnh của Cửa Lò. Ngày nay, lễ hội này vẫn giữ gìn được phần nào những nghi lễ trong lễ hội truyền thống, đã thu hút hàng vạn du khách về xem hội và tham quan tỉnh.

Giải đua thuyền truyền thống trong lễ hội sông nước Cửa Lò là phần thu hút được nhiều người xem nhất. Người dân và du khách xem hội cỗ vũ rất náo nhiệt, cuộc đua diễn ra rất gay cấn và nhiều điều bất ngờ. Mỗi thuyền đua thường có 20-30 người và một người cầm chịch thường gõ trống, hoặc thổi còi giống như hiệu lệnh. Khu vực tổ chức hội đua thuyền là bãi biển trước quảng trường trung tâm của thị xã.

Bãi biển Cửa Lò

Cuộc đua diễn ra rất gay cấn, khiến người xem cũng đứng ngồi không yên. Vì là cuộc đua thuyền trên biển, nên yêu cầu các đội đua phải phối hợp ăn ý, cùng chung sức đưa con thuyền vượt qua các cơn sóng để ra đường đua cho đến khi thuyền trở về đích. Mỗi khi có đội chèo giành chiến thắng, khán giả của phường hoặc xã đó lại chạy ào xuống nước để đón thuyền về. Cuộc đua thuyền này đã làm sống lại nét đẹp văn hóa truyền thống của người dân biển, và trở thành một nét đẹp trong du lịch, thu hút hàng vạn du khách về xem hội. Lễ Hội Sông Nước Cửa Lò ở Nghệ An thu hút hàng vạn du khách về xem hội Lễ hội sông nước Cửa Lò còn trưng này nhiều ảnh và các di tích lịch sử, thắng cảnh của Cửa Lò. Ngày nay, lễ hội này vẫn giữ gìn được phần nào những nghi lễ trong lễ hội truyền thống, đã thu hút hàng vạn du khách về xem hội và tham quan tỉnh.

Cuộc đua diễn ra rất gay cấn, khiến người xem cũng đứng ngồi không yên. Vì là cuộc đua thuyền trên biển, nên yêu cầu các đội đua phải phối hợp ăn ý, cùng chung sức đưa con thuyền vượt qua các cơn sóng để ra đường đua cho đến khi thuyền trở về đích. Mỗi khi có đội chèo giành chiến thắng, khán giả của phường hoặc xã đó lại chạy ào xuống nước để đón thuyền về. Cuộc đua thuyền này đã làm sống lại nét đẹp văn hóa truyền thống của người dân biển, và trở thành một nét đẹp trong du lịch, thu hút hàng vạn du khách về xem hội.

Lễ Hội Sông Nước Cửa Lò ở Nghệ An thu hút hàng vạn du khách về xem hội

Lễ hội sông nước Cửa Lò còn trưng này nhiều ảnh và các di tích lịch sử, thắng cảnh của Cửa Lò. Ngày nay, lễ hội này vẫn giữ gìn được phần nào những nghi lễ trong lễ hội truyền thống, đã thu hút hàng vạn du khách về xem hội và tham quan tỉnh.

Lễ hội sông nước Cửa Lò còn trưng này nhiều ảnh và các di tích lịch sử, thắng cảnh của Cửa Lò. Ngày nay, lễ hội này vẫn giữ gìn được phần nào những nghi lễ trong lễ hội truyền thống, đã thu hút hàng vạn du khách về xem hội và tham quan tỉnh.

Related Figures

Lễ Hội Đền Rậm

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 21/1 Âm lịch Hàng năm, cứ đến ngày 21 tháng Giêng âm lịch, người dân xã Quỳnh Văn, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An lại mở hội Đền Rậm. Đền Rậm còn có tên khác là đền Thượng, nằm ở phía tây Nam bên dưới chân núi Tùng Sơn, thuộc xã Quỳnh Văn, huyện Quỳnh Lưu. Nơi đây là nơi thờ đức thánh Phùng Hưng, người đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa lật đổ ách thống trị của nhà Đường, đã được nhân dân suy tôn làm Bố Cái đại vương. Lê tế trong ngày hội đền Rậm ở Nghệ An Theo sử cũ có ghi, thần phả của Đền Rậm, Phùng Hưng sinh ra ở Đường Lâm( này là xã Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội), tên tự của ông là Công Phấn. Cha của Phùng Hưng là cụ Phùng Hạp Khanh, nổi tiếng là người hiền tài đức độ, từng tham gia cuộc khởi nghĩa Hoan Châu do Mai Thúc Loan làm thủ lĩnh. Phùng Hưng vốn nổi tiếng là người có sức khỏe phi thường, thông minh, khí phách hơn người. Thời thanh niên, ông từng diết hổ quấy phá ở trong rừng. Ngày 21 tháng Giêng âm lịch năm 798, giặc Côn Lôn, Cha Va quấy nhiễu ở vùng phía Nam nên Phùng Hưng đã đi tuần phòng các địa hạt, khi đế Tùng Sơn thì trời tối nên để quân trú ở đây. Đến tối, bỗng xuất hiện một con hổ từ, ông đã một mình đánh nhau với con hổ. Đúng lúc đó, có 3 con hổ cùng lao vào hợp sức đánh nên Phương Hưng đã hy sinh. Sau đó, 4 con hổ đã kéo xác Phùng Hưng lên núi Thách Án để an tang nhưng vì núi toàn đá, không có đất nên chúng bèn mang thi thể ông xuống Long hải Sơn ở làng Quỳnh Tụ (nay là xã Quỳnh Xuân) để chôn. Sau khi qua đời, ông được người dân suy tôn là Bố cái Đại Vương, rồi lập đền thời để thờ cúng. Đền Rậm tại Nghệ An Năm 2008, người dân huyện Quỳnh Lưu đã khôi phục lại hội đền Rậm và tổ chức vào đúng ngày giỗ của Bố cái Đại Vương là ngày 21/01 âm lịch. Với những giá trị to lớn về lịch sử, và nhằm giữ gìn, phát huy giá trị lịch sử của ngôi đền này, năm 2014 UBND tỉnh Nghệ An đã quyết định công nhận đền Rậm là Di tích lịch sử cấp tỉnh.

Lê tế trong ngày hội đền Rậm ở Nghệ An Theo sử cũ có ghi, thần phả của Đền Rậm, Phùng Hưng sinh ra ở Đường Lâm( này là xã Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội), tên tự của ông là Công Phấn. Cha của Phùng Hưng là cụ Phùng Hạp Khanh, nổi tiếng là người hiền tài đức độ, từng tham gia cuộc khởi nghĩa Hoan Châu do Mai Thúc Loan làm thủ lĩnh. Phùng Hưng vốn nổi tiếng là người có sức khỏe phi thường, thông minh, khí phách hơn người. Thời thanh niên, ông từng diết hổ quấy phá ở trong rừng. Ngày 21 tháng Giêng âm lịch năm 798, giặc Côn Lôn, Cha Va quấy nhiễu ở vùng phía Nam nên Phùng Hưng đã đi tuần phòng các địa hạt, khi đế Tùng Sơn thì trời tối nên để quân trú ở đây. Đến tối, bỗng xuất hiện một con hổ từ, ông đã một mình đánh nhau với con hổ. Đúng lúc đó, có 3 con hổ cùng lao vào hợp sức đánh nên Phương Hưng đã hy sinh. Sau đó, 4 con hổ đã kéo xác Phùng Hưng lên núi Thách Án để an tang nhưng vì núi toàn đá, không có đất nên chúng bèn mang thi thể ông xuống Long hải Sơn ở làng Quỳnh Tụ (nay là xã Quỳnh Xuân) để chôn. Sau khi qua đời, ông được người dân suy tôn là Bố cái Đại Vương, rồi lập đền thời để thờ cúng. Đền Rậm tại Nghệ An Năm 2008, người dân huyện Quỳnh Lưu đã khôi phục lại hội đền Rậm và tổ chức vào đúng ngày giỗ của Bố cái Đại Vương là ngày 21/01 âm lịch. Với những giá trị to lớn về lịch sử, và nhằm giữ gìn, phát huy giá trị lịch sử của ngôi đền này, năm 2014 UBND tỉnh Nghệ An đã quyết định công nhận đền Rậm là Di tích lịch sử cấp tỉnh.

Theo sử cũ có ghi, thần phả của Đền Rậm, Phùng Hưng sinh ra ở Đường Lâm( này là xã Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội), tên tự của ông là Công Phấn. Cha của Phùng Hưng là cụ Phùng Hạp Khanh, nổi tiếng là người hiền tài đức độ, từng tham gia cuộc khởi nghĩa Hoan Châu do Mai Thúc Loan làm thủ lĩnh. Phùng Hưng vốn nổi tiếng là người có sức khỏe phi thường, thông minh, khí phách hơn người. Thời thanh niên, ông từng diết hổ quấy phá ở trong rừng. Ngày 21 tháng Giêng âm lịch năm 798, giặc Côn Lôn, Cha Va quấy nhiễu ở vùng phía Nam nên Phùng Hưng đã đi tuần phòng các địa hạt, khi đế Tùng Sơn thì trời tối nên để quân trú ở đây. Đến tối, bỗng xuất hiện một con hổ từ, ông đã một mình đánh nhau với con hổ. Đúng lúc đó, có 3 con hổ cùng lao vào hợp sức đánh nên Phương Hưng đã hy sinh. Sau đó, 4 con hổ đã kéo xác Phùng Hưng lên núi Thách Án để an tang nhưng vì núi toàn đá, không có đất nên chúng bèn mang thi thể ông xuống Long hải Sơn ở làng Quỳnh Tụ (nay là xã Quỳnh Xuân) để chôn. Sau khi qua đời, ông được người dân suy tôn là Bố cái Đại Vương, rồi lập đền thời để thờ cúng. Đền Rậm tại Nghệ An Năm 2008, người dân huyện Quỳnh Lưu đã khôi phục lại hội đền Rậm và tổ chức vào đúng ngày giỗ của Bố cái Đại Vương là ngày 21/01 âm lịch. Với những giá trị to lớn về lịch sử, và nhằm giữ gìn, phát huy giá trị lịch sử của ngôi đền này, năm 2014 UBND tỉnh Nghệ An đã quyết định công nhận đền Rậm là Di tích lịch sử cấp tỉnh.

Ngày 21 tháng Giêng âm lịch năm 798, giặc Côn Lôn, Cha Va quấy nhiễu ở vùng phía Nam nên Phùng Hưng đã đi tuần phòng các địa hạt, khi đế Tùng Sơn thì trời tối nên để quân trú ở đây. Đến tối, bỗng xuất hiện một con hổ từ, ông đã một mình đánh nhau với con hổ. Đúng lúc đó, có 3 con hổ cùng lao vào hợp sức đánh nên Phương Hưng đã hy sinh. Sau đó, 4 con hổ đã kéo xác Phùng Hưng lên núi Thách Án để an tang nhưng vì núi toàn đá, không có đất nên chúng bèn mang thi thể ông xuống Long hải Sơn ở làng Quỳnh Tụ (nay là xã Quỳnh Xuân) để chôn. Sau khi qua đời, ông được người dân suy tôn là Bố cái Đại Vương, rồi lập đền thời để thờ cúng.

Đền Rậm tại Nghệ An

Năm 2008, người dân huyện Quỳnh Lưu đã khôi phục lại hội đền Rậm và tổ chức vào đúng ngày giỗ của Bố cái Đại Vương là ngày 21/01 âm lịch. Với những giá trị to lớn về lịch sử, và nhằm giữ gìn, phát huy giá trị lịch sử của ngôi đền này, năm 2014 UBND tỉnh Nghệ An đã quyết định công nhận đền Rậm là Di tích lịch sử cấp tỉnh.

Related Figures

Hội đình Bà Tía (Hội đình Vĩnh Ninh)

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 8/2- 12/2 Âm lịch Đình Vĩnh Ninh thờ Bà Tía nữ tướng của Hai Bà Trưng thời đầu Công nguyên, làm Thành Hoàng cùng với ông Rắn và ông Đất. Lễ hội truyền thống đình Vĩnh Ninh được tổ chức từ 8-12/2 âm lịch hàng năm tại làng Vĩnh Ninh, xã Vĩnh Quỳnh, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Tưng bừng lễ hội truyền thống đình Vĩnh Ninh Thần tích kể rằng: Một người phụ nữ mộng thấy được thần tặng đóa hoa sen mà mang thai sinh ra nàng. Trương Tử Nương (hay còn gọi nàng Tía) dung mạo xinh đẹp, nhanh nhẹn lại tinh thông võ nghệ. Năm nàng 15 tuổi, Hai Bà Trưng trong một lần đi thị sát qua làng gặp nàng đang gánh nước bèn hỏi chuyện. Cảm mến tài trí của cô gái trẻ, Hai Bà Trưng đưa nàng về giúp việc trong triều. Năm 43, quân Mã Viện sang đánh Âu Lạc. Nàng Tía được cử làm Đô đốc thủy quân chỉ huy nhiều trận đánh, lập nhiều chiến công. Nàng Tía anh dũng hy sinh tại cửa bể Thần Phù được phong là "Trinh thục đoan trang anh túc thần nữ". Đình Vĩnh Ninh thờ Bà Tía có kiến trúc bề thế 7 gian với những hàng cột lim to kê trên đá tảng chạm hoa sen. Đến nay, đình vẫn giữ được ngọc phả và 23 đạo sắc phong từ thời Cảnh Hưng (thế kỷ XVIII) đến Duy Tân (Thế kỷ XX). Hội đình Vĩnh Ninh tưởng nhớ công ơn Bà Tía Buổi sáng ngày 8/2 âm lịch, mở đầu lễ hội. Các vị cao niên trong làng dâng hương ở đình. Tiếp theo, người dân trong làng dâng hương lễ Thánh. Buổi chiều tổ chức lễ rước tả hữu nhập điện. Đi đầu hai đám rước là đội múa rồng, múa sư tử... Đám rước đi tới đâu, chiêng trống vang lừng tới đấy. Khi đám rước về tới sân đình, kiệu Thánh được đưa về ngự trong đình. Hội đình Vĩnh Ninh diễn ra trang nghiêm Ngày 9/2 tiếp tục lễ hội với lễ rước oản lên chùa Vĩnh Ninh và đình Vĩnh Ninh. Sau đó, đội tế nam thực hiện lễ tế nội án. Buổi chiều, người dân va du khách thập phương dâng hương lễ Thánh tại đình. Ngày 10 và 11 tháng 2, đội tế nam tế nội án, sau đó đội dâng hương nữ hành lễ. Ngày 12/2, lễ rước tả hữu đoàn cung được diễn ra từ sáng sớm. Kết thúc lễ hội là màn tế giã hội do đội tế nam thực hiện.

Tưng bừng lễ hội truyền thống đình Vĩnh Ninh Thần tích kể rằng: Một người phụ nữ mộng thấy được thần tặng đóa hoa sen mà mang thai sinh ra nàng. Trương Tử Nương (hay còn gọi nàng Tía) dung mạo xinh đẹp, nhanh nhẹn lại tinh thông võ nghệ. Năm nàng 15 tuổi, Hai Bà Trưng trong một lần đi thị sát qua làng gặp nàng đang gánh nước bèn hỏi chuyện. Cảm mến tài trí của cô gái trẻ, Hai Bà Trưng đưa nàng về giúp việc trong triều. Năm 43, quân Mã Viện sang đánh Âu Lạc. Nàng Tía được cử làm Đô đốc thủy quân chỉ huy nhiều trận đánh, lập nhiều chiến công. Nàng Tía anh dũng hy sinh tại cửa bể Thần Phù được phong là "Trinh thục đoan trang anh túc thần nữ". Đình Vĩnh Ninh thờ Bà Tía có kiến trúc bề thế 7 gian với những hàng cột lim to kê trên đá tảng chạm hoa sen. Đến nay, đình vẫn giữ được ngọc phả và 23 đạo sắc phong từ thời Cảnh Hưng (thế kỷ XVIII) đến Duy Tân (Thế kỷ XX). Hội đình Vĩnh Ninh tưởng nhớ công ơn Bà Tía Buổi sáng ngày 8/2 âm lịch, mở đầu lễ hội. Các vị cao niên trong làng dâng hương ở đình. Tiếp theo, người dân trong làng dâng hương lễ Thánh. Buổi chiều tổ chức lễ rước tả hữu nhập điện. Đi đầu hai đám rước là đội múa rồng, múa sư tử... Đám rước đi tới đâu, chiêng trống vang lừng tới đấy. Khi đám rước về tới sân đình, kiệu Thánh được đưa về ngự trong đình. Hội đình Vĩnh Ninh diễn ra trang nghiêm Ngày 9/2 tiếp tục lễ hội với lễ rước oản lên chùa Vĩnh Ninh và đình Vĩnh Ninh. Sau đó, đội tế nam thực hiện lễ tế nội án. Buổi chiều, người dân va du khách thập phương dâng hương lễ Thánh tại đình. Ngày 10 và 11 tháng 2, đội tế nam tế nội án, sau đó đội dâng hương nữ hành lễ. Ngày 12/2, lễ rước tả hữu đoàn cung được diễn ra từ sáng sớm. Kết thúc lễ hội là màn tế giã hội do đội tế nam thực hiện.

Thần tích kể rằng: Một người phụ nữ mộng thấy được thần tặng đóa hoa sen mà mang thai sinh ra nàng. Trương Tử Nương (hay còn gọi nàng Tía) dung mạo xinh đẹp, nhanh nhẹn lại tinh thông võ nghệ. Năm nàng 15 tuổi, Hai Bà Trưng trong một lần đi thị sát qua làng gặp nàng đang gánh nước bèn hỏi chuyện. Cảm mến tài trí của cô gái trẻ, Hai Bà Trưng đưa nàng về giúp việc trong triều. Năm 43, quân Mã Viện sang đánh Âu Lạc. Nàng Tía được cử làm Đô đốc thủy quân chỉ huy nhiều trận đánh, lập nhiều chiến công. Nàng Tía anh dũng hy sinh tại cửa bể Thần Phù được phong là "Trinh thục đoan trang anh túc thần nữ". Đình Vĩnh Ninh thờ Bà Tía có kiến trúc bề thế 7 gian với những hàng cột lim to kê trên đá tảng chạm hoa sen. Đến nay, đình vẫn giữ được ngọc phả và 23 đạo sắc phong từ thời Cảnh Hưng (thế kỷ XVIII) đến Duy Tân (Thế kỷ XX).

Hội đình Vĩnh Ninh tưởng nhớ công ơn Bà Tía

Buổi sáng ngày 8/2 âm lịch, mở đầu lễ hội. Các vị cao niên trong làng dâng hương ở đình. Tiếp theo, người dân trong làng dâng hương lễ Thánh. Buổi chiều tổ chức lễ rước tả hữu nhập điện. Đi đầu hai đám rước là đội múa rồng, múa sư tử... Đám rước đi tới đâu, chiêng trống vang lừng tới đấy. Khi đám rước về tới sân đình, kiệu Thánh được đưa về ngự trong đình.

Hội đình Vĩnh Ninh diễn ra trang nghiêm Ngày 9/2 tiếp tục lễ hội với lễ rước oản lên chùa Vĩnh Ninh và đình Vĩnh Ninh. Sau đó, đội tế nam thực hiện lễ tế nội án. Buổi chiều, người dân va du khách thập phương dâng hương lễ Thánh tại đình. Ngày 10 và 11 tháng 2, đội tế nam tế nội án, sau đó đội dâng hương nữ hành lễ. Ngày 12/2, lễ rước tả hữu đoàn cung được diễn ra từ sáng sớm. Kết thúc lễ hội là màn tế giã hội do đội tế nam thực hiện.

Ngày 9/2 tiếp tục lễ hội với lễ rước oản lên chùa Vĩnh Ninh và đình Vĩnh Ninh. Sau đó, đội tế nam thực hiện lễ tế nội án. Buổi chiều, người dân va du khách thập phương dâng hương lễ Thánh tại đình. Ngày 10 và 11 tháng 2, đội tế nam tế nội án, sau đó đội dâng hương nữ hành lễ. Ngày 12/2, lễ rước tả hữu đoàn cung được diễn ra từ sáng sớm. Kết thúc lễ hội là màn tế giã hội do đội tế nam thực hiện.

Ngày 9/2 tiếp tục lễ hội với lễ rước oản lên chùa Vĩnh Ninh và đình Vĩnh Ninh. Sau đó, đội tế nam thực hiện lễ tế nội án. Buổi chiều, người dân va du khách thập phương dâng hương lễ Thánh tại đình.

Ngày 10 và 11 tháng 2, đội tế nam tế nội án, sau đó đội dâng hương nữ hành lễ. Ngày 12/2, lễ rước tả hữu đoàn cung được diễn ra từ sáng sớm. Kết thúc lễ hội là màn tế giã hội do đội tế nam thực hiện.

Related Figures

Lễ hội đền Nguyễn Sư Hồi

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/1 Âm lịch Lễ hội đền Nguyễn Sư Hồi còn được gọi là hội đền Vạn Lộc, được tổ chức vào ngày 15 tháng Giêng âm lịch cứ 3 năm 1 lần, tại làng Vạn Lộc, phường Nghi Tân, thị xã Cửa Lò, Nghệ An. Đền Nguyễn Sư Hồi là nơi thờ Thái úy Quận công Nguyễn Sư Hồi, là người có công lớn trong việc khai hoàng vùng đất phía đông của huyện Nghi Lộc. Lễ hội đền Nguyễn Sư Hồi tại Nghệ An Lễ hội đền Nguyễn Sư Hồi đã được biết bao thế hệ người dân ở Cửa Lò giữ gìn và phát huy. Đến nay, hội đền này đã qua 505 năm nhưng vẫn còn duy trì được nhiều nét văn hóa của một lễ hội làng truyền thống. Trong phần lễ, lễ rước kiệu, bài vị và long ngai của thái úy quận công Nguyễn Sư Hồi được tổ chức rất trang nghiêm và long trọng, với đầy đủ các thành phần như đội bát bửu, đội múa lân, đội tế, đội trống chiêng. Đám rước thường diễu hành qua các khung đường chính của phường Nghi Tân. Lễ rước rất hoành tráng Điều góp phần tạo nên không khí trang nghiêm, nhưng cũng vô cùng vui nhộn của lễ hội đền Nguyễn Sư Hồi đó là sự tham gia nhiệt tình của người dân nơi đây. Lễ hội đền Nguyễn Sư Hồi cũng được xem là dịp để người lớn giáo dục thế hệ trẻ trong việc giữ gìn và phát huy những phong tục và tập quán truyền thống. Rất đông người dân va du khách Tổ chức và duy trì các hoạt động lễ hội là một trong những việc cần thiết để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của người dân Ninh Bình. Chính những nét văn hóa truyền thống của ngôi đền vẫn còn được lưu giữ cho đến ngày hôm nay mà người dân nơi đây, đặc biệt là thế hệ con cháu có cơ hội tìm về với cội nguồn của mình.

Lễ hội đền Nguyễn Sư Hồi tại Nghệ An Lễ hội đền Nguyễn Sư Hồi đã được biết bao thế hệ người dân ở Cửa Lò giữ gìn và phát huy. Đến nay, hội đền này đã qua 505 năm nhưng vẫn còn duy trì được nhiều nét văn hóa của một lễ hội làng truyền thống. Trong phần lễ, lễ rước kiệu, bài vị và long ngai của thái úy quận công Nguyễn Sư Hồi được tổ chức rất trang nghiêm và long trọng, với đầy đủ các thành phần như đội bát bửu, đội múa lân, đội tế, đội trống chiêng. Đám rước thường diễu hành qua các khung đường chính của phường Nghi Tân. Lễ rước rất hoành tráng Điều góp phần tạo nên không khí trang nghiêm, nhưng cũng vô cùng vui nhộn của lễ hội đền Nguyễn Sư Hồi đó là sự tham gia nhiệt tình của người dân nơi đây. Lễ hội đền Nguyễn Sư Hồi cũng được xem là dịp để người lớn giáo dục thế hệ trẻ trong việc giữ gìn và phát huy những phong tục và tập quán truyền thống. Rất đông người dân va du khách Tổ chức và duy trì các hoạt động lễ hội là một trong những việc cần thiết để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của người dân Ninh Bình. Chính những nét văn hóa truyền thống của ngôi đền vẫn còn được lưu giữ cho đến ngày hôm nay mà người dân nơi đây, đặc biệt là thế hệ con cháu có cơ hội tìm về với cội nguồn của mình.

Lễ hội đền Nguyễn Sư Hồi đã được biết bao thế hệ người dân ở Cửa Lò giữ gìn và phát huy. Đến nay, hội đền này đã qua 505 năm nhưng vẫn còn duy trì được nhiều nét văn hóa của một lễ hội làng truyền thống. Trong phần lễ, lễ rước kiệu, bài vị và long ngai của thái úy quận công Nguyễn Sư Hồi được tổ chức rất trang nghiêm và long trọng, với đầy đủ các thành phần như đội bát bửu, đội múa lân, đội tế, đội trống chiêng. Đám rước thường diễu hành qua các khung đường chính của phường Nghi Tân.

Lễ rước rất hoành tráng

Điều góp phần tạo nên không khí trang nghiêm, nhưng cũng vô cùng vui nhộn của lễ hội đền Nguyễn Sư Hồi đó là sự tham gia nhiệt tình của người dân nơi đây. Lễ hội đền Nguyễn Sư Hồi cũng được xem là dịp để người lớn giáo dục thế hệ trẻ trong việc giữ gìn và phát huy những phong tục và tập quán truyền thống.

Rất đông người dân va du khách

Tổ chức và duy trì các hoạt động lễ hội là một trong những việc cần thiết để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của người dân Ninh Bình.

Chính những nét văn hóa truyền thống của ngôi đền vẫn còn được lưu giữ cho đến ngày hôm nay mà người dân nơi đây, đặc biệt là thế hệ con cháu có cơ hội tìm về với cội nguồn của mình.

Related Figures

Lễ hội động Thiên Tôn

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 6/3- 8/3 Âm lịch Lễ hội động Thiên Tôn được tổ chức vào các ngày mồng 6, 7, 8 tháng Ba âm lịch hàng năm, tại thị trấn Thiên Tôn, xã Gia Phương, huyện gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Lễ hội động Thiên Tôn ở Ninh Bình Động Thiên Tôn là một di tích lịch sử văn hóa thuộc chuỗi khu di tích cố đô Hoa Lư. Động chùa Thiên Tôn là nơi thờ thần Thiên Tôn, là vị thiên thần trấn ngự tại cửa ngõ phía đông vào thành Đông của khu du tích cố đô Hoa Lư. Thần Thiên Tôn là một vị thần trong truyền thuyết ở thế kỷ thứ X. Tương truyền, trước khi Đinh Bộ Lĩnh mang quân đi dẹp loạn 12 sứ quân, ông đã mang lễ vật vào trong động để tế lễ với mong muốn tìm được thần giúp đỡ đánh tan các sứ quân khác. Sau khi chiến thắng, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế, đống đô ở Hoa Lư. Ông đã cho xây dựng nhà Tiền Tế và Kính Thiên Đài để tiếp đón các sứ thần nước ngoài trước khi vào kinh đô. Động Thiên Tôn là nơi thờ thần Thiên Tôn Trong thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ và thực dân Pháp, động Thiên Tôn là căn cứ địa cách mạng vững chắc của quân và dân ta. Với nhiều dấu tích lịch sử vẫn còn in dấu thắng lợi vẻ vang của dân tộc, chùa và động Thiên Tôn đã được Nhà Nước cấp chứng nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia. Phần lễ diễn ra với các nghi thức dâng hương, lễ tế chính, lễ tạ. Phần hội gồm các hoạt động vui chơi giải trí như đánh cờ tiếng, kéo co, chọi gà... Khuôn viên trước động Thiên Tôn Lễ hội động Thiên Tôn mang ý nghĩa thiết thục, là dịp để người dân bày tỏ lòng biết ơn đối với các bậc tiền nhân đã có công dựng nước và giữ ước. Đồng thời lễ hội còn khơi dậy niềm tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ.

Lễ hội động Thiên Tôn ở Ninh Bình Động Thiên Tôn là một di tích lịch sử văn hóa thuộc chuỗi khu di tích cố đô Hoa Lư. Động chùa Thiên Tôn là nơi thờ thần Thiên Tôn, là vị thiên thần trấn ngự tại cửa ngõ phía đông vào thành Đông của khu du tích cố đô Hoa Lư. Thần Thiên Tôn là một vị thần trong truyền thuyết ở thế kỷ thứ X. Tương truyền, trước khi Đinh Bộ Lĩnh mang quân đi dẹp loạn 12 sứ quân, ông đã mang lễ vật vào trong động để tế lễ với mong muốn tìm được thần giúp đỡ đánh tan các sứ quân khác. Sau khi chiến thắng, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế, đống đô ở Hoa Lư. Ông đã cho xây dựng nhà Tiền Tế và Kính Thiên Đài để tiếp đón các sứ thần nước ngoài trước khi vào kinh đô. Động Thiên Tôn là nơi thờ thần Thiên Tôn Trong thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ và thực dân Pháp, động Thiên Tôn là căn cứ địa cách mạng vững chắc của quân và dân ta. Với nhiều dấu tích lịch sử vẫn còn in dấu thắng lợi vẻ vang của dân tộc, chùa và động Thiên Tôn đã được Nhà Nước cấp chứng nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia. Phần lễ diễn ra với các nghi thức dâng hương, lễ tế chính, lễ tạ. Phần hội gồm các hoạt động vui chơi giải trí như đánh cờ tiếng, kéo co, chọi gà... Khuôn viên trước động Thiên Tôn Lễ hội động Thiên Tôn mang ý nghĩa thiết thục, là dịp để người dân bày tỏ lòng biết ơn đối với các bậc tiền nhân đã có công dựng nước và giữ ước. Đồng thời lễ hội còn khơi dậy niềm tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ.

Động Thiên Tôn là một di tích lịch sử văn hóa thuộc chuỗi khu di tích cố đô Hoa Lư. Động chùa Thiên Tôn là nơi thờ thần Thiên Tôn, là vị thiên thần trấn ngự tại cửa ngõ phía đông vào thành Đông của khu du tích cố đô Hoa Lư. Thần Thiên Tôn là một vị thần trong truyền thuyết ở thế kỷ thứ X. Tương truyền, trước khi Đinh Bộ Lĩnh mang quân đi dẹp loạn 12 sứ quân, ông đã mang lễ vật vào trong động để tế lễ với mong muốn tìm được thần giúp đỡ đánh tan các sứ quân khác. Sau khi chiến thắng, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế, đống đô ở Hoa Lư. Ông đã cho xây dựng nhà Tiền Tế và Kính Thiên Đài để tiếp đón các sứ thần nước ngoài trước khi vào kinh đô.

Động Thiên Tôn là nơi thờ thần Thiên Tôn

Trong thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ và thực dân Pháp, động Thiên Tôn là căn cứ địa cách mạng vững chắc của quân và dân ta. Với nhiều dấu tích lịch sử vẫn còn in dấu thắng lợi vẻ vang của dân tộc, chùa và động Thiên Tôn đã được Nhà Nước cấp chứng nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia.

Phần lễ diễn ra với các nghi thức dâng hương, lễ tế chính, lễ tạ. Phần hội gồm các hoạt động vui chơi giải trí như đánh cờ tiếng, kéo co, chọi gà...

Khuôn viên trước động Thiên Tôn

Lễ hội động Thiên Tôn mang ý nghĩa thiết thục, là dịp để người dân bày tỏ lòng biết ơn đối với các bậc tiền nhân đã có công dựng nước và giữ ước. Đồng thời lễ hội còn khơi dậy niềm tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ.

Related Figures

Hội đình Phú Gia

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 8/1- 10/1 Âm lịch Ngày 8 đến 10 tháng Giêng âm lịch hàng năm, nhân dân làng Phú Gia quận Tây Hồ, Hà Nội lại tưng bừng tổ chức hội đình Phú Gia để tưởng nhớ công ơn Thần Khai Nguyên, vị tướng đời Hùng Vương thứ 6 có công đánh giặc ngoại xâm giữ nước. Tưng bừng lễ hội đình Phú Gia Tương truyền, có một vị tướng tên húy là Nhự đời Hùng Vương thứ 6 khi đánh giặc Ân bị chém vào cổ ngả đầu về một bên vẫn phi ngựa về làng. Đến đoạn vườn hồng ngã ba Nhật Tân, Ngài hỏi một bà bán nước ven đường "cổ tôi thế này liệu có thể sống được không". Bà lão xem xong liền trả lời "Ngài có là người trời mới sống được". Sau đó ngài phi ngựa về đến đầu làng Phú Gia thì hóa tại đây. Thần Khai Nguyên trước khi chết còn có công trị nạn hồng thủy đem lại cuộc sống bình yên, hạnh phúc cho người dân. Ngài còn được vu ban 12 đạo sắc, phong làm Thành Hoàng với 12 chữ vàng "Cứu nước, cứu dân, âm phù, dương trợ, dân tình yên ổn". Dân làng Phú Gia lập đền thờ để tưởng nhớ công ơn Ngài. Múa lân trong lễ hội đình Phú Gia Hội đình Phú Gia bắt đầu từ ngày 8 tháng Giêng với lễ Bao Sái, Mộc Dục và đồ thờ cúng. Buổi chiều làm lễ khai mở cửa đình và phát trang phục cho những người tham gia phục vụ lễ hội. Trong thời gian diễn ra lễ hội có nhiều hoạt động được tổ chức như: Kéo co, chọi gà, cờ tướng, tổ tôm, biểu diễn văn nghệ... Lễ rước nước trong lễ hội đình Phú Gia 7h sáng ngày 9 tháng Giêng, các cụ ông, cụ bà trong trang phục lễ hội cổ truyền thực hiện màn dâng lễ. Sau đó tiến hành lễ rước nước từ đình xuống bến. Đoàn rước bao gồm: Đội múa rồng, đội cầm vũ khí, đội đánh trống, chiêng, đội khiêng chĩnh (chóe) đựng nước... đội cấm vệ quân hầu thánh chèo thuyền ra giữa sông Hồng lấy nước. Nước lấy về dùng trong lễ Bao Sái, Mộc Dục cho những ngày lễ khác trong năm. Sau khi kết thúc lễ rước nước, nhà sư trong chùa làm lễ tụng kinh. Buổi chiều tổ chức lễ Nhập tịch, sau đó các dòng họ, gia đình dâng đồ lễ Thánh. Ngày 10 tháng Giêng chính hội, đoàn thể và nhân dân vào dâng hương lễ Thánh. Sau đó, đội tế nam của làng vào tế nhập tịch. Buổi chiều, nghi lễ được tiếp tục với đội vế nữ của làng. Vào lúc xế chiều diễn ra màn tế đêm chung do đội tế nam đảm nhiệm. Ngày 11 tháng Giêng, dân làng và các đội tế tập trung tại sân đình Phú Gia để làm lễ tế hạ hội, kết thúc lễ hội. Năm 2001, đình Phú Gia được Nhà nước công nhận Di tích Lịch sử Văn hóa cấp Quốc gia. Năm 2009, đình Phú Gia được phục dựng lại gần như nguyên bản.

Tưng bừng lễ hội đình Phú Gia Tương truyền, có một vị tướng tên húy là Nhự đời Hùng Vương thứ 6 khi đánh giặc Ân bị chém vào cổ ngả đầu về một bên vẫn phi ngựa về làng. Đến đoạn vườn hồng ngã ba Nhật Tân, Ngài hỏi một bà bán nước ven đường "cổ tôi thế này liệu có thể sống được không". Bà lão xem xong liền trả lời "Ngài có là người trời mới sống được". Sau đó ngài phi ngựa về đến đầu làng Phú Gia thì hóa tại đây. Thần Khai Nguyên trước khi chết còn có công trị nạn hồng thủy đem lại cuộc sống bình yên, hạnh phúc cho người dân. Ngài còn được vu ban 12 đạo sắc, phong làm Thành Hoàng với 12 chữ vàng "Cứu nước, cứu dân, âm phù, dương trợ, dân tình yên ổn". Dân làng Phú Gia lập đền thờ để tưởng nhớ công ơn Ngài. Múa lân trong lễ hội đình Phú Gia Hội đình Phú Gia bắt đầu từ ngày 8 tháng Giêng với lễ Bao Sái, Mộc Dục và đồ thờ cúng. Buổi chiều làm lễ khai mở cửa đình và phát trang phục cho những người tham gia phục vụ lễ hội. Trong thời gian diễn ra lễ hội có nhiều hoạt động được tổ chức như: Kéo co, chọi gà, cờ tướng, tổ tôm, biểu diễn văn nghệ... Lễ rước nước trong lễ hội đình Phú Gia 7h sáng ngày 9 tháng Giêng, các cụ ông, cụ bà trong trang phục lễ hội cổ truyền thực hiện màn dâng lễ. Sau đó tiến hành lễ rước nước từ đình xuống bến. Đoàn rước bao gồm: Đội múa rồng, đội cầm vũ khí, đội đánh trống, chiêng, đội khiêng chĩnh (chóe) đựng nước... đội cấm vệ quân hầu thánh chèo thuyền ra giữa sông Hồng lấy nước. Nước lấy về dùng trong lễ Bao Sái, Mộc Dục cho những ngày lễ khác trong năm. Sau khi kết thúc lễ rước nước, nhà sư trong chùa làm lễ tụng kinh. Buổi chiều tổ chức lễ Nhập tịch, sau đó các dòng họ, gia đình dâng đồ lễ Thánh. Ngày 10 tháng Giêng chính hội, đoàn thể và nhân dân vào dâng hương lễ Thánh. Sau đó, đội tế nam của làng vào tế nhập tịch. Buổi chiều, nghi lễ được tiếp tục với đội vế nữ của làng. Vào lúc xế chiều diễn ra màn tế đêm chung do đội tế nam đảm nhiệm. Ngày 11 tháng Giêng, dân làng và các đội tế tập trung tại sân đình Phú Gia để làm lễ tế hạ hội, kết thúc lễ hội. Năm 2001, đình Phú Gia được Nhà nước công nhận Di tích Lịch sử Văn hóa cấp Quốc gia. Năm 2009, đình Phú Gia được phục dựng lại gần như nguyên bản.

Tương truyền, có một vị tướng tên húy là Nhự đời Hùng Vương thứ 6 khi đánh giặc Ân bị chém vào cổ ngả đầu về một bên vẫn phi ngựa về làng. Đến đoạn vườn hồng ngã ba Nhật Tân, Ngài hỏi một bà bán nước ven đường "cổ tôi thế này liệu có thể sống được không". Bà lão xem xong liền trả lời "Ngài có là người trời mới sống được". Sau đó ngài phi ngựa về đến đầu làng Phú Gia thì hóa tại đây. Thần Khai Nguyên trước khi chết còn có công trị nạn hồng thủy đem lại cuộc sống bình yên, hạnh phúc cho người dân. Ngài còn được vu ban 12 đạo sắc, phong làm Thành Hoàng với 12 chữ vàng "Cứu nước, cứu dân, âm phù, dương trợ, dân tình yên ổn". Dân làng Phú Gia lập đền thờ để tưởng nhớ công ơn Ngài.

Múa lân trong lễ hội đình Phú Gia

Hội đình Phú Gia bắt đầu từ ngày 8 tháng Giêng với lễ Bao Sái, Mộc Dục và đồ thờ cúng. Buổi chiều làm lễ khai mở cửa đình và phát trang phục cho những người tham gia phục vụ lễ hội. Trong thời gian diễn ra lễ hội có nhiều hoạt động được tổ chức như: Kéo co, chọi gà, cờ tướng, tổ tôm, biểu diễn văn nghệ...

Lễ rước nước trong lễ hội đình Phú Gia

7h sáng ngày 9 tháng Giêng, các cụ ông, cụ bà trong trang phục lễ hội cổ truyền thực hiện màn dâng lễ. Sau đó tiến hành lễ rước nước từ đình xuống bến. Đoàn rước bao gồm: Đội múa rồng, đội cầm vũ khí, đội đánh trống, chiêng, đội khiêng chĩnh (chóe) đựng nước... đội cấm vệ quân hầu thánh chèo thuyền ra giữa sông Hồng lấy nước. Nước lấy về dùng trong lễ Bao Sái, Mộc Dục cho những ngày lễ khác trong năm. Sau khi kết thúc lễ rước nước, nhà sư trong chùa làm lễ tụng kinh. Buổi chiều tổ chức lễ Nhập tịch, sau đó các dòng họ, gia đình dâng đồ lễ Thánh.

Ngày 10 tháng Giêng chính hội, đoàn thể và nhân dân vào dâng hương lễ Thánh. Sau đó, đội tế nam của làng vào tế nhập tịch. Buổi chiều, nghi lễ được tiếp tục với đội vế nữ của làng. Vào lúc xế chiều diễn ra màn tế đêm chung do đội tế nam đảm nhiệm.

Ngày 11 tháng Giêng, dân làng và các đội tế tập trung tại sân đình Phú Gia để làm lễ tế hạ hội, kết thúc lễ hội.

Năm 2001, đình Phú Gia được Nhà nước công nhận Di tích Lịch sử Văn hóa cấp Quốc gia. Năm 2009, đình Phú Gia được phục dựng lại gần như nguyên bản.

Related Figures

Lễ hội làng Yên Vệ

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 4/1 Âm lịch Lễ hội làng Yên Vệ là một lễ hội truyền thống của người dân làng Yên Vệ, xã Khánh Phú, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình. Hàng năm, cứ đến ngày mồng 4 tháng Giêng âm lịch, người dân nơi đây lại tưng bừng mở hội. Làng Yên Vệ ở xã Khánh Phú, huyện An Khánh, là một nơi có nhiều điểm tham quan du lịch của Ninh Bình. Trong đó, nổi tiếng với nhiều ngôi đền như đền thượng thờ tam thánh: Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không và Giác Hải. Còn có chùa Phúc Long là nơi thờ Tiên thiên Thánh Mẫu, mẹ sinh ra Giác hải thiền sư, được cho là nơi rất linh thiêng. Hội đấu vật Hàng năm, đến ngày mồng 4 tháng Giêng, là ngày gỗ của Giải Hải thiền sư, người dân nơi đây lại mở hội để tưởng nhớ tới ơn đức của người. Phần lễ được bắt đầu với nghi thức tế thánh, người dân trong làng và du khách thập phương sẽ cùng nhau về đền Thượng để làm lễ. Nghi thức tế thánh diễn ra rất bài bản, công phú, với không khí trầm mặc lại càng tôn thêm vẻ linh thiêng và oai nghiêm của ngôi đền này. Đến xem hội, du khách sẽ được thưởng thức những nét đẹp văn hóa, văn nghệ của người dân làng Yên Vệ. Ngoài ra, phần Hội còn có nhiều trò chơi dân gian mà nổi bật nhất là hội đấu vật. Trước cửa đền thượng có một khoảng sân rộng hơn 60m2, được người dân trong làng cày bừa cho đất tơi từ trước tế. Xung quanh được rào tre vuông vức. Phía tây của sân có chỗ dành riêng cho các vị tiên chỉ và quan viên ngồi xem. Phía đối diện là nơi các bô lão và quan khách xem hội. Cuộc đấu vật diễn ra rất kịch tính, nhưng cũng rất vui, bởi ai tham gia cũng đều mang tinh thần giao lưu, vui vẻ. Lễ hội làng Yên Vệ ở Ninh Bình Lễ hội làng Yên Vệ là một lễ hội văn hóa truyền thống của tỉnh Ninh Bình. Lễ hội này đã có từ rất lâu và đã được người dân gìn giữ và phát huy qua biết bao thế hệ. Cũng chính vì thế, mỗi dịp đầu xuân lại có rất nhiều người đổ về đây để xem hội.

Làng Yên Vệ ở xã Khánh Phú, huyện An Khánh, là một nơi có nhiều điểm tham quan du lịch của Ninh Bình. Trong đó, nổi tiếng với nhiều ngôi đền như đền thượng thờ tam thánh: Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không và Giác Hải. Còn có chùa Phúc Long là nơi thờ Tiên thiên Thánh Mẫu, mẹ sinh ra Giác hải thiền sư, được cho là nơi rất linh thiêng. Hội đấu vật Hàng năm, đến ngày mồng 4 tháng Giêng, là ngày gỗ của Giải Hải thiền sư, người dân nơi đây lại mở hội để tưởng nhớ tới ơn đức của người. Phần lễ được bắt đầu với nghi thức tế thánh, người dân trong làng và du khách thập phương sẽ cùng nhau về đền Thượng để làm lễ. Nghi thức tế thánh diễn ra rất bài bản, công phú, với không khí trầm mặc lại càng tôn thêm vẻ linh thiêng và oai nghiêm của ngôi đền này. Đến xem hội, du khách sẽ được thưởng thức những nét đẹp văn hóa, văn nghệ của người dân làng Yên Vệ. Ngoài ra, phần Hội còn có nhiều trò chơi dân gian mà nổi bật nhất là hội đấu vật. Trước cửa đền thượng có một khoảng sân rộng hơn 60m2, được người dân trong làng cày bừa cho đất tơi từ trước tế. Xung quanh được rào tre vuông vức. Phía tây của sân có chỗ dành riêng cho các vị tiên chỉ và quan viên ngồi xem. Phía đối diện là nơi các bô lão và quan khách xem hội. Cuộc đấu vật diễn ra rất kịch tính, nhưng cũng rất vui, bởi ai tham gia cũng đều mang tinh thần giao lưu, vui vẻ. Lễ hội làng Yên Vệ ở Ninh Bình Lễ hội làng Yên Vệ là một lễ hội văn hóa truyền thống của tỉnh Ninh Bình. Lễ hội này đã có từ rất lâu và đã được người dân gìn giữ và phát huy qua biết bao thế hệ. Cũng chính vì thế, mỗi dịp đầu xuân lại có rất nhiều người đổ về đây để xem hội.

Làng Yên Vệ ở xã Khánh Phú, huyện An Khánh, là một nơi có nhiều điểm tham quan du lịch của Ninh Bình. Trong đó, nổi tiếng với nhiều ngôi đền như đền thượng thờ tam thánh: Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không và Giác Hải. Còn có chùa Phúc Long là nơi thờ Tiên thiên Thánh Mẫu, mẹ sinh ra Giác hải thiền sư, được cho là nơi rất linh thiêng.

Hội đấu vật

Hàng năm, đến ngày mồng 4 tháng Giêng, là ngày gỗ của Giải Hải thiền sư, người dân nơi đây lại mở hội để tưởng nhớ tới ơn đức của người. Phần lễ được bắt đầu với nghi thức tế thánh, người dân trong làng và du khách thập phương sẽ cùng nhau về đền Thượng để làm lễ. Nghi thức tế thánh diễn ra rất bài bản, công phú, với không khí trầm mặc lại càng tôn thêm vẻ linh thiêng và oai nghiêm của ngôi đền này.

Đến xem hội, du khách sẽ được thưởng thức những nét đẹp văn hóa, văn nghệ của người dân làng Yên Vệ. Ngoài ra, phần Hội còn có nhiều trò chơi dân gian mà nổi bật nhất là hội đấu vật. Trước cửa đền thượng có một khoảng sân rộng hơn 60m2, được người dân trong làng cày bừa cho đất tơi từ trước tế. Xung quanh được rào tre vuông vức. Phía tây của sân có chỗ dành riêng cho các vị tiên chỉ và quan viên ngồi xem. Phía đối diện là nơi các bô lão và quan khách xem hội. Cuộc đấu vật diễn ra rất kịch tính, nhưng cũng rất vui, bởi ai tham gia cũng đều mang tinh thần giao lưu, vui vẻ.

Lễ hội làng Yên Vệ ở Ninh Bình

Lễ hội làng Yên Vệ là một lễ hội văn hóa truyền thống của tỉnh Ninh Bình. Lễ hội này đã có từ rất lâu và đã được người dân gìn giữ và phát huy qua biết bao thế hệ. Cũng chính vì thế, mỗi dịp đầu xuân lại có rất nhiều người đổ về đây để xem hội.

Related Figures

Lễ hội 5 làng Mọc

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 9/2- 11/2 Âm lịch Lễ hội 5 làng Mọc là lễ hội cổ truyền của 5 làng Mọc: Mọc Quan Nhân, Mọc Cự Lộc, Mọc Chính Kinh, Mọc Giáp Nhất (nay thuộc quân Thanh Xuân, Hà Nội) và Mọc Phùng Khoang (thuộc quận Từ Liêm, Hà Nội). Theo thông lệ, cứ 5 năm lễ hội 5 làng Mọc được tổ chức lớn một lần. Rước kiệu lễ hội truyền thống 5 làng Mọc Lễ hội 5 làng Mọc được khôi phục từ năm 1992 sau hơn một nửa thế kỷ tưởng chừng mai một. Lễ hội 5 làng Mọc ngày nay còn lưu giữ được nhiều phong tục và lễ nghi của cư dân vùng ven đô, nơi từng ghi nhiều dấu tích lịch sử và chiến công hiển hách chống ngoại xâm trong quá trình dựng và giữ nước. Lễ hội truyền thống 5 làng Mọc diễn ra sôi nổi Lễ rước là một trong những nghi thức tín ngưỡng quan trọng nhất. Vào chính hội 11/2, từ tờ mờ sáng kiệu rồng, sư tử, bát bửu, cờ quat, chấp kích, đội tế... theo nhịp trống, nhạc bát âm rước Thánh lễ tại đình làng mình sau đó rước tới đình làng đăng cai lễ hội năm đó. Kiệu bay là nét độc đáo lễ hội truyền thống 5 làng Mọc Đặc sắc của lễ hội 5 làng Mọc chính là màn kiệu bay. Theo ban tổ chức lễ hội thì 4 vị Thành Hoàng của 5 làng Giáp Nhất, Quan Nhân, Phùng Khoang, Chính Kinh, Cự Lộc (làng Chính Kinh và Cự Lộc thờ chung một vị Thành Hoàng) đều là anh hùng võ tướng, có công đánh đuổi giặc ngoại xâm. Các vị Thành Hoàng tuy sống ở những triều đại khác nhau nhưng trong tâm thức của người dân nơi đây thì bốn vị đều là huynh đệ. Theo thông lệ, cứ 5 năm người dân nơi đây lại tổ chức lễ rước kiệu chung cho 4 vị gặp nhau. Lễ hội 5 làng Mọc còn hấp dẫn ở trò chơi đánh cờ người bên sông Tô Lịch, đi cầu treo, bắt vịt dưới ao, đập niêu... Lễ hội truyền thống 5 làng Mọc giúp chúng ta hiểu rõ hơn về văn hóa vùng Kẻ Mọc xưa và có ý thức hơn trong việc bảo tổn, giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa ấy.

Rước kiệu lễ hội truyền thống 5 làng Mọc Lễ hội 5 làng Mọc được khôi phục từ năm 1992 sau hơn một nửa thế kỷ tưởng chừng mai một. Lễ hội 5 làng Mọc ngày nay còn lưu giữ được nhiều phong tục và lễ nghi của cư dân vùng ven đô, nơi từng ghi nhiều dấu tích lịch sử và chiến công hiển hách chống ngoại xâm trong quá trình dựng và giữ nước.

Lễ hội truyền thống 5 làng Mọc diễn ra sôi nổi Lễ rước là một trong những nghi thức tín ngưỡng quan trọng nhất. Vào chính hội 11/2, từ tờ mờ sáng kiệu rồng, sư tử, bát bửu, cờ quat, chấp kích, đội tế... theo nhịp trống, nhạc bát âm rước Thánh lễ tại đình làng mình sau đó rước tới đình làng đăng cai lễ hội năm đó. Kiệu bay là nét độc đáo lễ hội truyền thống 5 làng Mọc Đặc sắc của lễ hội 5 làng Mọc chính là màn kiệu bay. Theo ban tổ chức lễ hội thì 4 vị Thành Hoàng của 5 làng Giáp Nhất, Quan Nhân, Phùng Khoang, Chính Kinh, Cự Lộc (làng Chính Kinh và Cự Lộc thờ chung một vị Thành Hoàng) đều là anh hùng võ tướng, có công đánh đuổi giặc ngoại xâm. Các vị Thành Hoàng tuy sống ở những triều đại khác nhau nhưng trong tâm thức của người dân nơi đây thì bốn vị đều là huynh đệ. Theo thông lệ, cứ 5 năm người dân nơi đây lại tổ chức lễ rước kiệu chung cho 4 vị gặp nhau. Lễ hội 5 làng Mọc còn hấp dẫn ở trò chơi đánh cờ người bên sông Tô Lịch, đi cầu treo, bắt vịt dưới ao, đập niêu... Lễ hội truyền thống 5 làng Mọc giúp chúng ta hiểu rõ hơn về văn hóa vùng Kẻ Mọc xưa và có ý thức hơn trong việc bảo tổn, giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa ấy.

Lễ rước là một trong những nghi thức tín ngưỡng quan trọng nhất. Vào chính hội 11/2, từ tờ mờ sáng kiệu rồng, sư tử, bát bửu, cờ quat, chấp kích, đội tế... theo nhịp trống, nhạc bát âm rước Thánh lễ tại đình làng mình sau đó rước tới đình làng đăng cai lễ hội năm đó.

Kiệu bay là nét độc đáo lễ hội truyền thống 5 làng Mọc

Đặc sắc của lễ hội 5 làng Mọc chính là màn kiệu bay. Theo ban tổ chức lễ hội thì 4 vị Thành Hoàng của 5 làng Giáp Nhất, Quan Nhân, Phùng Khoang, Chính Kinh, Cự Lộc (làng Chính Kinh và Cự Lộc thờ chung một vị Thành Hoàng) đều là anh hùng võ tướng, có công đánh đuổi giặc ngoại xâm. Các vị Thành Hoàng tuy sống ở những triều đại khác nhau nhưng trong tâm thức của người dân nơi đây thì bốn vị đều là huynh đệ. Theo thông lệ, cứ 5 năm người dân nơi đây lại tổ chức lễ rước kiệu chung cho 4 vị gặp nhau.

Lễ hội 5 làng Mọc còn hấp dẫn ở trò chơi đánh cờ người bên sông Tô Lịch, đi cầu treo, bắt vịt dưới ao, đập niêu...

Lễ hội truyền thống 5 làng Mọc giúp chúng ta hiểu rõ hơn về văn hóa vùng Kẻ Mọc xưa và có ý thức hơn trong việc bảo tổn, giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa ấy.

Related Figures

Lễ hội Yên Cư

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 20/8 Âm lịch Lễ hội Yên Cư là một trong những lễ hội truyền thống của tỉnh Ninh Bình. Lễ hội thường được tổ chức vào ngày 20 tháng 8 âm lịch hàng năm, tại làng Yên Cư, xã Khánh Cư, Yên Mô, Ninh Bình. Nơi đây có đền thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo, phu nhân và quận chúa. Lễ hội Yên Cư ở Ninh Bình Lễ hội ở Yên Cư ngoài các nghi thức tế lễ truyền thống ra thì còn cuộc rước kiệu rất hoành tráng và độc đáo, đi qua sông Đáy để tới làng Phú Hào, người ta gọi đó là rước trước rã đám. Trước khi diễn ra lễ rước ít ngày, người ta sẽ chọn trai đinh có độ tuổi từ 18 trở lên để làm đô tùy rước kiệu, cùng các đô khác, và chọn một số cô gái 18 tuổi trở lên chưa chồng để khiêng kiệu Trần Hưng Đạo, phu nhân và quận chúa. Khi kiệu qua sống Đáy phải dùng thuyền, nhưng người dân trong làng và người xem hội cho rằng kiệu do các cô gái trẻ khiêng nhờ phép màu của đức thánh Trần Hưng Đạo Đại Vương nên không cần dùng đến thuyền, vì vậy mà không có cô gái nào bị ướt quần áo. Sau khi đoàn rước đến Phú Hào làm lễ tế trọng thể xong thì đoàn sẽ quay trở về Yên Cư. Lễ rước trong ngày hội Yên Cư Tương truyền, khúc sông Đáy ở phía đông bắc đền Yên Cư, cứ đến ngày 20 tháng 8 âm lịch, cá kéo lại bơi về đây rất nhiều, nhưng người dân không ai dám đánh bắt cá này vì họ cho rằng đó là đoàn cá từ sông Bạch Đằng kéo về đây để mừng Đức Hưng Đạo Vương khi ngài giáng lâm tại ngôi làng Yên Cư này. Sau lễ hội, đoàn cá này lại tản đi đâu không ai biết. Du khách đến xem hội Yên Cư sẽ được thưởng thức các nghi lễ truyền thống trong ngày lễ của người dân nơi đây, được thưởng thức những nét văn hóa truyền thống của người dân Yên Cư.

Lễ hội Yên Cư ở Ninh Bình

Lễ hội ở Yên Cư ngoài các nghi thức tế lễ truyền thống ra thì còn cuộc rước kiệu rất hoành tráng và độc đáo, đi qua sông Đáy để tới làng Phú Hào, người ta gọi đó là rước trước rã đám. Trước khi diễn ra lễ rước ít ngày, người ta sẽ chọn trai đinh có độ tuổi từ 18 trở lên để làm đô tùy rước kiệu, cùng các đô khác, và chọn một số cô gái 18 tuổi trở lên chưa chồng để khiêng kiệu Trần Hưng Đạo, phu nhân và quận chúa. Khi kiệu qua sống Đáy phải dùng thuyền, nhưng người dân trong làng và người xem hội cho rằng kiệu do các cô gái trẻ khiêng nhờ phép màu của đức thánh Trần Hưng Đạo Đại Vương nên không cần dùng đến thuyền, vì vậy mà không có cô gái nào bị ướt quần áo. Sau khi đoàn rước đến Phú Hào làm lễ tế trọng thể xong thì đoàn sẽ quay trở về Yên Cư. Lễ rước trong ngày hội Yên Cư Tương truyền, khúc sông Đáy ở phía đông bắc đền Yên Cư, cứ đến ngày 20 tháng 8 âm lịch, cá kéo lại bơi về đây rất nhiều, nhưng người dân không ai dám đánh bắt cá này vì họ cho rằng đó là đoàn cá từ sông Bạch Đằng kéo về đây để mừng Đức Hưng Đạo Vương khi ngài giáng lâm tại ngôi làng Yên Cư này. Sau lễ hội, đoàn cá này lại tản đi đâu không ai biết.

Lễ hội ở Yên Cư ngoài các nghi thức tế lễ truyền thống ra thì còn cuộc rước kiệu rất hoành tráng và độc đáo, đi qua sông Đáy để tới làng Phú Hào, người ta gọi đó là rước trước rã đám. Trước khi diễn ra lễ rước ít ngày, người ta sẽ chọn trai đinh có độ tuổi từ 18 trở lên để làm đô tùy rước kiệu, cùng các đô khác, và chọn một số cô gái 18 tuổi trở lên chưa chồng để khiêng kiệu Trần Hưng Đạo, phu nhân và quận chúa.

Khi kiệu qua sống Đáy phải dùng thuyền, nhưng người dân trong làng và người xem hội cho rằng kiệu do các cô gái trẻ khiêng nhờ phép màu của đức thánh Trần Hưng Đạo Đại Vương nên không cần dùng đến thuyền, vì vậy mà không có cô gái nào bị ướt quần áo. Sau khi đoàn rước đến Phú Hào làm lễ tế trọng thể xong thì đoàn sẽ quay trở về Yên Cư.

Lễ rước trong ngày hội Yên Cư

Tương truyền, khúc sông Đáy ở phía đông bắc đền Yên Cư, cứ đến ngày 20 tháng 8 âm lịch, cá kéo lại bơi về đây rất nhiều, nhưng người dân không ai dám đánh bắt cá này vì họ cho rằng đó là đoàn cá từ sông Bạch Đằng kéo về đây để mừng Đức Hưng Đạo Vương khi ngài giáng lâm tại ngôi làng Yên Cư này. Sau lễ hội, đoàn cá này lại tản đi đâu không ai biết.

Du khách đến xem hội Yên Cư sẽ được thưởng thức các nghi lễ truyền thống trong ngày lễ của người dân nơi đây, được thưởng thức những nét văn hóa truyền thống của người dân Yên Cư.

Related Figures

Lễ Hội Chùa Địch Lộng

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 6/3- 7/3 Âm lịch Lễ Hội Chùa Địch Lộng là một lễ hội truyền thống của người dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Hàng năm, cứ đến ngày mồng 6 đến mồng 7 tháng Ba âm lịch, người dân Gia Viễn lại tưng bừng mở hội, dâng hương, lễ Phật và cầu những điều tốt lành. Lễ Hội Chùa Địch Lộng ở Ninh Bình Khi đến Chùa Địch Lộng, du khách sẽ cảm thấy ấn tượng với quần thể chùa- động Địch Lộng, nằm ngay dưới một chân núi cao, mặt trước là con sông Đáy quanh năm chảy hiền hòa. Khi dạo quanh khuôn viên của chùa Địch Lộng, du khách sẽ có cảm giác như đang lạc với chốn thiền tịnh của đất Phật. Đầu tiên là khu vườn tháo cổ với rất nhiều cây cối, ngập tràn sắc xanh, mát dịu, lại có thoảng thoảng mùi thơm của hoa. Tiếp theo là chùa Hạ nằm liền với dãy nhà tiền đường uy nghi, tựa sát vào chân núi trông giống một con rồng đang trông coi toàn bộ di tích. Ấn tượng nhất của kiến trúc di tích chùa- động Địch Lộng là ngôi đình 5 gian đứng sừng sững còn được gọi là đình Đá, với các cột và xà đều được dựng bằng đá. Khuôn viên chùa Địch Lộng Sân trước động có một phủ thờ Bà Chúa Thương Ngàn và một phủ thờ Đức Thánh Mẫu, hai giếng "ngọc" quanh năm hứng trọn những giọt nước từ nhữ đá liên tục nhỏ xuống, và có tượng Ông Thiện và ông Ác cưỡi trên sư tử. Từ chùa Hạ đi qua phủ Đức Ống rồi leo 105 bậc đá sẽ đến cửa động. Trước cửa động có khắc 6 chữ: Nham Sơn động, Cổ Am Tự, đó là tên gọi trước đây của Địch Lộng. Hai bên bên cửa động có 2 tượng hộ pháp, bên trong có ban thờ Phật được làm bằng loại đá xanh. Phần vòm mái của hàng có treo một quả chương từ thời Nguyễn, có trọng lượng khoảng 1 tấn. Di tích Địch Lộng là một địa danh khá nổi tiếng của Ninh Bình Hang tối dài và được chia thành ba ngăn. Đến đây, du khách sẽ được ngắm những nhủ đá muôn hình, muôn vẻ, và chúng còn thay đổi màu sắc theo ánh sáng trông nửa thực nửa hư.

Lễ Hội Chùa Địch Lộng ở Ninh Bình Khi đến Chùa Địch Lộng, du khách sẽ cảm thấy ấn tượng với quần thể chùa- động Địch Lộng, nằm ngay dưới một chân núi cao, mặt trước là con sông Đáy quanh năm chảy hiền hòa. Khi dạo quanh khuôn viên của chùa Địch Lộng, du khách sẽ có cảm giác như đang lạc với chốn thiền tịnh của đất Phật. Đầu tiên là khu vườn tháo cổ với rất nhiều cây cối, ngập tràn sắc xanh, mát dịu, lại có thoảng thoảng mùi thơm của hoa. Tiếp theo là chùa Hạ nằm liền với dãy nhà tiền đường uy nghi, tựa sát vào chân núi trông giống một con rồng đang trông coi toàn bộ di tích. Ấn tượng nhất của kiến trúc di tích chùa- động Địch Lộng là ngôi đình 5 gian đứng sừng sững còn được gọi là đình Đá, với các cột và xà đều được dựng bằng đá. Khuôn viên chùa Địch Lộng Sân trước động có một phủ thờ Bà Chúa Thương Ngàn và một phủ thờ Đức Thánh Mẫu, hai giếng "ngọc" quanh năm hứng trọn những giọt nước từ nhữ đá liên tục nhỏ xuống, và có tượng Ông Thiện và ông Ác cưỡi trên sư tử. Từ chùa Hạ đi qua phủ Đức Ống rồi leo 105 bậc đá sẽ đến cửa động. Trước cửa động có khắc 6 chữ: Nham Sơn động, Cổ Am Tự, đó là tên gọi trước đây của Địch Lộng. Hai bên bên cửa động có 2 tượng hộ pháp, bên trong có ban thờ Phật được làm bằng loại đá xanh. Phần vòm mái của hàng có treo một quả chương từ thời Nguyễn, có trọng lượng khoảng 1 tấn. Di tích Địch Lộng là một địa danh khá nổi tiếng của Ninh Bình Hang tối dài và được chia thành ba ngăn. Đến đây, du khách sẽ được ngắm những nhủ đá muôn hình, muôn vẻ, và chúng còn thay đổi màu sắc theo ánh sáng trông nửa thực nửa hư.

Khi đến Chùa Địch Lộng, du khách sẽ cảm thấy ấn tượng với quần thể chùa- động Địch Lộng, nằm ngay dưới một chân núi cao, mặt trước là con sông Đáy quanh năm chảy hiền hòa. Khi dạo quanh khuôn viên của chùa Địch Lộng, du khách sẽ có cảm giác như đang lạc với chốn thiền tịnh của đất Phật. Đầu tiên là khu vườn tháo cổ với rất nhiều cây cối, ngập tràn sắc xanh, mát dịu, lại có thoảng thoảng mùi thơm của hoa. Tiếp theo là chùa Hạ nằm liền với dãy nhà tiền đường uy nghi, tựa sát vào chân núi trông giống một con rồng đang trông coi toàn bộ di tích. Ấn tượng nhất của kiến trúc di tích chùa- động Địch Lộng là ngôi đình 5 gian đứng sừng sững còn được gọi là đình Đá, với các cột và xà đều được dựng bằng đá.

Khuôn viên chùa Địch Lộng Sân trước động có một phủ thờ Bà Chúa Thương Ngàn và một phủ thờ Đức Thánh Mẫu, hai giếng "ngọc" quanh năm hứng trọn những giọt nước từ nhữ đá liên tục nhỏ xuống, và có tượng Ông Thiện và ông Ác cưỡi trên sư tử. Từ chùa Hạ đi qua phủ Đức Ống rồi leo 105 bậc đá sẽ đến cửa động. Trước cửa động có khắc 6 chữ: Nham Sơn động, Cổ Am Tự, đó là tên gọi trước đây của Địch Lộng. Hai bên bên cửa động có 2 tượng hộ pháp, bên trong có ban thờ Phật được làm bằng loại đá xanh. Phần vòm mái của hàng có treo một quả chương từ thời Nguyễn, có trọng lượng khoảng 1 tấn. Di tích Địch Lộng là một địa danh khá nổi tiếng của Ninh Bình Hang tối dài và được chia thành ba ngăn. Đến đây, du khách sẽ được ngắm những nhủ đá muôn hình, muôn vẻ, và chúng còn thay đổi màu sắc theo ánh sáng trông nửa thực nửa hư.

Sân trước động có một phủ thờ Bà Chúa Thương Ngàn và một phủ thờ Đức Thánh Mẫu, hai giếng "ngọc" quanh năm hứng trọn những giọt nước từ nhữ đá liên tục nhỏ xuống, và có tượng Ông Thiện và ông Ác cưỡi trên sư tử.

Từ chùa Hạ đi qua phủ Đức Ống rồi leo 105 bậc đá sẽ đến cửa động. Trước cửa động có khắc 6 chữ: Nham Sơn động, Cổ Am Tự, đó là tên gọi trước đây của Địch Lộng. Hai bên bên cửa động có 2 tượng hộ pháp, bên trong có ban thờ Phật được làm bằng loại đá xanh. Phần vòm mái của hàng có treo một quả chương từ thời Nguyễn, có trọng lượng khoảng 1 tấn.

Di tích Địch Lộng là một địa danh khá nổi tiếng của Ninh Bình

Hang tối dài và được chia thành ba ngăn. Đến đây, du khách sẽ được ngắm những nhủ đá muôn hình, muôn vẻ, và chúng còn thay đổi màu sắc theo ánh sáng trông nửa thực nửa hư.

Related Figures

Lễ hội kén rể Đường Yên

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 2/2 Âm lịch Đến hẹn lại lên, lễ hội kén rể Đường Yên diễn ra ngày 2/2 âm lịch hàng năm tại thôn Đường Yên, xã Xuân Nộn, huyện Đông Anh, Hà Nội. Lễ hội là dịp tưởng nhớ ngày sinh nữ tướng Lê Hoa có công phò Hai Bà Trưng đánh giặc giữ nước. Độc đáo lễ hội kén rể Đường Yên Lễ hội kén rể Đường Yên được phục dựng lại từ năm 2001 sau 60 năm thất truyền. Lễ hội gồm phần lễ và phần hội mang đậm giá trị văn hóa, thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn, tinh thần thượng võ của dân tộc. Phần lễ là đám rước long trọng được các bô lão trong làng chủ trì, rước Thành hoàng làng từ đền về đình lễ tế. Phần hội lấy tiếng trống làm linh hồn, điều khiển binh tướng gồm nhiều trò chơi dân gian, cuộc thi đấu, đặc biệt là phần kén rể vô cùng độc đáo. Lễ hội kén rể Đương Yên thu hút đông đảo người dân tham gia Truyền thuyết kể rằng, khi Hai Bà Trưng khởi nghĩa đánh giặc Đông Hán, làng Đường Yên có thiếu nữ 17-18 tên là Lê Hoa đi theo Hai Bà Trưng đánh giặc. Trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, bà Lê Hoa lập được nhiều chiến công và được phong "Nữ sử anh phong". Bà Lê Hoa luôn chăm lo đời sống nhân dân, có tài dùng lá tre trị bệnh cứu người. Khi đất nước sạch bóng quân thù, bà Lê Hoa mở hội kén rể. Lễ hội kén rể cũng ra đời từ đó. Chọc chó là trò chơi thú vị trong lễ hội kén rể Đường Yên Lễ hội kén rể Đường Yên mang đậm giá trị văn hóa dân gian. Người được chọn vào vai nữ tướng Lê Hoa phải là cô gái xinh đẹp, chưa chống, có lối sống lành mạnh, gia đình nề nếp. Cuộc thi kén rể mở đầu với phần thi canh nông, tái hiện lại quá trình trồng lúa nước. Tiếp sau đó là phần thi câu ếch, đây là thú vui tao nhã của người nông dân khi đất nước thanh bình. Chọc chó là một trò chơi thú vị trong lễ hội kén rể. Chó và giềng kỵ nhau nên khi chó ngửi thấy mùi giềng thì dù có chọc tới đâu cũng không kêu. Người chơi phải dùng mẹo để khiến cho kêu. Người nào khiến chó kêu to là người chiến thắng.

Độc đáo lễ hội kén rể Đường Yên Lễ hội kén rể Đường Yên được phục dựng lại từ năm 2001 sau 60 năm thất truyền. Lễ hội gồm phần lễ và phần hội mang đậm giá trị văn hóa, thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn, tinh thần thượng võ của dân tộc. Phần lễ là đám rước long trọng được các bô lão trong làng chủ trì, rước Thành hoàng làng từ đền về đình lễ tế. Phần hội lấy tiếng trống làm linh hồn, điều khiển binh tướng gồm nhiều trò chơi dân gian, cuộc thi đấu, đặc biệt là phần kén rể vô cùng độc đáo. Lễ hội kén rể Đương Yên thu hút đông đảo người dân tham gia Truyền thuyết kể rằng, khi Hai Bà Trưng khởi nghĩa đánh giặc Đông Hán, làng Đường Yên có thiếu nữ 17-18 tên là Lê Hoa đi theo Hai Bà Trưng đánh giặc. Trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, bà Lê Hoa lập được nhiều chiến công và được phong "Nữ sử anh phong". Bà Lê Hoa luôn chăm lo đời sống nhân dân, có tài dùng lá tre trị bệnh cứu người. Khi đất nước sạch bóng quân thù, bà Lê Hoa mở hội kén rể. Lễ hội kén rể cũng ra đời từ đó. Chọc chó là trò chơi thú vị trong lễ hội kén rể Đường Yên Lễ hội kén rể Đường Yên mang đậm giá trị văn hóa dân gian. Người được chọn vào vai nữ tướng Lê Hoa phải là cô gái xinh đẹp, chưa chống, có lối sống lành mạnh, gia đình nề nếp. Cuộc thi kén rể mở đầu với phần thi canh nông, tái hiện lại quá trình trồng lúa nước. Tiếp sau đó là phần thi câu ếch, đây là thú vui tao nhã của người nông dân khi đất nước thanh bình. Chọc chó là một trò chơi thú vị trong lễ hội kén rể. Chó và giềng kỵ nhau nên khi chó ngửi thấy mùi giềng thì dù có chọc tới đâu cũng không kêu. Người chơi phải dùng mẹo để khiến cho kêu. Người nào khiến chó kêu to là người chiến thắng.

Lễ hội kén rể Đường Yên được phục dựng lại từ năm 2001 sau 60 năm thất truyền. Lễ hội gồm phần lễ và phần hội mang đậm giá trị văn hóa, thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn, tinh thần thượng võ của dân tộc. Phần lễ là đám rước long trọng được các bô lão trong làng chủ trì, rước Thành hoàng làng từ đền về đình lễ tế. Phần hội lấy tiếng trống làm linh hồn, điều khiển binh tướng gồm nhiều trò chơi dân gian, cuộc thi đấu, đặc biệt là phần kén rể vô cùng độc đáo.

Lễ hội kén rể Đương Yên thu hút đông đảo người dân tham gia

Truyền thuyết kể rằng, khi Hai Bà Trưng khởi nghĩa đánh giặc Đông Hán, làng Đường Yên có thiếu nữ 17-18 tên là Lê Hoa đi theo Hai Bà Trưng đánh giặc. Trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, bà Lê Hoa lập được nhiều chiến công và được phong "Nữ sử anh phong". Bà Lê Hoa luôn chăm lo đời sống nhân dân, có tài dùng lá tre trị bệnh cứu người. Khi đất nước sạch bóng quân thù, bà Lê Hoa mở hội kén rể. Lễ hội kén rể cũng ra đời từ đó.

Chọc chó là trò chơi thú vị trong lễ hội kén rể Đường Yên

Lễ hội kén rể Đường Yên mang đậm giá trị văn hóa dân gian. Người được chọn vào vai nữ tướng Lê Hoa phải là cô gái xinh đẹp, chưa chống, có lối sống lành mạnh, gia đình nề nếp. Cuộc thi kén rể mở đầu với phần thi canh nông, tái hiện lại quá trình trồng lúa nước. Tiếp sau đó là phần thi câu ếch, đây là thú vui tao nhã của người nông dân khi đất nước thanh bình. Chọc chó là một trò chơi thú vị trong lễ hội kén rể. Chó và giềng kỵ nhau nên khi chó ngửi thấy mùi giềng thì dù có chọc tới đâu cũng không kêu. Người chơi phải dùng mẹo để khiến cho kêu. Người nào khiến chó kêu to là người chiến thắng.

Related Figures

Lễ Hội Chùa Nhất Trụ

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/1 Âm lịch Lễ Hội Chùa Nhất Trụ là một trong những lễ hội truyền thống khá nổi tiếng của tỉnh Ninh Bình. Hàng năm, cứ đến ngày 15 tháng Giêng âm lịch, người dân nơi đây lại nô nức mở hội Chù Nhất Trụ. Cổng Chùa Nhất Trụ Nhất Trụ còn được gọi là chùa Một Cột, là ngôi chùa cổ đã có từ thể kỷ thứ X, thuộc khu quần thể di tích Cố đô Hoa Lư của tỉnh Ninh Bình. Ngôi chùa này có nhiều cổ vật gắn liền với lịch sử hình thành của kinh đô Hoa Lư. Chùa được xây dựng từ năm 995. Thời đó, vua Lê Đại Hành đã cho dân dựng một cột kinh (trụ đá) để khắc kinh dâng lên nhà Phật, với kiểu kiến trúc chữ Đinh, quay về phía chính Tây, gồm một cột kinh, nhà thờ tổ, phòng khách, tiết diện hình bát giác, chính điện... Ngôi chùa này tọa lạc ở thôn Yên Thành, xã Trường Yên, huyện Hoa Lư. Cột kinh Phật trong chùa Nhất Trụ ở Ninh Bình Chùa Nhất Trụ là di tích quan trọng nhất, nằm ở vị trí trung tâm nhất, và là nơi để các nhà sư thế kỷ X tu hành và họp bàn việc nước. Trải qua nhiều năm tháng dài đằng đẵng của lịch sử, trụ đá này đã chịu nhiều gió mư, bão bùng, bom đạn chiến tranh, nhưng trụ nó vẫn luôn đứng mãi với thời gian. Trong chùa có thờ Thánh Hiền, thờ Mẫu, tượng A Di Đà, Đức Ông, 3 pho tượng Tam Thế... Cột kinh Phật vẫn giữ được nguyên như xưa. Trong chùa, thượng điện có bốn bức tượng Phật bằng gốm được sơn son thiếp vàng trông rất bắt mắt. Ngoài ra, còn có các bức mê được trang trì với các loại hoa văn cách điệu trông rất tinh xảo. Chùa Nhất Trụ hay còn gọi là chùa Một Cột Hàng năm, vào ngày mồng 8 tháng Tư âm lịch, người dân trong vùng sẽ tổ chức lễ lập hạ tại chùa, với mục đích cầu cho mưa thuận gió hòa, cho mùa màng tươi tốt, bội thu. Ngày 15 tháng Giêng, người dân sẽ tổ chức lễ khao tống thuyền rồng trong chùa, đây được xem là lễ hội cúng Phật, cầu nguyện cho xã hội thái bình, gia đình được ấm no hạnh phúc. Du khách khi đến xem hội sẽ được hòa mình vào nét văn hóa đặc trưng của người dân nơi đây, đồng thời còn dâng hương cầu Phật, cầu những điều may mắn cho người thân và gia đình.

Cổng Chùa Nhất Trụ Nhất Trụ còn được gọi là chùa Một Cột, là ngôi chùa cổ đã có từ thể kỷ thứ X, thuộc khu quần thể di tích Cố đô Hoa Lư của tỉnh Ninh Bình. Ngôi chùa này có nhiều cổ vật gắn liền với lịch sử hình thành của kinh đô Hoa Lư. Chùa được xây dựng từ năm 995. Thời đó, vua Lê Đại Hành đã cho dân dựng một cột kinh (trụ đá) để khắc kinh dâng lên nhà Phật, với kiểu kiến trúc chữ Đinh, quay về phía chính Tây, gồm một cột kinh, nhà thờ tổ, phòng khách, tiết diện hình bát giác, chính điện... Ngôi chùa này tọa lạc ở thôn Yên Thành, xã Trường Yên, huyện Hoa Lư. Cột kinh Phật trong chùa Nhất Trụ ở Ninh Bình Chùa Nhất Trụ là di tích quan trọng nhất, nằm ở vị trí trung tâm nhất, và là nơi để các nhà sư thế kỷ X tu hành và họp bàn việc nước. Trải qua nhiều năm tháng dài đằng đẵng của lịch sử, trụ đá này đã chịu nhiều gió mư, bão bùng, bom đạn chiến tranh, nhưng trụ nó vẫn luôn đứng mãi với thời gian. Trong chùa có thờ Thánh Hiền, thờ Mẫu, tượng A Di Đà, Đức Ông, 3 pho tượng Tam Thế... Cột kinh Phật vẫn giữ được nguyên như xưa. Trong chùa, thượng điện có bốn bức tượng Phật bằng gốm được sơn son thiếp vàng trông rất bắt mắt. Ngoài ra, còn có các bức mê được trang trì với các loại hoa văn cách điệu trông rất tinh xảo. Chùa Nhất Trụ hay còn gọi là chùa Một Cột Hàng năm, vào ngày mồng 8 tháng Tư âm lịch, người dân trong vùng sẽ tổ chức lễ lập hạ tại chùa, với mục đích cầu cho mưa thuận gió hòa, cho mùa màng tươi tốt, bội thu. Ngày 15 tháng Giêng, người dân sẽ tổ chức lễ khao tống thuyền rồng trong chùa, đây được xem là lễ hội cúng Phật, cầu nguyện cho xã hội thái bình, gia đình được ấm no hạnh phúc. Du khách khi đến xem hội sẽ được hòa mình vào nét văn hóa đặc trưng của người dân nơi đây, đồng thời còn dâng hương cầu Phật, cầu những điều may mắn cho người thân và gia đình.

Nhất Trụ còn được gọi là chùa Một Cột, là ngôi chùa cổ đã có từ thể kỷ thứ X, thuộc khu quần thể di tích Cố đô Hoa Lư của tỉnh Ninh Bình. Ngôi chùa này có nhiều cổ vật gắn liền với lịch sử hình thành của kinh đô Hoa Lư. Chùa được xây dựng từ năm 995. Thời đó, vua Lê Đại Hành đã cho dân dựng một cột kinh (trụ đá) để khắc kinh dâng lên nhà Phật, với kiểu kiến trúc chữ Đinh, quay về phía chính Tây, gồm một cột kinh, nhà thờ tổ, phòng khách, tiết diện hình bát giác, chính điện... Ngôi chùa này tọa lạc ở thôn Yên Thành, xã Trường Yên, huyện Hoa Lư.

Cột kinh Phật trong chùa Nhất Trụ ở Ninh Bình Chùa Nhất Trụ là di tích quan trọng nhất, nằm ở vị trí trung tâm nhất, và là nơi để các nhà sư thế kỷ X tu hành và họp bàn việc nước. Trải qua nhiều năm tháng dài đằng đẵng của lịch sử, trụ đá này đã chịu nhiều gió mư, bão bùng, bom đạn chiến tranh, nhưng trụ nó vẫn luôn đứng mãi với thời gian. Trong chùa có thờ Thánh Hiền, thờ Mẫu, tượng A Di Đà, Đức Ông, 3 pho tượng Tam Thế... Cột kinh Phật vẫn giữ được nguyên như xưa. Trong chùa, thượng điện có bốn bức tượng Phật bằng gốm được sơn son thiếp vàng trông rất bắt mắt. Ngoài ra, còn có các bức mê được trang trì với các loại hoa văn cách điệu trông rất tinh xảo. Chùa Nhất Trụ hay còn gọi là chùa Một Cột Hàng năm, vào ngày mồng 8 tháng Tư âm lịch, người dân trong vùng sẽ tổ chức lễ lập hạ tại chùa, với mục đích cầu cho mưa thuận gió hòa, cho mùa màng tươi tốt, bội thu. Ngày 15 tháng Giêng, người dân sẽ tổ chức lễ khao tống thuyền rồng trong chùa, đây được xem là lễ hội cúng Phật, cầu nguyện cho xã hội thái bình, gia đình được ấm no hạnh phúc. Du khách khi đến xem hội sẽ được hòa mình vào nét văn hóa đặc trưng của người dân nơi đây, đồng thời còn dâng hương cầu Phật, cầu những điều may mắn cho người thân và gia đình.

Chùa Nhất Trụ là di tích quan trọng nhất, nằm ở vị trí trung tâm nhất, và là nơi để các nhà sư thế kỷ X tu hành và họp bàn việc nước. Trải qua nhiều năm tháng dài đằng đẵng của lịch sử, trụ đá này đã chịu nhiều gió mư, bão bùng, bom đạn chiến tranh, nhưng trụ nó vẫn luôn đứng mãi với thời gian. Trong chùa có thờ Thánh Hiền, thờ Mẫu, tượng A Di Đà, Đức Ông, 3 pho tượng Tam Thế... Cột kinh Phật vẫn giữ được nguyên như xưa. Trong chùa, thượng điện có bốn bức tượng Phật bằng gốm được sơn son thiếp vàng trông rất bắt mắt. Ngoài ra, còn có các bức mê được trang trì với các loại hoa văn cách điệu trông rất tinh xảo. Chùa Nhất Trụ hay còn gọi là chùa Một Cột Hàng năm, vào ngày mồng 8 tháng Tư âm lịch, người dân trong vùng sẽ tổ chức lễ lập hạ tại chùa, với mục đích cầu cho mưa thuận gió hòa, cho mùa màng tươi tốt, bội thu. Ngày 15 tháng Giêng, người dân sẽ tổ chức lễ khao tống thuyền rồng trong chùa, đây được xem là lễ hội cúng Phật, cầu nguyện cho xã hội thái bình, gia đình được ấm no hạnh phúc. Du khách khi đến xem hội sẽ được hòa mình vào nét văn hóa đặc trưng của người dân nơi đây, đồng thời còn dâng hương cầu Phật, cầu những điều may mắn cho người thân và gia đình.

Chùa Nhất Trụ là di tích quan trọng nhất, nằm ở vị trí trung tâm nhất, và là nơi để các nhà sư thế kỷ X tu hành và họp bàn việc nước. Trải qua nhiều năm tháng dài đằng đẵng của lịch sử, trụ đá này đã chịu nhiều gió mư, bão bùng, bom đạn chiến tranh, nhưng trụ nó vẫn luôn đứng mãi với thời gian. Trong chùa có thờ Thánh Hiền, thờ Mẫu, tượng A Di Đà, Đức Ông, 3 pho tượng Tam Thế... Cột kinh Phật vẫn giữ được nguyên như xưa. Trong chùa, thượng điện có bốn bức tượng Phật bằng gốm được sơn son thiếp vàng trông rất bắt mắt. Ngoài ra, còn có các bức mê được trang trì với các loại hoa văn cách điệu trông rất tinh xảo.

Chùa Nhất Trụ hay còn gọi là chùa Một Cột Hàng năm, vào ngày mồng 8 tháng Tư âm lịch, người dân trong vùng sẽ tổ chức lễ lập hạ tại chùa, với mục đích cầu cho mưa thuận gió hòa, cho mùa màng tươi tốt, bội thu. Ngày 15 tháng Giêng, người dân sẽ tổ chức lễ khao tống thuyền rồng trong chùa, đây được xem là lễ hội cúng Phật, cầu nguyện cho xã hội thái bình, gia đình được ấm no hạnh phúc. Du khách khi đến xem hội sẽ được hòa mình vào nét văn hóa đặc trưng của người dân nơi đây, đồng thời còn dâng hương cầu Phật, cầu những điều may mắn cho người thân và gia đình.

Chùa Nhất Trụ hay còn gọi là chùa Một Cột Hàng năm, vào ngày mồng 8 tháng Tư âm lịch, người dân trong vùng sẽ tổ chức lễ lập hạ tại chùa, với mục đích cầu cho mưa thuận gió hòa, cho mùa màng tươi tốt, bội thu. Ngày 15 tháng Giêng, người dân sẽ tổ chức lễ khao tống thuyền rồng trong chùa, đây được xem là lễ hội cúng Phật, cầu nguyện cho xã hội thái bình, gia đình được ấm no hạnh phúc. Du khách khi đến xem hội sẽ được hòa mình vào nét văn hóa đặc trưng của người dân nơi đây, đồng thời còn dâng hương cầu Phật, cầu những điều may mắn cho người thân và gia đình.

Chùa Nhất Trụ hay còn gọi là chùa Một Cột

Hàng năm, vào ngày mồng 8 tháng Tư âm lịch, người dân trong vùng sẽ tổ chức lễ lập hạ tại chùa, với mục đích cầu cho mưa thuận gió hòa, cho mùa màng tươi tốt, bội thu. Ngày 15 tháng Giêng, người dân sẽ tổ chức lễ khao tống thuyền rồng trong chùa, đây được xem là lễ hội cúng Phật, cầu nguyện cho xã hội thái bình, gia đình được ấm no hạnh phúc. Du khách khi đến xem hội sẽ được hòa mình vào nét văn hóa đặc trưng của người dân nơi đây, đồng thời còn dâng hương cầu Phật, cầu những điều may mắn cho người thân và gia đình.

Hàng năm, vào ngày mồng 8 tháng Tư âm lịch, người dân trong vùng sẽ tổ chức lễ lập hạ tại chùa, với mục đích cầu cho mưa thuận gió hòa, cho mùa màng tươi tốt, bội thu. Ngày 15 tháng Giêng, người dân sẽ tổ chức lễ khao tống thuyền rồng trong chùa, đây được xem là lễ hội cúng Phật, cầu nguyện cho xã hội thái bình, gia đình được ấm no hạnh phúc. Du khách khi đến xem hội sẽ được hòa mình vào nét văn hóa đặc trưng của người dân nơi đây, đồng thời còn dâng hương cầu Phật, cầu những điều may mắn cho người thân và gia đình.

Related Figures

Lễ hội chùa Trầm

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 2/2 Âm lịch Lễ hội chùa Trầm diễn ra ngày 2/2 âm lịch hàng năm với nghi lễ trang trọng và những trò chơi dân gian như: đu tre, cờ tướng, rối nước, leo cột mỡ, chọi gà... Du khách tham dự lễ hội chua Trầm cầu quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, cuộc sống bình an. Lễ hội chùa Trầm diễn ra trang trọng Chùa Trầm tọa lạc trên diện tích nhỏ chỉ khoảng 50m2 trên núi Trầm (còn được gọi là Trầm Tử Sơn) thuộc xã Phụng Châu, huyện Chương Mỹ (Hà Tây cũ), cách trung tâm Hà Nội khoảng 25km. Chùa Trầm được một vị tướng xuất gia xây dựng khoảng thế kỷ XVI. Chùa Trầm tuy quy mô không lớn nhưng mang vẻ đẹp cổ kính, là một quần thể kiến trúc hài hòa kết hợp giữa kiến trúc chùa Bắc Bộ và núi, hang tự nhiên. Phía trước chùa là nhưng cây đại thụ bao quanh tạo không gian vừa thanh bình vừa thiêng liêng. Bên trong chùa Trầm có 60 pho tượng Phật. Chùa Trầm ngôi chùa cổ kính tại Hà Nội Tương truyền xưa kia trên đỉnh núi có một cây Trầm rất to, thân cây rộng lớn nhiều người ôm không xuể. Cây trầm tỏa hương thơm khắp vùng. Sau này, cây Trầm dù không còn nhưng người dân nơi đây vẫn gọi là núi Trầm hay núi Tử Trầm. Đường lên đỉnh núi được bà con nơi đây gọi là đường lên Trời và đường xuống hang sâu được gọi là đường xuống Âm phủ. Toàn bộ khu núi Trầm là nơi vua Lê chúa Trịnh đặt hành cung, cho xây dựng nhiều công trình mà đến nay vẫn còn in dấu tích. Núi Trầm - chùa Trầm là một địa chỉ văn hóa, lịch sử thu hút du khách thập phương. Chùa Trầm tọa lạc trên núi Trầm Vào dịp lễ hội chùa Trầm, người dân nơi đây tổ chức lễ rước ảnh Bác Hồ để tưởng nhớ năm xưa Bác từng 4 lần tới thăm chùa.

Lễ hội chùa Trầm diễn ra trang trọng Chùa Trầm tọa lạc trên diện tích nhỏ chỉ khoảng 50m2 trên núi Trầm (còn được gọi là Trầm Tử Sơn) thuộc xã Phụng Châu, huyện Chương Mỹ (Hà Tây cũ), cách trung tâm Hà Nội khoảng 25km. Chùa Trầm được một vị tướng xuất gia xây dựng khoảng thế kỷ XVI. Chùa Trầm tuy quy mô không lớn nhưng mang vẻ đẹp cổ kính, là một quần thể kiến trúc hài hòa kết hợp giữa kiến trúc chùa Bắc Bộ và núi, hang tự nhiên. Phía trước chùa là nhưng cây đại thụ bao quanh tạo không gian vừa thanh bình vừa thiêng liêng. Bên trong chùa Trầm có 60 pho tượng Phật. Chùa Trầm ngôi chùa cổ kính tại Hà Nội Tương truyền xưa kia trên đỉnh núi có một cây Trầm rất to, thân cây rộng lớn nhiều người ôm không xuể. Cây trầm tỏa hương thơm khắp vùng. Sau này, cây Trầm dù không còn nhưng người dân nơi đây vẫn gọi là núi Trầm hay núi Tử Trầm. Đường lên đỉnh núi được bà con nơi đây gọi là đường lên Trời và đường xuống hang sâu được gọi là đường xuống Âm phủ. Toàn bộ khu núi Trầm là nơi vua Lê chúa Trịnh đặt hành cung, cho xây dựng nhiều công trình mà đến nay vẫn còn in dấu tích. Núi Trầm - chùa Trầm là một địa chỉ văn hóa, lịch sử thu hút du khách thập phương. Chùa Trầm tọa lạc trên núi Trầm Vào dịp lễ hội chùa Trầm, người dân nơi đây tổ chức lễ rước ảnh Bác Hồ để tưởng nhớ năm xưa Bác từng 4 lần tới thăm chùa.

Chùa Trầm tọa lạc trên diện tích nhỏ chỉ khoảng 50m2 trên núi Trầm (còn được gọi là Trầm Tử Sơn) thuộc xã Phụng Châu, huyện Chương Mỹ (Hà Tây cũ), cách trung tâm Hà Nội khoảng 25km. Chùa Trầm được một vị tướng xuất gia xây dựng khoảng thế kỷ XVI. Chùa Trầm tuy quy mô không lớn nhưng mang vẻ đẹp cổ kính, là một quần thể kiến trúc hài hòa kết hợp giữa kiến trúc chùa Bắc Bộ và núi, hang tự nhiên. Phía trước chùa là nhưng cây đại thụ bao quanh tạo không gian vừa thanh bình vừa thiêng liêng. Bên trong chùa Trầm có 60 pho tượng Phật.

Chùa Trầm ngôi chùa cổ kính tại Hà Nội

Tương truyền xưa kia trên đỉnh núi có một cây Trầm rất to, thân cây rộng lớn nhiều người ôm không xuể. Cây trầm tỏa hương thơm khắp vùng. Sau này, cây Trầm dù không còn nhưng người dân nơi đây vẫn gọi là núi Trầm hay núi Tử Trầm. Đường lên đỉnh núi được bà con nơi đây gọi là đường lên Trời và đường xuống hang sâu được gọi là đường xuống Âm phủ. Toàn bộ khu núi Trầm là nơi vua Lê chúa Trịnh đặt hành cung, cho xây dựng nhiều công trình mà đến nay vẫn còn in dấu tích. Núi Trầm - chùa Trầm là một địa chỉ văn hóa, lịch sử thu hút du khách thập phương.

Chùa Trầm tọa lạc trên núi Trầm

Vào dịp lễ hội chùa Trầm, người dân nơi đây tổ chức lễ rước ảnh Bác Hồ để tưởng nhớ năm xưa Bác từng 4 lần tới thăm chùa.

Related Figures

Lễ Hội Đền Áp Lãng

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 6/1 Âm lịch Lễ Hội Đền Áp Lãng là một trong những lễ hội truyền thống đặc sắc của người dân Ninh Bình, được du khách thập phương biết đến nhiều. Đây là một lễ hội khá nổi tiếng của tỉnh Ninh Bình, thu hút được rất đông khách du lịch thường xuyên lui tới. Lễ hội này diễn ra vào ngày mồng 6 tháng Giêng âm lịch hàng năm tại thôn Yên Phẩm - xã Yên Lâm- huyện Yên Mô. Lễ Hội Đền Áp Lãng ở Ninh Bình Xã Yên Lâm là nơi có đền thờ vua Lê Đại Hành, một di tích được rất nhiều du khách thập phương quan tâm và ghé thăm. Nhưng lễ hội đền Áp Lãng vẫn thu hút nhiều du khách nhất. Ngày hội chính được tổ chức ở xung quanh đền Áp Lãng, một ngôi đền linh thiêng được xây dựng từ rất lâu. Đền Áp Lãng là nơi thờ Áp Lãng Chân Nhân. Đền có kiến trúc đơn giản, nhìn qua thì giống như một ngôi nhà cổ. Theo Nam Ông mộng lục còn ghi, Vua Lý Thái Tông mang quân đi Nam chinh đánh Chiêm Thanh nhưng vừa tới cửa biển Thần Phù thì gặp cơn gió to sóng dữ. Vua đã cho rân dừng lại và may được một vị đạo sĩ có phép thuật giúp đỡ nên cơn gió to này đã bị dẹp yên. Tuy nhiên, sau đó được tin vị đạo sĩ này đã qua đời ở dọc đường. Vua Lý Thái Tông đã cho xây đền thờ ở cửa biển, phong hiệu cho vị đạo sĩ này là "Áp Lãng Chân Nhân". Lễ tế thực hiện trước cửa đền Khi đến tham dự lễ hội đền Áp Lãng, du khách thập phương sẽ có cơ hội được đến thăm cửa Trần Phù, là một cửa biển có ví trị trọng điểm. Đến xem hội, du khách không những được chiêm ngưỡng những nghi lễ truyền thống của ngày hội nơi đây, mà còn có cơ hội được thưởng thức ảnh non sách, nước biếc, của một vùng đất đã ghi đậm dấu ấn lịch sử một thời. Ngoài ra, du khách còn được thưởng thức các chương trình văn hóa, văn nghệ truyền thống của người dân nơi đây.

Lễ Hội Đền Áp Lãng ở Ninh Bình Xã Yên Lâm là nơi có đền thờ vua Lê Đại Hành, một di tích được rất nhiều du khách thập phương quan tâm và ghé thăm. Nhưng lễ hội đền Áp Lãng vẫn thu hút nhiều du khách nhất. Ngày hội chính được tổ chức ở xung quanh đền Áp Lãng, một ngôi đền linh thiêng được xây dựng từ rất lâu. Đền Áp Lãng là nơi thờ Áp Lãng Chân Nhân. Đền có kiến trúc đơn giản, nhìn qua thì giống như một ngôi nhà cổ. Theo Nam Ông mộng lục còn ghi, Vua Lý Thái Tông mang quân đi Nam chinh đánh Chiêm Thanh nhưng vừa tới cửa biển Thần Phù thì gặp cơn gió to sóng dữ. Vua đã cho rân dừng lại và may được một vị đạo sĩ có phép thuật giúp đỡ nên cơn gió to này đã bị dẹp yên. Tuy nhiên, sau đó được tin vị đạo sĩ này đã qua đời ở dọc đường. Vua Lý Thái Tông đã cho xây đền thờ ở cửa biển, phong hiệu cho vị đạo sĩ này là "Áp Lãng Chân Nhân". Lễ tế thực hiện trước cửa đền Khi đến tham dự lễ hội đền Áp Lãng, du khách thập phương sẽ có cơ hội được đến thăm cửa Trần Phù, là một cửa biển có ví trị trọng điểm. Đến xem hội, du khách không những được chiêm ngưỡng những nghi lễ truyền thống của ngày hội nơi đây, mà còn có cơ hội được thưởng thức ảnh non sách, nước biếc, của một vùng đất đã ghi đậm dấu ấn lịch sử một thời. Ngoài ra, du khách còn được thưởng thức các chương trình văn hóa, văn nghệ truyền thống của người dân nơi đây.

Xã Yên Lâm là nơi có đền thờ vua Lê Đại Hành, một di tích được rất nhiều du khách thập phương quan tâm và ghé thăm. Nhưng lễ hội đền Áp Lãng vẫn thu hút nhiều du khách nhất. Ngày hội chính được tổ chức ở xung quanh đền Áp Lãng, một ngôi đền linh thiêng được xây dựng từ rất lâu. Đền Áp Lãng là nơi thờ Áp Lãng Chân Nhân. Đền có kiến trúc đơn giản, nhìn qua thì giống như một ngôi nhà cổ.

Theo Nam Ông mộng lục còn ghi, Vua Lý Thái Tông mang quân đi Nam chinh đánh Chiêm Thanh nhưng vừa tới cửa biển Thần Phù thì gặp cơn gió to sóng dữ. Vua đã cho rân dừng lại và may được một vị đạo sĩ có phép thuật giúp đỡ nên cơn gió to này đã bị dẹp yên. Tuy nhiên, sau đó được tin vị đạo sĩ này đã qua đời ở dọc đường. Vua Lý Thái Tông đã cho xây đền thờ ở cửa biển, phong hiệu cho vị đạo sĩ này là "Áp Lãng Chân Nhân".

Lễ tế thực hiện trước cửa đền

Khi đến tham dự lễ hội đền Áp Lãng, du khách thập phương sẽ có cơ hội được đến thăm cửa Trần Phù, là một cửa biển có ví trị trọng điểm. Đến xem hội, du khách không những được chiêm ngưỡng những nghi lễ truyền thống của ngày hội nơi đây, mà còn có cơ hội được thưởng thức ảnh non sách, nước biếc, của một vùng đất đã ghi đậm dấu ấn lịch sử một thời. Ngoài ra, du khách còn được thưởng thức các chương trình văn hóa, văn nghệ truyền thống của người dân nơi đây.

Related Figures

Lễ hội núi Bà Đen

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/1- 15/1 Âm lịch Lễ hội Bà Đen hay còn gọi là lễ hội Linh Sơn Thánh Mẫu được tổ chức dịp tết đến xuân về, thường từ 10-15/1. Lễ hội Bà Đen được tổ chức trang nghiêm đượm màu sắc cổ truyền, gắn với văn hóa Phật giáo. Trong thời gian diễn ra lễ hội, du khách hành hương, lễ bái cầu xin phước lành và vãn cảnh rất đông. Lễ hội núi Bà Đen là lễ hội lớn Tây Ninh Núi Bà được gọi là núi Bà Đen theo truyền thuyết từ thời vua Gia Long, một người con gái tên Đênh (gọi chệch thành Đen) là con quan trấn thủ người Miên bị ép kết hôn với công tử con quan trấn Trảng Bàng. Nàng Đênh có ý chung nhân với một chàng trai nghèo, mồ côi cha mẹ. Người thương của nàng Đênh bị hãm hại, gán cho tội loạn đảng rồi bị giết chết. Buồn tình, nàng Đênh bỏ lên núi Vân Sơn xuất gia cầu đạo. Vân Sơn là ngọn núi cao nhất Nam Bộ. Xung quanh Vân Sơn là rừng hoang, nhiều thú dữ nên người dân không dám đến gần. Nàng Đênh nghe nói trên núi có vị tiên nữ hay cứu giúp người hoạn nạn và muốn trốn thật xa để cha mẹ không tìm thấy. Không may trên đường lên Vân Sơn, nàng Đênh bị cọp xé xác chết dưới chân núi Mây, trong hang đá Suối Vàng. Du khách tham dự lễ hội núi Bà Đen được ngắm cảnh hùng vĩ Sau khi nàng Đênh bị cọp xé xác, người dân sống trong những ngôi làng gần Vân Sơn đêm đêm nghe tiếng cọp rống rợn người, và có tiếng roi đánh vun vút như có vị thần nào đó đang trừng trị cọp dữ giúp dân. Sau đó, Vân Sơn không còn con cọp nào lảng vảng. Tiều phu có thể lên rừng đốn củi. Dân chúng đồn rằng, nàng Đênh chết oan ức nên được Trời Phật siêu độ, Thượng đế phong cho chức Linh Sơn Thánh Mẫu. Núi Vân Sơn sau đó được gọi là núi Bà Đen để không phạm húy. Đông đảo du khách tham dự lễ hội núi Bà Đen Mỗi dịp xuân về, người dân và du khách hành hương về núi bà trẩy hội, cầu mong những điều tốt lành và ngắm phong cảnh hùng vĩ của núi Ba.

Lễ hội núi Bà Đen là lễ hội lớn Tây Ninh Núi Bà được gọi là núi Bà Đen theo truyền thuyết từ thời vua Gia Long, một người con gái tên Đênh (gọi chệch thành Đen) là con quan trấn thủ người Miên bị ép kết hôn với công tử con quan trấn Trảng Bàng. Nàng Đênh có ý chung nhân với một chàng trai nghèo, mồ côi cha mẹ. Người thương của nàng Đênh bị hãm hại, gán cho tội loạn đảng rồi bị giết chết. Buồn tình, nàng Đênh bỏ lên núi Vân Sơn xuất gia cầu đạo. Vân Sơn là ngọn núi cao nhất Nam Bộ. Xung quanh Vân Sơn là rừng hoang, nhiều thú dữ nên người dân không dám đến gần. Nàng Đênh nghe nói trên núi có vị tiên nữ hay cứu giúp người hoạn nạn và muốn trốn thật xa để cha mẹ không tìm thấy. Không may trên đường lên Vân Sơn, nàng Đênh bị cọp xé xác chết dưới chân núi Mây, trong hang đá Suối Vàng. Du khách tham dự lễ hội núi Bà Đen được ngắm cảnh hùng vĩ Sau khi nàng Đênh bị cọp xé xác, người dân sống trong những ngôi làng gần Vân Sơn đêm đêm nghe tiếng cọp rống rợn người, và có tiếng roi đánh vun vút như có vị thần nào đó đang trừng trị cọp dữ giúp dân. Sau đó, Vân Sơn không còn con cọp nào lảng vảng. Tiều phu có thể lên rừng đốn củi. Dân chúng đồn rằng, nàng Đênh chết oan ức nên được Trời Phật siêu độ, Thượng đế phong cho chức Linh Sơn Thánh Mẫu. Núi Vân Sơn sau đó được gọi là núi Bà Đen để không phạm húy. Đông đảo du khách tham dự lễ hội núi Bà Đen Mỗi dịp xuân về, người dân và du khách hành hương về núi bà trẩy hội, cầu mong những điều tốt lành và ngắm phong cảnh hùng vĩ của núi Ba.

Núi Bà được gọi là núi Bà Đen theo truyền thuyết từ thời vua Gia Long, một người con gái tên Đênh (gọi chệch thành Đen) là con quan trấn thủ người Miên bị ép kết hôn với công tử con quan trấn Trảng Bàng. Nàng Đênh có ý chung nhân với một chàng trai nghèo, mồ côi cha mẹ. Người thương của nàng Đênh bị hãm hại, gán cho tội loạn đảng rồi bị giết chết. Buồn tình, nàng Đênh bỏ lên núi Vân Sơn xuất gia cầu đạo. Vân Sơn là ngọn núi cao nhất Nam Bộ. Xung quanh Vân Sơn là rừng hoang, nhiều thú dữ nên người dân không dám đến gần. Nàng Đênh nghe nói trên núi có vị tiên nữ hay cứu giúp người hoạn nạn và muốn trốn thật xa để cha mẹ không tìm thấy. Không may trên đường lên Vân Sơn, nàng Đênh bị cọp xé xác chết dưới chân núi Mây, trong hang đá Suối Vàng.

Du khách tham dự lễ hội núi Bà Đen được ngắm cảnh hùng vĩ

Sau khi nàng Đênh bị cọp xé xác, người dân sống trong những ngôi làng gần Vân Sơn đêm đêm nghe tiếng cọp rống rợn người, và có tiếng roi đánh vun vút như có vị thần nào đó đang trừng trị cọp dữ giúp dân. Sau đó, Vân Sơn không còn con cọp nào lảng vảng. Tiều phu có thể lên rừng đốn củi.

Dân chúng đồn rằng, nàng Đênh chết oan ức nên được Trời Phật siêu độ, Thượng đế phong cho chức Linh Sơn Thánh Mẫu. Núi Vân Sơn sau đó được gọi là núi Bà Đen để không phạm húy.

Đông đảo du khách tham dự lễ hội núi Bà Đen

Mỗi dịp xuân về, người dân và du khách hành hương về núi bà trẩy hội, cầu mong những điều tốt lành và ngắm phong cảnh hùng vĩ của núi Ba.

Related Figures

Lễ hội kéo chày tỉnh Hà Giang

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 16/10 Âm lịch Lễ hội kéo chày là một trong những lễ hội độc đáo, nguyên sơ và huyền bí của dân tộc Pà Thẻn tỉnh Hà Giang. Sau khi thu hoạch vụ lúa mùa, bà con dân tộc Pà Thẻn xã Tân Bắc huyện Quảng Bình tổ chức lễ hội kéo chày ngày 16/10 âm lịch. Lễ hội kéo chày là nét văn hoá đặc sắc của người Pà Thẻn Tham gia lễ hội kéo chày, những chàng trai Pà Thẻn diện trang phục mới, mặc quần chân què, trang trí thêm hai chiếc khăn vắt chéo qua ngực và dùng thắt lưng trắng. Những cô gái Pà Thẻn nổi bật với trang phục đỏ tươi gồm khăn, áo, thắt lưng, váy. Cô gái Pà Thẻn tham gia lễ hội kéo chày Du khách tham dự lễ hội kéo chày không khỏi ngạc nhiên khi chiếc chày do thầy chủ trì cầm, xoay và niệm thần chú khiến nhiều thanh niên không thể kéo chày xuống được. Người thầy chủ trì lễ hội kéo chày có vai trò quan trọng, là người giỏi võ công và biết niệm thần chú. Chiếc chày trong lễ hội được làm bằng một đoạn gỗ dài 2-3m. Hai thanh niên Pà Thẻn khỏe mạnh ôm chày ở thế đối ngược nhau. Thầy chủ trì vừa xoay chày vừa đọc thần chú, sau đó như có phép thuật, chiếc chày tự xoay và nâng lên khỏi mặt đất. Mặc dù hai thanh niên ra sức kéo cũng không thể kéo chày xuống được. Hàng chục thanh niên trong bản ra sức kéo chày xuống nhưng không thể nào kéo nổi. Chỉ khi nào có người bịt tay vào đầu trên hoặc dưới của chày thì chiếc chày mới chạm đát là lễ kéo chày kết thúc. Lễ kéo chày thường được tổ chức cùng với lễ hội nhảy lửa. Lễ hội kéo chày thể hiện khát vọng người Pà Thẻn Đầu trên của chày tương ứng với cực dương (nghĩa là thiên), đầu dưới của chày tương ứng với cực âm (nghĩa là địa). Hai thanh niên ôm chày biểu hiện cho hai thái cực khác nhau (người Pà Thẻn gọi đó là hai con trâu húc nhau mãi không rời). Âm dương cân bằng nói lên khát vọng của người Pà Thẻn mong cho sự vật hài hòa, cân đối, cuộc sống tốt đẹp hơn.

Lễ hội kéo chày là nét văn hoá đặc sắc của người Pà Thẻn Tham gia lễ hội kéo chày, những chàng trai Pà Thẻn diện trang phục mới, mặc quần chân què, trang trí thêm hai chiếc khăn vắt chéo qua ngực và dùng thắt lưng trắng. Những cô gái Pà Thẻn nổi bật với trang phục đỏ tươi gồm khăn, áo, thắt lưng, váy. Cô gái Pà Thẻn tham gia lễ hội kéo chày Du khách tham dự lễ hội kéo chày không khỏi ngạc nhiên khi chiếc chày do thầy chủ trì cầm, xoay và niệm thần chú khiến nhiều thanh niên không thể kéo chày xuống được. Người thầy chủ trì lễ hội kéo chày có vai trò quan trọng, là người giỏi võ công và biết niệm thần chú. Chiếc chày trong lễ hội được làm bằng một đoạn gỗ dài 2-3m. Hai thanh niên Pà Thẻn khỏe mạnh ôm chày ở thế đối ngược nhau. Thầy chủ trì vừa xoay chày vừa đọc thần chú, sau đó như có phép thuật, chiếc chày tự xoay và nâng lên khỏi mặt đất. Mặc dù hai thanh niên ra sức kéo cũng không thể kéo chày xuống được. Hàng chục thanh niên trong bản ra sức kéo chày xuống nhưng không thể nào kéo nổi. Chỉ khi nào có người bịt tay vào đầu trên hoặc dưới của chày thì chiếc chày mới chạm đát là lễ kéo chày kết thúc. Lễ kéo chày thường được tổ chức cùng với lễ hội nhảy lửa. Lễ hội kéo chày thể hiện khát vọng người Pà Thẻn Đầu trên của chày tương ứng với cực dương (nghĩa là thiên), đầu dưới của chày tương ứng với cực âm (nghĩa là địa). Hai thanh niên ôm chày biểu hiện cho hai thái cực khác nhau (người Pà Thẻn gọi đó là hai con trâu húc nhau mãi không rời). Âm dương cân bằng nói lên khát vọng của người Pà Thẻn mong cho sự vật hài hòa, cân đối, cuộc sống tốt đẹp hơn.

Tham gia lễ hội kéo chày, những chàng trai Pà Thẻn diện trang phục mới, mặc quần chân què, trang trí thêm hai chiếc khăn vắt chéo qua ngực và dùng thắt lưng trắng. Những cô gái Pà Thẻn nổi bật với trang phục đỏ tươi gồm khăn, áo, thắt lưng, váy.

Cô gái Pà Thẻn tham gia lễ hội kéo chày

Du khách tham dự lễ hội kéo chày không khỏi ngạc nhiên khi chiếc chày do thầy chủ trì cầm, xoay và niệm thần chú khiến nhiều thanh niên không thể kéo chày xuống được. Người thầy chủ trì lễ hội kéo chày có vai trò quan trọng, là người giỏi võ công và biết niệm thần chú. Chiếc chày trong lễ hội được làm bằng một đoạn gỗ dài 2-3m. Hai thanh niên Pà Thẻn khỏe mạnh ôm chày ở thế đối ngược nhau. Thầy chủ trì vừa xoay chày vừa đọc thần chú, sau đó như có phép thuật, chiếc chày tự xoay và nâng lên khỏi mặt đất. Mặc dù hai thanh niên ra sức kéo cũng không thể kéo chày xuống được. Hàng chục thanh niên trong bản ra sức kéo chày xuống nhưng không thể nào kéo nổi. Chỉ khi nào có người bịt tay vào đầu trên hoặc dưới của chày thì chiếc chày mới chạm đát là lễ kéo chày kết thúc. Lễ kéo chày thường được tổ chức cùng với lễ hội nhảy lửa.

Lễ hội kéo chày thể hiện khát vọng người Pà Thẻn

Đầu trên của chày tương ứng với cực dương (nghĩa là thiên), đầu dưới của chày tương ứng với cực âm (nghĩa là địa). Hai thanh niên ôm chày biểu hiện cho hai thái cực khác nhau (người Pà Thẻn gọi đó là hai con trâu húc nhau mãi không rời). Âm dương cân bằng nói lên khát vọng của người Pà Thẻn mong cho sự vật hài hòa, cân đối, cuộc sống tốt đẹp hơn.

Related Figures

Lễ hội Tháp Đôi tỉnh Bình Định

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 2/1 Âm lịch Lễ hội Tháp Đôi là một trong những lễ hội truyền thống nổi tiếng của vùng đất võ Bình Định. Lễ hội diễn ra vào tối mùng 2 Tết tại di tích Tháp Đôi, phường Đống Đa, Quy Nhơn. Du khách tham dự lễ hội được thưởng thức nhiều tiết mục văn nghệ đặc sắc như: trống hội, múa lân, hát múa Chăm... được trải nghiệm nhiều trò chơi dân gian truyền thống. Di tích Văn hóa Lịch sử Tháp Đôi Tháp đôi tọa lạc tại làng Hưng Thạnh xưa, nay thuộc phường Đống Đa cách trung tâm thành phố khoảng 3km về phía Tây Bắc. Đúng như tên gọi, Tháp Đôi là hai ngọn tháp cổ còn sót lại của nền văn hóa Chăm nguy nga, tráng lệ xưa. Tháp đôi ngôi tháp cổ mang đậm văn hóa người Chăm Tháp đôi có niên đại từ thế kỷ XI đến XIII, có kiến trúc độc đáo, mang đậm dấu ấn của nghệ nhân Chăm xưa. Xung quanh Tháp Đôi là những bức phù điêu, chạm trổ hình tượng thần, thú thần theo văn hóa tín ngưỡng của người Chăm. Hai tòa tháp một lớn một nhỏ giống như một cặp vợ chồng quấn quýt, nương tựa vào nhau trải qua nhiều biến cố lịch sử hàng trăm năm qua. Tuy bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh nhưng Tháp Đôi được tôn tạo và tái hiện gần như nguyên bản so với trước kia. Du khách tham dự lễ hội Tháp Đôi Đêm hội Tháp Đôi được tỉnh Bình Định chăm chút đầu tư sinh động, mang đậm bản sắc văn hóa Chăm. Đêm hội thường mở đầu với tiếng trống mừng hội xuân rộn ràng. Sau đó có nhiều tiết mục giới thiệu đời sống sinh hoạt, lao động, tôn vinh những nét đẹp văn hóa truyền thống đồng bào Chăm như: Ngày hội Ka tê, Roya yêu thương, Chiếc nhẫn Mưta...

Di tích Văn hóa Lịch sử Tháp Đôi Tháp đôi tọa lạc tại làng Hưng Thạnh xưa, nay thuộc phường Đống Đa cách trung tâm thành phố khoảng 3km về phía Tây Bắc. Đúng như tên gọi, Tháp Đôi là hai ngọn tháp cổ còn sót lại của nền văn hóa Chăm nguy nga, tráng lệ xưa. Tháp đôi ngôi tháp cổ mang đậm văn hóa người Chăm Tháp đôi có niên đại từ thế kỷ XI đến XIII, có kiến trúc độc đáo, mang đậm dấu ấn của nghệ nhân Chăm xưa. Xung quanh Tháp Đôi là những bức phù điêu, chạm trổ hình tượng thần, thú thần theo văn hóa tín ngưỡng của người Chăm. Hai tòa tháp một lớn một nhỏ giống như một cặp vợ chồng quấn quýt, nương tựa vào nhau trải qua nhiều biến cố lịch sử hàng trăm năm qua. Tuy bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh nhưng Tháp Đôi được tôn tạo và tái hiện gần như nguyên bản so với trước kia. Du khách tham dự lễ hội Tháp Đôi Đêm hội Tháp Đôi được tỉnh Bình Định chăm chút đầu tư sinh động, mang đậm bản sắc văn hóa Chăm. Đêm hội thường mở đầu với tiếng trống mừng hội xuân rộn ràng. Sau đó có nhiều tiết mục giới thiệu đời sống sinh hoạt, lao động, tôn vinh những nét đẹp văn hóa truyền thống đồng bào Chăm như: Ngày hội Ka tê, Roya yêu thương, Chiếc nhẫn Mưta...

Tháp đôi tọa lạc tại làng Hưng Thạnh xưa, nay thuộc phường Đống Đa cách trung tâm thành phố khoảng 3km về phía Tây Bắc. Đúng như tên gọi, Tháp Đôi là hai ngọn tháp cổ còn sót lại của nền văn hóa Chăm nguy nga, tráng lệ xưa.

Tháp đôi ngôi tháp cổ mang đậm văn hóa người Chăm

Tháp đôi có niên đại từ thế kỷ XI đến XIII, có kiến trúc độc đáo, mang đậm dấu ấn của nghệ nhân Chăm xưa. Xung quanh Tháp Đôi là những bức phù điêu, chạm trổ hình tượng thần, thú thần theo văn hóa tín ngưỡng của người Chăm. Hai tòa tháp một lớn một nhỏ giống như một cặp vợ chồng quấn quýt, nương tựa vào nhau trải qua nhiều biến cố lịch sử hàng trăm năm qua. Tuy bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh nhưng Tháp Đôi được tôn tạo và tái hiện gần như nguyên bản so với trước kia.

Du khách tham dự lễ hội Tháp Đôi

Đêm hội Tháp Đôi được tỉnh Bình Định chăm chút đầu tư sinh động, mang đậm bản sắc văn hóa Chăm. Đêm hội thường mở đầu với tiếng trống mừng hội xuân rộn ràng. Sau đó có nhiều tiết mục giới thiệu đời sống sinh hoạt, lao động, tôn vinh những nét đẹp văn hóa truyền thống đồng bào Chăm như: Ngày hội Ka tê, Roya yêu thương, Chiếc nhẫn Mưta...

Related Figures

Lễ hội chùa Ông Núi

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 24/1- 25/1 Âm lịch Ngày 24 và 25 tháng Giêng âm lịch hàng năm, hàng ngàn người dân và du khách gần xa nô nức đổ về chùa Ông Núi đi lễ, dâng hương, cầu phúc, cầu xin sức khỏe, tài lộc... Chùa Ông Núi rất linh thiêng nên người dân đổ về đây tham dự lễ hội hàng năm rất đông. Lễ hội chùa Ông Núi thu hút đông đảo du khách hành hương Chùa Ông Núi (tên chữ là Linh Phong thiền tự) tọa lạc ngay lưng chừng đỉnh Chóp Vung, đây là đỉnh cao nhất của dãy núi Bà, phía đông nam xã Cát Tiến, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Chùa Ông Núi là một trong những ngôi chùa cổ đẹp và nổi tiếng nhất đất võ Bình Định. Chùa Ông Núi là một trong những ngôi mộ cổ đẹp nhất Bình Định Theo sử sách ghi lại, năm Nhâm Ngọ (1702), thiền sư Lê Ban (Tịnh Giác - Thiện Trì) đến núi này tu hành. Sư Lê Ban là bậc tiên phong đạo cốt, dựng một mái chùa bằng cỏ tranh, sống ung dung tự tại trên núi, chuyên hái thuốc trị bệnh cứu người. Sư Lê Ban dùng vỏ cây làm quần áo mặc. Người dân trong vùng gọi thầy là Mộc Y Sơn Ông (tức “ông núi mặc áo vỏ cây”. Vì vậy, ngôi chùa này có tên chùa Ông Núi. Chùa Ông Núi là di tích Lịch sử Văn hóa quốc gia, đã trải qua 12 đời thừa kế. Những dấu tích về Ông Núi xưa chỉ còn lại hang Tổ với vẻ đẹp hoang sơ, nằm ở lưng chừng ngọn núi phía sau chùa. Chùa Ông Núi tọa lạc trên Núi Bà Lễ hội chùa Ông Núi được tổ chức vào ngày giỗ của Hòa thượng Thích Trừng Tịnh, một trong những người có công đóng góp cho sự phát triển của chùa. Lễ hội chùa Ông Núi đúng vào mùa lễ hội đầu xuân, nên thu hút khá đông khách hành hương . Trong hai ngày diễn ra lễ hội, cả đoạn đường ven biển ngang qua Cát Tiến nhộn nhịp với xe ô tô, xe máy từ các nơi đổ về.

Lễ hội chùa Ông Núi thu hút đông đảo du khách hành hương Chùa Ông Núi (tên chữ là Linh Phong thiền tự) tọa lạc ngay lưng chừng đỉnh Chóp Vung, đây là đỉnh cao nhất của dãy núi Bà, phía đông nam xã Cát Tiến, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Chùa Ông Núi là một trong những ngôi chùa cổ đẹp và nổi tiếng nhất đất võ Bình Định. Chùa Ông Núi là một trong những ngôi mộ cổ đẹp nhất Bình Định Theo sử sách ghi lại, năm Nhâm Ngọ (1702), thiền sư Lê Ban (Tịnh Giác - Thiện Trì) đến núi này tu hành. Sư Lê Ban là bậc tiên phong đạo cốt, dựng một mái chùa bằng cỏ tranh, sống ung dung tự tại trên núi, chuyên hái thuốc trị bệnh cứu người. Sư Lê Ban dùng vỏ cây làm quần áo mặc. Người dân trong vùng gọi thầy là Mộc Y Sơn Ông (tức “ông núi mặc áo vỏ cây”. Vì vậy, ngôi chùa này có tên chùa Ông Núi. Chùa Ông Núi là di tích Lịch sử Văn hóa quốc gia, đã trải qua 12 đời thừa kế. Những dấu tích về Ông Núi xưa chỉ còn lại hang Tổ với vẻ đẹp hoang sơ, nằm ở lưng chừng ngọn núi phía sau chùa. Chùa Ông Núi tọa lạc trên Núi Bà Lễ hội chùa Ông Núi được tổ chức vào ngày giỗ của Hòa thượng Thích Trừng Tịnh, một trong những người có công đóng góp cho sự phát triển của chùa. Lễ hội chùa Ông Núi đúng vào mùa lễ hội đầu xuân, nên thu hút khá đông khách hành hương . Trong hai ngày diễn ra lễ hội, cả đoạn đường ven biển ngang qua Cát Tiến nhộn nhịp với xe ô tô, xe máy từ các nơi đổ về.

Chùa Ông Núi (tên chữ là Linh Phong thiền tự) tọa lạc ngay lưng chừng đỉnh Chóp Vung, đây là đỉnh cao nhất của dãy núi Bà, phía đông nam xã Cát Tiến, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Chùa Ông Núi là một trong những ngôi chùa cổ đẹp và nổi tiếng nhất đất võ Bình Định.

Chùa Ông Núi là một trong những ngôi mộ cổ đẹp nhất Bình Định

Theo sử sách ghi lại, năm Nhâm Ngọ (1702), thiền sư Lê Ban (Tịnh Giác - Thiện Trì) đến núi này tu hành. Sư Lê Ban là bậc tiên phong đạo cốt, dựng một mái chùa bằng cỏ tranh, sống ung dung tự tại trên núi, chuyên hái thuốc trị bệnh cứu người. Sư Lê Ban dùng vỏ cây làm quần áo mặc. Người dân trong vùng gọi thầy là Mộc Y Sơn Ông (tức “ông núi mặc áo vỏ cây”. Vì vậy, ngôi chùa này có tên chùa Ông Núi. Chùa Ông Núi là di tích Lịch sử Văn hóa quốc gia, đã trải qua 12 đời thừa kế. Những dấu tích về Ông Núi xưa chỉ còn lại hang Tổ với vẻ đẹp hoang sơ, nằm ở lưng chừng ngọn núi phía sau chùa.

Chùa Ông Núi tọa lạc trên Núi Bà

Lễ hội chùa Ông Núi được tổ chức vào ngày giỗ của Hòa thượng Thích Trừng Tịnh, một trong những người có công đóng góp cho sự phát triển của chùa. Lễ hội chùa Ông Núi đúng vào mùa lễ hội đầu xuân, nên thu hút khá đông khách hành hương . Trong hai ngày diễn ra lễ hội, cả đoạn đường ven biển ngang qua Cát Tiến nhộn nhịp với xe ô tô, xe máy từ các nơi đổ về.

Lễ hội chùa Ông Núi được tổ chức vào ngày giỗ của Hòa thượng Thích Trừng Tịnh, một trong những người có công đóng góp cho sự phát triển của chùa. Lễ hội chùa Ông Núi đúng vào mùa lễ hội đầu xuân, nên thu hút khá đông khách hành hương . Trong hai ngày diễn ra lễ hội, cả đoạn đường ven biển ngang qua Cát Tiến nhộn nhịp với xe ô tô, xe máy từ các nơi đổ về.

Related Figures

Lễ hội đua thuyền truyền thống sông Gò Bồ tỉnh Bình Định

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 2/1 Âm lịch Lễ hội đua thuyền truyền thống trên sông Gò Bồ là nét văn hóa đặc trưng trong dịp tết đến xuân về của người dân đất võ Bình Định. Vào chiều mùng 2 Tết hàng năm, hàng ngàn người dân và du khách tập trung tại xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước để xem và cổ vũ cho lễ hội truyền thống này. Lễ hội đua thuyền truyền thống trên sông Gò Bồ Lễ hội đua thuyền truyền thống vừa là dịp gặp gỡ, giao lưu của bà con sinh sống ven đầm Thị Nại, vừa là dịp giao lưu, thắt chặt tinh thần hướng về cội nguồn, lưu giữ tinh hoa văn hóa của dân tộc. Đội nữ tham gia lễ hội đua thuyền truyền thống Sông Gò Bồi nằm trong hệ thống sông Côn, chảy qua địa phận xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước, đổ ra đầm Thị Nại. Xưa kia, đây là vùng đất phồn thịnh "trên bến dưới thuyền". Vì sông rất sâu nên ghe thuyền ở trong Nam, ngoài Bắc thường xuyên ghé vào mua bán, trao đổi hàng hóa. Trải qua nhiều biến động lịch sử, nơi đây không còn cảnh sầm uất của cảng thị ngày nào nhưng Hội đua thuyền truyền thống vẫn được duy trì tới ngày nay. Hội đua thuyền là hoạt động gắn bó mật thiết với cư dân, tôi luyện sức dẻo dai, phục vụ đánh bắt cũng như nuôi trồng thủy sản. Hội đua thuyền truyền thống trên sông Gò Bồ khơi dậy truyền thống chống giặc ngoại xâm, là hoạt động tinh thần thể hiện nét văn hóa đặc trưng của bà con quanh năm bám biển, bám đầm. Sôi nổi lễ hội đua thuyền truyền thống tại Bình Định Những chiếc thuyền tham gia lễ hội được chuẩn bị công phu trước đó hàng tháng với thiết kế đầu rồng, trang trí nhiều hoa văn đẹp mắt. Chiếc thuyền đua là đại diện bộ mặt của địa phương.

Lễ hội đua thuyền truyền thống trên sông Gò Bồ Lễ hội đua thuyền truyền thống vừa là dịp gặp gỡ, giao lưu của bà con sinh sống ven đầm Thị Nại, vừa là dịp giao lưu, thắt chặt tinh thần hướng về cội nguồn, lưu giữ tinh hoa văn hóa của dân tộc. Đội nữ tham gia lễ hội đua thuyền truyền thống Sông Gò Bồi nằm trong hệ thống sông Côn, chảy qua địa phận xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước, đổ ra đầm Thị Nại. Xưa kia, đây là vùng đất phồn thịnh "trên bến dưới thuyền". Vì sông rất sâu nên ghe thuyền ở trong Nam, ngoài Bắc thường xuyên ghé vào mua bán, trao đổi hàng hóa. Trải qua nhiều biến động lịch sử, nơi đây không còn cảnh sầm uất của cảng thị ngày nào nhưng Hội đua thuyền truyền thống vẫn được duy trì tới ngày nay. Hội đua thuyền là hoạt động gắn bó mật thiết với cư dân, tôi luyện sức dẻo dai, phục vụ đánh bắt cũng như nuôi trồng thủy sản. Hội đua thuyền truyền thống trên sông Gò Bồ khơi dậy truyền thống chống giặc ngoại xâm, là hoạt động tinh thần thể hiện nét văn hóa đặc trưng của bà con quanh năm bám biển, bám đầm. Sôi nổi lễ hội đua thuyền truyền thống tại Bình Định Những chiếc thuyền tham gia lễ hội được chuẩn bị công phu trước đó hàng tháng với thiết kế đầu rồng, trang trí nhiều hoa văn đẹp mắt. Chiếc thuyền đua là đại diện bộ mặt của địa phương.

Lễ hội đua thuyền truyền thống vừa là dịp gặp gỡ, giao lưu của bà con sinh sống ven đầm Thị Nại, vừa là dịp giao lưu, thắt chặt tinh thần hướng về cội nguồn, lưu giữ tinh hoa văn hóa của dân tộc.

Đội nữ tham gia lễ hội đua thuyền truyền thống

Sông Gò Bồi nằm trong hệ thống sông Côn, chảy qua địa phận xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước, đổ ra đầm Thị Nại. Xưa kia, đây là vùng đất phồn thịnh "trên bến dưới thuyền". Vì sông rất sâu nên ghe thuyền ở trong Nam, ngoài Bắc thường xuyên ghé vào mua bán, trao đổi hàng hóa. Trải qua nhiều biến động lịch sử, nơi đây không còn cảnh sầm uất của cảng thị ngày nào nhưng Hội đua thuyền truyền thống vẫn được duy trì tới ngày nay. Hội đua thuyền là hoạt động gắn bó mật thiết với cư dân, tôi luyện sức dẻo dai, phục vụ đánh bắt cũng như nuôi trồng thủy sản. Hội đua thuyền truyền thống trên sông Gò Bồ khơi dậy truyền thống chống giặc ngoại xâm, là hoạt động tinh thần thể hiện nét văn hóa đặc trưng của bà con quanh năm bám biển, bám đầm.

Sôi nổi lễ hội đua thuyền truyền thống tại Bình Định

Những chiếc thuyền tham gia lễ hội được chuẩn bị công phu trước đó hàng tháng với thiết kế đầu rồng, trang trí nhiều hoa văn đẹp mắt. Chiếc thuyền đua là đại diện bộ mặt của địa phương.

Related Figures

Lễ hội Đống Đa Tây Sơn

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 4/1- 5/1 Âm lịch Lễ hội Đống Đa Tây Sơn là nét văn hóa đặc sắc của miền đất võ Bình Định. Hàng năm, vào ngày 4-5 tháng Giêng, người dân và du khách thập phương náo nức tham dự lễ hội tại Bảo tàng Quang Trung, thị trấn Phú Phong - Tây Sơn để tưởng nhớ công tích lẫy lừng của Nghĩa quân Tây Sơn và người anh hùng áo vải Quang Trung - Nguyễn Huệ, đồng thời kỷ niệm chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa, đánh bại 29 vạn quân Thanh xâm lược. Lễ hội Đống Đa Tây Sơn nét văn hóa độc đáo của Bình Định Lễ hội Đống Đa Tây Sơn là một trong những dịp lễ lớn của cả nước trong dịp đầu xuân năm mới. Lễ hội được tổ chức trọng thể, trang nghiêm. Ngoài những nghi lễ truyền thống, lễ hội Đống Đa Tây Sơn còn sôi nổi với nhiều hoạt động văn hóa dân gian như biểu diễn võ thuật Tây Sơn, trống trận Tây Sơn, đua thuyền và nhiều trò chơi dân gian, biểu diễn văn nghệ tái hiện lại trận đánh lịch sử năm xưa. Lễ hội Đống Đa Tây Sơn là ngày lễ lớn Bình Định Đặc biệt nhất của Lễ hội Đống Đa Tây Sơn là phần biểu diễn võ thuật, trống trận Tây Sơn và thao diễn trận pháp. Tiết mục võ thuật Tây Sơn được các võ sư, võ sĩ, nghệ nhân tên tuổi hàng đầu của đất võ Bình Định biểu diễn các bài quyền nổi tiếng. Đông đảo người dân và du khách tham dự lễ hội Đống Đa Tây Sơn Nhạc võ Tây Sơn là nghệ thuật độc đáo của Bình Định, nghệ sĩ biểu diễn vừa phải có tâm hồn nghệ sĩ, phairphair là võ sĩ siêu đẳng, luyện đổi tay thần diệu vừa tác động lên lòng trống, thân trống và vành trống bằng hai tay. Cổ tay, khuỷu tay, cánh tay tiếp xúc vào một bộ trống gồm 12 chiếc lớn nhỏ khác nhau được gọi là "Song thủ đả thập nhị cổ" tạo nên những âm thanh hùng tráng khác lạ khiến người xem như bị lôi cuốn, thúc giục. Ngày nay, lễ hội Đống Đa Tây Sơn trở thành niềm tự hào của người dân Bình Định trong những ngày xuân.

Lễ hội Đống Đa Tây Sơn nét văn hóa độc đáo của Bình Định

Lễ hội Đống Đa Tây Sơn là một trong những dịp lễ lớn của cả nước trong dịp đầu xuân năm mới. Lễ hội được tổ chức trọng thể, trang nghiêm. Ngoài những nghi lễ truyền thống, lễ hội Đống Đa Tây Sơn còn sôi nổi với nhiều hoạt động văn hóa dân gian như biểu diễn võ thuật Tây Sơn, trống trận Tây Sơn, đua thuyền và nhiều trò chơi dân gian, biểu diễn văn nghệ tái hiện lại trận đánh lịch sử năm xưa. Lễ hội Đống Đa Tây Sơn là ngày lễ lớn Bình Định Đặc biệt nhất của Lễ hội Đống Đa Tây Sơn là phần biểu diễn võ thuật, trống trận Tây Sơn và thao diễn trận pháp. Tiết mục võ thuật Tây Sơn được các võ sư, võ sĩ, nghệ nhân tên tuổi hàng đầu của đất võ Bình Định biểu diễn các bài quyền nổi tiếng. Đông đảo người dân và du khách tham dự lễ hội Đống Đa Tây Sơn Nhạc võ Tây Sơn là nghệ thuật độc đáo của Bình Định, nghệ sĩ biểu diễn vừa phải có tâm hồn nghệ sĩ, phairphair là võ sĩ siêu đẳng, luyện đổi tay thần diệu vừa tác động lên lòng trống, thân trống và vành trống bằng hai tay. Cổ tay, khuỷu tay, cánh tay tiếp xúc vào một bộ trống gồm 12 chiếc lớn nhỏ khác nhau được gọi là "Song thủ đả thập nhị cổ" tạo nên những âm thanh hùng tráng khác lạ khiến người xem như bị lôi cuốn, thúc giục. Ngày nay, lễ hội Đống Đa Tây Sơn trở thành niềm tự hào của người dân Bình Định trong những ngày xuân.

Lễ hội Đống Đa Tây Sơn là một trong những dịp lễ lớn của cả nước trong dịp đầu xuân năm mới. Lễ hội được tổ chức trọng thể, trang nghiêm. Ngoài những nghi lễ truyền thống, lễ hội Đống Đa Tây Sơn còn sôi nổi với nhiều hoạt động văn hóa dân gian như biểu diễn võ thuật Tây Sơn, trống trận Tây Sơn, đua thuyền và nhiều trò chơi dân gian, biểu diễn văn nghệ tái hiện lại trận đánh lịch sử năm xưa.

Lễ hội Đống Đa Tây Sơn là ngày lễ lớn Bình Định

Đặc biệt nhất của Lễ hội Đống Đa Tây Sơn là phần biểu diễn võ thuật, trống trận Tây Sơn và thao diễn trận pháp. Tiết mục võ thuật Tây Sơn được các võ sư, võ sĩ, nghệ nhân tên tuổi hàng đầu của đất võ Bình Định biểu diễn các bài quyền nổi tiếng.

Đông đảo người dân và du khách tham dự lễ hội Đống Đa Tây Sơn

Nhạc võ Tây Sơn là nghệ thuật độc đáo của Bình Định, nghệ sĩ biểu diễn vừa phải có tâm hồn nghệ sĩ, phairphair là võ sĩ siêu đẳng, luyện đổi tay thần diệu vừa tác động lên lòng trống, thân trống và vành trống bằng hai tay. Cổ tay, khuỷu tay, cánh tay tiếp xúc vào một bộ trống gồm 12 chiếc lớn nhỏ khác nhau được gọi là "Song thủ đả thập nhị cổ" tạo nên những âm thanh hùng tráng khác lạ khiến người xem như bị lôi cuốn, thúc giục.

Ngày nay, lễ hội Đống Đa Tây Sơn trở thành niềm tự hào của người dân Bình Định trong những ngày xuân.

Related Figures

Tết Đoan Ngọ

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 5/5 Âm lịch Tết Đoan Ngọ hay còn gọi Tết Đoan Dương là một trong những ngày Tết truyền thống ở một số nước Đông Á. Tại Việt Nam, Tết Đoan Ngọ còn được gọi là Tết giết sâu bọ, phát động bắt sâu bọ gây hại cho cây trồng. Bánh Tro không thể thiếu trong Tết Đoan Ngọ Tết Đoan Ngọ gắn liền với quan niệm về sự tuần hoàn của thời tiết trong năm. Đoan là "mở đầu", Ngọ là "khoảng thời gian từ 11 giờ trưa tới 1 giờ chiều". Cúng Tết Đoan Ngọ là cúng vào giờ trưa. Đoạn Ngọ là khoảng thời gian chuyển từ xuân sang hè, khí hậu thay đổi đột ngột nên rất dễ sinh bệnh. Ông bà ta có câu: "Chưa ăn bánh nếp Ðoan Dương, áo bông chẳng dám khinh thường cỡi ra". Tết Đoan Ngọ có nguồn gốc từ Trung Quốc nhưng người Việt ít ai biết về truyền thuyết về Khúc Nguyên, một vị trung thần của nước Sở đứng ra can ngăn Ngũ Hoài Vương không thành, uất ức ôm đá gieo mình xuống sông Miệt La tự vẫn ngày 5/5. Thương tiếc người trung nghĩa, người dân Trung Quốc bơi thuyền ra giữa sông thả bánh cúng Khúc Nguyên. Tết Đoan Ngọ của Việt Nam có truyền thuyết khác. Truyện kể rằng, sau khi mùa màng bội thu, nông dân ăn mừng được mùa nhưng sâu bọ lại kéo dày ăn mất sản phẩm đã thu hoạch. Khi người dân loay hoay không biết làm cách nào để giải quyết nạn sâu bọ này thì được ông lão tự xưng là Đôi Truân bày cách. Ông chỉ cho dân chúng mỗi nhà lập một đàn cùng gồm bánh tro, trái cây... Dân làng làm theo, quả nhiên lũ sâu bọ bị tiêu diệt sạch. Lão ông còn dặn rằng: "sâu bọ hàng năm vào ngày này rất hung hăng, mỗi năm cú đúng ngày này làm theo những gì ta dặn thì sẽ trị được chúng". Dân chúng gọi ngày này là Tết giết sâu bọ, cũng có người gọi là Tết Đoan Ngọ vì được cúng vào giờ Ngọ. Rượu nếp giết sâu bọ trong Tết Đoan Ngọ Ở những vùng nông thôn Việt Nam vẫn rất coi trọng ngày Tết này, con cháu dù đi làm xa xôi mấy cũng thu xếp về sum họp đầm ấm bên gia đình. Vào ngày này, cả làng nhộn nhịp hẳn lên, nhà nào cũng dậy sớm chuẩn bị lễ vật tươm tất cúng tổ tiên. Lễ vật cúng tổ tiên trong Tết Đoan Ngọ Sau lễ cúng là tục giết sâu bọ, cả nhà quây quần ăn những loại quả chua, rượu nếp, bánh tro... để diệt trừ sâu bọ, xua đuổi bệnh tật.

Bánh Tro không thể thiếu trong Tết Đoan Ngọ Tết Đoan Ngọ gắn liền với quan niệm về sự tuần hoàn của thời tiết trong năm. Đoan là "mở đầu", Ngọ là "khoảng thời gian từ 11 giờ trưa tới 1 giờ chiều". Cúng Tết Đoan Ngọ là cúng vào giờ trưa. Đoạn Ngọ là khoảng thời gian chuyển từ xuân sang hè, khí hậu thay đổi đột ngột nên rất dễ sinh bệnh. Ông bà ta có câu: "Chưa ăn bánh nếp Ðoan Dương, áo bông chẳng dám khinh thường cỡi ra". Tết Đoan Ngọ có nguồn gốc từ Trung Quốc nhưng người Việt ít ai biết về truyền thuyết về Khúc Nguyên, một vị trung thần của nước Sở đứng ra can ngăn Ngũ Hoài Vương không thành, uất ức ôm đá gieo mình xuống sông Miệt La tự vẫn ngày 5/5. Thương tiếc người trung nghĩa, người dân Trung Quốc bơi thuyền ra giữa sông thả bánh cúng Khúc Nguyên. Tết Đoan Ngọ của Việt Nam có truyền thuyết khác. Truyện kể rằng, sau khi mùa màng bội thu, nông dân ăn mừng được mùa nhưng sâu bọ lại kéo dày ăn mất sản phẩm đã thu hoạch. Khi người dân loay hoay không biết làm cách nào để giải quyết nạn sâu bọ này thì được ông lão tự xưng là Đôi Truân bày cách. Ông chỉ cho dân chúng mỗi nhà lập một đàn cùng gồm bánh tro, trái cây... Dân làng làm theo, quả nhiên lũ sâu bọ bị tiêu diệt sạch. Lão ông còn dặn rằng: "sâu bọ hàng năm vào ngày này rất hung hăng, mỗi năm cú đúng ngày này làm theo những gì ta dặn thì sẽ trị được chúng". Dân chúng gọi ngày này là Tết giết sâu bọ, cũng có người gọi là Tết Đoan Ngọ vì được cúng vào giờ Ngọ. Rượu nếp giết sâu bọ trong Tết Đoan Ngọ Ở những vùng nông thôn Việt Nam vẫn rất coi trọng ngày Tết này, con cháu dù đi làm xa xôi mấy cũng thu xếp về sum họp đầm ấm bên gia đình. Vào ngày này, cả làng nhộn nhịp hẳn lên, nhà nào cũng dậy sớm chuẩn bị lễ vật tươm tất cúng tổ tiên. Lễ vật cúng tổ tiên trong Tết Đoan Ngọ Sau lễ cúng là tục giết sâu bọ, cả nhà quây quần ăn những loại quả chua, rượu nếp, bánh tro... để diệt trừ sâu bọ, xua đuổi bệnh tật.

Tết Đoan Ngọ gắn liền với quan niệm về sự tuần hoàn của thời tiết trong năm. Đoan là "mở đầu", Ngọ là "khoảng thời gian từ 11 giờ trưa tới 1 giờ chiều". Cúng Tết Đoan Ngọ là cúng vào giờ trưa. Đoạn Ngọ là khoảng thời gian chuyển từ xuân sang hè, khí hậu thay đổi đột ngột nên rất dễ sinh bệnh. Ông bà ta có câu: "Chưa ăn bánh nếp Ðoan Dương, áo bông chẳng dám khinh thường cỡi ra".

Tết Đoan Ngọ có nguồn gốc từ Trung Quốc nhưng người Việt ít ai biết về truyền thuyết về Khúc Nguyên, một vị trung thần của nước Sở đứng ra can ngăn Ngũ Hoài Vương không thành, uất ức ôm đá gieo mình xuống sông Miệt La tự vẫn ngày 5/5. Thương tiếc người trung nghĩa, người dân Trung Quốc bơi thuyền ra giữa sông thả bánh cúng Khúc Nguyên.

Tết Đoan Ngọ của Việt Nam có truyền thuyết khác. Truyện kể rằng, sau khi mùa màng bội thu, nông dân ăn mừng được mùa nhưng sâu bọ lại kéo dày ăn mất sản phẩm đã thu hoạch. Khi người dân loay hoay không biết làm cách nào để giải quyết nạn sâu bọ này thì được ông lão tự xưng là Đôi Truân bày cách. Ông chỉ cho dân chúng mỗi nhà lập một đàn cùng gồm bánh tro, trái cây... Dân làng làm theo, quả nhiên lũ sâu bọ bị tiêu diệt sạch. Lão ông còn dặn rằng: "sâu bọ hàng năm vào ngày này rất hung hăng, mỗi năm cú đúng ngày này làm theo những gì ta dặn thì sẽ trị được chúng". Dân chúng gọi ngày này là Tết giết sâu bọ, cũng có người gọi là Tết Đoan Ngọ vì được cúng vào giờ Ngọ.

Rượu nếp giết sâu bọ trong Tết Đoan Ngọ

Ở những vùng nông thôn Việt Nam vẫn rất coi trọng ngày Tết này, con cháu dù đi làm xa xôi mấy cũng thu xếp về sum họp đầm ấm bên gia đình. Vào ngày này, cả làng nhộn nhịp hẳn lên, nhà nào cũng dậy sớm chuẩn bị lễ vật tươm tất cúng tổ tiên.

Lễ vật cúng tổ tiên trong Tết Đoan Ngọ

Sau lễ cúng là tục giết sâu bọ, cả nhà quây quần ăn những loại quả chua, rượu nếp, bánh tro... để diệt trừ sâu bọ, xua đuổi bệnh tật.

Related Figures

Tết Thanh Minh

Thông tin thời kỳ

Tết Thanh Minh là một trong những ngày lễ truyền thống có giá trị nhân văn sâu sắc của người Á Đông. Tết Thanh Minh là ngày lễ quan trọng, thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn của người Việt. Tiết Thanh Minh tính theo âm lịch là sau Đông Chí 105 ngày, sau lập xuân 45 ngày. Tết Thanh Minh là dịp tưởng nhớ công ơn bậc tiền nhân Ở các tỉnh Bắc Bộ và cộng đồng người Hoa thì ăn tết này theo ngày Tiết Thanh Minh như Trung Quốc, các tỉnh Trung Bộ ăn tết Thanh Minh vào ngày 3/3 âm lịch, các tỉnh Nam Bộ tổ chức Tết Thanh Minh theo phong tục của người Hoa do nơi đây có đông người Hoa sinh sống. Đồng bào dân tộc Tày - Nùng coi Tết Thanh Minh là lễ trọng lớn nhất trong năm, tổ chức ngày 3/3 âm lịch. Con cháu tảo mộ trong Tết Thanh Minh Tết Thanh Minh gắn liền với truyền thống, đạo đức, bổn phận của con cháu tưởng nhớ công ơn của tổ phụ, những bậc tiền nhân. Đây chính là ngày giỗ chung để mọi người có dịp báo hiếu, đền đáp công ơn sinh thành, tạo dựng của tổ tiên. Ông bà ta chọn ngày Thanh Minh để tảo mộ, cắt cỏ trên mộ và đắp thêm đất lên mộ, sau đó về nhà làm lễ cũng gia tiên. Khu nghĩa địa trở nên đông đúc, nhộn nhịp vào Tết Thanh Minh. Con cháu mang cuốc, xẻng rẫy hết cỏ dại và những lùm cây hoang mọc trùm lên mộ tránh không cho rắn, chuột đào hang, làm tổ để không phạm tới linh hồn người đã mất. Sau đó, những người đi tảo mộ thắp hương, đốt vàng mã... các cụ già lo khấn vái tổ tiên nơi phần mộ. Những ngôi mộ vô chủ, không người thăm viếng cũng được những người đi tảo mộ thắp cho một nén hương. Con cháu thắp hương phần mộ tổ tiên trong Tết Thanh Minh Hội Đạp Thanh: nam thanh nữ tú cũng nhân dịp này để du xuân nên mới có tên gọi Hội Đạp Thanh (giẫm lên cỏ). Ngày nay, ở Việt Nam lễ hội này không còn nhưng ở Trung Quốc vẫn còn một vài nơi duy trì được.

Tết Thanh Minh là dịp tưởng nhớ công ơn bậc tiền nhân Ở các tỉnh Bắc Bộ và cộng đồng người Hoa thì ăn tết này theo ngày Tiết Thanh Minh như Trung Quốc, các tỉnh Trung Bộ ăn tết Thanh Minh vào ngày 3/3 âm lịch, các tỉnh Nam Bộ tổ chức Tết Thanh Minh theo phong tục của người Hoa do nơi đây có đông người Hoa sinh sống. Đồng bào dân tộc Tày - Nùng coi Tết Thanh Minh là lễ trọng lớn nhất trong năm, tổ chức ngày 3/3 âm lịch. Con cháu tảo mộ trong Tết Thanh Minh Tết Thanh Minh gắn liền với truyền thống, đạo đức, bổn phận của con cháu tưởng nhớ công ơn của tổ phụ, những bậc tiền nhân. Đây chính là ngày giỗ chung để mọi người có dịp báo hiếu, đền đáp công ơn sinh thành, tạo dựng của tổ tiên. Ông bà ta chọn ngày Thanh Minh để tảo mộ, cắt cỏ trên mộ và đắp thêm đất lên mộ, sau đó về nhà làm lễ cũng gia tiên. Khu nghĩa địa trở nên đông đúc, nhộn nhịp vào Tết Thanh Minh. Con cháu mang cuốc, xẻng rẫy hết cỏ dại và những lùm cây hoang mọc trùm lên mộ tránh không cho rắn, chuột đào hang, làm tổ để không phạm tới linh hồn người đã mất. Sau đó, những người đi tảo mộ thắp hương, đốt vàng mã... các cụ già lo khấn vái tổ tiên nơi phần mộ. Những ngôi mộ vô chủ, không người thăm viếng cũng được những người đi tảo mộ thắp cho một nén hương. Con cháu thắp hương phần mộ tổ tiên trong Tết Thanh Minh Hội Đạp Thanh: nam thanh nữ tú cũng nhân dịp này để du xuân nên mới có tên gọi Hội Đạp Thanh (giẫm lên cỏ). Ngày nay, ở Việt Nam lễ hội này không còn nhưng ở Trung Quốc vẫn còn một vài nơi duy trì được.

Ở các tỉnh Bắc Bộ và cộng đồng người Hoa thì ăn tết này theo ngày Tiết Thanh Minh như Trung Quốc, các tỉnh Trung Bộ ăn tết Thanh Minh vào ngày 3/3 âm lịch, các tỉnh Nam Bộ tổ chức Tết Thanh Minh theo phong tục của người Hoa do nơi đây có đông người Hoa sinh sống. Đồng bào dân tộc Tày - Nùng coi Tết Thanh Minh là lễ trọng lớn nhất trong năm, tổ chức ngày 3/3 âm lịch.

Con cháu tảo mộ trong Tết Thanh Minh Tết Thanh Minh gắn liền với truyền thống, đạo đức, bổn phận của con cháu tưởng nhớ công ơn của tổ phụ, những bậc tiền nhân. Đây chính là ngày giỗ chung để mọi người có dịp báo hiếu, đền đáp công ơn sinh thành, tạo dựng của tổ tiên. Ông bà ta chọn ngày Thanh Minh để tảo mộ, cắt cỏ trên mộ và đắp thêm đất lên mộ, sau đó về nhà làm lễ cũng gia tiên. Khu nghĩa địa trở nên đông đúc, nhộn nhịp vào Tết Thanh Minh. Con cháu mang cuốc, xẻng rẫy hết cỏ dại và những lùm cây hoang mọc trùm lên mộ tránh không cho rắn, chuột đào hang, làm tổ để không phạm tới linh hồn người đã mất. Sau đó, những người đi tảo mộ thắp hương, đốt vàng mã... các cụ già lo khấn vái tổ tiên nơi phần mộ. Những ngôi mộ vô chủ, không người thăm viếng cũng được những người đi tảo mộ thắp cho một nén hương. Con cháu thắp hương phần mộ tổ tiên trong Tết Thanh Minh Hội Đạp Thanh: nam thanh nữ tú cũng nhân dịp này để du xuân nên mới có tên gọi Hội Đạp Thanh (giẫm lên cỏ). Ngày nay, ở Việt Nam lễ hội này không còn nhưng ở Trung Quốc vẫn còn một vài nơi duy trì được.

Tết Thanh Minh gắn liền với truyền thống, đạo đức, bổn phận của con cháu tưởng nhớ công ơn của tổ phụ, những bậc tiền nhân. Đây chính là ngày giỗ chung để mọi người có dịp báo hiếu, đền đáp công ơn sinh thành, tạo dựng của tổ tiên.

Ông bà ta chọn ngày Thanh Minh để tảo mộ, cắt cỏ trên mộ và đắp thêm đất lên mộ, sau đó về nhà làm lễ cũng gia tiên. Khu nghĩa địa trở nên đông đúc, nhộn nhịp vào Tết Thanh Minh. Con cháu mang cuốc, xẻng rẫy hết cỏ dại và những lùm cây hoang mọc trùm lên mộ tránh không cho rắn, chuột đào hang, làm tổ để không phạm tới linh hồn người đã mất. Sau đó, những người đi tảo mộ thắp hương, đốt vàng mã... các cụ già lo khấn vái tổ tiên nơi phần mộ. Những ngôi mộ vô chủ, không người thăm viếng cũng được những người đi tảo mộ thắp cho một nén hương.

Con cháu thắp hương phần mộ tổ tiên trong Tết Thanh Minh

Hội Đạp Thanh: nam thanh nữ tú cũng nhân dịp này để du xuân nên mới có tên gọi Hội Đạp Thanh (giẫm lên cỏ). Ngày nay, ở Việt Nam lễ hội này không còn nhưng ở Trung Quốc vẫn còn một vài nơi duy trì được.

Related Figures

Tết Hàn Thực

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 3/3 Âm lịch Tết Hàn Thực được tổ chức ngày 3/3 âm lịch hàng năm. Mặc dù Tết Hàn Thực có nguồn gốc từ Trung Quốc nhưng Tết Hàn Thực tại Việt Nam vẫn mang những sắc thái riêng, đậm chất Việt. Tết Hàn Thực không chỉ là nét đẹp văn hóa truyền thống mà còn là nét đẹp trong nghệ thuật ẩm thực Việt Nam. Tết Hàn Thực tưởng nhớ công ơn người đã khuất Trong tiếng Hán "Hàn" là lạnh, "Thực " là đồ ăn; "Tết Hàn Thực" là Tết ăn đồ ăn nguội. Tết Hàn Thực có nguồn gốc từ Trung Quốc theo một câu chuyện được truyền tụng nhiều đời. Chuyện kể rằng từ đời Xuân Thu, vua Tấn Văn Công của nước Tấn gặp loạn nên phải sống cuộc sống lưu vong nay nước Tề, mai nước Sở. Vua Tấn được hiền sĩ Giới Tử Thôi theo phò, hiến nhiều mưu kế. Một hôm, trên đường lánh nạn, lương thực cạn kiệt, Giới Tử Thôi lén cắt một miếng thịt đùi của mình nấu chín dâng vua. Ăn xong vua Tấn mới biết chuyện đem lòng cảm kích vô cùng. Giới Tử Thôi theo phò vua Tấn trong 19 năm, chịu nhiều khổ cực nhưng khi vua Tấn Văn Công đoạt lại được ngôi vương, phong thưởng rất hậu cho những người có công nhưng lại quên mát Giới Tử Thôi. Ông không oán hận gì, cho rằng việc theo phò vua là chuyện nên làm. Giới Tử Thôi đưa mẹ vào núi Điền Sơn ở ẩn. Sau này, vua Tấn Văn Công cho người đi tìm Giới Tử Thôi. Vốn là người không màng danh lợi, Giới Tử Thôi quyết không về kinh lĩnh thưởng. Tấn Văn Công ra lệnh đốt rừng hòng thúc ép Giới Tử Thôi quay về. Không ngờ, Giới Tử Thôi quyết chí không về, hai mẹ con chết cháy trong rừng. Nhà vua hối hận lập miếu thờ. Hàng năm, đến ngày 3 tháng 3 là ngày chết cháy của 2 mẹ con Giới Tử Thôi hạ lệnh cấm dùng lửa, ngay cả việc chuẩn bị cỗ cúng cũng phải làm từ ngày hôm trước. Tết Hàn Thực nét đẹp văn hóa truyền thống Việt Nam Không giống như Tết Hàn Thực ở Trung Quốc, người Việt vẫn được nấu ăn. Bánh trôi, bánh chay là đặc trưng cho Tết Hàn Thực của người Việt. Bánh trôi và bánh chay là đặc trưng Tết Hàn Thực Hai loại bánh này đều làm từ bột gạo nếp dẻo thơm. Bánh trôi được nặn viên nhỏ, bên trong có nhân đường đỏ. Còn bánh chay thì nặn viên tròn dẹt, không nhân, khi ăn rưới nước đường lên.

Tết Hàn Thực tưởng nhớ công ơn người đã khuất Trong tiếng Hán "Hàn" là lạnh, "Thực " là đồ ăn; "Tết Hàn Thực" là Tết ăn đồ ăn nguội. Tết Hàn Thực có nguồn gốc từ Trung Quốc theo một câu chuyện được truyền tụng nhiều đời. Chuyện kể rằng từ đời Xuân Thu, vua Tấn Văn Công của nước Tấn gặp loạn nên phải sống cuộc sống lưu vong nay nước Tề, mai nước Sở. Vua Tấn được hiền sĩ Giới Tử Thôi theo phò, hiến nhiều mưu kế. Một hôm, trên đường lánh nạn, lương thực cạn kiệt, Giới Tử Thôi lén cắt một miếng thịt đùi của mình nấu chín dâng vua. Ăn xong vua Tấn mới biết chuyện đem lòng cảm kích vô cùng. Giới Tử Thôi theo phò vua Tấn trong 19 năm, chịu nhiều khổ cực nhưng khi vua Tấn Văn Công đoạt lại được ngôi vương, phong thưởng rất hậu cho những người có công nhưng lại quên mát Giới Tử Thôi. Ông không oán hận gì, cho rằng việc theo phò vua là chuyện nên làm. Giới Tử Thôi đưa mẹ vào núi Điền Sơn ở ẩn. Sau này, vua Tấn Văn Công cho người đi tìm Giới Tử Thôi. Vốn là người không màng danh lợi, Giới Tử Thôi quyết không về kinh lĩnh thưởng. Tấn Văn Công ra lệnh đốt rừng hòng thúc ép Giới Tử Thôi quay về. Không ngờ, Giới Tử Thôi quyết chí không về, hai mẹ con chết cháy trong rừng. Nhà vua hối hận lập miếu thờ. Hàng năm, đến ngày 3 tháng 3 là ngày chết cháy của 2 mẹ con Giới Tử Thôi hạ lệnh cấm dùng lửa, ngay cả việc chuẩn bị cỗ cúng cũng phải làm từ ngày hôm trước. Tết Hàn Thực nét đẹp văn hóa truyền thống Việt Nam Không giống như Tết Hàn Thực ở Trung Quốc, người Việt vẫn được nấu ăn. Bánh trôi, bánh chay là đặc trưng cho Tết Hàn Thực của người Việt. Bánh trôi và bánh chay là đặc trưng Tết Hàn Thực Hai loại bánh này đều làm từ bột gạo nếp dẻo thơm. Bánh trôi được nặn viên nhỏ, bên trong có nhân đường đỏ. Còn bánh chay thì nặn viên tròn dẹt, không nhân, khi ăn rưới nước đường lên.

Trong tiếng Hán "Hàn" là lạnh, "Thực " là đồ ăn; "Tết Hàn Thực" là Tết ăn đồ ăn nguội. Tết Hàn Thực có nguồn gốc từ Trung Quốc theo một câu chuyện được truyền tụng nhiều đời. Chuyện kể rằng từ đời Xuân Thu, vua Tấn Văn Công của nước Tấn gặp loạn nên phải sống cuộc sống lưu vong nay nước Tề, mai nước Sở. Vua Tấn được hiền sĩ Giới Tử Thôi theo phò, hiến nhiều mưu kế. Một hôm, trên đường lánh nạn, lương thực cạn kiệt, Giới Tử Thôi lén cắt một miếng thịt đùi của mình nấu chín dâng vua. Ăn xong vua Tấn mới biết chuyện đem lòng cảm kích vô cùng. Giới Tử Thôi theo phò vua Tấn trong 19 năm, chịu nhiều khổ cực nhưng khi vua Tấn Văn Công đoạt lại được ngôi vương, phong thưởng rất hậu cho những người có công nhưng lại quên mát Giới Tử Thôi. Ông không oán hận gì, cho rằng việc theo phò vua là chuyện nên làm. Giới Tử Thôi đưa mẹ vào núi Điền Sơn ở ẩn. Sau này, vua Tấn Văn Công cho người đi tìm Giới Tử Thôi. Vốn là người không màng danh lợi, Giới Tử Thôi quyết không về kinh lĩnh thưởng. Tấn Văn Công ra lệnh đốt rừng hòng thúc ép Giới Tử Thôi quay về. Không ngờ, Giới Tử Thôi quyết chí không về, hai mẹ con chết cháy trong rừng. Nhà vua hối hận lập miếu thờ. Hàng năm, đến ngày 3 tháng 3 là ngày chết cháy của 2 mẹ con Giới Tử Thôi hạ lệnh cấm dùng lửa, ngay cả việc chuẩn bị cỗ cúng cũng phải làm từ ngày hôm trước.

Tết Hàn Thực nét đẹp văn hóa truyền thống Việt Nam

Không giống như Tết Hàn Thực ở Trung Quốc, người Việt vẫn được nấu ăn. Bánh trôi, bánh chay là đặc trưng cho Tết Hàn Thực của người Việt.

Bánh trôi và bánh chay là đặc trưng Tết Hàn Thực

Hai loại bánh này đều làm từ bột gạo nếp dẻo thơm. Bánh trôi được nặn viên nhỏ, bên trong có nhân đường đỏ. Còn bánh chay thì nặn viên tròn dẹt, không nhân, khi ăn rưới nước đường lên.

Related Figures

Tết Nguyên Tiêu

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/1 Âm lịch Tết Nguyên Tiêu diễn ra ngày rằm đầu tiên của năm mới, là dịp lễ quan trọng trong năm. Ông bà ta có câu: "Cúng cả năm không bằng ngày rằm tháng Giêng" hay "Lễ Phật cả năm không bằng ngày rằm tháng Giêng". Tết Nguyên Tiêu ngày lễ lớn trong năm Theo quan niệm của người Việt thì đầu xuôi đuôi lọt. Thời khắc đầu tiên trong năm mới rất thiêng liêng nên Tết Nguyên Đán và Tết Nguyên Tiêu rất quan trọng. Tết Nguyên Tiêu còn được gọi là Tết Thượng Nguyên cùng với Tết Trung Nguyên (rằm tháng 7), Tết Hạ Nguyên (rằm tháng 10). Mâm cỗ cúng trong ngày Tết Nguyên Tiêu Rằm tháng Giêng là dịp dân chúng cúng sao giải hạn, cầu mong những điều tốt lành. Tết này phần lớn được tổ chức ở chùa, sư sãi trong chùa thường tụng kinh Dược Sư và khuyên Phật tử cùng tụng niệm, hồi hướng công đức để thế giới được an lành. Nguồn gốc Tết Nguyên Tiêu: Truyền thuyết kể rằng, ngày xưa có một con thiên nga từ thiên đình bay xuống hạ giới bị một người thợ sắn bắn chết. Để trả thù cho thiên nga, Ngọc Hoàng phái một đội quân thiên đình xuống hỏa thiêu toàn bộ con người và động vật nơi hạ giới vào ngày rằm tháng Giêng. Một số vị thần không đồng tình với quyết định của Ngọc Hoàng đã liều mình xuống hạ giới hiến kế cho chúng sinh. Vào đêm rằm tháng Giêng, nhà nhà treo đèn lồng và bắn pháo hoa để thiên đình tưởng rằng nhà cửa của họ đã bị phóng hỏa. Vì vậy chúng sinh mới thoát khỏi cảnh diệt vong. Còn một truyền thuyết khác kể rằng: thời Hán Vũ Đế có một cung nữ sống trong cung bị cấm về thăm cha mẹ vào rằm tháng Giêng định lao xuống giếng tự vẫn. Cảm động trước tấm lòng hiếu thảo của cung nữ, một vị quan cận thần đã nghĩ cách giúp cô. Quan cận thần tâu với Hán Vũ Đế rằng ngày 16 tháng Giêng thiên đình sẽ sai hỏa thần xuống thiêu rụi kinh thành. Để tránh đại họa, mọi người phải treo đèn lồng trước cửa nhà và đường phố đêm 15. Đêm đó, nhân lúc mọi người mải ngắm đèn lồng, cung nữ đó trốn về thăm cha mẹ mà không ai biết. Tết Nguyên Tiêu Việt Nam có nguồn gốc từ Trung Quốc, qua nhiều năm tháng biến đổi thành ngày Tết mang bản sắc của người Việt, thấm nhuần Phật Pháp. Cộng đồng người Hoa đón Tết Nguyên Tiêu Những nơi cộng đồng người Hoa sinh sống như chợ Lớn, Hội An thì lễ hội trăng rằm có nhiều hoạt động đặc biệt. Tết Nguyên Tiêu của cộng đồng người Việt gốc Hoa tại khu chợ Lớn, quận 5, TP HCM hàng năm thu hút hàng nghìn người tham gia. Vì vậy, dân gian có câu thành ngữ "Giao thừa ra quận Nhất, Nguyên Tiêu về quận 5".

Tết Nguyên Tiêu ngày lễ lớn trong năm Theo quan niệm của người Việt thì đầu xuôi đuôi lọt. Thời khắc đầu tiên trong năm mới rất thiêng liêng nên Tết Nguyên Đán và Tết Nguyên Tiêu rất quan trọng. Tết Nguyên Tiêu còn được gọi là Tết Thượng Nguyên cùng với Tết Trung Nguyên (rằm tháng 7), Tết Hạ Nguyên (rằm tháng 10). Mâm cỗ cúng trong ngày Tết Nguyên Tiêu Rằm tháng Giêng là dịp dân chúng cúng sao giải hạn, cầu mong những điều tốt lành. Tết này phần lớn được tổ chức ở chùa, sư sãi trong chùa thường tụng kinh Dược Sư và khuyên Phật tử cùng tụng niệm, hồi hướng công đức để thế giới được an lành. Nguồn gốc Tết Nguyên Tiêu: Truyền thuyết kể rằng, ngày xưa có một con thiên nga từ thiên đình bay xuống hạ giới bị một người thợ sắn bắn chết. Để trả thù cho thiên nga, Ngọc Hoàng phái một đội quân thiên đình xuống hỏa thiêu toàn bộ con người và động vật nơi hạ giới vào ngày rằm tháng Giêng. Một số vị thần không đồng tình với quyết định của Ngọc Hoàng đã liều mình xuống hạ giới hiến kế cho chúng sinh. Vào đêm rằm tháng Giêng, nhà nhà treo đèn lồng và bắn pháo hoa để thiên đình tưởng rằng nhà cửa của họ đã bị phóng hỏa. Vì vậy chúng sinh mới thoát khỏi cảnh diệt vong. Còn một truyền thuyết khác kể rằng: thời Hán Vũ Đế có một cung nữ sống trong cung bị cấm về thăm cha mẹ vào rằm tháng Giêng định lao xuống giếng tự vẫn. Cảm động trước tấm lòng hiếu thảo của cung nữ, một vị quan cận thần đã nghĩ cách giúp cô. Quan cận thần tâu với Hán Vũ Đế rằng ngày 16 tháng Giêng thiên đình sẽ sai hỏa thần xuống thiêu rụi kinh thành. Để tránh đại họa, mọi người phải treo đèn lồng trước cửa nhà và đường phố đêm 15. Đêm đó, nhân lúc mọi người mải ngắm đèn lồng, cung nữ đó trốn về thăm cha mẹ mà không ai biết. Tết Nguyên Tiêu Việt Nam có nguồn gốc từ Trung Quốc, qua nhiều năm tháng biến đổi thành ngày Tết mang bản sắc của người Việt, thấm nhuần Phật Pháp. Cộng đồng người Hoa đón Tết Nguyên Tiêu Những nơi cộng đồng người Hoa sinh sống như chợ Lớn, Hội An thì lễ hội trăng rằm có nhiều hoạt động đặc biệt. Tết Nguyên Tiêu của cộng đồng người Việt gốc Hoa tại khu chợ Lớn, quận 5, TP HCM hàng năm thu hút hàng nghìn người tham gia. Vì vậy, dân gian có câu thành ngữ "Giao thừa ra quận Nhất, Nguyên Tiêu về quận 5".

Theo quan niệm của người Việt thì đầu xuôi đuôi lọt. Thời khắc đầu tiên trong năm mới rất thiêng liêng nên Tết Nguyên Đán và Tết Nguyên Tiêu rất quan trọng. Tết Nguyên Tiêu còn được gọi là Tết Thượng Nguyên cùng với Tết Trung Nguyên (rằm tháng 7), Tết Hạ Nguyên (rằm tháng 10).

Mâm cỗ cúng trong ngày Tết Nguyên Tiêu Rằm tháng Giêng là dịp dân chúng cúng sao giải hạn, cầu mong những điều tốt lành. Tết này phần lớn được tổ chức ở chùa, sư sãi trong chùa thường tụng kinh Dược Sư và khuyên Phật tử cùng tụng niệm, hồi hướng công đức để thế giới được an lành. Nguồn gốc Tết Nguyên Tiêu: Truyền thuyết kể rằng, ngày xưa có một con thiên nga từ thiên đình bay xuống hạ giới bị một người thợ sắn bắn chết. Để trả thù cho thiên nga, Ngọc Hoàng phái một đội quân thiên đình xuống hỏa thiêu toàn bộ con người và động vật nơi hạ giới vào ngày rằm tháng Giêng. Một số vị thần không đồng tình với quyết định của Ngọc Hoàng đã liều mình xuống hạ giới hiến kế cho chúng sinh. Vào đêm rằm tháng Giêng, nhà nhà treo đèn lồng và bắn pháo hoa để thiên đình tưởng rằng nhà cửa của họ đã bị phóng hỏa. Vì vậy chúng sinh mới thoát khỏi cảnh diệt vong. Còn một truyền thuyết khác kể rằng: thời Hán Vũ Đế có một cung nữ sống trong cung bị cấm về thăm cha mẹ vào rằm tháng Giêng định lao xuống giếng tự vẫn. Cảm động trước tấm lòng hiếu thảo của cung nữ, một vị quan cận thần đã nghĩ cách giúp cô. Quan cận thần tâu với Hán Vũ Đế rằng ngày 16 tháng Giêng thiên đình sẽ sai hỏa thần xuống thiêu rụi kinh thành. Để tránh đại họa, mọi người phải treo đèn lồng trước cửa nhà và đường phố đêm 15. Đêm đó, nhân lúc mọi người mải ngắm đèn lồng, cung nữ đó trốn về thăm cha mẹ mà không ai biết. Tết Nguyên Tiêu Việt Nam có nguồn gốc từ Trung Quốc, qua nhiều năm tháng biến đổi thành ngày Tết mang bản sắc của người Việt, thấm nhuần Phật Pháp. Cộng đồng người Hoa đón Tết Nguyên Tiêu Những nơi cộng đồng người Hoa sinh sống như chợ Lớn, Hội An thì lễ hội trăng rằm có nhiều hoạt động đặc biệt. Tết Nguyên Tiêu của cộng đồng người Việt gốc Hoa tại khu chợ Lớn, quận 5, TP HCM hàng năm thu hút hàng nghìn người tham gia. Vì vậy, dân gian có câu thành ngữ "Giao thừa ra quận Nhất, Nguyên Tiêu về quận 5".

Rằm tháng Giêng là dịp dân chúng cúng sao giải hạn, cầu mong những điều tốt lành. Tết này phần lớn được tổ chức ở chùa, sư sãi trong chùa thường tụng kinh Dược Sư và khuyên Phật tử cùng tụng niệm, hồi hướng công đức để thế giới được an lành.

Nguồn gốc Tết Nguyên Tiêu:

Truyền thuyết kể rằng, ngày xưa có một con thiên nga từ thiên đình bay xuống hạ giới bị một người thợ sắn bắn chết. Để trả thù cho thiên nga, Ngọc Hoàng phái một đội quân thiên đình xuống hỏa thiêu toàn bộ con người và động vật nơi hạ giới vào ngày rằm tháng Giêng. Một số vị thần không đồng tình với quyết định của Ngọc Hoàng đã liều mình xuống hạ giới hiến kế cho chúng sinh. Vào đêm rằm tháng Giêng, nhà nhà treo đèn lồng và bắn pháo hoa để thiên đình tưởng rằng nhà cửa của họ đã bị phóng hỏa. Vì vậy chúng sinh mới thoát khỏi cảnh diệt vong.

Còn một truyền thuyết khác kể rằng: thời Hán Vũ Đế có một cung nữ sống trong cung bị cấm về thăm cha mẹ vào rằm tháng Giêng định lao xuống giếng tự vẫn. Cảm động trước tấm lòng hiếu thảo của cung nữ, một vị quan cận thần đã nghĩ cách giúp cô. Quan cận thần tâu với Hán Vũ Đế rằng ngày 16 tháng Giêng thiên đình sẽ sai hỏa thần xuống thiêu rụi kinh thành. Để tránh đại họa, mọi người phải treo đèn lồng trước cửa nhà và đường phố đêm 15. Đêm đó, nhân lúc mọi người mải ngắm đèn lồng, cung nữ đó trốn về thăm cha mẹ mà không ai biết.

Tết Nguyên Tiêu Việt Nam có nguồn gốc từ Trung Quốc, qua nhiều năm tháng biến đổi thành ngày Tết mang bản sắc của người Việt, thấm nhuần Phật Pháp.

Cộng đồng người Hoa đón Tết Nguyên Tiêu

Những nơi cộng đồng người Hoa sinh sống như chợ Lớn, Hội An thì lễ hội trăng rằm có nhiều hoạt động đặc biệt. Tết Nguyên Tiêu của cộng đồng người Việt gốc Hoa tại khu chợ Lớn, quận 5, TP HCM hàng năm thu hút hàng nghìn người tham gia. Vì vậy, dân gian có câu thành ngữ "Giao thừa ra quận Nhất, Nguyên Tiêu về quận 5".

Related Figures

Lễ khai hạ

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 7/1 Âm lịch Lễ khai hạ thường được tiến hành ngày 7 tháng Giêng âm lịch, là ngày cuối cùng của Tết Nguyên Đán. Trong ngày này, các gia đình sẽ làm lễ hạ cây nêu, kết thúc Tết trở lại với công việc. Lễ khai hạ là lễ hạ cây nêu kết thúc Tết Theo tục lệ xưa, các gia đình chuẩn bị cây nêu vào dịp Tết. Cây nêu được làm từ cây tre dài 5-6m, trên ngọn treo một vòng tròn nhỏ và nhiều vật dụng tùy theo địa phương như: bó lá dứa, khung tre dán giấy màu xanh đỏ, vàng mã, câu đối... Dưới chân cây nêu có rắc vôi bột và vẽ hình cung tên. Cây nêu thường được dựng ngày 23 tháng Chạp hoặc chiều 30 tết. Cây nêu có ý nghĩa trừ tà, báo cho ma quỷ biết đất này đã có chủ không được quấy nhiễu và cầu mong năm mới bình an, vạn sự như ý. Cây nêu cũng tượng trưng cho sự uy quyền, gia đình quyền thế nhất là nhà có cây nêu cao nhất. Cây nêu tượng trưng cho sự uy quyền của chủ nhà dịp Tết Trước khi hạ cây nêu, gia chủ bày một cái bàn nhỏ ở gốc cây, phía trên để một đĩa dưa hấu, một ít hương hoa... ngụ ý báo cáo với trời đất là gia đình đã ăn Tết vui vẻ. Sau đó, chủ nhà rung cây nêu cho rụng hết lá khô rồi hạ cây nêu xuống, đem bùa nêu treo ở trước cửa chính. Những gia đình buôn bán, ngày 7 Tết sẽ làm lễ cúng cầu buôn may bán đắt, làm ăn phát đạt hơn năm trước. Mai đào thay thế cây nêu dịp tết nên ít gia đình làm lễ khai hạ Vài năm trở lại đây, phong tục trồng cây nêu ngày tết phai dần, các gia đình thường chơi mai, đào, quất dịp Tết. Nhiều gia đình không tiến hành dựng cây nêu cũng như không tiến hành lễ khai hạ nhưng vẫn làm lễ cúng để cầu mong may mắn cho cả năm.

Lễ khai hạ là lễ hạ cây nêu kết thúc Tết Theo tục lệ xưa, các gia đình chuẩn bị cây nêu vào dịp Tết. Cây nêu được làm từ cây tre dài 5-6m, trên ngọn treo một vòng tròn nhỏ và nhiều vật dụng tùy theo địa phương như: bó lá dứa, khung tre dán giấy màu xanh đỏ, vàng mã, câu đối... Dưới chân cây nêu có rắc vôi bột và vẽ hình cung tên. Cây nêu thường được dựng ngày 23 tháng Chạp hoặc chiều 30 tết. Cây nêu có ý nghĩa trừ tà, báo cho ma quỷ biết đất này đã có chủ không được quấy nhiễu và cầu mong năm mới bình an, vạn sự như ý. Cây nêu cũng tượng trưng cho sự uy quyền, gia đình quyền thế nhất là nhà có cây nêu cao nhất. Cây nêu tượng trưng cho sự uy quyền của chủ nhà dịp Tết Trước khi hạ cây nêu, gia chủ bày một cái bàn nhỏ ở gốc cây, phía trên để một đĩa dưa hấu, một ít hương hoa... ngụ ý báo cáo với trời đất là gia đình đã ăn Tết vui vẻ. Sau đó, chủ nhà rung cây nêu cho rụng hết lá khô rồi hạ cây nêu xuống, đem bùa nêu treo ở trước cửa chính. Những gia đình buôn bán, ngày 7 Tết sẽ làm lễ cúng cầu buôn may bán đắt, làm ăn phát đạt hơn năm trước. Mai đào thay thế cây nêu dịp tết nên ít gia đình làm lễ khai hạ Vài năm trở lại đây, phong tục trồng cây nêu ngày tết phai dần, các gia đình thường chơi mai, đào, quất dịp Tết. Nhiều gia đình không tiến hành dựng cây nêu cũng như không tiến hành lễ khai hạ nhưng vẫn làm lễ cúng để cầu mong may mắn cho cả năm.

Theo tục lệ xưa, các gia đình chuẩn bị cây nêu vào dịp Tết. Cây nêu được làm từ cây tre dài 5-6m, trên ngọn treo một vòng tròn nhỏ và nhiều vật dụng tùy theo địa phương như: bó lá dứa, khung tre dán giấy màu xanh đỏ, vàng mã, câu đối... Dưới chân cây nêu có rắc vôi bột và vẽ hình cung tên. Cây nêu thường được dựng ngày 23 tháng Chạp hoặc chiều 30 tết. Cây nêu có ý nghĩa trừ tà, báo cho ma quỷ biết đất này đã có chủ không được quấy nhiễu và cầu mong năm mới bình an, vạn sự như ý. Cây nêu cũng tượng trưng cho sự uy quyền, gia đình quyền thế nhất là nhà có cây nêu cao nhất.

Cây nêu tượng trưng cho sự uy quyền của chủ nhà dịp Tết

Trước khi hạ cây nêu, gia chủ bày một cái bàn nhỏ ở gốc cây, phía trên để một đĩa dưa hấu, một ít hương hoa... ngụ ý báo cáo với trời đất là gia đình đã ăn Tết vui vẻ. Sau đó, chủ nhà rung cây nêu cho rụng hết lá khô rồi hạ cây nêu xuống, đem bùa nêu treo ở trước cửa chính.

Những gia đình buôn bán, ngày 7 Tết sẽ làm lễ cúng cầu buôn may bán đắt, làm ăn phát đạt hơn năm trước. Mai đào thay thế cây nêu dịp tết nên ít gia đình làm lễ khai hạ Vài năm trở lại đây, phong tục trồng cây nêu ngày tết phai dần, các gia đình thường chơi mai, đào, quất dịp Tết. Nhiều gia đình không tiến hành dựng cây nêu cũng như không tiến hành lễ khai hạ nhưng vẫn làm lễ cúng để cầu mong may mắn cho cả năm.

Related Figures

Tết Nguyên Đán

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/1- 5/1 Âm lịch Tết Nguyên Đán (còn gọi là Tết Cả, Tết âm lịch, Tết cổ truyền) là Tết lớn nhất trong năm. Tết Nguyên Đán có ý nghĩa thiêng liêng, trang trọng, tiễn đưa năm cũ, chào đón năm mới. Mọi người chúc nhau sức khỏe, bình an, hạnh phúc, kinh tế khá hơn... Trong những ngày Tết, cả gia đình sum họp bên nhau, thăm hỏi người thân, mừng tuổi. Tết Nguyên Đán là dịp đoàn viên của mọi gia đình Tết Nguyên Đán được người Việt gọi là Tết Ta để phân biệt với Tết Tây (Tết dương lịch). Tết là "tiết", Nguyên là "sự khởi đầu hay sơ khai", Đán là "sáng sớm". Tết Nguyên Đán là thời điểm giao thời giữa năm cũ và năm mới, giữa chu kỳ vận hành của đất trời, vạn vật cỏ cây. Tết Nguyên Đán cũng là dịp để hướng về cội nguồn, tưởng nhớ ông bà tổ tiên. Đây là giá trị tâm linh, giá trị tình cảm sâu sắc, là truyền thống tốt đẹp của người Việt. Tết Nguyên Đán cũng là dịp đoàn viên của mọi gia đình. Mỗi độ Tết đến xuân về, dù làm bất cứ việc gì, ở bất cứ nơi đâu cũng đều mong về sum họp dưới mái ấm gia đình, khấn vái trước bàn thờ tổ tiên, thăm lại nhà thờ, thăm hỏi họ hàng. Về quê ăn tết có ý nghĩa thiêng liêng là cuộc hành hương về với cội nguồn. Xin chữ dịp Tết Nguyên Đán Ba ngày Tân niên Ngày mồng một tháng Giêng là ngày Tân niên đầu tiên và quan trọng nhất trong dịp tết. Vào sáng sớm ngày đầu tiên của năm mới, người Việt bày cỗ cúng, ăn tiệc và chúc tụng nhau. Mỗi gia đình chọn một người hợp tuổi đến xông đất. "Mồng một tết cha" mọi người tập trung bên từ đường họ nội cúng gia tiên, mừng tuổi, chúc tụng họ hàng. Ngày mồng hai tháng Giêng: các gia đình cũng lễ tại gia vào sáng sớm. "Mồng hai tết mẹ" cả gia đình sang chúc tết bên họ ngoại. Riêng đàn ông chuẩn bị lập gia đình phải đén nhà cha mẹ vợ tương lai chúc tết theo tục lệ "Đi Siêu". Ngày mồng ba tháng Giêng: học trò đồng môn rủ nhau đến chúc tết thầy dạy chữ, dạy nghề. Học trò thường mang theo chút lễ vật để tỏ tấm lòng. Hà Nội bắn pháo hoa Tết Nguyên Đán Đối với cộng đồng Công giáo Việt Nam, ba ngày đầu xuân năm mới họ thường tham dự thánh lễ ở nhà thờ. Mồng một cầu nguyện bình an cho năm mới, mồng hai cầu nguyện cho ông bà, cha mẹ và tưởng nhớ những người đã mất, mồng ba cầu nguyện thánh hóa công ăn việc làm năm mới thuận lợi. Tục hái lộc ở đền, chùa ngụ ý xin hưởng chút lộc của Thần, Phật ban cho năm mới. Cành lộc đem về cắm ở bàn thờ là những cành đa, cành đề, cành si... là những loại cây quanh năm tươi tốt. Tuy nhiên, do tâm lý mọi người đều muốn có cành lộc tốt đem về cầu may dẫn đến xô xát, tranh cướp làm hỏng cây, ảnh hưởng tới môi trường. Theo quan niệm, cứ khi Tết đến là mỗi người tăng thêm một tuổi, bởi vậy vào ngày Tết con cháu chúc thọ ông bà và các bậc cao niên. Người lớn thường tặng tiền trẻ em bỏ trong bao đỏ gọi là lì xì kèm theo lời chúc hay ăn chóng lớn, ngoan ngoãn, học giỏi. Hóa vàng được tổ chức ngày mồng 4 tháng Giêng. Người Việt làm lễ cũng tổ tiên đã về ăn Tết với con cháu, đốt nhiều vàng mã để tiền nhân về cõi âm có thêm vốn đầu năm, đăng phù hộ độ trì cho con cháu làm ăn phát đat.

Tết Nguyên Đán (còn gọi là Tết Cả, Tết âm lịch, Tết cổ truyền) là Tết lớn nhất trong năm. Tết Nguyên Đán có ý nghĩa thiêng liêng, trang trọng, tiễn đưa năm cũ, chào đón năm mới. Mọi người chúc nhau sức khỏe, bình an, hạnh phúc, kinh tế khá hơn... Trong những ngày Tết, cả gia đình sum họp bên nhau, thăm hỏi người thân, mừng tuổi.

Tết Nguyên Đán là dịp đoàn viên của mọi gia đình

Tết Nguyên Đán được người Việt gọi là Tết Ta để phân biệt với Tết Tây (Tết dương lịch). Tết là "tiết", Nguyên là "sự khởi đầu hay sơ khai", Đán là "sáng sớm". Tết Nguyên Đán là thời điểm giao thời giữa năm cũ và năm mới, giữa chu kỳ vận hành của đất trời, vạn vật cỏ cây. Tết Nguyên Đán cũng là dịp để hướng về cội nguồn, tưởng nhớ ông bà tổ tiên. Đây là giá trị tâm linh, giá trị tình cảm sâu sắc, là truyền thống tốt đẹp của người Việt.

Tết Nguyên Đán cũng là dịp đoàn viên của mọi gia đình. Mỗi độ Tết đến xuân về, dù làm bất cứ việc gì, ở bất cứ nơi đâu cũng đều mong về sum họp dưới mái ấm gia đình, khấn vái trước bàn thờ tổ tiên, thăm lại nhà thờ, thăm hỏi họ hàng. Về quê ăn tết có ý nghĩa thiêng liêng là cuộc hành hương về với cội nguồn.

Xin chữ dịp Tết Nguyên Đán

Ba ngày Tân niên

Ngày mồng một tháng Giêng là ngày Tân niên đầu tiên và quan trọng nhất trong dịp tết. Vào sáng sớm ngày đầu tiên của năm mới, người Việt bày cỗ cúng, ăn tiệc và chúc tụng nhau. Mỗi gia đình chọn một người hợp tuổi đến xông đất. "Mồng một tết cha" mọi người tập trung bên từ đường họ nội cúng gia tiên, mừng tuổi, chúc tụng họ hàng. Ngày mồng hai tháng Giêng: các gia đình cũng lễ tại gia vào sáng sớm. "Mồng hai tết mẹ" cả gia đình sang chúc tết bên họ ngoại. Riêng đàn ông chuẩn bị lập gia đình phải đén nhà cha mẹ vợ tương lai chúc tết theo tục lệ "Đi Siêu". Ngày mồng ba tháng Giêng: học trò đồng môn rủ nhau đến chúc tết thầy dạy chữ, dạy nghề. Học trò thường mang theo chút lễ vật để tỏ tấm lòng. Hà Nội bắn pháo hoa Tết Nguyên Đán Đối với cộng đồng Công giáo Việt Nam, ba ngày đầu xuân năm mới họ thường tham dự thánh lễ ở nhà thờ. Mồng một cầu nguyện bình an cho năm mới, mồng hai cầu nguyện cho ông bà, cha mẹ và tưởng nhớ những người đã mất, mồng ba cầu nguyện thánh hóa công ăn việc làm năm mới thuận lợi.

Hà Nội bắn pháo hoa Tết Nguyên Đán

Đối với cộng đồng Công giáo Việt Nam, ba ngày đầu xuân năm mới họ thường tham dự thánh lễ ở nhà thờ. Mồng một cầu nguyện bình an cho năm mới, mồng hai cầu nguyện cho ông bà, cha mẹ và tưởng nhớ những người đã mất, mồng ba cầu nguyện thánh hóa công ăn việc làm năm mới thuận lợi.

Tục hái lộc ở đền, chùa ngụ ý xin hưởng chút lộc của Thần, Phật ban cho năm mới. Cành lộc đem về cắm ở bàn thờ là những cành đa, cành đề, cành si... là những loại cây quanh năm tươi tốt. Tuy nhiên, do tâm lý mọi người đều muốn có cành lộc tốt đem về cầu may dẫn đến xô xát, tranh cướp làm hỏng cây, ảnh hưởng tới môi trường.

Theo quan niệm, cứ khi Tết đến là mỗi người tăng thêm một tuổi, bởi vậy vào ngày Tết con cháu chúc thọ ông bà và các bậc cao niên. Người lớn thường tặng tiền trẻ em bỏ trong bao đỏ gọi là lì xì kèm theo lời chúc hay ăn chóng lớn, ngoan ngoãn, học giỏi.

Hóa vàng được tổ chức ngày mồng 4 tháng Giêng. Người Việt làm lễ cũng tổ tiên đã về ăn Tết với con cháu, đốt nhiều vàng mã để tiền nhân về cõi âm có thêm vốn đầu năm, đăng phù hộ độ trì cho con cháu làm ăn phát đat.

Related Figures

Ý nghĩa ngày Tết Trùng Thập

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/10 Âm lịch Tết Trùng Thập (Tết Song Thập) diễn ra ngày 10/10 âm lịch hàng năm, còn được gọi là tết của thầy thuốc; cũng có nơi tổ chức Tết cơm mới tháng mười (Tết Thường Tân) để tưởng nhớ Tiên Nông, mừng được mùa. Hai dịp lễ này thường được nhắc đến cùng nhau bởi cùng diễn ra vào một ngày. Tết Trùng Thập (hay còn gọi là Tết Song Thập) vì nó diễn ra ngày 10 tháng 10 âm lịch, trong tiếng Hán 10 là "thập". Tết Trùng Thập là ngày tết của thầy thuốc Theo sách Dược lễ thì ngày 10/10 âm lịch, cây thuộc hội tụ được khí âm dương, kết được sắc tứ thời (Xuân, Hạ, Thu, Đông), là cây thuốc tốt nhất. Chính vì vậy, thầy thuốc rất coi trọng tết này. Các thầy thuốc tổ chức tết này cũng là để khoản đãi các đệ tử và khách hàng. Ông Đồng, bà Cốt làm lễ linh đình trong dịp này cầu mong có dược liệu tốt nhất, mát tay trị khỏi bệnh cho nhân dân thập phương. Cho tới nay, ít người biết tới ngày tết này bởi lẽ ngành y, bác sĩ... lấy ngày 27/2 là kỷ niệm ngày thầy thuốc Việt Nam. Một số nơi tổ chức Tết Trùng Thập mừng được mùa Đối với một số vùng nông thôn, các gia đình lấy gạo mới làm bánh giầy, thổi cơm, chè kho... thành tâm cầu cúng gia tiên, thần, Phật mừng được mùa. Tết này nôm na là Tết Cơm mới, Tết Thường Tân. Người dân làm bánh giầy lễ Tết Trùng Thập Ngày nay, những tập tục dân gian không còn phổ biến trong xã hội hiện đại, những lễ tết ít được xem trọng hơn nên một số nơi chọn cách tổ chức Tết Cơm mới tháng mười kết hợp ngày tết Trùng Thập, lễ Hạ Nguyên (Rằm tháng mười) làm một vì cùng diễn ra trong tháng 10.

Tết Trùng Thập (hay còn gọi là Tết Song Thập) vì nó diễn ra ngày 10 tháng 10 âm lịch, trong tiếng Hán 10 là "thập".

Tết Trùng Thập là ngày tết của thầy thuốc Theo sách Dược lễ thì ngày 10/10 âm lịch, cây thuộc hội tụ được khí âm dương, kết được sắc tứ thời (Xuân, Hạ, Thu, Đông), là cây thuốc tốt nhất. Chính vì vậy, thầy thuốc rất coi trọng tết này. Các thầy thuốc tổ chức tết này cũng là để khoản đãi các đệ tử và khách hàng. Ông Đồng, bà Cốt làm lễ linh đình trong dịp này cầu mong có dược liệu tốt nhất, mát tay trị khỏi bệnh cho nhân dân thập phương. Cho tới nay, ít người biết tới ngày tết này bởi lẽ ngành y, bác sĩ... lấy ngày 27/2 là kỷ niệm ngày thầy thuốc Việt Nam. Một số nơi tổ chức Tết Trùng Thập mừng được mùa Đối với một số vùng nông thôn, các gia đình lấy gạo mới làm bánh giầy, thổi cơm, chè kho... thành tâm cầu cúng gia tiên, thần, Phật mừng được mùa. Tết này nôm na là Tết Cơm mới, Tết Thường Tân. Người dân làm bánh giầy lễ Tết Trùng Thập Ngày nay, những tập tục dân gian không còn phổ biến trong xã hội hiện đại, những lễ tết ít được xem trọng hơn nên một số nơi chọn cách tổ chức Tết Cơm mới tháng mười kết hợp ngày tết Trùng Thập, lễ Hạ Nguyên (Rằm tháng mười) làm một vì cùng diễn ra trong tháng 10.

Tết Trùng Thập là ngày tết của thầy thuốc Theo sách Dược lễ thì ngày 10/10 âm lịch, cây thuộc hội tụ được khí âm dương, kết được sắc tứ thời (Xuân, Hạ, Thu, Đông), là cây thuốc tốt nhất. Chính vì vậy, thầy thuốc rất coi trọng tết này. Các thầy thuốc tổ chức tết này cũng là để khoản đãi các đệ tử và khách hàng. Ông Đồng, bà Cốt làm lễ linh đình trong dịp này cầu mong có dược liệu tốt nhất, mát tay trị khỏi bệnh cho nhân dân thập phương. Cho tới nay, ít người biết tới ngày tết này bởi lẽ ngành y, bác sĩ... lấy ngày 27/2 là kỷ niệm ngày thầy thuốc Việt Nam. Một số nơi tổ chức Tết Trùng Thập mừng được mùa Đối với một số vùng nông thôn, các gia đình lấy gạo mới làm bánh giầy, thổi cơm, chè kho... thành tâm cầu cúng gia tiên, thần, Phật mừng được mùa. Tết này nôm na là Tết Cơm mới, Tết Thường Tân. Người dân làm bánh giầy lễ Tết Trùng Thập Ngày nay, những tập tục dân gian không còn phổ biến trong xã hội hiện đại, những lễ tết ít được xem trọng hơn nên một số nơi chọn cách tổ chức Tết Cơm mới tháng mười kết hợp ngày tết Trùng Thập, lễ Hạ Nguyên (Rằm tháng mười) làm một vì cùng diễn ra trong tháng 10.

Theo sách Dược lễ thì ngày 10/10 âm lịch, cây thuộc hội tụ được khí âm dương, kết được sắc tứ thời (Xuân, Hạ, Thu, Đông), là cây thuốc tốt nhất. Chính vì vậy, thầy thuốc rất coi trọng tết này. Các thầy thuốc tổ chức tết này cũng là để khoản đãi các đệ tử và khách hàng. Ông Đồng, bà Cốt làm lễ linh đình trong dịp này cầu mong có dược liệu tốt nhất, mát tay trị khỏi bệnh cho nhân dân thập phương. Cho tới nay, ít người biết tới ngày tết này bởi lẽ ngành y, bác sĩ... lấy ngày 27/2 là kỷ niệm ngày thầy thuốc Việt Nam.

Một số nơi tổ chức Tết Trùng Thập mừng được mùa

Đối với một số vùng nông thôn, các gia đình lấy gạo mới làm bánh giầy, thổi cơm, chè kho... thành tâm cầu cúng gia tiên, thần, Phật mừng được mùa. Tết này nôm na là Tết Cơm mới, Tết Thường Tân.

Người dân làm bánh giầy lễ Tết Trùng Thập

Ngày nay, những tập tục dân gian không còn phổ biến trong xã hội hiện đại, những lễ tết ít được xem trọng hơn nên một số nơi chọn cách tổ chức Tết Cơm mới tháng mười kết hợp ngày tết Trùng Thập, lễ Hạ Nguyên (Rằm tháng mười) làm một vì cùng diễn ra trong tháng 10.

Related Figures

Hội Cổ Bôn

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 20/1 Âm lịch Hội Cổ Bôn ở Thanh Hóa được tổ chức vào ngày 20 tháng Giêng âm lịch hàng năm, tại xã Đông Thanh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Làng Cổ Bôn còn có tên gọi khác là làng Kẻ Bôn. Ngôi làng này thờ bốn vị thành hoàng là Thánh Cả, Thánh Phúc, thánh Hẹ, và Thánh Quỳnh. Trong đó, Thánh Cả có hiệu là Đế Thích, là vua đánh cờ, có biểu tượng là khúc gỗ linh thiêng. Thánh Quỳnh được là biểu trưng là "Con cáo luôm thôm". Thánh Hẹ là Đặng quận công Nguyễn Khải. Thánh Phúc là một người mồ côi cha mẹ. Hội Cổ Bôn là dịp người dân làng Cổ Bôn tưởng nhớ và suy tôn 4 vị thánh hoàng làng Hàng năm, cứ đến ngày 20 tháng Giêng, làng Cổ Bôn là tưng bừng mở hội. Trong dịp lễ hội, các thông sẽ thực hiện lễ rước thánh hoàng về sinh Bôn để sự hội làng. Theo tục lễ cỗ cúng ở hội Cổ Bôn rất to, phải có bánh chưng to làm bằng cái mẹt, bánh đầu tằm. Bánh phải được luộc trong một cái vạc, mỗi mạc chỉ được luộc tối đa hai cái. Trong phần hội của lễ hội Cổ Bôn có các trò chơi dân gian của người dân nơi đây, đó là trò Bôn gồm 5 trò là trò tiện cuộc, trò Ngô, trò Hòa Lan, trò thủy, trò lăng ba khúc. Trò bôn được các quan viên trong làng qui định luật chơi, tùy theo tình hình năm mở hội. Nếu định chữ "Thượng" thì làng sẽ tổ chức đánh ờ - đám, còn nếu định chữ "Trung" thì kéo trò Bôn, còn chữ "Hạ" thì sẽ làm cỗ "bò sống, lợn sống. Lễ rước thánh hoàng làng về sinh Bôn Ngày nay, hội Cổ Bôn đã trở thành một lễ hội không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người dân xã Đông Thanh, Thanh Hóa. Nơi đây là nơi giao lưu văn hóa, văn nghệ, là nơi gặp gỡ của trai thanh gái tú, là nơi khách xem hội được thưởng thức các nét đẹp văn hóa của người dân làng Cổ Bôn, để ôn lại những truyền thống vốn có của người dân Việt.

Hội Cổ Bôn là dịp người dân làng Cổ Bôn tưởng nhớ và suy tôn 4 vị thánh hoàng làng Hàng năm, cứ đến ngày 20 tháng Giêng, làng Cổ Bôn là tưng bừng mở hội. Trong dịp lễ hội, các thông sẽ thực hiện lễ rước thánh hoàng về sinh Bôn để sự hội làng. Theo tục lễ cỗ cúng ở hội Cổ Bôn rất to, phải có bánh chưng to làm bằng cái mẹt, bánh đầu tằm. Bánh phải được luộc trong một cái vạc, mỗi mạc chỉ được luộc tối đa hai cái. Trong phần hội của lễ hội Cổ Bôn có các trò chơi dân gian của người dân nơi đây, đó là trò Bôn gồm 5 trò là trò tiện cuộc, trò Ngô, trò Hòa Lan, trò thủy, trò lăng ba khúc. Trò bôn được các quan viên trong làng qui định luật chơi, tùy theo tình hình năm mở hội. Nếu định chữ "Thượng" thì làng sẽ tổ chức đánh ờ - đám, còn nếu định chữ "Trung" thì kéo trò Bôn, còn chữ "Hạ" thì sẽ làm cỗ "bò sống, lợn sống. Lễ rước thánh hoàng làng về sinh Bôn Ngày nay, hội Cổ Bôn đã trở thành một lễ hội không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người dân xã Đông Thanh, Thanh Hóa. Nơi đây là nơi giao lưu văn hóa, văn nghệ, là nơi gặp gỡ của trai thanh gái tú, là nơi khách xem hội được thưởng thức các nét đẹp văn hóa của người dân làng Cổ Bôn, để ôn lại những truyền thống vốn có của người dân Việt.

Hàng năm, cứ đến ngày 20 tháng Giêng, làng Cổ Bôn là tưng bừng mở hội. Trong dịp lễ hội, các thông sẽ thực hiện lễ rước thánh hoàng về sinh Bôn để sự hội làng. Theo tục lễ cỗ cúng ở hội Cổ Bôn rất to, phải có bánh chưng to làm bằng cái mẹt, bánh đầu tằm. Bánh phải được luộc trong một cái vạc, mỗi mạc chỉ được luộc tối đa hai cái.

Trong phần hội của lễ hội Cổ Bôn có các trò chơi dân gian của người dân nơi đây, đó là trò Bôn gồm 5 trò là trò tiện cuộc, trò Ngô, trò Hòa Lan, trò thủy, trò lăng ba khúc. Trò bôn được các quan viên trong làng qui định luật chơi, tùy theo tình hình năm mở hội. Nếu định chữ "Thượng" thì làng sẽ tổ chức đánh ờ - đám, còn nếu định chữ "Trung" thì kéo trò Bôn, còn chữ "Hạ" thì sẽ làm cỗ "bò sống, lợn sống.

Lễ rước thánh hoàng làng về sinh Bôn

Ngày nay, hội Cổ Bôn đã trở thành một lễ hội không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người dân xã Đông Thanh, Thanh Hóa. Nơi đây là nơi giao lưu văn hóa, văn nghệ, là nơi gặp gỡ của trai thanh gái tú, là nơi khách xem hội được thưởng thức các nét đẹp văn hóa của người dân làng Cổ Bôn, để ôn lại những truyền thống vốn có của người dân Việt.

Related Figures

Lễ hội Hàn Sơn

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 12/6 Âm lịch Lễ hội Hàn Sơn ở Thanh Hóa thường được tổ chức vào tháng 6 âm lịch hàng năm, ngày chính hội là ngày 12/06. Nơi thờ cô Ba Thoải Đền Hàn là một di tích tọa lạc trên vùng đất của xã Hà Sơn, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, là nơi hội tụ của 4 di tích gồm: Đền Đức Ông là nơi thờ Thái Úy Lê Thọ Vực, Đền cây Thị còn gọi là Đền Trình, Đền chúa ngự hay còn gọi là đền thờ Mẫu, và đền Bông tức là đền Cô Ba Thoải hay đền Cô Bơ. Cả 4 di tích đền này đều thuộc không gian văn hóa của lễ hội đền Hàn. Đây cũng chính là không gian của một vùng đất cổ đã có bề dày lịch sử sinh động. Khách hành hương ngồi cầu niệm trước điện Sau khi đất nước hòa bình, vì có những nhận thức ấu trĩ về việc bài trừ mê tín dị đoan nên toàn bộ kiến trúc cổ trên núi Hàn đã bị phá bỏ một cách đáng tiếc. Nhưng người dân nơi đây và du khách thập phương vì có khát vọng về một nét đẹp văn hóa tâm linh nên đã góp công, góp của để phục dựng lại ngôi đền Hàn xưa kia. Từ năm 2008, xã Hà Sơn- huyện Hà Trung đã xây dựng hệ thống đền Bông với chi phí ước tính gần 10 tỷ đồng, trong đó nhà chính điện đã có trị giá trên 7 tỷ đồng. Trong điện thờ xếp đầy mâm lễ vật Năm 2014, bước vào mùa lễ hội, UBND xã Hà Sơn đã xây dựng kế hoạch tổ chức lễ hội Hà Sơn. Từ đầu tháng 6 âm lịch, khách hành hương gần xa đã hội tụ về đây để thỉnh cầu cô Bơ tức cô Ba Thoải, để được che chở, phù hộ. Cô Ba Thoải là hiện thân của một anh hùng văn hóa bà chúa nước mà người dân Việt vẫn thường gọi là mẫu thoải tức mẹ nước, hay mẫu địa tức mẹ đất.... Trpng những ngày lễ hội, ngày cuối cùng là ngày rước lớn nhất. Lễ rước được diễn ra ở khu vực đền Bông. Trong ngày hội còn có những cuộc đua thuyền hết sức sôi động trên sông Hàn Sơn. Khách xem hội ngồi phà lên đền xem hội Hàng năm, cứ đến ngày mở hội Hàn Sơn, người dân trong vùng và du khách thập phương lại nô nức kéo nhau về đây xem hội. Họ cùng dâng hương để cầu những điêu may mắn trong cuộc sống, và được tham gia các hoạt động văn hóa trong ngày hội.

Nơi thờ cô Ba Thoải Đền Hàn là một di tích tọa lạc trên vùng đất của xã Hà Sơn, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, là nơi hội tụ của 4 di tích gồm: Đền Đức Ông là nơi thờ Thái Úy Lê Thọ Vực, Đền cây Thị còn gọi là Đền Trình, Đền chúa ngự hay còn gọi là đền thờ Mẫu, và đền Bông tức là đền Cô Ba Thoải hay đền Cô Bơ. Cả 4 di tích đền này đều thuộc không gian văn hóa của lễ hội đền Hàn. Đây cũng chính là không gian của một vùng đất cổ đã có bề dày lịch sử sinh động. Khách hành hương ngồi cầu niệm trước điện Sau khi đất nước hòa bình, vì có những nhận thức ấu trĩ về việc bài trừ mê tín dị đoan nên toàn bộ kiến trúc cổ trên núi Hàn đã bị phá bỏ một cách đáng tiếc. Nhưng người dân nơi đây và du khách thập phương vì có khát vọng về một nét đẹp văn hóa tâm linh nên đã góp công, góp của để phục dựng lại ngôi đền Hàn xưa kia. Từ năm 2008, xã Hà Sơn- huyện Hà Trung đã xây dựng hệ thống đền Bông với chi phí ước tính gần 10 tỷ đồng, trong đó nhà chính điện đã có trị giá trên 7 tỷ đồng. Trong điện thờ xếp đầy mâm lễ vật Năm 2014, bước vào mùa lễ hội, UBND xã Hà Sơn đã xây dựng kế hoạch tổ chức lễ hội Hà Sơn. Từ đầu tháng 6 âm lịch, khách hành hương gần xa đã hội tụ về đây để thỉnh cầu cô Bơ tức cô Ba Thoải, để được che chở, phù hộ. Cô Ba Thoải là hiện thân của một anh hùng văn hóa bà chúa nước mà người dân Việt vẫn thường gọi là mẫu thoải tức mẹ nước, hay mẫu địa tức mẹ đất.... Trpng những ngày lễ hội, ngày cuối cùng là ngày rước lớn nhất. Lễ rước được diễn ra ở khu vực đền Bông. Trong ngày hội còn có những cuộc đua thuyền hết sức sôi động trên sông Hàn Sơn. Khách xem hội ngồi phà lên đền xem hội Hàng năm, cứ đến ngày mở hội Hàn Sơn, người dân trong vùng và du khách thập phương lại nô nức kéo nhau về đây xem hội. Họ cùng dâng hương để cầu những điêu may mắn trong cuộc sống, và được tham gia các hoạt động văn hóa trong ngày hội.

Đền Hàn là một di tích tọa lạc trên vùng đất của xã Hà Sơn, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, là nơi hội tụ của 4 di tích gồm: Đền Đức Ông là nơi thờ Thái Úy Lê Thọ Vực, Đền cây Thị còn gọi là Đền Trình, Đền chúa ngự hay còn gọi là đền thờ Mẫu, và đền Bông tức là đền Cô Ba Thoải hay đền Cô Bơ. Cả 4 di tích đền này đều thuộc không gian văn hóa của lễ hội đền Hàn. Đây cũng chính là không gian của một vùng đất cổ đã có bề dày lịch sử sinh động.

Khách hành hương ngồi cầu niệm trước điện

Sau khi đất nước hòa bình, vì có những nhận thức ấu trĩ về việc bài trừ mê tín dị đoan nên toàn bộ kiến trúc cổ trên núi Hàn đã bị phá bỏ một cách đáng tiếc. Nhưng người dân nơi đây và du khách thập phương vì có khát vọng về một nét đẹp văn hóa tâm linh nên đã góp công, góp của để phục dựng lại ngôi đền Hàn xưa kia. Từ năm 2008, xã Hà Sơn- huyện Hà Trung đã xây dựng hệ thống đền Bông với chi phí ước tính gần 10 tỷ đồng, trong đó nhà chính điện đã có trị giá trên 7 tỷ đồng.

Trong điện thờ xếp đầy mâm lễ vật

Năm 2014, bước vào mùa lễ hội, UBND xã Hà Sơn đã xây dựng kế hoạch tổ chức lễ hội Hà Sơn. Từ đầu tháng 6 âm lịch, khách hành hương gần xa đã hội tụ về đây để thỉnh cầu cô Bơ tức cô Ba Thoải, để được che chở, phù hộ. Cô Ba Thoải là hiện thân của một anh hùng văn hóa bà chúa nước mà người dân Việt vẫn thường gọi là mẫu thoải tức mẹ nước, hay mẫu địa tức mẹ đất....

Trpng những ngày lễ hội, ngày cuối cùng là ngày rước lớn nhất. Lễ rước được diễn ra ở khu vực đền Bông. Trong ngày hội còn có những cuộc đua thuyền hết sức sôi động trên sông Hàn Sơn.

Khách xem hội ngồi phà lên đền xem hội

Hàng năm, cứ đến ngày mở hội Hàn Sơn, người dân trong vùng và du khách thập phương lại nô nức kéo nhau về đây xem hội. Họ cùng dâng hương để cầu những điêu may mắn trong cuộc sống, và được tham gia các hoạt động văn hóa trong ngày hội.

Related Figures

Hội đền Khả Lâm

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 3/6 Âm lịch Hội đền Khả Lâm (Kha Lãm) diễn ra ngày 3/6 âm lịch hàng năm tại Kha Lâm, xã Nam Sơn, huyện Kiến An, tỉnh Hải Phòng. Hội đền Khả Lâm là dịp để tưởng nhớ công ơn của công chúa Chiêu Chinh con gái vua Trần Thánh Tông. Đông đảo người dân tham gia hội đền Khả Lâm Theo truyền thuyết, công chúa Chiêu Chinh là người có công xây cầu, mở chợ, giúp đỡ người có hoàn cảnh khó khăn, quyên toàn bộ ruộng vườn cho dân. Công chúa Chiêu Chinh (1258-1314) tên thật là Trần Thị Hinh, là con thứ 6 của vua Trần Thánh Tông, mẹ lầ Trần Thị Khương. Bà là người văn võ song toàn, được thân vương Trần Nhật Duật dạy chữ, tướng quân Trần Quang Khải dạy võ từ nhỏ. Khi quân Nguyên Mông xâm lược nước ta, công chúa Chiêu Chinh về quê mẹ tại Kha Lâm chiêu mộ quân đánh giặc. Chồng của bà là Đỗ Khắc Hàn hy sinh trong cuộc chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược. Sau này, công chúa Chiêu Chinh có công xây dựng, tu bổ chùa chiền, mở mang ruộng đất, giúp đỡ đời sống nhân dân. Ngày 3/6 năm Giáp Dần, bà qua đời ở tuổi 56. Người dân nơi đây làm lễ an táng tại chùa Kha Lâm. 3 năm sau, hài cốt của bà được đưa về lăng Bảo Đức. Vua Trần Anh Tông phong tặng công chúa Chiêu Chinh 8 chữ: "Phương dung, ý đức, tế thế, an dân". Hội đền Khả Lâm là lễ hội lớn tại Hải Phòng Tham dự hội đền Khả Lâm, du khách sẽ được hòa mình vào không khí lễ và hội vô cùng đặc sắc. Huyện Kiến An nơi diễn ra hội đền Khả Lâm Phần lễ gồm lễ dâng hương, tưởng niệm, tụng kinh, cầu siêu... Phần hội bao gồm nhiều trò chơi dân gian sôi nổi và hấp dẫn như: chọi gà, đấu vật, đánh cờ người...

Đông đảo người dân tham gia hội đền Khả Lâm Theo truyền thuyết, công chúa Chiêu Chinh là người có công xây cầu, mở chợ, giúp đỡ người có hoàn cảnh khó khăn, quyên toàn bộ ruộng vườn cho dân. Công chúa Chiêu Chinh (1258-1314) tên thật là Trần Thị Hinh, là con thứ 6 của vua Trần Thánh Tông, mẹ lầ Trần Thị Khương. Bà là người văn võ song toàn, được thân vương Trần Nhật Duật dạy chữ, tướng quân Trần Quang Khải dạy võ từ nhỏ. Khi quân Nguyên Mông xâm lược nước ta, công chúa Chiêu Chinh về quê mẹ tại Kha Lâm chiêu mộ quân đánh giặc. Chồng của bà là Đỗ Khắc Hàn hy sinh trong cuộc chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược. Sau này, công chúa Chiêu Chinh có công xây dựng, tu bổ chùa chiền, mở mang ruộng đất, giúp đỡ đời sống nhân dân. Ngày 3/6 năm Giáp Dần, bà qua đời ở tuổi 56. Người dân nơi đây làm lễ an táng tại chùa Kha Lâm. 3 năm sau, hài cốt của bà được đưa về lăng Bảo Đức. Vua Trần Anh Tông phong tặng công chúa Chiêu Chinh 8 chữ: "Phương dung, ý đức, tế thế, an dân". Hội đền Khả Lâm là lễ hội lớn tại Hải Phòng Tham dự hội đền Khả Lâm, du khách sẽ được hòa mình vào không khí lễ và hội vô cùng đặc sắc. Huyện Kiến An nơi diễn ra hội đền Khả Lâm Phần lễ gồm lễ dâng hương, tưởng niệm, tụng kinh, cầu siêu... Phần hội bao gồm nhiều trò chơi dân gian sôi nổi và hấp dẫn như: chọi gà, đấu vật, đánh cờ người...

Theo truyền thuyết, công chúa Chiêu Chinh là người có công xây cầu, mở chợ, giúp đỡ người có hoàn cảnh khó khăn, quyên toàn bộ ruộng vườn cho dân. Công chúa Chiêu Chinh (1258-1314) tên thật là Trần Thị Hinh, là con thứ 6 của vua Trần Thánh Tông, mẹ lầ Trần Thị Khương. Bà là người văn võ song toàn, được thân vương Trần Nhật Duật dạy chữ, tướng quân Trần Quang Khải dạy võ từ nhỏ. Khi quân Nguyên Mông xâm lược nước ta, công chúa Chiêu Chinh về quê mẹ tại Kha Lâm chiêu mộ quân đánh giặc.

Chồng của bà là Đỗ Khắc Hàn hy sinh trong cuộc chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược. Sau này, công chúa Chiêu Chinh có công xây dựng, tu bổ chùa chiền, mở mang ruộng đất, giúp đỡ đời sống nhân dân. Ngày 3/6 năm Giáp Dần, bà qua đời ở tuổi 56. Người dân nơi đây làm lễ an táng tại chùa Kha Lâm. 3 năm sau, hài cốt của bà được đưa về lăng Bảo Đức. Vua Trần Anh Tông phong tặng công chúa Chiêu Chinh 8 chữ: "Phương dung, ý đức, tế thế, an dân".

Hội đền Khả Lâm là lễ hội lớn tại Hải Phòng

Tham dự hội đền Khả Lâm, du khách sẽ được hòa mình vào không khí lễ và hội vô cùng đặc sắc.

Huyện Kiến An nơi diễn ra hội đền Khả Lâm

Phần lễ gồm lễ dâng hương, tưởng niệm, tụng kinh, cầu siêu... Phần hội bao gồm nhiều trò chơi dân gian sôi nổi và hấp dẫn như: chọi gà, đấu vật, đánh cờ người...

Related Figures

Hội làng Nhị Khê

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 25/10 Âm lịch Lễ hội làng Nhị Khê diễn ra ngày 25 tháng 10 âm lịch hàng năm tại làng Nhị Khê, huyện Thường Tín, Hà Nội. Hội làng Nhị Khê là dịp tưởng nhớ công ơn của ông tổ nghề tiện - nghề truyền thống của làng là Đoàn Tài. Hội làng Nhị Khê được tổ chức long trọng Làng Nhị Khê có tên Nôm là làng Dũi, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Thượng. Làng Nhị Khê là ngôi làng cổ ở phía nam kinh thành Thăng Long xưa. Làng có truyền thống văn hóa lâu đời, mảnh đất văn hiến, khoa bảng với nhiều nhân vật nổi tiếng như: Nguyễn Phi Khanh, Dương Bá Cung, Lương Văn Can, Lương Ngọc Quyến, danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi. Trải qua bao thăng trầm lịch sử, Nhị Khê ngày nay vẫn giữ được tinh hoa của một làng nghề cổ đất Hà thành. Nhị Khê nổi tiếng với nghề tiện Làng Nhị Khê nổi tiếng với nghề tiện truyền thống, chuyên cung cấp những sản phẩm tiện bằng gỗ vô cùng tinh xảo cho thị trường cả nước. Du khách tới thăm làng Nhị Khê đâu đâu cũng nghe tiếng lách cách, tiếng máy tiện gỗ râm ran. Ngày nay, những sản phẩm của làng Nhị Khê không chỉ được ưa chuộng trong nước mà còn xuất khẩu ra nhiều nước trên thế giới. Hội làng Nhị Khê để tưởng nhớ ông tổ nghề tiện gỗ Vào ngày hội, thợ tiện khắp nơi kéo về làng tham dự lễ giỗ tổ rất đông. Tương truyền, dưới thời Vua Lê Chúa Trịnh, một người tên Đoàn Tài từ nơi khác tới truyền nghề tiện cho dân làng. Từ đó, dân làng suy tôn ông là tổ nghề tiện Nhị Khê và tổ chức hội làng vào ngày giỗ của ông 25/10 để tưởng nhớ công ơn. Trong ngày hội, dan làng tổ chức lễ tế tổ, cúng tế, dâng lễ vật lên tổ sư. Sau phần lễ là phần hội có đánh cờ, hát chèo...

Hội làng Nhị Khê được tổ chức long trọng Làng Nhị Khê có tên Nôm là làng Dũi, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Thượng. Làng Nhị Khê là ngôi làng cổ ở phía nam kinh thành Thăng Long xưa. Làng có truyền thống văn hóa lâu đời, mảnh đất văn hiến, khoa bảng với nhiều nhân vật nổi tiếng như: Nguyễn Phi Khanh, Dương Bá Cung, Lương Văn Can, Lương Ngọc Quyến, danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi. Trải qua bao thăng trầm lịch sử, Nhị Khê ngày nay vẫn giữ được tinh hoa của một làng nghề cổ đất Hà thành. Nhị Khê nổi tiếng với nghề tiện Làng Nhị Khê nổi tiếng với nghề tiện truyền thống, chuyên cung cấp những sản phẩm tiện bằng gỗ vô cùng tinh xảo cho thị trường cả nước. Du khách tới thăm làng Nhị Khê đâu đâu cũng nghe tiếng lách cách, tiếng máy tiện gỗ râm ran. Ngày nay, những sản phẩm của làng Nhị Khê không chỉ được ưa chuộng trong nước mà còn xuất khẩu ra nhiều nước trên thế giới. Hội làng Nhị Khê để tưởng nhớ ông tổ nghề tiện gỗ Vào ngày hội, thợ tiện khắp nơi kéo về làng tham dự lễ giỗ tổ rất đông. Tương truyền, dưới thời Vua Lê Chúa Trịnh, một người tên Đoàn Tài từ nơi khác tới truyền nghề tiện cho dân làng. Từ đó, dân làng suy tôn ông là tổ nghề tiện Nhị Khê và tổ chức hội làng vào ngày giỗ của ông 25/10 để tưởng nhớ công ơn. Trong ngày hội, dan làng tổ chức lễ tế tổ, cúng tế, dâng lễ vật lên tổ sư. Sau phần lễ là phần hội có đánh cờ, hát chèo...

Làng Nhị Khê có tên Nôm là làng Dũi, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Thượng. Làng Nhị Khê là ngôi làng cổ ở phía nam kinh thành Thăng Long xưa. Làng có truyền thống văn hóa lâu đời, mảnh đất văn hiến, khoa bảng với nhiều nhân vật nổi tiếng như: Nguyễn Phi Khanh, Dương Bá Cung, Lương Văn Can, Lương Ngọc Quyến, danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi. Trải qua bao thăng trầm lịch sử, Nhị Khê ngày nay vẫn giữ được tinh hoa của một làng nghề cổ đất Hà thành.

Nhị Khê nổi tiếng với nghề tiện

Làng Nhị Khê nổi tiếng với nghề tiện truyền thống, chuyên cung cấp những sản phẩm tiện bằng gỗ vô cùng tinh xảo cho thị trường cả nước. Du khách tới thăm làng Nhị Khê đâu đâu cũng nghe tiếng lách cách, tiếng máy tiện gỗ râm ran. Ngày nay, những sản phẩm của làng Nhị Khê không chỉ được ưa chuộng trong nước mà còn xuất khẩu ra nhiều nước trên thế giới.

Hội làng Nhị Khê để tưởng nhớ ông tổ nghề tiện gỗ

Vào ngày hội, thợ tiện khắp nơi kéo về làng tham dự lễ giỗ tổ rất đông. Tương truyền, dưới thời Vua Lê Chúa Trịnh, một người tên Đoàn Tài từ nơi khác tới truyền nghề tiện cho dân làng. Từ đó, dân làng suy tôn ông là tổ nghề tiện Nhị Khê và tổ chức hội làng vào ngày giỗ của ông 25/10 để tưởng nhớ công ơn. Trong ngày hội, dan làng tổ chức lễ tế tổ, cúng tế, dâng lễ vật lên tổ sư. Sau phần lễ là phần hội có đánh cờ, hát chèo...

Related Figures

Lễ vía bà Phi Yến

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 17/10- 18/10 Âm lịch Lễ giỗ bà Phi Yến được tổ chức ngày 17-18/10 âm lịch hàng năm. Lễ giỗ bà là hoạt động văn hóa có ý nghĩa đặc biệt với người dân Côn Đảo. Theo truyền thuyết, bà Phi Yến là người phụ nữ trung trinh tiết liệt, dám can ngăn chồng "cõng rắn cắn gà nhà" bán nước cầu vinh. Miếu thờ bà Phi Yến tại Côn Đảo Người dân Côn Đảo xem bà Phi Yến như một vị thần phò trợ cho cuộc sống của họ, tổ chức lễ giỗ bà vào trung tuần tháng 10 âm lịch. Lễ giỗ bà Phi Yến bắt đầu từ đêm 17/10 âm lịch, ban tổ chức chuẩn bị các loại hoa quả, xôi, chè... để làm lễ. Người dân Côn Đảo đến miếu dâng lễ vật, thành câm cầu xin những điều tốt lành, quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, gia đình hạnh phúc. Lễ vía bà Phi Yến được tổ chức trang nghiêm Các hoạt động văn nghệ, trò chơi được tổ chức tại đây, đặc biệt là đờn ca tài tử sẽ diễn ra suốt đêm. Vào 9h ngày 18/10, lễ giỗ bà Phi Yến chính thức bắt đầu. Từng mâm lễ vật được chuẩn bị trước được những người dâng lễ đội lên đầu xếp thành hàng. Chủ lễ đọc văn khấn trong làn khói hương, nền nhạc lễ lúc réo rắt khi trầm buồn, trong không khí trang nghiêm, long trọng. Sau phần lễ, nhân dân và du khách thập phương tham dự sẽ được thưởng thức những món ăn chay do bà con nơi đây chuẩn bị. Miếu thờ bà Phi Yến nơi tổ chức lễ giỗ Miếu An Sơn nơi thờ thứ phi Phi Yến được xây đựng vào năm 1785. Thứ phi của Nguyễn Ánh không được ghi chép trong sử sách, là nhân vật nhuốm màu sắc huyền ảo. Theo truyền thuyết địa phương kể rằng, bà Phi Yến là vợ thứ của Nguyễn Ánh tên là Lê Thị Răm. Bà có con là hoàng tử Hội An, thường gọi là hoàng tử Cải. Vì thất bại liên tục trước Tây Sơn, Nguyễn Ánh có ý định gửi hoàng tử Cải cùng Bá Đa Lộc sang Pháp cầu viện. Bà Phi Yến thấy vậy can ngăn Nguyễn Ánh đừng cõng rắn cắn gà nhà. Nguyễn Ánh nổi trận lôi đình, cho rằng bà có ý định thông đồng với nghĩa quân Tây Sơn định chém đầu bà nhưng được cận thần can ngăn nên thoát chết. Bà Phi Yến phải chịu số phận bi thảm, bị giam cầm trong hang đá chỉ có con vượn bạch theo hầu. Khi nghe tin quân Tây Sơn sắp tràn đến, Nguyễn Ánh cùng đoàn tùy tùng xuống thuyền trốn ra Phú Quốc. Hoàng tử Cải khóc thét khi không thấy mẹ. Nguyễn Ánh tự tay ném hoàng tử 4 tuổi xuống biển. Xác hoàng tử trôi dạt vào bãi biển Cỏ Ống, được dân làng chôn cất, lập miếu thờ gọi là miếu Cậu. Bà Phi Yến trở về trông nom mộ của hoàng tử. Thương cảm với nỗi mất mát quá lớn của bà, người dân trên đảo có câu hát: "Gió đưa cây CẢI về trời. Rau RĂM ở lại chịu đời đắng cay". Miếu thờ bà Phi Yến và miếu Cậu được xem là lớn là linh thiêng tại Côn Đảo.

Miếu thờ bà Phi Yến tại Côn Đảo Người dân Côn Đảo xem bà Phi Yến như một vị thần phò trợ cho cuộc sống của họ, tổ chức lễ giỗ bà vào trung tuần tháng 10 âm lịch. Lễ giỗ bà Phi Yến bắt đầu từ đêm 17/10 âm lịch, ban tổ chức chuẩn bị các loại hoa quả, xôi, chè... để làm lễ. Người dân Côn Đảo đến miếu dâng lễ vật, thành câm cầu xin những điều tốt lành, quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, gia đình hạnh phúc. Lễ vía bà Phi Yến được tổ chức trang nghiêm Các hoạt động văn nghệ, trò chơi được tổ chức tại đây, đặc biệt là đờn ca tài tử sẽ diễn ra suốt đêm. Vào 9h ngày 18/10, lễ giỗ bà Phi Yến chính thức bắt đầu. Từng mâm lễ vật được chuẩn bị trước được những người dâng lễ đội lên đầu xếp thành hàng. Chủ lễ đọc văn khấn trong làn khói hương, nền nhạc lễ lúc réo rắt khi trầm buồn, trong không khí trang nghiêm, long trọng. Sau phần lễ, nhân dân và du khách thập phương tham dự sẽ được thưởng thức những món ăn chay do bà con nơi đây chuẩn bị. Miếu thờ bà Phi Yến nơi tổ chức lễ giỗ Miếu An Sơn nơi thờ thứ phi Phi Yến được xây đựng vào năm 1785. Thứ phi của Nguyễn Ánh không được ghi chép trong sử sách, là nhân vật nhuốm màu sắc huyền ảo. Theo truyền thuyết địa phương kể rằng, bà Phi Yến là vợ thứ của Nguyễn Ánh tên là Lê Thị Răm. Bà có con là hoàng tử Hội An, thường gọi là hoàng tử Cải. Vì thất bại liên tục trước Tây Sơn, Nguyễn Ánh có ý định gửi hoàng tử Cải cùng Bá Đa Lộc sang Pháp cầu viện. Bà Phi Yến thấy vậy can ngăn Nguyễn Ánh đừng cõng rắn cắn gà nhà. Nguyễn Ánh nổi trận lôi đình, cho rằng bà có ý định thông đồng với nghĩa quân Tây Sơn định chém đầu bà nhưng được cận thần can ngăn nên thoát chết. Bà Phi Yến phải chịu số phận bi thảm, bị giam cầm trong hang đá chỉ có con vượn bạch theo hầu. Khi nghe tin quân Tây Sơn sắp tràn đến, Nguyễn Ánh cùng đoàn tùy tùng xuống thuyền trốn ra Phú Quốc. Hoàng tử Cải khóc thét khi không thấy mẹ. Nguyễn Ánh tự tay ném hoàng tử 4 tuổi xuống biển. Xác hoàng tử trôi dạt vào bãi biển Cỏ Ống, được dân làng chôn cất, lập miếu thờ gọi là miếu Cậu. Bà Phi Yến trở về trông nom mộ của hoàng tử. Thương cảm với nỗi mất mát quá lớn của bà, người dân trên đảo có câu hát: "Gió đưa cây CẢI về trời. Rau RĂM ở lại chịu đời đắng cay". Miếu thờ bà Phi Yến và miếu Cậu được xem là lớn là linh thiêng tại Côn Đảo.

Người dân Côn Đảo xem bà Phi Yến như một vị thần phò trợ cho cuộc sống của họ, tổ chức lễ giỗ bà vào trung tuần tháng 10 âm lịch. Lễ giỗ bà Phi Yến bắt đầu từ đêm 17/10 âm lịch, ban tổ chức chuẩn bị các loại hoa quả, xôi, chè... để làm lễ. Người dân Côn Đảo đến miếu dâng lễ vật, thành câm cầu xin những điều tốt lành, quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, gia đình hạnh phúc.

Lễ vía bà Phi Yến được tổ chức trang nghiêm

Các hoạt động văn nghệ, trò chơi được tổ chức tại đây, đặc biệt là đờn ca tài tử sẽ diễn ra suốt đêm. Vào 9h ngày 18/10, lễ giỗ bà Phi Yến chính thức bắt đầu. Từng mâm lễ vật được chuẩn bị trước được những người dâng lễ đội lên đầu xếp thành hàng. Chủ lễ đọc văn khấn trong làn khói hương, nền nhạc lễ lúc réo rắt khi trầm buồn, trong không khí trang nghiêm, long trọng. Sau phần lễ, nhân dân và du khách thập phương tham dự sẽ được thưởng thức những món ăn chay do bà con nơi đây chuẩn bị.

Miếu thờ bà Phi Yến nơi tổ chức lễ giỗ

Miếu An Sơn nơi thờ thứ phi Phi Yến được xây đựng vào năm 1785. Thứ phi của Nguyễn Ánh không được ghi chép trong sử sách, là nhân vật nhuốm màu sắc huyền ảo. Theo truyền thuyết địa phương kể rằng, bà Phi Yến là vợ thứ của Nguyễn Ánh tên là Lê Thị Răm. Bà có con là hoàng tử Hội An, thường gọi là hoàng tử Cải. Vì thất bại liên tục trước Tây Sơn, Nguyễn Ánh có ý định gửi hoàng tử Cải cùng Bá Đa Lộc sang Pháp cầu viện. Bà Phi Yến thấy vậy can ngăn Nguyễn Ánh đừng cõng rắn cắn gà nhà. Nguyễn Ánh nổi trận lôi đình, cho rằng bà có ý định thông đồng với nghĩa quân Tây Sơn định chém đầu bà nhưng được cận thần can ngăn nên thoát chết. Bà Phi Yến phải chịu số phận bi thảm, bị giam cầm trong hang đá chỉ có con vượn bạch theo hầu. Khi nghe tin quân Tây Sơn sắp tràn đến, Nguyễn Ánh cùng đoàn tùy tùng xuống thuyền trốn ra Phú Quốc. Hoàng tử Cải khóc thét khi không thấy mẹ. Nguyễn Ánh tự tay ném hoàng tử 4 tuổi xuống biển. Xác hoàng tử trôi dạt vào bãi biển Cỏ Ống, được dân làng chôn cất, lập miếu thờ gọi là miếu Cậu. Bà Phi Yến trở về trông nom mộ của hoàng tử. Thương cảm với nỗi mất mát quá lớn của bà, người dân trên đảo có câu hát: "Gió đưa cây CẢI về trời. Rau RĂM ở lại chịu đời đắng cay". Miếu thờ bà Phi Yến và miếu Cậu được xem là lớn là linh thiêng tại Côn Đảo.

Related Figures

Lễ hội Ok Om Bok (lễ hội cúng trăng) của người Khmer

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/10 Âm lịch Lễ hội Ok Om Bok hay còn gọi là lễ cúng trăng là lễ hội truyền thống lâu đời của dân tộc Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long. Lễ cúng trăng được tổ chức vào ngày 15 tháng Ka-Đât theo lịch Khmer (tức ngày 15 tháng 10 âm lịch) hàng năm; cầu mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, no ấm. Lễ Ok Om Bok cũng là lễ tiễn mùa mưa, chào đón mùa khô. Tưng bừng lễ hội OK Om Bok lễ cúng trăng người Khmer Trong đời sống tâm linh của người Khmer, thần mặt trăng được xem là vị thần quan trọng nên được cộng đồng Khmer suy tôn và thờ cúng. Trong lễ hội cúng trăng có nhiều nghi thức được tổ chức cúng tại nhà và cúng tại chùa. Mâm lễ cúng trong lễ hội Ok Om Bok Buổi chiều, mỗi gia đình chuẩn bị các lễ vật cúng chủ yếu là nông sản tự sản xuất như: Cốm dẹp, dừa, chuối, khoai lang, khoai mì... Buổi tối, khi mặt trăng vừa nhô ra khỏi ngọn tre, gia chủ sắp xếp đồ cũng đặt lên một cái bàn đặt trước sân. Chủ nhà thắp nhang kính cẩn vái tạ ơn thần mặt trăng đã phù hộ, độ trì cho gia đình bình an, khỏe mạnh, lúa ngô đầy bồ. Cầu mong thần mặt trăng chứng giám lòng thành, tiếp nhận lễ vật để tiếp tục phù hộ cho gia đình năm sau được mãn ý. Sau đó, mỗi đứa trẻ cầm một cái Sala Tho nghe chủ nhà đọc kinh, sau đó đúc cho trẻ ăn cốm dẹp và chuối. Đầu tiên, bẻ nửa trái chuối cho vào miệng đứa trẻ rồi hỏi "Con ước mong điều gì?". Đứa trẻ trả lời những điều chúng mong muốn trong năm tới. Người hỏi gõ nhẹ vào lưng đứa trẻ ba lần rồi nói: "Con sẽ được như ý". Nghi thức cúng trăng tại chùa được tổ chức quy mô hơn bởi mang tính công đồng Phum Sróc. Nhà chùa chuẩn bị ba cây tre thật thẳng đốn về làm bàn lễ. Hai cây được trồng cách nhau 4-5m. Câu còn lại được buộc vào 2 cây kia song song với mặt đất tạo thành một chiếc cổng. Cổng được trang trí hoa lá rực rỡ. Phí dưới đặt một cái bàn để lễ vật cúng. Người ta cũng chuẩn bị những cây mía đào lấy cả gốc đặt trước bàn cúng. Vật phẩm dâng cúng trăng được nhà chùa chuẩn bị chu đáo gồm: cốm dẹp trộn chuối, sala tho, nước thơm, hoa, khoai, dừa... Phía trước bàn lễ trải chiếu để bà con ngồi lễ. Lễ hội Ok Om Bok văn hóa đặc sắc người Khmer Ngoài phần lễ, lễ hội Ok Om Bok còn diễn ra nhiều hoạt động như: văn nghệ, đua ghe ngo, thả đèn nước, đèn lồng gió, thi kéo co, đập nồi đất... Hàng năm, lễ hội Ok Om Bok thu hút đông đảo người dân, du khách trong và ngoài nước về tham dự.

Tưng bừng lễ hội OK Om Bok lễ cúng trăng người Khmer Trong đời sống tâm linh của người Khmer, thần mặt trăng được xem là vị thần quan trọng nên được cộng đồng Khmer suy tôn và thờ cúng. Trong lễ hội cúng trăng có nhiều nghi thức được tổ chức cúng tại nhà và cúng tại chùa. Mâm lễ cúng trong lễ hội Ok Om Bok Buổi chiều, mỗi gia đình chuẩn bị các lễ vật cúng chủ yếu là nông sản tự sản xuất như: Cốm dẹp, dừa, chuối, khoai lang, khoai mì... Buổi tối, khi mặt trăng vừa nhô ra khỏi ngọn tre, gia chủ sắp xếp đồ cũng đặt lên một cái bàn đặt trước sân. Chủ nhà thắp nhang kính cẩn vái tạ ơn thần mặt trăng đã phù hộ, độ trì cho gia đình bình an, khỏe mạnh, lúa ngô đầy bồ. Cầu mong thần mặt trăng chứng giám lòng thành, tiếp nhận lễ vật để tiếp tục phù hộ cho gia đình năm sau được mãn ý. Sau đó, mỗi đứa trẻ cầm một cái Sala Tho nghe chủ nhà đọc kinh, sau đó đúc cho trẻ ăn cốm dẹp và chuối. Đầu tiên, bẻ nửa trái chuối cho vào miệng đứa trẻ rồi hỏi "Con ước mong điều gì?". Đứa trẻ trả lời những điều chúng mong muốn trong năm tới. Người hỏi gõ nhẹ vào lưng đứa trẻ ba lần rồi nói: "Con sẽ được như ý". Nghi thức cúng trăng tại chùa được tổ chức quy mô hơn bởi mang tính công đồng Phum Sróc. Nhà chùa chuẩn bị ba cây tre thật thẳng đốn về làm bàn lễ. Hai cây được trồng cách nhau 4-5m. Câu còn lại được buộc vào 2 cây kia song song với mặt đất tạo thành một chiếc cổng. Cổng được trang trí hoa lá rực rỡ. Phí dưới đặt một cái bàn để lễ vật cúng. Người ta cũng chuẩn bị những cây mía đào lấy cả gốc đặt trước bàn cúng. Vật phẩm dâng cúng trăng được nhà chùa chuẩn bị chu đáo gồm: cốm dẹp trộn chuối, sala tho, nước thơm, hoa, khoai, dừa... Phía trước bàn lễ trải chiếu để bà con ngồi lễ. Lễ hội Ok Om Bok văn hóa đặc sắc người Khmer Ngoài phần lễ, lễ hội Ok Om Bok còn diễn ra nhiều hoạt động như: văn nghệ, đua ghe ngo, thả đèn nước, đèn lồng gió, thi kéo co, đập nồi đất... Hàng năm, lễ hội Ok Om Bok thu hút đông đảo người dân, du khách trong và ngoài nước về tham dự.

Trong đời sống tâm linh của người Khmer, thần mặt trăng được xem là vị thần quan trọng nên được cộng đồng Khmer suy tôn và thờ cúng. Trong lễ hội cúng trăng có nhiều nghi thức được tổ chức cúng tại nhà và cúng tại chùa.

Mâm lễ cúng trong lễ hội Ok Om Bok

Buổi chiều, mỗi gia đình chuẩn bị các lễ vật cúng chủ yếu là nông sản tự sản xuất như: Cốm dẹp, dừa, chuối, khoai lang, khoai mì... Buổi tối, khi mặt trăng vừa nhô ra khỏi ngọn tre, gia chủ sắp xếp đồ cũng đặt lên một cái bàn đặt trước sân. Chủ nhà thắp nhang kính cẩn vái tạ ơn thần mặt trăng đã phù hộ, độ trì cho gia đình bình an, khỏe mạnh, lúa ngô đầy bồ. Cầu mong thần mặt trăng chứng giám lòng thành, tiếp nhận lễ vật để tiếp tục phù hộ cho gia đình năm sau được mãn ý. Sau đó, mỗi đứa trẻ cầm một cái Sala Tho nghe chủ nhà đọc kinh, sau đó đúc cho trẻ ăn cốm dẹp và chuối. Đầu tiên, bẻ nửa trái chuối cho vào miệng đứa trẻ rồi hỏi "Con ước mong điều gì?". Đứa trẻ trả lời những điều chúng mong muốn trong năm tới. Người hỏi gõ nhẹ vào lưng đứa trẻ ba lần rồi nói: "Con sẽ được như ý".

Nghi thức cúng trăng tại chùa được tổ chức quy mô hơn bởi mang tính công đồng Phum Sróc. Nhà chùa chuẩn bị ba cây tre thật thẳng đốn về làm bàn lễ. Hai cây được trồng cách nhau 4-5m. Câu còn lại được buộc vào 2 cây kia song song với mặt đất tạo thành một chiếc cổng. Cổng được trang trí hoa lá rực rỡ. Phí dưới đặt một cái bàn để lễ vật cúng. Người ta cũng chuẩn bị những cây mía đào lấy cả gốc đặt trước bàn cúng.

Vật phẩm dâng cúng trăng được nhà chùa chuẩn bị chu đáo gồm: cốm dẹp trộn chuối, sala tho, nước thơm, hoa, khoai, dừa... Phía trước bàn lễ trải chiếu để bà con ngồi lễ. Lễ hội Ok Om Bok văn hóa đặc sắc người Khmer Ngoài phần lễ, lễ hội Ok Om Bok còn diễn ra nhiều hoạt động như: văn nghệ, đua ghe ngo, thả đèn nước, đèn lồng gió, thi kéo co, đập nồi đất... Hàng năm, lễ hội Ok Om Bok thu hút đông đảo người dân, du khách trong và ngoài nước về tham dự.

Vật phẩm dâng cúng trăng được nhà chùa chuẩn bị chu đáo gồm: cốm dẹp trộn chuối, sala tho, nước thơm, hoa, khoai, dừa... Phía trước bàn lễ trải chiếu để bà con ngồi lễ. Lễ hội Ok Om Bok văn hóa đặc sắc người Khmer Ngoài phần lễ, lễ hội Ok Om Bok còn diễn ra nhiều hoạt động như: văn nghệ, đua ghe ngo, thả đèn nước, đèn lồng gió, thi kéo co, đập nồi đất... Hàng năm, lễ hội Ok Om Bok thu hút đông đảo người dân, du khách trong và ngoài nước về tham dự.

Related Figures

Lễ hội Mù Là

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 3/1- 4/1 Âm lịch Lễ hội Mù Là là lễ hội truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa của đồng bào dân tộc Mông diễn ra trong hai ngày 3-4 tháng giêng âm lịch hàng năm. Mù Là là địa danh nổi tiếng, cơ sở cách mạng đầu tiên của của xã Cổ Linh, huyện Pác Năm, tỉnh Bắc Kạn. Mỗi độ xuân sang, đồng bào Mông tại đây tổ chức lễ hội với nhiều hoạt động sôi nổi và các chương trình giao lưu văn hóa nghệ thuật đặc sắc. Lễ hội Mù Là nhằm tạo không khí vui tươi, phấn khởi dịp đầu xuân đồng thời lưu giữ, bảo tồn nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc. Đặc sắc lễ hội Mù Là dân tộc Mông tỉnh Bắc Kạn Lễ hội Mù Là thu hút đông đảo người dân và du khách thập phương với rất nhiều hoạt động như: giao lưu văn nghệ giữa các địa phương, chọi bò, chọi gà, thi mèn mén... Trong lễ hội Mù Là không thể thiếu cuộc thi chọi bò thể hiện sức mạnh, sự dẻo dai của đồng bào Mông. Trước khi vào sân thi đấu, những chú bò được đánh số và phải bốc thăm thứ tự thi đấu. Chọi bò là hoạt động không thể thiếu trong lễ hội Mù Là Du khách tham dự lễ hội Mù Là có lẽ ấn tượng nhất với những tiết mục đặc sắc trong chương trình giao lưu văn nghệ. Những tiết mục ca ngợi quê hương đất nước, mừng Đảng, mừng xuân được thể hiện bằng cả tiếng phổ thông và tiếng Mông. Những điệu múa khèn, hát lượn, đối đáp, múa xòe của bà con nơi đây làm say lòng bao du khách. Thi nấu mèn mén mang nét riêng của lễ hội Mù Là. Mèn mén là món ăn đặc trưng của đồng bào dân tộc Mông nơi đây. Những cô gái Mông có cơ hội thể hiện sự khéo léo và tài nấu nướng qua phần thi này. Những thôn tham gia dự thi sẽ lựa chọn những người khéo léo nhất. Ngoài mén mén, du khách tham dự lễ hội Mù Là còn được thưởng thức nhiều món ăn đặc trưng của người Mông như thắng cố, rượu ngô... Những cô gái Mông xinh đẹp trong lễ hội Mù là Lễ hội Mù Là được tổ chức hàng năm là dịp để đồng bào Mông cùng với các dân tộc anh em thể hiện sự đoàn kết, giao lưu, phát triển kinh tế - xã hội đồng thời khơi dậy, bảo tồn những nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc thiểu số vùng cao.

Mù Là là địa danh nổi tiếng, cơ sở cách mạng đầu tiên của của xã Cổ Linh, huyện Pác Năm, tỉnh Bắc Kạn. Mỗi độ xuân sang, đồng bào Mông tại đây tổ chức lễ hội với nhiều hoạt động sôi nổi và các chương trình giao lưu văn hóa nghệ thuật đặc sắc. Lễ hội Mù Là nhằm tạo không khí vui tươi, phấn khởi dịp đầu xuân đồng thời lưu giữ, bảo tồn nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc. Đặc sắc lễ hội Mù Là dân tộc Mông tỉnh Bắc Kạn Lễ hội Mù Là thu hút đông đảo người dân và du khách thập phương với rất nhiều hoạt động như: giao lưu văn nghệ giữa các địa phương, chọi bò, chọi gà, thi mèn mén... Trong lễ hội Mù Là không thể thiếu cuộc thi chọi bò thể hiện sức mạnh, sự dẻo dai của đồng bào Mông. Trước khi vào sân thi đấu, những chú bò được đánh số và phải bốc thăm thứ tự thi đấu. Chọi bò là hoạt động không thể thiếu trong lễ hội Mù Là Du khách tham dự lễ hội Mù Là có lẽ ấn tượng nhất với những tiết mục đặc sắc trong chương trình giao lưu văn nghệ. Những tiết mục ca ngợi quê hương đất nước, mừng Đảng, mừng xuân được thể hiện bằng cả tiếng phổ thông và tiếng Mông. Những điệu múa khèn, hát lượn, đối đáp, múa xòe của bà con nơi đây làm say lòng bao du khách. Thi nấu mèn mén mang nét riêng của lễ hội Mù Là. Mèn mén là món ăn đặc trưng của đồng bào dân tộc Mông nơi đây. Những cô gái Mông có cơ hội thể hiện sự khéo léo và tài nấu nướng qua phần thi này. Những thôn tham gia dự thi sẽ lựa chọn những người khéo léo nhất. Ngoài mén mén, du khách tham dự lễ hội Mù Là còn được thưởng thức nhiều món ăn đặc trưng của người Mông như thắng cố, rượu ngô... Những cô gái Mông xinh đẹp trong lễ hội Mù là Lễ hội Mù Là được tổ chức hàng năm là dịp để đồng bào Mông cùng với các dân tộc anh em thể hiện sự đoàn kết, giao lưu, phát triển kinh tế - xã hội đồng thời khơi dậy, bảo tồn những nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc thiểu số vùng cao.

Mù Là là địa danh nổi tiếng, cơ sở cách mạng đầu tiên của của xã Cổ Linh, huyện Pác Năm, tỉnh Bắc Kạn. Mỗi độ xuân sang, đồng bào Mông tại đây tổ chức lễ hội với nhiều hoạt động sôi nổi và các chương trình giao lưu văn hóa nghệ thuật đặc sắc. Lễ hội Mù Là nhằm tạo không khí vui tươi, phấn khởi dịp đầu xuân đồng thời lưu giữ, bảo tồn nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc. Đặc sắc lễ hội Mù Là dân tộc Mông tỉnh Bắc Kạn Lễ hội Mù Là thu hút đông đảo người dân và du khách thập phương với rất nhiều hoạt động như: giao lưu văn nghệ giữa các địa phương, chọi bò, chọi gà, thi mèn mén... Trong lễ hội Mù Là không thể thiếu cuộc thi chọi bò thể hiện sức mạnh, sự dẻo dai của đồng bào Mông. Trước khi vào sân thi đấu, những chú bò được đánh số và phải bốc thăm thứ tự thi đấu. Chọi bò là hoạt động không thể thiếu trong lễ hội Mù Là Du khách tham dự lễ hội Mù Là có lẽ ấn tượng nhất với những tiết mục đặc sắc trong chương trình giao lưu văn nghệ. Những tiết mục ca ngợi quê hương đất nước, mừng Đảng, mừng xuân được thể hiện bằng cả tiếng phổ thông và tiếng Mông. Những điệu múa khèn, hát lượn, đối đáp, múa xòe của bà con nơi đây làm say lòng bao du khách. Thi nấu mèn mén mang nét riêng của lễ hội Mù Là. Mèn mén là món ăn đặc trưng của đồng bào dân tộc Mông nơi đây. Những cô gái Mông có cơ hội thể hiện sự khéo léo và tài nấu nướng qua phần thi này. Những thôn tham gia dự thi sẽ lựa chọn những người khéo léo nhất. Ngoài mén mén, du khách tham dự lễ hội Mù Là còn được thưởng thức nhiều món ăn đặc trưng của người Mông như thắng cố, rượu ngô... Những cô gái Mông xinh đẹp trong lễ hội Mù là Lễ hội Mù Là được tổ chức hàng năm là dịp để đồng bào Mông cùng với các dân tộc anh em thể hiện sự đoàn kết, giao lưu, phát triển kinh tế - xã hội đồng thời khơi dậy, bảo tồn những nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc thiểu số vùng cao.

Mù Là là địa danh nổi tiếng, cơ sở cách mạng đầu tiên của của xã Cổ Linh, huyện Pác Năm, tỉnh Bắc Kạn. Mỗi độ xuân sang, đồng bào Mông tại đây tổ chức lễ hội với nhiều hoạt động sôi nổi và các chương trình giao lưu văn hóa nghệ thuật đặc sắc. Lễ hội Mù Là nhằm tạo không khí vui tươi, phấn khởi dịp đầu xuân đồng thời lưu giữ, bảo tồn nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc.

Đặc sắc lễ hội Mù Là dân tộc Mông tỉnh Bắc Kạn

Lễ hội Mù Là thu hút đông đảo người dân và du khách thập phương với rất nhiều hoạt động như: giao lưu văn nghệ giữa các địa phương, chọi bò, chọi gà, thi mèn mén... Trong lễ hội Mù Là không thể thiếu cuộc thi chọi bò thể hiện sức mạnh, sự dẻo dai của đồng bào Mông. Trước khi vào sân thi đấu, những chú bò được đánh số và phải bốc thăm thứ tự thi đấu.

Chọi bò là hoạt động không thể thiếu trong lễ hội Mù Là

Du khách tham dự lễ hội Mù Là có lẽ ấn tượng nhất với những tiết mục đặc sắc trong chương trình giao lưu văn nghệ. Những tiết mục ca ngợi quê hương đất nước, mừng Đảng, mừng xuân được thể hiện bằng cả tiếng phổ thông và tiếng Mông. Những điệu múa khèn, hát lượn, đối đáp, múa xòe của bà con nơi đây làm say lòng bao du khách.

Thi nấu mèn mén mang nét riêng của lễ hội Mù Là. Mèn mén là món ăn đặc trưng của đồng bào dân tộc Mông nơi đây. Những cô gái Mông có cơ hội thể hiện sự khéo léo và tài nấu nướng qua phần thi này. Những thôn tham gia dự thi sẽ lựa chọn những người khéo léo nhất. Ngoài mén mén, du khách tham dự lễ hội Mù Là còn được thưởng thức nhiều món ăn đặc trưng của người Mông như thắng cố, rượu ngô...

Những cô gái Mông xinh đẹp trong lễ hội Mù là

Lễ hội Mù Là được tổ chức hàng năm là dịp để đồng bào Mông cùng với các dân tộc anh em thể hiện sự đoàn kết, giao lưu, phát triển kinh tế - xã hội đồng thời khơi dậy, bảo tồn những nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc thiểu số vùng cao.

Related Figures

Lễ trư

Thông tin thời kỳ

Cũng giống như một số dân tộc thiểu số khác ở nước ta, đến nay người Sán Chỉ ở Bắc Kạn vẫn lưu giữ tập tục tổ chức lễ trưởng thành cho con trai khi bước vào độ tuổi từ 10-16. Chỉ khi thực hiện xong lễ trưởng thành, chàng trai đó mới được thần linh và dân làng công nhân đã trưởng thành để nối dõi dòng họ. Mâm lễ cúng trong lễ trưởng thành người Sán Chỉ tỉnh Bắc Kạn Tùy theo từng hoàn cảnh, mỗi gia đình Sán Chỉ có thể tổ chức lễ trưởng thành cho con trai sớm hay muộn. Thông thường mỗi gia đình phải chuẩn bị 3 con lợn từ 40kg trở lên, 3 con gà, rượu, gạo, hình nhân... để phục vụ buổi lễ. Gia đình phải mời một thầy mo và một thầy tào mặc áo xanh, áo đỏ đứng ra làm lễ. Bàn thờ của người Sán Chỉ tỉnh Bắc Kạn Sau lời khấn của thầy mo và thầy tào, người con trai làm lễ trưởng thành sẽ được đặt vào một chiếc võng treo giữa nhà. Có một người được bố trí đeo mặt nạ ma quỷ cầm dao ra cắt dây võng. Thầy mo và thầy tào sẽ dang tay đỡ người con trai ấy. Sau nghi lễ này, chàng trai chính thức được thần linh và mọi người công nhận là trưởng thành, có đủ sức khỏe và sự giỏi giang để gánh vác công việc của dòng tộc. Phần lễ trong lễ trưởng thành của người Sán Chỉ sôi động với âm nhạc từ bộ chiêng, não bạt và trống. Gia đình Sán Chỉ nâng ly rượu mừng trong lễ trưởng thành Hai chiếc áo xanh, áo đỏ thầy mo và thầy tào mặc trong lễ trưởng thành được những người phụ nữ nơi đây dệt, nhuộm chàm và thêu những hình nhân bằng chỉ màu rực rỡ. Bộ lễ phục này thể hiện sự khéo léo, tỉ mẩn và thẩm mỹ của phụ nữ Sán Chỉ.

Cũng giống như một số dân tộc thiểu số khác ở nước ta, đến nay người Sán Chỉ ở Bắc Kạn vẫn lưu giữ tập tục tổ chức lễ trưởng thành cho con trai khi bước vào độ tuổi từ 10-16. Chỉ khi thực hiện xong lễ trưởng thành, chàng trai đó mới được thần linh và dân làng công nhân đã trưởng thành để nối dõi dòng họ.

Mâm lễ cúng trong lễ trưởng thành người Sán Chỉ tỉnh Bắc Kạn

Tùy theo từng hoàn cảnh, mỗi gia đình Sán Chỉ có thể tổ chức lễ trưởng thành cho con trai sớm hay muộn. Thông thường mỗi gia đình phải chuẩn bị 3 con lợn từ 40kg trở lên, 3 con gà, rượu, gạo, hình nhân... để phục vụ buổi lễ. Gia đình phải mời một thầy mo và một thầy tào mặc áo xanh, áo đỏ đứng ra làm lễ.

Bàn thờ của người Sán Chỉ tỉnh Bắc Kạn

Sau lời khấn của thầy mo và thầy tào, người con trai làm lễ trưởng thành sẽ được đặt vào một chiếc võng treo giữa nhà. Có một người được bố trí đeo mặt nạ ma quỷ cầm dao ra cắt dây võng. Thầy mo và thầy tào sẽ dang tay đỡ người con trai ấy. Sau nghi lễ này, chàng trai chính thức được thần linh và mọi người công nhận là trưởng thành, có đủ sức khỏe và sự giỏi giang để gánh vác công việc của dòng tộc. Phần lễ trong lễ trưởng thành của người Sán Chỉ sôi động với âm nhạc từ bộ chiêng, não bạt và trống.

Gia đình Sán Chỉ nâng ly rượu mừng trong lễ trưởng thành

Hai chiếc áo xanh, áo đỏ thầy mo và thầy tào mặc trong lễ trưởng thành được những người phụ nữ nơi đây dệt, nhuộm chàm và thêu những hình nhân bằng chỉ màu rực rỡ. Bộ lễ phục này thể hiện sự khéo léo, tỉ mẩn và thẩm mỹ của phụ nữ Sán Chỉ.

Related Figures

Hội chợ truyền thống Xuân Dương tỉnh Bắc Kạn

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 25/3 Âm lịch Đã trở thành thông lệ, hàng năm hội chợ truyền thống Xuân Dương chỉ họp một ngày duy nhất vào ngày 25 tháng 3 âm lịch. Đây là hoạt động văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Tày, Nùng, Dao đang sinh sống tại huyện Na Rì. Đối với đồng bào nơi đây, mối khi đến hội Xuân Dương dù ở xa đến mấy thì vẫn tìm về chỉ mong gặp lại bóng dáng người xưa. Đông đảo bà con tham gia hội chợ truyền thống Xuân Dương Hội chợ truyền thống Xuân Dương được hình thành từ rất lâu. Tục truyền rằng, thuở trước xưa có đôi vợ chồng nghèo khó rất yêu thương nhau. Một ngày hai người ra đồng, vợ phát cỏ lau nơi đầu ruộng, chồng cày cuốc ở cuối ruộng. Viên quan đi qua thấy người vợ xinh đẹp đã lén bắt cóc nàng. Mặc dù người vợ chống cự quyết liệt, khóc than thảm thiết nhưng do thửa ruộng quá dài nên người chồng không nghe được tiếng nàng. Đến lúc đi tìm thì không thấy vợ đâu. Vài năm sau, hai người tình cờ gặp lại nhau trong một lần đi chợ. Mỗi người đều đã có cuộc sống riêng, không thể làm gì khác được, họ chỉ biết ôm nhau mà khóc. Xót thương cho đôi vợ chồng, người dân nơi đây đã tổ chức hội chợ ngày 25 tháng 3 âm lịch hàng năm để họ được gặp nhau. Từ ấy trở đi, đôi lứa yêu nhau mà lỡ duyên vợ chồng cũng tìm đến hội chợ Xuân Dương để tìm lại bóng dáng người xưa. Hội chợ truyền thống Xuân Dương nét đẹp văn hóa dân tộc Tày - Nùng Tại hội chợ Xuân Dương, những đôi nam thanh nữ tú gặp gỡ, giao duyên với nhau qua những câu hát sli, hát then, hát lượn đối đáp từ người thương năm xưa. Khám phá chợ tình Xuân Dương Tiếng đàn tính khi da diết, lúc dìu dặt vang vọng muôn nơi giục giã bước chân người dân và du khách vượt núi, băng rừng, trèo đèo, lội suối về với hội chợ mỗi năm chỉ tổ chức một lần duy nhất tại Bắc Kạn. Những câu hát mang âm hưởng quê hương hòa cùng men rượu nồng sóng sánh được rót từ đôi tay ngà của những cô gái Tày - Nùng làm say lòng bao du khách tham dự.

Đông đảo bà con tham gia hội chợ truyền thống Xuân Dương Hội chợ truyền thống Xuân Dương được hình thành từ rất lâu. Tục truyền rằng, thuở trước xưa có đôi vợ chồng nghèo khó rất yêu thương nhau. Một ngày hai người ra đồng, vợ phát cỏ lau nơi đầu ruộng, chồng cày cuốc ở cuối ruộng. Viên quan đi qua thấy người vợ xinh đẹp đã lén bắt cóc nàng. Mặc dù người vợ chống cự quyết liệt, khóc than thảm thiết nhưng do thửa ruộng quá dài nên người chồng không nghe được tiếng nàng. Đến lúc đi tìm thì không thấy vợ đâu. Vài năm sau, hai người tình cờ gặp lại nhau trong một lần đi chợ. Mỗi người đều đã có cuộc sống riêng, không thể làm gì khác được, họ chỉ biết ôm nhau mà khóc. Xót thương cho đôi vợ chồng, người dân nơi đây đã tổ chức hội chợ ngày 25 tháng 3 âm lịch hàng năm để họ được gặp nhau. Từ ấy trở đi, đôi lứa yêu nhau mà lỡ duyên vợ chồng cũng tìm đến hội chợ Xuân Dương để tìm lại bóng dáng người xưa. Hội chợ truyền thống Xuân Dương nét đẹp văn hóa dân tộc Tày - Nùng Tại hội chợ Xuân Dương, những đôi nam thanh nữ tú gặp gỡ, giao duyên với nhau qua những câu hát sli, hát then, hát lượn đối đáp từ người thương năm xưa. Khám phá chợ tình Xuân Dương Tiếng đàn tính khi da diết, lúc dìu dặt vang vọng muôn nơi giục giã bước chân người dân và du khách vượt núi, băng rừng, trèo đèo, lội suối về với hội chợ mỗi năm chỉ tổ chức một lần duy nhất tại Bắc Kạn. Những câu hát mang âm hưởng quê hương hòa cùng men rượu nồng sóng sánh được rót từ đôi tay ngà của những cô gái Tày - Nùng làm say lòng bao du khách tham dự.

Hội chợ truyền thống Xuân Dương được hình thành từ rất lâu. Tục truyền rằng, thuở trước xưa có đôi vợ chồng nghèo khó rất yêu thương nhau. Một ngày hai người ra đồng, vợ phát cỏ lau nơi đầu ruộng, chồng cày cuốc ở cuối ruộng. Viên quan đi qua thấy người vợ xinh đẹp đã lén bắt cóc nàng. Mặc dù người vợ chống cự quyết liệt, khóc than thảm thiết nhưng do thửa ruộng quá dài nên người chồng không nghe được tiếng nàng. Đến lúc đi tìm thì không thấy vợ đâu. Vài năm sau, hai người tình cờ gặp lại nhau trong một lần đi chợ. Mỗi người đều đã có cuộc sống riêng, không thể làm gì khác được, họ chỉ biết ôm nhau mà khóc. Xót thương cho đôi vợ chồng, người dân nơi đây đã tổ chức hội chợ ngày 25 tháng 3 âm lịch hàng năm để họ được gặp nhau. Từ ấy trở đi, đôi lứa yêu nhau mà lỡ duyên vợ chồng cũng tìm đến hội chợ Xuân Dương để tìm lại bóng dáng người xưa.

Hội chợ truyền thống Xuân Dương nét đẹp văn hóa dân tộc Tày - Nùng

Tại hội chợ Xuân Dương, những đôi nam thanh nữ tú gặp gỡ, giao duyên với nhau qua những câu hát sli, hát then, hát lượn đối đáp từ người thương năm xưa.

Khám phá chợ tình Xuân Dương

Tiếng đàn tính khi da diết, lúc dìu dặt vang vọng muôn nơi giục giã bước chân người dân và du khách vượt núi, băng rừng, trèo đèo, lội suối về với hội chợ mỗi năm chỉ tổ chức một lần duy nhất tại Bắc Kạn. Những câu hát mang âm hưởng quê hương hòa cùng men rượu nồng sóng sánh được rót từ đôi tay ngà của những cô gái Tày - Nùng làm say lòng bao du khách tham dự.

Related Figures

Hội xuân hồ Ba Bể tỉnh Bắc Kạn

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 9/1- 10/1 Âm lịch Hội xuân hồ Ba Bể mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Tày, Mông, Dao được tổ chức ngày 9 và 10 tháng giêng âm lịch hàng năm. Hội xuân hồ Ba Bể hàng năm thu hút đông đảo bà con và du khách thập phương tham gia. Đây là dịp để du khách hiểu thêm về truyền thống văn hóa và con người nơi đây. Vào nhưng ngày đầu xuân, đồng bào dân tộc Tày, Mông, Dao nơi đây vừa ăn tết vừa chuẩn bị cho lễ hội. Bà con mua sắm lễ vật, làm nhiều loại bánh thành tâm dâng cúng đất trời. Lễ hội xuân hồ Ba Bể được tổ chức long trọng Đặc sản rượu Khưa Quang được cất từ ngô trồng trên núi, chưng cất bằng men lá là thứ không thể thiếu trong lễ hội đầu xuân. Rượu Khưa Quang khi uống vào sẽ có cảm giác lâng lâng như đi trên mây trong mấy ngày. Thiếu nữ dâng lễ vật trong hội xuân hồ Ba Bể Sáng ngày 10 tháng giêng, lễ hội xuân hồ Ba Bể chính thức khai mạc. Mở đầu là màn dâng lễ của 16 xã trong vùng. Lễ vật gồm có xôi, gà, chuối, bánh khảo, rượu Khưa Quang. 16 mâm lễ vật được các thiếu nữ địa phương kính cẩn dâng lên thần núi, thần sông, thần hồ cầu quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Vào những ngày mở hội, đồng bào dân tộc nơi đây mặc những bộ quần áo đẹp nhất hồ hởi đồ về nơi diễn ra lễ hội khiến cho không khí rộn ràng, đông vui. Mỗi xã trong thị trấn huyện Ba Bể đều dựng trại và bày bán đặc sản của địa phương như: vải thổ cẩm, rượu ngô, măng khô, mật ong... Bà con dân tộc thiểu số tham gia lễ hội xuân hồ Ba Bể Các trò chơi dân gian như: Ném Còn, đấu vật, bắn cung, biểu diễn văn nghệ truyền thống, đua thuyền độc mộc trên hồ Ba Bể, bịt mắt bắt dê, đi cầu kiều... diễn ra sôi nổi trong suốt thời gian diễn ra lễ hội. Đồng bào dân tộc thiểu số nơi đây tin rằng tham gia những trò chơi này sẽ mang lại may mắn trong năm.

Vào nhưng ngày đầu xuân, đồng bào dân tộc Tày, Mông, Dao nơi đây vừa ăn tết vừa chuẩn bị cho lễ hội. Bà con mua sắm lễ vật, làm nhiều loại bánh thành tâm dâng cúng đất trời. Lễ hội xuân hồ Ba Bể được tổ chức long trọng Đặc sản rượu Khưa Quang được cất từ ngô trồng trên núi, chưng cất bằng men lá là thứ không thể thiếu trong lễ hội đầu xuân. Rượu Khưa Quang khi uống vào sẽ có cảm giác lâng lâng như đi trên mây trong mấy ngày. Thiếu nữ dâng lễ vật trong hội xuân hồ Ba Bể Sáng ngày 10 tháng giêng, lễ hội xuân hồ Ba Bể chính thức khai mạc. Mở đầu là màn dâng lễ của 16 xã trong vùng. Lễ vật gồm có xôi, gà, chuối, bánh khảo, rượu Khưa Quang. 16 mâm lễ vật được các thiếu nữ địa phương kính cẩn dâng lên thần núi, thần sông, thần hồ cầu quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Vào những ngày mở hội, đồng bào dân tộc nơi đây mặc những bộ quần áo đẹp nhất hồ hởi đồ về nơi diễn ra lễ hội khiến cho không khí rộn ràng, đông vui. Mỗi xã trong thị trấn huyện Ba Bể đều dựng trại và bày bán đặc sản của địa phương như: vải thổ cẩm, rượu ngô, măng khô, mật ong... Bà con dân tộc thiểu số tham gia lễ hội xuân hồ Ba Bể Các trò chơi dân gian như: Ném Còn, đấu vật, bắn cung, biểu diễn văn nghệ truyền thống, đua thuyền độc mộc trên hồ Ba Bể, bịt mắt bắt dê, đi cầu kiều... diễn ra sôi nổi trong suốt thời gian diễn ra lễ hội. Đồng bào dân tộc thiểu số nơi đây tin rằng tham gia những trò chơi này sẽ mang lại may mắn trong năm.

Vào nhưng ngày đầu xuân, đồng bào dân tộc Tày, Mông, Dao nơi đây vừa ăn tết vừa chuẩn bị cho lễ hội. Bà con mua sắm lễ vật, làm nhiều loại bánh thành tâm dâng cúng đất trời.

Lễ hội xuân hồ Ba Bể được tổ chức long trọng

Đặc sản rượu Khưa Quang được cất từ ngô trồng trên núi, chưng cất bằng men lá là thứ không thể thiếu trong lễ hội đầu xuân. Rượu Khưa Quang khi uống vào sẽ có cảm giác lâng lâng như đi trên mây trong mấy ngày.

Thiếu nữ dâng lễ vật trong hội xuân hồ Ba Bể Sáng ngày 10 tháng giêng, lễ hội xuân hồ Ba Bể chính thức khai mạc. Mở đầu là màn dâng lễ của 16 xã trong vùng. Lễ vật gồm có xôi, gà, chuối, bánh khảo, rượu Khưa Quang. 16 mâm lễ vật được các thiếu nữ địa phương kính cẩn dâng lên thần núi, thần sông, thần hồ cầu quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Vào những ngày mở hội, đồng bào dân tộc nơi đây mặc những bộ quần áo đẹp nhất hồ hởi đồ về nơi diễn ra lễ hội khiến cho không khí rộn ràng, đông vui. Mỗi xã trong thị trấn huyện Ba Bể đều dựng trại và bày bán đặc sản của địa phương như: vải thổ cẩm, rượu ngô, măng khô, mật ong... Bà con dân tộc thiểu số tham gia lễ hội xuân hồ Ba Bể Các trò chơi dân gian như: Ném Còn, đấu vật, bắn cung, biểu diễn văn nghệ truyền thống, đua thuyền độc mộc trên hồ Ba Bể, bịt mắt bắt dê, đi cầu kiều... diễn ra sôi nổi trong suốt thời gian diễn ra lễ hội. Đồng bào dân tộc thiểu số nơi đây tin rằng tham gia những trò chơi này sẽ mang lại may mắn trong năm.

Sáng ngày 10 tháng giêng, lễ hội xuân hồ Ba Bể chính thức khai mạc. Mở đầu là màn dâng lễ của 16 xã trong vùng. Lễ vật gồm có xôi, gà, chuối, bánh khảo, rượu Khưa Quang. 16 mâm lễ vật được các thiếu nữ địa phương kính cẩn dâng lên thần núi, thần sông, thần hồ cầu quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu.

Vào những ngày mở hội, đồng bào dân tộc nơi đây mặc những bộ quần áo đẹp nhất hồ hởi đồ về nơi diễn ra lễ hội khiến cho không khí rộn ràng, đông vui. Mỗi xã trong thị trấn huyện Ba Bể đều dựng trại và bày bán đặc sản của địa phương như: vải thổ cẩm, rượu ngô, măng khô, mật ong...

Bà con dân tộc thiểu số tham gia lễ hội xuân hồ Ba Bể

Các trò chơi dân gian như: Ném Còn, đấu vật, bắn cung, biểu diễn văn nghệ truyền thống, đua thuyền độc mộc trên hồ Ba Bể, bịt mắt bắt dê, đi cầu kiều... diễn ra sôi nổi trong suốt thời gian diễn ra lễ hội. Đồng bào dân tộc thiểu số nơi đây tin rằng tham gia những trò chơi này sẽ mang lại may mắn trong năm.

Related Figures

Lễ hội Ném Còn vùng Tây Bắc

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/1- 5/1 Âm lịch Lễ hội Ném Còn là lễ hội không thể thiếu trong các dịp lễ tết ở vùng Tây Bắc nước ta. Lễ hội Ném Còn diễn ra trong không khí tưng bừng, náo nhiệt từ sáng mùng 1 tết. Ném Còn có ý nghĩa tượng trưng cho mọi việc đau buồn, bệnh tật sẽ được rũ sạch, thay vào đó là cuộc sống ấm no, hạnh phúc, trâu gà đầy chuồng. Lễ hội Ném Còn là lễ hội đặc sắc vùng Tây Bắc Gần tới ngày tết, nam thanh nữ tú đồng bào dân tộc Thái, Mường, Tày ở các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Bắc Kạn, Yên Bái, Lào Cai... chuẩn bị thêu Còn, tre (vầu) làm cột tung Còn. Ai cũng cố gắng chuẩn bị cho mình quả Còn đẹp nhất để tung trong ngày hội. Sân tung Còn là bãi đất rộng, bằng phẳng, ở giữa chôn cột Còn từ cây mai cao 9-15m, trên đỉnh cột buộc một "vòng Còn" uốn cong đường kính khoảng 50cm, dán giấy mỏng trang trí, bên màu đỏ (tượng trưng cho mặt trời), bên màu vàng (tượng trưng cho mặt trăng). Trò chơi ném Còn không phân biệt tuổi tác nên thu hút đông đảo người dân tham gia. Mở đầu lễ hội Ném Còn là phần nghi lễ, thầy Mo dâng hai quả Còn làm lễ giữa đất trời cầu mong những điều tốt đẹp, dân làng bình an, no ấm, mùa màng tốt tươi. Sau phần lễ, thầy Mo tung 2 quả Còn cho dân làng tranh cướp, khai cuộc chơi. Ném Còn đòi hỏi sức khỏe và sự khéo léo, nếu ném trúng vòng tròn và xuyên thủng giấy là âm dương hòa hợp, mùa màng bội thu. Lễ hội Ném Còn thu hút đông đảo người dân tham gia Trò chơi Ném Còn của người Thái mang tới thông điệp cầu mong âm dương hòa hợp, con cháu trong nhà đông đúc. Những người Thái hiếm muộn cũng hào hứng ném Còn để cầu tự. Lễ hội Ném Còn tại Tuyên Quang Với người Tày mang ý nghĩa cầu mùa màng. Thầy Mo sẽ rạch quả được ban phép lấy hạt tung lên để mọi người cùng hứng lấy vận may. Người Tày cho rằng những hạt giống này sẽ mang lại mùa màng bội thu vì đã được truyền hơi ấm từ nhưng bàn tay nam nữ. Đối với người Mường, lễ hội Ném Còn còn là dịp để nam thanh nữ tú gặp gỡ và tìm hiểu nhau. Người thua sẽ để lại một vật để làm tin. Sau khi két thúc lễ hội, người thua cuộc sẽ qua nhà người thắng lấy lại vật đã gửi, là cái cớ để hai người gặp gỡ.

Lễ hội Ném Còn là lễ hội đặc sắc vùng Tây Bắc Gần tới ngày tết, nam thanh nữ tú đồng bào dân tộc Thái, Mường, Tày ở các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Bắc Kạn, Yên Bái, Lào Cai... chuẩn bị thêu Còn, tre (vầu) làm cột tung Còn. Ai cũng cố gắng chuẩn bị cho mình quả Còn đẹp nhất để tung trong ngày hội. Sân tung Còn là bãi đất rộng, bằng phẳng, ở giữa chôn cột Còn từ cây mai cao 9-15m, trên đỉnh cột buộc một "vòng Còn" uốn cong đường kính khoảng 50cm, dán giấy mỏng trang trí, bên màu đỏ (tượng trưng cho mặt trời), bên màu vàng (tượng trưng cho mặt trăng). Trò chơi ném Còn không phân biệt tuổi tác nên thu hút đông đảo người dân tham gia. Mở đầu lễ hội Ném Còn là phần nghi lễ, thầy Mo dâng hai quả Còn làm lễ giữa đất trời cầu mong những điều tốt đẹp, dân làng bình an, no ấm, mùa màng tốt tươi. Sau phần lễ, thầy Mo tung 2 quả Còn cho dân làng tranh cướp, khai cuộc chơi. Ném Còn đòi hỏi sức khỏe và sự khéo léo, nếu ném trúng vòng tròn và xuyên thủng giấy là âm dương hòa hợp, mùa màng bội thu. Lễ hội Ném Còn thu hút đông đảo người dân tham gia Trò chơi Ném Còn của người Thái mang tới thông điệp cầu mong âm dương hòa hợp, con cháu trong nhà đông đúc. Những người Thái hiếm muộn cũng hào hứng ném Còn để cầu tự. Lễ hội Ném Còn tại Tuyên Quang Với người Tày mang ý nghĩa cầu mùa màng. Thầy Mo sẽ rạch quả được ban phép lấy hạt tung lên để mọi người cùng hứng lấy vận may. Người Tày cho rằng những hạt giống này sẽ mang lại mùa màng bội thu vì đã được truyền hơi ấm từ nhưng bàn tay nam nữ. Đối với người Mường, lễ hội Ném Còn còn là dịp để nam thanh nữ tú gặp gỡ và tìm hiểu nhau. Người thua sẽ để lại một vật để làm tin. Sau khi két thúc lễ hội, người thua cuộc sẽ qua nhà người thắng lấy lại vật đã gửi, là cái cớ để hai người gặp gỡ.

Gần tới ngày tết, nam thanh nữ tú đồng bào dân tộc Thái, Mường, Tày ở các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Bắc Kạn, Yên Bái, Lào Cai... chuẩn bị thêu Còn, tre (vầu) làm cột tung Còn. Ai cũng cố gắng chuẩn bị cho mình quả Còn đẹp nhất để tung trong ngày hội. Sân tung Còn là bãi đất rộng, bằng phẳng, ở giữa chôn cột Còn từ cây mai cao 9-15m, trên đỉnh cột buộc một "vòng Còn" uốn cong đường kính khoảng 50cm, dán giấy mỏng trang trí, bên màu đỏ (tượng trưng cho mặt trời), bên màu vàng (tượng trưng cho mặt trăng). Trò chơi ném Còn không phân biệt tuổi tác nên thu hút đông đảo người dân tham gia. Mở đầu lễ hội Ném Còn là phần nghi lễ, thầy Mo dâng hai quả Còn làm lễ giữa đất trời cầu mong những điều tốt đẹp, dân làng bình an, no ấm, mùa màng tốt tươi. Sau phần lễ, thầy Mo tung 2 quả Còn cho dân làng tranh cướp, khai cuộc chơi. Ném Còn đòi hỏi sức khỏe và sự khéo léo, nếu ném trúng vòng tròn và xuyên thủng giấy là âm dương hòa hợp, mùa màng bội thu. Lễ hội Ném Còn thu hút đông đảo người dân tham gia Trò chơi Ném Còn của người Thái mang tới thông điệp cầu mong âm dương hòa hợp, con cháu trong nhà đông đúc. Những người Thái hiếm muộn cũng hào hứng ném Còn để cầu tự. Lễ hội Ném Còn tại Tuyên Quang Với người Tày mang ý nghĩa cầu mùa màng. Thầy Mo sẽ rạch quả được ban phép lấy hạt tung lên để mọi người cùng hứng lấy vận may. Người Tày cho rằng những hạt giống này sẽ mang lại mùa màng bội thu vì đã được truyền hơi ấm từ nhưng bàn tay nam nữ. Đối với người Mường, lễ hội Ném Còn còn là dịp để nam thanh nữ tú gặp gỡ và tìm hiểu nhau. Người thua sẽ để lại một vật để làm tin. Sau khi két thúc lễ hội, người thua cuộc sẽ qua nhà người thắng lấy lại vật đã gửi, là cái cớ để hai người gặp gỡ.

Mở đầu lễ hội Ném Còn là phần nghi lễ, thầy Mo dâng hai quả Còn làm lễ giữa đất trời cầu mong những điều tốt đẹp, dân làng bình an, no ấm, mùa màng tốt tươi. Sau phần lễ, thầy Mo tung 2 quả Còn cho dân làng tranh cướp, khai cuộc chơi. Ném Còn đòi hỏi sức khỏe và sự khéo léo, nếu ném trúng vòng tròn và xuyên thủng giấy là âm dương hòa hợp, mùa màng bội thu.

Lễ hội Ném Còn thu hút đông đảo người dân tham gia

Trò chơi Ném Còn của người Thái mang tới thông điệp cầu mong âm dương hòa hợp, con cháu trong nhà đông đúc. Những người Thái hiếm muộn cũng hào hứng ném Còn để cầu tự. Lễ hội Ném Còn tại Tuyên Quang Với người Tày mang ý nghĩa cầu mùa màng. Thầy Mo sẽ rạch quả được ban phép lấy hạt tung lên để mọi người cùng hứng lấy vận may. Người Tày cho rằng những hạt giống này sẽ mang lại mùa màng bội thu vì đã được truyền hơi ấm từ nhưng bàn tay nam nữ. Đối với người Mường, lễ hội Ném Còn còn là dịp để nam thanh nữ tú gặp gỡ và tìm hiểu nhau. Người thua sẽ để lại một vật để làm tin. Sau khi két thúc lễ hội, người thua cuộc sẽ qua nhà người thắng lấy lại vật đã gửi, là cái cớ để hai người gặp gỡ.

Trò chơi Ném Còn của người Thái mang tới thông điệp cầu mong âm dương hòa hợp, con cháu trong nhà đông đúc. Những người Thái hiếm muộn cũng hào hứng ném Còn để cầu tự.

Lễ hội Ném Còn tại Tuyên Quang

Với người Tày mang ý nghĩa cầu mùa màng. Thầy Mo sẽ rạch quả được ban phép lấy hạt tung lên để mọi người cùng hứng lấy vận may. Người Tày cho rằng những hạt giống này sẽ mang lại mùa màng bội thu vì đã được truyền hơi ấm từ nhưng bàn tay nam nữ.

Đối với người Mường, lễ hội Ném Còn còn là dịp để nam thanh nữ tú gặp gỡ và tìm hiểu nhau. Người thua sẽ để lại một vật để làm tin. Sau khi két thúc lễ hội, người thua cuộc sẽ qua nhà người thắng lấy lại vật đã gửi, là cái cớ để hai người gặp gỡ.

Related Figures

Lễ hội chiến thắng Ấp Bắc

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 2/1 Dương lịch Ngày 2/1 hàng năm, người dân Cai Lậy tưng bừng tổ chức lễ hội chiến thắng Ấp Bắc để tưởng nhớ cuộc kháng chiến chống Mỹ gian khổ nhưng hào hùng của người dân Ấp Bắc nói riêng và đồng bào cả nước nói chung. Lễ hội chiến thắng Ấp Bắc diễn ra huyện Cai Lậy Ấp Bắc là một ấp nhỏ tại xã Tân Phú, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Nơi đây diễn ra nhiều trận đánh lịch sử trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Những năm 1960, đế quốc Mỹ tiến hành "chiến tranh đặc biệt", đáng chú ý là cuộc càn quét quy mô lớn bằng chiến thuật trực thăng vận, thiết xa vận vào Ấp Bắc nhằm tiêu diệt quân giải phóng chủ lực của Việt Nam.Trận Ấp Bắc ngày 2/1/1963 bẻ gãy chiến thuật trực thăng vận, thiết xa vận của Mỹ. Tưng bừng lễ hội chiến thắng Ấp Bắc Cuối tháng 12 hàng năm, người dân Ấp Bắc tập trung tại khu di tích Ấp Bắc long trọng tổ chức lễ hội. Những năm chẵn thường được tổ chức với quy mô lớn, có sự tham gia của lực lượng vũ trang và đông đảo bà con nơi đây. Lễ hội chiến thắng Ấp Bắc có rất nhiều hoạt động đặc biệt như chương trình hành trình về nguồn, tổ chức giải đấu thể thao, pháo hoa, thả diều nghệ thuật... Tượng đài ba anh hùng gang thép tại di tích Ấp Bắc Khu di tích Ấp Bắc gồm hai khu vực chính, có quảng trường rộng lớn. Khu một gồm tượng đài, hồ sen, nhà trưng bày máy bay và xe tăng, nhà mộ ba chiến sĩ gang thép. Khu hai là khu trưng bày hiện vật chiến tranh. Trong khu di tích Ấp Bắc còn xây dựng mô hình phục chế lại những cảnh thời chiến oanh liệt, hào hùng. Di tích Ấp Bắc được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng di tích lịch sử văn hóa Quốc gia theo quyết định số 43/QĐBT ngày 7/1/1993.

Lễ hội chiến thắng Ấp Bắc diễn ra huyện Cai Lậy Ấp Bắc là một ấp nhỏ tại xã Tân Phú, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Nơi đây diễn ra nhiều trận đánh lịch sử trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Những năm 1960, đế quốc Mỹ tiến hành "chiến tranh đặc biệt", đáng chú ý là cuộc càn quét quy mô lớn bằng chiến thuật trực thăng vận, thiết xa vận vào Ấp Bắc nhằm tiêu diệt quân giải phóng chủ lực của Việt Nam.Trận Ấp Bắc ngày 2/1/1963 bẻ gãy chiến thuật trực thăng vận, thiết xa vận của Mỹ. Tưng bừng lễ hội chiến thắng Ấp Bắc Cuối tháng 12 hàng năm, người dân Ấp Bắc tập trung tại khu di tích Ấp Bắc long trọng tổ chức lễ hội. Những năm chẵn thường được tổ chức với quy mô lớn, có sự tham gia của lực lượng vũ trang và đông đảo bà con nơi đây. Lễ hội chiến thắng Ấp Bắc có rất nhiều hoạt động đặc biệt như chương trình hành trình về nguồn, tổ chức giải đấu thể thao, pháo hoa, thả diều nghệ thuật... Tượng đài ba anh hùng gang thép tại di tích Ấp Bắc Khu di tích Ấp Bắc gồm hai khu vực chính, có quảng trường rộng lớn. Khu một gồm tượng đài, hồ sen, nhà trưng bày máy bay và xe tăng, nhà mộ ba chiến sĩ gang thép. Khu hai là khu trưng bày hiện vật chiến tranh. Trong khu di tích Ấp Bắc còn xây dựng mô hình phục chế lại những cảnh thời chiến oanh liệt, hào hùng. Di tích Ấp Bắc được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng di tích lịch sử văn hóa Quốc gia theo quyết định số 43/QĐBT ngày 7/1/1993.

Ấp Bắc là một ấp nhỏ tại xã Tân Phú, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Nơi đây diễn ra nhiều trận đánh lịch sử trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Những năm 1960, đế quốc Mỹ tiến hành "chiến tranh đặc biệt", đáng chú ý là cuộc càn quét quy mô lớn bằng chiến thuật trực thăng vận, thiết xa vận vào Ấp Bắc nhằm tiêu diệt quân giải phóng chủ lực của Việt Nam.Trận Ấp Bắc ngày 2/1/1963 bẻ gãy chiến thuật trực thăng vận, thiết xa vận của Mỹ.

Tưng bừng lễ hội chiến thắng Ấp Bắc

Cuối tháng 12 hàng năm, người dân Ấp Bắc tập trung tại khu di tích Ấp Bắc long trọng tổ chức lễ hội. Những năm chẵn thường được tổ chức với quy mô lớn, có sự tham gia của lực lượng vũ trang và đông đảo bà con nơi đây. Lễ hội chiến thắng Ấp Bắc có rất nhiều hoạt động đặc biệt như chương trình hành trình về nguồn, tổ chức giải đấu thể thao, pháo hoa, thả diều nghệ thuật...

Tượng đài ba anh hùng gang thép tại di tích Ấp Bắc

Khu di tích Ấp Bắc gồm hai khu vực chính, có quảng trường rộng lớn. Khu một gồm tượng đài, hồ sen, nhà trưng bày máy bay và xe tăng, nhà mộ ba chiến sĩ gang thép. Khu hai là khu trưng bày hiện vật chiến tranh. Trong khu di tích Ấp Bắc còn xây dựng mô hình phục chế lại những cảnh thời chiến oanh liệt, hào hùng. Di tích Ấp Bắc được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng di tích lịch sử văn hóa Quốc gia theo quyết định số 43/QĐBT ngày 7/1/1993.

Related Figures

Lễ hội Nam Kỳ kh

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 23/11 Dương lịch Lễ hội Nam Kỳ khởi nghĩa diễn ra ngày 23/11 dương lịch tại đình Long Hưng, xã Long Hưng, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Lễ hội Nam Kỳ khởi nghĩa được tổ chức long trọng Lễ hội Nam Kỳ khởi nghĩa là dịp để người dân thể hiện lòng thành kính với những bậc tiền nhân hy sinh, không tiếc xương máu kháng chiến chống ngoại xâm giành độc lập cho dân tộc. Mái đình Long Hưng trụ sở Ủy ban khởi nghĩa Mỹ Tho Theo tài liệu lịch sử, ngày 23/11/1940, đình Long Hưng thời ấy là trụ sở Ủy ban khởi nghĩa tỉnh Mỹ Tho trong cuộc khởi nghĩa Nam kỳ. Bắt đầu từ đình Long Hưng quốc kỳ, lá cờ đỏ sao vàng đầu tiên được treo lên, khẩu hiệu Việt Nam Dân chủ Công hòa cũng được hô vang. Đông đảo quần chúng nhân dân từ người già, thanh niên, phụ nữ không phân biệt giai cấp tham gia vào đội quân khởi nghĩa. Đồng chí Nguyễn Thị Thập lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ Lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ là đồng chí Nguyễn Thị Thập. Dưới sự lãnh đạo tài tình của bà, cuộc khởi nghĩa diễn ra sôi nổi và quyết liệt. Ngày 23/11, chính quyền cách mạng đầu tiên trên cả nước được thành lập là chính quyền cách mạng Mỹ Tho. Hàng năm, cứ đến ngày Nam Kỳ khởi nghĩa, bà con nơi đây tổ chức long trọng tổ chức lễ hội để kỷ niệm sự kiện lịch sử này. Những năm chẵn lễ hội Nam Kỳ khởi nghĩa được tổ chức lớn hơn, tổ chức nhiều hoạt động văn nghệ, pháo hoa nghệ thuật đặc sắc, cắm trại, thi làm bánh, chưng nghi. Đặc biệt là những thước phim lịch sử lưu động phát cho bà con xem tái diễn lại cuộc đồng khởi năm 1940. Khu triển lãm lịch sử về cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ cũng thu hút sự chú ý của nhân dân và du khách thập phương tới tham dự.

Lễ hội Nam Kỳ khởi nghĩa được tổ chức long trọng Lễ hội Nam Kỳ khởi nghĩa là dịp để người dân thể hiện lòng thành kính với những bậc tiền nhân hy sinh, không tiếc xương máu kháng chiến chống ngoại xâm giành độc lập cho dân tộc. Mái đình Long Hưng trụ sở Ủy ban khởi nghĩa Mỹ Tho Theo tài liệu lịch sử, ngày 23/11/1940, đình Long Hưng thời ấy là trụ sở Ủy ban khởi nghĩa tỉnh Mỹ Tho trong cuộc khởi nghĩa Nam kỳ. Bắt đầu từ đình Long Hưng quốc kỳ, lá cờ đỏ sao vàng đầu tiên được treo lên, khẩu hiệu Việt Nam Dân chủ Công hòa cũng được hô vang. Đông đảo quần chúng nhân dân từ người già, thanh niên, phụ nữ không phân biệt giai cấp tham gia vào đội quân khởi nghĩa. Đồng chí Nguyễn Thị Thập lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ Lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ là đồng chí Nguyễn Thị Thập. Dưới sự lãnh đạo tài tình của bà, cuộc khởi nghĩa diễn ra sôi nổi và quyết liệt. Ngày 23/11, chính quyền cách mạng đầu tiên trên cả nước được thành lập là chính quyền cách mạng Mỹ Tho. Hàng năm, cứ đến ngày Nam Kỳ khởi nghĩa, bà con nơi đây tổ chức long trọng tổ chức lễ hội để kỷ niệm sự kiện lịch sử này. Những năm chẵn lễ hội Nam Kỳ khởi nghĩa được tổ chức lớn hơn, tổ chức nhiều hoạt động văn nghệ, pháo hoa nghệ thuật đặc sắc, cắm trại, thi làm bánh, chưng nghi. Đặc biệt là những thước phim lịch sử lưu động phát cho bà con xem tái diễn lại cuộc đồng khởi năm 1940. Khu triển lãm lịch sử về cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ cũng thu hút sự chú ý của nhân dân và du khách thập phương tới tham dự.

Lễ hội Nam Kỳ khởi nghĩa là dịp để người dân thể hiện lòng thành kính với những bậc tiền nhân hy sinh, không tiếc xương máu kháng chiến chống ngoại xâm giành độc lập cho dân tộc. Mái đình Long Hưng trụ sở Ủy ban khởi nghĩa Mỹ Tho Theo tài liệu lịch sử, ngày 23/11/1940, đình Long Hưng thời ấy là trụ sở Ủy ban khởi nghĩa tỉnh Mỹ Tho trong cuộc khởi nghĩa Nam kỳ. Bắt đầu từ đình Long Hưng quốc kỳ, lá cờ đỏ sao vàng đầu tiên được treo lên, khẩu hiệu Việt Nam Dân chủ Công hòa cũng được hô vang. Đông đảo quần chúng nhân dân từ người già, thanh niên, phụ nữ không phân biệt giai cấp tham gia vào đội quân khởi nghĩa. Đồng chí Nguyễn Thị Thập lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ Lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ là đồng chí Nguyễn Thị Thập. Dưới sự lãnh đạo tài tình của bà, cuộc khởi nghĩa diễn ra sôi nổi và quyết liệt. Ngày 23/11, chính quyền cách mạng đầu tiên trên cả nước được thành lập là chính quyền cách mạng Mỹ Tho. Hàng năm, cứ đến ngày Nam Kỳ khởi nghĩa, bà con nơi đây tổ chức long trọng tổ chức lễ hội để kỷ niệm sự kiện lịch sử này. Những năm chẵn lễ hội Nam Kỳ khởi nghĩa được tổ chức lớn hơn, tổ chức nhiều hoạt động văn nghệ, pháo hoa nghệ thuật đặc sắc, cắm trại, thi làm bánh, chưng nghi. Đặc biệt là những thước phim lịch sử lưu động phát cho bà con xem tái diễn lại cuộc đồng khởi năm 1940. Khu triển lãm lịch sử về cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ cũng thu hút sự chú ý của nhân dân và du khách thập phương tới tham dự.

Mái đình Long Hưng trụ sở Ủy ban khởi nghĩa Mỹ Tho Theo tài liệu lịch sử, ngày 23/11/1940, đình Long Hưng thời ấy là trụ sở Ủy ban khởi nghĩa tỉnh Mỹ Tho trong cuộc khởi nghĩa Nam kỳ. Bắt đầu từ đình Long Hưng quốc kỳ, lá cờ đỏ sao vàng đầu tiên được treo lên, khẩu hiệu Việt Nam Dân chủ Công hòa cũng được hô vang. Đông đảo quần chúng nhân dân từ người già, thanh niên, phụ nữ không phân biệt giai cấp tham gia vào đội quân khởi nghĩa. Đồng chí Nguyễn Thị Thập lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ Lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ là đồng chí Nguyễn Thị Thập. Dưới sự lãnh đạo tài tình của bà, cuộc khởi nghĩa diễn ra sôi nổi và quyết liệt. Ngày 23/11, chính quyền cách mạng đầu tiên trên cả nước được thành lập là chính quyền cách mạng Mỹ Tho. Hàng năm, cứ đến ngày Nam Kỳ khởi nghĩa, bà con nơi đây tổ chức long trọng tổ chức lễ hội để kỷ niệm sự kiện lịch sử này. Những năm chẵn lễ hội Nam Kỳ khởi nghĩa được tổ chức lớn hơn, tổ chức nhiều hoạt động văn nghệ, pháo hoa nghệ thuật đặc sắc, cắm trại, thi làm bánh, chưng nghi. Đặc biệt là những thước phim lịch sử lưu động phát cho bà con xem tái diễn lại cuộc đồng khởi năm 1940. Khu triển lãm lịch sử về cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ cũng thu hút sự chú ý của nhân dân và du khách thập phương tới tham dự.

Theo tài liệu lịch sử, ngày 23/11/1940, đình Long Hưng thời ấy là trụ sở Ủy ban khởi nghĩa tỉnh Mỹ Tho trong cuộc khởi nghĩa Nam kỳ. Bắt đầu từ đình Long Hưng quốc kỳ, lá cờ đỏ sao vàng đầu tiên được treo lên, khẩu hiệu Việt Nam Dân chủ Công hòa cũng được hô vang. Đông đảo quần chúng nhân dân từ người già, thanh niên, phụ nữ không phân biệt giai cấp tham gia vào đội quân khởi nghĩa.

Đồng chí Nguyễn Thị Thập lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ

Lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ là đồng chí Nguyễn Thị Thập. Dưới sự lãnh đạo tài tình của bà, cuộc khởi nghĩa diễn ra sôi nổi và quyết liệt. Ngày 23/11, chính quyền cách mạng đầu tiên trên cả nước được thành lập là chính quyền cách mạng Mỹ Tho.

Hàng năm, cứ đến ngày Nam Kỳ khởi nghĩa, bà con nơi đây tổ chức long trọng tổ chức lễ hội để kỷ niệm sự kiện lịch sử này. Những năm chẵn lễ hội Nam Kỳ khởi nghĩa được tổ chức lớn hơn, tổ chức nhiều hoạt động văn nghệ, pháo hoa nghệ thuật đặc sắc, cắm trại, thi làm bánh, chưng nghi. Đặc biệt là những thước phim lịch sử lưu động phát cho bà con xem tái diễn lại cuộc đồng khởi năm 1940. Khu triển lãm lịch sử về cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ cũng thu hút sự chú ý của nhân dân và du khách thập phương tới tham dự.

Related Figures

Lễ giỗ anh hùng dân tộc Trương Định tỉnh Tiền Giang

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 17/8- 20/8 Âm lịch Lễ giỗ anh hùng dân tộc Trương Định được tổ chức ngày 17-20/8 âm lịch hàng năm tại đền thờ Trương Định (thị xã Gò Công), đình Gia Thuận (huyện Gò Công Đông). Lễ giỗ Bình Tây Đại nguyên soái Trương Định không quá phô trương nhưng vẫn giữ được sự uy nghi, kính cẩn. Tại thị xã Gò Công tổ chức thêm lễ rước linh và dâng hoa tại tượng đài Bình Tây Đại nguyên soái Trương Định. Tượng đài anh hùng dân tộc Trương Định Một điều khá đặc biệt của lễ giỗ anh hùng dân tộc Trương Định không chỉ tổ chức tại Tiền Giang mà tại Quảng Ngãi quê hương ông cũng tổ chức lễ giỗ ngày 17-18/8 dương lịch hàng năm. Anh hùng dân tộc Trương Định sinh năm 1820 tại thôn Trường Định, xã Tư Cung, phủ Bình Sơn (nay là xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi). Năm 24 tuổi, Trương Định theo cha vào Nam chiêu mộ dân, lập đồn điền Gia Thuận. Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, tấn công thành Gia Định, ông đem cơ binh gia nhập quân triều đình chống giặc. Trương Định lập được nhiều chiến công, điển hình là trận phục kích giết chết đại úy Barbe ngày 7/12/1860. Đền thờ Trương Định nơi diễn ra lễ hội Năm 1862, triều đình Huế ký hòa ước năm Nhâm Tuất giao 3 tỉnh miền Đông cho Pháp, hạ lệnh cho Trương Định bãi binh để nhận chức lãnh binh tỉnh An Giang. Ông khước từ lệnh triều đình theo yêu cầu của nhân dân và nghĩa sĩ, ở lại Tân Hòa cùng nhân dân kháng chiến chống ngoại xâm. Ông được nhan dân phong tặng danh hiệu "Bình Tây Đại nguyên soái". Đêm 19/8/1864, tên phản bội Huỳnh Công Tấn dẫn một nhóm binh linh bao vây nơi Trương Định ở. Rạng sáng ngày 20/8/1864, Trương Định bị đánh úp tại Gò Công Đông. Trương Định bị trọng thương, quyết không để rơi vào tay giặc, ông rút gươm tuẫn tiết để bảo toàn khí tiết anh hùng.Tấm gương bất khuất của Trương Định khơi dậy tinh thần chiến đấu kiên cường cho đồng bào trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Người dân tham gia lễ giỗ anh hùng dân tộc Trương Định Người dân Gò Công xây dựng mộ, đền thờ và tượng Bình Tây Đại nguyên soái Trương Định, tổ chức lễ cúng tế long trọng để tưởng nhớ công ơn ông. Trương Định trở thành vị thần bảo hộ cuộc sống cho người dân trong vùng.

Tượng đài anh hùng dân tộc Trương Định Một điều khá đặc biệt của lễ giỗ anh hùng dân tộc Trương Định không chỉ tổ chức tại Tiền Giang mà tại Quảng Ngãi quê hương ông cũng tổ chức lễ giỗ ngày 17-18/8 dương lịch hàng năm. Anh hùng dân tộc Trương Định sinh năm 1820 tại thôn Trường Định, xã Tư Cung, phủ Bình Sơn (nay là xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi). Năm 24 tuổi, Trương Định theo cha vào Nam chiêu mộ dân, lập đồn điền Gia Thuận. Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, tấn công thành Gia Định, ông đem cơ binh gia nhập quân triều đình chống giặc. Trương Định lập được nhiều chiến công, điển hình là trận phục kích giết chết đại úy Barbe ngày 7/12/1860. Đền thờ Trương Định nơi diễn ra lễ hội Năm 1862, triều đình Huế ký hòa ước năm Nhâm Tuất giao 3 tỉnh miền Đông cho Pháp, hạ lệnh cho Trương Định bãi binh để nhận chức lãnh binh tỉnh An Giang. Ông khước từ lệnh triều đình theo yêu cầu của nhân dân và nghĩa sĩ, ở lại Tân Hòa cùng nhân dân kháng chiến chống ngoại xâm. Ông được nhan dân phong tặng danh hiệu "Bình Tây Đại nguyên soái". Đêm 19/8/1864, tên phản bội Huỳnh Công Tấn dẫn một nhóm binh linh bao vây nơi Trương Định ở. Rạng sáng ngày 20/8/1864, Trương Định bị đánh úp tại Gò Công Đông. Trương Định bị trọng thương, quyết không để rơi vào tay giặc, ông rút gươm tuẫn tiết để bảo toàn khí tiết anh hùng.Tấm gương bất khuất của Trương Định khơi dậy tinh thần chiến đấu kiên cường cho đồng bào trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Người dân tham gia lễ giỗ anh hùng dân tộc Trương Định Người dân Gò Công xây dựng mộ, đền thờ và tượng Bình Tây Đại nguyên soái Trương Định, tổ chức lễ cúng tế long trọng để tưởng nhớ công ơn ông. Trương Định trở thành vị thần bảo hộ cuộc sống cho người dân trong vùng.

Một điều khá đặc biệt của lễ giỗ anh hùng dân tộc Trương Định không chỉ tổ chức tại Tiền Giang mà tại Quảng Ngãi quê hương ông cũng tổ chức lễ giỗ ngày 17-18/8 dương lịch hàng năm.

Anh hùng dân tộc Trương Định sinh năm 1820 tại thôn Trường Định, xã Tư Cung, phủ Bình Sơn (nay là xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi). Năm 24 tuổi, Trương Định theo cha vào Nam chiêu mộ dân, lập đồn điền Gia Thuận. Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, tấn công thành Gia Định, ông đem cơ binh gia nhập quân triều đình chống giặc. Trương Định lập được nhiều chiến công, điển hình là trận phục kích giết chết đại úy Barbe ngày 7/12/1860. Đền thờ Trương Định nơi diễn ra lễ hội Năm 1862, triều đình Huế ký hòa ước năm Nhâm Tuất giao 3 tỉnh miền Đông cho Pháp, hạ lệnh cho Trương Định bãi binh để nhận chức lãnh binh tỉnh An Giang. Ông khước từ lệnh triều đình theo yêu cầu của nhân dân và nghĩa sĩ, ở lại Tân Hòa cùng nhân dân kháng chiến chống ngoại xâm. Ông được nhan dân phong tặng danh hiệu "Bình Tây Đại nguyên soái". Đêm 19/8/1864, tên phản bội Huỳnh Công Tấn dẫn một nhóm binh linh bao vây nơi Trương Định ở. Rạng sáng ngày 20/8/1864, Trương Định bị đánh úp tại Gò Công Đông. Trương Định bị trọng thương, quyết không để rơi vào tay giặc, ông rút gươm tuẫn tiết để bảo toàn khí tiết anh hùng.Tấm gương bất khuất của Trương Định khơi dậy tinh thần chiến đấu kiên cường cho đồng bào trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Người dân tham gia lễ giỗ anh hùng dân tộc Trương Định Người dân Gò Công xây dựng mộ, đền thờ và tượng Bình Tây Đại nguyên soái Trương Định, tổ chức lễ cúng tế long trọng để tưởng nhớ công ơn ông. Trương Định trở thành vị thần bảo hộ cuộc sống cho người dân trong vùng.

Anh hùng dân tộc Trương Định sinh năm 1820 tại thôn Trường Định, xã Tư Cung, phủ Bình Sơn (nay là xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi). Năm 24 tuổi, Trương Định theo cha vào Nam chiêu mộ dân, lập đồn điền Gia Thuận. Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, tấn công thành Gia Định, ông đem cơ binh gia nhập quân triều đình chống giặc. Trương Định lập được nhiều chiến công, điển hình là trận phục kích giết chết đại úy Barbe ngày 7/12/1860.

Đền thờ Trương Định nơi diễn ra lễ hội

Năm 1862, triều đình Huế ký hòa ước năm Nhâm Tuất giao 3 tỉnh miền Đông cho Pháp, hạ lệnh cho Trương Định bãi binh để nhận chức lãnh binh tỉnh An Giang. Ông khước từ lệnh triều đình theo yêu cầu của nhân dân và nghĩa sĩ, ở lại Tân Hòa cùng nhân dân kháng chiến chống ngoại xâm. Ông được nhan dân phong tặng danh hiệu "Bình Tây Đại nguyên soái". Đêm 19/8/1864, tên phản bội Huỳnh Công Tấn dẫn một nhóm binh linh bao vây nơi Trương Định ở. Rạng sáng ngày 20/8/1864, Trương Định bị đánh úp tại Gò Công Đông. Trương Định bị trọng thương, quyết không để rơi vào tay giặc, ông rút gươm tuẫn tiết để bảo toàn khí tiết anh hùng.Tấm gương bất khuất của Trương Định khơi dậy tinh thần chiến đấu kiên cường cho đồng bào trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Người dân tham gia lễ giỗ anh hùng dân tộc Trương Định

Người dân Gò Công xây dựng mộ, đền thờ và tượng Bình Tây Đại nguyên soái Trương Định, tổ chức lễ cúng tế long trọng để tưởng nhớ công ơn ông. Trương Định trở thành vị thần bảo hộ cuộc sống cho người dân trong vùng.

Related Figures

Hội đền Côn Giang tỉnh Thái Bình

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 7/9- 9/9 Âm lịch Hội đền Côn Giang được mở từ ngày 7-9/9 âm lịch hàng năm. Đền Côn Giang là nơi thờ Thám Hoa Tiến sí Quách Hữu Nghiêm, người có công đầu trong việc đi sứ sang nhà Minh thời Hậu Lê. Hội đền Côn Giang được tổ chức trang trọng Đền Côn Giang là ngôi đền cổ kính hàng trăm năm tuổi, được Nhà nước công nhận là Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc Gia (năm 1989). Lễ hội truyền thống đền Côn Giang là dịp người dân tưởng nhớ anh hùng dân tộc Quách Hữu Nghiêm. Ông đậu Hoàng giáp, thăng tới chức Thương thư và là chánh sứ sang nhà Minh. Quách Hữu Nghiêm mất ngày 9/9/1504 (năm Giáp Tý). Sau khi hoàn thành việc đi sứ, trên đường thủy về nước, khi thuyền vào sông Trà Lý tới ngã ba sông Cun, Quách Hữu Nghiêm qua đời. Dân làng mai táng và lập đền thờ ông tại đây. Hàng năm vào ngày 7-9/9, dân làng mở hội, thành kính dâng hương tưởng nhớ ông. Có tới 10 làng cùng tổ chức hội đền Cun (Côn Giang). Từ sáng ngày 7/9, dân làng tổ chức cuộc rước Thánh về đình, chùa, lăng miếu trong làng rồi rước về đền. Đông đảo người dân tham gia hội đền Côn Giang Sau đó tiến hành cuộc tế lễ, chủ tế thay mặt dân 12 con giáp đọc văn tế ca ngợi công đức của Thánh. Sau phần lễ tới phần hội với nhiều hoạt động phong phú, nhiều trò chơi dân gian truyền thống như đánh cờ, chọi gà, đánh gậy hay đấu vật... Trò đánh gậy do trai tráng trong vùng thực hiện. Trên gậy có một đầu được bôi vôi hay chấm mực. Khi thi đấu chỉ được phép đánh đòn bôi, khi đánh đòn nào thì quệt gậy đánh dấu chứng tỏ đối phương đã lĩnh đòn. Cây bàng cổ thụ đền Côn Giang Du khách đến thăm đền Côn Giang đặc biệt ấn tượng với hình ảnh hai cây bàng cổ kính trước sân đền. Nằm trụ trước sân, hai cây bàng như hai vị Hộ pháp đứng uy nghi, quy tụ linh khí của đất trời bảo vệ đền thiêng, tỏa bóng mát che chở cho dân làng. Hai cây bàng đền Côn Giang được công nhận là cây Di sản Việt Nam

Hội đền Côn Giang được mở từ ngày 7-9/9 âm lịch hàng năm. Đền Côn Giang là nơi thờ Thám Hoa Tiến sí Quách Hữu Nghiêm, người có công đầu trong việc đi sứ sang nhà Minh thời Hậu Lê.

Hội đền Côn Giang được tổ chức trang trọng

Đền Côn Giang là ngôi đền cổ kính hàng trăm năm tuổi, được Nhà nước công nhận là Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc Gia (năm 1989). Lễ hội truyền thống đền Côn Giang là dịp người dân tưởng nhớ anh hùng dân tộc Quách Hữu Nghiêm. Ông đậu Hoàng giáp, thăng tới chức Thương thư và là chánh sứ sang nhà Minh. Quách Hữu Nghiêm mất ngày 9/9/1504 (năm Giáp Tý). Sau khi hoàn thành việc đi sứ, trên đường thủy về nước, khi thuyền vào sông Trà Lý tới ngã ba sông Cun, Quách Hữu Nghiêm qua đời. Dân làng mai táng và lập đền thờ ông tại đây. Hàng năm vào ngày 7-9/9, dân làng mở hội, thành kính dâng hương tưởng nhớ ông. Có tới 10 làng cùng tổ chức hội đền Cun (Côn Giang). Từ sáng ngày 7/9, dân làng tổ chức cuộc rước Thánh về đình, chùa, lăng miếu trong làng rồi rước về đền.

Đông đảo người dân tham gia hội đền Côn Giang

Sau đó tiến hành cuộc tế lễ, chủ tế thay mặt dân 12 con giáp đọc văn tế ca ngợi công đức của Thánh. Sau phần lễ tới phần hội với nhiều hoạt động phong phú, nhiều trò chơi dân gian truyền thống như đánh cờ, chọi gà, đánh gậy hay đấu vật... Trò đánh gậy do trai tráng trong vùng thực hiện. Trên gậy có một đầu được bôi vôi hay chấm mực. Khi thi đấu chỉ được phép đánh đòn bôi, khi đánh đòn nào thì quệt gậy đánh dấu chứng tỏ đối phương đã lĩnh đòn.

Cây bàng cổ thụ đền Côn Giang

Du khách đến thăm đền Côn Giang đặc biệt ấn tượng với hình ảnh hai cây bàng cổ kính trước sân đền. Nằm trụ trước sân, hai cây bàng như hai vị Hộ pháp đứng uy nghi, quy tụ linh khí của đất trời bảo vệ đền thiêng, tỏa bóng mát che chở cho dân làng. Hai cây bàng đền Côn Giang được công nhận là cây Di sản Việt Nam

Related Figures

Lễ hội truyền thống đình Lại Trì tỉnh Thái Bình

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 11/9- 15/9 Âm lịch Lễ hội truyền thống đình Lại Trì diễn ra từ ngày 11-15/9 âm lịch hàng năm, cùng ngày mở hội thu chùa Keo. Lễ hội đình Lại Trì được tổ chức để tưởng nhớ công ơn đức Quốc sư Dương Không Lộ, lễ Thánh, lễ Phật, cầu mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an. Lễ hội truyền thống đình Lại Trì được tổ chức trang nghiêm Đình Lại Trì là một trong những ngôi đình lớn của huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình gồm đại đình, am từ, sông Rồng, bến Ngự. Đình Lại Trì thờ Quốc sư Dương Không Lộ, người có công lớn truyền bá Phật giáo, hoằng dương Phật pháp, chữa khỏi bệnh cho vua Lý Thánh Tông. Trải qua nhiều biến cố lịch sử, người dân nơi đây vẫn giữ lại được những công trình cốt yếu của đình. Ngày 22/2/1998, đình Lại Trì được công nhận Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh theo quyết định 138QĐ/UB của UBND tỉnh Thái Bình. Đình Lại Trì được Bộ Văn hóa Thể Thao và Du lịch xếp hạng Di tích quốc gia theo quyết định 1262/QĐ-BVHTTDL ngày 14/4/2011. Đình Lại Trì không chỉ là di sản văn hóa mà còn là nơi ghi dấu lịch sử của Đảng bộ và nhân dân xã Vũ Tây trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Đông đảo người dân tham gia lễ hội truyền thống đình Lại Trì Lễ hội đình Lại Trì còn lưu giữ nhiều hoạt động văn hóa truyền thống như nghi lễ tế Phật, tế Thánh, rước kiệu, nhiều trò chơi dân gian như đánh cờ người, tổ tôm, bắt vịt... Lễ hội đình Lại Trì đặc biệt nhất phần rước và thi bơi thuyền. Trước giờ đua trải, đội rước sẽ rước kiệu Thánh từ đình ra bến Ngự. Chiều 12/9, sau cuộc đua trải, kiệu Thánh được rước từ bến Ngự ra chùa Am để Ngài thăm mẹ một đêm. Ngày 13/9 âm lịch là ngày lễ bách nhật, ngày 14/9 đản sanh đại sư Không Lộ, ngày 15/9 tế lễ trọng thể theo nghi lễ Phật giáo. Thi bơi thuyền trong lễ hội đình Lại Trì Lễ hội truyền thống đình Lại Trì không chỉ góp phần gìn giữ, phát huy giá trị văn hóa truyền thống mà còn là dịp tri ân công đức các vị phúc thần, anh hùng liệt sĩ cũng như giáo dục con cháu uống nước nhớ nguồn, thêm yêu quê hương, đất nước. Lễ hội đình Lại Trì để lại ấn tượng tốt đẹp với du khách thập phương bởi sự nồng hậu, chân tình của người dân nơi đây.

Lễ hội truyền thống đình Lại Trì được tổ chức trang nghiêm Đình Lại Trì là một trong những ngôi đình lớn của huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình gồm đại đình, am từ, sông Rồng, bến Ngự. Đình Lại Trì thờ Quốc sư Dương Không Lộ, người có công lớn truyền bá Phật giáo, hoằng dương Phật pháp, chữa khỏi bệnh cho vua Lý Thánh Tông. Trải qua nhiều biến cố lịch sử, người dân nơi đây vẫn giữ lại được những công trình cốt yếu của đình. Ngày 22/2/1998, đình Lại Trì được công nhận Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh theo quyết định 138QĐ/UB của UBND tỉnh Thái Bình. Đình Lại Trì được Bộ Văn hóa Thể Thao và Du lịch xếp hạng Di tích quốc gia theo quyết định 1262/QĐ-BVHTTDL ngày 14/4/2011. Đình Lại Trì không chỉ là di sản văn hóa mà còn là nơi ghi dấu lịch sử của Đảng bộ và nhân dân xã Vũ Tây trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Đông đảo người dân tham gia lễ hội truyền thống đình Lại Trì Lễ hội đình Lại Trì còn lưu giữ nhiều hoạt động văn hóa truyền thống như nghi lễ tế Phật, tế Thánh, rước kiệu, nhiều trò chơi dân gian như đánh cờ người, tổ tôm, bắt vịt... Lễ hội đình Lại Trì đặc biệt nhất phần rước và thi bơi thuyền. Trước giờ đua trải, đội rước sẽ rước kiệu Thánh từ đình ra bến Ngự. Chiều 12/9, sau cuộc đua trải, kiệu Thánh được rước từ bến Ngự ra chùa Am để Ngài thăm mẹ một đêm. Ngày 13/9 âm lịch là ngày lễ bách nhật, ngày 14/9 đản sanh đại sư Không Lộ, ngày 15/9 tế lễ trọng thể theo nghi lễ Phật giáo. Thi bơi thuyền trong lễ hội đình Lại Trì Lễ hội truyền thống đình Lại Trì không chỉ góp phần gìn giữ, phát huy giá trị văn hóa truyền thống mà còn là dịp tri ân công đức các vị phúc thần, anh hùng liệt sĩ cũng như giáo dục con cháu uống nước nhớ nguồn, thêm yêu quê hương, đất nước. Lễ hội đình Lại Trì để lại ấn tượng tốt đẹp với du khách thập phương bởi sự nồng hậu, chân tình của người dân nơi đây.

Đình Lại Trì là một trong những ngôi đình lớn của huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình gồm đại đình, am từ, sông Rồng, bến Ngự. Đình Lại Trì thờ Quốc sư Dương Không Lộ, người có công lớn truyền bá Phật giáo, hoằng dương Phật pháp, chữa khỏi bệnh cho vua Lý Thánh Tông. Trải qua nhiều biến cố lịch sử, người dân nơi đây vẫn giữ lại được những công trình cốt yếu của đình. Ngày 22/2/1998, đình Lại Trì được công nhận Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh theo quyết định 138QĐ/UB của UBND tỉnh Thái Bình. Đình Lại Trì được Bộ Văn hóa Thể Thao và Du lịch xếp hạng Di tích quốc gia theo quyết định 1262/QĐ-BVHTTDL ngày 14/4/2011. Đình Lại Trì không chỉ là di sản văn hóa mà còn là nơi ghi dấu lịch sử của Đảng bộ và nhân dân xã Vũ Tây trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Đông đảo người dân tham gia lễ hội truyền thống đình Lại Trì

Lễ hội đình Lại Trì còn lưu giữ nhiều hoạt động văn hóa truyền thống như nghi lễ tế Phật, tế Thánh, rước kiệu, nhiều trò chơi dân gian như đánh cờ người, tổ tôm, bắt vịt... Lễ hội đình Lại Trì đặc biệt nhất phần rước và thi bơi thuyền. Trước giờ đua trải, đội rước sẽ rước kiệu Thánh từ đình ra bến Ngự. Chiều 12/9, sau cuộc đua trải, kiệu Thánh được rước từ bến Ngự ra chùa Am để Ngài thăm mẹ một đêm. Ngày 13/9 âm lịch là ngày lễ bách nhật, ngày 14/9 đản sanh đại sư Không Lộ, ngày 15/9 tế lễ trọng thể theo nghi lễ Phật giáo.

Thi bơi thuyền trong lễ hội đình Lại Trì

Lễ hội truyền thống đình Lại Trì không chỉ góp phần gìn giữ, phát huy giá trị văn hóa truyền thống mà còn là dịp tri ân công đức các vị phúc thần, anh hùng liệt sĩ cũng như giáo dục con cháu uống nước nhớ nguồn, thêm yêu quê hương, đất nước. Lễ hội đình Lại Trì để lại ấn tượng tốt đẹp với du khách thập phương bởi sự nồng hậu, chân tình của người dân nơi đây.

Related Figures

Lễ vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 19/9 Âm lịch Lễ vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát được tổ chức trang nghiêm ngày 19/2, 19/6, 19/9 âm lịch hàng năm. Đây là 3 ngày vía quan trọng nhất trong năm của Phật tử khắp nơi trên cả nước. Lễ vía Đức Quán Thế Âm là một trong 15 lễ hội lớn nhất cả nước theo nghi lễ Phật giáo. Lễ vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát là ngày lễ lớn của Phật Giáo Khi nhắc tới Quán Thế Âm Bồ Tát, phật tử nghĩ ngay tới lòng từ bi cứu khổ, cứu nạn. Đức Quán Âm vì muốn cứu tất cả chúng sinh thoát khỏi bờ đê mê đến bến bờ giải thoát mà hiện thân ở cõi Ta bà. Hình ảnh Quán Thế Âm Bồ Tát được phật tử tôn kính và thường nghĩ đến hình ảnh một người Mẹ. Vì vậy, Quán Thế Âm còn được gọi là Mẹ hiền Quan Âm. Lễ vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát được tổ chức trang nghiêm Mỗi ngày vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát đều có ý nghĩa riêng. Ngày 19/2 là ngày vía Đức Quán Thế Âm đản sanh, ngày 19/6 là ngày vía Đức Quán Thế Âm thành đạo và ngày 19/9 là ngày vía Đức Quán Thế Âm xuất gia. Trong ngày vía Đức Quán Thế Âm, thiện nam tín nữ, phật tử khắp nơi đổ về các chùa miếu có thờ Quán Thế Âm Bồ Tát thành kính dâng hương cầu cho mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, gia đình hạnh phúc. Lễ vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát là dịp để Phật tử hành hương về nguồn cội, khơi dậy lòng từ bi hỷ xả, hướng thiện. Tham dự lễ vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, phật tử không phân biệt địa vị, giàu nghèo đều nô nức tới tham dự, để được chiêm bái Ngọc Quán Âm cho tình thương nhân loại, cầu mong những điều tốt lành nhất và hướng thiện. Lễ vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát khơi dậy lòng từ bi hỷ xả Lễ Vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát cũng là dịp để phật tử và du khách hiểu rõ hơn về sự phát triển văn hóa Phật giáo qua nhiều giai đoạn, nhiều thời kỳ lịch sử.

Lễ vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát là ngày lễ lớn của Phật Giáo Khi nhắc tới Quán Thế Âm Bồ Tát, phật tử nghĩ ngay tới lòng từ bi cứu khổ, cứu nạn. Đức Quán Âm vì muốn cứu tất cả chúng sinh thoát khỏi bờ đê mê đến bến bờ giải thoát mà hiện thân ở cõi Ta bà. Hình ảnh Quán Thế Âm Bồ Tát được phật tử tôn kính và thường nghĩ đến hình ảnh một người Mẹ. Vì vậy, Quán Thế Âm còn được gọi là Mẹ hiền Quan Âm. Lễ vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát được tổ chức trang nghiêm Mỗi ngày vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát đều có ý nghĩa riêng. Ngày 19/2 là ngày vía Đức Quán Thế Âm đản sanh, ngày 19/6 là ngày vía Đức Quán Thế Âm thành đạo và ngày 19/9 là ngày vía Đức Quán Thế Âm xuất gia. Trong ngày vía Đức Quán Thế Âm, thiện nam tín nữ, phật tử khắp nơi đổ về các chùa miếu có thờ Quán Thế Âm Bồ Tát thành kính dâng hương cầu cho mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, gia đình hạnh phúc. Lễ vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát là dịp để Phật tử hành hương về nguồn cội, khơi dậy lòng từ bi hỷ xả, hướng thiện. Tham dự lễ vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, phật tử không phân biệt địa vị, giàu nghèo đều nô nức tới tham dự, để được chiêm bái Ngọc Quán Âm cho tình thương nhân loại, cầu mong những điều tốt lành nhất và hướng thiện. Lễ vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát khơi dậy lòng từ bi hỷ xả Lễ Vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát cũng là dịp để phật tử và du khách hiểu rõ hơn về sự phát triển văn hóa Phật giáo qua nhiều giai đoạn, nhiều thời kỳ lịch sử.

Khi nhắc tới Quán Thế Âm Bồ Tát, phật tử nghĩ ngay tới lòng từ bi cứu khổ, cứu nạn. Đức Quán Âm vì muốn cứu tất cả chúng sinh thoát khỏi bờ đê mê đến bến bờ giải thoát mà hiện thân ở cõi Ta bà. Hình ảnh Quán Thế Âm Bồ Tát được phật tử tôn kính và thường nghĩ đến hình ảnh một người Mẹ. Vì vậy, Quán Thế Âm còn được gọi là Mẹ hiền Quan Âm.

Lễ vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát được tổ chức trang nghiêm

Mỗi ngày vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát đều có ý nghĩa riêng. Ngày 19/2 là ngày vía Đức Quán Thế Âm đản sanh, ngày 19/6 là ngày vía Đức Quán Thế Âm thành đạo và ngày 19/9 là ngày vía Đức Quán Thế Âm xuất gia. Trong ngày vía Đức Quán Thế Âm, thiện nam tín nữ, phật tử khắp nơi đổ về các chùa miếu có thờ Quán Thế Âm Bồ Tát thành kính dâng hương cầu cho mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, gia đình hạnh phúc. Lễ vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát là dịp để Phật tử hành hương về nguồn cội, khơi dậy lòng từ bi hỷ xả, hướng thiện. Tham dự lễ vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, phật tử không phân biệt địa vị, giàu nghèo đều nô nức tới tham dự, để được chiêm bái Ngọc Quán Âm cho tình thương nhân loại, cầu mong những điều tốt lành nhất và hướng thiện. Lễ vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát khơi dậy lòng từ bi hỷ xả Lễ Vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát cũng là dịp để phật tử và du khách hiểu rõ hơn về sự phát triển văn hóa Phật giáo qua nhiều giai đoạn, nhiều thời kỳ lịch sử.

Mỗi ngày vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát đều có ý nghĩa riêng. Ngày 19/2 là ngày vía Đức Quán Thế Âm đản sanh, ngày 19/6 là ngày vía Đức Quán Thế Âm thành đạo và ngày 19/9 là ngày vía Đức Quán Thế Âm xuất gia. Trong ngày vía Đức Quán Thế Âm, thiện nam tín nữ, phật tử khắp nơi đổ về các chùa miếu có thờ Quán Thế Âm Bồ Tát thành kính dâng hương cầu cho mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, gia đình hạnh phúc. Lễ vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát là dịp để Phật tử hành hương về nguồn cội, khơi dậy lòng từ bi hỷ xả, hướng thiện. Tham dự lễ vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, phật tử không phân biệt địa vị, giàu nghèo đều nô nức tới tham dự, để được chiêm bái Ngọc Quán Âm cho tình thương nhân loại, cầu mong những điều tốt lành nhất và hướng thiện. Lễ vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát khơi dậy lòng từ bi hỷ xả Lễ Vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát cũng là dịp để phật tử và du khách hiểu rõ hơn về sự phát triển văn hóa Phật giáo qua nhiều giai đoạn, nhiều thời kỳ lịch sử.

Lễ vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát là dịp để Phật tử hành hương về nguồn cội, khơi dậy lòng từ bi hỷ xả, hướng thiện. Tham dự lễ vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, phật tử không phân biệt địa vị, giàu nghèo đều nô nức tới tham dự, để được chiêm bái Ngọc Quán Âm cho tình thương nhân loại, cầu mong những điều tốt lành nhất và hướng thiện. Lễ vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát khơi dậy lòng từ bi hỷ xả Lễ Vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát cũng là dịp để phật tử và du khách hiểu rõ hơn về sự phát triển văn hóa Phật giáo qua nhiều giai đoạn, nhiều thời kỳ lịch sử.

Lễ vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát là dịp để Phật tử hành hương về nguồn cội, khơi dậy lòng từ bi hỷ xả, hướng thiện. Tham dự lễ vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, phật tử không phân biệt địa vị, giàu nghèo đều nô nức tới tham dự, để được chiêm bái Ngọc Quán Âm cho tình thương nhân loại, cầu mong những điều tốt lành nhất và hướng thiện.

Lễ vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát khơi dậy lòng từ bi hỷ xả

Lễ Vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát cũng là dịp để phật tử và du khách hiểu rõ hơn về sự phát triển văn hóa Phật giáo qua nhiều giai đoạn, nhiều thời kỳ lịch sử.

Related Figures

Lễ cúng tổ Minh Hải tỉnh Quảng Nam

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 7/11 Âm lịch Vào ngày 7/11 âm lịch hàng năm, Lễ cúng tổ Minh Hải sẽ được tổ chức tại chùa Chúc Thánh tỉnh Quảng Nam. Lễ cúng tổ Minh Hải bao gồm những nghi lễ liên quan đến Phật giáo. Sau phần tế lễ là phần hội với các hoạt động vui chơi, giải trí, thi đấu các trò chơi dân gian. Lễ cúng tổ Minh Hải được tổ chức theo nghi lễ Phật giáo Từ tín ngưỡng Phật giáo của người Việt và người Hoa nơi đây, Tổ đình Chúc Thánh có sự đa dạng phong phú về nhiều mặt, phong phú từ kiến trúc đình cho tới cách thờ phụng. Ngoài việc thờ Phật trong chánh điện, ngoài vườn đình Chúc thánh cũng lập miếu Ông, miếu Bà để thờ Thần Thành Hoàng, Thổ Địa để cho Phật tử cầu xin tài lộc, mua may bán đắt, đi tới nơi về tới chốn. Lễ cúng tổ Minh Hải nét văn hóa đặc sắc Quảng Nam Ngày nay, bên ngoài chùa Chúc Thánh không còn những bãi cát, đồi thông xanh xì vi vi trong gió như trước kia nữa. Du khách khi đến chùa không còn phải băng bộ qua những đoạn đường cát mà thay vào đó là những con đường cứng, những ngôi nhà đồ sộ. Nhưng bên trong vườn chùa vẫn còn giữ nguyên dáng vẻ cổ kính, vẫn còn đó hàng cây cổ thụ, những lớp bụi thời gian không thể nào xóa nhòa được. Lễ cúng sư tổ có công xây dựng chùa được tổ chức theo nghi lễ Phật giáo. Theo phong tục của người Hoa, khi họ đi tới đâu thường xây dựng chùa, miếu để thờ cúng cầu mưa thuận gió hòa, an cư lạc nghiệp, nhân dân bình an, hạnh phúc. Lễ cúng tổ Minh Hải được tổ chức trang trọng Hội An là một thương cảng trù phú (nay cũng là một trong những điểm đến hấp dẫn). Những thương nhân nước ngoài chủ yếu là người Hoa đã định cư tại đây. Vì vậy, Tổ Minh Hải sau khi quyết định định cư tại Hội An hoằng Pháp, Ngài chọn ra một nơi để tạo lập chùa Chúc Thánh với khoảng cách lý tưởng khoảng 1km không quá gần cũng không quá xa trung tâm phố cảng. Tổ Minh Hải chọn địa thế này với 2 mục đích: Yên tĩnh, vắng vẻ phù hợp với điều kiện tu hành, thiền định; không quá xa khu dân cư để người dân có thể đi bộ tới chùa tụng kinh lễ Phật.

Lễ cúng tổ Minh Hải được tổ chức theo nghi lễ Phật giáo Từ tín ngưỡng Phật giáo của người Việt và người Hoa nơi đây, Tổ đình Chúc Thánh có sự đa dạng phong phú về nhiều mặt, phong phú từ kiến trúc đình cho tới cách thờ phụng. Ngoài việc thờ Phật trong chánh điện, ngoài vườn đình Chúc thánh cũng lập miếu Ông, miếu Bà để thờ Thần Thành Hoàng, Thổ Địa để cho Phật tử cầu xin tài lộc, mua may bán đắt, đi tới nơi về tới chốn. Lễ cúng tổ Minh Hải nét văn hóa đặc sắc Quảng Nam Ngày nay, bên ngoài chùa Chúc Thánh không còn những bãi cát, đồi thông xanh xì vi vi trong gió như trước kia nữa. Du khách khi đến chùa không còn phải băng bộ qua những đoạn đường cát mà thay vào đó là những con đường cứng, những ngôi nhà đồ sộ. Nhưng bên trong vườn chùa vẫn còn giữ nguyên dáng vẻ cổ kính, vẫn còn đó hàng cây cổ thụ, những lớp bụi thời gian không thể nào xóa nhòa được. Lễ cúng sư tổ có công xây dựng chùa được tổ chức theo nghi lễ Phật giáo. Theo phong tục của người Hoa, khi họ đi tới đâu thường xây dựng chùa, miếu để thờ cúng cầu mưa thuận gió hòa, an cư lạc nghiệp, nhân dân bình an, hạnh phúc. Lễ cúng tổ Minh Hải được tổ chức trang trọng Hội An là một thương cảng trù phú (nay cũng là một trong những điểm đến hấp dẫn). Những thương nhân nước ngoài chủ yếu là người Hoa đã định cư tại đây. Vì vậy, Tổ Minh Hải sau khi quyết định định cư tại Hội An hoằng Pháp, Ngài chọn ra một nơi để tạo lập chùa Chúc Thánh với khoảng cách lý tưởng khoảng 1km không quá gần cũng không quá xa trung tâm phố cảng. Tổ Minh Hải chọn địa thế này với 2 mục đích: Yên tĩnh, vắng vẻ phù hợp với điều kiện tu hành, thiền định; không quá xa khu dân cư để người dân có thể đi bộ tới chùa tụng kinh lễ Phật.

Lễ cúng tổ Minh Hải được tổ chức theo nghi lễ Phật giáo Từ tín ngưỡng Phật giáo của người Việt và người Hoa nơi đây, Tổ đình Chúc Thánh có sự đa dạng phong phú về nhiều mặt, phong phú từ kiến trúc đình cho tới cách thờ phụng. Ngoài việc thờ Phật trong chánh điện, ngoài vườn đình Chúc thánh cũng lập miếu Ông, miếu Bà để thờ Thần Thành Hoàng, Thổ Địa để cho Phật tử cầu xin tài lộc, mua may bán đắt, đi tới nơi về tới chốn. Lễ cúng tổ Minh Hải nét văn hóa đặc sắc Quảng Nam Ngày nay, bên ngoài chùa Chúc Thánh không còn những bãi cát, đồi thông xanh xì vi vi trong gió như trước kia nữa. Du khách khi đến chùa không còn phải băng bộ qua những đoạn đường cát mà thay vào đó là những con đường cứng, những ngôi nhà đồ sộ. Nhưng bên trong vườn chùa vẫn còn giữ nguyên dáng vẻ cổ kính, vẫn còn đó hàng cây cổ thụ, những lớp bụi thời gian không thể nào xóa nhòa được. Lễ cúng sư tổ có công xây dựng chùa được tổ chức theo nghi lễ Phật giáo. Theo phong tục của người Hoa, khi họ đi tới đâu thường xây dựng chùa, miếu để thờ cúng cầu mưa thuận gió hòa, an cư lạc nghiệp, nhân dân bình an, hạnh phúc. Lễ cúng tổ Minh Hải được tổ chức trang trọng Hội An là một thương cảng trù phú (nay cũng là một trong những điểm đến hấp dẫn). Những thương nhân nước ngoài chủ yếu là người Hoa đã định cư tại đây. Vì vậy, Tổ Minh Hải sau khi quyết định định cư tại Hội An hoằng Pháp, Ngài chọn ra một nơi để tạo lập chùa Chúc Thánh với khoảng cách lý tưởng khoảng 1km không quá gần cũng không quá xa trung tâm phố cảng. Tổ Minh Hải chọn địa thế này với 2 mục đích: Yên tĩnh, vắng vẻ phù hợp với điều kiện tu hành, thiền định; không quá xa khu dân cư để người dân có thể đi bộ tới chùa tụng kinh lễ Phật.

Từ tín ngưỡng Phật giáo của người Việt và người Hoa nơi đây, Tổ đình Chúc Thánh có sự đa dạng phong phú về nhiều mặt, phong phú từ kiến trúc đình cho tới cách thờ phụng. Ngoài việc thờ Phật trong chánh điện, ngoài vườn đình Chúc thánh cũng lập miếu Ông, miếu Bà để thờ Thần Thành Hoàng, Thổ Địa để cho Phật tử cầu xin tài lộc, mua may bán đắt, đi tới nơi về tới chốn.

Lễ cúng tổ Minh Hải nét văn hóa đặc sắc Quảng Nam

Ngày nay, bên ngoài chùa Chúc Thánh không còn những bãi cát, đồi thông xanh xì vi vi trong gió như trước kia nữa. Du khách khi đến chùa không còn phải băng bộ qua những đoạn đường cát mà thay vào đó là những con đường cứng, những ngôi nhà đồ sộ. Nhưng bên trong vườn chùa vẫn còn giữ nguyên dáng vẻ cổ kính, vẫn còn đó hàng cây cổ thụ, những lớp bụi thời gian không thể nào xóa nhòa được.

Lễ cúng sư tổ có công xây dựng chùa được tổ chức theo nghi lễ Phật giáo. Theo phong tục của người Hoa, khi họ đi tới đâu thường xây dựng chùa, miếu để thờ cúng cầu mưa thuận gió hòa, an cư lạc nghiệp, nhân dân bình an, hạnh phúc.

Lễ cúng tổ Minh Hải được tổ chức trang trọng Hội An là một thương cảng trù phú (nay cũng là một trong những điểm đến hấp dẫn). Những thương nhân nước ngoài chủ yếu là người Hoa đã định cư tại đây. Vì vậy, Tổ Minh Hải sau khi quyết định định cư tại Hội An hoằng Pháp, Ngài chọn ra một nơi để tạo lập chùa Chúc Thánh với khoảng cách lý tưởng khoảng 1km không quá gần cũng không quá xa trung tâm phố cảng. Tổ Minh Hải chọn địa thế này với 2 mục đích: Yên tĩnh, vắng vẻ phù hợp với điều kiện tu hành, thiền định; không quá xa khu dân cư để người dân có thể đi bộ tới chùa tụng kinh lễ Phật.

Lễ cúng tổ Minh Hải được tổ chức trang trọng

Hội An là một thương cảng trù phú (nay cũng là một trong những điểm đến hấp dẫn). Những thương nhân nước ngoài chủ yếu là người Hoa đã định cư tại đây. Vì vậy, Tổ Minh Hải sau khi quyết định định cư tại Hội An hoằng Pháp, Ngài chọn ra một nơi để tạo lập chùa Chúc Thánh với khoảng cách lý tưởng khoảng 1km không quá gần cũng không quá xa trung tâm phố cảng. Tổ Minh Hải chọn địa thế này với 2 mục đích: Yên tĩnh, vắng vẻ phù hợp với điều kiện tu hành, thiền định; không quá xa khu dân cư để người dân có thể đi bộ tới chùa tụng kinh lễ Phật.

Related Figures

Hội thôn Thổ Hoàng tỉnh Hưng Yên

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/10 Âm lịch Thổ Hoàng tiếng Hán có nghĩa là "vùng đất vàng". Thổ Hoàng là ngôi làng nhỏ bình yên, giàu truyền thống hiếu học, một trong 10 làng có truyền thống khoa cử bậc nhất trong lịch sử nước ta. Vào ngày 1/10 âm lịch hàng năm, dân làng Thổ Hoàng mở hội để tưởng nhớ công ơn Thành hoàng làng đã có công giúp Triệu Quang Phục chiến thắng quân Lương. Thành hoàng làng Thổ Hoàng là Bùi Đạo Vương Phúc Thần Bùi Công Hộ, tướng quân của Dạ Trạch Vương Triệu Quang Phục. Hội thôn Thổ Hoàng thu hút đông đảo người dân tham gia Hội thôn Thổ Hoàng cũng giống những lễ hội khác của nước ta bao gồm phần lễ và phần hội. Phần lễ người dân dâng hương hoa, bánh giầy, cỗ chay... và tế lễ. Phần hội bao gồm ca hát, thi đấu nhiều trò chơi dân gian... Hội thôn Thổ Hoàng diễn ra long trọng, chứa đựng hồn quê, tình người; không chỉ thu hút đông đảo bà con nơi đây mà còn thu hút du khách ở nhiều nơi khác tham dự. Hội thôn Thổ Hoàng là lễ hội lớn của tỉnh Hưng Yên Trước đây, làng Thổ Hoàng gồm bảy xóm Dường, Đình, Cạo, Đá, Lươn, Mụ theo điển tích "Thất linh quần tụ". Theo hương ước của làng Thổ Hoàng được lưu giữ tới ngày nay, kể từ khi nhà nước phong kiến mở khoa thi kén chọn nhân tài giúp dân, giúp nước đến khoa thi cuối cùng, Thổ Hoàng đã có hàng trăm sĩ tử đỗ cử nhân, tú tài ở các kỳ thi Hương, 12 sĩ tử đỗ khoa bảng. Thổ Hoàng cũng là làng duy nhất của Phố Hiến xưa có đảo cò. Cò đậu trắng xóa trên những lùm cây trên đảo, nhìn từ xa giống như một lãng hoa khổng lồ đang rung rinh trước gió.

Hội thôn Thổ Hoàng thu hút đông đảo người dân tham gia Hội thôn Thổ Hoàng cũng giống những lễ hội khác của nước ta bao gồm phần lễ và phần hội. Phần lễ người dân dâng hương hoa, bánh giầy, cỗ chay... và tế lễ. Phần hội bao gồm ca hát, thi đấu nhiều trò chơi dân gian... Hội thôn Thổ Hoàng diễn ra long trọng, chứa đựng hồn quê, tình người; không chỉ thu hút đông đảo bà con nơi đây mà còn thu hút du khách ở nhiều nơi khác tham dự. Hội thôn Thổ Hoàng là lễ hội lớn của tỉnh Hưng Yên Trước đây, làng Thổ Hoàng gồm bảy xóm Dường, Đình, Cạo, Đá, Lươn, Mụ theo điển tích "Thất linh quần tụ". Theo hương ước của làng Thổ Hoàng được lưu giữ tới ngày nay, kể từ khi nhà nước phong kiến mở khoa thi kén chọn nhân tài giúp dân, giúp nước đến khoa thi cuối cùng, Thổ Hoàng đã có hàng trăm sĩ tử đỗ cử nhân, tú tài ở các kỳ thi Hương, 12 sĩ tử đỗ khoa bảng. Thổ Hoàng cũng là làng duy nhất của Phố Hiến xưa có đảo cò. Cò đậu trắng xóa trên những lùm cây trên đảo, nhìn từ xa giống như một lãng hoa khổng lồ đang rung rinh trước gió.

Hội thôn Thổ Hoàng cũng giống những lễ hội khác của nước ta bao gồm phần lễ và phần hội. Phần lễ người dân dâng hương hoa, bánh giầy, cỗ chay... và tế lễ. Phần hội bao gồm ca hát, thi đấu nhiều trò chơi dân gian... Hội thôn Thổ Hoàng diễn ra long trọng, chứa đựng hồn quê, tình người; không chỉ thu hút đông đảo bà con nơi đây mà còn thu hút du khách ở nhiều nơi khác tham dự. Hội thôn Thổ Hoàng là lễ hội lớn của tỉnh Hưng Yên Trước đây, làng Thổ Hoàng gồm bảy xóm Dường, Đình, Cạo, Đá, Lươn, Mụ theo điển tích "Thất linh quần tụ". Theo hương ước của làng Thổ Hoàng được lưu giữ tới ngày nay, kể từ khi nhà nước phong kiến mở khoa thi kén chọn nhân tài giúp dân, giúp nước đến khoa thi cuối cùng, Thổ Hoàng đã có hàng trăm sĩ tử đỗ cử nhân, tú tài ở các kỳ thi Hương, 12 sĩ tử đỗ khoa bảng. Thổ Hoàng cũng là làng duy nhất của Phố Hiến xưa có đảo cò. Cò đậu trắng xóa trên những lùm cây trên đảo, nhìn từ xa giống như một lãng hoa khổng lồ đang rung rinh trước gió.

Hội thôn Thổ Hoàng cũng giống những lễ hội khác của nước ta bao gồm phần lễ và phần hội. Phần lễ người dân dâng hương hoa, bánh giầy, cỗ chay... và tế lễ. Phần hội bao gồm ca hát, thi đấu nhiều trò chơi dân gian... Hội thôn Thổ Hoàng diễn ra long trọng, chứa đựng hồn quê, tình người; không chỉ thu hút đông đảo bà con nơi đây mà còn thu hút du khách ở nhiều nơi khác tham dự.

Hội thôn Thổ Hoàng là lễ hội lớn của tỉnh Hưng Yên

Trước đây, làng Thổ Hoàng gồm bảy xóm Dường, Đình, Cạo, Đá, Lươn, Mụ theo điển tích "Thất linh quần tụ". Theo hương ước của làng Thổ Hoàng được lưu giữ tới ngày nay, kể từ khi nhà nước phong kiến mở khoa thi kén chọn nhân tài giúp dân, giúp nước đến khoa thi cuối cùng, Thổ Hoàng đã có hàng trăm sĩ tử đỗ cử nhân, tú tài ở các kỳ thi Hương, 12 sĩ tử đỗ khoa bảng.

Thổ Hoàng cũng là làng duy nhất của Phố Hiến xưa có đảo cò. Cò đậu trắng xóa trên những lùm cây trên đảo, nhìn từ xa giống như một lãng hoa khổng lồ đang rung rinh trước gió.

Related Figures

Lễ hội tôn vinh nhãn lồng tình Hưng Yên

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 7/8- 14/8 Dương lịch Lễ hội tôn vinh nhãn lồng tỉnh Hưng Yên lần đầu tiên được tổ chức từ ngày 7-14/8/2017 nhằm quảng bá loại đặc sản nổi tiếng được mang tiến vua của vùng đất Phố Hiến xưa. Lễ hội tôn vinh nhãn lồng Hưng Yên năm 2017 Tham gia lễ hội lần này có 350 gian hàng của 22 tỉnh, thành phố trong cả nước tới trưng bày các sản phẩm nông sản tiêu biểu của vùng, hàng thủ công mỹ nghệ, sản phẩm của làng nghề... nhằm giới thiệu đặc sản, tiềm năng, thế mạnh của các vùng miền. Riêng tỉnh Hưng Yên có trên 100 gian hàng; trong đó, có hơn 20 gian trưng bày đặc sản nhãn lồng. Nhãn lồng là đặc sản tiến vua tỉnh Hưng Yên Lễ hội cũng là dịp để người tiêu dùng có thêm kiến thức để nhận biết và được thưởng thức sản phẩm nhãn lồng Hưng Yên đích thực; đồng thời cũng là cơ hội để các cơ sở sản xuất, chế biến có thể sản xuất được nông sản tốt, quản lý được chất lượng hàng từ nơi sản xuất đến tay người tiêu dùng, đáp ứng nhu cầu cả về chất lượng, mẫu mã, hình thức... Nhãn lồng Hưng Yên đem lại nguồn thu lớn cho bà con nơi đây Tỉnh Hưng Yên hiện tại có trên 4.000 ha nhãn đang cho thu hoạch. Nhãn được trồng tập trung ở thành phố Hưng Yên và các huyện Tiên Lữ, Kim Động, Khoái Châu. Sản lượng nhãn lồng hàng năm đạt trên 40.000 tấn, trị giá gần 1.000 tỷ đồng. Nhãn lồng Hưng Yên hiện được trồng, chăm sóc theo quy trình VietGap với công nghệ hiện đại. Nhãn lồng Hưng Yên được đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa là "Nhãn lồng Hưng Yên - Hương vị tiến vua". Tại lễ hội tôn vinh nhãn lồng lần thứ nhất, Cục sở hữu trí tuệ đã trao bằng chứng nhận chỉ dẫn địa lý tập thể cho sản phẩm nhãn lồng Hưng Yên.

Lễ hội tôn vinh nhãn lồng Hưng Yên năm 2017 Tham gia lễ hội lần này có 350 gian hàng của 22 tỉnh, thành phố trong cả nước tới trưng bày các sản phẩm nông sản tiêu biểu của vùng, hàng thủ công mỹ nghệ, sản phẩm của làng nghề... nhằm giới thiệu đặc sản, tiềm năng, thế mạnh của các vùng miền. Riêng tỉnh Hưng Yên có trên 100 gian hàng; trong đó, có hơn 20 gian trưng bày đặc sản nhãn lồng. Nhãn lồng là đặc sản tiến vua tỉnh Hưng Yên Lễ hội cũng là dịp để người tiêu dùng có thêm kiến thức để nhận biết và được thưởng thức sản phẩm nhãn lồng Hưng Yên đích thực; đồng thời cũng là cơ hội để các cơ sở sản xuất, chế biến có thể sản xuất được nông sản tốt, quản lý được chất lượng hàng từ nơi sản xuất đến tay người tiêu dùng, đáp ứng nhu cầu cả về chất lượng, mẫu mã, hình thức... Nhãn lồng Hưng Yên đem lại nguồn thu lớn cho bà con nơi đây Tỉnh Hưng Yên hiện tại có trên 4.000 ha nhãn đang cho thu hoạch. Nhãn được trồng tập trung ở thành phố Hưng Yên và các huyện Tiên Lữ, Kim Động, Khoái Châu. Sản lượng nhãn lồng hàng năm đạt trên 40.000 tấn, trị giá gần 1.000 tỷ đồng. Nhãn lồng Hưng Yên hiện được trồng, chăm sóc theo quy trình VietGap với công nghệ hiện đại. Nhãn lồng Hưng Yên được đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa là "Nhãn lồng Hưng Yên - Hương vị tiến vua". Tại lễ hội tôn vinh nhãn lồng lần thứ nhất, Cục sở hữu trí tuệ đã trao bằng chứng nhận chỉ dẫn địa lý tập thể cho sản phẩm nhãn lồng Hưng Yên.

Tham gia lễ hội lần này có 350 gian hàng của 22 tỉnh, thành phố trong cả nước tới trưng bày các sản phẩm nông sản tiêu biểu của vùng, hàng thủ công mỹ nghệ, sản phẩm của làng nghề... nhằm giới thiệu đặc sản, tiềm năng, thế mạnh của các vùng miền. Riêng tỉnh Hưng Yên có trên 100 gian hàng; trong đó, có hơn 20 gian trưng bày đặc sản nhãn lồng. Nhãn lồng là đặc sản tiến vua tỉnh Hưng Yên Lễ hội cũng là dịp để người tiêu dùng có thêm kiến thức để nhận biết và được thưởng thức sản phẩm nhãn lồng Hưng Yên đích thực; đồng thời cũng là cơ hội để các cơ sở sản xuất, chế biến có thể sản xuất được nông sản tốt, quản lý được chất lượng hàng từ nơi sản xuất đến tay người tiêu dùng, đáp ứng nhu cầu cả về chất lượng, mẫu mã, hình thức... Nhãn lồng Hưng Yên đem lại nguồn thu lớn cho bà con nơi đây Tỉnh Hưng Yên hiện tại có trên 4.000 ha nhãn đang cho thu hoạch. Nhãn được trồng tập trung ở thành phố Hưng Yên và các huyện Tiên Lữ, Kim Động, Khoái Châu. Sản lượng nhãn lồng hàng năm đạt trên 40.000 tấn, trị giá gần 1.000 tỷ đồng. Nhãn lồng Hưng Yên hiện được trồng, chăm sóc theo quy trình VietGap với công nghệ hiện đại. Nhãn lồng Hưng Yên được đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa là "Nhãn lồng Hưng Yên - Hương vị tiến vua". Tại lễ hội tôn vinh nhãn lồng lần thứ nhất, Cục sở hữu trí tuệ đã trao bằng chứng nhận chỉ dẫn địa lý tập thể cho sản phẩm nhãn lồng Hưng Yên.

Tham gia lễ hội lần này có 350 gian hàng của 22 tỉnh, thành phố trong cả nước tới trưng bày các sản phẩm nông sản tiêu biểu của vùng, hàng thủ công mỹ nghệ, sản phẩm của làng nghề... nhằm giới thiệu đặc sản, tiềm năng, thế mạnh của các vùng miền. Riêng tỉnh Hưng Yên có trên 100 gian hàng; trong đó, có hơn 20 gian trưng bày đặc sản nhãn lồng.

Nhãn lồng là đặc sản tiến vua tỉnh Hưng Yên

Lễ hội cũng là dịp để người tiêu dùng có thêm kiến thức để nhận biết và được thưởng thức sản phẩm nhãn lồng Hưng Yên đích thực; đồng thời cũng là cơ hội để các cơ sở sản xuất, chế biến có thể sản xuất được nông sản tốt, quản lý được chất lượng hàng từ nơi sản xuất đến tay người tiêu dùng, đáp ứng nhu cầu cả về chất lượng, mẫu mã, hình thức... Nhãn lồng Hưng Yên đem lại nguồn thu lớn cho bà con nơi đây Tỉnh Hưng Yên hiện tại có trên 4.000 ha nhãn đang cho thu hoạch. Nhãn được trồng tập trung ở thành phố Hưng Yên và các huyện Tiên Lữ, Kim Động, Khoái Châu. Sản lượng nhãn lồng hàng năm đạt trên 40.000 tấn, trị giá gần 1.000 tỷ đồng. Nhãn lồng Hưng Yên hiện được trồng, chăm sóc theo quy trình VietGap với công nghệ hiện đại. Nhãn lồng Hưng Yên được đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa là "Nhãn lồng Hưng Yên - Hương vị tiến vua". Tại lễ hội tôn vinh nhãn lồng lần thứ nhất, Cục sở hữu trí tuệ đã trao bằng chứng nhận chỉ dẫn địa lý tập thể cho sản phẩm nhãn lồng Hưng Yên.

Related Figures

Lễ hội A Sào tỉnh Thái Bình

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/3- 12/3 Âm lịch Ngày 10/2 âm lịch hàng năm, người dân A Sào mở hội làng, tế lễ ĐứcThánh Trần. Tương truyền đây là ngày sinh của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Lễ hội A Sào là lễ hội lớn ở Thái Bình Lễ hội A Sào diễn ra long trọng trong 3 ngày, là một trong những nghi lễ lớn nhất vùng. Theo tục lệ xưa, mỗi nghi thức trong lễ hội đều diễn ra theo nghi thức quốc gia, triều đình sẽ cử quan về hành tế. Lễ vật nhất định phải có bánh giày, loại mà mà nhân dân đã gói hàng ngàn, hàng vạn chiếc làm quân lương cho đoàn quân vượt sông Hóa đánh giặc năm xưa. Lễ hội A Sào diễn ra sôi nổi với nhiều hoạt động ý nghĩa Lễ hội A Sào gồm phần lễ và phần hội. Buổi sáng ngày 10/3 âm lịch sẽ có màn trống hội và biểu diễn vở chèo cổ "A Sào hiển Thánh". Buổi chiều sẽ tổ chức lễ rước bộ. Ngày 11/3, diễn ra nhiều hoạt động sôi nổi như: thi pháo đất, cờ tướng, bóng chuyền, tế lễ của 16 đội tế nữ quan, nam quan. Ngày 12/3, tiếp tục diễn ra nhiều trò chơi dân gian đậm nét văn hóa của đồng bằng châu thổ sông Hồng như: thi bơi chải, múa kéo chữ, giã bánh giày... Toàn cảnh đền A Sào nơi diễn ra lễ hội A Sào là địa danh lịch sử với ý nghĩa là "cái ổ, cái tổ" của nhà Trần. Năm 1258, quân dân nhà Trần tiến hành cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông lần thứ nhất, Trần Quốc Tuấn (khi đó mới 18 tuổi) đã được phong tước Thượng vị hầu và giao trọng trách trấn thủ đất A Sào. Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần 2, Trần Quốc Tuấn tổ chức xây dựng phòng tuyến thế trận thủy chiến. Nhân dân khắp vùng đã góp công, góp của, mang thóc gạo ủng hộ triều đình đánh giặc. "Thục túc binh cường" hệ thống kho lương thảo, vũ khí ở A Sào trở thành hậu cứ vững chắc cho nhà Trần đủ sức đánh tan quân Nguyên Mông. Ngày 14/4/2011, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch đã cấp bằng di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia cho Khu di tích đình, đền, bến tượng A Sào.

Lễ hội A Sào là lễ hội lớn ở Thái Bình Lễ hội A Sào diễn ra long trọng trong 3 ngày, là một trong những nghi lễ lớn nhất vùng. Theo tục lệ xưa, mỗi nghi thức trong lễ hội đều diễn ra theo nghi thức quốc gia, triều đình sẽ cử quan về hành tế. Lễ vật nhất định phải có bánh giày, loại mà mà nhân dân đã gói hàng ngàn, hàng vạn chiếc làm quân lương cho đoàn quân vượt sông Hóa đánh giặc năm xưa. Lễ hội A Sào diễn ra sôi nổi với nhiều hoạt động ý nghĩa Lễ hội A Sào gồm phần lễ và phần hội. Buổi sáng ngày 10/3 âm lịch sẽ có màn trống hội và biểu diễn vở chèo cổ "A Sào hiển Thánh". Buổi chiều sẽ tổ chức lễ rước bộ. Ngày 11/3, diễn ra nhiều hoạt động sôi nổi như: thi pháo đất, cờ tướng, bóng chuyền, tế lễ của 16 đội tế nữ quan, nam quan. Ngày 12/3, tiếp tục diễn ra nhiều trò chơi dân gian đậm nét văn hóa của đồng bằng châu thổ sông Hồng như: thi bơi chải, múa kéo chữ, giã bánh giày... Toàn cảnh đền A Sào nơi diễn ra lễ hội A Sào là địa danh lịch sử với ý nghĩa là "cái ổ, cái tổ" của nhà Trần. Năm 1258, quân dân nhà Trần tiến hành cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông lần thứ nhất, Trần Quốc Tuấn (khi đó mới 18 tuổi) đã được phong tước Thượng vị hầu và giao trọng trách trấn thủ đất A Sào. Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần 2, Trần Quốc Tuấn tổ chức xây dựng phòng tuyến thế trận thủy chiến. Nhân dân khắp vùng đã góp công, góp của, mang thóc gạo ủng hộ triều đình đánh giặc. "Thục túc binh cường" hệ thống kho lương thảo, vũ khí ở A Sào trở thành hậu cứ vững chắc cho nhà Trần đủ sức đánh tan quân Nguyên Mông. Ngày 14/4/2011, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch đã cấp bằng di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia cho Khu di tích đình, đền, bến tượng A Sào.

Lễ hội A Sào diễn ra long trọng trong 3 ngày, là một trong những nghi lễ lớn nhất vùng. Theo tục lệ xưa, mỗi nghi thức trong lễ hội đều diễn ra theo nghi thức quốc gia, triều đình sẽ cử quan về hành tế. Lễ vật nhất định phải có bánh giày, loại mà mà nhân dân đã gói hàng ngàn, hàng vạn chiếc làm quân lương cho đoàn quân vượt sông Hóa đánh giặc năm xưa.

Lễ hội A Sào diễn ra sôi nổi với nhiều hoạt động ý nghĩa

Lễ hội A Sào gồm phần lễ và phần hội. Buổi sáng ngày 10/3 âm lịch sẽ có màn trống hội và biểu diễn vở chèo cổ "A Sào hiển Thánh". Buổi chiều sẽ tổ chức lễ rước bộ.

Ngày 11/3, diễn ra nhiều hoạt động sôi nổi như: thi pháo đất, cờ tướng, bóng chuyền, tế lễ của 16 đội tế nữ quan, nam quan.

Ngày 12/3, tiếp tục diễn ra nhiều trò chơi dân gian đậm nét văn hóa của đồng bằng châu thổ sông Hồng như: thi bơi chải, múa kéo chữ, giã bánh giày...

Toàn cảnh đền A Sào nơi diễn ra lễ hội

A Sào là địa danh lịch sử với ý nghĩa là "cái ổ, cái tổ" của nhà Trần. Năm 1258, quân dân nhà Trần tiến hành cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông lần thứ nhất, Trần Quốc Tuấn (khi đó mới 18 tuổi) đã được phong tước Thượng vị hầu và giao trọng trách trấn thủ đất A Sào. Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần 2, Trần Quốc Tuấn tổ chức xây dựng phòng tuyến thế trận thủy chiến. Nhân dân khắp vùng đã góp công, góp của, mang thóc gạo ủng hộ triều đình đánh giặc. "Thục túc binh cường" hệ thống kho lương thảo, vũ khí ở A Sào trở thành hậu cứ vững chắc cho nhà Trần đủ sức đánh tan quân Nguyên Mông.

Ngày 14/4/2011, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch đã cấp bằng di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia cho Khu di tích đình, đền, bến tượng A Sào.

Related Figures

Hội làng Đại Bái tỉnh Bắc Ninh

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 27/9- 29/9 Âm lịch Hội làng Đại Bái được tổ chức vào ngày 10/4 và 29/9 âm lịch hàng năm (chính hội là 29/9 ngày giỗ tổ nghề gò, đúc đồng) tại xã Đại Bái, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Đông đảo người dân tham gia hội làng Đại Bái Đại Bái có tên cổ là Bưởi Nồi, cách trung tâm tỉnh Bắc Ninh khoảng 20km và cách thủ đô Hà Nội khoảng 35km. Đại Bái có hai ngôi đình. Đình trong là đình Văn lãng thờ Thành hoàng Lạc Long Quân và thờ Á thần Nguyễn Công Hiệp. Đình ngoài là đình Diên Lộc thờ tổ sư sáng chế nghề gò đồng Nguyễn Công Truyền (sinh năm 989, mất ngày 29/9). Dân làng noi theo mà lập nghiệp, dần dần trở thành nghề chính của làng. Sau khi mất, Nguyễn Công Truyền được truy tôn tiên sư, được người dân lập miếu thờ cúng. Hội làng Đại Bái được tổ chức trang trọng Lễ giỗ cụ tổ làng nghề đúc đồng diễn ra trong 3 ngày từ 27-29/9 âm lịch, chính lễ là 29/9. Mọi người từ phương xa về dự lễ thường mang theo những sản phẩm gò đồng, đúc chạm do mình chế tác ra đặt lên hương án thờ tổ nghề. Việc tế tổ được giao cho những người đứng đầu các dòng họ lớn (những vị ấy được gọi là hương trùm, cụ trùm) thực hiện. Chỉ có nóc các cụ trùm mới được giao vai trò chủ tế. Các quan viên, chức sắc trong làng không được giao vai trò này vì không phải là người đại diện cho nghề. Hội làng Đại Bái giỗ tổ nghề đúc đồng Lễ vật dâng lên tổ nghề trong ngày tế tổ gọi là lễ cỗ soạn, mỗi xóm chuẩn bị 2 mâm. Ngoài ra, còn chuẩn bị thêm xôi gà, bánh trái các loại. Sau phần cúng tế, cỗ soạn dành để kính các cụ trùm. Các quan viên, chức sắc không được dự cỗ soạn mà chỉ được dự mâm xôi gà do các xóm chuẩn bị.

Đông đảo người dân tham gia hội làng Đại Bái Đại Bái có tên cổ là Bưởi Nồi, cách trung tâm tỉnh Bắc Ninh khoảng 20km và cách thủ đô Hà Nội khoảng 35km. Đại Bái có hai ngôi đình. Đình trong là đình Văn lãng thờ Thành hoàng Lạc Long Quân và thờ Á thần Nguyễn Công Hiệp. Đình ngoài là đình Diên Lộc thờ tổ sư sáng chế nghề gò đồng Nguyễn Công Truyền (sinh năm 989, mất ngày 29/9). Dân làng noi theo mà lập nghiệp, dần dần trở thành nghề chính của làng. Sau khi mất, Nguyễn Công Truyền được truy tôn tiên sư, được người dân lập miếu thờ cúng. Hội làng Đại Bái được tổ chức trang trọng Lễ giỗ cụ tổ làng nghề đúc đồng diễn ra trong 3 ngày từ 27-29/9 âm lịch, chính lễ là 29/9. Mọi người từ phương xa về dự lễ thường mang theo những sản phẩm gò đồng, đúc chạm do mình chế tác ra đặt lên hương án thờ tổ nghề. Việc tế tổ được giao cho những người đứng đầu các dòng họ lớn (những vị ấy được gọi là hương trùm, cụ trùm) thực hiện. Chỉ có nóc các cụ trùm mới được giao vai trò chủ tế. Các quan viên, chức sắc trong làng không được giao vai trò này vì không phải là người đại diện cho nghề. Hội làng Đại Bái giỗ tổ nghề đúc đồng Lễ vật dâng lên tổ nghề trong ngày tế tổ gọi là lễ cỗ soạn, mỗi xóm chuẩn bị 2 mâm. Ngoài ra, còn chuẩn bị thêm xôi gà, bánh trái các loại. Sau phần cúng tế, cỗ soạn dành để kính các cụ trùm. Các quan viên, chức sắc không được dự cỗ soạn mà chỉ được dự mâm xôi gà do các xóm chuẩn bị.

Đại Bái có tên cổ là Bưởi Nồi, cách trung tâm tỉnh Bắc Ninh khoảng 20km và cách thủ đô Hà Nội khoảng 35km. Đại Bái có hai ngôi đình. Đình trong là đình Văn lãng thờ Thành hoàng Lạc Long Quân và thờ Á thần Nguyễn Công Hiệp. Đình ngoài là đình Diên Lộc thờ tổ sư sáng chế nghề gò đồng Nguyễn Công Truyền (sinh năm 989, mất ngày 29/9). Dân làng noi theo mà lập nghiệp, dần dần trở thành nghề chính của làng. Sau khi mất, Nguyễn Công Truyền được truy tôn tiên sư, được người dân lập miếu thờ cúng.

Hội làng Đại Bái được tổ chức trang trọng

Lễ giỗ cụ tổ làng nghề đúc đồng diễn ra trong 3 ngày từ 27-29/9 âm lịch, chính lễ là 29/9. Mọi người từ phương xa về dự lễ thường mang theo những sản phẩm gò đồng, đúc chạm do mình chế tác ra đặt lên hương án thờ tổ nghề.

Việc tế tổ được giao cho những người đứng đầu các dòng họ lớn (những vị ấy được gọi là hương trùm, cụ trùm) thực hiện. Chỉ có nóc các cụ trùm mới được giao vai trò chủ tế. Các quan viên, chức sắc trong làng không được giao vai trò này vì không phải là người đại diện cho nghề.

Hội làng Đại Bái giỗ tổ nghề đúc đồng

Lễ vật dâng lên tổ nghề trong ngày tế tổ gọi là lễ cỗ soạn, mỗi xóm chuẩn bị 2 mâm. Ngoài ra, còn chuẩn bị thêm xôi gà, bánh trái các loại. Sau phần cúng tế, cỗ soạn dành để kính các cụ trùm. Các quan viên, chức sắc không được dự cỗ soạn mà chỉ được dự mâm xôi gà do các xóm chuẩn bị.

Related Figures

Lễ cầu phúc Đình Cổi của người Mường

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 8/1 Âm lịch Lễ cầu phúc Đình Cổi được Người Mường ở xã Bình Chân, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình duy trì qua nhiều thế hệ; giờ đây đã trở thành nét văn hóa truyền thống không thể thiếu của người dân nơi đây. Lễ cầu phúc Đình Cổi văn hóa đặc sắc của người Mường Lễ cầu phúc không chỉ mang ý nghĩa "uống nước nhớ nguồn", còn là dịp cầu phúc, cầu mong thần linh phù hộ "trồng bắp có bắp to. Trồng lúa trổ bông dài, hạt chắc. Nuôi con cúi, con ca nhanh lớn. Con cháu học hành tiến bộ, khỏe mạnh, bình an". Người dân tham gia lễ cầu phúc Đình Cổi Vào ngày đầu xuân, ngày 7 tháng giêng theo lịch Mường (ngày 8 tháng giêng âm lịch), người Mường tổ chức lễ cầu phúc Đình Cổi. Lễ cầu phúc được bắt đầu bằng một hồi trống báo để con cháu trong Mường về tụ họp tại đình làng. Đầu tiên là lễ rước kiệu, thầy Mo đi đầu làm lễ, theo sau là đoàn khênh kiệu, cờ hội, đội múa chèo, đoàn cò ke ống sáo và đoàn sắc bùa. Tất cả đều mặc trang phục theo đúng phong tục xưa. Rước kiệu trong lễ cầu phúc Đình Cổi Khi thầy mo làm lễ mời thần linh về dự hội thì đoàn múa chèo bắt đầu biểu diễn. Điều đặc biệt là những người múa chèo đều được tuyển chọn từ những chàng trai ở xóm Cành. Trong mâm lễ cúng các vị thần (Thành hoàng, Quốc mẫu hoàng bà và vua) gồm: xôi trắng, thịt trâu, rượu, chuối luộc, mía, đu đủ và các loại bánh... Đình Cổi nơi diễn ra lễ cầu phúc xưa có tên gọi là Đình Chung Điểm, được xây dựng thế kỷ XIX. Đình được xây dựng theo kiến trúc nhà sàn của người Mường 3 gian 2 trái với 6 hàng chân cột được kê trên đá tảng, mái lợp tranh, dài khoảng 8m, rộng khoảng 5m, cao 7m, gồm cửa chính, một cửa phụ và 7 cửa voóng, gầm sàn cao 1,4m. Đình quay hướng Nam. Hầu hết vật dụng trong đình đều được làm bằng gỗ.

Lễ cầu phúc Đình Cổi văn hóa đặc sắc của người Mường Lễ cầu phúc không chỉ mang ý nghĩa "uống nước nhớ nguồn", còn là dịp cầu phúc, cầu mong thần linh phù hộ "trồng bắp có bắp to. Trồng lúa trổ bông dài, hạt chắc. Nuôi con cúi, con ca nhanh lớn. Con cháu học hành tiến bộ, khỏe mạnh, bình an". Người dân tham gia lễ cầu phúc Đình Cổi Vào ngày đầu xuân, ngày 7 tháng giêng theo lịch Mường (ngày 8 tháng giêng âm lịch), người Mường tổ chức lễ cầu phúc Đình Cổi. Lễ cầu phúc được bắt đầu bằng một hồi trống báo để con cháu trong Mường về tụ họp tại đình làng. Đầu tiên là lễ rước kiệu, thầy Mo đi đầu làm lễ, theo sau là đoàn khênh kiệu, cờ hội, đội múa chèo, đoàn cò ke ống sáo và đoàn sắc bùa. Tất cả đều mặc trang phục theo đúng phong tục xưa. Rước kiệu trong lễ cầu phúc Đình Cổi Khi thầy mo làm lễ mời thần linh về dự hội thì đoàn múa chèo bắt đầu biểu diễn. Điều đặc biệt là những người múa chèo đều được tuyển chọn từ những chàng trai ở xóm Cành. Trong mâm lễ cúng các vị thần (Thành hoàng, Quốc mẫu hoàng bà và vua) gồm: xôi trắng, thịt trâu, rượu, chuối luộc, mía, đu đủ và các loại bánh... Đình Cổi nơi diễn ra lễ cầu phúc xưa có tên gọi là Đình Chung Điểm, được xây dựng thế kỷ XIX. Đình được xây dựng theo kiến trúc nhà sàn của người Mường 3 gian 2 trái với 6 hàng chân cột được kê trên đá tảng, mái lợp tranh, dài khoảng 8m, rộng khoảng 5m, cao 7m, gồm cửa chính, một cửa phụ và 7 cửa voóng, gầm sàn cao 1,4m. Đình quay hướng Nam. Hầu hết vật dụng trong đình đều được làm bằng gỗ.

Lễ cầu phúc không chỉ mang ý nghĩa "uống nước nhớ nguồn", còn là dịp cầu phúc, cầu mong thần linh phù hộ "trồng bắp có bắp to. Trồng lúa trổ bông dài, hạt chắc. Nuôi con cúi, con ca nhanh lớn. Con cháu học hành tiến bộ, khỏe mạnh, bình an".

Người dân tham gia lễ cầu phúc Đình Cổi

Vào ngày đầu xuân, ngày 7 tháng giêng theo lịch Mường (ngày 8 tháng giêng âm lịch), người Mường tổ chức lễ cầu phúc Đình Cổi. Lễ cầu phúc được bắt đầu bằng một hồi trống báo để con cháu trong Mường về tụ họp tại đình làng. Đầu tiên là lễ rước kiệu, thầy Mo đi đầu làm lễ, theo sau là đoàn khênh kiệu, cờ hội, đội múa chèo, đoàn cò ke ống sáo và đoàn sắc bùa. Tất cả đều mặc trang phục theo đúng phong tục xưa.

Rước kiệu trong lễ cầu phúc Đình Cổi

Khi thầy mo làm lễ mời thần linh về dự hội thì đoàn múa chèo bắt đầu biểu diễn. Điều đặc biệt là những người múa chèo đều được tuyển chọn từ những chàng trai ở xóm Cành.

Trong mâm lễ cúng các vị thần (Thành hoàng, Quốc mẫu hoàng bà và vua) gồm: xôi trắng, thịt trâu, rượu, chuối luộc, mía, đu đủ và các loại bánh...

Đình Cổi nơi diễn ra lễ cầu phúc xưa có tên gọi là Đình Chung Điểm, được xây dựng thế kỷ XIX. Đình được xây dựng theo kiến trúc nhà sàn của người Mường 3 gian 2 trái với 6 hàng chân cột được kê trên đá tảng, mái lợp tranh, dài khoảng 8m, rộng khoảng 5m, cao 7m, gồm cửa chính, một cửa phụ và 7 cửa voóng, gầm sàn cao 1,4m. Đình quay hướng Nam. Hầu hết vật dụng trong đình đều được làm bằng gỗ.

Related Figures

Độc đáo lễ cầu phúc của người Thái

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/8- 31/8 Âm lịch Lễ cầu phúc là lễ hội tiêu biểu cho tín ngưỡng thờ thần của người thái tại Mai Châu, Hòa Bình. Tháng 8 âm lịch hàng năm, vào lúc chuẩn bị cày vụ mùa mới, người Thái tổ chức lễ cầu phúc để cầu thần linh phù ban phước lành cho mùa màng bội thu, dân bản sống no đủ. Đây cũng là dịp tổ chức lễ rửa lá lúa, xua đuổi thần trùng. Người dân tham gia lễ cầu phúc tại Hòa Bình Thông thường, lễ cầu phúc kéo dài trong ba ngày (có nơi hai ngày một đêm, có nơi một ngày một đêm). Vào ngày hội cầu phúc, người dân trong bản phải dọn dẹp sạch sẽ các miếu thờ trong bản, miéu thờ thổ công, thổ địa của từng nhà. Bờ ruộng, bờ mương cũng được tu sửa, be cao hơn để đón nước về. Lễ cầu phúc là nét văn hóa đặc sắc của người Thái ở Hòa Bình Tất cả các gia đình trong bản đều phải sắm cỗ chu đáo để làm lễ ở miếu thờ theo nguyên tắc: Năm trước cúng gà thì năm sau cúng lợn. Sau phần nghi lễ cúng thần ở miếu thờ trong bản, buổi chiều các gia đình làm thịt hai con gà để cúng thổ công và thổ địa tại nhà. Gà cúng thổ công thì để trong nhà còn gà cúng thổ địa thì được mang ra đặt ở ngoài ruộng. Lễ cầu phúc của người Thái Mai Châu được tổ chức ở bãi rộng gần đình giống như nhưng lễ hội ở châu thổ và đồng bằng. Sau phần nghi lễ, người Thái tổ chức phần hội sôi nổi với nhiều hoạt động như: nam nữ nổi trống, chiêng, múa xòe, thi bắn cung nỏ... Lễ cầu phúc ở Hòa Bình cầu mong thần linh phù hộ Ngày nay, quy mô lễ cầu phúc (tổ chức to hay nhỏ, kéo dài hay thu gọn) phụ thuộc vào sự được mất, nhiều ít của vụ mùa vừa qua và thời tiết liên quan tới sự được mất của vụ mùa tới.

Người dân tham gia lễ cầu phúc tại Hòa Bình Thông thường, lễ cầu phúc kéo dài trong ba ngày (có nơi hai ngày một đêm, có nơi một ngày một đêm). Vào ngày hội cầu phúc, người dân trong bản phải dọn dẹp sạch sẽ các miếu thờ trong bản, miéu thờ thổ công, thổ địa của từng nhà. Bờ ruộng, bờ mương cũng được tu sửa, be cao hơn để đón nước về. Lễ cầu phúc là nét văn hóa đặc sắc của người Thái ở Hòa Bình Tất cả các gia đình trong bản đều phải sắm cỗ chu đáo để làm lễ ở miếu thờ theo nguyên tắc: Năm trước cúng gà thì năm sau cúng lợn. Sau phần nghi lễ cúng thần ở miếu thờ trong bản, buổi chiều các gia đình làm thịt hai con gà để cúng thổ công và thổ địa tại nhà. Gà cúng thổ công thì để trong nhà còn gà cúng thổ địa thì được mang ra đặt ở ngoài ruộng. Lễ cầu phúc của người Thái Mai Châu được tổ chức ở bãi rộng gần đình giống như nhưng lễ hội ở châu thổ và đồng bằng. Sau phần nghi lễ, người Thái tổ chức phần hội sôi nổi với nhiều hoạt động như: nam nữ nổi trống, chiêng, múa xòe, thi bắn cung nỏ... Lễ cầu phúc ở Hòa Bình cầu mong thần linh phù hộ Ngày nay, quy mô lễ cầu phúc (tổ chức to hay nhỏ, kéo dài hay thu gọn) phụ thuộc vào sự được mất, nhiều ít của vụ mùa vừa qua và thời tiết liên quan tới sự được mất của vụ mùa tới.

Thông thường, lễ cầu phúc kéo dài trong ba ngày (có nơi hai ngày một đêm, có nơi một ngày một đêm). Vào ngày hội cầu phúc, người dân trong bản phải dọn dẹp sạch sẽ các miếu thờ trong bản, miéu thờ thổ công, thổ địa của từng nhà. Bờ ruộng, bờ mương cũng được tu sửa, be cao hơn để đón nước về.

Lễ cầu phúc là nét văn hóa đặc sắc của người Thái ở Hòa Bình

Tất cả các gia đình trong bản đều phải sắm cỗ chu đáo để làm lễ ở miếu thờ theo nguyên tắc: Năm trước cúng gà thì năm sau cúng lợn. Sau phần nghi lễ cúng thần ở miếu thờ trong bản, buổi chiều các gia đình làm thịt hai con gà để cúng thổ công và thổ địa tại nhà. Gà cúng thổ công thì để trong nhà còn gà cúng thổ địa thì được mang ra đặt ở ngoài ruộng. Lễ cầu phúc của người Thái Mai Châu được tổ chức ở bãi rộng gần đình giống như nhưng lễ hội ở châu thổ và đồng bằng.

Sau phần nghi lễ, người Thái tổ chức phần hội sôi nổi với nhiều hoạt động như: nam nữ nổi trống, chiêng, múa xòe, thi bắn cung nỏ...

Lễ cầu phúc ở Hòa Bình cầu mong thần linh phù hộ

Ngày nay, quy mô lễ cầu phúc (tổ chức to hay nhỏ, kéo dài hay thu gọn) phụ thuộc vào sự được mất, nhiều ít của vụ mùa vừa qua và thời tiết liên quan tới sự được mất của vụ mùa tới.

Related Figures

Lễ hội đền Quát (đền Yết Kiêu) tỉnh Hải Dương

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 14/8- 15/8 Âm lịch Đền Quát là đền thờ Yết Kiêu, anh hùng chống giặc ngoại xâm thời nhà Trần. Yết Kiêu đã sử dụng tài bơi lặn để đục thuyền quân xâm lược, giúp nhà Trần đánh bại quân Nguyên Mông thế kỷ XIII. Dân làng chài quê nhà vốn nghèo nàn, một tấc đất phơi chài cũng không có nên trước khi qua đời, ông tấu xin vua Trần cấp cho mỗi hộ dân chài 3 thước đất (tương đương 75m2) làm nơi phơi chài lưới không mất thuế. Sau khi Yết Kiêu qua đời, người dân nơi đập lập đề thờ tưởng nhớ công ơn và tôn ông làm Thành Hoàng. Đền Quát nơi thờ anh hùng dân tộc Yết Kiêu Hàng năm, từ ngày 14-20 tháng giêng tổ chức lễ hội. Từ năm 1976 đến nay, Lễ hội đền Quát (lễ hội đền Yết Kiêu) được chuyển sang mùa thu vào 2 ngày 14-15/8 âm lịch để hưởng ứng lễ hội Côn sơn - Kiếp Bạc. Người dân Hạ Bì tham dự lễ hội đền Quát (lễ hội đền Yết Kiêu) Lễ hội đền Quát (lễ hội đền Yết Kiêu) chứa đựng giá trị văn hóa đặc sắc, đề cao tinh thần thượng võ của dân tộc. Trong những ngày diễn ra lễ hội, du khách từ các tình thành phụ cận về thăm quan, tưởng niệm. Theo lệ làng xưa kia, từ ngày 9 tháng giêng, người dân thôn Hạ Bì, xã Yết Kiêu, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương tổ chức "lễ mộc dục". Lễ được tổ chức vào buổi tối do Ban khánh tiết đền tổ chức trước sự chứng kiến của chức sắc trong làng. Đây là hoạt động có ý nghĩa tâm linh đặc biệt mở đầu lễ hội với mục đích vệ sinh sạch sẽ thần tượng và đồ thờ để tổ chức lễ hội. Ngày 10 tháng giêng, dân làng chế biến lễ chay và lễ mặn dâng thánh từ nông sản địa phương. Lễ chay gồm 6 chiếc oản lớn chế biến từ 4,5kg gạo nếp, 1 chai rượu trắng, 6 đĩa chè khó, 1 nải chuối tiêu, 1 đĩa trầu cau Ngày 11 tháng giêng, theo lệ làng, 12 giáp phải làm lễ mặn gồm một con lợn, một mâm xôi trắng, một chai rượu và một đĩa trầu cau. Từ ngày 12-14 tháng giêng, các vị có phẩm hàm làm cỗ trực nhật. Vào những năm có "Phong đăng hòa cốc" dân làng Hạ Bì có lệ làm cỗ hộp để dâng thánh. Đây là loại cỗ đặc biệt của đền Quát (đền Yết Kiêu) thường có 3 cặp bánh chưng, 1 con gà trống trên 2kg, 10 tấm mía dóc sẵn, 1 con cá chép, 1 nải chuối tiêu, 1 chai rượu trắng, 1 cơi trầu cau. Tâm lễ đền Quát là lễ rước thủy và rước bộ. Lễ rước thủy được tiến hành trang trọng. Từ sáng sớm ngày 14 tháng Giêng, các hà chài chuẩn bị sẵn một chiếc thuyền lớn, trang trí lộng lẫy, sắp xếp hoa lễ, cờ biển và một choé để đựng nước. Ban khánh tiết chọn cử 01 người cao tuổi, đức độ thay mặt dân làng và các hà chài xuống thuyền ra giữa dòng sông lấy nước sạch vào để làm nước dâng cúng thánh suốt trong thời gian lễ hội. Lễ rước bộ được tiến hành vào ngày 15 tháng giêng. Ban khánh tiết chuẩn bị: Cờ thần, trống chiêng, bát cửu, đội bát âm, kiệu long đình... để thực hiện lễ rước. Lễ hội đền Quát (Lễ hội đền Yết Kiêu) sôi nổi Ngày hôm sau, dân làng mở hội thi bơi chải từ ngày 16-18 tháng giêng. Đây là hoạt động độc đáo, hấp dẫn và vui nhộn nhất ở hội đền Quát (hội đền Yết Kiêu). Ngày 20 tháng giêng tàn hội, các hà chào tạm biệt cố hương, trở về với sông nước quăng chài lưới hẹn mùa xuân năm tới lại về trẩy hội.

Đền Quát nơi thờ anh hùng dân tộc Yết Kiêu Hàng năm, từ ngày 14-20 tháng giêng tổ chức lễ hội. Từ năm 1976 đến nay, Lễ hội đền Quát (lễ hội đền Yết Kiêu) được chuyển sang mùa thu vào 2 ngày 14-15/8 âm lịch để hưởng ứng lễ hội Côn sơn - Kiếp Bạc. Người dân Hạ Bì tham dự lễ hội đền Quát (lễ hội đền Yết Kiêu) Lễ hội đền Quát (lễ hội đền Yết Kiêu) chứa đựng giá trị văn hóa đặc sắc, đề cao tinh thần thượng võ của dân tộc. Trong những ngày diễn ra lễ hội, du khách từ các tình thành phụ cận về thăm quan, tưởng niệm. Theo lệ làng xưa kia, từ ngày 9 tháng giêng, người dân thôn Hạ Bì, xã Yết Kiêu, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương tổ chức "lễ mộc dục". Lễ được tổ chức vào buổi tối do Ban khánh tiết đền tổ chức trước sự chứng kiến của chức sắc trong làng. Đây là hoạt động có ý nghĩa tâm linh đặc biệt mở đầu lễ hội với mục đích vệ sinh sạch sẽ thần tượng và đồ thờ để tổ chức lễ hội. Ngày 10 tháng giêng, dân làng chế biến lễ chay và lễ mặn dâng thánh từ nông sản địa phương. Lễ chay gồm 6 chiếc oản lớn chế biến từ 4,5kg gạo nếp, 1 chai rượu trắng, 6 đĩa chè khó, 1 nải chuối tiêu, 1 đĩa trầu cau Ngày 11 tháng giêng, theo lệ làng, 12 giáp phải làm lễ mặn gồm một con lợn, một mâm xôi trắng, một chai rượu và một đĩa trầu cau. Từ ngày 12-14 tháng giêng, các vị có phẩm hàm làm cỗ trực nhật. Vào những năm có "Phong đăng hòa cốc" dân làng Hạ Bì có lệ làm cỗ hộp để dâng thánh. Đây là loại cỗ đặc biệt của đền Quát (đền Yết Kiêu) thường có 3 cặp bánh chưng, 1 con gà trống trên 2kg, 10 tấm mía dóc sẵn, 1 con cá chép, 1 nải chuối tiêu, 1 chai rượu trắng, 1 cơi trầu cau. Tâm lễ đền Quát là lễ rước thủy và rước bộ. Lễ rước thủy được tiến hành trang trọng. Từ sáng sớm ngày 14 tháng Giêng, các hà chài chuẩn bị sẵn một chiếc thuyền lớn, trang trí lộng lẫy, sắp xếp hoa lễ, cờ biển và một choé để đựng nước. Ban khánh tiết chọn cử 01 người cao tuổi, đức độ thay mặt dân làng và các hà chài xuống thuyền ra giữa dòng sông lấy nước sạch vào để làm nước dâng cúng thánh suốt trong thời gian lễ hội. Lễ rước bộ được tiến hành vào ngày 15 tháng giêng. Ban khánh tiết chuẩn bị: Cờ thần, trống chiêng, bát cửu, đội bát âm, kiệu long đình... để thực hiện lễ rước. Lễ hội đền Quát (Lễ hội đền Yết Kiêu) sôi nổi Ngày hôm sau, dân làng mở hội thi bơi chải từ ngày 16-18 tháng giêng. Đây là hoạt động độc đáo, hấp dẫn và vui nhộn nhất ở hội đền Quát (hội đền Yết Kiêu). Ngày 20 tháng giêng tàn hội, các hà chào tạm biệt cố hương, trở về với sông nước quăng chài lưới hẹn mùa xuân năm tới lại về trẩy hội.

Hàng năm, từ ngày 14-20 tháng giêng tổ chức lễ hội. Từ năm 1976 đến nay, Lễ hội đền Quát (lễ hội đền Yết Kiêu) được chuyển sang mùa thu vào 2 ngày 14-15/8 âm lịch để hưởng ứng lễ hội Côn sơn - Kiếp Bạc.

Người dân Hạ Bì tham dự lễ hội đền Quát (lễ hội đền Yết Kiêu) Lễ hội đền Quát (lễ hội đền Yết Kiêu) chứa đựng giá trị văn hóa đặc sắc, đề cao tinh thần thượng võ của dân tộc. Trong những ngày diễn ra lễ hội, du khách từ các tình thành phụ cận về thăm quan, tưởng niệm. Theo lệ làng xưa kia, từ ngày 9 tháng giêng, người dân thôn Hạ Bì, xã Yết Kiêu, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương tổ chức "lễ mộc dục". Lễ được tổ chức vào buổi tối do Ban khánh tiết đền tổ chức trước sự chứng kiến của chức sắc trong làng. Đây là hoạt động có ý nghĩa tâm linh đặc biệt mở đầu lễ hội với mục đích vệ sinh sạch sẽ thần tượng và đồ thờ để tổ chức lễ hội. Ngày 10 tháng giêng, dân làng chế biến lễ chay và lễ mặn dâng thánh từ nông sản địa phương. Lễ chay gồm 6 chiếc oản lớn chế biến từ 4,5kg gạo nếp, 1 chai rượu trắng, 6 đĩa chè khó, 1 nải chuối tiêu, 1 đĩa trầu cau Ngày 11 tháng giêng, theo lệ làng, 12 giáp phải làm lễ mặn gồm một con lợn, một mâm xôi trắng, một chai rượu và một đĩa trầu cau. Từ ngày 12-14 tháng giêng, các vị có phẩm hàm làm cỗ trực nhật. Vào những năm có "Phong đăng hòa cốc" dân làng Hạ Bì có lệ làm cỗ hộp để dâng thánh. Đây là loại cỗ đặc biệt của đền Quát (đền Yết Kiêu) thường có 3 cặp bánh chưng, 1 con gà trống trên 2kg, 10 tấm mía dóc sẵn, 1 con cá chép, 1 nải chuối tiêu, 1 chai rượu trắng, 1 cơi trầu cau. Tâm lễ đền Quát là lễ rước thủy và rước bộ. Lễ rước thủy được tiến hành trang trọng. Từ sáng sớm ngày 14 tháng Giêng, các hà chài chuẩn bị sẵn một chiếc thuyền lớn, trang trí lộng lẫy, sắp xếp hoa lễ, cờ biển và một choé để đựng nước. Ban khánh tiết chọn cử 01 người cao tuổi, đức độ thay mặt dân làng và các hà chài xuống thuyền ra giữa dòng sông lấy nước sạch vào để làm nước dâng cúng thánh suốt trong thời gian lễ hội. Lễ rước bộ được tiến hành vào ngày 15 tháng giêng. Ban khánh tiết chuẩn bị: Cờ thần, trống chiêng, bát cửu, đội bát âm, kiệu long đình... để thực hiện lễ rước. Lễ hội đền Quát (Lễ hội đền Yết Kiêu) sôi nổi Ngày hôm sau, dân làng mở hội thi bơi chải từ ngày 16-18 tháng giêng. Đây là hoạt động độc đáo, hấp dẫn và vui nhộn nhất ở hội đền Quát (hội đền Yết Kiêu). Ngày 20 tháng giêng tàn hội, các hà chào tạm biệt cố hương, trở về với sông nước quăng chài lưới hẹn mùa xuân năm tới lại về trẩy hội.

Lễ hội đền Quát (lễ hội đền Yết Kiêu) chứa đựng giá trị văn hóa đặc sắc, đề cao tinh thần thượng võ của dân tộc. Trong những ngày diễn ra lễ hội, du khách từ các tình thành phụ cận về thăm quan, tưởng niệm.

Theo lệ làng xưa kia, từ ngày 9 tháng giêng, người dân thôn Hạ Bì, xã Yết Kiêu, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương tổ chức "lễ mộc dục". Lễ được tổ chức vào buổi tối do Ban khánh tiết đền tổ chức trước sự chứng kiến của chức sắc trong làng. Đây là hoạt động có ý nghĩa tâm linh đặc biệt mở đầu lễ hội với mục đích vệ sinh sạch sẽ thần tượng và đồ thờ để tổ chức lễ hội.

Ngày 10 tháng giêng, dân làng chế biến lễ chay và lễ mặn dâng thánh từ nông sản địa phương. Lễ chay gồm 6 chiếc oản lớn chế biến từ 4,5kg gạo nếp, 1 chai rượu trắng, 6 đĩa chè khó, 1 nải chuối tiêu, 1 đĩa trầu cau

Ngày 11 tháng giêng, theo lệ làng, 12 giáp phải làm lễ mặn gồm một con lợn, một mâm xôi trắng, một chai rượu và một đĩa trầu cau.

Từ ngày 12-14 tháng giêng, các vị có phẩm hàm làm cỗ trực nhật. Vào những năm có "Phong đăng hòa cốc" dân làng Hạ Bì có lệ làm cỗ hộp để dâng thánh. Đây là loại cỗ đặc biệt của đền Quát (đền Yết Kiêu) thường có 3 cặp bánh chưng, 1 con gà trống trên 2kg, 10 tấm mía dóc sẵn, 1 con cá chép, 1 nải chuối tiêu, 1 chai rượu trắng, 1 cơi trầu cau.

Tâm lễ đền Quát là lễ rước thủy và rước bộ. Lễ rước thủy được tiến hành trang trọng. Từ sáng sớm ngày 14 tháng Giêng, các hà chài chuẩn bị sẵn một chiếc thuyền lớn, trang trí lộng lẫy, sắp xếp hoa lễ, cờ biển và một choé để đựng nước. Ban khánh tiết chọn cử 01 người cao tuổi, đức độ thay mặt dân làng và các hà chài xuống thuyền ra giữa dòng sông lấy nước sạch vào để làm nước dâng cúng thánh suốt trong thời gian lễ hội. Lễ rước bộ được tiến hành vào ngày 15 tháng giêng. Ban khánh tiết chuẩn bị: Cờ thần, trống chiêng, bát cửu, đội bát âm, kiệu long đình... để thực hiện lễ rước.

Lễ hội đền Quát (Lễ hội đền Yết Kiêu) sôi nổi

Ngày hôm sau, dân làng mở hội thi bơi chải từ ngày 16-18 tháng giêng. Đây là hoạt động độc đáo, hấp dẫn và vui nhộn nhất ở hội đền Quát (hội đền Yết Kiêu).

Ngày 20 tháng giêng tàn hội, các hà chào tạm biệt cố hương, trở về với sông nước quăng chài lưới hẹn mùa xuân năm tới lại về trẩy hội.

Related Figures

Hội đền Gốm

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 13/8- 21/8 Âm lịch Hội đền Gốm diễn ra liên tục 7 ngày đêm từ 13-21/8 âm lịch tại xã Cổ Thành, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Đền Gốm thờ tướng Trần Khánh Dư - người có công lớn đánh chìm toàn bộ thuyền lương của quân Nguyên Mông tại cửa biển Quảng Ninh năm 1288. Hội đền Gốm sôi nổi với cảnh trên bến dưới thuyền Du khách tham dự hội đền Gốm chủ yếu là ngư dân ven biển tỉnh Hải Phòng, Quảng Ninh... Hội đền Gốm thường diễn lại một số tích truyện dân gian như: bơi chải, rước nước... để cầu mong mưa thuận gió hòa, ngư dân đi biển quan toàn, thu được nhiều cá tôm. Hội đền Gốm là phong tục tập quán lâu đời, nét đẹp văn hóa cần được bảo tồn. Hội đền Gốm là văn hóa đặc sắc của người dân Hải Dương Người dân nô nức tham dự hội đền Gốm trong cảnh "trên bến, dưới thuyền" đông vui nhộn nhịp. Không khí tưng bừng muôn màu, muôn sắc của hội đền Gốm đi vào ca dao: “ Gốm trông giang thuỷ hữu tình Càng nhìn, càng thấy vẻ sinh tuyệt vời Dưới sông thuyền chạy ngược xuôi Trên bờ phố Gốm hết lời ngợi ca Đêm đèn đốt tựa sao sa Đền thờ Nhân Huệ nguy nga lẫy lừng Nhân dân nô nức tưng bừng Đón rằm tháng tám hội mừng đua chen” Đền Gốm thờ tướng quân Trần Khánh Dư Ghi nhận công lao của Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư, sau khi ông qua đời, người dân địa phương đã xây dựng đền thờ ở đầu làng Gốm bên bờ sông kinh thầy. Đền Gốm được xây dựng vào thế kỷ XIV. Trải qua nhiều thăng trầm lịch sử, di tích đền Gốm được trùng tu tôn tạo nhiều lần. Thời nhà Lê, đền Gốm được trùng tu lại theo kiến trúc kiểu chữ "đinh" gồm 3 lớp nhà, 5 gian đại bái, 5 gian trung từ và 3 gian hậu cung. Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, đền Gốm cũng bị chúng đốt dỡ. Đến năm 1933, nhân dân công đức trùng tu lại toàn bộ đền Gốm, vẫn giữ nguyên kiến trúc 3 lớp nhà như cũ. Chỉ có nhà đại bái 5 gian được mở rộng thêm hai gian đầu để làm miếu cộ.

Hội đền Gốm sôi nổi với cảnh trên bến dưới thuyền Du khách tham dự hội đền Gốm chủ yếu là ngư dân ven biển tỉnh Hải Phòng, Quảng Ninh... Hội đền Gốm thường diễn lại một số tích truyện dân gian như: bơi chải, rước nước... để cầu mong mưa thuận gió hòa, ngư dân đi biển quan toàn, thu được nhiều cá tôm. Hội đền Gốm là phong tục tập quán lâu đời, nét đẹp văn hóa cần được bảo tồn. Hội đền Gốm là văn hóa đặc sắc của người dân Hải Dương Người dân nô nức tham dự hội đền Gốm trong cảnh "trên bến, dưới thuyền" đông vui nhộn nhịp. Không khí tưng bừng muôn màu, muôn sắc của hội đền Gốm đi vào ca dao: “ Gốm trông giang thuỷ hữu tình Càng nhìn, càng thấy vẻ sinh tuyệt vời Dưới sông thuyền chạy ngược xuôi Trên bờ phố Gốm hết lời ngợi ca Đêm đèn đốt tựa sao sa Đền thờ Nhân Huệ nguy nga lẫy lừng Nhân dân nô nức tưng bừng Đón rằm tháng tám hội mừng đua chen” Đền Gốm thờ tướng quân Trần Khánh Dư Ghi nhận công lao của Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư, sau khi ông qua đời, người dân địa phương đã xây dựng đền thờ ở đầu làng Gốm bên bờ sông kinh thầy. Đền Gốm được xây dựng vào thế kỷ XIV. Trải qua nhiều thăng trầm lịch sử, di tích đền Gốm được trùng tu tôn tạo nhiều lần. Thời nhà Lê, đền Gốm được trùng tu lại theo kiến trúc kiểu chữ "đinh" gồm 3 lớp nhà, 5 gian đại bái, 5 gian trung từ và 3 gian hậu cung. Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, đền Gốm cũng bị chúng đốt dỡ. Đến năm 1933, nhân dân công đức trùng tu lại toàn bộ đền Gốm, vẫn giữ nguyên kiến trúc 3 lớp nhà như cũ. Chỉ có nhà đại bái 5 gian được mở rộng thêm hai gian đầu để làm miếu cộ.

Du khách tham dự hội đền Gốm chủ yếu là ngư dân ven biển tỉnh Hải Phòng, Quảng Ninh... Hội đền Gốm thường diễn lại một số tích truyện dân gian như: bơi chải, rước nước... để cầu mong mưa thuận gió hòa, ngư dân đi biển quan toàn, thu được nhiều cá tôm. Hội đền Gốm là phong tục tập quán lâu đời, nét đẹp văn hóa cần được bảo tồn.

Hội đền Gốm là văn hóa đặc sắc của người dân Hải Dương

Người dân nô nức tham dự hội đền Gốm trong cảnh "trên bến, dưới thuyền" đông vui nhộn nhịp. Không khí tưng bừng muôn màu, muôn sắc của hội đền Gốm đi vào ca dao:

“ Gốm trông giang thuỷ hữu tình Càng nhìn, càng thấy vẻ sinh tuyệt vời Dưới sông thuyền chạy ngược xuôi Trên bờ phố Gốm hết lời ngợi ca Đêm đèn đốt tựa sao sa Đền thờ Nhân Huệ nguy nga lẫy lừng Nhân dân nô nức tưng bừng Đón rằm tháng tám hội mừng đua chen”

“ Gốm trông giang thuỷ hữu tình Càng nhìn, càng thấy vẻ sinh tuyệt vời Dưới sông thuyền chạy ngược xuôi Trên bờ phố Gốm hết lời ngợi ca Đêm đèn đốt tựa sao sa Đền thờ Nhân Huệ nguy nga lẫy lừng Nhân dân nô nức tưng bừng Đón rằm tháng tám hội mừng đua chen”

Đền Gốm thờ tướng quân Trần Khánh Dư Ghi nhận công lao của Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư, sau khi ông qua đời, người dân địa phương đã xây dựng đền thờ ở đầu làng Gốm bên bờ sông kinh thầy. Đền Gốm được xây dựng vào thế kỷ XIV. Trải qua nhiều thăng trầm lịch sử, di tích đền Gốm được trùng tu tôn tạo nhiều lần. Thời nhà Lê, đền Gốm được trùng tu lại theo kiến trúc kiểu chữ "đinh" gồm 3 lớp nhà, 5 gian đại bái, 5 gian trung từ và 3 gian hậu cung. Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, đền Gốm cũng bị chúng đốt dỡ. Đến năm 1933, nhân dân công đức trùng tu lại toàn bộ đền Gốm, vẫn giữ nguyên kiến trúc 3 lớp nhà như cũ. Chỉ có nhà đại bái 5 gian được mở rộng thêm hai gian đầu để làm miếu cộ.

Ghi nhận công lao của Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư, sau khi ông qua đời, người dân địa phương đã xây dựng đền thờ ở đầu làng Gốm bên bờ sông kinh thầy. Đền Gốm được xây dựng vào thế kỷ XIV. Trải qua nhiều thăng trầm lịch sử, di tích đền Gốm được trùng tu tôn tạo nhiều lần. Thời nhà Lê, đền Gốm được trùng tu lại theo kiến trúc kiểu chữ "đinh" gồm 3 lớp nhà, 5 gian đại bái, 5 gian trung từ và 3 gian hậu cung. Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, đền Gốm cũng bị chúng đốt dỡ. Đến năm 1933, nhân dân công đức trùng tu lại toàn bộ đền Gốm, vẫn giữ nguyên kiến trúc 3 lớp nhà như cũ. Chỉ có nhà đại bái 5 gian được mở rộng thêm hai gian đầu để làm miếu cộ.

Related Figures

Hội đền Cổ Trạch tỉnh Nam Định

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 18/8- 20/8 Âm lịch Hội đền Cổ Trạch diễn ra từ ngày 18-20/8 âm lịch hàng năm tại xã Lộc Vượng, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định. Hội đền Cổ Trạch bao gồm phần tế lễ, dâng hương và trẩy hội. Đền Cổ Trạch là đền cổ của xã Lộc Vượng Đền Cổ Trạch thờ Đức thánh Trần (Quốc công Tiết chế Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn). Trần Quốc Tuấn là một trong những nhà quân sự kiệt xuất nhất trong lịch sử dân tộc, nhà chính trị, nhà văn. Trần Quốc Tuấn nổi tiếng trong lịch sử với chiến công ba lần đẩy lùi quân Nguyên - Mông. Chiến thắng của Trần Quốc Tuấn trước đội quân Nguyên - Mông thời Hốt Tất Liệt là một trong những chiến công vĩ đại nhất trong lịch sử quân sự thế giới. Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn cùng với vua Quang Trung, đại tường Võ Nguyên Giáp được thế giới công nhận là danh tướng. Đền Cổ Trạch thờ Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn Đền Cổ Trạch nằm sát đền Trần thờ các vua nhà Trần, cùng chung tường bao, sân gạch, cửa vào. Đền Cổ Trạch được xây dựng cuối thế kỷ XIX. Năm 1962, đền Cổ Trạch được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp nhà nước. Đền Cổ Trạch di tích lịch sử cấp quốc gia Du khách ghé thăm đền Cổ Trạch sẽ được chiêm ngưỡng bức đại tự khắc gỗ ghi chữ "Hưng Đạo Thân Vương Cổ Trạch" năm Đinh Dậu (1897) ở cung đệ nhất. Qua cung đệ nhất tới cung đệ nhị, du khách sẽ gặp báu vật có một không hai. Đó lạ bộ cánh cửa gỗ được chạm khắc tỉ mỉ, công phu tạo thành bức tranh lịch sử liên hoàn. Mỗi cánh cửa ghi dấu một sự kiện, một nhân vật lịch sử thời Trần. Sau hai cung là khu "Tại Thiên hương". Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn cùng các quan văn, võ được thờ phụng trong không gian không mái che để trời đất hòa tụ với nhau. Tòa Tiền Đường có ban thờ, bài vị của ba vị danh tướng Nguyễn Chế Nghĩa, Phạm Ngũ Lão, Phạm Ngộ đã lập công lớn trong chiến thắng Nguyên Mông.

Đền Cổ Trạch là đền cổ của xã Lộc Vượng Đền Cổ Trạch thờ Đức thánh Trần (Quốc công Tiết chế Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn). Trần Quốc Tuấn là một trong những nhà quân sự kiệt xuất nhất trong lịch sử dân tộc, nhà chính trị, nhà văn. Trần Quốc Tuấn nổi tiếng trong lịch sử với chiến công ba lần đẩy lùi quân Nguyên - Mông. Chiến thắng của Trần Quốc Tuấn trước đội quân Nguyên - Mông thời Hốt Tất Liệt là một trong những chiến công vĩ đại nhất trong lịch sử quân sự thế giới. Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn cùng với vua Quang Trung, đại tường Võ Nguyên Giáp được thế giới công nhận là danh tướng. Đền Cổ Trạch thờ Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn Đền Cổ Trạch nằm sát đền Trần thờ các vua nhà Trần, cùng chung tường bao, sân gạch, cửa vào. Đền Cổ Trạch được xây dựng cuối thế kỷ XIX. Năm 1962, đền Cổ Trạch được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp nhà nước. Đền Cổ Trạch di tích lịch sử cấp quốc gia Du khách ghé thăm đền Cổ Trạch sẽ được chiêm ngưỡng bức đại tự khắc gỗ ghi chữ "Hưng Đạo Thân Vương Cổ Trạch" năm Đinh Dậu (1897) ở cung đệ nhất. Qua cung đệ nhất tới cung đệ nhị, du khách sẽ gặp báu vật có một không hai. Đó lạ bộ cánh cửa gỗ được chạm khắc tỉ mỉ, công phu tạo thành bức tranh lịch sử liên hoàn. Mỗi cánh cửa ghi dấu một sự kiện, một nhân vật lịch sử thời Trần. Sau hai cung là khu "Tại Thiên hương". Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn cùng các quan văn, võ được thờ phụng trong không gian không mái che để trời đất hòa tụ với nhau. Tòa Tiền Đường có ban thờ, bài vị của ba vị danh tướng Nguyễn Chế Nghĩa, Phạm Ngũ Lão, Phạm Ngộ đã lập công lớn trong chiến thắng Nguyên Mông.

Đền Cổ Trạch thờ Đức thánh Trần (Quốc công Tiết chế Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn). Trần Quốc Tuấn là một trong những nhà quân sự kiệt xuất nhất trong lịch sử dân tộc, nhà chính trị, nhà văn. Trần Quốc Tuấn nổi tiếng trong lịch sử với chiến công ba lần đẩy lùi quân Nguyên - Mông. Chiến thắng của Trần Quốc Tuấn trước đội quân Nguyên - Mông thời Hốt Tất Liệt là một trong những chiến công vĩ đại nhất trong lịch sử quân sự thế giới. Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn cùng với vua Quang Trung, đại tường Võ Nguyên Giáp được thế giới công nhận là danh tướng.

Đền Cổ Trạch thờ Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn

Đền Cổ Trạch nằm sát đền Trần thờ các vua nhà Trần, cùng chung tường bao, sân gạch, cửa vào. Đền Cổ Trạch được xây dựng cuối thế kỷ XIX. Năm 1962, đền Cổ Trạch được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp nhà nước.

Đền Cổ Trạch di tích lịch sử cấp quốc gia

Du khách ghé thăm đền Cổ Trạch sẽ được chiêm ngưỡng bức đại tự khắc gỗ ghi chữ "Hưng Đạo Thân Vương Cổ Trạch" năm Đinh Dậu (1897) ở cung đệ nhất. Qua cung đệ nhất tới cung đệ nhị, du khách sẽ gặp báu vật có một không hai. Đó lạ bộ cánh cửa gỗ được chạm khắc tỉ mỉ, công phu tạo thành bức tranh lịch sử liên hoàn. Mỗi cánh cửa ghi dấu một sự kiện, một nhân vật lịch sử thời Trần. Sau hai cung là khu "Tại Thiên hương". Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn cùng các quan văn, võ được thờ phụng trong không gian không mái che để trời đất hòa tụ với nhau. Tòa Tiền Đường có ban thờ, bài vị của ba vị danh tướng Nguyễn Chế Nghĩa, Phạm Ngũ Lão, Phạm Ngộ đã lập công lớn trong chiến thắng Nguyên Mông.

Related Figures

Hội đền Đông Cao

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 18/8 Âm lịch Hội đền Đông Cao diễn ra ngày 18 tháng 8 âm lịch hàng năm tại làng Đông Cao, xã Yên Lộc, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Đinh. Hội đền Đông Cao có nghi lễ đặc biệt là lễ rước kiệu Mỵ Châu đến yết kiến và tạ tội với vua cha. Đền Đông Cao thờ Mỵ Châu công chúa, con gái An Dương Vương. Theo truyền thuyết, công chúa Mỵ Châu rất xinh đẹp, được An Dương Vương yêu thương, chiều chuộng. Mỵ Châu được An Dương Vương gả cho Trọng Thủy, con trai Triệu Đà. Trước đó, Triệu Đà nhiều lần kéo quân sang đánh chiếm Âu Lạc nhưng lần nào cũng chuốc lấy thất bại. Hội đền Đông Cao sự tích công chúa Mỵ Châu và An Dương Vương Ngày đêm trù mưu tính kế, Triệu Đà mượn cớ giảng hòa, cho sứ giả sang cầu hôn công chúa Mỵ Châu cho con trai Trọng Thủy. Mục đích của Triệu Đà là dò xét tình hình Âu Lạc. Trọng Thủy dần chiếm được niềm tin, lấy được thông tin, đánh tráo nỏ thần rồi đưa quân sang đánh Âu Lạc. An Dương Vương mất nỏ thần, bại trận phải đưa con gái tháo chạy. Nào ngờ, Mỵ Châu tin lời Trọng Thủy rắc lông ngỗng dọc đường để hai người tìm được nhau. Trọng Thủy theo dấu lông ngỗng đuổi theo sát nút. An Dương Vương tới lúc cùng đường, sực nhớ lời dặn của thần Kim Quy bèn ngửa cổ lên trời cầu cứu "Hỡi sứ giả Thanh giang hãy mau tới giúp ta trừ giặc". Thần Kim Quy từ dưới mặt nước xuất hiện nói lớn "Người ở sau lưng nhà vua chính là giặc đó". Cơn giận nổi lên, An Dương Vương rút kiếm chém chết con gái yêu rồi lặn xuống biển biến mất. Hội đền Đông Cao nghi lễ Mỵ Châu tạ tội với vua cha Hàng năm, người dân Đông Cao tổ chức rước kiệu công chúa Mỵ Châu từ làng Đông Cao đến đình làng Đông Bộ trên sông Hồng. Người dân tham gia hội đền Đông Cao Theo người dân địa phương, đám rước này là để Mỵ Châu đến yết kiến vua cha tại đền thờ ở Đông Bộ, để nàng tạ tội với cha.

Đền Đông Cao thờ Mỵ Châu công chúa, con gái An Dương Vương. Theo truyền thuyết, công chúa Mỵ Châu rất xinh đẹp, được An Dương Vương yêu thương, chiều chuộng. Mỵ Châu được An Dương Vương gả cho Trọng Thủy, con trai Triệu Đà. Trước đó, Triệu Đà nhiều lần kéo quân sang đánh chiếm Âu Lạc nhưng lần nào cũng chuốc lấy thất bại.

Hội đền Đông Cao sự tích công chúa Mỵ Châu và An Dương Vương

Ngày đêm trù mưu tính kế, Triệu Đà mượn cớ giảng hòa, cho sứ giả sang cầu hôn công chúa Mỵ Châu cho con trai Trọng Thủy. Mục đích của Triệu Đà là dò xét tình hình Âu Lạc. Trọng Thủy dần chiếm được niềm tin, lấy được thông tin, đánh tráo nỏ thần rồi đưa quân sang đánh Âu Lạc. An Dương Vương mất nỏ thần, bại trận phải đưa con gái tháo chạy. Nào ngờ, Mỵ Châu tin lời Trọng Thủy rắc lông ngỗng dọc đường để hai người tìm được nhau. Trọng Thủy theo dấu lông ngỗng đuổi theo sát nút. An Dương Vương tới lúc cùng đường, sực nhớ lời dặn của thần Kim Quy bèn ngửa cổ lên trời cầu cứu "Hỡi sứ giả Thanh giang hãy mau tới giúp ta trừ giặc". Thần Kim Quy từ dưới mặt nước xuất hiện nói lớn "Người ở sau lưng nhà vua chính là giặc đó". Cơn giận nổi lên, An Dương Vương rút kiếm chém chết con gái yêu rồi lặn xuống biển biến mất.

Hội đền Đông Cao nghi lễ Mỵ Châu tạ tội với vua cha

Hàng năm, người dân Đông Cao tổ chức rước kiệu công chúa Mỵ Châu từ làng Đông Cao đến đình làng Đông Bộ trên sông Hồng.

Người dân tham gia hội đền Đông Cao

Theo người dân địa phương, đám rước này là để Mỵ Châu đến yết kiến vua cha tại đền thờ ở Đông Bộ, để nàng tạ tội với cha.

Related Figures

Nét văn hóa đặc sắc trong Lễ Nhâp hạ của người Khmer

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/6- 16/9 Âm lịch Lễ Nhập hạ hay còn gọi lễ Bun Chôl Vô Sa là ngày lễ lớn của người Khmer, được tổ chức hàng năm cầu cho mưa thuận, gió hòa, quốc thái dân an, gia đình hạnh phúc. Lễ Nhập hạ là nét đẹp truyền thống với giáo lý Phật giáo được đồng bào Khmer lưu truyền mãi tới ngày nay. Sư sãi làm lễ trong Lễ Nhập Hạ Hàng năm, cứ đến ngày 15/6 âm lịch (Tháng Asat của đồng bào Khmer), người Khmer Nam Bộ nói chung và người dân Sóc Trăng nói riêng lại tổ chức lễ hội. Người dân Khmer cũng dâng các vật dụng sinh hoạt cho sư sãi trong chùa trong 3 tháng Nhập hạ. Lễ Nhập hạ được đồng bào Khmer tổ chức trong 2 ngày chính. Buổi chiều ngày thứ nhất, đồng bào Khmer sẽ đem lễ vật lên chùa làm lễ cầu nguyện. Người dân dâng lễ lên chùa trong Lễ Nhập hạ Lễ vật không thể thiếu là những cây đèn cầy khổng lồ được phật tử dâng lên chùa thắp liên tục (không để tắt trong 3 tháng nhập hạ (từ ngày 16 tháng 6 đến ngày 16 tháng 9 âm lịch). Đối với đồng bào Khmer, cây đèn cầy dâng lên chùa có ý nghĩa hết sức to lớn, cầu mong gia đình giàu sang phú quý, yên vui, hạnh phúc suốt cả kiếp này và cả kiếp sau nữa. Biểu tượng ánh sáng từ cây đèn cầy là mong cho tinh thần được minh mẫn, sáng suốt, làm ăn thuận lợi. Người dân Khmer tổ chức lễ Nhập hạ Ngày thứ 2, đồng bào Khmer đem cơm, gạo, nước... đến chùa dâng lên sư sãi để cầu siêu cho người quá cố và cầu bình an, hạnh phúc cho phum sóc. Trong ngày này, đồng bào Phật tử tập trung tại chùa rất đông. Sau khi nghe sư sãi tụng kinh cầu an, cầu siêu, thuyết pháp, đồng bào Khmer lấy lễ vật dâng lên kiệu có trang hoàng hoa lá, (tiếng Khmer gọi là sân-khưc), khiêng đi ba vòng xung quanh chánh điện. Tiếp theo, đồng bào Khmer dâng đèn cầy vào chánh điện và thắp sáng lên để làm lễ nhập hạ. Đến rằm tháng 9 âm lịch, nhà chùa tổ chức lễ ra hạ hay còn gọi là lễ xuất hạ (Chênh Vôsa). Trong dịp này, đồng bào Khmer thường tổ chức nghi thức thả đèn nước (Lôi protip) trên những dòng sông của phum, sóc, với ý nghĩa để tưởng nhớ đến Đức Phật và cũng tành tâm xin lỗi nước và đất vì đã làm ô uế trong quá trình tăng gia sản xuất trong năm.

Sư sãi làm lễ trong Lễ Nhập Hạ Hàng năm, cứ đến ngày 15/6 âm lịch (Tháng Asat của đồng bào Khmer), người Khmer Nam Bộ nói chung và người dân Sóc Trăng nói riêng lại tổ chức lễ hội. Người dân Khmer cũng dâng các vật dụng sinh hoạt cho sư sãi trong chùa trong 3 tháng Nhập hạ. Lễ Nhập hạ được đồng bào Khmer tổ chức trong 2 ngày chính. Buổi chiều ngày thứ nhất, đồng bào Khmer sẽ đem lễ vật lên chùa làm lễ cầu nguyện. Người dân dâng lễ lên chùa trong Lễ Nhập hạ Lễ vật không thể thiếu là những cây đèn cầy khổng lồ được phật tử dâng lên chùa thắp liên tục (không để tắt trong 3 tháng nhập hạ (từ ngày 16 tháng 6 đến ngày 16 tháng 9 âm lịch). Đối với đồng bào Khmer, cây đèn cầy dâng lên chùa có ý nghĩa hết sức to lớn, cầu mong gia đình giàu sang phú quý, yên vui, hạnh phúc suốt cả kiếp này và cả kiếp sau nữa. Biểu tượng ánh sáng từ cây đèn cầy là mong cho tinh thần được minh mẫn, sáng suốt, làm ăn thuận lợi. Người dân Khmer tổ chức lễ Nhập hạ Ngày thứ 2, đồng bào Khmer đem cơm, gạo, nước... đến chùa dâng lên sư sãi để cầu siêu cho người quá cố và cầu bình an, hạnh phúc cho phum sóc. Trong ngày này, đồng bào Phật tử tập trung tại chùa rất đông. Sau khi nghe sư sãi tụng kinh cầu an, cầu siêu, thuyết pháp, đồng bào Khmer lấy lễ vật dâng lên kiệu có trang hoàng hoa lá, (tiếng Khmer gọi là sân-khưc), khiêng đi ba vòng xung quanh chánh điện. Tiếp theo, đồng bào Khmer dâng đèn cầy vào chánh điện và thắp sáng lên để làm lễ nhập hạ. Đến rằm tháng 9 âm lịch, nhà chùa tổ chức lễ ra hạ hay còn gọi là lễ xuất hạ (Chênh Vôsa). Trong dịp này, đồng bào Khmer thường tổ chức nghi thức thả đèn nước (Lôi protip) trên những dòng sông của phum, sóc, với ý nghĩa để tưởng nhớ đến Đức Phật và cũng tành tâm xin lỗi nước và đất vì đã làm ô uế trong quá trình tăng gia sản xuất trong năm.

Hàng năm, cứ đến ngày 15/6 âm lịch (Tháng Asat của đồng bào Khmer), người Khmer Nam Bộ nói chung và người dân Sóc Trăng nói riêng lại tổ chức lễ hội. Người dân Khmer cũng dâng các vật dụng sinh hoạt cho sư sãi trong chùa trong 3 tháng Nhập hạ. Lễ Nhập hạ được đồng bào Khmer tổ chức trong 2 ngày chính. Buổi chiều ngày thứ nhất, đồng bào Khmer sẽ đem lễ vật lên chùa làm lễ cầu nguyện. Người dân dâng lễ lên chùa trong Lễ Nhập hạ Lễ vật không thể thiếu là những cây đèn cầy khổng lồ được phật tử dâng lên chùa thắp liên tục (không để tắt trong 3 tháng nhập hạ (từ ngày 16 tháng 6 đến ngày 16 tháng 9 âm lịch). Đối với đồng bào Khmer, cây đèn cầy dâng lên chùa có ý nghĩa hết sức to lớn, cầu mong gia đình giàu sang phú quý, yên vui, hạnh phúc suốt cả kiếp này và cả kiếp sau nữa. Biểu tượng ánh sáng từ cây đèn cầy là mong cho tinh thần được minh mẫn, sáng suốt, làm ăn thuận lợi. Người dân Khmer tổ chức lễ Nhập hạ Ngày thứ 2, đồng bào Khmer đem cơm, gạo, nước... đến chùa dâng lên sư sãi để cầu siêu cho người quá cố và cầu bình an, hạnh phúc cho phum sóc. Trong ngày này, đồng bào Phật tử tập trung tại chùa rất đông. Sau khi nghe sư sãi tụng kinh cầu an, cầu siêu, thuyết pháp, đồng bào Khmer lấy lễ vật dâng lên kiệu có trang hoàng hoa lá, (tiếng Khmer gọi là sân-khưc), khiêng đi ba vòng xung quanh chánh điện. Tiếp theo, đồng bào Khmer dâng đèn cầy vào chánh điện và thắp sáng lên để làm lễ nhập hạ.

Lễ Nhập hạ được đồng bào Khmer tổ chức trong 2 ngày chính. Buổi chiều ngày thứ nhất, đồng bào Khmer sẽ đem lễ vật lên chùa làm lễ cầu nguyện.

Người dân dâng lễ lên chùa trong Lễ Nhập hạ

Lễ vật không thể thiếu là những cây đèn cầy khổng lồ được phật tử dâng lên chùa thắp liên tục (không để tắt trong 3 tháng nhập hạ (từ ngày 16 tháng 6 đến ngày 16 tháng 9 âm lịch). Đối với đồng bào Khmer, cây đèn cầy dâng lên chùa có ý nghĩa hết sức to lớn, cầu mong gia đình giàu sang phú quý, yên vui, hạnh phúc suốt cả kiếp này và cả kiếp sau nữa. Biểu tượng ánh sáng từ cây đèn cầy là mong cho tinh thần được minh mẫn, sáng suốt, làm ăn thuận lợi.

Người dân Khmer tổ chức lễ Nhập hạ

Ngày thứ 2, đồng bào Khmer đem cơm, gạo, nước... đến chùa dâng lên sư sãi để cầu siêu cho người quá cố và cầu bình an, hạnh phúc cho phum sóc. Trong ngày này, đồng bào Phật tử tập trung tại chùa rất đông. Sau khi nghe sư sãi tụng kinh cầu an, cầu siêu, thuyết pháp, đồng bào Khmer lấy lễ vật dâng lên kiệu có trang hoàng hoa lá, (tiếng Khmer gọi là sân-khưc), khiêng đi ba vòng xung quanh chánh điện. Tiếp theo, đồng bào Khmer dâng đèn cầy vào chánh điện và thắp sáng lên để làm lễ nhập hạ.

Đến rằm tháng 9 âm lịch, nhà chùa tổ chức lễ ra hạ hay còn gọi là lễ xuất hạ (Chênh Vôsa). Trong dịp này, đồng bào Khmer thường tổ chức nghi thức thả đèn nước (Lôi protip) trên những dòng sông của phum, sóc, với ý nghĩa để tưởng nhớ đến Đức Phật và cũng tành tâm xin lỗi nước và đất vì đã làm ô uế trong quá trình tăng gia sản xuất trong năm.

Related Figures

Ngày Quốc Khánh Việt Nam

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 2/9 Dương lịch Ngày Quốc khánh Việt Nam là ngày lễ lớn của nước ta. Ngày 02/09/1945, trên lễ đài lớn ở quảng trường Ba Đình lịch sử, chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời trang trọng đọc bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Diễu hành kỷ niệm ngày Quốc khánh 2/9 Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định :"Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phía Đồng Minh chống phát xit mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do, dân tộc đó phải được độc lập!…. Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thực đã trở thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy.” Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn độc lập trong ngày Quốc khánh Cuộc cách mạng tháng 8 thành công ngày 19/8, Chủ tịch Hồ Chí Minh và cộng sự đã bàn bạc về việc chọn ngày để đọc bản Tuyên ngôn độc lập. Có nhiều ý kiến đề nghị chọn ngày 25 hoặc 28 tháng 8. Nhưng Giám mục Micae Hoàng Đức Oanh dẫn lời của Giám mục Phaolo Lê Đắc Trọng (nhân chứng thời điểm đó) nói rằng: Bác sĩ riêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là ông Vũ Đình Tụng đã đề xuất ngày 02/09/1945. Khi được Bác hỏi lí do, ông Tụng giải thích rằng :"Ngày 02/09 là ngày chủ nhật nên mọi người được nghỉ làm đồng thời cũng là ngày Chúa Nhật kính các vị tử đạo Việt Nam. Đây là lễ trọng nên giáo dân Công giáo đều đi dự lễ". Ngày 22/08, Chủ tịch Hồ Chí Minh tới thăm Nhà thờ lớn Hà Nội. Chứng kiến giáo dân đang chuẩn bị cờ hoa trang trí nhà thờ để mừng lễ các vị tử đạo Việt Nam ngày 02/09. Chủ tịch Hồ Chí Minh trầm tư suy nghĩ rồi phát biểu : "Tôi sẽ làm cho ngày đó có thêm một ý nghĩa nữa". Chiều ngày 02/09/1945, hơn 50 vạn người dân thủ đô Hà Nội đã tụ họp tại quảng trường Ba Đình lịch sử để chào mừng thành lập chính phủ mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt toàn thể Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đọc bản tuyên ngôn độc lập. Hiến pháp nước Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam 2013, chương 1 điều 13 mục 4 quy định "Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là ngày Tuyên ngôn độc lập 02/09/1945". Pháo hoa rực rỡ mừng Quốc Khánh Ngày Quốc Khánh, người dân được nghỉ lễ. Kỳ nghỉ lễ Quốc Khánh năm nào cũng có nhiều hoạt động kỷ niệm, văn hóa nghệ thuật đặc sắc bởi đây là kỳ nghỉ lễ lớn và quan trọng của Việt Nam.

Diễu hành kỷ niệm ngày Quốc khánh 2/9

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định :"Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phía Đồng Minh chống phát xit mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do, dân tộc đó phải được độc lập!…. Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thực đã trở thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy.” Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn độc lập trong ngày Quốc khánh Cuộc cách mạng tháng 8 thành công ngày 19/8, Chủ tịch Hồ Chí Minh và cộng sự đã bàn bạc về việc chọn ngày để đọc bản Tuyên ngôn độc lập. Có nhiều ý kiến đề nghị chọn ngày 25 hoặc 28 tháng 8. Nhưng Giám mục Micae Hoàng Đức Oanh dẫn lời của Giám mục Phaolo Lê Đắc Trọng (nhân chứng thời điểm đó) nói rằng: Bác sĩ riêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là ông Vũ Đình Tụng đã đề xuất ngày 02/09/1945. Khi được Bác hỏi lí do, ông Tụng giải thích rằng :"Ngày 02/09 là ngày chủ nhật nên mọi người được nghỉ làm đồng thời cũng là ngày Chúa Nhật kính các vị tử đạo Việt Nam. Đây là lễ trọng nên giáo dân Công giáo đều đi dự lễ". Ngày 22/08, Chủ tịch Hồ Chí Minh tới thăm Nhà thờ lớn Hà Nội. Chứng kiến giáo dân đang chuẩn bị cờ hoa trang trí nhà thờ để mừng lễ các vị tử đạo Việt Nam ngày 02/09. Chủ tịch Hồ Chí Minh trầm tư suy nghĩ rồi phát biểu : "Tôi sẽ làm cho ngày đó có thêm một ý nghĩa nữa". Chiều ngày 02/09/1945, hơn 50 vạn người dân thủ đô Hà Nội đã tụ họp tại quảng trường Ba Đình lịch sử để chào mừng thành lập chính phủ mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt toàn thể Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đọc bản tuyên ngôn độc lập. Hiến pháp nước Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam 2013, chương 1 điều 13 mục 4 quy định "Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là ngày Tuyên ngôn độc lập 02/09/1945". Pháo hoa rực rỡ mừng Quốc Khánh Ngày Quốc Khánh, người dân được nghỉ lễ. Kỳ nghỉ lễ Quốc Khánh năm nào cũng có nhiều hoạt động kỷ niệm, văn hóa nghệ thuật đặc sắc bởi đây là kỳ nghỉ lễ lớn và quan trọng của Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn độc lập trong ngày Quốc khánh Cuộc cách mạng tháng 8 thành công ngày 19/8, Chủ tịch Hồ Chí Minh và cộng sự đã bàn bạc về việc chọn ngày để đọc bản Tuyên ngôn độc lập. Có nhiều ý kiến đề nghị chọn ngày 25 hoặc 28 tháng 8. Nhưng Giám mục Micae Hoàng Đức Oanh dẫn lời của Giám mục Phaolo Lê Đắc Trọng (nhân chứng thời điểm đó) nói rằng: Bác sĩ riêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là ông Vũ Đình Tụng đã đề xuất ngày 02/09/1945. Khi được Bác hỏi lí do, ông Tụng giải thích rằng :"Ngày 02/09 là ngày chủ nhật nên mọi người được nghỉ làm đồng thời cũng là ngày Chúa Nhật kính các vị tử đạo Việt Nam. Đây là lễ trọng nên giáo dân Công giáo đều đi dự lễ". Ngày 22/08, Chủ tịch Hồ Chí Minh tới thăm Nhà thờ lớn Hà Nội. Chứng kiến giáo dân đang chuẩn bị cờ hoa trang trí nhà thờ để mừng lễ các vị tử đạo Việt Nam ngày 02/09. Chủ tịch Hồ Chí Minh trầm tư suy nghĩ rồi phát biểu : "Tôi sẽ làm cho ngày đó có thêm một ý nghĩa nữa". Chiều ngày 02/09/1945, hơn 50 vạn người dân thủ đô Hà Nội đã tụ họp tại quảng trường Ba Đình lịch sử để chào mừng thành lập chính phủ mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt toàn thể Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đọc bản tuyên ngôn độc lập. Hiến pháp nước Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam 2013, chương 1 điều 13 mục 4 quy định "Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là ngày Tuyên ngôn độc lập 02/09/1945". Pháo hoa rực rỡ mừng Quốc Khánh Ngày Quốc Khánh, người dân được nghỉ lễ. Kỳ nghỉ lễ Quốc Khánh năm nào cũng có nhiều hoạt động kỷ niệm, văn hóa nghệ thuật đặc sắc bởi đây là kỳ nghỉ lễ lớn và quan trọng của Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn độc lập trong ngày Quốc khánh

Cuộc cách mạng tháng 8 thành công ngày 19/8, Chủ tịch Hồ Chí Minh và cộng sự đã bàn bạc về việc chọn ngày để đọc bản Tuyên ngôn độc lập. Có nhiều ý kiến đề nghị chọn ngày 25 hoặc 28 tháng 8. Nhưng Giám mục Micae Hoàng Đức Oanh dẫn lời của Giám mục Phaolo Lê Đắc Trọng (nhân chứng thời điểm đó) nói rằng: Bác sĩ riêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là ông Vũ Đình Tụng đã đề xuất ngày 02/09/1945. Khi được Bác hỏi lí do, ông Tụng giải thích rằng :"Ngày 02/09 là ngày chủ nhật nên mọi người được nghỉ làm đồng thời cũng là ngày Chúa Nhật kính các vị tử đạo Việt Nam. Đây là lễ trọng nên giáo dân Công giáo đều đi dự lễ". Ngày 22/08, Chủ tịch Hồ Chí Minh tới thăm Nhà thờ lớn Hà Nội. Chứng kiến giáo dân đang chuẩn bị cờ hoa trang trí nhà thờ để mừng lễ các vị tử đạo Việt Nam ngày 02/09. Chủ tịch Hồ Chí Minh trầm tư suy nghĩ rồi phát biểu : "Tôi sẽ làm cho ngày đó có thêm một ý nghĩa nữa". Chiều ngày 02/09/1945, hơn 50 vạn người dân thủ đô Hà Nội đã tụ họp tại quảng trường Ba Đình lịch sử để chào mừng thành lập chính phủ mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt toàn thể Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đọc bản tuyên ngôn độc lập. Hiến pháp nước Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam 2013, chương 1 điều 13 mục 4 quy định "Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là ngày Tuyên ngôn độc lập 02/09/1945". Pháo hoa rực rỡ mừng Quốc Khánh Ngày Quốc Khánh, người dân được nghỉ lễ. Kỳ nghỉ lễ Quốc Khánh năm nào cũng có nhiều hoạt động kỷ niệm, văn hóa nghệ thuật đặc sắc bởi đây là kỳ nghỉ lễ lớn và quan trọng của Việt Nam.

Cuộc cách mạng tháng 8 thành công ngày 19/8, Chủ tịch Hồ Chí Minh và cộng sự đã bàn bạc về việc chọn ngày để đọc bản Tuyên ngôn độc lập. Có nhiều ý kiến đề nghị chọn ngày 25 hoặc 28 tháng 8. Nhưng Giám mục Micae Hoàng Đức Oanh dẫn lời của Giám mục Phaolo Lê Đắc Trọng (nhân chứng thời điểm đó) nói rằng: Bác sĩ riêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là ông Vũ Đình Tụng đã đề xuất ngày 02/09/1945. Khi được Bác hỏi lí do, ông Tụng giải thích rằng :"Ngày 02/09 là ngày chủ nhật nên mọi người được nghỉ làm đồng thời cũng là ngày Chúa Nhật kính các vị tử đạo Việt Nam. Đây là lễ trọng nên giáo dân Công giáo đều đi dự lễ". Ngày 22/08, Chủ tịch Hồ Chí Minh tới thăm Nhà thờ lớn Hà Nội. Chứng kiến giáo dân đang chuẩn bị cờ hoa trang trí nhà thờ để mừng lễ các vị tử đạo Việt Nam ngày 02/09. Chủ tịch Hồ Chí Minh trầm tư suy nghĩ rồi phát biểu : "Tôi sẽ làm cho ngày đó có thêm một ý nghĩa nữa".

Chiều ngày 02/09/1945, hơn 50 vạn người dân thủ đô Hà Nội đã tụ họp tại quảng trường Ba Đình lịch sử để chào mừng thành lập chính phủ mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt toàn thể Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đọc bản tuyên ngôn độc lập.

Hiến pháp nước Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam 2013, chương 1 điều 13 mục 4 quy định "Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là ngày Tuyên ngôn độc lập 02/09/1945".

Pháo hoa rực rỡ mừng Quốc Khánh

Ngày Quốc Khánh, người dân được nghỉ lễ. Kỳ nghỉ lễ Quốc Khánh năm nào cũng có nhiều hoạt động kỷ niệm, văn hóa nghệ thuật đặc sắc bởi đây là kỳ nghỉ lễ lớn và quan trọng của Việt Nam.

Ngày Quốc Khánh, người dân được nghỉ lễ. Kỳ nghỉ lễ Quốc Khánh năm nào cũng có nhiều hoạt động kỷ niệm, văn hóa nghệ thuật đặc sắc bởi đây là kỳ nghỉ lễ lớn và quan trọng của Việt Nam.

Related Figures

Hội Lăng Tứ Kiệt

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/8- 16/8 Âm lịch Hàng năm, vào ngày 15-16/8 âm lịch, người dân xã Thanh Hóa, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang tổ chức lễ viếng Lăng Tứ Kiệt trang nghiêm để tưởng nhớ 4 vị anh hùng của vùng đất Tiền Giang. Người dân trong vùng đến dự lễ và dâng hương rất đông. Lễ tưởng niệm các anh hùng dần trở thành ngày hội của người dân nơi đây. Lăng Tứ Kiệt nơi diễn ra hội hàng năm Lăng Tứ Kiệt là nơi thờ tự của bốn vị anh hùng chống Pháp ở Cai Lậy là: Trần Công Thận (Trần Quang Thận), Nguyễn Thanh Long, Trương Văn Rộng và Ngô Tấn Đước (Ngô Tấn Đức). Bốn vị anh hùng đã lãnh đạo quân dân Cai Lậy - Cái Bè đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược những năm cuối thế kỷ XIX. Sau khi bốn vị anh hùng dũng cảm hi sinh ngày 14 tháng 2 năm 1871, người dân nơi đây lập mộ và đền thờ tại thị trấn Cai Lậy (gọi là Lăng Tứ Kiệt) để tỏ lòng tôn kính. Lăng Tứ Kiệt thờ tự bốn vị anh hùng Tiền Giang Theo lời truyền của dân gian, cả bốn vị đều là người dũng cảm, mưu lược hơn người, thân hình cao lớn, gương mặt cương nghị và võ nghệ cao cường. Khi thực dân Pháp xâm lược tỉnh Định Tường (năm 1861), bốn ông đã tham gia lực lượng nghĩa quân do Thiên Hộ Dương lãnh đạo. Trong quá trình chiến đấu, bốn ông đều tham gia nhiều trận đánh ác liệt ở Ba Giồng, Chợ Gạo, Mỹ Tho... là lập nhiều chiến công vang dội. Cuộc khởi nghia Thiên Hộ Dương bị thực dân Pháp đàn áp dã man, căn cứ Đồng Tháp Mười tan vỡ năm 1866, bốn ông trở về Cai Lậy - Tiền Giang chiêu tập nghĩa sĩ, tiếp tục cuộc kháng chiến chống Pháp. Ngày 01/01/1871, bốn ông bị sa vào tay thực dân Pháp. Bọn chùng dùng đủ mọi thủ đoạn thâm độc từ mua chuộc, dụ dỗ cho đến tra tấn dã man cũng không khuất phục được bốn ông. Hơn thế, thực dân Pháp còn bắt người thân của bốn ông tra tấn, đánh đạp dã man để ép bốn ông quy thuận. Thế nhưng, trước sau cả bốn ông đều khăng khăng tuyên bố "sinh vi tướng, tử vi thần" quyết không quy thuận bọn chúng. Bất lực trước ý chí kiên định của cả bốn ông, ngày 14/02/1871 (ngày 25 tháng chạp năm Canh Ngọ), giặc Pháp đã xử chém bốn vị anh hùng dân tộc. Dã man hơn chúng còn bêu thủ cấp của bốn vị trong suốt bảy ngày để uy hiếp tinh thần người dân nơi đây. Sau đó, chúng vùi đầu của bốn vị xuống mé ruộng ven đường. Cảm kích sự hy sinh của bốn vị anh hùng, người dân nơi đây đã bí mật mang chôn thủ cấp của bốn vị đắp mộ và thờ phụng trang nghiêm. Người dân tham dự hội lăng Tứ Kiệt Đến thăm lăng Tứ Kiệt, du khách thập phương sẽ hiểu thêm tấm lòng của người dân địa phương dành cho bốn vị dân tộc đã điểm tô thêm 4 chữ vàng Địa Linh Nhân Kiệt cho mảnh đất Tiền Giang.

Lăng Tứ Kiệt nơi diễn ra hội hàng năm Lăng Tứ Kiệt là nơi thờ tự của bốn vị anh hùng chống Pháp ở Cai Lậy là: Trần Công Thận (Trần Quang Thận), Nguyễn Thanh Long, Trương Văn Rộng và Ngô Tấn Đước (Ngô Tấn Đức). Bốn vị anh hùng đã lãnh đạo quân dân Cai Lậy - Cái Bè đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược những năm cuối thế kỷ XIX. Sau khi bốn vị anh hùng dũng cảm hi sinh ngày 14 tháng 2 năm 1871, người dân nơi đây lập mộ và đền thờ tại thị trấn Cai Lậy (gọi là Lăng Tứ Kiệt) để tỏ lòng tôn kính. Lăng Tứ Kiệt thờ tự bốn vị anh hùng Tiền Giang Theo lời truyền của dân gian, cả bốn vị đều là người dũng cảm, mưu lược hơn người, thân hình cao lớn, gương mặt cương nghị và võ nghệ cao cường. Khi thực dân Pháp xâm lược tỉnh Định Tường (năm 1861), bốn ông đã tham gia lực lượng nghĩa quân do Thiên Hộ Dương lãnh đạo. Trong quá trình chiến đấu, bốn ông đều tham gia nhiều trận đánh ác liệt ở Ba Giồng, Chợ Gạo, Mỹ Tho... là lập nhiều chiến công vang dội. Cuộc khởi nghia Thiên Hộ Dương bị thực dân Pháp đàn áp dã man, căn cứ Đồng Tháp Mười tan vỡ năm 1866, bốn ông trở về Cai Lậy - Tiền Giang chiêu tập nghĩa sĩ, tiếp tục cuộc kháng chiến chống Pháp. Ngày 01/01/1871, bốn ông bị sa vào tay thực dân Pháp. Bọn chùng dùng đủ mọi thủ đoạn thâm độc từ mua chuộc, dụ dỗ cho đến tra tấn dã man cũng không khuất phục được bốn ông. Hơn thế, thực dân Pháp còn bắt người thân của bốn ông tra tấn, đánh đạp dã man để ép bốn ông quy thuận. Thế nhưng, trước sau cả bốn ông đều khăng khăng tuyên bố "sinh vi tướng, tử vi thần" quyết không quy thuận bọn chúng. Bất lực trước ý chí kiên định của cả bốn ông, ngày 14/02/1871 (ngày 25 tháng chạp năm Canh Ngọ), giặc Pháp đã xử chém bốn vị anh hùng dân tộc. Dã man hơn chúng còn bêu thủ cấp của bốn vị trong suốt bảy ngày để uy hiếp tinh thần người dân nơi đây. Sau đó, chúng vùi đầu của bốn vị xuống mé ruộng ven đường. Cảm kích sự hy sinh của bốn vị anh hùng, người dân nơi đây đã bí mật mang chôn thủ cấp của bốn vị đắp mộ và thờ phụng trang nghiêm. Người dân tham dự hội lăng Tứ Kiệt Đến thăm lăng Tứ Kiệt, du khách thập phương sẽ hiểu thêm tấm lòng của người dân địa phương dành cho bốn vị dân tộc đã điểm tô thêm 4 chữ vàng Địa Linh Nhân Kiệt cho mảnh đất Tiền Giang.

Lăng Tứ Kiệt là nơi thờ tự của bốn vị anh hùng chống Pháp ở Cai Lậy là: Trần Công Thận (Trần Quang Thận), Nguyễn Thanh Long, Trương Văn Rộng và Ngô Tấn Đước (Ngô Tấn Đức). Bốn vị anh hùng đã lãnh đạo quân dân Cai Lậy - Cái Bè đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược những năm cuối thế kỷ XIX. Sau khi bốn vị anh hùng dũng cảm hi sinh ngày 14 tháng 2 năm 1871, người dân nơi đây lập mộ và đền thờ tại thị trấn Cai Lậy (gọi là Lăng Tứ Kiệt) để tỏ lòng tôn kính.

Lăng Tứ Kiệt thờ tự bốn vị anh hùng Tiền Giang Theo lời truyền của dân gian, cả bốn vị đều là người dũng cảm, mưu lược hơn người, thân hình cao lớn, gương mặt cương nghị và võ nghệ cao cường. Khi thực dân Pháp xâm lược tỉnh Định Tường (năm 1861), bốn ông đã tham gia lực lượng nghĩa quân do Thiên Hộ Dương lãnh đạo. Trong quá trình chiến đấu, bốn ông đều tham gia nhiều trận đánh ác liệt ở Ba Giồng, Chợ Gạo, Mỹ Tho... là lập nhiều chiến công vang dội. Cuộc khởi nghia Thiên Hộ Dương bị thực dân Pháp đàn áp dã man, căn cứ Đồng Tháp Mười tan vỡ năm 1866, bốn ông trở về Cai Lậy - Tiền Giang chiêu tập nghĩa sĩ, tiếp tục cuộc kháng chiến chống Pháp. Ngày 01/01/1871, bốn ông bị sa vào tay thực dân Pháp. Bọn chùng dùng đủ mọi thủ đoạn thâm độc từ mua chuộc, dụ dỗ cho đến tra tấn dã man cũng không khuất phục được bốn ông. Hơn thế, thực dân Pháp còn bắt người thân của bốn ông tra tấn, đánh đạp dã man để ép bốn ông quy thuận. Thế nhưng, trước sau cả bốn ông đều khăng khăng tuyên bố "sinh vi tướng, tử vi thần" quyết không quy thuận bọn chúng. Bất lực trước ý chí kiên định của cả bốn ông, ngày 14/02/1871 (ngày 25 tháng chạp năm Canh Ngọ), giặc Pháp đã xử chém bốn vị anh hùng dân tộc. Dã man hơn chúng còn bêu thủ cấp của bốn vị trong suốt bảy ngày để uy hiếp tinh thần người dân nơi đây. Sau đó, chúng vùi đầu của bốn vị xuống mé ruộng ven đường. Cảm kích sự hy sinh của bốn vị anh hùng, người dân nơi đây đã bí mật mang chôn thủ cấp của bốn vị đắp mộ và thờ phụng trang nghiêm. Người dân tham dự hội lăng Tứ Kiệt Đến thăm lăng Tứ Kiệt, du khách thập phương sẽ hiểu thêm tấm lòng của người dân địa phương dành cho bốn vị dân tộc đã điểm tô thêm 4 chữ vàng Địa Linh Nhân Kiệt cho mảnh đất Tiền Giang.

Theo lời truyền của dân gian, cả bốn vị đều là người dũng cảm, mưu lược hơn người, thân hình cao lớn, gương mặt cương nghị và võ nghệ cao cường. Khi thực dân Pháp xâm lược tỉnh Định Tường (năm 1861), bốn ông đã tham gia lực lượng nghĩa quân do Thiên Hộ Dương lãnh đạo. Trong quá trình chiến đấu, bốn ông đều tham gia nhiều trận đánh ác liệt ở Ba Giồng, Chợ Gạo, Mỹ Tho... là lập nhiều chiến công vang dội. Cuộc khởi nghia Thiên Hộ Dương bị thực dân Pháp đàn áp dã man, căn cứ Đồng Tháp Mười tan vỡ năm 1866, bốn ông trở về Cai Lậy - Tiền Giang chiêu tập nghĩa sĩ, tiếp tục cuộc kháng chiến chống Pháp.

Ngày 01/01/1871, bốn ông bị sa vào tay thực dân Pháp. Bọn chùng dùng đủ mọi thủ đoạn thâm độc từ mua chuộc, dụ dỗ cho đến tra tấn dã man cũng không khuất phục được bốn ông. Hơn thế, thực dân Pháp còn bắt người thân của bốn ông tra tấn, đánh đạp dã man để ép bốn ông quy thuận. Thế nhưng, trước sau cả bốn ông đều khăng khăng tuyên bố "sinh vi tướng, tử vi thần" quyết không quy thuận bọn chúng. Bất lực trước ý chí kiên định của cả bốn ông, ngày 14/02/1871 (ngày 25 tháng chạp năm Canh Ngọ), giặc Pháp đã xử chém bốn vị anh hùng dân tộc. Dã man hơn chúng còn bêu thủ cấp của bốn vị trong suốt bảy ngày để uy hiếp tinh thần người dân nơi đây. Sau đó, chúng vùi đầu của bốn vị xuống mé ruộng ven đường. Cảm kích sự hy sinh của bốn vị anh hùng, người dân nơi đây đã bí mật mang chôn thủ cấp của bốn vị đắp mộ và thờ phụng trang nghiêm.

Người dân tham dự hội lăng Tứ Kiệt

Đến thăm lăng Tứ Kiệt, du khách thập phương sẽ hiểu thêm tấm lòng của người dân địa phương dành cho bốn vị dân tộc đã điểm tô thêm 4 chữ vàng Địa Linh Nhân Kiệt cho mảnh đất Tiền Giang.

Related Figures

Hội Chùa Lương (chùa Trăm Gian)

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 13/3- 16/3 Âm lịch Hội Chùa Lương diễn ra từ ngày 13 đến 16 tháng Ba âm lịch hàng năm, tại xã Hải Anh, Hải Hậu, Nam Định. Hội là dịp người dân nơi đây bày tỏ lòng tôn kính và biết ơn đối với Trần Vũ, Hoàng Gia, Vũ Chi và Phạm Cấp. Chùa Lương (chùa Trăm Gian) Chùa Lương còn có tên gọi khác là chùa Trăm Gian, ten chứ x là Phúc Lâm Tự tọa, được xây dựng từ đời vua Lê Hồng Thuận, vào cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI. Ban đầu, chùa Lương có quy mô tương đối nhỏ, nhưng sau nhiều tần tái tạo và trùng tu nên quy mô đã lớn hơn trước. Hiện chùa có quy mô lớn, gồm 100 gian với phong cách kiến trúc của nhà Nguyễn. Trước chùa Lương là một hồ nước rộng và trong xanh, có nhiều cây cổ thụ lại càng khiến ngôi chùa thêm đẹp hơn. Chùa có hai khu vực chính, có tất cả 49 gian gồm: tiền đường, gác chuông, tam bảo, hậu đường, hai dãy hành lang đông tây. Nổi bật nhất là tiền đường 5 gian được xây dựng với phong cách kiến trúc thời hậu Lê. Trong chùa, các thành phần kiến trúc như các vì của tòa tiền đường có hình tượng rồng được chạm khắc tinh tế với nhiều tư thế như: rồng cuốn thủy, rồng ngậm ngọc, rồng cùng ngựa chim cá vui đùa, rồng chầu mặt nguyệt, rồng vuốt râu, rồng trúc hoa long. Và nổi bất nhất là "hổ phù" trông rất oai phong và đẹp đẽ. Cờ tướng là trò chơi thu hút rất nhiều người xem trong Hội Chùa Lương Hội Chùa Lương có hai phần, phần lễ và phần hội. Phần Lễ gồm nhiều nghi lễ như lễ kỳ yên, lễ Phật, rước kiệu, cầu phúc... Đội rước kiệu sẽ đi diễu hành khắc các xóm và xã trong huyện. Đoàn rước thường rất đông có khi kéo dài đến tận mấy cây số. Phần hội, mang nhiều nét đặc trưng của văn hóa dân tộc Việt Nam như: hát chèo, kéo co, hát văn, lên đồng, chơi cờ, hát đối... Hội Chùa Lương (chùa Trăm Gian) tại Nam Định

Chùa Lương (chùa Trăm Gian) Chùa Lương còn có tên gọi khác là chùa Trăm Gian, ten chứ x là Phúc Lâm Tự tọa, được xây dựng từ đời vua Lê Hồng Thuận, vào cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI. Ban đầu, chùa Lương có quy mô tương đối nhỏ, nhưng sau nhiều tần tái tạo và trùng tu nên quy mô đã lớn hơn trước. Hiện chùa có quy mô lớn, gồm 100 gian với phong cách kiến trúc của nhà Nguyễn. Trước chùa Lương là một hồ nước rộng và trong xanh, có nhiều cây cổ thụ lại càng khiến ngôi chùa thêm đẹp hơn. Chùa có hai khu vực chính, có tất cả 49 gian gồm: tiền đường, gác chuông, tam bảo, hậu đường, hai dãy hành lang đông tây. Nổi bật nhất là tiền đường 5 gian được xây dựng với phong cách kiến trúc thời hậu Lê. Trong chùa, các thành phần kiến trúc như các vì của tòa tiền đường có hình tượng rồng được chạm khắc tinh tế với nhiều tư thế như: rồng cuốn thủy, rồng ngậm ngọc, rồng cùng ngựa chim cá vui đùa, rồng chầu mặt nguyệt, rồng vuốt râu, rồng trúc hoa long. Và nổi bất nhất là "hổ phù" trông rất oai phong và đẹp đẽ. Cờ tướng là trò chơi thu hút rất nhiều người xem trong Hội Chùa Lương Hội Chùa Lương có hai phần, phần lễ và phần hội. Phần Lễ gồm nhiều nghi lễ như lễ kỳ yên, lễ Phật, rước kiệu, cầu phúc... Đội rước kiệu sẽ đi diễu hành khắc các xóm và xã trong huyện. Đoàn rước thường rất đông có khi kéo dài đến tận mấy cây số. Phần hội, mang nhiều nét đặc trưng của văn hóa dân tộc Việt Nam như: hát chèo, kéo co, hát văn, lên đồng, chơi cờ, hát đối... Hội Chùa Lương (chùa Trăm Gian) tại Nam Định

Chùa Lương còn có tên gọi khác là chùa Trăm Gian, ten chứ x là Phúc Lâm Tự tọa, được xây dựng từ đời vua Lê Hồng Thuận, vào cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI. Ban đầu, chùa Lương có quy mô tương đối nhỏ, nhưng sau nhiều tần tái tạo và trùng tu nên quy mô đã lớn hơn trước. Hiện chùa có quy mô lớn, gồm 100 gian với phong cách kiến trúc của nhà Nguyễn. Trước chùa Lương là một hồ nước rộng và trong xanh, có nhiều cây cổ thụ lại càng khiến ngôi chùa thêm đẹp hơn. Chùa có hai khu vực chính, có tất cả 49 gian gồm: tiền đường, gác chuông, tam bảo, hậu đường, hai dãy hành lang đông tây. Nổi bật nhất là tiền đường 5 gian được xây dựng với phong cách kiến trúc thời hậu Lê. Trong chùa, các thành phần kiến trúc như các vì của tòa tiền đường có hình tượng rồng được chạm khắc tinh tế với nhiều tư thế như: rồng cuốn thủy, rồng ngậm ngọc, rồng cùng ngựa chim cá vui đùa, rồng chầu mặt nguyệt, rồng vuốt râu, rồng trúc hoa long. Và nổi bất nhất là "hổ phù" trông rất oai phong và đẹp đẽ. Cờ tướng là trò chơi thu hút rất nhiều người xem trong Hội Chùa Lương Hội Chùa Lương có hai phần, phần lễ và phần hội. Phần Lễ gồm nhiều nghi lễ như lễ kỳ yên, lễ Phật, rước kiệu, cầu phúc... Đội rước kiệu sẽ đi diễu hành khắc các xóm và xã trong huyện. Đoàn rước thường rất đông có khi kéo dài đến tận mấy cây số. Phần hội, mang nhiều nét đặc trưng của văn hóa dân tộc Việt Nam như: hát chèo, kéo co, hát văn, lên đồng, chơi cờ, hát đối... Hội Chùa Lương (chùa Trăm Gian) tại Nam Định

Related Figures

Hội Thị Cầu

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 7/8- 16/8 Âm lịch Hội Thị Cầu diễn ra tại Đền Kim, phường Thị Cầu, thành phố Bắc Ninh từ ngày 7-16/8 âm lịch hàng năm. Làng Thị Cầu thờ Thánh Tam Giang (Một danh tướng thời Tiền Lý). Làng Thị Cầu nằm bên bờ sông Nguyệt Đức, xưa còn gọi là sông Như Nguyệt. Đình Kim (đình làng Thị Cầu) là ngôi đình cổ đồ sộ được xây dựng từ thời nhà Lý. Đình Kim chính là tâm điểm của làng Thị Cầu, đình trông thẳng ra đường cái. Hàng năm, Làng Thị Cầu mở hội từ ngày 7/8 âm lịch bắt đầu bằng các cuộc rước. Làng Thị Cầu làm lễ cáo yết rồi rước nước cử hành. Nước được lấy từ sông Như Nguyệt về. Cũng trong ngày hôm đó, vào buổi chầu là lễ Mộc Dục. Lễ Mộc Dục được cử hành tại đền Sim, được xây dựng ở lưng chừng núi Thiềm. Đền Sim chính là nơi thần linh bằng y an ngự còn đền Kim chỉ là nơi thờ vọng của làng. Lễ Mộc Dục tế gia quan được thực hiện ở đền Sim. Sang ngày 8/8 âm lịch, dân làng Thị Cầu thực hiện rước thần về đình Kim. Mọi tế lễ theo nghi thức đều được thực hiện ở đình Kim trong suốt thời gian mở hội. Người dân Thị Cầu tham gia hội làng Ngày 10/8 âm lịch, dân làng Thị Cầu rước thần tới yết Phật ở chùa Điều đầu làng. Thần vị lưu lại chùa Điều một đêm để nghe kinh. Tới sáng ngày 11/8, dân làng Thị Cầu lại rước thần trở lại đình Kim. Trong khi làng Thị Cầu mở hội thì làng Nam Ngạn bên kia sông cũng mở hội. Trong khoảng thời gian này, do ước định từ trước mà ban hội đồng làng Nam Ngạn có sang lễ thần ở làng Thị Cầu. Có năm tổ chức dám rước từ làng Nam Ngạn sang làng Thị Cầu, cũng có năm làng Thị Cầu tổ chức rước thần sang làng Nam Ngạn. Rước sách tế lễ với những trò chơi dân gian được tổ chức đến hết đêm 16/8. Kể từ ngày 8/8, Thần linh ngự tại đình Kim. Dân làng Thị Cầu cắt cử một số quan viên luôn túc trực tại đình Kim để trông nom việc phụng tự. Trong suốt những đêm này, dân làng Thị Cầu mời ca nhi hát thờ thần. Trong khi ca nhi hát, các bậc đàn anh trong làng luân phiên cầm trống chầu, thường hát thờ là hát ả đào. Lệ này không phải đêm nào cũng có, dân làng Thị Cầu thường tổ chức một hoặc hai đêm, nhất là đêm rã đám. Hội Thị Cầu là nét văn hóa đặc sắc của TP Bắc Ninh Lệ thưởng tiền quản giáp và các đào nương là một lệ đặc biệt. Lệ này không phải đêm nào cũng cóm thường dân làng chỉ tổ chưc smột hoặc hai đêm nhất là đêm hôm rã đám. Làng Thị Cầu cũng tổ chức thi làm cỗ (những món ăn mới lạ, ngon, sạch, trình bày đẹp sẽ đoạt giải). Thi làm cỗ liên quan đến nghi thức cầu mưa, thi thả chim bồ câu.

Làng Thị Cầu nằm bên bờ sông Nguyệt Đức, xưa còn gọi là sông Như Nguyệt. Đình Kim (đình làng Thị Cầu) là ngôi đình cổ đồ sộ được xây dựng từ thời nhà Lý. Đình Kim chính là tâm điểm của làng Thị Cầu, đình trông thẳng ra đường cái.

Hàng năm, Làng Thị Cầu mở hội từ ngày 7/8 âm lịch bắt đầu bằng các cuộc rước. Làng Thị Cầu làm lễ cáo yết rồi rước nước cử hành. Nước được lấy từ sông Như Nguyệt về. Cũng trong ngày hôm đó, vào buổi chầu là lễ Mộc Dục. Lễ Mộc Dục được cử hành tại đền Sim, được xây dựng ở lưng chừng núi Thiềm. Đền Sim chính là nơi thần linh bằng y an ngự còn đền Kim chỉ là nơi thờ vọng của làng. Lễ Mộc Dục tế gia quan được thực hiện ở đền Sim. Sang ngày 8/8 âm lịch, dân làng Thị Cầu thực hiện rước thần về đình Kim. Mọi tế lễ theo nghi thức đều được thực hiện ở đình Kim trong suốt thời gian mở hội.

Người dân Thị Cầu tham gia hội làng

Ngày 10/8 âm lịch, dân làng Thị Cầu rước thần tới yết Phật ở chùa Điều đầu làng. Thần vị lưu lại chùa Điều một đêm để nghe kinh. Tới sáng ngày 11/8, dân làng Thị Cầu lại rước thần trở lại đình Kim.

Trong khi làng Thị Cầu mở hội thì làng Nam Ngạn bên kia sông cũng mở hội. Trong khoảng thời gian này, do ước định từ trước mà ban hội đồng làng Nam Ngạn có sang lễ thần ở làng Thị Cầu. Có năm tổ chức dám rước từ làng Nam Ngạn sang làng Thị Cầu, cũng có năm làng Thị Cầu tổ chức rước thần sang làng Nam Ngạn.

Rước sách tế lễ với những trò chơi dân gian được tổ chức đến hết đêm 16/8.

Kể từ ngày 8/8, Thần linh ngự tại đình Kim. Dân làng Thị Cầu cắt cử một số quan viên luôn túc trực tại đình Kim để trông nom việc phụng tự. Trong suốt những đêm này, dân làng Thị Cầu mời ca nhi hát thờ thần. Trong khi ca nhi hát, các bậc đàn anh trong làng luân phiên cầm trống chầu, thường hát thờ là hát ả đào. Lệ này không phải đêm nào cũng có, dân làng Thị Cầu thường tổ chức một hoặc hai đêm, nhất là đêm rã đám.

Hội Thị Cầu là nét văn hóa đặc sắc của TP Bắc Ninh

Lệ thưởng tiền quản giáp và các đào nương là một lệ đặc biệt. Lệ này không phải đêm nào cũng cóm thường dân làng chỉ tổ chưc smột hoặc hai đêm nhất là đêm hôm rã đám.

Làng Thị Cầu cũng tổ chức thi làm cỗ (những món ăn mới lạ, ngon, sạch, trình bày đẹp sẽ đoạt giải). Thi làm cỗ liên quan đến nghi thức cầu mưa, thi thả chim bồ câu.

Related Figures

Hội đền Bảo Lộc

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 20/8 Âm lịch Hội đền Bảo Lộc tại Nam Định diễn ra vào ngày 20 tháng 8 hàng năm, tại xã Mỹ Phúc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Đền Bảo Lộc trước kia còn có tên là An Lạc, tọa lạc tại làng Bảo Lộc, thuộc tổng Bữu Bị, huyện Mỹ Lộc, tức xã Mỹ Phúc , huyện Mỹ Lộc ngày nay. Từ thành phố Nam Định đi theo đường 38A khoảng chừng 5km sẽ tới con đê Châu Giang, đi khoảng 2km đường đê là tới đền Bảo Lộc. Hội đền Bảo Lộc tại Nam Định Ngôi đền này được sinh trên đất "thang mộc" của cụ thân sinh ra Hưng Đạo Vương tên là Trần Liễu. Tương truyền, ấp An Lạc là nơi Trần Quốc Tuấn sinh ra, người đã làm vẻ vang lịch sử dân tộc Việt Nam. Với công lao to lớn của mình, Trần Quốc Tuấn đã được ban tước hiệu "Quốc công tiết chế Hưng Đạo Đại Vương". Sau khi ông qua đời, triều đình đã ban cho ông tước hiệu "Thái sư thượng phụ thượng quốc công nhân vũ Hưng Đạo đại vương". Ông được xem là "Cha", là "Đức thánh Trần" và mãi là huyền thoại sống trong tâm thức của người dân Việt nam. Người dân ấp An Lạc vì để tôn vinh và tưởng nhớ tới công ơn của Hưng Đạo Đại vương đã dựng đền thờ ông tại đây.\ Điện thờ Đền Bảo Lộc được xây dựng từ năm 1928, và phải mất tới 5 năm mới hoàn thành công trình. Đền nằm ngay chính giữa, quay mặt về hướng đông, bên phải là phủ thờ Mẫu, bên trái là chùa thờ Phật. Ngôi đền Bảo Lộc có quy mô lớn nhất so với các kiến trúc cổ ở đây. Đền được xây leo kiến trúc chữ đinh, gồm tiền đường 7 gian, hậu cung 3 gian, trung đường 5 gian. Đền Khải Thánh nằm sau đền Bảo Lộc, có kiến trúc khá giống với đền chính Bảo Lộc nhưng phần nền làm cao hơn 3m, là nơi thờ phụ mẫu, phu nhân và hai người con của Trần Quốc Tuấn. Hội đền Bảo Lộc thu hút rất nhiều du khách thập phương về xem hội Hàng năm, cứ tới ngày kỵ của Trần Quốc Tuấn là ngày 20/08 âm lịch, người dân nơi đây lại mở hội linh đình để tưởng nhớ tới Trần Quốc Tuấn. Đây là một lễ hội lớn đã thu hút được sự quan tâm của rất nhiều du khách thập phương. Đến thăm đền Bảo Lộc, du khách không chỉ được tham quan di tích chùa, mà còn được tìm hiểu về ý nghĩa lịch sử của di tích chùa, được thưởng thức các trò chơi dân gian đặc sắc như múa bài bông, đấu vật, cờ người...

Đền Bảo Lộc trước kia còn có tên là An Lạc, tọa lạc tại làng Bảo Lộc, thuộc tổng Bữu Bị, huyện Mỹ Lộc, tức xã Mỹ Phúc , huyện Mỹ Lộc ngày nay. Từ thành phố Nam Định đi theo đường 38A khoảng chừng 5km sẽ tới con đê Châu Giang, đi khoảng 2km đường đê là tới đền Bảo Lộc.

Hội đền Bảo Lộc tại Nam Định Ngôi đền này được sinh trên đất "thang mộc" của cụ thân sinh ra Hưng Đạo Vương tên là Trần Liễu. Tương truyền, ấp An Lạc là nơi Trần Quốc Tuấn sinh ra, người đã làm vẻ vang lịch sử dân tộc Việt Nam. Với công lao to lớn của mình, Trần Quốc Tuấn đã được ban tước hiệu "Quốc công tiết chế Hưng Đạo Đại Vương". Sau khi ông qua đời, triều đình đã ban cho ông tước hiệu "Thái sư thượng phụ thượng quốc công nhân vũ Hưng Đạo đại vương". Ông được xem là "Cha", là "Đức thánh Trần" và mãi là huyền thoại sống trong tâm thức của người dân Việt nam. Người dân ấp An Lạc vì để tôn vinh và tưởng nhớ tới công ơn của Hưng Đạo Đại vương đã dựng đền thờ ông tại đây.\ Điện thờ Đền Bảo Lộc được xây dựng từ năm 1928, và phải mất tới 5 năm mới hoàn thành công trình. Đền nằm ngay chính giữa, quay mặt về hướng đông, bên phải là phủ thờ Mẫu, bên trái là chùa thờ Phật. Ngôi đền Bảo Lộc có quy mô lớn nhất so với các kiến trúc cổ ở đây. Đền được xây leo kiến trúc chữ đinh, gồm tiền đường 7 gian, hậu cung 3 gian, trung đường 5 gian. Đền Khải Thánh nằm sau đền Bảo Lộc, có kiến trúc khá giống với đền chính Bảo Lộc nhưng phần nền làm cao hơn 3m, là nơi thờ phụ mẫu, phu nhân và hai người con của Trần Quốc Tuấn. Hội đền Bảo Lộc thu hút rất nhiều du khách thập phương về xem hội Hàng năm, cứ tới ngày kỵ của Trần Quốc Tuấn là ngày 20/08 âm lịch, người dân nơi đây lại mở hội linh đình để tưởng nhớ tới Trần Quốc Tuấn. Đây là một lễ hội lớn đã thu hút được sự quan tâm của rất nhiều du khách thập phương. Đến thăm đền Bảo Lộc, du khách không chỉ được tham quan di tích chùa, mà còn được tìm hiểu về ý nghĩa lịch sử của di tích chùa, được thưởng thức các trò chơi dân gian đặc sắc như múa bài bông, đấu vật, cờ người...

Ngôi đền này được sinh trên đất "thang mộc" của cụ thân sinh ra Hưng Đạo Vương tên là Trần Liễu. Tương truyền, ấp An Lạc là nơi Trần Quốc Tuấn sinh ra, người đã làm vẻ vang lịch sử dân tộc Việt Nam. Với công lao to lớn của mình, Trần Quốc Tuấn đã được ban tước hiệu "Quốc công tiết chế Hưng Đạo Đại Vương". Sau khi ông qua đời, triều đình đã ban cho ông tước hiệu "Thái sư thượng phụ thượng quốc công nhân vũ Hưng Đạo đại vương". Ông được xem là "Cha", là "Đức thánh Trần" và mãi là huyền thoại sống trong tâm thức của người dân Việt nam. Người dân ấp An Lạc vì để tôn vinh và tưởng nhớ tới công ơn của Hưng Đạo Đại vương đã dựng đền thờ ông tại đây.\

Điện thờ

Đền Bảo Lộc được xây dựng từ năm 1928, và phải mất tới 5 năm mới hoàn thành công trình. Đền nằm ngay chính giữa, quay mặt về hướng đông, bên phải là phủ thờ Mẫu, bên trái là chùa thờ Phật. Ngôi đền Bảo Lộc có quy mô lớn nhất so với các kiến trúc cổ ở đây. Đền được xây leo kiến trúc chữ đinh, gồm tiền đường 7 gian, hậu cung 3 gian, trung đường 5 gian.

Đền Khải Thánh nằm sau đền Bảo Lộc, có kiến trúc khá giống với đền chính Bảo Lộc nhưng phần nền làm cao hơn 3m, là nơi thờ phụ mẫu, phu nhân và hai người con của Trần Quốc Tuấn.

Hội đền Bảo Lộc thu hút rất nhiều du khách thập phương về xem hội

Hàng năm, cứ tới ngày kỵ của Trần Quốc Tuấn là ngày 20/08 âm lịch, người dân nơi đây lại mở hội linh đình để tưởng nhớ tới Trần Quốc Tuấn. Đây là một lễ hội lớn đã thu hút được sự quan tâm của rất nhiều du khách thập phương. Đến thăm đền Bảo Lộc, du khách không chỉ được tham quan di tích chùa, mà còn được tìm hiểu về ý nghĩa lịch sử của di tích chùa, được thưởng thức các trò chơi dân gian đặc sắc như múa bài bông, đấu vật, cờ người...

Related Figures

Hội Đền Ngọc Quế

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 8/8 Âm lịch Hội Đền Ngọc Quế diễn ra thường niên vào ngày mồng 8 tháng 8 âm lịch, tại thôn Ngọc Quế, xã Quỳnh Hoa, Quỳnh Phụ, Thái Bình. Đền Ngọc Quế tọa lạc trên một khu đất ở phía bắc của thôn Ngọc Quế, xã Quỳnh Hoa, Quỳnh Phụ, Thái Bình. Đền nằm sát chân đê sông Luộc, từ di tích đền ra đến sông Luộc khoảng 500m. Năm 1990, ngôi đền này đã được nhà nước xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia. Theo cuốn "Quỳnh Côi dư địa chí" được tác giả Ngô Vi Liễn viết năm 1982, đền Ngọc Quế là nơi thờ phụng Đỗ Huyền - là người đã có công lớn trong việc dẹp giặc ngoại xâm dưới thời Hùng Vương thứ 18. Để tưởng nhớ Đỗ Huyền, người dân nơi đây đã lập đền thờ ông và tôn ông lên làm thành hoàng làng. Hội Đền Ngọc Quế tại Thái Bình Sau nhiều năm thăng trầm,di tích đền có phần xuống cấp. Cho tới năm 2007, cơ quan các cấp ủy đảng, chính quyền, và người dân địa phương làm ăn xa quê đã quyên góp tiền để xây dựng và tu bổ lại đền cho khang trang hơn. Đền Ngọc Quế hiện nay có một số kiến trúc chính như: cổng tam qua, tòa điện thờ, hậu cung, tòa bái đường, nhà khách. Trong đó, tòa điện thờ và hậu cung là hai kiến trúc còn giữ được nhiều nét kiến trúc tiêu biểu cho phong cách thời Nguyễn. Toàn bộ đường viên dưới mái của mặt hiên trước được chặm khắc văn dây lá cách điệu trông rất đẹp mắt. Trong đền Ngọc Quế hiện vẫn còn lưu giữ khá nhiều hiện vật, đồ lế khí mang giá trị thẩm cao như: ngai thờ, 5 đôi câu đối sơn son thiếp vàng, 1 phi tượng Đỗ Huyền, 4 bức đại tự, 1 bức hoành phi, 2 bộ kiệu bát cống, 1 đôi câu đố khảm trai.... Đặc biệt là cuốn "Thần tích" được viết từ thời nhà Lê. Hàng năm, cứ đến ngày 08/08, người dân nơi đâu lại tưng bừng mở hội để dâng lên thành hoàng làng. Hội có hai phần là phần hội và phần lễ. Phần hội gồm có nhiều trò chơi như: múa lân rước kiệu, cờ tướng, kéo co nam nữ, múa dân gian, thi pháo đất.

Đền Ngọc Quế tọa lạc trên một khu đất ở phía bắc của thôn Ngọc Quế, xã Quỳnh Hoa, Quỳnh Phụ, Thái Bình. Đền nằm sát chân đê sông Luộc, từ di tích đền ra đến sông Luộc khoảng 500m. Năm 1990, ngôi đền này đã được nhà nước xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia. Theo cuốn "Quỳnh Côi dư địa chí" được tác giả Ngô Vi Liễn viết năm 1982, đền Ngọc Quế là nơi thờ phụng Đỗ Huyền - là người đã có công lớn trong việc dẹp giặc ngoại xâm dưới thời Hùng Vương thứ 18. Để tưởng nhớ Đỗ Huyền, người dân nơi đây đã lập đền thờ ông và tôn ông lên làm thành hoàng làng. Hội Đền Ngọc Quế tại Thái Bình Sau nhiều năm thăng trầm,di tích đền có phần xuống cấp. Cho tới năm 2007, cơ quan các cấp ủy đảng, chính quyền, và người dân địa phương làm ăn xa quê đã quyên góp tiền để xây dựng và tu bổ lại đền cho khang trang hơn. Đền Ngọc Quế hiện nay có một số kiến trúc chính như: cổng tam qua, tòa điện thờ, hậu cung, tòa bái đường, nhà khách. Trong đó, tòa điện thờ và hậu cung là hai kiến trúc còn giữ được nhiều nét kiến trúc tiêu biểu cho phong cách thời Nguyễn. Toàn bộ đường viên dưới mái của mặt hiên trước được chặm khắc văn dây lá cách điệu trông rất đẹp mắt. Trong đền Ngọc Quế hiện vẫn còn lưu giữ khá nhiều hiện vật, đồ lế khí mang giá trị thẩm cao như: ngai thờ, 5 đôi câu đối sơn son thiếp vàng, 1 phi tượng Đỗ Huyền, 4 bức đại tự, 1 bức hoành phi, 2 bộ kiệu bát cống, 1 đôi câu đố khảm trai.... Đặc biệt là cuốn "Thần tích" được viết từ thời nhà Lê. Hàng năm, cứ đến ngày 08/08, người dân nơi đâu lại tưng bừng mở hội để dâng lên thành hoàng làng. Hội có hai phần là phần hội và phần lễ. Phần hội gồm có nhiều trò chơi như: múa lân rước kiệu, cờ tướng, kéo co nam nữ, múa dân gian, thi pháo đất.

Theo cuốn "Quỳnh Côi dư địa chí" được tác giả Ngô Vi Liễn viết năm 1982, đền Ngọc Quế là nơi thờ phụng Đỗ Huyền - là người đã có công lớn trong việc dẹp giặc ngoại xâm dưới thời Hùng Vương thứ 18. Để tưởng nhớ Đỗ Huyền, người dân nơi đây đã lập đền thờ ông và tôn ông lên làm thành hoàng làng.

Hội Đền Ngọc Quế tại Thái Bình

Sau nhiều năm thăng trầm,di tích đền có phần xuống cấp. Cho tới năm 2007, cơ quan các cấp ủy đảng, chính quyền, và người dân địa phương làm ăn xa quê đã quyên góp tiền để xây dựng và tu bổ lại đền cho khang trang hơn. Đền Ngọc Quế hiện nay có một số kiến trúc chính như: cổng tam qua, tòa điện thờ, hậu cung, tòa bái đường, nhà khách. Trong đó, tòa điện thờ và hậu cung là hai kiến trúc còn giữ được nhiều nét kiến trúc tiêu biểu cho phong cách thời Nguyễn. Toàn bộ đường viên dưới mái của mặt hiên trước được chặm khắc văn dây lá cách điệu trông rất đẹp mắt. Trong đền Ngọc Quế hiện vẫn còn lưu giữ khá nhiều hiện vật, đồ lế khí mang giá trị thẩm cao như: ngai thờ, 5 đôi câu đối sơn son thiếp vàng, 1 phi tượng Đỗ Huyền, 4 bức đại tự, 1 bức hoành phi, 2 bộ kiệu bát cống, 1 đôi câu đố khảm trai.... Đặc biệt là cuốn "Thần tích" được viết từ thời nhà Lê.

Hàng năm, cứ đến ngày 08/08, người dân nơi đâu lại tưng bừng mở hội để dâng lên thành hoàng làng. Hội có hai phần là phần hội và phần lễ. Phần hội gồm có nhiều trò chơi như: múa lân rước kiệu, cờ tướng, kéo co nam nữ, múa dân gian, thi pháo đất.

Related Figures

Hội Tát Giang (Hội hát đúm trên sông)

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/8- 15/8 Âm lịch Hội Tát Giang (hội hát đúm trên sông) diễn ra từ ngày 10-15/8 âm lịch tại xã Phục Lễ, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng. Hát đúm là sinh hoạt văn hóa truyền thống của vùng đất ven biển, gắn bó với những vui buồn của người dân nơi đây. Hội Tát Giang độc đáo với hình thức hát đúm trên sông Hát đúm là lối hát dân gian thường xuất hiện vào những dịp hội hè ở miền Bắc, nhiều thanh niên trai gái tham gia ở dạng đối đáp. Người hát bơi thuyền trên sông, hát thi liền 3 đêm. Nếu ai không đối nổi là thua cuộc. Hội Tát Giang truyền thống vùng đất ven biển Theo người dân Thủy Nguyên, hát đúm xuất hiện cách đây khoảng bảy, tám trăm năm (khoảng thế kỷ III - thời nhà Trần). Nhưng phải tới thế kỷ XVI - thời nhà Mạc, khi chùa Kiến Linh được tạo dựng ở Phục Lễ thì hát đúm mới được hát trong lễ hội chùa. Hội Tát Giang - hát đúm là văn hóa độc đáo của Thủy Nguyên Là loại hình dân ca hình thành trong môi trường lao động, sau đó được đưa vào trong lễ hội; hát đúm gắn liền với những sắc thái văn hóa độc đáo của cư dân miền biển. Một trong những tục lệ phổ biến trong lễ hội xưa có liên quan đến hát đúm là tục dùng khăn che mặt của phụ nữ. Trước đây, phụ nữ vùng này thường che kín mặt bằng khăn mỏ quạ, chỉ để hở hai mắt trong lúc làm việc cũng như sinh hoạt hàng ngày. Thói quen che kín mặt vẫn được thiếu nữ duy trì khi tham gia hội hát đúm ở chùa làng. Nếu như hát đúm hấp dẫn và lôi cuốn bằng những câu hát tình tứ, thơ mộng thì tục dùng khăn che mặt của những cô gái lại tạo sự tò mò, cuốn hút du khách thập phương. Che mặt ắt phải có mở mặt. Đây là thời điểm hấp dẫn, thu hút nhất với du khách xa gần, ngay cả người dân địa phương. Khi cô gái mở mặt để hát dối đáp với những chàng trai, ai nấy đều trầm trồ vì cô nào cũng đẹp, cũng xinh. Giống như nhiều loại hình văn hóa nghệ thuật dân gian khác, hát đúm cũng trải qua nhiều thăng trầm nhưng vẫn được người dân nơi đây bảo tồn và duy trì. Hát đúm không còn được phổ biến như xưa nhưng nó vẫn tồn tại theo cách riêng của nó.

Hội Tát Giang độc đáo với hình thức hát đúm trên sông Hát đúm là lối hát dân gian thường xuất hiện vào những dịp hội hè ở miền Bắc, nhiều thanh niên trai gái tham gia ở dạng đối đáp. Người hát bơi thuyền trên sông, hát thi liền 3 đêm. Nếu ai không đối nổi là thua cuộc. Hội Tát Giang truyền thống vùng đất ven biển Theo người dân Thủy Nguyên, hát đúm xuất hiện cách đây khoảng bảy, tám trăm năm (khoảng thế kỷ III - thời nhà Trần). Nhưng phải tới thế kỷ XVI - thời nhà Mạc, khi chùa Kiến Linh được tạo dựng ở Phục Lễ thì hát đúm mới được hát trong lễ hội chùa. Hội Tát Giang - hát đúm là văn hóa độc đáo của Thủy Nguyên Là loại hình dân ca hình thành trong môi trường lao động, sau đó được đưa vào trong lễ hội; hát đúm gắn liền với những sắc thái văn hóa độc đáo của cư dân miền biển. Một trong những tục lệ phổ biến trong lễ hội xưa có liên quan đến hát đúm là tục dùng khăn che mặt của phụ nữ. Trước đây, phụ nữ vùng này thường che kín mặt bằng khăn mỏ quạ, chỉ để hở hai mắt trong lúc làm việc cũng như sinh hoạt hàng ngày. Thói quen che kín mặt vẫn được thiếu nữ duy trì khi tham gia hội hát đúm ở chùa làng. Nếu như hát đúm hấp dẫn và lôi cuốn bằng những câu hát tình tứ, thơ mộng thì tục dùng khăn che mặt của những cô gái lại tạo sự tò mò, cuốn hút du khách thập phương. Che mặt ắt phải có mở mặt. Đây là thời điểm hấp dẫn, thu hút nhất với du khách xa gần, ngay cả người dân địa phương. Khi cô gái mở mặt để hát dối đáp với những chàng trai, ai nấy đều trầm trồ vì cô nào cũng đẹp, cũng xinh. Giống như nhiều loại hình văn hóa nghệ thuật dân gian khác, hát đúm cũng trải qua nhiều thăng trầm nhưng vẫn được người dân nơi đây bảo tồn và duy trì. Hát đúm không còn được phổ biến như xưa nhưng nó vẫn tồn tại theo cách riêng của nó.

Hát đúm là lối hát dân gian thường xuất hiện vào những dịp hội hè ở miền Bắc, nhiều thanh niên trai gái tham gia ở dạng đối đáp. Người hát bơi thuyền trên sông, hát thi liền 3 đêm. Nếu ai không đối nổi là thua cuộc.

Hội Tát Giang truyền thống vùng đất ven biển

Theo người dân Thủy Nguyên, hát đúm xuất hiện cách đây khoảng bảy, tám trăm năm (khoảng thế kỷ III - thời nhà Trần). Nhưng phải tới thế kỷ XVI - thời nhà Mạc, khi chùa Kiến Linh được tạo dựng ở Phục Lễ thì hát đúm mới được hát trong lễ hội chùa.

Hội Tát Giang - hát đúm là văn hóa độc đáo của Thủy Nguyên Là loại hình dân ca hình thành trong môi trường lao động, sau đó được đưa vào trong lễ hội; hát đúm gắn liền với những sắc thái văn hóa độc đáo của cư dân miền biển. Một trong những tục lệ phổ biến trong lễ hội xưa có liên quan đến hát đúm là tục dùng khăn che mặt của phụ nữ. Trước đây, phụ nữ vùng này thường che kín mặt bằng khăn mỏ quạ, chỉ để hở hai mắt trong lúc làm việc cũng như sinh hoạt hàng ngày. Thói quen che kín mặt vẫn được thiếu nữ duy trì khi tham gia hội hát đúm ở chùa làng. Nếu như hát đúm hấp dẫn và lôi cuốn bằng những câu hát tình tứ, thơ mộng thì tục dùng khăn che mặt của những cô gái lại tạo sự tò mò, cuốn hút du khách thập phương. Che mặt ắt phải có mở mặt. Đây là thời điểm hấp dẫn, thu hút nhất với du khách xa gần, ngay cả người dân địa phương. Khi cô gái mở mặt để hát dối đáp với những chàng trai, ai nấy đều trầm trồ vì cô nào cũng đẹp, cũng xinh. Giống như nhiều loại hình văn hóa nghệ thuật dân gian khác, hát đúm cũng trải qua nhiều thăng trầm nhưng vẫn được người dân nơi đây bảo tồn và duy trì. Hát đúm không còn được phổ biến như xưa nhưng nó vẫn tồn tại theo cách riêng của nó.

Là loại hình dân ca hình thành trong môi trường lao động, sau đó được đưa vào trong lễ hội; hát đúm gắn liền với những sắc thái văn hóa độc đáo của cư dân miền biển. Một trong những tục lệ phổ biến trong lễ hội xưa có liên quan đến hát đúm là tục dùng khăn che mặt của phụ nữ. Trước đây, phụ nữ vùng này thường che kín mặt bằng khăn mỏ quạ, chỉ để hở hai mắt trong lúc làm việc cũng như sinh hoạt hàng ngày. Thói quen che kín mặt vẫn được thiếu nữ duy trì khi tham gia hội hát đúm ở chùa làng. Nếu như hát đúm hấp dẫn và lôi cuốn bằng những câu hát tình tứ, thơ mộng thì tục dùng khăn che mặt của những cô gái lại tạo sự tò mò, cuốn hút du khách thập phương. Che mặt ắt phải có mở mặt. Đây là thời điểm hấp dẫn, thu hút nhất với du khách xa gần, ngay cả người dân địa phương. Khi cô gái mở mặt để hát dối đáp với những chàng trai, ai nấy đều trầm trồ vì cô nào cũng đẹp, cũng xinh. Giống như nhiều loại hình văn hóa nghệ thuật dân gian khác, hát đúm cũng trải qua nhiều thăng trầm nhưng vẫn được người dân nơi đây bảo tồn và duy trì. Hát đúm không còn được phổ biến như xưa nhưng nó vẫn tồn tại theo cách riêng của nó.

Là loại hình dân ca hình thành trong môi trường lao động, sau đó được đưa vào trong lễ hội; hát đúm gắn liền với những sắc thái văn hóa độc đáo của cư dân miền biển. Một trong những tục lệ phổ biến trong lễ hội xưa có liên quan đến hát đúm là tục dùng khăn che mặt của phụ nữ. Trước đây, phụ nữ vùng này thường che kín mặt bằng khăn mỏ quạ, chỉ để hở hai mắt trong lúc làm việc cũng như sinh hoạt hàng ngày. Thói quen che kín mặt vẫn được thiếu nữ duy trì khi tham gia hội hát đúm ở chùa làng. Nếu như hát đúm hấp dẫn và lôi cuốn bằng những câu hát tình tứ, thơ mộng thì tục dùng khăn che mặt của những cô gái lại tạo sự tò mò, cuốn hút du khách thập phương. Che mặt ắt phải có mở mặt. Đây là thời điểm hấp dẫn, thu hút nhất với du khách xa gần, ngay cả người dân địa phương. Khi cô gái mở mặt để hát dối đáp với những chàng trai, ai nấy đều trầm trồ vì cô nào cũng đẹp, cũng xinh.

Giống như nhiều loại hình văn hóa nghệ thuật dân gian khác, hát đúm cũng trải qua nhiều thăng trầm nhưng vẫn được người dân nơi đây bảo tồn và duy trì. Hát đúm không còn được phổ biến như xưa nhưng nó vẫn tồn tại theo cách riêng của nó.

Giống như nhiều loại hình văn hóa nghệ thuật dân gian khác, hát đúm cũng trải qua nhiều thăng trầm nhưng vẫn được người dân nơi đây bảo tồn và duy trì. Hát đúm không còn được phổ biến như xưa nhưng nó vẫn tồn tại theo cách riêng của nó.

Related Figures

Hội Chùa Vẽ

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/8- 20/8 Âm lịch Hội Chùa Vẽ được tổ chức tại bến cảng sông Bạch Đằng, thành phố Hải Phòng từ ngày 10-20/8 âm lịch hàng năm. Về dự lễ hội chùa Vẽ, du khách không chỉ được tham gia lễ hội truyền thống độc đáo mà còn được chiêm ngưỡng công trình kiến trúc nghệ thuật đặc sắc. Chùa Vẽ được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là di tích lịch sử Quốc gia. Chùa Vẽ nơi diễn ra lễ hội hàng năm Chùa Vẽ có tên chữ là Hoa Linh Tự, gắn liền với những chiến thắng oanh liệt chống ngoại xâm của quân dân ta trong chiến thắng Bạch Đằng năm 938 của Ngô Quyền và chiến thắng Bạch Đằng năm 1287-1288 của Trần Hưng Đao. Tương truyền, tướng quân của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đã sử dụng Chùa Vẽ để quan sát đồn trại giặc và vẽ sơ đồ chuẩn bị cho trận chiến. Kiến trúc độc đáo của Chùa Vẽ Chùa Vẽ là công trình kiến trúc nghệ thuật cổ khá nguyên vẹn, nguy nga. Những tượng pháp, nghị tượng, đồ thờ tự đều được bảo tồn nguyên trạng. Tòa Phật điện có kiến trúc chữ Đinh gồm 5 gian tiền đường, 4 gian chuôi vồ. Hai bên hậu cung là hai nhà chè nhỏ, nơi đặt bàn thờ "Đức ông bản thổ" và "Tam tòa Thánh Mẫu". Bàn thờ Hưng Đạo Đại vương được lập ở gian trái tòa tiền đường. Tòa Tam Bảo được bày trọn trong tòa hậu cung của Chùa Vẽ. Đứng song song với tòa Phật diện là nhà thờ tổ 5 gian cùng nhìn về hướng đông nam. Bên trong nhà thờ tổ, chính giữa đặt bàn thờ đức Ngô vương Quyền, bên trái là bàn thờ Hậu phật, bên phải là bàn thờ sư tổ Phật tử tham gia hoạt động ở Chùa Vẽ Lễ hội Chùa Vẽ bao gồm càu kinh, dâng hương. Ngoài những lễ vật thông thường như hương hoa, bánh trái; hội Chùa Vẽ còn có một lễ vật dâng cũng đặc biệt là bánh đa vừng. Theo tích xưa, Hưng Đạo Đại vương dùng bánh đa rắc vừng thành bản đồ chiến trận để gửi cho toàn quân. Đó được gọi là "Trận đồ ăn no đánh giặc".

Hội Chùa Vẽ được tổ chức tại bến cảng sông Bạch Đằng, thành phố Hải Phòng từ ngày 10-20/8 âm lịch hàng năm. Về dự lễ hội chùa Vẽ, du khách không chỉ được tham gia lễ hội truyền thống độc đáo mà còn được chiêm ngưỡng công trình kiến trúc nghệ thuật đặc sắc. Chùa Vẽ được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là di tích lịch sử Quốc gia.

Chùa Vẽ nơi diễn ra lễ hội hàng năm

Chùa Vẽ có tên chữ là Hoa Linh Tự, gắn liền với những chiến thắng oanh liệt chống ngoại xâm của quân dân ta trong chiến thắng Bạch Đằng năm 938 của Ngô Quyền và chiến thắng Bạch Đằng năm 1287-1288 của Trần Hưng Đao. Tương truyền, tướng quân của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đã sử dụng Chùa Vẽ để quan sát đồn trại giặc và vẽ sơ đồ chuẩn bị cho trận chiến.

Kiến trúc độc đáo của Chùa Vẽ

Chùa Vẽ là công trình kiến trúc nghệ thuật cổ khá nguyên vẹn, nguy nga. Những tượng pháp, nghị tượng, đồ thờ tự đều được bảo tồn nguyên trạng.

Tòa Phật điện có kiến trúc chữ Đinh gồm 5 gian tiền đường, 4 gian chuôi vồ. Hai bên hậu cung là hai nhà chè nhỏ, nơi đặt bàn thờ "Đức ông bản thổ" và "Tam tòa Thánh Mẫu". Bàn thờ Hưng Đạo Đại vương được lập ở gian trái tòa tiền đường. Tòa Tam Bảo được bày trọn trong tòa hậu cung của Chùa Vẽ. Đứng song song với tòa Phật diện là nhà thờ tổ 5 gian cùng nhìn về hướng đông nam. Bên trong nhà thờ tổ, chính giữa đặt bàn thờ đức Ngô vương Quyền, bên trái là bàn thờ Hậu phật, bên phải là bàn thờ sư tổ Phật tử tham gia hoạt động ở Chùa Vẽ

Phật tử tham gia hoạt động ở Chùa Vẽ

Lễ hội Chùa Vẽ bao gồm càu kinh, dâng hương. Ngoài những lễ vật thông thường như hương hoa, bánh trái; hội Chùa Vẽ còn có một lễ vật dâng cũng đặc biệt là bánh đa vừng. Theo tích xưa, Hưng Đạo Đại vương dùng bánh đa rắc vừng thành bản đồ chiến trận để gửi cho toàn quân. Đó được gọi là "Trận đồ ăn no đánh giặc".

Related Figures

Hội đền Phú Xá

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 20/8 Âm lịch Hội đền Phú Xá được tổ chức hàng năm này 20/8 âm lịch tại phường Đông Hải, quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Lễ hội hàng năm thường có phần lễ tế, rước thần vị, các trò chơi dân gian. Đền Phú Xá nơi diễn ra lễ hội hàng năm Đền Phú Xá là một trong ba linh từ thiêng liêng của quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Đền Phú Xá là nơi nhân dân tưởng nhớ công lao của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn trong trận chiến trên sông Bạch Đằng năm xưa. Tương truyền năm xưa, để chuẩn bị cho trận thủy chiến, Hưng đạo Đại vương đã lấy nơi đây làm nơi chứa lương thảo của quân đội, đồng thời là nơi tổ chức khao thưởng quân sĩ sau chiến thắng. Đền Phú Xá là nơi sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng thiêng liêng của người dân Phú Xá. Bên cạnh đó, đền Phú Xá cũng là nơi thờ nữ tướng Bùi Thị Tự Nhiên (người vận động nhân dân quyên góp lương thảo cho nhà Trần đánh giặc). Đền Phú Xá di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia Đền Phú Xá trải qua nhiều lần tu bổ, tôn tạo đã trở thành một công trình bề thế. Đền Phú Xá có kiến trúc theo kiểu nội công ngoại quốc: gồm 5 gian tiền đường, giải vũ, hậu cung và nhà thiêu hương. Những đường nét trang trí, chạm khắc đều mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn cuối thế kỳ XIX, đầu thế kỷ XX. Đền Phú Xa quay về hướng Đông Nam, nhìn ra cửa biển Bạch Đằng. Phía trước đền Phú Xá có hồ bán nguyệt. Đền Phú Xá được Bộ Văn hóa, Thể thao và du lịch xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia. Lễ tế trong hội dền Phú Xá Trong những ngày diễn ra lễ hội, du khách thập khương kéo về đền Phú Xá dâng hương, trảy hội trước cửa thánh. Ngoài những lễ vật thông thường như hương hoa, trái cây... lễ hội đền Phú Xá còn có một lễ phẩm rất độc đáo gắn liến với lịch sử làm lương khô cho quân sĩ đời Trần đó là chiếc bánh đa nướng.

Đền Phú Xá nơi diễn ra lễ hội hàng năm Đền Phú Xá là một trong ba linh từ thiêng liêng của quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Đền Phú Xá là nơi nhân dân tưởng nhớ công lao của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn trong trận chiến trên sông Bạch Đằng năm xưa. Tương truyền năm xưa, để chuẩn bị cho trận thủy chiến, Hưng đạo Đại vương đã lấy nơi đây làm nơi chứa lương thảo của quân đội, đồng thời là nơi tổ chức khao thưởng quân sĩ sau chiến thắng. Đền Phú Xá là nơi sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng thiêng liêng của người dân Phú Xá. Bên cạnh đó, đền Phú Xá cũng là nơi thờ nữ tướng Bùi Thị Tự Nhiên (người vận động nhân dân quyên góp lương thảo cho nhà Trần đánh giặc). Đền Phú Xá di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia Đền Phú Xá trải qua nhiều lần tu bổ, tôn tạo đã trở thành một công trình bề thế. Đền Phú Xá có kiến trúc theo kiểu nội công ngoại quốc: gồm 5 gian tiền đường, giải vũ, hậu cung và nhà thiêu hương. Những đường nét trang trí, chạm khắc đều mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn cuối thế kỳ XIX, đầu thế kỷ XX. Đền Phú Xa quay về hướng Đông Nam, nhìn ra cửa biển Bạch Đằng. Phía trước đền Phú Xá có hồ bán nguyệt. Đền Phú Xá được Bộ Văn hóa, Thể thao và du lịch xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia. Lễ tế trong hội dền Phú Xá Trong những ngày diễn ra lễ hội, du khách thập khương kéo về đền Phú Xá dâng hương, trảy hội trước cửa thánh. Ngoài những lễ vật thông thường như hương hoa, trái cây... lễ hội đền Phú Xá còn có một lễ phẩm rất độc đáo gắn liến với lịch sử làm lương khô cho quân sĩ đời Trần đó là chiếc bánh đa nướng.

Đền Phú Xá là một trong ba linh từ thiêng liêng của quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Đền Phú Xá là nơi nhân dân tưởng nhớ công lao của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn trong trận chiến trên sông Bạch Đằng năm xưa. Tương truyền năm xưa, để chuẩn bị cho trận thủy chiến, Hưng đạo Đại vương đã lấy nơi đây làm nơi chứa lương thảo của quân đội, đồng thời là nơi tổ chức khao thưởng quân sĩ sau chiến thắng. Đền Phú Xá là nơi sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng thiêng liêng của người dân Phú Xá. Bên cạnh đó, đền Phú Xá cũng là nơi thờ nữ tướng Bùi Thị Tự Nhiên (người vận động nhân dân quyên góp lương thảo cho nhà Trần đánh giặc).

Đền Phú Xá di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia

Đền Phú Xá trải qua nhiều lần tu bổ, tôn tạo đã trở thành một công trình bề thế. Đền Phú Xá có kiến trúc theo kiểu nội công ngoại quốc: gồm 5 gian tiền đường, giải vũ, hậu cung và nhà thiêu hương. Những đường nét trang trí, chạm khắc đều mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn cuối thế kỳ XIX, đầu thế kỷ XX. Đền Phú Xa quay về hướng Đông Nam, nhìn ra cửa biển Bạch Đằng. Phía trước đền Phú Xá có hồ bán nguyệt. Đền Phú Xá được Bộ Văn hóa, Thể thao và du lịch xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia. Lễ tế trong hội dền Phú Xá Trong những ngày diễn ra lễ hội, du khách thập khương kéo về đền Phú Xá dâng hương, trảy hội trước cửa thánh. Ngoài những lễ vật thông thường như hương hoa, trái cây... lễ hội đền Phú Xá còn có một lễ phẩm rất độc đáo gắn liến với lịch sử làm lương khô cho quân sĩ đời Trần đó là chiếc bánh đa nướng.

Đền Phú Xa quay về hướng Đông Nam, nhìn ra cửa biển Bạch Đằng. Phía trước đền Phú Xá có hồ bán nguyệt. Đền Phú Xá được Bộ Văn hóa, Thể thao và du lịch xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia.

Lễ tế trong hội dền Phú Xá

Trong những ngày diễn ra lễ hội, du khách thập khương kéo về đền Phú Xá dâng hương, trảy hội trước cửa thánh. Ngoài những lễ vật thông thường như hương hoa, trái cây... lễ hội đền Phú Xá còn có một lễ phẩm rất độc đáo gắn liến với lịch sử làm lương khô cho quân sĩ đời Trần đó là chiếc bánh đa nướng.

Trong những ngày diễn ra lễ hội, du khách thập khương kéo về đền Phú Xá dâng hương, trảy hội trước cửa thánh. Ngoài những lễ vật thông thường như hương hoa, trái cây... lễ hội đền Phú Xá còn có một lễ phẩm rất độc đáo gắn liến với lịch sử làm lương khô cho quân sĩ đời Trần đó là chiếc bánh đa nướng.

Related Figures

Hội Đình Hạ

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 20/8 Âm lịch Hội Đình Hạ diễn ra ngày 20/8 âm lịch hàng năm (ngày giỗ Đức Thánh Trần) tại phường Thượng Lý, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng. Ngày nay, Đình Hạ được đổi tên thành Đền Hạ. Đền Hạ được xây dựng khoảng thập niên 10, 20 của thế kỷ XX. Sau đó, Đền Hạ bị xuống cấp nghiêm trọng và gần như đã bị phá hủy hoàn toàn. Đến năm 1921, một người phụ nữ Việt Nam lấy chồng ngoại quốc (nhân dân quen gọi là bà Đồng Mỏ) đóng góp 100 đồng tiền Đông Dương và 130 bao xi măng; người dân nơi đây góp sức trùng tu lại đền Mẫu rước Thành Hoàng về thờ. Đền Hạ thờ hai vị Thành Hoàng là Nguyễn Tướng công và Trình công được ba triều đại nhà Nguyễn (Thành Thái, Duy Tân, Khải Định) phong sắc "Dực bảo trung hưng, linh phù hiệp chấn quan", tước Thọ Như Hầu. Đền Mẫu là nơi thờ phụng công chúa Liễu Hạnh. Hội Đình Hạ diễn ra tại Hải Phòng Kiến trúc trong Đền Hạ: Gian chính thất thờ 2 vị Thành Hoàng đồng thời thờ một số nhân vật nổi tiếng trong lịch sử như: Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, Trần Quốc Toản, Phạm Tứ Nghi. Gian trái Đền Hạ thờ Mẫu Liễu Hạnh. Gian phải Đền Hạ là cung chùa Hạ (sau khi chùa xuống cấp được đưa về đền). Kiến trúc độc đáo Đình Hạ Phía cổng chính Tam quan vào Đền Hạ vẫn còn đôi câu đối cổ "Hạ giang thái ấp vọng hồng ân. Tứ hải khai điền hưng quốc thổ". Học sinh tham quan di tích lịch sử Đình hạ Đền Hạ cũng là nơi ghi dấu lịch sử cách mạng. Trong hai cuộc kháng chiến cứu nước, Đền Hạ là nơi nuôi giấu cán bộ, chiến sĩ cách mạng Việt Nam. Tháng 7 năm 1930, Tổng bí thư Ban chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam về nước đã tới Đền Hạ gặp gỡ cán bộ chiến sĩ và chỉ đạo phong trào cách mạng tại Hải Phòng. Ngày 13 tháng 02 năm 1996, Đền Hạ được Bộ Văn Hóa - Thông tin công nhận là Di tích lịch sử cấp quốc gia. Lễ hội Đền Hạ bao gồm tế lễ, dâng hương. Từ năm 1996 đến nay, Ban quản lý di tích Đền Hạ vẫn duy trì tổ chức 6 lễ hội chính hàng năm tại đền vào các ngày 10 tháng Giêng, 10 tháng 2 (âm lịch), 3-3 (âm lịch), 19-4 (âm lịch), 20-8 và 14-11 (âm lịch).

Đền Hạ được xây dựng khoảng thập niên 10, 20 của thế kỷ XX. Sau đó, Đền Hạ bị xuống cấp nghiêm trọng và gần như đã bị phá hủy hoàn toàn. Đến năm 1921, một người phụ nữ Việt Nam lấy chồng ngoại quốc (nhân dân quen gọi là bà Đồng Mỏ) đóng góp 100 đồng tiền Đông Dương và 130 bao xi măng; người dân nơi đây góp sức trùng tu lại đền Mẫu rước Thành Hoàng về thờ. Đền Hạ thờ hai vị Thành Hoàng là Nguyễn Tướng công và Trình công được ba triều đại nhà Nguyễn (Thành Thái, Duy Tân, Khải Định) phong sắc "Dực bảo trung hưng, linh phù hiệp chấn quan", tước Thọ Như Hầu. Đền Mẫu là nơi thờ phụng công chúa Liễu Hạnh. Hội Đình Hạ diễn ra tại Hải Phòng Kiến trúc trong Đền Hạ: Gian chính thất thờ 2 vị Thành Hoàng đồng thời thờ một số nhân vật nổi tiếng trong lịch sử như: Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, Trần Quốc Toản, Phạm Tứ Nghi. Gian trái Đền Hạ thờ Mẫu Liễu Hạnh. Gian phải Đền Hạ là cung chùa Hạ (sau khi chùa xuống cấp được đưa về đền). Kiến trúc độc đáo Đình Hạ Phía cổng chính Tam quan vào Đền Hạ vẫn còn đôi câu đối cổ "Hạ giang thái ấp vọng hồng ân. Tứ hải khai điền hưng quốc thổ". Học sinh tham quan di tích lịch sử Đình hạ Đền Hạ cũng là nơi ghi dấu lịch sử cách mạng. Trong hai cuộc kháng chiến cứu nước, Đền Hạ là nơi nuôi giấu cán bộ, chiến sĩ cách mạng Việt Nam. Tháng 7 năm 1930, Tổng bí thư Ban chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam về nước đã tới Đền Hạ gặp gỡ cán bộ chiến sĩ và chỉ đạo phong trào cách mạng tại Hải Phòng. Ngày 13 tháng 02 năm 1996, Đền Hạ được Bộ Văn Hóa - Thông tin công nhận là Di tích lịch sử cấp quốc gia. Lễ hội Đền Hạ bao gồm tế lễ, dâng hương. Từ năm 1996 đến nay, Ban quản lý di tích Đền Hạ vẫn duy trì tổ chức 6 lễ hội chính hàng năm tại đền vào các ngày 10 tháng Giêng, 10 tháng 2 (âm lịch), 3-3 (âm lịch), 19-4 (âm lịch), 20-8 và 14-11 (âm lịch).

Đền Hạ được xây dựng khoảng thập niên 10, 20 của thế kỷ XX. Sau đó, Đền Hạ bị xuống cấp nghiêm trọng và gần như đã bị phá hủy hoàn toàn. Đến năm 1921, một người phụ nữ Việt Nam lấy chồng ngoại quốc (nhân dân quen gọi là bà Đồng Mỏ) đóng góp 100 đồng tiền Đông Dương và 130 bao xi măng; người dân nơi đây góp sức trùng tu lại đền Mẫu rước Thành Hoàng về thờ. Đền Hạ thờ hai vị Thành Hoàng là Nguyễn Tướng công và Trình công được ba triều đại nhà Nguyễn (Thành Thái, Duy Tân, Khải Định) phong sắc "Dực bảo trung hưng, linh phù hiệp chấn quan", tước Thọ Như Hầu. Đền Mẫu là nơi thờ phụng công chúa Liễu Hạnh.

Hội Đình Hạ diễn ra tại Hải Phòng

Kiến trúc trong Đền Hạ:

Gian chính thất thờ 2 vị Thành Hoàng đồng thời thờ một số nhân vật nổi tiếng trong lịch sử như: Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, Trần Quốc Toản, Phạm Tứ Nghi. Gian trái Đền Hạ thờ Mẫu Liễu Hạnh. Gian phải Đền Hạ là cung chùa Hạ (sau khi chùa xuống cấp được đưa về đền). Kiến trúc độc đáo Đình Hạ Phía cổng chính Tam quan vào Đền Hạ vẫn còn đôi câu đối cổ "Hạ giang thái ấp vọng hồng ân. Tứ hải khai điền hưng quốc thổ". Học sinh tham quan di tích lịch sử Đình hạ Đền Hạ cũng là nơi ghi dấu lịch sử cách mạng. Trong hai cuộc kháng chiến cứu nước, Đền Hạ là nơi nuôi giấu cán bộ, chiến sĩ cách mạng Việt Nam. Tháng 7 năm 1930, Tổng bí thư Ban chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam về nước đã tới Đền Hạ gặp gỡ cán bộ chiến sĩ và chỉ đạo phong trào cách mạng tại Hải Phòng. Ngày 13 tháng 02 năm 1996, Đền Hạ được Bộ Văn Hóa - Thông tin công nhận là Di tích lịch sử cấp quốc gia. Lễ hội Đền Hạ bao gồm tế lễ, dâng hương. Từ năm 1996 đến nay, Ban quản lý di tích Đền Hạ vẫn duy trì tổ chức 6 lễ hội chính hàng năm tại đền vào các ngày 10 tháng Giêng, 10 tháng 2 (âm lịch), 3-3 (âm lịch), 19-4 (âm lịch), 20-8 và 14-11 (âm lịch).

Kiến trúc độc đáo Đình Hạ

Học sinh tham quan di tích lịch sử Đình hạ

Đền Hạ cũng là nơi ghi dấu lịch sử cách mạng. Trong hai cuộc kháng chiến cứu nước, Đền Hạ là nơi nuôi giấu cán bộ, chiến sĩ cách mạng Việt Nam. Tháng 7 năm 1930, Tổng bí thư Ban chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam về nước đã tới Đền Hạ gặp gỡ cán bộ chiến sĩ và chỉ đạo phong trào cách mạng tại Hải Phòng.

Ngày 13 tháng 02 năm 1996, Đền Hạ được Bộ Văn Hóa - Thông tin công nhận là Di tích lịch sử cấp quốc gia. Lễ hội Đền Hạ bao gồm tế lễ, dâng hương. Từ năm 1996 đến nay, Ban quản lý di tích Đền Hạ vẫn duy trì tổ chức 6 lễ hội chính hàng năm tại đền vào các ngày 10 tháng Giêng, 10 tháng 2 (âm lịch), 3-3 (âm lịch), 19-4 (âm lịch), 20-8 và 14-11 (âm lịch).

Related Figures

Lễ hội Đền Độc Cước thị xã Sầm Sơn

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 14/2- 16/2 Âm lịch Lễ hội Đền Độc Cước thị xã Sầm Sơn là một lễ hội cầu phúc, là một trong những lễ hội mang đậm nét văn hóa truyền thống của người dân thị xã Sầm Sơn. Lễ hội diễn ra hàng năm vào ngày 16 tháng Hai. Đây là lễ hội để người dân cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, đời sống nhân dân được ấm no, hạnh phúc. Màn đánh trống khai mạc Lễ hội Đền Độc Cước thị xã Sầm Sơn Đền Độc Cước tọa lạc trên đỉnh hòn Cổ Giải thuộc dãy núi Trường Lệ. Độc Cước có nghĩa là một chân, ngôi đền này gắn liền với sự tích một anh chàng khổ lồ đã xé thân mình làm hai, một nửa đánh giặc trong đất liền để cứu dân làng, còn một nửa thì đánh giặc quỷ đang tàn phá ngoài biển khơi. Năm 1962, ngôi đền này đã được Bộ Văn Hóa -Thông Tin chứng nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Lễ hội Đền Độc Cước thị xã Sầm Sơn Từ sáng sớm của ngày chính hội, tức ngày 16/2 âm lịch, người dân của 7 làng thuộc 5 xã, phường là Trng Sơn, Trường Sơn, Bắc Sơn, Quảng Cư và Quảng Tiến, đã tổ chức lễ rước kiệu, diễu hành qua các tuyến đường phố , sau đó dừng chân ở sân đền Độc Cước thị xã Sầm Sơn. Đúng 8 giờ, lễ hội chính thức khai mạc. Đến tham dự. Tham dự lễ hội cầu phúc Đền Độc Cước ở Sầm Sơn, khách xem hội sẽ được chiêm ngưỡng các hoạt động lễ hội văn hóa truyền thống, các trò chơi dân gia như kéo co, rước kiệu, đi cà kheo, rước bánh giầy, đẩy gậy, đi xe đạp đôi nam nữ vòng số 8... Các cụ ông trong thôn đang thực hiện nghi lễ dâng hương Ngoài các nghi lễ truyền thống, lễ hội đền Độc Cước năm 2017 còn có sự hiện diện của một chiếc bánh dầy có đường kính kỷ lục là 2m17, được làm rất kỳ công. Trong hai ngày 14 và 15 tháng Hai còn diễn ra hoạt động thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ của người Việt Nam, với nhiều trò chơi dân gian, và các trò thể thao.

Màn đánh trống khai mạc Lễ hội Đền Độc Cước thị xã Sầm Sơn Đền Độc Cước tọa lạc trên đỉnh hòn Cổ Giải thuộc dãy núi Trường Lệ. Độc Cước có nghĩa là một chân, ngôi đền này gắn liền với sự tích một anh chàng khổ lồ đã xé thân mình làm hai, một nửa đánh giặc trong đất liền để cứu dân làng, còn một nửa thì đánh giặc quỷ đang tàn phá ngoài biển khơi. Năm 1962, ngôi đền này đã được Bộ Văn Hóa -Thông Tin chứng nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Lễ hội Đền Độc Cước thị xã Sầm Sơn Từ sáng sớm của ngày chính hội, tức ngày 16/2 âm lịch, người dân của 7 làng thuộc 5 xã, phường là Trng Sơn, Trường Sơn, Bắc Sơn, Quảng Cư và Quảng Tiến, đã tổ chức lễ rước kiệu, diễu hành qua các tuyến đường phố , sau đó dừng chân ở sân đền Độc Cước thị xã Sầm Sơn. Đúng 8 giờ, lễ hội chính thức khai mạc. Đến tham dự. Tham dự lễ hội cầu phúc Đền Độc Cước ở Sầm Sơn, khách xem hội sẽ được chiêm ngưỡng các hoạt động lễ hội văn hóa truyền thống, các trò chơi dân gia như kéo co, rước kiệu, đi cà kheo, rước bánh giầy, đẩy gậy, đi xe đạp đôi nam nữ vòng số 8...

Đền Độc Cước tọa lạc trên đỉnh hòn Cổ Giải thuộc dãy núi Trường Lệ. Độc Cước có nghĩa là một chân, ngôi đền này gắn liền với sự tích một anh chàng khổ lồ đã xé thân mình làm hai, một nửa đánh giặc trong đất liền để cứu dân làng, còn một nửa thì đánh giặc quỷ đang tàn phá ngoài biển khơi. Năm 1962, ngôi đền này đã được Bộ Văn Hóa -Thông Tin chứng nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Lễ hội Đền Độc Cước thị xã Sầm Sơn Từ sáng sớm của ngày chính hội, tức ngày 16/2 âm lịch, người dân của 7 làng thuộc 5 xã, phường là Trng Sơn, Trường Sơn, Bắc Sơn, Quảng Cư và Quảng Tiến, đã tổ chức lễ rước kiệu, diễu hành qua các tuyến đường phố , sau đó dừng chân ở sân đền Độc Cước thị xã Sầm Sơn. Đúng 8 giờ, lễ hội chính thức khai mạc. Đến tham dự. Tham dự lễ hội cầu phúc Đền Độc Cước ở Sầm Sơn, khách xem hội sẽ được chiêm ngưỡng các hoạt động lễ hội văn hóa truyền thống, các trò chơi dân gia như kéo co, rước kiệu, đi cà kheo, rước bánh giầy, đẩy gậy, đi xe đạp đôi nam nữ vòng số 8...

Lễ hội Đền Độc Cước thị xã Sầm Sơn

Từ sáng sớm của ngày chính hội, tức ngày 16/2 âm lịch, người dân của 7 làng thuộc 5 xã, phường là Trng Sơn, Trường Sơn, Bắc Sơn, Quảng Cư và Quảng Tiến, đã tổ chức lễ rước kiệu, diễu hành qua các tuyến đường phố , sau đó dừng chân ở sân đền Độc Cước thị xã Sầm Sơn. Đúng 8 giờ, lễ hội chính thức khai mạc. Đến tham dự. Tham dự lễ hội cầu phúc Đền Độc Cước ở Sầm Sơn, khách xem hội sẽ được chiêm ngưỡng các hoạt động lễ hội văn hóa truyền thống, các trò chơi dân gia như kéo co, rước kiệu, đi cà kheo, rước bánh giầy, đẩy gậy, đi xe đạp đôi nam nữ vòng số 8...

Các cụ ông trong thôn đang thực hiện nghi lễ dâng hương

Ngoài các nghi lễ truyền thống, lễ hội đền Độc Cước năm 2017 còn có sự hiện diện của một chiếc bánh dầy có đường kính kỷ lục là 2m17, được làm rất kỳ công. Trong hai ngày 14 và 15 tháng Hai còn diễn ra hoạt động thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ của người Việt Nam, với nhiều trò chơi dân gian, và các trò thể thao.

Related Figures

Hội Bất Nạo

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/8- 18/8 Âm lịch Hội Bất Nạo diễn ra từ ngày 15-18/8 âm lịch hàng năm tại thôn Phú Nhiêu, xã Quang Trung, huyện Phú Xuyên, Hà Nội. Bất Nạo là một trong những ngôi làng cổ thuộc vùng đồng chiêm trũng xưa kia. Có thời điểm, làng còn được gọi với tên làng Leo. Tuy nhiên, chưa có tài liệu cụ thể nào cho tên gọi này, đến nay vẫn là bí ẩn với các nhà nghiên cứu. Hàng năm vào trung tuần tháng 8, làng mở hội từ ngày 15 đến 18. Một trong những đặc sắc của hội truyền thống ở đây là hò Cửa Đình và múa hát Bài Bông được tổ chức ngay trước cửa đình làng. Hội Bất Nạo là truyền thống đặc sắc tại Phú Xuyên Trong tiết mục hò Cửa Đình, người hát chia làm hai tốp: một tốp hò ở đình ngoài và một tốp hò ở đình trong. Tốp hò ở đình ngoài sẽ đứng phía ngoài đình gồm những bạch đinh của làng, tốp hò ở đình trong sẽ đứng trong cửa đình gồm những người có nhiêu – có xã. Mỗi khi hò thì người hò bước lên một bước, xong lại bước xuống, nhịp nhàng theo nhịp sênh. Hò cửa Đình và múa hát Bài Bông tại hội Bất Nạo Nội dung bài hò Cửa Đình bao gồm 517 câu, được chia làm 3 phần như sau: Bài Giáo, bài Hò và bài Khống. Mỗi canh hò bắt đầu từ bài Giáo đến bài Khống, sau đó đến bài Hò đình ngoài và cuối cùng là bài Hò đình trong. Hò cửa đình gồm có phần xướng, phần xô và phần lĩnh xướng do tốp đình trong hò, trống có tiếng đệm; phần xô do tốp đình ngoài hò và có tiếng đệm. Mỗi bài hò đều có âm điệu và hình thức biểu đạt khác nhau, nội dung khác nhau được thể hiện theo các thể thơ khác nhau. Thường là vè ba chữ, vè bốn chữ theo thể lục bát hoặc lục bát biến thể, có phần diễn xướng, có âm điệu hát hò kèm sênh, phách. Người dân tham gia Hò cửa Đình tại Bất Nạo Những chàng trai hò phải ăn mặc chỉnh tề khăn xếp, áo the thâm, quần trúc bâu trắng, đứng thành 3 nhóm để hò. Những người đó phải thực hiện một hình thức lễ nghi do lệ làng quy định. Bắt đầu là Bài Giáo, theo thể vè bốn chữ một câu, nội dung chủ yếu là chúc tụng Vua chúa, thần thành hoàng làng, chúc tụng nhân dân trong lang, tiếp đến là nêu lý do mở đám. Sau hò Cửa Đình, múa hát Bài Bông cũng diễn ra sôi nổi trong suốt những ngày lễ hội theo 3 đội hình: múa hát khi đi rước trải, múa hát phục vụ các trầu tế lễ, múa hát thờ thánh. Thể thơ của Bài Bông cũng rất đa dạng và phong phú với gần 200 câu thơ theo thể loại 4 chữ, 5 chữ, 7 chữ, tứ tuyệt lục bát mang âm sắc giọng ca Huế, lại vừa có chất giọng mượt mà, dìu dặt của chèo, ca trù. Đội hình múa hát Bài Bông gốm 8 người được tuyển chọn từ những thiếu nữ đẹp nhất làng. Đạo cụ múa gồm khăn lụa màu, quạt lụa hoa, đèn hoa đội để múa ban đêm.

Hàng năm vào trung tuần tháng 8, làng mở hội từ ngày 15 đến 18. Một trong những đặc sắc của hội truyền thống ở đây là hò Cửa Đình và múa hát Bài Bông được tổ chức ngay trước cửa đình làng. Hội Bất Nạo là truyền thống đặc sắc tại Phú Xuyên Trong tiết mục hò Cửa Đình, người hát chia làm hai tốp: một tốp hò ở đình ngoài và một tốp hò ở đình trong. Tốp hò ở đình ngoài sẽ đứng phía ngoài đình gồm những bạch đinh của làng, tốp hò ở đình trong sẽ đứng trong cửa đình gồm những người có nhiêu – có xã. Mỗi khi hò thì người hò bước lên một bước, xong lại bước xuống, nhịp nhàng theo nhịp sênh. Hò cửa Đình và múa hát Bài Bông tại hội Bất Nạo Nội dung bài hò Cửa Đình bao gồm 517 câu, được chia làm 3 phần như sau: Bài Giáo, bài Hò và bài Khống. Mỗi canh hò bắt đầu từ bài Giáo đến bài Khống, sau đó đến bài Hò đình ngoài và cuối cùng là bài Hò đình trong. Hò cửa đình gồm có phần xướng, phần xô và phần lĩnh xướng do tốp đình trong hò, trống có tiếng đệm; phần xô do tốp đình ngoài hò và có tiếng đệm. Mỗi bài hò đều có âm điệu và hình thức biểu đạt khác nhau, nội dung khác nhau được thể hiện theo các thể thơ khác nhau. Thường là vè ba chữ, vè bốn chữ theo thể lục bát hoặc lục bát biến thể, có phần diễn xướng, có âm điệu hát hò kèm sênh, phách. Người dân tham gia Hò cửa Đình tại Bất Nạo Những chàng trai hò phải ăn mặc chỉnh tề khăn xếp, áo the thâm, quần trúc bâu trắng, đứng thành 3 nhóm để hò. Những người đó phải thực hiện một hình thức lễ nghi do lệ làng quy định. Bắt đầu là Bài Giáo, theo thể vè bốn chữ một câu, nội dung chủ yếu là chúc tụng Vua chúa, thần thành hoàng làng, chúc tụng nhân dân trong lang, tiếp đến là nêu lý do mở đám. Sau hò Cửa Đình, múa hát Bài Bông cũng diễn ra sôi nổi trong suốt những ngày lễ hội theo 3 đội hình: múa hát khi đi rước trải, múa hát phục vụ các trầu tế lễ, múa hát thờ thánh. Thể thơ của Bài Bông cũng rất đa dạng và phong phú với gần 200 câu thơ theo thể loại 4 chữ, 5 chữ, 7 chữ, tứ tuyệt lục bát mang âm sắc giọng ca Huế, lại vừa có chất giọng mượt mà, dìu dặt của chèo, ca trù. Đội hình múa hát Bài Bông gốm 8 người được tuyển chọn từ những thiếu nữ đẹp nhất làng. Đạo cụ múa gồm khăn lụa màu, quạt lụa hoa, đèn hoa đội để múa ban đêm.

Hàng năm vào trung tuần tháng 8, làng mở hội từ ngày 15 đến 18. Một trong những đặc sắc của hội truyền thống ở đây là hò Cửa Đình và múa hát Bài Bông được tổ chức ngay trước cửa đình làng. Hội Bất Nạo là truyền thống đặc sắc tại Phú Xuyên Trong tiết mục hò Cửa Đình, người hát chia làm hai tốp: một tốp hò ở đình ngoài và một tốp hò ở đình trong. Tốp hò ở đình ngoài sẽ đứng phía ngoài đình gồm những bạch đinh của làng, tốp hò ở đình trong sẽ đứng trong cửa đình gồm những người có nhiêu – có xã. Mỗi khi hò thì người hò bước lên một bước, xong lại bước xuống, nhịp nhàng theo nhịp sênh. Hò cửa Đình và múa hát Bài Bông tại hội Bất Nạo Nội dung bài hò Cửa Đình bao gồm 517 câu, được chia làm 3 phần như sau: Bài Giáo, bài Hò và bài Khống. Mỗi canh hò bắt đầu từ bài Giáo đến bài Khống, sau đó đến bài Hò đình ngoài và cuối cùng là bài Hò đình trong. Hò cửa đình gồm có phần xướng, phần xô và phần lĩnh xướng do tốp đình trong hò, trống có tiếng đệm; phần xô do tốp đình ngoài hò và có tiếng đệm. Mỗi bài hò đều có âm điệu và hình thức biểu đạt khác nhau, nội dung khác nhau được thể hiện theo các thể thơ khác nhau. Thường là vè ba chữ, vè bốn chữ theo thể lục bát hoặc lục bát biến thể, có phần diễn xướng, có âm điệu hát hò kèm sênh, phách.

Người dân tham gia Hò cửa Đình tại Bất Nạo

Những chàng trai hò phải ăn mặc chỉnh tề khăn xếp, áo the thâm, quần trúc bâu trắng, đứng thành 3 nhóm để hò. Những người đó phải thực hiện một hình thức lễ nghi do lệ làng quy định. Bắt đầu là Bài Giáo, theo thể vè bốn chữ một câu, nội dung chủ yếu là chúc tụng Vua chúa, thần thành hoàng làng, chúc tụng nhân dân trong lang, tiếp đến là nêu lý do mở đám.

Sau hò Cửa Đình, múa hát Bài Bông cũng diễn ra sôi nổi trong suốt những ngày lễ hội theo 3 đội hình: múa hát khi đi rước trải, múa hát phục vụ các trầu tế lễ, múa hát thờ thánh. Thể thơ của Bài Bông cũng rất đa dạng và phong phú với gần 200 câu thơ theo thể loại 4 chữ, 5 chữ, 7 chữ, tứ tuyệt lục bát mang âm sắc giọng ca Huế, lại vừa có chất giọng mượt mà, dìu dặt của chèo, ca trù. Đội hình múa hát Bài Bông gốm 8 người được tuyển chọn từ những thiếu nữ đẹp nhất làng. Đạo cụ múa gồm khăn lụa màu, quạt lụa hoa, đèn hoa đội để múa ban đêm.

Related Figures

Lễ hội Lê Hoàn

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 7/3- 9/3 Âm lịch Lễ hội Lê Hoàn là một lễ hội thường niên được tổ chức vào các ngày mồng 7,8,9 tháng Ba âm lịch, tại thôn Trung Lập, xã Xuân Lập, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Lễ hội này được tổ chức với qui mô cấp tỉnh, hoành tráng với ý nghĩa tưởng nhớ tới vị vua Lê Đại Hành- người đã lãnh đạo nhân dân đánh tan quân xâm lược nhà Tống vào năm 981. Lễ hội Lê Hoàn tại Thanh Hóa Với truyền thống "Uống nước nhớ nguồn", phần lễ của hội được bắt đầu bằng nghi lễ dâng hương rước kiệu để tưởng nhớ tới công đức to lớn của Lê Hoàn và các tướng lĩnh. Sau khi tổ chức lễ mí tinh kỷ niệm xong cũng là lúc bắt đầu nghệ thuật sân khâu hóa để mô tại nhân cách đức độ, tài năng, sự anh hùng và những công lao to lớn của vua Lê Đại Hành trong việc đánh tan quân Tống, giữ yên bờ cõi. Lễ hội Lê Hoàn nhằm tưởng nhớ công ơn của vua Lê Hoàn Trong lễ hội, các làng văn hóa tiêu biểu của huyện Thọ Xuân sẽ tái hiện lại các “Trại binh thời Lê Hoàn”. Ngoài ra, còn biểu diễn diễn tích cày ruộng nhằm ghi nhớ công ơn của vua Lê Đại Hành. Phần hội còn có nhiều trò chơi, các trò chơi và biểu diễn nghệ thuật dân gian; các hoạt động thể dục - thể thao khác như bóng chuyền, thi đấu vật dân tộc, cờ tướng, kéo co... Đặc biệt, còn có nhiều tục tệ rất độc đáo đã gắn liền với cuộc sống sinh hoạt của người dân dưới triều Lê Hoàn hiện vẫn còn lưu giữ được đến ngày hôm nay như: làm bánh răng bừa, xôi nén, tái hiện lại chạp mộ. Đền thờ Lê Hoàn trải qua biết bao biến cố thăng trầm của lịch sử, đã được tôn tạo, tu bổ lại trông khang trang hơn, nhưng vẫn giữ nguyên được dáng vẻ cổ kính.

Ba âm lịch, tại thôn Trung Lập, xã Xuân Lập, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Lễ hội này được tổ chức với qui mô cấp tỉnh, hoành tráng với ý nghĩa tưởng nhớ tới vị vua Lê Đại Hành- người đã lãnh đạo nhân dân đánh tan quân xâm lược nhà Tống vào năm 981.

Lễ hội Lê Hoàn tại Thanh Hóa

Với truyền thống "Uống nước nhớ nguồn", phần lễ của hội được bắt đầu bằng nghi lễ dâng hương rước kiệu để tưởng nhớ tới công đức to lớn của Lê Hoàn và các tướng lĩnh. Sau khi tổ chức lễ mí tinh kỷ niệm xong cũng là lúc bắt đầu nghệ thuật sân khâu hóa để mô tại nhân cách đức độ, tài năng, sự anh hùng và những công lao to lớn của vua Lê Đại Hành trong việc đánh tan quân Tống, giữ yên bờ cõi.

Lễ hội Lê Hoàn nhằm tưởng nhớ công ơn của vua Lê Hoàn

Trong lễ hội, các làng văn hóa tiêu biểu của huyện Thọ Xuân sẽ tái hiện lại các “Trại binh thời Lê Hoàn”. Ngoài ra, còn biểu diễn diễn tích cày ruộng nhằm ghi nhớ công ơn của vua Lê Đại Hành. Phần hội còn có nhiều trò chơi, các trò chơi và biểu diễn nghệ thuật dân gian; các hoạt động thể dục - thể thao khác như bóng chuyền, thi đấu vật dân tộc, cờ tướng, kéo co...

Đặc biệt, còn có nhiều tục tệ rất độc đáo đã gắn liền với cuộc sống sinh hoạt của người dân dưới triều Lê Hoàn hiện vẫn còn lưu giữ được đến ngày hôm nay như: làm bánh răng bừa, xôi nén, tái hiện lại chạp mộ. Đền thờ Lê Hoàn trải qua biết bao biến cố thăng trầm của lịch sử, đã được tôn tạo, tu bổ lại trông khang trang hơn, nhưng vẫn giữ nguyên được dáng vẻ cổ kính.

Related Figures

Hội Bạch Trữ (Kẻ Bạch)

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 9/8- 15/8 Âm lịch Hội Bạch Trữ (Kẻ Bạch) diễn ra từ ngày 9-15/8 âm lịch hàng năm tại xã Tiến Thắng, huyện Mê Linh, Hà Nội. Làng thờ hai vị thần là Mị Nương Công chúa (con gái của Vua Hùng Vương thứ 18, phu nhân của Đức Tản Viên Sơn Thánh - người có công chiêu dân và lập ra làng Bạch Trữ) và Hoàng Cống (tức Cống Sơn) tướng quân của Hai Bà Trưng. Các giáp trong làng lễ tế trong hội Bạch Trữ Hàng năm, làng Bạch Trữ tổ chức nhiều lễ hội thờ thành hoàng như Hội lễ khánh hạ Đức Bà Mỵ Nương (1-10/2 âm lịch), Hội Tung Bông (9-15/8 âm lịch) nhân ngay sinh của Đức Bà Mỵ Nương (đây là lễ hội long trọng nhất ở Bạch Trữ). Từ sáng ngày 10/8, các giáp trong làng mang lễ vật ra đình tế lễ và rước Đức Bà về đình. Đây là cuộc rước long trọng nhất. Dẫn đầu là phường bát âm, tiếp đến là kiệu Đức Bà do 8 chàng trai của 8 giáp khiêng. Theo sau là chủ tế và các bô lão trong làng, dân làng tham dự cuộc rước. Sáng ngày 15/8 rước Đức Bà về đền. Đình làng nơi tổ chức hội Bạch Trữ Cuộc tung bông được tổ chức trang trọng và sôi nổi giữa sân đình. Người làng đặt một bục cao ở giữa sân đình, chủ tế đứng cạnh chuẩn bị tung bông. Bông được dân làng làm bằng một đốt tre non, tước một đầu thành những mảng xơ trắng, buộc lại thành búi. Người dân tham gia hội Bạch Trữ Sau một hồi trống, chủ tế tung bông lên cao, mọi người dõi theo đường rơi của bông mà xô đẩy chen lấn nhau để cướp cho bằng được dù chỉ là một mẩu của bông. Người cướp được bông nguyên vẹn hay một mẩu nhỏ cũng đem về nhà, đặt lên bàn thờ đốt ba nén hương và coi như sẽ gặp may mắn.

Các giáp trong làng lễ tế trong hội Bạch Trữ Hàng năm, làng Bạch Trữ tổ chức nhiều lễ hội thờ thành hoàng như Hội lễ khánh hạ Đức Bà Mỵ Nương (1-10/2 âm lịch), Hội Tung Bông (9-15/8 âm lịch) nhân ngay sinh của Đức Bà Mỵ Nương (đây là lễ hội long trọng nhất ở Bạch Trữ). Từ sáng ngày 10/8, các giáp trong làng mang lễ vật ra đình tế lễ và rước Đức Bà về đình. Đây là cuộc rước long trọng nhất. Dẫn đầu là phường bát âm, tiếp đến là kiệu Đức Bà do 8 chàng trai của 8 giáp khiêng. Theo sau là chủ tế và các bô lão trong làng, dân làng tham dự cuộc rước. Sáng ngày 15/8 rước Đức Bà về đền. Đình làng nơi tổ chức hội Bạch Trữ Cuộc tung bông được tổ chức trang trọng và sôi nổi giữa sân đình. Người làng đặt một bục cao ở giữa sân đình, chủ tế đứng cạnh chuẩn bị tung bông. Bông được dân làng làm bằng một đốt tre non, tước một đầu thành những mảng xơ trắng, buộc lại thành búi. Người dân tham gia hội Bạch Trữ Sau một hồi trống, chủ tế tung bông lên cao, mọi người dõi theo đường rơi của bông mà xô đẩy chen lấn nhau để cướp cho bằng được dù chỉ là một mẩu của bông. Người cướp được bông nguyên vẹn hay một mẩu nhỏ cũng đem về nhà, đặt lên bàn thờ đốt ba nén hương và coi như sẽ gặp may mắn.

Các giáp trong làng lễ tế trong hội Bạch Trữ

Hàng năm, làng Bạch Trữ tổ chức nhiều lễ hội thờ thành hoàng như Hội lễ khánh hạ Đức Bà Mỵ Nương (1-10/2 âm lịch), Hội Tung Bông (9-15/8 âm lịch) nhân ngay sinh của Đức Bà Mỵ Nương (đây là lễ hội long trọng nhất ở Bạch Trữ). Từ sáng ngày 10/8, các giáp trong làng mang lễ vật ra đình tế lễ và rước Đức Bà về đình. Đây là cuộc rước long trọng nhất. Dẫn đầu là phường bát âm, tiếp đến là kiệu Đức Bà do 8 chàng trai của 8 giáp khiêng. Theo sau là chủ tế và các bô lão trong làng, dân làng tham dự cuộc rước. Sáng ngày 15/8 rước Đức Bà về đền.

Đình làng nơi tổ chức hội Bạch Trữ

Cuộc tung bông được tổ chức trang trọng và sôi nổi giữa sân đình. Người làng đặt một bục cao ở giữa sân đình, chủ tế đứng cạnh chuẩn bị tung bông. Bông được dân làng làm bằng một đốt tre non, tước một đầu thành những mảng xơ trắng, buộc lại thành búi.

Người dân tham gia hội Bạch Trữ

Sau một hồi trống, chủ tế tung bông lên cao, mọi người dõi theo đường rơi của bông mà xô đẩy chen lấn nhau để cướp cho bằng được dù chỉ là một mẩu của bông. Người cướp được bông nguyên vẹn hay một mẩu nhỏ cũng đem về nhà, đặt lên bàn thờ đốt ba nén hương và coi như sẽ gặp may mắn.

Related Figures

Hội đền Tép

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 21/8 Âm lịch Hội đền Tép ở Thanh Hóa là một trong các lễ hội nằm trong chuỗi lễ hội Lam Kinh, được tổ chức vào ngày 21/08 âm lịch hàng năm, với ý nghĩa tôn vinh và tưởng nhớ tới vị Khai quốc công thần Trung Túc Vương Lê Lai, nhân vật lịch sử gắn liền với triều Lê Sơ và tích sử 'Lê Lai liều mình cứu chúa". Hội đền Tép tại Thanh Hóa Đền Tép còn được gọi với tên khác là Đền thờ Trung Túc Vương Lê Lai, thuộc địa phận làng Tép, xã Kiên Thị, huyện Ngọc lặc, tỉnh Thanh Hóa. Trong sách Đại Việt thông sử có ghi chép, vào ngày 10/02/1416, Lê lai cùng vua Lê Lợi và 17 người đã tổ chức hội thề Lũng Nhai quyết một lòng đánh giặc cứu nước. Ngày 18/08/1419, nghĩa quân bị giặc Minh vây hãm tại núi Chí Linh lần thứ hai, vì không còn đường rút lui nên Lê Lợi đã gọi các tướng đến bàn cách thoát hiểm. Lê Lai vì muốn liều mình cứu Lê Lợi nên đã xin đổi áo cứu Lê Lợi. Ông khoác hoàng bào rồi cười voi, dẫn theo 500 quân tiến đánh trại quân Minh. Cuộc chiến không cân sức, Lê Lai bị quân Minh giải về Tây Đô hành hình. Cảm động trước tấm lòng trung nghĩa của Lê Lai, Lê Lợi đã sai quân tìm thi hài của ông về và an táng ở Lam Sơn. Hội đền Tép là dịp tôn vinh và tưởng nhớ tới vị công thần thời Lê là Lê Lai Sau khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn giành thắng lợi, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế vào năm 1428. Lê Lợi đã phong Lê Lai làm công thần hạng nhất. Trước lúc vua Lê Lợi băng hà con ra lệnh cho quân thần hàng năm phải gỗ Công thần Lê Lai trước ngày giỗ của mình 1 ngày. Chính vì thế, mới có câu "21 Lê Lai, 22 Lê Lợi". Tiết mục biểu diễn cảnh Lê Lai xin đổi áo cứu Lê Lợi Hàng năm, người dân nơi đây lại mở hội để dâng hương lên công thần hạng nhất Lê Lai. Lễ hội diễn ra vào hai ngày, là ngày 8/1 đúng là ngày mất của Lê Lai, và ngày 21/08 âm lịch hàng năm. Lễ hội có nhiều hoạt động tế lễ được diễn ra rất cung kính và trang nghiêm, được thực hiện theo nghi lễ tế thần của thời Lê. Các hoạt động chính như: tế lễ, hát chầu văn, kéo chữ, rước kiệu từ đền làng Tép về làng Cham, chọi gà, múa kiếm, bắn cung, biểu diễn cồng chiêng...

Hội đền Tép tại Thanh Hóa Đền Tép còn được gọi với tên khác là Đền thờ Trung Túc Vương Lê Lai, thuộc địa phận làng Tép, xã Kiên Thị, huyện Ngọc lặc, tỉnh Thanh Hóa. Trong sách Đại Việt thông sử có ghi chép, vào ngày 10/02/1416, Lê lai cùng vua Lê Lợi và 17 người đã tổ chức hội thề Lũng Nhai quyết một lòng đánh giặc cứu nước. Ngày 18/08/1419, nghĩa quân bị giặc Minh vây hãm tại núi Chí Linh lần thứ hai, vì không còn đường rút lui nên Lê Lợi đã gọi các tướng đến bàn cách thoát hiểm. Lê Lai vì muốn liều mình cứu Lê Lợi nên đã xin đổi áo cứu Lê Lợi. Ông khoác hoàng bào rồi cười voi, dẫn theo 500 quân tiến đánh trại quân Minh. Cuộc chiến không cân sức, Lê Lai bị quân Minh giải về Tây Đô hành hình. Cảm động trước tấm lòng trung nghĩa của Lê Lai, Lê Lợi đã sai quân tìm thi hài của ông về và an táng ở Lam Sơn. Hội đền Tép là dịp tôn vinh và tưởng nhớ tới vị công thần thời Lê là Lê Lai Sau khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn giành thắng lợi, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế vào năm 1428. Lê Lợi đã phong Lê Lai làm công thần hạng nhất. Trước lúc vua Lê Lợi băng hà con ra lệnh cho quân thần hàng năm phải gỗ Công thần Lê Lai trước ngày giỗ của mình 1 ngày. Chính vì thế, mới có câu "21 Lê Lai, 22 Lê Lợi". Tiết mục biểu diễn cảnh Lê Lai xin đổi áo cứu Lê Lợi Hàng năm, người dân nơi đây lại mở hội để dâng hương lên công thần hạng nhất Lê Lai. Lễ hội diễn ra vào hai ngày, là ngày 8/1 đúng là ngày mất của Lê Lai, và ngày 21/08 âm lịch hàng năm. Lễ hội có nhiều hoạt động tế lễ được diễn ra rất cung kính và trang nghiêm, được thực hiện theo nghi lễ tế thần của thời Lê. Các hoạt động chính như: tế lễ, hát chầu văn, kéo chữ, rước kiệu từ đền làng Tép về làng Cham, chọi gà, múa kiếm, bắn cung, biểu diễn cồng chiêng...

Đền Tép còn được gọi với tên khác là Đền thờ Trung Túc Vương Lê Lai, thuộc địa phận làng Tép, xã Kiên Thị, huyện Ngọc lặc, tỉnh Thanh Hóa. Trong sách Đại Việt thông sử có ghi chép, vào ngày 10/02/1416, Lê lai cùng vua Lê Lợi và 17 người đã tổ chức hội thề Lũng Nhai quyết một lòng đánh giặc cứu nước. Ngày 18/08/1419, nghĩa quân bị giặc Minh vây hãm tại núi Chí Linh lần thứ hai, vì không còn đường rút lui nên Lê Lợi đã gọi các tướng đến bàn cách thoát hiểm. Lê Lai vì muốn liều mình cứu Lê Lợi nên đã xin đổi áo cứu Lê Lợi. Ông khoác hoàng bào rồi cười voi, dẫn theo 500 quân tiến đánh trại quân Minh. Cuộc chiến không cân sức, Lê Lai bị quân Minh giải về Tây Đô hành hình. Cảm động trước tấm lòng trung nghĩa của Lê Lai, Lê Lợi đã sai quân tìm thi hài của ông về và an táng ở Lam Sơn.

Hội đền Tép là dịp tôn vinh và tưởng nhớ tới vị công thần thời Lê là Lê Lai

Sau khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn giành thắng lợi, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế vào năm 1428. Lê Lợi đã phong Lê Lai làm công thần hạng nhất. Trước lúc vua Lê Lợi băng hà con ra lệnh cho quân thần hàng năm phải gỗ Công thần Lê Lai trước ngày giỗ của mình 1 ngày. Chính vì thế, mới có câu "21 Lê Lai, 22 Lê Lợi".

Tiết mục biểu diễn cảnh Lê Lai xin đổi áo cứu Lê Lợi

Hàng năm, người dân nơi đây lại mở hội để dâng hương lên công thần hạng nhất Lê Lai. Lễ hội diễn ra vào hai ngày, là ngày 8/1 đúng là ngày mất của Lê Lai, và ngày 21/08 âm lịch hàng năm. Lễ hội có nhiều hoạt động tế lễ được diễn ra rất cung kính và trang nghiêm, được thực hiện theo nghi lễ tế thần của thời Lê. Các hoạt động chính như: tế lễ, hát chầu văn, kéo chữ, rước kiệu từ đền làng Tép về làng Cham, chọi gà, múa kiếm, bắn cung, biểu diễn cồng chiêng...

Related Figures

Lễ hội Bia B’estival

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/8- 3/9 Dương lịch Lễ hội Bia B’estival là một lễ hội bia lớn nhất Việt Nam được tổ chức tại Sun World Ba Na Hills ở Đà Nẵng. Lễ hội Bia B’estival tại Đà Nẵng Năm 2017, lễ hội Bia B’estival sẽ có có thêm nhiều trải nghiệm độc đáo, khác biệt cho du khách khi đến Sun World Ba Na Hills. Lễ hội Bia B’estival năm 2017 cũng được xem là kỳ lễ hội có quy mô hoành tráng nhất từ trước đến nay. Vào những ngày diễn ra lễ hội, Quảng trường Du Dôme ở làng Pháp được trang trí với nhiều màu sắc rực rỡ và tươi vui. Những bối cảnh, tiểu cảnh được phối hết sức mới lạ đã thu hút sự quan tâm của đông đảo du khách. Đến với Lễ hội Bia B’estival tại Đà Nẵng du khách sẽ được thưởng thức hai loại bia thượng hạng được làm theo công nghệ Đức Tại sự kiện này, du khách sẽ được thưởng thức dòng bia tươi sản xuất tại Việt Nam theo công nghệ Đức, do chính tay các chàng trai và cô gái châu Âu phục vụ. Ngoài ra, du khách còn được thưởng thức các món ăn được thiết kế riêng cho lễ hội như xúc xích Đức, các món nướng, bánh mì muối... Du khách còn được trải nghiệm thú vị khi được thưởng thức các văn hóa ẩm thực của các nước phương Tây. Các chàng trai và cô gái Châu Âu đang biểu diễn những điệu múa của quê hương mình Trong không khí hứng khởi của lễ hội, mỗi du khách có thể hòa mình và trải nghiệm nhiều điều thú vị tại Quàng trường Du Dôme - làng Pháp. Du khách được thưởng thức âm nhạc, các màn biểu diễn của những ban nhạc có những anh chàng điển trai, được hòa vào các điệu nhảy của các vũ công người Châu Âu. Buổi chiều, tại Quảng trường Du Dôme còn diễn ra lễ trình diễn carnival đường phố, khiến không khí lễ hội thêm phần nhộn nhịp và tưng bừng hơn. Du khách thưởng thức các mon ăn mang phong cách Châu Âu tại Lễ hội Bia B’estival Với những điều thú vị trong văn hóa ẩm thực cũng nhưng văn hóa tinh thần của người Châu Âu đã tạo nên một lễ hội Bia B’estival đặc sắc. Sun World Ba Na Hills đã tạo nên sự hấp dẫn đặc biệt, và góp phần đưa Đà Nẵng trở thành một thành phố lễ hội và sự kiện hàng đầu Châu Á trong năm 2016, do World Travel Awards trao danh hiệu.

Lễ hội Bia B’estival tại Đà Nẵng Năm 2017, lễ hội Bia B’estival sẽ có có thêm nhiều trải nghiệm độc đáo, khác biệt cho du khách khi đến Sun World Ba Na Hills. Lễ hội Bia B’estival năm 2017 cũng được xem là kỳ lễ hội có quy mô hoành tráng nhất từ trước đến nay. Vào những ngày diễn ra lễ hội, Quảng trường Du Dôme ở làng Pháp được trang trí với nhiều màu sắc rực rỡ và tươi vui. Những bối cảnh, tiểu cảnh được phối hết sức mới lạ đã thu hút sự quan tâm của đông đảo du khách. Đến với Lễ hội Bia B’estival tại Đà Nẵng du khách sẽ được thưởng thức hai loại bia thượng hạng được làm theo công nghệ Đức Tại sự kiện này, du khách sẽ được thưởng thức dòng bia tươi sản xuất tại Việt Nam theo công nghệ Đức, do chính tay các chàng trai và cô gái châu Âu phục vụ. Ngoài ra, du khách còn được thưởng thức các món ăn được thiết kế riêng cho lễ hội như xúc xích Đức, các món nướng, bánh mì muối... Du khách còn được trải nghiệm thú vị khi được thưởng thức các văn hóa ẩm thực của các nước phương Tây. Các chàng trai và cô gái Châu Âu đang biểu diễn những điệu múa của quê hương mình Trong không khí hứng khởi của lễ hội, mỗi du khách có thể hòa mình và trải nghiệm nhiều điều thú vị tại Quàng trường Du Dôme - làng Pháp. Du khách được thưởng thức âm nhạc, các màn biểu diễn của những ban nhạc có những anh chàng điển trai, được hòa vào các điệu nhảy của các vũ công người Châu Âu. Buổi chiều, tại Quảng trường Du Dôme còn diễn ra lễ trình diễn carnival đường phố, khiến không khí lễ hội thêm phần nhộn nhịp và tưng bừng hơn. Du khách thưởng thức các mon ăn mang phong cách Châu Âu tại Lễ hội Bia B’estival Với những điều thú vị trong văn hóa ẩm thực cũng nhưng văn hóa tinh thần của người Châu Âu đã tạo nên một lễ hội Bia B’estival đặc sắc. Sun World Ba Na Hills đã tạo nên sự hấp dẫn đặc biệt, và góp phần đưa Đà Nẵng trở thành một thành phố lễ hội và sự kiện hàng đầu Châu Á trong năm 2016, do World Travel Awards trao danh hiệu.

Năm 2017, lễ hội Bia B’estival sẽ có có thêm nhiều trải nghiệm độc đáo, khác biệt cho du khách khi đến Sun World Ba Na Hills. Lễ hội Bia B’estival năm 2017 cũng được xem là kỳ lễ hội có quy mô hoành tráng nhất từ trước đến nay. Vào những ngày diễn ra lễ hội, Quảng trường Du Dôme ở làng Pháp được trang trí với nhiều màu sắc rực rỡ và tươi vui. Những bối cảnh, tiểu cảnh được phối hết sức mới lạ đã thu hút sự quan tâm của đông đảo du khách.

Đến với Lễ hội Bia B’estival tại Đà Nẵng du khách sẽ được thưởng thức hai loại bia thượng hạng được làm theo công nghệ Đức

Tại sự kiện này, du khách sẽ được thưởng thức dòng bia tươi sản xuất tại Việt Nam theo công nghệ Đức, do chính tay các chàng trai và cô gái châu Âu phục vụ. Ngoài ra, du khách còn được thưởng thức các món ăn được thiết kế riêng cho lễ hội như xúc xích Đức, các món nướng, bánh mì muối... Du khách còn được trải nghiệm thú vị khi được thưởng thức các văn hóa ẩm thực của các nước phương Tây.

Các chàng trai và cô gái Châu Âu đang biểu diễn những điệu múa của quê hương mình

Trong không khí hứng khởi của lễ hội, mỗi du khách có thể hòa mình và trải nghiệm nhiều điều thú vị tại Quàng trường Du Dôme - làng Pháp. Du khách được thưởng thức âm nhạc, các màn biểu diễn của những ban nhạc có những anh chàng điển trai, được hòa vào các điệu nhảy của các vũ công người Châu Âu. Buổi chiều, tại Quảng trường Du Dôme còn diễn ra lễ trình diễn carnival đường phố, khiến không khí lễ hội thêm phần nhộn nhịp và tưng bừng hơn.

Du khách thưởng thức các mon ăn mang phong cách Châu Âu tại Lễ hội Bia B’estival

Với những điều thú vị trong văn hóa ẩm thực cũng nhưng văn hóa tinh thần của người Châu Âu đã tạo nên một lễ hội Bia B’estival đặc sắc. Sun World Ba Na Hills đã tạo nên sự hấp dẫn đặc biệt, và góp phần đưa Đà Nẵng trở thành một thành phố lễ hội và sự kiện hàng đầu Châu Á trong năm 2016, do World Travel Awards trao danh hiệu.

Related Figures

Tết trung thu

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/8 Âm lịch Tết trung thu còn được gọi là Tết trông trăng hay Tết hoa đăng là ngày tết của trẻ em (Tết thiếu nhi). Trẻ em rất mong đợi ngày tết này vì được người lớn tặng đồ chơi (đèn ông sao, mặt nạ, tò he, súng phun nước...) được phá cỗ, được vui chơi thỏa thích. Tết trung thu là lễ hội lớn tại các quốc gia Đông Á như Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản... Trong dịp tết này, các gia đình làm cỗ cúng gia tiên và bày bánh trái ra sân trông trăng. Tết trung thu cũng là dịp mà mọi người ngắm trăng để tiên đoán mùa màng, vận mệnh quốc gia. Nếu trăng có màu vàng thì năm đó sẽ trúng mùa tằm to, nếu trăng thu có màu xanh thì năm đó phải đề phòng thiên tai, nếu trăng thu có màu cam thì đất nước sẽ may mắn, thịnh trị. Tết trung thu là ngày tết ý nghĩa của thiếu nhi Nguồn gốc Tết trung thu Người Việt Nam tổ chức Tết trung thu vào ngày rằm tháng 8 hàng năm là do ảnh hưởng của phong thục người Hoa. Tương truyền vua Đường Minh Hoàng (713-741 Tây Lịch) dạo chơi vườn Ngự Uyển đêm rằm tháng 8. Trong đêm Trung Thu thời tiết đẹp, trăng rất tròn, sáng. Nhà vua đang thưởng thức cảnh đẹp thì gặp được đạo sĩ La Công Viễn còn được gọi là Diệp Pháp Thiện. Đạo sĩ này có phép tiên đưa nhà vua lên cung trăng. Trên cung trăng, cảnh trí lại càng đẹp hơn muôn phần. Nhà vua hân hoan thưởng thức cảnh tiên quên cả trời gần sáng. Đạo sĩ La Công Tiễn phải nhắc nhở, nhà vua mới ra về nhưng trong lòng vẫn bàng hoàng luyến tiếc. Về tới hoàng cung, nhà vua còn vấn vương cảnh đẹp cõi tiên nên đã cho chế ra Khúc Nghê Thường Vũ Y và cứ đến đêm rằm tháng tám lại hạ lệnh cho người dân tổ chức rước đèn và bày tiệc ăn mừng. Từ đó tới nay, việc rước đèn và bày tiệc đã trở thành phong tục tập quán của người dân. Cũng có truyền thuyết cho rằng, tục treo đèn bày cỗ đêm trung thu là mừng sinh nhật vua Đường Minh Hoàng. Tết trung thu được trang trí lộng lẫy Tết trung thu du nhập vào Việt Nam từ thời nhà Lý. Nhưng phải đến khi Cách mạng tháng 8 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư Trung thu cho thiếu nhi cả nước từ năm 1947 thì Tết trung thu mới trở thành tết của trẻ em cả nước. Đèn ông sao là món quà không thể thiếu trong tết trung thu Tết Trung Thu là một phong tục có ý nghĩa của sự săn sóc, của báo hiếu, của biết ơn, của tình thân hữu, của đoàn tụ, và của thương yêu. Mâm cỗ trung thu thường được chuẩn bị chu đáo có trọng tâm là được làm bằng tép bưởi, được gắn 2 hạt đậu đen làm mắt. Xung quanh có bày thêm hoa quả và những loại bánh nướng, bánh dẻo

Tết trung thu là lễ hội lớn tại các quốc gia Đông Á như Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản... Trong dịp tết này, các gia đình làm cỗ cúng gia tiên và bày bánh trái ra sân trông trăng. Tết trung thu cũng là dịp mà mọi người ngắm trăng để tiên đoán mùa màng, vận mệnh quốc gia. Nếu trăng có màu vàng thì năm đó sẽ trúng mùa tằm to, nếu trăng thu có màu xanh thì năm đó phải đề phòng thiên tai, nếu trăng thu có màu cam thì đất nước sẽ may mắn, thịnh trị.

Tết trung thu là ngày tết ý nghĩa của thiếu nhi Nguồn gốc Tết trung thu Người Việt Nam tổ chức Tết trung thu vào ngày rằm tháng 8 hàng năm là do ảnh hưởng của phong thục người Hoa. Tương truyền vua Đường Minh Hoàng (713-741 Tây Lịch) dạo chơi vườn Ngự Uyển đêm rằm tháng 8. Trong đêm Trung Thu thời tiết đẹp, trăng rất tròn, sáng. Nhà vua đang thưởng thức cảnh đẹp thì gặp được đạo sĩ La Công Viễn còn được gọi là Diệp Pháp Thiện. Đạo sĩ này có phép tiên đưa nhà vua lên cung trăng. Trên cung trăng, cảnh trí lại càng đẹp hơn muôn phần. Nhà vua hân hoan thưởng thức cảnh tiên quên cả trời gần sáng. Đạo sĩ La Công Tiễn phải nhắc nhở, nhà vua mới ra về nhưng trong lòng vẫn bàng hoàng luyến tiếc. Về tới hoàng cung, nhà vua còn vấn vương cảnh đẹp cõi tiên nên đã cho chế ra Khúc Nghê Thường Vũ Y và cứ đến đêm rằm tháng tám lại hạ lệnh cho người dân tổ chức rước đèn và bày tiệc ăn mừng. Từ đó tới nay, việc rước đèn và bày tiệc đã trở thành phong tục tập quán của người dân. Cũng có truyền thuyết cho rằng, tục treo đèn bày cỗ đêm trung thu là mừng sinh nhật vua Đường Minh Hoàng. Tết trung thu được trang trí lộng lẫy Tết trung thu du nhập vào Việt Nam từ thời nhà Lý. Nhưng phải đến khi Cách mạng tháng 8 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư Trung thu cho thiếu nhi cả nước từ năm 1947 thì Tết trung thu mới trở thành tết của trẻ em cả nước. Đèn ông sao là món quà không thể thiếu trong tết trung thu Tết Trung Thu là một phong tục có ý nghĩa của sự săn sóc, của báo hiếu, của biết ơn, của tình thân hữu, của đoàn tụ, và của thương yêu. Mâm cỗ trung thu thường được chuẩn bị chu đáo có trọng tâm là được làm bằng tép bưởi, được gắn 2 hạt đậu đen làm mắt. Xung quanh có bày thêm hoa quả và những loại bánh nướng, bánh dẻo

Nguồn gốc Tết trung thu

Người Việt Nam tổ chức Tết trung thu vào ngày rằm tháng 8 hàng năm là do ảnh hưởng của phong thục người Hoa. Tương truyền vua Đường Minh Hoàng (713-741 Tây Lịch) dạo chơi vườn Ngự Uyển đêm rằm tháng 8. Trong đêm Trung Thu thời tiết đẹp, trăng rất tròn, sáng. Nhà vua đang thưởng thức cảnh đẹp thì gặp được đạo sĩ La Công Viễn còn được gọi là Diệp Pháp Thiện. Đạo sĩ này có phép tiên đưa nhà vua lên cung trăng. Trên cung trăng, cảnh trí lại càng đẹp hơn muôn phần. Nhà vua hân hoan thưởng thức cảnh tiên quên cả trời gần sáng. Đạo sĩ La Công Tiễn phải nhắc nhở, nhà vua mới ra về nhưng trong lòng vẫn bàng hoàng luyến tiếc.

Về tới hoàng cung, nhà vua còn vấn vương cảnh đẹp cõi tiên nên đã cho chế ra Khúc Nghê Thường Vũ Y và cứ đến đêm rằm tháng tám lại hạ lệnh cho người dân tổ chức rước đèn và bày tiệc ăn mừng. Từ đó tới nay, việc rước đèn và bày tiệc đã trở thành phong tục tập quán của người dân.

Cũng có truyền thuyết cho rằng, tục treo đèn bày cỗ đêm trung thu là mừng sinh nhật vua Đường Minh Hoàng.

Tết trung thu được trang trí lộng lẫy

Tết trung thu du nhập vào Việt Nam từ thời nhà Lý. Nhưng phải đến khi Cách mạng tháng 8 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư Trung thu cho thiếu nhi cả nước từ năm 1947 thì Tết trung thu mới trở thành tết của trẻ em cả nước.

Đèn ông sao là món quà không thể thiếu trong tết trung thu

Tết Trung Thu là một phong tục có ý nghĩa của sự săn sóc, của báo hiếu, của biết ơn, của tình thân hữu, của đoàn tụ, và của thương yêu. Mâm cỗ trung thu thường được chuẩn bị chu đáo có trọng tâm là được làm bằng tép bưởi, được gắn 2 hạt đậu đen làm mắt. Xung quanh có bày thêm hoa quả và những loại bánh nướng, bánh dẻo

Related Figures

Hội đền Nguyễn Trãi

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 16/8 Âm lịch Hội đền Nguyễn Trãi diễn ra ngày 16 tháng âm lịch hàng năm tại làng Nhị Khê, xã Nhị Khê, huyện Thường Tín, Hà Nội. Làng Nhị Khê xưa có tên nôm là làng Dũi nằm ở phía nam kinh thành Thăng Long. Đối tượng suy tôn là Khai quốc nguyên công Nguyễn Trãi, nhà văn hóa, chính trị, ngoại giao thiên tài của Việt Nam trong thế kỷ XV. Đền Nguyễn Trại tại xã Nhị Khê Năm 1980, nhân dịp kỷ niệm 600 năm ngày sinh của anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi, cũng là dịp ông được UNESCO vinh danh là Danh nhân văn hóa của nhân loại; xã Nhị Khê khánh thành tượng đài Nguyễn Trãi. Tượng được đúc bằng xi măng, được đặt trên bệ cao, tay phải cầm bút, tay trái là trang giấy trải dài, mắt hướng về kinh thành Thăng Long. Tượng đài Nguyễn Trãi trong đền Đền Nguyễn Trãi có kiến trúc theo kiểu chữ Đinh. Cho đến nay, trong đền vẫn còn lưu giữ được nhiều hiện vật quý: Đôi hạc bằng gỗ mang nét chạm thời Lê; hai đạo sắc phong niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 28 (năm1768) và niên hiệu Tự Đức năm thứ 6 (năm 1854). Gian giữa đền có hai tấm biển sơn son khắc chữ Hán, tương truyền là của vua Lê Thánh Tông ban cho Nguyễn Trãi khi ông được minh oan. Mặt trước của tấm biển thứ nhất đề “ức Trai tâm thượng quang khuê tảo”; mặt sau đề là “Lê triều khai quốc công thần”. Tấm biển thứ hai đề “Nhị Khê tướng công”. Nét đặc sắc nhất trong đền Nguyễn Trãi là các bức hoành phi câu đối rất hàm súc ca ngợi tài đức anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi. Chân dung anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi trong đền Người dân tổ chức hội đền dâng hương tưởng niệm ngày giỗ ông ngày 16/8, thăm quan tượng đai và khu đền thờ.

Đền Nguyễn Trại tại xã Nhị Khê Năm 1980, nhân dịp kỷ niệm 600 năm ngày sinh của anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi, cũng là dịp ông được UNESCO vinh danh là Danh nhân văn hóa của nhân loại; xã Nhị Khê khánh thành tượng đài Nguyễn Trãi. Tượng được đúc bằng xi măng, được đặt trên bệ cao, tay phải cầm bút, tay trái là trang giấy trải dài, mắt hướng về kinh thành Thăng Long. Tượng đài Nguyễn Trãi trong đền Đền Nguyễn Trãi có kiến trúc theo kiểu chữ Đinh. Cho đến nay, trong đền vẫn còn lưu giữ được nhiều hiện vật quý: Đôi hạc bằng gỗ mang nét chạm thời Lê; hai đạo sắc phong niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 28 (năm1768) và niên hiệu Tự Đức năm thứ 6 (năm 1854). Gian giữa đền có hai tấm biển sơn son khắc chữ Hán, tương truyền là của vua Lê Thánh Tông ban cho Nguyễn Trãi khi ông được minh oan. Mặt trước của tấm biển thứ nhất đề “ức Trai tâm thượng quang khuê tảo”; mặt sau đề là “Lê triều khai quốc công thần”. Tấm biển thứ hai đề “Nhị Khê tướng công”. Nét đặc sắc nhất trong đền Nguyễn Trãi là các bức hoành phi câu đối rất hàm súc ca ngợi tài đức anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi. Chân dung anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi trong đền Người dân tổ chức hội đền dâng hương tưởng niệm ngày giỗ ông ngày 16/8, thăm quan tượng đai và khu đền thờ.

Đền Nguyễn Trại tại xã Nhị Khê Năm 1980, nhân dịp kỷ niệm 600 năm ngày sinh của anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi, cũng là dịp ông được UNESCO vinh danh là Danh nhân văn hóa của nhân loại; xã Nhị Khê khánh thành tượng đài Nguyễn Trãi. Tượng được đúc bằng xi măng, được đặt trên bệ cao, tay phải cầm bút, tay trái là trang giấy trải dài, mắt hướng về kinh thành Thăng Long. Tượng đài Nguyễn Trãi trong đền Đền Nguyễn Trãi có kiến trúc theo kiểu chữ Đinh. Cho đến nay, trong đền vẫn còn lưu giữ được nhiều hiện vật quý: Đôi hạc bằng gỗ mang nét chạm thời Lê; hai đạo sắc phong niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 28 (năm1768) và niên hiệu Tự Đức năm thứ 6 (năm 1854). Gian giữa đền có hai tấm biển sơn son khắc chữ Hán, tương truyền là của vua Lê Thánh Tông ban cho Nguyễn Trãi khi ông được minh oan. Mặt trước của tấm biển thứ nhất đề “ức Trai tâm thượng quang khuê tảo”; mặt sau đề là “Lê triều khai quốc công thần”. Tấm biển thứ hai đề “Nhị Khê tướng công”. Nét đặc sắc nhất trong đền Nguyễn Trãi là các bức hoành phi câu đối rất hàm súc ca ngợi tài đức anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi. Chân dung anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi trong đền Người dân tổ chức hội đền dâng hương tưởng niệm ngày giỗ ông ngày 16/8, thăm quan tượng đai và khu đền thờ.

Năm 1980, nhân dịp kỷ niệm 600 năm ngày sinh của anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi, cũng là dịp ông được UNESCO vinh danh là Danh nhân văn hóa của nhân loại; xã Nhị Khê khánh thành tượng đài Nguyễn Trãi. Tượng được đúc bằng xi măng, được đặt trên bệ cao, tay phải cầm bút, tay trái là trang giấy trải dài, mắt hướng về kinh thành Thăng Long.

Tượng đài Nguyễn Trãi trong đền Đền Nguyễn Trãi có kiến trúc theo kiểu chữ Đinh. Cho đến nay, trong đền vẫn còn lưu giữ được nhiều hiện vật quý: Đôi hạc bằng gỗ mang nét chạm thời Lê; hai đạo sắc phong niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 28 (năm1768) và niên hiệu Tự Đức năm thứ 6 (năm 1854). Gian giữa đền có hai tấm biển sơn son khắc chữ Hán, tương truyền là của vua Lê Thánh Tông ban cho Nguyễn Trãi khi ông được minh oan. Mặt trước của tấm biển thứ nhất đề “ức Trai tâm thượng quang khuê tảo”; mặt sau đề là “Lê triều khai quốc công thần”. Tấm biển thứ hai đề “Nhị Khê tướng công”. Nét đặc sắc nhất trong đền Nguyễn Trãi là các bức hoành phi câu đối rất hàm súc ca ngợi tài đức anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi. Chân dung anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi trong đền Người dân tổ chức hội đền dâng hương tưởng niệm ngày giỗ ông ngày 16/8, thăm quan tượng đai và khu đền thờ.

Đền Nguyễn Trãi có kiến trúc theo kiểu chữ Đinh. Cho đến nay, trong đền vẫn còn lưu giữ được nhiều hiện vật quý: Đôi hạc bằng gỗ mang nét chạm thời Lê; hai đạo sắc phong niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 28 (năm1768) và niên hiệu Tự Đức năm thứ 6 (năm 1854). Gian giữa đền có hai tấm biển sơn son khắc chữ Hán, tương truyền là của vua Lê Thánh Tông ban cho Nguyễn Trãi khi ông được minh oan. Mặt trước của tấm biển thứ nhất đề “ức Trai tâm thượng quang khuê tảo”; mặt sau đề là “Lê triều khai quốc công thần”. Tấm biển thứ hai đề “Nhị Khê tướng công”. Nét đặc sắc nhất trong đền Nguyễn Trãi là các bức hoành phi câu đối rất hàm súc ca ngợi tài đức anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi.

Chân dung anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi trong đền

Người dân tổ chức hội đền dâng hương tưởng niệm ngày giỗ ông ngày 16/8, thăm quan tượng đai và khu đền thờ.

Related Figures

Hội đền Ghềnh

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 20/8 Âm lịch Hội đền Ghềnh được tổ chức tại thôn Ái Mộ, phường Bồ Đề, quận Long Biên, Hà Nội. Gần 200 năm nay, bất chấp sắc lệnh của triều Nguyễn, Công chúa Ngọc Hân được người dân nơi đây bí mật thờ phụng dưới danh nghĩa thờ "Mẫu thoải". Hội đền Ghềnh suy tôn công chúa Ngọc Hân Cho đến nay, người dân nơi đây vẫn lưu truyền sự tích đền Ghềnh gắn với số phận bi thương của công chúa Ngọc Hân. Công chúa Ngọc Hân là người được cả kinh thành Thăng Long xưa gọi là “Chúa tiên” bởi dung nhan xinh đẹp, cầm kỳ thi họa đủ tài xuất chúng. Năm 16 tuổi, công chúa Ngọc Hân được gả cho thủ lĩnh Tây Sơn tức Quang Trung Nguyễn Huệ. Cuộc tình giữa Ngọc Hân và Nguyễn Huệ chỉ kéo dài khoảng 6 năm, sự ra đi đột ngột của vua Quang Trung đã khiến người đẹp thành Thăng Long đổ máu khóc chồng mà viết nên tác phẩm “Ai tư vãn” bất hủ. Bảy năm sau đó, công chúa Ngọc Hân 29 tuổi, lặng lẽ đi theo Quang Trung về cõi vĩnh hằng. Nhà Nguyễn sau lên ngôi đã tìm cách tận diệt tất cả những người có liên quan đến triều đại Tây Sơn. Bà Chiêu nghi Nguyễn Thị Huyền, xót phận con gái Ngọc Hân sau khi qua đời, vẫn phải gửi thân xác ở Phú Xuân - Huế nên đã tìm cách bí mật đưa được hài cốt của Bắc cung Hoàng hậu nhà Tây Sơn về quê an táng. Đến đời vua Minh Mạng có kẻ đã đem việc “ngụy hậu” Tây Sơn vẫn đang được “mồ yên mả đẹp” tại quê nhà, thoát việc “trả thù 9 đời” do vua Gia Long khởi xướng và thực thi. Triều đình Huế hạ lệnh đào mồ quật mộ công chúa Ngọc Hân lên, san đất thành bình địa cho cỏ gai mọc đầy, còn hài cốt thì bị vứt xuống sông. Hài cốt mẹ con Ngọc Hân bị vứt xuống sông Hồng thuộc địa phận làng Ái Mộ. Thương xót Bắc cung Hoàng hậu tài hoa bạc mệnh, người dân Ái Mộ đã lập miếu thờ bà ngay tại nơi vớt được hài cốt. Dòng sông bên lở, bên bồi; không lâu sau đó, ngôi miếu nhỏ cũng bị lũ cuốn trôi. Dốc lòng với việc tín nghĩa, cụ Đặng Thị Bản lại đi quyên góp xây lại đền. Hội đền Ghềnh thu hút đông đảo du khách tham dự Hội đền Ghềnh năm nào cũng thu hút đông đảo du khách thập phương tới tham dự. Đặc điểm của hội đền Ghềnh là có hát văn ca ngợi công đức Thánh Mẫu. Đền Ghềnh nằm trong căn ngõ nhỏ gần sông Hồng

Hội đền Ghềnh suy tôn công chúa Ngọc Hân Cho đến nay, người dân nơi đây vẫn lưu truyền sự tích đền Ghềnh gắn với số phận bi thương của công chúa Ngọc Hân. Công chúa Ngọc Hân là người được cả kinh thành Thăng Long xưa gọi là “Chúa tiên” bởi dung nhan xinh đẹp, cầm kỳ thi họa đủ tài xuất chúng. Năm 16 tuổi, công chúa Ngọc Hân được gả cho thủ lĩnh Tây Sơn tức Quang Trung Nguyễn Huệ. Cuộc tình giữa Ngọc Hân và Nguyễn Huệ chỉ kéo dài khoảng 6 năm, sự ra đi đột ngột của vua Quang Trung đã khiến người đẹp thành Thăng Long đổ máu khóc chồng mà viết nên tác phẩm “Ai tư vãn” bất hủ. Bảy năm sau đó, công chúa Ngọc Hân 29 tuổi, lặng lẽ đi theo Quang Trung về cõi vĩnh hằng. Nhà Nguyễn sau lên ngôi đã tìm cách tận diệt tất cả những người có liên quan đến triều đại Tây Sơn. Bà Chiêu nghi Nguyễn Thị Huyền, xót phận con gái Ngọc Hân sau khi qua đời, vẫn phải gửi thân xác ở Phú Xuân - Huế nên đã tìm cách bí mật đưa được hài cốt của Bắc cung Hoàng hậu nhà Tây Sơn về quê an táng. Đến đời vua Minh Mạng có kẻ đã đem việc “ngụy hậu” Tây Sơn vẫn đang được “mồ yên mả đẹp” tại quê nhà, thoát việc “trả thù 9 đời” do vua Gia Long khởi xướng và thực thi. Triều đình Huế hạ lệnh đào mồ quật mộ công chúa Ngọc Hân lên, san đất thành bình địa cho cỏ gai mọc đầy, còn hài cốt thì bị vứt xuống sông. Hài cốt mẹ con Ngọc Hân bị vứt xuống sông Hồng thuộc địa phận làng Ái Mộ. Thương xót Bắc cung Hoàng hậu tài hoa bạc mệnh, người dân Ái Mộ đã lập miếu thờ bà ngay tại nơi vớt được hài cốt. Dòng sông bên lở, bên bồi; không lâu sau đó, ngôi miếu nhỏ cũng bị lũ cuốn trôi. Dốc lòng với việc tín nghĩa, cụ Đặng Thị Bản lại đi quyên góp xây lại đền. Hội đền Ghềnh thu hút đông đảo du khách tham dự Hội đền Ghềnh năm nào cũng thu hút đông đảo du khách thập phương tới tham dự. Đặc điểm của hội đền Ghềnh là có hát văn ca ngợi công đức Thánh Mẫu. Đền Ghềnh nằm trong căn ngõ nhỏ gần sông Hồng

Cho đến nay, người dân nơi đây vẫn lưu truyền sự tích đền Ghềnh gắn với số phận bi thương của công chúa Ngọc Hân. Công chúa Ngọc Hân là người được cả kinh thành Thăng Long xưa gọi là “Chúa tiên” bởi dung nhan xinh đẹp, cầm kỳ thi họa đủ tài xuất chúng. Năm 16 tuổi, công chúa Ngọc Hân được gả cho thủ lĩnh Tây Sơn tức Quang Trung Nguyễn Huệ. Cuộc tình giữa Ngọc Hân và Nguyễn Huệ chỉ kéo dài khoảng 6 năm, sự ra đi đột ngột của vua Quang Trung đã khiến người đẹp thành Thăng Long đổ máu khóc chồng mà viết nên tác phẩm “Ai tư vãn” bất hủ. Bảy năm sau đó, công chúa Ngọc Hân 29 tuổi, lặng lẽ đi theo Quang Trung về cõi vĩnh hằng. Nhà Nguyễn sau lên ngôi đã tìm cách tận diệt tất cả những người có liên quan đến triều đại Tây Sơn. Bà Chiêu nghi Nguyễn Thị Huyền, xót phận con gái Ngọc Hân sau khi qua đời, vẫn phải gửi thân xác ở Phú Xuân - Huế nên đã tìm cách bí mật đưa được hài cốt của Bắc cung Hoàng hậu nhà Tây Sơn về quê an táng. Đến đời vua Minh Mạng có kẻ đã đem việc “ngụy hậu” Tây Sơn vẫn đang được “mồ yên mả đẹp” tại quê nhà, thoát việc “trả thù 9 đời” do vua Gia Long khởi xướng và thực thi. Triều đình Huế hạ lệnh đào mồ quật mộ công chúa Ngọc Hân lên, san đất thành bình địa cho cỏ gai mọc đầy, còn hài cốt thì bị vứt xuống sông. Hài cốt mẹ con Ngọc Hân bị vứt xuống sông Hồng thuộc địa phận làng Ái Mộ. Thương xót Bắc cung Hoàng hậu tài hoa bạc mệnh, người dân Ái Mộ đã lập miếu thờ bà ngay tại nơi vớt được hài cốt. Dòng sông bên lở, bên bồi; không lâu sau đó, ngôi miếu nhỏ cũng bị lũ cuốn trôi. Dốc lòng với việc tín nghĩa, cụ Đặng Thị Bản lại đi quyên góp xây lại đền. Hội đền Ghềnh thu hút đông đảo du khách tham dự Hội đền Ghềnh năm nào cũng thu hút đông đảo du khách thập phương tới tham dự. Đặc điểm của hội đền Ghềnh là có hát văn ca ngợi công đức Thánh Mẫu. Đền Ghềnh nằm trong căn ngõ nhỏ gần sông Hồng

Cho đến nay, người dân nơi đây vẫn lưu truyền sự tích đền Ghềnh gắn với số phận bi thương của công chúa Ngọc Hân. Công chúa Ngọc Hân là người được cả kinh thành Thăng Long xưa gọi là “Chúa tiên” bởi dung nhan xinh đẹp, cầm kỳ thi họa đủ tài xuất chúng. Năm 16 tuổi, công chúa Ngọc Hân được gả cho thủ lĩnh Tây Sơn tức Quang Trung Nguyễn Huệ. Cuộc tình giữa Ngọc Hân và Nguyễn Huệ chỉ kéo dài khoảng 6 năm, sự ra đi đột ngột của vua Quang Trung đã khiến người đẹp thành Thăng Long đổ máu khóc chồng mà viết nên tác phẩm “Ai tư vãn” bất hủ. Bảy năm sau đó, công chúa Ngọc Hân 29 tuổi, lặng lẽ đi theo Quang Trung về cõi vĩnh hằng. Nhà Nguyễn sau lên ngôi đã tìm cách tận diệt tất cả những người có liên quan đến triều đại Tây Sơn. Bà Chiêu nghi Nguyễn Thị Huyền, xót phận con gái Ngọc Hân sau khi qua đời, vẫn phải gửi thân xác ở Phú Xuân - Huế nên đã tìm cách bí mật đưa được hài cốt của Bắc cung Hoàng hậu nhà Tây Sơn về quê an táng. Đến đời vua Minh Mạng có kẻ đã đem việc “ngụy hậu” Tây Sơn vẫn đang được “mồ yên mả đẹp” tại quê nhà, thoát việc “trả thù 9 đời” do vua Gia Long khởi xướng và thực thi. Triều đình Huế hạ lệnh đào mồ quật mộ công chúa Ngọc Hân lên, san đất thành bình địa cho cỏ gai mọc đầy, còn hài cốt thì bị vứt xuống sông. Hài cốt mẹ con Ngọc Hân bị vứt xuống sông Hồng thuộc địa phận làng Ái Mộ. Thương xót Bắc cung Hoàng hậu tài hoa bạc mệnh, người dân Ái Mộ đã lập miếu thờ bà ngay tại nơi vớt được hài cốt. Dòng sông bên lở, bên bồi; không lâu sau đó, ngôi miếu nhỏ cũng bị lũ cuốn trôi. Dốc lòng với việc tín nghĩa, cụ Đặng Thị Bản lại đi quyên góp xây lại đền. Hội đền Ghềnh thu hút đông đảo du khách tham dự Hội đền Ghềnh năm nào cũng thu hút đông đảo du khách thập phương tới tham dự. Đặc điểm của hội đền Ghềnh là có hát văn ca ngợi công đức Thánh Mẫu. Đền Ghềnh nằm trong căn ngõ nhỏ gần sông Hồng

Cho đến nay, người dân nơi đây vẫn lưu truyền sự tích đền Ghềnh gắn với số phận bi thương của công chúa Ngọc Hân. Công chúa Ngọc Hân là người được cả kinh thành Thăng Long xưa gọi là “Chúa tiên” bởi dung nhan xinh đẹp, cầm kỳ thi họa đủ tài xuất chúng.

Related Figures

Lễ hội Đền Tiên La

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/3- 20/3 Âm lịch Lễ hội Đền Tiên La được tổ chức hàng năm từ ngày 10 đến 20 tháng Ba âm lịch.Trước đây, lễ hội thường được tổ chức từ ngày 15 đến 17 tháng Ba âm lịch nhưng vì ban tổ chức muốn mở rộng lễ hội nên đã tổ chức từ ngày 10-20/03. Ngày chính hội là ngày 17, cũng chính là ngày sinh của Bát Nạn Tướng Quân. Lễ hội Đền Tiên La tại Thái Bình Đền Tiên La là một khu di tích lịch sử tâm linh, là nơi thờ Bát Bạn tướng quân, là vị tướng quân đã phá nạn cho người dân trong vùng, cũng có nơi gọi là Bát Nàn hoặc Bát Não. Bát Nạn tướng quân tên thật là Vũ Thị Thục, là một vị nữ tướng trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, đã có công đánh Tô Định, từng được phong là "Đông Nhung Đại Tướng Quân", đã có từ gần 2000 năm nay. Ngôi đền này nằm giữa thôn Tiên La, thuộc dã Đoan Hùng- huyện Hưng Hà- tỉnh Thái Bình, với diện tích khoảng 6000 m2. Phía trước đền có con sông Tiên Hưng, gần ngã ba đổ ra sông Luộc, tương truyền là nơi Bà đã tuẫn tiết. Người dân trong vùng và du khách đang dâng hương lên Bà Trải qua nhiều lần trùng tu, đến nay ngôi đền Tiên La có quy mô lớn, đẹp, khang trang, gồm nhiều công trình như tòa tiền tế, thượng điện, tòa trung tế, cổng đền, hệ thống sân đền... Thượng điện và tòa điện bái đường được xây dựng với kiến trúc bằng vật liệu gỗ tứ thiết, nội thất được trạm trổ Long - Lân - Quy - Phượng, kết hợp với Thông - Trúc - Cúc -Mai. Tòa điện trung tế có kiến trúc vô cùng tinh tế, đươc xây dựng theo kiểu phương đình - là lối "chồng diêm cổ các". Lễ hội gồm hai phần chính là Phần Lễ và Phần Hội. Phần Lễ diễn ra với các nghi thức dâng hương, tế lễ... Phần Hội có các trò chơi dân gian như đấu vật, chọi gà, đánh đáo, thổi sáo trúc... còn có tiết mục múa sư tử và rước kiệu. Ngoài ra, lễ hội Đền Tiên La còn là nơi giao lưu văn hóa nghệ thuật của tỉnh Thái Bình và nhiều tỉnh lân cận, biểu diễn các tiết mục văn hóa truyền thống như các vở chèo Lưu Bình - Dương Lễ, Quan Âm Thị Kính... Đền Tiên La có qui mô lớn hơn và khang trang hơn

Lễ hội Đền Tiên La tại Thái Bình Đền Tiên La là một khu di tích lịch sử tâm linh, là nơi thờ Bát Bạn tướng quân, là vị tướng quân đã phá nạn cho người dân trong vùng, cũng có nơi gọi là Bát Nàn hoặc Bát Não. Bát Nạn tướng quân tên thật là Vũ Thị Thục, là một vị nữ tướng trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, đã có công đánh Tô Định, từng được phong là "Đông Nhung Đại Tướng Quân", đã có từ gần 2000 năm nay. Ngôi đền này nằm giữa thôn Tiên La, thuộc dã Đoan Hùng- huyện Hưng Hà- tỉnh Thái Bình, với diện tích khoảng 6000 m2. Phía trước đền có con sông Tiên Hưng, gần ngã ba đổ ra sông Luộc, tương truyền là nơi Bà đã tuẫn tiết. Người dân trong vùng và du khách đang dâng hương lên Bà Trải qua nhiều lần trùng tu, đến nay ngôi đền Tiên La có quy mô lớn, đẹp, khang trang, gồm nhiều công trình như tòa tiền tế, thượng điện, tòa trung tế, cổng đền, hệ thống sân đền... Thượng điện và tòa điện bái đường được xây dựng với kiến trúc bằng vật liệu gỗ tứ thiết, nội thất được trạm trổ Long - Lân - Quy - Phượng, kết hợp với Thông - Trúc - Cúc -Mai. Tòa điện trung tế có kiến trúc vô cùng tinh tế, đươc xây dựng theo kiểu phương đình - là lối "chồng diêm cổ các". Lễ hội gồm hai phần chính là Phần Lễ và Phần Hội. Phần Lễ diễn ra với các nghi thức dâng hương, tế lễ... Phần Hội có các trò chơi dân gian như đấu vật, chọi gà, đánh đáo, thổi sáo trúc... còn có tiết mục múa sư tử và rước kiệu. Ngoài ra, lễ hội Đền Tiên La còn là nơi giao lưu văn hóa nghệ thuật của tỉnh Thái Bình và nhiều tỉnh lân cận, biểu diễn các tiết mục văn hóa truyền thống như các vở chèo Lưu Bình - Dương Lễ, Quan Âm Thị Kính...

Đền Tiên La là một khu di tích lịch sử tâm linh, là nơi thờ Bát Bạn tướng quân, là vị tướng quân đã phá nạn cho người dân trong vùng, cũng có nơi gọi là Bát Nàn hoặc Bát Não. Bát Nạn tướng quân tên thật là Vũ Thị Thục, là một vị nữ tướng trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, đã có công đánh Tô Định, từng được phong là "Đông Nhung Đại Tướng Quân", đã có từ gần 2000 năm nay. Ngôi đền này nằm giữa thôn Tiên La, thuộc dã Đoan Hùng- huyện Hưng Hà- tỉnh Thái Bình, với diện tích khoảng 6000 m2. Phía trước đền có con sông Tiên Hưng, gần ngã ba đổ ra sông Luộc, tương truyền là nơi Bà đã tuẫn tiết.

Người dân trong vùng và du khách đang dâng hương lên Bà Trải qua nhiều lần trùng tu, đến nay ngôi đền Tiên La có quy mô lớn, đẹp, khang trang, gồm nhiều công trình như tòa tiền tế, thượng điện, tòa trung tế, cổng đền, hệ thống sân đền... Thượng điện và tòa điện bái đường được xây dựng với kiến trúc bằng vật liệu gỗ tứ thiết, nội thất được trạm trổ Long - Lân - Quy - Phượng, kết hợp với Thông - Trúc - Cúc -Mai. Tòa điện trung tế có kiến trúc vô cùng tinh tế, đươc xây dựng theo kiểu phương đình - là lối "chồng diêm cổ các". Lễ hội gồm hai phần chính là Phần Lễ và Phần Hội. Phần Lễ diễn ra với các nghi thức dâng hương, tế lễ... Phần Hội có các trò chơi dân gian như đấu vật, chọi gà, đánh đáo, thổi sáo trúc... còn có tiết mục múa sư tử và rước kiệu. Ngoài ra, lễ hội Đền Tiên La còn là nơi giao lưu văn hóa nghệ thuật của tỉnh Thái Bình và nhiều tỉnh lân cận, biểu diễn các tiết mục văn hóa truyền thống như các vở chèo Lưu Bình - Dương Lễ, Quan Âm Thị Kính...

Trải qua nhiều lần trùng tu, đến nay ngôi đền Tiên La có quy mô lớn, đẹp, khang trang, gồm nhiều công trình như tòa tiền tế, thượng điện, tòa trung tế, cổng đền, hệ thống sân đền... Thượng điện và tòa điện bái đường được xây dựng với kiến trúc bằng vật liệu gỗ tứ thiết, nội thất được trạm trổ Long - Lân - Quy - Phượng, kết hợp với Thông - Trúc - Cúc -Mai. Tòa điện trung tế có kiến trúc vô cùng tinh tế, đươc xây dựng theo kiểu phương đình - là lối "chồng diêm cổ các". Lễ hội gồm hai phần chính là Phần Lễ và Phần Hội. Phần Lễ diễn ra với các nghi thức dâng hương, tế lễ... Phần Hội có các trò chơi dân gian như đấu vật, chọi gà, đánh đáo, thổi sáo trúc... còn có tiết mục múa sư tử và rước kiệu. Ngoài ra, lễ hội Đền Tiên La còn là nơi giao lưu văn hóa nghệ thuật của tỉnh Thái Bình và nhiều tỉnh lân cận, biểu diễn các tiết mục văn hóa truyền thống như các vở chèo Lưu Bình - Dương Lễ, Quan Âm Thị Kính...

Trải qua nhiều lần trùng tu, đến nay ngôi đền Tiên La có quy mô lớn, đẹp, khang trang, gồm nhiều công trình như tòa tiền tế, thượng điện, tòa trung tế, cổng đền, hệ thống sân đền... Thượng điện và tòa điện bái đường được xây dựng với kiến trúc bằng vật liệu gỗ tứ thiết, nội thất được trạm trổ Long - Lân - Quy - Phượng, kết hợp với Thông - Trúc - Cúc -Mai. Tòa điện trung tế có kiến trúc vô cùng tinh tế, đươc xây dựng theo kiểu phương đình - là lối "chồng diêm cổ các".

Lễ hội gồm hai phần chính là Phần Lễ và Phần Hội. Phần Lễ diễn ra với các nghi thức dâng hương, tế lễ... Phần Hội có các trò chơi dân gian như đấu vật, chọi gà, đánh đáo, thổi sáo trúc... còn có tiết mục múa sư tử và rước kiệu. Ngoài ra, lễ hội Đền Tiên La còn là nơi giao lưu văn hóa nghệ thuật của tỉnh Thái Bình và nhiều tỉnh lân cận, biểu diễn các tiết mục văn hóa truyền thống như các vở chèo Lưu Bình - Dương Lễ, Quan Âm Thị Kính...

Đền Tiên La có qui mô lớn hơn và khang trang hơn

Related Figures

Lễ hội Đền Hét

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 7/1- 9/1 Âm lịch Lễ hội Đền Hét xã Thái Thượng diễn ra từ ngày mồng 7 đến mồng 9 tháng Giêng âm lịch hàng năm. Lễ hội này là dịp để người dân nơi đây bày tỏ lòng thành kính và tưởng nhớ tới công ơn của tướng quân Phạm Ngũ Lão- người đã có công lớn trong cuộc chiến chống quân Nguyên Mông. Lễ hội Đền Hét tại xã Thái Thượng - Thái Bình Đền Hét tọa lạc tại làng Bích Du, xã Thái Thượng, huyện Đan Thụy. Nơi đây là nơi tướng quân Phạm Ngũ Lão, một vị danh tướng dưới thời nhà Trần đã chọn làm nơi dựng trại để huấn luyện quân sỹ. Đây cũng là nơi tập kết quân dân, cất giữ vũ khí để phục vụ cho hai cuộc chiến chống Đế quốc Mỹ và thực dân Pháp của dân tộc Việt Nam. Trải qua nhiều biến động của lịch sử và sự khắc nghiệt của khí hậu ngôi chùa này vẫn giữ được nét kiến trúc nguy nga bề thế, nhiều đồ tế khí, thần tích rất quý của triều đại nhà Lê và nhà Nguyễn. Năm 1993, Bộ Văn hóa và Thông Tin đã cấp chứng nhận đền Hét là di tích lịch sử cấp quốc gia. Hàng năm, cứ đến ngày mồng 7 tháng Giêng Âm lịch người dân xã Thái Thượng lại nô nức tổ chức hội Đền Hét. Lễ hội gồm hai phần là Phần Lễ và Phần Hội. Phần Lễ diễn ra với nhiều nghi lễ như lễ tế, dâng hương, lễ rước... Phần Hội diễn ra nhộn nhịp với các trò chơi dân gian như đua thuyền, cầu vật, kéo co, vật đô.... và các trò chơi thể thao. Các thanh nhiên trong làng đang chơi vật cầu Môn vật đô là một trò không thể thiếu trong phần Hội. Trước đây, chỉ có các trai làng mới được tham gia vật đô, nhưng những năm gần đây thì nhiều đô vật từ khắp các tỉnh thành cũng về tham dự. Đặc biệt, môn vật cầu là do đích thân tướng quân Phạm Ngũ Lão sáng lập ra để giúp quân sỹ rèn luyện sức khỏe. Sau khi trận đấu kết thúc, đội nào đưa được quả cầu vào bồ của đội mình nhiều lần hơn thì đội đó sẽ giành chiến thắng. Quả cầu này sẽ được các thành viên trong đội chia nhau về trồng trong vườn để cầu may mắn. Môn vật cầu đã trở thành một môn thể theo độc đáo giúp gắn kết cộng đồng, thể hiền tinh thần thượng võ cao.

Lễ hội Đền Hét tại xã Thái Thượng - Thái Bình Đền Hét tọa lạc tại làng Bích Du, xã Thái Thượng, huyện Đan Thụy. Nơi đây là nơi tướng quân Phạm Ngũ Lão, một vị danh tướng dưới thời nhà Trần đã chọn làm nơi dựng trại để huấn luyện quân sỹ. Đây cũng là nơi tập kết quân dân, cất giữ vũ khí để phục vụ cho hai cuộc chiến chống Đế quốc Mỹ và thực dân Pháp của dân tộc Việt Nam. Trải qua nhiều biến động của lịch sử và sự khắc nghiệt của khí hậu ngôi chùa này vẫn giữ được nét kiến trúc nguy nga bề thế, nhiều đồ tế khí, thần tích rất quý của triều đại nhà Lê và nhà Nguyễn. Năm 1993, Bộ Văn hóa và Thông Tin đã cấp chứng nhận đền Hét là di tích lịch sử cấp quốc gia. Hàng năm, cứ đến ngày mồng 7 tháng Giêng Âm lịch người dân xã Thái Thượng lại nô nức tổ chức hội Đền Hét. Lễ hội gồm hai phần là Phần Lễ và Phần Hội. Phần Lễ diễn ra với nhiều nghi lễ như lễ tế, dâng hương, lễ rước... Phần Hội diễn ra nhộn nhịp với các trò chơi dân gian như đua thuyền, cầu vật, kéo co, vật đô.... và các trò chơi thể thao. Các thanh nhiên trong làng đang chơi vật cầu Môn vật đô là một trò không thể thiếu trong phần Hội. Trước đây, chỉ có các trai làng mới được tham gia vật đô, nhưng những năm gần đây thì nhiều đô vật từ khắp các tỉnh thành cũng về tham dự. Đặc biệt, môn vật cầu là do đích thân tướng quân Phạm Ngũ Lão sáng lập ra để giúp quân sỹ rèn luyện sức khỏe. Sau khi trận đấu kết thúc, đội nào đưa được quả cầu vào bồ của đội mình nhiều lần hơn thì đội đó sẽ giành chiến thắng. Quả cầu này sẽ được các thành viên trong đội chia nhau về trồng trong vườn để cầu may mắn. Môn vật cầu đã trở thành một môn thể theo độc đáo giúp gắn kết cộng đồng, thể hiền tinh thần thượng võ cao.

Đền Hét tọa lạc tại làng Bích Du, xã Thái Thượng, huyện Đan Thụy. Nơi đây là nơi tướng quân Phạm Ngũ Lão, một vị danh tướng dưới thời nhà Trần đã chọn làm nơi dựng trại để huấn luyện quân sỹ. Đây cũng là nơi tập kết quân dân, cất giữ vũ khí để phục vụ cho hai cuộc chiến chống Đế quốc Mỹ và thực dân Pháp của dân tộc Việt Nam. Trải qua nhiều biến động của lịch sử và sự khắc nghiệt của khí hậu ngôi chùa này vẫn giữ được nét kiến trúc nguy nga bề thế, nhiều đồ tế khí, thần tích rất quý của triều đại nhà Lê và nhà Nguyễn. Năm 1993, Bộ Văn hóa và Thông Tin đã cấp chứng nhận đền Hét là di tích lịch sử cấp quốc gia.

Hàng năm, cứ đến ngày mồng 7 tháng Giêng Âm lịch người dân xã Thái Thượng lại nô nức tổ chức hội Đền Hét. Lễ hội gồm hai phần là Phần Lễ và Phần Hội. Phần Lễ diễn ra với nhiều nghi lễ như lễ tế, dâng hương, lễ rước... Phần Hội diễn ra nhộn nhịp với các trò chơi dân gian như đua thuyền, cầu vật, kéo co, vật đô.... và các trò chơi thể thao.

Các thanh nhiên trong làng đang chơi vật cầu

Môn vật đô là một trò không thể thiếu trong phần Hội. Trước đây, chỉ có các trai làng mới được tham gia vật đô, nhưng những năm gần đây thì nhiều đô vật từ khắp các tỉnh thành cũng về tham dự. Đặc biệt, môn vật cầu là do đích thân tướng quân Phạm Ngũ Lão sáng lập ra để giúp quân sỹ rèn luyện sức khỏe.

Sau khi trận đấu kết thúc, đội nào đưa được quả cầu vào bồ của đội mình nhiều lần hơn thì đội đó sẽ giành chiến thắng. Quả cầu này sẽ được các thành viên trong đội chia nhau về trồng trong vườn để cầu may mắn. Môn vật cầu đã trở thành một môn thể theo độc đáo giúp gắn kết cộng đồng, thể hiền tinh thần thượng võ cao.

Related Figures

Lễ hội Chùa Cổ Lễ

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 13/9- 16/9 Âm lịch Lễ Chùa Cổ Lễ là nơi diễn ra nhiều nghi thức văn hóa cổ truyền, tín ngưỡng đạo Phật, thường được tổ chức từ ngày 13-19/09 âm lịch hàng năm. Lễ hội Chùa Cổ Lễ tại Nam Định Chùa Cổ Lễ là một quần thể kiến trúc đạo Phật cổ mang đậm yếu tố kiến trúc gô-tích, tọa lạc tại thị trấn Cổ Lễ- huyện Trực Ninh- tỉnh Nam Định. Trong ngôi chùa này có quả chuông Đại Hồng Chung được hòa thượng Thích Thế Long cho đúc vào năm 1936, và là quả chuông lớn nhất Việt Nam. Chùa Cổ Lễ là một ngôi chùa thờ Phật thế nhưng kiến trúc của nó lại trông giống một thánh đường Thiên Chúa Giáo, bởi kiến trúc của nó là sự kết hợp giữa kiến trúc cổ Việt Nam và các yếu tố kiến trúc Gô-tích của Châu Âu. Trước chùa Cổ Lễ là một ngôi tháp Cửu Phẩm Liên Hoa có chiều cao khoảng 32m được dựng từ năm 1927. Đế tháp được dựng trên lựng một con rùa lớn có đầu quay vào chùa. Con rùa này được đặt giữa một hồ nước hình vuông, bốn góc là bốn ngọn núi giả khá lớn và bốn con voi to như voi thật. Trong lòng tháp có một cầu thang hình xoắn ốc đến đỉnh gồm 98 bậc. Tương truyền răng những tín đồ phật tử và khách hành hương khi lên đến bậc thứ 98 này và sờ được bức tượng trên đỉnh tháp thì cuộc sống sẽ luôn gặp được may mắn. Quả chuông Đại Hồng Chung to nhất Việt Nam Hàng năm, cứ đến ngày 13/9 âm lịch hàng năm, lễ hội chùa Cổ Lễ lại khai hội. Lễ hội thu hút hàng vạn khách xem hội từ khắp tỉnh thành trong nước. Phần lễ có nhiều nghi thức văn hóa cổ truyền như múa rối chầu Thánh tổ, rước Phật... Phần Hội có nhiều trò chơi vui dân gian như tổ điếm tôm, leo cầu ngô, cờ tướng, bơi, thi đấu thể thao... Điều đặc biệt trò bơi chải truyền thống của làng Cổ Lễ, với sự tham gia của 5 cửa họ là Lê, Nguyễn, Phan, Dương Nhất, Dương Nhì. 5 cửa họ gồm 4 chải, trong mỗi ngày, mỗi cửa họ sẽ bốc thăm chọn 1 chài để bắt đầu thi đấu trên một con sông chạy dọc theo địa phận Cổ Lễ. Sau 4 ngày thi đấu sẽ chọn ra một cửa họ nhất hội để trao giải thưởng. Tháp Cửu Phẩm Liên Hoa phía trước chùa Cổ Lễ

Lễ hội Chùa Cổ Lễ tại Nam Định Chùa Cổ Lễ là một quần thể kiến trúc đạo Phật cổ mang đậm yếu tố kiến trúc gô-tích, tọa lạc tại thị trấn Cổ Lễ- huyện Trực Ninh- tỉnh Nam Định. Trong ngôi chùa này có quả chuông Đại Hồng Chung được hòa thượng Thích Thế Long cho đúc vào năm 1936, và là quả chuông lớn nhất Việt Nam. Chùa Cổ Lễ là một ngôi chùa thờ Phật thế nhưng kiến trúc của nó lại trông giống một thánh đường Thiên Chúa Giáo, bởi kiến trúc của nó là sự kết hợp giữa kiến trúc cổ Việt Nam và các yếu tố kiến trúc Gô-tích của Châu Âu. Trước chùa Cổ Lễ là một ngôi tháp Cửu Phẩm Liên Hoa có chiều cao khoảng 32m được dựng từ năm 1927. Đế tháp được dựng trên lựng một con rùa lớn có đầu quay vào chùa. Con rùa này được đặt giữa một hồ nước hình vuông, bốn góc là bốn ngọn núi giả khá lớn và bốn con voi to như voi thật. Trong lòng tháp có một cầu thang hình xoắn ốc đến đỉnh gồm 98 bậc. Tương truyền răng những tín đồ phật tử và khách hành hương khi lên đến bậc thứ 98 này và sờ được bức tượng trên đỉnh tháp thì cuộc sống sẽ luôn gặp được may mắn. Quả chuông Đại Hồng Chung to nhất Việt Nam Hàng năm, cứ đến ngày 13/9 âm lịch hàng năm, lễ hội chùa Cổ Lễ lại khai hội. Lễ hội thu hút hàng vạn khách xem hội từ khắp tỉnh thành trong nước. Phần lễ có nhiều nghi thức văn hóa cổ truyền như múa rối chầu Thánh tổ, rước Phật... Phần Hội có nhiều trò chơi vui dân gian như tổ điếm tôm, leo cầu ngô, cờ tướng, bơi, thi đấu thể thao... Điều đặc biệt trò bơi chải truyền thống của làng Cổ Lễ, với sự tham gia của 5 cửa họ là Lê, Nguyễn, Phan, Dương Nhất, Dương Nhì. 5 cửa họ gồm 4 chải, trong mỗi ngày, mỗi cửa họ sẽ bốc thăm chọn 1 chài để bắt đầu thi đấu trên một con sông chạy dọc theo địa phận Cổ Lễ. Sau 4 ngày thi đấu sẽ chọn ra một cửa họ nhất hội để trao giải thưởng. Tháp Cửu Phẩm Liên Hoa phía trước chùa Cổ Lễ

Chùa Cổ Lễ là một quần thể kiến trúc đạo Phật cổ mang đậm yếu tố kiến trúc gô-tích, tọa lạc tại thị trấn Cổ Lễ- huyện Trực Ninh- tỉnh Nam Định. Trong ngôi chùa này có quả chuông Đại Hồng Chung được hòa thượng Thích Thế Long cho đúc vào năm 1936, và là quả chuông lớn nhất Việt Nam. Chùa Cổ Lễ là một ngôi chùa thờ Phật thế nhưng kiến trúc của nó lại trông giống một thánh đường Thiên Chúa Giáo, bởi kiến trúc của nó là sự kết hợp giữa kiến trúc cổ Việt Nam và các yếu tố kiến trúc Gô-tích của Châu Âu. Trước chùa Cổ Lễ là một ngôi tháp Cửu Phẩm Liên Hoa có chiều cao khoảng 32m được dựng từ năm 1927. Đế tháp được dựng trên lựng một con rùa lớn có đầu quay vào chùa. Con rùa này được đặt giữa một hồ nước hình vuông, bốn góc là bốn ngọn núi giả khá lớn và bốn con voi to như voi thật. Trong lòng tháp có một cầu thang hình xoắn ốc đến đỉnh gồm 98 bậc. Tương truyền răng những tín đồ phật tử và khách hành hương khi lên đến bậc thứ 98 này và sờ được bức tượng trên đỉnh tháp thì cuộc sống sẽ luôn gặp được may mắn. Quả chuông Đại Hồng Chung to nhất Việt Nam Hàng năm, cứ đến ngày 13/9 âm lịch hàng năm, lễ hội chùa Cổ Lễ lại khai hội. Lễ hội thu hút hàng vạn khách xem hội từ khắp tỉnh thành trong nước. Phần lễ có nhiều nghi thức văn hóa cổ truyền như múa rối chầu Thánh tổ, rước Phật... Phần Hội có nhiều trò chơi vui dân gian như tổ điếm tôm, leo cầu ngô, cờ tướng, bơi, thi đấu thể thao... Điều đặc biệt trò bơi chải truyền thống của làng Cổ Lễ, với sự tham gia của 5 cửa họ là Lê, Nguyễn, Phan, Dương Nhất, Dương Nhì. 5 cửa họ gồm 4 chải, trong mỗi ngày, mỗi cửa họ sẽ bốc thăm chọn 1 chài để bắt đầu thi đấu trên một con sông chạy dọc theo địa phận Cổ Lễ. Sau 4 ngày thi đấu sẽ chọn ra một cửa họ nhất hội để trao giải thưởng. Tháp Cửu Phẩm Liên Hoa phía trước chùa Cổ Lễ

Trước chùa Cổ Lễ là một ngôi tháp Cửu Phẩm Liên Hoa có chiều cao khoảng 32m được dựng từ năm 1927. Đế tháp được dựng trên lựng một con rùa lớn có đầu quay vào chùa. Con rùa này được đặt giữa một hồ nước hình vuông, bốn góc là bốn ngọn núi giả khá lớn và bốn con voi to như voi thật. Trong lòng tháp có một cầu thang hình xoắn ốc đến đỉnh gồm 98 bậc. Tương truyền răng những tín đồ phật tử và khách hành hương khi lên đến bậc thứ 98 này và sờ được bức tượng trên đỉnh tháp thì cuộc sống sẽ luôn gặp được may mắn.

Quả chuông Đại Hồng Chung to nhất Việt Nam

Hàng năm, cứ đến ngày 13/9 âm lịch hàng năm, lễ hội chùa Cổ Lễ lại khai hội. Lễ hội thu hút hàng vạn khách xem hội từ khắp tỉnh thành trong nước. Phần lễ có nhiều nghi thức văn hóa cổ truyền như múa rối chầu Thánh tổ, rước Phật... Phần Hội có nhiều trò chơi vui dân gian như tổ điếm tôm, leo cầu ngô, cờ tướng, bơi, thi đấu thể thao... Điều đặc biệt trò bơi chải truyền thống của làng Cổ Lễ, với sự tham gia của 5 cửa họ là Lê, Nguyễn, Phan, Dương Nhất, Dương Nhì. 5 cửa họ gồm 4 chải, trong mỗi ngày, mỗi cửa họ sẽ bốc thăm chọn 1 chài để bắt đầu thi đấu trên một con sông chạy dọc theo địa phận Cổ Lễ. Sau 4 ngày thi đấu sẽ chọn ra một cửa họ nhất hội để trao giải thưởng.

Tháp Cửu Phẩm Liên Hoa phía trước chùa Cổ Lễ

Related Figures

Lễ hội Đôn-ta

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 29/8- 1/9 Âm lịch Lễ hội Đôn-ta là một lễ hội truyền thống của người dân Khmer tại An Giang. Lễ hội này còn được xem là lễ cúng ông bà, có ý nghĩa tương tự lễ Vu Lan của người Việt Nam, hay còn được gọi là lễ "xá tội vong nhân". Lễ hội Đôn-ta nhằm tưởng nhớ đến những bậc sinh thành, những người thân và những người đã khuất, là dịp cầu phúc cho những người đang sống, tạo nên sự gắn bó cộng đồng. Lễ hội Đôn-ta không tưng bừng như lễ hội đầu năm mới Chôl Chnăm Thmây, cũng không náo nức như ngày hội Oóc Omboc, Đôn-ta mang đậm sắc thái văn hóa và tín ngưỡng của người Khmer Nam Bộ. Đây là một lễ hội được tổ chức thường niên, và là lễ hội lớn nhất trong năm của người Khmer. Lễ hội Đôn-ta ở An Giang Hội diễn ra trong ba ngày với nhiều hoạt động văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo và nhiều hoạt động thể hiện phong tục và tập quán của đồng bào Khmer Nam Bộ. Ngày thứ nhất: Các gia đình sẽ dọn dẹp và trang hoàng lại nhà cửa. Lau chùi bàn thờ và trang hoàng lộng lẫy. Bầy bốn bát cơm ngon trên mỗi bàn rồi đốt đèn, các thành viên trong gia đình sẽ cùng cúng. Mọi người sẽ khấn vái rồi rót trà để mời linh hồn ông bà, cha mẹ, những người thân quá cố về ăn uống nghỉ ngơi. Buổi cúng đầu ngày còn gọi là cúng tiếp đón. Buổi chiều, họ sẽ tắm rửa sạch sẽ để cúng linh hồn ông bà, tổ tiên đi vào chùa nghe sư sãi tụng kinh. Ngày thứ hai: Sau khi đã ở chùa trong suốt một ngày - đêm, buổi chiều mọi người sẽ cùng nhau rước linh hồn ông bà từ chùa về nhà để dâng mâm cỗ thịnh soạn mời ở nhà để ông bà chơi với con cháu cho đến khi lễ kết thúc mới đưa trở lại chùa. Ngày thứ ba: Mỗi gia đình sẽ chuẩn mâm thức ăn, bánh trái như ngày đầu để dâng lên ông bà tại nhà trước khi đưa linh hồn những người quá cố ra đi. Vì vậy, buổi cúng này thường gọi là "cúng tiễn đưa". Khi mọi nghi thức cúng vái đã hoàn tất thì cũng đúng là lúc lễ Đôn-ta xem như kết thúc. Lễ Đôn-ta cũng như các lễ hội truyền thống khác của đồng bào Khmer Nam bộ mang đậm văn hóa, phong tục của đồng bào KHmer.. Cho đến ngày nay, đồng bào Khmer đang sinh sống khắp vùng châu thổ sông Cửu Long vẫn sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước. Chính vì thế, những yếu tố này đã tạo thành môi trường thuận lợi để duy trì nền văn hóa của đồng bào Khmer.

Lễ hội Đôn-ta không tưng bừng như lễ hội đầu năm mới Chôl Chnăm Thmây, cũng không náo nức như ngày hội Oóc Omboc, Đôn-ta mang đậm sắc thái văn hóa và tín ngưỡng của người Khmer Nam Bộ. Đây là một lễ hội được tổ chức thường niên, và là lễ hội lớn nhất trong năm của người Khmer.

Lễ hội Đôn-ta ở An Giang Hội diễn ra trong ba ngày với nhiều hoạt động văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo và nhiều hoạt động thể hiện phong tục và tập quán của đồng bào Khmer Nam Bộ. Ngày thứ nhất: Các gia đình sẽ dọn dẹp và trang hoàng lại nhà cửa. Lau chùi bàn thờ và trang hoàng lộng lẫy. Bầy bốn bát cơm ngon trên mỗi bàn rồi đốt đèn, các thành viên trong gia đình sẽ cùng cúng. Mọi người sẽ khấn vái rồi rót trà để mời linh hồn ông bà, cha mẹ, những người thân quá cố về ăn uống nghỉ ngơi. Buổi cúng đầu ngày còn gọi là cúng tiếp đón. Buổi chiều, họ sẽ tắm rửa sạch sẽ để cúng linh hồn ông bà, tổ tiên đi vào chùa nghe sư sãi tụng kinh. Ngày thứ hai: Sau khi đã ở chùa trong suốt một ngày - đêm, buổi chiều mọi người sẽ cùng nhau rước linh hồn ông bà từ chùa về nhà để dâng mâm cỗ thịnh soạn mời ở nhà để ông bà chơi với con cháu cho đến khi lễ kết thúc mới đưa trở lại chùa. Ngày thứ ba: Mỗi gia đình sẽ chuẩn mâm thức ăn, bánh trái như ngày đầu để dâng lên ông bà tại nhà trước khi đưa linh hồn những người quá cố ra đi. Vì vậy, buổi cúng này thường gọi là "cúng tiễn đưa". Khi mọi nghi thức cúng vái đã hoàn tất thì cũng đúng là lúc lễ Đôn-ta xem như kết thúc. Lễ Đôn-ta cũng như các lễ hội truyền thống khác của đồng bào Khmer Nam bộ mang đậm văn hóa, phong tục của đồng bào KHmer.. Cho đến ngày nay, đồng bào Khmer đang sinh sống khắp vùng châu thổ sông Cửu Long vẫn sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước. Chính vì thế, những yếu tố này đã tạo thành môi trường thuận lợi để duy trì nền văn hóa của đồng bào Khmer.

Lễ hội Đôn-ta ở An Giang

Hội diễn ra trong ba ngày với nhiều hoạt động văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo và nhiều hoạt động thể hiện phong tục và tập quán của đồng bào Khmer Nam Bộ.

Ngày thứ nhất: Các gia đình sẽ dọn dẹp và trang hoàng lại nhà cửa. Lau chùi bàn thờ và trang hoàng lộng lẫy. Bầy bốn bát cơm ngon trên mỗi bàn rồi đốt đèn, các thành viên trong gia đình sẽ cùng cúng. Mọi người sẽ khấn vái rồi rót trà để mời linh hồn ông bà, cha mẹ, những người thân quá cố về ăn uống nghỉ ngơi. Buổi cúng đầu ngày còn gọi là cúng tiếp đón. Buổi chiều, họ sẽ tắm rửa sạch sẽ để cúng linh hồn ông bà, tổ tiên đi vào chùa nghe sư sãi tụng kinh. Ngày thứ hai: Sau khi đã ở chùa trong suốt một ngày - đêm, buổi chiều mọi người sẽ cùng nhau rước linh hồn ông bà từ chùa về nhà để dâng mâm cỗ thịnh soạn mời ở nhà để ông bà chơi với con cháu cho đến khi lễ kết thúc mới đưa trở lại chùa. Ngày thứ ba: Mỗi gia đình sẽ chuẩn mâm thức ăn, bánh trái như ngày đầu để dâng lên ông bà tại nhà trước khi đưa linh hồn những người quá cố ra đi. Vì vậy, buổi cúng này thường gọi là "cúng tiễn đưa". Khi mọi nghi thức cúng vái đã hoàn tất thì cũng đúng là lúc lễ Đôn-ta xem như kết thúc. Lễ Đôn-ta cũng như các lễ hội truyền thống khác của đồng bào Khmer Nam bộ mang đậm văn hóa, phong tục của đồng bào KHmer.. Cho đến ngày nay, đồng bào Khmer đang sinh sống khắp vùng châu thổ sông Cửu Long vẫn sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước. Chính vì thế, những yếu tố này đã tạo thành môi trường thuận lợi để duy trì nền văn hóa của đồng bào Khmer.

Ngày thứ nhất: Các gia đình sẽ dọn dẹp và trang hoàng lại nhà cửa. Lau chùi bàn thờ và trang hoàng lộng lẫy. Bầy bốn bát cơm ngon trên mỗi bàn rồi đốt đèn, các thành viên trong gia đình sẽ cùng cúng. Mọi người sẽ khấn vái rồi rót trà để mời linh hồn ông bà, cha mẹ, những người thân quá cố về ăn uống nghỉ ngơi. Buổi cúng đầu ngày còn gọi là cúng tiếp đón. Buổi chiều, họ sẽ tắm rửa sạch sẽ để cúng linh hồn ông bà, tổ tiên đi vào chùa nghe sư sãi tụng kinh. Ngày thứ hai: Sau khi đã ở chùa trong suốt một ngày - đêm, buổi chiều mọi người sẽ cùng nhau rước linh hồn ông bà từ chùa về nhà để dâng mâm cỗ thịnh soạn mời ở nhà để ông bà chơi với con cháu cho đến khi lễ kết thúc mới đưa trở lại chùa. Ngày thứ ba: Mỗi gia đình sẽ chuẩn mâm thức ăn, bánh trái như ngày đầu để dâng lên ông bà tại nhà trước khi đưa linh hồn những người quá cố ra đi. Vì vậy, buổi cúng này thường gọi là "cúng tiễn đưa". Khi mọi nghi thức cúng vái đã hoàn tất thì cũng đúng là lúc lễ Đôn-ta xem như kết thúc. Lễ Đôn-ta cũng như các lễ hội truyền thống khác của đồng bào Khmer Nam bộ mang đậm văn hóa, phong tục của đồng bào KHmer.. Cho đến ngày nay, đồng bào Khmer đang sinh sống khắp vùng châu thổ sông Cửu Long vẫn sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước. Chính vì thế, những yếu tố này đã tạo thành môi trường thuận lợi để duy trì nền văn hóa của đồng bào Khmer.

Lễ Đôn-ta cũng như các lễ hội truyền thống khác của đồng bào Khmer Nam bộ mang đậm văn hóa, phong tục của đồng bào KHmer.. Cho đến ngày nay, đồng bào Khmer đang sinh sống khắp vùng châu thổ sông Cửu Long vẫn sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước. Chính vì thế, những yếu tố này đã tạo thành môi trường thuận lợi để duy trì nền văn hóa của đồng bào Khmer.

Lễ Đôn-ta cũng như các lễ hội truyền thống khác của đồng bào Khmer Nam bộ mang đậm văn hóa, phong tục của đồng bào KHmer.. Cho đến ngày nay, đồng bào Khmer đang sinh sống khắp vùng châu thổ sông Cửu Long vẫn sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước. Chính vì thế, những yếu tố này đã tạo thành môi trường thuận lợi để duy trì nền văn hóa của đồng bào Khmer.

Related Figures

Hội Yến Diêu Trì Cung - Tây Ninh

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/8- 16/8 Âm lịch Hội Yến Diêu Trì Cung - Tây Ninh là một lễ hội lớn của những tín đồ Cao Đài thường tổ chức vào mỗi dịp trung thu. không phải ai cũng biết tới lễ hội nay, nhưng nếu bạn đến Tây Ninh một tuần trước ngày tết Trung thu thì chắc chắn bạn sẽ cảm nhận được không khí náo nhiệt của nơi đây. Hội Yến Diêu Trì Cung ở Tây Ninh Trước khi diễn ra lễ hội, hội thánh sẽ cho sửa sang lại cây cảnh, chậu hoa, dường xá... Họ còn trai trí lại cổng lớn, dựng các nhà rạp xung quanh điện thờ Phật Mẫu để phục vụ các tín đồ và du khách về dự lễ. Điểm ấn tượng của lễ hội này đó là những tín đồ của Cao Đài sẽ tự nguyện về tòa thánh để làm công quả, làm các công việc chuẩn bị cho lễ hội. Theo những tín đồ của Cao Đài, rằm tháng Tám là cơ hội để họ làm việc phúc đức nên thường họ không tính toán hay so đo việc với người khác. Địa điểm tổ chức Lễ hội Yến Diêu Trì Cung là tại Báo Ân Từ (Nội Ô tòa thánh Tây Ninh). Đây là nơi thờ Đức Phật Mẫu tạm thời, còn điện chính cách tòa thánh khoảng 2 km về phía Bắc. Hội Yến Diêu Trì Cung là một lễ hội lớn của tín đồ Cao Đài ở Tây Ninh Vào ngày hội, các địa phương Châu Đạo, Tộc Đạo, Trấn Đạo... hoặc các cơ quan sẽ đăng ký các đề tài triển lãm trước sân Báo Ân Từ. Triển lãm này diễn ra 1 tuần trước khi diễn ra lễ hội chính. Thời gian này, du khách thập phương sẽ chuẩn bị lễ hòa quyện với nhau tạo nên một khung cảnh nhộn nhịp ở trước Nội Ô Tòa Thánh và Báo Ân Từ. Đêm ngày 15, rạng sáng ngày 16/08 âm lịch là thời gian chính hội. Vào lúc 18h06 ngày 15 sẽ tiến hành cúng thời Dậu. Sau đó, cuộc biểu diễn của Tứ Linh sẽ bắt đầu. Tiếp theo sẽ là Cộ của Phật Mẫu và Cửu Vị Tiên Nương để các tín đồ và du khách được chiêm ngưỡng. Đoàn sẽ xuất phát từ Ban Thuyền Bát Nhã qua Báo Ân Từ, tới Đền Thánh, Đại Đồng Xã... cuối cùng quay về điểm xuất phát. Cùng với đoàn múa tứ linh, lồng đèn của các thiếu niên nhi đồng đã tạo nên một khung cảnh lung linh đầy màu sắc. Khoảng 21h thì đoàn múa và Cộ kết thúc và lễ hội Yến trong nội điện Báo Ấn Từ cũng chính thức bắt đầu. Hội Yến Diêu Trì Cung thu hút nhiều du khách thập phương về xem hội Các chức sức Hiệp Thiên Đài sẽ chịu trách nhiệm thực hiện các nghi lễ. Cho tới 24h thì lễ hội Yến trong nội điện sẽ kết thúc. Số quả phẩm sẽ được chia cho khách xem hội, với niềm tin nhận lộc của Phật Mẫu ban để có được cuộc sống tốt đẹp, bình an và hạnh phúc. Một phần quả phẩm sẽ được ban tổ chức để dành lại để hội thánh Cao Đài chiêu đãi thiếu nhi tại trai đường vào buổi sáng ngày hôm sau.

Hội Yến Diêu Trì Cung ở Tây Ninh Trước khi diễn ra lễ hội, hội thánh sẽ cho sửa sang lại cây cảnh, chậu hoa, dường xá... Họ còn trai trí lại cổng lớn, dựng các nhà rạp xung quanh điện thờ Phật Mẫu để phục vụ các tín đồ và du khách về dự lễ. Điểm ấn tượng của lễ hội này đó là những tín đồ của Cao Đài sẽ tự nguyện về tòa thánh để làm công quả, làm các công việc chuẩn bị cho lễ hội. Theo những tín đồ của Cao Đài, rằm tháng Tám là cơ hội để họ làm việc phúc đức nên thường họ không tính toán hay so đo việc với người khác. Địa điểm tổ chức Lễ hội Yến Diêu Trì Cung là tại Báo Ân Từ (Nội Ô tòa thánh Tây Ninh). Đây là nơi thờ Đức Phật Mẫu tạm thời, còn điện chính cách tòa thánh khoảng 2 km về phía Bắc. Hội Yến Diêu Trì Cung là một lễ hội lớn của tín đồ Cao Đài ở Tây Ninh Vào ngày hội, các địa phương Châu Đạo, Tộc Đạo, Trấn Đạo... hoặc các cơ quan sẽ đăng ký các đề tài triển lãm trước sân Báo Ân Từ. Triển lãm này diễn ra 1 tuần trước khi diễn ra lễ hội chính. Thời gian này, du khách thập phương sẽ chuẩn bị lễ hòa quyện với nhau tạo nên một khung cảnh nhộn nhịp ở trước Nội Ô Tòa Thánh và Báo Ân Từ. Đêm ngày 15, rạng sáng ngày 16/08 âm lịch là thời gian chính hội. Vào lúc 18h06 ngày 15 sẽ tiến hành cúng thời Dậu. Sau đó, cuộc biểu diễn của Tứ Linh sẽ bắt đầu. Tiếp theo sẽ là Cộ của Phật Mẫu và Cửu Vị Tiên Nương để các tín đồ và du khách được chiêm ngưỡng. Đoàn sẽ xuất phát từ Ban Thuyền Bát Nhã qua Báo Ân Từ, tới Đền Thánh, Đại Đồng Xã... cuối cùng quay về điểm xuất phát. Cùng với đoàn múa tứ linh, lồng đèn của các thiếu niên nhi đồng đã tạo nên một khung cảnh lung linh đầy màu sắc. Khoảng 21h thì đoàn múa và Cộ kết thúc và lễ hội Yến trong nội điện Báo Ấn Từ cũng chính thức bắt đầu. Hội Yến Diêu Trì Cung thu hút nhiều du khách thập phương về xem hội Các chức sức Hiệp Thiên Đài sẽ chịu trách nhiệm thực hiện các nghi lễ. Cho tới 24h thì lễ hội Yến trong nội điện sẽ kết thúc. Số quả phẩm sẽ được chia cho khách xem hội, với niềm tin nhận lộc của Phật Mẫu ban để có được cuộc sống tốt đẹp, bình an và hạnh phúc. Một phần quả phẩm sẽ được ban tổ chức để dành lại để hội thánh Cao Đài chiêu đãi thiếu nhi tại trai đường vào buổi sáng ngày hôm sau.

Trước khi diễn ra lễ hội, hội thánh sẽ cho sửa sang lại cây cảnh, chậu hoa, dường xá... Họ còn trai trí lại cổng lớn, dựng các nhà rạp xung quanh điện thờ Phật Mẫu để phục vụ các tín đồ và du khách về dự lễ. Điểm ấn tượng của lễ hội này đó là những tín đồ của Cao Đài sẽ tự nguyện về tòa thánh để làm công quả, làm các công việc chuẩn bị cho lễ hội. Theo những tín đồ của Cao Đài, rằm tháng Tám là cơ hội để họ làm việc phúc đức nên thường họ không tính toán hay so đo việc với người khác. Địa điểm tổ chức Lễ hội Yến Diêu Trì Cung là tại Báo Ân Từ (Nội Ô tòa thánh Tây Ninh). Đây là nơi thờ Đức Phật Mẫu tạm thời, còn điện chính cách tòa thánh khoảng 2 km về phía Bắc. Hội Yến Diêu Trì Cung là một lễ hội lớn của tín đồ Cao Đài ở Tây Ninh Vào ngày hội, các địa phương Châu Đạo, Tộc Đạo, Trấn Đạo... hoặc các cơ quan sẽ đăng ký các đề tài triển lãm trước sân Báo Ân Từ. Triển lãm này diễn ra 1 tuần trước khi diễn ra lễ hội chính. Thời gian này, du khách thập phương sẽ chuẩn bị lễ hòa quyện với nhau tạo nên một khung cảnh nhộn nhịp ở trước Nội Ô Tòa Thánh và Báo Ân Từ. Đêm ngày 15, rạng sáng ngày 16/08 âm lịch là thời gian chính hội. Vào lúc 18h06 ngày 15 sẽ tiến hành cúng thời Dậu. Sau đó, cuộc biểu diễn của Tứ Linh sẽ bắt đầu. Tiếp theo sẽ là Cộ của Phật Mẫu và Cửu Vị Tiên Nương để các tín đồ và du khách được chiêm ngưỡng. Đoàn sẽ xuất phát từ Ban Thuyền Bát Nhã qua Báo Ân Từ, tới Đền Thánh, Đại Đồng Xã... cuối cùng quay về điểm xuất phát. Cùng với đoàn múa tứ linh, lồng đèn của các thiếu niên nhi đồng đã tạo nên một khung cảnh lung linh đầy màu sắc. Khoảng 21h thì đoàn múa và Cộ kết thúc và lễ hội Yến trong nội điện Báo Ấn Từ cũng chính thức bắt đầu. Hội Yến Diêu Trì Cung thu hút nhiều du khách thập phương về xem hội Các chức sức Hiệp Thiên Đài sẽ chịu trách nhiệm thực hiện các nghi lễ. Cho tới 24h thì lễ hội Yến trong nội điện sẽ kết thúc. Số quả phẩm sẽ được chia cho khách xem hội, với niềm tin nhận lộc của Phật Mẫu ban để có được cuộc sống tốt đẹp, bình an và hạnh phúc. Một phần quả phẩm sẽ được ban tổ chức để dành lại để hội thánh Cao Đài chiêu đãi thiếu nhi tại trai đường vào buổi sáng ngày hôm sau.

Địa điểm tổ chức Lễ hội Yến Diêu Trì Cung là tại Báo Ân Từ (Nội Ô tòa thánh Tây Ninh). Đây là nơi thờ Đức Phật Mẫu tạm thời, còn điện chính cách tòa thánh khoảng 2 km về phía Bắc.

Hội Yến Diêu Trì Cung là một lễ hội lớn của tín đồ Cao Đài ở Tây Ninh

Vào ngày hội, các địa phương Châu Đạo, Tộc Đạo, Trấn Đạo... hoặc các cơ quan sẽ đăng ký các đề tài triển lãm trước sân Báo Ân Từ. Triển lãm này diễn ra 1 tuần trước khi diễn ra lễ hội chính. Thời gian này, du khách thập phương sẽ chuẩn bị lễ hòa quyện với nhau tạo nên một khung cảnh nhộn nhịp ở trước Nội Ô Tòa Thánh và Báo Ân Từ. Đêm ngày 15, rạng sáng ngày 16/08 âm lịch là thời gian chính hội. Vào lúc 18h06 ngày 15 sẽ tiến hành cúng thời Dậu. Sau đó, cuộc biểu diễn của Tứ Linh sẽ bắt đầu. Tiếp theo sẽ là Cộ của Phật Mẫu và Cửu Vị Tiên Nương để các tín đồ và du khách được chiêm ngưỡng. Đoàn sẽ xuất phát từ Ban Thuyền Bát Nhã qua Báo Ân Từ, tới Đền Thánh, Đại Đồng Xã... cuối cùng quay về điểm xuất phát. Cùng với đoàn múa tứ linh, lồng đèn của các thiếu niên nhi đồng đã tạo nên một khung cảnh lung linh đầy màu sắc. Khoảng 21h thì đoàn múa và Cộ kết thúc và lễ hội Yến trong nội điện Báo Ấn Từ cũng chính thức bắt đầu. Hội Yến Diêu Trì Cung thu hút nhiều du khách thập phương về xem hội Các chức sức Hiệp Thiên Đài sẽ chịu trách nhiệm thực hiện các nghi lễ. Cho tới 24h thì lễ hội Yến trong nội điện sẽ kết thúc. Số quả phẩm sẽ được chia cho khách xem hội, với niềm tin nhận lộc của Phật Mẫu ban để có được cuộc sống tốt đẹp, bình an và hạnh phúc. Một phần quả phẩm sẽ được ban tổ chức để dành lại để hội thánh Cao Đài chiêu đãi thiếu nhi tại trai đường vào buổi sáng ngày hôm sau.

Related Figures

Hội làng Cao Đài

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 22/7 Âm lịch Hội làng Cao Đài diễn ra tại làng Cao Đài, xã Mỹ Thành, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Hàng năm, vào ngày 22 tháng 7 âm lịch, dân làng Cao Đài tổ chức lễ hội tưng bừng và uy nghi để tưởng niệm ngày húy kị của Thái sư Trần Quang Khải. Tưng bừng lễ hội làng Cao Đài Theo các tài liệu lịch sử, năm 1271 vua Trần ban cấp vùng đất (sau đó được đặt tên là Cao Đài) cho Trần Quang Khải làm thái ấp, Trần Quang Khải cùng công chúa Phụng Dương đến đây tổ chức cuộc sống. Tương truyền, công chúa Phụng Dương là người chăm lo tổ chức, duy trì và phát triển các hình thức sinh hoạt văn hóa truyền thống trong thái ấp. Sau khi Thái sưTrần Quang Khải và công chúa Phụng Dương qua đời, người dân Cao Đài mở lễ hội hàng năm vào hạ tuần tháng 7 để tưởng nhớ công đức. Người dân tham gia lễ hội làng Cao Đài Trong tiếng trống,tiếng chiêng âm vang, trai tráng trong làng rước kiệu ông, gái làng rước kiệu bà từ đình làng xuống bến hồ, bến Đình rồi quay trở lại đình làng. Trong lễ hội còn diễn ra các hoạt động sôi nổi khác như: bắt vịt (thể hiện sự nhanh nhẹn và khôn khéo của nghề săn bắt truyền thống), đấu vật, bơi trải, dệt vải và thi nấu cơm. Đình làng Cao Đài nơi tổ chức lễ hội Phần thi nấu cơm dành cho các cô gái chưa chồng trong làng, giám khảo là các lão nông có uy tín, do một chủ khảo điều hành. Các cô gái tham gia hội thi đi chân trần, mặc váy lụa đen, áo tứ thân, đầu quấn khăn màu, yếm thắm ngang lưng thắt dải lụa màu, mang đầy đủ các thứ cần thiết cho cuộc thi như quang gánh, đóm bằng tre phơi khô, hũ sành đựng sẵn nước, bùi nhùi rơi… Sau hồi trống lệnh, các cô gái bắt đầu gánh quang gánh trên vai đi vòng quanh trường thi làm động tác nấu cơm. Theo quy định gánh trên vai phải thật cân thận, tay không được giữ vào gánh. Sau đó lấy gạo, rót nước từ hũ ra vo không được để rơi gạo, nếu rơi sẽ bị loại. Sau đó, rót nước vào niêu không được rơi giọt nào xuống đất nêu không đạt cũng bị loại. Sau khi cho gạo vào niêu, các cô gái nhảy quanh quang gánh chuyển bếp từ phía sau về phía trước rồi thổi bùi nhùi, hơ đóm và châm lửa. Từ đầu cho tới khi cơm chín, các cô gái chỉ được dùng đũa cả 3 lần.

Tưng bừng lễ hội làng Cao Đài Theo các tài liệu lịch sử, năm 1271 vua Trần ban cấp vùng đất (sau đó được đặt tên là Cao Đài) cho Trần Quang Khải làm thái ấp, Trần Quang Khải cùng công chúa Phụng Dương đến đây tổ chức cuộc sống. Tương truyền, công chúa Phụng Dương là người chăm lo tổ chức, duy trì và phát triển các hình thức sinh hoạt văn hóa truyền thống trong thái ấp. Sau khi Thái sưTrần Quang Khải và công chúa Phụng Dương qua đời, người dân Cao Đài mở lễ hội hàng năm vào hạ tuần tháng 7 để tưởng nhớ công đức. Người dân tham gia lễ hội làng Cao Đài Trong tiếng trống,tiếng chiêng âm vang, trai tráng trong làng rước kiệu ông, gái làng rước kiệu bà từ đình làng xuống bến hồ, bến Đình rồi quay trở lại đình làng. Trong lễ hội còn diễn ra các hoạt động sôi nổi khác như: bắt vịt (thể hiện sự nhanh nhẹn và khôn khéo của nghề săn bắt truyền thống), đấu vật, bơi trải, dệt vải và thi nấu cơm. Đình làng Cao Đài nơi tổ chức lễ hội Phần thi nấu cơm dành cho các cô gái chưa chồng trong làng, giám khảo là các lão nông có uy tín, do một chủ khảo điều hành. Các cô gái tham gia hội thi đi chân trần, mặc váy lụa đen, áo tứ thân, đầu quấn khăn màu, yếm thắm ngang lưng thắt dải lụa màu, mang đầy đủ các thứ cần thiết cho cuộc thi như quang gánh, đóm bằng tre phơi khô, hũ sành đựng sẵn nước, bùi nhùi rơi… Sau hồi trống lệnh, các cô gái bắt đầu gánh quang gánh trên vai đi vòng quanh trường thi làm động tác nấu cơm. Theo quy định gánh trên vai phải thật cân thận, tay không được giữ vào gánh. Sau đó lấy gạo, rót nước từ hũ ra vo không được để rơi gạo, nếu rơi sẽ bị loại. Sau đó, rót nước vào niêu không được rơi giọt nào xuống đất nêu không đạt cũng bị loại. Sau khi cho gạo vào niêu, các cô gái nhảy quanh quang gánh chuyển bếp từ phía sau về phía trước rồi thổi bùi nhùi, hơ đóm và châm lửa. Từ đầu cho tới khi cơm chín, các cô gái chỉ được dùng đũa cả 3 lần.

Theo các tài liệu lịch sử, năm 1271 vua Trần ban cấp vùng đất (sau đó được đặt tên là Cao Đài) cho Trần Quang Khải làm thái ấp, Trần Quang Khải cùng công chúa Phụng Dương đến đây tổ chức cuộc sống. Tương truyền, công chúa Phụng Dương là người chăm lo tổ chức, duy trì và phát triển các hình thức sinh hoạt văn hóa truyền thống trong thái ấp. Sau khi Thái sưTrần Quang Khải và công chúa Phụng Dương qua đời, người dân Cao Đài mở lễ hội hàng năm vào hạ tuần tháng 7 để tưởng nhớ công đức. Người dân tham gia lễ hội làng Cao Đài Trong tiếng trống,tiếng chiêng âm vang, trai tráng trong làng rước kiệu ông, gái làng rước kiệu bà từ đình làng xuống bến hồ, bến Đình rồi quay trở lại đình làng. Trong lễ hội còn diễn ra các hoạt động sôi nổi khác như: bắt vịt (thể hiện sự nhanh nhẹn và khôn khéo của nghề săn bắt truyền thống), đấu vật, bơi trải, dệt vải và thi nấu cơm. Đình làng Cao Đài nơi tổ chức lễ hội Phần thi nấu cơm dành cho các cô gái chưa chồng trong làng, giám khảo là các lão nông có uy tín, do một chủ khảo điều hành. Các cô gái tham gia hội thi đi chân trần, mặc váy lụa đen, áo tứ thân, đầu quấn khăn màu, yếm thắm ngang lưng thắt dải lụa màu, mang đầy đủ các thứ cần thiết cho cuộc thi như quang gánh, đóm bằng tre phơi khô, hũ sành đựng sẵn nước, bùi nhùi rơi… Sau hồi trống lệnh, các cô gái bắt đầu gánh quang gánh trên vai đi vòng quanh trường thi làm động tác nấu cơm. Theo quy định gánh trên vai phải thật cân thận, tay không được giữ vào gánh. Sau đó lấy gạo, rót nước từ hũ ra vo không được để rơi gạo, nếu rơi sẽ bị loại. Sau đó, rót nước vào niêu không được rơi giọt nào xuống đất nêu không đạt cũng bị loại. Sau khi cho gạo vào niêu, các cô gái nhảy quanh quang gánh chuyển bếp từ phía sau về phía trước rồi thổi bùi nhùi, hơ đóm và châm lửa. Từ đầu cho tới khi cơm chín, các cô gái chỉ được dùng đũa cả 3 lần.

Người dân tham gia lễ hội làng Cao Đài Trong tiếng trống,tiếng chiêng âm vang, trai tráng trong làng rước kiệu ông, gái làng rước kiệu bà từ đình làng xuống bến hồ, bến Đình rồi quay trở lại đình làng. Trong lễ hội còn diễn ra các hoạt động sôi nổi khác như: bắt vịt (thể hiện sự nhanh nhẹn và khôn khéo của nghề săn bắt truyền thống), đấu vật, bơi trải, dệt vải và thi nấu cơm. Đình làng Cao Đài nơi tổ chức lễ hội Phần thi nấu cơm dành cho các cô gái chưa chồng trong làng, giám khảo là các lão nông có uy tín, do một chủ khảo điều hành. Các cô gái tham gia hội thi đi chân trần, mặc váy lụa đen, áo tứ thân, đầu quấn khăn màu, yếm thắm ngang lưng thắt dải lụa màu, mang đầy đủ các thứ cần thiết cho cuộc thi như quang gánh, đóm bằng tre phơi khô, hũ sành đựng sẵn nước, bùi nhùi rơi… Sau hồi trống lệnh, các cô gái bắt đầu gánh quang gánh trên vai đi vòng quanh trường thi làm động tác nấu cơm. Theo quy định gánh trên vai phải thật cân thận, tay không được giữ vào gánh. Sau đó lấy gạo, rót nước từ hũ ra vo không được để rơi gạo, nếu rơi sẽ bị loại. Sau đó, rót nước vào niêu không được rơi giọt nào xuống đất nêu không đạt cũng bị loại. Sau khi cho gạo vào niêu, các cô gái nhảy quanh quang gánh chuyển bếp từ phía sau về phía trước rồi thổi bùi nhùi, hơ đóm và châm lửa. Từ đầu cho tới khi cơm chín, các cô gái chỉ được dùng đũa cả 3 lần.

Người dân tham gia lễ hội làng Cao Đài

Trong tiếng trống,tiếng chiêng âm vang, trai tráng trong làng rước kiệu ông, gái làng rước kiệu bà từ đình làng xuống bến hồ, bến Đình rồi quay trở lại đình làng. Trong lễ hội còn diễn ra các hoạt động sôi nổi khác như: bắt vịt (thể hiện sự nhanh nhẹn và khôn khéo của nghề săn bắt truyền thống), đấu vật, bơi trải, dệt vải và thi nấu cơm. Đình làng Cao Đài nơi tổ chức lễ hội Phần thi nấu cơm dành cho các cô gái chưa chồng trong làng, giám khảo là các lão nông có uy tín, do một chủ khảo điều hành. Các cô gái tham gia hội thi đi chân trần, mặc váy lụa đen, áo tứ thân, đầu quấn khăn màu, yếm thắm ngang lưng thắt dải lụa màu, mang đầy đủ các thứ cần thiết cho cuộc thi như quang gánh, đóm bằng tre phơi khô, hũ sành đựng sẵn nước, bùi nhùi rơi… Sau hồi trống lệnh, các cô gái bắt đầu gánh quang gánh trên vai đi vòng quanh trường thi làm động tác nấu cơm. Theo quy định gánh trên vai phải thật cân thận, tay không được giữ vào gánh. Sau đó lấy gạo, rót nước từ hũ ra vo không được để rơi gạo, nếu rơi sẽ bị loại. Sau đó, rót nước vào niêu không được rơi giọt nào xuống đất nêu không đạt cũng bị loại. Sau khi cho gạo vào niêu, các cô gái nhảy quanh quang gánh chuyển bếp từ phía sau về phía trước rồi thổi bùi nhùi, hơ đóm và châm lửa. Từ đầu cho tới khi cơm chín, các cô gái chỉ được dùng đũa cả 3 lần.

Trong tiếng trống,tiếng chiêng âm vang, trai tráng trong làng rước kiệu ông, gái làng rước kiệu bà từ đình làng xuống bến hồ, bến Đình rồi quay trở lại đình làng. Trong lễ hội còn diễn ra các hoạt động sôi nổi khác như: bắt vịt (thể hiện sự nhanh nhẹn và khôn khéo của nghề săn bắt truyền thống), đấu vật, bơi trải, dệt vải và thi nấu cơm.

Đình làng Cao Đài nơi tổ chức lễ hội

Phần thi nấu cơm dành cho các cô gái chưa chồng trong làng, giám khảo là các lão nông có uy tín, do một chủ khảo điều hành. Các cô gái tham gia hội thi đi chân trần, mặc váy lụa đen, áo tứ thân, đầu quấn khăn màu, yếm thắm ngang lưng thắt dải lụa màu, mang đầy đủ các thứ cần thiết cho cuộc thi như quang gánh, đóm bằng tre phơi khô, hũ sành đựng sẵn nước, bùi nhùi rơi… Sau hồi trống lệnh, các cô gái bắt đầu gánh quang gánh trên vai đi vòng quanh trường thi làm động tác nấu cơm. Theo quy định gánh trên vai phải thật cân thận, tay không được giữ vào gánh. Sau đó lấy gạo, rót nước từ hũ ra vo không được để rơi gạo, nếu rơi sẽ bị loại. Sau đó, rót nước vào niêu không được rơi giọt nào xuống đất nêu không đạt cũng bị loại. Sau khi cho gạo vào niêu, các cô gái nhảy quanh quang gánh chuyển bếp từ phía sau về phía trước rồi thổi bùi nhùi, hơ đóm và châm lửa. Từ đầu cho tới khi cơm chín, các cô gái chỉ được dùng đũa cả 3 lần.

Related Figures

Ngày hội du lịch - Đêm Hoa Đăng Ninh Kiều

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 19/8- 21/8 Dương lịch Ngày hội du lịch - Đêm Hoa Đăng Ninh Kiều tại Cần Thơ được tổ chức lần đầu tiên vào năm 2017. Lễ hội này diễn ra từ ngày 19-21/08, tại thành phố Cần Thơ, với số lượng du khách lên tới hàng nghìn người từ khắp các vùng miền trong nước, và khách quốc tế. Đêm Hoa Đăng Ninh Kiều được tổ chức lần đầu tiên vào những ngày cuối tháng 8 Đêm hoa đăng Ninh Kiều được tổ chức cùng dịp Hội nghị cấp cao APEC năm 2017. Với số lượng hoa đăng từ 50-60 chiếc, được trang trí dọc theo con rạch Khai Luông, đã thực sự mang đến một khủng cảnh hoàng tráng và rực rỡ của đêm hội, tạo nên điểm nhấn cho phát triển du lịch của Cần Thơ. Năm trong khuôn khổ ngày hội này còn có Hội thi hoa đăng Ninh Kiều, là nơi hội tụ và tỏa sáng của những nghệ nhân biểu diễn đờn ca tài tử, hay giải đua thuyền, gian hàng trưng bày các loại bánh ẩm thực dân gian cùng các trò chơi dân gian đặc sắc... Cầu đi bộ Ninh Kiều vào ban đêm Ngoài những chiếc hoa đăng được thả trong lễ khai mạc hội còn có khoảng 200 hoa đăng nhỏ dành riêng cho các vị đại biểu thả. Những chiếc hoa đăng này sẽ được trưng bày cho đến hết ngày 28/08, để du khách có cơ hội chiêm ngưỡng, chụp ảnh, đồng thời thưởng thức nghệ thuật đờn ca tài tử trên sông. Đêm Hoa đăng Ninh Kiều là dịp để UBND thành phố Cần Thơ quảng báo hình ảnh, văn hóa và con người Ninh Kiều và Cần Thơ đến với du khách. Đồng thời, xây dựng không gian vui chơi giải trí cho cộng đồng, góp phần tạo nên điểm nhấn trong các chuỗi sự kiện và lễ hội của Cần Thơ. Hình ảnh những chiếc hoa đăng được thả trên sông lung linh sắc màu Cũng trong dịp này, tại công viên Ninh Kiều, Bến Ninh Kiều cũng diễn ra các hoạt động văn hóa, văn nghệ và du lịch như thư pháp, quảng bá và xúc tiến du lịch, ký họa chân dung, trình diễn làm bánh ẩm thực, triển lãm ảnh theo chủ đề "Ninh Kiều - Cần Thơ xưa và nay".

Đêm Hoa Đăng Ninh Kiều được tổ chức lần đầu tiên vào những ngày cuối tháng 8 Đêm hoa đăng Ninh Kiều được tổ chức cùng dịp Hội nghị cấp cao APEC năm 2017. Với số lượng hoa đăng từ 50-60 chiếc, được trang trí dọc theo con rạch Khai Luông, đã thực sự mang đến một khủng cảnh hoàng tráng và rực rỡ của đêm hội, tạo nên điểm nhấn cho phát triển du lịch của Cần Thơ. Năm trong khuôn khổ ngày hội này còn có Hội thi hoa đăng Ninh Kiều, là nơi hội tụ và tỏa sáng của những nghệ nhân biểu diễn đờn ca tài tử, hay giải đua thuyền, gian hàng trưng bày các loại bánh ẩm thực dân gian cùng các trò chơi dân gian đặc sắc... Cầu đi bộ Ninh Kiều vào ban đêm Ngoài những chiếc hoa đăng được thả trong lễ khai mạc hội còn có khoảng 200 hoa đăng nhỏ dành riêng cho các vị đại biểu thả. Những chiếc hoa đăng này sẽ được trưng bày cho đến hết ngày 28/08, để du khách có cơ hội chiêm ngưỡng, chụp ảnh, đồng thời thưởng thức nghệ thuật đờn ca tài tử trên sông. Đêm Hoa đăng Ninh Kiều là dịp để UBND thành phố Cần Thơ quảng báo hình ảnh, văn hóa và con người Ninh Kiều và Cần Thơ đến với du khách. Đồng thời, xây dựng không gian vui chơi giải trí cho cộng đồng, góp phần tạo nên điểm nhấn trong các chuỗi sự kiện và lễ hội của Cần Thơ. Hình ảnh những chiếc hoa đăng được thả trên sông lung linh sắc màu Cũng trong dịp này, tại công viên Ninh Kiều, Bến Ninh Kiều cũng diễn ra các hoạt động văn hóa, văn nghệ và du lịch như thư pháp, quảng bá và xúc tiến du lịch, ký họa chân dung, trình diễn làm bánh ẩm thực, triển lãm ảnh theo chủ đề "Ninh Kiều - Cần Thơ xưa và nay".

Đêm hoa đăng Ninh Kiều được tổ chức cùng dịp Hội nghị cấp cao APEC năm 2017. Với số lượng hoa đăng từ 50-60 chiếc, được trang trí dọc theo con rạch Khai Luông, đã thực sự mang đến một khủng cảnh hoàng tráng và rực rỡ của đêm hội, tạo nên điểm nhấn cho phát triển du lịch của Cần Thơ. Năm trong khuôn khổ ngày hội này còn có Hội thi hoa đăng Ninh Kiều, là nơi hội tụ và tỏa sáng của những nghệ nhân biểu diễn đờn ca tài tử, hay giải đua thuyền, gian hàng trưng bày các loại bánh ẩm thực dân gian cùng các trò chơi dân gian đặc sắc...

Cầu đi bộ Ninh Kiều vào ban đêm

Ngoài những chiếc hoa đăng được thả trong lễ khai mạc hội còn có khoảng 200 hoa đăng nhỏ dành riêng cho các vị đại biểu thả. Những chiếc hoa đăng này sẽ được trưng bày cho đến hết ngày 28/08, để du khách có cơ hội chiêm ngưỡng, chụp ảnh, đồng thời thưởng thức nghệ thuật đờn ca tài tử trên sông. Đêm Hoa đăng Ninh Kiều là dịp để UBND thành phố Cần Thơ quảng báo hình ảnh, văn hóa và con người Ninh Kiều và Cần Thơ đến với du khách. Đồng thời, xây dựng không gian vui chơi giải trí cho cộng đồng, góp phần tạo nên điểm nhấn trong các chuỗi sự kiện và lễ hội của Cần Thơ.

Hình ảnh những chiếc hoa đăng được thả trên sông lung linh sắc màu

Cũng trong dịp này, tại công viên Ninh Kiều, Bến Ninh Kiều cũng diễn ra các hoạt động văn hóa, văn nghệ và du lịch như thư pháp, quảng bá và xúc tiến du lịch, ký họa chân dung, trình diễn làm bánh ẩm thực, triển lãm ảnh theo chủ đề "Ninh Kiều - Cần Thơ xưa và nay".

Related Figures

Lễ hội Khèn Mông

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 31/8- 2/9 Dương lịch Lễ hội Khèn Mông là một lễ hội truyền thống của tỉnh Hà Giang. Lễ hội này đã thu hút được lượng đông du khách đến xem hội, và là một sự kiện văn hóa - giải trí được tổ chức để chào đón ngày Quốc Khánh. Lễ hội Khèn Mông của người dân Hà Giang Lễ hội khèn Mông thường được tổ chức tại trung tâm của phố cổ Đồng Văn vào dịp lễ 02/09 ở Hà Giang. Lễ hội này thu hút sự tham gia của đông đảo các nghệ nhân thổi khèn nổi tiếng từ các thôn bản trong vùng. Các nghệ nhân biểu diễn nhiều tiết mục thú vị và đặc sắc đã khiến du khách không thể rời đi, đặc biệt là du khách miền xa tới xem hội. Mỗi lần lễ hội khèn Mông mở ra là cơ hội cho các nghệ nhân thể hiện khả năng của mình, và mang tiếng khèn của mình góp vui cho lễ hội. Ngoài ra, lễ hội còn thu hút nhiều nghệ nhân ở nhiều nơi khác nhau đến giao lưu, học hỏi và tranh tài. Lễ nội này có ý nghĩa tôn vinh nét đẹp văn hóa truyền thống của đồng bào nơi đây, đồng thời lưu giữ lại những nét văn hóa của dân tộc. Những chàng trai cô gái người Mông đang biểu diễn cùng chiếc khèn Những người tham gia biểu diễn trong lễ hội Khèn Mông thường là những người từ trung tuổi trở lên. Họ là những người sống và gắn bó với cây khèn từ rất lâu. Lễ hội còn có nhiều thanh niên trẻ, là những người muốn có cơ hội giao lưu cùng bậc tiền bối để học hỏi thêm kinh nghiệm. Trong lễ hội khèn Mông, các nghệ nhân thường biểu diễn các ca khúc truyền thống, vốn là những ca khúc đã quen thuộc với người dân tộc miền núi. Ẩn sâu trong các ca khúc này là nỗi niềm và ước muốn của những người dân tộc Mông trong đời sống tinh thần. Cây khèn Mông đã là một nhạc cụ không thể thiếu trong cuộc sống của người dân tộc ở vùng cao nguyên đá Đồng Văn. Khèn còn là một loại nhạc cụ tín ngưỡng linh thiêng thường được dùng trong các ngày lễ, hội, và là vật luôn mang theo bên người của các chàng trai người mông. Chiếc khèn là một loại nhạc cụ không thể thiếu của người Mông ở Hà Giang Lễ hội khèn Mông của tỉnh Hà Giang nhằm tôn vinh những nét đẹp văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Mông, thể hiện tính nhân văn trong cuộc sống tinh thần của người dân vùng cao nguyên đá.

Lễ hội Khèn Mông của người dân Hà Giang Lễ hội khèn Mông thường được tổ chức tại trung tâm của phố cổ Đồng Văn vào dịp lễ 02/09 ở Hà Giang. Lễ hội này thu hút sự tham gia của đông đảo các nghệ nhân thổi khèn nổi tiếng từ các thôn bản trong vùng. Các nghệ nhân biểu diễn nhiều tiết mục thú vị và đặc sắc đã khiến du khách không thể rời đi, đặc biệt là du khách miền xa tới xem hội. Mỗi lần lễ hội khèn Mông mở ra là cơ hội cho các nghệ nhân thể hiện khả năng của mình, và mang tiếng khèn của mình góp vui cho lễ hội. Ngoài ra, lễ hội còn thu hút nhiều nghệ nhân ở nhiều nơi khác nhau đến giao lưu, học hỏi và tranh tài. Lễ nội này có ý nghĩa tôn vinh nét đẹp văn hóa truyền thống của đồng bào nơi đây, đồng thời lưu giữ lại những nét văn hóa của dân tộc. Những chàng trai cô gái người Mông đang biểu diễn cùng chiếc khèn Những người tham gia biểu diễn trong lễ hội Khèn Mông thường là những người từ trung tuổi trở lên. Họ là những người sống và gắn bó với cây khèn từ rất lâu. Lễ hội còn có nhiều thanh niên trẻ, là những người muốn có cơ hội giao lưu cùng bậc tiền bối để học hỏi thêm kinh nghiệm. Trong lễ hội khèn Mông, các nghệ nhân thường biểu diễn các ca khúc truyền thống, vốn là những ca khúc đã quen thuộc với người dân tộc miền núi. Ẩn sâu trong các ca khúc này là nỗi niềm và ước muốn của những người dân tộc Mông trong đời sống tinh thần. Cây khèn Mông đã là một nhạc cụ không thể thiếu trong cuộc sống của người dân tộc ở vùng cao nguyên đá Đồng Văn. Khèn còn là một loại nhạc cụ tín ngưỡng linh thiêng thường được dùng trong các ngày lễ, hội, và là vật luôn mang theo bên người của các chàng trai người mông. Chiếc khèn là một loại nhạc cụ không thể thiếu của người Mông ở Hà Giang Lễ hội khèn Mông của tỉnh Hà Giang nhằm tôn vinh những nét đẹp văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Mông, thể hiện tính nhân văn trong cuộc sống tinh thần của người dân vùng cao nguyên đá.

Lễ hội khèn Mông thường được tổ chức tại trung tâm của phố cổ Đồng Văn vào dịp lễ 02/09 ở Hà Giang. Lễ hội này thu hút sự tham gia của đông đảo các nghệ nhân thổi khèn nổi tiếng từ các thôn bản trong vùng. Các nghệ nhân biểu diễn nhiều tiết mục thú vị và đặc sắc đã khiến du khách không thể rời đi, đặc biệt là du khách miền xa tới xem hội.

Mỗi lần lễ hội khèn Mông mở ra là cơ hội cho các nghệ nhân thể hiện khả năng của mình, và mang tiếng khèn của mình góp vui cho lễ hội. Ngoài ra, lễ hội còn thu hút nhiều nghệ nhân ở nhiều nơi khác nhau đến giao lưu, học hỏi và tranh tài. Lễ nội này có ý nghĩa tôn vinh nét đẹp văn hóa truyền thống của đồng bào nơi đây, đồng thời lưu giữ lại những nét văn hóa của dân tộc.

Những chàng trai cô gái người Mông đang biểu diễn cùng chiếc khèn Những người tham gia biểu diễn trong lễ hội Khèn Mông thường là những người từ trung tuổi trở lên. Họ là những người sống và gắn bó với cây khèn từ rất lâu. Lễ hội còn có nhiều thanh niên trẻ, là những người muốn có cơ hội giao lưu cùng bậc tiền bối để học hỏi thêm kinh nghiệm. Trong lễ hội khèn Mông, các nghệ nhân thường biểu diễn các ca khúc truyền thống, vốn là những ca khúc đã quen thuộc với người dân tộc miền núi. Ẩn sâu trong các ca khúc này là nỗi niềm và ước muốn của những người dân tộc Mông trong đời sống tinh thần. Cây khèn Mông đã là một nhạc cụ không thể thiếu trong cuộc sống của người dân tộc ở vùng cao nguyên đá Đồng Văn. Khèn còn là một loại nhạc cụ tín ngưỡng linh thiêng thường được dùng trong các ngày lễ, hội, và là vật luôn mang theo bên người của các chàng trai người mông. Chiếc khèn là một loại nhạc cụ không thể thiếu của người Mông ở Hà Giang Lễ hội khèn Mông của tỉnh Hà Giang nhằm tôn vinh những nét đẹp văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Mông, thể hiện tính nhân văn trong cuộc sống tinh thần của người dân vùng cao nguyên đá.

Những người tham gia biểu diễn trong lễ hội Khèn Mông thường là những người từ trung tuổi trở lên. Họ là những người sống và gắn bó với cây khèn từ rất lâu. Lễ hội còn có nhiều thanh niên trẻ, là những người muốn có cơ hội giao lưu cùng bậc tiền bối để học hỏi thêm kinh nghiệm.

Trong lễ hội khèn Mông, các nghệ nhân thường biểu diễn các ca khúc truyền thống, vốn là những ca khúc đã quen thuộc với người dân tộc miền núi. Ẩn sâu trong các ca khúc này là nỗi niềm và ước muốn của những người dân tộc Mông trong đời sống tinh thần.

Cây khèn Mông đã là một nhạc cụ không thể thiếu trong cuộc sống của người dân tộc ở vùng cao nguyên đá Đồng Văn. Khèn còn là một loại nhạc cụ tín ngưỡng linh thiêng thường được dùng trong các ngày lễ, hội, và là vật luôn mang theo bên người của các chàng trai người mông.

Chiếc khèn là một loại nhạc cụ không thể thiếu của người Mông ở Hà Giang

Lễ hội khèn Mông của tỉnh Hà Giang nhằm tôn vinh những nét đẹp văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Mông, thể hiện tính nhân văn trong cuộc sống tinh thần của người dân vùng cao nguyên đá.

Related Figures

Lễ hội Hoa Đăng Sa Pa

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 13/8- 15/8 Âm lịch Lễ hội Hoa Đăng tại Sa Pa được tổ chức hàng năm vào dịp Tết Trung Thu, từ ngày 13-15/08 âm lịch. Lễ hội này do Sa Pa, tổ chức nhằm tôn vinh những nét đẹp giá trị văn hóa của người dân trong vùng, đồng thời thu hút du khách thập phương đến tham quan địa phương. Lễ hội Hoa Đăng Sa Pa Từ năm 2016, lễ hội Hoa Đăng Sa Pa đã được chính quyền địa phương tổ chức mở rộng về quy mô, với sự tham gia của đông đảo dân cư, các tổ chức, hiệp hội và các doanh nghiệp đang kinh doanh ở thị trấn Sa Pa. Lễ hội Hoa Đăng năm 2016 được tổ chức công phu hơn, cả về tạo hình, màu sắc, hiệu hứng hình ảnh... tạo nên một lễ hội hoành tráng và vô cùng rực rỡ. Tham gia lễ hội Hoa Đăng Sa Pa, du khách sẽ có cơ hội được chiêm ngưỡng hàng ngàn chiếc đèn với màu sắc rực rỡ, hình thù đa dạng, phong phú... mang đậm những nét văn hóa độc đáo của vùng đất núi rừng Tây Bắc. Đặc biệt, lễ rước đèn diễn ra rất hoành tráng, tưng bừng trên các tuyến phố của trung tâm thị trấn Sa Pa, sẽ đem tới cho du khách một bữa tiệc văn hóa vô cùng đặc sắc và ấn tượng. Lễ hội Hoa Đăng Sa Pa rực rỡ với những chiếc đèn có hình thù đa dạng và đầy màu sắc Trong đêm hội Hoa Đăng ở Sa Pa với sự tham gia của khoảng 60 chiếc đèn lồng do 6 đơn vị trường học, 5 khách sạn, nhà hàng đang kinh doanh trên địa bàn huyện, cùng 23 tổ dân phố tự làm. Lễ rước thường được bắt đầu từ sân Quần - phố Xuân Viên - quốc lộ 4D - đường Ngũ Chỉ Sơn rồi quay trở về sân Quần. Sau khi tiến hành lễ rước đèn lồng xong, ban tổ chức sẽ lựa chọn ra một chiếc đèn lồng đẹp và ý nghĩa nhất để trao giải thưởng do công ty TNHH Dịch vụ Du lịch Cáp treo Fansipan – Sa Pa trao tặng. Lễ hội Hoa Đăng Sa Pa đang trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của đồng bào vùng Tây Bắc Lễ hội Hoa Đăng Sa Pa đang ngày càng thu hút được đông đảo du khách thập phương đến xem hội. Với bản sắc văn hóa truyền thống độc đáo của đồng bào các dân tộc nơi đây, lễ hội Hoa Đăng đang dần trở thành một trong những sự kiện hấp dẫn du khách mỗi dịp thu về.

Lễ hội Hoa Đăng Sa Pa Từ năm 2016, lễ hội Hoa Đăng Sa Pa đã được chính quyền địa phương tổ chức mở rộng về quy mô, với sự tham gia của đông đảo dân cư, các tổ chức, hiệp hội và các doanh nghiệp đang kinh doanh ở thị trấn Sa Pa. Lễ hội Hoa Đăng năm 2016 được tổ chức công phu hơn, cả về tạo hình, màu sắc, hiệu hứng hình ảnh... tạo nên một lễ hội hoành tráng và vô cùng rực rỡ. Tham gia lễ hội Hoa Đăng Sa Pa, du khách sẽ có cơ hội được chiêm ngưỡng hàng ngàn chiếc đèn với màu sắc rực rỡ, hình thù đa dạng, phong phú... mang đậm những nét văn hóa độc đáo của vùng đất núi rừng Tây Bắc. Đặc biệt, lễ rước đèn diễn ra rất hoành tráng, tưng bừng trên các tuyến phố của trung tâm thị trấn Sa Pa, sẽ đem tới cho du khách một bữa tiệc văn hóa vô cùng đặc sắc và ấn tượng. Lễ hội Hoa Đăng Sa Pa rực rỡ với những chiếc đèn có hình thù đa dạng và đầy màu sắc Trong đêm hội Hoa Đăng ở Sa Pa với sự tham gia của khoảng 60 chiếc đèn lồng do 6 đơn vị trường học, 5 khách sạn, nhà hàng đang kinh doanh trên địa bàn huyện, cùng 23 tổ dân phố tự làm. Lễ rước thường được bắt đầu từ sân Quần - phố Xuân Viên - quốc lộ 4D - đường Ngũ Chỉ Sơn rồi quay trở về sân Quần. Sau khi tiến hành lễ rước đèn lồng xong, ban tổ chức sẽ lựa chọn ra một chiếc đèn lồng đẹp và ý nghĩa nhất để trao giải thưởng do công ty TNHH Dịch vụ Du lịch Cáp treo Fansipan – Sa Pa trao tặng. Lễ hội Hoa Đăng Sa Pa đang trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của đồng bào vùng Tây Bắc Lễ hội Hoa Đăng Sa Pa đang ngày càng thu hút được đông đảo du khách thập phương đến xem hội. Với bản sắc văn hóa truyền thống độc đáo của đồng bào các dân tộc nơi đây, lễ hội Hoa Đăng đang dần trở thành một trong những sự kiện hấp dẫn du khách mỗi dịp thu về.

Từ năm 2016, lễ hội Hoa Đăng Sa Pa đã được chính quyền địa phương tổ chức mở rộng về quy mô, với sự tham gia của đông đảo dân cư, các tổ chức, hiệp hội và các doanh nghiệp đang kinh doanh ở thị trấn Sa Pa. Lễ hội Hoa Đăng năm 2016 được tổ chức công phu hơn, cả về tạo hình, màu sắc, hiệu hứng hình ảnh... tạo nên một lễ hội hoành tráng và vô cùng rực rỡ.

Tham gia lễ hội Hoa Đăng Sa Pa, du khách sẽ có cơ hội được chiêm ngưỡng hàng ngàn chiếc đèn với màu sắc rực rỡ, hình thù đa dạng, phong phú... mang đậm những nét văn hóa độc đáo của vùng đất núi rừng Tây Bắc. Đặc biệt, lễ rước đèn diễn ra rất hoành tráng, tưng bừng trên các tuyến phố của trung tâm thị trấn Sa Pa, sẽ đem tới cho du khách một bữa tiệc văn hóa vô cùng đặc sắc và ấn tượng.

Lễ hội Hoa Đăng Sa Pa rực rỡ với những chiếc đèn có hình thù đa dạng và đầy màu sắc

Trong đêm hội Hoa Đăng ở Sa Pa với sự tham gia của khoảng 60 chiếc đèn lồng do 6 đơn vị trường học, 5 khách sạn, nhà hàng đang kinh doanh trên địa bàn huyện, cùng 23 tổ dân phố tự làm. Lễ rước thường được bắt đầu từ sân Quần - phố Xuân Viên - quốc lộ 4D - đường Ngũ Chỉ Sơn rồi quay trở về sân Quần. Sau khi tiến hành lễ rước đèn lồng xong, ban tổ chức sẽ lựa chọn ra một chiếc đèn lồng đẹp và ý nghĩa nhất để trao giải thưởng do công ty TNHH Dịch vụ Du lịch Cáp treo Fansipan – Sa Pa trao tặng.

Lễ hội Hoa Đăng Sa Pa đang trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của đồng bào vùng Tây Bắc

Lễ hội Hoa Đăng Sa Pa đang ngày càng thu hút được đông đảo du khách thập phương đến xem hội. Với bản sắc văn hóa truyền thống độc đáo của đồng bào các dân tộc nơi đây, lễ hội Hoa Đăng đang dần trở thành một trong những sự kiện hấp dẫn du khách mỗi dịp thu về.

Related Figures

Hội miếu Ba Thôn

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/7- 12/7 Âm lịch Hội miếu Ba Thôn được tổ chức từ ngày 10-12/7 âm lịch hàng năm, là nét đẹp văn hóa của người dân xã Thụy Hải, huyện Thái Thụy, Thái Bình. Miếu Ba Thôn nằm trong cụm Di tích lịch sử cấp quốc gia làng Quang Lang; thờ Thành hoàng Nguyễn Quảng Lại (Thủy đạo đại tướng quân của nhà Đinh thế kỷ X). Lễ rước trang trọng hội miếu Ba Thôn Theo thần phả, Nguyễn Quảng Lại là con trai duy nhất của thân phụ Nguyễn Huý Đạo và thân mẫu Dương Thị Hoà. Tướng quân Nguyễn Quảng Lại cùng nhiều tướng tài khác: Đinh Điền, Nguyễn Bắc, Lê Hoàn... phò Đinh Bộ Lĩnh dep loạn 12 sứ quân thống nhất đất nước. Nguyễn Quảng Lại được nhà vua trọng dụng, sắc phong Thủy đạo đại tướng quân. Trong một lần cùng vua Đinh Tiên Hoàng truy đuổi tàn quân của Kiều Công Tiễn ở Phong Châu (Phú Thọ), tướng quân Nguyễn Quảng Lại hy sinh ở sông Việt Trì. Người dân vớt được thi thể ngài và đưa về trang Quang Lang mai táng và thờ phụng. Người dân nơi đây lập miếu, tôn thờ Thành Hoàng làng của ba thôn từ năm 967. Từ đó tới nay, người dân nơi đây đều tổ chức lễ hội truyền thống tưởng nhớ công ơn Nguyễn Quảng Lại. Lễ rước hội miếu Ba Thôn thu hút đông đảo người dân tham gia Lễ hội miếu Ba Thôn mỗi năm thu hút hàng nghìn người dân và du khách thập phương tới tham dự. Cán bộ địa phương làm lễ tại hội miếu Ba Thôn Lễ hội miếu Ba Thôn từ xưa tổ chức nhiều trò chơi, trò diễn của ngư dân miền biển. Đáng chú ý nhất vẫn là tục rước nước. Lễ rước ngày càng mở rộng với quy mô lớn hơn nhưng vẫn tuân thủ nghi thức cũ của làng.

Lễ rước trang trọng hội miếu Ba Thôn Theo thần phả, Nguyễn Quảng Lại là con trai duy nhất của thân phụ Nguyễn Huý Đạo và thân mẫu Dương Thị Hoà. Tướng quân Nguyễn Quảng Lại cùng nhiều tướng tài khác: Đinh Điền, Nguyễn Bắc, Lê Hoàn... phò Đinh Bộ Lĩnh dep loạn 12 sứ quân thống nhất đất nước. Nguyễn Quảng Lại được nhà vua trọng dụng, sắc phong Thủy đạo đại tướng quân. Trong một lần cùng vua Đinh Tiên Hoàng truy đuổi tàn quân của Kiều Công Tiễn ở Phong Châu (Phú Thọ), tướng quân Nguyễn Quảng Lại hy sinh ở sông Việt Trì. Người dân vớt được thi thể ngài và đưa về trang Quang Lang mai táng và thờ phụng. Người dân nơi đây lập miếu, tôn thờ Thành Hoàng làng của ba thôn từ năm 967. Từ đó tới nay, người dân nơi đây đều tổ chức lễ hội truyền thống tưởng nhớ công ơn Nguyễn Quảng Lại. Lễ rước hội miếu Ba Thôn thu hút đông đảo người dân tham gia Lễ hội miếu Ba Thôn mỗi năm thu hút hàng nghìn người dân và du khách thập phương tới tham dự. Cán bộ địa phương làm lễ tại hội miếu Ba Thôn Lễ hội miếu Ba Thôn từ xưa tổ chức nhiều trò chơi, trò diễn của ngư dân miền biển. Đáng chú ý nhất vẫn là tục rước nước. Lễ rước ngày càng mở rộng với quy mô lớn hơn nhưng vẫn tuân thủ nghi thức cũ của làng.

Lễ rước trang trọng hội miếu Ba Thôn Theo thần phả, Nguyễn Quảng Lại là con trai duy nhất của thân phụ Nguyễn Huý Đạo và thân mẫu Dương Thị Hoà. Tướng quân Nguyễn Quảng Lại cùng nhiều tướng tài khác: Đinh Điền, Nguyễn Bắc, Lê Hoàn... phò Đinh Bộ Lĩnh dep loạn 12 sứ quân thống nhất đất nước. Nguyễn Quảng Lại được nhà vua trọng dụng, sắc phong Thủy đạo đại tướng quân. Trong một lần cùng vua Đinh Tiên Hoàng truy đuổi tàn quân của Kiều Công Tiễn ở Phong Châu (Phú Thọ), tướng quân Nguyễn Quảng Lại hy sinh ở sông Việt Trì. Người dân vớt được thi thể ngài và đưa về trang Quang Lang mai táng và thờ phụng. Người dân nơi đây lập miếu, tôn thờ Thành Hoàng làng của ba thôn từ năm 967. Từ đó tới nay, người dân nơi đây đều tổ chức lễ hội truyền thống tưởng nhớ công ơn Nguyễn Quảng Lại. Lễ rước hội miếu Ba Thôn thu hút đông đảo người dân tham gia Lễ hội miếu Ba Thôn mỗi năm thu hút hàng nghìn người dân và du khách thập phương tới tham dự. Cán bộ địa phương làm lễ tại hội miếu Ba Thôn Lễ hội miếu Ba Thôn từ xưa tổ chức nhiều trò chơi, trò diễn của ngư dân miền biển. Đáng chú ý nhất vẫn là tục rước nước. Lễ rước ngày càng mở rộng với quy mô lớn hơn nhưng vẫn tuân thủ nghi thức cũ của làng.

Theo thần phả, Nguyễn Quảng Lại là con trai duy nhất của thân phụ Nguyễn Huý Đạo và thân mẫu Dương Thị Hoà. Tướng quân Nguyễn Quảng Lại cùng nhiều tướng tài khác: Đinh Điền, Nguyễn Bắc, Lê Hoàn... phò Đinh Bộ Lĩnh dep loạn 12 sứ quân thống nhất đất nước. Nguyễn Quảng Lại được nhà vua trọng dụng, sắc phong Thủy đạo đại tướng quân.

Trong một lần cùng vua Đinh Tiên Hoàng truy đuổi tàn quân của Kiều Công Tiễn ở Phong Châu (Phú Thọ), tướng quân Nguyễn Quảng Lại hy sinh ở sông Việt Trì. Người dân vớt được thi thể ngài và đưa về trang Quang Lang mai táng và thờ phụng. Người dân nơi đây lập miếu, tôn thờ Thành Hoàng làng của ba thôn từ năm 967. Từ đó tới nay, người dân nơi đây đều tổ chức lễ hội truyền thống tưởng nhớ công ơn Nguyễn Quảng Lại.

Lễ rước hội miếu Ba Thôn thu hút đông đảo người dân tham gia

Lễ hội miếu Ba Thôn mỗi năm thu hút hàng nghìn người dân và du khách thập phương tới tham dự.

Cán bộ địa phương làm lễ tại hội miếu Ba Thôn

Lễ hội miếu Ba Thôn từ xưa tổ chức nhiều trò chơi, trò diễn của ngư dân miền biển. Đáng chú ý nhất vẫn là tục rước nước. Lễ rước ngày càng mở rộng với quy mô lớn hơn nhưng vẫn tuân thủ nghi thức cũ của làng.

Related Figures

Hội đền Cai Công

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 7/7 Âm lịch Hội đền Cai Công là diễn ra tại làng Thượng Thanh, xã Thanh Cao, huyện Thanh Oai, Hà Nội ngày 10-12/2 và 7/7 âm lịch. Hội đền Cai Công suy tôn Cai Công, một vị tướng nam đóng giả nữ tham gia khởi nghĩa Hai Bà Trưng chống giặc Đông Hán giành độc lập cho đất nước. Lễ hội có cờ hoa, pháo nổ (trước đây khi pháo chưa bị cấm), lễ rước, cờ tướng, đấu vật, chọi gà. Nét độc đáo riêng của hội đền Cai Công là chỉ dùng cỗ chay trong lễ cúng Thành hoàng làng. Người dân tham gia Hội đền Cai Công Hội đền Cai Công là nét văn hóa đặc sắc Thanh Oai Tương truyền: Cai Công là một vị tướng nam đóng giả nữ để được cầm đạo quân bản bộ của mình tham gia khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng thắng lợi, Cai Công được sắc phong Khai quốc Đại nguyên soái. Cai Công trở về thăm người dân Thượng Thanh, dân làng vui mừng đón rước, tổ chức lễ khao quân của Cai Công. Người dân giết nhiều trâu bò, dọn cỗ linh đình thiết đãi nhưng khi bưng mâm cỗ thịt lên, ông Cai liền đứng dậy và cùng quân lính đi ra. Lấy làm lạ, dân làng bèn thưa trình lại. Ông Cai khuyên dân làng rằng "Phú quốc bình cường là nhờ sức kéo của trâu bò", trâu bò cày kéo giúp người dân làm ra lúa gạo, sao nỡ giết thịt làm ảnh hưởng tới sản xuất. Theo lời dạy, dân làng dọn cỗ chay. Kể từ đó, người dân Thượng Thanh chỉ dùng cỗ chay trong ngày hội thờ Thành hoàng. Hội đền Cai Công diễn ra tại huyện Thanh Oai Hội đền Cai Công cũng có lễ rước rất đặc biệt. Dân làng chọn ra hai mươi trai tân đóng giả nữ (quần làn, khăn vắt, mũ chỏm) tượng trưng cho tướng và quân khi xưa, rước kiệu ông Cai từ miếu ra đình rồi trở về miếu

Người dân tham gia Hội đền Cai Công

Hội đền Cai Công là nét văn hóa đặc sắc Thanh Oai Tương truyền: Cai Công là một vị tướng nam đóng giả nữ để được cầm đạo quân bản bộ của mình tham gia khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng thắng lợi, Cai Công được sắc phong Khai quốc Đại nguyên soái. Cai Công trở về thăm người dân Thượng Thanh, dân làng vui mừng đón rước, tổ chức lễ khao quân của Cai Công. Người dân giết nhiều trâu bò, dọn cỗ linh đình thiết đãi nhưng khi bưng mâm cỗ thịt lên, ông Cai liền đứng dậy và cùng quân lính đi ra. Lấy làm lạ, dân làng bèn thưa trình lại. Ông Cai khuyên dân làng rằng "Phú quốc bình cường là nhờ sức kéo của trâu bò", trâu bò cày kéo giúp người dân làm ra lúa gạo, sao nỡ giết thịt làm ảnh hưởng tới sản xuất. Theo lời dạy, dân làng dọn cỗ chay. Kể từ đó, người dân Thượng Thanh chỉ dùng cỗ chay trong ngày hội thờ Thành hoàng. Hội đền Cai Công diễn ra tại huyện Thanh Oai Hội đền Cai Công cũng có lễ rước rất đặc biệt. Dân làng chọn ra hai mươi trai tân đóng giả nữ (quần làn, khăn vắt, mũ chỏm) tượng trưng cho tướng và quân khi xưa, rước kiệu ông Cai từ miếu ra đình rồi trở về miếu

Tương truyền: Cai Công là một vị tướng nam đóng giả nữ để được cầm đạo quân bản bộ của mình tham gia khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng thắng lợi, Cai Công được sắc phong Khai quốc Đại nguyên soái. Cai Công trở về thăm người dân Thượng Thanh, dân làng vui mừng đón rước, tổ chức lễ khao quân của Cai Công. Người dân giết nhiều trâu bò, dọn cỗ linh đình thiết đãi nhưng khi bưng mâm cỗ thịt lên, ông Cai liền đứng dậy và cùng quân lính đi ra. Lấy làm lạ, dân làng bèn thưa trình lại. Ông Cai khuyên dân làng rằng "Phú quốc bình cường là nhờ sức kéo của trâu bò", trâu bò cày kéo giúp người dân làm ra lúa gạo, sao nỡ giết thịt làm ảnh hưởng tới sản xuất. Theo lời dạy, dân làng dọn cỗ chay. Kể từ đó, người dân Thượng Thanh chỉ dùng cỗ chay trong ngày hội thờ Thành hoàng. Hội đền Cai Công diễn ra tại huyện Thanh Oai Hội đền Cai Công cũng có lễ rước rất đặc biệt. Dân làng chọn ra hai mươi trai tân đóng giả nữ (quần làn, khăn vắt, mũ chỏm) tượng trưng cho tướng và quân khi xưa, rước kiệu ông Cai từ miếu ra đình rồi trở về miếu

Tương truyền: Cai Công là một vị tướng nam đóng giả nữ để được cầm đạo quân bản bộ của mình tham gia khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng thắng lợi, Cai Công được sắc phong Khai quốc Đại nguyên soái. Cai Công trở về thăm người dân Thượng Thanh, dân làng vui mừng đón rước, tổ chức lễ khao quân của Cai Công. Người dân giết nhiều trâu bò, dọn cỗ linh đình thiết đãi nhưng khi bưng mâm cỗ thịt lên, ông Cai liền đứng dậy và cùng quân lính đi ra. Lấy làm lạ, dân làng bèn thưa trình lại. Ông Cai khuyên dân làng rằng "Phú quốc bình cường là nhờ sức kéo của trâu bò", trâu bò cày kéo giúp người dân làm ra lúa gạo, sao nỡ giết thịt làm ảnh hưởng tới sản xuất. Theo lời dạy, dân làng dọn cỗ chay. Kể từ đó, người dân Thượng Thanh chỉ dùng cỗ chay trong ngày hội thờ Thành hoàng.

Hội đền Cai Công diễn ra tại huyện Thanh Oai

Hội đền Cai Công cũng có lễ rước rất đặc biệt. Dân làng chọn ra hai mươi trai tân đóng giả nữ (quần làn, khăn vắt, mũ chỏm) tượng trưng cho tướng và quân khi xưa, rước kiệu ông Cai từ miếu ra đình rồi trở về miếu

Related Figures

Lễ hội rửa lá lúa của người Mường

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/7- 1/8 Âm lịch Lễ hội rửa lá lúa được người Mường tổ chức khoảng tháng 7, tháng 8 âm lịch tại xã Mường Bi, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình. Lễ hội rửa lá lúa là phong tục đặc sắc, tưởng nhớ công ơn người mở đất cho bản Mường và cầu mong mùa màng ít sâu bệnh. Người Mường tổ chức lễ hội rửa lá lúa tháng 7 và 8 hàng năm Lễ hội rửa lá lúa diễn ra đúng kỳ lúa trên đồng và ngô trên nương đang thì con gái, vì đây là giai đoạn lúa và ngô dễ mắc sâu bệnh nhất. Người dân trong bản Mường thường chuẩn bị mâm cỗ mặn gồm lợn và gà; cùng một mâm cỗ chay gồm oản, bánh, trái cây để tế lễ. Mâm lễ cúng được đặt ngay ở đầu ruộng để thầy Mo (thầy cúng) đọc lời cầu khấn, cầu mong thần linh ban phép màu diệt trừ sâu bệnh giúp mùa màng bội thu. Trong lời cúng truyền thuyết khi vùng đất này chưa có lúa để ăn, sự tích tìm ra hạt lúa và công ơn của những người khai hoang mở đất từ xưa, tương truyền là ông Ỏ, bà Ỏ, ông Rạng, bà Rạng. Truyền thuyết xưa: Khi vùng đất này chưa có lúa để ăn, Vua Dịt Dàng sai các con vật đi tìm hạt giống. Một thời gian sau, con chuột tìm gặp bà Chu mường ở trời cao xin về cho người hạt lúa đỏ cùng với 40 giống lúa ruộng, 30 giống lúa nương. Chuột có lời giao ước với và Chu mường là: người nhận số giống đó gieo trồng đến khi cây ra hạt thì chuột được tự quyền đến ăn. Bà Chu mường đồng ý cho giống và dạy cách trồng lúa. Lễ hội rửa lá lúa cầu mong mùa màng bội thu Các gia đình phải chuẩn bị sẵn sọt tre có cắm lông gà đặt ở đầu ruộng, làm nhiều que cao hơn 1m, phần ngọn có cắm chéo lông gà giả làm đôi cánh cắm ở bên trong và quanh bờ ruộng để xua đuổi dịch bệnh, sâu bọ... Người Mường chuẩn bị đồ lễ cho lễ hội rửa lá lúa Sau phần lễ, người Mường tổ chức ăn uống ngay tại sân đình, những người không tham gia đều được chia phần gửi về nhà.

Người Mường tổ chức lễ hội rửa lá lúa tháng 7 và 8 hàng năm Lễ hội rửa lá lúa diễn ra đúng kỳ lúa trên đồng và ngô trên nương đang thì con gái, vì đây là giai đoạn lúa và ngô dễ mắc sâu bệnh nhất. Người dân trong bản Mường thường chuẩn bị mâm cỗ mặn gồm lợn và gà; cùng một mâm cỗ chay gồm oản, bánh, trái cây để tế lễ. Mâm lễ cúng được đặt ngay ở đầu ruộng để thầy Mo (thầy cúng) đọc lời cầu khấn, cầu mong thần linh ban phép màu diệt trừ sâu bệnh giúp mùa màng bội thu. Trong lời cúng truyền thuyết khi vùng đất này chưa có lúa để ăn, sự tích tìm ra hạt lúa và công ơn của những người khai hoang mở đất từ xưa, tương truyền là ông Ỏ, bà Ỏ, ông Rạng, bà Rạng. Truyền thuyết xưa: Khi vùng đất này chưa có lúa để ăn, Vua Dịt Dàng sai các con vật đi tìm hạt giống. Một thời gian sau, con chuột tìm gặp bà Chu mường ở trời cao xin về cho người hạt lúa đỏ cùng với 40 giống lúa ruộng, 30 giống lúa nương. Chuột có lời giao ước với và Chu mường là: người nhận số giống đó gieo trồng đến khi cây ra hạt thì chuột được tự quyền đến ăn. Bà Chu mường đồng ý cho giống và dạy cách trồng lúa. Lễ hội rửa lá lúa cầu mong mùa màng bội thu Các gia đình phải chuẩn bị sẵn sọt tre có cắm lông gà đặt ở đầu ruộng, làm nhiều que cao hơn 1m, phần ngọn có cắm chéo lông gà giả làm đôi cánh cắm ở bên trong và quanh bờ ruộng để xua đuổi dịch bệnh, sâu bọ... Người Mường chuẩn bị đồ lễ cho lễ hội rửa lá lúa Sau phần lễ, người Mường tổ chức ăn uống ngay tại sân đình, những người không tham gia đều được chia phần gửi về nhà.

Người Mường tổ chức lễ hội rửa lá lúa tháng 7 và 8 hàng năm

Lễ hội rửa lá lúa diễn ra đúng kỳ lúa trên đồng và ngô trên nương đang thì con gái, vì đây là giai đoạn lúa và ngô dễ mắc sâu bệnh nhất. Người dân trong bản Mường thường chuẩn bị mâm cỗ mặn gồm lợn và gà; cùng một mâm cỗ chay gồm oản, bánh, trái cây để tế lễ. Mâm lễ cúng được đặt ngay ở đầu ruộng để thầy Mo (thầy cúng) đọc lời cầu khấn, cầu mong thần linh ban phép màu diệt trừ sâu bệnh giúp mùa màng bội thu. Trong lời cúng truyền thuyết khi vùng đất này chưa có lúa để ăn, sự tích tìm ra hạt lúa và công ơn của những người khai hoang mở đất từ xưa, tương truyền là ông Ỏ, bà Ỏ, ông Rạng, bà Rạng. Truyền thuyết xưa: Khi vùng đất này chưa có lúa để ăn, Vua Dịt Dàng sai các con vật đi tìm hạt giống. Một thời gian sau, con chuột tìm gặp bà Chu mường ở trời cao xin về cho người hạt lúa đỏ cùng với 40 giống lúa ruộng, 30 giống lúa nương. Chuột có lời giao ước với và Chu mường là: người nhận số giống đó gieo trồng đến khi cây ra hạt thì chuột được tự quyền đến ăn. Bà Chu mường đồng ý cho giống và dạy cách trồng lúa. Lễ hội rửa lá lúa cầu mong mùa màng bội thu Các gia đình phải chuẩn bị sẵn sọt tre có cắm lông gà đặt ở đầu ruộng, làm nhiều que cao hơn 1m, phần ngọn có cắm chéo lông gà giả làm đôi cánh cắm ở bên trong và quanh bờ ruộng để xua đuổi dịch bệnh, sâu bọ... Người Mường chuẩn bị đồ lễ cho lễ hội rửa lá lúa Sau phần lễ, người Mường tổ chức ăn uống ngay tại sân đình, những người không tham gia đều được chia phần gửi về nhà.

Lễ hội rửa lá lúa diễn ra đúng kỳ lúa trên đồng và ngô trên nương đang thì con gái, vì đây là giai đoạn lúa và ngô dễ mắc sâu bệnh nhất. Người dân trong bản Mường thường chuẩn bị mâm cỗ mặn gồm lợn và gà; cùng một mâm cỗ chay gồm oản, bánh, trái cây để tế lễ. Mâm lễ cúng được đặt ngay ở đầu ruộng để thầy Mo (thầy cúng) đọc lời cầu khấn, cầu mong thần linh ban phép màu diệt trừ sâu bệnh giúp mùa màng bội thu. Trong lời cúng truyền thuyết khi vùng đất này chưa có lúa để ăn, sự tích tìm ra hạt lúa và công ơn của những người khai hoang mở đất từ xưa, tương truyền là ông Ỏ, bà Ỏ, ông Rạng, bà Rạng.

Truyền thuyết xưa: Khi vùng đất này chưa có lúa để ăn, Vua Dịt Dàng sai các con vật đi tìm hạt giống. Một thời gian sau, con chuột tìm gặp bà Chu mường ở trời cao xin về cho người hạt lúa đỏ cùng với 40 giống lúa ruộng, 30 giống lúa nương. Chuột có lời giao ước với và Chu mường là: người nhận số giống đó gieo trồng đến khi cây ra hạt thì chuột được tự quyền đến ăn. Bà Chu mường đồng ý cho giống và dạy cách trồng lúa.

Lễ hội rửa lá lúa cầu mong mùa màng bội thu Các gia đình phải chuẩn bị sẵn sọt tre có cắm lông gà đặt ở đầu ruộng, làm nhiều que cao hơn 1m, phần ngọn có cắm chéo lông gà giả làm đôi cánh cắm ở bên trong và quanh bờ ruộng để xua đuổi dịch bệnh, sâu bọ... Người Mường chuẩn bị đồ lễ cho lễ hội rửa lá lúa Sau phần lễ, người Mường tổ chức ăn uống ngay tại sân đình, những người không tham gia đều được chia phần gửi về nhà.

Các gia đình phải chuẩn bị sẵn sọt tre có cắm lông gà đặt ở đầu ruộng, làm nhiều que cao hơn 1m, phần ngọn có cắm chéo lông gà giả làm đôi cánh cắm ở bên trong và quanh bờ ruộng để xua đuổi dịch bệnh, sâu bọ...

Người Mường chuẩn bị đồ lễ cho lễ hội rửa lá lúa

Sau phần lễ, người Mường tổ chức ăn uống ngay tại sân đình, những người không tham gia đều được chia phần gửi về nhà.

Related Figures

Lễ Xá tội vong nhân

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/7 Âm lịch Ngày xá tội vong nhân diễn ra vào rằm tháng 07 âm lịch hàng năm. Dân gian vẫn quen gọi nôm na là ngày cúng chúng sinh hay cúng cô hồn. Lễ xá tội vong nhân là phong tục có tính nhân văn cao bởi đây là dịp giúp những linh hồn lạc lối, đói khát không nơi nương tựa có một ngày được tưởng nhớ, được no đủ. Con người dù có gây ra nghiệp ác gì thì trong quá trình chịu sự trừng phạt, quả báo cũng được hưởng một ngày xá tội, kết thúc mọi khổ đau. Nguồn gốc ngày lễ Xá tội vong nhân Trong tích cổ và truyền thuyết dân gian Trung Quốc cho rằng: bắt đầu từ ngày 02 tháng 07 âm lịch, Diêm Vương mở Quỷ Môn Quan để ma quỷ trở lại trần gian và phải trở về trước ngày 15 tháng 07 khi cửa địa ngục đóng lại. Nguồn gốc lễ xá tội vong nhân Trong Phật giáo cũng có hai sự tích về ngày xá tội vong nhân. Truyền thuyết kể rằng: Ngày xửa ngày xưa, khi lũ quỷ thường hay quấy phá khiến con người không thể yên ổn làm ăn. Không thể chịu nổi nỗi thống khổ, con người bèn cầu cứu Đức Phật. Sau đó, Đức Phật giúp con người trục xuất lũ quỷ, đày chúng xuống địa ngục. Rủ lòng từ bi, Đức Phật cho phép lũ quỷ được trở lại trần gian mỗi năm một lần vào rằm tháng 07. Truyền thuyết khác kể rằng: Trong một buổi tối, đại đệ tử của Phật là đức A Nan Đà đang ngồi trong tịnh thì thấy một con Ngạ quỷ người gầy quắt, cổ dài, miệng nhả ra lửa (diệm khẩu) bước vào cho biết 3 ngày nữa A Nan Đà cũng sẽ chết và cũng trở thành quỷ miệng lửa như nó. Nếu không muốn chuyện này xảy ra, A Nan Đà phải bố thí cho lũ Ngạ quỷ mỗi đứa một hộc đồ ăn và cúng dường Tam bảo để chúng được tái sinh. Ngay sau đó, Nan Đà tới gặp Đức Phật, được Phật truyền cho bài chú “Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Đà La Ni”, đem tụng trong lễ cúng để thoát kiếp nạn, thêm phước đức. Lễ vật cúng cô hồn trong lễ xá tội vong nhân Tiền chúng sinh (tiền trinh), hoa, quả 5 loại 5 mầu (ngũ sắc). Tiền vàng từ 15 lễ trở lên, quần áo chúng sinh với nhiều màu sắc. Bỏng ngô, khoai lang luộc, ngô luộc, sắn luộc, cháo, bánh quế... Gạo trộn muối (5 bát, 5 đôi đũa hoặc thìa)... Lễ vật cúng cô hồn trong ngày xá tội vong nhân Trong lễ xá tội vong nhân sẽ không cúng xôi, gà và phải bày lễ cúng ngoài trời. Gạo trộn lẫn với muối sẽ được rắc ra đường hoặc sau nhà sau lễ cúng. Ma quỷ được trở lại trần gian trong ngày xá tội vong nhân

Lễ xá tội vong nhân là phong tục có tính nhân văn cao bởi đây là dịp giúp những linh hồn lạc lối, đói khát không nơi nương tựa có một ngày được tưởng nhớ, được no đủ. Con người dù có gây ra nghiệp ác gì thì trong quá trình chịu sự trừng phạt, quả báo cũng được hưởng một ngày xá tội, kết thúc mọi khổ đau.

Nguồn gốc ngày lễ Xá tội vong nhân Trong tích cổ và truyền thuyết dân gian Trung Quốc cho rằng: bắt đầu từ ngày 02 tháng 07 âm lịch, Diêm Vương mở Quỷ Môn Quan để ma quỷ trở lại trần gian và phải trở về trước ngày 15 tháng 07 khi cửa địa ngục đóng lại. Nguồn gốc lễ xá tội vong nhân Trong Phật giáo cũng có hai sự tích về ngày xá tội vong nhân. Truyền thuyết kể rằng: Ngày xửa ngày xưa, khi lũ quỷ thường hay quấy phá khiến con người không thể yên ổn làm ăn. Không thể chịu nổi nỗi thống khổ, con người bèn cầu cứu Đức Phật. Sau đó, Đức Phật giúp con người trục xuất lũ quỷ, đày chúng xuống địa ngục. Rủ lòng từ bi, Đức Phật cho phép lũ quỷ được trở lại trần gian mỗi năm một lần vào rằm tháng 07. Truyền thuyết khác kể rằng: Trong một buổi tối, đại đệ tử của Phật là đức A Nan Đà đang ngồi trong tịnh thì thấy một con Ngạ quỷ người gầy quắt, cổ dài, miệng nhả ra lửa (diệm khẩu) bước vào cho biết 3 ngày nữa A Nan Đà cũng sẽ chết và cũng trở thành quỷ miệng lửa như nó. Nếu không muốn chuyện này xảy ra, A Nan Đà phải bố thí cho lũ Ngạ quỷ mỗi đứa một hộc đồ ăn và cúng dường Tam bảo để chúng được tái sinh. Ngay sau đó, Nan Đà tới gặp Đức Phật, được Phật truyền cho bài chú “Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Đà La Ni”, đem tụng trong lễ cúng để thoát kiếp nạn, thêm phước đức. Lễ vật cúng cô hồn trong lễ xá tội vong nhân Tiền chúng sinh (tiền trinh), hoa, quả 5 loại 5 mầu (ngũ sắc). Tiền vàng từ 15 lễ trở lên, quần áo chúng sinh với nhiều màu sắc. Bỏng ngô, khoai lang luộc, ngô luộc, sắn luộc, cháo, bánh quế... Gạo trộn muối (5 bát, 5 đôi đũa hoặc thìa)... Lễ vật cúng cô hồn trong ngày xá tội vong nhân Trong lễ xá tội vong nhân sẽ không cúng xôi, gà và phải bày lễ cúng ngoài trời. Gạo trộn lẫn với muối sẽ được rắc ra đường hoặc sau nhà sau lễ cúng. Ma quỷ được trở lại trần gian trong ngày xá tội vong nhân

Nguồn gốc ngày lễ Xá tội vong nhân

Trong tích cổ và truyền thuyết dân gian Trung Quốc cho rằng: bắt đầu từ ngày 02 tháng 07 âm lịch, Diêm Vương mở Quỷ Môn Quan để ma quỷ trở lại trần gian và phải trở về trước ngày 15 tháng 07 khi cửa địa ngục đóng lại.

Nguồn gốc lễ xá tội vong nhân

Trong Phật giáo cũng có hai sự tích về ngày xá tội vong nhân.

Truyền thuyết kể rằng: Ngày xửa ngày xưa, khi lũ quỷ thường hay quấy phá khiến con người không thể yên ổn làm ăn. Không thể chịu nổi nỗi thống khổ, con người bèn cầu cứu Đức Phật. Sau đó, Đức Phật giúp con người trục xuất lũ quỷ, đày chúng xuống địa ngục. Rủ lòng từ bi, Đức Phật cho phép lũ quỷ được trở lại trần gian mỗi năm một lần vào rằm tháng 07. Truyền thuyết khác kể rằng: Trong một buổi tối, đại đệ tử của Phật là đức A Nan Đà đang ngồi trong tịnh thì thấy một con Ngạ quỷ người gầy quắt, cổ dài, miệng nhả ra lửa (diệm khẩu) bước vào cho biết 3 ngày nữa A Nan Đà cũng sẽ chết và cũng trở thành quỷ miệng lửa như nó. Nếu không muốn chuyện này xảy ra, A Nan Đà phải bố thí cho lũ Ngạ quỷ mỗi đứa một hộc đồ ăn và cúng dường Tam bảo để chúng được tái sinh. Ngay sau đó, Nan Đà tới gặp Đức Phật, được Phật truyền cho bài chú “Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Đà La Ni”, đem tụng trong lễ cúng để thoát kiếp nạn, thêm phước đức. Lễ vật cúng cô hồn trong lễ xá tội vong nhân Tiền chúng sinh (tiền trinh), hoa, quả 5 loại 5 mầu (ngũ sắc). Tiền vàng từ 15 lễ trở lên, quần áo chúng sinh với nhiều màu sắc. Bỏng ngô, khoai lang luộc, ngô luộc, sắn luộc, cháo, bánh quế... Gạo trộn muối (5 bát, 5 đôi đũa hoặc thìa)... Lễ vật cúng cô hồn trong ngày xá tội vong nhân Trong lễ xá tội vong nhân sẽ không cúng xôi, gà và phải bày lễ cúng ngoài trời. Gạo trộn lẫn với muối sẽ được rắc ra đường hoặc sau nhà sau lễ cúng.

Truyền thuyết khác kể rằng: Trong một buổi tối, đại đệ tử của Phật là đức A Nan Đà đang ngồi trong tịnh thì thấy một con Ngạ quỷ người gầy quắt, cổ dài, miệng nhả ra lửa (diệm khẩu) bước vào cho biết 3 ngày nữa A Nan Đà cũng sẽ chết và cũng trở thành quỷ miệng lửa như nó. Nếu không muốn chuyện này xảy ra, A Nan Đà phải bố thí cho lũ Ngạ quỷ mỗi đứa một hộc đồ ăn và cúng dường Tam bảo để chúng được tái sinh. Ngay sau đó, Nan Đà tới gặp Đức Phật, được Phật truyền cho bài chú “Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Đà La Ni”, đem tụng trong lễ cúng để thoát kiếp nạn, thêm phước đức. Lễ vật cúng cô hồn trong lễ xá tội vong nhân Tiền chúng sinh (tiền trinh), hoa, quả 5 loại 5 mầu (ngũ sắc). Tiền vàng từ 15 lễ trở lên, quần áo chúng sinh với nhiều màu sắc. Bỏng ngô, khoai lang luộc, ngô luộc, sắn luộc, cháo, bánh quế... Gạo trộn muối (5 bát, 5 đôi đũa hoặc thìa)...

Truyền thuyết khác kể rằng: Trong một buổi tối, đại đệ tử của Phật là đức A Nan Đà đang ngồi trong tịnh thì thấy một con Ngạ quỷ người gầy quắt, cổ dài, miệng nhả ra lửa (diệm khẩu) bước vào cho biết 3 ngày nữa A Nan Đà cũng sẽ chết và cũng trở thành quỷ miệng lửa như nó. Nếu không muốn chuyện này xảy ra, A Nan Đà phải bố thí cho lũ Ngạ quỷ mỗi đứa một hộc đồ ăn và cúng dường Tam bảo để chúng được tái sinh. Ngay sau đó, Nan Đà tới gặp Đức Phật, được Phật truyền cho bài chú “Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Đà La Ni”, đem tụng trong lễ cúng để thoát kiếp nạn, thêm phước đức.

Lễ vật cúng cô hồn trong lễ xá tội vong nhân

Tiền chúng sinh (tiền trinh), hoa, quả 5 loại 5 mầu (ngũ sắc). Tiền vàng từ 15 lễ trở lên, quần áo chúng sinh với nhiều màu sắc. Bỏng ngô, khoai lang luộc, ngô luộc, sắn luộc, cháo, bánh quế... Gạo trộn muối (5 bát, 5 đôi đũa hoặc thìa)...

Lễ vật cúng cô hồn trong ngày xá tội vong nhân

Trong lễ xá tội vong nhân sẽ không cúng xôi, gà và phải bày lễ cúng ngoài trời. Gạo trộn lẫn với muối sẽ được rắc ra đường hoặc sau nhà sau lễ cúng.

Ma quỷ được trở lại trần gian trong ngày xá tội vong nhân

Ma quỷ được trở lại trần gian trong ngày xá tội vong nhân

Related Figures

Lễ Vu lan báo hiếu

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/7 Âm lịch Vu Lan, ngày báo hiếu với cha mẹ, ông bà, tổ tiên; là một trong những ngày lễ chính của Phật giáo. Căn cứ theo kinh Vu lan, vào ngày rằm tháng 7 hàng năm, lễ Vu lan được tổ chức trang trọng để hồi hướng công đức cho cha mẹ, ông bà, tổ tiên. Lễ Vu lan trùng với ngày Xá tội vong nhân – ngày mở cửa ngục, giúp đỡ những linh hồn đói khát không nơi nương tựa. Lễ Vu lan đền đáp ân đức cha mẹ Nguồn gốc ngày lễ Vu lan Lễ Vu lan bắt nguồn từ sự tích về Bồ tát Mục Kiền Liên đại hiếu cứu mẹ khỏi kiếp ngạ quỷ. Mục Kiền Liên vốn là đại đệ tử của Đức Phật đã luyện thành công phép thần thông. Sau khi chứng quả A La Hán, ông hồi tưởng và muốn biết mẹ mình giờ thế nào nên dùng thần thông để tìm. Mẹ ông là bà Thanh Đề khi qua đời vì gây nhiều nghiệp ác nên rơi vào ngục A Tỳ làm ngạ quỷ, bị đói khát, hành hạ khổ sở. Thương cảm, ông đem cơm xuống tận cõi quỷ để dâng mẹ. Do đói khát lâu ngày, mẹ của Mục Kiền Liên khi ăn dùng một tay che bát cơm để không cho cô hồn khác tranh cướp nên khi thức ăn đưa lên tới miệng lập tức hóa thành lửa đỏ. Mục Kiền Liên quay trở về hỏi Phật cách cứu mẹ. Phật dạy rằng: "Dù Mục Kiền Liên thần thông quảng đại tới đâu cũng không đủ sức cứu mẹ được. Chỉ còn một cách duy nhất là nhờ chư tăng mười phương hợp lực mới mong giải cứu được. Ngày rằm tháng 7 sắm sửa lễ cũng để cung thỉnh chư tăng". Làm đúng như lời Phật dạy, mẹ của Mục Kiền Liên được giải thoát khỏi bể khổ. Từ đó đến nay, chúng sanh ai muốn báo hiếu cho cha mẹ đều phải làm theo cách Phật đã dạy. Và Rằm tháng bảy hàng năm được chọn là ngày lễ Vu lan, tổ chức cầu siêu cho người thân đã khuất. Ý nghĩa ngày lễ Vu lan Những ngày tháng 7, người người, nhà nhà, mọi người dân trên cả nước đều thành kính bước vào mùa Vu lan báo hiếu. Ngày lễ này nhắc nhở thế hệ sau phải luôn nhớ tới công ơn sinh thành, dưỡng dục của tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Việc nhớ về công ơn bậc sinh thành, cài lên ngực bông hoa cao quý là tình cảm tốt đẹp nhất, chân thành nhất, là chữ "Hiếu" mà con cái muốn tỏ lòng đến bậc sinh thành. Lễ Vu lan là ngày lễ quan trọng của Phật giáo Báo hiếu không chỉ là báo hiếu với cha mẹ ở kiếp này mà còn ở nhiều kiếp khác. Phật giáo luôn nhìn nhận mỗi con người trong mối tương quan nhân quả, trong vòng nghiệp báo luân hồi. Nên chúng ta phải mở rộng phạm vi báo hiếu ra tất cả chúng sinh "Phổ độ chúng sinh", "Cứu nhân độ thế". Ý nghĩa bông hồng cài trên ngực áo Bông hồng cài trên ngực áo là biểu tượng của việc còn cha mẹ của người đó. Ý nghĩa bông hồng cài áo trong lễ Vu lan Người có hoa hồng hẳn sẽ rất hạnh phúc vì còn cha mẹ trên đời này. Người mang hoa trắng sẽ thấy như một sự nhắc nhở đã mất những gì quý giá nhất trên đời. Người còn cha mẹ thì cài hoa hồng Ai đã mất mẹ thì cài hoa trắng

Lễ Vu lan đền đáp ân đức cha mẹ Nguồn gốc ngày lễ Vu lan Lễ Vu lan bắt nguồn từ sự tích về Bồ tát Mục Kiền Liên đại hiếu cứu mẹ khỏi kiếp ngạ quỷ. Mục Kiền Liên vốn là đại đệ tử của Đức Phật đã luyện thành công phép thần thông. Sau khi chứng quả A La Hán, ông hồi tưởng và muốn biết mẹ mình giờ thế nào nên dùng thần thông để tìm. Mẹ ông là bà Thanh Đề khi qua đời vì gây nhiều nghiệp ác nên rơi vào ngục A Tỳ làm ngạ quỷ, bị đói khát, hành hạ khổ sở. Thương cảm, ông đem cơm xuống tận cõi quỷ để dâng mẹ. Do đói khát lâu ngày, mẹ của Mục Kiền Liên khi ăn dùng một tay che bát cơm để không cho cô hồn khác tranh cướp nên khi thức ăn đưa lên tới miệng lập tức hóa thành lửa đỏ. Mục Kiền Liên quay trở về hỏi Phật cách cứu mẹ. Phật dạy rằng: "Dù Mục Kiền Liên thần thông quảng đại tới đâu cũng không đủ sức cứu mẹ được. Chỉ còn một cách duy nhất là nhờ chư tăng mười phương hợp lực mới mong giải cứu được. Ngày rằm tháng 7 sắm sửa lễ cũng để cung thỉnh chư tăng". Làm đúng như lời Phật dạy, mẹ của Mục Kiền Liên được giải thoát khỏi bể khổ. Từ đó đến nay, chúng sanh ai muốn báo hiếu cho cha mẹ đều phải làm theo cách Phật đã dạy. Và Rằm tháng bảy hàng năm được chọn là ngày lễ Vu lan, tổ chức cầu siêu cho người thân đã khuất. Ý nghĩa ngày lễ Vu lan Những ngày tháng 7, người người, nhà nhà, mọi người dân trên cả nước đều thành kính bước vào mùa Vu lan báo hiếu. Ngày lễ này nhắc nhở thế hệ sau phải luôn nhớ tới công ơn sinh thành, dưỡng dục của tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Việc nhớ về công ơn bậc sinh thành, cài lên ngực bông hoa cao quý là tình cảm tốt đẹp nhất, chân thành nhất, là chữ "Hiếu" mà con cái muốn tỏ lòng đến bậc sinh thành. Lễ Vu lan là ngày lễ quan trọng của Phật giáo Báo hiếu không chỉ là báo hiếu với cha mẹ ở kiếp này mà còn ở nhiều kiếp khác. Phật giáo luôn nhìn nhận mỗi con người trong mối tương quan nhân quả, trong vòng nghiệp báo luân hồi. Nên chúng ta phải mở rộng phạm vi báo hiếu ra tất cả chúng sinh "Phổ độ chúng sinh", "Cứu nhân độ thế". Ý nghĩa bông hồng cài trên ngực áo Bông hồng cài trên ngực áo là biểu tượng của việc còn cha mẹ của người đó. Ý nghĩa bông hồng cài áo trong lễ Vu lan Người có hoa hồng hẳn sẽ rất hạnh phúc vì còn cha mẹ trên đời này. Người mang hoa trắng sẽ thấy như một sự nhắc nhở đã mất những gì quý giá nhất trên đời. Người còn cha mẹ thì cài hoa hồng Ai đã mất mẹ thì cài hoa trắng

Nguồn gốc ngày lễ Vu lan

Lễ Vu lan bắt nguồn từ sự tích về Bồ tát Mục Kiền Liên đại hiếu cứu mẹ khỏi kiếp ngạ quỷ. Mục Kiền Liên vốn là đại đệ tử của Đức Phật đã luyện thành công phép thần thông. Sau khi chứng quả A La Hán, ông hồi tưởng và muốn biết mẹ mình giờ thế nào nên dùng thần thông để tìm. Mẹ ông là bà Thanh Đề khi qua đời vì gây nhiều nghiệp ác nên rơi vào ngục A Tỳ làm ngạ quỷ, bị đói khát, hành hạ khổ sở. Thương cảm, ông đem cơm xuống tận cõi quỷ để dâng mẹ. Do đói khát lâu ngày, mẹ của Mục Kiền Liên khi ăn dùng một tay che bát cơm để không cho cô hồn khác tranh cướp nên khi thức ăn đưa lên tới miệng lập tức hóa thành lửa đỏ. Mục Kiền Liên quay trở về hỏi Phật cách cứu mẹ. Phật dạy rằng: "Dù Mục Kiền Liên thần thông quảng đại tới đâu cũng không đủ sức cứu mẹ được. Chỉ còn một cách duy nhất là nhờ chư tăng mười phương hợp lực mới mong giải cứu được. Ngày rằm tháng 7 sắm sửa lễ cũng để cung thỉnh chư tăng". Làm đúng như lời Phật dạy, mẹ của Mục Kiền Liên được giải thoát khỏi bể khổ. Từ đó đến nay, chúng sanh ai muốn báo hiếu cho cha mẹ đều phải làm theo cách Phật đã dạy. Và Rằm tháng bảy hàng năm được chọn là ngày lễ Vu lan, tổ chức cầu siêu cho người thân đã khuất.

Ý nghĩa ngày lễ Vu lan

Những ngày tháng 7, người người, nhà nhà, mọi người dân trên cả nước đều thành kính bước vào mùa Vu lan báo hiếu. Ngày lễ này nhắc nhở thế hệ sau phải luôn nhớ tới công ơn sinh thành, dưỡng dục của tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Việc nhớ về công ơn bậc sinh thành, cài lên ngực bông hoa cao quý là tình cảm tốt đẹp nhất, chân thành nhất, là chữ "Hiếu" mà con cái muốn tỏ lòng đến bậc sinh thành.

Lễ Vu lan là ngày lễ quan trọng của Phật giáo

Báo hiếu không chỉ là báo hiếu với cha mẹ ở kiếp này mà còn ở nhiều kiếp khác. Phật giáo luôn nhìn nhận mỗi con người trong mối tương quan nhân quả, trong vòng nghiệp báo luân hồi. Nên chúng ta phải mở rộng phạm vi báo hiếu ra tất cả chúng sinh "Phổ độ chúng sinh", "Cứu nhân độ thế".

Ý nghĩa bông hồng cài trên ngực áo

Bông hồng cài trên ngực áo là biểu tượng của việc còn cha mẹ của người đó.

Ý nghĩa bông hồng cài áo trong lễ Vu lan

Người có hoa hồng hẳn sẽ rất hạnh phúc vì còn cha mẹ trên đời này. Người mang hoa trắng sẽ thấy như một sự nhắc nhở đã mất những gì quý giá nhất trên đời.

Người còn cha mẹ thì cài hoa hồng Ai đã mất mẹ thì cài hoa trắng

Related Figures

Hội lăng Lê Văn Duyệt (Lăng ông bà Chiểu) TP HCM

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 30/7- 3/8 Âm lịch Hội lăng Lê Văn Duyệt diễn ra từ ngày 30 tháng 7 và kết thúc ngày 03 tháng 08 âm lịch, tại lăng Ông Bà Chiếu, quận Bình Thạnh, TP. HCM. Lăng Tả quân Lê Văn Duyệt Lễ giỗ Tả quân Lê Văn Duyệt (Người giữ chức tổng chấn Gia Định thành xưa, bao gồm cả Nam Bộ và tỉnh Bình Thuận nay) được tổ chức bên cạnh chợ Bà Chiếu. Nhiều người vẫn nhầm lẫn đây là phần mộ của ông bà Chiếu. Thực chất đây là phần mộ của tả quân Lê Văn Duyệt và phu nhân Đỗ Thị Phẫn. Tượng đài Tả quân Lê Văn Duyệt Xét trên phương diện lễ hội tưởng niệm các nhân vật có công trong lịch sử, đây là lễ hội lớn nhất đất Gia Định xưa và nay. Lăng Ông có diện tích 18.500m2, nằm giữa bốn con đường lớn Đinh Tiên Hoàng, Phan Đăng Lưu, Trịnh Hoài Đức, Vũ Tùng. Ngày 06/12/1989, toàn bộ lăng được Bộ Văn hóa công nhận là di tích Lịch sử cấp quốc gia. Khu vực chính điện lăng có bức tượng bằng đồng của Tả quân Lê Văn Duyệt. Khu vực trung điện, thờ Tả quân Lê Văn Duyệt (ở giữa), Thiếu phó Lê Chất ( bên phải), Kinh lược Phan Thanh Giản (bên trái). Khu vực "Thượng công linh miếu" là nơi ra ra các hoạt động tín ngưỡng của nhân dân trong việc thờ cúng Tả quân Lê Văn Duyệt. Du khách tham gia hội lăng Lê Văn Duyệt Hàng năm, hội lăng Lê Văn Duyệt thu hút hàng chục nghìn người tham gia, đáng chú ý du khách người Hoa chiếm khoảng 50%. Người Hoa thành kính dâng hương bởi Tổng chấn Lê Văn Duyệt đã có những chính sách, chủ trương giúp cho cộng đồng người Hoa an cư lạc nghiệp tại Việt Nam. Người Hoa tôn vinh Tả quân Lê Văn Duyệt là "Phò mã gia gia" và coi ông như một phúc thần.

Related Figures

Đại lễ Phật đản

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/4 Âm lịch Đại lễ Phật đản diễn ra vào ngày 15 tháng 4 âm lịch hàng năm, là ngày kỷ niệm Phật Thích Ca Mâu Ni ra đời. Trong đó, Phật đản có nghĩa là ngày sinh của đức Phật. Theo truyền thuyết, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni xuất thân là một thái tử tên Tất Đạt Đa, dòng họ Cồ Đàm, Vương tộc Thích Ca, sinh vào ngày Rằm tháng tư năm 624 TCN tại vườn Lâm Tỳ Ni - nơi nằm giữa Ca Tỳ La Vệ và Devadaha ở Nepal. Lễ Phật đản có ý nghĩa kỷ niệm ngày Đức Phật sinh ra đời Ở các nước có đạo Phật, hằng năm cứ đến ngày Rằm tháng tư các phật tử đều long trọng tổ chức kỷ niệm ngày Đức Phật ra đời. Từ năm 1999, Lễ Phật đản 15/4 đã được Liên Hiệp Quốc công nhận là ngày lễ hội văn hóa tâm linh thế giới. Trong đó, Lễ Phật đản là một trong ba lễ cấu thành Lễ Tam hợp mà Liên Hiệp Quốc gọi là Vesak: lễ Phật đản sinh, lễ Phật thành đạo và lễ Phật nhập Niết bàn. Đại lễ Phật đản ở Huế Tại Việt Nam, Lễ Phật đản hằng năm được Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức một cách trang trọng tại nhiều nơi trên cả nước. Ngoài buổi lễ chính, Giáo hội Phật Giáo các tỉnh thành còn tổ chức nhiều hoạt động khác như tổ chức xe hoa diễu dành trên các đường phố, làm lễ phóng sinh, thả hoa đăng trên sông, tổ chức văn nghệ chào mừng Phật đản, thuyết giảng Phật pháp... Trong những ngày này, đèn lồng, hoa và cờ Phật giáo được treo khắp các chùa để chào mừng ngày Phật sinh. Đặc biệt, tại lễ đài tổ chức buổi lễ chính sẽ có hàng nghìn tăng, ni, phật tử tham dự để cùng cầu nguyện quốc thái dân an, tâm niệm an lạc. Đại lễ Phật đản ở TP Hồ Chí Minh Bên cạnh đó, Giáo hội Phật giáo các tỉnh thành và các chùa cơ sở còn phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tại địa phương tổ chức các hoạt động từ thiện, xây nhà tình thương, thăm hỏi và tặng quà bà con nghèo trong dịp này. Vào ngày Phật Đản, các Phật tử không sát sinh, giết gà, vịt... Tất cả mọi người đều ăn chay, người bán hàng ở chợ cũng chỉ bán đồ chay. Ngoài ra, nhiều người còn thả chim, thả cá để tạo niềm vui và hiến dâng sự sống cho muôn loài...

Theo truyền thuyết, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni xuất thân là một thái tử tên Tất Đạt Đa, dòng họ Cồ Đàm, Vương tộc Thích Ca, sinh vào ngày Rằm tháng tư năm 624 TCN tại vườn Lâm Tỳ Ni - nơi nằm giữa Ca Tỳ La Vệ và Devadaha ở Nepal.

Lễ Phật đản có ý nghĩa kỷ niệm ngày Đức Phật sinh ra đời

Ở các nước có đạo Phật, hằng năm cứ đến ngày Rằm tháng tư các phật tử đều long trọng tổ chức kỷ niệm ngày Đức Phật ra đời. Từ năm 1999, Lễ Phật đản 15/4 đã được Liên Hiệp Quốc công nhận là ngày lễ hội văn hóa tâm linh thế giới. Trong đó, Lễ Phật đản là một trong ba lễ cấu thành Lễ Tam hợp mà Liên Hiệp Quốc gọi là Vesak: lễ Phật đản sinh, lễ Phật thành đạo và lễ Phật nhập Niết bàn.

Đại lễ Phật đản ở Huế

Tại Việt Nam, Lễ Phật đản hằng năm được Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức một cách trang trọng tại nhiều nơi trên cả nước. Ngoài buổi lễ chính, Giáo hội Phật Giáo các tỉnh thành còn tổ chức nhiều hoạt động khác như tổ chức xe hoa diễu dành trên các đường phố, làm lễ phóng sinh, thả hoa đăng trên sông, tổ chức văn nghệ chào mừng Phật đản, thuyết giảng Phật pháp... Trong những ngày này, đèn lồng, hoa và cờ Phật giáo được treo khắp các chùa để chào mừng ngày Phật sinh. Đặc biệt, tại lễ đài tổ chức buổi lễ chính sẽ có hàng nghìn tăng, ni, phật tử tham dự để cùng cầu nguyện quốc thái dân an, tâm niệm an lạc.

Đại lễ Phật đản ở TP Hồ Chí Minh

Bên cạnh đó, Giáo hội Phật giáo các tỉnh thành và các chùa cơ sở còn phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tại địa phương tổ chức các hoạt động từ thiện, xây nhà tình thương, thăm hỏi và tặng quà bà con nghèo trong dịp này.

Vào ngày Phật Đản, các Phật tử không sát sinh, giết gà, vịt... Tất cả mọi người đều ăn chay, người bán hàng ở chợ cũng chỉ bán đồ chay. Ngoài ra, nhiều người còn thả chim, thả cá để tạo niềm vui và hiến dâng sự sống cho muôn loài...

Related Figures

Festival nghề truyền thống Huế

Thông tin thời kỳ

Festival nghề truyền thống Huế là một hình thức lễ hội gắn với hoạt động tôn vinh nghề và tưởng niệm các tổ sư của các ngành nghề, có ý nghĩa hướng về truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta. Festival nghề truyền thống Huế lần đầu tiên được tổ chức vào năm 2005 với chủ đề tôn vinh nghề Thêu và Nón lá. Và từ đó cứ 2 năm một lần vào các năm lẻ, Festival lại được tổ chức với các chủ đề khác nhau nhưng đều hướng đến một mục tiêu chung là bảo tồn những giá trị tinh hoa của nghề truyền thống Việt Nam. Biểu diễn nghệ thuật tại Festival nghề truyền thống Huế Tham dự vào Festival nghề truyền thống Huế không chỉ có các nghệ nhân và các làng nghề của Huế mà còn có nhiều nghệ nhân đến từ các làng nghề khác. Với chủ trương khôi phục và phát triển các nghề và làng nghề truyền thống góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, đa dạng hóa sản phẩm phục vụ du lịch, Festival Nghề truyền thống Huế đã trở thành nơi hội tụ của các nghệ nhân và làng nghề tiêu biểu của Thừa Thiên - Huế và nhiều địa phương trong cả nước. Nghề làm nón Huế Festival nghề truyền thống Huế được tổ chức với nhiều hoạt động đa dạng, phong phú như chương trình khai mạc, bế mạc festival, Lễ Tế Tổ bách nghệ và lễ rước tôn vinh nghề, tổ chức trưng bày, thao diễn và giới thiệu các sản phẩm nghề, làng nghề truyền thống Huế và một số địa phương tiêu biểu và kết hợp tour du lịch về các làng nghề Huế. Bên cạnh đó, các hoạt động hưởng ứng, lồng ghép cũng được thiết kế đa dạng nội dung và hình thức như các buổi tọa đàm khoa học, triển lãm ảnh, triển lãm mỹ thuật, trưng bày cổ vật, hội thi về một số nghề truyền thống, hướng dẫn và dạy làm các sản phẩm thủ công truyền thống, giới thiệu các món ăn Huế, tổ chức gặp gỡ, tọa đàm và tôn vinh các nghệ nhân, biểu diễn nghệ thuật, quảng diễn đường phố... Nghề mây tre đan Bao La của Huế Qua các kỳ tổ chức, Festival nghề truyền thống Huế là dịp để các nghệ nhân đem hết tài năng, trí tuệ và tinh hoa của nghề, tạo nên những sản phẩm độc đáo để giới thiệu với công chúng và du khách gần xa, góp phần thúc đẩy mục tiêu bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của các làng nghề truyền thống.

Festival nghề truyền thống Huế là một hình thức lễ hội gắn với hoạt động tôn vinh nghề và tưởng niệm các tổ sư của các ngành nghề, có ý nghĩa hướng về truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta.

Festival nghề truyền thống Huế lần đầu tiên được tổ chức vào năm 2005 với chủ đề tôn vinh nghề Thêu và Nón lá. Và từ đó cứ 2 năm một lần vào các năm lẻ, Festival lại được tổ chức với các chủ đề khác nhau nhưng đều hướng đến một mục tiêu chung là bảo tồn những giá trị tinh hoa của nghề truyền thống Việt Nam.

Biểu diễn nghệ thuật tại Festival nghề truyền thống Huế

Tham dự vào Festival nghề truyền thống Huế không chỉ có các nghệ nhân và các làng nghề của Huế mà còn có nhiều nghệ nhân đến từ các làng nghề khác. Với chủ trương khôi phục và phát triển các nghề và làng nghề truyền thống góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, đa dạng hóa sản phẩm phục vụ du lịch, Festival Nghề truyền thống Huế đã trở thành nơi hội tụ của các nghệ nhân và làng nghề tiêu biểu của Thừa Thiên - Huế và nhiều địa phương trong cả nước.

Nghề làm nón Huế

Festival nghề truyền thống Huế được tổ chức với nhiều hoạt động đa dạng, phong phú như chương trình khai mạc, bế mạc festival, Lễ Tế Tổ bách nghệ và lễ rước tôn vinh nghề, tổ chức trưng bày, thao diễn và giới thiệu các sản phẩm nghề, làng nghề truyền thống Huế và một số địa phương tiêu biểu và kết hợp tour du lịch về các làng nghề Huế. Bên cạnh đó, các hoạt động hưởng ứng, lồng ghép cũng được thiết kế đa dạng nội dung và hình thức như các buổi tọa đàm khoa học, triển lãm ảnh, triển lãm mỹ thuật, trưng bày cổ vật, hội thi về một số nghề truyền thống, hướng dẫn và dạy làm các sản phẩm thủ công truyền thống, giới thiệu các món ăn Huế, tổ chức gặp gỡ, tọa đàm và tôn vinh các nghệ nhân, biểu diễn nghệ thuật, quảng diễn đường phố...

Nghề mây tre đan Bao La của Huế

Qua các kỳ tổ chức, Festival nghề truyền thống Huế là dịp để các nghệ nhân đem hết tài năng, trí tuệ và tinh hoa của nghề, tạo nên những sản phẩm độc đáo để giới thiệu với công chúng và du khách gần xa, góp phần thúc đẩy mục tiêu bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của các làng nghề truyền thống.

Related Figures

Lễ hội Yến sào Khánh Hòa

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/5 Âm lịch Lễ hội Yến sào Khánh Hòa là một lễ hội nghề truyền thống được tổ chức hằng năm nhằm tôn vinh và tri ân thủy tổ, thánh mẫu cùng các vị tiền bối đã có công trong việc xây dựng, bảo vệ và phát triển ngành nghề yến sào bền vững. Lễ hội do Công ty Yến Sào Khánh Hòa tổ chức vào ngày 10/5 âm lịch hằng năm tại đảo Hòn Nội, TP Nha Trang. Đây cũng là dịp để CB-CNV Công ty Yến sào Khánh Hòa, các cựu cán bộ các thế hệ của đại gia đình Yến sào Khánh Hòa cùng các đại lý, nhà phân phối trên cả nước và quốc tế gặp gỡ, ôn lại truyền thống ngành nghề yến sào; cùng trao đổi, truyền đạt kinh nghiệm tạo sự đoàn kết gắn bó, cùng nhau gìn giữ, tôn tạo và xây dựng ngành nghề yến sào phát triển ngày càng bền vững. Nơi cúng tổ nghề yến được xây khang trang Về truyền thống nghề yến sào, theo lịch sử ghi lại, vào năm 1328, trong chuyến công cán vào phương Nam, Đề đốc nhà Trần là Lê Văn Đạt đã phát hiện ra các hang đảo yến ở vùng phủ Bình Khang (tỉnh Khánh Hòa ngày nay). Sau đó, ông đã thành lập đội quân bảo vệ, khai thác và phát triển nguồn tài nguyên này. Nghề yến sào nước ta ra đời từ đó và ông được các thế hệ đời sau suy tôn là Thủy tổ nghề yến sào Việt Nam. Nghi thức cúng tổ nghề Những người có công kế nghiệp Thủy tổ nghề yến là con cháu đời sau của ông, An phủ sứ Bình Khang Lê Văn Quang và con gái là bà Lê Thị Huyền Trâm. Dưới thời Tây Sơn, bà Lê Thị Huyền Trâm được giao chỉ huy đội thủy quân tại dinh Bình Khang kiêm tổng quản quần đảo Hòn Tre và các đảo yến. Trong thời gian này, bà đã tổ chức khai thác, xuất khẩu yến sào làm nguồn tài chính, hậu cần, quân nhu… cho quân Tây Sơn. Ngày 10-5 năm Kỷ Sửu (1793), trong cuộc chiến bảo vệ chủ quyền lãnh hải và các đảo yến, Đại đô đốc Lê Thị Huyền Trâm cùng An phủ sứ Bình Khang Lê Văn Quang đã anh dũng hy sinh. Đảo Yến Hòn Nội Để ghi nhớ công ơn của hai người, cứ đến ngày 10-5 âm lịch hằng năm, người dân địa phương lại tổ chức cúng giỗ Thánh mẫu Lê Thị Huyền Trâm và các tướng sĩ Tây Sơn. Từ đó, Lễ hội Yến sào Khánh Hòa được tổ chức hằng năm để ghi nhớ công ơn các bậc tiền bối ngành nghề yến sào và những người ngã xuống vì biển đảo quê hương. Lễ hội được tổ chức tại đảo Hòn Nội, nơi đặt Miếu thờ Bà Chúa Đảo Yến với các nghi lễ trọng thể, trang nghiêm như dâng lễ vật, thắp hương tại nhà thờ tổ, nghi thức tế lễ do các bậc cao niên thực hiện. Nghề khai thác Yến Sào ở Khánh Hòa đã có truyền thống gần 700 năm, là một nghề “hái ra vàng” nhưng đầy hiểm nguy, rủi ro vì luôn phải treo mình trên vách đá chênh vênh để thu tổ yến. Vì thế, lễ hội cũng là dịp để người làm nghề cầu cúng, xin được ban ơn, ban phước lành. TH

Lễ hội do Công ty Yến Sào Khánh Hòa tổ chức vào ngày 10/5 âm lịch hằng năm tại đảo Hòn Nội, TP Nha Trang. Đây cũng là dịp để CB-CNV Công ty Yến sào Khánh Hòa, các cựu cán bộ các thế hệ của đại gia đình Yến sào Khánh Hòa cùng các đại lý, nhà phân phối trên cả nước và quốc tế gặp gỡ, ôn lại truyền thống ngành nghề yến sào; cùng trao đổi, truyền đạt kinh nghiệm tạo sự đoàn kết gắn bó, cùng nhau gìn giữ, tôn tạo và xây dựng ngành nghề yến sào phát triển ngày càng bền vững. Nơi cúng tổ nghề yến được xây khang trang Về truyền thống nghề yến sào, theo lịch sử ghi lại, vào năm 1328, trong chuyến công cán vào phương Nam, Đề đốc nhà Trần là Lê Văn Đạt đã phát hiện ra các hang đảo yến ở vùng phủ Bình Khang (tỉnh Khánh Hòa ngày nay). Sau đó, ông đã thành lập đội quân bảo vệ, khai thác và phát triển nguồn tài nguyên này. Nghề yến sào nước ta ra đời từ đó và ông được các thế hệ đời sau suy tôn là Thủy tổ nghề yến sào Việt Nam. Nghi thức cúng tổ nghề Những người có công kế nghiệp Thủy tổ nghề yến là con cháu đời sau của ông, An phủ sứ Bình Khang Lê Văn Quang và con gái là bà Lê Thị Huyền Trâm. Dưới thời Tây Sơn, bà Lê Thị Huyền Trâm được giao chỉ huy đội thủy quân tại dinh Bình Khang kiêm tổng quản quần đảo Hòn Tre và các đảo yến. Trong thời gian này, bà đã tổ chức khai thác, xuất khẩu yến sào làm nguồn tài chính, hậu cần, quân nhu… cho quân Tây Sơn. Ngày 10-5 năm Kỷ Sửu (1793), trong cuộc chiến bảo vệ chủ quyền lãnh hải và các đảo yến, Đại đô đốc Lê Thị Huyền Trâm cùng An phủ sứ Bình Khang Lê Văn Quang đã anh dũng hy sinh. Đảo Yến Hòn Nội Để ghi nhớ công ơn của hai người, cứ đến ngày 10-5 âm lịch hằng năm, người dân địa phương lại tổ chức cúng giỗ Thánh mẫu Lê Thị Huyền Trâm và các tướng sĩ Tây Sơn. Từ đó, Lễ hội Yến sào Khánh Hòa được tổ chức hằng năm để ghi nhớ công ơn các bậc tiền bối ngành nghề yến sào và những người ngã xuống vì biển đảo quê hương. Lễ hội được tổ chức tại đảo Hòn Nội, nơi đặt Miếu thờ Bà Chúa Đảo Yến với các nghi lễ trọng thể, trang nghiêm như dâng lễ vật, thắp hương tại nhà thờ tổ, nghi thức tế lễ do các bậc cao niên thực hiện. Nghề khai thác Yến Sào ở Khánh Hòa đã có truyền thống gần 700 năm, là một nghề “hái ra vàng” nhưng đầy hiểm nguy, rủi ro vì luôn phải treo mình trên vách đá chênh vênh để thu tổ yến. Vì thế, lễ hội cũng là dịp để người làm nghề cầu cúng, xin được ban ơn, ban phước lành. TH

Lễ hội do Công ty Yến Sào Khánh Hòa tổ chức vào ngày 10/5 âm lịch hằng năm tại đảo Hòn Nội, TP Nha Trang. Đây cũng là dịp để CB-CNV Công ty Yến sào Khánh Hòa, các cựu cán bộ các thế hệ của đại gia đình Yến sào Khánh Hòa cùng các đại lý, nhà phân phối trên cả nước và quốc tế gặp gỡ, ôn lại truyền thống ngành nghề yến sào; cùng trao đổi, truyền đạt kinh nghiệm tạo sự đoàn kết gắn bó, cùng nhau gìn giữ, tôn tạo và xây dựng ngành nghề yến sào phát triển ngày càng bền vững.

Về truyền thống nghề yến sào, theo lịch sử ghi lại, vào năm 1328, trong chuyến công cán vào phương Nam, Đề đốc nhà Trần là Lê Văn Đạt đã phát hiện ra các hang đảo yến ở vùng phủ Bình Khang (tỉnh Khánh Hòa ngày nay). Sau đó, ông đã thành lập đội quân bảo vệ, khai thác và phát triển nguồn tài nguyên này. Nghề yến sào nước ta ra đời từ đó và ông được các thế hệ đời sau suy tôn là Thủy tổ nghề yến sào Việt Nam.

Nghi thức cúng tổ nghề

Những người có công kế nghiệp Thủy tổ nghề yến là con cháu đời sau của ông, An phủ sứ Bình Khang Lê Văn Quang và con gái là bà Lê Thị Huyền Trâm. Dưới thời Tây Sơn, bà Lê Thị Huyền Trâm được giao chỉ huy đội thủy quân tại dinh Bình Khang kiêm tổng quản quần đảo Hòn Tre và các đảo yến. Trong thời gian này, bà đã tổ chức khai thác, xuất khẩu yến sào làm nguồn tài chính, hậu cần, quân nhu… cho quân Tây Sơn. Ngày 10-5 năm Kỷ Sửu (1793), trong cuộc chiến bảo vệ chủ quyền lãnh hải và các đảo yến, Đại đô đốc Lê Thị Huyền Trâm cùng An phủ sứ Bình Khang Lê Văn Quang đã anh dũng hy sinh.

Đảo Yến Hòn Nội

Để ghi nhớ công ơn của hai người, cứ đến ngày 10-5 âm lịch hằng năm, người dân địa phương lại tổ chức cúng giỗ Thánh mẫu Lê Thị Huyền Trâm và các tướng sĩ Tây Sơn. Từ đó, Lễ hội Yến sào Khánh Hòa được tổ chức hằng năm để ghi nhớ công ơn các bậc tiền bối ngành nghề yến sào và những người ngã xuống vì biển đảo quê hương.

Lễ hội được tổ chức tại đảo Hòn Nội, nơi đặt Miếu thờ Bà Chúa Đảo Yến với các nghi lễ trọng thể, trang nghiêm như dâng lễ vật, thắp hương tại nhà thờ tổ, nghi thức tế lễ do các bậc cao niên thực hiện. Nghề khai thác Yến Sào ở Khánh Hòa đã có truyền thống gần 700 năm, là một nghề “hái ra vàng” nhưng đầy hiểm nguy, rủi ro vì luôn phải treo mình trên vách đá chênh vênh để thu tổ yến. Vì thế, lễ hội cũng là dịp để người làm nghề cầu cúng, xin được ban ơn, ban phước lành.

TH

Related Figures

Festival Biển Nha Trang - Khánh Hòa

Thông tin thời kỳ

Festival Biển Nha Trang là một sự kiện văn hóa, thể thao, du lịch được tổ chức 2 năm một lần vào mùa hè các năm lẻ nhằm phát huy những giá trị văn hóa truyền thống và quảng bá tiềm năng, thế mạnh về văn hóa, du lịch của vùng đất Nha Trang - Khánh Hòa. Festival Biển Nha Trang-Khánh Hòa lần đầu tiên được tổ chức vào năm 2003 - là năm vừa tròn 350 năm chúa Nguyễn Phúc Tần cử Cai cơ Hùng Lộc làm trấn thủ và thiết lập hệ thống hành chính trên vùng đất Khánh Hòa. Cũng vào mùa hè năm đó, Vịnh Nha Trang chính thức trở thành một thành viên của Câu lạc bộ các vịnh biển đẹp nhất thế giới. Bắn pháo hoa tại Festival biển Nha Trang Kể từ đó Festival Biển Nha Trang-Khánh Hòa được duy trì thành một hoạt động văn hóa lâu dài của tỉnh Khánh Hòa và không chỉ được du khách mà ngay cả những người dân Nha Trang - Khánh Hòa cũng rất mong chờ. Nha Trang xinh đẹp với bãi cát vàng Festival Biển Nha Trang được tổ chức 2 năm 1 lần vào các năm lẻ và mỗi lần tổ chức lại mang một chủ đề khác nhau. Mỗi kỳ festival đều dựa trên nguyên tắc tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng về nội dung cũng như hình thức so với các kỳ Festival trước. Thông điệp của mỗi kỳ đều nhấn mạnh Festival Biển Nha Trang - Khánh Hòa là cách tôn vinh thế mạnh của biển, đảo Việt Nam, đồng thời cũng như vẻ đẹp của danh thắng Vịnh Nha Trang và truyền thống văn hóa biển, đảo lâu đời của vùng đất “rừng trầm, biển yến” Khánh Hòa. Đua thuyền buồm - một hoạt động thường niên trong Festival biển Trong khuôn khổ Festival Biển Nha Trang có nhiều hoạt động như Lễ khai mạc và bế mạc có sự tham gia của nhiều đoàn nghệ thuật quốc tế, bắn pháo hoa khai mạc, lễ hội đường phố và các hoạt động văn hóa dân gian không thể thiếu như lễ hội cầu ngư; các trò chơi trên biển như hội thi câu cá, gánh cá, thi đấu cờ người, đi cà kheo, kéo co, nhảy dây thừng, nhảy flashmob trên biển; chương trình ca múa nhạc và ngâm thơ với chủ đề về Nha Trang... Biển Nha Trang hiền hòa, mộng mơ và quyến rũ Festival Biển đã mang đến cho du khách và nhân dân địa phương những ngày hè sôi động, hấp dẫn và ấn tượng về thành phố Nha Trang văn minh, thân thiện và mến khách. Đây cũng là cơ hội quảng bá tiềm năng, thế mạnh về kinh tế, văn hoá, du lịch của địa phương, đồng thời kêu gọi, thu hút đầu tư nhiều hơn nữa vào Khánh Hoà.

Festival Biển Nha Trang-Khánh Hòa lần đầu tiên được tổ chức vào năm 2003 - là năm vừa tròn 350 năm chúa Nguyễn Phúc Tần cử Cai cơ Hùng Lộc làm trấn thủ và thiết lập hệ thống hành chính trên vùng đất Khánh Hòa. Cũng vào mùa hè năm đó, Vịnh Nha Trang chính thức trở thành một thành viên của Câu lạc bộ các vịnh biển đẹp nhất thế giới.

Bắn pháo hoa tại Festival biển Nha Trang

Kể từ đó Festival Biển Nha Trang-Khánh Hòa được duy trì thành một hoạt động văn hóa lâu dài của tỉnh Khánh Hòa và không chỉ được du khách mà ngay cả những người dân Nha Trang - Khánh Hòa cũng rất mong chờ.

Nha Trang xinh đẹp với bãi cát vàng

Festival Biển Nha Trang được tổ chức 2 năm 1 lần vào các năm lẻ và mỗi lần tổ chức lại mang một chủ đề khác nhau. Mỗi kỳ festival đều dựa trên nguyên tắc tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng về nội dung cũng như hình thức so với các kỳ Festival trước. Thông điệp của mỗi kỳ đều nhấn mạnh Festival Biển Nha Trang - Khánh Hòa là cách tôn vinh thế mạnh của biển, đảo Việt Nam, đồng thời cũng như vẻ đẹp của danh thắng Vịnh Nha Trang và truyền thống văn hóa biển, đảo lâu đời của vùng đất “rừng trầm, biển yến” Khánh Hòa.

Đua thuyền buồm - một hoạt động thường niên trong Festival biển

Trong khuôn khổ Festival Biển Nha Trang có nhiều hoạt động như Lễ khai mạc và bế mạc có sự tham gia của nhiều đoàn nghệ thuật quốc tế, bắn pháo hoa khai mạc, lễ hội đường phố và các hoạt động văn hóa dân gian không thể thiếu như lễ hội cầu ngư; các trò chơi trên biển như hội thi câu cá, gánh cá, thi đấu cờ người, đi cà kheo, kéo co, nhảy dây thừng, nhảy flashmob trên biển; chương trình ca múa nhạc và ngâm thơ với chủ đề về Nha Trang...

Biển Nha Trang hiền hòa, mộng mơ và quyến rũ

Festival Biển đã mang đến cho du khách và nhân dân địa phương những ngày hè sôi động, hấp dẫn và ấn tượng về thành phố Nha Trang văn minh, thân thiện và mến khách. Đây cũng là cơ hội quảng bá tiềm năng, thế mạnh về kinh tế, văn hoá, du lịch của địa phương, đồng thời kêu gọi, thu hút đầu tư nhiều hơn nữa vào Khánh Hoà.

Related Figures

Lễ hội "Lăng Cô - Vịnh đẹp thế giới"

Thông tin thời kỳ

Lễ hội "Lăng Cô - Vịnh đẹp thế giới" là một sự kiện văn hoá, thể thao, du lịch được tổ chức tại thị trấn Lăng Cô, huyện Phú Lộc vào tháng 5 hằng năm nhằm xây dựng thương hiệu cho khu du lịch Lăng Cô. Lễ hội "Lăng Cô - Vịnh đẹp thế giới" khởi nguồn từ lễ hội "Lăng Cô - Huyền thoại biển" được tổ chức lần đầu tiên vào năm 2005. Đến năm 2011, Lễ hội "Lăng Cô - Vịnh đẹp thế giới" được tổ chức để kỷ niệm 2 năm ngày biển Lăng Cô được công nhận danh hiệu vịnh đẹp thế giới, đứng thứ 3 sau vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) và vịnh Nha Trang (Khánh Hòa). Vịnh Lăng Cô Đây là một sự kiện văn hóa, thể thao và du lịch hàng đầu của huyện Phú Lộc, được tổ chức nhằm hướng đến mục tiêu từng bước xây dựng thương hiệu mang tầm quốc gia về du lịch của Khu Kinh tế Chân Mây - Lăng Cô; đồng thời tạo động lực để thu hút đầu tư phát triển kinh tế vùng biển đảo bền vững và phù hợp với tiềm năng, sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Lễ hội cũng là dịp tôn vinh các giá trị văn hoá, danh lam thắng cảnh, môi trường, sinh thái, khẳng định vị trí, tiềm năng và triển vọng của Lăng Cô. Vịnh Lăng Cô lọt vào danh sách các vịnh biển đẹp nhất thế giới vào năm 2009 Nằm cách TP. Huế 60km về phía nam, Vịnh Lăng Cô là một trong những vịnh biển có điều kiện tự nhiên và phong cảnh đẹp nhất Việt Nam, là chốn "bồng lai tiên cảnh" của dải đất duyên hải miền Trung. Với bãi biển dài hơn 10km, cát trắng mịn, nước trong xanh, vịnh Lăng Cô hội tụ đầy đủ các điều kiện thuận lợi để phát triển nhiều loại hình du lịch như nghỉ dưỡng biển, du lịch sinh thái vùng đầm phá, thể thao biển... Khung cảnh nên thơ vào một buổi chiều ở Vịnh Lăng Cô. Lễ hội "Lăng Cô - Vịnh đẹp thế giới" được tổ chức mỗi năm một chủ đề với nhiều hình thức hoạt động phong phú, đa dạng, nhằm tạo ra những sản phẩm văn hóa, du lịch, dịch vụ phục vụ người dân và du khách. Tiêu biểu như các triển lãm và hội chợ ẩm thực, lễ hội cầu ngư, đua thuyền truyền thống, các hoạt động thể thao như đua lắc thuyền thúng, kéo co, lướt sóng, bóng đá, bóng chuyền bãi biển cùng các hoạt động nghệ thuật, trại hè thanh niên...

Lễ hội "Lăng Cô - Vịnh đẹp thế giới" khởi nguồn từ lễ hội "Lăng Cô - Huyền thoại biển" được tổ chức lần đầu tiên vào năm 2005. Đến năm 2011, Lễ hội "Lăng Cô - Vịnh đẹp thế giới" được tổ chức để kỷ niệm 2 năm ngày biển Lăng Cô được công nhận danh hiệu vịnh đẹp thế giới, đứng thứ 3 sau vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) và vịnh Nha Trang (Khánh Hòa).

Vịnh Lăng Cô

Đây là một sự kiện văn hóa, thể thao và du lịch hàng đầu của huyện Phú Lộc, được tổ chức nhằm hướng đến mục tiêu từng bước xây dựng thương hiệu mang tầm quốc gia về du lịch của Khu Kinh tế Chân Mây - Lăng Cô; đồng thời tạo động lực để thu hút đầu tư phát triển kinh tế vùng biển đảo bền vững và phù hợp với tiềm năng, sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Lễ hội cũng là dịp tôn vinh các giá trị văn hoá, danh lam thắng cảnh, môi trường, sinh thái, khẳng định vị trí, tiềm năng và triển vọng của Lăng Cô.

Vịnh Lăng Cô lọt vào danh sách các vịnh biển đẹp nhất thế giới vào năm 2009

Nằm cách TP. Huế 60km về phía nam, Vịnh Lăng Cô là một trong những vịnh biển có điều kiện tự nhiên và phong cảnh đẹp nhất Việt Nam, là chốn "bồng lai tiên cảnh" của dải đất duyên hải miền Trung. Với bãi biển dài hơn 10km, cát trắng mịn, nước trong xanh, vịnh Lăng Cô hội tụ đầy đủ các điều kiện thuận lợi để phát triển nhiều loại hình du lịch như nghỉ dưỡng biển, du lịch sinh thái vùng đầm phá, thể thao biển...

Khung cảnh nên thơ vào một buổi chiều ở Vịnh Lăng Cô.

Lễ hội "Lăng Cô - Vịnh đẹp thế giới" được tổ chức mỗi năm một chủ đề với nhiều hình thức hoạt động phong phú, đa dạng, nhằm tạo ra những sản phẩm văn hóa, du lịch, dịch vụ phục vụ người dân và du khách. Tiêu biểu như các triển lãm và hội chợ ẩm thực, lễ hội cầu ngư, đua thuyền truyền thống, các hoạt động thể thao như đua lắc thuyền thúng, kéo co, lướt sóng, bóng đá, bóng chuyền bãi biển cùng các hoạt động nghệ thuật, trại hè thanh niên...

Related Figures

Lễ hội Thơ lục bát

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 6/8 Âm lịch Lễ hội Thơ lục bát được tổ chức vào đúng ngày lục bát 6/8 hằng năm tại Hà Nội với sự tham gia của đông đảo các nhà thơ và những người yêu thơ lục bát. Thơ lục bát được xem là “hồn vía” của dân tộc, là “cội nguồn” của thi ca Việt Nam. Thể thơ này có mặt trong hầu hết các làn điệu dân ca, ca dao của dân tộc ta với sức sống lâu bền. Nhờ có thơ lục bát mà một phần kho tàng tri thức của ông cha ta đã được con cháu truyền miệng từ đời này sang đời khác, tồn tại cho tới hôm nay và muôn đời sau. Đọc Chúc văn tại lễ hội Thơ lục bát Canh Dần Lễ hội thơ lục bát được tổ chức lần đầu tiên vào năm 2010 và do Câu lạc bộ thơ Việt Nam cùng Trung tâm văn hóa thành phố Hà Nội, Báo Người Hà Nội, Báo Người cao tuổi, Trung tâm triển lãm Văn học Nghệ thuật Việt Nam và website lucbat.com phối hợp tổ chức. Sau này, lễ hội được tổ chức mỗi năm một lần và mỗi lần là một chủ đề khác nhau, tuy nhiên đều thể hiện một mục đích chung là tôn vinh những giá trị văn hoá nghệ thuật, đồng thời tạo sân chơi cho những người yêu thơ lục bát, khuyến khích mọi người cùng tham gia sáng tác thơ lục bát. Tiếp nhận Lộc Thơ được rước từ nhà thờ tổ Vân Hồ Lễ hội được bắt đầu với nghi lễ dâng hương được tiến hành tại nhà thờ Tổ. Tiếp đó là các nghi thức: đánh trống khai hội, Lễ rước thơ, đọc Chúc văn cầu Quốc thái dân an và cuối cùng là lễ phát lộc thơ. Các nghi lễ này đã được tiến hành một cách trang trọng và thành kính với sự tham gia của đông đảo mọi người. Ngoài ra, Lễ hội còn thu hút khách tham quan bởi sự độc đáo của phần trình diễn sắp đặt “Lục bát quán” với các di sản hồn quê. Ông đồ trong Lục bát quán Phần hội được tổ chức với phần thi trình diễn thơ Lục Bát của các nhà thơ và các thí sinh đến từ khắp mọi miền đất nước, biểu diễn thi họa, thư pháp, ngâm thơ và tặng sách, thơ... Lễ hội thơ lục bát không chỉ là lễ hội văn hóa độc đáo, đặc sắc mang tầm cỡ Quốc gia mà còn là một hoạt động văn hóa cộng đồng lành mạnh, đầy ý nghĩa, mang tính xây dựng và tính nhân văn sâu sắc. Đây cũng là một hoạt động thiết thực góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam. TH

Thơ lục bát được xem là “hồn vía” của dân tộc, là “cội nguồn” của thi ca Việt Nam. Thể thơ này có mặt trong hầu hết các làn điệu dân ca, ca dao của dân tộc ta với sức sống lâu bền. Nhờ có thơ lục bát mà một phần kho tàng tri thức của ông cha ta đã được con cháu truyền miệng từ đời này sang đời khác, tồn tại cho tới hôm nay và muôn đời sau.

Đọc Chúc văn tại lễ hội Thơ lục bát Canh Dần

Lễ hội thơ lục bát được tổ chức lần đầu tiên vào năm 2010 và do Câu lạc bộ thơ Việt Nam cùng Trung tâm văn hóa thành phố Hà Nội, Báo Người Hà Nội, Báo Người cao tuổi, Trung tâm triển lãm Văn học Nghệ thuật Việt Nam và website lucbat.com phối hợp tổ chức. Sau này, lễ hội được tổ chức mỗi năm một lần và mỗi lần là một chủ đề khác nhau, tuy nhiên đều thể hiện một mục đích chung là tôn vinh những giá trị văn hoá nghệ thuật, đồng thời tạo sân chơi cho những người yêu thơ lục bát, khuyến khích mọi người cùng tham gia sáng tác thơ lục bát.

Tiếp nhận Lộc Thơ được rước từ nhà thờ tổ Vân Hồ

Lễ hội được bắt đầu với nghi lễ dâng hương được tiến hành tại nhà thờ Tổ. Tiếp đó là các nghi thức: đánh trống khai hội, Lễ rước thơ, đọc Chúc văn cầu Quốc thái dân an và cuối cùng là lễ phát lộc thơ. Các nghi lễ này đã được tiến hành một cách trang trọng và thành kính với sự tham gia của đông đảo mọi người. Ngoài ra, Lễ hội còn thu hút khách tham quan bởi sự độc đáo của phần trình diễn sắp đặt “Lục bát quán” với các di sản hồn quê.

Ông đồ trong Lục bát quán

Phần hội được tổ chức với phần thi trình diễn thơ Lục Bát của các nhà thơ và các thí sinh đến từ khắp mọi miền đất nước, biểu diễn thi họa, thư pháp, ngâm thơ và tặng sách, thơ...

Lễ hội thơ lục bát không chỉ là lễ hội văn hóa độc đáo, đặc sắc mang tầm cỡ Quốc gia mà còn là một hoạt động văn hóa cộng đồng lành mạnh, đầy ý nghĩa, mang tính xây dựng và tính nhân văn sâu sắc. Đây cũng là một hoạt động thiết thực góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam.

TH

Related Figures

Lễ hội truyền thống Trần Hưng Đạo

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 20/8 Âm lịch Lễ hội truyền thống Trần Hưng Đạo được tổ chức vào ngày 20 tháng 8 hằng năm tại Khu Di tích Văn hóa Trần (phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định) nhằm ôn lại truyền thống "Uống nước nhớ nguồn", tưởng nhớ công ơn của người anh hùng dân tộc Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn (còn gọi là Đức Thánh Trần) là con trai của An Sinh Vương Trần Liễu và là cháu gọi vua Trần Thái Tông bằng chú, quê ở làng Tức Mặc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định ( nay thuộc phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định). Ông là nhà quân sự trí dũng song toàn đã có công lãnh đạo quân và dân ta ba lần chiến thắng giặc Nguyên - Mông xâm lược. Ông còn là nhà văn hóa lớn của dân tộc với tinh thần "lấy dân là gốc" làm kế sách giữ nước. Cuộc đời và sự nghiệp của Trần Quốc Tuấn tiêu biểu cho truyền thống kiên cường, bất khuất, tinh thần quyết chiến quyết thắng đấu tranh chống lại mọi kẻ thù xâm lược của dân tộc Việt Nam, là tấm gương sáng về lòng yêu nước, thương dân. Đền Thiên Trường, phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định. Cũng như các lễ hội truyền thống khác, Lễ hội truyền thống Trần Hưng Đạo gồm có hai phần là phần lễ và phần hội. Phần lễ được tổ chức hoành tráng với màn mở đầu là màn đánh trống hội, sau đó là các nghi lễ truyền thống như lễ rước kiệu, dâng hương, dâng hoa tại khu vực hành lễ đền Thiên Trường, phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định. Lễ rước kiệu đức Thánh Trần Tiếp đó là phần hội được tổ chức với nhiều hoạt động phong phú, đa dạng như múa lân, múa sư tử, hát chèo, hát chầu văn, múa rối nước, thi đấu vật, cờ tướng, biểu diễn võ thuật và các trò chơi dân gian… thu hút đông đảo người dân và du khách đến tham dự. Biểu diễn múa rồng tại lễ hội Ngoài đền Thiên Trường, du khách thập phương có thể tham quan và tham dự các hoạt động của lễ hội cũng như thực hiện nghi lễ tín ngưỡng, dâng hương tưởng niệm Đức Thánh Trần và các vua Trần... tại các di tích khác như đền Cố Trạch, đền Trùng Hoa, đền Bảo Lộc và chùa Phổ Minh. TH

Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn (còn gọi là Đức Thánh Trần) là con trai của An Sinh Vương Trần Liễu và là cháu gọi vua Trần Thái Tông bằng chú, quê ở làng Tức Mặc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định ( nay thuộc phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định). Ông là nhà quân sự trí dũng song toàn đã có công lãnh đạo quân và dân ta ba lần chiến thắng giặc Nguyên - Mông xâm lược. Ông còn là nhà văn hóa lớn của dân tộc với tinh thần "lấy dân là gốc" làm kế sách giữ nước. Cuộc đời và sự nghiệp của Trần Quốc Tuấn tiêu biểu cho truyền thống kiên cường, bất khuất, tinh thần quyết chiến quyết thắng đấu tranh chống lại mọi kẻ thù xâm lược của dân tộc Việt Nam, là tấm gương sáng về lòng yêu nước, thương dân.

Đền Thiên Trường, phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định.

Cũng như các lễ hội truyền thống khác, Lễ hội truyền thống Trần Hưng Đạo gồm có hai phần là phần lễ và phần hội. Phần lễ được tổ chức hoành tráng với màn mở đầu là màn đánh trống hội, sau đó là các nghi lễ truyền thống như lễ rước kiệu, dâng hương, dâng hoa tại khu vực hành lễ đền Thiên Trường, phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định.

Lễ rước kiệu đức Thánh Trần

Tiếp đó là phần hội được tổ chức với nhiều hoạt động phong phú, đa dạng như múa lân, múa sư tử, hát chèo, hát chầu văn, múa rối nước, thi đấu vật, cờ tướng, biểu diễn võ thuật và các trò chơi dân gian… thu hút đông đảo người dân và du khách đến tham dự.

Biểu diễn múa rồng tại lễ hội

Ngoài đền Thiên Trường, du khách thập phương có thể tham quan và tham dự các hoạt động của lễ hội cũng như thực hiện nghi lễ tín ngưỡng, dâng hương tưởng niệm Đức Thánh Trần và các vua Trần... tại các di tích khác như đền Cố Trạch, đền Trùng Hoa, đền Bảo Lộc và chùa Phổ Minh.

TH

Related Figures

Lễ hội Cồng chiêng của người Mường

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 8/1 Âm lịch Hằng năm cứ đến ngày mồng 8 tháng giêng âm lịch, người Mường tại Hòa Bình lại nô nức kéo nhau về thị trấn Mường Khến, huyện Tân Lạc để cùng nhau tổ chức và tham dự lễ hội cồng chiêng độc đáo được tổ chức tại đây. Lễ hội cồng chiêng ở Hòa Bình ra đời, tồn tại và phát triển trên nền tảng của nền nông nghiệp lúa nước. Lễ hội được tổ chức hàng năm vào đầu xuân với ý nghĩa cầu phúc cho bản mường, cầu cho mưa gió thuận hoà, mùa màng tốt tươi, cầu cho sự sinh sôi nảy nở và thịnh vượng phồn vinh. Những người phụ nữ Mường đánh cồng chiêng trong lễ hội Cũng như các lễ hội truyền thống khác, Lễ hội cồng chiêng của người Mường được tổ chức gồm 2 phần là phần lễ và phần hội. Phần lễ được tổ chức vào buổi sáng sớm ngày mùng 8 gồm các nghi thức ước, tế, lễ Thành hoàng - người có công khai phá cánh đồng Mường Bi. Lễ tế Thành hoàng được trình khấn ngay khán đài trước cửa Hang Bụt theo đúng nghi thức dân gian với các lễ vật dâng lên Thành hoàng làng. Nội dung của lời khấn là cầu Thành hoàng ban cho mọi người khoẻ mạnh, yên lành, cầu cho mùa màng bội thu, mưa thuận gió hoà. Quây quần bên ché rượu cần Sau lễ tế Thành hoàng là nghi thức “Dắt chiêng”, tức là đánh hồn chiêng. Dàn sắc bùa với khoảng từ 500 - 800 chiếc cồng, chiêng các loại, từ nhiều nơi trên địa bàn tỉnh tập trung về đã vang lên trầm hùng với liên khúc 3 bài chiêng cổ vừa hoành tráng, vừa thiêng liêng. Sau màn hoà tấu cồng - chiêng là cuộc thi sắc bùa giữa các phường bùa, mỗi phường là một đội. Theo đó, mỗi phường bùa sẽ có một dàn chiêng từ 9 - 20 chiếc, mỗi chiêng có một người đánh và mỗi phường sẽ có một bài chiêng với lối diễn tấu khác nhau, làm nên bức tranh văn hoá cồng chiêng phong phú và sống động. Cuộc thi sắc bùa sẽ chọn ra đội đánh hay nhất, cồng - chiêng cổ nhất, bài đánh cổ nhất. Trong các lễ hội dân gian Mường, cồng chiêng xắc bùa là một phần quan trọng không thể thiếu. Cồng chiêng thường được tấu trong các nghi lễ và là một nghi lễ của các lễ hội được tấu đi đenh quenh - tức đi vòng quanh nhà đình, chùa hay sân bãi nơi mở hội với ý nghĩa tín ngưỡng thiêng đuổi ma quỷ... Tổ chức chơi trò chơi dân gian Sau phần lễ là phần hội với các trò chơi dân gian phong phú và đặc sắc được tổ chức như đánh đồng mảng, đi cà kheo, chơi đu, ném còn, kéo co, bắn nỏ, hát giao duyên (hát đúm), thi ẩm thực... thu hút đông đảo người dân và du khách. Đặc biệt là trong cuộc thi ẩm thực, các món ăn dân gian mang đậm đà bản sắc dân tộc Mường đã được các đơn vị tham gia cuộc thi sưu tầm, chế biến rất phong phú và độc đáo. Lễ hội cồng chiêng được tổ chức hằng năm là dịp tôn vinh giá trị nghệ thuật cồng chiêng, di sản văn hóa đặc sắc của nhân loại, đồng thời cũng là dịp để các nghệ nhân cồng chiêng tỉnh Hòa Bình có cơ hội giao lưu, học hỏi kinh nghiệm với nhau nhằm phát huy giá trị văn hóa cồng chiêng của tỉnh, đồng thời quảng bá hình ảnh con người, tiềm năng du lịch văn hóa miền sơn cước đối với bạn bè trong nước và quốc tế. TH

Lễ hội cồng chiêng ở Hòa Bình ra đời, tồn tại và phát triển trên nền tảng của nền nông nghiệp lúa nước. Lễ hội được tổ chức hàng năm vào đầu xuân với ý nghĩa cầu phúc cho bản mường, cầu cho mưa gió thuận hoà, mùa màng tốt tươi, cầu cho sự sinh sôi nảy nở và thịnh vượng phồn vinh.

Những người phụ nữ Mường đánh cồng chiêng trong lễ hội

Cũng như các lễ hội truyền thống khác, Lễ hội cồng chiêng của người Mường được tổ chức gồm 2 phần là phần lễ và phần hội. Phần lễ được tổ chức vào buổi sáng sớm ngày mùng 8 gồm các nghi thức ước, tế, lễ Thành hoàng - người có công khai phá cánh đồng Mường Bi. Lễ tế Thành hoàng được trình khấn ngay khán đài trước cửa Hang Bụt theo đúng nghi thức dân gian với các lễ vật dâng lên Thành hoàng làng. Nội dung của lời khấn là cầu Thành hoàng ban cho mọi người khoẻ mạnh, yên lành, cầu cho mùa màng bội thu, mưa thuận gió hoà.

Quây quần bên ché rượu cần

Sau lễ tế Thành hoàng là nghi thức “Dắt chiêng”, tức là đánh hồn chiêng. Dàn sắc bùa với khoảng từ 500 - 800 chiếc cồng, chiêng các loại, từ nhiều nơi trên địa bàn tỉnh tập trung về đã vang lên trầm hùng với liên khúc 3 bài chiêng cổ vừa hoành tráng, vừa thiêng liêng. Sau màn hoà tấu cồng - chiêng là cuộc thi sắc bùa giữa các phường bùa, mỗi phường là một đội. Theo đó, mỗi phường bùa sẽ có một dàn chiêng từ 9 - 20 chiếc, mỗi chiêng có một người đánh và mỗi phường sẽ có một bài chiêng với lối diễn tấu khác nhau, làm nên bức tranh văn hoá cồng chiêng phong phú và sống động. Cuộc thi sắc bùa sẽ chọn ra đội đánh hay nhất, cồng - chiêng cổ nhất, bài đánh cổ nhất.

Trong các lễ hội dân gian Mường, cồng chiêng xắc bùa là một phần quan trọng không thể thiếu. Cồng chiêng thường được tấu trong các nghi lễ và là một nghi lễ của các lễ hội được tấu đi đenh quenh - tức đi vòng quanh nhà đình, chùa hay sân bãi nơi mở hội với ý nghĩa tín ngưỡng thiêng đuổi ma quỷ...

Tổ chức chơi trò chơi dân gian

Sau phần lễ là phần hội với các trò chơi dân gian phong phú và đặc sắc được tổ chức như đánh đồng mảng, đi cà kheo, chơi đu, ném còn, kéo co, bắn nỏ, hát giao duyên (hát đúm), thi ẩm thực... thu hút đông đảo người dân và du khách. Đặc biệt là trong cuộc thi ẩm thực, các món ăn dân gian mang đậm đà bản sắc dân tộc Mường đã được các đơn vị tham gia cuộc thi sưu tầm, chế biến rất phong phú và độc đáo.

Lễ hội cồng chiêng được tổ chức hằng năm là dịp tôn vinh giá trị nghệ thuật cồng chiêng, di sản văn hóa đặc sắc của nhân loại, đồng thời cũng là dịp để các nghệ nhân cồng chiêng tỉnh Hòa Bình có cơ hội giao lưu, học hỏi kinh nghiệm với nhau nhằm phát huy giá trị văn hóa cồng chiêng của tỉnh, đồng thời quảng bá hình ảnh con người, tiềm năng du lịch văn hóa miền sơn cước đối với bạn bè trong nước và quốc tế.

TH

Related Figures

Lễ hội làng nghề truyền thống Phú Xuyên

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 23/10- 26/10 Âm lịch Lễ hội làng nghề truyền thống Phú Xuyên được tổ chức hằng năm từ ngày 23 đến 26/10 tại huyện Phú Xuyên, Hà Nội nhằm mục đích tôn vinh tổ nghề và tri ân các bậc tiền nhân đã có công tạo dựng nghề và truyền nghề cho người dân trong huyện. Huyện Phú Xuyên từ lâu được biết đến là mảnh đất đất trăm nghề. Theo thống kê của sở VHTTDL Hà Nội, trên địa bàn huyện hiện có 138 làng, trong đó có 124 làng nghề sản xuất tiểu thủ công nghiệp (chiếm 89%) và có 38 làng được công nhận là làng nghề truyền thống như nghề Khảm trai (Chuyên Mỹ), nghề đan Guột (Phú Túc), nghề giày da (Phú Yên), nghề may (Vân Từ), nghề làm tò he (Phượng Dực), nghề làm đồ mộc cao cấp (Chanh Thôn) v.v… Biểu diễn múa rồng tại lễ hội Lễ hội được thực hiện trang trọng theo đúng nghi thức truyền thống, mở đầu là Lễ rước kiệu được thực hiện bởi 4 làng nghề truyền thống đặc trưng của huyện là Khảm trai Chuyên Mỹ, giày da Phú Yên, tò he Phượng Dực, cỏ tế Phú Túc và đội hình diễu hành của các nghệ nhân, nghệ sĩ thuộc đội nghệ thuật múa hát Bài Bông và hò Cửa Đình của huyện Phú Xuyên. Tiếp đó là các nghi thức rước kiệu, dâng hương, tế tổ. Rước kiệu vinh danh Tổ nghề. Phần hội được tổ chức với nhiều hoạt động phong phú, sôi nổi như tổ chức Khu thương mại là nơi triển lãm, giới thiệu và bán sản phẩm của các làng nghề truyền thống của huyện cũng như các huyện lân cận; Khu triển lãm ảnh nghệ thuật các làng nghề và những thành tựu của huyện; Khu vực trò chơi dân gian; Khu ẩm thực… Ngoài ra, trong khuôn khổ lễ hội cũng sẽ diễn ra các hội thảo chuyên đề về định hướng phát triển và hội nhập làng nghề truyền thống nhằm giúp các cá nhân, doanh nghiệp, làng nghề phát triển kinh doanh sản phẩm tốt hơn. Nghề làm tò he ở làng Xuân La, Phượng Dực. Lễ hội làng nghề truyền thống huyện Phú Xuyên được tổ chức hằng năm không chỉ góp phần củng cố, nâng cao giá trị văn hóa - lịch sử các làng nghề; đồng thời khẳng định vai trò, vị trí của các nghề thủ công truyền thống đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của địa phương mà còn tạo cơ hội giao lưu, mở rộng thị trường, quảng bá thương hiệu, sản phẩm của làng nghề Phú Xuyên ra thị trường trong nước và quốc tế. TH

Huyện Phú Xuyên từ lâu được biết đến là mảnh đất đất trăm nghề. Theo thống kê của sở VHTTDL Hà Nội, trên địa bàn huyện hiện có 138 làng, trong đó có 124 làng nghề sản xuất tiểu thủ công nghiệp (chiếm 89%) và có 38 làng được công nhận là làng nghề truyền thống như nghề Khảm trai (Chuyên Mỹ), nghề đan Guột (Phú Túc), nghề giày da (Phú Yên), nghề may (Vân Từ), nghề làm tò he (Phượng Dực), nghề làm đồ mộc cao cấp (Chanh Thôn) v.v…

Biểu diễn múa rồng tại lễ hội

Lễ hội được thực hiện trang trọng theo đúng nghi thức truyền thống, mở đầu là Lễ rước kiệu được thực hiện bởi 4 làng nghề truyền thống đặc trưng của huyện là Khảm trai Chuyên Mỹ, giày da Phú Yên, tò he Phượng Dực, cỏ tế Phú Túc và đội hình diễu hành của các nghệ nhân, nghệ sĩ thuộc đội nghệ thuật múa hát Bài Bông và hò Cửa Đình của huyện Phú Xuyên. Tiếp đó là các nghi thức rước kiệu, dâng hương, tế tổ.

Rước kiệu vinh danh Tổ nghề.

Phần hội được tổ chức với nhiều hoạt động phong phú, sôi nổi như tổ chức Khu thương mại là nơi triển lãm, giới thiệu và bán sản phẩm của các làng nghề truyền thống của huyện cũng như các huyện lân cận; Khu triển lãm ảnh nghệ thuật các làng nghề và những thành tựu của huyện; Khu vực trò chơi dân gian; Khu ẩm thực…

Ngoài ra, trong khuôn khổ lễ hội cũng sẽ diễn ra các hội thảo chuyên đề về định hướng phát triển và hội nhập làng nghề truyền thống nhằm giúp các cá nhân, doanh nghiệp, làng nghề phát triển kinh doanh sản phẩm tốt hơn.

Nghề làm tò he ở làng Xuân La, Phượng Dực.

Lễ hội làng nghề truyền thống huyện Phú Xuyên được tổ chức hằng năm không chỉ góp phần củng cố, nâng cao giá trị văn hóa - lịch sử các làng nghề; đồng thời khẳng định vai trò, vị trí của các nghề thủ công truyền thống đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của địa phương mà còn tạo cơ hội giao lưu, mở rộng thị trường, quảng bá thương hiệu, sản phẩm của làng nghề Phú Xuyên ra thị trường trong nước và quốc tế.

TH

Related Figures

Festival Lúa gạo Việt Nam

Thông tin thời kỳ

Festival Lúa gạo Việt Nam là một sự kiện kinh tế văn hóa được tổ chức 2 năm 1 lần ở các tỉnh khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nhằm tôn vinh nền văn minh lúa nước của Việt Nam. Cây lúa là cây lương thực chủ lực của Việt Nam, với sản lượng chiếm trên 90% sản lượng cây lương thực có hạt, liên quan đến việc làm và thu nhập của khoảng 80% số hộ nông dân Việt Nam. Lúa gạo hiện cung cấp tới 70% năng lượng trong khẩu phần ăn của người dân. Vì vậy cây lúa hạt gạo luôn có vai trò rất quan trọng trong việc bảo đảm an ninh lương thực quốc gia và kinh ngạch xuất khẩu quốc tế. Cây lúa là cây lương thực chính của Việt Nam Festival lúa gạo Việt Nam được tổ chức lần đầu tiên vào năm 2009 tại tỉnh Hậu Giang với chủ đề "Tôn vinh cây lúa, hạt gạo Việt Nam" và sau đó được tổ chức 2 năm 1 lần với chủ đề khác nhau và ở các địa phương khác nhau. Tuy nhiên, mục đích chung của Festival là tôn vinh nền văn minh lúa nước của Việt Nam với những tiềm năng, thế mạnh trong sản xuất nông nghiệp; tuyên dương nông dân sản xuất lúa sáng tạo toàn quốc; thúc đẩy sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ, mở rộng giao thương buôn bán, xuất khẩu, xây dựng thương hiệu lúa gạo Việt Nam; góp phần thực hiện Nghị quyết của Trung ương về nông nghiệp, nông dân và nông thôn; tạo động lực mới cho sự phát triển kinh tế đất nước. Biểu diễn nghệ thuật trong Festival lúa gạo Việt Nam lần thứ nhất Mỗi dịp tổ chức, Festival lúa gạo Việt Nam thu hút nhiều tỉnh, thành phố và các đơn vị sản xuất, kinh doanh ngành lúa gạo và phục vụ nhu cầu sản xuất lúa gạo trên cả nước tham gia. Trong khuôn khổ Festival cũng có nhiều hoạt động như Lễ khai mạc, bế mạc festival với các hoạt động văn hóa, văn nghệ phong phú, tổ chức các hội chợ thương mại, hội thảo như hội thảo quốc tế xuất khẩu lúa gạo và hội nhập; hội thảo xúc tiến thương mại và đầu tư; hội chợ sản phẩm nông nghiệp… cùng nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao, du lịch khác. Một gian hàng trong hội chợ Festival lúa gạo Việt Nam được tổ chức dưới sự chỉ đạo và bảo trợ của các đơn vị như Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Công Thương, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Hiệp hội Lương thực Việt Nam, UBND thành phố Hà Nội, UBND thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh, thành phố và được sự tài trợ của Tổng Công ty Lương thực Miền Nam, Ngân hàng Thương mại Thương mại Cổ phần Liên Việt, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu, Công ty Xây dựng công trình 585, Công ty Cổ phần Mía đường Cần Thơ...

Cây lúa là cây lương thực chủ lực của Việt Nam, với sản lượng chiếm trên 90% sản lượng cây lương thực có hạt, liên quan đến việc làm và thu nhập của khoảng 80% số hộ nông dân Việt Nam. Lúa gạo hiện cung cấp tới 70% năng lượng trong khẩu phần ăn của người dân. Vì vậy cây lúa hạt gạo luôn có vai trò rất quan trọng trong việc bảo đảm an ninh lương thực quốc gia và kinh ngạch xuất khẩu quốc tế.

Cây lúa là cây lương thực chính của Việt Nam Festival lúa gạo Việt Nam được tổ chức lần đầu tiên vào năm 2009 tại tỉnh Hậu Giang với chủ đề "Tôn vinh cây lúa, hạt gạo Việt Nam" và sau đó được tổ chức 2 năm 1 lần với chủ đề khác nhau và ở các địa phương khác nhau. Tuy nhiên, mục đích chung của Festival là tôn vinh nền văn minh lúa nước của Việt Nam với những tiềm năng, thế mạnh trong sản xuất nông nghiệp; tuyên dương nông dân sản xuất lúa sáng tạo toàn quốc; thúc đẩy sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ, mở rộng giao thương buôn bán, xuất khẩu, xây dựng thương hiệu lúa gạo Việt Nam; góp phần thực hiện Nghị quyết của Trung ương về nông nghiệp, nông dân và nông thôn; tạo động lực mới cho sự phát triển kinh tế đất nước. Biểu diễn nghệ thuật trong Festival lúa gạo Việt Nam lần thứ nhất Mỗi dịp tổ chức, Festival lúa gạo Việt Nam thu hút nhiều tỉnh, thành phố và các đơn vị sản xuất, kinh doanh ngành lúa gạo và phục vụ nhu cầu sản xuất lúa gạo trên cả nước tham gia. Trong khuôn khổ Festival cũng có nhiều hoạt động như Lễ khai mạc, bế mạc festival với các hoạt động văn hóa, văn nghệ phong phú, tổ chức các hội chợ thương mại, hội thảo như hội thảo quốc tế xuất khẩu lúa gạo và hội nhập; hội thảo xúc tiến thương mại và đầu tư; hội chợ sản phẩm nông nghiệp… cùng nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao, du lịch khác. Một gian hàng trong hội chợ Festival lúa gạo Việt Nam được tổ chức dưới sự chỉ đạo và bảo trợ của các đơn vị như Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Công Thương, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Hiệp hội Lương thực Việt Nam, UBND thành phố Hà Nội, UBND thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh, thành phố và được sự tài trợ của Tổng Công ty Lương thực Miền Nam, Ngân hàng Thương mại Thương mại Cổ phần Liên Việt, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu, Công ty Xây dựng công trình 585, Công ty Cổ phần Mía đường Cần Thơ...

Festival lúa gạo Việt Nam được tổ chức lần đầu tiên vào năm 2009 tại tỉnh Hậu Giang với chủ đề "Tôn vinh cây lúa, hạt gạo Việt Nam" và sau đó được tổ chức 2 năm 1 lần với chủ đề khác nhau và ở các địa phương khác nhau. Tuy nhiên, mục đích chung của Festival là tôn vinh nền văn minh lúa nước của Việt Nam với những tiềm năng, thế mạnh trong sản xuất nông nghiệp; tuyên dương nông dân sản xuất lúa sáng tạo toàn quốc; thúc đẩy sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ, mở rộng giao thương buôn bán, xuất khẩu, xây dựng thương hiệu lúa gạo Việt Nam; góp phần thực hiện Nghị quyết của Trung ương về nông nghiệp, nông dân và nông thôn; tạo động lực mới cho sự phát triển kinh tế đất nước.

Biểu diễn nghệ thuật trong Festival lúa gạo Việt Nam lần thứ nhất

Mỗi dịp tổ chức, Festival lúa gạo Việt Nam thu hút nhiều tỉnh, thành phố và các đơn vị sản xuất, kinh doanh ngành lúa gạo và phục vụ nhu cầu sản xuất lúa gạo trên cả nước tham gia. Trong khuôn khổ Festival cũng có nhiều hoạt động như Lễ khai mạc, bế mạc festival với các hoạt động văn hóa, văn nghệ phong phú, tổ chức các hội chợ thương mại, hội thảo như hội thảo quốc tế xuất khẩu lúa gạo và hội nhập; hội thảo xúc tiến thương mại và đầu tư; hội chợ sản phẩm nông nghiệp… cùng nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao, du lịch khác.

Một gian hàng trong hội chợ

Festival lúa gạo Việt Nam được tổ chức dưới sự chỉ đạo và bảo trợ của các đơn vị như Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Công Thương, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Hiệp hội Lương thực Việt Nam, UBND thành phố Hà Nội, UBND thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh, thành phố và được sự tài trợ của Tổng Công ty Lương thực Miền Nam, Ngân hàng Thương mại Thương mại Cổ phần Liên Việt, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu, Công ty Xây dựng công trình 585, Công ty Cổ phần Mía đường Cần Thơ...

Related Figures

Lễ giỗ Cụ Nguyễn Sinh Sắc

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 26/11 Âm lịch Lễ giỗ Cụ Nguyễn Sinh Sắc được tổ chức hằng năm vào ngày 26/11 tại Khu di tích Lịch sử Quốc gia cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Tương truyền, sau khi bị cách chức quan, Nguyễn Sinh Sắc vào Nam Bộ làm thầy thuốc giúp dân nghèo, sống cuộc đời thanh bạch tại làng Hòa An (nay thuộc thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp), cho đến khi qua đời ngày 27 tháng 10 năm Kỷ Tỵ (tức 26 tháng 11 năm 1929). Dâng hương, hoa, lễ vật lên bàn thờ Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc Sau khi ông mất, cảm phục trước tấm lòng yêu nước, thương dân của ông, người dân địa phương đã góp tiền mua đất an táng ông tại miếu Trời Sanh (cạnh chùa Hòa Long hiện nay). Sau khi chiến tranh kết thúc, chính quyền địa phương và nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã tổ chức xây dựng lại phần mộ của ông để tỏ lòng biết ơn và tôn kính. Công trình được khánh thành vào ngày 31 tháng 12 năm 1977. Sau nhiều lần tôn tạo, khu phần mộ đã trở thành một quần thể di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia. Các đại biểu dâng hương tại Khu di tích cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc Lễ giỗ được tổ chức theo nghi lễ cổ truyền với tình cảm tri ân đối với cụ Phó bảng. Mở đầu buổi lễ, các đại biểu và nhân dân trong vùng đã làm lễ dâng hương, dâng hoa, phẩm vật và mặc niệm trước anh linh cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc. Tiếp đó, đại diện chính quyền địa phương đã đọc diễn văn ôn lại cuộc đời, sự nghiệp cụ Nguyễn Sinh Sắc. Thi ẩm thực truyền thống tổ chức tại khu di tích Nguyễn Sinh Sắc Sau phần lễ là phần hội được tổ chức với nhiều hoạt động phong phú, đặc sắc như hội thi chọi chim, đá gà nghệ thuật, tái hiện thi trạng nguyên xưa, gói bánh tét, sinh hoạt đờn ca tài tử và hò Đồng Tháp,… Lễ giỗ cụ Nguyễn Sinh Sắc được tổ chức hàng năm với quy mô cấp tỉnh nhằm thể hiện tấm lòng tôn kính, giáo dục đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, sự biết ơn sâu sắc của nhân dân đối với công lao, đạo đức, nhân cách cao cả của cụ Phó bảng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước.

Tương truyền, sau khi bị cách chức quan, Nguyễn Sinh Sắc vào Nam Bộ làm thầy thuốc giúp dân nghèo, sống cuộc đời thanh bạch tại làng Hòa An (nay thuộc thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp), cho đến khi qua đời ngày 27 tháng 10 năm Kỷ Tỵ (tức 26 tháng 11 năm 1929).

Dâng hương, hoa, lễ vật lên bàn thờ Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc

Sau khi ông mất, cảm phục trước tấm lòng yêu nước, thương dân của ông, người dân địa phương đã góp tiền mua đất an táng ông tại miếu Trời Sanh (cạnh chùa Hòa Long hiện nay). Sau khi chiến tranh kết thúc, chính quyền địa phương và nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã tổ chức xây dựng lại phần mộ của ông để tỏ lòng biết ơn và tôn kính. Công trình được khánh thành vào ngày 31 tháng 12 năm 1977. Sau nhiều lần tôn tạo, khu phần mộ đã trở thành một quần thể di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Các đại biểu dâng hương tại Khu di tích cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc

Lễ giỗ được tổ chức theo nghi lễ cổ truyền với tình cảm tri ân đối với cụ Phó bảng. Mở đầu buổi lễ, các đại biểu và nhân dân trong vùng đã làm lễ dâng hương, dâng hoa, phẩm vật và mặc niệm trước anh linh cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc. Tiếp đó, đại diện chính quyền địa phương đã đọc diễn văn ôn lại cuộc đời, sự nghiệp cụ Nguyễn Sinh Sắc.

Thi ẩm thực truyền thống tổ chức tại khu di tích Nguyễn Sinh Sắc

Sau phần lễ là phần hội được tổ chức với nhiều hoạt động phong phú, đặc sắc như hội thi chọi chim, đá gà nghệ thuật, tái hiện thi trạng nguyên xưa, gói bánh tét, sinh hoạt đờn ca tài tử và hò Đồng Tháp,…

Lễ giỗ cụ Nguyễn Sinh Sắc được tổ chức hàng năm với quy mô cấp tỉnh nhằm thể hiện tấm lòng tôn kính, giáo dục đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, sự biết ơn sâu sắc của nhân dân đối với công lao, đạo đức, nhân cách cao cả của cụ Phó bảng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước.

Related Figures

Lễ hội làng nghề Sơn Đồng

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 22/11 Dương lịch Lễ hội làng nghề Sơn Đồng được tổ chức vào ngày 22/11 dương lịch hằng năm tại Hà Nội để tưởng nhớ công ơn của cụ tổ nghề sơn đồng Đào Trực. Làn nghề Sơn Đồng ở xã Sơn Đồng, thuộc huyện Hoài Đức, Hà Nội. Đây là một làng nghề truyền thống nổi tiếng với thương thiệu đồ thờ sơn đồng với các sản phẩm chủ yếu là đồ thờ tâm linh với các nghệ nhân có tay nghề cao chuyên tạc tượng, chạm, khắc và sơn tô tượng. Làng nghề có nghề mộc chủ yếu, nhưng thực chất, đây là làng bách nghệ, tồn tại đã từ hàng nghìn năm nay. Sản phẩm chạm trổ tinh xảo đến từ làng thủ công mỹ nghệ Sơn Đồng (Hoài Đức, Hà Nội). Làng nghề Sơn Đồng có từ thời rất xa xưa và cũng không ai biết rõ nghề có từ bao giờ. Theo Ngọc phả Thần tích Đền thờ cụ tổ nghề tạc tượng tại đền Thượng được soạn năm 976 triều Tiền Lê thì tại bản trang Sơn Đồng xưa (nay là xã Sơn Đồng) thờ cụ Đức thánh Đào Trực. Ngọc phả ghi lại cụ Đào Trực là người đã có công “phục nghệ giáo dân”, tức khôi phục nghề và dạy học cho dân. Sau khi cụ qua đời, Nhà vua lệnh cho bản trang Sơn Đồng lập miếu, tạc tượng thờ và cụ được bản trang Sơn Đồng tôn là “Công sư phục nghệ” tức người có công khôi phục nghề và thờ làm nghệ sư tổ. Nghệ nhân pha sơn và bắt đầu sơn. Vào ngày hội, ngay từ sáng sớm, lễ rước thờ vọng Nghệ sư tổ Đào Trực đã được tổ chức từ xã Sơn Đồng đến trung tâm Hà Nội. Lễ tiếp nhận thờ vọng Đức tổ nghề điêu khắc tạc tượng sơn son thiếp vàng đã diễn ra theo nghi lễ trang trọng tại Đền thờ Bách nghệ tôn thần Việt Nam tại Trung tâm Triển lãm văn hóa nghệ thuật Việt Nam. Các sản phẩm của làng nghề Sơn Đồng đã nổi tiếng cả trong và ngoài nước Lễ hội làng nghề Sơn Đồng không chỉ có ý nghĩa tế Tổ nghề mà còn là dịp để giao lưu, giới thiệu làng nghề truyền thống cổ xưa này, góp phần cho làng nghề Sơn Đồng hòa nhập cùng các làng nghề truyền thống khác và quảng bá những nét đẹp di sản của dân tộc.

Làn nghề Sơn Đồng ở xã Sơn Đồng, thuộc huyện Hoài Đức, Hà Nội. Đây là một làng nghề truyền thống nổi tiếng với thương thiệu đồ thờ sơn đồng với các sản phẩm chủ yếu là đồ thờ tâm linh với các nghệ nhân có tay nghề cao chuyên tạc tượng, chạm, khắc và sơn tô tượng. Làng nghề có nghề mộc chủ yếu, nhưng thực chất, đây là làng bách nghệ, tồn tại đã từ hàng nghìn năm nay.

Sản phẩm chạm trổ tinh xảo đến từ làng thủ công mỹ nghệ Sơn Đồng (Hoài Đức, Hà Nội).

Làng nghề Sơn Đồng có từ thời rất xa xưa và cũng không ai biết rõ nghề có từ bao giờ. Theo Ngọc phả Thần tích Đền thờ cụ tổ nghề tạc tượng tại đền Thượng được soạn năm 976 triều Tiền Lê thì tại bản trang Sơn Đồng xưa (nay là xã Sơn Đồng) thờ cụ Đức thánh Đào Trực. Ngọc phả ghi lại cụ Đào Trực là người đã có công “phục nghệ giáo dân”, tức khôi phục nghề và dạy học cho dân. Sau khi cụ qua đời, Nhà vua lệnh cho bản trang Sơn Đồng lập miếu, tạc tượng thờ và cụ được bản trang Sơn Đồng tôn là “Công sư phục nghệ” tức người có công khôi phục nghề và thờ làm nghệ sư tổ.

Nghệ nhân pha sơn và bắt đầu sơn.

Vào ngày hội, ngay từ sáng sớm, lễ rước thờ vọng Nghệ sư tổ Đào Trực đã được tổ chức từ xã Sơn Đồng đến trung tâm Hà Nội. Lễ tiếp nhận thờ vọng Đức tổ nghề điêu khắc tạc tượng sơn son thiếp vàng đã diễn ra theo nghi lễ trang trọng tại Đền thờ Bách nghệ tôn thần Việt Nam tại Trung tâm Triển lãm văn hóa nghệ thuật Việt Nam.

Các sản phẩm của làng nghề Sơn Đồng đã nổi tiếng cả trong và ngoài nước

Lễ hội làng nghề Sơn Đồng không chỉ có ý nghĩa tế Tổ nghề mà còn là dịp để giao lưu, giới thiệu làng nghề truyền thống cổ xưa này, góp phần cho làng nghề Sơn Đồng hòa nhập cùng các làng nghề truyền thống khác và quảng bá những nét đẹp di sản của dân tộc.

Related Figures

Lễ kỷ niệm ngày hóa thân Đức phật hoàng Trần Nhân Tông

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/11 Âm lịch Hằng năm cứ đến ngày 1/11 âm lịch, hàng nghìn người con dòng tộc họ Trần lại cùng đổ về Đền Hạ Mã (Mỹ Lộc, Nam Định) để dâng hương tưởng niệm ngày hóa thân Đức phật hoàng Trần Nhân Tông. Đức vua, Phật hoàng Trần Nhân Tông (1258-1308) là vị hoàng đế thứ ba của triều Trần, lên ngôi năm 1278 và làm Thái Thượng hoàng 15 năm. Trần Nhân Tông là vị anh hùng dân tộc đã có công lãnh đạo nhân dân 2 lần đánh thắng quân xâm lược Nguyên Mông. Phật hoàng Trần Nhân Tông – Sơ Tổ Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam (1258 – 1308) Đối với đạo pháp, vua Trần Nhân Tông là vị vua duy nhất từ bỏ ngôi vua để đi tu và đắc đạo, thống nhất được phật giáo Việt Nam, sáng lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử - Thiền phái Phật giáo độc lập duy nhất của Việt Nam. Lịch sử tôn vinh ngài là Đức Phật hoàng. Lễ dâng hương tưởng niệm Phật hoàng Trần Nhân Tông Để tưởng nhớ công ơn của Đức phật hoàng Trần Nhân Tông, nhiều địa phương đã lập đền thờ. Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cũng đã chọn ngày 1/11 âm lịch hàng năm làm ngày giỗ để tưởng nhớ công lao và sự nghiệp vĩ đại của Phật hoàng Trần Nhân Tông. Nhiều hoạt động như biểu diễn văn hóa, văn nghệ đã diễn ra tại lễ kỷ niệm Lễ hội mở đầu với lễ tế và lễ dâng hương của các vị đại biểu, những người con dòng họ Trần và đông đảo người dân cùng du khách. Sau phần ễ là phần hội với nhiều hoạt động biểu diễn văn hóa, văn nghệ đặc sắc. Đền Hạ Mã thuộc xã Bảo Long, huyện Mỹ Hà, tỉnh Nam Định, là ngôi đền có niên đại hàng trăm năm đã được xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh. Đây cũng là nơi đã diễn ra nhiều hoạt động văn hóa tâm linh của người dân trong vùng. TH

Đức vua, Phật hoàng Trần Nhân Tông (1258-1308) là vị hoàng đế thứ ba của triều Trần, lên ngôi năm 1278 và làm Thái Thượng hoàng 15 năm. Trần Nhân Tông là vị anh hùng dân tộc đã có công lãnh đạo nhân dân 2 lần đánh thắng quân xâm lược Nguyên Mông.

Phật hoàng Trần Nhân Tông – Sơ Tổ Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam (1258 – 1308)

Đối với đạo pháp, vua Trần Nhân Tông là vị vua duy nhất từ bỏ ngôi vua để đi tu và đắc đạo, thống nhất được phật giáo Việt Nam, sáng lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử - Thiền phái Phật giáo độc lập duy nhất của Việt Nam. Lịch sử tôn vinh ngài là Đức Phật hoàng.

Lễ dâng hương tưởng niệm Phật hoàng Trần Nhân Tông

Để tưởng nhớ công ơn của Đức phật hoàng Trần Nhân Tông, nhiều địa phương đã lập đền thờ. Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cũng đã chọn ngày 1/11 âm lịch hàng năm làm ngày giỗ để tưởng nhớ công lao và sự nghiệp vĩ đại của Phật hoàng Trần Nhân Tông.

Nhiều hoạt động như biểu diễn văn hóa, văn nghệ đã diễn ra tại lễ kỷ niệm

Lễ hội mở đầu với lễ tế và lễ dâng hương của các vị đại biểu, những người con dòng họ Trần và đông đảo người dân cùng du khách. Sau phần ễ là phần hội với nhiều hoạt động biểu diễn văn hóa, văn nghệ đặc sắc.

Đền Hạ Mã thuộc xã Bảo Long, huyện Mỹ Hà, tỉnh Nam Định, là ngôi đền có niên đại hàng trăm năm đã được xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh. Đây cũng là nơi đã diễn ra nhiều hoạt động văn hóa tâm linh của người dân trong vùng.

TH

Related Figures

Lễ hội phố hoa Hà Nội

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 31/12- 1/1 Dương lịch Lễ hội phố hoa Hà Nội là một lễ hội văn hóa - du lịch được tổ chức tại phố Đinh Tiên Hoàng, cạnh bờ hồ Hoàn Kiếm vào dịp Tết Dương lịch hằng năm nhằm quảng bá các sản phẩm hoa, cây cảnh. Lễ hội phố hoa Hà Nội lần đầu tiên được chính quyền TP Hà Nội tổ chức vào dịp Tết Dương lịch năm 2009. Trong dịp này, rất đông người dân TP và nhân dân các tỉnh thành khác cũng đã đến tham dự để được trực tiếp chiêm ngưỡng nghệ thuật sắp đặt hoa và các sản phẩm thủ công truyền thống. Con Rồng kết bằng hoa hồng môn tại lễ hội Phố hoa Hà Nội Trong lễ hội phố hoa, rất nhiều luống hoa đẹp đã được hoàn thành dưới bàn tay tinh xảo của những nghệ nhân trang trí. Ngoài hoa của Hà Nội, các loài hoa còn được lấy từ nhiều nơi khác như: Hà Nam, Bắc Ninh, Đà Nẵng, Đà Lạt, TP Hồ Chí Minh... và nhiều loài hoa lấy từ nước ngoài. Vườn hoa Tuylip do chính phủ Hà Lan tặng. Lễ hội phố hoa Hà Nội được tổ chức mỗi năm một lần và mỗi lần là một chủ đề khác nhau. Ví dụ như vào năm 2009, cùng các mô hình như phố cổ Bát Tràng, trống đồng Đông Sơn, phố cổ Hội An..., nhiều địa danh ở Hà Nội đã được dựng thành mô hình bằng tre, nứa như: Khuê Văn Các, chiếu dời đô của Lý Thái Tổ, cầu Long Biên...và nhiều tác phẩm hoa và cây cảnh khác. Phố cổ Bát Tràng làm bằng gốm Ngoài ra, trong khuôn khổ lễ hội cũng có nhiều hoạt động văn hóa khác được tổ chức, tiêu biểu là văn hóa Nhật với điệu múa dân gian Nhật Yosakoi, múa nón hoa Hanagasa Ondo, kịch Nam kinh Tama Sudare, biểu diễn đàn Koto, đàn dây Samisen, nhạc cổ truyền bằng sáo trúc, thời trang Kimono và thời trang Tokyo... Trong dịp này, Hà Nội cũng đã công bố nhiều tài liệu có giá trị lịch sử của Hoàng thành Thăng Long, khu phố cổ Hà Nội và các gian hàng ẩm thực truyền thống. TH

Lễ hội phố hoa Hà Nội lần đầu tiên được chính quyền TP Hà Nội tổ chức vào dịp Tết Dương lịch năm 2009. Trong dịp này, rất đông người dân TP và nhân dân các tỉnh thành khác cũng đã đến tham dự để được trực tiếp chiêm ngưỡng nghệ thuật sắp đặt hoa và các sản phẩm thủ công truyền thống.

Con Rồng kết bằng hoa hồng môn tại lễ hội Phố hoa Hà Nội Trong lễ hội phố hoa, rất nhiều luống hoa đẹp đã được hoàn thành dưới bàn tay tinh xảo của những nghệ nhân trang trí. Ngoài hoa của Hà Nội, các loài hoa còn được lấy từ nhiều nơi khác như: Hà Nam, Bắc Ninh, Đà Nẵng, Đà Lạt, TP Hồ Chí Minh... và nhiều loài hoa lấy từ nước ngoài. Vườn hoa Tuylip do chính phủ Hà Lan tặng. Lễ hội phố hoa Hà Nội được tổ chức mỗi năm một lần và mỗi lần là một chủ đề khác nhau. Ví dụ như vào năm 2009, cùng các mô hình như phố cổ Bát Tràng, trống đồng Đông Sơn, phố cổ Hội An..., nhiều địa danh ở Hà Nội đã được dựng thành mô hình bằng tre, nứa như: Khuê Văn Các, chiếu dời đô của Lý Thái Tổ, cầu Long Biên...và nhiều tác phẩm hoa và cây cảnh khác.

Trong lễ hội phố hoa, rất nhiều luống hoa đẹp đã được hoàn thành dưới bàn tay tinh xảo của những nghệ nhân trang trí. Ngoài hoa của Hà Nội, các loài hoa còn được lấy từ nhiều nơi khác như: Hà Nam, Bắc Ninh, Đà Nẵng, Đà Lạt, TP Hồ Chí Minh... và nhiều loài hoa lấy từ nước ngoài.

Vườn hoa Tuylip do chính phủ Hà Lan tặng.

Lễ hội phố hoa Hà Nội được tổ chức mỗi năm một lần và mỗi lần là một chủ đề khác nhau. Ví dụ như vào năm 2009, cùng các mô hình như phố cổ Bát Tràng, trống đồng Đông Sơn, phố cổ Hội An..., nhiều địa danh ở Hà Nội đã được dựng thành mô hình bằng tre, nứa như: Khuê Văn Các, chiếu dời đô của Lý Thái Tổ, cầu Long Biên...và nhiều tác phẩm hoa và cây cảnh khác.

Phố cổ Bát Tràng làm bằng gốm

Ngoài ra, trong khuôn khổ lễ hội cũng có nhiều hoạt động văn hóa khác được tổ chức, tiêu biểu là văn hóa Nhật với điệu múa dân gian Nhật Yosakoi, múa nón hoa Hanagasa Ondo, kịch Nam kinh Tama Sudare, biểu diễn đàn Koto, đàn dây Samisen, nhạc cổ truyền bằng sáo trúc, thời trang Kimono và thời trang Tokyo... Trong dịp này, Hà Nội cũng đã công bố nhiều tài liệu có giá trị lịch sử của Hoàng thành Thăng Long, khu phố cổ Hà Nội và các gian hàng ẩm thực truyền thống.

TH

Related Figures

Nghệ thuật Bài chòi dân gian Bình Định

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 30/12- 15/1 Âm lịch Nghệ thuật Bài chòi là một sáng tạo độc đáo giữa trò chơi với âm nhạc dân gian, không hề mang tính đỏ đen mà có giá trị cao về văn hóa, tinh thần. Đây là một thú vui dân gian của người dân đất võ Bình Định vào dịp lễ tết, thường được tổ chức từ ngày 30 tháng Chạp cho đến hết rằm tháng Giêng hằng năm. Tương truyền, bài chòi xuất hiện tại Bình Định vào khoảng thế kỉ 17. Từ các chòi canh thú dữ ở vùng trung du, người dân đã sáng tạo nên hội đánh bài chòi và thường diễn ra trong dịp Tết cổ truyền. Không gian tổ chức của hội bài chòi thường là đình làng hoặc khu đất trống. Tại đây, người ta dựng hai dãy “chòi con” bằng tre song song nhau với 9 chòi, chia đều mỗi dãy 4 chòi, trong đó một đầu giữa hai dãy chòi là “chòi cái” được dựng lớn và cao hơn. Các Hiệu mời chào bán 9 thẻ bài cái làm bằng tre Trước khi khai mạc hội chơi, các Hiệu (người quản trò) sẽ mời chào bán 9 thẻ bài cái làm bằng tre, mỗi thẻ bài có tên ba con bài con. Người chơi mua 1 thẻ bài cái thì lên ngồi một chòi. Sau khi giới thiệu xong 27 con bài và chúc tết mọi người, các Hiệu lần lược đến ống thẻ rút từng con bài để hô tên. Chòi nào có con bài đó thì phải đánh 3 tiếng mõ, còn nếu là chòi cái thì đánh 3 tiếng trống để Hiệu đem dâng con bài trúng… cứ như vậy cho đến khi có chòi đủ 3 con bài con thì thắng ván chơi. Biểu diễn các bài vè, hát bội truyền thống Các Hiệu luôn tìm tòi sáng tạo và đổi mới hình thức cho hội đánh bài chòi để tăng tính hấp dẫn. Đầu tiên, khi kết thúc một ván hay một hội, các Hiệu sẽ trình diễn những bài vè. Sau này, xuất hiện thêm loại hình “bài chòi kể chuyện” do các Hiệu ghi chép lại một câu chuyện bằng thể văn vần lục bát dựa theo nội dung các câu chuyện dân gian, hoặc một số trích đoạn hay trong các tuồng hát bội hoặc các truyện Tàu. Ngoài ra còn có hình thức biểu diễn “bài chòi lớp” là những trích đoạn được ông Hiệu chuyển thể từ các tuồng hát bội và tuồng bài chòi dân gian. Đông đảo người dân và du khách đến xem hội Ngày nay, Hội đánh bài chòi dân gian không chỉ có trong dịp tết cổ truyền, mà còn được tổ chức vào các dịp ngày lễ, ngày kỷ niệm trọng đại ở nhiều địa phương ở Bình Định. Riêng tại Quy Nhơn, hội đánh bài chòi dân gian thường được tổ chức vào các ngày cuối tuần, thu hút đông đảo người dân và du khách đến hòa mình vào loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian đặc sắc này.

Tương truyền, bài chòi xuất hiện tại Bình Định vào khoảng thế kỉ 17. Từ các chòi canh thú dữ ở vùng trung du, người dân đã sáng tạo nên hội đánh bài chòi và thường diễn ra trong dịp Tết cổ truyền. Không gian tổ chức của hội bài chòi thường là đình làng hoặc khu đất trống. Tại đây, người ta dựng hai dãy “chòi con” bằng tre song song nhau với 9 chòi, chia đều mỗi dãy 4 chòi, trong đó một đầu giữa hai dãy chòi là “chòi cái” được dựng lớn và cao hơn.

Các Hiệu mời chào bán 9 thẻ bài cái làm bằng tre

Trước khi khai mạc hội chơi, các Hiệu (người quản trò) sẽ mời chào bán 9 thẻ bài cái làm bằng tre, mỗi thẻ bài có tên ba con bài con. Người chơi mua 1 thẻ bài cái thì lên ngồi một chòi. Sau khi giới thiệu xong 27 con bài và chúc tết mọi người, các Hiệu lần lược đến ống thẻ rút từng con bài để hô tên. Chòi nào có con bài đó thì phải đánh 3 tiếng mõ, còn nếu là chòi cái thì đánh 3 tiếng trống để Hiệu đem dâng con bài trúng… cứ như vậy cho đến khi có chòi đủ 3 con bài con thì thắng ván chơi.

Biểu diễn các bài vè, hát bội truyền thống

Các Hiệu luôn tìm tòi sáng tạo và đổi mới hình thức cho hội đánh bài chòi để tăng tính hấp dẫn. Đầu tiên, khi kết thúc một ván hay một hội, các Hiệu sẽ trình diễn những bài vè. Sau này, xuất hiện thêm loại hình “bài chòi kể chuyện” do các Hiệu ghi chép lại một câu chuyện bằng thể văn vần lục bát dựa theo nội dung các câu chuyện dân gian, hoặc một số trích đoạn hay trong các tuồng hát bội hoặc các truyện Tàu. Ngoài ra còn có hình thức biểu diễn “bài chòi lớp” là những trích đoạn được ông Hiệu chuyển thể từ các tuồng hát bội và tuồng bài chòi dân gian.

Đông đảo người dân và du khách đến xem hội

Ngày nay, Hội đánh bài chòi dân gian không chỉ có trong dịp tết cổ truyền, mà còn được tổ chức vào các dịp ngày lễ, ngày kỷ niệm trọng đại ở nhiều địa phương ở Bình Định. Riêng tại Quy Nhơn, hội đánh bài chòi dân gian thường được tổ chức vào các ngày cuối tuần, thu hút đông đảo người dân và du khách đến hòa mình vào loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian đặc sắc này.

Related Figures

Lễ hội vật làng Mai Động, Hà Nội

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 4/1- 7/1 Âm lịch Lễ hội vật làng Mai Động được tổ chức hàng năm từ ngày mùng 4 đến 7 tết âm lịch tại khu vực đình Nghè làng Mai Động, nay thuộc phường Mai Động, quận Hoàng Mai, phía Nam Hà Nội. Lễ hội được tổ chức nhằm ôn lại chiến công và tưởng nhớ danh tướng Nguyễn Tam Trinh - Một vị tướng tài dưới thời Hai Bà Trưng. Tương truyền, Hội vật Mai Động ra đời vào thuở danh tướng Nguyễn Tam Trinh đến làng Mai (nay là Mai Động) để lập nghiệp. Ông đã dạy dân trong vùng đấu vật và mở các sới vật để người dân rèn luyện sức khỏe. Cũng dựa vào những sới vật đó, ông chiêu mộ những thanh niên trai tráng khỏe mạnh trong vùng rồi xin hội quân đánh giặc, giành được nhiều thắng lợi vang dội trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Nghi lễ chào hỏi là một trong những thủ tục quan trọng, thể hiện sự tôn trọng đối thủ và tinh thần thượng võ của đô vật. Để tướng nhớ vị danh tướng tài ba là ông tổ của nghề vật, nhân dân làng Mai Động đã dựng đình thờ và tôn ông làm Thành Hoàng làng. Hội vật làng Mai Động có từ đó và là lễ hội lâu đời nhất, có lịch sử ngót 2000 năm còn được duy trì tới ngày nay. Nét đặc sắc nhất của lễ hội vật làng Mai Động đó là sự quy tụ của nhiều đô vật danh tiếng, từ các bô lão, trung niên, từ thanh niên đến các cháu thiếu niên nhi đồng đến từ các “lò vật” nổi tiếng ở Hà Nội như: Hoàng Mai, Lĩnh Nam, Mai Động, Yên Sở..cùng như những đô vật tới từ các tỉnh khác ở phía Bắc như: Hà Tây cũ, Bắc Ninh, Hưng Yên, Vĩnh Phúc... Trải qua thời gian, làng Mai Động trở thành một trong những cái nôi kết tinh võ vật cổ truyền của dân tộc Việt Nam. Một pha vật gay cấn Sau lễ rước Thánh kiệu, các đô vật sẽ bắt đầu tham gia tranh tài. Theo truyền thống, trước khi bước vào trận đấu, hai đô vật phải làm động tác biểu diễn màn chào hỏi gọi là gọi là “xe đài” hay “Múa Hạc”. Đây không chỉ biểu diễn những động tác đẹp mắt, mà còn là nghi thức tâm linh của các đô vật hướng về Tổ tiên và hướng về các vị anh hùng của dân tộc. Động tác xe đài luôn có chuẩn về nghi thức, nhưng lại thể hiện sự phóng khoáng, không chỉ mang tính khiêu khích đối với đối thủ mà còn thể hiện sự tự tin, sáng khoái mỗi khi bước vào trận đấu. Các đô vật nhí tranh tài Các đô vật tranh tài ở các giải Nhất, Nhì Ba, xen kẽ là các giải Lèo, giải Nhí. Cứ thắng tuyệt đối đủ “ba keo” là người giành giải nhất. Hội vật dân tộc truyền thống làng Mai Động luôn hấp dẫn, không chỉ là một trò chơi, một môn thể thao truyền thống, mà còn là nét đẹp trong lễ hội dân gian Việt nam, góp phần phát huy tinh thần thượng võ cũng như tinh thần đoàn kết dân tộc.

Lễ hội vật làng Mai Động được tổ chức hàng năm từ ngày mùng 4 đến 7 tết âm lịch tại khu vực đình Nghè làng Mai Động, nay thuộc phường Mai Động, quận Hoàng Mai, phía Nam Hà Nội. Lễ hội được tổ chức nhằm ôn lại chiến công và tưởng nhớ danh tướng Nguyễn Tam Trinh - Một vị tướng tài dưới thời Hai Bà Trưng.

Tương truyền, Hội vật Mai Động ra đời vào thuở danh tướng Nguyễn Tam Trinh đến làng Mai (nay là Mai Động) để lập nghiệp. Ông đã dạy dân trong vùng đấu vật và mở các sới vật để người dân rèn luyện sức khỏe. Cũng dựa vào những sới vật đó, ông chiêu mộ những thanh niên trai tráng khỏe mạnh trong vùng rồi xin hội quân đánh giặc, giành được nhiều thắng lợi vang dội trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Nghi lễ chào hỏi là một trong những thủ tục quan trọng, thể hiện sự tôn trọng đối thủ và tinh thần thượng võ của đô vật. Để tướng nhớ vị danh tướng tài ba là ông tổ của nghề vật, nhân dân làng Mai Động đã dựng đình thờ và tôn ông làm Thành Hoàng làng. Hội vật làng Mai Động có từ đó và là lễ hội lâu đời nhất, có lịch sử ngót 2000 năm còn được duy trì tới ngày nay. Nét đặc sắc nhất của lễ hội vật làng Mai Động đó là sự quy tụ của nhiều đô vật danh tiếng, từ các bô lão, trung niên, từ thanh niên đến các cháu thiếu niên nhi đồng đến từ các “lò vật” nổi tiếng ở Hà Nội như: Hoàng Mai, Lĩnh Nam, Mai Động, Yên Sở..cùng như những đô vật tới từ các tỉnh khác ở phía Bắc như: Hà Tây cũ, Bắc Ninh, Hưng Yên, Vĩnh Phúc... Trải qua thời gian, làng Mai Động trở thành một trong những cái nôi kết tinh võ vật cổ truyền của dân tộc Việt Nam. Một pha vật gay cấn Sau lễ rước Thánh kiệu, các đô vật sẽ bắt đầu tham gia tranh tài. Theo truyền thống, trước khi bước vào trận đấu, hai đô vật phải làm động tác biểu diễn màn chào hỏi gọi là gọi là “xe đài” hay “Múa Hạc”. Đây không chỉ biểu diễn những động tác đẹp mắt, mà còn là nghi thức tâm linh của các đô vật hướng về Tổ tiên và hướng về các vị anh hùng của dân tộc. Động tác xe đài luôn có chuẩn về nghi thức, nhưng lại thể hiện sự phóng khoáng, không chỉ mang tính khiêu khích đối với đối thủ mà còn thể hiện sự tự tin, sáng khoái mỗi khi bước vào trận đấu. Các đô vật nhí tranh tài Các đô vật tranh tài ở các giải Nhất, Nhì Ba, xen kẽ là các giải Lèo, giải Nhí. Cứ thắng tuyệt đối đủ “ba keo” là người giành giải nhất. Hội vật dân tộc truyền thống làng Mai Động luôn hấp dẫn, không chỉ là một trò chơi, một môn thể thao truyền thống, mà còn là nét đẹp trong lễ hội dân gian Việt nam, góp phần phát huy tinh thần thượng võ cũng như tinh thần đoàn kết dân tộc.

Tương truyền, Hội vật Mai Động ra đời vào thuở danh tướng Nguyễn Tam Trinh đến làng Mai (nay là Mai Động) để lập nghiệp. Ông đã dạy dân trong vùng đấu vật và mở các sới vật để người dân rèn luyện sức khỏe. Cũng dựa vào những sới vật đó, ông chiêu mộ những thanh niên trai tráng khỏe mạnh trong vùng rồi xin hội quân đánh giặc, giành được nhiều thắng lợi vang dội trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng.

Nghi lễ chào hỏi là một trong những thủ tục quan trọng, thể hiện sự tôn trọng đối thủ và tinh thần thượng võ của đô vật.

Để tướng nhớ vị danh tướng tài ba là ông tổ của nghề vật, nhân dân làng Mai Động đã dựng đình thờ và tôn ông làm Thành Hoàng làng. Hội vật làng Mai Động có từ đó và là lễ hội lâu đời nhất, có lịch sử ngót 2000 năm còn được duy trì tới ngày nay.

Nét đặc sắc nhất của lễ hội vật làng Mai Động đó là sự quy tụ của nhiều đô vật danh tiếng, từ các bô lão, trung niên, từ thanh niên đến các cháu thiếu niên nhi đồng đến từ các “lò vật” nổi tiếng ở Hà Nội như: Hoàng Mai, Lĩnh Nam, Mai Động, Yên Sở..cùng như những đô vật tới từ các tỉnh khác ở phía Bắc như: Hà Tây cũ, Bắc Ninh, Hưng Yên, Vĩnh Phúc... Trải qua thời gian, làng Mai Động trở thành một trong những cái nôi kết tinh võ vật cổ truyền của dân tộc Việt Nam.

Một pha vật gay cấn

Sau lễ rước Thánh kiệu, các đô vật sẽ bắt đầu tham gia tranh tài. Theo truyền thống, trước khi bước vào trận đấu, hai đô vật phải làm động tác biểu diễn màn chào hỏi gọi là gọi là “xe đài” hay “Múa Hạc”. Đây không chỉ biểu diễn những động tác đẹp mắt, mà còn là nghi thức tâm linh của các đô vật hướng về Tổ tiên và hướng về các vị anh hùng của dân tộc. Động tác xe đài luôn có chuẩn về nghi thức, nhưng lại thể hiện sự phóng khoáng, không chỉ mang tính khiêu khích đối với đối thủ mà còn thể hiện sự tự tin, sáng khoái mỗi khi bước vào trận đấu.

Các đô vật nhí tranh tài

Các đô vật tranh tài ở các giải Nhất, Nhì Ba, xen kẽ là các giải Lèo, giải Nhí. Cứ thắng tuyệt đối đủ “ba keo” là người giành giải nhất. Hội vật dân tộc truyền thống làng Mai Động luôn hấp dẫn, không chỉ là một trò chơi, một môn thể thao truyền thống, mà còn là nét đẹp trong lễ hội dân gian Việt nam, góp phần phát huy tinh thần thượng võ cũng như tinh thần đoàn kết dân tộc.

Related Figures

Lễ hội kỷ niệm Chiến thắng Xương Giang

Thông tin thời kỳ

Lễ hội kỷ niệm chiến thắng Xương Giang được tổ chức vào ngày mùng 6 và mùng 7 tết hàng năm nhằm ôn lại truyền thống vẻ vang của Chiến thắng Chi Lăng - Xương Giang của nghĩa quân Lam Sơn năm xưa, đập tan 10 vạn viện binh của nhà Minh và chấm dứt ách đô hộ tàn bạo của nhà Minh, xây dựng nền độc lập nước nhà. Lễ hội Xương Giang được tổ chức tại nhiều địa điểm là các xã, phường. Chính hội là nơi làm lễ khai hội và dâng hương tưởng niệm các anh hùng nghĩa sỹ Lam Sơn ở thành Xương Giang, thuộc khu ngã ba Quán Thành, xã Xương Giang, thành phố Bắc Giang. Ngoài trung tâm này, không gian văn hoá của lễ hội còn mở rộng tới các xã, phường của thành phố Bắc Giang. Đó là các điểm đình chùa, đền miếu, hoặc nhà văn hoá của các địa phương, họ dương cờ, căng biểu ngữ và tập trung để tiến về nơi làm lễ khai hội. Các đoàn rước trong ngày hội Sáng sớm ngày mùng 6, các đoàn người từ các thôn, làng, phường, xã, dương cờ, gióng trống, xe kiệu với áo quần rực rỡ, tề chỉnh từ các ngả đường lần lượt tiến về trung tâm khai hội như những đoàn quân. Trong không khí cờ hoa, biểu ngữ, các đoàn quân hành tiến trong tiếng trống, tiêng chiêng, tiếng nhạc vang lừng. Các đoàn rước tập trung ở khu vực chính hội để làm lễ Đến giờ khai hội, lãnh đạo tỉnh Bắc Giang sẽ làm lễ dâng hương, sau đó tất cả các đoàn cùng nhau lần lượt rước lên dâng hương tưởng niệm các anh hùng. Lễ dâng hương được tổ chức ở trung tâm khai hội rất long trọng. Mở đầu là lễ chào cờ, lễ đọc diễn văn khai mạc, đọc “Đại cáo bình ngô”, đọc “Xương Giang phú”, sau đó là lễ múa ra quân. Múa rồng trong ngày hội Sau lễ dâng hương, các đoàn rước sẽ trở về làng mình, làm lễ Am Vị và đưa xếp các đồ tế khí, kiệu, ngựa vào vị trí cũ. Riêng làng Thành và Làng Vẽ thì bắt đầu vào hội lệ của làng mình. Tại khu vực đình, chùa hai làng Thành và Làng Vẽ, các trò vui dân gian được tổ chức như đu quay, cờ bỏi, cờ tướng, hát chèo nhà chùa, dâng hương lễ phật, tế thành hoàng và có tổ chức hương ẩm tới ngày mồng 7 tháng Giêng mới dứt. TH

Lễ hội Xương Giang được tổ chức tại nhiều địa điểm là các xã, phường. Chính hội là nơi làm lễ khai hội và dâng hương tưởng niệm các anh hùng nghĩa sỹ Lam Sơn ở thành Xương Giang, thuộc khu ngã ba Quán Thành, xã Xương Giang, thành phố Bắc Giang. Ngoài trung tâm này, không gian văn hoá của lễ hội còn mở rộng tới các xã, phường của thành phố Bắc Giang. Đó là các điểm đình chùa, đền miếu, hoặc nhà văn hoá của các địa phương, họ dương cờ, căng biểu ngữ và tập trung để tiến về nơi làm lễ khai hội.

Các đoàn rước trong ngày hội

Sáng sớm ngày mùng 6, các đoàn người từ các thôn, làng, phường, xã, dương cờ, gióng trống, xe kiệu với áo quần rực rỡ, tề chỉnh từ các ngả đường lần lượt tiến về trung tâm khai hội như những đoàn quân. Trong không khí cờ hoa, biểu ngữ, các đoàn quân hành tiến trong tiếng trống, tiêng chiêng, tiếng nhạc vang lừng.

Các đoàn rước tập trung ở khu vực chính hội để làm lễ

Đến giờ khai hội, lãnh đạo tỉnh Bắc Giang sẽ làm lễ dâng hương, sau đó tất cả các đoàn cùng nhau lần lượt rước lên dâng hương tưởng niệm các anh hùng. Lễ dâng hương được tổ chức ở trung tâm khai hội rất long trọng. Mở đầu là lễ chào cờ, lễ đọc diễn văn khai mạc, đọc “Đại cáo bình ngô”, đọc “Xương Giang phú”, sau đó là lễ múa ra quân.

Múa rồng trong ngày hội

Sau lễ dâng hương, các đoàn rước sẽ trở về làng mình, làm lễ Am Vị và đưa xếp các đồ tế khí, kiệu, ngựa vào vị trí cũ. Riêng làng Thành và Làng Vẽ thì bắt đầu vào hội lệ của làng mình. Tại khu vực đình, chùa hai làng Thành và Làng Vẽ, các trò vui dân gian được tổ chức như đu quay, cờ bỏi, cờ tướng, hát chèo nhà chùa, dâng hương lễ phật, tế thành hoàng và có tổ chức hương ẩm tới ngày mồng 7 tháng Giêng mới dứt.

TH

Related Figures

Lễ hội đền Trần Quốc Bảo

Thông tin thời kỳ

Lễ hội đền Trần Quốc Bảo được tổ chức vào ngày mồng 6 tháng Giêng âm lịch hằng năm để tưởng nhớ tướng quân Trần Quốc Bảo đã có công trong trận thủy chiến Bạch Đằng lịch sử. Đền Trần Quốc Bảo nằm trong Quần thể Di tích Lịch sử - Danh thắng cấp Quốc gia Tràng Kênh - Bạch Đằng, thuộc thị trấn Minh Đức, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng. Đây được xem là một trong những cụm danh thắng và di tích tiểu biểu nhất của thành phố Hải Phòng, đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia. Đền Trần Quốc Bảo ở thị trấn Minh Đức, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng. Đền thờ tướng quân Trần Quốc Bảo, vị tướng của vương triều Trần có công trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông của dân tộc ta ở thế kỷ XIII. Theo sử sách và ngọc phả ghi lại, Trần Quốc Bảo là cháu gọi vua Trần Nhân Tông bằng ông. Năm 1287, trong cuộc chiến đấu chống quân Mông - Nguyên lần III, Trần Quốc Bảo được triều đình tin tưởng, giao trọng trách trấn thủ vùng biển, đóng quân tại vùng Áng Hồ, Áng Lác thuộc dãy núi đá Tràng Kênh (địa phận thị trấn Minh Đức ngày nay), để trợ thủ cho Trần Khánh Dư chống địch. Tòa bái đường đền Trần Quốc Bảo Trong trận Bạch Đằng tháng 2 năm 1288, tướng giặc Ô Mã Nhi do chờ không thấy lương thuyền của Trương Văn Hổ tới nên đã kéo quân đến khu vực An Bang (thuộc Quảng Ninh ngày nay) để đón quân lương và dự định trên đường vừa đi vừa cướp bóc lương thực để ăn đường. Tuy nhiên, chúng đã không thực hiện được âm mưu này vì đã bị quân ta chặn đánh trên suốt đường đi. Lúc này, Trần Quốc Bảo đã đưa quân sang chiến đấu, trợ sức giúp cho Trần Khánh Dư. Trong một trận giáp chiến giữa ta và địch, ngài bị thương nặng và được đưa về vùng Áng Hồ phía sau; nhưng vì vết thương quá nặng nên đã hy sinh. Đêm hôm đó, Phó tướng Vũ Nạp cho quân sỹ đắp một con đường nhỏ từ núi Áng Hồ đến núi Phượng Hoàng để đưa ngài về đây án táng. Ngôi mộ xưa vốn rất đơn giản, chỉ gồm một bàn thờ cùng bát hương bằng đá, tuy vậy vẫn nhân dân địa phương và tín khách thập phương vẫn thường xuyên đến thăm viếng, thờ cúng. Sau này, triều đình nhà Trần đã truyền cho nhân dân địa phương vùng Tràng Kênh, nơi ông đóng quân và hy sinh lập miếu thờ, truy phong làm Thái Tử. Các triều đại phong kiến tiếp theo đều thừa nhận công lao của Trần Quốc Bảo và suy tôn là Thượng đẳng phúc thần, phong sắc Thành hoàng làng Tràng Kênh. Người dân đi hội đền Trần Quốc Bảo Lễ hội đền Trần Quốc Bảo kéo dài trong 5 ngày và ngày chính hội là mùng 6 tháng giêng. Đây là một lễ hội có quy mô lớn được tổ chức thường niên tại khu vực đền thờ và lăng mộ tướng quân Trần Quốc Bảo nhằm tưởng nhớ công ơn của vị anh hùng dân tộc này. Trong phần lễ có các nghi lễ tế lễ, lễ rước, đọc chúc văn, diễn văn, dâng hương…Tiếp đó là phần hội với nhiều trò chơi dân gian mang đậm chất văn hóa và tinh thần thượng võ như kéo co, chọi gà, hát đúm, đu tiên... Lễ hội đền Trần Quốc Bảo là dịp để người dân nơi đây hướng về nguồn cội, tưởng nhớ về người anh hùng đã có công với nước, qua đó vun đắp thêm tình yêu và niềm tự hào dân tộc. Bên cạnh đó, khi tham dự lễ hội, du khách có cơ hội chiêm ngưỡng vẻ đẹp sơn thủy hữu tình của cụm di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia Tràng Kênh - “nơi mà các sông giao lưu, sóng nước liền trời, cây cối che bờ, thật là nơi hiểm yếu ở biên cảnh”. TH

Đền Trần Quốc Bảo nằm trong Quần thể Di tích Lịch sử - Danh thắng cấp Quốc gia Tràng Kênh - Bạch Đằng, thuộc thị trấn Minh Đức, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng. Đây được xem là một trong những cụm danh thắng và di tích tiểu biểu nhất của thành phố Hải Phòng, đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia.

Đền Trần Quốc Bảo ở thị trấn Minh Đức, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng.

Đền thờ tướng quân Trần Quốc Bảo, vị tướng của vương triều Trần có công trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông của dân tộc ta ở thế kỷ XIII.

Theo sử sách và ngọc phả ghi lại, Trần Quốc Bảo là cháu gọi vua Trần Nhân Tông bằng ông. Năm 1287, trong cuộc chiến đấu chống quân Mông - Nguyên lần III, Trần Quốc Bảo được triều đình tin tưởng, giao trọng trách trấn thủ vùng biển, đóng quân tại vùng Áng Hồ, Áng Lác thuộc dãy núi đá Tràng Kênh (địa phận thị trấn Minh Đức ngày nay), để trợ thủ cho Trần Khánh Dư chống địch.

Tòa bái đường đền Trần Quốc Bảo

Trong trận Bạch Đằng tháng 2 năm 1288, tướng giặc Ô Mã Nhi do chờ không thấy lương thuyền của Trương Văn Hổ tới nên đã kéo quân đến khu vực An Bang (thuộc Quảng Ninh ngày nay) để đón quân lương và dự định trên đường vừa đi vừa cướp bóc lương thực để ăn đường. Tuy nhiên, chúng đã không thực hiện được âm mưu này vì đã bị quân ta chặn đánh trên suốt đường đi. Lúc này, Trần Quốc Bảo đã đưa quân sang chiến đấu, trợ sức giúp cho Trần Khánh Dư. Trong một trận giáp chiến giữa ta và địch, ngài bị thương nặng và được đưa về vùng Áng Hồ phía sau; nhưng vì vết thương quá nặng nên đã hy sinh. Đêm hôm đó, Phó tướng Vũ Nạp cho quân sỹ đắp một con đường nhỏ từ núi Áng Hồ đến núi Phượng Hoàng để đưa ngài về đây án táng. Ngôi mộ xưa vốn rất đơn giản, chỉ gồm một bàn thờ cùng bát hương bằng đá, tuy vậy vẫn nhân dân địa phương và tín khách thập phương vẫn thường xuyên đến thăm viếng, thờ cúng.

Sau này, triều đình nhà Trần đã truyền cho nhân dân địa phương vùng Tràng Kênh, nơi ông đóng quân và hy sinh lập miếu thờ, truy phong làm Thái Tử. Các triều đại phong kiến tiếp theo đều thừa nhận công lao của Trần Quốc Bảo và suy tôn là Thượng đẳng phúc thần, phong sắc Thành hoàng làng Tràng Kênh.

Người dân đi hội đền Trần Quốc Bảo

Lễ hội đền Trần Quốc Bảo kéo dài trong 5 ngày và ngày chính hội là mùng 6 tháng giêng. Đây là một lễ hội có quy mô lớn được tổ chức thường niên tại khu vực đền thờ và lăng mộ tướng quân Trần Quốc Bảo nhằm tưởng nhớ công ơn của vị anh hùng dân tộc này. Trong phần lễ có các nghi lễ tế lễ, lễ rước, đọc chúc văn, diễn văn, dâng hương…Tiếp đó là phần hội với nhiều trò chơi dân gian mang đậm chất văn hóa và tinh thần thượng võ như kéo co, chọi gà, hát đúm, đu tiên...

Lễ hội đền Trần Quốc Bảo là dịp để người dân nơi đây hướng về nguồn cội, tưởng nhớ về người anh hùng đã có công với nước, qua đó vun đắp thêm tình yêu và niềm tự hào dân tộc. Bên cạnh đó, khi tham dự lễ hội, du khách có cơ hội chiêm ngưỡng vẻ đẹp sơn thủy hữu tình của cụm di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia Tràng Kênh - “nơi mà các sông giao lưu, sóng nước liền trời, cây cối che bờ, thật là nơi hiểm yếu ở biên cảnh”.

TH

Related Figures

Lễ hội chợ Xưa

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/1 Âm lịch Lễ hội chợ Xưa diễn ra vào đúng ngày mồng 1 Tết tại Làng Xưa, xã An Lư, huyện Thủy Nguyên, TP Hải Phòng. Tục họp chợ vào ngày đầu năm đã có từ lâu đời, thể hiện nét văn hóa đặc trưng của chợ phiên Bắc Bộ. Theo truyền thuyết, lễ hội chợ Xưa là một lễ hội văn hóa gắn liền với sự kiện khao quân sau chiến thắng Bạch Đằng dưới thời nhà Trần. Chợ họp vào ngày mùng 1 tết đầu năm để cầu mua may, bán đắt Chợ Xưa họp vào sáng mồng 1 Tết, bán các loại nông sản và sản vật địa phương. Tại đây, mọi người gặp gỡ, chúc tụng nhau những điều tốt lành, hy vọng một năm mới nhiều may mắn, thuận lợi. Người bán hàng cầu buôn may bán đắt, người mua hàng thì cầu lộc cầu tài. Đặc biệt, sản vật được bày bán nhiều nhất ở đây là cá mực bởi theo người dân Thủy Nguyên, nhất là các ngư dân quan niệm việc ăn cá mực đầu năm sẽ đem lại nhiều điều may mắn, hạnh phúc và đem lại mùa màng tươi tốt, cả năm được mùa tôm cá. Một gian hàng trong chợ Việc buôn bán đầu năm tại chợ Xưa không nặng tính thương mại mà mang nét đẹp văn hóa truyền thống. Người bán không nói thách, người mua cũng không mặc cả. Họ mua bán để mong cầu những điều may mắn trong dịp đầu xuân. Ngày nay, chợ Xưa không chỉ dành cho người dân địa phương mà người dân ở các xã khác cũng đến buôn bán với nhiều mặt hàng, từ đồ ăn, đồ uống cho đến các nông sản như rau, thịt, cá…và các sản phẩm thiết yếu phục vụ đời sống hằng ngày. Thi đấu cờ người Dù có thay đổi nhưng ý nghĩa của hội chợ Xưa vẫn được giữ nguyên. Cũng vì truyền thống và ý nghĩa này nên chợ Xưa luôn đông khách và có nhiều khách từ các địa phương khác đến. Cùng với hội chợ Xưa, người dân xã An Lư cũng tổ chức một số trò chơi dân gian hấp dẫn khác như: đu dây, đánh cờ người…

Theo truyền thuyết, lễ hội chợ Xưa là một lễ hội văn hóa gắn liền với sự kiện khao quân sau chiến thắng Bạch Đằng dưới thời nhà Trần.

Chợ họp vào ngày mùng 1 tết đầu năm để cầu mua may, bán đắt

Chợ Xưa họp vào sáng mồng 1 Tết, bán các loại nông sản và sản vật địa phương. Tại đây, mọi người gặp gỡ, chúc tụng nhau những điều tốt lành, hy vọng một năm mới nhiều may mắn, thuận lợi. Người bán hàng cầu buôn may bán đắt, người mua hàng thì cầu lộc cầu tài. Đặc biệt, sản vật được bày bán nhiều nhất ở đây là cá mực bởi theo người dân Thủy Nguyên, nhất là các ngư dân quan niệm việc ăn cá mực đầu năm sẽ đem lại nhiều điều may mắn, hạnh phúc và đem lại mùa màng tươi tốt, cả năm được mùa tôm cá.

Một gian hàng trong chợ

Việc buôn bán đầu năm tại chợ Xưa không nặng tính thương mại mà mang nét đẹp văn hóa truyền thống. Người bán không nói thách, người mua cũng không mặc cả. Họ mua bán để mong cầu những điều may mắn trong dịp đầu xuân. Ngày nay, chợ Xưa không chỉ dành cho người dân địa phương mà người dân ở các xã khác cũng đến buôn bán với nhiều mặt hàng, từ đồ ăn, đồ uống cho đến các nông sản như rau, thịt, cá…và các sản phẩm thiết yếu phục vụ đời sống hằng ngày.

Thi đấu cờ người

Dù có thay đổi nhưng ý nghĩa của hội chợ Xưa vẫn được giữ nguyên. Cũng vì truyền thống và ý nghĩa này nên chợ Xưa luôn đông khách và có nhiều khách từ các địa phương khác đến. Cùng với hội chợ Xưa, người dân xã An Lư cũng tổ chức một số trò chơi dân gian hấp dẫn khác như: đu dây, đánh cờ người…

Related Figures

Lễ hội Chạy Lợn

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 7/1 Âm lịch Hằng năm cứ đến ngày mùng 7 Tết, người dân thôn Duyên Yết, xã Hồng Thái (Phú Xuyên, Hà Nội) lại linh đình tổ chức lễ hội chạy lợn tái hiện cảnh đức thánh Cao Sơn Đại vương khao quân trước khi lên đường đánh giặc. Theo truyền thuyết của làng Duyên Yết, vào đời Hùng Vương thứ 18 khi đức Cao Sơn Đại vương dẫn quân đi đánh giặc đã dừng lại nghỉ chân tại làng. Các bô lão đã xin được làm cỗ khao quân và được Đức Thánh đồng ý nhưng với điều kiện là phải làm thật nhanh và đầy đủ món. Đưa "ông lợn" vào lễ hội Dân làng Duyên Yết đã đồng ý và khi Đức Cao Sơn Đại Vương còn chưa kịp uống xong chén trà, các vị bô lão đã dâng lên ngài một mâm cỗ thịnh soạn từ một con lợn đang còn sống. Từ đó, cứ vào ngày mồng 7 Tháng Giêng âm lịch, dân làng Duyên Yết lại tổ chức lễ hội “chạy lợn” để tưởng nhớ ngày đức Cao Sơn Đại Vương về thăm làng. Lễ hội được bắt đầu bằng nghi thức tế lễ và rước kiệu được tổ chức trang trọng và linh thiêng nhằm tưởng nhớ tới các anh linh hào kiệt có công với dân với nước. Sau khi tế lễ, các bô lão trong làng cũng thể hiện nghi thức Vật lão trước bàn thờ thần Cao Sơn Đại Vương. Lễ rước kiệu Phần chính của lễ hội được nhiều người chờ đợi nhất chính là lễ Chạy lợn. Ngay từ sáng sớm, người dân Duyên Yết đã tổ chức đoàn rước, có tổng cờ, đội múa lân, sư tử, trống... và khiêng kiệu lợn vào khu vực đình chính. Lợn tham gia trong lễ hội Chạy lợn phải được nuôi hết sức cẩn thận. Trước khi diễn ra lễ hội 10 ngày, những con lợn này được cho ăn cháo gạo nếp, tắm bằng nước lá thơm, khi rước lợn vào đình, phải đặt lợn vào trong cũi đỏ. Mỗi xóm tham dự hội thi sẽ cử ra hai thanh niên cường tráng, chưa vợ, đầu chít khăn đỏ, quấn thắt lưng đỏ cùng với mười tráng đinh tham gia mổ lợn. Khi tiếng trống lệnh nổi lên, các tráng đinh lập tức khiêng lợn về vị trí giết mổ. Sau khi làm sạch lông thủ lợn thì đưa ngay vào nồi luộc. Những người còn lại tiếp tục làm nhanh để có đủ 10 món, 9 đĩa bày vào mâm cỗ để tế Thần gồm: thủ, vĩ, tim, gan, bầu dục, thịt vai, thịt mông và phải có lá mỡ chài phủ lên thủ lợn để trang trí cho mâm cỗ. Mâm cỗ đẩy đủ chỉ được chuẩn bị trong 2-3 phút Theo quy định, lợn giết mổ phải không bị thủng ruột, không được mổ phanh, các vết mổ trên mình lợn phải nhỏ gọn, kín đáo mới đúng tiêu chuẩn. Đặc biệt là phải nhanh để đúng chất "chạy lợn", từ khi mổ đến khi mâm cỗ được làm xong để tế Thần chỉ hết 2 đến 3 phút, chậm hơn sẽ không được chấm điểm. Đội nào thắng trong lễ hội thì nhân dân xóm đó sẽ gặp nhiều may mắn trong cả năm. Cuối buổi lễ, các “ông lợn” sau khi dâng lên Thành hoàng làng sẽ được mang về từng xóm để “khao quân”. Có thể nói, Lễ hội chạy lợn làng Duyên Yết chính là một biểu tượng của tình đoàn kết, gắn bó giữa quân và dân ta từ xưa đến nay và cũng là biểu tượng của tình hàng xóm láng giềng và tinh thần thượng võ của dân tộc Việt Nam.

Theo truyền thuyết của làng Duyên Yết, vào đời Hùng Vương thứ 18 khi đức Cao Sơn Đại vương dẫn quân đi đánh giặc đã dừng lại nghỉ chân tại làng. Các bô lão đã xin được làm cỗ khao quân và được Đức Thánh đồng ý nhưng với điều kiện là phải làm thật nhanh và đầy đủ món.

Đưa "ông lợn" vào lễ hội

Dân làng Duyên Yết đã đồng ý và khi Đức Cao Sơn Đại Vương còn chưa kịp uống xong chén trà, các vị bô lão đã dâng lên ngài một mâm cỗ thịnh soạn từ một con lợn đang còn sống. Từ đó, cứ vào ngày mồng 7 Tháng Giêng âm lịch, dân làng Duyên Yết lại tổ chức lễ hội “chạy lợn” để tưởng nhớ ngày đức Cao Sơn Đại Vương về thăm làng.

Lễ hội được bắt đầu bằng nghi thức tế lễ và rước kiệu được tổ chức trang trọng và linh thiêng nhằm tưởng nhớ tới các anh linh hào kiệt có công với dân với nước. Sau khi tế lễ, các bô lão trong làng cũng thể hiện nghi thức Vật lão trước bàn thờ thần Cao Sơn Đại Vương.

Lễ rước kiệu

Phần chính của lễ hội được nhiều người chờ đợi nhất chính là lễ Chạy lợn. Ngay từ sáng sớm, người dân Duyên Yết đã tổ chức đoàn rước, có tổng cờ, đội múa lân, sư tử, trống... và khiêng kiệu lợn vào khu vực đình chính. Lợn tham gia trong lễ hội Chạy lợn phải được nuôi hết sức cẩn thận. Trước khi diễn ra lễ hội 10 ngày, những con lợn này được cho ăn cháo gạo nếp, tắm bằng nước lá thơm, khi rước lợn vào đình, phải đặt lợn vào trong cũi đỏ.

Mỗi xóm tham dự hội thi sẽ cử ra hai thanh niên cường tráng, chưa vợ, đầu chít khăn đỏ, quấn thắt lưng đỏ cùng với mười tráng đinh tham gia mổ lợn. Khi tiếng trống lệnh nổi lên, các tráng đinh lập tức khiêng lợn về vị trí giết mổ. Sau khi làm sạch lông thủ lợn thì đưa ngay vào nồi luộc. Những người còn lại tiếp tục làm nhanh để có đủ 10 món, 9 đĩa bày vào mâm cỗ để tế Thần gồm: thủ, vĩ, tim, gan, bầu dục, thịt vai, thịt mông và phải có lá mỡ chài phủ lên thủ lợn để trang trí cho mâm cỗ.

Mâm cỗ đẩy đủ chỉ được chuẩn bị trong 2-3 phút

Theo quy định, lợn giết mổ phải không bị thủng ruột, không được mổ phanh, các vết mổ trên mình lợn phải nhỏ gọn, kín đáo mới đúng tiêu chuẩn. Đặc biệt là phải nhanh để đúng chất "chạy lợn", từ khi mổ đến khi mâm cỗ được làm xong để tế Thần chỉ hết 2 đến 3 phút, chậm hơn sẽ không được chấm điểm. Đội nào thắng trong lễ hội thì nhân dân xóm đó sẽ gặp nhiều may mắn trong cả năm.

Cuối buổi lễ, các “ông lợn” sau khi dâng lên Thành hoàng làng sẽ được mang về từng xóm để “khao quân”. Có thể nói, Lễ hội chạy lợn làng Duyên Yết chính là một biểu tượng của tình đoàn kết, gắn bó giữa quân và dân ta từ xưa đến nay và cũng là biểu tượng của tình hàng xóm láng giềng và tinh thần thượng võ của dân tộc Việt Nam.

Related Figures

Lễ hội Tịch Điền Đọi Sơn

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 5/1- 7/1 Âm lịch Lễ hội Tịch Điền Đọi Sơn được tổ chức từ ngày mùng 5 đến ngày mùng 7 tháng riêng hằng năm ở Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, Hà Nam. Đây là một lễ hội mang ý nghĩa khuyến nông và là nét đẹp văn hóa trở về nguồn cội. Nghi thức lễ tịch điền này lần đầu tiên được diễn ra vào thế kỷ X ở Hà Nam, trên quê hương vua Lê Đại Hành và sau nhiều năm thất truyền, lễ hội được khôi phục từ năm 2009. Đến năm 2010, lần đầu tiên chủ tịch nước Việt Nam Nguyễn Minh Triết cũng đã đến mặc áo nông dân cầm cày thực hiện nghi lễ tịch điền Đọi Sơn. Rước kiệu vào khu vực lễ hội. Theo truyền thuyết, lễ Tịch điền có nguồn gốc từ rất xa xưa do vua Thần Nông, một vị vua huyền thoại được xem là thủy tổ của người Việt, cụ nội của Vua Hùng khai mở. Lễ Tịch điền sau đó được người Việt thực hiện mang ý nghĩa tế Thành hoàng, Thần Nông, các thần mây, mưa, sấm, chớp để cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu nên còn được gọi là Hạ điền cầu bông. Đoàn rước trang nghiêm trong trang phục truyền thống Sử sách Việt Nam ghi lại, mùa xuân năm 987, lần đầu tiên vua Lê Đại Hành cùng văn võ bá quan đến cày ruộng ở Đọi Sơn và bắt được chum vàng. Đến năm 988 tổ chức cày ở Bàn Hải bắt được chum bạc, vì thế những thửa ruộng này còn được gọi là Kim Ngân Điền. Từ đó, hàng năm cứ vào dịp đầu xuân, nhà vua lại ra đồng cày ruộng, làm Lễ tịch điền để cầu mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt. Các triều đại phong kiến sau đó cũng đều duy trì nghi lễ cày tịch điền với các hình thức khác nhau. Tái hiện cảnh Vua Lê Đại Hành cày ruộng khai xuân Lễ tịch điền không chỉ mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể hiện sự quan tâm của các vị vua đối với người nông dân mà ngày nay nó còn góp phần tuyên truyền, giáo dục các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ lòng biết ơn đối với các bậc tiền nhân, khuyến khích người dân tích cực phát triển sản xuất nông nghiệp. Bởi thế, mỗi người dân Hà Nam nói riêng và Việt Nam nói chung cần phát huy truyền thống thi đua lao động sản xuất, phát triển kinh tế trên chính mảnh đất quê hương mình. Lễ hội Tịch điền diễn ra từ ngày mồng 5-7 tết âm lịch với nhiều hoạt động như: rước chân nhang vua Lê Đại Hành từ đền Lăng, xã Liêm Cần, Thanh Liêm về xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, lễ rước nước, lễ sái tịnh… Sau phần lễ là phần hội với các hoạt động diễn xướng, kết hợp với văn hóa, nghệ thuật, thể thao thu hút đông đảo bà con nhân dân và du khách tham dự.

Nghi thức lễ tịch điền này lần đầu tiên được diễn ra vào thế kỷ X ở Hà Nam, trên quê hương vua Lê Đại Hành và sau nhiều năm thất truyền, lễ hội được khôi phục từ năm 2009. Đến năm 2010, lần đầu tiên chủ tịch nước Việt Nam Nguyễn Minh Triết cũng đã đến mặc áo nông dân cầm cày thực hiện nghi lễ tịch điền Đọi Sơn.

Rước kiệu vào khu vực lễ hội.

Theo truyền thuyết, lễ Tịch điền có nguồn gốc từ rất xa xưa do vua Thần Nông, một vị vua huyền thoại được xem là thủy tổ của người Việt, cụ nội của Vua Hùng khai mở. Lễ Tịch điền sau đó được người Việt thực hiện mang ý nghĩa tế Thành hoàng, Thần Nông, các thần mây, mưa, sấm, chớp để cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu nên còn được gọi là Hạ điền cầu bông.

Đoàn rước trang nghiêm trong trang phục truyền thống

Sử sách Việt Nam ghi lại, mùa xuân năm 987, lần đầu tiên vua Lê Đại Hành cùng văn võ bá quan đến cày ruộng ở Đọi Sơn và bắt được chum vàng. Đến năm 988 tổ chức cày ở Bàn Hải bắt được chum bạc, vì thế những thửa ruộng này còn được gọi là Kim Ngân Điền. Từ đó, hàng năm cứ vào dịp đầu xuân, nhà vua lại ra đồng cày ruộng, làm Lễ tịch điền để cầu mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt. Các triều đại phong kiến sau đó cũng đều duy trì nghi lễ cày tịch điền với các hình thức khác nhau.

Tái hiện cảnh Vua Lê Đại Hành cày ruộng khai xuân

Lễ tịch điền không chỉ mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể hiện sự quan tâm của các vị vua đối với người nông dân mà ngày nay nó còn góp phần tuyên truyền, giáo dục các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ lòng biết ơn đối với các bậc tiền nhân, khuyến khích người dân tích cực phát triển sản xuất nông nghiệp. Bởi thế, mỗi người dân Hà Nam nói riêng và Việt Nam nói chung cần phát huy truyền thống thi đua lao động sản xuất, phát triển kinh tế trên chính mảnh đất quê hương mình.

Lễ hội Tịch điền diễn ra từ ngày mồng 5-7 tết âm lịch với nhiều hoạt động như: rước chân nhang vua Lê Đại Hành từ đền Lăng, xã Liêm Cần, Thanh Liêm về xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, lễ rước nước, lễ sái tịnh…

Sau phần lễ là phần hội với các hoạt động diễn xướng, kết hợp với văn hóa, nghệ thuật, thể thao thu hút đông đảo bà con nhân dân và du khách tham dự.

Related Figures

Lễ hội miếu Tiên Công

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 5/1- 7/1 Âm lịch Lễ hội miếu Tiên Công là một trong những lễ hội truyền thống lớn nhất trong năm của thị xã Quảng Yên (Quảng Ninh) được tổ chức vào ngày mùng 7 tháng giêng âm lịch hằng năm tại miếu Tiên công thuộc khu vực làn đảo Hà Nam. Lễ hội Tiên Công là dịp người dân nơi đây tụ hội về để tưởng nhớ công lao của các vị Tiên Công đã tìm ra mạch nước ngọt, khai canh mở đất, tạo ra khu vực đảo Hà Nam trù phú ngày nay. Ngày nay, Lễ hội Tiên Công còn là dịp để con cháu mừng thọ cho các cụ già với lễ rước các cụ thượng thọ lên miếu Tiên Công. Lễ vật và nghi án - những thủ tục không thể thiếu của lễ rước Lễ hội miếu Tiên Công là một trong những lễ hội xuân lớn nhất trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, được tổ chức thường niên nhằm tri ân, tưởng nhớ công ơn các bậc tiền nhân và là một nét đẹp trong việc giữ gìn phong tục truyền thống, xây dựng đời sống văn hoá trên địa bàn Quảng Yên nói riêng và của toàn tỉnh nói chung. Lễ hội kéo dài từ Mùng 5 đến Mùng 7 tháng Giêng. Trong đó, tiêu biểu là ngày tổ chức lễ thượng thọ cho các cụ cao niên trong vùng. Vào ngày này, các gia đình đã tổ chức lễ mừng thọ cho các cụ Thượng với nhiều hoạt động giao lưu thơ, ca, hát quan họ phong phú, sinh động và phong tục con cháu lễ sống các cụ Thượng. Đông đảo người dân và du khách đến tham dự Lễ hội Tiên Công Điểm nhấn chính của Lễ hội miếu Tiên Công là hoạt động rước các cụ Thượng thọ (tròn 80, 90, 100 tuổi trở lên) lên miếu Tiên Công lễ tổ vào ngày mùng 7 tháng riêng. Từ sáng sớm, đám rước các cụ thượng thọ lên miếu lễ tổ tiên đã được con cháu chuẩn bị và bắt đầu xuất phát từ gia đình. Theo truyền thống, con cháu đội các mâm lễ vật đi trước, mâm lễ có trầu cau, rượu, xôi, gà hoặc thủ lợn, hương án trên có kết hoa. Các cụ thượng thọ sẽ đi sau, còn các cụ già yếu thì được con cháu khiêng bằng võng có lọng. Mỗi gia đình, dòng họ đã tạo thành một đám rước và các đám rước nhỏ này sẽ nhập lại khi đến gần miếu Tiên Công tạo nên một không khí tưng bừng náo nhiệt cho ngày hội. Sau khi ác cụ vào miếu dâng lễ vật và tế Tiên Công thì đến giữa trưa phần lễ kết thúc. Chơi đu trong lễ hội Tiên Công Sau phần lễ là phần hội với nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao và trò chơi dân gian phong phú, sôi nổi như: biểu diễn văn nghệ, hát đúm, hát chèo, thi đấu bóng chuyền chơi tổ tôm điếm, kéo co, hát đúm, đánh đu... thu hút đông đảo mọi người tới tham gia, cổ vũ.

Lễ hội Tiên Công là dịp người dân nơi đây tụ hội về để tưởng nhớ công lao của các vị Tiên Công đã tìm ra mạch nước ngọt, khai canh mở đất, tạo ra khu vực đảo Hà Nam trù phú ngày nay. Ngày nay, Lễ hội Tiên Công còn là dịp để con cháu mừng thọ cho các cụ già với lễ rước các cụ thượng thọ lên miếu Tiên Công.

Lễ vật và nghi án - những thủ tục không thể thiếu của lễ rước

Lễ hội miếu Tiên Công là một trong những lễ hội xuân lớn nhất trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, được tổ chức thường niên nhằm tri ân, tưởng nhớ công ơn các bậc tiền nhân và là một nét đẹp trong việc giữ gìn phong tục truyền thống, xây dựng đời sống văn hoá trên địa bàn Quảng Yên nói riêng và của toàn tỉnh nói chung.

Lễ hội kéo dài từ Mùng 5 đến Mùng 7 tháng Giêng. Trong đó, tiêu biểu là ngày tổ chức lễ thượng thọ cho các cụ cao niên trong vùng. Vào ngày này, các gia đình đã tổ chức lễ mừng thọ cho các cụ Thượng với nhiều hoạt động giao lưu thơ, ca, hát quan họ phong phú, sinh động và phong tục con cháu lễ sống các cụ Thượng.

Đông đảo người dân và du khách đến tham dự Lễ hội Tiên Công

Điểm nhấn chính của Lễ hội miếu Tiên Công là hoạt động rước các cụ Thượng thọ (tròn 80, 90, 100 tuổi trở lên) lên miếu Tiên Công lễ tổ vào ngày mùng 7 tháng riêng.

Từ sáng sớm, đám rước các cụ thượng thọ lên miếu lễ tổ tiên đã được con cháu chuẩn bị và bắt đầu xuất phát từ gia đình. Theo truyền thống, con cháu đội các mâm lễ vật đi trước, mâm lễ có trầu cau, rượu, xôi, gà hoặc thủ lợn, hương án trên có kết hoa. Các cụ thượng thọ sẽ đi sau, còn các cụ già yếu thì được con cháu khiêng bằng võng có lọng. Mỗi gia đình, dòng họ đã tạo thành một đám rước và các đám rước nhỏ này sẽ nhập lại khi đến gần miếu Tiên Công tạo nên một không khí tưng bừng náo nhiệt cho ngày hội. Sau khi ác cụ vào miếu dâng lễ vật và tế Tiên Công thì đến giữa trưa phần lễ kết thúc.

Chơi đu trong lễ hội Tiên Công

Sau phần lễ là phần hội với nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao và trò chơi dân gian phong phú, sôi nổi như: biểu diễn văn nghệ, hát đúm, hát chèo, thi đấu bóng chuyền chơi tổ tôm điếm, kéo co, hát đúm, đánh đu... thu hút đông đảo mọi người tới tham gia, cổ vũ.

Related Figures

Lễ hội làng nghề mộc cổ truyền Ninh Xá

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 4/3- 6/3 Âm lịch Lễ hội làng nghề mộc cổ truyền Ninh Xá được tổ chức từ ngày mùng 4 đến mùng 6 tháng 3 âm lịch hằng năm tại đền Ninh Xá, xã Yên Ninh huyện Ý Yên tỉnh Nam Định để tưởng nhớ ông tổ nghề mộc Ninh Hữu Hưng đã có công truyền lại nghề mộc cho dân làng. Đền Ninh Xá là nơi thờ Lương Bình Vương, An Nhu Vương, là những vị con vua Hùng về trấn trị vùng đất Đại An, giúp dân Ninh Xá khai khẩn, trồng lúa, trồng dâu nuôi tằm dệt vải và Lão La đại thần Ninh Hữu Hưng, ông tổ của nghề đục chạm đồ mộc. Đền Ninh Xá thuộc xã Yên Ninh, huyện Ý Yên, Nam Định Theo sử sách ghi lại, trong một lần đi phò giá vua Lê Hoàn cày tịch điền, lúc về qua sông sắt, vua cho đậu thuyền rồng lên thăm đền thờ Lương Bình Vương và An Nhu Vương. Thấy cảnh đền điêu tàn, Ninh Hữu Hưng bèn xin vua ở lại sửa đền và sửa chùa Phúc Lê (tức chùa Ninh Xá). Sau này, thấy nơi đây đất đai trù phú nhưng dân cư còn thưa thớt, ông bèn đưa họ hàng từ Ninh Bình về đây khai khẩn mở trang ấp và dạy dân nghề mộc, chạm để kiếm sống. Sau này, những người dân theo ông về đây sống đều đổi sang họ Ninh nên vùng đất này có tên là Ninh Xá. Rước kiệu ông tổ nghề mộc Ngày mùng 4 tháng 6 năm 1019, ông qua đời tại Ninh Xá và hưởng thọ 81 tuổi. Con cháu cùng dân làng đã đưa thi hài ông về quê an táng tại chân núi Xương Bồ (Ninh Bình), đồng thời tôn làm vị tổ nghề mộc, thờ tự tại đền Ninh Xá. Thi kéo lửa trong lễ hội Lễ hội làng nghề mộc cổ truyền Ninh Xá được tổ chức với các nghi thức tế lễ và rước kiệu. Nét độc đáo nhất của lễ hội này là nghi thức “Kéo lửa Khai hội” được tổ chức vào ngày chính hội mùng 6 tháng 3 âm lịch. Sau hồi trống khai hội, một vị cao niên trong làng sẽ phát lệnh cho trai làng, kéo lạt giang cọ vào thanh xoan ngâm để tạo nhiệt. Nhiệt truyền rồi làm cháy bùi nhùi làm bằng rơm khô. Cụ già sẽ lấy ngọn lửa vừa phát sinh thắp hương cho cả làng làm lễ dâng hương. Sau đó bát hương sẽ được chuyển lên kiệu rước với ý nghĩa thành tâm tưởng nhớ đến sáng kiến tạo ra lửa của cụ tổ nghề Ninh Hữu Hưng. Sau phần lễ là phần hội với nhiều trò chơi dân gian phong phú, đặc sắc như tổ tôm điếm, kéo co, hát đúm, đánh đu, thi kéo lửa... thu hút đông đảo mọi người tham dự.

Đền Ninh Xá là nơi thờ Lương Bình Vương, An Nhu Vương, là những vị con vua Hùng về trấn trị vùng đất Đại An, giúp dân Ninh Xá khai khẩn, trồng lúa, trồng dâu nuôi tằm dệt vải và Lão La đại thần Ninh Hữu Hưng, ông tổ của nghề đục chạm đồ mộc.

Đền Ninh Xá thuộc xã Yên Ninh, huyện Ý Yên, Nam Định

Theo sử sách ghi lại, trong một lần đi phò giá vua Lê Hoàn cày tịch điền, lúc về qua sông sắt, vua cho đậu thuyền rồng lên thăm đền thờ Lương Bình Vương và An Nhu Vương. Thấy cảnh đền điêu tàn, Ninh Hữu Hưng bèn xin vua ở lại sửa đền và sửa chùa Phúc Lê (tức chùa Ninh Xá). Sau này, thấy nơi đây đất đai trù phú nhưng dân cư còn thưa thớt, ông bèn đưa họ hàng từ Ninh Bình về đây khai khẩn mở trang ấp và dạy dân nghề mộc, chạm để kiếm sống. Sau này, những người dân theo ông về đây sống đều đổi sang họ Ninh nên vùng đất này có tên là Ninh Xá.

Rước kiệu ông tổ nghề mộc

Ngày mùng 4 tháng 6 năm 1019, ông qua đời tại Ninh Xá và hưởng thọ 81 tuổi. Con cháu cùng dân làng đã đưa thi hài ông về quê an táng tại chân núi Xương Bồ (Ninh Bình), đồng thời tôn làm vị tổ nghề mộc, thờ tự tại đền Ninh Xá.

Thi kéo lửa trong lễ hội

Lễ hội làng nghề mộc cổ truyền Ninh Xá được tổ chức với các nghi thức tế lễ và rước kiệu. Nét độc đáo nhất của lễ hội này là nghi thức “Kéo lửa Khai hội” được tổ chức vào ngày chính hội mùng 6 tháng 3 âm lịch. Sau hồi trống khai hội, một vị cao niên trong làng sẽ phát lệnh cho trai làng, kéo lạt giang cọ vào thanh xoan ngâm để tạo nhiệt. Nhiệt truyền rồi làm cháy bùi nhùi làm bằng rơm khô. Cụ già sẽ lấy ngọn lửa vừa phát sinh thắp hương cho cả làng làm lễ dâng hương. Sau đó bát hương sẽ được chuyển lên kiệu rước với ý nghĩa thành tâm tưởng nhớ đến sáng kiến tạo ra lửa của cụ tổ nghề Ninh Hữu Hưng.

Sau phần lễ là phần hội với nhiều trò chơi dân gian phong phú, đặc sắc như tổ tôm điếm, kéo co, hát đúm, đánh đu, thi kéo lửa... thu hút đông đảo mọi người tham dự.

Related Figures

Lễ hội đền Bến Than

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 8/1- 9/1 Âm lịch Lễ hội đền Bến Than được tổ chức từ ngày 8 đến 9 tháng giêng âm lịch hằng năm tại đền Bến Than thuộc địa phận phường Hoàng Văn Thụ – Thành phố Thái Nguyên để tưởng nhớ công ơn của Mẫu Thoải (tức mẹ nước) đã có công trị thủy, bảo vệ cuộc sống ấm no cho người dân. Ðền Bến Than nằm bên dòng sông Cầu thuộc tổ 13, phường Hoàng Văn Thụ, T.P Thái Nguyên. Đền là nơi thờ Mẫu Thoải (tức mẹ nước) và cũng là nơi sinh hoạt tín ngưỡng văn hóa tâm linh của nhân dân nơi đây. Lễ dâng hương tại đền Bến Than Truyền thuyết xưa kể lại rằng, xưa kia nơi đây sông nước rất hung dữ đã cuốn đi nhiều người, gia súc và của cải của nhân dân làm cho vùng này không ai dám qua lại. Một hôm có một người đàn bà mặc quần áo màu trắng hiện lên và nói rằng nếu thờ ta thì ta sẽ giúp. Kể từ đó, người dân lập đền thờ mẹ nước và con sông trở nên hiền hoà, thơ mộng, người dân qua lại buôn bán tấp nập, cuộc sống trù phú… Múa lân trong ngày hội Hàng năm, cứ đến ngày chính hội mùng 9 tháng Giêng, người dân và khách thập phương lại nô nức tới đền Bến Than để tham quan và cúng lễ. Cũng như các lễ hội truyền thống khác, Lễ hội đền Bến Than được chia làm 2 phần là phần lễ và phần hội. Phần lễ có lễ dâng hương và đọc văn tế cầu mong cho một năm mới ấm no hạnh phúc. Phần hội tiếp tục với các hoạt động văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc như múa lân, hát quan họ Bắc Ninh, hát văn, và đặc biệt khi đến với lễ hội du khách còn được đi du thuyền thưởng ngoạn khung cảnh của con sông Cầu thơ mộng. Du thuyền thưởng ngoạn khung cảnh sông Cầu Đến với lễ hội đền Bến Than, du khách không những được tỏ lòng thành kính, cầu chúc cho năm mới may mắn tốt lành, hạnh phúc mà còn được tham quan, vãn cảnh và thưởng thức không khí vui tươi, nhộn nhịp của các hoạt động lễ hội đầu xuân.

Ðền Bến Than nằm bên dòng sông Cầu thuộc tổ 13, phường Hoàng Văn Thụ, T.P Thái Nguyên. Đền là nơi thờ Mẫu Thoải (tức mẹ nước) và cũng là nơi sinh hoạt tín ngưỡng văn hóa tâm linh của nhân dân nơi đây.

Lễ dâng hương tại đền Bến Than

Truyền thuyết xưa kể lại rằng, xưa kia nơi đây sông nước rất hung dữ đã cuốn đi nhiều người, gia súc và của cải của nhân dân làm cho vùng này không ai dám qua lại. Một hôm có một người đàn bà mặc quần áo màu trắng hiện lên và nói rằng nếu thờ ta thì ta sẽ giúp. Kể từ đó, người dân lập đền thờ mẹ nước và con sông trở nên hiền hoà, thơ mộng, người dân qua lại buôn bán tấp nập, cuộc sống trù phú…

Múa lân trong ngày hội

Hàng năm, cứ đến ngày chính hội mùng 9 tháng Giêng, người dân và khách thập phương lại nô nức tới đền Bến Than để tham quan và cúng lễ. Cũng như các lễ hội truyền thống khác, Lễ hội đền Bến Than được chia làm 2 phần là phần lễ và phần hội. Phần lễ có lễ dâng hương và đọc văn tế cầu mong cho một năm mới ấm no hạnh phúc. Phần hội tiếp tục với các hoạt động văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc như múa lân, hát quan họ Bắc Ninh, hát văn, và đặc biệt khi đến với lễ hội du khách còn được đi du thuyền thưởng ngoạn khung cảnh của con sông Cầu thơ mộng.

Du thuyền thưởng ngoạn khung cảnh sông Cầu

Đến với lễ hội đền Bến Than, du khách không những được tỏ lòng thành kính, cầu chúc cho năm mới may mắn tốt lành, hạnh phúc mà còn được tham quan, vãn cảnh và thưởng thức không khí vui tươi, nhộn nhịp của các hoạt động lễ hội đầu xuân.

Related Figures

Lễ hội đền Phúc Khánh

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/1 Âm lịch Lễ hội đền Phúc Khánh được tổ chức vào ngày mùng 10 tháng giêng âm lịch hằng năm nhằm tưởng nhớ công ơn các vị Chúa Bầu đã có công khai khẩn nơi đây và cầu bình an, mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu, nhân dân ấm no, hạnh phúc. Đền Phúc Khánh tọa lạc trên đồi Cấm, nằm trong quần thể di tích “Thành cổ Nghị Lang”, nay là trung tâm thị trấn Phố Ràng, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai. Đền có kiến trúc thời Lê - Mạc, được xây dựng trong một khuôn viên rộng, thoáng mát, tĩnh mịch và là điểm linh thiêng thờ tự các vị chúa Bầu. Cổng tam quan nội Đền Phúc Khánh Tương truyền, vào thời kỳ nhà Mạc lên nắm quyền thay nhà Lê, hai anh em Vũ Văn Uyên và Vũ Văn Mật quê ở xã Đông Ba, huyện Gia Phúc (nay là Gia Lộc), tỉnh Hải Dương phải đi lánh nạn nhà Mạc lên vùng Bảo Yên xây dựng căn cứ. Vũ Văn Mật đã cùng các con cháu tích cực xây lũy, đắp thành, chiêu mộ quân sĩ để chống nhà Mạc, bảo vệ biên cương và xây dựng Bảo Yên thành một vùng trù phú. Thành cổ Nghị Lang được xây dựng từ đó và là một trung tâm kinh tế - chính trị lớn của cả vùng sông Chảy đầu thế kỷ XVI. Sau này, để nghi nhớ công ơn của các chúa Bầu, nhân dân trong vùng đã lập đền thờ trên đồi Tấp. Lễ dâng hương tại Đền Phúc Khánh Tuy nhiên, trải qua thời gian với nhiều biến động của lịch sử, những bức tường thành đã sụt lở,mọi kiến trúc bên trong thành cũng như ngôi Đền Phúc Khánh gần như bị phá hủy hoàn toàn, vết tích của ngôi đền còn lại rất ít. Để đáp ứng nhu cầu văn hoá tâm tinh và phát huy truyền thống đạo lý “Uống nước, nhớ nguồn" của dân tộc Việt Nam , năm 2006, Nhà nước đã đầu tư trên 4 tỷ đồng để trùng tu, xây dựng, tôn tạo đền Phúc Khánh uy nghi, bề thế và trang nghiêm như ngày hôm nay. Đền Phúc Khánh được xây dựng ngay trên đồi Cấm, trung tâm thị trấn Phố Ràng, huyện Bảo Yên trên trục đường Quốc lộ 279, theo nguyện vọng của người dân địa phương. Chơi trò chơi dân gian trong lễ hội Đã thành thông lệ, vào đúng ngày mùng 10 tháng giêng sau Tết cổ truyền dân tộc, thị trấn Phố Ràng lại tưng bừng tổ chức Lễ hội đền Phúc Khánh. Mở đầu là chương trình văn nghệ biểu diễn hát Chầu văn, mời chầu, múa lân. Tiếp đó, nhân dân 28 tổ dân phố, thị trấn Phố Ràng cùng các cơ quan, doanh nghiệp trên địa bàn chuẩn bị các mâm lễ dâng hương cầu cho nhân dân sức khỏe, bình an, cầu lộc, cầu tài. Sau phần lễ là phần hội với nhiều hoạt động văn hoá, thể thao mang đậm bản sắc dân tộc như: Cờ tướng, kéo co, ném còn, hái lộc đầu xuân, đẩy gậy, chọi gà, bịt mắt đập bóng nước… TH

Đền Phúc Khánh tọa lạc trên đồi Cấm, nằm trong quần thể di tích “Thành cổ Nghị Lang”, nay là trung tâm thị trấn Phố Ràng, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai. Đền có kiến trúc thời Lê - Mạc, được xây dựng trong một khuôn viên rộng, thoáng mát, tĩnh mịch và là điểm linh thiêng thờ tự các vị chúa Bầu. Cổng tam quan nội Đền Phúc Khánh Tương truyền, vào thời kỳ nhà Mạc lên nắm quyền thay nhà Lê, hai anh em Vũ Văn Uyên và Vũ Văn Mật quê ở xã Đông Ba, huyện Gia Phúc (nay là Gia Lộc), tỉnh Hải Dương phải đi lánh nạn nhà Mạc lên vùng Bảo Yên xây dựng căn cứ. Vũ Văn Mật đã cùng các con cháu tích cực xây lũy, đắp thành, chiêu mộ quân sĩ để chống nhà Mạc, bảo vệ biên cương và xây dựng Bảo Yên thành một vùng trù phú. Thành cổ Nghị Lang được xây dựng từ đó và là một trung tâm kinh tế - chính trị lớn của cả vùng sông Chảy đầu thế kỷ XVI. Sau này, để nghi nhớ công ơn của các chúa Bầu, nhân dân trong vùng đã lập đền thờ trên đồi Tấp. Lễ dâng hương tại Đền Phúc Khánh Tuy nhiên, trải qua thời gian với nhiều biến động của lịch sử, những bức tường thành đã sụt lở,mọi kiến trúc bên trong thành cũng như ngôi Đền Phúc Khánh gần như bị phá hủy hoàn toàn, vết tích của ngôi đền còn lại rất ít. Để đáp ứng nhu cầu văn hoá tâm tinh và phát huy truyền thống đạo lý “Uống nước, nhớ nguồn" của dân tộc Việt Nam , năm 2006, Nhà nước đã đầu tư trên 4 tỷ đồng để trùng tu, xây dựng, tôn tạo đền Phúc Khánh uy nghi, bề thế và trang nghiêm như ngày hôm nay. Đền Phúc Khánh được xây dựng ngay trên đồi Cấm, trung tâm thị trấn Phố Ràng, huyện Bảo Yên trên trục đường Quốc lộ 279, theo nguyện vọng của người dân địa phương. Chơi trò chơi dân gian trong lễ hội Đã thành thông lệ, vào đúng ngày mùng 10 tháng giêng sau Tết cổ truyền dân tộc, thị trấn Phố Ràng lại tưng bừng tổ chức Lễ hội đền Phúc Khánh. Mở đầu là chương trình văn nghệ biểu diễn hát Chầu văn, mời chầu, múa lân. Tiếp đó, nhân dân 28 tổ dân phố, thị trấn Phố Ràng cùng các cơ quan, doanh nghiệp trên địa bàn chuẩn bị các mâm lễ dâng hương cầu cho nhân dân sức khỏe, bình an, cầu lộc, cầu tài. Sau phần lễ là phần hội với nhiều hoạt động văn hoá, thể thao mang đậm bản sắc dân tộc như: Cờ tướng, kéo co, ném còn, hái lộc đầu xuân, đẩy gậy, chọi gà, bịt mắt đập bóng nước… TH

Đền Phúc Khánh tọa lạc trên đồi Cấm, nằm trong quần thể di tích “Thành cổ Nghị Lang”, nay là trung tâm thị trấn Phố Ràng, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai. Đền có kiến trúc thời Lê - Mạc, được xây dựng trong một khuôn viên rộng, thoáng mát, tĩnh mịch và là điểm linh thiêng thờ tự các vị chúa Bầu.

Cổng tam quan nội Đền Phúc Khánh

Tương truyền, vào thời kỳ nhà Mạc lên nắm quyền thay nhà Lê, hai anh em Vũ Văn Uyên và Vũ Văn Mật quê ở xã Đông Ba, huyện Gia Phúc (nay là Gia Lộc), tỉnh Hải Dương phải đi lánh nạn nhà Mạc lên vùng Bảo Yên xây dựng căn cứ. Vũ Văn Mật đã cùng các con cháu tích cực xây lũy, đắp thành, chiêu mộ quân sĩ để chống nhà Mạc, bảo vệ biên cương và xây dựng Bảo Yên thành một vùng trù phú. Thành cổ Nghị Lang được xây dựng từ đó và là một trung tâm kinh tế - chính trị lớn của cả vùng sông Chảy đầu thế kỷ XVI. Sau này, để nghi nhớ công ơn của các chúa Bầu, nhân dân trong vùng đã lập đền thờ trên đồi Tấp.

Lễ dâng hương tại Đền Phúc Khánh

Tuy nhiên, trải qua thời gian với nhiều biến động của lịch sử, những bức tường thành đã sụt lở,mọi kiến trúc bên trong thành cũng như ngôi Đền Phúc Khánh gần như bị phá hủy hoàn toàn, vết tích của ngôi đền còn lại rất ít.

Để đáp ứng nhu cầu văn hoá tâm tinh và phát huy truyền thống đạo lý “Uống nước, nhớ nguồn" của dân tộc Việt Nam , năm 2006, Nhà nước đã đầu tư trên 4 tỷ đồng để trùng tu, xây dựng, tôn tạo đền Phúc Khánh uy nghi, bề thế và trang nghiêm như ngày hôm nay. Đền Phúc Khánh được xây dựng ngay trên đồi Cấm, trung tâm thị trấn Phố Ràng, huyện Bảo Yên trên trục đường Quốc lộ 279, theo nguyện vọng của người dân địa phương.

Chơi trò chơi dân gian trong lễ hội

Đã thành thông lệ, vào đúng ngày mùng 10 tháng giêng sau Tết cổ truyền dân tộc, thị trấn Phố Ràng lại tưng bừng tổ chức Lễ hội đền Phúc Khánh. Mở đầu là chương trình văn nghệ biểu diễn hát Chầu văn, mời chầu, múa lân. Tiếp đó, nhân dân 28 tổ dân phố, thị trấn Phố Ràng cùng các cơ quan, doanh nghiệp trên địa bàn chuẩn bị các mâm lễ dâng hương cầu cho nhân dân sức khỏe, bình an, cầu lộc, cầu tài.

Sau phần lễ là phần hội với nhiều hoạt động văn hoá, thể thao mang đậm bản sắc dân tộc như: Cờ tướng, kéo co, ném còn, hái lộc đầu xuân, đẩy gậy, chọi gà, bịt mắt đập bóng nước…

TH

Related Figures

Lễ hội Cầu mùa 21 tháng giêng

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 21/1 Âm lịch Lễ hội Cầu mùa 21 tháng giêng là một lễ hội đua thuyền truyền thống của người dân Cát Hải được tổ chức vào ngày 21 tháng giêng âm lịch hằng năm hàng năm để cầu Nam Hải đại vương - vị thần cai quản vùng biển phù hộ cho một năm mưa thuận gió hoà, tôm cá bội thu. Hội cầu mùa 21 tháng Giêng còn có tên gọi khác là lễ hội đua thuyền truyền thống 21 tháng giêng thường được tổ chức ở Miếu Các Lái gần sát biển. Hội cầu mùa 21 tháng Giêng có chèo bơi đua thuyền lan (ngày nay là thuyền rồng) được coi là lễ hội lớn nhất khu vực Đôn Lương được thị trấn đứng ra tổ chức và huyện bảo trợ. Đây là một lễ hội truyền thống vừa mang tính tín ngưỡng vừa là trò chơi dân gian mang đậm tính thể thao, giúp rèn luyện sức khoẻ cho trai làng biển. Lễ hội được tổ chức vào ngày 21 tháng giêng hằng năm để cầu cho mưa thuận gió hòa, tôm cá bội thu Lễ hội bắt nguồn từ làng Gia Lộc xưa có tục lệ ngày 21 tháng Giêng dân làng mở hội đua thuyền, còn được gọi là ngày các lái cầu, cầu cho mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu, đời sống ngư dân trên đảo thêm ấm no, hạnh phúc. Sau một thời gian gián đoạn, hiện nay các Miếu, Đình, chùa Gia Lộc là nơi tổ chức lễ hội được chọn làm trung tâm lễ hội đua thuyền truyền thống và ra quân nghề biển 21 tháng Giêng của thị trấn Cát Hải. Các đội bơi ra sức tranh tài Tham gia hội đua thuyến có 3 đội đua, mỗi đội đua có 17 tay chèo, đều là những thanh niên trai tráng khỏe mạnh và được tập luyện nhiều ngày trước đó. Sau khi tiếng trống lệnh nổi lên, 3 thuyền đua xé nước lao đi trong tiếng reo hò của hàng nghìn người làm vang động cả một vùng biển. Các đội đua ganh nhau từng mét nước, từng mái chèo, dùng hết sức lực để đưa thuyền của đội về đích. Theo những người dân trong làng, thuyền đua của đội nào về đích đầu tiên thì năm đó, người dân xã đó sẽ gặp nhiều may mắn, xóm làng bình yên, làm ăn thuận lợi. Đông đảo người dân và du khách đến xem đua thuyền Ngoài ra, khi đến với lễ hội, mọi người có cơ hội thưởng thức những trò chơi dân gian đặc sắc: đẩy gậy, chọi gà, tổ tôm, kéo co, cờ người… và chìm đắm trong làn điệu dân ca mượt mà, say đắm. Lễ hội đua thuyền truyền thống 21 tháng giêng với nhiều hoạt động phong phú đặc sắc, đã góp phần tạo nên bản sắc riêng, độc đáo của văn hoá vùng biển.

Hội cầu mùa 21 tháng Giêng còn có tên gọi khác là lễ hội đua thuyền truyền thống 21 tháng giêng thường được tổ chức ở Miếu Các Lái gần sát biển. Hội cầu mùa 21 tháng Giêng có chèo bơi đua thuyền lan (ngày nay là thuyền rồng) được coi là lễ hội lớn nhất khu vực Đôn Lương được thị trấn đứng ra tổ chức và huyện bảo trợ. Đây là một lễ hội truyền thống vừa mang tính tín ngưỡng vừa là trò chơi dân gian mang đậm tính thể thao, giúp rèn luyện sức khoẻ cho trai làng biển.

Lễ hội được tổ chức vào ngày 21 tháng giêng hằng năm để cầu cho mưa thuận gió hòa, tôm cá bội thu

Lễ hội bắt nguồn từ làng Gia Lộc xưa có tục lệ ngày 21 tháng Giêng dân làng mở hội đua thuyền, còn được gọi là ngày các lái cầu, cầu cho mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu, đời sống ngư dân trên đảo thêm ấm no, hạnh phúc. Sau một thời gian gián đoạn, hiện nay các Miếu, Đình, chùa Gia Lộc là nơi tổ chức lễ hội được chọn làm trung tâm lễ hội đua thuyền truyền thống và ra quân nghề biển 21 tháng Giêng của thị trấn Cát Hải.

Các đội bơi ra sức tranh tài

Tham gia hội đua thuyến có 3 đội đua, mỗi đội đua có 17 tay chèo, đều là những thanh niên trai tráng khỏe mạnh và được tập luyện nhiều ngày trước đó. Sau khi tiếng trống lệnh nổi lên, 3 thuyền đua xé nước lao đi trong tiếng reo hò của hàng nghìn người làm vang động cả một vùng biển. Các đội đua ganh nhau từng mét nước, từng mái chèo, dùng hết sức lực để đưa thuyền của đội về đích. Theo những người dân trong làng, thuyền đua của đội nào về đích đầu tiên thì năm đó, người dân xã đó sẽ gặp nhiều may mắn, xóm làng bình yên, làm ăn thuận lợi.

Đông đảo người dân và du khách đến xem đua thuyền

Ngoài ra, khi đến với lễ hội, mọi người có cơ hội thưởng thức những trò chơi dân gian đặc sắc: đẩy gậy, chọi gà, tổ tôm, kéo co, cờ người… và chìm đắm trong làn điệu dân ca mượt mà, say đắm.

Lễ hội đua thuyền truyền thống 21 tháng giêng với nhiều hoạt động phong phú đặc sắc, đã góp phần tạo nên bản sắc riêng, độc đáo của văn hoá vùng biển.

Related Figures

Lễ hội thác Pongour

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/1 Âm lịch Lễ hội thác Pongour là lễ hội thác nước duy nhất tại Việt Nam được tổ chức hằng năm vào ngày rằm tháng Riêng tại thác Pongour, một danh thắng thiên nhiên kỳ vĩ thuộc địa bàn xã Tân Thành, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng. Thác Pongour còn có tên gọi khác là thác Thiên Nhai hay thác 7 tầng. Cũng giống như phần lớn các ngọn thác khác, thác Pongour được bao quanh bởi một khu rừng nguyên sinh rộng lớn với diện tích lên tới 2,5 ha cùng thảm thực vật vô cùng đa dạng và phong phú. Thác Pongour - Nam thiên đệ Nhất Thác Hằng năm cứ vào mùa lễ hội, các thanh niên nam nữ từ khắp nơi không phân biệt dân tộc sẽ đổ về đây trẩy hội mùa Xuân. Đây cũng là dịp mà mọi người nơi đây sống cởi mở, chân tình, tự do tìm hiểu và yêu mến nhau. Sự tích ngọn thác này gắn với câu chuyện về nàng tù trưởng Kanai của dân tộc K'Ho tài năng mà xinh đẹp (ảnh minh họa). Sự tích của ngọn tác này gắn liền với truyền thuyết về nàng tù trưởng Kanai tài năng và xinh đẹp của dân tộc K'Ho. Để tưởng nhớ công ơn của nàng Kanai, cứ đến ngày rằm tháng giêng, người dân trong buôn lại tổ chức lễ hội ở ngọn thác Pongour này để trai gái trong vùng có cơ hội yêu đương, tìm hiểu nhau. Cùng với sự phát triển của ngành du lịch, nơi đây cũng ngày càng trở nên nổi tiếng hơn và hàng năm thác Pongour đều thu hút rất nhiều lượt khách ghé thăm, đặc biệt là vào dịp lễ hội. Du khách về tham quan thác Pongour Đến với lễ hội thác Pongour, du khách sẽ được hòa mình vào thiên nhiên, được thưởng thức các tiết mục văn nghệ và tham gia vào các trò chơi dân gian như nhảy sạp, ném còn…do người dân nơi đây tổ chức.

Thác Pongour còn có tên gọi khác là thác Thiên Nhai hay thác 7 tầng. Cũng giống như phần lớn các ngọn thác khác, thác Pongour được bao quanh bởi một khu rừng nguyên sinh rộng lớn với diện tích lên tới 2,5 ha cùng thảm thực vật vô cùng đa dạng và phong phú.

Thác Pongour - Nam thiên đệ Nhất Thác

Hằng năm cứ vào mùa lễ hội, các thanh niên nam nữ từ khắp nơi không phân biệt dân tộc sẽ đổ về đây trẩy hội mùa Xuân. Đây cũng là dịp mà mọi người nơi đây sống cởi mở, chân tình, tự do tìm hiểu và yêu mến nhau.

Sự tích ngọn thác này gắn với câu chuyện về nàng tù trưởng Kanai của dân tộc K'Ho tài năng mà xinh đẹp (ảnh minh họa).

Sự tích của ngọn tác này gắn liền với truyền thuyết về nàng tù trưởng Kanai tài năng và xinh đẹp của dân tộc K'Ho. Để tưởng nhớ công ơn của nàng Kanai, cứ đến ngày rằm tháng giêng, người dân trong buôn lại tổ chức lễ hội ở ngọn thác Pongour này để trai gái trong vùng có cơ hội yêu đương, tìm hiểu nhau. Cùng với sự phát triển của ngành du lịch, nơi đây cũng ngày càng trở nên nổi tiếng hơn và hàng năm thác Pongour đều thu hút rất nhiều lượt khách ghé thăm, đặc biệt là vào dịp lễ hội.

Du khách về tham quan thác Pongour

Đến với lễ hội thác Pongour, du khách sẽ được hòa mình vào thiên nhiên, được thưởng thức các tiết mục văn nghệ và tham gia vào các trò chơi dân gian như nhảy sạp, ném còn…do người dân nơi đây tổ chức.

Related Figures

Lễ hội Tản Viên Sơn Thánh

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 14/1- 16/1 Âm lịch Lễ hội Tản Viên Sơn Thánh được tổ chức từ ngày 14 đến 16 tháng Giêng hằng năm để tưởng nhớ Tản Viên Sơn Thánh - một vị thánh đứng đầu trong "Tứ bất tử" theo quan niệm dân gian của người Việt và là vị Thánh có công trị thủy, bảo vệ mùa màng để người dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Lễ hội Tản Viên Sơn Thánh được tổ chức hằng năm tại cụm di tích đền Thượng, Trung và Hạ thuộc xã Minh Quang, huyện Ba Vì, Hà Nội. Đây là một trong số ít lễ hội cấp vùng hiện nay còn giữ được gần như nguyên vẹn những giá trị văn hóa vốn có. Lễ hội diễn ra trang nghiêm và thành kính với lễ rước Thánh có sự tham gia của hàng nghìn du khách từ khắp nơi đến xếp hàng làm lễ, trong tiếng cồng chiêng khỏe khoắn của các chàng trai, cô gái bản Mường. Di tích đền Hạ Nghi lễ chính của lễ hội Tản Viên Sơn Thánh được tổ chức tại đền Đền Hạ. Đây là một ngôi đền tọa lạc ở một bãi đất bằng phẳng dưới chân núi Tản ven bờ sông Đà, nay là xã Minh Quang, huyện Ba Vì, Hà Nội. Tương truyền, thuở nhỏ, ba anh em Sơn Tinh đi từ Động Lăng Xương sang núi ngọc Tản để kiếm củi, nhiều hôm trời tối không về kịp, ba anh em phải đốn cây rừng dựng lều và ngủ lại. Về sau, nhân dân trong vùng đã xây dựng một ngôi đền ngay tại nơi đó để tưởng nhớ các Ngài và gọi là đền Hạ. Lễ rước thánh trong lễ hội Tản Viên Sơn Thánh Cũng như các lễ hội truyền thống khác, Lễ hội Tản Viên Sơn Thánh gồm các nghi lễ như tế Thánh từ đền Hạ lên đền Trung; dâng hương các di tích đền Thượng, đền Trung, đền Hạ... với cờ, trống, hương hoa và đội ngũ rước kiệu trang nghiêm trong trang phục truyền thống. Du khách tới dâng hương tưởng nhớ Đức Thánh Tản Viên tại di tích Đền Trung, xã Minh Quang, huyện Ba Vì. Sau phần lễ là phần hội phong phú và sôi nổi với các trò chơi dân gian truyền thống như ném còn, cồng chiêng, kéo co, bắn nỏ, đẩy gậy… Lễ hội Tản Viên Sơn Thánh gắn liền với truyền thuyết Sơn Tinh, Thuỷ Tinh, thể hiện sức mạnh của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước trong việc chống lại thiên tai, bão lũ; đồng thời, thể hiện tinh thần thượng võ và hướng về cội nguồn của người dân nơi đây.

Lễ hội Tản Viên Sơn Thánh được tổ chức hằng năm tại cụm di tích đền Thượng, Trung và Hạ thuộc xã Minh Quang, huyện Ba Vì, Hà Nội. Đây là một trong số ít lễ hội cấp vùng hiện nay còn giữ được gần như nguyên vẹn những giá trị văn hóa vốn có. Lễ hội diễn ra trang nghiêm và thành kính với lễ rước Thánh có sự tham gia của hàng nghìn du khách từ khắp nơi đến xếp hàng làm lễ, trong tiếng cồng chiêng khỏe khoắn của các chàng trai, cô gái bản Mường.

Di tích đền Hạ

Nghi lễ chính của lễ hội Tản Viên Sơn Thánh được tổ chức tại đền Đền Hạ. Đây là một ngôi đền tọa lạc ở một bãi đất bằng phẳng dưới chân núi Tản ven bờ sông Đà, nay là xã Minh Quang, huyện Ba Vì, Hà Nội. Tương truyền, thuở nhỏ, ba anh em Sơn Tinh đi từ Động Lăng Xương sang núi ngọc Tản để kiếm củi, nhiều hôm trời tối không về kịp, ba anh em phải đốn cây rừng dựng lều và ngủ lại. Về sau, nhân dân trong vùng đã xây dựng một ngôi đền ngay tại nơi đó để tưởng nhớ các Ngài và gọi là đền Hạ.

Lễ rước thánh trong lễ hội Tản Viên Sơn Thánh

Cũng như các lễ hội truyền thống khác, Lễ hội Tản Viên Sơn Thánh gồm các nghi lễ như tế Thánh từ đền Hạ lên đền Trung; dâng hương các di tích đền Thượng, đền Trung, đền Hạ... với cờ, trống, hương hoa và đội ngũ rước kiệu trang nghiêm trong trang phục truyền thống.

Du khách tới dâng hương tưởng nhớ Đức Thánh Tản Viên tại di tích Đền Trung, xã Minh Quang, huyện Ba Vì.

Sau phần lễ là phần hội phong phú và sôi nổi với các trò chơi dân gian truyền thống như ném còn, cồng chiêng, kéo co, bắn nỏ, đẩy gậy…

Lễ hội Tản Viên Sơn Thánh gắn liền với truyền thuyết Sơn Tinh, Thuỷ Tinh, thể hiện sức mạnh của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước trong việc chống lại thiên tai, bão lũ; đồng thời, thể hiện tinh thần thượng võ và hướng về cội nguồn của người dân nơi đây.

Related Figures

Lễ hội đảo Dấu

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 8/2- 10/2 Âm lịch Hàng năm, cứ đến ngày mùng 8 tới mùng 10 tháng 2 âm lịch, người dân Đồ Sơn lại tưng bừng tổ chức Lễ hội đảo Dấu để tỏ lòng biết ơn thần Nam Hải Đại Vương luôn che chở, bảo vệ ngư dân có những chuyến ra khơi an toàn, bội thu, đồng thời cầu mong thần phù hộ một năm ra khơi bình an, làm ăn may mắn, thuận lợi. Với diện tích 12 ha, đảo Dấu được xem là hòn đảo có mật độ công trình di tích, di sản, danh thắng lớn nhất miền Bắc và đã được công nhận là danh thắng cấp quốc gia năm 2009. Trong đó, quần thể 37 cây đa búp đỏ trên đảo được công nhận là cây di sản Việt Nam. Ngoài đền thờ Đức Nam Hải Đại Thần Vương, trên đảo còn bảo tồn được các di tích phản ánh truyền thống tín ngưỡng của ngư dân miền biển như đền bà chúa Phương Nam, đền Mẫu, miếu thờ, nhà Tế… Trên đảo Dấu còn có ngọn Hải đăng Hòn Dấu hơn 100 năm tuổi là minh chứng về hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm lược. Đền thờ Nam Hải Đại vương trên đảo Hòn Dấu, Đồ Sơn. Đền thờ Đức Nam Hải Đại Thần Vương ở đảo Dấu có lịch sử hàng trăm năm, là một ngôi đền thiêng đối với người dân Đồ Sơn bởi nó là hiện thân của đời sống tinh thần, tâm linh và trở thành tập quán, tín ngưỡng gắn với lễ hội đảo Dấu. Nơi đây cũng chính là nơi diễn ra Lễ hội đảo Hòn Dấu được tổ chức hằng năm. Tổ chức nghi lễ chính thức đêm 9/2 Nghi lễ chính thức của Lễ hội đảo Dấu diễn ra lúc 23 giờ đêm, các bè lễ trang trí, đồ lễ được các tàu, thuyền của ngư dân kéo ra biển trước sự chứng kiến của đông đảo ngư dân và du khách thập phương như để tỏ lòng biết ơn thần Nam Hải Đại Vương luôn che chở, bảo vệ ngư dân có những chuyến ra khơi an toàn, bội thu. Điều đặc biệt là tất cả đồ cúng tế Thần Nam Hải không đốt mà được thả trôi xuống biển. Đây cũng là nghi lễ cầu mong thần phù hộ cho một năm ra khơi, sản xuất, làm ăn may mắn, thuận lợi. Rước lễ từ đất liền ra đảo Bên cạnh nghi lễ truyền thống, lễ hội có nhiều hoạt động văn hóa văn nghệ trên đảo như lễ thả bè ngựa trên biển, rước lễ từ đất liền ra đảo, hát trầu văn tại đền thờ Nam Hải Đại vương. Đến thăm đảo Dấu, du khách không chỉ được hòa mình vào không khí sôi động của các nghi lễ và hoạt động độc đáo của lễ hội, mà còn có dịp tham quan, chiêm ngưỡng cảnh đẹp của hệ thống rừng nguyên sinh, ngọn hải đăng và những bãi đá cổ.

Với diện tích 12 ha, đảo Dấu được xem là hòn đảo có mật độ công trình di tích, di sản, danh thắng lớn nhất miền Bắc và đã được công nhận là danh thắng cấp quốc gia năm 2009. Trong đó, quần thể 37 cây đa búp đỏ trên đảo được công nhận là cây di sản Việt Nam. Ngoài đền thờ Đức Nam Hải Đại Thần Vương, trên đảo còn bảo tồn được các di tích phản ánh truyền thống tín ngưỡng của ngư dân miền biển như đền bà chúa Phương Nam, đền Mẫu, miếu thờ, nhà Tế… Trên đảo Dấu còn có ngọn Hải đăng Hòn Dấu hơn 100 năm tuổi là minh chứng về hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm lược.

Đền thờ Nam Hải Đại vương trên đảo Hòn Dấu, Đồ Sơn.

Đền thờ Đức Nam Hải Đại Thần Vương ở đảo Dấu có lịch sử hàng trăm năm, là một ngôi đền thiêng đối với người dân Đồ Sơn bởi nó là hiện thân của đời sống tinh thần, tâm linh và trở thành tập quán, tín ngưỡng gắn với lễ hội đảo Dấu. Nơi đây cũng chính là nơi diễn ra Lễ hội đảo Hòn Dấu được tổ chức hằng năm.

Tổ chức nghi lễ chính thức đêm 9/2

Nghi lễ chính thức của Lễ hội đảo Dấu diễn ra lúc 23 giờ đêm, các bè lễ trang trí, đồ lễ được các tàu, thuyền của ngư dân kéo ra biển trước sự chứng kiến của đông đảo ngư dân và du khách thập phương như để tỏ lòng biết ơn thần Nam Hải Đại Vương luôn che chở, bảo vệ ngư dân có những chuyến ra khơi an toàn, bội thu. Điều đặc biệt là tất cả đồ cúng tế Thần Nam Hải không đốt mà được thả trôi xuống biển. Đây cũng là nghi lễ cầu mong thần phù hộ cho một năm ra khơi, sản xuất, làm ăn may mắn, thuận lợi.

Rước lễ từ đất liền ra đảo

Bên cạnh nghi lễ truyền thống, lễ hội có nhiều hoạt động văn hóa văn nghệ trên đảo như lễ thả bè ngựa trên biển, rước lễ từ đất liền ra đảo, hát trầu văn tại đền thờ Nam Hải Đại vương.

Đến thăm đảo Dấu, du khách không chỉ được hòa mình vào không khí sôi động của các nghi lễ và hoạt động độc đáo của lễ hội, mà còn có dịp tham quan, chiêm ngưỡng cảnh đẹp của hệ thống rừng nguyên sinh, ngọn hải đăng và những bãi đá cổ.

Related Figures

Liên hoan ẩm thực Đất Phương Nam

Thông tin thời kỳ

Liên hoan ẩm thực Đất Phương Nam là một sự kiện du lịch – văn hóa - ẩm thực được tổ chức định kỳ hàng năm tại Công viên văn hóa Đầm Sen, TP Hồ Chí Minh nhằm quảng bá ẩm thực các món ngon từng vùng miền, từ Thừa Thiên Huế trở vào Nam và nhiều tỉnh Tây Nguyên. Lễ hội này do Sở Du Lịch thành phố Hồ Chí Minh; Cục công tác phía Nam – Bộ Văn hóa, Thể Thao & Du Lịch và Hiệp hội Du lịch thành phố Hồ Chí Minh phối hợp tổ chức với sự tham gia của nhiều đơn vị phần lớn là các nhà hàng, khách sạn, các công ty ẩm thực với hàng trăm đầu bếp nổi tiếng trong khu vực. Khu vực Chợ quê phương Nam Trong Liên hoan, có 4 phong cách ẩm thực thường được giới thiệu là ẩm thực biển miền Trung, ẩm thực Tây Nguyên, ẩm thực Nam Bộ, ẩm thực Sài Gòn với nhiều món ăn truyền thống nổi tiếng của vùng đất phương Nam. Đặc biệt, các gian hàng trong liên hoan đều được trang trí bằng chất liệu mây tre lá đúng chất Phương nam. Gian hàng ẩm thực mây tre lá gần gũi thiên nhiên Trong Liên hoan sẽ xuất hiện nhiều món ăn nổi tiếng phương Nam như ốc nướng tiêu, ba khía rang me, cơm dứa tép rang, gà tre hấp lá bưởi, gà nướng Bản Đôn, cơm lam, lợn tộc nướng, bún suông Trà Vinh, bồ câu rang nước dừa, bánh xèo hến, gà tiềm ống tre… rất có sức hấp dẫn đối với du khách. Các món ăn phương Nam Đặc biệt, trong khuôn khổ Liên hoan còn tổ chức nhiều hoạt động hưởng ứng như hội thi "Món ngon phương Nam" giữa nhiều đơn vị; hội thi "Điêu khắc củ quả" của nghệ nhân đến từ những vùng miền khác nhau; hội thi thiết kế gian hàng đẹp, ấn tượng... và các chương trình đờn ca tài tử, trò chơi dân gian và ảo thuật. TH

Lễ hội này do Sở Du Lịch thành phố Hồ Chí Minh; Cục công tác phía Nam – Bộ Văn hóa, Thể Thao & Du Lịch và Hiệp hội Du lịch thành phố Hồ Chí Minh phối hợp tổ chức với sự tham gia của nhiều đơn vị phần lớn là các nhà hàng, khách sạn, các công ty ẩm thực với hàng trăm đầu bếp nổi tiếng trong khu vực.

Khu vực Chợ quê phương Nam

Trong Liên hoan, có 4 phong cách ẩm thực thường được giới thiệu là ẩm thực biển miền Trung, ẩm thực Tây Nguyên, ẩm thực Nam Bộ, ẩm thực Sài Gòn với nhiều món ăn truyền thống nổi tiếng của vùng đất phương Nam. Đặc biệt, các gian hàng trong liên hoan đều được trang trí bằng chất liệu mây tre lá đúng chất Phương nam.

Gian hàng ẩm thực mây tre lá gần gũi thiên nhiên

Trong Liên hoan sẽ xuất hiện nhiều món ăn nổi tiếng phương Nam như ốc nướng tiêu, ba khía rang me, cơm dứa tép rang, gà tre hấp lá bưởi, gà nướng Bản Đôn, cơm lam, lợn tộc nướng, bún suông Trà Vinh, bồ câu rang nước dừa, bánh xèo hến, gà tiềm ống tre… rất có sức hấp dẫn đối với du khách.

Các món ăn phương Nam

Đặc biệt, trong khuôn khổ Liên hoan còn tổ chức nhiều hoạt động hưởng ứng như hội thi "Món ngon phương Nam" giữa nhiều đơn vị; hội thi "Điêu khắc củ quả" của nghệ nhân đến từ những vùng miền khác nhau; hội thi thiết kế gian hàng đẹp, ấn tượng... và các chương trình đờn ca tài tử, trò chơi dân gian và ảo thuật.

TH

Related Figures

Lễ hội đền Lê Trung Giang

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 19/2 Âm lịch Lễ hội đền Lê Trung Giang được tổ chức hằng năm vào ngày 19/2 âm lịch để tưởng nhớ công ơn của Tướng công Đại vương Lê Trung Giang, một vị tướng tài thời Lê Sơ đã có công lao to lớn cho đất nước. Đền Lê Trung Giang toạ lạc trên diện tích gần 10.000m2 và có tên gọi đầy đủ là khu “Quần thể văn hoá và di tích lịch sử Tướng công Đại vương Lê Trung Giang”, là di tích đã được chính quyền tỉnh Thanh Hoá và tổ chức UNESCO công nhận. Quần thể Di tích lịch sử - văn hóa Tướng công Đại vương Lê Trung Giang, xã Hoằng Ngọc, Hoằng Hóa, Thanh Hóa Theo gia phả họ Lê, cuối thời Lê Sơ, có chàng trai họ Lê Trung, húy là Giang, thụy Quảng Xuyên, là người có sức khỏe phi thường, giỏi vật và võ thuật. Lê Trung Giang trưởng thành gặp lúc triều Lê Sơ đổ nát, Mạc Ðăng Dung tiếm ngôi khiến xã hội rối ren, nạn cướp hoành hành dân làng. Thấy cảnh như vậy, Lê Trung Giang liền triệu tập trai tráng trong vùng, rèn vũ khí đánh đuổi bọn cướp, đem lại bình yên cho nhân dân. Rước kiệu trong lễ hội Vào năm 1533, khi vua Lê Trang Tông chiêu mộ quân sĩ, Lê Trung Giang đã đưa quân của mình gia nhập và trở thành chiến tướng dưới thời Lê Trung Hưng. Ông làm quan trải qua 4 triều vua, phục vụ 66 năm trong triều đình và rất được các triều vua rất ân sủng, được giao trọng trách: “Uy vũ Công thần, Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân Đô đốc, Tĩnh quận công”, theo lịch sử được các triều đình phong kiến từ Cảnh Hưng đến Thành Thái ban tặng 13 đạo sắc, có sắc phong “Khai quốc công thần Thành Hoàng Đô Thống Linh ứng Hùng khẩu tối linh Thượng đăng thần”. Để ghi nhớ công ơn đánh giặc, giữ yên bờ cõi, bồi đắp vùng đất biển hoang sơ thành vùng dân cư đông đúc, trù phú, dân làng đã tôn ông làm thành hoàng làng và lập đền thờ phụng. Chơi cờ người Lễ hội đền Lê Trung Giang được tổ chức hằng năm theo nghi lễ truyền thống với lễ tế, lễ rước, lễ thắp hương tưởng nhớ tướng quân Lê Trung Giang. Sau phần lễ là phần hội với nhiều hoạt động phong phú như triển lãm, trưng bày cổ vật, múa trống, múa rồng, võ thuật dân tộc, thi đấu cờ người, thể dục dưỡng sinh, biểu diễn văn nghệ...

Đền Lê Trung Giang toạ lạc trên diện tích gần 10.000m2 và có tên gọi đầy đủ là khu “Quần thể văn hoá và di tích lịch sử Tướng công Đại vương Lê Trung Giang”, là di tích đã được chính quyền tỉnh Thanh Hoá và tổ chức UNESCO công nhận.

Quần thể Di tích lịch sử - văn hóa Tướng công Đại vương Lê Trung Giang, xã Hoằng Ngọc, Hoằng Hóa, Thanh Hóa

Theo gia phả họ Lê, cuối thời Lê Sơ, có chàng trai họ Lê Trung, húy là Giang, thụy Quảng Xuyên, là người có sức khỏe phi thường, giỏi vật và võ thuật. Lê Trung Giang trưởng thành gặp lúc triều Lê Sơ đổ nát, Mạc Ðăng Dung tiếm ngôi khiến xã hội rối ren, nạn cướp hoành hành dân làng. Thấy cảnh như vậy, Lê Trung Giang liền triệu tập trai tráng trong vùng, rèn vũ khí đánh đuổi bọn cướp, đem lại bình yên cho nhân dân.

Rước kiệu trong lễ hội

Vào năm 1533, khi vua Lê Trang Tông chiêu mộ quân sĩ, Lê Trung Giang đã đưa quân của mình gia nhập và trở thành chiến tướng dưới thời Lê Trung Hưng. Ông làm quan trải qua 4 triều vua, phục vụ 66 năm trong triều đình và rất được các triều vua rất ân sủng, được giao trọng trách: “Uy vũ Công thần, Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân Đô đốc, Tĩnh quận công”, theo lịch sử được các triều đình phong kiến từ Cảnh Hưng đến Thành Thái ban tặng 13 đạo sắc, có sắc phong “Khai quốc công thần Thành Hoàng Đô Thống Linh ứng Hùng khẩu tối linh Thượng đăng thần”.

Để ghi nhớ công ơn đánh giặc, giữ yên bờ cõi, bồi đắp vùng đất biển hoang sơ thành vùng dân cư đông đúc, trù phú, dân làng đã tôn ông làm thành hoàng làng và lập đền thờ phụng.

Chơi cờ người

Lễ hội đền Lê Trung Giang được tổ chức hằng năm theo nghi lễ truyền thống với lễ tế, lễ rước, lễ thắp hương tưởng nhớ tướng quân Lê Trung Giang. Sau phần lễ là phần hội với nhiều hoạt động phong phú như triển lãm, trưng bày cổ vật, múa trống, múa rồng, võ thuật dân tộc, thi đấu cờ người, thể dục dưỡng sinh, biểu diễn văn nghệ...

Related Figures

Lễ giỗ tổ nghề hát Xẩm

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 22/2 Âm lịch Lễ giỗ tổ nghề hát Xẩm được tổ chức hằng năm vào ngày 22/2 âm lịch để tưởng nhớ ông Tổ nghề hát xẩm là Thái tử Trần Quốc Đĩnh thời Trần. Xẩm là một loại hình dân ca của miền Bắc Việt Nam, phổ biến ở khu vực đồng bằng và trung du Bắc Bộ. "Xẩm" cũng còn được dùng để gọi những người hát xẩm, thường là người khiếm thị đi hát rong kiếm sống và do đó hát xẩm được coi là một nghề. Nghệ nhân hát xẩm Đình Cương đến từ Thái Bình biểu diễn trong lễ giổ tổ nghề hát Xẩm tại Hà Nội Sau nhiều thế kỷ bị mai một, Lễ giỗ tổ nghề hát Xẩm được tổ chức lần đầu tiên vào năm 2005 tại Văn Miếu quốc Tử Giám do Trung tâm Phát phiển nghệ thuật âm nhạc Việt Nam tổ chức với sự góp mặt của hơn 20 nghệ nhân hát Xẩm khắp cả nước. Từ đó đến nay, lễ hội được tổ chức hằng năm. Các học viên của lớp đàn hát dân ca Học viện Âm nhạc biểu diễn hát Xẩm Theo truyền thuyết, vào đời nhà Trần, vua Trần Thánh Tông có hai hoàng tử là Trần Quốc Toán và Trần Quốc Đĩnh. Do tranh giành quyền lực, Thái tử Trần Quốc Đĩnh bị Trần Quốc Toán hãm hại, chọc mù mắt rồi đem bỏ giữa rừng sâu. Vì hai mắt mù loà nên Trần Quốc Đĩnh chỉ biết than khóc rồi thiếp đi. Trong giấc mơ, bụt hiện lên rồi dạy cho ông cách làm một cây đàn với dây đàn làm bằng dây rừng và gẩy bằng que nứa. Khi tỉnh dậy, ông mò mẫm làm cây đàn và thật lạ kỳ, cây đàn vang lên những âm thanh rất hay khiến chim muông trong rừng sà xuống nghe và mang hoa quả đến cho ông ăn. Sau đó, những người đi rừng nghe tiếng đàn đã tìm thấy và đưa ông về. Lễ hội đã thu hút đông đảo các nghệ nhân hát xẩm khắp cả nước Khi trở lại với xã hội, Trần Quốc Đĩnh dạy đàn cho những người nghèo, người khiếm thị để họ có thể kiếm sống. Tiếng đồn về những khúc nhạc của ông lan đến tận hoàng cung và vua Trần Thánh Tông đã vời ông vào hát và nhận ra con mình. Dù trở lại đời sống cung đình nhưng Trần Quốc Đĩnh vẫn tiếp tục mang tiếng đàn, lời ca dạy cho người dân để họ có nghề kiếm sống. Nghề hát xẩm đã ra đời từ đó và Trần Quốc Đĩnh được suy tôn là ông tổ nghề hát xẩm nói riêng cũng như hát xướng dân gian Việt Nam nói chung. Sau này, người dân đã lấy ngày 22 tháng 2 âm lịch là giỗ tổ nghề hát xẩm và 22 tháng 8 âm lịch là ngày giỗ của ông. Lễ giỗ tổ nghề hát xẩm được Trung tâm Phát phiển nghệ thuật âm nhạc Việt Nam tổ chức phục dựng lại theo nghi lễ truyền thống nhằm bảo tồn và vực dậy nghề hát Xẩm truyền thống, góp phần đóng góp cho sự nghiệp bảo tồn và phát triển văn hóa dân gian nói riêng và âm nhạc Việt Nam nói chung.

Xẩm là một loại hình dân ca của miền Bắc Việt Nam, phổ biến ở khu vực đồng bằng và trung du Bắc Bộ. "Xẩm" cũng còn được dùng để gọi những người hát xẩm, thường là người khiếm thị đi hát rong kiếm sống và do đó hát xẩm được coi là một nghề.

Nghệ nhân hát xẩm Đình Cương đến từ Thái Bình biểu diễn trong lễ giổ tổ nghề hát Xẩm tại Hà Nội

Sau nhiều thế kỷ bị mai một, Lễ giỗ tổ nghề hát Xẩm được tổ chức lần đầu tiên vào năm 2005 tại Văn Miếu quốc Tử Giám do Trung tâm Phát phiển nghệ thuật âm nhạc Việt Nam tổ chức với sự góp mặt của hơn 20 nghệ nhân hát Xẩm khắp cả nước. Từ đó đến nay, lễ hội được tổ chức hằng năm.

Các học viên của lớp đàn hát dân ca Học viện Âm nhạc biểu diễn hát Xẩm

Theo truyền thuyết, vào đời nhà Trần, vua Trần Thánh Tông có hai hoàng tử là Trần Quốc Toán và Trần Quốc Đĩnh. Do tranh giành quyền lực, Thái tử Trần Quốc Đĩnh bị Trần Quốc Toán hãm hại, chọc mù mắt rồi đem bỏ giữa rừng sâu. Vì hai mắt mù loà nên Trần Quốc Đĩnh chỉ biết than khóc rồi thiếp đi. Trong giấc mơ, bụt hiện lên rồi dạy cho ông cách làm một cây đàn với dây đàn làm bằng dây rừng và gẩy bằng que nứa. Khi tỉnh dậy, ông mò mẫm làm cây đàn và thật lạ kỳ, cây đàn vang lên những âm thanh rất hay khiến chim muông trong rừng sà xuống nghe và mang hoa quả đến cho ông ăn. Sau đó, những người đi rừng nghe tiếng đàn đã tìm thấy và đưa ông về.

Lễ hội đã thu hút đông đảo các nghệ nhân hát xẩm khắp cả nước

Khi trở lại với xã hội, Trần Quốc Đĩnh dạy đàn cho những người nghèo, người khiếm thị để họ có thể kiếm sống. Tiếng đồn về những khúc nhạc của ông lan đến tận hoàng cung và vua Trần Thánh Tông đã vời ông vào hát và nhận ra con mình. Dù trở lại đời sống cung đình nhưng Trần Quốc Đĩnh vẫn tiếp tục mang tiếng đàn, lời ca dạy cho người dân để họ có nghề kiếm sống. Nghề hát xẩm đã ra đời từ đó và Trần Quốc Đĩnh được suy tôn là ông tổ nghề hát xẩm nói riêng cũng như hát xướng dân gian Việt Nam nói chung. Sau này, người dân đã lấy ngày 22 tháng 2 âm lịch là giỗ tổ nghề hát xẩm và 22 tháng 8 âm lịch là ngày giỗ của ông.

Lễ giỗ tổ nghề hát xẩm được Trung tâm Phát phiển nghệ thuật âm nhạc Việt Nam tổ chức phục dựng lại theo nghi lễ truyền thống nhằm bảo tồn và vực dậy nghề hát Xẩm truyền thống, góp phần đóng góp cho sự nghiệp bảo tồn và phát triển văn hóa dân gian nói riêng và âm nhạc Việt Nam nói chung.

Related Figures

Lễ hội Chùa Tây Phương

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 6/3 Âm lịch Lễ hội Chùa Tây Phương được tổ chức vào ngày 6/3 âm lịch hằng năm tại chùa Tây Phương nằm đỉnh núi Câu Lậu, xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất, Hà Nội. Hằng năm, vào dịp lễ hội, có hàng vạn du khách đổ về chùa Tây Phương để thắp hương bái phật và thăm thú ngôi chùa cổ có bề dày lịch sử này. Chùa Tây Phương là một công trình kiến trúc tôn giáo đặc sắc, tiêu biểu cho mỹ thuật Việt Nam thời Hậu Lê, đặc biệt với kiệt tác 62 pho tượng Phật cổ đã được công nhận là bảo vật Quốc gia. Cổng chùa Tây Phương cổ kính Ngôi chùa cổ này có tên chữ là Sùng Phúc tự nằm trên ngọn núi Câu Lậu cao 100m, nằm trong quần thể chùa Thanh Am và chùa Quan Âm. Từ chân núi lên đến cổng chùa có 239 bậc đá ong, 2 bên đường là những bụi tre cao vút, cây cối xanh mát quanh năm và những nếp nhà giản dị được xây bằng đá ong của người dân vẫn còn được lưu giữ cho đến ngày nay. 239 bậc đá ong trên con đường lên chùa Chùa Tây Phương ẩn chứa những giá trị lịch sử và văn hóa truyền thống của người Việt cổ từ thời xa xưa mà biểu hiện rõ nhất là ở hệ thống kiến trúc, hệ thống tượng pháp trong chùa và các nghi lễ chính tôn nghiêm diễn ra trong dịp lễ hội hằng năm. Đông đảo người dân và du khách đến dự lễ hội chùa Tây Phương Vào ngày chính hội 6/3 âm lịch, dân làng sẽ đi lấy nước thiêng về làm lễ mộc dục (tức lễ tắm tượng) và nước cúng, sau đó làm lễ dâng hương, lễ vật và cầu kinh niệm Phật cầu phúc. Khi đến đây vào dịp này, ngoài việc hành hương, tham quan thắng cảnh, kiến trúc chùa và chiêm ngưỡng 18 pho tượng La Hán trong chùa, du khách còn có cơ hội tham gia vào phần hội với các trò chơi dân gian tổ chức dưới chân đồi như múa rối, kéo co, chọi gà, cờ người, đấu vật... Ngoài ra, người dân Thạch Xá còn có truyền thống làm con rối và có phường múa rối nước khá nổi tiếng từ lâu đời. Vào dịp hội phường rối hay các lễ hội người dân thường tổ chức biểu diễn để phục vụ khách dự hội. Chùa Tây Phương không chỉ là một chứng tích lịch sử mà còn là một di tích văn hóa nghệ thuật tôn giáo quý giá của đất nước. Và việc mở hội chùa hằng năm càng tạo thêm giá trị lịch sử cho ngôi chùa cũng như cho vùng đất này, nhất là trong thời đại ngày nay, vai trò của các sinh hoạt văn hóa tôn giáo rõ ràng có ảnh hưởng rất lớn tới việc phát triển văn hóa - xã hội ở nước ta.

Chùa Tây Phương là một công trình kiến trúc tôn giáo đặc sắc, tiêu biểu cho mỹ thuật Việt Nam thời Hậu Lê, đặc biệt với kiệt tác 62 pho tượng Phật cổ đã được công nhận là bảo vật Quốc gia.

Cổng chùa Tây Phương cổ kính

Ngôi chùa cổ này có tên chữ là Sùng Phúc tự nằm trên ngọn núi Câu Lậu cao 100m, nằm trong quần thể chùa Thanh Am và chùa Quan Âm. Từ chân núi lên đến cổng chùa có 239 bậc đá ong, 2 bên đường là những bụi tre cao vút, cây cối xanh mát quanh năm và những nếp nhà giản dị được xây bằng đá ong của người dân vẫn còn được lưu giữ cho đến ngày nay.

239 bậc đá ong trên con đường lên chùa

Chùa Tây Phương ẩn chứa những giá trị lịch sử và văn hóa truyền thống của người Việt cổ từ thời xa xưa mà biểu hiện rõ nhất là ở hệ thống kiến trúc, hệ thống tượng pháp trong chùa và các nghi lễ chính tôn nghiêm diễn ra trong dịp lễ hội hằng năm.

Đông đảo người dân và du khách đến dự lễ hội chùa Tây Phương

Vào ngày chính hội 6/3 âm lịch, dân làng sẽ đi lấy nước thiêng về làm lễ mộc dục (tức lễ tắm tượng) và nước cúng, sau đó làm lễ dâng hương, lễ vật và cầu kinh niệm Phật cầu phúc. Khi đến đây vào dịp này, ngoài việc hành hương, tham quan thắng cảnh, kiến trúc chùa và chiêm ngưỡng 18 pho tượng La Hán trong chùa, du khách còn có cơ hội tham gia vào phần hội với các trò chơi dân gian tổ chức dưới chân đồi như múa rối, kéo co, chọi gà, cờ người, đấu vật...

Ngoài ra, người dân Thạch Xá còn có truyền thống làm con rối và có phường múa rối nước khá nổi tiếng từ lâu đời. Vào dịp hội phường rối hay các lễ hội người dân thường tổ chức biểu diễn để phục vụ khách dự hội.

Chùa Tây Phương không chỉ là một chứng tích lịch sử mà còn là một di tích văn hóa nghệ thuật tôn giáo quý giá của đất nước. Và việc mở hội chùa hằng năm càng tạo thêm giá trị lịch sử cho ngôi chùa cũng như cho vùng đất này, nhất là trong thời đại ngày nay, vai trò của các sinh hoạt văn hóa tôn giáo rõ ràng có ảnh hưởng rất lớn tới việc phát triển văn hóa - xã hội ở nước ta.

Related Figures

Lễ hội đền Thái Vi Ninh Bình

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 14/3- 16/3 Âm lịch Đền Thái Vi nằm ở thôn Văn Lâm, xã Ninh Hải, Hoa Lư, Ninh Bình. Đền thờ 4 vị vua đời nhà Trần đó là Trần Thánh Tông, Trần Thái Tông, Trần Anh Tông, Trần Nhân Tông, và Hiển Từ Hoàng Thái Hậu. Đây là một trong những lễ hội lớn nhất trong năm của nhân dân xã Ninh Hải để tưởng nhớ tới công ơn của các vị vua Trần đặc biệt là vua Trần Thái Tông người đã có công chiêu dân lập ấp tại xã Ninh Hải. Quang cảnh lễ hội. Lễ hội thường được diễn ra từ ngày 14 tháng 3 đến hết ngày 16 tháng 3 Âm lịch, chính hội là vào ngày rằm tháng ba, cứ 3 năm một lần, nhân dân ở trong vùng lại tổ chức hội lớn (hội tổng). Hằng năm, cứ đến ngày 28 tháng chạp, nhân dân trong thôn Văn Lâm, xã Ninh Hải lại bắt đầu tiến hành nghi thức tắm tượng (lễ mộc dục) tại ngôi đền. Nước ở giếng Ngọc ngay trước cửa ngôi đền được lấy lên và được sử dụng trong nghi thức này. Vào dịp lễ hội, ngay từ chiều ngày 14 tháng 3 Âm lịch, dân làng thôn Văn Lâm đã làm lễ mở cửa đền rước bát hương thánh ra đình Các. Buổi sáng ngày 15/3 Âm lịch là ngày chính hội, các đồ tế khí sẽ được mang ra, lau chùi sạch sẽ và rước đặt ở sân rồng cùng với các lễ vật khác: một chiếc bánh dày to bằng một chiếc mâm, ở trên bánh có vẽ hình của một con chim phượng hoàng rất đẹp. Ngoài ra lễ vật còn có cả hoa quả, thủ lợn, gà luộc, oản chuối, xôi... Đặc biệt là xôi ở đây phải trắng tượng trưng cho sự thanh bạch và cao khiết. Nhân dân nơi đây còn cúng lên vua một bát cơm gạo tám và một bát canh rau sắng (rau vi) bởi lẽ trước kia, khi vua Trần Thái Tông tới nơi đây thì xung quanh khu vực đền là những rừng rau sắng tốt tươi. Cũng có lẽ chính vì thế mà nhà vua đã đặt tên nơi này là Thái Vi. Lễ rước trong lễ hội Lễ hội gồm có hai phần là phần lễ và phần hội. Nghi thức đầu tiên ở trong ngày chính lễ đó là lễ rước kiệu. Rước kiệu ở đền Thái Vi không chỉ có một đoàn mà có tới trên dưới 30 đoàn rước kiệu của các xã ở trong huyện Hoa Lư và ở trong tỉnh. Mỗi một đoàn thường rước ba cỗ kiệu đó là kiệu song hành dành cho quần thần, kiệu bát cống dành cho vua và kiệu võng dành cho vương mẫu hay cho công chúa. Kiệu được trang hoàng lọng cắm, màu sắc rất rực rỡ. Sau hàng kiệu của các đoàn là đến hàng kiệu khiêng hương hoa lễ vật. Sau đó là đến phường bát âm, rồi tới ban tế do ông chủ tế dẫn đầu đi hàng hai, tất cả đều phải mặc thẩm phục. Lễ rước kiệu được khởi hành từ đình hoặc đền của các làng rước đến tập trung ở tại đình Các, sau đó tất cả đều rước vào trong đền Thái Vi để tế vua. Thông thường đoàn rước kiệu của thôn sở tại sẽ là đoàn đi đầu, sau đó là đến đoàn của thôn Hành Cung (xã Ninh Thắng), tiếp theo là các đoàn rước của các thôn khác, xã khác, thậm chí còn ở cả huyện khác (có đoàn rước của xã Khánh Hoà, huyện Yên Khánh, nơi thờ công chúa Trần Huyền Trân). Sau khi đoàn rước đã đi vào tới đền, thì nghi thức rước đuốc sẽ được tiến hành. Họ sẽ tiến vào cung trong để dâng hương sau đó mới rước đuốc lửa ra và đốt lên ở trên mâm đá đặt ở ngoài sân rồng. Lễ hội đền Thái Vi Và nghi thức cuối cùng trong phần lễ đó là lễ tế, đây là một trong những nghi thức vô cùng quan trọng và nó mang tính trang trọng cao. Mỗi một đoàn rước kiệu đều thành lập một ban tế. Thành phần dự tế bao gồm các cụ cao tuổi, các chức sắc ở trong làng. Ban tế chính gồm có 5 người. Một ông chánh tế, hai ông phân hiến và hai ông bồi tế. Giáp ban có ông thông xướng, ông hạ xướng, ông đánh trống, ông rước đài. Sau cùng đó là 9 ông đọc 9 khúc của một bài ca nghi lễ ca ngợi công đức của vua Trần. Đặc biệt là, ông đọc văn tế ca ngợi công đức của vua Trần Thái Tông được trình bày qua nghệ thuật diễn xướng. Sau mỗi một khúc tế, lại có hai người phường trò, người nam thì chơi đàn, còn người nữ thì dẫn giải bằng lỗi hát ca trù. Kết thúc phần lễ là đến phần hội. Đây thực sự là phần vui chơi giải trí rất sôi nổi của nhân dân và của những người đến tham dự hội. Hội của đền Thái Vi thường tổ chức những trò chơi dân gian rất hấp dẫn, có thể kể đến như: trò đua thuyền rồng, trò nấu cơm thi, hội diễn chèo, cờ bỏi, tổ tôm điếm, thi đu quay, đu giật, thi múa rồng, múa lân, kéo co… Tất cả những dòng người từ khắp mọi nơi tụ hội, ai ai cũng đắm mình trong bầu không khí linh thiêng của lễ hội và cái huyên náo, sôi động của những trò chơi dân gian rất thú vị. Tiếng trống, tiếng chiêng rộn ràng hoà cùng với những làn điệu ca trù mượt mà khiến ai đã từng đặt chân đến vùng đất này sẽ không thể quên được một vùng non nước hữu tình cũng như là một lễ hội cổ truyền vô cùng đặc sắc ở trên dải đất Cố đô./.

Đây là một trong những lễ hội lớn nhất trong năm của nhân dân xã Ninh Hải để tưởng nhớ tới công ơn của các vị vua Trần đặc biệt là vua Trần Thái Tông người đã có công chiêu dân lập ấp tại xã Ninh Hải.

Quang cảnh lễ hội. Lễ hội thường được diễn ra từ ngày 14 tháng 3 đến hết ngày 16 tháng 3 Âm lịch, chính hội là vào ngày rằm tháng ba, cứ 3 năm một lần, nhân dân ở trong vùng lại tổ chức hội lớn (hội tổng). Hằng năm, cứ đến ngày 28 tháng chạp, nhân dân trong thôn Văn Lâm, xã Ninh Hải lại bắt đầu tiến hành nghi thức tắm tượng (lễ mộc dục) tại ngôi đền. Nước ở giếng Ngọc ngay trước cửa ngôi đền được lấy lên và được sử dụng trong nghi thức này. Vào dịp lễ hội, ngay từ chiều ngày 14 tháng 3 Âm lịch, dân làng thôn Văn Lâm đã làm lễ mở cửa đền rước bát hương thánh ra đình Các. Buổi sáng ngày 15/3 Âm lịch là ngày chính hội, các đồ tế khí sẽ được mang ra, lau chùi sạch sẽ và rước đặt ở sân rồng cùng với các lễ vật khác: một chiếc bánh dày to bằng một chiếc mâm, ở trên bánh có vẽ hình của một con chim phượng hoàng rất đẹp. Ngoài ra lễ vật còn có cả hoa quả, thủ lợn, gà luộc, oản chuối, xôi... Đặc biệt là xôi ở đây phải trắng tượng trưng cho sự thanh bạch và cao khiết. Nhân dân nơi đây còn cúng lên vua một bát cơm gạo tám và một bát canh rau sắng (rau vi) bởi lẽ trước kia, khi vua Trần Thái Tông tới nơi đây thì xung quanh khu vực đền là những rừng rau sắng tốt tươi. Cũng có lẽ chính vì thế mà nhà vua đã đặt tên nơi này là Thái Vi.

Lễ rước trong lễ hội

Lễ hội gồm có hai phần là phần lễ và phần hội. Nghi thức đầu tiên ở trong ngày chính lễ đó là lễ rước kiệu. Rước kiệu ở đền Thái Vi không chỉ có một đoàn mà có tới trên dưới 30 đoàn rước kiệu của các xã ở trong huyện Hoa Lư và ở trong tỉnh. Mỗi một đoàn thường rước ba cỗ kiệu đó là kiệu song hành dành cho quần thần, kiệu bát cống dành cho vua và kiệu võng dành cho vương mẫu hay cho công chúa. Kiệu được trang hoàng lọng cắm, màu sắc rất rực rỡ. Sau hàng kiệu của các đoàn là đến hàng kiệu khiêng hương hoa lễ vật. Sau đó là đến phường bát âm, rồi tới ban tế do ông chủ tế dẫn đầu đi hàng hai, tất cả đều phải mặc thẩm phục. Lễ rước kiệu được khởi hành từ đình hoặc đền của các làng rước đến tập trung ở tại đình Các, sau đó tất cả đều rước vào trong đền Thái Vi để tế vua. Thông thường đoàn rước kiệu của thôn sở tại sẽ là đoàn đi đầu, sau đó là đến đoàn của thôn Hành Cung (xã Ninh Thắng), tiếp theo là các đoàn rước của các thôn khác, xã khác, thậm chí còn ở cả huyện khác (có đoàn rước của xã Khánh Hoà, huyện Yên Khánh, nơi thờ công chúa Trần Huyền Trân). Sau khi đoàn rước đã đi vào tới đền, thì nghi thức rước đuốc sẽ được tiến hành. Họ sẽ tiến vào cung trong để dâng hương sau đó mới rước đuốc lửa ra và đốt lên ở trên mâm đá đặt ở ngoài sân rồng.

Lễ hội đền Thái Vi

Và nghi thức cuối cùng trong phần lễ đó là lễ tế, đây là một trong những nghi thức vô cùng quan trọng và nó mang tính trang trọng cao. Mỗi một đoàn rước kiệu đều thành lập một ban tế. Thành phần dự tế bao gồm các cụ cao tuổi, các chức sắc ở trong làng. Ban tế chính gồm có 5 người. Một ông chánh tế, hai ông phân hiến và hai ông bồi tế. Giáp ban có ông thông xướng, ông hạ xướng, ông đánh trống, ông rước đài. Sau cùng đó là 9 ông đọc 9 khúc của một bài ca nghi lễ ca ngợi công đức của vua Trần. Đặc biệt là, ông đọc văn tế ca ngợi công đức của vua Trần Thái Tông được trình bày qua nghệ thuật diễn xướng. Sau mỗi một khúc tế, lại có hai người phường trò, người nam thì chơi đàn, còn người nữ thì dẫn giải bằng lỗi hát ca trù. Kết thúc phần lễ là đến phần hội. Đây thực sự là phần vui chơi giải trí rất sôi nổi của nhân dân và của những người đến tham dự hội. Hội của đền Thái Vi thường tổ chức những trò chơi dân gian rất hấp dẫn, có thể kể đến như: trò đua thuyền rồng, trò nấu cơm thi, hội diễn chèo, cờ bỏi, tổ tôm điếm, thi đu quay, đu giật, thi múa rồng, múa lân, kéo co… Tất cả những dòng người từ khắp mọi nơi tụ hội, ai ai cũng đắm mình trong bầu không khí linh thiêng của lễ hội và cái huyên náo, sôi động của những trò chơi dân gian rất thú vị. Tiếng trống, tiếng chiêng rộn ràng hoà cùng với những làn điệu ca trù mượt mà khiến ai đã từng đặt chân đến vùng đất này sẽ không thể quên được một vùng non nước hữu tình cũng như là một lễ hội cổ truyền vô cùng đặc sắc ở trên dải đất Cố đô./.

Related Figures

Tưng bừng lễ hội

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 6/3- 9/3 Âm lịch Trong các ngày từ ngày mùng 6 đến ngày mùng 9 tháng 3 Âm lịch, hàng vạn du khách từ khắp mọi miền lại nô nức đổ về huyện Thọ Xuân (Thanh Hóa) để dự lễ hội kỷ niệm 1.007 năm ngày mất của vua Lê Đại Hành tại ngôi đền cổ nhất ở xứ Thanh. Từ sáng sớm nay ngày 29 tháng 3 (tức ngày mùng 8/3 Nhâm Thìn), hàng vạn người dân cùng các du khách đã có mặt tại đền thờ Lê Hoàn, ở xã Xuân Lập, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa để tham dự vào buổi lễ kỷ niệm 1.007 năm ngày mất của Lê Đại Hành Hoàng Đế. Tưng bừng lễ hội ở ngôi đền cổ nhất xứ Thanh Hàng năm, cứ vào dịp này, du khách ở khắp mọi miền của tổ quốc lại hành hương về với đền thờ Lê Hoàn để dự Lễ hội tưởng nhớ đến công ơn Lê Đại Hành - vị vua đầu tiên của nhà Tiền Lê (trị vì từ năm 980 đến năm 1005). Lễ hội Lê Hoàn năm nay đã được tổ chức trong vòng 4 ngày từ ngày 27 đến ngày 30 tháng 3 (tức ngày mùng 6 đến ngày mùng 9 tháng 3 Nhâm Thìn). Lê Đại Hành chính là một trong những vị tướng tài ba, được những người đời sau hết lời ca tụng. Vào tháng 7 năm 980, Lê Hoàn đã chính thức lên ngôi hoàng đế. Trong suốt 24 năm trị vì của ông, đất nước luôn luôn bình yên, cuộc sống của nhân dân luôn được ấm no, hạnh phúc bởi nhiều cải cách được coi là những tiến bộ vượt bậc so với các triều đại phong kiến trước đây. Ngay từ thời đó, ông đã rất coi trọng đến vấn đề phát triển thủy lợi, xác định đây là nền tảng để sản xuất nông nghiệp mọt cách bền vững. Lê Hoàn được xem là một trong những vị vua rất trọng nông trong các triều đại phong kiến, đích thân ông đã nhiều lần xuống đồng đi cày, đi cấy cùng với bà con. Ông còn khuyến khích cho nhân dân mở rộng sản xuất tiểu - thủ công nghiệp, chủ yếu là nghề rèn, nghề đúc và nghề gốm. Đặc biệt, ông cũng đã cho đúc tiền Thiên Phúc là đồng tiền riêng của nước Việt Nam để không phải lệ thuộc vào tiền của nhà Tống (Trung Quốc). Nghi lễ tại lễ hội Lê Hoàn Mặc dù đã đánh thắng quân Tống, giữ yên được bờ cõi, nhưng ông vẫn giữ được mối hòa khí với đất nước Tống nhờ vào chính sách ngoại giao mềm dẻo. Lê Hoàn còn nổi tiếng là một vị vua nhân đức và biết sử dụng nhân tài. Lê Hoàn mất vào năm 1005, ông thọ 64 tuổi. Trong lịch sử nước Việt Nam, Lê Hoàn không chỉ là một vị hoàng đế có những đóng góp to lớn trong việc chống quân Tống phương Bắc, quân Chiêm phương Nam, giữ gìn và củng cố nền độc lập dân tộc, mà ông còn có rất nhiều công lao trong sự nghiệp ngoại giao, xây dựng và kiến tạo nên đất nước Đại Cồ Việt. Để ghi ơn những công lao to lớn của ông, nhân dân ta đã lập đền thờ Lê Hoàn tại làng Trung Lập, xã Xuân Lập, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa quê hương của ông. Đền thờ Lê Hoàn hiện được xem là một trong những ngôi đền cổ nhất xứ Thanh hiện nay. Du khách dâng hương tại đền thờ Vua Lê Hoàn Trải qua bao nhiêu biến cố thăng trầm của lịch sử, qua sự khắc nghiệt của thời gian, cho đến ngày nay, đền thờ Lê Hoàn tại làng Trung Lập đã được tu bổ và tôn tạo khá khang trang, nhưng vẫn bảo tồn được nguyên dáng vẻ cổ kính. Đặc biệt, nơi đây vẫn còn lưu giữ được chiếc đĩa đá màu hồng của vua nhà Tống tặng cho Lê Hoàn gọi là “ngọc tuyết”. Trong đền hiện nay có 14 sắc phong của các triều đại phong kiến nước Việt Nam. Phía trước là hai tấm bia đá lớn được trang trí hoa văn hình rồng chầu nguyệt, đường nét thanh thoát và khỏe khoắn. Nét độc đáo của ngôi đền này còn ở chỗ tất cả các chạm trổ đều mang dáng dấp của sen. Dòng người về dự lễ hội. Ngày chính hội là ngày 29 tháng 3 (tức ngày 8/3 năm Nhâm Thìn), sau phần lễ kỷ niệm là đến những màn nghệ thuật sân khấu hóa tái hiện lại những tài năng, đức độ và công lao to lớn của nhà vua Lê Đại Hành trong việc dẹp nội loạn, chống giặc ngoại xâm giữ yên bờ cõi, xây dựng nền an ninh - quốc phòng vững mạnh, phát triển toàn diện nền kinh tế, văn hóa, xã hội... Trò chơ dân gian trong lễ hội Sau phần lễ sẽ là những trò chơi, trò diễn dân gian; hoạt động thể dục - thể thao khác như: bóng chuyền, thi đấu vật dân tộc, kéo co, cờ tướng... Đặc biệt, du khách đến nơi đây còn được thưởng thức món bánh răng bừa - một món đặc sản của vùng quê Thọ Xuân.

Từ sáng sớm nay ngày 29 tháng 3 (tức ngày mùng 8/3 Nhâm Thìn), hàng vạn người dân cùng các du khách đã có mặt tại đền thờ Lê Hoàn, ở xã Xuân Lập, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa để tham dự vào buổi lễ kỷ niệm 1.007 năm ngày mất của Lê Đại Hành Hoàng Đế. Tưng bừng lễ hội ở ngôi đền cổ nhất xứ Thanh Hàng năm, cứ vào dịp này, du khách ở khắp mọi miền của tổ quốc lại hành hương về với đền thờ Lê Hoàn để dự Lễ hội tưởng nhớ đến công ơn Lê Đại Hành - vị vua đầu tiên của nhà Tiền Lê (trị vì từ năm 980 đến năm 1005). Lễ hội Lê Hoàn năm nay đã được tổ chức trong vòng 4 ngày từ ngày 27 đến ngày 30 tháng 3 (tức ngày mùng 6 đến ngày mùng 9 tháng 3 Nhâm Thìn). Lê Đại Hành chính là một trong những vị tướng tài ba, được những người đời sau hết lời ca tụng. Vào tháng 7 năm 980, Lê Hoàn đã chính thức lên ngôi hoàng đế. Trong suốt 24 năm trị vì của ông, đất nước luôn luôn bình yên, cuộc sống của nhân dân luôn được ấm no, hạnh phúc bởi nhiều cải cách được coi là những tiến bộ vượt bậc so với các triều đại phong kiến trước đây. Ngay từ thời đó, ông đã rất coi trọng đến vấn đề phát triển thủy lợi, xác định đây là nền tảng để sản xuất nông nghiệp mọt cách bền vững. Lê Hoàn được xem là một trong những vị vua rất trọng nông trong các triều đại phong kiến, đích thân ông đã nhiều lần xuống đồng đi cày, đi cấy cùng với bà con. Ông còn khuyến khích cho nhân dân mở rộng sản xuất tiểu - thủ công nghiệp, chủ yếu là nghề rèn, nghề đúc và nghề gốm. Đặc biệt, ông cũng đã cho đúc tiền Thiên Phúc là đồng tiền riêng của nước Việt Nam để không phải lệ thuộc vào tiền của nhà Tống (Trung Quốc). Nghi lễ tại lễ hội Lê Hoàn Mặc dù đã đánh thắng quân Tống, giữ yên được bờ cõi, nhưng ông vẫn giữ được mối hòa khí với đất nước Tống nhờ vào chính sách ngoại giao mềm dẻo. Lê Hoàn còn nổi tiếng là một vị vua nhân đức và biết sử dụng nhân tài. Lê Hoàn mất vào năm 1005, ông thọ 64 tuổi. Trong lịch sử nước Việt Nam, Lê Hoàn không chỉ là một vị hoàng đế có những đóng góp to lớn trong việc chống quân Tống phương Bắc, quân Chiêm phương Nam, giữ gìn và củng cố nền độc lập dân tộc, mà ông còn có rất nhiều công lao trong sự nghiệp ngoại giao, xây dựng và kiến tạo nên đất nước Đại Cồ Việt. Để ghi ơn những công lao to lớn của ông, nhân dân ta đã lập đền thờ Lê Hoàn tại làng Trung Lập, xã Xuân Lập, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa quê hương của ông. Đền thờ Lê Hoàn hiện được xem là một trong những ngôi đền cổ nhất xứ Thanh hiện nay. Du khách dâng hương tại đền thờ Vua Lê Hoàn Trải qua bao nhiêu biến cố thăng trầm của lịch sử, qua sự khắc nghiệt của thời gian, cho đến ngày nay, đền thờ Lê Hoàn tại làng Trung Lập đã được tu bổ và tôn tạo khá khang trang, nhưng vẫn bảo tồn được nguyên dáng vẻ cổ kính. Đặc biệt, nơi đây vẫn còn lưu giữ được chiếc đĩa đá màu hồng của vua nhà Tống tặng cho Lê Hoàn gọi là “ngọc tuyết”. Trong đền hiện nay có 14 sắc phong của các triều đại phong kiến nước Việt Nam. Phía trước là hai tấm bia đá lớn được trang trí hoa văn hình rồng chầu nguyệt, đường nét thanh thoát và khỏe khoắn. Nét độc đáo của ngôi đền này còn ở chỗ tất cả các chạm trổ đều mang dáng dấp của sen. Dòng người về dự lễ hội. Ngày chính hội là ngày 29 tháng 3 (tức ngày 8/3 năm Nhâm Thìn), sau phần lễ kỷ niệm là đến những màn nghệ thuật sân khấu hóa tái hiện lại những tài năng, đức độ và công lao to lớn của nhà vua Lê Đại Hành trong việc dẹp nội loạn, chống giặc ngoại xâm giữ yên bờ cõi, xây dựng nền an ninh - quốc phòng vững mạnh, phát triển toàn diện nền kinh tế, văn hóa, xã hội... Trò chơ dân gian trong lễ hội Sau phần lễ sẽ là những trò chơi, trò diễn dân gian; hoạt động thể dục - thể thao khác như: bóng chuyền, thi đấu vật dân tộc, kéo co, cờ tướng... Đặc biệt, du khách đến nơi đây còn được thưởng thức món bánh răng bừa - một món đặc sản của vùng quê Thọ Xuân.

Related Figures

Lễ hội chùa Bà Thiên Hậu

Thông tin thời kỳ

Lễ hội chùa Bà Thiên Hậu của cộng đồng những người Việt gốc Hoa lâu nay đã trở thành một điểm đến văn hóa đặc sắc, thu hút được hàng trăm ngàn lượt khách đến tham quan và lễ Bà. Chùa Bà Thiên Hậu là một trong những ngôi chùa, ngôi miếu, có lịch sử lâu đời nhất của những người Hoa ở TP. Hồ Chí Minh. Bên cạnh những giá trị về nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc và hiện vật cổ, ở nơi đây còn có một giá trị khác, đó không chỉ là nơi để đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng mà nó còn là nơi để qui tụ và tương trợ lẫn nhau của những người bà con người Việt gốc Hoa (Quảng Đông). Chùa để thờ bà Thiên Hậu là chính. Bà được những người Quảng Đông gọi là “A Phò” (Đức Bà). Những người Phúc Kiến và người Hải Nam thích gọi bà là “Đạo Mẫu”. Bà Thiên Hậu có tên thật là Mi Châu, Bà sinh ngày 23 tháng 3 Âm lịch năm Giáp Thân (1044), bà sống ở Phước Kiến (Trung Quốc). Tương truyền, trước đây bà Thiên Hậu có cha là ông Lâm Tích Khánh cùng với hai anh trai đi thuyền chở muối đến vùng Giang Tây, giữa đường đã gặp phải bão lớn. Lúc đó Bà đang ngồi dệt vải bên cạnh mẹ nhưng Bà đã xuất thần để đi cứu cha và cứu hai anh. Bà đã dùng răng cắn được chéo áo của cha, hai tay nắm lấy hai anh, giữa lúc đó thì mẹ Bà kêu gọi Bà, ép Bà phải trả lời, Bà vừa hở môi trả lời thì sóng đã cuốn cha đi mất dạng và chỉ cứu được hai anh. Từ đó, mỗi khi thuyền bè ngoài biển bị gặp nạn, người ta đều gọi vái đến Bà. Vào năm Canh Dần (1110), nhà Tống đã sắc phong cho Bà là “Thiên Hậu Thánh Mẫu”. Lễ hội chùa Bà Thiên Hậu của cộng đồng người Việt gốc Hoa lâu nay trở thành điểm đến văn hóa đặc sắc, thu hút hàng trăm ngàn lượt khách đến tham quan, lễ Bà. Chùa Bà Thiên Hậu ngày nay đã trở thành một trong những điểm du lịch lễ hội được rất nhiều du khách thập phương đến cúng lễ khá đông. Theo kinh nghiệm du lịch tại Sài Gòn, thời điểm đông hơn đó là vào các ngày mùng một và ngày rằm hàng tháng, các ngày lễ Tết trong năm của những người Hoa như ngày Tết Nguyên đán, ngày Tết Nguyên tiêu, ngày Tết Đoan ngọ v.v… Đặc biệt, vào ngày 28 Tết, chùa sẽ tiến hành lễ cúng Bà và Lễ khai ấn, cầu mong Bà sẽ phò trợ cho “Hộ quốc an dân” và “Hợp cảnh bình an”. Riêng ngày vía Bà là ngày 23 tháng 3 Âm lịch sẽ được xem là ngày hội chính trong dịp Lễ hội chùa bà Thiên Hậu. Lễ vía bà Thiên Hậu được xem là ngày lễ hội lớn nhất hằng năm của chùa Bà, trong đó số nữ giới bao giờ đi lễ cũng đông hơn nam giới rất nhiều lần. Trước đây, lễ vía bà thường sẽ kéo dài cả tuần, việc cúng tiến và lễ vật mang đến cũng rất linh đình, có cả lễ rước tượng và đặt trong kiệu sơn son thếp vàng cùng thuyền Thuận Phong và các nghi trượng ghi tên các vị thần có thờ ở chùa. Ngày nay, đám rước trên đường phố đã được giảm đi, chỉ còn tổ chức ở trong khuôn viên nhà chùa. Để chuẩn bị cho ngày lễ vía Bà, thì từ những ngày trước đó, Ban quản trị nhà chùa đã tổ chức trang hoàng và sửa sang lại bên trong nội thất, chang đèn kết hoa ở bên ngoài. Ngay từ buổi chiều ngày 22 tháng 3, Ban quý tế đã tổ chức lễ cúng. Lễ vật dâng cúng gồm có gà, lợn quay, ngỗng cùng các loại hoa quả và các loại bánh trái. Sau lời khấn khai mạc của một vị chánh tế, một người phụ nữ sẽ đọc một bản văn được viết sẵn bằng tiếng Quảng Đông để ca tụng công đức của Bà, nay nhân ngày vía bà, mọi người xin tỏ lòng biết ơn chân thành và mong sao Bà phù hộ cho tất cả mọi người, mọi nhà sống yên vui, làm ăn phát đạt, đoàn kết tương thân tương ái với nhau…Sau bài văn tế, các thành viên ở trong Ban quản trị đã tổ chức bốc thăm để lựa chọn ra người “cầm ấn” (một chiếc ấn bằng đồng khắc cổ tự) lên trước ngai thờ Bà, đóng lên tấm giấy đỏ mang dòng chữ Khai ấn đại kết và Hợp cảnh bình an viết bằng mực xạ, để dán lên hai bên các điện thời ở trong chùa. Lễ vía bà Thiên Hậu được xem là lễ hội lớn nhất hằng năm của chùa Bà Vào đêm ngày 22 sẽ diễn ra Lễ tắm Bà. Buổi sáng ngày 23, tất cả mọi người lại tổ chức Lễ rước Bà: Tượng Bà sẽ được đặt vào một chiếc kiệu do các thanh niên nam nữ ăn mặc đẹp diễu qua các đường phố quanh chùa. Theo sau kiệu có chiếc thuyền rồng, các tấm bảng đỏ có ghi tên các vị thần được thờ phụng ở trong chùa, các đội múa gồm có: múa sư tử, múa lân, múa rồng, các đội nhạc dân tộc vừa biểu diễn và vừa múa hát, tạo nên một quang cảnh náo nhiệt trong các khu phố đông đảo những người Hoa... Sau nghi lễ ba tuần rượu và ba tuần trà ở nơi chính điện thì ở phía trước, nơi sân thiên tĩnh cũng bắt đầu đốt vàng mã và bắt đầu đốt pháo. Khi một tràng pháo dài chấm dứt, tất cả mọi người làm lễ chào Bà lần cuối, một người ở trong Ban quản trị đi thâu nhang đến tận tay của từng người tham dự lễ, đem đi cắm rải rác ở chung quanh chùa. Bước sang ngày 23 - là ngày chánh vía Bà từ 4h sáng, ở trong chùa, trên các điện thời, đèn nến thắp sáng choang, nhang trầm hương ngào ngạt. Sau một hồi chuông được dóng lên, cửa chùa sẽ từ từ mở rộng để đón các đoàn khách đến cúng Bà. Lễ vật dâng cúng thì tuỳ vào hoàn cảnh và lòng hảo tâm của từng người, riêng món nhang đèn, giấy vàng bạc và giấy tiền là những lễ vật không thể thiếu, vì theo những người Hoa quan niệm đây là quà biết dâng lên các vị thần. Ngoài phần lễ bái ở nơi chính điện thờ Bà Thiên Hậu, khách còn tuỳ theo nhu cầu và ước vọng riêng của từng người, từ việc gia đạo, đến tình duyên, con cái, từ việc cầu sức khoẻ đến chuyện buôn bán làm ăn… mà mang lễ vật tiếp tục đến cúng bái ở các điện thờ các nhân vật khác. Lễ hội vía Bà diễn ra vào ngày 23 tháng 3 âm lịch hàng năm, tại Chùa Bà Thiên hậu, ấp Cái Rắn, xã Phú Hưng, huyện Cái Nước. Sau khi cúng lễ đã xong, thân chủ thường sẽ để lại cho nhà chùa một phần, còn một phần thì sẽ mang về nhà, gọi là để “hưởng lộc thánh”. Trong khi cúng lễ, khách có thể mua ngay tại chỗ những “vòng nhang cầu an” có đường kính trung bình khoảng từ 50 đến 60cm, có loại đường kính lên đến 1 mét. Nhà chùa sẽ ghi tên người đó trên một miếng giấy đỏ đính kèm vào vòng nhang rồi treo lên trần đốt. Mỗi “vòng nhang cầu an” như thế cứ cháy suốt đêm trong vòng một tháng trời. Đây là một nét đặc trưng ở chùa Hoa, đặc biệt ở chùa Bà Thiên Hậu và chùa Ông (Nghĩa An hội quán). Người đi lễ sau khi cúng bái thường sẽ được nhận của nhà chùa 3 tấm giấy (khổ 12 x 25cm) trên có in dòng chữ Hán và đóng triện son: “Thánh Mẫu toạ trấn, hợp gia bình an, bảo hộ an khang”. Theo cách gọi của những người Hoa, đây là “rước vía Bà” đưa về nơi bàn thờ ở gia đình. Đến buổi chiều ngày 24 tháng 3, lễ vía Bà kết thúc. Vào lúc đó, những đội lân cùng xuất hiện, trình diễn ở nơi sân chùa, rồi toả về một số ngả phố như để báo hiệu với tất cả mọi người một lễ hôi vía Bà diễn ra rất thuận lợi, tốt lành và hy vọng sẽ gặp nhau lại trong mùa lễ hội năm sau.

Chùa Bà Thiên Hậu là một trong những ngôi chùa, ngôi miếu, có lịch sử lâu đời nhất của những người Hoa ở TP. Hồ Chí Minh. Bên cạnh những giá trị về nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc và hiện vật cổ, ở nơi đây còn có một giá trị khác, đó không chỉ là nơi để đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng mà nó còn là nơi để qui tụ và tương trợ lẫn nhau của những người bà con người Việt gốc Hoa (Quảng Đông). Chùa để thờ bà Thiên Hậu là chính. Bà được những người Quảng Đông gọi là “A Phò” (Đức Bà). Những người Phúc Kiến và người Hải Nam thích gọi bà là “Đạo Mẫu”. Bà Thiên Hậu có tên thật là Mi Châu, Bà sinh ngày 23 tháng 3 Âm lịch năm Giáp Thân (1044), bà sống ở Phước Kiến (Trung Quốc). Tương truyền, trước đây bà Thiên Hậu có cha là ông Lâm Tích Khánh cùng với hai anh trai đi thuyền chở muối đến vùng Giang Tây, giữa đường đã gặp phải bão lớn. Lúc đó Bà đang ngồi dệt vải bên cạnh mẹ nhưng Bà đã xuất thần để đi cứu cha và cứu hai anh. Bà đã dùng răng cắn được chéo áo của cha, hai tay nắm lấy hai anh, giữa lúc đó thì mẹ Bà kêu gọi Bà, ép Bà phải trả lời, Bà vừa hở môi trả lời thì sóng đã cuốn cha đi mất dạng và chỉ cứu được hai anh. Từ đó, mỗi khi thuyền bè ngoài biển bị gặp nạn, người ta đều gọi vái đến Bà. Vào năm Canh Dần (1110), nhà Tống đã sắc phong cho Bà là “Thiên Hậu Thánh Mẫu”. Lễ hội chùa Bà Thiên Hậu của cộng đồng người Việt gốc Hoa lâu nay trở thành điểm đến văn hóa đặc sắc, thu hút hàng trăm ngàn lượt khách đến tham quan, lễ Bà. Chùa Bà Thiên Hậu ngày nay đã trở thành một trong những điểm du lịch lễ hội được rất nhiều du khách thập phương đến cúng lễ khá đông. Theo kinh nghiệm du lịch tại Sài Gòn, thời điểm đông hơn đó là vào các ngày mùng một và ngày rằm hàng tháng, các ngày lễ Tết trong năm của những người Hoa như ngày Tết Nguyên đán, ngày Tết Nguyên tiêu, ngày Tết Đoan ngọ v.v… Đặc biệt, vào ngày 28 Tết, chùa sẽ tiến hành lễ cúng Bà và Lễ khai ấn, cầu mong Bà sẽ phò trợ cho “Hộ quốc an dân” và “Hợp cảnh bình an”. Riêng ngày vía Bà là ngày 23 tháng 3 Âm lịch sẽ được xem là ngày hội chính trong dịp Lễ hội chùa bà Thiên Hậu. Lễ vía bà Thiên Hậu được xem là ngày lễ hội lớn nhất hằng năm của chùa Bà, trong đó số nữ giới bao giờ đi lễ cũng đông hơn nam giới rất nhiều lần. Trước đây, lễ vía bà thường sẽ kéo dài cả tuần, việc cúng tiến và lễ vật mang đến cũng rất linh đình, có cả lễ rước tượng và đặt trong kiệu sơn son thếp vàng cùng thuyền Thuận Phong và các nghi trượng ghi tên các vị thần có thờ ở chùa. Ngày nay, đám rước trên đường phố đã được giảm đi, chỉ còn tổ chức ở trong khuôn viên nhà chùa. Để chuẩn bị cho ngày lễ vía Bà, thì từ những ngày trước đó, Ban quản trị nhà chùa đã tổ chức trang hoàng và sửa sang lại bên trong nội thất, chang đèn kết hoa ở bên ngoài. Ngay từ buổi chiều ngày 22 tháng 3, Ban quý tế đã tổ chức lễ cúng. Lễ vật dâng cúng gồm có gà, lợn quay, ngỗng cùng các loại hoa quả và các loại bánh trái. Sau lời khấn khai mạc của một vị chánh tế, một người phụ nữ sẽ đọc một bản văn được viết sẵn bằng tiếng Quảng Đông để ca tụng công đức của Bà, nay nhân ngày vía bà, mọi người xin tỏ lòng biết ơn chân thành và mong sao Bà phù hộ cho tất cả mọi người, mọi nhà sống yên vui, làm ăn phát đạt, đoàn kết tương thân tương ái với nhau…Sau bài văn tế, các thành viên ở trong Ban quản trị đã tổ chức bốc thăm để lựa chọn ra người “cầm ấn” (một chiếc ấn bằng đồng khắc cổ tự) lên trước ngai thờ Bà, đóng lên tấm giấy đỏ mang dòng chữ Khai ấn đại kết và Hợp cảnh bình an viết bằng mực xạ, để dán lên hai bên các điện thời ở trong chùa. Lễ vía bà Thiên Hậu được xem là lễ hội lớn nhất hằng năm của chùa Bà Vào đêm ngày 22 sẽ diễn ra Lễ tắm Bà. Buổi sáng ngày 23, tất cả mọi người lại tổ chức Lễ rước Bà: Tượng Bà sẽ được đặt vào một chiếc kiệu do các thanh niên nam nữ ăn mặc đẹp diễu qua các đường phố quanh chùa. Theo sau kiệu có chiếc thuyền rồng, các tấm bảng đỏ có ghi tên các vị thần được thờ phụng ở trong chùa, các đội múa gồm có: múa sư tử, múa lân, múa rồng, các đội nhạc dân tộc vừa biểu diễn và vừa múa hát, tạo nên một quang cảnh náo nhiệt trong các khu phố đông đảo những người Hoa... Sau nghi lễ ba tuần rượu và ba tuần trà ở nơi chính điện thì ở phía trước, nơi sân thiên tĩnh cũng bắt đầu đốt vàng mã và bắt đầu đốt pháo. Khi một tràng pháo dài chấm dứt, tất cả mọi người làm lễ chào Bà lần cuối, một người ở trong Ban quản trị đi thâu nhang đến tận tay của từng người tham dự lễ, đem đi cắm rải rác ở chung quanh chùa. Bước sang ngày 23 - là ngày chánh vía Bà từ 4h sáng, ở trong chùa, trên các điện thời, đèn nến thắp sáng choang, nhang trầm hương ngào ngạt. Sau một hồi chuông được dóng lên, cửa chùa sẽ từ từ mở rộng để đón các đoàn khách đến cúng Bà. Lễ vật dâng cúng thì tuỳ vào hoàn cảnh và lòng hảo tâm của từng người, riêng món nhang đèn, giấy vàng bạc và giấy tiền là những lễ vật không thể thiếu, vì theo những người Hoa quan niệm đây là quà biết dâng lên các vị thần. Ngoài phần lễ bái ở nơi chính điện thờ Bà Thiên Hậu, khách còn tuỳ theo nhu cầu và ước vọng riêng của từng người, từ việc gia đạo, đến tình duyên, con cái, từ việc cầu sức khoẻ đến chuyện buôn bán làm ăn… mà mang lễ vật tiếp tục đến cúng bái ở các điện thờ các nhân vật khác. Lễ hội vía Bà diễn ra vào ngày 23 tháng 3 âm lịch hàng năm, tại Chùa Bà Thiên hậu, ấp Cái Rắn, xã Phú Hưng, huyện Cái Nước. Sau khi cúng lễ đã xong, thân chủ thường sẽ để lại cho nhà chùa một phần, còn một phần thì sẽ mang về nhà, gọi là để “hưởng lộc thánh”. Trong khi cúng lễ, khách có thể mua ngay tại chỗ những “vòng nhang cầu an” có đường kính trung bình khoảng từ 50 đến 60cm, có loại đường kính lên đến 1 mét. Nhà chùa sẽ ghi tên người đó trên một miếng giấy đỏ đính kèm vào vòng nhang rồi treo lên trần đốt. Mỗi “vòng nhang cầu an” như thế cứ cháy suốt đêm trong vòng một tháng trời. Đây là một nét đặc trưng ở chùa Hoa, đặc biệt ở chùa Bà Thiên Hậu và chùa Ông (Nghĩa An hội quán). Người đi lễ sau khi cúng bái thường sẽ được nhận của nhà chùa 3 tấm giấy (khổ 12 x 25cm) trên có in dòng chữ Hán và đóng triện son: “Thánh Mẫu toạ trấn, hợp gia bình an, bảo hộ an khang”. Theo cách gọi của những người Hoa, đây là “rước vía Bà” đưa về nơi bàn thờ ở gia đình. Đến buổi chiều ngày 24 tháng 3, lễ vía Bà kết thúc. Vào lúc đó, những đội lân cùng xuất hiện, trình diễn ở nơi sân chùa, rồi toả về một số ngả phố như để báo hiệu với tất cả mọi người một lễ hôi vía Bà diễn ra rất thuận lợi, tốt lành và hy vọng sẽ gặp nhau lại trong mùa lễ hội năm sau.

Related Figures

Hoành tráng lễ hội đếm ngược đón năm mới 2013

Thông tin thời kỳ

Đúng vào 0g00 ngày mùng 1 tháng 1 năm 2013, tháp pháo hoa 9 tầng đã bừng sáng rực rỡ sắc màu tại lễ hội đếm ngược Countdown Party 2012 với chủ đề là “Tôi yêu Đà Nẵng”, chào đón năm mới 2013 chính thức điểm những giây đầu tiên trên thành phố bên dòng sông Hàn cũng như trên mọi miền của đất nước. Hàng vạn khán giả đã vỡ oà niềm vui khi hàng triệu bông hoa giấy nở bung ở trên bầu trời báo hiệu năm mới 2013 vừa chạm ngõ! "Đây là lần đầu tiên em được cùng với hàng vạn người đếm ngược thời khắc cuối cùng của năm cũ rồi cùng nhau hét thật to "Chúc mừng năm mới" với cảm giác những giây đầu tiên của năm mới như vừa mới chạm đến mình. Có một cái gì đó thật thiêng liêng. Những cảm xúc và khoảnh khắc ấn tượng ấy chắc chắn sẽ rất khó quên đối với em và đối với bạn bè" - em Nguyễn Thục Trinh, sinh viên năm 4 khoa Quan hệ quốc tế (Đại học Ngoại ngữ Đà Nẵng) đã nói. Sân khấu của lễ hội Countdown Party 2012 được thiết kế hết sức hoành tráng Màn hình LED khổng lồ giới thiệu những hình ảnh về các danh lam thắng cảnh nổi tiếng như đèo Hải Vân... các công trình xây dựng... và những lễ hội văn hoá đặc sắc của Thành Phố biển Đà Nẵng Trong tiếng hò reo vang dội của hàng vạn người có mặt ở tại Quảng trường 29/3 khi hàng triệu bông hoa giấy nở bung lên trên bầu trời, có thể thấy lễ hội đếm ngược chào đón năm mới lần đầu tiên tổ chức tại thành phố Đà Nẵng đã là một đại tiệc ánh sáng và âm thanh theo đúng nghĩa của nó. Cùng với đó là một chương trình biểu diễn nghệ thuật được dàn dựng hết sức công phu, hoành tráng đã hút hồn được hàng vạn người ngay từ màn khai cuộc đầy ấn tượng vào lúc 21g tối với chủ đề "Thành phố tôi yêu". Countdown Party 2012 thực sự nó là một đại tiệc ánh sáng Được khởi đầu bằng một tiết mục hát múa "Đà Nẵng tôi yêu" (thơ: Nguyễn Bá Thanh, nhạc: Quỳnh Hợp), hình ảnh của khu đô thị trẻ Đà Nẵng năng động, đổi mới, dám nghĩ, dám làm; lịch sử và cội nguồn văn hóa Đà Nẵng; diện mạo của một Đà Nẵng mới… đã được diễn tả hết sức sinh động bằng những ca khúc, vũ điệu và những hình ảnh trên màn hình LED về các danh lam thắng cảnh và các công trình xây dựng của Thành phố này. Lễ hội này đã thu hút hàng vạn người nhưng vẫn rất trật tự Mọi người, mọi giới tính và mọi lứa tuổi đều hoà chung với niềm vui đón chào năm mới 2013 Bé cùng với bố đến với lễ hội đếm ngược đón năm mới lần đầu tiên được tổ chức tại thành phố Đà Nẵng Từ 22h, Countdown Party 2012 sẽ chuyển sang chủ đề "Tôi yêu Đà Nẵng" với chất liệu hình ảnh và giai điệu ngày càng nhanh hơn, rộn ràng hơn và sôi động hơn như nhịp điệu phát triển "thần kỳ" của Đà Nẵng trong những năm qua. Sự xuất hiện của các ca sĩ Phương Thanh, Thanh Lam,Thanh Thảo, Thảo Trang, Phương Linh, Nguyên Vũ, Kimese, Quang Hà; các nghệ sĩ của nhóm hài Hoài Linh - Trường Giang; nhóm nhạc MTV, nhóm Rock Unlimited, vũ đoàn Arabesque, MC Trấn Thành cùng với rất nhiều nghệ sĩ khác liên tục nhận được sự chào đón nồng nhiệt của hàng vạn người tới xem. Màn hát múa ""Đà Nẵng tôi yêu" mở đầu cho đêm lễ hội Ca sĩ Mỵ Nương hát về TP bên dòng sông Hàn trên nền hình ảnh về vịnh Đà Nẵng Hát múa Chăm Tiết mục biểu diễn sôi động của ca sĩ Thảo Trang Đặc biệt, đó là màn trình diễn của 2 DJ đẳng cấp quốc tế cùng có tên trong Top 100 nữ DJ nổi tiếng và gợi cảm nhất trên thế giới (do tạp chí FHM của Singapore bình chọn) là Kim Lee (công dân Mỹ gốc Việt và Pháp) và Katrina Nova (người Nga) cùng DJ Phương Pharreal (giải Nhất Chung kết DJ Night - đêm của những phù thủy vừa diễn ra tại Hà Nội đêm 19/10/2012) đã làm nên một bầu không khí hết sức náo nhiệt của một đêm hội đường phố, cuốn hút tất cả mọi người cùng hoà vào điệu nhảy gangnam style đầy sôi động. Màn trình diễn cực kỳ ấn tượng của hai DJ Kim Lee (công dân Mỹ gốc Việt và Pháp) và Katrina Nova (người Nga) "Xuyên suốt chương trình đêm hội tối nay, các chủ đề về một Thành phố biển năng động, nhân văn, một đô thị đáng sống để mọi người cùng thốt lên rằng “Tôi yêu Đà Nẵng” xuất hiện rất nhiều. Đên hội thực sự mang đến cho mọi người cảm giác hân hoan, tạm gác lại những phiền muộn, chưa hài lòng của năm cũ để lạc quan và tin yêu hướng về tương lai" - anh Lê Viết Thành, cán bộ của Nhà thiếu nhi Đà Nẵng đã nhận xét. Các nghệ sĩ cùng hát vang bài hát "Happy new year" Hàng vạn khán giả cùng đếm ngược thời khắc giao thừa đón năm mới 2013 Và cùng vỡ oà niềm vui với hàng triệu bông hoa giấy rợp khắp trời báo hiệu năm mới 2013 đã đến!

Hàng vạn khán giả đã vỡ oà niềm vui khi hàng triệu bông hoa giấy nở bung ở trên bầu trời báo hiệu năm mới 2013 vừa chạm ngõ!

"Đây là lần đầu tiên em được cùng với hàng vạn người đếm ngược thời khắc cuối cùng của năm cũ rồi cùng nhau hét thật to "Chúc mừng năm mới" với cảm giác những giây đầu tiên của năm mới như vừa mới chạm đến mình. Có một cái gì đó thật thiêng liêng. Những cảm xúc và khoảnh khắc ấn tượng ấy chắc chắn sẽ rất khó quên đối với em và đối với bạn bè" - em Nguyễn Thục Trinh, sinh viên năm 4 khoa Quan hệ quốc tế (Đại học Ngoại ngữ Đà Nẵng) đã nói.

Sân khấu của lễ hội Countdown Party 2012 được thiết kế hết sức hoành tráng

Màn hình LED khổng lồ giới thiệu những hình ảnh về các danh lam thắng cảnh nổi tiếng như đèo Hải Vân...

các công trình xây dựng...

và những lễ hội văn hoá đặc sắc của Thành Phố biển Đà Nẵng

Trong tiếng hò reo vang dội của hàng vạn người có mặt ở tại Quảng trường 29/3 khi hàng triệu bông hoa giấy nở bung lên trên bầu trời, có thể thấy lễ hội đếm ngược chào đón năm mới lần đầu tiên tổ chức tại thành phố Đà Nẵng đã là một đại tiệc ánh sáng và âm thanh theo đúng nghĩa của nó. Cùng với đó là một chương trình biểu diễn nghệ thuật được dàn dựng hết sức công phu, hoành tráng đã hút hồn được hàng vạn người ngay từ màn khai cuộc đầy ấn tượng vào lúc 21g tối với chủ đề "Thành phố tôi yêu".

Countdown Party 2012 thực sự nó là một đại tiệc ánh sáng

Được khởi đầu bằng một tiết mục hát múa "Đà Nẵng tôi yêu" (thơ: Nguyễn Bá Thanh, nhạc: Quỳnh Hợp), hình ảnh của khu đô thị trẻ Đà Nẵng năng động, đổi mới, dám nghĩ, dám làm; lịch sử và cội nguồn văn hóa Đà Nẵng; diện mạo của một Đà Nẵng mới… đã được diễn tả hết sức sinh động bằng những ca khúc, vũ điệu và những hình ảnh trên màn hình LED về các danh lam thắng cảnh và các công trình xây dựng của Thành phố này.

Lễ hội này đã thu hút hàng vạn người nhưng vẫn rất trật tự

Mọi người, mọi giới tính và mọi lứa tuổi đều hoà chung với niềm vui đón chào năm mới 2013

Bé cùng với bố đến với lễ hội đếm ngược đón năm mới lần đầu tiên được tổ chức tại thành phố Đà Nẵng

Từ 22h, Countdown Party 2012 sẽ chuyển sang chủ đề "Tôi yêu Đà Nẵng" với chất liệu hình ảnh và giai điệu ngày càng nhanh hơn, rộn ràng hơn và sôi động hơn như nhịp điệu phát triển "thần kỳ" của Đà Nẵng trong những năm qua. Sự xuất hiện của các ca sĩ Phương Thanh, Thanh Lam,Thanh Thảo, Thảo Trang, Phương Linh, Nguyên Vũ, Kimese, Quang Hà; các nghệ sĩ của nhóm hài Hoài Linh - Trường Giang; nhóm nhạc MTV, nhóm Rock Unlimited, vũ đoàn Arabesque, MC Trấn Thành cùng với rất nhiều nghệ sĩ khác liên tục nhận được sự chào đón nồng nhiệt của hàng vạn người tới xem.

Màn hát múa ""Đà Nẵng tôi yêu" mở đầu cho đêm lễ hội

Ca sĩ Mỵ Nương hát về TP bên dòng sông Hàn trên nền hình ảnh về vịnh Đà Nẵng

Hát múa Chăm

Tiết mục biểu diễn sôi động của ca sĩ Thảo Trang

Đặc biệt, đó là màn trình diễn của 2 DJ đẳng cấp quốc tế cùng có tên trong Top 100 nữ DJ nổi tiếng và gợi cảm nhất trên thế giới (do tạp chí FHM của Singapore bình chọn) là Kim Lee (công dân Mỹ gốc Việt và Pháp) và Katrina Nova (người Nga) cùng DJ Phương Pharreal (giải Nhất Chung kết DJ Night - đêm của những phù thủy vừa diễn ra tại Hà Nội đêm 19/10/2012) đã làm nên một bầu không khí hết sức náo nhiệt của một đêm hội đường phố, cuốn hút tất cả mọi người cùng hoà vào điệu nhảy gangnam style đầy sôi động.

Màn trình diễn cực kỳ ấn tượng của hai DJ Kim Lee (công dân Mỹ gốc Việt và Pháp) và Katrina Nova (người Nga)

"Xuyên suốt chương trình đêm hội tối nay, các chủ đề về một Thành phố biển năng động, nhân văn, một đô thị đáng sống để mọi người cùng thốt lên rằng “Tôi yêu Đà Nẵng” xuất hiện rất nhiều. Đên hội thực sự mang đến cho mọi người cảm giác hân hoan, tạm gác lại những phiền muộn, chưa hài lòng của năm cũ để lạc quan và tin yêu hướng về tương lai" - anh Lê Viết Thành, cán bộ của Nhà thiếu nhi Đà Nẵng đã nhận xét.

Các nghệ sĩ cùng hát vang bài hát "Happy new year"

Hàng vạn khán giả cùng đếm ngược thời khắc giao thừa đón năm mới 2013

Và cùng vỡ oà niềm vui với hàng triệu bông hoa giấy rợp khắp trời báo hiệu năm mới 2013 đã đến!

Related Figures

Lễ hội “Làng nghề, Phố nghề Thăng Long - Hà Nội”

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 16/9- 21/9 Dương lịch Để chào mừng Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, Lễ hội “Làng nghề, Phố nghề Thăng Long - Hà Nội” đã được diễn ra từ ngày 16 đến ngày 21 tháng 9 năm 2010 ở tại Công viên Bách Thảo, thành phố Hà Nội để nhằm tôn vinh những làng nghề và những phố nghề; để tôn vinh những đôi bàn tay vàng, những người nghệ nhân, nghệ sĩ, thợ thủ công tài hoa của vùng đất Thăng Long - Hà Nội và các vùng nghề từ khắp mọi miền đất nước hội tụ ở tại Thủ đô Hà Nội. Đã có hơn 200 gian hàng của thành phố Hà Nội và của 48 địa phương, tỉnh, thành phố khác như dát vàng bạc, gốm sứ, vẽ tranh dân gian, đúc tượng, làm nón, mây tre, mộc, dệt lụa,... đã được trưng bày tại Lễ hội này. Các hoạt động diễn ra tại lễ hội gồm có: Giới thiệu một số khu trưng bày của các làng nghề và phố nghề truyền thống của Thăng Long thời xưa; Giới thiệu và bán các sản phẩm chuyên ngành hàng thủ công mỹ nghệ, sản phẩm làng nghề; Hội thi sản phẩm thủ công và Cúp Thăng Long 1000 năm; Hội thảo phát triển ngành mây tre Việt Nam, bảo tồn và phát triển làng nghề Hà Nội... Ngoài không gian làng nghề, phố nghề Thăng Long còn có sự kết hợp với các tỉnh đại diện cho các vùng miền, tạo dựng 9 không gian đặc trưng văn hóa nghề truyền thống tiêu biểu của cả nước với các nét kiến trúc, văn hóa, bản sắc của từng vùng. Đặc biệt, vào ngày 16 tháng 9, Lễ dâng hương sẽ được tổ chức trang trọng vào tại tượng đài Lý Thái Tổ, Đài Liệt sỹ Bắc Sơn và Đền thờ núi Nùng. Dưới đây là một số hình ảnh của Lễ hội: Tác phẩm "Quạt mây" khổng lồ Gian hàng ẩm thực Chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bộ linh phẩm"Hồn thiêng sông núi" Mô hình thu nhỏ của phố cổ Hà Nội làm từ đất nung

Đã có hơn 200 gian hàng của thành phố Hà Nội và của 48 địa phương, tỉnh, thành phố khác như dát vàng bạc, gốm sứ, vẽ tranh dân gian, đúc tượng, làm nón, mây tre, mộc, dệt lụa,... đã được trưng bày tại Lễ hội này. Các hoạt động diễn ra tại lễ hội gồm có: Giới thiệu một số khu trưng bày của các làng nghề và phố nghề truyền thống của Thăng Long thời xưa; Giới thiệu và bán các sản phẩm chuyên ngành hàng thủ công mỹ nghệ, sản phẩm làng nghề; Hội thi sản phẩm thủ công và Cúp Thăng Long 1000 năm; Hội thảo phát triển ngành mây tre Việt Nam, bảo tồn và phát triển làng nghề Hà Nội... Ngoài không gian làng nghề, phố nghề Thăng Long còn có sự kết hợp với các tỉnh đại diện cho các vùng miền, tạo dựng 9 không gian đặc trưng văn hóa nghề truyền thống tiêu biểu của cả nước với các nét kiến trúc, văn hóa, bản sắc của từng vùng. Đặc biệt, vào ngày 16 tháng 9, Lễ dâng hương sẽ được tổ chức trang trọng vào tại tượng đài Lý Thái Tổ, Đài Liệt sỹ Bắc Sơn và Đền thờ núi Nùng. Dưới đây là một số hình ảnh của Lễ hội: Tác phẩm "Quạt mây" khổng lồ Gian hàng ẩm thực Chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bộ linh phẩm"Hồn thiêng sông núi" Mô hình thu nhỏ của phố cổ Hà Nội làm từ đất nung

Related Figures

Lễ hội truyền thống làng Quỳnh Đô

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 5/2- 7/2 Âm lịch Cứ đến hẹn lại lên và cứ vào ngày mùng 5 tháng 2 âm lịch hàng năm, hàng ngàn người dân ở làng Quỳnh Đô (xã Vĩnh Quỳnh, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội) dù ở đâu xa xôi cũng quay trở về làng để tham dự lễ hội truyền thống đã có lịch sử từ hàng trăm năm nay. Dưới đây là chùm ảnh về lễ hội làng Quỳnh Đô năm nay: Lễ hội sẽ diễn ra trong vòng 3 ngày, từ ngày mùng 5 đến ngày mùng 7 tháng 2 âm lịch hàng năm. Trong đó, ngày mùng 5 tháng 2 là ngày diễn ra nhiều hoạt động sôi nổi nhất. Mở đầu đoàn rước là một màn múa sư tử truyền thống. Đoàn rước sẽ xuất phát từ đình Quỳnh Đô đến đình Trúc. Tại đình Trúc, các cụ bô lão ở trong làng sẽ làm lễ tế thánh để rước nước trở lại đình Quỳnh Đô. Màn múa sinh tiền của những em nhỏ. Lễ hội làng Quỳnh Đô nhằm tưởng nhớ tới công lao của Thái úy Tô Hiến Thành, một vị quan lớn dưới triều Lý đã được dân làng tôn xưng lên làm Thành hoàng làng. Lễ vật được dùng để tế Thánh. Đoàn rước quay trở lại Quỳnh Đô Công Đình, di tích lịch sử đã được xếp hạng. Lễ rước Kiệu Ông. ... và lễ rước kiệu Bà. Các cụ bà ở trong ngày lễ lớn của làng. Hội làng Quỳnh Đô có phần hội rất đặc sắc, mang đậm nét văn hóa dân gian. Hát chầu văn ở tại sân đình. Trò chơi Chọi gà. trong lễ hội Trẻ con thích thú với tò he. Dân gian có câu: "Lò vật Quỳnh Đô, giỏ cua Cổ Điển". Làng Quỳnh Đô từ thời xa xưa đã là lò vật có tiếng ở vùng đất Thăng Long. Ngày nay, nét đẹp văn hóa này vẫn còn được gìn giữ. Những đô vật nữ cũng hăng hái thi tài trong lễ hội.

Dưới đây là chùm ảnh về lễ hội làng Quỳnh Đô năm nay:

Lễ hội sẽ diễn ra trong vòng 3 ngày, từ ngày mùng 5 đến ngày mùng 7 tháng 2 âm lịch hàng năm. Trong đó, ngày mùng 5 tháng 2 là ngày diễn ra nhiều hoạt động sôi nổi nhất.

Mở đầu đoàn rước là một màn múa sư tử truyền thống.

Đoàn rước sẽ xuất phát từ đình Quỳnh Đô đến đình Trúc. Tại đình Trúc, các cụ bô lão ở trong làng sẽ làm lễ tế thánh để rước nước trở lại đình Quỳnh Đô.

Màn múa sinh tiền của những em nhỏ.

Lễ hội làng Quỳnh Đô nhằm tưởng nhớ tới công lao của Thái úy Tô Hiến Thành, một vị quan lớn dưới triều Lý đã được dân làng tôn xưng lên làm Thành hoàng làng.

Lễ vật được dùng để tế Thánh.

Đoàn rước quay trở lại Quỳnh Đô Công Đình, di tích lịch sử đã được xếp hạng.

Lễ rước Kiệu Ông.

... và lễ rước kiệu Bà.

Các cụ bà ở trong ngày lễ lớn của làng.

Hội làng Quỳnh Đô có phần hội rất đặc sắc, mang đậm nét văn hóa dân gian.

Hát chầu văn ở tại sân đình.

Trò chơi Chọi gà. trong lễ hội

Trẻ con thích thú với tò he.

Dân gian có câu: "Lò vật Quỳnh Đô, giỏ cua Cổ Điển". Làng Quỳnh Đô từ thời xa xưa đã là lò vật có tiếng ở vùng đất Thăng Long. Ngày nay, nét đẹp văn hóa này vẫn còn được gìn giữ.

Những đô vật nữ cũng hăng hái thi tài trong lễ hội.

Related Figures

Lễ hội bơi chải truyền thống Yên Duyên - Yên S

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 13/8- 15/8 Dương lịch Lễ hội bơi chải truyền thống Yên Duyên - Yên Sở là một lễ hội truyền thống đã có từ hàng ngàn năm trước của nhân dân vùng sông nước Yên Duyên - Yên Sở. Lễ hội được tổ chức hằng năm nhằm thể hiện tinh thần và khát vọng chế ngự thiên nhiên khắc nghiệt của con người nơi đây. Tương truyền, năm xưa khi vua Lý Nhân Tông đi vi hành đến khu vực đoạn đê xung yếu của làng Mui thì nhìn thấy một cô gái đang chèo thuyền trên dòng nước xiết. Vua cho mời thì nàng không vào bờ mà bơi tròn ba vòng thuyền và hát câu: "Trăm lần thiếp phụ quân vương/Thuỷ cung cách trở âm dương du mà". Sau đó, con thuyền cùng cô gái khuất chìm xuống lòng sông sâu và chỉ còn lại sóng nước phù sa đỏ ngầu. Nghè Bà làng Yên Duyên - Yên Sở Sự việc hôm đó xảy ra đúng vào ngày rằm tháng Tám âm lịch. Sau khi gặp các bô lão trong làng, Vua đã kể lại câu chuyện và cho rằng đó là công chúa con vua Thuỷ tề và gợi ý người dân lập nghè thờ chỗ công chúa Thuỷ cung vừa hoá thân và ban sắc phong cho nàng là "Thần tiên mỹ nữ, tự Đại Vương". Nhà vua còn đặt lại tên làng Mui thành làng An Duyên để kỷ niệm lần gặp gỡ. Sau này, nhân dân làng Mui Chùa đã xây dựng Nghè thờ công chúa Thủy thần gọi là Nghè Bà và hội bơi chải làng Yên Duyên được tổ chức từ đó. Hàng năm, vào mỗi dịp rằm Tháng 8, làng Yên Duyên lại mở hội bơi chải để nhắc lại sự tích mối nhân duyên giữa nhà vua họ Lý và công chúa thủy cung, tuy không thành nhưng xen đầy huyền bí. Theo nghĩa đó, Lễ hội cũng là dịp để các đôi trai gái trong làng hẹn hò kết duyên lứa đôi… Các cụ bô lão trong làng làm lễ Theo thông lệ, Hội bơi được tổ chức trong 3 ngày từ ngày 13 đến 15 tháng 8 âm lịch. Ngày đầu là bơi thờ, tức làm lễ khai quang chải (các cụ bô lão bơi vòng quanh cây nêu một vòng), ngày thứ hai là bơi lèo (giải vòng loại để chọn các đội xuất sắc vào vòng chung kết) và ngày thứ ba là bơi giải để xác định các đội đoạt giải. Trong lễ mở hội, các cụ bô lão xuất hiện với trang phục áo dài đỏ, đội khăn xếp vàng, dây đai lưng màu và bước trên chòi trống hình tám mắt in trên thuyền rồng có kết hoa và giải lụa vòng quanh. Sau đó, cụ cả Trượng sẽ đánh hồi trống đầu với ba hồi chín tiếng. Dứt hồi trống cuộc thi bắt đầu, những cây chải rẽ sóng của 4 con thuyền lao trên mặt nước như 4 con Rồng. Một đội chải trong lễ hội Khoảng cách từ điểm xuất phát bơi tới đích dài một cây số, mỗi lèo sẽ bơi 3 vòng và đều chấm giải: nhất, nhì, ba, tư. Để giành chiến thắng, trước đó mỗi chải bơi phải khổ công rèn luyện để có sức khỏe dẻo dai và có tính đồng đội cao trong thi đấu. Hội thi bơi chải không chỉ là Lễ hội mà còn là một loại hình văn hoá - thể dục thể thao rất phong phú, sôi nổi, thu hút đông đảo tầng lớp thanh thiếu niên tham gia. Ngày nay, Lễ hội bơi chải truyền thống Yên Duyên - Yên Sở không chỉ gìn giữ phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, gắn kết cộng đồng, khơi gợi lòng yêu thương quê hương đất nước mà còn mang tính giáo dục về truyền thống và nâng cao sức khoẻ cho các thế hệ thanh thiếu niên.

Tương truyền, năm xưa khi vua Lý Nhân Tông đi vi hành đến khu vực đoạn đê xung yếu của làng Mui thì nhìn thấy một cô gái đang chèo thuyền trên dòng nước xiết. Vua cho mời thì nàng không vào bờ mà bơi tròn ba vòng thuyền và hát câu: "Trăm lần thiếp phụ quân vương/Thuỷ cung cách trở âm dương du mà". Sau đó, con thuyền cùng cô gái khuất chìm xuống lòng sông sâu và chỉ còn lại sóng nước phù sa đỏ ngầu.

Nghè Bà làng Yên Duyên - Yên Sở

Sự việc hôm đó xảy ra đúng vào ngày rằm tháng Tám âm lịch. Sau khi gặp các bô lão trong làng, Vua đã kể lại câu chuyện và cho rằng đó là công chúa con vua Thuỷ tề và gợi ý người dân lập nghè thờ chỗ công chúa Thuỷ cung vừa hoá thân và ban sắc phong cho nàng là "Thần tiên mỹ nữ, tự Đại Vương". Nhà vua còn đặt lại tên làng Mui thành làng An Duyên để kỷ niệm lần gặp gỡ. Sau này, nhân dân làng Mui Chùa đã xây dựng Nghè thờ công chúa Thủy thần gọi là Nghè Bà và hội bơi chải làng Yên Duyên được tổ chức từ đó.

Hàng năm, vào mỗi dịp rằm Tháng 8, làng Yên Duyên lại mở hội bơi chải để nhắc lại sự tích mối nhân duyên giữa nhà vua họ Lý và công chúa thủy cung, tuy không thành nhưng xen đầy huyền bí. Theo nghĩa đó, Lễ hội cũng là dịp để các đôi trai gái trong làng hẹn hò kết duyên lứa đôi…

Các cụ bô lão trong làng làm lễ

Theo thông lệ, Hội bơi được tổ chức trong 3 ngày từ ngày 13 đến 15 tháng 8 âm lịch. Ngày đầu là bơi thờ, tức làm lễ khai quang chải (các cụ bô lão bơi vòng quanh cây nêu một vòng), ngày thứ hai là bơi lèo (giải vòng loại để chọn các đội xuất sắc vào vòng chung kết) và ngày thứ ba là bơi giải để xác định các đội đoạt giải.

Trong lễ mở hội, các cụ bô lão xuất hiện với trang phục áo dài đỏ, đội khăn xếp vàng, dây đai lưng màu và bước trên chòi trống hình tám mắt in trên thuyền rồng có kết hoa và giải lụa vòng quanh. Sau đó, cụ cả Trượng sẽ đánh hồi trống đầu với ba hồi chín tiếng. Dứt hồi trống cuộc thi bắt đầu, những cây chải rẽ sóng của 4 con thuyền lao trên mặt nước như 4 con Rồng.

Một đội chải trong lễ hội

Khoảng cách từ điểm xuất phát bơi tới đích dài một cây số, mỗi lèo sẽ bơi 3 vòng và đều chấm giải: nhất, nhì, ba, tư. Để giành chiến thắng, trước đó mỗi chải bơi phải khổ công rèn luyện để có sức khỏe dẻo dai và có tính đồng đội cao trong thi đấu.

Hội thi bơi chải không chỉ là Lễ hội mà còn là một loại hình văn hoá - thể dục thể thao rất phong phú, sôi nổi, thu hút đông đảo tầng lớp thanh thiếu niên tham gia. Ngày nay, Lễ hội bơi chải truyền thống Yên Duyên - Yên Sở không chỉ gìn giữ phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, gắn kết cộng đồng, khơi gợi lòng yêu thương quê hương đất nước mà còn mang tính giáo dục về truyền thống và nâng cao sức khoẻ cho các thế hệ thanh thiếu niên.

Related Figures

Lễ hội Đền bà Vũ tư

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 19/8- 21/8 Âm lịch Lễ hội Đền bà Vũ là một lễ hội truyền thống được tổ chức từ ngày 19 đến 21 tháng 8 ÂL tại Đền bà Vũ để tưởng nhớ bà Vũ Thị Thiết, "Người con gái Nam Xương" từng được Nguyễn Dữ chép trong "Truyền Kỳ Mạn Lục" vào thế kỷ thứ XVI. Đền Bà Vũ còn gọi là miếu vợ chàng Trương thuộc thôn Vũ Điện, xã Chân Lý, huyện Lý Nhân. Ngôi đền này cũng đã được công nhận là di tích Lịch sử - Văn hoá cấp Quốc gia tiêu biểu của tỉnh Hà Nam. Đền thờ bà Vũ Thị Thiết - "Người con gái Nam Xương", kể về một câu truyện, một truyền thuyết biểu chưng cho tấm lòng chung thuỷ, trinh tiết của người phụ nữ hay cũng chính là những bị kịch của những cuộc chiến tranh phi nghĩa. Đền Bà Vũ, thôn Vũ Điện, xã Chân Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Ngoài câu truyện truyền kỳ "Người con gái Nam Xương" của Nguyễn Dữ kể về chuyện bà Vũ Nương bị chồng nghi oan phải nhảy sông tự tử để minh oan thì theo Ngọc phả tại ngôi đền, thủa sinh thời nàng Vũ Thị Thiết đã từng giúp dân nghèo, người già, con trẻ bơ vơ vào năm vùng quê Vũ Điện , Nam Xang bị mất mùa đói kém và được người dân tôn kính. Sau khi nàng mất, nhân dân trong vùng tôn thờ nàng là thánh Mẫu và dựng đền ngay trên hương án của bà, viết thần phả thờ tự uy nghi mấy thế kỷ nay. Rước lễ trên Sông Hồng trong lễ hội đền bà Vũ Hàng năm, vào ngày mất của bà Vũ Nương (20/8 ÂL), nhân dân làng Vũ Điện lại tưng bừng mở hội tưởng nhớ và cầu mong bà phù hộ cho cuộc sống luôn an lành, may phúc dồi dào. Cũng như các lễ hội truyền thống khác, Lễ hội đền bà Vũ gồm 2 phần là phần lễ và phần hội. Phần lễ gồm: Phần tế lễ (Tế Cáo yết, tế Tam quan, tế Nữ quan); lễ rước nước, rước kiệu; lễ dâng hương, diễn xướng “Nhớ ơn Thánh mẫu” và lễ thả hoa đăng cầu siêu được thực hiện vào đêm 20/8 ÂL. Thả đèn hoa đăng lễ hội đền bà Vũ Tiếp theo phần lễ là phần hội với các trò chơi dân gian truyền thống như kéo co, cờ người, leo cầu kiều, bắt vịt ở ao đền, bịt mắt đập niêu... Ngoài việc thắp hương tưởng nhớ bà Vũ Nương, Lễ hội đền Bà Vũ được tổ chức hàng năm cũng là dịp để dân làng tạ ơn thần, phật, cầu cho "Quốc thái dân an, nhân khang, vật thịnh".

Đền Bà Vũ còn gọi là miếu vợ chàng Trương thuộc thôn Vũ Điện, xã Chân Lý, huyện Lý Nhân. Ngôi đền này cũng đã được công nhận là di tích Lịch sử - Văn hoá cấp Quốc gia tiêu biểu của tỉnh Hà Nam. Đền thờ bà Vũ Thị Thiết - "Người con gái Nam Xương", kể về một câu truyện, một truyền thuyết biểu chưng cho tấm lòng chung thuỷ, trinh tiết của người phụ nữ hay cũng chính là những bị kịch của những cuộc chiến tranh phi nghĩa.

Đền Bà Vũ, thôn Vũ Điện, xã Chân Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.

Ngoài câu truyện truyền kỳ "Người con gái Nam Xương" của Nguyễn Dữ kể về chuyện bà Vũ Nương bị chồng nghi oan phải nhảy sông tự tử để minh oan thì theo Ngọc phả tại ngôi đền, thủa sinh thời nàng Vũ Thị Thiết đã từng giúp dân nghèo, người già, con trẻ bơ vơ vào năm vùng quê Vũ Điện , Nam Xang bị mất mùa đói kém và được người dân tôn kính. Sau khi nàng mất, nhân dân trong vùng tôn thờ nàng là thánh Mẫu và dựng đền ngay trên hương án của bà, viết thần phả thờ tự uy nghi mấy thế kỷ nay.

Rước lễ trên Sông Hồng trong lễ hội đền bà Vũ

Hàng năm, vào ngày mất của bà Vũ Nương (20/8 ÂL), nhân dân làng Vũ Điện lại tưng bừng mở hội tưởng nhớ và cầu mong bà phù hộ cho cuộc sống luôn an lành, may phúc dồi dào.

Cũng như các lễ hội truyền thống khác, Lễ hội đền bà Vũ gồm 2 phần là phần lễ và phần hội. Phần lễ gồm: Phần tế lễ (Tế Cáo yết, tế Tam quan, tế Nữ quan); lễ rước nước, rước kiệu; lễ dâng hương, diễn xướng “Nhớ ơn Thánh mẫu” và lễ thả hoa đăng cầu siêu được thực hiện vào đêm 20/8 ÂL.

Thả đèn hoa đăng lễ hội đền bà Vũ

Tiếp theo phần lễ là phần hội với các trò chơi dân gian truyền thống như kéo co, cờ người, leo cầu kiều, bắt vịt ở ao đền, bịt mắt đập niêu...

Ngoài việc thắp hương tưởng nhớ bà Vũ Nương, Lễ hội đền Bà Vũ được tổ chức hàng năm cũng là dịp để dân làng tạ ơn thần, phật, cầu cho "Quốc thái dân an, nhân khang, vật thịnh".

Related Figures

Lễ hội đèn lồng Hội An

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/1- 14/1 Âm lịch Lễ hội đèn lồng Hội An là một sự kiện văn hóa, du lịch của vùng đất phố cổ nhằm tôn vinh những sản phẩm du lịch độc đáo của Hội An. Lễ hội được bắt đầu từ đêm 30 rạng sáng mùng 1 tết cho đến hết ngày 14 tháng riêng ÂL hằng năm thu hút đông đảo người dân và du khách đến tham dự. Lễ hội đèn lồng Hội An gắn liền với nghề thủ công mỹ nghệ làm đèn lồng có từ lâu đời tại đây. Hầu hết các cơ sở sản xuất đèn lồng tại Hội An đều tham gia lễ hội với những chiếc đèn có hình thù đặc biệt và màu sắc rực rỡ. Với sự xuất hiện của hàng nghìn chiếc đèn do các cửa hàng và chính quyền thành phố làm ra, lễ hội sẽ rất đặc biệt và hấp dẫn người xem. Nhiều loại hình đèn lồng rực rỡ sắc màu trong Lễ hội Cầu An Hội là điểm trung tâm của không gian lễ hội đèn lồng Hội An với sân khấu nổi trên sông Hoài được trang trí những chiếc lọng cổ tạo hình hình như một chiếc lồng đèn. Những tác phẩm này đã tôn vinh sản phẩm du lịch độc đáo của Hội An theo các chủ đề linh vật theo con giáp, hình chùa Cầu biểu tượng phố cổ Hội An, đèn kéo quân, đèn cá chép, đèn hoa hồng và trái tim dành cho mùa xuân tình yêu… Đèn lồng có mặt ở khắp mọi nơi Vào đêm khai mạc, Lễ thắp đèn được tiến hành trang trọng với các điệu dâng rượu tế trời đất. Ba ông đồ cùng với học trò sẽ làm lễ phục vụ, trải chiếu, mở giấy, cầm bút lông lớn viết ba đại tự “Xuân, Đăng, Hội” và ba chữ lớn “Hội, Đèn, Xuân”. Những chiếc lồng đèn đó sẽ được mang ra để ông Thọ sắc bùa làm lễ châm đèn các lồng đèn. Lễ rước đèn diễn ra cùng lúc trên sân khấu và dưới sông Hoài. Tại đây, các thuyền nhỏ được trang trí như một thuyền hoa rước các lồng đèn lên dự thi quanh hai bên bờ cho người xem thưởng lãm. Còn trên mặt sông, hàng nghìn hoa đăng được thả trôi làm rực sáng cả mặt nước sông Hoài. Đêm thả hoa đăng Cuối buổi lễ là Lễ thả đèn do các ông đồ và đội gia lễ ra buộc câu chúc phúc vào bong bóng bay. Tiếp đó, các thiếu nữ Hội An trong trang phục áo dài truyền thống xếp hình hoa sen, tay cầm lồng đèn phố Hội. Cầu An Hội là mặt bằng thả thiên đăng, mỗi đội hình 3 người sẽ thả 1 đèn lần lượt tiến ra bờ sông. Lễ hội sẽ kéo dài đến hết ngày 14 tháng Giêng Âm lịch và những chiếc đèn lồng đẹp nhất, độc đáo nhất sẽ do chính du khách và Ban tổ chức lễ hội bình chọn sau đó được công bố vào đêm bế mạc lễ hội.

Lễ hội đèn lồng Hội An gắn liền với nghề thủ công mỹ nghệ làm đèn lồng có từ lâu đời tại đây. Hầu hết các cơ sở sản xuất đèn lồng tại Hội An đều tham gia lễ hội với những chiếc đèn có hình thù đặc biệt và màu sắc rực rỡ. Với sự xuất hiện của hàng nghìn chiếc đèn do các cửa hàng và chính quyền thành phố làm ra, lễ hội sẽ rất đặc biệt và hấp dẫn người xem.

Nhiều loại hình đèn lồng rực rỡ sắc màu trong Lễ hội Cầu An Hội là điểm trung tâm của không gian lễ hội đèn lồng Hội An với sân khấu nổi trên sông Hoài được trang trí những chiếc lọng cổ tạo hình hình như một chiếc lồng đèn. Những tác phẩm này đã tôn vinh sản phẩm du lịch độc đáo của Hội An theo các chủ đề linh vật theo con giáp, hình chùa Cầu biểu tượng phố cổ Hội An, đèn kéo quân, đèn cá chép, đèn hoa hồng và trái tim dành cho mùa xuân tình yêu… Đèn lồng có mặt ở khắp mọi nơi Vào đêm khai mạc, Lễ thắp đèn được tiến hành trang trọng với các điệu dâng rượu tế trời đất. Ba ông đồ cùng với học trò sẽ làm lễ phục vụ, trải chiếu, mở giấy, cầm bút lông lớn viết ba đại tự “Xuân, Đăng, Hội” và ba chữ lớn “Hội, Đèn, Xuân”. Những chiếc lồng đèn đó sẽ được mang ra để ông Thọ sắc bùa làm lễ châm đèn các lồng đèn. Lễ rước đèn diễn ra cùng lúc trên sân khấu và dưới sông Hoài. Tại đây, các thuyền nhỏ được trang trí như một thuyền hoa rước các lồng đèn lên dự thi quanh hai bên bờ cho người xem thưởng lãm. Còn trên mặt sông, hàng nghìn hoa đăng được thả trôi làm rực sáng cả mặt nước sông Hoài. Đêm thả hoa đăng Cuối buổi lễ là Lễ thả đèn do các ông đồ và đội gia lễ ra buộc câu chúc phúc vào bong bóng bay. Tiếp đó, các thiếu nữ Hội An trong trang phục áo dài truyền thống xếp hình hoa sen, tay cầm lồng đèn phố Hội. Cầu An Hội là mặt bằng thả thiên đăng, mỗi đội hình 3 người sẽ thả 1 đèn lần lượt tiến ra bờ sông. Lễ hội sẽ kéo dài đến hết ngày 14 tháng Giêng Âm lịch và những chiếc đèn lồng đẹp nhất, độc đáo nhất sẽ do chính du khách và Ban tổ chức lễ hội bình chọn sau đó được công bố vào đêm bế mạc lễ hội.

Cầu An Hội là điểm trung tâm của không gian lễ hội đèn lồng Hội An với sân khấu nổi trên sông Hoài được trang trí những chiếc lọng cổ tạo hình hình như một chiếc lồng đèn. Những tác phẩm này đã tôn vinh sản phẩm du lịch độc đáo của Hội An theo các chủ đề linh vật theo con giáp, hình chùa Cầu biểu tượng phố cổ Hội An, đèn kéo quân, đèn cá chép, đèn hoa hồng và trái tim dành cho mùa xuân tình yêu…

Đèn lồng có mặt ở khắp mọi nơi

Vào đêm khai mạc, Lễ thắp đèn được tiến hành trang trọng với các điệu dâng rượu tế trời đất. Ba ông đồ cùng với học trò sẽ làm lễ phục vụ, trải chiếu, mở giấy, cầm bút lông lớn viết ba đại tự “Xuân, Đăng, Hội” và ba chữ lớn “Hội, Đèn, Xuân”. Những chiếc lồng đèn đó sẽ được mang ra để ông Thọ sắc bùa làm lễ châm đèn các lồng đèn.

Lễ rước đèn diễn ra cùng lúc trên sân khấu và dưới sông Hoài. Tại đây, các thuyền nhỏ được trang trí như một thuyền hoa rước các lồng đèn lên dự thi quanh hai bên bờ cho người xem thưởng lãm. Còn trên mặt sông, hàng nghìn hoa đăng được thả trôi làm rực sáng cả mặt nước sông Hoài.

Đêm thả hoa đăng

Cuối buổi lễ là Lễ thả đèn do các ông đồ và đội gia lễ ra buộc câu chúc phúc vào bong bóng bay. Tiếp đó, các thiếu nữ Hội An trong trang phục áo dài truyền thống xếp hình hoa sen, tay cầm lồng đèn phố Hội. Cầu An Hội là mặt bằng thả thiên đăng, mỗi đội hình 3 người sẽ thả 1 đèn lần lượt tiến ra bờ sông.

Lễ hội sẽ kéo dài đến hết ngày 14 tháng Giêng Âm lịch và những chiếc đèn lồng đẹp nhất, độc đáo nhất sẽ do chính du khách và Ban tổ chức lễ hội bình chọn sau đó được công bố vào đêm bế mạc lễ hội.

Related Figures

Lễ hội Khán hoa mẫu đơn chùa Phật Tích

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 4/1- 8/1 Âm lịch Lễ hội Khán hoa mẫu đơn chùa Phật Tích là một lễ hội lớn của tỉnh Bắc Ninh được tổ chức từ ngày 4 đến 8 tháng riêng ÂL hằng năm tại chùa Phật Tích, xã Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Lễ hội Khán hoa mẫu đơn chùa Phật Tích là một trong những lễ hội lớn của tỉnh Bắc Ninh, khai hội ngay sau tết Nguyên Đán và là lễ hội sớm nhất trong các lễ hội diễn ra trong năm của tỉnh. Đây là lễ hội có từ lâu đời gắn liền với chùa Phật Tích. Chùa Phật Tích Việc tổ chức lễ hội nhằm tạo không khí thi đua sôi nổi trong quần chúng nhân dân, khơi dậy lòng tự hào của người dân về di sản văn hóa; đồng thời cổ vũ động viên nhân dân thi đua yêu nước, hoàn thành mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội. Lễ hội Khán mẫu đơn chùa Phật Tích đã tồn tại và phát triển hàng nghìn năm, gắn liền với ngôi chùa Phật Tích có bề dày lịch sử và chiều sâu tâm linh, nơi khởi nguồn của Phật giáo Việt Nam với câu chuyện tình cảm động "Từ Thức gặp tiên". Vườn hoa mẫu đơn chùa Phật Tích Theo truyền thuyết, xưa kia, vùng núi Phật Tích và khu vườn chùa Phật Tích trồng rất nhiều hoa mẫu đơn. Hàng năm, mỗi độ xuân về hoa mẫu đơn nở đỏ rực cả một góc trời thu hút đông đảo mọi người đổ về đây trảy hội ngắm hoa vãn cảnh chùa. Trên trời, nàng tiên Giáng Hương thấy cảnh trần gian tuyệt đẹp nên đã giáng trần dự hội chùa. Nhưng tại đây nàng vô tình làm gãy một cành hoa mẫu đơn giữa cửa chùa và bị chú tiểu giữ lại. Chàng Từ Thức bèn cởi áo khoác xin chuộc tội cho nàng. Cảm động chàng trai hào hoa phong nhã, nàng Giáng Hương đã ngỏ lời hò hẹn với chàng và đã mời chàng về chốn “bồng lai” xin kết duyên vợ chồng. Từ đó câu chuyện tình thơ mộng “Từ Thức gặp tiên” đã gắn liền với lễ hội Khán hoa mẫu đơn của chùa Phật Tích. Người dân đổ về chùa Phật Tích Cũng như các lễ hội truyền thống khác, Lễ hội Khán hoa mẫu đơn chùa Phật Tích diễn ra gồm 2 phần là phần lễ và phần hội. Phần lễ gồm hoạt động dâng hương tại những nơi thờ tự, tín ngưỡng và tổ chức Pháp hội đại bi cầu Quốc thái dân an, cầu bình an cho nhân dân, phật tử vào tối ngày mùng 5. Tiếp theo phần lễ là phần hội với nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ sôi nổi như hát Quan họ, Ca trù, Chầu văn, Xẩm..., tổ chức chơi trò chơi dân gian như cờ tướng, chọi gà, vật truyền thống nhằm tạo không khí tưng bừng và thi đua sôi nổi trong nhân dân. Lễ hội Khán hoa mẫu đơn chùa Phật Tích được tổ chức hằng năm đã góp phần tạo điểm nhấn hấp dẫn du khách khắp nơi về dự hội, đồng thời quảng bá khu du lịch tâm linh chùa Phật Tích, góp phần thu hút các nguồn đầu tư phát triển kinh tế xã hội ở địa phương.

Lễ hội Khán hoa mẫu đơn chùa Phật Tích là một trong những lễ hội lớn của tỉnh Bắc Ninh, khai hội ngay sau tết Nguyên Đán và là lễ hội sớm nhất trong các lễ hội diễn ra trong năm của tỉnh. Đây là lễ hội có từ lâu đời gắn liền với chùa Phật Tích.

Chùa Phật Tích

Việc tổ chức lễ hội nhằm tạo không khí thi đua sôi nổi trong quần chúng nhân dân, khơi dậy lòng tự hào của người dân về di sản văn hóa; đồng thời cổ vũ động viên nhân dân thi đua yêu nước, hoàn thành mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội. Lễ hội Khán mẫu đơn chùa Phật Tích đã tồn tại và phát triển hàng nghìn năm, gắn liền với ngôi chùa Phật Tích có bề dày lịch sử và chiều sâu tâm linh, nơi khởi nguồn của Phật giáo Việt Nam với câu chuyện tình cảm động "Từ Thức gặp tiên".

Vườn hoa mẫu đơn chùa Phật Tích

Theo truyền thuyết, xưa kia, vùng núi Phật Tích và khu vườn chùa Phật Tích trồng rất nhiều hoa mẫu đơn. Hàng năm, mỗi độ xuân về hoa mẫu đơn nở đỏ rực cả một góc trời thu hút đông đảo mọi người đổ về đây trảy hội ngắm hoa vãn cảnh chùa. Trên trời, nàng tiên Giáng Hương thấy cảnh trần gian tuyệt đẹp nên đã giáng trần dự hội chùa. Nhưng tại đây nàng vô tình làm gãy một cành hoa mẫu đơn giữa cửa chùa và bị chú tiểu giữ lại. Chàng Từ Thức bèn cởi áo khoác xin chuộc tội cho nàng. Cảm động chàng trai hào hoa phong nhã, nàng Giáng Hương đã ngỏ lời hò hẹn với chàng và đã mời chàng về chốn “bồng lai” xin kết duyên vợ chồng. Từ đó câu chuyện tình thơ mộng “Từ Thức gặp tiên” đã gắn liền với lễ hội Khán hoa mẫu đơn của chùa Phật Tích.

Người dân đổ về chùa Phật Tích

Cũng như các lễ hội truyền thống khác, Lễ hội Khán hoa mẫu đơn chùa Phật Tích diễn ra gồm 2 phần là phần lễ và phần hội. Phần lễ gồm hoạt động dâng hương tại những nơi thờ tự, tín ngưỡng và tổ chức Pháp hội đại bi cầu Quốc thái dân an, cầu bình an cho nhân dân, phật tử vào tối ngày mùng 5.

Tiếp theo phần lễ là phần hội với nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ sôi nổi như hát Quan họ, Ca trù, Chầu văn, Xẩm..., tổ chức chơi trò chơi dân gian như cờ tướng, chọi gà, vật truyền thống nhằm tạo không khí tưng bừng và thi đua sôi nổi trong nhân dân.

Lễ hội Khán hoa mẫu đơn chùa Phật Tích được tổ chức hằng năm đã góp phần tạo điểm nhấn hấp dẫn du khách khắp nơi về dự hội, đồng thời quảng bá khu du lịch tâm linh chùa Phật Tích, góp phần thu hút các nguồn đầu tư phát triển kinh tế xã hội ở địa phương.

Related Figures

Lễ hội đền Vạn - Cửa Rào

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 20/1- 21/1 Âm lịch Lễ hội đền Vạn - Cửa Rào là một Lễ hội văn hoá truyền thống được tổ chức từ ngày 20 đến 21 tháng riêng ÂL hằng năm tại Di tích lịch sử văn hoá Đền Vạn - Cửa Rào thuộc xã Xá Lượng, huyện miền núi cao Tương Dương, tỉnh Nghệ An. Đền Vạn là một di tích đẹp lại toạ lạc trên một địa thế hùng vĩ ở Tương Dương. Đền nằm trên một ngọn đồi giữa hai dòng sông Nậm Nơn và Nậm Mộ, phía trước là dòng sông Lam như dải lụa đào, xung quanh bao phủ núi non trùng điệp tạo nên một phong cảnh đẹp và hài hòa với thiên nhiên. Từ lâu, Di tích lịch sử văn hoá - danh thắng đền Vạc - Cửa Rào đã để lại biết bao ấn tượng cho từng du khách, mỗi khi đến đây vãn cảnh đền. Sông nước Tương Dương mùa lễ Đền Vạn Lễ hội đền Vạn được tổ chức hằng năm nhằm tưởng nhớ công ơn của Đốc tướng Đoàn Nhữ Hài (SN 1280) và các tướng sỹ thời Trần đầu thế kỷ XIV đã phụng mệnh Thượng hoàng Trần Nhân Tông đến dẹp giặc Ai Lao quấy nhiễu bờ cõi Tây Nam và đã tử trận tại đây. Rước kiệu vào đền trong không khí trang nghiêm Cũng như các lễ hội truyền thống khác, lễ hội đền Vạc - Cửa Rào gồm hai phần là phần lễ và phần hội. Phần lễ được tổ chức trang trọng và uy nghiêm với các nghi lễ truyền thống như lễ khai quang; lễ yết cáo; lễ mổ trâu khao quân; lễ rước với các đội rước kiệu, linh ngai, bài vị và những mâm cỗ do đồng bào các dân tộc Kinh, Thái, Khơ mú… sinh sống trên địa bàn Tương Dương cung tiến… Đoàn lễ vật của các bản làng thể hiện lòng tri ân đến các bậc tiền nhân. Tiếp theo phần lễ là phần hội với nhiều trò chơi dân gian, thể thao truyền thống như bắn nỏ, kéo co, đẩy gậy đánh đu, ném còn, nhảy sạp, thi viết chữ lai pao, đi cà kheo, chọi gà, đua thuyền, trưng bày hàng thổ cẩm cùng các chương trình văn nghệ đặc sắc với các tiết mục múa dân gian, thi hát dân ca các dân tộc, thổi khèn bè, khèn mông... Với nhiều hoạt động phong phú đặc sắc và đầy ý nghĩa, Lễ hội Đền Vạn - Cửa Rào là nơi thể hiện tinh thần đoàn kết của đồng bào các dân tộc sinh sống trên đất Tương Dương, là nơi tụ hội những nét đẹp truyền thống của cộng đồng và bảo tồn bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc nơi đây.

Đền Vạn là một di tích đẹp lại toạ lạc trên một địa thế hùng vĩ ở Tương Dương. Đền nằm trên một ngọn đồi giữa hai dòng sông Nậm Nơn và Nậm Mộ, phía trước là dòng sông Lam như dải lụa đào, xung quanh bao phủ núi non trùng điệp tạo nên một phong cảnh đẹp và hài hòa với thiên nhiên. Từ lâu, Di tích lịch sử văn hoá - danh thắng đền Vạc - Cửa Rào đã để lại biết bao ấn tượng cho từng du khách, mỗi khi đến đây vãn cảnh đền.

Sông nước Tương Dương mùa lễ Đền Vạn

Lễ hội đền Vạn được tổ chức hằng năm nhằm tưởng nhớ công ơn của Đốc tướng Đoàn Nhữ Hài (SN 1280) và các tướng sỹ thời Trần đầu thế kỷ XIV đã phụng mệnh Thượng hoàng Trần Nhân Tông đến dẹp giặc Ai Lao quấy nhiễu bờ cõi Tây Nam và đã tử trận tại đây.

Rước kiệu vào đền trong không khí trang nghiêm

Cũng như các lễ hội truyền thống khác, lễ hội đền Vạc - Cửa Rào gồm hai phần là phần lễ và phần hội. Phần lễ được tổ chức trang trọng và uy nghiêm với các nghi lễ truyền thống như lễ khai quang; lễ yết cáo; lễ mổ trâu khao quân; lễ rước với các đội rước kiệu, linh ngai, bài vị và những mâm cỗ do đồng bào các dân tộc Kinh, Thái, Khơ mú… sinh sống trên địa bàn Tương Dương cung tiến…

Đoàn lễ vật của các bản làng thể hiện lòng tri ân đến các bậc tiền nhân.

Tiếp theo phần lễ là phần hội với nhiều trò chơi dân gian, thể thao truyền thống như bắn nỏ, kéo co, đẩy gậy đánh đu, ném còn, nhảy sạp, thi viết chữ lai pao, đi cà kheo, chọi gà, đua thuyền, trưng bày hàng thổ cẩm cùng các chương trình văn nghệ đặc sắc với các tiết mục múa dân gian, thi hát dân ca các dân tộc, thổi khèn bè, khèn mông...

Với nhiều hoạt động phong phú đặc sắc và đầy ý nghĩa, Lễ hội Đền Vạn - Cửa Rào là nơi thể hiện tinh thần đoàn kết của đồng bào các dân tộc sinh sống trên đất Tương Dương, là nơi tụ hội những nét đẹp truyền thống của cộng đồng và bảo tồn bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc nơi đây.

Related Figures

Lễ hội đền Kỳ Cùng – Tả Phủ

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 22/1- 27/1 Âm lịch Lễ hội đền Kỳ Cùng – Tả Phủ là 1 trong 3 lễ hội lớn nhất năm của thành phố Lạng Sơn (Nhị - Tam Thanh; Chùa Tiên; Kỳ Cùng – Tà Phủ ). Lễ hội đền Kỳ Cùng –Tả Phủ bắt đầu từ ngày 22 đến 27 tháng Giêng âm lịch hàng năm tại hai ngôi đền là Kỳ Cùng và Tả Phủ, TP Lạng Sơn. Lễ hội đền Kỳ Cùng – Tả Phủ được tổ chức để tưởng nhớ vị quan Tuần Tranh vốn có nhiều công lao dẹp giặc nhưng bị oan khuất nên đã nhảy xuống bến đá sông Kỳ Cùng tự vẫn. Sau này, ông được vị quan nhà Lê là Thân Công Tài minh oan và được người dân tôn làm thần sông ngự tại đền Kỳ Cùng. Kiệu Long Đình của quan lớn Tuần Tranh gồm 20 nam người Tày, Nùng khiêng Để cảm tạ công lao to lớn của ông Thân Công Tài, ngày 22 tháng Giêng hàng năm, vào đúng Ngọ người dân địa phương mở hội rước bát hương ông Tuần Tranh từ đền Kỳ Cùng lên đền Tả Phủ tạ nghĩa. Ngày 27 sẽ rước kiệu quay ngược lại. Vào những ngày này, nhân dân các dân tộc sinh sống trên địa bàn thành phố Lạng Sơn cũng sẽ sắm các mâm lễ, sản vật to nhỏ bày trước cửa nhà mình cùng cùng dâng lên quan lớn Tuần Tranh khi kiệu rước qua. Kiệu Bát Cống rước ông Thân Công Tài. Trong lễ hội cũng sẽ có những màn múa rồng, múa lân, sư tử truyền thống tạo không khí náo nhiệt cho lễ hội. Theo tương truyền, nhà nào được đội múa rồng đến xông đất sẽ gặp nhiều may mắn và đến ngày 27 sẽ diễn ra lễ cướp đầu pháo, ai cướp được đầu pháo trong hội thì trong năm đó họ sẽ làm ăn buôn bán phát đạt, nhiều phúc nhiều lộc. Tương truyền, nhà nào được đội múa lân, múa rồng đến xông đất sẽ làm ăn may mắn, phát đạt trong cả năm. Sau phần lễ là phần hội với các trò chơi dân gian phong phú, sôi nổ như đẩy gậy, đánh cờ tướng, nhảy bao, bịt mắt đánh trống… cùng nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, lành mạnh và ý nghĩa khác thể hiện được tinh thần đoàn kết cộng đồng, tôn vinh được những nét đẹp truyền thống của lễ hội.

Lễ hội đền Kỳ Cùng – Tả Phủ được tổ chức để tưởng nhớ vị quan Tuần Tranh vốn có nhiều công lao dẹp giặc nhưng bị oan khuất nên đã nhảy xuống bến đá sông Kỳ Cùng tự vẫn. Sau này, ông được vị quan nhà Lê là Thân Công Tài minh oan và được người dân tôn làm thần sông ngự tại đền Kỳ Cùng.

Kiệu Long Đình của quan lớn Tuần Tranh gồm 20 nam người Tày, Nùng khiêng

Để cảm tạ công lao to lớn của ông Thân Công Tài, ngày 22 tháng Giêng hàng năm, vào đúng Ngọ người dân địa phương mở hội rước bát hương ông Tuần Tranh từ đền Kỳ Cùng lên đền Tả Phủ tạ nghĩa. Ngày 27 sẽ rước kiệu quay ngược lại. Vào những ngày này, nhân dân các dân tộc sinh sống trên địa bàn thành phố Lạng Sơn cũng sẽ sắm các mâm lễ, sản vật to nhỏ bày trước cửa nhà mình cùng cùng dâng lên quan lớn Tuần Tranh khi kiệu rước qua.

Kiệu Bát Cống rước ông Thân Công Tài.

Trong lễ hội cũng sẽ có những màn múa rồng, múa lân, sư tử truyền thống tạo không khí náo nhiệt cho lễ hội. Theo tương truyền, nhà nào được đội múa rồng đến xông đất sẽ gặp nhiều may mắn và đến ngày 27 sẽ diễn ra lễ cướp đầu pháo, ai cướp được đầu pháo trong hội thì trong năm đó họ sẽ làm ăn buôn bán phát đạt, nhiều phúc nhiều lộc.

Tương truyền, nhà nào được đội múa lân, múa rồng đến xông đất sẽ làm ăn may mắn, phát đạt trong cả năm.

Sau phần lễ là phần hội với các trò chơi dân gian phong phú, sôi nổ như đẩy gậy, đánh cờ tướng, nhảy bao, bịt mắt đánh trống… cùng nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, lành mạnh và ý nghĩa khác thể hiện được tinh thần đoàn kết cộng đồng, tôn vinh được những nét đẹp truyền thống của lễ hội.

Related Figures

Lễ hội Ná Nhèm của người Tày

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/1 Âm lịch Lễ hội Ná Nhèm là một lễ hội truyền thống đặc sắc của người Tày được tổ chức vào ngày rằm tháng giêng hằng năm tại khu vực cửa đình Làng Mỏ, xã Trấn Yên, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Theo tiếng địa phương, “Ná Nhèm” có nghĩa là bôi nhọ mặt, giấu mặt. Lễ hội Ná Nhèm được tổ chức với nhiều nghi thức, nghi lễ thờ cúng thần thành hoàng Cao Sơn, Quý Minh đại vương, thờ đức Vua Miêu Tĩnh và đức Vua Cao Quyết, gắn liền với sự tích đánh giặc giữ làng, giữ nước. Những người tham gia hoạt động lễ hội đều hóa trang mặt nhọ nên gọi là Ná Nhèm. Theo lời kể của các già làng, khi xưa có một toán giặc Tấc Tài Ngàn (hay còn gọi là giặc răng đỏ) đến chiếm đóng tại ngôi miếu thờ Thành hoàng Đức Cao Sơn ở sườn đồi Khau Dạ Háy gây hại cho dân. Chúng bắt con gái của dân làng lên giặt giũ, nấu ăn và ban đêm thắt miệng túi cho bọn chúng ngủ. Tại đây, lũ giặc làm một cái trống to, khi đêm xuống, chúng bắt các cô gái dắt dê lên mặt trống để giẫm tạo ra âm thanh dồn dập như xông trận để làm dân làng hoang mang lo sợ. Còn ban ngày, chúng xuống làng giết người, cướp bóc của cải khiến dân làng căm phẫn. Đánh trận giả trong lễ hội Để giết giặt, dân làng đã bày mưu cho các cô gái buộc miệng túi thật chặt khi bọn giặc ngủ rồi ra ám hiệu cho dân làng biết để lên diệt giặc. Sau khi quân giặc chết, dân làng quăng xác chúng xuống suối Phai Huấn. Tuy nhiên không lâu sau, trong làng xuất hiện dịch bệnh lạ, làm nhiều người và vật nuôi bị chết, nạn hạn hán xảy ra liên miên. Còn ở gần ngôi miếu nơi giặc cướp đóng quân xuất hiện một tổ ong chúa rất lớn, nếu có người và gia súc đi qua đều bị ong đốt chết. Dân làng đã mời thầy mo đến cúng và thầy mo cho cho rằng giặc chết vào giờ linh và không được cúng tế cho ăn nên chúng quậy phá. Lễ rước trong lễ hội Ná Nhèm Do đó, dân làng đã tổ chức lễ hội Ná Nhèm cúng tế Thành hoàng và tục hèm đánh trận. Lễ hội Ná Nhèm bắt đầu với các nghi thức trang trọng như nghi thức tế lễ, cúng lễ; rước long ngai, rước bài vị thần từ đình Làng Mỏ lên miếu Xa Vùn. Tiếp đó là chương trình chào mừng lễ hội và ôn lại truyền thống của lễ hội với ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Phần cuối cùng buổi lễ là tục hèm đánh trận và cung tiến lễ vật. Sau phần lễ là phần hội với nhiều trò chơi dân gian phong phú như đánh đu, kéo co, đánh cờ tướng, đẩy gậy, đặc biệt có trò diễn kén rể, kén dâu (hay còn gọi là Sỹ - Nông - Công - Thương; Ngư - Tiều - Canh - Mục).

Theo tiếng địa phương, “Ná Nhèm” có nghĩa là bôi nhọ mặt, giấu mặt. Lễ hội Ná Nhèm được tổ chức với nhiều nghi thức, nghi lễ thờ cúng thần thành hoàng Cao Sơn, Quý Minh đại vương, thờ đức Vua Miêu Tĩnh và đức Vua Cao Quyết, gắn liền với sự tích đánh giặc giữ làng, giữ nước.

Những người tham gia hoạt động lễ hội đều hóa trang mặt nhọ nên gọi là Ná Nhèm.

Theo lời kể của các già làng, khi xưa có một toán giặc Tấc Tài Ngàn (hay còn gọi là giặc răng đỏ) đến chiếm đóng tại ngôi miếu thờ Thành hoàng Đức Cao Sơn ở sườn đồi Khau Dạ Háy gây hại cho dân. Chúng bắt con gái của dân làng lên giặt giũ, nấu ăn và ban đêm thắt miệng túi cho bọn chúng ngủ. Tại đây, lũ giặc làm một cái trống to, khi đêm xuống, chúng bắt các cô gái dắt dê lên mặt trống để giẫm tạo ra âm thanh dồn dập như xông trận để làm dân làng hoang mang lo sợ. Còn ban ngày, chúng xuống làng giết người, cướp bóc của cải khiến dân làng căm phẫn.

Đánh trận giả trong lễ hội

Để giết giặt, dân làng đã bày mưu cho các cô gái buộc miệng túi thật chặt khi bọn giặc ngủ rồi ra ám hiệu cho dân làng biết để lên diệt giặc. Sau khi quân giặc chết, dân làng quăng xác chúng xuống suối Phai Huấn. Tuy nhiên không lâu sau, trong làng xuất hiện dịch bệnh lạ, làm nhiều người và vật nuôi bị chết, nạn hạn hán xảy ra liên miên. Còn ở gần ngôi miếu nơi giặc cướp đóng quân xuất hiện một tổ ong chúa rất lớn, nếu có người và gia súc đi qua đều bị ong đốt chết. Dân làng đã mời thầy mo đến cúng và thầy mo cho cho rằng giặc chết vào giờ linh và không được cúng tế cho ăn nên chúng quậy phá.

Lễ rước trong lễ hội Ná Nhèm

Do đó, dân làng đã tổ chức lễ hội Ná Nhèm cúng tế Thành hoàng và tục hèm đánh trận. Lễ hội Ná Nhèm bắt đầu với các nghi thức trang trọng như nghi thức tế lễ, cúng lễ; rước long ngai, rước bài vị thần từ đình Làng Mỏ lên miếu Xa Vùn. Tiếp đó là chương trình chào mừng lễ hội và ôn lại truyền thống của lễ hội với ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Phần cuối cùng buổi lễ là tục hèm đánh trận và cung tiến lễ vật.

Related Figures

Lễ hội Hảng Pồ của dân tộc Nùng

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 28/1- 30/1 Âm lịch Lễ hội Hảng Pồ hay còn được gọi là Lễ hội chợ tình Buôn Hồ là một lễ hội văn hóa truyền thống của người Nùng được tổ chức từ ngày 28 đến 30 tháng Giêng ÂL hằng năm tại xã Ea Siên, thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk. Lễ hội Hảng Pồ được tổ chức với mong muốn tạo cơ hội cho mọi người sau khi thu hoạch mùa màng có thời gian rảnh rỗi gặp mặt, giao lưu, tâm tư tình cảm với nhau. Trong những ngày diễn ra lễ hội sẽ có nhiều hoạt động văn hóa văn nghệ và vui chơi giải trí thu hút sự tham gia của đông đảo đồng bào dân tộc Nùng và các dân tộc khác trên địa bàn thị xã Buôn Hồ và các vùng lân cận. Người đi xem hội háo hức với các tiết mục thi múa sư tử Lễ hội được bắt đầu từ sáng 28 tháng riêng ÂL mở đầu với các tiết mục hát lượn, hát sli, đàn tính, múa sư tử do các diễn viên quần chúng của địa phương trong trang phục truyền thống biểu diễn. Tiếp đó là các nghi thức tín ngưỡng của lễ cúng cầu mùa của thầy cúng. Biểu diễn đàn tính, hát then Lễ hội Hảng Pồ của đồng bào Nùng ở Buôn Hồ còn là nét đẹp của văn hóa tình người bởi trong suốt cả năm do bận việc lao động sản xuất nên người dân thường không có dịp để gặp mặt nhau. Do đó sau khi xong mùa vụ, vào mỗi dịp cuối tháng riêng người dân sẽ tổ chức lễ hội Hảng Pồ với mục đích để mọi người gặp mặt, giao lưu, tâm tư tình cảm với nhau ở nơi đồi cao này. Trong lễ hội, những người bà con gặp nhau đều tay bắt mặt mừng, tâm sự đầu xuân, chúc tụng nhau một năm mới may mắn, an lành rồi mời nhau cùng ăn uống vui chơi, những chàng trai chưa vợ, những cô gái chưa chồng thì qua lễ hội Hảng Pồ sẽ có dịp làm quen, tìm hiểu nhau và có cặp đôi đã nên duyên vợ chồng. Ý nghĩa cơ bản của lễ hội Hảng Pồ là mọi người được trao nhận, gửi gắm tình cảm và những mong muốn cao đẹp đến với mọi người do vậy nó còn được gọi là lễ hội Chợ tình. Đông đảo dân tộc Nùng cùng nhiều dân tộc anh em trên địa bàn và vùng lân cận tham dự Trong những ngày diễn ra lễ hội, những người Nùng từ già đến trẻ nhỏ đều vui vẻ, trong làng dù nhà giàu hay nghèo cũng tất bật chuẩn bị thịt heo quay và mấy vò rượu để tiếp khách đến thăm. Theo người dân quan niệm, nếu nhà nào được nhiều người đến chơi thì trong năm đó gia đình này sẽ gặp nhiều may mắn, hạnh phúc.

Lễ hội Hảng Pồ được tổ chức với mong muốn tạo cơ hội cho mọi người sau khi thu hoạch mùa màng có thời gian rảnh rỗi gặp mặt, giao lưu, tâm tư tình cảm với nhau. Trong những ngày diễn ra lễ hội sẽ có nhiều hoạt động văn hóa văn nghệ và vui chơi giải trí thu hút sự tham gia của đông đảo đồng bào dân tộc Nùng và các dân tộc khác trên địa bàn thị xã Buôn Hồ và các vùng lân cận.

Người đi xem hội háo hức với các tiết mục thi múa sư tử

Lễ hội được bắt đầu từ sáng 28 tháng riêng ÂL mở đầu với các tiết mục hát lượn, hát sli, đàn tính, múa sư tử do các diễn viên quần chúng của địa phương trong trang phục truyền thống biểu diễn. Tiếp đó là các nghi thức tín ngưỡng của lễ cúng cầu mùa của thầy cúng.

Biểu diễn đàn tính, hát then

Lễ hội Hảng Pồ của đồng bào Nùng ở Buôn Hồ còn là nét đẹp của văn hóa tình người bởi trong suốt cả năm do bận việc lao động sản xuất nên người dân thường không có dịp để gặp mặt nhau. Do đó sau khi xong mùa vụ, vào mỗi dịp cuối tháng riêng người dân sẽ tổ chức lễ hội Hảng Pồ với mục đích để mọi người gặp mặt, giao lưu, tâm tư tình cảm với nhau ở nơi đồi cao này. Trong lễ hội, những người bà con gặp nhau đều tay bắt mặt mừng, tâm sự đầu xuân, chúc tụng nhau một năm mới may mắn, an lành rồi mời nhau cùng ăn uống vui chơi, những chàng trai chưa vợ, những cô gái chưa chồng thì qua lễ hội Hảng Pồ sẽ có dịp làm quen, tìm hiểu nhau và có cặp đôi đã nên duyên vợ chồng. Ý nghĩa cơ bản của lễ hội Hảng Pồ là mọi người được trao nhận, gửi gắm tình cảm và những mong muốn cao đẹp đến với mọi người do vậy nó còn được gọi là lễ hội Chợ tình.

Đông đảo dân tộc Nùng cùng nhiều dân tộc anh em trên địa bàn và vùng lân cận tham dự

Trong những ngày diễn ra lễ hội, những người Nùng từ già đến trẻ nhỏ đều vui vẻ, trong làng dù nhà giàu hay nghèo cũng tất bật chuẩn bị thịt heo quay và mấy vò rượu để tiếp khách đến thăm. Theo người dân quan niệm, nếu nhà nào được nhiều người đến chơi thì trong năm đó gia đình này sẽ gặp nhiều may mắn, hạnh phúc.

Related Figures

Lễ hội hẹn ước ven sông Đáy

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 13/3 Âm lịch Lễ hội hẹn ước ven sông Đáy là một lễ hội độc đáo giữa hai làng Nam Dương, thuộc huyện Ứng Hòa và làng Văn Giang, thuộc huyện Mỹ Đức, Hà Nội, được tổ chức luân phiên 3 năm 1 lần giữa hai làng vào ngày 13/3 âm lịch hằng năm. Đây là một Lễ hội có phát tích từ lời thề ước của cha ông ngàn xưa để lại, cho đến nay vẫn được con cháu ghi nhớ và tưởng niệm. Cũng như các lễ hội truyền thống khác, Lễ hội hẹn ước ven sông Đáy của 2 làng Nam Dương và Văn Giang diễn ra gồm 2 phần gồm phần Lễ và phần Hội. Nghi thức lễ rước là nội dung chính của lễ hội Nghi thức lễ rước là nghi lễ chính của lễ hội, được đội thanh niên trai tráng trong làng với trang phục truyền thống và sử dụng thuyền rồng đưa các kiệu rước sang sông tới đình làng bên kia. Trước đó, họ đã được giao nhiệm vụ trang trí, chỉnh sửa lại thuyền rồng sao cho trang trọng, sạch đẹp và phù hợp với nghi lễ. Trong ngày lễ, đội ngũ thuyền rồng sẽ phấp phới cờ bay trên sông nước để cho bà con dân chúng càng thêm tự hào về lễ hội quê mình. Lễ rước trên sông Đáy Khi đến đình làng, đoàn rước sẽ dừng ở cửa đình và đặt các kiệu, ngai vào vị trí quy định; sau đó là nghi lễ rước tượng Thánh Mẫu vào ban công đồng ở tiền bái, rước bát hương Đức Thánh Ông và 2 bát hương Đức Thánh Tử vào vị trí theo quy định. Sau khi làm lễ dâng hương tại đình làng bạn, theo thông lệ của hai làng trước đây, chủ tế của đình làng đăng cai tổ chức Lễ hội sẽ đọc lại lời răn dạy của cha ông trong tấm bia để lại để con cháu đời đời sau ghi tạc công lao đó của cha ông. Sau khi tế lễ được hoàn thành, đội rước kiệu sẽ rước kiệu Thánh, Đức Thánh Mẫu, ảnh Bác Hồ về đình làng mình. Nghi lễ cúng tế tại đền làng Sau phần Lễ là phần hội được tổ chức đông vui và thu hút tất cả dân chúng hai làng với những trò chơi dân gian vẫn còn được lưu giữ đến ngày nay như đập niêu, đấu vật, kéo co... Sau khi lễ hội kết thúc, các bô lão của làng Nam Dương và Văn Giang cùng người dân và khách thập phương sẽ tập trung hưởng lộc ở ngoài đình.

Related Figures

Bắn pháo hoa đêm giao thừa hàng năm

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 29/12- 30/12 Âm lịch lehoi.info - Hằng năm, các tỉnh thành trên cả nước tổ chức bắn pháo hoa để chào đón năm mới. Tết Nguyên Đán (hay còn gọi là Tết ta, Tết Âm lịch) là tục lệ tổ chức một năm mới, với sự đầm ấm xum họp của gia đình. Ngày trước, cứ dịp Tết đến Xuân về là nhà nhà lại tổ chức đốt pháo chào Năm mới. Đối với họ, việc đốt pháo không chỉ là tạo niềm vui tiếng cười cho gia đình mà còn đem lại may mắn cho năm tới. Nếu như việc đốt pháo không suôn sẻ thì năm đó làm ăn cũng không tốt lắm. Hiện nay, việc đốt pháo được thay bằng đốt pháo hoa. Pháo hoa với đủ loại màu sắc rực rỡ được thả bắn lên bầu trời đêm giao thừa thật là tuyệt đẹp. Tại các tỉnh thành trên cả nước, việc bắn pháo hoa đã ngày càng nhân rộng và phổ biến. Các chương trình mừng Tết Nguyên Đán thường diễn ra trước khi màn pháo hoa bắt đầu vào đúng 12 giờ đêm mùng 1. Quả thật là một đêm vô cùng náo nhiệt với những ai đươc ra tận nơi xem pháo hoa. Đồng thời, với những người không có điều kiện ra địa điểm bắn cũng có thể xem pháo hoa trên TV cũng không kém phần hấp dẫn. Dưới đây là một số hình ảnh về đêm pháo hoa tại các tỉnh thành trên cả nước. Bắn pháo hoa đêm giao thừa tại Hà Nội Gồm có tất cả 29 điểm, trong đó có 4 điểm tầm cao và 25 điểm tầm thấp với thời lượng 15 phút. Bắn pháo hoa đêm giao thừa tại Hồ Gươm, TP. Hà Nội Cụ thể hơn là bắn pháo hoa tầm cao tại 4 điểm gồm điểm số 1 tại hồ Hoàn Kiếm có 2 trận địa bắn pháo hoa trước Bưu điện Hà Nội và trước trụ sở Báo Hà Nội mới; thứ 2 là điểm tại Công viên Thống Nhất (quận Hai Bà Trưng); quận Tây Hồ có một điểm bắn pháo hoa tại Vườn hoa Nguyễn Hoàng Tôn; điểm còn lại tại hồ Văn Quán (Khu đô thị Văn Quán, phường Văn Quán, quận Hà Đông). Tại TP. HCM Không kém phần đặc sắc, lễ hội Tết tại trung tâm TP. HCM sẽ diễn ra 6 chương trình lớn là: Đường hoa Nguyễn Huệ 2012, Ngày hội bánh tét, Bắn pháo hoa đếm giao thừa, "Phố tỏa sáng", "Khoảnh khắc đón năm mới 2012" và trang hoàng "Mặt Phố Tết" và biểu diễn Doorshows. Trong đó các màn bắn pháo hoa nhân dịp năm mới được người dân chờ đợi. Tết Âm lịch năm nay tại TP. HCM có tổ chức bắn pháo hoa, trong đó tại cửa hầm Thủ Thiêm -- quận 2 tổ chức bắn pháo hoa tầm cao và tại Công viên Văn hóa Đầm Sen tổ chức bắn pháo hoa tầm thấp. Các điểm bắn pháo hoa diễn ra trong thời lượng 15 phút trong đêm giao thừa. Tại khu vực trung tâm thành phố diễn ra nhiều chương trình nghệ thuật như: biểu diễn nghệ thuật ánh sáng, ca múa nhạc ngoài trời,... Bắn pháo hoa đêm giao thừa tại TP. HCM Tại Đắk Lắk, màn bắn pháo hoa chào đón Tết Nguyên Đán Nhâm Thìn cũng diễn ra trong một bầu không khí vô cùng vui tươi, lành mạnh, phấn khởi lại vô cùng an toàn và tiết kiệm cho đồng bào các dân tộc trong tỉnh nhân dịp năm mới. Bắn pháo hoa đêm giao thừa tại Đăk Lăk (lehoi.info) Tổng hợp

Related Figures

Lễ hội văn hóa dân gian Phố Hiến

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 6/3- 8/3 Âm lịch Lễ hội văn hóa dân gian Phố Hiến là một lễ hội lớn của tỉnh Hưng Yên được diễn ra từ ngày mùng 6 đến mùng 8 tháng 3 Âm lịch hàng năm. Lễ hội được tổ chức trong không gian văn hóa cổ xưa tại các di tích lịch sử đền Mẫu, đền Trần, đình - chùa Hiến, đền Thiên Hậu, chùa Chuông, Văn Miếu..., với sự tham gia của 12 xã, phường thuộc thành phố Hưng Yên. Phố Hiến xưa từng được sánh ngang với kinh thành Thăng Long với câu ca dao "thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến". Đây từng là nơi giao thương của hơn 10 nước trên thế giới: Anh, Pháp, Nhật Bản, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Trung Hoa... với cảnh buôn bán tấp nập trên bến dười thuyền. Và bên cạnh các hoạt động thương mại, những thương nhân ngoại quốc khi đến đây đã mang đến Phố Hiến những phong tục tập quán, kiến trúc mang bản sắc văn hóa riêng của từng quốc gia, từng dân tộc. Điều này đã khiến Phố Hiến vừa là điểm hội tụ vừa là điểm giao thoa giữa các nền văn hóa, góp phần hình thành nên nét văn hóa đặc sắc riêng của đất và người Phố Hiến. Chùa Nôm, một danh thắng ở phố Hiến Ngày nay, Phố Hiến đã trở thành nơi bảo lưu gần như nguyên vẹn những di tích lịch sử có kiến trúc độc đáo và những tín ngưỡng, phong tục, tập quán riêng của thương cảng sầm uất một thời. Lễ hội văn hóa dân gian phố Hiến được chia làm 2 phần là phần Lễ và phần Hội. Trong phần Lễ, các nghi lễ được tổ chức long trọng và trang nghiêm như lễ dâng hương, lễ cầu an, lễ rước kiệu... nhằm mục đích khôi phục, phát huy các giá trị lịch sử, văn hóa truyền thống và các hoạt động văn hóa tín ngưỡng ở các đình, đền, chùa... trong khu phố Hiến. Điểm đặc sắc nhất trong lễ hội là phần rước kiệu với đoàn rước hàng nghìn người trong trang phục truyền thống rước kiệu trên một đoạn đường dài 2km, qua các tuyến phố chính và các đình, đền, chùa trong thành phố. Các nghi lễ trên đã thể hiện niềm tin, lòng kính trọng, và tôn thờ đối với những vị tiên, Phật, những vị thánh, những anh hùng dân tộc đã có công khai phá và bảo vệ đất nước, tạo nên cuộc sống yên vui cho thế hệ hôm nay và mai sau. Múa rồng, múa lân trong lễ hội phố Hiến Sau phần Lễ là phần Hội với các trò chơi dân gian được tổ chức náo nhiệt, thu hút đông đảo người dân và du khách thập phương tham gia như: Đua thuyền trên hồ Bán Nguyệt, đi cầu kiều, chơi kéo co, chọi gà... Đây là những trò chơi này đã được người dân Phố Hiến bảo lưu, gìn giữ và truyền qua các thế hệ, góp phần khắc họa sinh động cảnh Phố Hiến tấp nập, hưng thịnh một thời. Ngoài ra trong lễ hội còn tổ chức một số các hoạt động văn hóa nghệ thuật khác như hát ca trù, trống quân; hội thi thả diều sáo, tổ chức trưng bày, giới thiệu đặc sản vùng Phố Hiến; trưng bày, giới thiệu cổ vật… thu hút đông đảo người dân và du khách tham gia. Hát ca trù trên hồ Bán Nguyệt Đắm mình trong không khí của lễ hội văn hóa dân gian phố Hiến, du khách sẽ được tìm hiểu sâu thêm về truyền thống dân tộc, khơi dậy lòng tự hào tự tôn dân tộc trong ý thức của mỗi người. Ngoài ra, khi đến đây du khách còn được khám phá những nét độc đáo riêng về ẩm thực, nghệ thuật truyền thống và các trò chơi dân gian độc đáo của vùng đất “Tiểu Tràng An” xưa. Đây cũng là một cơ hội lớn để tỉnh Hưng Yên quảng bá tiềm năng, đẩy mạnh phát triển các hoạt động du lịch, dịch vụ gắn với các di tích lịch sử, lễ hội…

Related Figures

Lễ hội Bạch Đằng tại Quảng Ninh

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 6/3- 8/3 Âm lịch Lễ hội Bạch Đằng còn được gọi là ngày giỗ trận, được tổ chức vào ngày mùng 6 đến ngày mùng 8 tháng 3 (âm lịch) hàng năm, có năm kéo dài tới bốn ngày đêm. Lễ hội được tổ chức tại đền thờ Trần Hưng Đạo bên cạnh dòng sông Bạch Đằng lịch sử. Lễ hội Bạch Đằng tại Quảng Ninh. Không gian lễ hội diễn ra ở nhiều nơi như: miếu Vua Bà, đền Trần Hưng Đạo, đình Yên Giang thuộc trung tâm lễ hội, ngoài ra còn ở các đền Trung Cốc, đình Điền Công, đình Trung Bản. Lễ hội tổ chức nhằm kỷ niệm chiến thắng Bạch Đằng của những người anh hùng dân tộc chống giặc ngoại xâm: Ngô Quyền (năm 938), Lê Hoàn (năm 981), Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và các danh tướng nhà Trần (năm 1288). Lễ hội Bạch Đằng diễn ra trên vùng đất cổ với bao chứng tích hào hùng lịch sử, thu hút hàng vạn người dân khắp vùng châu thổ sông Hồng về dự. Lễ hội tổ chức nhằm kỷ niệm chiến thắng Bạch Đằng của những người anh hùng dân tộc chống giặc ngoại xâm: Ngô Quyền, Lê Hoàn, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và các danh tướng nhà Trần. Vào ngày này diễn ra nghi lễ rước Đức Thánh Trần từ đền Bạch Đằng Linh Từ về đình Yên Giang sau đó lại đưa ngược lại từ đình về đền với nhiều nghi thức long trọng. Sau phần lễ là những trò chơi ôn lại những chiến công hiển hách trên sông Bạch Đằng như đua thuyền chải, diễn xướng về chiến trận Bạch Đằng: cắm cọc trên sông Bạch Đằng, lễ dâng lịch con nước triều, kế phát hoả, …. Vào ngày chính hội (giỗ thắng trận mùng 8/4), tại đền Trần Hưng Đạo, miếu Vua Bà gồm có: lễ tế, lễ rước tượng Trần Hưng Đạo, diễn trò tái hiện cuộc tập trận của quân dân nhà Trần, diễn xướng truyền thống Bạch Đằng, hội bơi truyền thống Bạch Đằng, cờ người, đấu vật, … Lễ hội Bạch Đằng là một hội lớn và thiêng liêng, có nhiều vị lãnh đạo nhà nước đến tham dự. Tục bơi trải trong lễ hội là một nghi lễ quan trọng Tục bơi trải trong lễ hội là một nghi lễ quan trọng. Trên dòng sông lớn, tiếng hò reo của người dự hội trên bờ sông, cuộc đua tài của nhiều thuyền đua hình lá tre lao vun vút như làm sống dậy âm hưởng của trận chiến năm xưa. Các trò chơi dân gian cũng được tổ chức ở nhiều nơi như chọi gà, đấu vật, đánh cờ người.

Lễ hội Bạch Đằng còn được gọi là ngày giỗ trận, được tổ chức vào ngày mùng 6 đến ngày mùng 8 tháng 3 (âm lịch) hàng năm, có năm kéo dài tới bốn ngày đêm. Lễ hội được tổ chức tại đền thờ Trần Hưng Đạo bên cạnh dòng sông Bạch Đằng lịch sử.

Lễ hội Bạch Đằng tại Quảng Ninh.

Không gian lễ hội diễn ra ở nhiều nơi như: miếu Vua Bà, đền Trần Hưng Đạo, đình Yên Giang thuộc trung tâm lễ hội, ngoài ra còn ở các đền Trung Cốc, đình Điền Công, đình Trung Bản.

Lễ hội tổ chức nhằm kỷ niệm chiến thắng Bạch Đằng của những người anh hùng dân tộc chống giặc ngoại xâm: Ngô Quyền (năm 938), Lê Hoàn (năm 981), Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và các danh tướng nhà Trần (năm 1288).

Lễ hội Bạch Đằng diễn ra trên vùng đất cổ với bao chứng tích hào hùng lịch sử, thu hút hàng vạn người dân khắp vùng châu thổ sông Hồng về dự.

Lễ hội tổ chức nhằm kỷ niệm chiến thắng Bạch Đằng của những người anh hùng dân tộc chống giặc ngoại xâm: Ngô Quyền, Lê Hoàn, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và các danh tướng nhà Trần.

Vào ngày này diễn ra nghi lễ rước Đức Thánh Trần từ đền Bạch Đằng Linh Từ về đình Yên Giang sau đó lại đưa ngược lại từ đình về đền với nhiều nghi thức long trọng. Sau phần lễ là những trò chơi ôn lại những chiến công hiển hách trên sông Bạch Đằng như đua thuyền chải, diễn xướng về chiến trận Bạch Đằng: cắm cọc trên sông Bạch Đằng, lễ dâng lịch con nước triều, kế phát hoả, ….

Vào ngày chính hội (giỗ thắng trận mùng 8/4), tại đền Trần Hưng Đạo, miếu Vua Bà gồm có: lễ tế, lễ rước tượng Trần Hưng Đạo, diễn trò tái hiện cuộc tập trận của quân dân nhà Trần, diễn xướng truyền thống Bạch Đằng, hội bơi truyền thống Bạch Đằng, cờ người, đấu vật, … Lễ hội Bạch Đằng là một hội lớn và thiêng liêng, có nhiều vị lãnh đạo nhà nước đến tham dự.

Tục bơi trải trong lễ hội là một nghi lễ quan trọng

Tục bơi trải trong lễ hội là một nghi lễ quan trọng. Trên dòng sông lớn, tiếng hò reo của người dự hội trên bờ sông, cuộc đua tài của nhiều thuyền đua hình lá tre lao vun vút như làm sống dậy âm hưởng của trận chiến năm xưa. Các trò chơi dân gian cũng được tổ chức ở nhiều nơi như chọi gà, đấu vật, đánh cờ người.

Related Figures

Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 18/3- 20/3 Âm lịch Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa là một lễ hội truyền thống được nhân dân huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi duy trì hàng trăm năm nay nhằm thể hiện lòng biết ơn của người dân đối với những người lính biển. Theo truyền thuyết, thủa ban đầu khi mới thành lập Đội Hoàng Sa, cứ hàng năm người dân ở đảo Lý Sơn lại được tuyển mộ vào đội này làm binh, phu đi khai thác và bảo vệ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Việc này được gọi là "thế lính". Các họ tộc trên đảo Lý Sơn đọc sớ tưởng nhớ công lao các bậc tiền nhân. Cách đây khoảng 400 năm, có hai nhóm An Vĩnh thuộc hải đội Hoàng Sa đã ra đi tìm kiếm sản vật và cắm mốc biên giới hải phận mà không trở về. Để nghi nhớ công ơn của họ, người dân đảo Lý Sơn đã mở Lễ khao lề thế lính để thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn ghi nhớ công ơn của những người lính biển năm xưa. Lễ thả thuyền nan và hình nhân thế mạng. Lễ khao lề thế lính được tổ chức từ ngày 19 đến 20 tháng 3 âm lịch hằng năm tại Âm Linh Tự, một di tích quốc gia thuộc huyện đảo Lý Sơn. Lễ hội được tổ chức dưới hình thức tế tự, tri ân những hùng binh năm xưa đã hy sinh khi vâng lệnh triều đình hàng năm ra quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa cắm mốc, dựng bia khẳng định chủ quyền của Việt Nam ở biển Đông. Nghi lễ quan trọng nhất trong lễ hội là nghi thức thả khinh thuyền Hoàng Sa, là hoạt động nhằm tái hiện một cách sinh động hình ảnh của những hùng binh năm xưa lên đường thực thi nhiệm vụ bảo vệ giang sơn tổ quốc. Tiếng ốc u tưởng nhớ những hùng binh Hoàng Sa. Đặc biệt, trong suốt 3 ngày diễn ra lễ hội, ngoài việc tổ chức người địa phương còn thực hiện đắp và dọn các ngôi mộ của các chiến sĩ hải đội Hoàng Sa mà người dân nơi đây gọi là Mộ gió vì bên trong chỉ chôn cất di vật của những người lính. Lễ khao lề thế lính là một lễ hội không chỉ mang ý nghĩa phục vụ công tác nghiên cứu văn hóa cộng đồng cư dân ven biển Việt Nam và phục vụ du lịch mà còn thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, phát huy truyền thống gìn giữ và bảo vệ lãnh thổ, lãnh hải của đất nước.

Theo truyền thuyết, thủa ban đầu khi mới thành lập Đội Hoàng Sa, cứ hàng năm người dân ở đảo Lý Sơn lại được tuyển mộ vào đội này làm binh, phu đi khai thác và bảo vệ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Việc này được gọi là "thế lính".

Các họ tộc trên đảo Lý Sơn đọc sớ tưởng nhớ công lao các bậc tiền nhân.

Cách đây khoảng 400 năm, có hai nhóm An Vĩnh thuộc hải đội Hoàng Sa đã ra đi tìm kiếm sản vật và cắm mốc biên giới hải phận mà không trở về. Để nghi nhớ công ơn của họ, người dân đảo Lý Sơn đã mở Lễ khao lề thế lính để thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn ghi nhớ công ơn của những người lính biển năm xưa.

Lễ thả thuyền nan và hình nhân thế mạng.

Lễ khao lề thế lính được tổ chức từ ngày 19 đến 20 tháng 3 âm lịch hằng năm tại Âm Linh Tự, một di tích quốc gia thuộc huyện đảo Lý Sơn. Lễ hội được tổ chức dưới hình thức tế tự, tri ân những hùng binh năm xưa đã hy sinh khi vâng lệnh triều đình hàng năm ra quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa cắm mốc, dựng bia khẳng định chủ quyền của Việt Nam ở biển Đông. Nghi lễ quan trọng nhất trong lễ hội là nghi thức thả khinh thuyền Hoàng Sa, là hoạt động nhằm tái hiện một cách sinh động hình ảnh của những hùng binh năm xưa lên đường thực thi nhiệm vụ bảo vệ giang sơn tổ quốc. Tiếng ốc u tưởng nhớ những hùng binh Hoàng Sa. Đặc biệt, trong suốt 3 ngày diễn ra lễ hội, ngoài việc tổ chức người địa phương còn thực hiện đắp và dọn các ngôi mộ của các chiến sĩ hải đội Hoàng Sa mà người dân nơi đây gọi là Mộ gió vì bên trong chỉ chôn cất di vật của những người lính. Lễ khao lề thế lính là một lễ hội không chỉ mang ý nghĩa phục vụ công tác nghiên cứu văn hóa cộng đồng cư dân ven biển Việt Nam và phục vụ du lịch mà còn thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, phát huy truyền thống gìn giữ và bảo vệ lãnh thổ, lãnh hải của đất nước.

Lễ khao lề thế lính được tổ chức từ ngày 19 đến 20 tháng 3 âm lịch hằng năm tại Âm Linh Tự, một di tích quốc gia thuộc huyện đảo Lý Sơn. Lễ hội được tổ chức dưới hình thức tế tự, tri ân những hùng binh năm xưa đã hy sinh khi vâng lệnh triều đình hàng năm ra quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa cắm mốc, dựng bia khẳng định chủ quyền của Việt Nam ở biển Đông.

Nghi lễ quan trọng nhất trong lễ hội là nghi thức thả khinh thuyền Hoàng Sa, là hoạt động nhằm tái hiện một cách sinh động hình ảnh của những hùng binh năm xưa lên đường thực thi nhiệm vụ bảo vệ giang sơn tổ quốc.

Tiếng ốc u tưởng nhớ những hùng binh Hoàng Sa.

Đặc biệt, trong suốt 3 ngày diễn ra lễ hội, ngoài việc tổ chức người địa phương còn thực hiện đắp và dọn các ngôi mộ của các chiến sĩ hải đội Hoàng Sa mà người dân nơi đây gọi là Mộ gió vì bên trong chỉ chôn cất di vật của những người lính.

Lễ khao lề thế lính là một lễ hội không chỉ mang ý nghĩa phục vụ công tác nghiên cứu văn hóa cộng đồng cư dân ven biển Việt Nam và phục vụ du lịch mà còn thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, phát huy truyền thống gìn giữ và bảo vệ lãnh thổ, lãnh hải của đất nước.

Related Figures

Lễ hội truyền thống cố đô Hoa Lư tại Ninh Bình

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 6/3- 8/3 Âm lịch Lễ hội truyền thống Cố đô Hoa Lư – (xưa thường gọi là hội Trường Yên, hay hội Cờ Lau) diễn ra hàng năm vào các ngày 6,7,8 tháng 3 âm lịch. Sử sách cho biết: Trong nhiều triều đại phong kiến, lễ hội Hoa Lư là một quốc lễ, vì đây là nơi, là dịp để tưởng niệm các vị hoàng đế và anh hùng dân tộc: Lê Đại Hành và Đinh Tiên Hoàng. Lễ hội truyền thống cố đô Hoa Lư tại Ninh Bình. Ảnh 1 Các thế hệ công dân của nước Đại Cồ Việt xưa và nước Việt Nam ngày nay về dự lễ hội Cố đô Hoa Lư cùng tiếp nối, khơi thêm dòng chảy của lịch sử cộng đồng dân tộc từ hàng nghìn năm trước với sứ mệnh: dựng nước, giữ nước, chấn hưng, phát triển và tự chủ. Lễ hội Cố đô Hoa Lư đã được bắt đầu tổ chức ngay khi nhà Lý dời đô về Thăng Long – Và trên nền móng của cung điện Hoa Lư, hai ngôi đền thờ vua Đinh và vua Lê được tạo dựng. Để có được một hình thức lễ hội như hiện nay là cả một quá trình mà trong đó hoà quyện những sự kiện lịch sử và truyền thuyết dân gian. Hình thức của lễ hội gồm có: Lễ dâng hương, Lễ rước nước, Lễ rước lửa, múa rồng lân, Tế nữ quan, Tập trận cờ lau, Kéo chữ, thổi cơm thi và những tiết mục biểu diễn, thi đấu quen thuộc đối với nhiều lễ hội truyền thống dân gian khác. Hàng năm vào buổi sáng ngày khai hội thường diễn ra Lễ rước nước. Cuộc rước này được chuẩn bị khá kỹ lưỡng, công phu. Từ nhiều hôm trước ngày khai hội, người ta “trồng” một cây tre lớn cành lá xanh tốt ở sông Hoàng Long (gần cửa Đại Hoàng xưa). Trên ngọn tre có treo một dải phướn màu vàng, ghi lời chú. Nội dung những lời chú đại lược là Thần dân, con cháu trăm họ luôn nhớ ơn rồng vàng ở sông này đã cứu giúp vị Hoàng Đế nước Đại Việt – sau dựng nên cơ nghiệp nhà Đinh, dẹp được loạn sứ quân cát cứ, thu giang san về một mối; Cầu mong thần Sông giữ cho dòng nước mát hiền hoà, phù trợ cho dân nước Đại Việt tránh mọi điều ác dữ… Lễ hội truyền thống cố đô Hoa Lư tại Ninh Bình. Ảnh 2 Giờ Thìn ngày khai hội, khi mặt trời sắp ló lên khỏi đỉnh Mã Yên Sơn, đoàn rước nước bắt đầu khởi hành từ đền Vua Đinh. Dẫn đầu là những người đi hàng đôi mang cờ ngũ sắc các loại. Kế tiếp là cả một phường trống và phường nhạc bát âm. Tiếp đến là một kiệu bát cống lớn, trên kiệu có hương án, bên trong kiệu đặt một bình sứ, ngoài phủ vải điều do tám nam thanh niên khoẻ mạnh khiêng. Trang phục của họ giống như lính túc vệ nhà Đinh xưa, áo đỏ, vàng, cổ áo viền xanh, tay áo cộc, có thêu hoạ tiết lối cổ, đầu chít khăn đỏ, vàng theo lối “thủ rìu”. Ngay sau kiệu rước này là các vị đại biểu các cơ quan, quan khách, đoàn thể, địa phương. Rồi tiếp đến là những kiệu bát cống có tán, lọng song hành trên vai các trinh nữ, mang các lễ vật. Đi bên mỗi kiệu có một bô lão vận trang phục “thượng đẳng thần”. Lại có cả một vị trong trang phục hoàng đế – thiên tử đi rước nguồn nước quý để cuộc rước thêm ý nghĩa tối linh, tối thượng. Đoàn người đi sau chỉnh tề hình khối là các bô lão, những đội tế nữ quan của nhiều địa phương xa gần, đủ sắc màu, háo hức, nghiêm trang. Đoàn rước ra đến bến sông Hoàng Long thì được đưa xuống thuyền nan trước tiên là hương án có đặt bình sứ, sau đó là rồng vàng, sư tử... Vị chủ tế trịnh trọng đọc bản sớ trình xin rước nước, bốn trinh nữ vận áo tân thời, đầu vấn khăn xếp nhẹ nhàng thanh thoát múc nước sông thiêng đổ vào bình sứ rồi đưa về đền Vua Đinh làm lễ dâng hương. Vị chủ tế cùng các vị “quần thần” đốt tờ sớ trình rồi thả xuống dòng sông. Trống chiêng vang lên cấp tập. Sau đó đoàn rước lên bờ, trở về đền Vua Đinh theo thứ tự lúc khởi hành. Lễ hội truyền thống cố đô Hoa Lư tại Ninh Bình. Ảnh 3 Hàng năm,cuộc rước nước truyền thống ở lễ hội Cố đô Hoa Lư biểu hiện mối liên hệ mật thiết, hữu cơ giữa quá khứ, hiện tại và tương lai của cả cộng đồng, bao hàm những yếu tố: linh khí núi sông, tâm thức dân gian về cội nguồn đất nước, dân tộc theo đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”. Đã ngót một nghìn năm, kể từ khi kinh đô Hoa Lư trở thành Cố đô, phong sương, hoài niệm, những âm thanh của trống hội Thăng Long vẫn luôn cộng hưởng, khoan nhặt, hùng tráng, cùng tiếng trống rước nước ở Hoa Lư để hướng về cội nguồn, thêm đậm đà bản sắc dân tộc.

Lễ hội truyền thống Cố đô Hoa Lư – (xưa thường gọi là hội Trường Yên, hay hội Cờ Lau) diễn ra hàng năm vào các ngày 6,7,8 tháng 3 âm lịch. Sử sách cho biết: Trong nhiều triều đại phong kiến, lễ hội Hoa Lư là một quốc lễ, vì đây là nơi, là dịp để tưởng niệm các vị hoàng đế và anh hùng dân tộc: Lê Đại Hành và Đinh Tiên Hoàng.

Lễ hội truyền thống cố đô Hoa Lư tại Ninh Bình. Ảnh 1

Các thế hệ công dân của nước Đại Cồ Việt xưa và nước Việt Nam ngày nay về dự lễ hội Cố đô Hoa Lư cùng tiếp nối, khơi thêm dòng chảy của lịch sử cộng đồng dân tộc từ hàng nghìn năm trước với sứ mệnh: dựng nước, giữ nước, chấn hưng, phát triển và tự chủ. Lễ hội Cố đô Hoa Lư đã được bắt đầu tổ chức ngay khi nhà Lý dời đô về Thăng Long – Và trên nền móng của cung điện Hoa Lư, hai ngôi đền thờ vua Đinh và vua Lê được tạo dựng. Để có được một hình thức lễ hội như hiện nay là cả một quá trình mà trong đó hoà quyện những sự kiện lịch sử và truyền thuyết dân gian. Hình thức của lễ hội gồm có: Lễ dâng hương, Lễ rước nước, Lễ rước lửa, múa rồng lân, Tế nữ quan, Tập trận cờ lau, Kéo chữ, thổi cơm thi và những tiết mục biểu diễn, thi đấu quen thuộc đối với nhiều lễ hội truyền thống dân gian khác. Hàng năm vào buổi sáng ngày khai hội thường diễn ra Lễ rước nước. Cuộc rước này được chuẩn bị khá kỹ lưỡng, công phu. Từ nhiều hôm trước ngày khai hội, người ta “trồng” một cây tre lớn cành lá xanh tốt ở sông Hoàng Long (gần cửa Đại Hoàng xưa). Trên ngọn tre có treo một dải phướn màu vàng, ghi lời chú. Nội dung những lời chú đại lược là Thần dân, con cháu trăm họ luôn nhớ ơn rồng vàng ở sông này đã cứu giúp vị Hoàng Đế nước Đại Việt – sau dựng nên cơ nghiệp nhà Đinh, dẹp được loạn sứ quân cát cứ, thu giang san về một mối; Cầu mong thần Sông giữ cho dòng nước mát hiền hoà, phù trợ cho dân nước Đại Việt tránh mọi điều ác dữ… Lễ hội truyền thống cố đô Hoa Lư tại Ninh Bình. Ảnh 2 Giờ Thìn ngày khai hội, khi mặt trời sắp ló lên khỏi đỉnh Mã Yên Sơn, đoàn rước nước bắt đầu khởi hành từ đền Vua Đinh. Dẫn đầu là những người đi hàng đôi mang cờ ngũ sắc các loại. Kế tiếp là cả một phường trống và phường nhạc bát âm. Tiếp đến là một kiệu bát cống lớn, trên kiệu có hương án, bên trong kiệu đặt một bình sứ, ngoài phủ vải điều do tám nam thanh niên khoẻ mạnh khiêng. Trang phục của họ giống như lính túc vệ nhà Đinh xưa, áo đỏ, vàng, cổ áo viền xanh, tay áo cộc, có thêu hoạ tiết lối cổ, đầu chít khăn đỏ, vàng theo lối “thủ rìu”. Ngay sau kiệu rước này là các vị đại biểu các cơ quan, quan khách, đoàn thể, địa phương. Rồi tiếp đến là những kiệu bát cống có tán, lọng song hành trên vai các trinh nữ, mang các lễ vật. Đi bên mỗi kiệu có một bô lão vận trang phục “thượng đẳng thần”. Lại có cả một vị trong trang phục hoàng đế – thiên tử đi rước nguồn nước quý để cuộc rước thêm ý nghĩa tối linh, tối thượng. Đoàn người đi sau chỉnh tề hình khối là các bô lão, những đội tế nữ quan của nhiều địa phương xa gần, đủ sắc màu, háo hức, nghiêm trang. Đoàn rước ra đến bến sông Hoàng Long thì được đưa xuống thuyền nan trước tiên là hương án có đặt bình sứ, sau đó là rồng vàng, sư tử... Vị chủ tế trịnh trọng đọc bản sớ trình xin rước nước, bốn trinh nữ vận áo tân thời, đầu vấn khăn xếp nhẹ nhàng thanh thoát múc nước sông thiêng đổ vào bình sứ rồi đưa về đền Vua Đinh làm lễ dâng hương. Vị chủ tế cùng các vị “quần thần” đốt tờ sớ trình rồi thả xuống dòng sông. Trống chiêng vang lên cấp tập. Sau đó đoàn rước lên bờ, trở về đền Vua Đinh theo thứ tự lúc khởi hành. Lễ hội truyền thống cố đô Hoa Lư tại Ninh Bình. Ảnh 3 Hàng năm,cuộc rước nước truyền thống ở lễ hội Cố đô Hoa Lư biểu hiện mối liên hệ mật thiết, hữu cơ giữa quá khứ, hiện tại và tương lai của cả cộng đồng, bao hàm những yếu tố: linh khí núi sông, tâm thức dân gian về cội nguồn đất nước, dân tộc theo đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”. Đã ngót một nghìn năm, kể từ khi kinh đô Hoa Lư trở thành Cố đô, phong sương, hoài niệm, những âm thanh của trống hội Thăng Long vẫn luôn cộng hưởng, khoan nhặt, hùng tráng, cùng tiếng trống rước nước ở Hoa Lư để hướng về cội nguồn, thêm đậm đà bản sắc dân tộc.

Related Figures

Lễ hội Mường Ham tại Nghệ An

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 5/1- 7/1 Âm lịch Hàng năm, cứ vào mùng 5 - 7 tháng Giêng âm lịch, tại Mường Ham, xã Châu Cường, huyện miền núi Quỳ Hợp (Nghệ An) lại rộn rã tiếng khua luống, tiếng trống, cồng chiêng cầu chúc cho một năm mới tràn đầy niềm vui và hạnh phúc. Hàng ngàn học sinh trên địa bàn toàn huyện cùng mọi người đi rước Tạo Nọi Lễ hội Mường Ham là một Lễ hội văn hoá truyền thống của đồng bào dân tộc Thái ở miền Tây xứ Nghệ còn được lưu giữ và phục hồi gần đây. Theo sử sách, dòng họ Lo Kăm ở Mường Tôn (xã Châu Kim, huyện Quế Phong) vào đời Nguyễn có một thời thất thế đã mang đứa con trai duy nhất của Tạo Mường đến giấu ở Hoong Chò Cờ gần Mường Ham. Khi trời yên biển lẳng, để trông quản dân mường, dân chúng khai bản lập mường xong mới lấy kiệu vào Mường Nọi rước ra Mường Lớn. Từ đó tên gọi Mường Ham (Ham tiếng Thái có nghĩa là khiêng, rước) được gọi là Mường gốc của cả vùng Khủn Tinh xưa. Để tưởng nhớ công ơn của Tạo Nọi, Tạo Mường, hàng năm dân Mường lại đến Đền Ham để thờ phụng và tổ chức vui hội. Phụ nữ thi bắn nỏ trong lễ hội Mường Ham, Nghệ An Mường Ham là xóm có từ lâu đời, là trung tâm kinh tế chính trị của cả vùng Quỳ Hợp xưa, chủ yếu được cai quản bởi hai dòng họ Lo Kăm và Lang. Xưa kia người dân Mường vẫn thường xuyên tổ chức phụng thờ và vui hội. Nhưng từ sau năm 1954 việc tổ chức Lễ hội hàng năm bị gián đoạn do chiến tranh loạn lạc. Từ năm 2006, UBND huyện Quỳ Hợp đã quyết định khôi phục lại Lễ hội Mường Ham để bảo tồn vốn văn hóa truyền thống của người dân tộc Thái nói riêng và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam nói chung. Hội thi viết chữ Thái cổ là một nét đặc sắc trong Lễ hội Mường Ham. Đây là một nét văn hoá mới nhằm bảo tồn và phát huy vốn chữ Thái cổ của đồng bào Mường đang đứng trước nguy cơ mai một. Tại lễ hội, du khách có thể mua một số sản vật rất riêng của dân tộc Thái về làm quà Cũng trong Lễ hội này, nhiều hoạt động vui chơi giải trí như: đánh cồng chiêng, kéo co, ném còn, thi bắn cung, … đã diễn ra rộn ràng giữa một vùng rừng núi bao la của miền Tây xứ Nghệ. Lễ hội Mường Ham cũng là dịp để lớp trẻ của dân Mường học hỏi giao lưu và tưởng nhớ về truyền thống cội nguồn của mình.

Hàng ngàn học sinh trên địa bàn toàn huyện cùng mọi người đi rước Tạo Nọi

Lễ hội Mường Ham là một Lễ hội văn hoá truyền thống của đồng bào dân tộc Thái ở miền Tây xứ Nghệ còn được lưu giữ và phục hồi gần đây.

Theo sử sách, dòng họ Lo Kăm ở Mường Tôn (xã Châu Kim, huyện Quế Phong) vào đời Nguyễn có một thời thất thế đã mang đứa con trai duy nhất của Tạo Mường đến giấu ở Hoong Chò Cờ gần Mường Ham. Khi trời yên biển lẳng, để trông quản dân mường, dân chúng khai bản lập mường xong mới lấy kiệu vào Mường Nọi rước ra Mường Lớn. Từ đó tên gọi Mường Ham (Ham tiếng Thái có nghĩa là khiêng, rước) được gọi là Mường gốc của cả vùng Khủn Tinh xưa. Để tưởng nhớ công ơn của Tạo Nọi, Tạo Mường, hàng năm dân Mường lại đến Đền Ham để thờ phụng và tổ chức vui hội.

Phụ nữ thi bắn nỏ trong lễ hội Mường Ham, Nghệ An

Mường Ham là xóm có từ lâu đời, là trung tâm kinh tế chính trị của cả vùng Quỳ Hợp xưa, chủ yếu được cai quản bởi hai dòng họ Lo Kăm và Lang. Xưa kia người dân Mường vẫn thường xuyên tổ chức phụng thờ và vui hội. Nhưng từ sau năm 1954 việc tổ chức Lễ hội hàng năm bị gián đoạn do chiến tranh loạn lạc. Từ năm 2006, UBND huyện Quỳ Hợp đã quyết định khôi phục lại Lễ hội Mường Ham để bảo tồn vốn văn hóa truyền thống của người dân tộc Thái nói riêng và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam nói chung. Hội thi viết chữ Thái cổ là một nét đặc sắc trong Lễ hội Mường Ham. Đây là một nét văn hoá mới nhằm bảo tồn và phát huy vốn chữ Thái cổ của đồng bào Mường đang đứng trước nguy cơ mai một. Tại lễ hội, du khách có thể mua một số sản vật rất riêng của dân tộc Thái về làm quà Cũng trong Lễ hội này, nhiều hoạt động vui chơi giải trí như: đánh cồng chiêng, kéo co, ném còn, thi bắn cung, … đã diễn ra rộn ràng giữa một vùng rừng núi bao la của miền Tây xứ Nghệ. Lễ hội Mường Ham cũng là dịp để lớp trẻ của dân Mường học hỏi giao lưu và tưởng nhớ về truyền thống cội nguồn của mình.

Related Figures

Lễ hội Đức ông Trần Quốc Nghiễn

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 29/4 Dương lịch Đền Đức ông Trần Quốc Nghiễn là một di tích lịch sử nằm trong cụm di tích lịch sử văn hoá núi Bài Thơ bên bờ vịnh Hạ Long, là nơi thờ tự Đức ông Trần Quốc Nghiễn, một vị danh tướng thời Trần. Đức ông Trần Quốc Nghiễn là con trai cả của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, cháu đích tôn của An sinh vương Trần Liễu và là cháu ruột của vua Trần Thái Tông. Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược cuối thế kỷ XIII, ông đã lập được công lao to lớn và được phong là Khai Quốc Công Thần của nhà Trần. Để ghi nhớ công ơn của Đức ông, từ thời đó người dân trong vùng đã cho lập đền thờ. Tuy nhiên do chiến tranh, ngồi đền này đã bị xuống cấp và các hoạt động văn hoá tâm linh tại đền cũng bị ngưng trệ. Đến năm 2008, Lễ hội đền Đức ông mới chính thức được phục dựng. Lễ rước Đức ông Trần Quốc Nghiễn Lễ hội Đền Đức ông được tổ chức là dịp để người dân ôn lại truyền thống lịch sử vẻ vang của dân tộc, khơi dậy lòng tự hào về truyền thống yêu nước cho các thế hệ mai sau thông qua những hình ảnh được tái hiện trong lễ hội như cảnh Đức ông Trần Quốc Nghiễn cùng các tướng lĩnh hộ giá vi hành qua các con phố, lễ rước đuốc thiêng, lễ thả hoa đăng... Hình ảnh Đức ông và các tướng lĩnh hộ giá được tái hiện trong lễ rước. Theo truyền thuyết, xưa kia ngôi đền này từng là nơi dừng chân của những người đi biển. Sau mỗi chuyến đi dài ngày, các ngư dân thường vào đây để lấy nước ngọt, nhờ đó mà cuộc sống mưu sinh trên biển của họ được bảo đảm. Ngôi đền vì thế mà trở lên linh thiêng, nó cứu giúp và truyền thêm sức mạnh cho những người đi biển mỗi khi gặp khó khăn, sóng gió. Việc thả hoa đăng trên biển trong dịp lễ cũng đã thể hiện truyền thống này của người dân nơi đây. Cũng như các lễ hội truyền thống khác, Lễ hội đền Đức ông được chia làm hai phần chính. là phần Lễ và phần Hội. Phần lễ được diễn ra vào buối sáng với các nghi thức: Lễ rước Đức ông, biểu diễn múa lân - sư - rồng, lễ cầu an, cúng phóng sinh... Hàng nghìn người tham dự lễ phóng đăng trên biển để cầu cho mưa thuận gió hòa, trời yên biển lặng. Tiếp đó là phần hội được diễn ra vào buổi chiều với các trò chơi dân gian và biểu diễn văn nghệ do các đoàn văn nghệ địa phương tổ chức. Đặc biệt, buổi tối có lễ rước đuốc thiêng và lễ phóng đăng trên biển. Đây là hai nghi thức quan trọng được người dân địa phương và du khách chờ mong nhất vì nó mang một ý nghĩa to lớn về việc Đức ông luôn soi sáng và khai thông trí tuệ cho con người. Ngoài ra, việc thả hoa đăng trên biển cũng để cầu mong mưa thuận gió hoà, trời yên biển lặng và ngư dân được mùa tôm cá.

Đức ông Trần Quốc Nghiễn là con trai cả của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, cháu đích tôn của An sinh vương Trần Liễu và là cháu ruột của vua Trần Thái Tông. Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược cuối thế kỷ XIII, ông đã lập được công lao to lớn và được phong là Khai Quốc Công Thần của nhà Trần.

Để ghi nhớ công ơn của Đức ông, từ thời đó người dân trong vùng đã cho lập đền thờ. Tuy nhiên do chiến tranh, ngồi đền này đã bị xuống cấp và các hoạt động văn hoá tâm linh tại đền cũng bị ngưng trệ. Đến năm 2008, Lễ hội đền Đức ông mới chính thức được phục dựng.

Lễ rước Đức ông Trần Quốc Nghiễn

Lễ hội Đền Đức ông được tổ chức là dịp để người dân ôn lại truyền thống lịch sử vẻ vang của dân tộc, khơi dậy lòng tự hào về truyền thống yêu nước cho các thế hệ mai sau thông qua những hình ảnh được tái hiện trong lễ hội như cảnh Đức ông Trần Quốc Nghiễn cùng các tướng lĩnh hộ giá vi hành qua các con phố, lễ rước đuốc thiêng, lễ thả hoa đăng...

Hình ảnh Đức ông và các tướng lĩnh hộ giá được tái hiện trong lễ rước.

Theo truyền thuyết, xưa kia ngôi đền này từng là nơi dừng chân của những người đi biển. Sau mỗi chuyến đi dài ngày, các ngư dân thường vào đây để lấy nước ngọt, nhờ đó mà cuộc sống mưu sinh trên biển của họ được bảo đảm. Ngôi đền vì thế mà trở lên linh thiêng, nó cứu giúp và truyền thêm sức mạnh cho những người đi biển mỗi khi gặp khó khăn, sóng gió. Việc thả hoa đăng trên biển trong dịp lễ cũng đã thể hiện truyền thống này của người dân nơi đây.

Cũng như các lễ hội truyền thống khác, Lễ hội đền Đức ông được chia làm hai phần chính. là phần Lễ và phần Hội. Phần lễ được diễn ra vào buối sáng với các nghi thức: Lễ rước Đức ông, biểu diễn múa lân - sư - rồng, lễ cầu an, cúng phóng sinh...

Hàng nghìn người tham dự lễ phóng đăng trên biển để cầu cho mưa thuận gió hòa, trời yên biển lặng.

Tiếp đó là phần hội được diễn ra vào buổi chiều với các trò chơi dân gian và biểu diễn văn nghệ do các đoàn văn nghệ địa phương tổ chức. Đặc biệt, buổi tối có lễ rước đuốc thiêng và lễ phóng đăng trên biển. Đây là hai nghi thức quan trọng được người dân địa phương và du khách chờ mong nhất vì nó mang một ý nghĩa to lớn về việc Đức ông luôn soi sáng và khai thông trí tuệ cho con người. Ngoài ra, việc thả hoa đăng trên biển cũng để cầu mong mưa thuận gió hoà, trời yên biển lặng và ngư dân được mùa tôm cá.

Related Figures

Lễ hội Chợ tình Khau Vai - Hà Giang

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 27/3 Âm lịch Chợ tình Khau Vai hay còn gọi là chợ Phong Lưu, nằm ở xã Khau Vai, huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang và chỉ họp mỗi năm một lần vào ngày 27 tháng 3 âm lịch. Chợ tình Khau Vai là địa điểm để những người yêu nhau nhưng vì lý do nào đó mà không lấy được nhau nên mỗi năm vào ngày họp chợ, họ hẹn nhau về đây để tâm sự, thông báo cho nhau cuộc sống riêng của mỗi người, ôn lại những tình cảm xưa. Có rất nhiều đôi vợ chồng cùng nhau đến chợ, khi đến nơi, vợ đi tìm bạn của vợ, chồng đi tìm bạn của chồng, họ không ghen tuông, không bực bội, mà tôn trọng nhau, tôn trọng bạn của vợ, của chồng mình và họ cũng coi đó là sự linh thiêng, là bổn phận và trách nhiệm trước cuộc sống tinh thần của người bạn đời. Phiên chợ tình Khau Vai Sự tích chợ tình bắt nguồn từ truyền thuyết về chàng Ba, cô Út. Tương truyền, chàng Ba là người dân tộc Nùng, nhà ở Khau Vai, khôi ngô tuấn tú, hát hay, thổi sáo giỏi nhưng nhà nghèo. Còn cô Út xinh đẹp là con gái một tộc trưởng người Giáy. Hai người yêu nhau nhưng gia đình cô Út không đồng ý vì chàng Ba nhà nghèo lại khác dân tộc, không cùng "con ma", không cùng phong tục tập quán nên con trai người Nùng không thể lấy con gái người Giáy làm vợ. Trước sự phản đối của gia đình, hai người đã đưa nhau lên hang núi Khau Vai để sống. Tuy nhiên, gia đình, họ tộc cô gái đã vác súng kíp, cung nỏ sang nhà trai chửi mắng chàng trai bắt cóc con gái mình, còn gia đình chàng trai cũng mang gậy gộc, súng, dao ra chửi bới nhà gái. Từ hang núi nhìn xuống cảnh máu chảy, đâm chém nhau giữa hai họ. Thương cha, thương mẹ, thương dân làng bỗng trở nên thù hận nhau chỉ vì tình yêu của mình nên hai người đã chia tay nhau về làng, thề kiếp sau sẽ thành vợ thành chồng. Ngày họ chia tay là ngày 27/3 nên người dân trong vùng lấy ngày đó làm ngày họp chợ. Các chàng trai, cô gái hát múa trong Lễ hội chợ tình Khau Vai Khi đôi trai gái chia tay nhau, họ đã cắt máu thề: Dù không lấy được nhau nhưng mỗi năm, cứ đến ngày hẹn họ lại lên Khau Vai hát cho nhau nghe, kể với nhau những thầm kín ấp ủ trong lòng trong suốt một năm xa cách. Họ tâm tình, ca hát hết đêm rồi đến hôm sau lại trở về với cuộc sống ngày thường. Ngày cuối cùng của cuộc đời, họ tìm đến với nhau và đi đến chỗ gốc cây rừng, ngồi bên hòn đá nơi hẹn thề năm xưa, ôm chặt nhau cùng đi vào cõi vĩnh hằng. Họ ra đi cũng đúng vào ngày 27/3, ngày mà năm đó họ quyết định chia tay. Về sau tại nơi đây, dân làng đã dựng hai miếu thờ là "miếu Bà" và "miếu Ông" để tưởng nhớ về mối tình trai gái. Chợ tình Khau Vai là một phiên chợ thu hút rất nhiều chàng trai, cô gái trẻ. Nội dung lễ hội chợ tình Khâu Vai có hai phần là phần lễ và phần Hội. Phần lễ có các nghi lễ: Dâng lễ lên miếu ông, miếu bà, thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” nhớ công lao những người đã có công khai thác vùng đất Khau Vai và tôn vinh sự thuỷ chung trong sáng của tình yêu đôi lứa. Trong buổi lễ, chủ lễ là già làng trong xã cùng đại diện chính quyền dâng hương xin phép được tổ chức lễ hội. Phần hội: Sau khi lễ dâng hương, cúng lễ kết thúc, chủ lễ sẽ tuyên bố khai hội và người dân sẽ tổ chức các hoạt động văn hoá, thể thao truyền thống do các thanh niên nam nữ cùng nhau trổ tài như múa khèn, thổi kèn lá, tung còn, đánh yến, bắn nỏ, chơi ào,... và tổ chức các cuộc thi như: Chọi bò, chọi dê, hội thi thêu thổ cẩm của các thiếu nữ dân tộc Lô Lô; hội thi làm bánh dày của dân tộc Nùng; thi dệt vải lanh của dân tộc H’Mông... Trước đây, chợ tình Khâu Vai là chợ của những mối tình trắc trở. Nhưng từ năm 1991 trở lại đây, có nhiều thanh niên nam, nữ các dân tộc trong vùng đến chợ để vui xuân và cũng để tìm bạn tình, nhiều đôi đã nên vợ nên chồng trong dịp đi chợ tình Khâu Vai.

Chợ tình Khau Vai là địa điểm để những người yêu nhau nhưng vì lý do nào đó mà không lấy được nhau nên mỗi năm vào ngày họp chợ, họ hẹn nhau về đây để tâm sự, thông báo cho nhau cuộc sống riêng của mỗi người, ôn lại những tình cảm xưa. Có rất nhiều đôi vợ chồng cùng nhau đến chợ, khi đến nơi, vợ đi tìm bạn của vợ, chồng đi tìm bạn của chồng, họ không ghen tuông, không bực bội, mà tôn trọng nhau, tôn trọng bạn của vợ, của chồng mình và họ cũng coi đó là sự linh thiêng, là bổn phận và trách nhiệm trước cuộc sống tinh thần của người bạn đời.

Phiên chợ tình Khau Vai

Sự tích chợ tình bắt nguồn từ truyền thuyết về chàng Ba, cô Út. Tương truyền, chàng Ba là người dân tộc Nùng, nhà ở Khau Vai, khôi ngô tuấn tú, hát hay, thổi sáo giỏi nhưng nhà nghèo. Còn cô Út xinh đẹp là con gái một tộc trưởng người Giáy. Hai người yêu nhau nhưng gia đình cô Út không đồng ý vì chàng Ba nhà nghèo lại khác dân tộc, không cùng "con ma", không cùng phong tục tập quán nên con trai người Nùng không thể lấy con gái người Giáy làm vợ.

Trước sự phản đối của gia đình, hai người đã đưa nhau lên hang núi Khau Vai để sống. Tuy nhiên, gia đình, họ tộc cô gái đã vác súng kíp, cung nỏ sang nhà trai chửi mắng chàng trai bắt cóc con gái mình, còn gia đình chàng trai cũng mang gậy gộc, súng, dao ra chửi bới nhà gái. Từ hang núi nhìn xuống cảnh máu chảy, đâm chém nhau giữa hai họ. Thương cha, thương mẹ, thương dân làng bỗng trở nên thù hận nhau chỉ vì tình yêu của mình nên hai người đã chia tay nhau về làng, thề kiếp sau sẽ thành vợ thành chồng. Ngày họ chia tay là ngày 27/3 nên người dân trong vùng lấy ngày đó làm ngày họp chợ.

Các chàng trai, cô gái hát múa trong Lễ hội chợ tình Khau Vai

Khi đôi trai gái chia tay nhau, họ đã cắt máu thề: Dù không lấy được nhau nhưng mỗi năm, cứ đến ngày hẹn họ lại lên Khau Vai hát cho nhau nghe, kể với nhau những thầm kín ấp ủ trong lòng trong suốt một năm xa cách. Họ tâm tình, ca hát hết đêm rồi đến hôm sau lại trở về với cuộc sống ngày thường. Ngày cuối cùng của cuộc đời, họ tìm đến với nhau và đi đến chỗ gốc cây rừng, ngồi bên hòn đá nơi hẹn thề năm xưa, ôm chặt nhau cùng đi vào cõi vĩnh hằng. Họ ra đi cũng đúng vào ngày 27/3, ngày mà năm đó họ quyết định chia tay. Về sau tại nơi đây, dân làng đã dựng hai miếu thờ là "miếu Bà" và "miếu Ông" để tưởng nhớ về mối tình trai gái.

Chợ tình Khau Vai là một phiên chợ thu hút rất nhiều chàng trai, cô gái trẻ.

Nội dung lễ hội chợ tình Khâu Vai có hai phần là phần lễ và phần Hội. Phần lễ có các nghi lễ: Dâng lễ lên miếu ông, miếu bà, thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” nhớ công lao những người đã có công khai thác vùng đất Khau Vai và tôn vinh sự thuỷ chung trong sáng của tình yêu đôi lứa. Trong buổi lễ, chủ lễ là già làng trong xã cùng đại diện chính quyền dâng hương xin phép được tổ chức lễ hội.

Phần hội: Sau khi lễ dâng hương, cúng lễ kết thúc, chủ lễ sẽ tuyên bố khai hội và người dân sẽ tổ chức các hoạt động văn hoá, thể thao truyền thống do các thanh niên nam nữ cùng nhau trổ tài như múa khèn, thổi kèn lá, tung còn, đánh yến, bắn nỏ, chơi ào,... và tổ chức các cuộc thi như: Chọi bò, chọi dê, hội thi thêu thổ cẩm của các thiếu nữ dân tộc Lô Lô; hội thi làm bánh dày của dân tộc Nùng; thi dệt vải lanh của dân tộc H’Mông...

Trước đây, chợ tình Khâu Vai là chợ của những mối tình trắc trở. Nhưng từ năm 1991 trở lại đây, có nhiều thanh niên nam, nữ các dân tộc trong vùng đến chợ để vui xuân và cũng để tìm bạn tình, nhiều đôi đã nên vợ nên chồng trong dịp đi chợ tình Khâu Vai.

Related Figures

Festival Di sản Quảng Nam

Thông tin thời kỳ

Festival Di sản Quảng Nam là một sự kiện văn hóa do UBND tỉnh Quảng Nam, Bộ VH-TT-DL, Bộ Ngoại giao và Ủy ban Quốc gia UNESCO VN tổ chức. Đây là sự kế thừa và phát triển của lễ hội “Quảng Nam - Hành trình di sản” được tổ chức thường niên bắt đầu từ năm 2003 đến nay. Quảng Nam là một vùng đất giàu truyền thống văn hóa với sản phẩm du lịch đặc trưng là du lịch văn hoá, trong đó giá trị cốt lõi tập trung ở hai di sản văn hoá thế giới là Khu Đô thị cổ Hội An và Khu đền tháp Mỹ Sơn. Bên cạnh đó, Quảng Nam còn có 54 di tích cấp quốc gia, 282 di tích cấp tỉnh cùng các loại hình di sản văn hóa phi vật thể như lễ hội truyền thống, làng nghề truyền thống, nghệ thuật trình diễn dân gian, ... Những giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể này đã được lồng ghép giới thiệu bằng nhiều hình thức trong các kỳ lễ hội “Quảng Nam - Hành trình Di sản” trước đây. Lễ khai mạc Festival Di sản Quảng Nam lần thứ 5 Ngày nay, Festival Di sản Quảng Nam được tổ chức nhằm mục đích tiếp tục tôn vinh những giá trị văn hóa di sản của Quảng Nam nói riêng và di sản Việt Nam nói chung. Qua đó góp phần quảng bá hình ảnh của nước ta đến bạn bè trong nước và quốc tế, góp phần thúc đẩy phát triển du lịch và thu hút đầu tư. Đêm hội có sự tham gia của nhiều đoàn nghệ thuật đến từ các nước trong khu vực và trên thế giới Năm 2013, “Festival Di sản Quảng Nam” lần thứ V được tổ chức tiếp nối 4 kỳ tổ chức lễ hội “Quảng Nam - Hành trình di sản” trước đó và được nâng tầm quy mô khu vực và thế giới với sự tham gia của nhiều đoàn nghệ thuật đến từ trong nước và các đoàn nghệ thuật đến từ các nước ASEAN. Ngoài ra, đông đảo các cơ quan đại diện nước ngoài tại việt Nam và các tổ chức quốc tế; các nhà khoa học, nhà quản lý, doanh nhân... sẽ tham dự các hoạt động Festival. Trong đó, nội dung hoạt động Festival cũng được triển khai phong phú trên các lĩnh vực văn hoá, thể thao, du lịch, hội thảo khoa học, xúc tiến đầu tư... Lung linh phố cổ Hội An Đặc biệt, trong "Festival Di sản Quảng Nam", ngoài việc giới thiệu các di sản của Việt Nam đã được UNESCO công nhận, các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể đang đề nghị công nhận cũng có dịp được thể hiện trước công chúng trong và ngoài nước, đặc biệt là đối với các thành viên của Hội đồng di sản có mặt tại Festival lần này. Vì vậy, Festival di sản là cơ hội lớn để Quảng Nam quảng bá, giới thiệu tiềm năng và sản phẩm du lịch đặc hiệu “văn hóa và di sản”. Điều này sẽ tạo tiền đề để Quảng Nam trở thành một trong những trung tâm du lịch của vùng và cả nước.

Quảng Nam là một vùng đất giàu truyền thống văn hóa với sản phẩm du lịch đặc trưng là du lịch văn hoá, trong đó giá trị cốt lõi tập trung ở hai di sản văn hoá thế giới là Khu Đô thị cổ Hội An và Khu đền tháp Mỹ Sơn. Bên cạnh đó, Quảng Nam còn có 54 di tích cấp quốc gia, 282 di tích cấp tỉnh cùng các loại hình di sản văn hóa phi vật thể như lễ hội truyền thống, làng nghề truyền thống, nghệ thuật trình diễn dân gian, ... Những giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể này đã được lồng ghép giới thiệu bằng nhiều hình thức trong các kỳ lễ hội “Quảng Nam - Hành trình Di sản” trước đây.

Lễ khai mạc Festival Di sản Quảng Nam lần thứ 5 Ngày nay, Festival Di sản Quảng Nam được tổ chức nhằm mục đích tiếp tục tôn vinh những giá trị văn hóa di sản của Quảng Nam nói riêng và di sản Việt Nam nói chung. Qua đó góp phần quảng bá hình ảnh của nước ta đến bạn bè trong nước và quốc tế, góp phần thúc đẩy phát triển du lịch và thu hút đầu tư. Đêm hội có sự tham gia của nhiều đoàn nghệ thuật đến từ các nước trong khu vực và trên thế giới Năm 2013, “Festival Di sản Quảng Nam” lần thứ V được tổ chức tiếp nối 4 kỳ tổ chức lễ hội “Quảng Nam - Hành trình di sản” trước đó và được nâng tầm quy mô khu vực và thế giới với sự tham gia của nhiều đoàn nghệ thuật đến từ trong nước và các đoàn nghệ thuật đến từ các nước ASEAN. Ngoài ra, đông đảo các cơ quan đại diện nước ngoài tại việt Nam và các tổ chức quốc tế; các nhà khoa học, nhà quản lý, doanh nhân... sẽ tham dự các hoạt động Festival. Trong đó, nội dung hoạt động Festival cũng được triển khai phong phú trên các lĩnh vực văn hoá, thể thao, du lịch, hội thảo khoa học, xúc tiến đầu tư... Lung linh phố cổ Hội An Đặc biệt, trong "Festival Di sản Quảng Nam", ngoài việc giới thiệu các di sản của Việt Nam đã được UNESCO công nhận, các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể đang đề nghị công nhận cũng có dịp được thể hiện trước công chúng trong và ngoài nước, đặc biệt là đối với các thành viên của Hội đồng di sản có mặt tại Festival lần này. Vì vậy, Festival di sản là cơ hội lớn để Quảng Nam quảng bá, giới thiệu tiềm năng và sản phẩm du lịch đặc hiệu “văn hóa và di sản”. Điều này sẽ tạo tiền đề để Quảng Nam trở thành một trong những trung tâm du lịch của vùng và cả nước.

Ngày nay, Festival Di sản Quảng Nam được tổ chức nhằm mục đích tiếp tục tôn vinh những giá trị văn hóa di sản của Quảng Nam nói riêng và di sản Việt Nam nói chung. Qua đó góp phần quảng bá hình ảnh của nước ta đến bạn bè trong nước và quốc tế, góp phần thúc đẩy phát triển du lịch và thu hút đầu tư.

Đêm hội có sự tham gia của nhiều đoàn nghệ thuật đến từ các nước trong khu vực và trên thế giới

Năm 2013, “Festival Di sản Quảng Nam” lần thứ V được tổ chức tiếp nối 4 kỳ tổ chức lễ hội “Quảng Nam - Hành trình di sản” trước đó và được nâng tầm quy mô khu vực và thế giới với sự tham gia của nhiều đoàn nghệ thuật đến từ trong nước và các đoàn nghệ thuật đến từ các nước ASEAN. Ngoài ra, đông đảo các cơ quan đại diện nước ngoài tại việt Nam và các tổ chức quốc tế; các nhà khoa học, nhà quản lý, doanh nhân... sẽ tham dự các hoạt động Festival. Trong đó, nội dung hoạt động Festival cũng được triển khai phong phú trên các lĩnh vực văn hoá, thể thao, du lịch, hội thảo khoa học, xúc tiến đầu tư...

Lung linh phố cổ Hội An

Đặc biệt, trong "Festival Di sản Quảng Nam", ngoài việc giới thiệu các di sản của Việt Nam đã được UNESCO công nhận, các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể đang đề nghị công nhận cũng có dịp được thể hiện trước công chúng trong và ngoài nước, đặc biệt là đối với các thành viên của Hội đồng di sản có mặt tại Festival lần này.

Vì vậy, Festival di sản là cơ hội lớn để Quảng Nam quảng bá, giới thiệu tiềm năng và sản phẩm du lịch đặc hiệu “văn hóa và di sản”. Điều này sẽ tạo tiền đề để Quảng Nam trở thành một trong những trung tâm du lịch của vùng và cả nước.

Related Figures

Lễ hội làng Sen - Nghệ An

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 17/5- 19/5 Dương lịch Lễ hội Làng Sen có tiền thân từ Liên hoan “Tiếng hát từ Làng Sen” lần đầu tiên được tổ chức vào tháng 5/1982, sau đó, được nâng cấp thành Lễ hội Làng Sen được tổ chức hàng năm theo quy mô cấp tỉnh và 5 năm một lần theo cấp quốc gia. Lễ hội được tổ chức vào dịp sinh nhật Bác Hồ (19/5) nhằm thể hiện lòng biết ơn, sự ngưỡng mộ và thành kính của nhân dân cả nước đối với vị Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh, Danh nhân văn hóa thế giới. Qua đó góp phần tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh, tiếp tục thực hiện việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Lễ rước ảnh Bác Hồ Hằng năm, Lễ hội Làng Sen được tổ chức với nhiều hoạt động phong phú, đặc sắc như: Lễ hành hương về quê Bác, Lễ rước ảnh Bác Hồ theo hành trình từ đền Cờn qua quê ngoại đến quê nội của Bác, lễ chào cờ, hát quốc ca, dâng hoa, dâng hương báo công với Bác tại Khu di tích Kim Liên. Các nghi lễ này đều được thực hiện để biểu thị lòng thành kính của dân chúng Nam Đàn nói riêng và Toàn bộ dân tộc Việt Nam nói chung đối với vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc. Đêm khai mạc với tiết mục văn nghệ đặc sắc ca ngợi Bác Hồ kính yêu, Đảng quang vinh, đất nước và con người xứ Nghệ. Bên cạnh các nghi lễ truyền thống là một số chương trình văn hóa - nghệ thuật khác được tổ chức như Liên hoan tiếng hát Làng Sen cấp tỉnh, cấp huyện; tổ chức các trò chơi dân gian; hội trại, chiếu phim và biểu diễn nghệ thuật quần chúng; tổ chức trưng bày triển lãm tranh, ảnh về đề tài Đảng, Bác Hồ... Làng Sen quê hương Bác. Từ lâu, lễ hội Làng Sen đã trở thành một nét sinh hoạt văn hoá tinh thần không thể thiếu của nhân dân Nghệ An. Lễ hội được tổ chức với các nội dung, hoạt động gắn liền với thân thế, sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng ta và nói lên truyền thống anh dũng, kiên cường của dân tộc. Đây cũng là dịp để chúng ta tìm hiểu sâu sắc hơn về Bác Hồ - người anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới và giới thiệu vùng đất Làng Sen quê hương Bác đến với bạn bè trong nước và quốc tế. Trải qua hàng chục lần tổ chức, sức lan tỏa của lễ hội làng Sen càng ngày càng mạnh mẽ và trở thành điểm nhấn không thể thiếu trong mỗi dịp kỷ niệm sinh nhật chủ tịch Hồ Chí Minh, đóng góp một phần quan trọng vào công cuộc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Hồ Chí Minh.

Lễ hội được tổ chức vào dịp sinh nhật Bác Hồ (19/5) nhằm thể hiện lòng biết ơn, sự ngưỡng mộ và thành kính của nhân dân cả nước đối với vị Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh, Danh nhân văn hóa thế giới. Qua đó góp phần tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh, tiếp tục thực hiện việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Lễ rước ảnh Bác Hồ

Hằng năm, Lễ hội Làng Sen được tổ chức với nhiều hoạt động phong phú, đặc sắc như: Lễ hành hương về quê Bác, Lễ rước ảnh Bác Hồ theo hành trình từ đền Cờn qua quê ngoại đến quê nội của Bác, lễ chào cờ, hát quốc ca, dâng hoa, dâng hương báo công với Bác tại Khu di tích Kim Liên. Các nghi lễ này đều được thực hiện để biểu thị lòng thành kính của dân chúng Nam Đàn nói riêng và Toàn bộ dân tộc Việt Nam nói chung đối với vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc.

Đêm khai mạc với tiết mục văn nghệ đặc sắc ca ngợi Bác Hồ kính yêu, Đảng quang vinh, đất nước và con người xứ Nghệ.

Bên cạnh các nghi lễ truyền thống là một số chương trình văn hóa - nghệ thuật khác được tổ chức như Liên hoan tiếng hát Làng Sen cấp tỉnh, cấp huyện; tổ chức các trò chơi dân gian; hội trại, chiếu phim và biểu diễn nghệ thuật quần chúng; tổ chức trưng bày triển lãm tranh, ảnh về đề tài Đảng, Bác Hồ...

Làng Sen quê hương Bác.

Từ lâu, lễ hội Làng Sen đã trở thành một nét sinh hoạt văn hoá tinh thần không thể thiếu của nhân dân Nghệ An. Lễ hội được tổ chức với các nội dung, hoạt động gắn liền với thân thế, sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng ta và nói lên truyền thống anh dũng, kiên cường của dân tộc. Đây cũng là dịp để chúng ta tìm hiểu sâu sắc hơn về Bác Hồ - người anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới và giới thiệu vùng đất Làng Sen quê hương Bác đến với bạn bè trong nước và quốc tế.

Trải qua hàng chục lần tổ chức, sức lan tỏa của lễ hội làng Sen càng ngày càng mạnh mẽ và trở thành điểm nhấn không thể thiếu trong mỗi dịp kỷ niệm sinh nhật chủ tịch Hồ Chí Minh, đóng góp một phần quan trọng vào công cuộc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Hồ Chí Minh.

Related Figures

Lễ hội trái cây Nam Bộ

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/6- 30/8 Dương lịch Lễ hội Trái Cây Nam Bộ là một sự kiện văn hóa, du lịch thường niên của TP. HCM được tổ chức từ ngày Quốc tế Thiếu nhi 1/6 và kéo dài trong 3 tháng tại khu vui chơi giải trí Suối Tiên, TP Hồ Chí Minh. Đây là một sự kiện do Sở VHTTDL, Sở NN&PTNT TP.HCM cùng Công ty CP Du lịch Văn hóa Suối Tiên phối hợp tổ chức. Lễ hội trái cây là một lễ hội du lịch được tổ chức với một quy mô lớn tại TP Hồ Chí Minh với nội dung và hình thức phong phú, có sự tham gia của nhiều doanh nghiệp kinh doanh trái cây cũng như nhiều nông hộ từ các miền trong cả nước đã đưa về lễ hội những loại trái cây quý, ngon. Đến với lễ hội, du khách sẽ được dạo quanh các chợ bán trái cây tươi, các gian hàng hay các xuồng ba lá trong chợ nổi. Chợ nổi trái cây Lễ hội Trái cây sẽ kéo dài trong suốt ba tháng hè (từ 1/6 đến 30/8), với nhiều hoạt động phong phú như: Chợ Nổi Trái Cây ; Hội Thi Nghệ Thuật Tạo Hình Bằng Trái Cây ; Hội Thi Trái Ngon An Toàn Nam Bộ; Bộ Sưu Tập Trái Cây Lạ, Hiếm ; Bộ Sưu Tập Củ Quả Khổng Lồ; Biểu Diễn Nghệ Thuật Quốc Tế; Diễu Hành “Tứ Linh Bách Quả Thần Tiên Hội ”; Món Ngon Chế Biến Từ Trái Cây... Chợ nổi trái cây là một khu vực với nhiều gian hàng được trang trí giống như một khu chợ nổi miền Tây với các cô thôn nữ bán trái cây bên những chiếc xuồng ba lá, ghe bầu chứa đầy các loại trái cây với giá bán rẻ hơn thị trường từ 30-40%. Cùng với các gian hàng trên là các khu vực bán trái cây ướp lạnh và nước ép trái cây nguyên chất với tiêu chí Ngon - Bổ - Rẻ. Một tác phẩm trong cuộc thi "Nghệ thuật tạo hình bằng trái cây" Cuộc thi "Nghệ thuật tạo hình bằng trái cây" là một chương trình do Sở VHTTDL thành phố đứng ra tổ chức và phát động. Tham gia vào chương trình thường là các nghệ nhân cắt tỉa hoa quả với những tác phẩm nghệ thuật độc đáo và xinh đẹp được làm từ các loại hoa quả tươi. Để tạo thêm không khí và cảnh quan cho lễ hội, bên cạnh các tác phẩm trong cuộc thi "Nghệ thuật tạo hình bằng trái cây", BTC đã tổ chức các khu vực trưng bày kiểng bonsai, đá cảnh, đá ghép, biểu diễn chim và tổ chức trao giải kỷ lục guiness sự kiện cho các loại trái cây quí hiếm, khổng lồ được đem đến lễ hội. Diễu hành Tứ linh bách quả thần tiên hội Bên cạnh đó, trên các trục đường chính của Suối Tiên du khách sẽ được chứng kiến các cuộc diễu hành trái cây khổng lồ qua buổi Diễu hành tứ linh bách quả thần tiên hội và thưởng lãm các chương trình biểu diễn ca múa nhạc, biểu diễn múa lân sư tử rồng... trong khuôn viên lễ hội. Đặc biệt, khi tham gia vào Lễ hội trái cây du khách và các em nhỏ còn được tham gia vào nhiều trò chơi dân gian đặc sắc như: bịt mắt đập dừa, vào vườn hái quả, bù nhìn đuổi chim, nấu cơm bằng mía, nhảy sạp hái quả, gánh dừa qua cầu khỉ, cây tre trăm đốt, ô quan, ném còn, thi đá cá đá dế...

Lễ hội trái cây là một lễ hội du lịch được tổ chức với một quy mô lớn tại TP Hồ Chí Minh với nội dung và hình thức phong phú, có sự tham gia của nhiều doanh nghiệp kinh doanh trái cây cũng như nhiều nông hộ từ các miền trong cả nước đã đưa về lễ hội những loại trái cây quý, ngon. Đến với lễ hội, du khách sẽ được dạo quanh các chợ bán trái cây tươi, các gian hàng hay các xuồng ba lá trong chợ nổi.

Chợ nổi trái cây

Lễ hội Trái cây sẽ kéo dài trong suốt ba tháng hè (từ 1/6 đến 30/8), với nhiều hoạt động phong phú như: Chợ Nổi Trái Cây ; Hội Thi Nghệ Thuật Tạo Hình Bằng Trái Cây ; Hội Thi Trái Ngon An Toàn Nam Bộ; Bộ Sưu Tập Trái Cây Lạ, Hiếm ; Bộ Sưu Tập Củ Quả Khổng Lồ; Biểu Diễn Nghệ Thuật Quốc Tế; Diễu Hành “Tứ Linh Bách Quả Thần Tiên Hội ”; Món Ngon Chế Biến Từ Trái Cây... Chợ nổi trái cây là một khu vực với nhiều gian hàng được trang trí giống như một khu chợ nổi miền Tây với các cô thôn nữ bán trái cây bên những chiếc xuồng ba lá, ghe bầu chứa đầy các loại trái cây với giá bán rẻ hơn thị trường từ 30-40%. Cùng với các gian hàng trên là các khu vực bán trái cây ướp lạnh và nước ép trái cây nguyên chất với tiêu chí Ngon - Bổ - Rẻ. Một tác phẩm trong cuộc thi "Nghệ thuật tạo hình bằng trái cây" Cuộc thi "Nghệ thuật tạo hình bằng trái cây" là một chương trình do Sở VHTTDL thành phố đứng ra tổ chức và phát động. Tham gia vào chương trình thường là các nghệ nhân cắt tỉa hoa quả với những tác phẩm nghệ thuật độc đáo và xinh đẹp được làm từ các loại hoa quả tươi. Để tạo thêm không khí và cảnh quan cho lễ hội, bên cạnh các tác phẩm trong cuộc thi "Nghệ thuật tạo hình bằng trái cây", BTC đã tổ chức các khu vực trưng bày kiểng bonsai, đá cảnh, đá ghép, biểu diễn chim và tổ chức trao giải kỷ lục guiness sự kiện cho các loại trái cây quí hiếm, khổng lồ được đem đến lễ hội. Diễu hành Tứ linh bách quả thần tiên hội Bên cạnh đó, trên các trục đường chính của Suối Tiên du khách sẽ được chứng kiến các cuộc diễu hành trái cây khổng lồ qua buổi Diễu hành tứ linh bách quả thần tiên hội và thưởng lãm các chương trình biểu diễn ca múa nhạc, biểu diễn múa lân sư tử rồng... trong khuôn viên lễ hội. Đặc biệt, khi tham gia vào Lễ hội trái cây du khách và các em nhỏ còn được tham gia vào nhiều trò chơi dân gian đặc sắc như: bịt mắt đập dừa, vào vườn hái quả, bù nhìn đuổi chim, nấu cơm bằng mía, nhảy sạp hái quả, gánh dừa qua cầu khỉ, cây tre trăm đốt, ô quan, ném còn, thi đá cá đá dế...

Lễ hội Trái cây sẽ kéo dài trong suốt ba tháng hè (từ 1/6 đến 30/8), với nhiều hoạt động phong phú như: Chợ Nổi Trái Cây ; Hội Thi Nghệ Thuật Tạo Hình Bằng Trái Cây ; Hội Thi Trái Ngon An Toàn Nam Bộ; Bộ Sưu Tập Trái Cây Lạ, Hiếm ; Bộ Sưu Tập Củ Quả Khổng Lồ; Biểu Diễn Nghệ Thuật Quốc Tế; Diễu Hành “Tứ Linh Bách Quả Thần Tiên Hội ”; Món Ngon Chế Biến Từ Trái Cây...

Chợ nổi trái cây là một khu vực với nhiều gian hàng được trang trí giống như một khu chợ nổi miền Tây với các cô thôn nữ bán trái cây bên những chiếc xuồng ba lá, ghe bầu chứa đầy các loại trái cây với giá bán rẻ hơn thị trường từ 30-40%. Cùng với các gian hàng trên là các khu vực bán trái cây ướp lạnh và nước ép trái cây nguyên chất với tiêu chí Ngon - Bổ - Rẻ.

Một tác phẩm trong cuộc thi "Nghệ thuật tạo hình bằng trái cây"

Cuộc thi "Nghệ thuật tạo hình bằng trái cây" là một chương trình do Sở VHTTDL thành phố đứng ra tổ chức và phát động. Tham gia vào chương trình thường là các nghệ nhân cắt tỉa hoa quả với những tác phẩm nghệ thuật độc đáo và xinh đẹp được làm từ các loại hoa quả tươi. Để tạo thêm không khí và cảnh quan cho lễ hội, bên cạnh các tác phẩm trong cuộc thi "Nghệ thuật tạo hình bằng trái cây", BTC đã tổ chức các khu vực trưng bày kiểng bonsai, đá cảnh, đá ghép, biểu diễn chim và tổ chức trao giải kỷ lục guiness sự kiện cho các loại trái cây quí hiếm, khổng lồ được đem đến lễ hội.

Diễu hành Tứ linh bách quả thần tiên hội

Bên cạnh đó, trên các trục đường chính của Suối Tiên du khách sẽ được chứng kiến các cuộc diễu hành trái cây khổng lồ qua buổi Diễu hành tứ linh bách quả thần tiên hội và thưởng lãm các chương trình biểu diễn ca múa nhạc, biểu diễn múa lân sư tử rồng... trong khuôn viên lễ hội.

Đặc biệt, khi tham gia vào Lễ hội trái cây du khách và các em nhỏ còn được tham gia vào nhiều trò chơi dân gian đặc sắc như: bịt mắt đập dừa, vào vườn hái quả, bù nhìn đuổi chim, nấu cơm bằng mía, nhảy sạp hái quả, gánh dừa qua cầu khỉ, cây tre trăm đốt, ô quan, ném còn, thi đá cá đá dế...

Related Figures

Lễ hội Quán Thế Âm

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 19/6 Âm lịch (lehoi.info) - Lễ hội Quán Thế Âm tại Thừa Thiên - Huế là một lễ hội phật giáo được tổ chức vào ngày 19/6 Âm lịch hằng năm tại Trung tâm Du lịch tâm linh Phật giáo Quán Thế Âm ở núi Tứ Tượng, xã Thủy Bằng, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Lễ hội Quán Thế Âm tại Thừa Thiên - Huế Đức Bồ tát Quán Thế Âm trong Phật giáo được xem là hiện thân của chân lý, hạnh từ bi và của tình thương, bác ái, bình đẳng. Hạnh nguyện của đức Quán Thế Âm là sống với tâm hồn vô ngã vị tha, là sự thể hiện tiếng nói hòa bình, tiếng nói yêu thương trong lòng nhân loại. Chính vì vậy, hình tượng Quán Thế Âm rất gần gũi với đời sống tâm linh của người dân Việt Nam từ bao đời nay. Với truyền thống lâu đời và đã ăn sâu vào tâm linh người Việt, hằng năm, mỗi dịp lễ hội Quán Thế Âm được tổ chức đã thu hút rất đông tăng ni phật tử, người dân địa phương khách du lịch đến tham dự và cùng cầu nguyện những điều tốt đẹp cho bản thân, gia đình và xã hội. Các hòa thượng làm lễ nguyện cầu Quốc thái dân an Lễ hội Quán thế âm được tổ chức với 2 phần là phần lễ và phần hội. Phần lễ gồm có các nghi thức truyền thống như lễ niêm hương, lễ nguyện cầu Quốc thái dân an, lễ thả bong bóng, chim bồ câu nguyện cầu hòa bình, an lạc… Sau phần lễ là phần hội với nhiều hoạt động phong phú, sôi nổi như tổ chức hội trại Hạnh gia đình Phật tử; thuyết pháp, chương trình văn nghệ, phóng sanh đăng, lễ cầu an, đăng đàn chẩn tế. Các đại biểu thả bóng bay trong lễ hội Với những hoạt động phong phú và mang đậm nét văn hóa Phật giáo, lễ hội Quán Thế Âm đã góp phần làm phong phú thêm đời sống văn hóa tâm linh của vùng đất Cố đô Huế. Ngoài ra, Lễ hội Quán Thế Âm tổ chức hàng năm đã đóng góp một phần quan trọng vào sự nghiệp giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa đượm màu sắc Phật giáo, làm nổi bật nét ưu việt của trí tuệ và lòng từ bi nhân ái của Đức Bồ tát Quán thế âm. lehoi.info tổng hợp

(lehoi.info) - Lễ hội Quán Thế Âm tại Thừa Thiên - Huế là một lễ hội phật giáo được tổ chức vào ngày 19/6 Âm lịch hằng năm tại Trung tâm Du lịch tâm linh Phật giáo Quán Thế Âm ở núi Tứ Tượng, xã Thủy Bằng, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên - Huế.

Lễ hội Quán Thế Âm tại Thừa Thiên - Huế

Đức Bồ tát Quán Thế Âm trong Phật giáo được xem là hiện thân của chân lý, hạnh từ bi và của tình thương, bác ái, bình đẳng. Hạnh nguyện của đức Quán Thế Âm là sống với tâm hồn vô ngã vị tha, là sự thể hiện tiếng nói hòa bình, tiếng nói yêu thương trong lòng nhân loại. Chính vì vậy, hình tượng Quán Thế Âm rất gần gũi với đời sống tâm linh của người dân Việt Nam từ bao đời nay. Với truyền thống lâu đời và đã ăn sâu vào tâm linh người Việt, hằng năm, mỗi dịp lễ hội Quán Thế Âm được tổ chức đã thu hút rất đông tăng ni phật tử, người dân địa phương khách du lịch đến tham dự và cùng cầu nguyện những điều tốt đẹp cho bản thân, gia đình và xã hội. Các hòa thượng làm lễ nguyện cầu Quốc thái dân an Lễ hội Quán thế âm được tổ chức với 2 phần là phần lễ và phần hội. Phần lễ gồm có các nghi thức truyền thống như lễ niêm hương, lễ nguyện cầu Quốc thái dân an, lễ thả bong bóng, chim bồ câu nguyện cầu hòa bình, an lạc… Sau phần lễ là phần hội với nhiều hoạt động phong phú, sôi nổi như tổ chức hội trại Hạnh gia đình Phật tử; thuyết pháp, chương trình văn nghệ, phóng sanh đăng, lễ cầu an, đăng đàn chẩn tế. Các đại biểu thả bóng bay trong lễ hội Với những hoạt động phong phú và mang đậm nét văn hóa Phật giáo, lễ hội Quán Thế Âm đã góp phần làm phong phú thêm đời sống văn hóa tâm linh của vùng đất Cố đô Huế. Ngoài ra, Lễ hội Quán Thế Âm tổ chức hàng năm đã đóng góp một phần quan trọng vào sự nghiệp giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa đượm màu sắc Phật giáo, làm nổi bật nét ưu việt của trí tuệ và lòng từ bi nhân ái của Đức Bồ tát Quán thế âm. lehoi.info tổng hợp

Related Figures

Lễ hội Chùa Tiên tại Hòa Bình

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 4/1- 6/1 Âm lịch Chùa Tiên (Hòa Bình) là một địa chỉ du lịch ngày nay đã được nhiều người biết tới. Bởi nơi đây còn giữ được nhiều nét nguyên sơ hiếm có của một thung lũng giữa đại ngàn với những động thạch nhũ kỳ ảo và những đồi núi xanh mướt. Lễ hội Chùa Tiên đã có từ thời xa xưa và ngày nay đã trở nên nổi tiếng trong và ngoài tỉnh. Mỗi năm lễ hội lại được tổ chức đông vui hơn, quy mô hơn, thu hút du khách bốn phương tìm về nhiều hơn. Gọi tên là lễ hội Chùa Tiên, nhưng đây là lễ hội chung cho cả khu di tích mà địa điểm chính được đặt ở Chùa Tiên. Lượng khách kéo đến lễ hội Chùa Tiên càng ngày càng đông Đến với Quần thể di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh hang động Chùa Tiên là đến với tín ngưỡng tâm linh của người Việt. Du khách sẽ được tìm hiểu về Phong tục thờ Mẫu qua các di tích lịch sử như Đền Mẫu, Đền Trình, Chùa Tiên và các hang động được mang tên các vị thánh trong tín ngưỡng thờ Tứ phủ. Đồng thời du khách còn được khám phá những hang động còn lưu giữ những dấu vết của người Việt cổ. Ngoài ra còn có cơ hội được chiêm ngưỡng từng đàn cò trắng bay lượn dập dờn trên cánh đồng bát ngát màu xanh, chiêm ngưỡng những bức tranh thiên nhiên tuyệt mỹ mà tạo hóa đã ban tặng trong các hang động,... Mùa xuân cũng là mùa trẩy hội của du lịch Chùa Tiên thuộc xã Phú Lão, huyện Lạc Thuỷ, tỉnh Hoà Bình. Lễ hội chính được tổ chức từ ngày 4 đến ngày 6 tháng Giêng và kéo dài cho đến hết tháng Ba âm lịch. Khu buôn bán bên cạnh Chùa Tiên của của người dân địa phương Du khách đến với lễ hội Chùa Tiên sẽ được thưởng thức một di sản văn hoá vật thể và phi vật thể. Những chiếc kiệu như từ trong truyền thuyết, vừa cổ xưa, vừa mới mẻ, vừa lạ vừa quen, vừa bình dị lại vừa thiêng liêng. Trung tâm của đám rước là những chiếc kiệu Thành hoàng làng được khiêng trên đôi vai của các nam thanh nữ tú dân tộc Mường. Kiệu Thành hoàng có thể chạy, có thể đi, có thể bay khi có niềm tin và niềm tin thăng hoa. Các vị thần được thờ tại cụm di tích là Tam vị Tản viên và tứ vị Thánh Nương theo các sắc phong hiện còn được lưu giữ tại di tích do các triều vua phong tặng: Tự Đức thứ 6 (1853), Tự Đức thứ 33 (1880), Đồng Khánh thứ 2 (1887), Duy Tân thứ 3 (1909), Khải Định thứ 9 (1924) sắc chỉ cho xã Nhượng Lão (nay là xã Phú Lão). Các vị này đều được sắc phong là Thượng đẳng thần. Quần thể khu di tích Chùa Tiên xã Phú Lão bao gồm hơn 20 điểm di tích gồm nhiều loại hình như di tích lịch sử văn hoá, thắng cảnh, khảo cổ như: Đền Mẫu, Đền Trình, Đình Trung, Chùa Tiên, Động Châu Sơn, Động Tam Toà, Động Thuỷ Tiên, Động giải oan, động Cô Chín, động Ông Hoàng Bảy, Thung lũng tình yêu, suối vàng, suối bạc,... thăm hệ sinh thái thực vật, được bơi thuyền trên hồ đập Rập Bếch Bai Côm....Quần thể di tích này toạ lạc trong thung lũng của hai thôn Lão Nội và Lão Ngoại, được che chắn xung quanh bởi hai dãy núi trải dài như hai con rồng khổng lồ như đang muốn vươn mình tới trời xanh. Đoàn diễu hành nghi lễ Chùa Tiên, Hòa Bình Đến nơi đây du khách như được trở về với cội nguồn, được hòa mình với mây trời sắc núi, để rồi như cảm thấy tâm hồn thanh thản, nhẹ nhàng. Một ngày không xa khi tuyến cáp treo nối liền quần thể di tích Chùa Hương với Chùa Tiên hoàn thành thì chắc chắn nơi đây sẽ là điểm tham quan, thưởng ngoạn, hội tụ tâm linh, thỏa mãn nhu cầu của du khách.

Lượng khách kéo đến lễ hội Chùa Tiên càng ngày càng đông Đến với Quần thể di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh hang động Chùa Tiên là đến với tín ngưỡng tâm linh của người Việt. Du khách sẽ được tìm hiểu về Phong tục thờ Mẫu qua các di tích lịch sử như Đền Mẫu, Đền Trình, Chùa Tiên và các hang động được mang tên các vị thánh trong tín ngưỡng thờ Tứ phủ. Đồng thời du khách còn được khám phá những hang động còn lưu giữ những dấu vết của người Việt cổ. Ngoài ra còn có cơ hội được chiêm ngưỡng từng đàn cò trắng bay lượn dập dờn trên cánh đồng bát ngát màu xanh, chiêm ngưỡng những bức tranh thiên nhiên tuyệt mỹ mà tạo hóa đã ban tặng trong các hang động,... Mùa xuân cũng là mùa trẩy hội của du lịch Chùa Tiên thuộc xã Phú Lão, huyện Lạc Thuỷ, tỉnh Hoà Bình. Lễ hội chính được tổ chức từ ngày 4 đến ngày 6 tháng Giêng và kéo dài cho đến hết tháng Ba âm lịch. Khu buôn bán bên cạnh Chùa Tiên của của người dân địa phương Du khách đến với lễ hội Chùa Tiên sẽ được thưởng thức một di sản văn hoá vật thể và phi vật thể. Những chiếc kiệu như từ trong truyền thuyết, vừa cổ xưa, vừa mới mẻ, vừa lạ vừa quen, vừa bình dị lại vừa thiêng liêng. Trung tâm của đám rước là những chiếc kiệu Thành hoàng làng được khiêng trên đôi vai của các nam thanh nữ tú dân tộc Mường. Kiệu Thành hoàng có thể chạy, có thể đi, có thể bay khi có niềm tin và niềm tin thăng hoa. Các vị thần được thờ tại cụm di tích là Tam vị Tản viên và tứ vị Thánh Nương theo các sắc phong hiện còn được lưu giữ tại di tích do các triều vua phong tặng: Tự Đức thứ 6 (1853), Tự Đức thứ 33 (1880), Đồng Khánh thứ 2 (1887), Duy Tân thứ 3 (1909), Khải Định thứ 9 (1924) sắc chỉ cho xã Nhượng Lão (nay là xã Phú Lão). Các vị này đều được sắc phong là Thượng đẳng thần. Quần thể khu di tích Chùa Tiên xã Phú Lão bao gồm hơn 20 điểm di tích gồm nhiều loại hình như di tích lịch sử văn hoá, thắng cảnh, khảo cổ như: Đền Mẫu, Đền Trình, Đình Trung, Chùa Tiên, Động Châu Sơn, Động Tam Toà, Động Thuỷ Tiên, Động giải oan, động Cô Chín, động Ông Hoàng Bảy, Thung lũng tình yêu, suối vàng, suối bạc,... thăm hệ sinh thái thực vật, được bơi thuyền trên hồ đập Rập Bếch Bai Côm....Quần thể di tích này toạ lạc trong thung lũng của hai thôn Lão Nội và Lão Ngoại, được che chắn xung quanh bởi hai dãy núi trải dài như hai con rồng khổng lồ như đang muốn vươn mình tới trời xanh. Đoàn diễu hành nghi lễ Chùa Tiên, Hòa Bình Đến nơi đây du khách như được trở về với cội nguồn, được hòa mình với mây trời sắc núi, để rồi như cảm thấy tâm hồn thanh thản, nhẹ nhàng. Một ngày không xa khi tuyến cáp treo nối liền quần thể di tích Chùa Hương với Chùa Tiên hoàn thành thì chắc chắn nơi đây sẽ là điểm tham quan, thưởng ngoạn, hội tụ tâm linh, thỏa mãn nhu cầu của du khách.

Lượng khách kéo đến lễ hội Chùa Tiên càng ngày càng đông

Đến với Quần thể di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh hang động Chùa Tiên là đến với tín ngưỡng tâm linh của người Việt. Du khách sẽ được tìm hiểu về Phong tục thờ Mẫu qua các di tích lịch sử như Đền Mẫu, Đền Trình, Chùa Tiên và các hang động được mang tên các vị thánh trong tín ngưỡng thờ Tứ phủ. Đồng thời du khách còn được khám phá những hang động còn lưu giữ những dấu vết của người Việt cổ. Ngoài ra còn có cơ hội được chiêm ngưỡng từng đàn cò trắng bay lượn dập dờn trên cánh đồng bát ngát màu xanh, chiêm ngưỡng những bức tranh thiên nhiên tuyệt mỹ mà tạo hóa đã ban tặng trong các hang động,...

Mùa xuân cũng là mùa trẩy hội của du lịch Chùa Tiên thuộc xã Phú Lão, huyện Lạc Thuỷ, tỉnh Hoà Bình. Lễ hội chính được tổ chức từ ngày 4 đến ngày 6 tháng Giêng và kéo dài cho đến hết tháng Ba âm lịch.

Khu buôn bán bên cạnh Chùa Tiên của của người dân địa phương

Du khách đến với lễ hội Chùa Tiên sẽ được thưởng thức một di sản văn hoá vật thể và phi vật thể. Những chiếc kiệu như từ trong truyền thuyết, vừa cổ xưa, vừa mới mẻ, vừa lạ vừa quen, vừa bình dị lại vừa thiêng liêng. Trung tâm của đám rước là những chiếc kiệu Thành hoàng làng được khiêng trên đôi vai của các nam thanh nữ tú dân tộc Mường. Kiệu Thành hoàng có thể chạy, có thể đi, có thể bay khi có niềm tin và niềm tin thăng hoa.

Các vị thần được thờ tại cụm di tích là Tam vị Tản viên và tứ vị Thánh Nương theo các sắc phong hiện còn được lưu giữ tại di tích do các triều vua phong tặng: Tự Đức thứ 6 (1853), Tự Đức thứ 33 (1880), Đồng Khánh thứ 2 (1887), Duy Tân thứ 3 (1909), Khải Định thứ 9 (1924) sắc chỉ cho xã Nhượng Lão (nay là xã Phú Lão). Các vị này đều được sắc phong là Thượng đẳng thần.

Quần thể khu di tích Chùa Tiên xã Phú Lão bao gồm hơn 20 điểm di tích gồm nhiều loại hình như di tích lịch sử văn hoá, thắng cảnh, khảo cổ như: Đền Mẫu, Đền Trình, Đình Trung, Chùa Tiên, Động Châu Sơn, Động Tam Toà, Động Thuỷ Tiên, Động giải oan, động Cô Chín, động Ông Hoàng Bảy, Thung lũng tình yêu, suối vàng, suối bạc,... thăm hệ sinh thái thực vật, được bơi thuyền trên hồ đập Rập Bếch Bai Côm....Quần thể di tích này toạ lạc trong thung lũng của hai thôn Lão Nội và Lão Ngoại, được che chắn xung quanh bởi hai dãy núi trải dài như hai con rồng khổng lồ như đang muốn vươn mình tới trời xanh.

Đoàn diễu hành nghi lễ Chùa Tiên, Hòa Bình

Đến nơi đây du khách như được trở về với cội nguồn, được hòa mình với mây trời sắc núi, để rồi như cảm thấy tâm hồn thanh thản, nhẹ nhàng. Một ngày không xa khi tuyến cáp treo nối liền quần thể di tích Chùa Hương với Chùa Tiên hoàn thành thì chắc chắn nơi đây sẽ là điểm tham quan, thưởng ngoạn, hội tụ tâm linh, thỏa mãn nhu cầu của du khách.

Related Figures

Lễ hội khèn Mông

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 31/8- 2/9 Dương lịch Lễ hội khèn Mông là một trong những lễ hội truyền thống độc đáo của vùng đất cao nguyên đá Đồng Văn. Lễ hội này được tổ chức thường niên vào dịp tết độc lập (2/9) và thu hút rất đông đảo nghệ nhân Khèn của các bản làng và khách du lịch đến tham dự. Việc tổ chức lễ hội khèn Mông nhằm mục đích từng bước sưu tầm, khai thác, bảo tồn và phát huy thể loại nghệ thuật nhạc cụ khèn Mông, bảo tồn nét đẹp nhân văn của cây khèn, góp phần thiết thực trong việc xây dựng nền văn hóa các dân tộc, đồng thời phát triển kinh tế du lịch của địa phương. Lễ hội khèn Mông diễn ra vào dịp tết Độc Lập trên cao nguyên đá Hà Giang Lễ hội Khèn Mông được tổ chức thường niên là cơ hội tốt cho các nghệ nhân thể hiện tài năng của mình, đồng thời, đây cũng là cơ hội tốt để nghệ nhân khèn ở nhiều nơi khác nhau trong và ngoài huyện Đồng Văn có thể giao lưu, tranh tài và học hỏi lẫn nhau. Các nghệ nhân bên cây Khèn của mình Trong lễ hội khèn Mông, các nghệ nhân tham gia thi đấu thường biểu diễn theo cặp và họ sẽ thổi những khúc nhạc truyền thống gắn bó với người dân tộc miền núi, đó là những bài hát ăn sâu vào tâm trí của họ như khóc thương cha mẹ, xuống chợ, gọi bạn, tỏ tình…..Ẩn sau trong bản nhạc là tâm tình, cảm xúc, nỗi niềm cũng như ước muốn của người dân tộc Mông trong đời sống tinh thần và khán giả khi tham dự vào lễ hội sẽ được thả hồn mình vào trong từng làn điệu khèn bay bỏng. Tiếng khèn du dương, bay bỏng làm con người thấy vui và thoài mái hơn Cây Khèn từ lâu đã trở thành nhạc cụ truyền thống không thể thiếu trong nhạc cụ văn hoá của người dân tộc Mông ở vùng cao nguyên đá Đồng Văn. Đây là nhạc cụ tín ngưỡng linh thiêng không thể thiếu trong các ngày lễ, hội đồng thời là vật luôn bên người các chàng trai Mông để họ thể hiện khúc tâm tình của mình đến với cô gái mà họ yêu thương. Tiếng khèn là một phần hồn của người dân tộc Mông nên giữ tiếng khèn là giữ lấy cái bản sắc của dân tộc. Lễ hội khèn Mông được tổ chức hằng năm là dịp quan trọng để tôn vinh những nét đẹp văn hoá truyền thống này, đồng thời là sân chơi bổ ích mang lại niềm vui và hạnh phúc cho đồng bào dân tộc Mông, thể hiện tính nhân văn trong đời sống tinh thần của người dân tộc Mông trên vùng đất cao nguyên đá Hà Giang.

Việc tổ chức lễ hội khèn Mông nhằm mục đích từng bước sưu tầm, khai thác, bảo tồn và phát huy thể loại nghệ thuật nhạc cụ khèn Mông, bảo tồn nét đẹp nhân văn của cây khèn, góp phần thiết thực trong việc xây dựng nền văn hóa các dân tộc, đồng thời phát triển kinh tế du lịch của địa phương.

Lễ hội khèn Mông diễn ra vào dịp tết Độc Lập trên cao nguyên đá Hà Giang Lễ hội Khèn Mông được tổ chức thường niên là cơ hội tốt cho các nghệ nhân thể hiện tài năng của mình, đồng thời, đây cũng là cơ hội tốt để nghệ nhân khèn ở nhiều nơi khác nhau trong và ngoài huyện Đồng Văn có thể giao lưu, tranh tài và học hỏi lẫn nhau. Các nghệ nhân bên cây Khèn của mình Trong lễ hội khèn Mông, các nghệ nhân tham gia thi đấu thường biểu diễn theo cặp và họ sẽ thổi những khúc nhạc truyền thống gắn bó với người dân tộc miền núi, đó là những bài hát ăn sâu vào tâm trí của họ như khóc thương cha mẹ, xuống chợ, gọi bạn, tỏ tình…..Ẩn sau trong bản nhạc là tâm tình, cảm xúc, nỗi niềm cũng như ước muốn của người dân tộc Mông trong đời sống tinh thần và khán giả khi tham dự vào lễ hội sẽ được thả hồn mình vào trong từng làn điệu khèn bay bỏng. Tiếng khèn du dương, bay bỏng làm con người thấy vui và thoài mái hơn Cây Khèn từ lâu đã trở thành nhạc cụ truyền thống không thể thiếu trong nhạc cụ văn hoá của người dân tộc Mông ở vùng cao nguyên đá Đồng Văn. Đây là nhạc cụ tín ngưỡng linh thiêng không thể thiếu trong các ngày lễ, hội đồng thời là vật luôn bên người các chàng trai Mông để họ thể hiện khúc tâm tình của mình đến với cô gái mà họ yêu thương. Tiếng khèn là một phần hồn của người dân tộc Mông nên giữ tiếng khèn là giữ lấy cái bản sắc của dân tộc. Lễ hội khèn Mông được tổ chức hằng năm là dịp quan trọng để tôn vinh những nét đẹp văn hoá truyền thống này, đồng thời là sân chơi bổ ích mang lại niềm vui và hạnh phúc cho đồng bào dân tộc Mông, thể hiện tính nhân văn trong đời sống tinh thần của người dân tộc Mông trên vùng đất cao nguyên đá Hà Giang.

Lễ hội Khèn Mông được tổ chức thường niên là cơ hội tốt cho các nghệ nhân thể hiện tài năng của mình, đồng thời, đây cũng là cơ hội tốt để nghệ nhân khèn ở nhiều nơi khác nhau trong và ngoài huyện Đồng Văn có thể giao lưu, tranh tài và học hỏi lẫn nhau.

Các nghệ nhân bên cây Khèn của mình

Trong lễ hội khèn Mông, các nghệ nhân tham gia thi đấu thường biểu diễn theo cặp và họ sẽ thổi những khúc nhạc truyền thống gắn bó với người dân tộc miền núi, đó là những bài hát ăn sâu vào tâm trí của họ như khóc thương cha mẹ, xuống chợ, gọi bạn, tỏ tình…..Ẩn sau trong bản nhạc là tâm tình, cảm xúc, nỗi niềm cũng như ước muốn của người dân tộc Mông trong đời sống tinh thần và khán giả khi tham dự vào lễ hội sẽ được thả hồn mình vào trong từng làn điệu khèn bay bỏng.

Tiếng khèn du dương, bay bỏng làm con người thấy vui và thoài mái hơn

Cây Khèn từ lâu đã trở thành nhạc cụ truyền thống không thể thiếu trong nhạc cụ văn hoá của người dân tộc Mông ở vùng cao nguyên đá Đồng Văn. Đây là nhạc cụ tín ngưỡng linh thiêng không thể thiếu trong các ngày lễ, hội đồng thời là vật luôn bên người các chàng trai Mông để họ thể hiện khúc tâm tình của mình đến với cô gái mà họ yêu thương.

Tiếng khèn là một phần hồn của người dân tộc Mông nên giữ tiếng khèn là giữ lấy cái bản sắc của dân tộc. Lễ hội khèn Mông được tổ chức hằng năm là dịp quan trọng để tôn vinh những nét đẹp văn hoá truyền thống này, đồng thời là sân chơi bổ ích mang lại niềm vui và hạnh phúc cho đồng bào dân tộc Mông, thể hiện tính nhân văn trong đời sống tinh thần của người dân tộc Mông trên vùng đất cao nguyên đá Hà Giang.

Related Figures

Lễ hội Trung Thu

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/8- 15/8 Âm lịch Với mong muốn để các em nhỏ tại Hà Nội có một dịp tết Trung thu vui vẻ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã có quyết định giao cho Trung tâm Triển lãm văn hóa nghệ thuật Việt Nam phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức “Lễ hội Trung thu" đầu tiên vào năm 2013 tại Trung tâm Triển lãm văn hóa nghệ thuật Việt Nam, số 2 Hoa Lư, Hai Bà Trưng, Hà Nội và từ đó Lễ hội trung thu đã trở thành một ngày lễ thường niên của các em thiếu nhi vào mỗi dịp tết Trung thu. Tết Trung Thu là một ngày tết của trẻ em hay còn được gọi là Tết trông Trăng hay Tết hoa đăng. Ở nước ta, tết Trung thu là một trong bốn tết quan trọng nhất trong năm theo lịch âm, đó là: Tết Nguyên đán; Tết Trung thu; Tết Đoan ngọ và Tết Cơm mới. Tết Trung Thu là một ngày tết của trẻ em hay còn được gọi là Tết trông Trăng, Tết hoa đăng. Trẻ em rất mong đợi được đón tết này vì thường được người lớn mua quần áo mới, đưa đi chơi hay tặng các món đồ chơi nhỏ như đèn ông sao, mặt nạ, đèn kéo quân, súng phun nước, tò he,... rồi được ăn bánh nướng, bánh dẻo. Vào ngày tết này, người lớn sẽ tổ chức bày cỗ trông trăng. Thời điểm trăng lên cao, trẻ em sẽ vừa múa hát vừa ngắm trăng và phá cỗ. Ở một số nơi người ta còn tổ chức múa lân, múa sư tử, múa rồng để các em vui chơi thoả thích. trong suốt những ngày diễn ra lễ hội các em nhỏ sẽ được học làm đồ chơi trung thu Lễ hội Trung thu lần đầu tiên được tổ chức tại Hà Nội vào năm 2013 và từ đó đến nay đã trở thành một lễ hội truyền thống của các em thiếu nhi thủ đô. Lễ hội được tổ chức từ ngày mùng 10 đến 15 tháng 8 âm lịch và trong suốt những ngày diễn ra lễ hội các em nhỏ sẽ được tham gia nhiều hoạt động bổ ích, ý nghĩa như học làm đồ chơi trung thu: Đèn ông sao, đèn kéo quân, ông tiến sỹ, ông đánh gậy...; học làm đồ chơi bằng lá, đất, bột; trình diễn làm cốm; tập cắt tỉa hoa quả và bày mâm cỗ trung thu, tập múa, hát các bài hát về Trung thu... Các em nhỏ biểu diễn múa hát mừng tết Trung thu trong trang phục truyền thống Đặc biệt vào đêm trung thu 15/8, các bạn nhỏ sẽ được tham dự vào một chương trình văn nghệ đặc biệt chào mừng tết Trung thu với những màn biểu diễn múa hát dân gian trong trang phục truyền thống, thưởng thức màn kịch sân khấu đặc biệt sự tham gia của chú Cuội và Chị Hằng kể về sự tích liên quan đến tết Trung thu, phá cỗ tết Trung thu và chơi các trò chơi dân gian truyền thống khác.... Việc mở rộng Tết Trung thu cho trẻ em thành Lễ hội Trung thu được tổ chức thường niên đã thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành, các tổ chức đoàn thể và xã hội đối với trẻ em, đồng thời bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.

Với mong muốn để các em nhỏ tại Hà Nội có một dịp tết Trung thu vui vẻ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã có quyết định giao cho Trung tâm Triển lãm văn hóa nghệ thuật Việt Nam phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức “Lễ hội Trung thu" đầu tiên vào năm 2013 tại Trung tâm Triển lãm văn hóa nghệ thuật Việt Nam, số 2 Hoa Lư, Hai Bà Trưng, Hà Nội và từ đó Lễ hội trung thu đã trở thành một ngày lễ thường niên của các em thiếu nhi vào mỗi dịp tết Trung thu.

Tết Trung Thu là một ngày tết của trẻ em hay còn được gọi là Tết trông Trăng hay Tết hoa đăng.

Ở nước ta, tết Trung thu là một trong bốn tết quan trọng nhất trong năm theo lịch âm, đó là: Tết Nguyên đán; Tết Trung thu; Tết Đoan ngọ và Tết Cơm mới.

trong suốt những ngày diễn ra lễ hội các em nhỏ sẽ được học làm đồ chơi trung thu Lễ hội Trung thu lần đầu tiên được tổ chức tại Hà Nội vào năm 2013 và từ đó đến nay đã trở thành một lễ hội truyền thống của các em thiếu nhi thủ đô. Lễ hội được tổ chức từ ngày mùng 10 đến 15 tháng 8 âm lịch và trong suốt những ngày diễn ra lễ hội các em nhỏ sẽ được tham gia nhiều hoạt động bổ ích, ý nghĩa như học làm đồ chơi trung thu: Đèn ông sao, đèn kéo quân, ông tiến sỹ, ông đánh gậy...; học làm đồ chơi bằng lá, đất, bột; trình diễn làm cốm; tập cắt tỉa hoa quả và bày mâm cỗ trung thu, tập múa, hát các bài hát về Trung thu... Các em nhỏ biểu diễn múa hát mừng tết Trung thu trong trang phục truyền thống Đặc biệt vào đêm trung thu 15/8, các bạn nhỏ sẽ được tham dự vào một chương trình văn nghệ đặc biệt chào mừng tết Trung thu với những màn biểu diễn múa hát dân gian trong trang phục truyền thống, thưởng thức màn kịch sân khấu đặc biệt sự tham gia của chú Cuội và Chị Hằng kể về sự tích liên quan đến tết Trung thu, phá cỗ tết Trung thu và chơi các trò chơi dân gian truyền thống khác.... Việc mở rộng Tết Trung thu cho trẻ em thành Lễ hội Trung thu được tổ chức thường niên đã thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành, các tổ chức đoàn thể và xã hội đối với trẻ em, đồng thời bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.

Lễ hội Trung thu lần đầu tiên được tổ chức tại Hà Nội vào năm 2013 và từ đó đến nay đã trở thành một lễ hội truyền thống của các em thiếu nhi thủ đô. Lễ hội được tổ chức từ ngày mùng 10 đến 15 tháng 8 âm lịch và trong suốt những ngày diễn ra lễ hội các em nhỏ sẽ được tham gia nhiều hoạt động bổ ích, ý nghĩa như học làm đồ chơi trung thu: Đèn ông sao, đèn kéo quân, ông tiến sỹ, ông đánh gậy...; học làm đồ chơi bằng lá, đất, bột; trình diễn làm cốm; tập cắt tỉa hoa quả và bày mâm cỗ trung thu, tập múa, hát các bài hát về Trung thu...

Các em nhỏ biểu diễn múa hát mừng tết Trung thu trong trang phục truyền thống

Đặc biệt vào đêm trung thu 15/8, các bạn nhỏ sẽ được tham dự vào một chương trình văn nghệ đặc biệt chào mừng tết Trung thu với những màn biểu diễn múa hát dân gian trong trang phục truyền thống, thưởng thức màn kịch sân khấu đặc biệt sự tham gia của chú Cuội và Chị Hằng kể về sự tích liên quan đến tết Trung thu, phá cỗ tết Trung thu và chơi các trò chơi dân gian truyền thống khác....

Việc mở rộng Tết Trung thu cho trẻ em thành Lễ hội Trung thu được tổ chức thường niên đã thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành, các tổ chức đoàn thể và xã hội đối với trẻ em, đồng thời bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.

Related Figures

Lễ hội đánh cá Đồng Hoa tại Hà Tĩnh

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 5/5 Âm lịch Được tổ chức mỗi năm một lần, lễ hội đánh cá Đồng Hoa còn được người dân địa phương gọi là lễ hội đánh Vực Rào. Đầm nước được chọn để tổ chức lễ hội nằm dưới chân dãy núi Hồng Lĩnh, có tên là đầm Vực. Đầm nước được chọn để tổ chức lễ hội có tên là đầm Vực, nằm dưới chân dãy núi Hồng Lĩnh Theo các cụ cao niên trong làng thì lễ hội đánh cá Đồng Hoa ngày trước được tổ chức khá quy củ. Làng lập ra quy định, có ban quản lý tuần tra canh gác, ngày thường không cho người dân đến đánh bắt cá, mọi người trong xã chỉ được tham gia hội và đánh bắt cá tại đầm Vực vào ngày lễ. Theo đó, hàng năm cứ vào ngày mồng 5 tháng 5 âm lịch được chọn là ngày tổ chức lễ hội chính. Vào ngày này, tại ngôi miếu cạnh đầm Vực, Lý trưởng (người đứng đầu làng) và các bậc cao niên trong làng cho lập bàn thờ, hương đăng, hoa quả cúng tế Thành Hoàng bản thổ. Sau khi làm lễ xong, một hồi trống chiêng vang dậy, Lý trưởng hú to một tiếng và đích thân cầm nơm xuống đầm úp cá trước. Sau đó tất cả mọi người trong làng, ai ai cũng tay nơm, tay lưới từ già trẻ gái trai ào xuống đầm để thi nhau bắt cá. Người dân thi nhau bắt cá. Ai cũng hy vọng bắt được cá to để đem lại may mắn Người ta quan niệm rằng, ai bắt được cá to hoặc nhiều cá thì trong suốt năm ấy sẽ gặp nhiều may mắn, mùa màng bội thu. Sau một ngày diễn ra lễ hội, người nào bắt được con cá to nhất sẽ được làng ban thưởng và con cá ấy sẽ đươc dùng làm đồ cúng dâng lên Thành hoàng làng nhân dịp tết Đoan Ngọ. Lễ hội đánh cá Đồng Hoa (hay còn gọi là Đầm Vực) là một lễ hội truyền thống được diễn ra hàng năm để cầu mong may mắn, gia đình no ấm, mùa màng bội thu, gắn kết thêm tình cảm, sự gắn bó của người dân địa phương...Vào ngày của lễ hội, hàng chục ngư cụ đánh bắt cá như nơm, nhủi, lưới, vó, … đều được người dân chuẩn bị đem đến lễ hội. Những người tham gia lễ hội không kể già - trẻ, gái - trai đều đồng loạt ùa xuống đầm để tranh nhau bắt cá sau khi diễn ra phần nghi lễ truyền thống. Sau những tháng ngày lao động mệt nhọc, lễ hội đánh cá bắt đầu diễn ra cũng là lúc không khí của cả một vùng quê trở nên rộn ràng, nhộn nhịp tưng bừng. Dưới đầm, từng dòng người chật kín, những bước chân san sát đua nhau đánh bắt cá. Trên bờ, những tiếng hò reo cổ vũ huyên náo, nhịp nhàng theo những chiến lợi phẩm bắt được của những người tham gia đã khiến cho không khí lễ hội càng trở nên sôi động. Ai cũng háo hức, vui vẻ tham gia thi bắt cá Người ta quan niệm rằng, ai bắt được cá to hoặc nhiều cá thì trong năm đó sẽ được gặp nhiều may mắn, gia đình sẽ no ấm sung túc, mùa màng bội thu. Đặc biệt, những người tham gia đánh bắt cá không bao giờ bán lại cá cho ai, vì họ cho rằng đấy chính là bán đi sự may mắn của mình. Vào ngày cuối của lễ hội, nhân dịp Tết Đoan Ngọ (5/5 âm lịch), con cá to nhất sẽ được dùng làm lễ cúng Thành hoàng làng. Đồng thời, người bắt được con cá đó sẽ được ban thưởng, vinh danh trước dân làng và những người tham gia lễ hội. Hiện nay, Hà Tĩnh là một trong 3 tỉnh duy nhất trên cả nước còn lưu giữ được lễ hội đánh cá truyền thống này cùng với tỉnh Hà Tây (cũ) và Phú Thọ.

Được tổ chức mỗi năm một lần, lễ hội đánh cá Đồng Hoa còn được người dân địa phương gọi là lễ hội đánh Vực Rào. Đầm nước được chọn để tổ chức lễ hội nằm dưới chân dãy núi Hồng Lĩnh, có tên là đầm Vực.

Đầm nước được chọn để tổ chức lễ hội có tên là đầm Vực, nằm dưới chân dãy núi Hồng Lĩnh

Theo các cụ cao niên trong làng thì lễ hội đánh cá Đồng Hoa ngày trước được tổ chức khá quy củ. Làng lập ra quy định, có ban quản lý tuần tra canh gác, ngày thường không cho người dân đến đánh bắt cá, mọi người trong xã chỉ được tham gia hội và đánh bắt cá tại đầm Vực vào ngày lễ.

Theo đó, hàng năm cứ vào ngày mồng 5 tháng 5 âm lịch được chọn là ngày tổ chức lễ hội chính. Vào ngày này, tại ngôi miếu cạnh đầm Vực, Lý trưởng (người đứng đầu làng) và các bậc cao niên trong làng cho lập bàn thờ, hương đăng, hoa quả cúng tế Thành Hoàng bản thổ.

Sau khi làm lễ xong, một hồi trống chiêng vang dậy, Lý trưởng hú to một tiếng và đích thân cầm nơm xuống đầm úp cá trước. Sau đó tất cả mọi người trong làng, ai ai cũng tay nơm, tay lưới từ già trẻ gái trai ào xuống đầm để thi nhau bắt cá.

Người dân thi nhau bắt cá. Ai cũng hy vọng bắt được cá to để đem lại may mắn Người ta quan niệm rằng, ai bắt được cá to hoặc nhiều cá thì trong suốt năm ấy sẽ gặp nhiều may mắn, mùa màng bội thu. Sau một ngày diễn ra lễ hội, người nào bắt được con cá to nhất sẽ được làng ban thưởng và con cá ấy sẽ đươc dùng làm đồ cúng dâng lên Thành hoàng làng nhân dịp tết Đoan Ngọ.

Lễ hội đánh cá Đồng Hoa (hay còn gọi là Đầm Vực) là một lễ hội truyền thống được diễn ra hàng năm để cầu mong may mắn, gia đình no ấm, mùa màng bội thu, gắn kết thêm tình cảm, sự gắn bó của người dân địa phương...Vào ngày của lễ hội, hàng chục ngư cụ đánh bắt cá như nơm, nhủi, lưới, vó, … đều được người dân chuẩn bị đem đến lễ hội.

Những người tham gia lễ hội không kể già - trẻ, gái - trai đều đồng loạt ùa xuống đầm để tranh nhau bắt cá sau khi diễn ra phần nghi lễ truyền thống. Sau những tháng ngày lao động mệt nhọc, lễ hội đánh cá bắt đầu diễn ra cũng là lúc không khí của cả một vùng quê trở nên rộn ràng, nhộn nhịp tưng bừng. Dưới đầm, từng dòng người chật kín, những bước chân san sát đua nhau đánh bắt cá. Trên bờ, những tiếng hò reo cổ vũ huyên náo, nhịp nhàng theo những chiến lợi phẩm bắt được của những người tham gia đã khiến cho không khí lễ hội càng trở nên sôi động.

Ai cũng háo hức, vui vẻ tham gia thi bắt cá

Người ta quan niệm rằng, ai bắt được cá to hoặc nhiều cá thì trong năm đó sẽ được gặp nhiều may mắn, gia đình sẽ no ấm sung túc, mùa màng bội thu. Đặc biệt, những người tham gia đánh bắt cá không bao giờ bán lại cá cho ai, vì họ cho rằng đấy chính là bán đi sự may mắn của mình.

Vào ngày cuối của lễ hội, nhân dịp Tết Đoan Ngọ (5/5 âm lịch), con cá to nhất sẽ được dùng làm lễ cúng Thành hoàng làng. Đồng thời, người bắt được con cá đó sẽ được ban thưởng, vinh danh trước dân làng và những người tham gia lễ hội.

Hiện nay, Hà Tĩnh là một trong 3 tỉnh duy nhất trên cả nước còn lưu giữ được lễ hội đánh cá truyền thống này cùng với tỉnh Hà Tây (cũ) và Phú Thọ.

Related Figures

Lễ hội Đền An Sinh

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 20/8- 22/8 Âm lịch Lễ hội Đền An Sinh được tổ chức vào ngày 20/8 âm lịch hàng năm tại Khu di tích đền, lăng mộ các vua Trần ở xã An Sinh, huyện Đông Triều (Quảng Ninh) nhằm tưởng nhớ, tôn vinh công lao của các vị vua nhà Trần và Đức thánh Trần Hưng Đạo. Đền An Sinh là di tích quan trọng thuộc Khu di tích nhà Trần ở Đông Triều, nơi thờ tự và tế lễ của các vua Trần và là trung tâm tín ngưỡng quan trọng dưới thời Trần, Lê, Nguyễn trong lịch sử Việt Nam. Khu di tích đền An Sinh Khu di tích đền An Sinh bao gồm một ngôi đền và lăng mộ của các vị vua Trần, nằm rải rác trong một khuôn viên khá rộng lớn có bán kính 20 km để thờ 8 vị Hoàng Ðế thời Trần. Khu di tích này được xây dựng thời Trần, trùng tu vào thời Hậu Lê và thời Nguyễn. Qua thời gian, di tích đã xuống cấp và đã được chính quyền tỉnh Quảng Ninh trùng tu, phục dựng lại vào năm 2000. Màn múa rồng trước khai hội đền An Sinh Lễ hội Đền An Sinh diễn ra trong 3 ngày từ 20 đến 22/8 hằng năm với nhiều nghi lễ truyền thống như lễ rước, tế. Ngày tổ chức lễ hội đền An Sinh cũng chính là là ngày giỗ của vị Anh hùng dân tộc Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Chính vì vậy, Lễ hội đền An Sinh là dịp để nhân dân và du khách thập phương đến dâng lễ vật, hương hoa tưởng nhớ các vị vua nhà Trần cùng "Đức thánh Trần Hưng Đạo", cầu mong phù hộ cho mưa thuận gió hoà, đất nước bình yên, người dân mạnh khoẻ, an vui… Dâng lễ vật lên các vị vua Trần Sau phần nghi lễ trang trọng là phần hội với nhiều hoạt động phong phú, sôi nổi như thi đấu bóng chuyền, biểu diễn võ thuật, thể dục dưỡng sinh, kéo co, đập niêu, thi đấu cờ tướng… cùng nhiều chương trình văn nghệ đặc sắc. Lễ hội đền An Sinh được tổ chức không chỉ là dịp ghi nhớ công ơn các vị vua nhà Trần cùng "Đức thánh Trần Hưng Đạo" mà còn là dịp để thế hệ sau ôn lại truyền thống quý báu của dân tộc. Thông qua lễ hội nhằm kế thừa và phát huy những truyền thống tốt đẹp đó, nâng cao nhận thức cho thế hệ trẻ về việc giữ gìn, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, góp phần tạo nên những bản sắc văn hoá riêng của vùng đất và con người Quảng Ninh.

Đền An Sinh là di tích quan trọng thuộc Khu di tích nhà Trần ở Đông Triều, nơi thờ tự và tế lễ của các vua Trần và là trung tâm tín ngưỡng quan trọng dưới thời Trần, Lê, Nguyễn trong lịch sử Việt Nam.

Khu di tích đền An Sinh

Khu di tích đền An Sinh bao gồm một ngôi đền và lăng mộ của các vị vua Trần, nằm rải rác trong một khuôn viên khá rộng lớn có bán kính 20 km để thờ 8 vị Hoàng Ðế thời Trần. Khu di tích này được xây dựng thời Trần, trùng tu vào thời Hậu Lê và thời Nguyễn. Qua thời gian, di tích đã xuống cấp và đã được chính quyền tỉnh Quảng Ninh trùng tu, phục dựng lại vào năm 2000.

Màn múa rồng trước khai hội đền An Sinh

Lễ hội Đền An Sinh diễn ra trong 3 ngày từ 20 đến 22/8 hằng năm với nhiều nghi lễ truyền thống như lễ rước, tế. Ngày tổ chức lễ hội đền An Sinh cũng chính là là ngày giỗ của vị Anh hùng dân tộc Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Chính vì vậy, Lễ hội đền An Sinh là dịp để nhân dân và du khách thập phương đến dâng lễ vật, hương hoa tưởng nhớ các vị vua nhà Trần cùng "Đức thánh Trần Hưng Đạo", cầu mong phù hộ cho mưa thuận gió hoà, đất nước bình yên, người dân mạnh khoẻ, an vui… Dâng lễ vật lên các vị vua Trần Sau phần nghi lễ trang trọng là phần hội với nhiều hoạt động phong phú, sôi nổi như thi đấu bóng chuyền, biểu diễn võ thuật, thể dục dưỡng sinh, kéo co, đập niêu, thi đấu cờ tướng… cùng nhiều chương trình văn nghệ đặc sắc. Lễ hội đền An Sinh được tổ chức không chỉ là dịp ghi nhớ công ơn các vị vua nhà Trần cùng "Đức thánh Trần Hưng Đạo" mà còn là dịp để thế hệ sau ôn lại truyền thống quý báu của dân tộc. Thông qua lễ hội nhằm kế thừa và phát huy những truyền thống tốt đẹp đó, nâng cao nhận thức cho thế hệ trẻ về việc giữ gìn, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, góp phần tạo nên những bản sắc văn hoá riêng của vùng đất và con người Quảng Ninh.

Lễ hội Đền An Sinh diễn ra trong 3 ngày từ 20 đến 22/8 hằng năm với nhiều nghi lễ truyền thống như lễ rước, tế. Ngày tổ chức lễ hội đền An Sinh cũng chính là là ngày giỗ của vị Anh hùng dân tộc Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Chính vì vậy, Lễ hội đền An Sinh là dịp để nhân dân và du khách thập phương đến dâng lễ vật, hương hoa tưởng nhớ các vị vua nhà Trần cùng "Đức thánh Trần Hưng Đạo", cầu mong phù hộ cho mưa thuận gió hoà, đất nước bình yên, người dân mạnh khoẻ, an vui… Dâng lễ vật lên các vị vua Trần Sau phần nghi lễ trang trọng là phần hội với nhiều hoạt động phong phú, sôi nổi như thi đấu bóng chuyền, biểu diễn võ thuật, thể dục dưỡng sinh, kéo co, đập niêu, thi đấu cờ tướng… cùng nhiều chương trình văn nghệ đặc sắc. Lễ hội đền An Sinh được tổ chức không chỉ là dịp ghi nhớ công ơn các vị vua nhà Trần cùng "Đức thánh Trần Hưng Đạo" mà còn là dịp để thế hệ sau ôn lại truyền thống quý báu của dân tộc. Thông qua lễ hội nhằm kế thừa và phát huy những truyền thống tốt đẹp đó, nâng cao nhận thức cho thế hệ trẻ về việc giữ gìn, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, góp phần tạo nên những bản sắc văn hoá riêng của vùng đất và con người Quảng Ninh.

Lễ hội Đền An Sinh diễn ra trong 3 ngày từ 20 đến 22/8 hằng năm với nhiều nghi lễ truyền thống như lễ rước, tế. Ngày tổ chức lễ hội đền An Sinh cũng chính là là ngày giỗ của vị Anh hùng dân tộc Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Chính vì vậy, Lễ hội đền An Sinh là dịp để nhân dân và du khách thập phương đến dâng lễ vật, hương hoa tưởng nhớ các vị vua nhà Trần cùng "Đức thánh Trần Hưng Đạo", cầu mong phù hộ cho mưa thuận gió hoà, đất nước bình yên, người dân mạnh khoẻ, an vui…

Dâng lễ vật lên các vị vua Trần

Sau phần nghi lễ trang trọng là phần hội với nhiều hoạt động phong phú, sôi nổi như thi đấu bóng chuyền, biểu diễn võ thuật, thể dục dưỡng sinh, kéo co, đập niêu, thi đấu cờ tướng… cùng nhiều chương trình văn nghệ đặc sắc.

Lễ hội đền An Sinh được tổ chức không chỉ là dịp ghi nhớ công ơn các vị vua nhà Trần cùng "Đức thánh Trần Hưng Đạo" mà còn là dịp để thế hệ sau ôn lại truyền thống quý báu của dân tộc. Thông qua lễ hội nhằm kế thừa và phát huy những truyền thống tốt đẹp đó, nâng cao nhận thức cho thế hệ trẻ về việc giữ gìn, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, góp phần tạo nên những bản sắc văn hoá riêng của vùng đất và con người Quảng Ninh.

Related Figures

Lễ hội Katê truyền thống của người Chăm theo đạo Bàlamôn

Thông tin thời kỳ

Katê là một lễ hội truyền thống của người Chăm theo đạo Balamôn và Hồi giáo (dòng Bà ni) ở các tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận. Lễ hội thường được tổ chức vào đầu tháng 7 Chăm lịch hàng năm (tức khoảng cuối tháng 9 hoặc trong tháng 10 dương lịch). Cũng như tết cổ truyền của người Việt, đối với đồng bào người Chăm tại hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận thì lễ hội Katê giống như ngày tết truyền thống của họ. Địa điểm tổ chức lễ hội Katê của người Chăm chủ yếu ở một số tháp Chăm như di tích tháp Chăm Pô Sah Inư (thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận); tháp Pô Klông Garai (thành phố Phan Rang Tháp Chàm, tình Ninh Thuận); tháp Pô Rômê và đền Pô Nagar (huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận). Ngoài ra, lễ hội còn được cộng đồng Chăm tổ chức tại các làng Chăm, trong dòng họ và gia đình người Chăm theo đạo Balamôn và Hồi giáo (dòng Bà ni). Hàng ngàn người dân tộc Chăm đổ về các đền tháp tham dự lễ hội Kate Theo những người Chăm theo đạo Bàlamôn và người Chăm theo đạo Bàni, Katê là một lễ hội dân gian đậm đà bản sắc nhất trong kho tàng văn hóa dân tộc mình, là bức tranh phác họa rõ nét nhất đời sống sinh hoạt cộng đồng; nơi hội tụ những giá trị tinh hoa văn hóa của dân tộc mình. Ngoài ra, đây là cũng dịp để người Chăm từ mọi miền đất nước trở về quê cha đất tổ để đoàn tụ cùng gia đình, bạn bè, dòng họ của mình. Vào những ngày tổ chức lễ hội, tại các đền, tháp Chăm sẽ có những nghi lễ truyền thống như: Lễ rước y trang, lễ mở cửa tháp, lễ tắm tượng thần, lễ mặc y phục cho tượng thần. Tháp Chăm - Nơi tổ chức lễ hội Katê Lễ đón rước y trang: Là nghi lễ diễn ra ở một số đền, tháp nơi tổ chức lễ hội như tháp Chăm Pô Sah Inư, tháp Pô Klông Garai, tháp Pô Rômê, Pô Nagar. Đây là lễ đón rước y trang của Nữ thần Pô Ina Nagar - Thần mẹ xứ sở, thủy tổ của người Chăm gắn liền với nhiều huyền thoại, truyền thuyết thờ Mẫu của dân tộc Chăm và cũng có ảnh hưởng đến các dân tộc ở Việt Nam. Lễ mở cửa đền, tháp: Đây là nghi lễ do một vị Cả sư trụ trì, trong nghi lễ này, các tu sĩ làm lễ cầu xin các vị thần linh cho phép được mở cửa đền, tháp. Lễ này được diễn ra trước cửa đền, tháp trong không khí rất tôn nghiêm và sau đó đoàn người gồm cả sư, bà bóng, thầy kéo đàn Kanhi và các giáo đồ trung tín sẽ theo thứ tự tiến vào tháp. Lễ tắm tượng thần: Lễ này được diễn ra bên trong đền, tháp. Nghi lễ này do Cả sư và ông Kadhar - thầy kéo đàn Kanhi tiến hành. Họ sẽ hát những bài ca tụng công ơn của các vị vua, Muk Pajâu (bà Bóng), ông Camưnay (Ông Từ) và một số tín đồ nhiệt thành khác.Sau đó, vị cả sư cầm lọ nước thánh có pha trầm hương để tưới lên tượng thần (tượng thần bằng đá dưới hình thể linga hình mặt người). Lễ mặc y phục cho tượng thần: Sau khi lễ tắm tượng thần kết thúc thì đến phần nghi lễ mặc áo cho thần. Phần lễ này được tiến hành nhịp nhàng theo các câu hát của thầy kéo đàn Kanhi và tiếng hát của ông Kadhar. Khi ông Kadhar đang hát thì ông Camunay và Muk Pajâu mặc váy, áo cho tượng thần. Cứ như thế cho đến khi mặc y phục cho tượng thần xong. lễ múa mừng lễ hội Katê với các điệu múa duyên dáng, uyển chuyển của các thiếu nữ Chăm Các nghi lễ nói trên đều được thực hiện rất tôn nghiêm, thành kính và đầy tính tâm linh. Sau khi các nghi lễ hoàn tất, họ sẽ múa cầu an và dâng lễ, sau đó là lễ múa mừng lễ hội Katê với các điệu múa duyên dáng, uyển chuyển của các thiếu nữ Chăm hòa nhịp trong tiếng đàn Ka Nhi, tiếng trống Baranưng, tiếng trống Ghi- năng và tiếng kèn Saranai. Sau khi phần lễ ở các tháp Chăm kết thúc thì phần hội sẽ được diễn ra rất sôi nổi ở các làng, thôn xóm của người Chăm. Trong dịp này, họ thường tổ chức những trò chơi dân gian đặc sắc như : hội thi dệt vải, làm gốm, đội nước, múa quạt, đánh cồng chiêng, ca hát uống rượu, tổ chức trưng bày triển lãm gốm, mở các gian hàng dệt thổ cẩm, gốm tại các gia đình, cúng Katê thần làng; tổ chức biểu diễn văn nghệ dân gian; các trò chơi dân gian, giao lưu thể thao…. Khi lễ hội ở làng kết thúc thì lễ Katê ở các dòng tộc và gia đình trong đồng bào Chăm mới được tổ chức. Trong thời gian này đông đảo các gia đình người Chăm sẽ tổ chức lễ. Chủ lễ cúng Katê ở gia đình là chính chủ gia đình hoặc là người lớn tuổi trong dòng họ. Theo đó, Lễ hội Katê tại các gia đình và dòng họ được tổ chức nhằm quy tụ tất cả các thành viên trong gia đình để các bậc trưởng bối giáo dục các thế hệ con cháu biết ơn, kính trọng tổ tiên và cầu mong tổ tiên phù hộ cho một năm làm ăn phát đạt, gặp nhiều may mắn. TH

Cũng như tết cổ truyền của người Việt, đối với đồng bào người Chăm tại hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận thì lễ hội Katê giống như ngày tết truyền thống của họ. Địa điểm tổ chức lễ hội Katê của người Chăm chủ yếu ở một số tháp Chăm như di tích tháp Chăm Pô Sah Inư (thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận); tháp Pô Klông Garai (thành phố Phan Rang Tháp Chàm, tình Ninh Thuận); tháp Pô Rômê và đền Pô Nagar (huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận). Ngoài ra, lễ hội còn được cộng đồng Chăm tổ chức tại các làng Chăm, trong dòng họ và gia đình người Chăm theo đạo Balamôn và Hồi giáo (dòng Bà ni).

Hàng ngàn người dân tộc Chăm đổ về các đền tháp tham dự lễ hội Kate Theo những người Chăm theo đạo Bàlamôn và người Chăm theo đạo Bàni, Katê là một lễ hội dân gian đậm đà bản sắc nhất trong kho tàng văn hóa dân tộc mình, là bức tranh phác họa rõ nét nhất đời sống sinh hoạt cộng đồng; nơi hội tụ những giá trị tinh hoa văn hóa của dân tộc mình. Ngoài ra, đây là cũng dịp để người Chăm từ mọi miền đất nước trở về quê cha đất tổ để đoàn tụ cùng gia đình, bạn bè, dòng họ của mình. Vào những ngày tổ chức lễ hội, tại các đền, tháp Chăm sẽ có những nghi lễ truyền thống như: Lễ rước y trang, lễ mở cửa tháp, lễ tắm tượng thần, lễ mặc y phục cho tượng thần. Tháp Chăm - Nơi tổ chức lễ hội Katê Lễ đón rước y trang: Là nghi lễ diễn ra ở một số đền, tháp nơi tổ chức lễ hội như tháp Chăm Pô Sah Inư, tháp Pô Klông Garai, tháp Pô Rômê, Pô Nagar. Đây là lễ đón rước y trang của Nữ thần Pô Ina Nagar - Thần mẹ xứ sở, thủy tổ của người Chăm gắn liền với nhiều huyền thoại, truyền thuyết thờ Mẫu của dân tộc Chăm và cũng có ảnh hưởng đến các dân tộc ở Việt Nam. Lễ mở cửa đền, tháp: Đây là nghi lễ do một vị Cả sư trụ trì, trong nghi lễ này, các tu sĩ làm lễ cầu xin các vị thần linh cho phép được mở cửa đền, tháp. Lễ này được diễn ra trước cửa đền, tháp trong không khí rất tôn nghiêm và sau đó đoàn người gồm cả sư, bà bóng, thầy kéo đàn Kanhi và các giáo đồ trung tín sẽ theo thứ tự tiến vào tháp. Lễ tắm tượng thần: Lễ này được diễn ra bên trong đền, tháp. Nghi lễ này do Cả sư và ông Kadhar - thầy kéo đàn Kanhi tiến hành. Họ sẽ hát những bài ca tụng công ơn của các vị vua, Muk Pajâu (bà Bóng), ông Camưnay (Ông Từ) và một số tín đồ nhiệt thành khác.Sau đó, vị cả sư cầm lọ nước thánh có pha trầm hương để tưới lên tượng thần (tượng thần bằng đá dưới hình thể linga hình mặt người). Lễ mặc y phục cho tượng thần: Sau khi lễ tắm tượng thần kết thúc thì đến phần nghi lễ mặc áo cho thần. Phần lễ này được tiến hành nhịp nhàng theo các câu hát của thầy kéo đàn Kanhi và tiếng hát của ông Kadhar. Khi ông Kadhar đang hát thì ông Camunay và Muk Pajâu mặc váy, áo cho tượng thần. Cứ như thế cho đến khi mặc y phục cho tượng thần xong. lễ múa mừng lễ hội Katê với các điệu múa duyên dáng, uyển chuyển của các thiếu nữ Chăm Các nghi lễ nói trên đều được thực hiện rất tôn nghiêm, thành kính và đầy tính tâm linh. Sau khi các nghi lễ hoàn tất, họ sẽ múa cầu an và dâng lễ, sau đó là lễ múa mừng lễ hội Katê với các điệu múa duyên dáng, uyển chuyển của các thiếu nữ Chăm hòa nhịp trong tiếng đàn Ka Nhi, tiếng trống Baranưng, tiếng trống Ghi- năng và tiếng kèn Saranai. Sau khi phần lễ ở các tháp Chăm kết thúc thì phần hội sẽ được diễn ra rất sôi nổi ở các làng, thôn xóm của người Chăm. Trong dịp này, họ thường tổ chức những trò chơi dân gian đặc sắc như : hội thi dệt vải, làm gốm, đội nước, múa quạt, đánh cồng chiêng, ca hát uống rượu, tổ chức trưng bày triển lãm gốm, mở các gian hàng dệt thổ cẩm, gốm tại các gia đình, cúng Katê thần làng; tổ chức biểu diễn văn nghệ dân gian; các trò chơi dân gian, giao lưu thể thao…. Khi lễ hội ở làng kết thúc thì lễ Katê ở các dòng tộc và gia đình trong đồng bào Chăm mới được tổ chức. Trong thời gian này đông đảo các gia đình người Chăm sẽ tổ chức lễ. Chủ lễ cúng Katê ở gia đình là chính chủ gia đình hoặc là người lớn tuổi trong dòng họ. Theo đó, Lễ hội Katê tại các gia đình và dòng họ được tổ chức nhằm quy tụ tất cả các thành viên trong gia đình để các bậc trưởng bối giáo dục các thế hệ con cháu biết ơn, kính trọng tổ tiên và cầu mong tổ tiên phù hộ cho một năm làm ăn phát đạt, gặp nhiều may mắn.

Theo những người Chăm theo đạo Bàlamôn và người Chăm theo đạo Bàni, Katê là một lễ hội dân gian đậm đà bản sắc nhất trong kho tàng văn hóa dân tộc mình, là bức tranh phác họa rõ nét nhất đời sống sinh hoạt cộng đồng; nơi hội tụ những giá trị tinh hoa văn hóa của dân tộc mình. Ngoài ra, đây là cũng dịp để người Chăm từ mọi miền đất nước trở về quê cha đất tổ để đoàn tụ cùng gia đình, bạn bè, dòng họ của mình. Vào những ngày tổ chức lễ hội, tại các đền, tháp Chăm sẽ có những nghi lễ truyền thống như: Lễ rước y trang, lễ mở cửa tháp, lễ tắm tượng thần, lễ mặc y phục cho tượng thần. Tháp Chăm - Nơi tổ chức lễ hội Katê Lễ đón rước y trang: Là nghi lễ diễn ra ở một số đền, tháp nơi tổ chức lễ hội như tháp Chăm Pô Sah Inư, tháp Pô Klông Garai, tháp Pô Rômê, Pô Nagar. Đây là lễ đón rước y trang của Nữ thần Pô Ina Nagar - Thần mẹ xứ sở, thủy tổ của người Chăm gắn liền với nhiều huyền thoại, truyền thuyết thờ Mẫu của dân tộc Chăm và cũng có ảnh hưởng đến các dân tộc ở Việt Nam. Lễ mở cửa đền, tháp: Đây là nghi lễ do một vị Cả sư trụ trì, trong nghi lễ này, các tu sĩ làm lễ cầu xin các vị thần linh cho phép được mở cửa đền, tháp. Lễ này được diễn ra trước cửa đền, tháp trong không khí rất tôn nghiêm và sau đó đoàn người gồm cả sư, bà bóng, thầy kéo đàn Kanhi và các giáo đồ trung tín sẽ theo thứ tự tiến vào tháp. Lễ tắm tượng thần: Lễ này được diễn ra bên trong đền, tháp. Nghi lễ này do Cả sư và ông Kadhar - thầy kéo đàn Kanhi tiến hành. Họ sẽ hát những bài ca tụng công ơn của các vị vua, Muk Pajâu (bà Bóng), ông Camưnay (Ông Từ) và một số tín đồ nhiệt thành khác.Sau đó, vị cả sư cầm lọ nước thánh có pha trầm hương để tưới lên tượng thần (tượng thần bằng đá dưới hình thể linga hình mặt người). Lễ mặc y phục cho tượng thần: Sau khi lễ tắm tượng thần kết thúc thì đến phần nghi lễ mặc áo cho thần. Phần lễ này được tiến hành nhịp nhàng theo các câu hát của thầy kéo đàn Kanhi và tiếng hát của ông Kadhar. Khi ông Kadhar đang hát thì ông Camunay và Muk Pajâu mặc váy, áo cho tượng thần. Cứ như thế cho đến khi mặc y phục cho tượng thần xong. lễ múa mừng lễ hội Katê với các điệu múa duyên dáng, uyển chuyển của các thiếu nữ Chăm Các nghi lễ nói trên đều được thực hiện rất tôn nghiêm, thành kính và đầy tính tâm linh. Sau khi các nghi lễ hoàn tất, họ sẽ múa cầu an và dâng lễ, sau đó là lễ múa mừng lễ hội Katê với các điệu múa duyên dáng, uyển chuyển của các thiếu nữ Chăm hòa nhịp trong tiếng đàn Ka Nhi, tiếng trống Baranưng, tiếng trống Ghi- năng và tiếng kèn Saranai. Sau khi phần lễ ở các tháp Chăm kết thúc thì phần hội sẽ được diễn ra rất sôi nổi ở các làng, thôn xóm của người Chăm. Trong dịp này, họ thường tổ chức những trò chơi dân gian đặc sắc như : hội thi dệt vải, làm gốm, đội nước, múa quạt, đánh cồng chiêng, ca hát uống rượu, tổ chức trưng bày triển lãm gốm, mở các gian hàng dệt thổ cẩm, gốm tại các gia đình, cúng Katê thần làng; tổ chức biểu diễn văn nghệ dân gian; các trò chơi dân gian, giao lưu thể thao…. Khi lễ hội ở làng kết thúc thì lễ Katê ở các dòng tộc và gia đình trong đồng bào Chăm mới được tổ chức. Trong thời gian này đông đảo các gia đình người Chăm sẽ tổ chức lễ. Chủ lễ cúng Katê ở gia đình là chính chủ gia đình hoặc là người lớn tuổi trong dòng họ. Theo đó, Lễ hội Katê tại các gia đình và dòng họ được tổ chức nhằm quy tụ tất cả các thành viên trong gia đình để các bậc trưởng bối giáo dục các thế hệ con cháu biết ơn, kính trọng tổ tiên và cầu mong tổ tiên phù hộ cho một năm làm ăn phát đạt, gặp nhiều may mắn.

Vào những ngày tổ chức lễ hội, tại các đền, tháp Chăm sẽ có những nghi lễ truyền thống như: Lễ rước y trang, lễ mở cửa tháp, lễ tắm tượng thần, lễ mặc y phục cho tượng thần.

Tháp Chăm - Nơi tổ chức lễ hội Katê

Lễ đón rước y trang: Là nghi lễ diễn ra ở một số đền, tháp nơi tổ chức lễ hội như tháp Chăm Pô Sah Inư, tháp Pô Klông Garai, tháp Pô Rômê, Pô Nagar. Đây là lễ đón rước y trang của Nữ thần Pô Ina Nagar - Thần mẹ xứ sở, thủy tổ của người Chăm gắn liền với nhiều huyền thoại, truyền thuyết thờ Mẫu của dân tộc Chăm và cũng có ảnh hưởng đến các dân tộc ở Việt Nam.

Lễ mở cửa đền, tháp: Đây là nghi lễ do một vị Cả sư trụ trì, trong nghi lễ này, các tu sĩ làm lễ cầu xin các vị thần linh cho phép được mở cửa đền, tháp. Lễ này được diễn ra trước cửa đền, tháp trong không khí rất tôn nghiêm và sau đó đoàn người gồm cả sư, bà bóng, thầy kéo đàn Kanhi và các giáo đồ trung tín sẽ theo thứ tự tiến vào tháp.

Lễ tắm tượng thần: Lễ này được diễn ra bên trong đền, tháp. Nghi lễ này do Cả sư và ông Kadhar - thầy kéo đàn Kanhi tiến hành. Họ sẽ hát những bài ca tụng công ơn của các vị vua, Muk Pajâu (bà Bóng), ông Camưnay (Ông Từ) và một số tín đồ nhiệt thành khác.Sau đó, vị cả sư cầm lọ nước thánh có pha trầm hương để tưới lên tượng thần (tượng thần bằng đá dưới hình thể linga hình mặt người).

Lễ mặc y phục cho tượng thần: Sau khi lễ tắm tượng thần kết thúc thì đến phần nghi lễ mặc áo cho thần. Phần lễ này được tiến hành nhịp nhàng theo các câu hát của thầy kéo đàn Kanhi và tiếng hát của ông Kadhar. Khi ông Kadhar đang hát thì ông Camunay và Muk Pajâu mặc váy, áo cho tượng thần. Cứ như thế cho đến khi mặc y phục cho tượng thần xong.

lễ múa mừng lễ hội Katê với các điệu múa duyên dáng, uyển chuyển của các thiếu nữ Chăm

Các nghi lễ nói trên đều được thực hiện rất tôn nghiêm, thành kính và đầy tính tâm linh. Sau khi các nghi lễ hoàn tất, họ sẽ múa cầu an và dâng lễ, sau đó là lễ múa mừng lễ hội Katê với các điệu múa duyên dáng, uyển chuyển của các thiếu nữ Chăm hòa nhịp trong tiếng đàn Ka Nhi, tiếng trống Baranưng, tiếng trống Ghi- năng và tiếng kèn Saranai.

Sau khi phần lễ ở các tháp Chăm kết thúc thì phần hội sẽ được diễn ra rất sôi nổi ở các làng, thôn xóm của người Chăm. Trong dịp này, họ thường tổ chức những trò chơi dân gian đặc sắc như : hội thi dệt vải, làm gốm, đội nước, múa quạt, đánh cồng chiêng, ca hát uống rượu, tổ chức trưng bày triển lãm gốm, mở các gian hàng dệt thổ cẩm, gốm tại các gia đình, cúng Katê thần làng; tổ chức biểu diễn văn nghệ dân gian; các trò chơi dân gian, giao lưu thể thao….

Khi lễ hội ở làng kết thúc thì lễ Katê ở các dòng tộc và gia đình trong đồng bào Chăm mới được tổ chức. Trong thời gian này đông đảo các gia đình người Chăm sẽ tổ chức lễ. Chủ lễ cúng Katê ở gia đình là chính chủ gia đình hoặc là người lớn tuổi trong dòng họ. Theo đó, Lễ hội Katê tại các gia đình và dòng họ được tổ chức nhằm quy tụ tất cả các thành viên trong gia đình để các bậc trưởng bối giáo dục các thế hệ con cháu biết ơn, kính trọng tổ tiên và cầu mong tổ tiên phù hộ cho một năm làm ăn phát đạt, gặp nhiều may mắn.

TH

Related Figures

Festival Trà Thái Nguyên - Việt Nam

Thông tin thời kỳ

Festival Trà Thái Nguyên là một sự kiện kinh tế, văn hóa được tổ chức 2 năm 1 lần với mục đích nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể của trà Thái Nguyên, qua đó từng bước mở rộng giao lưu văn hóa trà, hợp tác phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế góp phần thúc đẩy phát triển ngành trà. Thái Nguyên là một mảnh đất từ lâu đã được biết đến với các ngành công nghiệp nặng, chủ yếu là gang thép. Ngoài ra, Thái Nguyên còn nổi tiếng với những đồi trà bạt ngàn, nơi được mệnh danh “Thái Nguyên đệ nhất danh trà” - niềm tự hào của con người Thái Nguyên với bạn bè trong nước và quốc tế. Khi đến thăm Thái Nguyên, bạn đừng quên đến thăm những đồi đồi chè xanh ngút ngàn đang đón nắng gió và đâm chồi nảy lộc để tạo ra những búp chè thơm ngon tinh khiết, mang đậm hương vị tươi mát nhé. Đồi chè Thái Nguyên xanh tươi bát ngát Do thiên nhiên ưu đãi về đất đai, nguồn nước, thời tiết khí hậu nên nguyên liệu chè búp tươi ở Thái Nguyên có phẩm cấp và chất lượng rất cao. Do đó tiềm năng phát triển cây chè ở Thái Nguyên cần được phát triển và khai thác một cách hiệu quả và việc này không chỉ đem lại nguồn lợi kinh tế lớn cho tỉnh mà còn góp phần xây dựng thương hiệu chè Việt Nam trên thị trường quốc tế. Nghệ thuật pha trà tại Festival Trà Thái Nguyên Festival Trà Thái Nguyên lần đầu tiên được tổ chức vào năm 2011 với mục đích góp phần phát triển thương hiệu trà Thái Nguyên và từ đó đã trở thành một sự kiện kinh tế, văn hóa tiêu biểu của ngành chè Thái Nguyên nói chung và Việt Nam nói riêng. Đây cũng là dịp để các doanh nghiệp trồng, chế biến, tiêu thụ chè có cơ hội giao lưu, trao đổi kinh nghiệm về cây chè và sản phẩm trà với bạn bè trong nước và quốc tế, từng bước nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh đối với cây chè và sản phẩm trà của mình. Màn biểu diễn nghệ thuật trong lễ khai mạc Festival Trà Thái Nguyên Festival Trà Thái Nguyên được tổ chức với quy mô Quốc gia và yếu tố Quốc tế, là sự kết hợp giữa các hoạt động kinh tế, văn hóa, du lịch, nghệ thuật và lễ hội. Mỗi lần được tổ chức, Festival Trà Thái Nguyên sẽ thu hút hàng trăm doanh nghiệp, hợp tác xã, làng nghề trồng và kinh doanh trà cùng các nghệ nhân tiêu biểu của ngành trà đến từ các tỉnh, thành phố như Thái Nguyên, Hà Nội, Lâm Đồng, Lai Châu, Yên Bái, Hà Giang, Bắc Kạn, Phú Thọ, Tuyên Quang... và đặc biệt lễ hội cũng có sự tham gia của một số nước, vùng lãnh thổ có truyền thống thưởng trà như Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, SrilanKa, Đài Loan... Ngoài hiệu quả kinh tế, việc tổ chức Festival Trà còn là dịp để tôn vinh người làm chè và văn hóa trà, vì một thế giới sức khỏe vàng từ trà xanh. Lễ hội cũng là một sân chơi để thu hút khách du lịch đến với Thái Nguyên, nâng cao hiểu biết của giới trẻ đối với cây trồng truyền thống của địa phương, cỗ vũ và phát huy các ý tưởng sáng tạo để nâng cao giá trị, năng suất, chất lượng sản phẩm chè Thái Nguyên từ đội ngũ tuổi trẻ Thái Nguyên anh hùng, sáng tạo.

Thái Nguyên là một mảnh đất từ lâu đã được biết đến với các ngành công nghiệp nặng, chủ yếu là gang thép. Ngoài ra, Thái Nguyên còn nổi tiếng với những đồi trà bạt ngàn, nơi được mệnh danh “Thái Nguyên đệ nhất danh trà” - niềm tự hào của con người Thái Nguyên với bạn bè trong nước và quốc tế. Khi đến thăm Thái Nguyên, bạn đừng quên đến thăm những đồi đồi chè xanh ngút ngàn đang đón nắng gió và đâm chồi nảy lộc để tạo ra những búp chè thơm ngon tinh khiết, mang đậm hương vị tươi mát nhé.

Đồi chè Thái Nguyên xanh tươi bát ngát

Do thiên nhiên ưu đãi về đất đai, nguồn nước, thời tiết khí hậu nên nguyên liệu chè búp tươi ở Thái Nguyên có phẩm cấp và chất lượng rất cao. Do đó tiềm năng phát triển cây chè ở Thái Nguyên cần được phát triển và khai thác một cách hiệu quả và việc này không chỉ đem lại nguồn lợi kinh tế lớn cho tỉnh mà còn góp phần xây dựng thương hiệu chè Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Nghệ thuật pha trà tại Festival Trà Thái Nguyên

Festival Trà Thái Nguyên lần đầu tiên được tổ chức vào năm 2011 với mục đích góp phần phát triển thương hiệu trà Thái Nguyên và từ đó đã trở thành một sự kiện kinh tế, văn hóa tiêu biểu của ngành chè Thái Nguyên nói chung và Việt Nam nói riêng. Đây cũng là dịp để các doanh nghiệp trồng, chế biến, tiêu thụ chè có cơ hội giao lưu, trao đổi kinh nghiệm về cây chè và sản phẩm trà với bạn bè trong nước và quốc tế, từng bước nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh đối với cây chè và sản phẩm trà của mình.

Màn biểu diễn nghệ thuật trong lễ khai mạc Festival Trà Thái Nguyên

Festival Trà Thái Nguyên được tổ chức với quy mô Quốc gia và yếu tố Quốc tế, là sự kết hợp giữa các hoạt động kinh tế, văn hóa, du lịch, nghệ thuật và lễ hội. Mỗi lần được tổ chức, Festival Trà Thái Nguyên sẽ thu hút hàng trăm doanh nghiệp, hợp tác xã, làng nghề trồng và kinh doanh trà cùng các nghệ nhân tiêu biểu của ngành trà đến từ các tỉnh, thành phố như Thái Nguyên, Hà Nội, Lâm Đồng, Lai Châu, Yên Bái, Hà Giang, Bắc Kạn, Phú Thọ, Tuyên Quang... và đặc biệt lễ hội cũng có sự tham gia của một số nước, vùng lãnh thổ có truyền thống thưởng trà như Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, SrilanKa, Đài Loan...

Ngoài hiệu quả kinh tế, việc tổ chức Festival Trà còn là dịp để tôn vinh người làm chè và văn hóa trà, vì một thế giới sức khỏe vàng từ trà xanh. Lễ hội cũng là một sân chơi để thu hút khách du lịch đến với Thái Nguyên, nâng cao hiểu biết của giới trẻ đối với cây trồng truyền thống của địa phương, cỗ vũ và phát huy các ý tưởng sáng tạo để nâng cao giá trị, năng suất, chất lượng sản phẩm chè Thái Nguyên từ đội ngũ tuổi trẻ Thái Nguyên anh hùng, sáng tạo.

Related Figures

Lễ hội Sen Dolta của đồng bào dân tộc Khmer Nam Bộ

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 29/8- 1/9 Âm lịch Hàng năm cứ vào ngày 29 tháng 8 đến ngày mùng 01 tháng 9 âm lịch, theo phong tục của đồng bào Khmer Nam bộ, bà con lại nô nức tổ chức lễ Sene Đolta hay gọi là lễ cúng ông bà. Lễ hội nhằm tưởng nhớ đến công ơn và cầu phước cho linh hồn của các bậc sinh thành, những người trong thân tộc quá cố và tri ân tổ tiên đã khai phá đất đai, phù hộ cho phum, sóc được bình an, thịnh vượng. Các thiếu niên người Khmer biểu diễn nhạc Ngũ Âm phục vụ Lễ Sen Dolta/p> Có 02 truyền thuyết về nguồn gốc lễ Sene Dolta được đề cập từ lâu đời. Truyền thuyết thứ nhất: phần lớn đồng bào Khmer ở Nam bộ thường sinh sống bằng nghề nông, trồng lúa nước. Bắt đầu từ tháng 4 và đến đầu tháng 8 âm lịch vào vụ trồng lúa là nhổ mạ cấy lúa. Thời gian này cũng là vào mùa mưa, nước lũ dâng lên. Khi đã cấy lúa xong, bà con thường chống xuồng chèo ghe đi thăm hỏi ông bà, cha mẹ già yếu. Họ luôn chuẩn bị cẩn thận lương thực, thực phẩm mang theo dùng và phần quà bánh biếu cho ông bà, cha mẹ đều được chuẩn bị rất cẩn thận. Khi đến nơi ở của ông bà, cha mẹ, có người thì vui mừng sum họp, có người thì đau buồn chia ly vì có khi đến nơi thì một trong những người thân đã mất vì bệnh tật hay tuổi già sức yếu mà do ở xa, lo bận mưu sinh, đường xá cách trở, không thường xuyên đến thăm hỏi nên không hay biết…. Dần dần những người cùng đi, họ hẹn gặp nhau ở một chỗ nào đó để chia buồn với người cùng cảnh ngộ và làm lễ nhớ ơn ông bà, cha mẹ. Truyền thuyết thứ hai kể rằng: Lễ Sence Dolta được bắt nguồn từ sự tích kinh điển Phật giáo. Vào 01 đêm khuya, Vua Ping-pis-sara bỗng nghe thấy tiếng gào thét, van xin, khóc lóc thảm thiết: hãy cho chúng tôi ăn, cho chúng tôi uống với, chúng tôi đang đói lắm… Sau đó nhà vua triệu tập các nhà tiên tri đến hỏi để tìm ra nguyên nhân “đây là các ma quỷ chết oan ức, không cha mẹ, không nhà cửa anh em, nay họ đến xin ăn, xin uống”. Nhà vua sau đó tìm đến chùa thỉnh ý của Phật Thích Ca, bảo rằng: đó là những đầu bếp (cách nay đã 92 kiếp- do gian lận ăn cắp cơm gạo, thức ăn trong các lễ cúng dường ở thời Quốc Vương Mahinta) khi chết đi thành quỷ ở cõi âm và bị phạt phải nhịn ăn, nhịn uống đến nay là 92 kiếp. Nay biết Ngài (tức Vua Ping-pis-sara) là chủ của họ hồi tiến kiếp, nên họ mới đến đòi ăn. Theo lời dạy của Phật, nhà vua dâng cơm, cúng dường cho các tu sĩ, nhờ ân đức và lời kinh của các vị này chuyền phước đến cho bọn quỷ. Nhưng với ma quỷ, chúng không thể ăn trực tiếp được, nên phải dâng cúng đồ ăn đến các vị tu sĩ, nhờ họ tụng kinh hồi hướng thì các ma quỷ thuộc ân nhân đã quá cố mới thọ hưởng được. Qua đêm thứ hai nhà vua lại nghe thấy tiếng rên khóc tiếp, vua lại đến thỉnh ý kiến Phật, Đức Phật bảo rằng : "đêm trước ma quỷ chỉ được ăn no, đầy đủ nhưng chưa có đồ mặc nên bị rét lạnh". Nghe vậy, nhà vua lại cho người chuẩn bị y phục và đồ ăn làm lễ dâng cúng đến chư tăng và nhờ chư tăng hồi hướng tiếp. Dâng cơm vào chùa tại lễ hội Sen Dolta Từ đó về sau, hàng năm cứ đến mùa là nhà vua lại cho thỉnh mời chư tăng đến để làm lễ hồi hướng cho ma quỷ và những người đã quá cố. Từ sự tích trong kinh điển Phật giáo đó mà người dân tộc Khmer Nam bộ hàng năm tổ chức Lễ Sene Dolta thành phong tục, gắn với nghi thức tôn giáo, nhờ sư sãi tụng kinh cầu phước cho ông bà, cha mẹ, họ tộc quá cố được mau chóng đầu thai kiếp khác sung sướng hơn. Sau này, khi có sự xuất hiện của các ngôi chùa Phật giáo, thì bà con người Khmer tụ hội về chùa để làm lễ cúng ông bà và qui định với nhau rằng làm lễ Sene Dolta hàng năm bắt đầu từ ngày 16 đến cuối tháng 8 âm lịch, với 04 nghi lễ chính tại mỗi nhà người dân tộc Khmer và tại Chùa gồm: lễ cúng ông bà (Banh Sen Dolta), lễ hội (Banh phchum banh), lễ đặt cơm vắt (Banh canh banh) và lễ tiễn ông bà (Banh chuônh Dolta). Ngày nay, lễ Sene Đolta đã được người Khmer tổ chức với thời gian ngắn hơn, trong ba ngày chính: + Ngày thứ nhất (ngày cúng tiếp đón): Mỗi gia đình đều lau chùi bàn thờ tổ tiên sạch sẽ, dọn dẹp nhà cửa khang trang. Sau đó, dọn mâm cơm, rượu trà, bánh trái, … và mời các thành viên trong gia đình cùng đốt nhang, đèn, khấn vái mời linh hồn ông bà và người quá cố về dự ăn uống cùng con cháu. Đến chiều, mọi người ăn mặc tươm tất, dọn mâm cơm mới cúng ông bà, rồi mời linh hồn ông bà cùng đến chùa nghe sư sãi tụng kinh cầu siêu và thuyết pháp cho đến tối. Các vị achar lấy những nắm cơm vắt đựng trên mâm cúng tam bảo, mời sư sãi tụng kinh cầu siêu cho linh hồn những người quá cố, rồi đem ra ngoài để xung quanh chính điện cúng cho những vong hồn cô đơn, không con cháu. + Ngày thứ hai (ngày cúng chính): Vào buổi trưa, bà con Khmer chuần bị mâm cơm cùng bánh, trái… mang vào chùa để tổ chức cúng chính (cúng tập thể). Sau khi tất cả các linh hồn ông bà của tất cả mọi nhà trong phum, sóc, bà con được các vị sư tụng kinh cầu siêu xong, Phật tử trong phum sóc cùng ăn, trao đổi kinh nghiệm trong công việc đồng áng và vui chơi tại chùa. Buổi chiều, họ rước linh hồn ông bà về nhà, làm mâm cơm mới cúng ông bà và mời ông bà ở lại chứng kiến cuộc sống sung túc của con cháu. + Ngày thứ ba (ngày cúng tiễn): Tại mỗi nhà, bà con đều chuẩn bị một mâm cơm, họ mời vài vị sư sãi cùng họ hàng thân tộc trong phum sóc đến nhà tụng kinh cầu siêu để tiễn đưa linh hồn người quá cố. Bà con làm chiếc thuyền bằng bẹ chuối, có gắn thêm cờ phướn, 02 hình nộm (tương trưng cho tổ tiên) và các thức cúng mỗi thứ một ít, có cả tiền, vàng mã, quần áo, các gói gạo, muối, …cho ông bà, người thân quá cố, rồi người nhà thắp nhang, đèn mang thuyền thả dưới dòng sông, kênh rạch gần nhà để đưa ông bà và những người thân quá cố về lại thế giới bên kia. Lễ Sence Dolta của đồng bào người Khmer Nam bộ là một trong những nghi lễ mang ý nghĩa rất lớn về lòng hiếu kính, tưởng nhớ đến công ơn sinh thành dưỡng dục của ông bà, cha mẹ, những người quá cố đối với con cháu. Bên cạnh đó, Lễ này còn thể hiện nét đẹp truyền thống của tinh thần trong hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng, đời sống văn hóa gắn với các hoạt động tôn giáo tín ngưỡng trong ngôi chùa Khmer Nam bộ./.

Related Figures

Lễ hội Festival Bắc Ninh

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/3- 17/3 Dương lịch Festival Bắc Ninh là một sự kiện văn hóa, thể thao và du lịch tổng hợp với quy mô lớn được tổ chức vào giữa tháng 3 tại Bắc Ninh – nơi phát tích vương triều Lý nhằm đảm bảo sự tiếp nối các giá trị văn hóa, thể thao truyền thống đặc sắc của tỉnh, bảo tồn di sản văn hóa trong quá trình hội nhập và phát triển. Festival Bắc Ninh lần đầu tiên được tổ chức vào năm 2010, là một trong nhưng hoạt động hướng về kỉ niệm 1000 năm Thăng Long. Vùng đát Kinh Bắc này là nơi đầu tiên phát tích vương triều thời Lý với những nét văn hóa truyền thống đậm đà bản sắc dân tộc như hát lim, hát ca trù đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của thế giới. Đoàn nghệ sĩ Dân ca Quan họ Bắc Ninh Với việc được UNSECO công nhận là Di sản văn hóa thế giới, Dân ca quan họ Bắc Ninh, cùng với ca trù từ nay đã trở thành tài sản chung, giá trị chung của nhân loại, được cả thế giới biết đến. Bắc Ninh là địa phương đã có hai di sản văn hóa phi vật thể thế giới nên càng cần nhận thức sâu sắc vinh dự và trách nhiệm trong công việc này. Màn múa thuyền trong lễ hội Sau nhiều năm được tổ chức thành công, Festival Bắc Ninh đã góp một phần không nhỏ trong việc bảo tồn và phát huy giá trị của Dân ca Quan họ Bắc Ninh – Di sản văn hóa phi vật thể Đại diện của Nhân loại. Đây cũng là cơ hội để quảng bá tiềm năng kinh tế, văn hóa và con người Bắc Ninh đến bạn bè trong nước và quốc tế, tạo cơ hội cho cộng đồng, các doanh nghiệp, cá nhân được tham gia vào tiến trình Festival với các vai trò khác nhau và thúc đẩy xúc tiến kinh tế, văn hóa, thể thao và du lịch của tỉnh. Các nghệ sĩ Dân ca Quan họ Bắc Ninh hát giao duyên trong lễ hội Ngoài việc tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể thao và tổ chức các chương trình tham quan du lịch, trong khuôn khổ Festival Bắc Ninh còn tổ chức một số hoạt động khác như tổ chức triển lãm trưng bày các di sản văn hóa thời Lý và cổ vật tiêu biểu tỉnh Bắc Ninh, tổ chức Hội thi sinh vật cảnh và Thả chim bồ câu, Hội thi thả diều, Trưng bày đá quý, đá cảnh và gỗ lũa, Thi nấu cơm nồi đất… Ngày nay, Festival Bắc Ninh đã trở thành một thương hiệu du lịch của tỉnh Bắc Ninh. Đến tham dự Festival Bắc Ninh, du khách sẽ được hòa mình vào không gian văn hóa cổ truyền của dân tộc với những làn điệu hội Lim ngọt ngào và ca Trù hấp dẫn cùng những chương trình biểu diễn nghệ thuật và văn hóa thể thao khác, góp phần truyền bá và giới thiệu tới bạn bè trong và quốc tế về vùng đất, con người Kinh Bắc.

Festival Bắc Ninh lần đầu tiên được tổ chức vào năm 2010, là một trong nhưng hoạt động hướng về kỉ niệm 1000 năm Thăng Long. Vùng đát Kinh Bắc này là nơi đầu tiên phát tích vương triều thời Lý với những nét văn hóa truyền thống đậm đà bản sắc dân tộc như hát lim, hát ca trù đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của thế giới.

Đoàn nghệ sĩ Dân ca Quan họ Bắc Ninh

Với việc được UNSECO công nhận là Di sản văn hóa thế giới, Dân ca quan họ Bắc Ninh, cùng với ca trù từ nay đã trở thành tài sản chung, giá trị chung của nhân loại, được cả thế giới biết đến. Bắc Ninh là địa phương đã có hai di sản văn hóa phi vật thể thế giới nên càng cần nhận thức sâu sắc vinh dự và trách nhiệm trong công việc này.

Màn múa thuyền trong lễ hội

Sau nhiều năm được tổ chức thành công, Festival Bắc Ninh đã góp một phần không nhỏ trong việc bảo tồn và phát huy giá trị của Dân ca Quan họ Bắc Ninh – Di sản văn hóa phi vật thể Đại diện của Nhân loại. Đây cũng là cơ hội để quảng bá tiềm năng kinh tế, văn hóa và con người Bắc Ninh đến bạn bè trong nước và quốc tế, tạo cơ hội cho cộng đồng, các doanh nghiệp, cá nhân được tham gia vào tiến trình Festival với các vai trò khác nhau và thúc đẩy xúc tiến kinh tế, văn hóa, thể thao và du lịch của tỉnh.

Các nghệ sĩ Dân ca Quan họ Bắc Ninh hát giao duyên trong lễ hội

Ngoài việc tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể thao và tổ chức các chương trình tham quan du lịch, trong khuôn khổ Festival Bắc Ninh còn tổ chức một số hoạt động khác như tổ chức triển lãm trưng bày các di sản văn hóa thời Lý và cổ vật tiêu biểu tỉnh Bắc Ninh, tổ chức Hội thi sinh vật cảnh và Thả chim bồ câu, Hội thi thả diều, Trưng bày đá quý, đá cảnh và gỗ lũa, Thi nấu cơm nồi đất…

Ngày nay, Festival Bắc Ninh đã trở thành một thương hiệu du lịch của tỉnh Bắc Ninh. Đến tham dự Festival Bắc Ninh, du khách sẽ được hòa mình vào không gian văn hóa cổ truyền của dân tộc với những làn điệu hội Lim ngọt ngào và ca Trù hấp dẫn cùng những chương trình biểu diễn nghệ thuật và văn hóa thể thao khác, góp phần truyền bá và giới thiệu tới bạn bè trong và quốc tế về vùng đất, con người Kinh Bắc.

Related Figures

Lễ hội Hoa Phượng đỏ Hải Phòng

Thông tin thời kỳ

Lễ hội Hoa Phượng đỏ là một lễ hội đường phố được tổ chức thường niên tại Hải Phòng vào đúng dịp hoa phượng đỏ nở rộ. Đây cũng là một sản phẩm du lịch mới của thành phố Hải Phòng với nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể thao hoành tráng, hấp dẫn, rực rỡ sắc màu, góp phần quảng bá hình ảnh thành phố Cảng Hải Phòng tới bạn bè trong nước và quốc tế. Hoa Phượng đỏ - Biểu tượng của thành phố Hải Phòng Lễ hội Hoa Phượng đỏ Hải Phòng được tổ chức lần đầu tiên vào năm 2012 và lấy hình ảnh hoa phượng - loài hoa gắn với vùng đất, con người Hải Phòng làm cốt lõi và được thể hiện qua các hình thức biểu diễn văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao trên sân khấu, khán đài và các hoạt động khác tại những địa danh văn hóa, du lịch nổi tiếng của thành phố và trên các tuyến đường phố chính, thu hút sự tham gia của hàng vạn lượt du khách và các nghệ sĩ, diễn viên đến tham dự. Màn pháo hoa khai mạc lễ hội Hoa phượng đỏ Hải Phòng Hoa phượng từ lâu đã trở thành một biểu tượng của thành phố cảng Hải Phòng. Mỗi dịp hè về, Hải Phòng lại rực rỡ sắc màu với gần một vạn cây phượng nở đỏ rực trên khắp các con đường, bên bờ sông, trong công viên, trường học và cả nhà dân. Mỗi năm đến hẹn lại lên, lễ hội Hoa phượng đỏ Hải Phòng lại được tổ chức và thu hút sự tham gia của hàng vạn lượt du khách trong và ngoài nước. Qua nhiều năm tổ chức, lễ hội Hoa phượng đỏ đã trở thành một “bữa tiệc”, một điểm hẹn cho người dân cả nước yêu mến vùng đất cảng và yêu mến loài hoa rực rỡ của mùa hè. Biểu diễn nghệ thuật đường phố trong lễ hội Ngày nay, Lễ hội hoa phượng đỏ đã trở thành một thương hiệu du lịch của thành phố Hải Phòng. Đến với lễ hội hoa phượng đỏ, du khách sẽ được hòa mình vào không gian của lễ hội với những chương trình biểu diễn nghệ thuật trên sân khấu và nghệ thuật đường phố để chào đón một mùa hè mới, góp phần truyền bá và giới thiệu tới bạn bè trong và quốc tế về vùng đất, con người đất Cảng.

Hoa Phượng đỏ - Biểu tượng của thành phố Hải Phòng Lễ hội Hoa Phượng đỏ Hải Phòng được tổ chức lần đầu tiên vào năm 2012 và lấy hình ảnh hoa phượng - loài hoa gắn với vùng đất, con người Hải Phòng làm cốt lõi và được thể hiện qua các hình thức biểu diễn văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao trên sân khấu, khán đài và các hoạt động khác tại những địa danh văn hóa, du lịch nổi tiếng của thành phố và trên các tuyến đường phố chính, thu hút sự tham gia của hàng vạn lượt du khách và các nghệ sĩ, diễn viên đến tham dự. Màn pháo hoa khai mạc lễ hội Hoa phượng đỏ Hải Phòng Hoa phượng từ lâu đã trở thành một biểu tượng của thành phố cảng Hải Phòng. Mỗi dịp hè về, Hải Phòng lại rực rỡ sắc màu với gần một vạn cây phượng nở đỏ rực trên khắp các con đường, bên bờ sông, trong công viên, trường học và cả nhà dân. Mỗi năm đến hẹn lại lên, lễ hội Hoa phượng đỏ Hải Phòng lại được tổ chức và thu hút sự tham gia của hàng vạn lượt du khách trong và ngoài nước. Qua nhiều năm tổ chức, lễ hội Hoa phượng đỏ đã trở thành một “bữa tiệc”, một điểm hẹn cho người dân cả nước yêu mến vùng đất cảng và yêu mến loài hoa rực rỡ của mùa hè. Biểu diễn nghệ thuật đường phố trong lễ hội Ngày nay, Lễ hội hoa phượng đỏ đã trở thành một thương hiệu du lịch của thành phố Hải Phòng. Đến với lễ hội hoa phượng đỏ, du khách sẽ được hòa mình vào không gian của lễ hội với những chương trình biểu diễn nghệ thuật trên sân khấu và nghệ thuật đường phố để chào đón một mùa hè mới, góp phần truyền bá và giới thiệu tới bạn bè trong và quốc tế về vùng đất, con người đất Cảng.

Hoa Phượng đỏ - Biểu tượng của thành phố Hải Phòng

Lễ hội Hoa Phượng đỏ Hải Phòng được tổ chức lần đầu tiên vào năm 2012 và lấy hình ảnh hoa phượng - loài hoa gắn với vùng đất, con người Hải Phòng làm cốt lõi và được thể hiện qua các hình thức biểu diễn văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao trên sân khấu, khán đài và các hoạt động khác tại những địa danh văn hóa, du lịch nổi tiếng của thành phố và trên các tuyến đường phố chính, thu hút sự tham gia của hàng vạn lượt du khách và các nghệ sĩ, diễn viên đến tham dự.

Màn pháo hoa khai mạc lễ hội Hoa phượng đỏ Hải Phòng

Hoa phượng từ lâu đã trở thành một biểu tượng của thành phố cảng Hải Phòng. Mỗi dịp hè về, Hải Phòng lại rực rỡ sắc màu với gần một vạn cây phượng nở đỏ rực trên khắp các con đường, bên bờ sông, trong công viên, trường học và cả nhà dân. Mỗi năm đến hẹn lại lên, lễ hội Hoa phượng đỏ Hải Phòng lại được tổ chức và thu hút sự tham gia của hàng vạn lượt du khách trong và ngoài nước. Qua nhiều năm tổ chức, lễ hội Hoa phượng đỏ đã trở thành một “bữa tiệc”, một điểm hẹn cho người dân cả nước yêu mến vùng đất cảng và yêu mến loài hoa rực rỡ của mùa hè.

Biểu diễn nghệ thuật đường phố trong lễ hội

Ngày nay, Lễ hội hoa phượng đỏ đã trở thành một thương hiệu du lịch của thành phố Hải Phòng. Đến với lễ hội hoa phượng đỏ, du khách sẽ được hòa mình vào không gian của lễ hội với những chương trình biểu diễn nghệ thuật trên sân khấu và nghệ thuật đường phố để chào đón một mùa hè mới, góp phần truyền bá và giới thiệu tới bạn bè trong và quốc tế về vùng đất, con người đất Cảng.

Related Figures

Lễ hội Cầu Ngư

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 6/1 Âm lịch Lễ hội cầu ngư còn được gọi là lễ hội cá Ông, một lễ hội truyền thống được tổ chức hằng năm vào ngày mùng 6 tết tại các địa phương ven biển Quảng Nam. Đây là một lễ hội có ý nghĩa về mặt tâm linh, mang đậm văn hóa vùng biển với mục đích để cầu mong trời yên biển lặng, mưa thuận gió hòa. Đối với người dân ven biển miền Quảng Nam , mỗi lần ra khơi luôn là 1 lần phải đối mặt với thử thách và tai ương nên họ rất sâu sắc với tín ngưỡng thờ cúng cá Ông - thần Nam Hải độ trì, cưu mang họ mỗi khi gặp rủi ro. Trong tín ngưỡng đó, Lễ hội cầu ngư liên tục diễn ra trong những ngày đầu xuân khi ngư dân sắp thực hiện chuyến “mở biển” đầu năm. Tàu, thuyền ra cửa biển làm lễ rước “Nghinh Thần” về nhập lăng Cá voi hay còn gọi là cá Ông, là một loài cá lớn rất quen thuộc với ngư dân ven biển miền Trung. Theo truyền thuyết, cá Ông thường hay cứu ngư dân gặp nạn và mỗi lần cá Ông cứu người thì sẽ chết và trôi dạt vào bờ. Bởi vậy, khi người dân làng biển phát hiện cá Ông trôi vào bờ sẽ làm lễ cúng rất linh đình, chôn cất và thờ tự. Ngư dân đang rước thần cá Ông vào lăng Lễ hội cầu ngư được người dân ven biển Quảng Nam tổ chức vào ngày mùng 6 tết đầu năm tại các đền thờ cá Ông trên địa bàn tỉnh. Lễ hội gồm có 2 phần là phần Lễ và phần Hội. Phần lễ mở đầu là lễ nghinh Ông được diễn ra hết sức uy nghiêm, sinh động. Trong lễ nghinh Ông, người dân tiến hành rước linh vị cá Ông đến biển rồi về lại nơi thờ tự trong cờ hoa và chiêng trống. Sau phần nghinh cá Ông, các bậc trưởng thượng làm lễ cúng tiền hiền, hậu hiền, chánh tế. Sau nghi thức tế lễ, lễ hội Cầu Ngư tiếp tục với màn hát múa bả trạo tái hiện lại quá trình cá Ông cứu người. Hát múa bả trạo cần được truyền đạt lại cho thế hệ trẻ Sau phần lễ là phần hội với nhiều hoạt động văn hóa, thể thao đặc sắc như kéo co, đánh bóng, đua thuyền… Bên cạnh mục đích tri ân các vị thần biển đã phù hộ ngư dân, lễ hội cầu ngư còn làm thắt chặt thêm mối đoàn kết gắn bó giữa các ngư dân, giúp họ vượt qua bão tố, tai ương trong quá trình hành nghề trên biển cả.

Lễ hội cầu ngư còn được gọi là lễ hội cá Ông, một lễ hội truyền thống được tổ chức hằng năm vào ngày mùng 6 tết tại các địa phương ven biển Quảng Nam. Đây là một lễ hội có ý nghĩa về mặt tâm linh, mang đậm văn hóa vùng biển với mục đích để cầu mong trời yên biển lặng, mưa thuận gió hòa.

Đối với người dân ven biển miền Quảng Nam , mỗi lần ra khơi luôn là 1 lần phải đối mặt với thử thách và tai ương nên họ rất sâu sắc với tín ngưỡng thờ cúng cá Ông - thần Nam Hải độ trì, cưu mang họ mỗi khi gặp rủi ro. Trong tín ngưỡng đó, Lễ hội cầu ngư liên tục diễn ra trong những ngày đầu xuân khi ngư dân sắp thực hiện chuyến “mở biển” đầu năm.

Tàu, thuyền ra cửa biển làm lễ rước “Nghinh Thần” về nhập lăng

Cá voi hay còn gọi là cá Ông, là một loài cá lớn rất quen thuộc với ngư dân ven biển miền Trung. Theo truyền thuyết, cá Ông thường hay cứu ngư dân gặp nạn và mỗi lần cá Ông cứu người thì sẽ chết và trôi dạt vào bờ. Bởi vậy, khi người dân làng biển phát hiện cá Ông trôi vào bờ sẽ làm lễ cúng rất linh đình, chôn cất và thờ tự.

Ngư dân đang rước thần cá Ông vào lăng

Lễ hội cầu ngư được người dân ven biển Quảng Nam tổ chức vào ngày mùng 6 tết đầu năm tại các đền thờ cá Ông trên địa bàn tỉnh. Lễ hội gồm có 2 phần là phần Lễ và phần Hội. Phần lễ mở đầu là lễ nghinh Ông được diễn ra hết sức uy nghiêm, sinh động. Trong lễ nghinh Ông, người dân tiến hành rước linh vị cá Ông đến biển rồi về lại nơi thờ tự trong cờ hoa và chiêng trống. Sau phần nghinh cá Ông, các bậc trưởng thượng làm lễ cúng tiền hiền, hậu hiền, chánh tế. Sau nghi thức tế lễ, lễ hội Cầu Ngư tiếp tục với màn hát múa bả trạo tái hiện lại quá trình cá Ông cứu người.

Hát múa bả trạo cần được truyền đạt lại cho thế hệ trẻ

Sau phần lễ là phần hội với nhiều hoạt động văn hóa, thể thao đặc sắc như kéo co, đánh bóng, đua thuyền… Bên cạnh mục đích tri ân các vị thần biển đã phù hộ ngư dân, lễ hội cầu ngư còn làm thắt chặt thêm mối đoàn kết gắn bó giữa các ngư dân, giúp họ vượt qua bão tố, tai ương trong quá trình hành nghề trên biển cả.

Related Figures

Lễ hội “Võ Nhai nơi cội nguồn”

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 21/3- 22/3 Dương lịch Lễ hội “Võ Nhai nơi cội nguồn” là một lễ hội thường niên được tổ chức tại huyện Võ Nhai - Thái nguyên từ ngày 21/3 đến 22/3 nhằm quảng bá, giới thiệu bản sắc văn hóa, lịch sử và các danh lam thắng cảnh độc đáo của mảnh đất Võ Nhai đến với đông đảo du khách trên mọi miền của đất nước. Đặc sản lá trà ở Võ Nhai - Thái Nguyên Võ Nhai là một huyện vùng cao của tỉnh Thái Nguyên. Nơi đây có nhiều di tích lịch sử, văn hóa, danh thắng như Di chỉ khảo cổ Mái Đá Ngườm (Thần Sa) - nơi cư trú của người nguyên thủy và là nơi phát hiện các di vật đá đặc trưng của các nền văn hóa Bắc Sơn, Hòa Bình, Sơn Vi có niên đại hàng chục nghìn năm; di tích lịch sử rừng Khuôn Mánh - nơi thành lập Trung đội Cứu quốc quân II (Tràng Xá) - một trong những đơn vị tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay và là nơi bác Hồ từng sống và làm việc; di tích khảo cổ học ở Thần Sa - một trong những cái nôi của người Việt cổ; danh thắng hang Phượng Hoàng, suối Mỏ Gà (Phú Thượng). Cảnh đẹp Võ Nhai - Thái Nguyên Lễ hội “Võ Nhai nơi cội nguồn” lần đầu tiên được tổ chức vào năm 2013 và đã trở thành lễ hội thường niên của huyện Võ Nhai, Thái Nguyên nhằm quảng bá, giới thiệu bản sắc văn hóa, lịch sử, các danh lam thắng cảnh độc đáo của mảnh đất Võ Nhai đến với đông đảo du khách trên mọi miền của đất nước, góp phần thúc đẩy tiềm năng du lịch của huyện cũng như tỉnh Thái Nguyên. Đồng thời, lễ hội cũng là nơi giao lưu, hội tụ văn hóa của 8 dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Võ Nhai. Trong hai ngày tham dự lễ hội, du khách sẽ được chứng kiến nhiều hoạt động văn hóa, thể thao mang đậm bản sắc các dân tộc vùng cao Võ Nhai như thi chọi gà, kéo co, bắn nỏ, thi múa khèn của đồng bào dân tộc Mông, thi trình diễn pha trà của các Trà nương... Chợ tình ở Võ Nhai - Thái Nguyên Điểm đặc biệt nhất trong lễ hội "Võ Nhai nơi cội nguồn" là ngoài việc tái hiện phiên chợ tình của đồng bào dân tộc Mông, huyện Võ Nhai còn tổ chức phiên chợ vùng cao với đầy đủ các sản vật, các món ăn đặc trưng của bà con các dân tộc được bày bán và chế biến tại chợ thường thu hút sự chú ý của đông đảo du khách. Việc tổ chức Lễ hội "Võ Nhai nơi cội nguồn" không chỉ mang ý nghĩa quảng bá tiềm năng du lịch của địa phương, mà còn góp phần từng bước thực hiện có hiệu quả việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc huyện Võ Nhai, góp phần xây dựng quê hương Thái Nguyên ngày càng giàu đẹp, văn minh.

Lễ hội “Võ Nhai nơi cội nguồn” là một lễ hội thường niên được tổ chức tại huyện Võ Nhai - Thái nguyên từ ngày 21/3 đến 22/3 nhằm quảng bá, giới thiệu bản sắc văn hóa, lịch sử và các danh lam thắng cảnh độc đáo của mảnh đất Võ Nhai đến với đông đảo du khách trên mọi miền của đất nước.

Đặc sản lá trà ở Võ Nhai - Thái Nguyên

Võ Nhai là một huyện vùng cao của tỉnh Thái Nguyên. Nơi đây có nhiều di tích lịch sử, văn hóa, danh thắng như Di chỉ khảo cổ Mái Đá Ngườm (Thần Sa) - nơi cư trú của người nguyên thủy và là nơi phát hiện các di vật đá đặc trưng của các nền văn hóa Bắc Sơn, Hòa Bình, Sơn Vi có niên đại hàng chục nghìn năm; di tích lịch sử rừng Khuôn Mánh - nơi thành lập Trung đội Cứu quốc quân II (Tràng Xá) - một trong những đơn vị tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay và là nơi bác Hồ từng sống và làm việc; di tích khảo cổ học ở Thần Sa - một trong những cái nôi của người Việt cổ; danh thắng hang Phượng Hoàng, suối Mỏ Gà (Phú Thượng).

Cảnh đẹp Võ Nhai - Thái Nguyên

Lễ hội “Võ Nhai nơi cội nguồn” lần đầu tiên được tổ chức vào năm 2013 và đã trở thành lễ hội thường niên của huyện Võ Nhai, Thái Nguyên nhằm quảng bá, giới thiệu bản sắc văn hóa, lịch sử, các danh lam thắng cảnh độc đáo của mảnh đất Võ Nhai đến với đông đảo du khách trên mọi miền của đất nước, góp phần thúc đẩy tiềm năng du lịch của huyện cũng như tỉnh Thái Nguyên. Đồng thời, lễ hội cũng là nơi giao lưu, hội tụ văn hóa của 8 dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Võ Nhai.

Trong hai ngày tham dự lễ hội, du khách sẽ được chứng kiến nhiều hoạt động văn hóa, thể thao mang đậm bản sắc các dân tộc vùng cao Võ Nhai như thi chọi gà, kéo co, bắn nỏ, thi múa khèn của đồng bào dân tộc Mông, thi trình diễn pha trà của các Trà nương... Chợ tình ở Võ Nhai - Thái Nguyên Điểm đặc biệt nhất trong lễ hội "Võ Nhai nơi cội nguồn" là ngoài việc tái hiện phiên chợ tình của đồng bào dân tộc Mông, huyện Võ Nhai còn tổ chức phiên chợ vùng cao với đầy đủ các sản vật, các món ăn đặc trưng của bà con các dân tộc được bày bán và chế biến tại chợ thường thu hút sự chú ý của đông đảo du khách. Việc tổ chức Lễ hội "Võ Nhai nơi cội nguồn" không chỉ mang ý nghĩa quảng bá tiềm năng du lịch của địa phương, mà còn góp phần từng bước thực hiện có hiệu quả việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc huyện Võ Nhai, góp phần xây dựng quê hương Thái Nguyên ngày càng giàu đẹp, văn minh.

Related Figures

Lễ hội Quốc Tổ Lạc Long Quân

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 25/2- 5/3 Âm lịch Vùng đất Bình Đà (xã Bình Minh, huyện Thanh Oai, Hà Nội) có thờ hai vị thành hoàng làng. Một là Quốc Tổ Lạc Long Quân được thờ tại đền Nội. Còn một vị thành hoàng làng nữa là Linh Lang Đại Vương được dân tôn là Đường cảnh Thành Hoàng thờ ở đền Ngoại. Hằng năm, người dân nơi đây tổ chức Lễ hội Quốc Tổ Lạc Long Quân từ ngày 25/2 đến 5/3 âm lịch để tưởng nhớ công ơn vị Vua là Quốc Tổ của đất Việt. Lễ rước Quốc Tổ Lạc Long Quân Theo truyền thuyết, Quốc Tổ Lạc Long Quân kết duyên cùng Quốc mẫu Âu Cơ, sinh ra bọc trăm trứng, nở thành 100 người con. Khi trưởng thành, 50 người con theo mẹ ngược đường về đất Phong Châu, 50 người con theo cha xuôi đường lần ra Nam Hải. Khi đến đất Bình Đà bây giờ, cách biển không xa Vua Lạc Long Quân thấy đất đai màu mỡ, sông suối lượn quanh, nhiều dáng đất cao mang dáng rồng chầu hổ phục nên ngài bèn chọn đất này làm nơi sinh cơ lập nghiệp. Tương truyền, Vua Lạc Long Quân hóa tại Bình Đà vào một ngày cuối tháng Hai lịch trăng và mộ của ngài được đặt tại Ba Gò (nay là gò Tam Thai). Bức Phù điêu giá tượng Đức Quốc tổ Lac Long Quân Để ghi nhớ công ơn của ngài, từ xa xưa, người dân nơi đây đã lập đền để thờ tự Quốc Tổ Lạc Long Quân tại Bình Đà nhằm tri ân người có công khai phá vùng đất này. Trải qua nhiều biến thiên lịch sử, có những lúc đền thờ Quốc Tổ Lạc Long Quân bị đốt, nhưng lạ thay, cứ cháy đến hậu cung là lửa tắt. Bởi thế, hậu cung đền Nội vẫn còn nguyên vẹn bức phù điêu tạc hình Lạc Long Quân từ 1000 năm trước. Toàn cảnh Lễ hội Quốc Tổ Lạc Long Quân Lễ hội Quốc Tổ Lạc Long Quân gồm có hai phần là phần lễ rước và phần hội. Phần lễ có lễ Mã hoàn ký, lễ Trào, các cuộc đại tế, lễ tạ, lễ rước bánh Thánh qua cầu Thiên Quan và thả bánh xuống giếng Ngọc. Theo tục hèm, khi thả bánh phải chìm hết thì năm sau mọi sự mới tốt lành… Sau phần lễ là phần hội với những trò chơi cổ truyền về hội Bình Đà như kéo co, đánh bóng, chọi gà, đấu vật....

Vùng đất Bình Đà (xã Bình Minh, huyện Thanh Oai, Hà Nội) có thờ hai vị thành hoàng làng. Một là Quốc Tổ Lạc Long Quân được thờ tại đền Nội. Còn một vị thành hoàng làng nữa là Linh Lang Đại Vương được dân tôn là Đường cảnh Thành Hoàng thờ ở đền Ngoại. Hằng năm, người dân nơi đây tổ chức Lễ hội Quốc Tổ Lạc Long Quân từ ngày 25/2 đến 5/3 âm lịch để tưởng nhớ công ơn vị Vua là Quốc Tổ của đất Việt.

Lễ rước Quốc Tổ Lạc Long Quân

Theo truyền thuyết, Quốc Tổ Lạc Long Quân kết duyên cùng Quốc mẫu Âu Cơ, sinh ra bọc trăm trứng, nở thành 100 người con. Khi trưởng thành, 50 người con theo mẹ ngược đường về đất Phong Châu, 50 người con theo cha xuôi đường lần ra Nam Hải. Khi đến đất Bình Đà bây giờ, cách biển không xa Vua Lạc Long Quân thấy đất đai màu mỡ, sông suối lượn quanh, nhiều dáng đất cao mang dáng rồng chầu hổ phục nên ngài bèn chọn đất này làm nơi sinh cơ lập nghiệp. Tương truyền, Vua Lạc Long Quân hóa tại Bình Đà vào một ngày cuối tháng Hai lịch trăng và mộ của ngài được đặt tại Ba Gò (nay là gò Tam Thai).

Bức Phù điêu giá tượng Đức Quốc tổ Lac Long Quân Để ghi nhớ công ơn của ngài, từ xa xưa, người dân nơi đây đã lập đền để thờ tự Quốc Tổ Lạc Long Quân tại Bình Đà nhằm tri ân người có công khai phá vùng đất này. Trải qua nhiều biến thiên lịch sử, có những lúc đền thờ Quốc Tổ Lạc Long Quân bị đốt, nhưng lạ thay, cứ cháy đến hậu cung là lửa tắt. Bởi thế, hậu cung đền Nội vẫn còn nguyên vẹn bức phù điêu tạc hình Lạc Long Quân từ 1000 năm trước. Toàn cảnh Lễ hội Quốc Tổ Lạc Long Quân Lễ hội Quốc Tổ Lạc Long Quân gồm có hai phần là phần lễ rước và phần hội. Phần lễ có lễ Mã hoàn ký, lễ Trào, các cuộc đại tế, lễ tạ, lễ rước bánh Thánh qua cầu Thiên Quan và thả bánh xuống giếng Ngọc. Theo tục hèm, khi thả bánh phải chìm hết thì năm sau mọi sự mới tốt lành… Sau phần lễ là phần hội với những trò chơi cổ truyền về hội Bình Đà như kéo co, đánh bóng, chọi gà, đấu vật....

Để ghi nhớ công ơn của ngài, từ xa xưa, người dân nơi đây đã lập đền để thờ tự Quốc Tổ Lạc Long Quân tại Bình Đà nhằm tri ân người có công khai phá vùng đất này. Trải qua nhiều biến thiên lịch sử, có những lúc đền thờ Quốc Tổ Lạc Long Quân bị đốt, nhưng lạ thay, cứ cháy đến hậu cung là lửa tắt. Bởi thế, hậu cung đền Nội vẫn còn nguyên vẹn bức phù điêu tạc hình Lạc Long Quân từ 1000 năm trước.

Toàn cảnh Lễ hội Quốc Tổ Lạc Long Quân

Lễ hội Quốc Tổ Lạc Long Quân gồm có hai phần là phần lễ rước và phần hội. Phần lễ có lễ Mã hoàn ký, lễ Trào, các cuộc đại tế, lễ tạ, lễ rước bánh Thánh qua cầu Thiên Quan và thả bánh xuống giếng Ngọc. Theo tục hèm, khi thả bánh phải chìm hết thì năm sau mọi sự mới tốt lành…

Sau phần lễ là phần hội với những trò chơi cổ truyền về hội Bình Đà như kéo co, đánh bóng, chọi gà, đấu vật....

Related Figures

Lễ hội Xuống đồng

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 7/1- 8/1 Âm lịch Lễ hội Xuống đồng Mường Cúc là một lễ hội truyền thống của người Mường ở xã Thu Cúc, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ được tổ chức vào ngày mùng 7, 8 tháng giêng âm lịch hàng năm. Vào ngày này, bà con xứ Mường nô nức mở hội, tổ chức rước vía lúa cầu xin tổ tiên, mường trời, thần linh ban cho một năm mới mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, bội thu... Rước Vía lúa từ Miếu Bà Cúc về trung tâm xã – Lễ tạ ơn, cầu mong mùa màng tốt tươi Đối với người Mường ở xã Thu Cúc, lễ hội Xuống đồng là một ngày lễ trọng đại đánh dấu sự khởi đầu tốt đẹp trong một năm mới. Tương truyền rằng người Mường xã Thu Cúc từ thủa sơ khai đã luôn đoàn kết, gắn bó, yêu thương, đùm bọc lẫn nhau. Người cai trị Mường Cúc lúc đó là Ngài Cúc đã sinh hạ được người con gái thông minh, xinh đẹp, giỏi giang. Vào một năm hạn hán kéo dài, ruộng nương khô cạn, cây lúa của làng không sống được, nàng đã xin cha lên đường đi tìm giống lúa mới về cho dân làng. Vượt qua nhiều khó khăn, gian khổ, nàng đã tìm được giống lúa quý nhưng khi trở về gần đến Mường Cúc thì bị hãm hại. Ngài Cúc cùng dân làng nghe tin dữ đã đi tìm khắp nơi nhưng không thấy nàng, chỉ thấy trên đất còn sót lại một bó lúa. Xót thương người con gái, Ngài Cúc đã lập miếu thờ để tưởng nhớ nàng và tên Mường Cúc có từ thủa đó. Thực hiện nghi lễ tế Vía lúa trong lễ xuống đồng ở Mường Cúc Có được giống lúa mới, dân làng phấn khởi gieo trồng nhưng lúa không xanh tốt, trĩu hạt như mong đợi. Thầy Mo Mường đi hỏi thần Núi thì mới hay Vía Lúa đã bỏ đi cùng Nàng Cúc, dân làng phải làm lễ thì mùa màng mới được tốt tươi. Từ đó vào ngày 7, 8 tháng Giêng hàng năm, bà con Mường Cúc lại nô nức mở hội, tổ chức lễ rước Vía Lúa, cầu xin tổ tiên, mường trời và thần linh ban cho một năm mới mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, bội thu, thóc đầy bồ, lợn gà đầy chuồng, con người được bình an, khỏe mạnh... Các hoạt động văn hóa, văn nghệ trong lễ hội Lễ hội Xuống đồng ở Mường Cúc gồm có 2 phần chính, phần lễ và phần hội. Trong phần lễ, dân làng chuẩn bị cỗ cúng và quan trọng nhất là vía lúa để dâng cúng. Tiếp theo phần lễ là phần hội với nhiều hoạt động sôi nổi và phong phú như: Thi kéo co, bóng chuyền, hội trại văn hóa và liên hoan văn nghệ dân gian... Trong ngày hội, những nét văn hóa đặc trưng gắn liền với phong tục, tập quán, tín ngưỡng của đồng bào các dân tộc thiểu số trong huyện đã được phô diễn với những hình thức thể hiện phong phú và hấp dẫn, tạo dấu ấn trong lòng bà con địa phương và du khách gần, xa đến tham dự lễ hội. TH

Lễ hội Xuống đồng Mường Cúc là một lễ hội truyền thống của người Mường ở xã Thu Cúc, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ được tổ chức vào ngày mùng 7, 8 tháng giêng âm lịch hàng năm. Vào ngày này, bà con xứ Mường nô nức mở hội, tổ chức rước vía lúa cầu xin tổ tiên, mường trời, thần linh ban cho một năm mới mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, bội thu...

Rước Vía lúa từ Miếu Bà Cúc về trung tâm xã – Lễ tạ ơn, cầu mong mùa màng tốt tươi

Đối với người Mường ở xã Thu Cúc, lễ hội Xuống đồng là một ngày lễ trọng đại đánh dấu sự khởi đầu tốt đẹp trong một năm mới. Tương truyền rằng người Mường xã Thu Cúc từ thủa sơ khai đã luôn đoàn kết, gắn bó, yêu thương, đùm bọc lẫn nhau. Người cai trị Mường Cúc lúc đó là Ngài Cúc đã sinh hạ được người con gái thông minh, xinh đẹp, giỏi giang. Vào một năm hạn hán kéo dài, ruộng nương khô cạn, cây lúa của làng không sống được, nàng đã xin cha lên đường đi tìm giống lúa mới về cho dân làng. Vượt qua nhiều khó khăn, gian khổ, nàng đã tìm được giống lúa quý nhưng khi trở về gần đến Mường Cúc thì bị hãm hại. Ngài Cúc cùng dân làng nghe tin dữ đã đi tìm khắp nơi nhưng không thấy nàng, chỉ thấy trên đất còn sót lại một bó lúa. Xót thương người con gái, Ngài Cúc đã lập miếu thờ để tưởng nhớ nàng và tên Mường Cúc có từ thủa đó.

Thực hiện nghi lễ tế Vía lúa trong lễ xuống đồng ở Mường Cúc

Có được giống lúa mới, dân làng phấn khởi gieo trồng nhưng lúa không xanh tốt, trĩu hạt như mong đợi. Thầy Mo Mường đi hỏi thần Núi thì mới hay Vía Lúa đã bỏ đi cùng Nàng Cúc, dân làng phải làm lễ thì mùa màng mới được tốt tươi. Từ đó vào ngày 7, 8 tháng Giêng hàng năm, bà con Mường Cúc lại nô nức mở hội, tổ chức lễ rước Vía Lúa, cầu xin tổ tiên, mường trời và thần linh ban cho một năm mới mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, bội thu, thóc đầy bồ, lợn gà đầy chuồng, con người được bình an, khỏe mạnh...

Các hoạt động văn hóa, văn nghệ trong lễ hội

Lễ hội Xuống đồng ở Mường Cúc gồm có 2 phần chính, phần lễ và phần hội. Trong phần lễ, dân làng chuẩn bị cỗ cúng và quan trọng nhất là vía lúa để dâng cúng. Tiếp theo phần lễ là phần hội với nhiều hoạt động sôi nổi và phong phú như: Thi kéo co, bóng chuyền, hội trại văn hóa và liên hoan văn nghệ dân gian... Trong ngày hội, những nét văn hóa đặc trưng gắn liền với phong tục, tập quán, tín ngưỡng của đồng bào các dân tộc thiểu số trong huyện đã được phô diễn với những hình thức thể hiện phong phú và hấp dẫn, tạo dấu ấn trong lòng bà con địa phương và du khách gần, xa đến tham dự lễ hội.

TH

Related Figures

Lễ hội Chợ tình Xuân Dương tại Bắc Kạn

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 25/3 Âm lịch Chợ tình Xuân Dương tại Bắc Kạn có một truyền thuyết rất cảm động về tình yêu đôi lứa. Ngày xưa, ở thôn Pác Sen, có hai vợ chồng thương yêu nhau hết mực. Khi mùa vụ sắp tới, vợ chồng cùng nhau ra đồng, vợ phát cỏ nơi đầu ruộng, chồng thì cuốc ở cuối ruộng. Đến trưa khi mặt trời đứng bóng, người chồng đã thấm mệt, gọi vợ về nghỉ thì chỉ nghe tiếng núi đồi vọng lại. Chạy mãi tới đầu ruộng, người chồng chỉ còn thấy cán dao gẫy, cỏ cây bị dẫm nát, chứng tích của một cuộc vật lộn xô đẩy. Mãi sau, chàng mới hay người vợ của mình đã bị bọn xấu bắt đi, nàng đã chống trả, kêu cứu nhưng vì khoảng cách giữa hai người quá xa nên chàng không nghe thấy để đến cứu vợ. Người dân nô nức đi trảy hội chợ tình Xuân Dương - Bắc Kạn Biết chuyện, dân làng ai cũng tỏ lòng tiếc thương. Từ đó thửa ruộng của vợ chồng nhà nọ được gọi là ruộng dài (Nà Rì), đó cũng là tên của cả huyện Na Rì, Bắc Kạn rộng lớn ngày nay gồm 22 xã, thị trấn. Sau này gặp lại chồng cũ, nàng mừng mừng tủi tủi, nhưng cũng chỉ biết ôm nhau khóc chứ không thể hàn gắn lại tình xưa vì mỗi người đều đã yên bề gia thất. Dân làng cảm động chuyện tình của họ nên đồng ý để hai vợ chồng cũ có một ngày ôn lại chuyện xưa, đó là ngày 25-3 âm lịch. Từ đó, ngày 25-3 âm lịch hàng năm đã trở thành ngày hội giao lưu giữa nam nữ trong vùng, để những người lỡ duyên được gặp nhau, ôn lại tình xưa nghĩa cũ. Trò chơi dân gian tại hội Chợ tình Xuân Dương Chợ tình Xuân Dương năm nay kinh phí và quy mô nhỏ hơn năm trước do được cấp xã tổ chức nhưng không vì thế mà người đi hội giảm bớt. Mười hai thôn của xã dựng 6 trại, mỗi trại đều có các tiết mục văn nghệ để các thôn giao lưu với nhau. Khách vào thăm trại được các chủ nhân nhiệt tình mời rượu ngô men lá, nếm thử xôi trứng kiến 3 màu ngọt ngào, món bánh lá ngải thơm ngát và thưởng thức cả điệu hát lượn, hát then say đắm. Đến tối, khi đống lửa trại được đốt lên, nam nữ nắm tay nhau uống rượu, nhảy múa, hát hò và chúc tụng. Sau khi lửa tàn, có thể nhiều đôi đã tìm được nhau và chất “tình” của chợ tình năm xưa được khơi dậy. Tại nơi tổ chức hội chợ tình truyền thống không có nhà nghỉ, nhà trọ. Khách vào dự hội chỉ có cách vào ngủ nhờ nhà người dân quanh đó hoặc đi gần 30km vào thị trấn Yến Lạc mới có nhà nghỉ. Phương án thứ hai ít được lựa chọn, chính vì thế, trước ngày hội, nhiều gia đình ở gần chợ đã dọn dẹp nhà cửa sạch sẽ, mổ gà, lợn, làm bún, bánh để đón khách phương xa về dự hội. Họ đón tiếp cởi mở, ân tình, không chụp giật, không vụ lợi. Tấm lòng mến khách, thật thà, chân chất từ nghìn đời nay của người Tày-Nùng nơi đây vẫn giữ được gần như nguyên vẹn. Theo quan niệm của họ, càng nhiều khách đến nhà thì càng có nhiều bạn bè, càng vui, làm ăn sẽ càng thuận lợi.

Chợ tình Xuân Dương tại Bắc Kạn có một truyền thuyết rất cảm động về tình yêu đôi lứa. Ngày xưa, ở thôn Pác Sen, có hai vợ chồng thương yêu nhau hết mực. Khi mùa vụ sắp tới, vợ chồng cùng nhau ra đồng, vợ phát cỏ nơi đầu ruộng, chồng thì cuốc ở cuối ruộng. Đến trưa khi mặt trời đứng bóng, người chồng đã thấm mệt, gọi vợ về nghỉ thì chỉ nghe tiếng núi đồi vọng lại. Chạy mãi tới đầu ruộng, người chồng chỉ còn thấy cán dao gẫy, cỏ cây bị dẫm nát, chứng tích của một cuộc vật lộn xô đẩy. Mãi sau, chàng mới hay người vợ của mình đã bị bọn xấu bắt đi, nàng đã chống trả, kêu cứu nhưng vì khoảng cách giữa hai người quá xa nên chàng không nghe thấy để đến cứu vợ.

Người dân nô nức đi trảy hội chợ tình Xuân Dương - Bắc Kạn Biết chuyện, dân làng ai cũng tỏ lòng tiếc thương. Từ đó thửa ruộng của vợ chồng nhà nọ được gọi là ruộng dài (Nà Rì), đó cũng là tên của cả huyện Na Rì, Bắc Kạn rộng lớn ngày nay gồm 22 xã, thị trấn.

Sau này gặp lại chồng cũ, nàng mừng mừng tủi tủi, nhưng cũng chỉ biết ôm nhau khóc chứ không thể hàn gắn lại tình xưa vì mỗi người đều đã yên bề gia thất. Dân làng cảm động chuyện tình của họ nên đồng ý để hai vợ chồng cũ có một ngày ôn lại chuyện xưa, đó là ngày 25-3 âm lịch. Từ đó, ngày 25-3 âm lịch hàng năm đã trở thành ngày hội giao lưu giữa nam nữ trong vùng, để những người lỡ duyên được gặp nhau, ôn lại tình xưa nghĩa cũ. Trò chơi dân gian tại hội Chợ tình Xuân Dương

Trò chơi dân gian tại hội Chợ tình Xuân Dương

Chợ tình Xuân Dương năm nay kinh phí và quy mô nhỏ hơn năm trước do được cấp xã tổ chức nhưng không vì thế mà người đi hội giảm bớt.

Mười hai thôn của xã dựng 6 trại, mỗi trại đều có các tiết mục văn nghệ để các thôn giao lưu với nhau. Khách vào thăm trại được các chủ nhân nhiệt tình mời rượu ngô men lá, nếm thử xôi trứng kiến 3 màu ngọt ngào, món bánh lá ngải thơm ngát và thưởng thức cả điệu hát lượn, hát then say đắm.

Đến tối, khi đống lửa trại được đốt lên, nam nữ nắm tay nhau uống rượu, nhảy múa, hát hò và chúc tụng. Sau khi lửa tàn, có thể nhiều đôi đã tìm được nhau và chất “tình” của chợ tình năm xưa được khơi dậy.

Tại nơi tổ chức hội chợ tình truyền thống không có nhà nghỉ, nhà trọ. Khách vào dự hội chỉ có cách vào ngủ nhờ nhà người dân quanh đó hoặc đi gần 30km vào thị trấn Yến Lạc mới có nhà nghỉ. Phương án thứ hai ít được lựa chọn, chính vì thế, trước ngày hội, nhiều gia đình ở gần chợ đã dọn dẹp nhà cửa sạch sẽ, mổ gà, lợn, làm bún, bánh để đón khách phương xa về dự hội. Họ đón tiếp cởi mở, ân tình, không chụp giật, không vụ lợi. Tấm lòng mến khách, thật thà, chân chất từ nghìn đời nay của người Tày-Nùng nơi đây vẫn giữ được gần như nguyên vẹn. Theo quan niệm của họ, càng nhiều khách đến nhà thì càng có nhiều bạn bè, càng vui, làm ăn sẽ càng thuận lợi.

Related Figures

Lễ hội Đền thờ Vua Lê Thái Tông

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/1- 17/1 Âm lịch Lễ hội Đền thờ Vua Lê Thái Tông được tổ chức từ ngày 15/1 đến 17/1 âm lịch tại phường Chiềng Lề, Thành phố Sơn La nhằm tưởng nhớ công ơn của vua Lê Thái Tông đã hai lần chỉ huy quân sĩ lên Sơn La dẹp quân phản loạn. Lễ hội Đền thờ Vua Lê Thái Tông ở Sơn La Vua Lê Thái Tông (1423 - 1442), là vị vua thứ 2 của triều đại Lê Sơ. Ông là một vị vua anh minh thần dũng, yêu nước thương dân và được nhân dân kính trọng. Năm 1440 và 1441, ông đã hai lần chỉ huy quân sỹ lên vùng Tây Bắc dẹp bọn phản nghịch và để lại bia Quế lâm ngự chế ở đây. Năm 2001, Đền thờ Vua Lê Thái Tông được nhân dân xây dựng ngay bên Bia Quế Lâm ở phường Chiềng Lề, TP Sơn La. Màn biểu diễn múa rồng trong ngày hội Lễ hội đền thờ vua Trần Thái Tông lần đầu tiên được tổ chức vào ngày 15 tháng riêng năm 2015. Đây là một sự kiện văn hóa quan trọng nhất nằm trong Chương trình Du lịch của TP Sơn La với chủ đề "Hướng về cội nguồn". Lễ hội nhằm tôn vinh công lao to lớn của Vua Lê Thái Tông và các tướng sĩ đã có công trong lịch sử dựng nước và giữ nước, khơi dậy lòng tự hào dân tộc và kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc của cha ông. Tăng ni phật tử và đại diện chính quyền tỉnh Sơn La dâng hương tại đền thờ vua Lê Thái Tông Lễ hội đền thờ vua Lê Thái Tông gồm có hai phần là phần lễ và phần hội. Phần lễ gồm các nghi lễ dâng hương, dân lễ tại Đền thờ Vua Lê Thái Tông. Tiếp đó là phần hội diễn ra sôi nổi với các màn biểu diễn “Trống hội tế Xuân”, múa hát “Nổi trống Lạc Hồng”, múa rồng, múa lân, thi nấu ăn, thi đấu các môn thể thao dân tộc và trò chơi dân gian... Thông qua lễ hội, các hoạt động văn hóa văn nghệ sôi nổi, lành mạnh được tổ chức nhằm khích lệ tinh thần yêu nước của nhân dân, cổ vũ, động viên mọi người thi đua lao động sản xuất và cũng là dịp để quảng bá, giới thiệu tiềm năng văn hóa và du lịch của thành phố Sơn La đến với các du khách trong và ngoài nước.

Lễ hội Đền thờ Vua Lê Thái Tông ở Sơn La

Vua Lê Thái Tông (1423 - 1442), là vị vua thứ 2 của triều đại Lê Sơ. Ông là một vị vua anh minh thần dũng, yêu nước thương dân và được nhân dân kính trọng. Năm 1440 và 1441, ông đã hai lần chỉ huy quân sỹ lên vùng Tây Bắc dẹp bọn phản nghịch và để lại bia Quế lâm ngự chế ở đây. Năm 2001, Đền thờ Vua Lê Thái Tông được nhân dân xây dựng ngay bên Bia Quế Lâm ở phường Chiềng Lề, TP Sơn La.

Màn biểu diễn múa rồng trong ngày hội

Lễ hội đền thờ vua Trần Thái Tông lần đầu tiên được tổ chức vào ngày 15 tháng riêng năm 2015. Đây là một sự kiện văn hóa quan trọng nhất nằm trong Chương trình Du lịch của TP Sơn La với chủ đề "Hướng về cội nguồn". Lễ hội nhằm tôn vinh công lao to lớn của Vua Lê Thái Tông và các tướng sĩ đã có công trong lịch sử dựng nước và giữ nước, khơi dậy lòng tự hào dân tộc và kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc của cha ông.

Tăng ni phật tử và đại diện chính quyền tỉnh Sơn La dâng hương tại đền thờ vua Lê Thái Tông

Lễ hội đền thờ vua Lê Thái Tông gồm có hai phần là phần lễ và phần hội. Phần lễ gồm các nghi lễ dâng hương, dân lễ tại Đền thờ Vua Lê Thái Tông. Tiếp đó là phần hội diễn ra sôi nổi với các màn biểu diễn “Trống hội tế Xuân”, múa hát “Nổi trống Lạc Hồng”, múa rồng, múa lân, thi nấu ăn, thi đấu các môn thể thao dân tộc và trò chơi dân gian... Thông qua lễ hội, các hoạt động văn hóa văn nghệ sôi nổi, lành mạnh được tổ chức nhằm khích lệ tinh thần yêu nước của nhân dân, cổ vũ, động viên mọi người thi đua lao động sản xuất và cũng là dịp để quảng bá, giới thiệu tiềm năng văn hóa và du lịch của thành phố Sơn La đến với các du khách trong và ngoài nước.

Related Figures

Lễ hội Hoa Ban vùng Tây Bắc

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 13/3- 15/3 Dương lịch Lễ hội Hoa Ban là một lễ hội du lịch được tổ chức thường niên tại một số tỉnh vùng Tây Bắc nơi có loài hoa Ban xinh đẹp. Lễ hội thường được tổ chức vào tháng 3 đúng vào mùa hoa Ban nở rộ. Lễ hội Hoa Ban được tổ chức lần đầu tiên vào năm 2014 và sau đó được tổ chức mỗi năm một lần với những chủ đề khác nhau nhằm chuyển tải những thông điệp riêng về vùng đất, con người Tây Bắc với những chương trình trình diễn nghệ thuật ấn tượng, thu hút hàng vạn lượt du khách tham dự. Cô gái dân tộc bên hoa Ban Hoa Ban là một loại hoa được coi như biểu tượng của Tây Bắc. Hoa Ban có màu trắng, màu hồng, thậm chí có màu đỏ mà nhiều người thường gọi là Hoa Ban Đỏ. Tháng 3 là mùa hoa ban nở rộ khắp các núi rừng Tây Bắc và cũng là lúc bà con dân tộc bắt đầu vào vụ mới trên những thửa ruộng vùng cao. Lễ hội hoa Ban được tổ chức vào thời gian này để chào mừng mùa xuân mới và là tâm điểm để quảng bá du lịch vùng cao Tây Bắc. Du khách đến thăm Tây Bắc vào mùa này không chỉ được ngắm nhìn những càng hoa ban nở rộ mà còn được chiêm ngưỡng những cánh đồng ruộng bậc thang xinh đẹp lúc vào mùa. Chương trình biểu diễn nghệ thuật truyền thống trong đêm khai mạc lễ hội hoa Ban Lễ hội Hoa Ban do đại diện chính quyền các tỉnh trong vùng tổ chức với màn mở đầu là lễ khai mạc ngày hội. Lễ khai mạc được diễn ra với nhiều chương trình nghệ thuật đặc sắc, hấp dẫn mang đậm hơi thở vùng núi Tây Bắc nhằm giới thiệu, tôn vinh nét tinh hoa văn hóa, nghệ thuật độc đáo nhất của một số dân tộc nơi đây; xây dựng và khẳng định hoa ban như biểu tượng văn hóa, tâm hồn của mảnh đất và con người Tây Bắc. Hoa Ban nở rộ trên các nẻo đường vùng núi cao Tây Bắc Đến nay, Lễ hội Hoa Ban không chỉ là một điểm nhấn quan trọng trong công tác tuyên truyền quảng bá hình ảnh và các giá trị văn hóa của vùng Tây Bắc mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành du lịch Tây Bắc trong xu thế hội nhập quốc tế.

Lễ hội Hoa Ban là một lễ hội du lịch được tổ chức thường niên tại một số tỉnh vùng Tây Bắc nơi có loài hoa Ban xinh đẹp. Lễ hội thường được tổ chức vào tháng 3 đúng vào mùa hoa Ban nở rộ.

Lễ hội Hoa Ban được tổ chức lần đầu tiên vào năm 2014 và sau đó được tổ chức mỗi năm một lần với những chủ đề khác nhau nhằm chuyển tải những thông điệp riêng về vùng đất, con người Tây Bắc với những chương trình trình diễn nghệ thuật ấn tượng, thu hút hàng vạn lượt du khách tham dự.

Cô gái dân tộc bên hoa Ban

Hoa Ban là một loại hoa được coi như biểu tượng của Tây Bắc. Hoa Ban có màu trắng, màu hồng, thậm chí có màu đỏ mà nhiều người thường gọi là Hoa Ban Đỏ. Tháng 3 là mùa hoa ban nở rộ khắp các núi rừng Tây Bắc và cũng là lúc bà con dân tộc bắt đầu vào vụ mới trên những thửa ruộng vùng cao. Lễ hội hoa Ban được tổ chức vào thời gian này để chào mừng mùa xuân mới và là tâm điểm để quảng bá du lịch vùng cao Tây Bắc. Du khách đến thăm Tây Bắc vào mùa này không chỉ được ngắm nhìn những càng hoa ban nở rộ mà còn được chiêm ngưỡng những cánh đồng ruộng bậc thang xinh đẹp lúc vào mùa.

Chương trình biểu diễn nghệ thuật truyền thống trong đêm khai mạc lễ hội hoa Ban

Lễ hội Hoa Ban do đại diện chính quyền các tỉnh trong vùng tổ chức với màn mở đầu là lễ khai mạc ngày hội. Lễ khai mạc được diễn ra với nhiều chương trình nghệ thuật đặc sắc, hấp dẫn mang đậm hơi thở vùng núi Tây Bắc nhằm giới thiệu, tôn vinh nét tinh hoa văn hóa, nghệ thuật độc đáo nhất của một số dân tộc nơi đây; xây dựng và khẳng định hoa ban như biểu tượng văn hóa, tâm hồn của mảnh đất và con người Tây Bắc.

Hoa Ban nở rộ trên các nẻo đường vùng núi cao Tây Bắc

Đến nay, Lễ hội Hoa Ban không chỉ là một điểm nhấn quan trọng trong công tác tuyên truyền quảng bá hình ảnh và các giá trị văn hóa của vùng Tây Bắc mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành du lịch Tây Bắc trong xu thế hội nhập quốc tế.

Related Figures

Lễ hội Kinh Dương Vương

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 16/1 Âm lịch Lễ hội Kinh Dương Vương được tổ chức vào ngày 16 tháng giêng hằng năm tại đề thờ Kinh Dương Vương thuộc xã Đại Đồng, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh để tưởng nhớ ông vua Thủy Tổ của người Việt. Theo sử sách ghi lại, Kinh Dương Vương tên chữ là Lộc Tục, là con trai của vua Đế Minh, cháu bốn đời của vua Thần Nông. Sau khi băng hà, Đế Minh truyền ngôi cho con trưởng là Đế Nghi, làm vua phương Bắc và phong cho Lộc Tục làm vua phương Nam, danh xưng Kinh Dương Vương, đặt quốc hiệu là Xích Quỷ, đóng đô ở Hồng Lĩnh (nay là Ngàn Hống, huyện Can Lộc, Hà Tĩnh), sau đó dời đô ra Ao Việt (Việt Trì). Kinh Dương Vương làm vua và cai trị đất nước từ khoảng năm 2879 TCN. Lễ rước kiệu từ đình xuống lăng Kinh Dương Vương Sau khi lê ngôi, ông lấy con gái vua hồ Động Đình tên là Thần Long và sinh được một con trai đặt tên là Sùng Lãm. Sùng Lâm khi nối ngôi làm vua tự xưng là Lạc Long Quân. Truyền thuyết ghi lại, vua Lạc Long Quân lấy đức âu cơ, sinh trăm con. Sau đó 50 người theo mẹ lên núi, 50 người theo cha xuống vùng biển khai phá, mở mang bờ cõi. Trước khi qua đời, ngài truyền cho con cả là vua Hùng Vương thứ nhất. Múa lân trong lễ hội Kinh Dương Vương Để ghi nhớ công ơn của Kinh Dương Vương, người dân Bắc Ninh đã lập Lăng và Đền thờ Kinh Dương vương, được các triều đại Phong kiến Việt Nam xếp vào loại miếu thờ các bậc Đế vương. Hằng năm, lễ hội Kinh Dương Vương được tổ chức nhằm bày tỏ lòng thành kính, giáo dục những người con dân đất Việt nhớ về nguồn cội, tri ân đức vua Thủy tổ Việt Nam. Có thể nói, hiếm có lễ hội nào còn lưu giữ nhiều nét đẹp văn hóa tín ngưỡng truyền thống như lễ hội Kinh Dương Vương Lễ hội Kinh Dương Vương được tổ chức từ ngày 14-18 tháng Giêng với các nghi thức tế lễ và rước kiệu. Trong ngày 14 tháng Giêng sẽ tổ chức lễ rước nước từ Đền xuống Lăng Kinh Dương Vương về thờ; Ngày 16 tháng Giêng tổ chức rước kiệu Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Âu Cơ từ Đền xuống Lăng làm lễ và tế theo các nghi thức cung đình; Ngày 18 tháng Giêng sẽ tổ chức rước kiệu Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và Âu Cơ từ Lăng về Đền. Sau lễ rước là lễ tế để cầu nhân khang, vật thịnh, mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an. Đông đảo người dân và du khách đến tham dự lễ hội Đến ngày 19 tháng Giêng, Ban tổ chức sẽ tổ chức lễ rước tống ruộc, trả nước tưới cho cây và kết thúc phần lễ. Sau phần lễ trang trọng và thành kính là phần hội với nhiều hoạt động phong phú, sôi nổi như tổ chức hát Dân ca Quan họ trên thuyền, hát chèo, hát tuồng, hát trống quân, ca trù, múa rối nước…và nhiều trò chơi dân gian như: Cờ tướng, tổ tôm điếm, vật dân tộc, bịt mắt bắt dê, chơi đu, đập niêu…

Lễ hội Kinh Dương Vương được tổ chức vào ngày 16 tháng giêng hằng năm tại đề thờ Kinh Dương Vương thuộc xã Đại Đồng, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh để tưởng nhớ ông vua Thủy Tổ của người Việt.

Lễ rước kiệu từ đình xuống lăng Kinh Dương Vương Sau khi lê ngôi, ông lấy con gái vua hồ Động Đình tên là Thần Long và sinh được một con trai đặt tên là Sùng Lãm. Sùng Lâm khi nối ngôi làm vua tự xưng là Lạc Long Quân. Truyền thuyết ghi lại, vua Lạc Long Quân lấy đức âu cơ, sinh trăm con. Sau đó 50 người theo mẹ lên núi, 50 người theo cha xuống vùng biển khai phá, mở mang bờ cõi. Trước khi qua đời, ngài truyền cho con cả là vua Hùng Vương thứ nhất. Múa lân trong lễ hội Kinh Dương Vương Để ghi nhớ công ơn của Kinh Dương Vương, người dân Bắc Ninh đã lập Lăng và Đền thờ Kinh Dương vương, được các triều đại Phong kiến Việt Nam xếp vào loại miếu thờ các bậc Đế vương. Hằng năm, lễ hội Kinh Dương Vương được tổ chức nhằm bày tỏ lòng thành kính, giáo dục những người con dân đất Việt nhớ về nguồn cội, tri ân đức vua Thủy tổ Việt Nam. Có thể nói, hiếm có lễ hội nào còn lưu giữ nhiều nét đẹp văn hóa tín ngưỡng truyền thống như lễ hội Kinh Dương Vương Lễ hội Kinh Dương Vương được tổ chức từ ngày 14-18 tháng Giêng với các nghi thức tế lễ và rước kiệu. Trong ngày 14 tháng Giêng sẽ tổ chức lễ rước nước từ Đền xuống Lăng Kinh Dương Vương về thờ; Ngày 16 tháng Giêng tổ chức rước kiệu Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Âu Cơ từ Đền xuống Lăng làm lễ và tế theo các nghi thức cung đình; Ngày 18 tháng Giêng sẽ tổ chức rước kiệu Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và Âu Cơ từ Lăng về Đền. Sau lễ rước là lễ tế để cầu nhân khang, vật thịnh, mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an. Đông đảo người dân và du khách đến tham dự lễ hội Đến ngày 19 tháng Giêng, Ban tổ chức sẽ tổ chức lễ rước tống ruộc, trả nước tưới cho cây và kết thúc phần lễ. Sau phần lễ trang trọng và thành kính là phần hội với nhiều hoạt động phong phú, sôi nổi như tổ chức hát Dân ca Quan họ trên thuyền, hát chèo, hát tuồng, hát trống quân, ca trù, múa rối nước…và nhiều trò chơi dân gian như: Cờ tướng, tổ tôm điếm, vật dân tộc, bịt mắt bắt dê, chơi đu, đập niêu…

Sau khi lê ngôi, ông lấy con gái vua hồ Động Đình tên là Thần Long và sinh được một con trai đặt tên là Sùng Lãm. Sùng Lâm khi nối ngôi làm vua tự xưng là Lạc Long Quân. Truyền thuyết ghi lại, vua Lạc Long Quân lấy đức âu cơ, sinh trăm con. Sau đó 50 người theo mẹ lên núi, 50 người theo cha xuống vùng biển khai phá, mở mang bờ cõi. Trước khi qua đời, ngài truyền cho con cả là vua Hùng Vương thứ nhất.

Múa lân trong lễ hội Kinh Dương Vương

Để ghi nhớ công ơn của Kinh Dương Vương, người dân Bắc Ninh đã lập Lăng và Đền thờ Kinh Dương vương, được các triều đại Phong kiến Việt Nam xếp vào loại miếu thờ các bậc Đế vương. Hằng năm, lễ hội Kinh Dương Vương được tổ chức nhằm bày tỏ lòng thành kính, giáo dục những người con dân đất Việt nhớ về nguồn cội, tri ân đức vua Thủy tổ Việt Nam. Có thể nói, hiếm có lễ hội nào còn lưu giữ nhiều nét đẹp văn hóa tín ngưỡng truyền thống như lễ hội Kinh Dương Vương Lễ hội Kinh Dương Vương được tổ chức từ ngày 14-18 tháng Giêng với các nghi thức tế lễ và rước kiệu. Trong ngày 14 tháng Giêng sẽ tổ chức lễ rước nước từ Đền xuống Lăng Kinh Dương Vương về thờ; Ngày 16 tháng Giêng tổ chức rước kiệu Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Âu Cơ từ Đền xuống Lăng làm lễ và tế theo các nghi thức cung đình; Ngày 18 tháng Giêng sẽ tổ chức rước kiệu Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và Âu Cơ từ Lăng về Đền. Sau lễ rước là lễ tế để cầu nhân khang, vật thịnh, mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an. Đông đảo người dân và du khách đến tham dự lễ hội Đến ngày 19 tháng Giêng, Ban tổ chức sẽ tổ chức lễ rước tống ruộc, trả nước tưới cho cây và kết thúc phần lễ. Sau phần lễ trang trọng và thành kính là phần hội với nhiều hoạt động phong phú, sôi nổi như tổ chức hát Dân ca Quan họ trên thuyền, hát chèo, hát tuồng, hát trống quân, ca trù, múa rối nước…và nhiều trò chơi dân gian như: Cờ tướng, tổ tôm điếm, vật dân tộc, bịt mắt bắt dê, chơi đu, đập niêu…

Để ghi nhớ công ơn của Kinh Dương Vương, người dân Bắc Ninh đã lập Lăng và Đền thờ Kinh Dương vương, được các triều đại Phong kiến Việt Nam xếp vào loại miếu thờ các bậc Đế vương. Hằng năm, lễ hội Kinh Dương Vương được tổ chức nhằm bày tỏ lòng thành kính, giáo dục những người con dân đất Việt nhớ về nguồn cội, tri ân đức vua Thủy tổ Việt Nam. Có thể nói, hiếm có lễ hội nào còn lưu giữ nhiều nét đẹp văn hóa tín ngưỡng truyền thống như lễ hội Kinh Dương Vương

Lễ hội Kinh Dương Vương được tổ chức từ ngày 14-18 tháng Giêng với các nghi thức tế lễ và rước kiệu. Trong ngày 14 tháng Giêng sẽ tổ chức lễ rước nước từ Đền xuống Lăng Kinh Dương Vương về thờ; Ngày 16 tháng Giêng tổ chức rước kiệu Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Âu Cơ từ Đền xuống Lăng làm lễ và tế theo các nghi thức cung đình; Ngày 18 tháng Giêng sẽ tổ chức rước kiệu Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và Âu Cơ từ Lăng về Đền. Sau lễ rước là lễ tế để cầu nhân khang, vật thịnh, mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an. Đông đảo người dân và du khách đến tham dự lễ hội Đến ngày 19 tháng Giêng, Ban tổ chức sẽ tổ chức lễ rước tống ruộc, trả nước tưới cho cây và kết thúc phần lễ. Sau phần lễ trang trọng và thành kính là phần hội với nhiều hoạt động phong phú, sôi nổi như tổ chức hát Dân ca Quan họ trên thuyền, hát chèo, hát tuồng, hát trống quân, ca trù, múa rối nước…và nhiều trò chơi dân gian như: Cờ tướng, tổ tôm điếm, vật dân tộc, bịt mắt bắt dê, chơi đu, đập niêu…

Related Figures

Lễ hội Đền Bà Chúa Kho tại Bắc Ninh

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 14/1 Âm lịch Trong văn hóa tín ngưỡng của người Việt, hiếm có ngôi đền nhỏ nào lại thu hút được nhiều khách thập phương, đặc biệt là giới buôn bán, kinh doanh như Đền Bà Chúa Kho ở Bắc Ninh, bởi nơi đây được dân gian truyền tụng là “ngân hàng vàng mã” và rất linh thiêng. Lễ hội Đền Bà Chúa Kho diễn ra vào ngày 12 tháng giêng hàng năm Lễ hội Đền Bà Chúa Kho được diễn ra vào ngày 12 tháng giêng, tổ chức tại đền Bà Chúa Kho, thôn Cổ Mễ, xã Vũ Ninh, thành phố Bắc Ninh để tưởng niệm Ngày giỗ Bà Chúa Kho. Lễ hội Đền Bà Chúa Kho chính là nơi tưởng niệm một người phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ trước và sau chiến thắng Như Nguyệt đã khéo tích trữ lương thực, tổ chức sản xuất, trông nom kho tàng quốc gia. Bà đã có công giúp triều đình nhà Lý trông coi kho lương thực tại Núi Kho (tỉnh Bắc Ninh) và đã “thác” trong cuộc kháng chiến chống quân Tống vào ngày 12 tháng giêng năm 1077 (Đinh Tỵ). Nhà vua thương tiếc đã phong cho Bà là Phúc Thần. Người dân nhớ thương Bà nên lập đền thờ tại kho lương thực cũ của triều đình ở Núi Kho và gọi Bà với một niềm tôn kính là: Bà Chúa Kho. Bà Chúa Kho là người phụ nữ nhan sắc xuất thân từ một gia đình nghèo khó ở làng Quả Cảm gần đó. Sau khi lấy vua Lý, thấy ruộng đất ở đây bị hoang hoá, bà xin vua cho về làng để khai khẩn ruộng hoang, chiêu dân lập ấp. Bà bị giặc sát hại trong lúc phát lương cứu đỡ dân làng. Không ai biết tên bà, khi bà qua đời, nhân dân lập đền thờ để ghi lại công ơn của bà đã hết lòng trông coi các “lẫm thóc, lẫm tiền” của Nhà nước, chăm lo cho dân làng ấm no. Triều đại phong kiến đã ghi nhận công lao của bà qua việc sắc phong đền thờ bà là “Chủ khổ linh từ” (Đền thiêng thờ bà Chúa Kho). Ở thôn Cổ Mễ còn một ngôi chùa và ngôi đình cổ. Chùa Cổ Mễ đã có từ lâu đời. Ngày nay trong chùa còn ba pho tượng đá mang rõ phong cách điêu khắc thời Mạc khá đẹp. Chùa còn lại đến nay là công trình kiến trúc thế kỷ XIX, làm theo kiểu chữ T chạm khắc công phu. Người dân nô nức đến hội đền Bà Chúa Kho - Bắc Ninh Đình Cổ Mễ kiểu chữ nhất với hai vì năm gian. Các mảng chạm khắc gỗ thể hiện theo các đề tài ngũ hổ tranh châu, long vân khánh hội với nghệ thuật điêu luyện. Đình Cổ Mễ thờ Trương Hống, Trương Hát là những vị anh hùng có công giúp Triệu Quang Phục (549-570) chống giặc Lương. Hàng năm dòng người lại đổ về đền Bà Chúa Kho nườm nượp. Có người cầu an, cầu lộc, nhưng đa phần đến để “vay vốn” Bà Chúa Kho, mong cho một năm làm ăn phát đạt, vốn liếng dồi dào,... Tâm lý “vay vốn” của người dân cũng bắt nguồn từ những huyền tích xưa, và được củng cố thêm rằng “dù trải qua kháng chiến ác liệt thì đền Bà Chúa Kho vẫn trụ vững”. Đền Bà Chúa Kho nhộn nhịp du khách đến hành hương "vay vốn" Nghi thức “vay vốn” Bà Chúa Kho cũng rất rõ ràng, người ta ghi trong sớ là vay bao nhiêu, làm gì và bao lâu sẽ trả. Thậm chí có người còn hứa là vay 1 trả 3, trả 10... Với quan niệm đã vay thì phải trả, nên dù có làm ăn tốt hay không thì cuối năm người ta vẫn giữ đúng lời hứa, tức là tạ lễ ở đền Bà Chúa Kho. Trong dịp lễ hội đông đúc người vào ra, xung quanh đền Bà Chúa Kho có hàng trăm cửa hàng bán đồ cúng tế. Mâm lễ được khách hành hương mua sắm tùy tâm, có khi đơn giản là bông hoa, thẻ hương với vài ba tập tiền âm phủ, cầu kỳ hơn thì là đĩa xôi con gà, hay một mâm ngũ quả đủ đầy... chủ yếu là thành tâm cầu khấn.

Lễ hội Đền Bà Chúa Kho diễn ra vào ngày 12 tháng giêng hàng năm

Related Figures

Lễ hội Chùa Vua tại Hà Nội

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 5/1- 8/1 Âm lịch Chùa Vua ngày xưa thuộc địa phận làng Thịnh Yên, tổng Hậu Nghiêm, huyện Thọ Xương, nay nằm trong khu vực chợ Giời thuộc phường Phố Huế, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Chùa Vua thuộc địa phận làng Thịnh Yên, tổng Hậu Nghiêm, huyện Thọ Xương, nay thuộc phường Phố Huế, quận Hai Bà Trưng Hà Nội. Chùa Vua được nhà nước xếp hạng di tích lịch sử vào năm 1992. Kể từ đó công cuộc tôn tạo, trùng tu và bảo vệ mới được tiến hành khẩn trương và nghiêm túc. Theo sử sách, chùa Vua thờ Đế Thích, vua cờ của các dân tộc miền Á Đông, được xây dựng từ đời Lê (1428 - 1527). Dân gian tương truyền rằng một vị hoàng tử nhà Lê đã chọn chùa Vua làm trung tâm đấu cờ tướng của kinh đô Thăng Long. Sau này, để kỷ niệm dân làng Thịnh Yên có tục mở hội và tiến hành đấu cờ trong dịp đầu xuân. Hội đấu cờ đã thu hút nhiều danh thủ nổi tiếng ở Hà Nội và nhiều tỉnh miền Bắc tham dự. Hội chùa Vua diễn ra từ ngày mồng 5 đến ngày mồng 9 tháng Giêng. Đấu cờ được coi là nội dung chính của hội ngoài các sinh hoạt thông thường. Ngoài những giải thưởng từng kỳ, từng năm, những danh thủ đạt giải ba năm liền thì sẽ được khắc tên vào bia đá của chùa. Truyền thống đấu cờ đã ăn sâu vào tâm thức của dân làng Thịnh Yên tới mức những năm chiến tranh loạn lạc, đất chùa bị lấn chiếm, chùa bị phá hư hỏng nặng, hội không mở được song dân làng vẫn không quên lệ đấu cờ. Dù không mở được hội lớn, cứ tết Nguyên đán xong, dân làng và những người ưa chuộng môn cờ tướng vẫn đến đây dâng hương đấu cờ trong chùa để thưởng xuân, thi tài. Thi cờ người tại hội Chùa Vua Từ khi được công nhận là di tích lịch sử, khu vực chùa đã được mở rộng thêm, khu vực hội cũng đã được nới rộng ra thoải mái. Sau cuộc tế lễ là tới hội cờ: cờ người, cờ tướng, múa sư tử, chọi gà cùng các trò chơi khác. Hội chùa Vua đang dần lấy lại phong độ cũ của mình trên bình diện mới, phù hợp với cuộc sống hiện đại hơn. Trong hội thi cờ, cờ người đặc sắc hơn cả. Ngoài ý nghĩa trí tuệ mà các kỳ thủ phải vận dụng, nó còn mang ý nghĩa nghệ thuật cao thông qua trang phục của quân cờ do người đóng. Một bàn cờ kẻ bằng vạch vôi trên sân chùa, ba mươi hai quân cờ được kẻ vẽ trên các biển gỗ có cọc cắm để người đóng vai làm quân cờ cầm theo. Những cô gái xinh đẹp, trang phục lộng lẫy, giống nhau là người cầm quân cờ. Riêng vai tướng thì mô phỏng lệ bộ của quân bài tướng. Càng cầu kỳ trong ăn mặc bao nhiêu thì màu sắc hội càng phong phú bấy nhiêu. Vì quân cờ toàn tuyển các cô gái xinh đẹp nên các chàng trai cứ vòng trong vòng ngoài không rời bàn cờ được! Người thì mải xem các nước đi, thế cờ của người chơi, người lại mải ngắm các quân cờ. Sau khi sắp xếp xong vị trí trên bàn cờ, các quân cờ ngồi xuống ghế đúng ô, điểm của mình. Hai người đấu cờ đi đi lại lại, ngắm nghía tính toán từng nước cờ. Khi họ đi nước nào thì quân cờ ấy tiến theo yêu cầu của họ. Cũng có khi người chơi ngồi ở bàn cao hô nước đi của mình, thì trên bàn cờ có người dẫn quân cờ đi theo lệnh đó. Quân cờ nào bị đối phương “ăn” thì bị loại khỏi bàn cờ. Cứ như vậy, người đứng xem vừa bình luận về các “quân cờ”, vừa đánh giá nước đi của đấu thủ mà hồi hộp mong đợi kết quả của trận đấu. Có những chàng trai láu lỉnh tiến sát vào bàn cờ, phía quân cờ mình thích để trêu đùa các quân cờ tại nên không khí vừa căng thẳng, trí tuệ, vừa ồn ào sôi nổi. Ban tổ chức cuộc đấu thì tùy theo tình hình từng năm, phân từng cặp đấu thủ dựa vào số lượng người đăng ký dự đấu. Có khi là hai làng đăng ký đấu với nhau, có khi là các cặp đấu cá nhân tranh giải. Thi đấu cũng có nhiều kiểu, phụ thuộc vào sự quyết định của ban tổ chức, dựa trên ý kiến tham khảo của người am hiểu hoặc luật chơi hội đã định ra. Có thể là thách đấu bất kỳ của mỗi cá nhân, đấu loại hay đấu vòng tròn. Cuộc đấu cờ được bàn bạc dân chủ nên càng hấp dẫn khách dự hội. Tại hội chùa Vua, những cô gái xinh đẹp, trang phục lộng lẫy, giống nhau là người cầm quân cờ Năm 1993 tại lễ hội này, người ta đã tổ chức một cuộc rước long trọng. Cuộc rước do hai phường Lê Đại Hành và Phố Huế tiến hành cùng sự tham gia của nhà hát Tuồng gần Trung tâm triển lãm Vân Hồ. Đám rước diễu hành bắt đầu từ Chùa Vua ra khu triển lãm nhằm tôn vinh nền thể thao nước nhà, nhất là ngành cờ tướng với vị vua cờ Đế Thích đang được thờ tại chùa. Sau lễ rước ấy, Câu lạc bộ cờ chùa Vua đã tổ chức cuộc đấu cờ chung kết giữa hai quán quân cờ năm 1992 Đào Thanh Hùng và quán quân năm 1993 Lê Hùng. Hội chùa Vua những năm gần đây đều đông vui vì chùa đã được sửa sang tu bổ nhiều, lại nằm ở giữa khu chợ, do đó khách xem thuộc nhiều tầng lớp xã hội đã đến dự, vừa xem hội, vừa cầu lộc, cầu tài…

Related Figures

Lễ hội Xuân - giỗ tổ nghề kim hoàn làng Châu Khê Hải Dương

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 18/1- 19/1 Âm lịch Lễ hội Xuân- giỗ tổ nghề kim hoàn làng Châu Khê (hay còn gọi là Lễ hội đình làng Châu Khê) là một hội làng diễn ra vào ngày 18 và 19 tháng riêng hàng năm tại đình làng Châu Khê, xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Được biết, Lễ hội xuân và giỗ tổ nghề kim hoàn làng Châu Khê được tổ chức hàng năm nhằm tưởng nhớ công đức của tướng quân Phạm Sỹ , danh tướng thời Trần và cũng là Thành Hoàng làng cùng các vị anh hùng, liệt sỹ có công với dân làng. Đình làng Dương Khê Đình làng Châu Khê có tên chữ là Sỹ công Đại vương từ, ngự trên trên mảnh đất ở trước làng, được khởi dựng từ cuối thế kỷ XIII (1290) và cho đến nay đã qua nhiều đợt trùng tu lớn nhỏ. Đình có cổng tam quan, cổng ngách, sân lát gạch đỏ, tường bao 3 mặt. Trước nhà tiền đình xây 2 nhà giải vũ. Đình có kiến trúc hình chữ Đinh, có nhà tiền tế, nhà hậu cung và các bia đá, ngựa đá ở khu sân đình gần cổng tam quan. Trong khuôn viên đình có cây cảnh, cây ăn quả và vườn hoa. Mái đình lợp ngói vẩy cá, nóc đắp rồng kìm, đắp lưỡng long chầu nhật. Tiền bái có ban thờ đặt hương án, bát hương, cây nến, mâm bồng, bàn đặt lễ vật, hoành phi câu đối chữ Hán Nôm. Hậu cung có bệ thờ, hương án, bát hương, đỉnh đồng, tượng Phạm Sỹ, ngai thờ, hạc, hoành phi, câu đối, bát bửu, long đình, kiệu bát cống, cờ lọng, tán, quạt, tranh Phạm Sỹ, tranh Trần Hưng Đạo Đại Vương, tranh Chu Tam Sương, ban thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh và các liệt sỹ làng Châu Khê. Rước kiệu tại lễ hội đình Dương Khê Về truyền thống làng vàng bạc Châu Khê, theo sử sách ghi lại, vào năm 1460 đời vua Lê Nhân Tông, thượng thư Bộ Lại Lưu Xuân Tín, người làng Châu Khê được vua giao trọng trách đúc bạc nén làm tiền tệ tại kinh thành Thăng Long. Ông đã lập xưởng đúc bạc nén, lấy nhân công từ làng Châu Khê và tạo nên làng nghề vàng bạc Châu Khê ngày nay. Lễ hội Xuân- giỗ tổ nghề kim hoàn làng Châu Khê được tổ chức vào hai ngày 18 và 19 âm lịch hằng năm. Vào ngày này, cả làng đều được dự tế lễ. Trong ngày tế lễ, trong khi hành lễ, những người dự lễ phải ăn chay, tắm gội, mặc trang phục truyền thống để đi đưa lễ. Sau lễ rước và nghi thức tuyên đọc chúc văn và dâng hương lên Thành Hoàng làng và các vị tiền nhân được thờ cúng trong đình làng. Tuyên đọc Chúc văn trong ngày hội Sau phần lễ trang trọng là phần hội có các trò vui chơi giải trí như biểu diễn múa lân, múa rồng, tổ chức trò chơi cờ tướng, bóng đá, cầu lông, chọi gà... Bên cạnh đó, Ban tổ chức cũng tổ chức cho người dân và khách du lịch tới tham quan các cơ sở sản xuất, xem các nghệ nhân giới thiệu quy trình chế tác các sản phẩm vàng bạc trong làng. Ngày 25/01/1991., cụm di tích lịch sử, nghệ thuật của Làng văn hóa Châu Khê đã được Bộ văn hóa thông tin công nhận xếp hạng theo quyết định 154/QĐ của nhà nước.

Lễ hội Xuân- giỗ tổ nghề kim hoàn làng Châu Khê (hay còn gọi là Lễ hội đình làng Châu Khê) là một hội làng diễn ra vào ngày 18 và 19 tháng riêng hàng năm tại đình làng Châu Khê, xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Được biết, Lễ hội xuân và giỗ tổ nghề kim hoàn làng Châu Khê được tổ chức hàng năm nhằm tưởng nhớ công đức của tướng quân Phạm Sỹ , danh tướng thời Trần và cũng là Thành Hoàng làng cùng các vị anh hùng, liệt sỹ có công với dân làng. Đình làng Dương Khê Đình làng Châu Khê có tên chữ là Sỹ công Đại vương từ, ngự trên trên mảnh đất ở trước làng, được khởi dựng từ cuối thế kỷ XIII (1290) và cho đến nay đã qua nhiều đợt trùng tu lớn nhỏ. Đình có cổng tam quan, cổng ngách, sân lát gạch đỏ, tường bao 3 mặt. Trước nhà tiền đình xây 2 nhà giải vũ. Đình có kiến trúc hình chữ Đinh, có nhà tiền tế, nhà hậu cung và các bia đá, ngựa đá ở khu sân đình gần cổng tam quan. Trong khuôn viên đình có cây cảnh, cây ăn quả và vườn hoa. Mái đình lợp ngói vẩy cá, nóc đắp rồng kìm, đắp lưỡng long chầu nhật. Tiền bái có ban thờ đặt hương án, bát hương, cây nến, mâm bồng, bàn đặt lễ vật, hoành phi câu đối chữ Hán Nôm. Hậu cung có bệ thờ, hương án, bát hương, đỉnh đồng, tượng Phạm Sỹ, ngai thờ, hạc, hoành phi, câu đối, bát bửu, long đình, kiệu bát cống, cờ lọng, tán, quạt, tranh Phạm Sỹ, tranh Trần Hưng Đạo Đại Vương, tranh Chu Tam Sương, ban thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh và các liệt sỹ làng Châu Khê. Rước kiệu tại lễ hội đình Dương Khê Về truyền thống làng vàng bạc Châu Khê, theo sử sách ghi lại, vào năm 1460 đời vua Lê Nhân Tông, thượng thư Bộ Lại Lưu Xuân Tín, người làng Châu Khê được vua giao trọng trách đúc bạc nén làm tiền tệ tại kinh thành Thăng Long. Ông đã lập xưởng đúc bạc nén, lấy nhân công từ làng Châu Khê và tạo nên làng nghề vàng bạc Châu Khê ngày nay. Lễ hội Xuân- giỗ tổ nghề kim hoàn làng Châu Khê được tổ chức vào hai ngày 18 và 19 âm lịch hằng năm. Vào ngày này, cả làng đều được dự tế lễ. Trong ngày tế lễ, trong khi hành lễ, những người dự lễ phải ăn chay, tắm gội, mặc trang phục truyền thống để đi đưa lễ. Sau lễ rước và nghi thức tuyên đọc chúc văn và dâng hương lên Thành Hoàng làng và các vị tiền nhân được thờ cúng trong đình làng. Tuyên đọc Chúc văn trong ngày hội Sau phần lễ trang trọng là phần hội có các trò vui chơi giải trí như biểu diễn múa lân, múa rồng, tổ chức trò chơi cờ tướng, bóng đá, cầu lông, chọi gà... Bên cạnh đó, Ban tổ chức cũng tổ chức cho người dân và khách du lịch tới tham quan các cơ sở sản xuất, xem các nghệ nhân giới thiệu quy trình chế tác các sản phẩm vàng bạc trong làng. Ngày 25/01/1991., cụm di tích lịch sử, nghệ thuật của Làng văn hóa Châu Khê đã được Bộ văn hóa thông tin công nhận xếp hạng theo quyết định 154/QĐ của nhà nước.

Lễ hội Xuân- giỗ tổ nghề kim hoàn làng Châu Khê (hay còn gọi là Lễ hội đình làng Châu Khê) là một hội làng diễn ra vào ngày 18 và 19 tháng riêng hàng năm tại đình làng Châu Khê, xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.

Được biết, Lễ hội xuân và giỗ tổ nghề kim hoàn làng Châu Khê được tổ chức hàng năm nhằm tưởng nhớ công đức của tướng quân Phạm Sỹ , danh tướng thời Trần và cũng là Thành Hoàng làng cùng các vị anh hùng, liệt sỹ có công với dân làng.

Đình làng Dương Khê

Đình làng Châu Khê có tên chữ là Sỹ công Đại vương từ, ngự trên trên mảnh đất ở trước làng, được khởi dựng từ cuối thế kỷ XIII (1290) và cho đến nay đã qua nhiều đợt trùng tu lớn nhỏ. Đình có cổng tam quan, cổng ngách, sân lát gạch đỏ, tường bao 3 mặt. Trước nhà tiền đình xây 2 nhà giải vũ. Đình có kiến trúc hình chữ Đinh, có nhà tiền tế, nhà hậu cung và các bia đá, ngựa đá ở khu sân đình gần cổng tam quan. Trong khuôn viên đình có cây cảnh, cây ăn quả và vườn hoa. Mái đình lợp ngói vẩy cá, nóc đắp rồng kìm, đắp lưỡng long chầu nhật. Tiền bái có ban thờ đặt hương án, bát hương, cây nến, mâm bồng, bàn đặt lễ vật, hoành phi câu đối chữ Hán Nôm. Hậu cung có bệ thờ, hương án, bát hương, đỉnh đồng, tượng Phạm Sỹ, ngai thờ, hạc, hoành phi, câu đối, bát bửu, long đình, kiệu bát cống, cờ lọng, tán, quạt, tranh Phạm Sỹ, tranh Trần Hưng Đạo Đại Vương, tranh Chu Tam Sương, ban thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh và các liệt sỹ làng Châu Khê.

Rước kiệu tại lễ hội đình Dương Khê

Về truyền thống làng vàng bạc Châu Khê, theo sử sách ghi lại, vào năm 1460 đời vua Lê Nhân Tông, thượng thư Bộ Lại Lưu Xuân Tín, người làng Châu Khê được vua giao trọng trách đúc bạc nén làm tiền tệ tại kinh thành Thăng Long. Ông đã lập xưởng đúc bạc nén, lấy nhân công từ làng Châu Khê và tạo nên làng nghề vàng bạc Châu Khê ngày nay.

Lễ hội Xuân- giỗ tổ nghề kim hoàn làng Châu Khê được tổ chức vào hai ngày 18 và 19 âm lịch hằng năm. Vào ngày này, cả làng đều được dự tế lễ. Trong ngày tế lễ, trong khi hành lễ, những người dự lễ phải ăn chay, tắm gội, mặc trang phục truyền thống để đi đưa lễ. Sau lễ rước và nghi thức tuyên đọc chúc văn và dâng hương lên Thành Hoàng làng và các vị tiền nhân được thờ cúng trong đình làng.

Tuyên đọc Chúc văn trong ngày hội

Sau phần lễ trang trọng là phần hội có các trò vui chơi giải trí như biểu diễn múa lân, múa rồng, tổ chức trò chơi cờ tướng, bóng đá, cầu lông, chọi gà... Bên cạnh đó, Ban tổ chức cũng tổ chức cho người dân và khách du lịch tới tham quan các cơ sở sản xuất, xem các nghệ nhân giới thiệu quy trình chế tác các sản phẩm vàng bạc trong làng.

Ngày 25/01/1991., cụm di tích lịch sử, nghệ thuật của Làng văn hóa Châu Khê đã được Bộ văn hóa thông tin công nhận xếp hạng theo quyết định 154/QĐ của nhà nước.

Related Figures

Lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột

Thông tin thời kỳ

Lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột, (Buôn Ma Thuột cà phê Festival) là một lễ hội cà phê được tổ chức ở thành phố Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk) được tổ chức định kỳ hai năm một lần nhằm tôn vinh cây cà phê, loài cây chiếm vị trí độc tôn trong cơ cấu cây trồng ở đây. Đoàn voi biểu diễn trong lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột Lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột là một lễ hội lớn ở Tây Nguyên được tổ chức lần đầu tiên vào năm 2005 và đã được Thủ tướng chính phủ công nhận mang tầm vóc một lễ hội cấp Quốc gia. Ngoài việc tuyên dương cây cà phê, Lễ hội cũng là nơi quảng bá hình ảnh của Buôn Ma Thuột, Đăk Lăk - một vùng đất huyền thoại, giàu bản sắc dân tộc. Toàn cảnh buổi diễu hành trong lễ hội Cà phê là một loài cây chiếm vị trí độc tôn trong cơ cấu cây trồng ở Đắk Lăk và chiếm đến 60% sản lượng cà phê của Việt Nam. Cây cà phê đã đem lại sự ấm no, trù phú cho mảnh đất vùng Tây Nguyên này. Trong lễ hội, bên cạnh việc giới thiệu về cây cà phê và các hoạt động trong quy trình sản xuất, chế biến cà phê, Ban tổ chức còn tổ chức các hoạt động du lịch, văn hóa, thể dục thể thao đặc sắc như: Hội chợ - triển lãm chuyên ngành cà phê và sản phẩm thương hiệu Việt, hội thi pha chế cà phê, hành trình du lịch cà phê, thi đấu thể thao bóng chuyền, văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên... Biểu diễn nghệ thuật truyền thống trong lễ khai mạc lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột Hiện tại, ngoài lễ hội ở Buôn Ma Thuột, lễ hội cà phê còn được tổ chức ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh để quảng bá rộng rãi hơn thương hiệu cà phê Việt Nam nói chung và cà phê Buôn Ma Thuột nói riêng...

Lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột, (Buôn Ma Thuột cà phê Festival) là một lễ hội cà phê được tổ chức ở thành phố Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk) được tổ chức định kỳ hai năm một lần nhằm tôn vinh cây cà phê, loài cây chiếm vị trí độc tôn trong cơ cấu cây trồng ở đây. Đoàn voi biểu diễn trong lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột Lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột là một lễ hội lớn ở Tây Nguyên được tổ chức lần đầu tiên vào năm 2005 và đã được Thủ tướng chính phủ công nhận mang tầm vóc một lễ hội cấp Quốc gia. Ngoài việc tuyên dương cây cà phê, Lễ hội cũng là nơi quảng bá hình ảnh của Buôn Ma Thuột, Đăk Lăk - một vùng đất huyền thoại, giàu bản sắc dân tộc. Toàn cảnh buổi diễu hành trong lễ hội Cà phê là một loài cây chiếm vị trí độc tôn trong cơ cấu cây trồng ở Đắk Lăk và chiếm đến 60% sản lượng cà phê của Việt Nam. Cây cà phê đã đem lại sự ấm no, trù phú cho mảnh đất vùng Tây Nguyên này. Trong lễ hội, bên cạnh việc giới thiệu về cây cà phê và các hoạt động trong quy trình sản xuất, chế biến cà phê, Ban tổ chức còn tổ chức các hoạt động du lịch, văn hóa, thể dục thể thao đặc sắc như: Hội chợ - triển lãm chuyên ngành cà phê và sản phẩm thương hiệu Việt, hội thi pha chế cà phê, hành trình du lịch cà phê, thi đấu thể thao bóng chuyền, văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên... Biểu diễn nghệ thuật truyền thống trong lễ khai mạc lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột Hiện tại, ngoài lễ hội ở Buôn Ma Thuột, lễ hội cà phê còn được tổ chức ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh để quảng bá rộng rãi hơn thương hiệu cà phê Việt Nam nói chung và cà phê Buôn Ma Thuột nói riêng...

Lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột, (Buôn Ma Thuột cà phê Festival) là một lễ hội cà phê được tổ chức ở thành phố Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk) được tổ chức định kỳ hai năm một lần nhằm tôn vinh cây cà phê, loài cây chiếm vị trí độc tôn trong cơ cấu cây trồng ở đây. Đoàn voi biểu diễn trong lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột Lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột là một lễ hội lớn ở Tây Nguyên được tổ chức lần đầu tiên vào năm 2005 và đã được Thủ tướng chính phủ công nhận mang tầm vóc một lễ hội cấp Quốc gia. Ngoài việc tuyên dương cây cà phê, Lễ hội cũng là nơi quảng bá hình ảnh của Buôn Ma Thuột, Đăk Lăk - một vùng đất huyền thoại, giàu bản sắc dân tộc. Toàn cảnh buổi diễu hành trong lễ hội Cà phê là một loài cây chiếm vị trí độc tôn trong cơ cấu cây trồng ở Đắk Lăk và chiếm đến 60% sản lượng cà phê của Việt Nam. Cây cà phê đã đem lại sự ấm no, trù phú cho mảnh đất vùng Tây Nguyên này. Trong lễ hội, bên cạnh việc giới thiệu về cây cà phê và các hoạt động trong quy trình sản xuất, chế biến cà phê, Ban tổ chức còn tổ chức các hoạt động du lịch, văn hóa, thể dục thể thao đặc sắc như: Hội chợ - triển lãm chuyên ngành cà phê và sản phẩm thương hiệu Việt, hội thi pha chế cà phê, hành trình du lịch cà phê, thi đấu thể thao bóng chuyền, văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên... Biểu diễn nghệ thuật truyền thống trong lễ khai mạc lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột Hiện tại, ngoài lễ hội ở Buôn Ma Thuột, lễ hội cà phê còn được tổ chức ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh để quảng bá rộng rãi hơn thương hiệu cà phê Việt Nam nói chung và cà phê Buôn Ma Thuột nói riêng...

Lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột, (Buôn Ma Thuột cà phê Festival) là một lễ hội cà phê được tổ chức ở thành phố Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk) được tổ chức định kỳ hai năm một lần nhằm tôn vinh cây cà phê, loài cây chiếm vị trí độc tôn trong cơ cấu cây trồng ở đây. Đoàn voi biểu diễn trong lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột Lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột là một lễ hội lớn ở Tây Nguyên được tổ chức lần đầu tiên vào năm 2005 và đã được Thủ tướng chính phủ công nhận mang tầm vóc một lễ hội cấp Quốc gia. Ngoài việc tuyên dương cây cà phê, Lễ hội cũng là nơi quảng bá hình ảnh của Buôn Ma Thuột, Đăk Lăk - một vùng đất huyền thoại, giàu bản sắc dân tộc. Toàn cảnh buổi diễu hành trong lễ hội Cà phê là một loài cây chiếm vị trí độc tôn trong cơ cấu cây trồng ở Đắk Lăk và chiếm đến 60% sản lượng cà phê của Việt Nam. Cây cà phê đã đem lại sự ấm no, trù phú cho mảnh đất vùng Tây Nguyên này. Trong lễ hội, bên cạnh việc giới thiệu về cây cà phê và các hoạt động trong quy trình sản xuất, chế biến cà phê, Ban tổ chức còn tổ chức các hoạt động du lịch, văn hóa, thể dục thể thao đặc sắc như: Hội chợ - triển lãm chuyên ngành cà phê và sản phẩm thương hiệu Việt, hội thi pha chế cà phê, hành trình du lịch cà phê, thi đấu thể thao bóng chuyền, văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên... Biểu diễn nghệ thuật truyền thống trong lễ khai mạc lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột

Lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột, (Buôn Ma Thuột cà phê Festival) là một lễ hội cà phê được tổ chức ở thành phố Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk) được tổ chức định kỳ hai năm một lần nhằm tôn vinh cây cà phê, loài cây chiếm vị trí độc tôn trong cơ cấu cây trồng ở đây.

Đoàn voi biểu diễn trong lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột

Lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột là một lễ hội lớn ở Tây Nguyên được tổ chức lần đầu tiên vào năm 2005 và đã được Thủ tướng chính phủ công nhận mang tầm vóc một lễ hội cấp Quốc gia. Ngoài việc tuyên dương cây cà phê, Lễ hội cũng là nơi quảng bá hình ảnh của Buôn Ma Thuột, Đăk Lăk - một vùng đất huyền thoại, giàu bản sắc dân tộc.

Toàn cảnh buổi diễu hành trong lễ hội

Cà phê là một loài cây chiếm vị trí độc tôn trong cơ cấu cây trồng ở Đắk Lăk và chiếm đến 60% sản lượng cà phê của Việt Nam. Cây cà phê đã đem lại sự ấm no, trù phú cho mảnh đất vùng Tây Nguyên này. Trong lễ hội, bên cạnh việc giới thiệu về cây cà phê và các hoạt động trong quy trình sản xuất, chế biến cà phê, Ban tổ chức còn tổ chức các hoạt động du lịch, văn hóa, thể dục thể thao đặc sắc như: Hội chợ - triển lãm chuyên ngành cà phê và sản phẩm thương hiệu Việt, hội thi pha chế cà phê, hành trình du lịch cà phê, thi đấu thể thao bóng chuyền, văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên...

Biểu diễn nghệ thuật truyền thống trong lễ khai mạc lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột

Hiện tại, ngoài lễ hội ở Buôn Ma Thuột, lễ hội cà phê còn được tổ chức ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh để quảng bá rộng rãi hơn thương hiệu cà phê Việt Nam nói chung và cà phê Buôn Ma Thuột nói riêng...

Hiện tại, ngoài lễ hội ở Buôn Ma Thuột, lễ hội cà phê còn được tổ chức ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh để quảng bá rộng rãi hơn thương hiệu cà phê Việt Nam nói chung và cà phê Buôn Ma Thuột nói riêng...

Related Figures

Lễ hội thổi cơm thi làng Thị Cấm tại Hà Nội

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 8/1 Âm lịch Cứ đến ngày mùng 8 tháng giêng hàng năm, người dân lại có dịp gặp nhau tay bắt mặt mừng tại đình làng Thị Cấm, xã Xuân Phương, huyện Từ Liêm, Hà Nội để cùng vui với lễ hội kéo lửa thổi cơm thi. Từ nội thành qua cầu Diễn, rẽ tay trái đi dọc Sông Nhuệ gặp ngã rẽ phải đầu tiên, đi thêm gần 1km là đến Làng Thị Cấm. Toàn cảnh dâng lễ Sự tích kéo lửa thổi cơm thi của làng Thị Cấm tương truyền rằng: Từ đời Vua Hùng thứ 18, quân Thục sang xâm lược nước ta. Trước lúc tổ quốc đang bị lâm nguy, Vua Hùng vương giao sứ mệnh lịch sử đó cho một vị tướng vừa có tài, vừa có đức đó là Phan Công Tây Nhạc cầm quân đi dẹp giặc. Với đại hùng binh, ông hành quân qua Thổ Nhỡn, Thị Cấm. Giữa lúc cuộc giao chiến với quân giặc vào thời điểm gay cấn ác liệt nhất thì quân lương của Phan Công cạn kiệt. Ông đã kêu gọi dân làng Thi Cấm chi viện quân lương, đồng sức đồng lòng với quân của triều đình chống lại quân Thục. Hưởng ứng lời kêu gọi của Phan Công, dân làng Thị Cấm từ già - trẻ - trai – gái lao ngay vào việc, người chạy đi lấy nước, người kéo lửa, người giã thóc để thành gạo, trong giây lát gạo đã thành cơm. Tướng Phan Công thật sự cảm kích tấm lòng yêu nước của dân làng Thị Cấm, ông đã viết tặng 4 chữ “Hộ Quốc An Dân” để cảm tạ dân làng. Sau khi dẹp yên được giặc phương Bắc, đất nước thái bình, trăm họ yên vui, tướng Phan Công cùng quận thần trở lại Thị Cấm. Nhận thấy người dân nơi đây có nhân, có thủy, có trung, có hiếu, Ông ngự lại đất này, dạy dân làng trồng dâu, nuôi tằm, cấy cầy, dệt vải.. Từ đó dân làng Thị Cấm tôn thờ ông là Thánh Hoàng làng. Sau màn rước kiệu và dâng lễ, các bô lão trong BGK kiểm tra lần cuối những vật dụng dùng để nấu cơm, như Thóc, Nồi, Bùi rùi..Nếu giáp nào tự đưa thóc từ bên ngoài vào, các bùi rùi có chất gây cháy, lập tức sẽ bị loại khỏi cuộc thi. Sau hiệu lệnh của chủ tế, nguời có kinh nghiệm nhất của các giáp lấy hai thanh dang kẹp vào bùi nhùi, dùng hai thanh tre ốp trên dưới giữ chắc hai đầu rồi hai người kéo co cho cật dang cọ sát vào cật tre nhiều lần. Khi nào thấy có khói lên thì dừng lại và thổi thật khéo thì ngọn lửa sẽ bùng cháy. Trong khi thổi lửa, mỗi giáp tiến cử 1 đô 13 -15 tuổi, chạy xuất phát tại đình làng thật nhanh đến điểm lấy nước cách đình làng 1000m, lấy nước vo gạo, thổi cơm. Còn các trai làng khác vần cối đá ra giữa sân đình, đổ thóc vào giã thật mau. Giã càng mạnh, càng mau nhịp thì thóc biến thành gạo trắng càng nhanh. Gạo sau khi được giã được vo với nước và mang đi nấu Hội thi gồm 4 đội (dân làng thường gọi là giáp), mỗi giáp được cử 10 người dự thi không phân biệt tuổi tác gồm cả nam lẫn nữ. Sau khi được phát nguyên liệu, trang phục cùng đồ đạc, phụ nữ dần sàng, lọc vỏ thóc, nam giới giã gạo và kéo lửa bằng cây giang. Theo truyền thống xưa, dân làng thường nấu cơm bằng niêu đặt trên một chiếc kiềng ba chân và nhóm lửa bằng rơm, củi. Vì vậy nếu người nấu khéo léo xử lý ngọn lửa sao cho vừa tầm, những hạt cơm này thường trắng và thơm ngon. Tiếng trống chiêng thúc giục, được trai tráng các giáp trong làng khua inh ỏi để cổ vũ cho các đội thi, làm cuộc thi trở nên hấp dẫn, rộn ràng. Các đội thi càng phấn chấn hơn, người cổ vũ thì hồi hộp hơn. Sau giai đoạn lửa là đến phần ủ tro cho cơm chín đều. Lúc này các niêu cơm đã nằm kín bên trong các ụ rơm đốt. Quang cảnh sân đình làng Thị Cấm sôi động cùng làn khói nghi ngút. Mọi người nhanh chóng ủ nồi cơm của mình và làm thành nhiều đống nhỏ khác để giấu đi nhằm kiếm thêm thời gian cho nồi cơm của mình. Khi nồi cơm vừa cạn nước, người ta giấu chúng vào trong đống than rơm để chờ chín. Rất nhiều đống lửa được các giáp đốt lên nghi binh, khói rơm bốc lên mù mịt cả sân đình. Cơm được nấu bằng niêu đặt trên kiềng ba chân Sau tuần hương, các bô lão của làng phải tự đi tìm nồi cơm trong rất nhiều những đống than rơm. Nếu người thi khéo giấu thì cơm sẽ chín đều do thời gian được kéo dài, nếu giấu vụng, bị các bô lão xăm trúng ngay từ đống than đầu tiên thì cơm sẽ dễ bị sống. Nồi cơm của 4 giáp sau khi thu về được các bô lão kiểm tra và chấm điểm... Các cụ ông cao tuổi trong làng có vai trò cầm cân nảy mực chấm điểm. Cơm của đội nào chín đều, hạt dẻo, thơm nhất sẽ giành giải nhất của làng. Sau lễ kính cáo trời đất, vị trưởng thưởng của làng đem 4 bát cơm của 4 giáp dâng tướng Phan Công, vị tướng được dân làng Thị Cấm tôn thành Thánh Hoàng Làng. Giải thưởng cho đội giải nhất chỉ là một chút quà nhỏ nhưng mang ý nghĩa tinh thần lớn lao kèm theo sự may mắn, tài lộc đến với họ trong năm mới.

Từ đời Vua Hùng thứ 18, quân Thục sang xâm lược nước ta. Trước lúc tổ quốc đang bị lâm nguy, Vua Hùng vương giao sứ mệnh lịch sử đó cho một vị tướng vừa có tài, vừa có đức đó là Phan Công Tây Nhạc cầm quân đi dẹp giặc. Với đại hùng binh, ông hành quân qua Thổ Nhỡn, Thị Cấm. Giữa lúc cuộc giao chiến với quân giặc vào thời điểm gay cấn ác liệt nhất thì quân lương của Phan Công cạn kiệt. Ông đã kêu gọi dân làng Thi Cấm chi viện quân lương, đồng sức đồng lòng với quân của triều đình chống lại quân Thục. Hưởng ứng lời kêu gọi của Phan Công, dân làng Thị Cấm từ già - trẻ - trai – gái lao ngay vào việc, người chạy đi lấy nước, người kéo lửa, người giã thóc để thành gạo, trong giây lát gạo đã thành cơm. Tướng Phan Công thật sự cảm kích tấm lòng yêu nước của dân làng Thị Cấm, ông đã viết tặng 4 chữ “Hộ Quốc An Dân” để cảm tạ dân làng.

Related Figures

Lễ hội đền Mõ - Hải Phòng

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 12/2- 14/2 Âm lịch Đền, chùa Mõ thuộc xã Ngũ Phúc huyện Kiến Thụy, Hải Phòng. Hằng năm từ ngày 12 đến 14/2 âm lịch người dân Hải Phòng lại nô nức đến tham dự lễ hội đền Mõ để thắp hương tế lễ công chúa Quỳnh Trân, người đã có công khai hoá mảnh đất này. Tương truyền, vào năm 1283, công chúa Quỳnh Trân xin vua Trần Thánh Tông cho xuất gia qui y nơi cửa Phật và được chấp thuận. Sau đó, Công chúa đã chọn một khu đất thuộc làng Nghi Dương (thuộc huyện Nghi Dương, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương, nay là xã Ngũ Phúc, huyện Kiến Thụy, Hải Phòng) để lập điền trang, thái ấp và cấp lương thực, tiền bạc cho người nghèo đói, tập hợp muôn dân trong vùng đến đây làm ăn, sinh sống. Ngôi chùa Mõ cũng được xây dựng tại nơi này làm nơi Công chúa quy y cửa phật. Đền Mõ - Hải Phòng Tại đất phong của mình, Công chúa Quỳnh Trân đã cho lập một mạng lưới truyền tin dân dã, được quy định bằng tiếng mõ. Tiếng mõ là hiệu lệnh xác định giờ giấc sinh hoạt, sản xuất đồng áng, là khẩu lệnh tác chiến khi giặc dã, hỏa hoạn, trộm cướp tấn công địa phương... nên mọi người gọi công chúa là “ Bà chúa Mõ. Tháng 11 năm Mậu Thân, công chúa viên tịch. Thi hài được đưa về chùa Tư Phúc ở kinh sư lập tháp an táng. Vua Trần Anh Tông ra sắc chỉ tặng phong Trần Triều A Nương Thiên Thụy Quỳnh Trân công chúa, ban cấp 300 quan tiền đồng cho 5 xã rước sắc phong về xã Nghi Dương lập đền thờ. Từ đó Đền Mõ xuất hiện và tồn tại cho đến ngày nay. Cây gạo cổ thụ hơn 700 năm tuổi ở đền Mõ - Hải Phòng Đền Mõ được xây dựng cạnh chùa Mõ tạo thành một quần thể kiến trúc thống nhất. Khuôn viên của đền chùa Mõ có diện tích 12.724m2 và nổi tiếng với cây gạo cổ thụ trên 700 năm tuổi, cành lá xum xuê tỏa bóng. Hơn 700 năm trôi qua, lịch sử đã bao bước thăng trầm nhưng đền chùa Mõ vẫn được gìn giữ như thủa ban đầu bằng lòng thành kính của người dân nơi đây. Hàng năm lễ hội đền chùa Mõ vẫn được tổ chức một cách trang trọng với lễ rước Thành Hoàng làng. Trong lễ này, người dân khênh long đình bát biểu và bài vị của vị phúc thần được thờ trong đền ra trường đảo (đàn cầu mưa) để dầm mưa dãi nắng, cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi. Đấu vật trong lễ hội đền Mõ - Hải Phòng Sau hoạt động tế lễ, người dân và du khách sẽ được tham gia phần hội với nhiều trò chơi dân gian truyền thống như: thi đấu cờ tướng, hội vật Cầu Đảo, chọi gà, tổ tôm điếm... thu hút rất đông đảo người dân và khách du lịch tới thăm. TH

Đền, chùa Mõ thuộc xã Ngũ Phúc huyện Kiến Thụy, Hải Phòng. Hằng năm từ ngày 12 đến 14/2 âm lịch người dân Hải Phòng lại nô nức đến tham dự lễ hội đền Mõ để thắp hương tế lễ công chúa Quỳnh Trân, người đã có công khai hoá mảnh đất này.

Đền, chùa Mõ thuộc xã Ngũ Phúc huyện Kiến Thụy, Hải Phòng. Hằng năm từ ngày 12 đến 14/2 âm lịch người dân Hải Phòng lại nô nức đến tham dự lễ hội đền Mõ để thắp hương tế lễ công chúa Quỳnh Trân, người đã có công khai hoá mảnh đất này.

Tương truyền, vào năm 1283, công chúa Quỳnh Trân xin vua Trần Thánh Tông cho xuất gia qui y nơi cửa Phật và được chấp thuận. Sau đó, Công chúa đã chọn một khu đất thuộc làng Nghi Dương (thuộc huyện Nghi Dương, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương, nay là xã Ngũ Phúc, huyện Kiến Thụy, Hải Phòng) để lập điền trang, thái ấp và cấp lương thực, tiền bạc cho người nghèo đói, tập hợp muôn dân trong vùng đến đây làm ăn, sinh sống. Ngôi chùa Mõ cũng được xây dựng tại nơi này làm nơi Công chúa quy y cửa phật. Đền Mõ - Hải Phòng

Tương truyền, vào năm 1283, công chúa Quỳnh Trân xin vua Trần Thánh Tông cho xuất gia qui y nơi cửa Phật và được chấp thuận. Sau đó, Công chúa đã chọn một khu đất thuộc làng Nghi Dương (thuộc huyện Nghi Dương, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương, nay là xã Ngũ Phúc, huyện Kiến Thụy, Hải Phòng) để lập điền trang, thái ấp và cấp lương thực, tiền bạc cho người nghèo đói, tập hợp muôn dân trong vùng đến đây làm ăn, sinh sống. Ngôi chùa Mõ cũng được xây dựng tại nơi này làm nơi Công chúa quy y cửa phật.

Đền Mõ - Hải Phòng

Tại đất phong của mình, Công chúa Quỳnh Trân đã cho lập một mạng lưới truyền tin dân dã, được quy định bằng tiếng mõ. Tiếng mõ là hiệu lệnh xác định giờ giấc sinh hoạt, sản xuất đồng áng, là khẩu lệnh tác chiến khi giặc dã, hỏa hoạn, trộm cướp tấn công địa phương... nên mọi người gọi công chúa là “ Bà chúa Mõ. Tháng 11 năm Mậu Thân, công chúa viên tịch. Thi hài được đưa về chùa Tư Phúc ở kinh sư lập tháp an táng. Vua Trần Anh Tông ra sắc chỉ tặng phong Trần Triều A Nương Thiên Thụy Quỳnh Trân công chúa, ban cấp 300 quan tiền đồng cho 5 xã rước sắc phong về xã Nghi Dương lập đền thờ. Từ đó Đền Mõ xuất hiện và tồn tại cho đến ngày nay. Cây gạo cổ thụ hơn 700 năm tuổi ở đền Mõ - Hải Phòng

Tại đất phong của mình, Công chúa Quỳnh Trân đã cho lập một mạng lưới truyền tin dân dã, được quy định bằng tiếng mõ. Tiếng mõ là hiệu lệnh xác định giờ giấc sinh hoạt, sản xuất đồng áng, là khẩu lệnh tác chiến khi giặc dã, hỏa hoạn, trộm cướp tấn công địa phương... nên mọi người gọi công chúa là “ Bà chúa Mõ. Tháng 11 năm Mậu Thân, công chúa viên tịch. Thi hài được đưa về chùa Tư Phúc ở kinh sư lập tháp an táng. Vua Trần Anh Tông ra sắc chỉ tặng phong Trần Triều A Nương Thiên Thụy Quỳnh Trân công chúa, ban cấp 300 quan tiền đồng cho 5 xã rước sắc phong về xã Nghi Dương lập đền thờ. Từ đó Đền Mõ xuất hiện và tồn tại cho đến ngày nay.

Cây gạo cổ thụ hơn 700 năm tuổi ở đền Mõ - Hải Phòng

Đền Mõ được xây dựng cạnh chùa Mõ tạo thành một quần thể kiến trúc thống nhất. Khuôn viên của đền chùa Mõ có diện tích 12.724m2 và nổi tiếng với cây gạo cổ thụ trên 700 năm tuổi, cành lá xum xuê tỏa bóng.

Đền Mõ được xây dựng cạnh chùa Mõ tạo thành một quần thể kiến trúc thống nhất. Khuôn viên của đền chùa Mõ có diện tích 12.724m2 và nổi tiếng với cây gạo cổ thụ trên 700 năm tuổi, cành lá xum xuê tỏa bóng.

Hơn 700 năm trôi qua, lịch sử đã bao bước thăng trầm nhưng đền chùa Mõ vẫn được gìn giữ như thủa ban đầu bằng lòng thành kính của người dân nơi đây. Hàng năm lễ hội đền chùa Mõ vẫn được tổ chức một cách trang trọng với lễ rước Thành Hoàng làng. Trong lễ này, người dân khênh long đình bát biểu và bài vị của vị phúc thần được thờ trong đền ra trường đảo (đàn cầu mưa) để dầm mưa dãi nắng, cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi. Đấu vật trong lễ hội đền Mõ - Hải Phòng

Hơn 700 năm trôi qua, lịch sử đã bao bước thăng trầm nhưng đền chùa Mõ vẫn được gìn giữ như thủa ban đầu bằng lòng thành kính của người dân nơi đây. Hàng năm lễ hội đền chùa Mõ vẫn được tổ chức một cách trang trọng với lễ rước Thành Hoàng làng. Trong lễ này, người dân khênh long đình bát biểu và bài vị của vị phúc thần được thờ trong đền ra trường đảo (đàn cầu mưa) để dầm mưa dãi nắng, cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi.

Đấu vật trong lễ hội đền Mõ - Hải Phòng

Sau hoạt động tế lễ, người dân và du khách sẽ được tham gia phần hội với nhiều trò chơi dân gian truyền thống như: thi đấu cờ tướng, hội vật Cầu Đảo, chọi gà, tổ tôm điếm... thu hút rất đông đảo người dân và khách du lịch tới thăm. TH

Sau hoạt động tế lễ, người dân và du khách sẽ được tham gia phần hội với nhiều trò chơi dân gian truyền thống như: thi đấu cờ tướng, hội vật Cầu Đảo, chọi gà, tổ tôm điếm... thu hút rất đông đảo người dân và khách du lịch tới thăm.

TH

Related Figures

Lễ hội đền Phủ - Bắc Giang

Thông tin thời kỳ

Lễ hội Đền Phủ được tổ chức vào ngày 11 và 12 tháng 2 âm lịch hằng năm, là lễ hội tưởng nhớ công ơn bà chúa Kho thời Trần. Được biết, đền Phủ được xây dựng ngay bên thành phủ Lạng Giang, thuộc xã Châu Xuyên, tổng Thọ Xương, phủ Lạng Giang, trấn Kinh Bắc xưa. Ngày nay, ngôi đền tọa lạc gần cuối đường Nguyễn Văn Cừ thuộc địa phận phường Hoàng Văn Thụ, TP Bắc Giang và đã trở thành điểm đến thu hút nhiều du khách thập phương. Ảnh Bà Chúa Kho tại đền Phủ Đền Phủ lưu truyền câu chuyện về sự tích của Bà Lý Thị Châu (tức Châu Nương, là bà Chúa Kho đời Trần. Tương truyền bà chúa Kho là người vừa có tài lại có sắc. Cha bà từng giữ chức quan trọng dưới triều Trần ở kinh thành Thăng Long. Thủa thiếu thời, bà thường giúp cha việc sổ sách kho tàng. Đến năm 22 tuổi, Châu Nương lấy một viên quan họ Trần Thái Bảo, làm chức Đốc Bộ ở Hoan Châu (Nghệ Tĩnh). Năm 1285, giặc Nguyên Mông xâm lược về phía Nam.Trần Thái Bảo được lệnh đem quân chống giặc. Để giúp chồng, bà Châu Nương tự nguyện đảm nhận việc chỉ huy quân phòng ngự bảo vệ kho tàng, nhiều lần chống lại quân địch tập kích và đảm bảo việc tiếp tế cho quân sĩ. Để tiện hành động, bà Châu Nương cải trang thành nam giới để đốc xuất tướng sĩ chống lại quân địch, khiến cho chúng bị hao binh tổn tướng rất nhiều. Do có công lớn, chồng bà được phong chức Tiền quân dực thánh bảo vệ Vua Trần, còn bà phụ trách bảo vệ quốc khố. Đền Phủ Bắc Giang Trong cuộc xâm lược lần thứ ba của quân Nguyên Mông, chồng bà chiến đấu dũng cảm và hy sinh. Vua tôi nhà Trần rút về Thiên Trường để bảo toàn lực lượng. Châu Nương nguyện ý ở lại lo việc cất giấu binh lương nhưng không may sa vào tay giặc nên bà đã tự sát để giữ tròn danh tiết. Khi giặc Nguyên bị quét sạch, vua Trần đã truy tặng Châu Nương chức “Quản trưởng Quốc khố Công Chúa” (bà chúa giữ kho của quốc gia). Để ghi nhớ công ơn của bà, người dân ở nhiều nơi trên cả nước đã lập đền thờ cho bà. Tại Bắc Giang, trên chiến tuyến chống quân Nguyên Mông trên sông Nhật Đức (sông Thương) có kho đụn được đặt ở phố Tiền Môn, Phủ Lạng Thương. Tại đây, người dân Bắc Giang đã xây dựng đền Phủ để thờ bà chúa kho. Lễ cúng tại đền Phủ - Bắc Giang Hàng năm để tưởng nhớ công ơn to lớn của Bà, nhân dân địa phương long trọng tổ chức lễ hội tại di tích đền Phủ từ ngày 11-12/2 âm lịch. Đây được coi là ngày lễ tưởng nhớ đến ngày sinh của Bà Chúa và cũng là dịp để giáo dục các thế hệ con cháu lòng tự hào dân tộc, tinh thần uống nước nhớ nguồn, tri ân những người anh hùng đã hy sinh thân mình cho sự bình yên của đất nước. Lễ hội đền Phủ diễn ra với nhiều nghi thức tế lễ trang nghiêm. Phần lễ dâng kính Bà Chúa do Ban quản lý đền chuẩn bị, được quy định phải có một con lợn quay và một cỗ xôi trắng to để lên bàn khênh vào chính điện. Sau phần lễ là phần hội được tổ chức phía xung quanh đền với các trò chơi dân gian đặc trưng của vùng đất Bắc như múa rối nước, cờ người, cờ tướng, đu, vật, chọi gà, kéo co… Trải qua chiến tranh và sự thay đổi từ quy hoạch đô thị, ngày nay đền Phủ không còn được rộng rãi bề thế như xưa nhưng người dân nơi đây dù đi đâu về đâu vẫn hướng về Đền Bà Chúa Kho thiêng liêng của đất Phủ Lạng Thương với mong muốn cầu tài, cầu lộc, cầu bình an cho cả gia đình. TH

Related Figures

Lễ hội Carnaval Hạ Long

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 30/4- 1/5 Dương lịch Lễ hội Carnaval Hạ Long là một lễ hội đường phố được tổ chức thường niên vào cuối tháng 4 và đầu tháng 5, trùng với kỳ nghỉ lễ 30/4 để khởi đầu cho mùa du lịch hè sôi động của thành phố biển Hạ Long. Lễ hội Carnaval Hạ Long được tổ chức lần đầu tiên vào năm 2007 và sau đó mỗi năm một lần với những chủ đề khác nhau nhằm chuyển tải những thông điệp riêng nhưng vẫn mang một hình thức thể hiện thống nhất - lễ hội đường phố đã trở thành điểm hẹn của những người yêu biển Hạ Long và nghệ thuật ấn tượng. Màn trình diễn thời trang trong Lễ hội Carnaval Hạ Long Mỗi năm đến hẹn lại lên, lễ hội Carnaval Hạ Long đã thu hút sự tham gia của hàng vạn lượt du khách và người dân địa phương. Qua nhiều năm tổ chức, yếu tố văn hóa bản địa ngày càng được phô diễn rõ nét hơn trong các kỳ tổ chức lễ hội. Cùng với kho báu tuyệt bích của những đảo đá nghìn năm bồng bềnh trên biển, Hạ Long đã được cả thế giới ca ngợi trên mọi mặt báo nổi tiếng nhất về du lịch. Thêm vào đó, Carnaval Hạ Long trở thành một “bữa tiệc”, một điểm hẹn cho người dân cả nước yêu mến thành phố biển Hạ Long - Quảng Ninh. Rực rỡ sắc màu Carnaval Hạ Long Sau thành công của lần đầu tiên tổ chức vào năm 2007, Carnaval Hạ Long đã trở thành một thương hiệu du lịch của thành phố Hạ Long và tỉnh Quảng Ninh, Đến với Carnaval Hạ Long, du khách sẽ được hòa mình vào không gian của lễ hội với những chương trình biểu diễn nghệ thuật trên sân khấu và dưới đường phố lớn để chào đón một mùa du lịch hè mới, góp phần truyền bá và giới thiệu tới bạn bè trong và quốc tế về vùng đất, con người Quảng Ninh, về Vịnh Hạ Long - Di sản, kỳ quan thiên nhiên của thế giới. Toàn cảnh lễ khai mạc Lễ hội Carnaval Hạ Long 2017 Đến nay, Carnaval Hạ Long không chỉ là một điểm nhấn quan trọng trong công tác tuyên truyền quảng bá hình ảnh và các giá trị văn hóa của Quảng Ninh mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành du lịch Quảng Ninh trong xu thế hội nhập quốc tế. Đồng thời là nơi hội tụ và giao lưu của các đoàn nghệ thuật, các vận động viên thể thao trong và ngoài nước, thu hút đông đảo người dân và khách du lịch tham gia. TH

Lễ hội Carnaval Hạ Long là một lễ hội đường phố được tổ chức thường niên vào cuối tháng 4 và đầu tháng 5, trùng với kỳ nghỉ lễ 30/4 để khởi đầu cho mùa du lịch hè sôi động của thành phố biển Hạ Long.

Lễ hội Carnaval Hạ Long là một lễ hội đường phố được tổ chức thường niên vào cuối tháng 4 và đầu tháng 5, trùng với kỳ nghỉ lễ 30/4 để khởi đầu cho mùa du lịch hè sôi động của thành phố biển Hạ Long.

Lễ hội Carnaval Hạ Long được tổ chức lần đầu tiên vào năm 2007 và sau đó mỗi năm một lần với những chủ đề khác nhau nhằm chuyển tải những thông điệp riêng nhưng vẫn mang một hình thức thể hiện thống nhất - lễ hội đường phố đã trở thành điểm hẹn của những người yêu biển Hạ Long và nghệ thuật ấn tượng. Màn trình diễn thời trang trong Lễ hội Carnaval Hạ Long Mỗi năm đến hẹn lại lên, lễ hội Carnaval Hạ Long đã thu hút sự tham gia của hàng vạn lượt du khách và người dân địa phương. Qua nhiều năm tổ chức, yếu tố văn hóa bản địa ngày càng được phô diễn rõ nét hơn trong các kỳ tổ chức lễ hội. Cùng với kho báu tuyệt bích của những đảo đá nghìn năm bồng bềnh trên biển, Hạ Long đã được cả thế giới ca ngợi trên mọi mặt báo nổi tiếng nhất về du lịch. Thêm vào đó, Carnaval Hạ Long trở thành một “bữa tiệc”, một điểm hẹn cho người dân cả nước yêu mến thành phố biển Hạ Long - Quảng Ninh. Rực rỡ sắc màu Carnaval Hạ Long

Lễ hội Carnaval Hạ Long được tổ chức lần đầu tiên vào năm 2007 và sau đó mỗi năm một lần với những chủ đề khác nhau nhằm chuyển tải những thông điệp riêng nhưng vẫn mang một hình thức thể hiện thống nhất - lễ hội đường phố đã trở thành điểm hẹn của những người yêu biển Hạ Long và nghệ thuật ấn tượng.

Màn trình diễn thời trang trong Lễ hội Carnaval Hạ Long

Mỗi năm đến hẹn lại lên, lễ hội Carnaval Hạ Long đã thu hút sự tham gia của hàng vạn lượt du khách và người dân địa phương. Qua nhiều năm tổ chức, yếu tố văn hóa bản địa ngày càng được phô diễn rõ nét hơn trong các kỳ tổ chức lễ hội. Cùng với kho báu tuyệt bích của những đảo đá nghìn năm bồng bềnh trên biển, Hạ Long đã được cả thế giới ca ngợi trên mọi mặt báo nổi tiếng nhất về du lịch. Thêm vào đó, Carnaval Hạ Long trở thành một “bữa tiệc”, một điểm hẹn cho người dân cả nước yêu mến thành phố biển Hạ Long - Quảng Ninh.

Rực rỡ sắc màu Carnaval Hạ Long

Sau thành công của lần đầu tiên tổ chức vào năm 2007, Carnaval Hạ Long đã trở thành một thương hiệu du lịch của thành phố Hạ Long và tỉnh Quảng Ninh, Đến với Carnaval Hạ Long, du khách sẽ được hòa mình vào không gian của lễ hội với những chương trình biểu diễn nghệ thuật trên sân khấu và dưới đường phố lớn để chào đón một mùa du lịch hè mới, góp phần truyền bá và giới thiệu tới bạn bè trong và quốc tế về vùng đất, con người Quảng Ninh, về Vịnh Hạ Long - Di sản, kỳ quan thiên nhiên của thế giới. Toàn cảnh lễ khai mạc Lễ hội Carnaval Hạ Long 2017

Sau thành công của lần đầu tiên tổ chức vào năm 2007, Carnaval Hạ Long đã trở thành một thương hiệu du lịch của thành phố Hạ Long và tỉnh Quảng Ninh, Đến với Carnaval Hạ Long, du khách sẽ được hòa mình vào không gian của lễ hội với những chương trình biểu diễn nghệ thuật trên sân khấu và dưới đường phố lớn để chào đón một mùa du lịch hè mới, góp phần truyền bá và giới thiệu tới bạn bè trong và quốc tế về vùng đất, con người Quảng Ninh, về Vịnh Hạ Long - Di sản, kỳ quan thiên nhiên của thế giới.

Toàn cảnh lễ khai mạc Lễ hội Carnaval Hạ Long 2017

Đến nay, Carnaval Hạ Long không chỉ là một điểm nhấn quan trọng trong công tác tuyên truyền quảng bá hình ảnh và các giá trị văn hóa của Quảng Ninh mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành du lịch Quảng Ninh trong xu thế hội nhập quốc tế. Đồng thời là nơi hội tụ và giao lưu của các đoàn nghệ thuật, các vận động viên thể thao trong và ngoài nước, thu hút đông đảo người dân và khách du lịch tham gia. TH

Đến nay, Carnaval Hạ Long không chỉ là một điểm nhấn quan trọng trong công tác tuyên truyền quảng bá hình ảnh và các giá trị văn hóa của Quảng Ninh mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành du lịch Quảng Ninh trong xu thế hội nhập quốc tế. Đồng thời là nơi hội tụ và giao lưu của các đoàn nghệ thuật, các vận động viên thể thao trong và ngoài nước, thu hút đông đảo người dân và khách du lịch tham gia.

TH

Related Figures

Lễ hội đền Bà Lê Chân

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 8/2- 10/2 Âm lịch Vào ngày 8/2 đến 10/2 âm lịch hằng năm, người dân Hải Phòng đều tưng bừng tham dự lễ hội đền Nghè và lễ hội đình An Biên - một trong những lễ hội lớn nhất trong năm của thành phố Hải Phòng để tưởng nhớ và tôn vinh công lao to lớn của nữ tướng Lê Chân - người đã khai sinh ra trấn Hải Tần phòng thủ, tiền thân của thành phố Hải Phòng ngày nay. Theo sử sách ghi lại, nữ tướng Lê Chân quê gốc vốn không ở Hải Phòng mà nguyên quán là người An Biên, huyện Đông Triều, phủ Kinh Môn (nay là xã An Thủy, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh). Bà xuất thân trong một gia đình gia giáo có truyền thống dạy học và bốc thuốc chữa bệnh cho người nghèo. Cha bà Lê Chân là Lê Đạo, mẹ là Trần Thị Châu. Tương truyền, bà Lê Chân nổi tiếng xinh đẹp, thông minh, giỏi võ nghệ và có chí hơn người. Thái thú Giao Chỉ là Tô Định nghe danh bà nên đòi lấy làm tỳ thiếp. Ông bà Lê Đạo kiên quyết khước từ nên bị Tô Định hãm hại mất mạng. Mang mối thù nhà, bà Lê Chân cùng với người nhà đã lánh về vùng ven biển thuộc huyện An Dương cùng người dân lập ấp, khai khẩn đất hoang tạo nên một làng quê mới trù phú. Nhớ quê cha đất tổ, bà đã lấy tên làng quê cũ An Biên đặt cho làng quê mới. Trong 10 năm, bà đã ra sức tích lũy lương thảo, luyện tập nghĩa binh và liên kết hào kiệt khắp nơi để chờ thời cơ trả thù nhà, đền nợ nước. Mùa xuân năm 40, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa ở Mê Linh, đánh đuổi quân Đông Hán và được nhân dân khắp nơi hưởng ứng. Trong thời gian này, bà Lê Chân cùng với đội nghĩa binh của mình đã nhanh chóng gia nhập vào đội quân khởi nghĩa của Hai Bà Trưng và trong thời gian ngắn, đội quân của bà đã thu được nhiều thắng lợi vang dội. Nhờ công lao to lớn, Lê Chân được Hai Bà Trưng phong chức “Chưởng quản binh quyền” kiêm Trấn thủ Hải Tần. Phụng mệnh, nữ tướng Lê Chân quay về vùng An Biên, tiếp tục xây dựng lực lượng, đào hào, đắp lũy, trấn giữ vùng trọng yếu phía Đông Tổ quốc. Để tưởng nhớ công ơn của bà Lê Chân, hằng năm người dân Hải Phòng đều tổ chức lễ hội đền Nghè và đình An Biên vào ngày sinh của bà. Lễ hội diễn ra tưng bừng từ ngày 8 đến 10-2 âm lịch. Trong ba ngày đó, dù là ai, ở đâu và làm bất cứ việc gì cũng đều sắp xếp thời gian để được đến thắp nén hương dâng lên Thánh Mẫu Lê Chân và cầu mong một năm mới suôn sẻ, mọi việc may mắn, tốt lành. Điểm nhấn trong lễ hội là đám rước kéo dài cả cây số từ đền đến đình. Trong suốt quãng đường, mọi người đều đi lại nghiêm trang, thành kính, tỏ lòng biết ơn vị Thành hoàng của đất Cảng. Theo truyền thống, lễ vật dâng lên Thánh Mẫu Lê Chân ngoài hương hoa, xôi quả, còn có thịt lợn làm sạch, bỏ lòng gan đem tế sống. Sau đó, thịt này sẽ được chia đều cho dân làng. Ngoài ra, lễ vật dâng lên nữ tướng Lê Chân còn có những món ăn mà sinh thời bà Lê Chân rất thích như bánh giày, gà, ngan, sò, ốc, cua bể và bún... Sau lễ rước là lễ tế để nhắc công ơn của nữ tướng Lê Chân đối với dân tộc và đối với thành phố Hải Phòng. Trong lễ tế này, các sắc phong của các triều đại dành cho bà được chủ lễ đọc lên trước sự thành kính của dân làng.

Vào ngày 8/2 đến 10/2 âm lịch hằng năm, người dân Hải Phòng đều tưng bừng tham dự lễ hội đền Nghè và lễ hội đình An Biên - một trong những lễ hội lớn nhất trong năm của thành phố Hải Phòng để tưởng nhớ và tôn vinh công lao to lớn của nữ tướng Lê Chân - người đã khai sinh ra trấn Hải Tần phòng thủ, tiền thân của thành phố Hải Phòng ngày nay.

Vào ngày 8/2 đến 10/2 âm lịch hằng năm, người dân Hải Phòng đều tưng bừng tham dự lễ hội đền Nghè và lễ hội đình An Biên - một trong những lễ hội lớn nhất trong năm của thành phố Hải Phòng để tưởng nhớ và tôn vinh công lao to lớn của nữ tướng Lê Chân - người đã khai sinh ra trấn Hải Tần phòng thủ, tiền thân của thành phố Hải Phòng ngày nay.

Theo sử sách ghi lại, nữ tướng Lê Chân quê gốc vốn không ở Hải Phòng mà nguyên quán là người An Biên, huyện Đông Triều, phủ Kinh Môn (nay là xã An Thủy, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh). Bà xuất thân trong một gia đình gia giáo có truyền thống dạy học và bốc thuốc chữa bệnh cho người nghèo. Cha bà Lê Chân là Lê Đạo, mẹ là Trần Thị Châu. Tương truyền, bà Lê Chân nổi tiếng xinh đẹp, thông minh, giỏi võ nghệ và có chí hơn người. Thái thú Giao Chỉ là Tô Định nghe danh bà nên đòi lấy làm tỳ thiếp. Ông bà Lê Đạo kiên quyết khước từ nên bị Tô Định hãm hại mất mạng. Mang mối thù nhà, bà Lê Chân cùng với người nhà đã lánh về vùng ven biển thuộc huyện An Dương cùng người dân lập ấp, khai khẩn đất hoang tạo nên một làng quê mới trù phú. Nhớ quê cha đất tổ, bà đã lấy tên làng quê cũ An Biên đặt cho làng quê mới. Trong 10 năm, bà đã ra sức tích lũy lương thảo, luyện tập nghĩa binh và liên kết hào kiệt khắp nơi để chờ thời cơ trả thù nhà, đền nợ nước.

Theo sử sách ghi lại, nữ tướng Lê Chân quê gốc vốn không ở Hải Phòng mà nguyên quán là người An Biên, huyện Đông Triều, phủ Kinh Môn (nay là xã An Thủy, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh). Bà xuất thân trong một gia đình gia giáo có truyền thống dạy học và bốc thuốc chữa bệnh cho người nghèo. Cha bà Lê Chân là Lê Đạo, mẹ là Trần Thị Châu. Tương truyền, bà Lê Chân nổi tiếng xinh đẹp, thông minh, giỏi võ nghệ và có chí hơn người. Thái thú Giao Chỉ là Tô Định nghe danh bà nên đòi lấy làm tỳ thiếp. Ông bà Lê Đạo kiên quyết khước từ nên bị Tô Định hãm hại mất mạng. Mang mối thù nhà, bà Lê Chân cùng với người nhà đã lánh về vùng ven biển thuộc huyện An Dương cùng người dân lập ấp, khai khẩn đất hoang tạo nên một làng quê mới trù phú. Nhớ quê cha đất tổ, bà đã lấy tên làng quê cũ An Biên đặt cho làng quê mới. Trong 10 năm, bà đã ra sức tích lũy lương thảo, luyện tập nghĩa binh và liên kết hào kiệt khắp nơi để chờ thời cơ trả thù nhà, đền nợ nước.

Mùa xuân năm 40, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa ở Mê Linh, đánh đuổi quân Đông Hán và được nhân dân khắp nơi hưởng ứng. Trong thời gian này, bà Lê Chân cùng với đội nghĩa binh của mình đã nhanh chóng gia nhập vào đội quân khởi nghĩa của Hai Bà Trưng và trong thời gian ngắn, đội quân của bà đã thu được nhiều thắng lợi vang dội. Nhờ công lao to lớn, Lê Chân được Hai Bà Trưng phong chức “Chưởng quản binh quyền” kiêm Trấn thủ Hải Tần. Phụng mệnh, nữ tướng Lê Chân quay về vùng An Biên, tiếp tục xây dựng lực lượng, đào hào, đắp lũy, trấn giữ vùng trọng yếu phía Đông Tổ quốc.

Mùa xuân năm 40, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa ở Mê Linh, đánh đuổi quân Đông Hán và được nhân dân khắp nơi hưởng ứng. Trong thời gian này, bà Lê Chân cùng với đội nghĩa binh của mình đã nhanh chóng gia nhập vào đội quân khởi nghĩa của Hai Bà Trưng và trong thời gian ngắn, đội quân của bà đã thu được nhiều thắng lợi vang dội. Nhờ công lao to lớn, Lê Chân được Hai Bà Trưng phong chức “Chưởng quản binh quyền” kiêm Trấn thủ Hải Tần. Phụng mệnh, nữ tướng Lê Chân quay về vùng An Biên, tiếp tục xây dựng lực lượng, đào hào, đắp lũy, trấn giữ vùng trọng yếu phía Đông Tổ quốc.

Để tưởng nhớ công ơn của bà Lê Chân, hằng năm người dân Hải Phòng đều tổ chức lễ hội đền Nghè và đình An Biên vào ngày sinh của bà. Lễ hội diễn ra tưng bừng từ ngày 8 đến 10-2 âm lịch. Trong ba ngày đó, dù là ai, ở đâu và làm bất cứ việc gì cũng đều sắp xếp thời gian để được đến thắp nén hương dâng lên Thánh Mẫu Lê Chân và cầu mong một năm mới suôn sẻ, mọi việc may mắn, tốt lành.

Để tưởng nhớ công ơn của bà Lê Chân, hằng năm người dân Hải Phòng đều tổ chức lễ hội đền Nghè và đình An Biên vào ngày sinh của bà. Lễ hội diễn ra tưng bừng từ ngày 8 đến 10-2 âm lịch. Trong ba ngày đó, dù là ai, ở đâu và làm bất cứ việc gì cũng đều sắp xếp thời gian để được đến thắp nén hương dâng lên Thánh Mẫu Lê Chân và cầu mong một năm mới suôn sẻ, mọi việc may mắn, tốt lành.

Điểm nhấn trong lễ hội là đám rước kéo dài cả cây số từ đền đến đình. Trong suốt quãng đường, mọi người đều đi lại nghiêm trang, thành kính, tỏ lòng biết ơn vị Thành hoàng của đất Cảng. Theo truyền thống, lễ vật dâng lên Thánh Mẫu Lê Chân ngoài hương hoa, xôi quả, còn có thịt lợn làm sạch, bỏ lòng gan đem tế sống. Sau đó, thịt này sẽ được chia đều cho dân làng. Ngoài ra, lễ vật dâng lên nữ tướng Lê Chân còn có những món ăn mà sinh thời bà Lê Chân rất thích như bánh giày, gà, ngan, sò, ốc, cua bể và bún...

Điểm nhấn trong lễ hội là đám rước kéo dài cả cây số từ đền đến đình. Trong suốt quãng đường, mọi người đều đi lại nghiêm trang, thành kính, tỏ lòng biết ơn vị Thành hoàng của đất Cảng. Theo truyền thống, lễ vật dâng lên Thánh Mẫu Lê Chân ngoài hương hoa, xôi quả, còn có thịt lợn làm sạch, bỏ lòng gan đem tế sống. Sau đó, thịt này sẽ được chia đều cho dân làng. Ngoài ra, lễ vật dâng lên nữ tướng Lê Chân còn có những món ăn mà sinh thời bà Lê Chân rất thích như bánh giày, gà, ngan, sò, ốc, cua bể và bún...

Sau lễ rước là lễ tế để nhắc công ơn của nữ tướng Lê Chân đối với dân tộc và đối với thành phố Hải Phòng. Trong lễ tế này, các sắc phong của các triều đại dành cho bà được chủ lễ đọc lên trước sự thành kính của dân làng.

Sau lễ rước là lễ tế để nhắc công ơn của nữ tướng Lê Chân đối với dân tộc và đối với thành phố Hải Phòng. Trong lễ tế này, các sắc phong của các triều đại dành cho bà được chủ lễ đọc lên trước sự thành kính của dân làng.

Related Figures

Lễ hội hoa anh đào Nhật Bản

Thông tin thời kỳ

Lễ hội hoa anh đào là một lễ hội truyền thống của người Nhật Bản với tên gọi Hanami, thường diễn ra vào cuối tháng 3 và đầu tháng 4 hằng năm. Đây là một trong những lễ hội lâu đời nhất ở Nhật Bản có truyền thống hàng ngàn năm nay và là một nét đẹp không thể thiếu trong văn hóa Nhật. Hoa anh đào là được xem là quốc hoa của đất nước mặt trời mọc. Nó tượng trưng cho sự thanh khiết, mỏng manh và trong trắng. Được biết, tục lệ chơi và ngắm hoa anh đào được hình thành từ thời Nara bắt đầu từ việc một số quân thần mang cành hoa đang nở dâng lên Thiên Hoàng nhân dịp đầu xuân. Cho đến đầu thế kỉ 17 thời Edo, hoa anh đào mới được trồng phổ biến tại các công viên tạo thành Satora-Kura- làng hoa anh đào và trở thành nơi thường diễn ra các lễ hội hoa anh đào. Rực rỡ sắc hoa anh đào Cứ mỗi dịp xuân về, hoa anh đào lại nở rộ trên khắp đất nước mặt trời mọc và Lễ hội hoa anh đào cũng diễn ra ở khắp nơi, nhất là ở các đô thị lớn như Tokyo, Osaka, Yokohama...Chỉ tính riêng Tokyo đã có 21 điểm chính thức được tổ chức trong thể lễ hội hoa anh đào vào tháng 3,4 ở các công viên lớn như: công viên Ueno ở quận Taito, công viên Shinjuku Goen ở quận Shinjuku, công viên Yoyogi Koen ở quận Harajuku,... Người dân Nhật tổ chức picnic trong lễ hội hoa anh đào Hoa anh đào là một loài hoa sớm nở chóng tàn, thời gian từ lúc hoa nở cho đến khi tàn chỉ khoảng 10 ngày đến 2 tuần. Tùy theo thời tiết khí hậu của mỗi vùng mà hoa anh đào nở vào từng thời điểm khác nhau. Ở miền Nam nước Nhật ấm hơn nên hoa nở vào tháng một trong khi miền Bắc thì có thể nở vào tháng 5. Trong mùa lễ hội, người dân Nhật thường chọn những địa điểm trồng nhiều hoa anh đào như công viên, dọc bờ sông để tổ chức picnic, ngắm hoa, trò chuyện, ca hát và thưởng thức những món ăn truyền thống của Nhật Bản như sushi, cơm hộp bento, uống rượu sake hay Hanamizake. Vào thời điểm này, khách du lịch cũng dễ dàng bắt gặp hình ảnh các võ sĩ sumo hay những người phụ nữ Nhật trong trang phục kimono truyền thống. Lễ hội hoa anh đào nay đã đến với Việt Nam Ngày nay, lễ hội hoa anh đào không chỉ được tổ chức ở Nhật mà nó còn diễn ra ở nhiều nơi trên thế giới như: Việt Nam,Mỹ, Australia,...Đây là cơ hội để mọi người có thể thưởng thức vẻ đẹp thanh khiết của hoa anh đào cũng như là cơ hội để nước Nhật quảng bá nét đẹp văn hóa của họ. Riêng tại Việt Nam, lễ hội hoa anh đào lần đầu tiên được tổ chức vào năm 2007 tại Hà Nội và cho đến nay lễ hội đã được tổ chức ở rất nhiều nơi như Hà Nội, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh... thu hút rất đông đảo người dân và khách du lịch tham gia.

Lễ hội hoa anh đào là một lễ hội truyền thống của người Nhật Bản với tên gọi Hanami, thường diễn ra vào cuối tháng 3 và đầu tháng 4 hằng năm. Đây là một trong những lễ hội lâu đời nhất ở Nhật Bản có truyền thống hàng ngàn năm nay và là một nét đẹp không thể thiếu trong văn hóa Nhật.

Lễ hội hoa anh đào là một lễ hội truyền thống của người Nhật Bản với tên gọi Hanami, thường diễn ra vào cuối tháng 3 và đầu tháng 4 hằng năm. Đây là một trong những lễ hội lâu đời nhất ở Nhật Bản có truyền thống hàng ngàn năm nay và là một nét đẹp không thể thiếu trong văn hóa Nhật.

Hoa anh đào là được xem là quốc hoa của đất nước mặt trời mọc. Nó tượng trưng cho sự thanh khiết, mỏng manh và trong trắng. Được biết, tục lệ chơi và ngắm hoa anh đào được hình thành từ thời Nara bắt đầu từ việc một số quân thần mang cành hoa đang nở dâng lên Thiên Hoàng nhân dịp đầu xuân. Cho đến đầu thế kỉ 17 thời Edo, hoa anh đào mới được trồng phổ biến tại các công viên tạo thành Satora-Kura- làng hoa anh đào và trở thành nơi thường diễn ra các lễ hội hoa anh đào. Rực rỡ sắc hoa anh đào

Hoa anh đào là được xem là quốc hoa của đất nước mặt trời mọc. Nó tượng trưng cho sự thanh khiết, mỏng manh và trong trắng. Được biết, tục lệ chơi và ngắm hoa anh đào được hình thành từ thời Nara bắt đầu từ việc một số quân thần mang cành hoa đang nở dâng lên Thiên Hoàng nhân dịp đầu xuân. Cho đến đầu thế kỉ 17 thời Edo, hoa anh đào mới được trồng phổ biến tại các công viên tạo thành Satora-Kura- làng hoa anh đào và trở thành nơi thường diễn ra các lễ hội hoa anh đào.

Rực rỡ sắc hoa anh đào

Cứ mỗi dịp xuân về, hoa anh đào lại nở rộ trên khắp đất nước mặt trời mọc và Lễ hội hoa anh đào cũng diễn ra ở khắp nơi, nhất là ở các đô thị lớn như Tokyo, Osaka, Yokohama...Chỉ tính riêng Tokyo đã có 21 điểm chính thức được tổ chức trong thể lễ hội hoa anh đào vào tháng 3,4 ở các công viên lớn như: công viên Ueno ở quận Taito, công viên Shinjuku Goen ở quận Shinjuku, công viên Yoyogi Koen ở quận Harajuku,... Người dân Nhật tổ chức picnic trong lễ hội hoa anh đào Hoa anh đào là một loài hoa sớm nở chóng tàn, thời gian từ lúc hoa nở cho đến khi tàn chỉ khoảng 10 ngày đến 2 tuần. Tùy theo thời tiết khí hậu của mỗi vùng mà hoa anh đào nở vào từng thời điểm khác nhau. Ở miền Nam nước Nhật ấm hơn nên hoa nở vào tháng một trong khi miền Bắc thì có thể nở vào tháng 5. Trong mùa lễ hội, người dân Nhật thường chọn những địa điểm trồng nhiều hoa anh đào như công viên, dọc bờ sông để tổ chức picnic, ngắm hoa, trò chuyện, ca hát và thưởng thức những món ăn truyền thống của Nhật Bản như sushi, cơm hộp bento, uống rượu sake hay Hanamizake. Vào thời điểm này, khách du lịch cũng dễ dàng bắt gặp hình ảnh các võ sĩ sumo hay những người phụ nữ Nhật trong trang phục kimono truyền thống. Lễ hội hoa anh đào nay đã đến với Việt Nam

Cứ mỗi dịp xuân về, hoa anh đào lại nở rộ trên khắp đất nước mặt trời mọc và Lễ hội hoa anh đào cũng diễn ra ở khắp nơi, nhất là ở các đô thị lớn như Tokyo, Osaka, Yokohama...Chỉ tính riêng Tokyo đã có 21 điểm chính thức được tổ chức trong thể lễ hội hoa anh đào vào tháng 3,4 ở các công viên lớn như: công viên Ueno ở quận Taito, công viên Shinjuku Goen ở quận Shinjuku, công viên Yoyogi Koen ở quận Harajuku,...

Người dân Nhật tổ chức picnic trong lễ hội hoa anh đào

Hoa anh đào là một loài hoa sớm nở chóng tàn, thời gian từ lúc hoa nở cho đến khi tàn chỉ khoảng 10 ngày đến 2 tuần. Tùy theo thời tiết khí hậu của mỗi vùng mà hoa anh đào nở vào từng thời điểm khác nhau. Ở miền Nam nước Nhật ấm hơn nên hoa nở vào tháng một trong khi miền Bắc thì có thể nở vào tháng 5. Trong mùa lễ hội, người dân Nhật thường chọn những địa điểm trồng nhiều hoa anh đào như công viên, dọc bờ sông để tổ chức picnic, ngắm hoa, trò chuyện, ca hát và thưởng thức những món ăn truyền thống của Nhật Bản như sushi, cơm hộp bento, uống rượu sake hay Hanamizake. Vào thời điểm này, khách du lịch cũng dễ dàng bắt gặp hình ảnh các võ sĩ sumo hay những người phụ nữ Nhật trong trang phục kimono truyền thống.

Lễ hội hoa anh đào nay đã đến với Việt Nam

Ngày nay, lễ hội hoa anh đào không chỉ được tổ chức ở Nhật mà nó còn diễn ra ở nhiều nơi trên thế giới như: Việt Nam,Mỹ, Australia,...Đây là cơ hội để mọi người có thể thưởng thức vẻ đẹp thanh khiết của hoa anh đào cũng như là cơ hội để nước Nhật quảng bá nét đẹp văn hóa của họ. Riêng tại Việt Nam, lễ hội hoa anh đào lần đầu tiên được tổ chức vào năm 2007 tại Hà Nội và cho đến nay lễ hội đã được tổ chức ở rất nhiều nơi như Hà Nội, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh... thu hút rất đông đảo người dân và khách du lịch tham gia.

Ngày nay, lễ hội hoa anh đào không chỉ được tổ chức ở Nhật mà nó còn diễn ra ở nhiều nơi trên thế giới như: Việt Nam,Mỹ, Australia,...Đây là cơ hội để mọi người có thể thưởng thức vẻ đẹp thanh khiết của hoa anh đào cũng như là cơ hội để nước Nhật quảng bá nét đẹp văn hóa của họ. Riêng tại Việt Nam, lễ hội hoa anh đào lần đầu tiên được tổ chức vào năm 2007 tại Hà Nội và cho đến nay lễ hội đã được tổ chức ở rất nhiều nơi như Hà Nội, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh... thu hút rất đông đảo người dân và khách du lịch tham gia.

Related Figures

Lễ hội cồng chiêng khu vực Tây Nguyên

Thông tin thời kỳ

Lễ hội cồng chiêng là một lễ hội được tổ chức hàng năm theo hình thức luân phiên tại các tỉnh có văn hoá cồng chiêng ở Tây Nguyên, trong đó Đắk Lắk là tỉnh có nhiều cồng chiêng nhất ở Việt Nam và thường được lựa chọn là nơi tổ chức lễ hội. Lễ hội cồng chiêng Tây Nguyên hay được tổ chức nhằm quảng bá hình ảnh "Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên" đã được UNESCO công nhận là di sản truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào ngày 15 tháng 11 năm 2005. Trong lễ hội nghệ nhân của các tỉnh sẽ trình bày, biểu diễn không gian văn hoá cồng chiêng của dân tộc và của tỉnh mình. Cồng chiêng Tây Nguyên Festival cồng chiêng được tổ chức mang đậm màu sắc du lịch nên nó thường được giới thiệu trong các chương trình du lịch. Trong đó, những lễ hội dân gian đặc sắc của các dân tộc Tây Nguyên sẽ được dựng lại nhằm kêu gọi cộng đồng cùng chung sức bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của các dân tộc. Đồng thời, lễ hội cũng là dịp để Tây Nguyên giới thiệu với du khách những thành tựu về kinh tế, văn hóa và tiềm năng du lịch của địa phương mình qua việc tổ chức các hội chợ triển lãm về công cụ sản xuất, sản phẩm đồ gia dụng, may mặc và hàng thủ công mỹ nghệ. Đối với ý nghĩa của lễ hội, cồng chiêng là phương tiện duy nhất để con người thông linh (với thần), giao hòa với trời đất và giao tiếp giữa con người với con người trong cộng đồng. Cồng chiêng Tây Nguyên thường đi kèm với các bài ca sử ca như: Đánh cho khỉ trên cây cũng quên bám chặt vào cành đến ngã xuống đất/ Đánh cho ma quỷ mải nghe đến quên làm hại người (Trường ca Đam San), là những bài sử ca kể lại những cuộc "chiến tranh" giữa các bộ tộc nhằm chiếm đoạt cồng chiêng. Độc đáo lễ hội cồng chiêng Tây Nguyên Nói về lịch sử của cồng chiêng, các già làng người Xêđăng kể lại rằng: Thuở xa xưa có một đàn voi dữ tràn về phá rẫy, phá buôn. Dân làng Xêđăng mang theo lao, tên lá cùng hợp sức tiêu diệt thú dữ, đánh nhau suốt mấy ngày đêm, sức tàn lực kiệt nhưng đàn thú dữ ngày càng hung tợn. Cuối cùng, họ chỉ còn biết chắp tay cầu Yàng. Sau đó, bỗng họ thấy đùn lên một ụ đất, đào xuống thấy một vật bằng đồng tròn như ông mặt trời to bốn người ôm mới xuể. Khi gõ vào thì vật ấy phát ra tiếng trầm vang động núi rừng khiến đàn thú dữ ngơ ngác. Rồi các ụ đất liên tiếp mọc lên, mang theo các vật bằng đồng hình dáng tương tự nhưng nhỏ dần, âm càng cao và người dân gọi nó là cồng chiêng. Khi đã có trong tay hơn 10 chiếc chiêng, đồng thanh gõ lên thì tiếng trầm như thác đổ, tiếng cao như thác reo khiến voi dữ phải chạy vào rừng sâu và không dám quay lại tàn phá buôn làng. Trai gái người dân tộc nhảy múa trong lễ hội ở Tây Nguyên Theo quan niệm truyền thống, các tộc người Tây nguyên quan niệm nhạc cụ như con người, càng nhiều tuổi tiếng nói càng được tôn trọng. Cồng chiêng cũng vậy, những chiếc cồng chiêng càng lâu năm, trải qua nhiều lần nghi lễ thì càng linh thiêng". Người B’Râu cho rằng chiêng tha (gồm hai chiếc chồng và vợ) chính là tổ tiên của họ. Đánh chiêng họ gọi là gọ tha pơi, nghĩa là "mời tha nói". Thủ tục để mở một bài chiêng rất khắt khe, phải cho tha ăn, cho tha uống, khấn mời trời đất và nhiều người đến chứng kiến... Người Xêđăng Sdrá thì có chiêng duy nhất một chiếc và chủ nhân của chiếc chiêng này phải cất rất kỹ, sợ người ngoài hoặc trẻ con không biết đem ra đánh thì sẽ bị già làng phạt nặng. Các dân tộc Tây nguyên đều đặt tên chiêng trong một bộ theo vai vế như trong một gia đình và phân biệt chiêng thiêng (có Yàng trú ngụ) với chiêng thường để dùng trong các dịp lễ trọng hoặc sinh hoạt thường ngày. Có bộ chiêng chỉ được đánh khi có vật hiến sinh từ bò trở lên! TH

Lễ hội cồng chiêng là một lễ hội được tổ chức hàng năm theo hình thức luân phiên tại các tỉnh có văn hoá cồng chiêng ở Tây Nguyên, trong đó Đắk Lắk là tỉnh có nhiều cồng chiêng nhất ở Việt Nam và thường được lựa chọn là nơi tổ chức lễ hội. Lễ hội cồng chiêng Tây Nguyên hay được tổ chức nhằm quảng bá hình ảnh "Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên" đã được UNESCO công nhận là di sản truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào ngày 15 tháng 11 năm 2005. Trong lễ hội nghệ nhân của các tỉnh sẽ trình bày, biểu diễn không gian văn hoá cồng chiêng của dân tộc và của tỉnh mình. Cồng chiêng Tây Nguyên Festival cồng chiêng được tổ chức mang đậm màu sắc du lịch nên nó thường được giới thiệu trong các chương trình du lịch. Trong đó, những lễ hội dân gian đặc sắc của các dân tộc Tây Nguyên sẽ được dựng lại nhằm kêu gọi cộng đồng cùng chung sức bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của các dân tộc. Đồng thời, lễ hội cũng là dịp để Tây Nguyên giới thiệu với du khách những thành tựu về kinh tế, văn hóa và tiềm năng du lịch của địa phương mình qua việc tổ chức các hội chợ triển lãm về công cụ sản xuất, sản phẩm đồ gia dụng, may mặc và hàng thủ công mỹ nghệ.

Lễ hội cồng chiêng là một lễ hội được tổ chức hàng năm theo hình thức luân phiên tại các tỉnh có văn hoá cồng chiêng ở Tây Nguyên, trong đó Đắk Lắk là tỉnh có nhiều cồng chiêng nhất ở Việt Nam và thường được lựa chọn là nơi tổ chức lễ hội.

Lễ hội cồng chiêng Tây Nguyên hay được tổ chức nhằm quảng bá hình ảnh "Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên" đã được UNESCO công nhận là di sản truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào ngày 15 tháng 11 năm 2005. Trong lễ hội nghệ nhân của các tỉnh sẽ trình bày, biểu diễn không gian văn hoá cồng chiêng của dân tộc và của tỉnh mình.

Cồng chiêng Tây Nguyên

Festival cồng chiêng được tổ chức mang đậm màu sắc du lịch nên nó thường được giới thiệu trong các chương trình du lịch. Trong đó, những lễ hội dân gian đặc sắc của các dân tộc Tây Nguyên sẽ được dựng lại nhằm kêu gọi cộng đồng cùng chung sức bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của các dân tộc. Đồng thời, lễ hội cũng là dịp để Tây Nguyên giới thiệu với du khách những thành tựu về kinh tế, văn hóa và tiềm năng du lịch của địa phương mình qua việc tổ chức các hội chợ triển lãm về công cụ sản xuất, sản phẩm đồ gia dụng, may mặc và hàng thủ công mỹ nghệ.

Đối với ý nghĩa của lễ hội, cồng chiêng là phương tiện duy nhất để con người thông linh (với thần), giao hòa với trời đất và giao tiếp giữa con người với con người trong cộng đồng. Cồng chiêng Tây Nguyên thường đi kèm với các bài ca sử ca như: Đánh cho khỉ trên cây cũng quên bám chặt vào cành đến ngã xuống đất/ Đánh cho ma quỷ mải nghe đến quên làm hại người (Trường ca Đam San), là những bài sử ca kể lại những cuộc "chiến tranh" giữa các bộ tộc nhằm chiếm đoạt cồng chiêng. Độc đáo lễ hội cồng chiêng Tây Nguyên

Đối với ý nghĩa của lễ hội, cồng chiêng là phương tiện duy nhất để con người thông linh (với thần), giao hòa với trời đất và giao tiếp giữa con người với con người trong cộng đồng. Cồng chiêng Tây Nguyên thường đi kèm với các bài ca sử ca như: Đánh cho khỉ trên cây cũng quên bám chặt vào cành đến ngã xuống đất/ Đánh cho ma quỷ mải nghe đến quên làm hại người (Trường ca Đam San), là những bài sử ca kể lại những cuộc "chiến tranh" giữa các bộ tộc nhằm chiếm đoạt cồng chiêng.

Độc đáo lễ hội cồng chiêng Tây Nguyên

Nói về lịch sử của cồng chiêng, các già làng người Xêđăng kể lại rằng: Thuở xa xưa có một đàn voi dữ tràn về phá rẫy, phá buôn. Dân làng Xêđăng mang theo lao, tên lá cùng hợp sức tiêu diệt thú dữ, đánh nhau suốt mấy ngày đêm, sức tàn lực kiệt nhưng đàn thú dữ ngày càng hung tợn. Cuối cùng, họ chỉ còn biết chắp tay cầu Yàng. Sau đó, bỗng họ thấy đùn lên một ụ đất, đào xuống thấy một vật bằng đồng tròn như ông mặt trời to bốn người ôm mới xuể. Khi gõ vào thì vật ấy phát ra tiếng trầm vang động núi rừng khiến đàn thú dữ ngơ ngác. Rồi các ụ đất liên tiếp mọc lên, mang theo các vật bằng đồng hình dáng tương tự nhưng nhỏ dần, âm càng cao và người dân gọi nó là cồng chiêng. Khi đã có trong tay hơn 10 chiếc chiêng, đồng thanh gõ lên thì tiếng trầm như thác đổ, tiếng cao như thác reo khiến voi dữ phải chạy vào rừng sâu và không dám quay lại tàn phá buôn làng. Trai gái người dân tộc nhảy múa trong lễ hội ở Tây Nguyên

Nói về lịch sử của cồng chiêng, các già làng người Xêđăng kể lại rằng: Thuở xa xưa có một đàn voi dữ tràn về phá rẫy, phá buôn. Dân làng Xêđăng mang theo lao, tên lá cùng hợp sức tiêu diệt thú dữ, đánh nhau suốt mấy ngày đêm, sức tàn lực kiệt nhưng đàn thú dữ ngày càng hung tợn. Cuối cùng, họ chỉ còn biết chắp tay cầu Yàng. Sau đó, bỗng họ thấy đùn lên một ụ đất, đào xuống thấy một vật bằng đồng tròn như ông mặt trời to bốn người ôm mới xuể. Khi gõ vào thì vật ấy phát ra tiếng trầm vang động núi rừng khiến đàn thú dữ ngơ ngác. Rồi các ụ đất liên tiếp mọc lên, mang theo các vật bằng đồng hình dáng tương tự nhưng nhỏ dần, âm càng cao và người dân gọi nó là cồng chiêng. Khi đã có trong tay hơn 10 chiếc chiêng, đồng thanh gõ lên thì tiếng trầm như thác đổ, tiếng cao như thác reo khiến voi dữ phải chạy vào rừng sâu và không dám quay lại tàn phá buôn làng.

Trai gái người dân tộc nhảy múa trong lễ hội ở Tây Nguyên

Theo quan niệm truyền thống, các tộc người Tây nguyên quan niệm nhạc cụ như con người, càng nhiều tuổi tiếng nói càng được tôn trọng. Cồng chiêng cũng vậy, những chiếc cồng chiêng càng lâu năm, trải qua nhiều lần nghi lễ thì càng linh thiêng". Người B’Râu cho rằng chiêng tha (gồm hai chiếc chồng và vợ) chính là tổ tiên của họ. Đánh chiêng họ gọi là gọ tha pơi, nghĩa là "mời tha nói". Thủ tục để mở một bài chiêng rất khắt khe, phải cho tha ăn, cho tha uống, khấn mời trời đất và nhiều người đến chứng kiến...

Theo quan niệm truyền thống, các tộc người Tây nguyên quan niệm nhạc cụ như con người, càng nhiều tuổi tiếng nói càng được tôn trọng. Cồng chiêng cũng vậy, những chiếc cồng chiêng càng lâu năm, trải qua nhiều lần nghi lễ thì càng linh thiêng". Người B’Râu cho rằng chiêng tha (gồm hai chiếc chồng và vợ) chính là tổ tiên của họ. Đánh chiêng họ gọi là gọ tha pơi, nghĩa là "mời tha nói". Thủ tục để mở một bài chiêng rất khắt khe, phải cho tha ăn, cho tha uống, khấn mời trời đất và nhiều người đến chứng kiến...

Người Xêđăng Sdrá thì có chiêng duy nhất một chiếc và chủ nhân của chiếc chiêng này phải cất rất kỹ, sợ người ngoài hoặc trẻ con không biết đem ra đánh thì sẽ bị già làng phạt nặng. Các dân tộc Tây nguyên đều đặt tên chiêng trong một bộ theo vai vế như trong một gia đình và phân biệt chiêng thiêng (có Yàng trú ngụ) với chiêng thường để dùng trong các dịp lễ trọng hoặc sinh hoạt thường ngày. Có bộ chiêng chỉ được đánh khi có vật hiến sinh từ bò trở lên! TH

Người Xêđăng Sdrá thì có chiêng duy nhất một chiếc và chủ nhân của chiếc chiêng này phải cất rất kỹ, sợ người ngoài hoặc trẻ con không biết đem ra đánh thì sẽ bị già làng phạt nặng. Các dân tộc Tây nguyên đều đặt tên chiêng trong một bộ theo vai vế như trong một gia đình và phân biệt chiêng thiêng (có Yàng trú ngụ) với chiêng thường để dùng trong các dịp lễ trọng hoặc sinh hoạt thường ngày. Có bộ chiêng chỉ được đánh khi có vật hiến sinh từ bò trở lên!

TH

Related Figures

Lễ hội rước voi Đào Xá - Phú Thọ

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 28/1 Âm lịch Phú Thọ là vùng đất tổ giàu truyền thống lịch sử với kho tàng văn hóa dân gian vô cùng phong phú, đa dạng. Trong đó, lễ hội chiếm vị trí hết sức quan trọng trong đời sống văn hóa tâm linh vùng đất tổ hàng trăm 100 lễ hội được tổ chức hàng năm đã thu hút hàng triệu du khách đến tham dự. Trong bài viết này chúng ta cùng tìm hiểu lễ hội rước voi truyền thống tại Đào Xá - Phú Thọ nhé. Lễ rước voi tại đình Đào Xá Lễ hội rước voi Đào Xá - Phú Thọ được tổ chức thường niên vào ngày 28 tháng riêng hàng năm tại Đình Đào Xá, một ngôi đình cổ được xây dựng từ Vua Lê Gia Tông (1674-1675). Đình Đào Xá thờ một vị thần được tôn thờ là Hùng Hải Công, em thứ 19 của Vua Hùng. Theo truyền thuyết, thời Vua Hùng dựng nước, ông Hùng Hải Công được cử đến cai trị vùng Tam Giang, nơi hợp lưu của ba con sông lớn: Sông Đà, sông Hồng và sông Bứa. Tại đây, ông đã đóng góp công sức rất lớn trong việc dạy dân trị thủy, trồng lúa, chăn nuôi gia súc và xây dựng xóm làng trù phú. Để nghi nhớ công ơn của ông Hải công, Vua Hùng đã ban cho ông hai thớt Voi. Trước khi chia tay về xuôi và giao lại trọng trách cai quản vùng Tam Giang cho ba con trai đã trưởng thành, ông đã dẫn đôi Voi về Đào Xá làm lễ tạ 3 lần rồi từ biệt. Toàn cảnh lễ hội rước voi tại đình Đào Xá Để tri ân công đức của ông Hùng Hải Công, dân làng lập Đào Xá đã lập đình thờ và tôn ông làm Thành hoàng, hằng năm vào ngày 28 tháng Giêng âm lịch dân làng đều tổ chức Lễ hội rước Voi để tưởng nhớ đến ông. Theo tập tục truyền thống, Lễ hội Rước voi Đào Xá sẽ diễn ra trong 3 ngày từ 27 đến 29 tháng Giêng năm Ất Mùi). Trong đó, phần lễ được tổ chức trang nghiêm, thành kính với các nghi lễ: Cáo hội, rước kiệu, rước voi từ Đình ra Đền Đào Xá đón long ngai; chuẩn bị cỗ thờ với xôi, gà, bánh mật, chè kho, cá chép, linh lang, ngũ quả; lễ tế truyền thống… Lễ rước kiệu Sau phần lễ là phần hội được tổ chức sôi động với các trò chơi dân gian như: Thi nấu cơm, chọi gà, kéo co… Năm 2015, Lễ hội Rước voi Đào Xá được xác định là một trong một trong những lễ hội được UBND tỉnh Phú Thọ lựa chọn triển khai lập hồ sơ khoa học đề nghị đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia. TH

Lễ rước voi tại đình Đào Xá Lễ hội rước voi Đào Xá - Phú Thọ được tổ chức thường niên vào ngày 28 tháng riêng hàng năm tại Đình Đào Xá, một ngôi đình cổ được xây dựng từ Vua Lê Gia Tông (1674-1675). Đình Đào Xá thờ một vị thần được tôn thờ là Hùng Hải Công, em thứ 19 của Vua Hùng. Theo truyền thuyết, thời Vua Hùng dựng nước, ông Hùng Hải Công được cử đến cai trị vùng Tam Giang, nơi hợp lưu của ba con sông lớn: Sông Đà, sông Hồng và sông Bứa. Tại đây, ông đã đóng góp công sức rất lớn trong việc dạy dân trị thủy, trồng lúa, chăn nuôi gia súc và xây dựng xóm làng trù phú. Để nghi nhớ công ơn của ông Hải công, Vua Hùng đã ban cho ông hai thớt Voi. Trước khi chia tay về xuôi và giao lại trọng trách cai quản vùng Tam Giang cho ba con trai đã trưởng thành, ông đã dẫn đôi Voi về Đào Xá làm lễ tạ 3 lần rồi từ biệt. Toàn cảnh lễ hội rước voi tại đình Đào Xá Để tri ân công đức của ông Hùng Hải Công, dân làng lập Đào Xá đã lập đình thờ và tôn ông làm Thành hoàng, hằng năm vào ngày 28 tháng Giêng âm lịch dân làng đều tổ chức Lễ hội rước Voi để tưởng nhớ đến ông. Theo tập tục truyền thống, Lễ hội Rước voi Đào Xá sẽ diễn ra trong 3 ngày từ 27 đến 29 tháng Giêng năm Ất Mùi). Trong đó, phần lễ được tổ chức trang nghiêm, thành kính với các nghi lễ: Cáo hội, rước kiệu, rước voi từ Đình ra Đền Đào Xá đón long ngai; chuẩn bị cỗ thờ với xôi, gà, bánh mật, chè kho, cá chép, linh lang, ngũ quả; lễ tế truyền thống… Lễ rước kiệu Sau phần lễ là phần hội được tổ chức sôi động với các trò chơi dân gian như: Thi nấu cơm, chọi gà, kéo co… Năm 2015, Lễ hội Rước voi Đào Xá được xác định là một trong một trong những lễ hội được UBND tỉnh Phú Thọ lựa chọn triển khai lập hồ sơ khoa học đề nghị đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia. TH

Lễ rước voi tại đình Đào Xá Lễ hội rước voi Đào Xá - Phú Thọ được tổ chức thường niên vào ngày 28 tháng riêng hàng năm tại Đình Đào Xá, một ngôi đình cổ được xây dựng từ Vua Lê Gia Tông (1674-1675). Đình Đào Xá thờ một vị thần được tôn thờ là Hùng Hải Công, em thứ 19 của Vua Hùng. Theo truyền thuyết, thời Vua Hùng dựng nước, ông Hùng Hải Công được cử đến cai trị vùng Tam Giang, nơi hợp lưu của ba con sông lớn: Sông Đà, sông Hồng và sông Bứa. Tại đây, ông đã đóng góp công sức rất lớn trong việc dạy dân trị thủy, trồng lúa, chăn nuôi gia súc và xây dựng xóm làng trù phú. Để nghi nhớ công ơn của ông Hải công, Vua Hùng đã ban cho ông hai thớt Voi. Trước khi chia tay về xuôi và giao lại trọng trách cai quản vùng Tam Giang cho ba con trai đã trưởng thành, ông đã dẫn đôi Voi về Đào Xá làm lễ tạ 3 lần rồi từ biệt. Toàn cảnh lễ hội rước voi tại đình Đào Xá Để tri ân công đức của ông Hùng Hải Công, dân làng lập Đào Xá đã lập đình thờ và tôn ông làm Thành hoàng, hằng năm vào ngày 28 tháng Giêng âm lịch dân làng đều tổ chức Lễ hội rước Voi để tưởng nhớ đến ông. Theo tập tục truyền thống, Lễ hội Rước voi Đào Xá sẽ diễn ra trong 3 ngày từ 27 đến 29 tháng Giêng năm Ất Mùi). Trong đó, phần lễ được tổ chức trang nghiêm, thành kính với các nghi lễ: Cáo hội, rước kiệu, rước voi từ Đình ra Đền Đào Xá đón long ngai; chuẩn bị cỗ thờ với xôi, gà, bánh mật, chè kho, cá chép, linh lang, ngũ quả; lễ tế truyền thống… Lễ rước kiệu Sau phần lễ là phần hội được tổ chức sôi động với các trò chơi dân gian như: Thi nấu cơm, chọi gà, kéo co… Năm 2015, Lễ hội Rước voi Đào Xá được xác định là một trong một trong những lễ hội được UBND tỉnh Phú Thọ lựa chọn triển khai lập hồ sơ khoa học đề nghị đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia. TH

Lễ rước voi tại đình Đào Xá Lễ hội rước voi Đào Xá - Phú Thọ được tổ chức thường niên vào ngày 28 tháng riêng hàng năm tại Đình Đào Xá, một ngôi đình cổ được xây dựng từ Vua Lê Gia Tông (1674-1675). Đình Đào Xá thờ một vị thần được tôn thờ là Hùng Hải Công, em thứ 19 của Vua Hùng. Theo truyền thuyết, thời Vua Hùng dựng nước, ông Hùng Hải Công được cử đến cai trị vùng Tam Giang, nơi hợp lưu của ba con sông lớn: Sông Đà, sông Hồng và sông Bứa. Tại đây, ông đã đóng góp công sức rất lớn trong việc dạy dân trị thủy, trồng lúa, chăn nuôi gia súc và xây dựng xóm làng trù phú. Để nghi nhớ công ơn của ông Hải công, Vua Hùng đã ban cho ông hai thớt Voi. Trước khi chia tay về xuôi và giao lại trọng trách cai quản vùng Tam Giang cho ba con trai đã trưởng thành, ông đã dẫn đôi Voi về Đào Xá làm lễ tạ 3 lần rồi từ biệt. Toàn cảnh lễ hội rước voi tại đình Đào Xá Để tri ân công đức của ông Hùng Hải Công, dân làng lập Đào Xá đã lập đình thờ và tôn ông làm Thành hoàng, hằng năm vào ngày 28 tháng Giêng âm lịch dân làng đều tổ chức Lễ hội rước Voi để tưởng nhớ đến ông.

Lễ rước voi tại đình Đào Xá

Lễ hội rước voi Đào Xá - Phú Thọ được tổ chức thường niên vào ngày 28 tháng riêng hàng năm tại Đình Đào Xá, một ngôi đình cổ được xây dựng từ Vua Lê Gia Tông (1674-1675). Đình Đào Xá thờ một vị thần được tôn thờ là Hùng Hải Công, em thứ 19 của Vua Hùng.

Theo truyền thuyết, thời Vua Hùng dựng nước, ông Hùng Hải Công được cử đến cai trị vùng Tam Giang, nơi hợp lưu của ba con sông lớn: Sông Đà, sông Hồng và sông Bứa. Tại đây, ông đã đóng góp công sức rất lớn trong việc dạy dân trị thủy, trồng lúa, chăn nuôi gia súc và xây dựng xóm làng trù phú. Để nghi nhớ công ơn của ông Hải công, Vua Hùng đã ban cho ông hai thớt Voi. Trước khi chia tay về xuôi và giao lại trọng trách cai quản vùng Tam Giang cho ba con trai đã trưởng thành, ông đã dẫn đôi Voi về Đào Xá làm lễ tạ 3 lần rồi từ biệt.

Toàn cảnh lễ hội rước voi tại đình Đào Xá

Để tri ân công đức của ông Hùng Hải Công, dân làng lập Đào Xá đã lập đình thờ và tôn ông làm Thành hoàng, hằng năm vào ngày 28 tháng Giêng âm lịch dân làng đều tổ chức Lễ hội rước Voi để tưởng nhớ đến ông.

Theo tập tục truyền thống, Lễ hội Rước voi Đào Xá sẽ diễn ra trong 3 ngày từ 27 đến 29 tháng Giêng năm Ất Mùi). Trong đó, phần lễ được tổ chức trang nghiêm, thành kính với các nghi lễ: Cáo hội, rước kiệu, rước voi từ Đình ra Đền Đào Xá đón long ngai; chuẩn bị cỗ thờ với xôi, gà, bánh mật, chè kho, cá chép, linh lang, ngũ quả; lễ tế truyền thống… Lễ rước kiệu Sau phần lễ là phần hội được tổ chức sôi động với các trò chơi dân gian như: Thi nấu cơm, chọi gà, kéo co…

Theo tập tục truyền thống, Lễ hội Rước voi Đào Xá sẽ diễn ra trong 3 ngày từ 27 đến 29 tháng Giêng năm Ất Mùi). Trong đó, phần lễ được tổ chức trang nghiêm, thành kính với các nghi lễ: Cáo hội, rước kiệu, rước voi từ Đình ra Đền Đào Xá đón long ngai; chuẩn bị cỗ thờ với xôi, gà, bánh mật, chè kho, cá chép, linh lang, ngũ quả; lễ tế truyền thống…

Lễ rước kiệu

Sau phần lễ là phần hội được tổ chức sôi động với các trò chơi dân gian như: Thi nấu cơm, chọi gà, kéo co…

Năm 2015, Lễ hội Rước voi Đào Xá được xác định là một trong một trong những lễ hội được UBND tỉnh Phú Thọ lựa chọn triển khai lập hồ sơ khoa học đề nghị đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia. TH

Năm 2015, Lễ hội Rước voi Đào Xá được xác định là một trong một trong những lễ hội được UBND tỉnh Phú Thọ lựa chọn triển khai lập hồ sơ khoa học đề nghị đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia.

TH

Related Figures

Lễ hội đền Đa Mai - Bắc Giang

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 9/2- 10/2 Âm lịch Lễ hội đền Đa Mai - Bắc Giang được tổ chức vào hai ngày mùng 9 và 10-2 âm lịch tại Đền Đa Mai, phường Đa Mai (TP Bắc Giang) để tưởng nhớ công ơn của hai công chúa con vua Trần là Bảo Nương và Ngọc nương đã quên mình hy sinh vì nước trong cuộc chiến chống quân Nguyên - Mông tại bến Giang Tân. Đua thuyền trên sông Thương Theo truyền thuyết, vào năm Thiên Ứng đời nhà Trần, cả dân tộc chìm trong khói lửa binh đao bởi giặc Nguyên Mông hung tàn. Dưới sự lãnh đạo của vua tôi nhà Trần, nhân dân ta đã mưu trí, dũng cảm đánh tan quân thù. Góp vào chiến công ấy, có một trận thủy chiến quan trọng tiêu diệt một cánh quân quan trọng của quân địch do hai nàng công chúa của vua Trần Thái Tông là Bảo Nương và Ngọc Nương chiếm công lao hàng đầu. Nghi thức tế thánh tại đền Chính Linh Từ Tương truyền, đêm 9/2 hai nàng công chúa mới tuổi mười tám đôi mươi đã giả danh thuyền buôn, dùng mỹ nhân kế xuống thuyền chuốc rượu cho tướng giặc say sau đó sai người đục thuyền cho đắm rồi cùng chết với tướng giặc. Sáng hôm sau, ngày 10-2 năm Đinh Tỵ (1257), Vua quan nhà Trần đã tổ chức tấn công tiêu diệt toàn bộ quân giặc. Để ghi nhớ công lao của hai nàng, Vua Trần đã cho xây đền thờ Đa Mai tại bến Giang Tân. và ban danh "Chính Linh Từ". Màn biểu diễn trống hội đặc sắc trong lễ hội đình Đa Mai Hàng năm vào ngày giỗ của hai vị công chúa, chính quyền và nhân dân xã Đa Mai lại tổ chức lễ hội đền Đa Mai một cách trang trọng và thành kính với phần lễ rước và cúng tế theo đúng nghi lễ truyền thống. Theo thông lệ, hằng năm vào những năm chẵn, lễ hội được tổ chức cấp phường; các năm còn lại do các tổ dân phố lần lượt đăng cai tổ chức. Sau phần lễ, phần hội tiếp tục được diễn ra với nhiều trò chơi hấp dẫn như đua thuyền trên sông thương, vật cổ truyền, kéo co... thu hút nhiều du khách và nhân dân tham dự.

Lễ hội đền Đa Mai - Bắc Giang được tổ chức vào hai ngày mùng 9 và 10-2 âm lịch tại Đền Đa Mai, phường Đa Mai (TP Bắc Giang) để tưởng nhớ công ơn của hai công chúa con vua Trần là Bảo Nương và Ngọc nương đã quên mình hy sinh vì nước trong cuộc chiến chống quân Nguyên - Mông tại bến Giang Tân.

Đua thuyền trên sông Thương Theo truyền thuyết, vào năm Thiên Ứng đời nhà Trần, cả dân tộc chìm trong khói lửa binh đao bởi giặc Nguyên Mông hung tàn. Dưới sự lãnh đạo của vua tôi nhà Trần, nhân dân ta đã mưu trí, dũng cảm đánh tan quân thù. Góp vào chiến công ấy, có một trận thủy chiến quan trọng tiêu diệt một cánh quân quan trọng của quân địch do hai nàng công chúa của vua Trần Thái Tông là Bảo Nương và Ngọc Nương chiếm công lao hàng đầu. Nghi thức tế thánh tại đền Chính Linh Từ Tương truyền, đêm 9/2 hai nàng công chúa mới tuổi mười tám đôi mươi đã giả danh thuyền buôn, dùng mỹ nhân kế xuống thuyền chuốc rượu cho tướng giặc say sau đó sai người đục thuyền cho đắm rồi cùng chết với tướng giặc. Sáng hôm sau, ngày 10-2 năm Đinh Tỵ (1257), Vua quan nhà Trần đã tổ chức tấn công tiêu diệt toàn bộ quân giặc. Để ghi nhớ công lao của hai nàng, Vua Trần đã cho xây đền thờ Đa Mai tại bến Giang Tân. và ban danh "Chính Linh Từ". Màn biểu diễn trống hội đặc sắc trong lễ hội đình Đa Mai Hàng năm vào ngày giỗ của hai vị công chúa, chính quyền và nhân dân xã Đa Mai lại tổ chức lễ hội đền Đa Mai một cách trang trọng và thành kính với phần lễ rước và cúng tế theo đúng nghi lễ truyền thống. Theo thông lệ, hằng năm vào những năm chẵn, lễ hội được tổ chức cấp phường; các năm còn lại do các tổ dân phố lần lượt đăng cai tổ chức. Sau phần lễ, phần hội tiếp tục được diễn ra với nhiều trò chơi hấp dẫn như đua thuyền trên sông thương, vật cổ truyền, kéo co... thu hút nhiều du khách và nhân dân tham dự.

Đua thuyền trên sông Thương Theo truyền thuyết, vào năm Thiên Ứng đời nhà Trần, cả dân tộc chìm trong khói lửa binh đao bởi giặc Nguyên Mông hung tàn. Dưới sự lãnh đạo của vua tôi nhà Trần, nhân dân ta đã mưu trí, dũng cảm đánh tan quân thù. Góp vào chiến công ấy, có một trận thủy chiến quan trọng tiêu diệt một cánh quân quan trọng của quân địch do hai nàng công chúa của vua Trần Thái Tông là Bảo Nương và Ngọc Nương chiếm công lao hàng đầu. Nghi thức tế thánh tại đền Chính Linh Từ Tương truyền, đêm 9/2 hai nàng công chúa mới tuổi mười tám đôi mươi đã giả danh thuyền buôn, dùng mỹ nhân kế xuống thuyền chuốc rượu cho tướng giặc say sau đó sai người đục thuyền cho đắm rồi cùng chết với tướng giặc. Sáng hôm sau, ngày 10-2 năm Đinh Tỵ (1257), Vua quan nhà Trần đã tổ chức tấn công tiêu diệt toàn bộ quân giặc. Để ghi nhớ công lao của hai nàng, Vua Trần đã cho xây đền thờ Đa Mai tại bến Giang Tân. và ban danh "Chính Linh Từ". Màn biểu diễn trống hội đặc sắc trong lễ hội đình Đa Mai

Đua thuyền trên sông Thương

Theo truyền thuyết, vào năm Thiên Ứng đời nhà Trần, cả dân tộc chìm trong khói lửa binh đao bởi giặc Nguyên Mông hung tàn. Dưới sự lãnh đạo của vua tôi nhà Trần, nhân dân ta đã mưu trí, dũng cảm đánh tan quân thù. Góp vào chiến công ấy, có một trận thủy chiến quan trọng tiêu diệt một cánh quân quan trọng của quân địch do hai nàng công chúa của vua Trần Thái Tông là Bảo Nương và Ngọc Nương chiếm công lao hàng đầu.

Nghi thức tế thánh tại đền Chính Linh Từ

Tương truyền, đêm 9/2 hai nàng công chúa mới tuổi mười tám đôi mươi đã giả danh thuyền buôn, dùng mỹ nhân kế xuống thuyền chuốc rượu cho tướng giặc say sau đó sai người đục thuyền cho đắm rồi cùng chết với tướng giặc. Sáng hôm sau, ngày 10-2 năm Đinh Tỵ (1257), Vua quan nhà Trần đã tổ chức tấn công tiêu diệt toàn bộ quân giặc. Để ghi nhớ công lao của hai nàng, Vua Trần đã cho xây đền thờ Đa Mai tại bến Giang Tân. và ban danh "Chính Linh Từ".

Màn biểu diễn trống hội đặc sắc trong lễ hội đình Đa Mai

Hàng năm vào ngày giỗ của hai vị công chúa, chính quyền và nhân dân xã Đa Mai lại tổ chức lễ hội đền Đa Mai một cách trang trọng và thành kính với phần lễ rước và cúng tế theo đúng nghi lễ truyền thống. Theo thông lệ, hằng năm vào những năm chẵn, lễ hội được tổ chức cấp phường; các năm còn lại do các tổ dân phố lần lượt đăng cai tổ chức. Sau phần lễ, phần hội tiếp tục được diễn ra với nhiều trò chơi hấp dẫn như đua thuyền trên sông thương, vật cổ truyền, kéo co... thu hút nhiều du khách và nhân dân tham dự.

Hàng năm vào ngày giỗ của hai vị công chúa, chính quyền và nhân dân xã Đa Mai lại tổ chức lễ hội đền Đa Mai một cách trang trọng và thành kính với phần lễ rước và cúng tế theo đúng nghi lễ truyền thống. Theo thông lệ, hằng năm vào những năm chẵn, lễ hội được tổ chức cấp phường; các năm còn lại do các tổ dân phố lần lượt đăng cai tổ chức.

Sau phần lễ, phần hội tiếp tục được diễn ra với nhiều trò chơi hấp dẫn như đua thuyền trên sông thương, vật cổ truyền, kéo co... thu hút nhiều du khách và nhân dân tham dự.

Related Figures

Lễ hội Tây Thiên tại Vĩnh Phúc

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/2 Âm lịch Vĩnh Phúc có một địa danh nổi tiếng được nhiều người biết đến, đó là đền thờ Quốc mẫu Tây Thiên. Lễ hội Tây Thiên tại Vĩnh Phúc Lễ hội Tây Thiên được tổ chức hàng năm vào ngày rằm tháng 2 âm lịch. Ngày này, hàng vạn người dân trong vùng và du khách thập phương nô nức kéo về, trước là để thắp hương tưởng nhớ Quốc mẫu, sau là xem các hội diễn cổ, leo núi thưởng ngoạn danh thắng... Quốc mẫu tên thật là Lăng Thị Tiêu, người được Hùng Chiêu Vương thứ 7 lập làm Chính Vương Phi, có công giúp Vua dẹp giặc, phát triển nông nghiệp, mở mang bờ cõi. Xong công việc, Bà lại trở về quê hương tại thôn Đông Lộ - xã Đại Đình - huyện Tam Đảo ngày nay, rồi "hoá" tại đây. Do đó, Quốc Mẫu Tây Thiên vừa là con người của lịch sử, vừa là con người thật với lai lịch rõ ràng. Để tưởng nhớ công đức của Bà, nhân dân trong vùng đã lập đền thờ để hương khói hàng ngày.Từ bao đời nay, các triều đại phong kiến từ Đinh, Lý, Trần, Lê đều sắc phong Người là: Tam Đảo Sơn Trụ Quốc Mẫu Tối Linh Đại Vương, hàng năm đều cử các quan đại thần lên cúng tế. Lễ hội Tây Thiên tại Vĩnh Phúc Đền thờ Quốc Mẫu Tây Thiên nằm trên đỉnh núi Thạch Bàn, thuộc dãy Tam Đảo, cách khu nghỉ mát Tam Đảo 15km đường núi và cùng một độ cao. Nơi đây có cảnh quan thiên nhiên kỳ vĩ vẫn còn giữ nguyên vẻ nguyên sơ, quanh năm có mây mù, thông reo, chim hót... Tây Thiên - Tam Đảo là "Địa linh" lớn của cả nước. Nơi đây không chỉ có đền thờ Quốc mẫu mà còn có dấu tích Phật giáo từ rất sớm, có thể coi Tây Thiên là một trong những nơi có dấu tích Phật giáo cổ nhất Việt Nam. Tây Thiên - Tam Đảo hội tụ cả 3 yếu tố: Tâm linh - tín ngưỡng và cảnh quan thiên nhiên là quần thể danh thắng nổi tiếng một vùng. Chính vì vậy mà Tây Thiên thu hút du khách thập phương quanh năm, không chỉ riêng mùa lễ hội. Trong những ngày nghỉ hè nóng bức, hàng đoàn học sinh, sinh viên đến với Tây Thiên để được lội suối, leo núi và ngắm cảnh rừng nguyên sinh. Lễ hội Tây Thiên tại Vĩnh Phúc Tỉnh Vĩnh Phúc đã và đang có quyết tâm lớn trong việc đánh thức tiềm năng du lịch của vùng đất này từ việc thiết lập các tour du lịch, vui chơi, nghỉ dưỡng, tâm linh khép kín từ Tam Đảo, Đại Lải, đến Tây Thiên.

Related Figures

Lễ hội Đua Ghe Ngo tại Sóc Trăng

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 13/10- 15/10 Âm lịch Lễ hội đua ghe Ngo là lễ hội Ok-Om-Bok ( tên tiếng Việt là Lễ Cúng Trăng), một lễ hội truyền thống của người Khmer, diễn ra vào ngày 13,14,15 tháng 10 âm lịch hàng năm. Đây là lễ hội sôi nổi và náo nhiệt nhất, được nhiều người mong đợi nhất ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL). Từ năm 2013 hội đã trở thành “Festival Đua Ghe Ngo đồng bào Khmer ĐBSCL”. Hội đua ghe ngo thường diễn ra trên con sông lớn tại TP.Sóc Trăng. Các đội đua ghe Ngo chuẩn bị vào cuộc đua trên sông Maspero. Trước đây, đua ghe Ngo ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long được tập trung tổ chức tại tỉnh Sóc Trăng và đã trở thành ngày hội chung của cả vùng. Hàng năm, vào ngày rằm tháng 10 âm lịch, tại trung tâm Tp. Sóc Trăng lại rộn ràng thu hút rất đông người dân các tỉnh và du khách đến tham dự vớiLễ hội Oóc - om -boc - Đua ghe Ngo. Ðêm trước ngày tổ chức đua ghe dường như là một đêm khó ngủ với nhiều người dân tỉnh Sóc Trăng và khách tham quan lễ hội. Các đội đua ghe Ngo chuẩn bị vào cuộc đua trên sông Maspero Xưa kia, điểm đua ghe Ngo đầu tiên ở Sóc Trăng tổ chức tại Peam-kon-thô, tức Vàm Tho hay Dù Tho thuộc địa phận xã Tham Ðôn, huyện Mỹ Xuyên ngày nay. Điểm này ghe Ngo của các vùng Bạc Liêu, Kiên Giang tập trung về đều thuận lợi. Ở đây có một con sông lớn, thẳng dài, dòng nước chảy đều và cũng là nơi ngã ba sông tiếp giáp nhau thành nơi giao thương sầm uất lúc bấy giờ. Những chiếc ghe “Cà hâu” (tức ghe bầu) và ghe “Cà chai” (tức ghe tam bản) đậu dọc cả hai bên bờ sông vui như ngày hội đã thu hút người xem tập trung đông đúc. Các đội đua ghe Ngo chuẩn bị vào cuộc đua trên sông Maspero. Đến thời Pháp, để dễ bề kiểm soát an ninh, địa điểm đua được di dời về sông Ompuyea, tức là sông Nhu Gia, xã Thạnh Phú, huyện Mỹ Xuyên. Đến thời kỳ chống Mỹ, điểm đua ghe Ngo lại được dời từ Nhu Gia về đua ở Kinh Xáng – thị xã Sóc Trăng (nay là dòng sông Maspéro, Tp. Sóc Trăng). Sau ngày giải phóng, hội đua ghe Ngo được tổ chức trở lại ở sông Nhu Gia. Giải đua ghe Ngo của tỉnh Sóc Trăng từ cuối những năm 1990 đến nay lại được tổ chức trên dòng sông Maspéro, nhằm đáp ứng yêu cầu của du khách, tạo điều kiện giúp mọi người đến xem dễ dàng, có nơi ăn, ở thuận tiện và thoải mái hơn. Đặc biệt, nhằm thiết thực chào mừng sự kiện Festival Lúa gạo Việt Nam lần thứ II tổ chức tại Sóc Trăng năm 2011, tỉnh đã đầu tư hàng chục tỷ đồng để xây dựng bờ kè sông Maspéro với tổng chiều dài 2 bên trên 11km, bao gồm hệ thống bờ kè, thoát nước, cây xanh,…tạo điều kiện thuận lợi cho du khách đến xem hội đua ghe Ngo dọc 2 bên bờ kênh này. Lễ hội Oóc-om-boc - Đua ghe Ngo đã được tỉnh đề xuất trình Chính phủ cho phép lễ hội nâng lên thành Festival Oóc-Om-boc - Đua ghe Ngo. Ðây cũng là giải pháp để quảng bá nét văn hóa, thể thao truyền thống độc đáo của đồng bào Khmer Nam Bộ trở thành một sản phẩm du lịch vô cùng hấp dẫn tương xứng với những giá trị vốn có.

Các đội đua ghe Ngo chuẩn bị vào cuộc đua trên sông Maspero. Trước đây, đua ghe Ngo ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long được tập trung tổ chức tại tỉnh Sóc Trăng và đã trở thành ngày hội chung của cả vùng. Hàng năm, vào ngày rằm tháng 10 âm lịch, tại trung tâm Tp. Sóc Trăng lại rộn ràng thu hút rất đông người dân các tỉnh và du khách đến tham dự vớiLễ hội Oóc - om -boc - Đua ghe Ngo. Ðêm trước ngày tổ chức đua ghe dường như là một đêm khó ngủ với nhiều người dân tỉnh Sóc Trăng và khách tham quan lễ hội. Các đội đua ghe Ngo chuẩn bị vào cuộc đua trên sông Maspero Xưa kia, điểm đua ghe Ngo đầu tiên ở Sóc Trăng tổ chức tại Peam-kon-thô, tức Vàm Tho hay Dù Tho thuộc địa phận xã Tham Ðôn, huyện Mỹ Xuyên ngày nay. Điểm này ghe Ngo của các vùng Bạc Liêu, Kiên Giang tập trung về đều thuận lợi. Ở đây có một con sông lớn, thẳng dài, dòng nước chảy đều và cũng là nơi ngã ba sông tiếp giáp nhau thành nơi giao thương sầm uất lúc bấy giờ. Những chiếc ghe “Cà hâu” (tức ghe bầu) và ghe “Cà chai” (tức ghe tam bản) đậu dọc cả hai bên bờ sông vui như ngày hội đã thu hút người xem tập trung đông đúc. Các đội đua ghe Ngo chuẩn bị vào cuộc đua trên sông Maspero. Đến thời Pháp, để dễ bề kiểm soát an ninh, địa điểm đua được di dời về sông Ompuyea, tức là sông Nhu Gia, xã Thạnh Phú, huyện Mỹ Xuyên. Đến thời kỳ chống Mỹ, điểm đua ghe Ngo lại được dời từ Nhu Gia về đua ở Kinh Xáng – thị xã Sóc Trăng (nay là dòng sông Maspéro, Tp. Sóc Trăng). Sau ngày giải phóng, hội đua ghe Ngo được tổ chức trở lại ở sông Nhu Gia. Giải đua ghe Ngo của tỉnh Sóc Trăng từ cuối những năm 1990 đến nay lại được tổ chức trên dòng sông Maspéro, nhằm đáp ứng yêu cầu của du khách, tạo điều kiện giúp mọi người đến xem dễ dàng, có nơi ăn, ở thuận tiện và thoải mái hơn. Đặc biệt, nhằm thiết thực chào mừng sự kiện Festival Lúa gạo Việt Nam lần thứ II tổ chức tại Sóc Trăng năm 2011, tỉnh đã đầu tư hàng chục tỷ đồng để xây dựng bờ kè sông Maspéro với tổng chiều dài 2 bên trên 11km, bao gồm hệ thống bờ kè, thoát nước, cây xanh,…tạo điều kiện thuận lợi cho du khách đến xem hội đua ghe Ngo dọc 2 bên bờ kênh này. Lễ hội Oóc-om-boc - Đua ghe Ngo đã được tỉnh đề xuất trình Chính phủ cho phép lễ hội nâng lên thành Festival Oóc-Om-boc - Đua ghe Ngo. Ðây cũng là giải pháp để quảng bá nét văn hóa, thể thao truyền thống độc đáo của đồng bào Khmer Nam Bộ trở thành một sản phẩm du lịch vô cùng hấp dẫn tương xứng với những giá trị vốn có.

Các đội đua ghe Ngo chuẩn bị vào cuộc đua trên sông Maspero.

Trước đây, đua ghe Ngo ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long được tập trung tổ chức tại tỉnh Sóc Trăng và đã trở thành ngày hội chung của cả vùng. Hàng năm, vào ngày rằm tháng 10 âm lịch, tại trung tâm Tp. Sóc Trăng lại rộn ràng thu hút rất đông người dân các tỉnh và du khách đến tham dự vớiLễ hội Oóc - om -boc - Đua ghe Ngo. Ðêm trước ngày tổ chức đua ghe dường như là một đêm khó ngủ với nhiều người dân tỉnh Sóc Trăng và khách tham quan lễ hội.

Các đội đua ghe Ngo chuẩn bị vào cuộc đua trên sông Maspero

Xưa kia, điểm đua ghe Ngo đầu tiên ở Sóc Trăng tổ chức tại Peam-kon-thô, tức Vàm Tho hay Dù Tho thuộc địa phận xã Tham Ðôn, huyện Mỹ Xuyên ngày nay. Điểm này ghe Ngo của các vùng Bạc Liêu, Kiên Giang tập trung về đều thuận lợi. Ở đây có một con sông lớn, thẳng dài, dòng nước chảy đều và cũng là nơi ngã ba sông tiếp giáp nhau thành nơi giao thương sầm uất lúc bấy giờ. Những chiếc ghe “Cà hâu” (tức ghe bầu) và ghe “Cà chai” (tức ghe tam bản) đậu dọc cả hai bên bờ sông vui như ngày hội đã thu hút người xem tập trung đông đúc. Các đội đua ghe Ngo chuẩn bị vào cuộc đua trên sông Maspero. Đến thời Pháp, để dễ bề kiểm soát an ninh, địa điểm đua được di dời về sông Ompuyea, tức là sông Nhu Gia, xã Thạnh Phú, huyện Mỹ Xuyên. Đến thời kỳ chống Mỹ, điểm đua ghe Ngo lại được dời từ Nhu Gia về đua ở Kinh Xáng – thị xã Sóc Trăng (nay là dòng sông Maspéro, Tp. Sóc Trăng). Sau ngày giải phóng, hội đua ghe Ngo được tổ chức trở lại ở sông Nhu Gia. Giải đua ghe Ngo của tỉnh Sóc Trăng từ cuối những năm 1990 đến nay lại được tổ chức trên dòng sông Maspéro, nhằm đáp ứng yêu cầu của du khách, tạo điều kiện giúp mọi người đến xem dễ dàng, có nơi ăn, ở thuận tiện và thoải mái hơn. Đặc biệt, nhằm thiết thực chào mừng sự kiện Festival Lúa gạo Việt Nam lần thứ II tổ chức tại Sóc Trăng năm 2011, tỉnh đã đầu tư hàng chục tỷ đồng để xây dựng bờ kè sông Maspéro với tổng chiều dài 2 bên trên 11km, bao gồm hệ thống bờ kè, thoát nước, cây xanh,…tạo điều kiện thuận lợi cho du khách đến xem hội đua ghe Ngo dọc 2 bên bờ kênh này. Lễ hội Oóc-om-boc - Đua ghe Ngo đã được tỉnh đề xuất trình Chính phủ cho phép lễ hội nâng lên thành Festival Oóc-Om-boc - Đua ghe Ngo. Ðây cũng là giải pháp để quảng bá nét văn hóa, thể thao truyền thống độc đáo của đồng bào Khmer Nam Bộ trở thành một sản phẩm du lịch vô cùng hấp dẫn tương xứng với những giá trị vốn có.

Xưa kia, điểm đua ghe Ngo đầu tiên ở Sóc Trăng tổ chức tại Peam-kon-thô, tức Vàm Tho hay Dù Tho thuộc địa phận xã Tham Ðôn, huyện Mỹ Xuyên ngày nay. Điểm này ghe Ngo của các vùng Bạc Liêu, Kiên Giang tập trung về đều thuận lợi. Ở đây có một con sông lớn, thẳng dài, dòng nước chảy đều và cũng là nơi ngã ba sông tiếp giáp nhau thành nơi giao thương sầm uất lúc bấy giờ. Những chiếc ghe “Cà hâu” (tức ghe bầu) và ghe “Cà chai” (tức ghe tam bản) đậu dọc cả hai bên bờ sông vui như ngày hội đã thu hút người xem tập trung đông đúc.

Các đội đua ghe Ngo chuẩn bị vào cuộc đua trên sông Maspero.

Đến thời Pháp, để dễ bề kiểm soát an ninh, địa điểm đua được di dời về sông Ompuyea, tức là sông Nhu Gia, xã Thạnh Phú, huyện Mỹ Xuyên. Đến thời kỳ chống Mỹ, điểm đua ghe Ngo lại được dời từ Nhu Gia về đua ở Kinh Xáng – thị xã Sóc Trăng (nay là dòng sông Maspéro, Tp. Sóc Trăng). Sau ngày giải phóng, hội đua ghe Ngo được tổ chức trở lại ở sông Nhu Gia.

Giải đua ghe Ngo của tỉnh Sóc Trăng từ cuối những năm 1990 đến nay lại được tổ chức trên dòng sông Maspéro, nhằm đáp ứng yêu cầu của du khách, tạo điều kiện giúp mọi người đến xem dễ dàng, có nơi ăn, ở thuận tiện và thoải mái hơn. Đặc biệt, nhằm thiết thực chào mừng sự kiện Festival Lúa gạo Việt Nam lần thứ II tổ chức tại Sóc Trăng năm 2011, tỉnh đã đầu tư hàng chục tỷ đồng để xây dựng bờ kè sông Maspéro với tổng chiều dài 2 bên trên 11km, bao gồm hệ thống bờ kè, thoát nước, cây xanh,…tạo điều kiện thuận lợi cho du khách đến xem hội đua ghe Ngo dọc 2 bên bờ kênh này. Lễ hội Oóc-om-boc - Đua ghe Ngo đã được tỉnh đề xuất trình Chính phủ cho phép lễ hội nâng lên thành Festival Oóc-Om-boc - Đua ghe Ngo. Ðây cũng là giải pháp để quảng bá nét văn hóa, thể thao truyền thống độc đáo của đồng bào Khmer Nam Bộ trở thành một sản phẩm du lịch vô cùng hấp dẫn tương xứng với những giá trị vốn có.

Related Figures

Lễ hội đền Đô tại Bắc Ninh

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 14/3- 16/3 Âm lịch Đền Đô (hay còn gọi là Đền Lý Bát Đế) tọa lạc ở xóm Thượng, xã Đình Bảng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Cách Hà Nội khoảng 20km về phía Bắc, Đền Đô là một ngôi đền nổi tiếng gắn liền với lịch sử nhà Lý cùng nghệ thuật kiến trúc với nét đặc trưng riêng. Lễ hội Đền Đô mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc nhằm kỷ niệm ngày Thái tổ Lý Công Uẩn đăng quang, khai mở cho một vương triều hưng thịnh và nền văn hoá Đại Việt rực rỡ. Đền Đô - Bắc Ninh Lễ hội Đền Đô diễn ra trong 3 ngày từ 14 – 16 tháng 3 âm lịch hàng năm, nhưng chính hội là ngày 16/3 - ngày vua Lý Thái Tổ lên ngôi, có lễ trình thánh, lễ rước kiệu long trọng. Ðám rước với sự tham gia của hàng vạn người từ chùa Kim Ðài đến đền Ðô (khoảng 3 km). Ði đầu đám rước là một đoàn tướng võ, cởi trần, đóng khố, tay cầm truỳ đồng và hàng trăm quân sĩ đi theo. Tiếp đến là 100 người khiêng kiệu mặc áo đỏ, đầu đội mũ đen. Ði trước là kiệu của Thánh Mẫu có 18 nữ tướng theo sau rồi đến kiệu Bát Ðế, mỗi kiệu một con ngựa và có 16 nam tướng mặc áo đỏ. Đi sau cùng là các vị mặc sắc phục lễ hội, hương lão và dân làng dự hội, cờ lọng che rợp đồng nội, tiếng trống vang trời. Chiếu rời đô Người trẩy hội Đền Đô sẽ được giới thiệu về lịch sử triều Lý, lịch sử Đền Đô. Sau đó là tham gia các trò vui dân gian mang đậm bản sắc vùng quê Kinh Bắc và của làng Bảng xưa. Có thể kể đến như: hát quan họ, hát tuồng, hát chèo, đọc và bình thơ, đấu vật, đấu bóng chuyền, cầu lông, đấu cờ người, tổ tôm điếm, thi gói bánh phu thê. Không khí lễ hội đền Đô - Bắc Ninh Lễ hội Đền Đô - Bắc Ninh là lễ hội truyền thống đã có từ lâu đời và trở thành phong tục được nhân dân Đình Bảng tự nguyện lưu giữ, trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân. Lễ hội Đền Đô với những giá trị văn hoá lịch sử truyền thống như tiếng gọi cội nguồn nhắn nhủ các thế hệ mai sau hãy biết trân trọng và gìn giữ tinh hoa cha ông bao đời xây đắp.

Người trẩy hội Đền Đô sẽ được giới thiệu về lịch sử triều Lý, lịch sử Đền Đô. Sau đó là tham gia các trò vui dân gian mang đậm bản sắc vùng quê Kinh Bắc và của làng Bảng xưa. Có thể kể đến như: hát quan họ, hát tuồng, hát chèo, đọc và bình thơ, đấu vật, đấu bóng chuyền, cầu lông, đấu cờ người, tổ tôm điếm, thi gói bánh phu thê. Không khí lễ hội đền Đô - Bắc Ninh Lễ hội Đền Đô - Bắc Ninh là lễ hội truyền thống đã có từ lâu đời và trở thành phong tục được nhân dân Đình Bảng tự nguyện lưu giữ, trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân. Lễ hội Đền Đô với những giá trị văn hoá lịch sử truyền thống như tiếng gọi cội nguồn nhắn nhủ các thế hệ mai sau hãy biết trân trọng và gìn giữ tinh hoa cha ông bao đời xây đắp.

Related Figures

Lễ hội đền Hai Bà Trưng tại Hà Nội

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 6/1- 10/1 Âm lịch Đền thờ Hai Bà Trưng, còn gọi là Đền Đồng Nhân được xây dựng từ năm 1160 đời vua ở phường , tức là bãi Đồng Nhân, bên bờ . Năm 1819, do bãi bị lở, dân dời đền vào khu vực trường cũ của , thuộc đất thôn Hương Viên, tổng huyện Thọ Xương ngày nay. Tương truyền sau khi tử tiết ở đã hóa thành tượng đá, trôi đến thì rẽ nước nhô lên. Nhân dân xã Đồng Nhân đưa về lập đền thờ. Lễ rước kiệu đền Hai Bà Trưng Hàng năm, khu di tích đền Hai Bà Trưng Mê Linh mở hội từ ngày mồng 6 đến ngày mồng 10 tháng Giêng âm lịch (là ngày Hai Bà tế cờ khởi nghĩa). Chính hội là ngày mồng 6. Lễ hội được tổ chức theo nghi thức nhà nước và truyền thống địa phương gồm: Dâng hương, mít tinh kỷ niệm ngày Hai Bà Trưng tế cờ khởi nghĩa và tế lễ theo nghi thức truyền thống cổ truyền. Đặc biệt cứ 5 năm một lần, vào dịp lễ hội (với những năm có số cuối là 0 và 5), Mê Linh tổ chức rước kiệu Hai Bà Trưng, kiệu Thành hoàng làng Hạ Lôi và kiệu Thánh Cốt Tung, một danh tướng của Hùng Duệ Vương được thờ tại làng Hạ Lôi. Lễ rước kiệu ở lễ hội đền Hai Bà Trưng Mê Linh có nét đặc trưng riêng: Sáng mồng 4 tháng Giêng âm lịch, sau khi làm lễ “Tế trình”, đoàn rước hai cỗ kiệu của Hai Bà Trưng đi từ đền về đình làng (đình Hạ Lôi). Đi hộ giá Hai Bà có các đội nghi trương gồm: cờ lệnh, đội cờ ngũ hành, đội cờ tứ linh, đội cờ thần tàn lọng, đội gươm trường bát bửu, đội nữ binh hộ giá, hai voi trắng, ngựa hồng, ngựa bạch…cùng các đội múa xênh tiền, đội múa lân vừa đi vừa múa trong tiếng nhạc lễ cung đình của dàn nhạc bát âm, hòa quyện trong tiếng trống, tiếng chiêng, rộn rã, linh thiêng. Lễ tế cờ và lễ rước kiệu theo nghi thức truyền thống Từ trong sân đền, kiệu Bà Trưng Trắc đi trước, nhưng khi ra khỏi cổng đền, kiệu Bà Trưng Trắc dừng lại bên phải đường để kiệu bà Trưng Nhị đi trước (với ý nghĩa: Nội gia tỷ muội, ngoại quốc quân thần). Sau khi đoàn rước kiệu đã tề tựu theo thứ tự tại sân đình làng, ảnh Hai Bà Trưng, bài vị của bốn vị Thành hoàng làng và bài vị Thánh Cốt Tung được rước đặt trên nhang án trong đình làng. Sau đó, dân làng tổ chức tế lễ tại đình làng từ chiều ngày mồng 4 đến hết ngày mồng 5 tháng giêng với ý nghĩa là để chào đón Hai Bà Trưng về thăm quê hương. Sáng ngày mồng 6 tháng Giêng, đoàn rước kiệu lại rước bốn cỗ kiệu từ đình làng về đền Hai Bà Trưng. Trong quá trình rước kiệu, nhiều lần đội hình rước kiệu dừng lại, thực hiện động tác đổi vai nâng kiệu qua đầu cả bốn cỗ kiệu ba lần nối tiếp nối nhau, nên nhìn tổng thể sẽ thấy hình ảnh các cỗ kiệu nhấp nhô giữa đội hình cờ súy, tựa như thân hình một con rồng đang uốn lượn, hòa quyện trong tiếng trống tiếng chiêng của dàn nhạc bát âm cung đình rộn rã và uy linh. Việc “giao kiệu” trong lễ rước kiệu là một nghi thức độc đáo, đặc sắc chỉ có riêng tại lễ hội đền thờ Hai Bà Trưng ở làng Hạ Lôi, xã Mê Linh. Khi đội hình rước bốn cỗ kiệu về hội tụ tại sân nghi lễ của đền, Ban tổ chức lễ hội cử hành lễ mít tinh kỷ niệm Hai Bà tế cờ khởi nghĩa theo nghi thức Nhà nước. Sau đó, các vị Đại biểu cùng toàn thể nhân dân và khách thập phương vào dâng hương tưởng niệm Hai Bà Trưng. Sau lễ mít tinh và dâng hương tại sân thượng là lễ tế cộng đồng theo nghi lễ cổ truyền của nhân dân bốn địa phương có đền thờ Hai Bà Trưng là: xã Mê Linh, phường Đồng Nhân, xã Hát Môn (Hà Nội) và xã Phụng Công (Hưng Yên). Lễ rước voi tại đền Hai Bà Trưng Có 5 tuần tế, xen giữa các tuần tế là tấu nhạc ca của đội chúc hỗ gồm 12 thiếu nữ thanh tân và múa của đội múa sênh tiền gồm 18 thiếu nữ trong bộ áo trang phục cổ truyền. Điệu nhạc lễ cung đình của dàn nhạc bát âm, khiến cho không khí của buổi tế Vua Trưng Thánh Vương tăng phần hào khí, thành kính và trang nghiêm. Song hành với việc tế lễ dâng hương (phần lễ) ở trong đền, bên ngoài khu vui chơi (phần hội) cũng diễn ra nhiều trò chơi dân gian như: đấu vật, cờ tướng, đu tiên, bịt mắt bắt dê, chọi gà,.. Ngoài ra còn có cả những làn điệu quan họ của các liền anh liền chị của dân Mê Linh hát mời chào du khách. Để phục vụ du khách về dự lễ hội còn có hàng trăm gian hàng trưng bày và bán đồ lưu niệm, các mặt hàng ẩm thực và dịch vụ ăn uống. Lễ hội đền Hai Bà Trưng Mê Linh vốn có sức sống mãnh liệt, đã gợi lên âm hưởng của quá khứ, làm nên phong cách con người nơi đây, như một sự giáo dục truyền thống, biểu thị lòng sùng kính của quê hương đối với Hai Bà. Du khách về với Mê Linh là về với quê Hương Hai Bà Trưng – một vùng quê huyền thoại của kinh đô xưa, mang đậm nét truyền thống lịch sử văn hoá với những người dân cần cù sáng tạo hăng say trên những cánh đồng hoa khởi sắc, tạo nên một vùng hoa Mê Linh nổi tiếng cung cấp hoa tới các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chi Minh và các tỉnh, thành trong cả nước./.

Tương truyền sau khi tử tiết ở đã hóa thành tượng đá, trôi đến thì rẽ nước nhô lên. Nhân dân xã Đồng Nhân đưa về lập đền thờ. Lễ rước kiệu đền Hai Bà Trưng Hàng năm, khu di tích đền Hai Bà Trưng Mê Linh mở hội từ ngày mồng 6 đến ngày mồng 10 tháng Giêng âm lịch (là ngày Hai Bà tế cờ khởi nghĩa). Chính hội là ngày mồng 6. Lễ hội được tổ chức theo nghi thức nhà nước và truyền thống địa phương gồm: Dâng hương, mít tinh kỷ niệm ngày Hai Bà Trưng tế cờ khởi nghĩa và tế lễ theo nghi thức truyền thống cổ truyền. Đặc biệt cứ 5 năm một lần, vào dịp lễ hội (với những năm có số cuối là 0 và 5), Mê Linh tổ chức rước kiệu Hai Bà Trưng, kiệu Thành hoàng làng Hạ Lôi và kiệu Thánh Cốt Tung, một danh tướng của Hùng Duệ Vương được thờ tại làng Hạ Lôi. Lễ rước kiệu ở lễ hội đền Hai Bà Trưng Mê Linh có nét đặc trưng riêng: Sáng mồng 4 tháng Giêng âm lịch, sau khi làm lễ “Tế trình”, đoàn rước hai cỗ kiệu của Hai Bà Trưng đi từ đền về đình làng (đình Hạ Lôi). Đi hộ giá Hai Bà có các đội nghi trương gồm: cờ lệnh, đội cờ ngũ hành, đội cờ tứ linh, đội cờ thần tàn lọng, đội gươm trường bát bửu, đội nữ binh hộ giá, hai voi trắng, ngựa hồng, ngựa bạch…cùng các đội múa xênh tiền, đội múa lân vừa đi vừa múa trong tiếng nhạc lễ cung đình của dàn nhạc bát âm, hòa quyện trong tiếng trống, tiếng chiêng, rộn rã, linh thiêng. Lễ tế cờ và lễ rước kiệu theo nghi thức truyền thống Từ trong sân đền, kiệu Bà Trưng Trắc đi trước, nhưng khi ra khỏi cổng đền, kiệu Bà Trưng Trắc dừng lại bên phải đường để kiệu bà Trưng Nhị đi trước (với ý nghĩa: Nội gia tỷ muội, ngoại quốc quân thần). Sau khi đoàn rước kiệu đã tề tựu theo thứ tự tại sân đình làng, ảnh Hai Bà Trưng, bài vị của bốn vị Thành hoàng làng và bài vị Thánh Cốt Tung được rước đặt trên nhang án trong đình làng. Sau đó, dân làng tổ chức tế lễ tại đình làng từ chiều ngày mồng 4 đến hết ngày mồng 5 tháng giêng với ý nghĩa là để chào đón Hai Bà Trưng về thăm quê hương. Sáng ngày mồng 6 tháng Giêng, đoàn rước kiệu lại rước bốn cỗ kiệu từ đình làng về đền Hai Bà Trưng. Trong quá trình rước kiệu, nhiều lần đội hình rước kiệu dừng lại, thực hiện động tác đổi vai nâng kiệu qua đầu cả bốn cỗ kiệu ba lần nối tiếp nối nhau, nên nhìn tổng thể sẽ thấy hình ảnh các cỗ kiệu nhấp nhô giữa đội hình cờ súy, tựa như thân hình một con rồng đang uốn lượn, hòa quyện trong tiếng trống tiếng chiêng của dàn nhạc bát âm cung đình rộn rã và uy linh. Việc “giao kiệu” trong lễ rước kiệu là một nghi thức độc đáo, đặc sắc chỉ có riêng tại lễ hội đền thờ Hai Bà Trưng ở làng Hạ Lôi, xã Mê Linh. Khi đội hình rước bốn cỗ kiệu về hội tụ tại sân nghi lễ của đền, Ban tổ chức lễ hội cử hành lễ mít tinh kỷ niệm Hai Bà tế cờ khởi nghĩa theo nghi thức Nhà nước. Sau đó, các vị Đại biểu cùng toàn thể nhân dân và khách thập phương vào dâng hương tưởng niệm Hai Bà Trưng. Sau lễ mít tinh và dâng hương tại sân thượng là lễ tế cộng đồng theo nghi lễ cổ truyền của nhân dân bốn địa phương có đền thờ Hai Bà Trưng là: xã Mê Linh, phường Đồng Nhân, xã Hát Môn (Hà Nội) và xã Phụng Công (Hưng Yên). Lễ rước voi tại đền Hai Bà Trưng Có 5 tuần tế, xen giữa các tuần tế là tấu nhạc ca của đội chúc hỗ gồm 12 thiếu nữ thanh tân và múa của đội múa sênh tiền gồm 18 thiếu nữ trong bộ áo trang phục cổ truyền. Điệu nhạc lễ cung đình của dàn nhạc bát âm, khiến cho không khí của buổi tế Vua Trưng Thánh Vương tăng phần hào khí, thành kính và trang nghiêm. Song hành với việc tế lễ dâng hương (phần lễ) ở trong đền, bên ngoài khu vui chơi (phần hội) cũng diễn ra nhiều trò chơi dân gian như: đấu vật, cờ tướng, đu tiên, bịt mắt bắt dê, chọi gà,.. Ngoài ra còn có cả những làn điệu quan họ của các liền anh liền chị của dân Mê Linh hát mời chào du khách. Để phục vụ du khách về dự lễ hội còn có hàng trăm gian hàng trưng bày và bán đồ lưu niệm, các mặt hàng ẩm thực và dịch vụ ăn uống. Lễ hội đền Hai Bà Trưng Mê Linh vốn có sức sống mãnh liệt, đã gợi lên âm hưởng của quá khứ, làm nên phong cách con người nơi đây, như một sự giáo dục truyền thống, biểu thị lòng sùng kính của quê hương đối với Hai Bà. Du khách về với Mê Linh là về với quê Hương Hai Bà Trưng – một vùng quê huyền thoại của kinh đô xưa, mang đậm nét truyền thống lịch sử văn hoá với những người dân cần cù sáng tạo hăng say trên những cánh đồng hoa khởi sắc, tạo nên một vùng hoa Mê Linh nổi tiếng cung cấp hoa tới các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chi Minh và các tỉnh, thành trong cả nước./.

Related Figures

Lễ hội Khai hạ Mường Bi (lễ xuống đồng) tại Hòa Bình

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 8/1 Âm lịch Lễ hội Khai hạ Mường Bi (Lễ hội xuống đồng) là lễ mở cửa rừng của người Mường ở Hòa Bình được tổ chức hàng năm vào ngày mồng 8 tháng 1 Âm lịch với ý nghĩa năm mới cầu mong mùa màng thịnh vượng, may mắn. Đây là dịp để người dân bản Mường nghỉ ngơi, vui chơi và bày tỏ những ước vọng của mình về một cuộc sống tốt đẹp, bình yên. Ngay từ sáng sớm, dân bản đã chuẩn bị 3 mâm lễ cúng đưa từ nhà trưởng bản ra miếu nơi thờ đức mẹ Hoàng Bà - người có công truyền dạy cho dân Mường biết chăn nuôi gia súc gia cầm, khai mương mở nước, dẫn thủy nhập điền, cày bừa, cấy hái lúa, trồng dâu, chăn tằm, dệt vải, ... Miếu còn là nơi cúng cộng đồng gồm: Đức vị vua Cả, vua Quân Thái Hậu, vua 2 thành hoàng Quan Lang bản thổ, 3 vị vua Non. Thầy cúng thỉnh chiêng khai hội Mường Bi Sau khi mâm lễ được bày biện xong, chức sắc già làng, trưởng bản, dân làng tề tựu đông đủ, thầy cúng bắt đầu hành lễ. Khi thầy cúng gieo quẻ âm dương, các vị thần linh đồng ý sẽ thực hiện nghi lễ rước Thánh ra sân hội. Trên sân hội diễn ra các hoạt động văn nghệ và trò chơi dân gian như: hát ví đối, đâm đuống, ném còn, thi đánh chiêng, đẩy gậy, bắt cá trong chum, bắn nỏ, chọi gà... Dân Mường thỏa thích vui chơi. Xung quanh sân hội có dựng các lán bày sẵn rượu và đồ ăn, ai đói vào ăn rồi lại ra tiếp tục vui chơi. Dân làng rước Thánh ra sân hội Trong các hoạt động của hội, nội dung chính của Khai hạ Mường Bi là phần thi Chiêng Sắc Bùa, để cầu phúc và cầu đức cho người yên, vật thịnh, tiễn đưa cái cũ, chào đón cái mới. Sắc Bùa là lối trình tấu những bài chiêng kết hợp với hát dân ca. Đội nào đánh hay được tán thưởng thì năm đó sẽ gặp nhiều may mắn. Hội Khai hạ là dịp trai tài gái sắc gặp nhau để tìm hiểu và bày tỏ tình yêu đôi lứa. Trong phần thi hát đối, các chàng trai, cô gái gửi tới nhau những lời nhắn nhủ thầm kín trong lòng: “Hội xuân Khai hạ Mường Bi/Gặp em chưa uống rượu gì đã say/Anh như bông gạo trên cây/Em như lá cỏ may bay giữ đường/Ước gì gió lớn nặng sương/Bông gạo rụng xuống chung đường cỏ may/Gửi nhau câu ví hôm nay/Ước gì mai sẽ thành đôi vợ chồng”. Tái hiện nghi lễ xuống đồng, cầu năm mới mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu Trong khi phần hội diễn ra các hoạt động văn hóa văn nghệ, Lễ thức xuống đồng được tiến hành. Lễ thức xuống đồng cày mở đầu cho một năm mới làm ăn thịnh vượng. Khi lễ thức xuống đồng xong, dân làng rước Thánh về miếu thờ. Thầy cúng thực hiện nghi lễ: “Con xin tấu lạy Đức mẹ Hoàng Bà, vua quân Thái Hậu, Vua Cun vua Hai. Xin phù hộ độ trì cho khắp bản khắp mường cuộc sống mạnh khỏe ấm no, đất trời mưa thuận gió hòa, dân làng yên ấm”. Sau khi thực hiện nghi lễ 7 tuần dâng cơm và 4 tuần tế lễ, thầy cúng tiễn đưa đức mẹ Hoàng Bà và các vị thần linh về đất thánh. Dân làng lại tiếp tục tưng bừng các hoạt động vui chơi đến khi tan hội./.

Ngay từ sáng sớm, dân bản đã chuẩn bị 3 mâm lễ cúng đưa từ nhà trưởng bản ra miếu nơi thờ đức mẹ Hoàng Bà - người có công truyền dạy cho dân Mường biết chăn nuôi gia súc gia cầm, khai mương mở nước, dẫn thủy nhập điền, cày bừa, cấy hái lúa, trồng dâu, chăn tằm, dệt vải, ... Miếu còn là nơi cúng cộng đồng gồm: Đức vị vua Cả, vua Quân Thái Hậu, vua 2 thành hoàng Quan Lang bản thổ, 3 vị vua Non. Thầy cúng thỉnh chiêng khai hội Mường Bi Sau khi mâm lễ được bày biện xong, chức sắc già làng, trưởng bản, dân làng tề tựu đông đủ, thầy cúng bắt đầu hành lễ. Khi thầy cúng gieo quẻ âm dương, các vị thần linh đồng ý sẽ thực hiện nghi lễ rước Thánh ra sân hội. Trên sân hội diễn ra các hoạt động văn nghệ và trò chơi dân gian như: hát ví đối, đâm đuống, ném còn, thi đánh chiêng, đẩy gậy, bắt cá trong chum, bắn nỏ, chọi gà... Dân Mường thỏa thích vui chơi. Xung quanh sân hội có dựng các lán bày sẵn rượu và đồ ăn, ai đói vào ăn rồi lại ra tiếp tục vui chơi. Dân làng rước Thánh ra sân hội Trong các hoạt động của hội, nội dung chính của Khai hạ Mường Bi là phần thi Chiêng Sắc Bùa, để cầu phúc và cầu đức cho người yên, vật thịnh, tiễn đưa cái cũ, chào đón cái mới. Sắc Bùa là lối trình tấu những bài chiêng kết hợp với hát dân ca. Đội nào đánh hay được tán thưởng thì năm đó sẽ gặp nhiều may mắn.

Ngay từ sáng sớm, dân bản đã chuẩn bị 3 mâm lễ cúng đưa từ nhà trưởng bản ra miếu nơi thờ đức mẹ Hoàng Bà - người có công truyền dạy cho dân Mường biết chăn nuôi gia súc gia cầm, khai mương mở nước, dẫn thủy nhập điền, cày bừa, cấy hái lúa, trồng dâu, chăn tằm, dệt vải, ... Miếu còn là nơi cúng cộng đồng gồm: Đức vị vua Cả, vua Quân Thái Hậu, vua 2 thành hoàng Quan Lang bản thổ, 3 vị vua Non.

Thầy cúng thỉnh chiêng khai hội Mường Bi

Dân làng rước Thánh ra sân hội

Hội Khai hạ là dịp trai tài gái sắc gặp nhau để tìm hiểu và bày tỏ tình yêu đôi lứa. Trong phần thi hát đối, các chàng trai, cô gái gửi tới nhau những lời nhắn nhủ thầm kín trong lòng: “Hội xuân Khai hạ Mường Bi/Gặp em chưa uống rượu gì đã say/Anh như bông gạo trên cây/Em như lá cỏ may bay giữ đường/Ước gì gió lớn nặng sương/Bông gạo rụng xuống chung đường cỏ may/Gửi nhau câu ví hôm nay/Ước gì mai sẽ thành đôi vợ chồng”. Tái hiện nghi lễ xuống đồng, cầu năm mới mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu Trong khi phần hội diễn ra các hoạt động văn hóa văn nghệ, Lễ thức xuống đồng được tiến hành. Lễ thức xuống đồng cày mở đầu cho một năm mới làm ăn thịnh vượng. Khi lễ thức xuống đồng xong, dân làng rước Thánh về miếu thờ. Thầy cúng thực hiện nghi lễ: “Con xin tấu lạy Đức mẹ Hoàng Bà, vua quân Thái Hậu, Vua Cun vua Hai. Xin phù hộ độ trì cho khắp bản khắp mường cuộc sống mạnh khỏe ấm no, đất trời mưa thuận gió hòa, dân làng yên ấm”. Sau khi thực hiện nghi lễ 7 tuần dâng cơm và 4 tuần tế lễ, thầy cúng tiễn đưa đức mẹ Hoàng Bà và các vị thần linh về đất thánh. Dân làng lại tiếp tục tưng bừng các hoạt động vui chơi đến khi tan hội./.

Tái hiện nghi lễ xuống đồng, cầu năm mới mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu

Related Figures

Lễ hội văn hóa dân gian phố Hiến tại Hưng Yên

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 6/3- 8/3 Âm lịch "Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến", Phố Hiến xưa từng được sánh ngang với kinh thành Thăng Long là nơi giao thương của hơn 10 nước trên thế giới: Nhật Bản, Bồ Đào Nha, Anh, Pháp, Hà Lan, Trung Hoa... với cảnh buôn bán nhộn nhịp trên bến dưới thuyền. Cùng với những hoạt động thương mại, người nước ngoài đã mang đến cho Phố Hiến những phong tục tập quán và kiến trúc mang bản sắc văn hóa riêng của từng quốc gia, từng dân tộc. Điều này khiến Phố Hiến vừa là điểm hội tụ vừa là điểm giao thoa giữa các nền văn hóa, hình thành nên nét văn hóa đặc sắc riêng của đất và người dân Phố Hiến. Phố Hiến ngày nay là nơi bảo tồn gần như nguyên vẹn những di tích lịch sử có kiến trúc độc đáo, những tín ngưỡng, phong tục và tập tục của thương cảng sầm uất một thời. Đền Trần - Tp Hưng Yên Lễ hội văn hóa vùng Phố Hiến diễn ra từ mùng 6 đến mùng 8 tháng 3 Âm lịch hàng năm là một lễ hội lớn của tỉnh Hưng Yên. Được tổ chức trong không gian văn hóa cổ xưa tại các di tích lịch sử đền Mẫu, đền Trần, đền Thiên Hậu, đình - chùa Hiến, chùa Chuông, Văn Miếu..., với sự tham gia của 12 xã, phường trong thành phố Hưng Yên. Các nghi lễ được tổ chức long trọng trong lễ hội như lễ rước kiệu, lễ dâng hương, lễ cầu an, ... nhằm khôi phục, phát huy các giá trị lịch sử, văn hóa truyền thống và các hoạt động văn hóa tín ngưỡng ở các đình, đền, chùa... Đặc sắc nhất phải kể đến phần rước kiệu, đoàn rước với sự tham gia của hàng nghìn người, kéo dài 2km, rước qua các tuyến phố chính và các đình, đền, chùa trong thành phố. Các nghi lễ thể hiện lòng kính trọng, tôn thờ tới những vị tiên, Phật, những vị thánh, những anh hùng dân tộc đã có công khai phá tạo nên cuộc sống yên vui cho thế hệ hôm nay và mai sau. Lễ rước kiệu với sự tham gia của hàng nghìn người kéo dài 2km đi qua các đình, đền, chùa trong thành phố Các trò chơi dân gian náo nhiệt và sôi động cũng thu hút đông đảo người dân và du khách thập phương tham gia như: đi cầu kiều, đua thuyền trên hồ Bán Nguyệt, kéo co, chọi gà... Những trò chơi này đều được người dân Phố Hiến bảo tồn gìn giữ truyền qua các thế hệ, đã phần nào khắc họa sinh động cảnh Phố Hiến tấp nập, hưng thịnh một thời. Ngoài ra trong lễ hội còn tổ chức các hoạt động:hội thi thả diều sáo, trưng bày, hát ca trù, trống quân; giới thiệu đặc sản vùng Phố Hiến; trưng bày, giới thiệu cổ vật… Đắm mình trong không khí lễ hội, du khách còn được tìm hiểu sâu thêm về truyền thống dân tộc, khơi dậy lòng tự hào tự tôn dân tộc; được khám phá những nét độc đáo riêng về ẩm thực, nghệ thuật truyền thống và các trò chơi dân gian độc đáo của vùng đất “Tiểu Tràng An” xưa. Đây cũng là dịp để Hưng Yên quảng bá, đẩy mạnh phát triển du lịch, dịch vụ gắn với các di tích lịch sử, lễ hội… nhằm góp phần bảo tồn và phát huy một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Hội thi đi Cầu Kiều trên hồ Bán Nguyệt Du khách đến với lễ hội văn hóa Phố Hiến để được hướng lòng mình đến những điều cao cả nhất, những giá trị cốt lõi nhất của cuộc sống, để tưởng nhớ tới công lao của những bậc tiền nhân; để truyền cho con cháu chúng ta những đạo lý, những khát vọng cao đẹp của cuộc sống. Bên cạnh đó, du khách còn được thưởng ngoạn và tìm hiểu về những di tích lịch sử có giá trị, đó là Văn Miếu Xích Đằng - nơi tôn vinh truyền thống hiếu học của người Hưng Yên xưa và nay;là đền Mẫu - ngôi đền linh thiêng, nằm ven Hồ bán Nguyệt, nơi có cây cổ thụ Đa - Sanh - Si đã hơn 700 năm tuổi quất quýt nhau tạo thành thế kiềng ba chân vững chắc; là Chùa Chuông - được mệnh danh là "Phố Hiến đệ nhất danh thắng", ngôi chùa cổ kính với những nét kiến trúc đặc sắc, những pho tượng cổ giá trị; là đền Thiên Hậu, Đông Đô Quảng Hội, Võ Miếu mang đậm màu sắc kiến trúc và điêu khắc Trung Hoa... Phố Hiến mùa lễ hội cũng là mùa hoa nhãn, du khách đến đây sẽ được tận hưởng hương thơm tinh khiết mà quyến rũ của hoa nhãn, thưởng thức ly trà mật ong mát bổ và những món quà quê hấp dẫn không thể bỏ qua: Bún thang, chè sen long nhãn, bánh răng bừa...

Related Figures

Lễ tế đàn Xã Tắc tại Thừa Thiên Huế tổ chức 2 lần trong năm

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 19/2- 20/2 Âm lịch Đàn Xã Tắc là một công trình thuộc . Đây là nơi tế thần đất và thần lúa của ở kinh thành . Tái hiện "Quốc lễ" đàn Xã Tắc trong triều đình ngày xưa Đàn Xã Tắc nằm tại phường Thuận Hòa, thành nội Huế, trong ô phố giới hạn bởi 4 mặt: mặt Đông - đường , mặt Tây - đường , mặt Nam - đường , mặt Bắc - đường . Đàn Xã Tắc được xây dựng dưới thời vua Gia Long vào tháng 4 năm 1806 để tế cúng thần đất và thần ngũ cốc. Triều đình đã huy động tất cả dinh trấn trong cả nước đều phải cống đất sạch để đắp đàn. Trước đây, đàn được tổ chức tế lễ mỗi năm hai lần, vào mùa xuân và mùa thu. Lễ tế đàn Xã tắc được xếp vào hàng "đại tự", cứ cách ba năm (vào các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu) thì đích thân nhà vua sẽ đến làm lễ. Lễ tế Xã Tắc là một nghi lễ truyền thống quan trọng nhằm cầu mong cho thiên hạ thái bình, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, nhân dân no ấm Sau khi đàn Xã Tắc được xây dựng xong, triều đình nhà Nguyễn rất chú trọng việc cúng tế ở đàn này. Ý nghĩa của việc tế lễ đàn Xã Tắc cũng quan trọng không kém việc tế ở đàn Nam Giao và cùng được xếp ở bậc đại tự (trong ba bậc đại tự, trung tự và quần tự). Vào các năm , , , , theo quy định của triều Nguyễn, vua "ngự giá" làm lễ tế đàn Xã Tắc. Những năm còn lại các ban đại thần sẽ thay nhau thực hiện công việc này. Từ thời vua Minh Mạng trở đi, triều đình tổ chức cúng tế đàn Xã Tắc mỗi năm hai lần vào tháng 2 và tháng 8 âm lịch. Cả 13 đời vua Nguyễn nói chung đều thân hành đến làm chủ lễ ở đàn Xã Tắc. Lễ tế Xã Tắc là một nghi lễ truyền thống rất quan trọng ở nước ta nhằm cầu mong cho thiên hạ thái bình, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, nhân dân no ấm. Các triều đại độc lập ở Việt Nam, từ Đinh, Lý, Trần, Lê đến Nguyễn đều cử hành Lễ tế Xã Tắc vào mùa xuân hàng năm và luôn xem đây là quốc lễ. Trải qua thời gian cùng các biến động lịch sử, đàn tế Xã Tắc hiện nay chỉ còn được bảo tồn duy nhất tại Cố đô Huế bên trong Kinh thành Huế. Tái hiện "Quốc lễ" đàn Xã Tắc trong triều đình ngày xưa Lễ tế Xã Tắc mang tính chất là một nghi lễ cung đình, đã được nghiên cứu và phục hồi thành công và trở thành một nét văn hóa truyền thống độc đáo của tỉnh Thừa Thiên Huế. Lễ tế đàn Xã tắc đã được tổ chức tái hiện lần đầu tiên vào năm 2008 với mục đích đáp ứng nguyện vọng của người dân luôn mong mỏi được dâng hương cầu nguyện, cùng đồng cảm trong hoài vọng quốc thái dân an, đem lại hạnh phúc cơm no áo ấm cho nhân dân. Từ đó đến nay, Lễ tế đàn Xã Tắc được tổ chức định kỳ hàng năm vào dịp xuân, và đã nhận được sự đánh giá cao của dư luận và giới chuyên môn./.

Tái hiện "Quốc lễ" đàn Xã Tắc trong triều đình ngày xưa

Đàn Xã Tắc nằm tại phường Thuận Hòa, thành nội Huế, trong ô phố giới hạn bởi 4 mặt: mặt Đông - đường , mặt Tây - đường , mặt Nam - đường , mặt Bắc - đường . Đàn Xã Tắc được xây dựng dưới thời vua Gia Long vào tháng 4 năm 1806 để tế cúng thần đất và thần ngũ cốc. Triều đình đã huy động tất cả dinh trấn trong cả nước đều phải cống đất sạch để đắp đàn. Trước đây, đàn được tổ chức tế lễ mỗi năm hai lần, vào mùa xuân và mùa thu. Lễ tế đàn Xã tắc được xếp vào hàng "đại tự", cứ cách ba năm (vào các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu) thì đích thân nhà vua sẽ đến làm lễ. Lễ tế Xã Tắc là một nghi lễ truyền thống quan trọng nhằm cầu mong cho thiên hạ thái bình, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, nhân dân no ấm Sau khi đàn Xã Tắc được xây dựng xong, triều đình nhà Nguyễn rất chú trọng việc cúng tế ở đàn này. Ý nghĩa của việc tế lễ đàn Xã Tắc cũng quan trọng không kém việc tế ở đàn Nam Giao và cùng được xếp ở bậc đại tự (trong ba bậc đại tự, trung tự và quần tự). Vào các năm , , , , theo quy định của triều Nguyễn, vua "ngự giá" làm lễ tế đàn Xã Tắc. Những năm còn lại các ban đại thần sẽ thay nhau thực hiện công việc này. Từ thời vua Minh Mạng trở đi, triều đình tổ chức cúng tế đàn Xã Tắc mỗi năm hai lần vào tháng 2 và tháng 8 âm lịch. Cả 13 đời vua Nguyễn nói chung đều thân hành đến làm chủ lễ ở đàn Xã Tắc. Lễ tế Xã Tắc là một nghi lễ truyền thống rất quan trọng ở nước ta nhằm cầu mong cho thiên hạ thái bình, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, nhân dân no ấm. Các triều đại độc lập ở Việt Nam, từ Đinh, Lý, Trần, Lê đến Nguyễn đều cử hành Lễ tế Xã Tắc vào mùa xuân hàng năm và luôn xem đây là quốc lễ. Trải qua thời gian cùng các biến động lịch sử, đàn tế Xã Tắc hiện nay chỉ còn được bảo tồn duy nhất tại Cố đô Huế bên trong Kinh thành Huế. Tái hiện "Quốc lễ" đàn Xã Tắc trong triều đình ngày xưa Lễ tế Xã Tắc mang tính chất là một nghi lễ cung đình, đã được nghiên cứu và phục hồi thành công và trở thành một nét văn hóa truyền thống độc đáo của tỉnh Thừa Thiên Huế. Lễ tế đàn Xã tắc đã được tổ chức tái hiện lần đầu tiên vào năm 2008 với mục đích đáp ứng nguyện vọng của người dân luôn mong mỏi được dâng hương cầu nguyện, cùng đồng cảm trong hoài vọng quốc thái dân an, đem lại hạnh phúc cơm no áo ấm cho nhân dân. Từ đó đến nay, Lễ tế đàn Xã Tắc được tổ chức định kỳ hàng năm vào dịp xuân, và đã nhận được sự đánh giá cao của dư luận và giới chuyên môn./.

Đàn Xã Tắc nằm tại phường Thuận Hòa, thành nội Huế, trong ô phố giới hạn bởi 4 mặt: mặt Đông - đường , mặt Tây - đường , mặt Nam - đường , mặt Bắc - đường . Đàn Xã Tắc được xây dựng dưới thời vua Gia Long vào tháng 4 năm 1806 để tế cúng thần đất và thần ngũ cốc. Triều đình đã huy động tất cả dinh trấn trong cả nước đều phải cống đất sạch để đắp đàn. Trước đây, đàn được tổ chức tế lễ mỗi năm hai lần, vào mùa xuân và mùa thu. Lễ tế đàn Xã tắc được xếp vào hàng "đại tự", cứ cách ba năm (vào các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu) thì đích thân nhà vua sẽ đến làm lễ. Lễ tế Xã Tắc là một nghi lễ truyền thống quan trọng nhằm cầu mong cho thiên hạ thái bình, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, nhân dân no ấm Sau khi đàn Xã Tắc được xây dựng xong, triều đình nhà Nguyễn rất chú trọng việc cúng tế ở đàn này. Ý nghĩa của việc tế lễ đàn Xã Tắc cũng quan trọng không kém việc tế ở đàn Nam Giao và cùng được xếp ở bậc đại tự (trong ba bậc đại tự, trung tự và quần tự). Vào các năm , , , , theo quy định của triều Nguyễn, vua "ngự giá" làm lễ tế đàn Xã Tắc. Những năm còn lại các ban đại thần sẽ thay nhau thực hiện công việc này. Từ thời vua Minh Mạng trở đi, triều đình tổ chức cúng tế đàn Xã Tắc mỗi năm hai lần vào tháng 2 và tháng 8 âm lịch. Cả 13 đời vua Nguyễn nói chung đều thân hành đến làm chủ lễ ở đàn Xã Tắc. Lễ tế Xã Tắc là một nghi lễ truyền thống rất quan trọng ở nước ta nhằm cầu mong cho thiên hạ thái bình, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, nhân dân no ấm. Các triều đại độc lập ở Việt Nam, từ Đinh, Lý, Trần, Lê đến Nguyễn đều cử hành Lễ tế Xã Tắc vào mùa xuân hàng năm và luôn xem đây là quốc lễ. Trải qua thời gian cùng các biến động lịch sử, đàn tế Xã Tắc hiện nay chỉ còn được bảo tồn duy nhất tại Cố đô Huế bên trong Kinh thành Huế. Tái hiện "Quốc lễ" đàn Xã Tắc trong triều đình ngày xưa Lễ tế Xã Tắc mang tính chất là một nghi lễ cung đình, đã được nghiên cứu và phục hồi thành công và trở thành một nét văn hóa truyền thống độc đáo của tỉnh Thừa Thiên Huế. Lễ tế đàn Xã tắc đã được tổ chức tái hiện lần đầu tiên vào năm 2008 với mục đích đáp ứng nguyện vọng của người dân luôn mong mỏi được dâng hương cầu nguyện, cùng đồng cảm trong hoài vọng quốc thái dân an, đem lại hạnh phúc cơm no áo ấm cho nhân dân. Từ đó đến nay, Lễ tế đàn Xã Tắc được tổ chức định kỳ hàng năm vào dịp xuân, và đã nhận được sự đánh giá cao của dư luận và giới chuyên môn./.

Related Figures

Festival hoa Đà Lạt tổ chức 2 năm 1 lần

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 28/12- 3/1 Dương lịch Festival Hoa Đà Lạt là một sự kiện lễ hội được tổ chức định kỳ hai năm một lần vào cuối tháng 12 dương lịch. Đây là khoảng thời gian mà Đà Lạt có thời tiết đẹp nhất trong năm tại thành phố và một số địa phương khác trong tỉnh Lâm Đồng. Một góc không gian trang trí tại Festival hoa Đà Lạt Festival Hoa là dịp để thành phố Đà Lạt xinh đẹp trưng bày, triển lãm các loại rau, hoa, cây cảnh của địa phương cũng như từ nhiều vùng miền trong cả nước và một số quốc gia khác. Lễ hội tổ chức nhằm mục đích thu hút khách du lịch đến tham quan, nghỉ dưỡng tại Đà Lạt, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cho thành phố. Festival Hoa còn là một hoạt động tôn vinh giá trị của hoa và nghề trồng hoa, nhằm kêu gọi đầu tư vào ngành trồng hoa Đà Lạt, cũng như quảng bá hình ảnh, vẻ đẹp của thành phố, văn hóa và con người Đà Lạt. Đây là một sự kiện mang tầm quốc gia được người dân và du khách đón chào bởi tính sôi động và hấp dẫn của hoa Đà Lạt. Du khách yêu thiên nhiên, thích các loài hoa đẹp như hoa ly, hồng, lan, huệ, cúc, atiso, hướng dương… thì đây là thời gian lí tưởng để thưởng ngoạn, say sưa với niềm vui và sở thích. Đồng thời, Festival hoa Đà Lạt luôn mở ra cho khách tham quan những chuyện tình ấn tượng khi hòa mình vào không khí lễ hội với các hoạt động diễn ra sôi động. Một góc không gian trang trí tại Festival hoa Đà Lạt NỘI DUNG CHỦ YẾU TRONG CHƯƠNG TRÌNH FESTIVAL HOA ĐÀ LẠT 1. Không gian hoa - Không gian hoa xung quanh hồ Xuân Hương, Đường hoa Lê Đại Hành, cầu Ông Đạo, điểm đến tham quan hoa tại các Làng hoa, điểm đến tham quan hoa tại các công ty và cơ sở sản xuất hoa. -Trưng bày, triển lãm hoa, cây cảnh tại Vườn hoa thành phố Đà Lạt với sự tham gia của các Hiệp hội hoa, Hội sinh vật cảnh, doanh nghiệp, nghệ nhân, cá nhân trong và ngoài tỉnh; một số đơn vị sản xuất hoa nước ngoài như: Hà Lan, Nhật Bản… có thế mạnh về sản xuất, kinh doanh hoa trong và ngoài tỉnh. - Carnaval Hoa Đà Lạt là diễu hành xe hoa; các đội nhóm biểu diễn nghệ thuật trên đường phố; các đội nhóm biểu diễn thời trang rau, hoa; hoá trang ấn tượng hoặc mang sắc thái cổ tích… có sự tham gia của các em học sinh, sinh viên các trường cao đẳng và đại học (phần cuối Lễ Khai mạc). - Lễ khai mạc Festival Hoa Đà Lạt điễn ra tại Quảng trường Lâm Viên – Đà Lạt. - Đêm Tôn vinh người trồng hoa Đà Lạt: Tôn vinh, tuyên dương các tổ chức, cá nhân điển hình, tiêu biểu trong sản xuất và phát triển nghề trồng hoa tại thành phố Đà Lạt. - Đêm hội thời trang Hoa. - Phiên chợ hoa Đà Lạt tại đường Nguyễn Văn Cừ (nối dài). - Hội thảo khoa học về Hoa sẽ giới thiệu công nghệ mới, giống mới phục vụ ngành hoa Đà Lạt. Ngành hoa Đà Lạt, thương hiệu hoa Đà Lạt với thị trường trong nước, quốc tế gắn với trao đổi kinh nghiệm và sản xuất, kinh doanh hoa, xúc tiến thương mại, đầu tư về hoa; triển lãm hoa của các đơn vị tham gia, có phần giới thiệu, bình luận. - Phố Trà – Cà phê – Rượu vang và đặc sản Đà Lạt giới thiệu, quảng bá thương hiệu, trao đổi, mua bán rượu vang, trà, cà phê và đặc sản Đà Lạt – Lâm Đồng và các tỉnh, thành trong cả nước. - Không gian Thư pháp, Hội hoạ và Nhiếp ảnh về hoa, Tranh bút lửa. Festival hoa Đà Lạt năm 2015-2016 2. Các chương trình hưởng ứng Vận động các tổ chức, doanh nghiệp, nhân dân trên địa bàn thành phố Đà Lạt thực hiện trồng hoa, cây cảnh, dây leo… trong và ngoài khuôn viên cơ sở, nhà ở; hình thành không gian hoa đường phố theo hiện trạng dãy phố, tạo ấn tượng đẹp thu hút du khách đến tham quan trong dịp lễ hội (đặc biệt vận động các hộ dân thuộc tuyến đường trung tâm phường 1 – Trương Công Định, Tăng Bạt Hổ, khu Hoà Bình, Nguyễn Chí Thanh… trang trí nhà, ban công, tường, lối đi… bằng dây leo, hoa chậu, hoa treo dài ngày theo hình thức xã hội hoá có sự hỗ trợ của Nhà nước). Tổ chức cuộc thi “Xanh – Sạch – Đẹp”, hội thi cắm hoa, hội thi thời trang hoa, hội thi vẽ tranh hoa, đua Pa-tin đường phố, giải Golf chào mừng Festival Hoa Đà Lạt, liên hoan các nhóm nghệ thuật tiêu biểu, hội chợ Triển lãm Thương mại Quốc tế, thi sáng tác bài hát về Festival Hoa Đà Lạt, xây dựng các tiểu cảnh hoa chào mừng Festival Hoa Đà Lạt tại trung tâm các huyện, thành phố trong tỉnh, xây dựng “con đường hoa điện” chào mừng Festival Hoa Đà Lạt.

Một góc không gian trang trí tại Festival hoa Đà Lạt

Festival Hoa là dịp để thành phố Đà Lạt xinh đẹp trưng bày, triển lãm các loại rau, hoa, cây cảnh của địa phương cũng như từ nhiều vùng miền trong cả nước và một số quốc gia khác. Lễ hội tổ chức nhằm mục đích thu hút khách du lịch đến tham quan, nghỉ dưỡng tại Đà Lạt, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cho thành phố. Festival Hoa còn là một hoạt động tôn vinh giá trị của hoa và nghề trồng hoa, nhằm kêu gọi đầu tư vào ngành trồng hoa Đà Lạt, cũng như quảng bá hình ảnh, vẻ đẹp của thành phố, văn hóa và con người Đà Lạt. Đây là một sự kiện mang tầm quốc gia được người dân và du khách đón chào bởi tính sôi động và hấp dẫn của hoa Đà Lạt. Du khách yêu thiên nhiên, thích các loài hoa đẹp như hoa ly, hồng, lan, huệ, cúc, atiso, hướng dương… thì đây là thời gian lí tưởng để thưởng ngoạn, say sưa với niềm vui và sở thích. Đồng thời, Festival hoa Đà Lạt luôn mở ra cho khách tham quan những chuyện tình ấn tượng khi hòa mình vào không khí lễ hội với các hoạt động diễn ra sôi động. Một góc không gian trang trí tại Festival hoa Đà Lạt NỘI DUNG CHỦ YẾU TRONG CHƯƠNG TRÌNH FESTIVAL HOA ĐÀ LẠT 1. Không gian hoa - Không gian hoa xung quanh hồ Xuân Hương, Đường hoa Lê Đại Hành, cầu Ông Đạo, điểm đến tham quan hoa tại các Làng hoa, điểm đến tham quan hoa tại các công ty và cơ sở sản xuất hoa. -Trưng bày, triển lãm hoa, cây cảnh tại Vườn hoa thành phố Đà Lạt với sự tham gia của các Hiệp hội hoa, Hội sinh vật cảnh, doanh nghiệp, nghệ nhân, cá nhân trong và ngoài tỉnh; một số đơn vị sản xuất hoa nước ngoài như: Hà Lan, Nhật Bản… có thế mạnh về sản xuất, kinh doanh hoa trong và ngoài tỉnh. - Carnaval Hoa Đà Lạt là diễu hành xe hoa; các đội nhóm biểu diễn nghệ thuật trên đường phố; các đội nhóm biểu diễn thời trang rau, hoa; hoá trang ấn tượng hoặc mang sắc thái cổ tích… có sự tham gia của các em học sinh, sinh viên các trường cao đẳng và đại học (phần cuối Lễ Khai mạc). - Lễ khai mạc Festival Hoa Đà Lạt điễn ra tại Quảng trường Lâm Viên – Đà Lạt. - Đêm Tôn vinh người trồng hoa Đà Lạt: Tôn vinh, tuyên dương các tổ chức, cá nhân điển hình, tiêu biểu trong sản xuất và phát triển nghề trồng hoa tại thành phố Đà Lạt. - Đêm hội thời trang Hoa. - Phiên chợ hoa Đà Lạt tại đường Nguyễn Văn Cừ (nối dài). - Hội thảo khoa học về Hoa sẽ giới thiệu công nghệ mới, giống mới phục vụ ngành hoa Đà Lạt. Ngành hoa Đà Lạt, thương hiệu hoa Đà Lạt với thị trường trong nước, quốc tế gắn với trao đổi kinh nghiệm và sản xuất, kinh doanh hoa, xúc tiến thương mại, đầu tư về hoa; triển lãm hoa của các đơn vị tham gia, có phần giới thiệu, bình luận. - Phố Trà – Cà phê – Rượu vang và đặc sản Đà Lạt giới thiệu, quảng bá thương hiệu, trao đổi, mua bán rượu vang, trà, cà phê và đặc sản Đà Lạt – Lâm Đồng và các tỉnh, thành trong cả nước. - Không gian Thư pháp, Hội hoạ và Nhiếp ảnh về hoa, Tranh bút lửa. Festival hoa Đà Lạt năm 2015-2016 2. Các chương trình hưởng ứng Vận động các tổ chức, doanh nghiệp, nhân dân trên địa bàn thành phố Đà Lạt thực hiện trồng hoa, cây cảnh, dây leo… trong và ngoài khuôn viên cơ sở, nhà ở; hình thành không gian hoa đường phố theo hiện trạng dãy phố, tạo ấn tượng đẹp thu hút du khách đến tham quan trong dịp lễ hội (đặc biệt vận động các hộ dân thuộc tuyến đường trung tâm phường 1 – Trương Công Định, Tăng Bạt Hổ, khu Hoà Bình, Nguyễn Chí Thanh… trang trí nhà, ban công, tường, lối đi… bằng dây leo, hoa chậu, hoa treo dài ngày theo hình thức xã hội hoá có sự hỗ trợ của Nhà nước). Tổ chức cuộc thi “Xanh – Sạch – Đẹp”, hội thi cắm hoa, hội thi thời trang hoa, hội thi vẽ tranh hoa, đua Pa-tin đường phố, giải Golf chào mừng Festival Hoa Đà Lạt, liên hoan các nhóm nghệ thuật tiêu biểu, hội chợ Triển lãm Thương mại Quốc tế, thi sáng tác bài hát về Festival Hoa Đà Lạt, xây dựng các tiểu cảnh hoa chào mừng Festival Hoa Đà Lạt tại trung tâm các huyện, thành phố trong tỉnh, xây dựng “con đường hoa điện” chào mừng Festival Hoa Đà Lạt.

Du khách yêu thiên nhiên, thích các loài hoa đẹp như hoa ly, hồng, lan, huệ, cúc, atiso, hướng dương… thì đây là thời gian lí tưởng để thưởng ngoạn, say sưa với niềm vui và sở thích. Đồng thời, Festival hoa Đà Lạt luôn mở ra cho khách tham quan những chuyện tình ấn tượng khi hòa mình vào không khí lễ hội với các hoạt động diễn ra sôi động. Một góc không gian trang trí tại Festival hoa Đà Lạt NỘI DUNG CHỦ YẾU TRONG CHƯƠNG TRÌNH FESTIVAL HOA ĐÀ LẠT 1. Không gian hoa - Không gian hoa xung quanh hồ Xuân Hương, Đường hoa Lê Đại Hành, cầu Ông Đạo, điểm đến tham quan hoa tại các Làng hoa, điểm đến tham quan hoa tại các công ty và cơ sở sản xuất hoa. -Trưng bày, triển lãm hoa, cây cảnh tại Vườn hoa thành phố Đà Lạt với sự tham gia của các Hiệp hội hoa, Hội sinh vật cảnh, doanh nghiệp, nghệ nhân, cá nhân trong và ngoài tỉnh; một số đơn vị sản xuất hoa nước ngoài như: Hà Lan, Nhật Bản… có thế mạnh về sản xuất, kinh doanh hoa trong và ngoài tỉnh. - Carnaval Hoa Đà Lạt là diễu hành xe hoa; các đội nhóm biểu diễn nghệ thuật trên đường phố; các đội nhóm biểu diễn thời trang rau, hoa; hoá trang ấn tượng hoặc mang sắc thái cổ tích… có sự tham gia của các em học sinh, sinh viên các trường cao đẳng và đại học (phần cuối Lễ Khai mạc). - Lễ khai mạc Festival Hoa Đà Lạt điễn ra tại Quảng trường Lâm Viên – Đà Lạt. - Đêm Tôn vinh người trồng hoa Đà Lạt: Tôn vinh, tuyên dương các tổ chức, cá nhân điển hình, tiêu biểu trong sản xuất và phát triển nghề trồng hoa tại thành phố Đà Lạt. - Đêm hội thời trang Hoa. - Phiên chợ hoa Đà Lạt tại đường Nguyễn Văn Cừ (nối dài). - Hội thảo khoa học về Hoa sẽ giới thiệu công nghệ mới, giống mới phục vụ ngành hoa Đà Lạt. Ngành hoa Đà Lạt, thương hiệu hoa Đà Lạt với thị trường trong nước, quốc tế gắn với trao đổi kinh nghiệm và sản xuất, kinh doanh hoa, xúc tiến thương mại, đầu tư về hoa; triển lãm hoa của các đơn vị tham gia, có phần giới thiệu, bình luận. - Phố Trà – Cà phê – Rượu vang và đặc sản Đà Lạt giới thiệu, quảng bá thương hiệu, trao đổi, mua bán rượu vang, trà, cà phê và đặc sản Đà Lạt – Lâm Đồng và các tỉnh, thành trong cả nước. - Không gian Thư pháp, Hội hoạ và Nhiếp ảnh về hoa, Tranh bút lửa. Festival hoa Đà Lạt năm 2015-2016 2. Các chương trình hưởng ứng Vận động các tổ chức, doanh nghiệp, nhân dân trên địa bàn thành phố Đà Lạt thực hiện trồng hoa, cây cảnh, dây leo… trong và ngoài khuôn viên cơ sở, nhà ở; hình thành không gian hoa đường phố theo hiện trạng dãy phố, tạo ấn tượng đẹp thu hút du khách đến tham quan trong dịp lễ hội (đặc biệt vận động các hộ dân thuộc tuyến đường trung tâm phường 1 – Trương Công Định, Tăng Bạt Hổ, khu Hoà Bình, Nguyễn Chí Thanh… trang trí nhà, ban công, tường, lối đi… bằng dây leo, hoa chậu, hoa treo dài ngày theo hình thức xã hội hoá có sự hỗ trợ của Nhà nước). Tổ chức cuộc thi “Xanh – Sạch – Đẹp”, hội thi cắm hoa, hội thi thời trang hoa, hội thi vẽ tranh hoa, đua Pa-tin đường phố, giải Golf chào mừng Festival Hoa Đà Lạt, liên hoan các nhóm nghệ thuật tiêu biểu, hội chợ Triển lãm Thương mại Quốc tế, thi sáng tác bài hát về Festival Hoa Đà Lạt, xây dựng các tiểu cảnh hoa chào mừng Festival Hoa Đà Lạt tại trung tâm các huyện, thành phố trong tỉnh, xây dựng “con đường hoa điện” chào mừng Festival Hoa Đà Lạt.

Du khách yêu thiên nhiên, thích các loài hoa đẹp như hoa ly, hồng, lan, huệ, cúc, atiso, hướng dương… thì đây là thời gian lí tưởng để thưởng ngoạn, say sưa với niềm vui và sở thích. Đồng thời, Festival hoa Đà Lạt luôn mở ra cho khách tham quan những chuyện tình ấn tượng khi hòa mình vào không khí lễ hội với các hoạt động diễn ra sôi động. Một góc không gian trang trí tại Festival hoa Đà Lạt NỘI DUNG CHỦ YẾU TRONG CHƯƠNG TRÌNH FESTIVAL HOA ĐÀ LẠT 1. Không gian hoa - Không gian hoa xung quanh hồ Xuân Hương, Đường hoa Lê Đại Hành, cầu Ông Đạo, điểm đến tham quan hoa tại các Làng hoa, điểm đến tham quan hoa tại các công ty và cơ sở sản xuất hoa. -Trưng bày, triển lãm hoa, cây cảnh tại Vườn hoa thành phố Đà Lạt với sự tham gia của các Hiệp hội hoa, Hội sinh vật cảnh, doanh nghiệp, nghệ nhân, cá nhân trong và ngoài tỉnh; một số đơn vị sản xuất hoa nước ngoài như: Hà Lan, Nhật Bản… có thế mạnh về sản xuất, kinh doanh hoa trong và ngoài tỉnh. - Carnaval Hoa Đà Lạt là diễu hành xe hoa; các đội nhóm biểu diễn nghệ thuật trên đường phố; các đội nhóm biểu diễn thời trang rau, hoa; hoá trang ấn tượng hoặc mang sắc thái cổ tích… có sự tham gia của các em học sinh, sinh viên các trường cao đẳng và đại học (phần cuối Lễ Khai mạc). - Lễ khai mạc Festival Hoa Đà Lạt điễn ra tại Quảng trường Lâm Viên – Đà Lạt. - Đêm Tôn vinh người trồng hoa Đà Lạt: Tôn vinh, tuyên dương các tổ chức, cá nhân điển hình, tiêu biểu trong sản xuất và phát triển nghề trồng hoa tại thành phố Đà Lạt. - Đêm hội thời trang Hoa. - Phiên chợ hoa Đà Lạt tại đường Nguyễn Văn Cừ (nối dài). - Hội thảo khoa học về Hoa sẽ giới thiệu công nghệ mới, giống mới phục vụ ngành hoa Đà Lạt. Ngành hoa Đà Lạt, thương hiệu hoa Đà Lạt với thị trường trong nước, quốc tế gắn với trao đổi kinh nghiệm và sản xuất, kinh doanh hoa, xúc tiến thương mại, đầu tư về hoa; triển lãm hoa của các đơn vị tham gia, có phần giới thiệu, bình luận. - Phố Trà – Cà phê – Rượu vang và đặc sản Đà Lạt giới thiệu, quảng bá thương hiệu, trao đổi, mua bán rượu vang, trà, cà phê và đặc sản Đà Lạt – Lâm Đồng và các tỉnh, thành trong cả nước. - Không gian Thư pháp, Hội hoạ và Nhiếp ảnh về hoa, Tranh bút lửa. Festival hoa Đà Lạt năm 2015-2016 2. Các chương trình hưởng ứng Vận động các tổ chức, doanh nghiệp, nhân dân trên địa bàn thành phố Đà Lạt thực hiện trồng hoa, cây cảnh, dây leo… trong và ngoài khuôn viên cơ sở, nhà ở; hình thành không gian hoa đường phố theo hiện trạng dãy phố, tạo ấn tượng đẹp thu hút du khách đến tham quan trong dịp lễ hội (đặc biệt vận động các hộ dân thuộc tuyến đường trung tâm phường 1 – Trương Công Định, Tăng Bạt Hổ, khu Hoà Bình, Nguyễn Chí Thanh… trang trí nhà, ban công, tường, lối đi… bằng dây leo, hoa chậu, hoa treo dài ngày theo hình thức xã hội hoá có sự hỗ trợ của Nhà nước). Tổ chức cuộc thi “Xanh – Sạch – Đẹp”, hội thi cắm hoa, hội thi thời trang hoa, hội thi vẽ tranh hoa, đua Pa-tin đường phố, giải Golf chào mừng Festival Hoa Đà Lạt, liên hoan các nhóm nghệ thuật tiêu biểu, hội chợ Triển lãm Thương mại Quốc tế, thi sáng tác bài hát về Festival Hoa Đà Lạt, xây dựng các tiểu cảnh hoa chào mừng Festival Hoa Đà Lạt tại trung tâm các huyện, thành phố trong tỉnh, xây dựng “con đường hoa điện” chào mừng Festival Hoa Đà Lạt.

Related Figures

Lễ hội Phủ Giầy tại Nam Định

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/3- 10/3 Âm lịch Lễ hội Phủ Giầy là lễ hội được tổ chức nhằm tôn vinh Thái Mẫu Liễu Hạnh - một bậc "Thiên hạ mẫu nghi", là vị thần chủ của tín ngưỡng thờ Mẫu và là một vị Thánh trong Tứ bất tử của dân tộc Việt Nam. Thái Mẫu Liễu Hạnh đã được phụng thờ ở nhiều nơi như Phủ Giầy, Phủ Tây Hồ, Phủ Sòng và rất nhiều các phủ, đền khác, nhưng lễ hội Phủ Giầy tại Nam Định là lễ hội lớn nhất và có tính quy mô nhất. Phủ Giầy là một quần thể di tích thuộc xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Phủ Giầy trước đây có tên cổ là Kẻ Giầy, cho tới khi Mẫu Liễu Hạnh được suy tôn là Mẫu nghi Thiên hạ thì Kẻ Giầy mới được đổi tên thành Phủ Giầy. Phủ Tiên Hương (chính phủ) trong quần thể Phủ Giầy Phủ Giầy là một quần thể kiến trúc độc đáo giữa một vùng đồng bằng bát ngát, sông nước mênh mông, các dải núi đất bao quanh những con sông uốn lượn. Các dãy núi này được dân gian ví như một con rồng khổng lồ mà đầu là núi Ngăm, mình rồng là núi Báng, núi Lê, núi Tiên Hương, núi Gôi và đuôi nó là núi Thổ. Những nét văn hóa của triều đại nhà Nguyễn được in đậm trong công trình kiến trúc này. Có hai đền lớn trong Phủ Giầy: thôn Vân Cát - quê cha và thôn Tiên Hương - quê chồng của bà chúa Liễu Hạnh. Ngoài hai phủ chính này, bao quanh còn có một loạt các đền miếu khác như đền Đức Vua, đền Công Đồng, đền Khâm Sai, đền Thượng, đền Cây Đa, đình ông Khổng, đền Giếng Gàng, Phủ Tổ, làng Mẫu… Quy mô về sự thờ phụng cũng như sự tôn nghiêm của Phủ Giầy từ đó cũng được tăng lên nhờ có hệ thống đền miếu này. Ở Phủ Giầy có bộ ba kiến trúc liên quan chặt chẽ với Thái Mẫu Liễu Hạnh là: Phủ Tiên Hương (Chính phủ), phủ Vân Cát và lăng chúa Liễu Theo các sách, truyện hay tầm phả còn lưu lại thì bà Liễu Hạnh sinh năm 1557 tại làng Vân Cát, là con của ông bà Lê Công Chính và Trần Thị Phúc. Bà lấy ông Đào Long ở làng Tiên Hương gần kề với làng Vân Cát vào năm 18 tuổi. Không biết vì lý do gì bà mất năm 21 tuổi để lại một con thơ. Miếu thờ bà hiện nay được lập ở hai làng Vân Cát và Tiên Hương. Không khí náo nhiệt trong ngày khia hội Phr Giầy Nam Định Sự tích này lại được bao phủ bởi nhiều huyền thoại đan xen. Có người lại cho rằng, cha bà Liễu Hạnh đã từng nằm mộng được lên thiên đình. Ông được chứng kiến cảnh Đệ nhị Tiên chúa Quỳnh Nương bị đày xuống trần gian do phạm lỗi đánh vỡ chén ngọc. Khi ông tỉnh giấcthì vợ ông đã sinh được một cô con gái. Đêm ấy có hương lạ thơm nức ở trong nhà, trăng sáng soi vào cửa sổ. Nhớ lại giấc mộng ông bà liền đặt tên con là Lê Thị Thắng, biệt hiệu là Giáng Tiên (Tiên giáng trần). Hội Phủ Dầy Nam Định kéo dài 10 ngày từ mồng 1 đến mồng 10 tháng 3 âm lịch. Đồ lễ đặt tại cung Đệ nhất thờ Mẫu phổ biến là hương và hoa quả tinh khiết. Ban Công Đồng và ban thờ các quan thì đặt đồ lễ mặn. Ngoài những nghi thức lễ thông thường giống như ở các di tích tôn giáo khác thì hội Phủ Giầy còn có thêm hình thức đặc biệt là hầu đồng (hầu bóng). Hầu bóng diễn ra liên tục trong năm, nhưng hình thức đội bát nhang, trình đồng, lên đồng diễn ra đặc biệt sôi nổi trong các ngày hội. Nghi thức quan trọng được tổ chức trong lễ hội Phủ Giầy là rước kiệu Mẫu Liễu. Lễ rước được diễn ra khá sôi động với sự tham gia của các nam nữ thanh đồng, của nhân dân trong thôn, đặc biệt là có đoàn xe tay chở các quan, các vị chức sắc hàng huyện, tổng... vàcác sư chùa Thiên Hương đi thỉnh kinh. Trong đám rước còn có sự xuất hiện của các đội múa sư tử, múa tứ linh, múa rồng, múa võ rất đẹp mắt. Có 6 con rồng với nhiều màu, đặc biệt có một con rồng mây được gọi là rồng Thanh Long (rồng xanh), luôn múa đôi cùng rồng Hoàng Long (rồng vàng). Hai con rồng này hòa quyện với nhau thì đất nước sẽ hưng thịnh. Đặc biệt còn có 3 con rồng được kết bằng hàng nghìn quả bóng bay với ba màu vàng, đỏ, xanh tượng trưng cho Tam tòa Thánh Mẫu trông rất sinh động. Màn biểu diễn múa rồng Thanh Long và rồng Hoàng Long trong ngày hội Trò kéo chữ cũng là một nét đặc sắc của Phủ Giầy. Hội kéo chữ thường được tiến hành hàng năm vào ba ngày 7, 8, 9 tháng 3 âm lịch. Đến bất cứ di tích nào trong khu vực Phủ Giầy, chúng ta cũng đều bắt gặp các làn điệu chầu văn vang lên từ sáng sớm đến đêm khuya. Hát chầu văn đã trở thành một nghi thức không thể thiếu trong các nghi lễ chính của tục thờ Mẫu, phục vụ cho lễ lên đồng. Chợ Viềng cũng góp phần làm nên một không khí hội hè sôi động cho cả vùng Phủ Giầy. Người ta quan niệm chỉ cần mua được một vật dụng gì đó là cả năm tới sẽ làm ăn may mắn, phúc lộc dồi dào không quan trọng đắt hay rẻ. Đi chợ Viềng ai cũng muốn được nếm thử những món đặc sản như thịt bò thui chấm tương gừng, mua bánh dày giò... Người ta tới chợ Viềng còn với tâm thức đến lễ Mẫu và xin lộc Mẫu. Họ tin rằng mọi vật dụng mà họ mua trong chợ sẽ được Mẫu chứng giám và phù hộ, cầu mọi sự may mắn, bình an, làm ăn phát đạt, cầu mưa thuận gió hòa để mùa màng tươi tốt. Lễ hội Phủ Giầy là một hình thức sinh hoạt văn hóa - tâm linh đáp ứng nhu cầu tinh thần - tình cảm của đông đảo người dân. Con người có được những giây phút “thăng hoa" để tạm quên đi những nỗi cực nhọc vất vả hàng ngày khi sống trong khung cảnh lễ hội. Chính lễ hội đã tiếp thêm nguồn sức mạnh thiêng liêng để con người nơi đây tiếp tục sống và lao động./.

Related Figures

Lễ hội đền Trần tại Thái Bình

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 13/1- 18/1 Âm lịch Đền Trần Thái Bình là một quần thể di tích gồm các lăng mộ, đền thờ các vị vua quan nhà Trần. . Hệ thống các di tích lịch sử ở đây gồm Khu lăng mộ và đền thờ các vị vua triều Trần đều đã được chính phủ Việt Nam xếp hạng là i tích lịch sử quốc gia quan trọng. Cổng vào khu di tích lịch sử Đền Trần - Thái Bình Khu di tích đền Trần Thái Bình (còn gọi là Thái Đường Lăng) thuộc làng Tam Đường, xã Tiến Đức huyện , nằm ở rất gần các thành phố xung quanh. Cách 17 km, 25 km, 30 km và 30 km. Lịch sử Việt Nam ghi nhận vương triều nhà Trần có nhiều vị vua anh minh hào kiệt như , , và rất nhiều tướng sĩ kiệt xuất như ; , , , ... ỉnh Thái Bình là vùng đất phát tích của vương triều nhà Trần. Cách đây hơn 700 năm, các vị vua khai nghiệp được sinh ra tại đây, gia tộc nhà Trần dựa vào đây để xây dựng nghiệp. Lễ rước nước khai mạc lễ hội Đền Trần Thái Bình Các vua Trần đã cho xây dựng một hành cung tên là Long Hưng để tổ chức những đại lễ mừng chiến thắng và Tam đường là nơi lưu giữ hài cốt của các tổ tiên triều Trần như: Thái tổ , Nguyên tổ , Thuỷ tổ , Thái thượng hoàng ... Khi các vị vua và hoàng hậu băng hà thì có tới trên một nửa đều được an táng tại quê nhà và đều được xây lăng miếu thờ phụng. Trong đó Thái Đường Lăng là nơi an nghỉ vĩnh hằng của các vị vua đầu triều Trần như , , . Các hoàng hậu sau khi qua đời đều được quy về hợp tác tại các lăng mộ như Chiêu lăng, Dự lăng, Thọ lăng, Quy đức lăng. Hơn 7 thế kỷ, những di vật nằm sâu trong lòng đất Tam Đường đã được khai quật, giúp hậu thế tìm lại được một quần thể kiến trúc lăng mộ, kiến trúc hành cung Long Hưng đầy uy nghi, tráng lệ. Đền thờ các vua Trần và Đức thánh đã được xây dựng công phu, uy nghi bề thế trên diện tích 5175m2, toạ lạc trên nền phế tích nằm giữa trung tâm xã Tiến Đức với các hạng mục đã hoàn thành là toà bái đường, tả vu, hữu vu, toà hậu cung, nghi môn, đài hoá vàng, ba ngôi mộ các vua Trần và một số công trình kiến trúc liên quan. Lễ rước kiệu trong hội Đền Trần Theo Quyết định số 231/QĐ-BVHTTDL ngày 27/01/2014 của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, Lễ hội đền Trần Thái Bình đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Lễ hội đền Trần diễn ra hàng năm vào ngày 13 đến 18 tháng Giêng âm lịch, qua đó khẳng định và tôn vinh công lao dựng nước của trong lịch sử Việt Nam. Trong lễ hội sẽ diễn ra các hoạt động vui chơi sôi nổi như: Thi thả diều, Thi cỗ cá, Thi gói bánh chưng, Thi pháo đất, Thi vật cầu, Thi kéo co,...

Cổng vào khu di tích lịch sử Đền Trần - Thái Bình Khu di tích đền Trần Thái Bình (còn gọi là Thái Đường Lăng) thuộc làng Tam Đường, xã Tiến Đức huyện , nằm ở rất gần các thành phố xung quanh. Cách 17 km, 25 km, 30 km và 30 km. Lịch sử Việt Nam ghi nhận vương triều nhà Trần có nhiều vị vua anh minh hào kiệt như , , và rất nhiều tướng sĩ kiệt xuất như ; , , , ... ỉnh Thái Bình là vùng đất phát tích của vương triều nhà Trần. Cách đây hơn 700 năm, các vị vua khai nghiệp được sinh ra tại đây, gia tộc nhà Trần dựa vào đây để xây dựng nghiệp. Lễ rước nước khai mạc lễ hội Đền Trần Thái Bình Các vua Trần đã cho xây dựng một hành cung tên là Long Hưng để tổ chức những đại lễ mừng chiến thắng và Tam đường là nơi lưu giữ hài cốt của các tổ tiên triều Trần như: Thái tổ , Nguyên tổ , Thuỷ tổ , Thái thượng hoàng ... Khi các vị vua và hoàng hậu băng hà thì có tới trên một nửa đều được an táng tại quê nhà và đều được xây lăng miếu thờ phụng. Trong đó Thái Đường Lăng là nơi an nghỉ vĩnh hằng của các vị vua đầu triều Trần như , , . Các hoàng hậu sau khi qua đời đều được quy về hợp tác tại các lăng mộ như Chiêu lăng, Dự lăng, Thọ lăng, Quy đức lăng. Hơn 7 thế kỷ, những di vật nằm sâu trong lòng đất Tam Đường đã được khai quật, giúp hậu thế tìm lại được một quần thể kiến trúc lăng mộ, kiến trúc hành cung Long Hưng đầy uy nghi, tráng lệ. Đền thờ các vua Trần và Đức thánh đã được xây dựng công phu, uy nghi bề thế trên diện tích 5175m2, toạ lạc trên nền phế tích nằm giữa trung tâm xã Tiến Đức với các hạng mục đã hoàn thành là toà bái đường, tả vu, hữu vu, toà hậu cung, nghi môn, đài hoá vàng, ba ngôi mộ các vua Trần và một số công trình kiến trúc liên quan. Lễ rước kiệu trong hội Đền Trần Theo Quyết định số 231/QĐ-BVHTTDL ngày 27/01/2014 của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, Lễ hội đền Trần Thái Bình đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Lễ hội đền Trần diễn ra hàng năm vào ngày 13 đến 18 tháng Giêng âm lịch, qua đó khẳng định và tôn vinh công lao dựng nước của trong lịch sử Việt Nam. Trong lễ hội sẽ diễn ra các hoạt động vui chơi sôi nổi như: Thi thả diều, Thi cỗ cá, Thi gói bánh chưng, Thi pháo đất, Thi vật cầu, Thi kéo co,...

Khu di tích đền Trần Thái Bình (còn gọi là Thái Đường Lăng) thuộc làng Tam Đường, xã Tiến Đức huyện , nằm ở rất gần các thành phố xung quanh. Cách 17 km, 25 km, 30 km và 30 km. Lịch sử Việt Nam ghi nhận vương triều nhà Trần có nhiều vị vua anh minh hào kiệt như , , và rất nhiều tướng sĩ kiệt xuất như ; , , , ... ỉnh Thái Bình là vùng đất phát tích của vương triều nhà Trần. Cách đây hơn 700 năm, các vị vua khai nghiệp được sinh ra tại đây, gia tộc nhà Trần dựa vào đây để xây dựng nghiệp. Lễ rước nước khai mạc lễ hội Đền Trần Thái Bình Các vua Trần đã cho xây dựng một hành cung tên là Long Hưng để tổ chức những đại lễ mừng chiến thắng và Tam đường là nơi lưu giữ hài cốt của các tổ tiên triều Trần như: Thái tổ , Nguyên tổ , Thuỷ tổ , Thái thượng hoàng ... Khi các vị vua và hoàng hậu băng hà thì có tới trên một nửa đều được an táng tại quê nhà và đều được xây lăng miếu thờ phụng. Trong đó Thái Đường Lăng là nơi an nghỉ vĩnh hằng của các vị vua đầu triều Trần như , , . Các hoàng hậu sau khi qua đời đều được quy về hợp tác tại các lăng mộ như Chiêu lăng, Dự lăng, Thọ lăng, Quy đức lăng. Hơn 7 thế kỷ, những di vật nằm sâu trong lòng đất Tam Đường đã được khai quật, giúp hậu thế tìm lại được một quần thể kiến trúc lăng mộ, kiến trúc hành cung Long Hưng đầy uy nghi, tráng lệ. Đền thờ các vua Trần và Đức thánh đã được xây dựng công phu, uy nghi bề thế trên diện tích 5175m2, toạ lạc trên nền phế tích nằm giữa trung tâm xã Tiến Đức với các hạng mục đã hoàn thành là toà bái đường, tả vu, hữu vu, toà hậu cung, nghi môn, đài hoá vàng, ba ngôi mộ các vua Trần và một số công trình kiến trúc liên quan. Lễ rước kiệu trong hội Đền Trần Theo Quyết định số 231/QĐ-BVHTTDL ngày 27/01/2014 của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, Lễ hội đền Trần Thái Bình đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Lễ hội đền Trần diễn ra hàng năm vào ngày 13 đến 18 tháng Giêng âm lịch, qua đó khẳng định và tôn vinh công lao dựng nước của trong lịch sử Việt Nam. Trong lễ hội sẽ diễn ra các hoạt động vui chơi sôi nổi như: Thi thả diều, Thi cỗ cá, Thi gói bánh chưng, Thi pháo đất, Thi vật cầu, Thi kéo co,...

Khu di tích đền Trần Thái Bình (còn gọi là Thái Đường Lăng) thuộc làng Tam Đường, xã Tiến Đức huyện , nằm ở rất gần các thành phố xung quanh. Cách 17 km, 25 km, 30 km và 30 km.

Lịch sử Việt Nam ghi nhận vương triều nhà Trần có nhiều vị vua anh minh hào kiệt như , , và rất nhiều tướng sĩ kiệt xuất như ; , , , ... ỉnh Thái Bình là vùng đất phát tích của vương triều nhà Trần. Cách đây hơn 700 năm, các vị vua khai nghiệp được sinh ra tại đây, gia tộc nhà Trần dựa vào đây để xây dựng nghiệp. Lễ rước nước khai mạc lễ hội Đền Trần Thái Bình Các vua Trần đã cho xây dựng một hành cung tên là Long Hưng để tổ chức những đại lễ mừng chiến thắng và Tam đường là nơi lưu giữ hài cốt của các tổ tiên triều Trần như: Thái tổ , Nguyên tổ , Thuỷ tổ , Thái thượng hoàng ... Khi các vị vua và hoàng hậu băng hà thì có tới trên một nửa đều được an táng tại quê nhà và đều được xây lăng miếu thờ phụng. Trong đó Thái Đường Lăng là nơi an nghỉ vĩnh hằng của các vị vua đầu triều Trần như , , . Các hoàng hậu sau khi qua đời đều được quy về hợp tác tại các lăng mộ như Chiêu lăng, Dự lăng, Thọ lăng, Quy đức lăng. Hơn 7 thế kỷ, những di vật nằm sâu trong lòng đất Tam Đường đã được khai quật, giúp hậu thế tìm lại được một quần thể kiến trúc lăng mộ, kiến trúc hành cung Long Hưng đầy uy nghi, tráng lệ. Đền thờ các vua Trần và Đức thánh đã được xây dựng công phu, uy nghi bề thế trên diện tích 5175m2, toạ lạc trên nền phế tích nằm giữa trung tâm xã Tiến Đức với các hạng mục đã hoàn thành là toà bái đường, tả vu, hữu vu, toà hậu cung, nghi môn, đài hoá vàng, ba ngôi mộ các vua Trần và một số công trình kiến trúc liên quan. Lễ rước kiệu trong hội Đền Trần Theo Quyết định số 231/QĐ-BVHTTDL ngày 27/01/2014 của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, Lễ hội đền Trần Thái Bình đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Lễ hội đền Trần diễn ra hàng năm vào ngày 13 đến 18 tháng Giêng âm lịch, qua đó khẳng định và tôn vinh công lao dựng nước của trong lịch sử Việt Nam. Trong lễ hội sẽ diễn ra các hoạt động vui chơi sôi nổi như: Thi thả diều, Thi cỗ cá, Thi gói bánh chưng, Thi pháo đất, Thi vật cầu, Thi kéo co,...

Lịch sử Việt Nam ghi nhận vương triều nhà Trần có nhiều vị vua anh minh hào kiệt như , , và rất nhiều tướng sĩ kiệt xuất như ; , , , ... ỉnh Thái Bình là vùng đất phát tích của vương triều nhà Trần. Cách đây hơn 700 năm, các vị vua khai nghiệp được sinh ra tại đây, gia tộc nhà Trần dựa vào đây để xây dựng nghiệp.

Lễ rước nước khai mạc lễ hội Đền Trần Thái Bình

Các vua Trần đã cho xây dựng một hành cung tên là Long Hưng để tổ chức những đại lễ mừng chiến thắng và Tam đường là nơi lưu giữ hài cốt của các tổ tiên triều Trần như: Thái tổ , Nguyên tổ , Thuỷ tổ , Thái thượng hoàng ... Khi các vị vua và hoàng hậu băng hà thì có tới trên một nửa đều được an táng tại quê nhà và đều được xây lăng miếu thờ phụng. Trong đó Thái Đường Lăng là nơi an nghỉ vĩnh hằng của các vị vua đầu triều Trần như , , . Các hoàng hậu sau khi qua đời đều được quy về hợp tác tại các lăng mộ như Chiêu lăng, Dự lăng, Thọ lăng, Quy đức lăng. Hơn 7 thế kỷ, những di vật nằm sâu trong lòng đất Tam Đường đã được khai quật, giúp hậu thế tìm lại được một quần thể kiến trúc lăng mộ, kiến trúc hành cung Long Hưng đầy uy nghi, tráng lệ.

Đền thờ các vua Trần và Đức thánh đã được xây dựng công phu, uy nghi bề thế trên diện tích 5175m2, toạ lạc trên nền phế tích nằm giữa trung tâm xã Tiến Đức với các hạng mục đã hoàn thành là toà bái đường, tả vu, hữu vu, toà hậu cung, nghi môn, đài hoá vàng, ba ngôi mộ các vua Trần và một số công trình kiến trúc liên quan. Lễ rước kiệu trong hội Đền Trần Theo Quyết định số 231/QĐ-BVHTTDL ngày 27/01/2014 của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, Lễ hội đền Trần Thái Bình đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Lễ hội đền Trần diễn ra hàng năm vào ngày 13 đến 18 tháng Giêng âm lịch, qua đó khẳng định và tôn vinh công lao dựng nước của trong lịch sử Việt Nam. Trong lễ hội sẽ diễn ra các hoạt động vui chơi sôi nổi như: Thi thả diều, Thi cỗ cá, Thi gói bánh chưng, Thi pháo đất, Thi vật cầu, Thi kéo co,...

Related Figures

Lễ hội Làng Vạc Nghệ An

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 7/2- 9/2 Âm lịch Lễ hội Làng Vạc là một "điểm nhấn" văn hoá của vùng Tây Bắc, Nghệ An Cổng đền Làng Vạc - Nghệ An Từ truyền thuyết Vạc đồng, đến di chỉ khảo cổ học Làng Vạc đã tạo cho Lễ hội Làng Vạc (xã Nghĩa Hoà- Thị xã Thái Hoà, tình Nghệ An) hàng năm đậm nét văn hoá tâm linh. Sau nhiều lần tổ chức, Lễ hội Làng Vạc ngày càng lớn dần về quy mô và phạm vi ảnh hưởng, ngày nay lễ hội đã trở thành ngày hội "Uống nước nhớ nguồn" của đồng bào các dân tộc các huyện vùng Tây Bắc tỉnh Nghệ An... Lễ rước kiệu Vạc đồng tại lễ hội Truyền thuyết xa xưa kể rằng: Một đêm nọ thần linh báo mộng cho trưởng làng tập trung dân làng bên đầm làng, Ngài sẽ trao cho báu vật của trời đất để làng tổ chức lễ hội. Sáng hôm sau, khi dân làng đã tụ hội đông đủ bỗng thấy giữa đầm nổi lên một chiếc Vạc đồng to như một gian nhà, trong Vạc có 10 vạc nhỏ và rất nhiều bát đũa, âu, đĩa bên trong. Sau đó dân làng tưng bừng mở lễ hội. Sau 3 ngày mở tiệc linh đình, dân làng làm lễ tạ ơn và hoàn trả lại báu vật cho thần linh. Con trai, con gái rước Vạc về đầm, khi đang sụp lạy thì bỗng nhiên Vạc đồng từ từ trôi ra giữa đầm rồi chìm xuống. Từ đó về sau, để tạ ơn thần linh, tạ ơn trời đất, làng đặt tên là đầm Vạc, rồi gọi tên làng là Làng Vạc. Hàng năm cứ đến ngày đã định, dân làng lại tổ chức lễ hội để nhớ ơn thần sông, thần núi đã mang lại cuộc sống ấm no cho dân làng. Lễ rước kiệu Vạc đồng tại lễ hội Vào đầu xuân hàng năm, Lễ hội Làng Vạc chính thức được tổ chức trở lại theo định kỳ kéo dài trong 3 ngày 7-9/2 âm lịch. Lễ hội Làng Vạc đã trở thành ngày hội lớn của nhân dân các dân tộc trên địa bàn tỉnh Nghệ An và thu hút người dân các vùng lân cận. Lễ hội gồm có 2 phần chính là phần lễ và phần hội. Sau phần tế lễ là rước Vạc đồng và Trống đồng để mở hội mừng. Phần hội là các trò chơi dân gian như: đẩy gậy, kéo co, ném còn, bắn nỏ, chọi gà, đấu võ. Tại lễ hội còn có các cuộc thi độc đáo như: thi người đẹp Làng Vạc, thi hội cồng chiêng, thi nấu các món ăn dân tộc... Lễ hội Làng Vạc cùng với việc thành lập Thị xã Thái Hoà, có thêm điều kiện để tổ chức ngày càng nâng tầm trở thành lễ hội văn hoá, tâm linh cấp vùng Tây Bắc.

Related Figures

Lễ hội làng Diềm Bắc Ninh

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 5/2- 7/2 Âm lịch Hội làng Diềm Bắc Ninh được tổ chức hàng năm nhằm thể hiện sự tôn kính của nhân dân đối với Vua Bà - Thủy tổ Quan họ, người có công sáng lập những làn điệu dân ca danh bất hư truyền. Lễ hội làng Diềm Bắc Ninh được tổ chức hàng năm thể hiện sự tôn kính của người dân đối với Vua Bà-Thủy tổ quan họ Làng Diềm là tên gọi dân gian của thôn Viêm Xá, xã Hòa Long, Bắc Ninh. Lễ hội Diềm là dịp để thể hiện sự tôn kính và lòng nhớ ơn của dân làng đối với Thủy tổ Quan họ và cũng là thời điểm để bà con cầu cho một năm mưa thuận, gió hòa, làm ăn phát đạt. Lễ hội được diễn ra trong 3 ngày, trong đó ngày 25/3 (mùng 6/2 âm lịch) là chính hội. Hàng trăm người dân trong làng tham gia Lễ rước kiệu trong sự uy nghiêm, xuất phát ở đền Vua Bà sang đình làng, đến đền Cùng rồi quay lại đền Vua Bà. Theo truyền thống, dân làng tổ chức lấy nước ở giếng Ngọc làm lễ bao sái rồi sau đó mới tiến hành tế lễ. Du khách đến hội Quan họ Diềm từ đêm trước đều được nghe những canh hát mừng thọ các cụ cao tuổi và những canh hát đãi khách thập phương tại nhà. Điều đáng nói của văn hóa Quan họ là dù khách đến hội lần đầu hay nhiều lần, dù khách quen hay khách lạ cũng được gia chủ của bất kỳ nhà nào khoản đãi cơm ăn. Lễ rước kiệu do hàng trăm người dân trong làng tham gia Trong số 49 làng quan họ gốc của vùng Kinh Bắc, Làng Diềm là nơi duy nhất có đền thờ Thủy tổ Quan họ. Tiếng quan họ vang lên trong suốt lễ hội, những liền anh liền chị tình tứ trao nhau làn điệu duyên dáng và cảm ơn sự yêu mến của du khách. Tương truyền rằng, Đức Vua Bà là con gái vua Hùng. Đến tuổi cập kê, nhà vua tổ chức hội cướp cầu để kén chọn phò mã. Tuy nhiên Bà đã không chấp nhận sánh duyên cùng người thắng cuộc mà lại xin vua cha ân điển cho được chu du sơn thủy một thời gian. Thi cờ tướng bên hông Đình Khi Bà cùng các thị nữ vừa ra khỏi kinh thành thì một cơn mưa lớn ập đến, giông gió nổi lên dữ dội. Một cơn lốc đã cuốn phăng cả đoàn người lên trời rồi giáng hạ xuống ấp Viêm Trang (thôn Viêm Xá ngày nay). Nơi đây vốn là một vùng đất hoang vu, Bà đã cho phá đất, đắp bờ, lập nên ruộng đồng, làng xóm và dựng vợ gả chồng cho mọi người. Bà còn sáng tác nhiều bài ca và dạy cho các nam thanh nữ tú nghệ thuật ca hát bên cạnh việc dạy dân cách làm ruộng, trồng dâu, nuôi tằm.... Bởi vậy khi Bà mất, dân làng đã lập đền thờ và tôn vinh Bà là Đức Vương Mẫu, thành hoàng làng. Hàng năm vào ngày hội, dân làng dựng và diễn ở ngoài trời sự tích "Bà Chúa phát lệnh mở hội Xuân". Ngoài ra, trong hội còn có các hoạt động thể thao như: cầu lông, cờ tướng, cây đu, chọi gà... Ngoài phần tế lễ, dâng hương... hội còn tổ chức hát đón, hát thờ, hát đối, hát canh Quan họ tại đền Vua Bà và trên thuyền./.

Lễ hội làng Diềm Bắc Ninh được tổ chức hàng năm thể hiện sự tôn kính của người dân đối với Vua Bà-Thủy tổ quan họ Làng Diềm là tên gọi dân gian của thôn Viêm Xá, xã Hòa Long, Bắc Ninh. Lễ hội Diềm là dịp để thể hiện sự tôn kính và lòng nhớ ơn của dân làng đối với Thủy tổ Quan họ và cũng là thời điểm để bà con cầu cho một năm mưa thuận, gió hòa, làm ăn phát đạt. Lễ hội được diễn ra trong 3 ngày, trong đó ngày 25/3 (mùng 6/2 âm lịch) là chính hội. Hàng trăm người dân trong làng tham gia Lễ rước kiệu trong sự uy nghiêm, xuất phát ở đền Vua Bà sang đình làng, đến đền Cùng rồi quay lại đền Vua Bà. Theo truyền thống, dân làng tổ chức lấy nước ở giếng Ngọc làm lễ bao sái rồi sau đó mới tiến hành tế lễ. Du khách đến hội Quan họ Diềm từ đêm trước đều được nghe những canh hát mừng thọ các cụ cao tuổi và những canh hát đãi khách thập phương tại nhà. Điều đáng nói của văn hóa Quan họ là dù khách đến hội lần đầu hay nhiều lần, dù khách quen hay khách lạ cũng được gia chủ của bất kỳ nhà nào khoản đãi cơm ăn. Lễ rước kiệu do hàng trăm người dân trong làng tham gia Trong số 49 làng quan họ gốc của vùng Kinh Bắc, Làng Diềm là nơi duy nhất có đền thờ Thủy tổ Quan họ. Tiếng quan họ vang lên trong suốt lễ hội, những liền anh liền chị tình tứ trao nhau làn điệu duyên dáng và cảm ơn sự yêu mến của du khách. Tương truyền rằng, Đức Vua Bà là con gái vua Hùng. Đến tuổi cập kê, nhà vua tổ chức hội cướp cầu để kén chọn phò mã. Tuy nhiên Bà đã không chấp nhận sánh duyên cùng người thắng cuộc mà lại xin vua cha ân điển cho được chu du sơn thủy một thời gian. Thi cờ tướng bên hông Đình Khi Bà cùng các thị nữ vừa ra khỏi kinh thành thì một cơn mưa lớn ập đến, giông gió nổi lên dữ dội. Một cơn lốc đã cuốn phăng cả đoàn người lên trời rồi giáng hạ xuống ấp Viêm Trang (thôn Viêm Xá ngày nay). Nơi đây vốn là một vùng đất hoang vu, Bà đã cho phá đất, đắp bờ, lập nên ruộng đồng, làng xóm và dựng vợ gả chồng cho mọi người. Bà còn sáng tác nhiều bài ca và dạy cho các nam thanh nữ tú nghệ thuật ca hát bên cạnh việc dạy dân cách làm ruộng, trồng dâu, nuôi tằm.... Bởi vậy khi Bà mất, dân làng đã lập đền thờ và tôn vinh Bà là Đức Vương Mẫu, thành hoàng làng. Hàng năm vào ngày hội, dân làng dựng và diễn ở ngoài trời sự tích "Bà Chúa phát lệnh mở hội Xuân". Ngoài ra, trong hội còn có các hoạt động thể thao như: cầu lông, cờ tướng, cây đu, chọi gà... Ngoài phần tế lễ, dâng hương... hội còn tổ chức hát đón, hát thờ, hát đối, hát canh Quan họ tại đền Vua Bà và trên thuyền./.

Lễ hội làng Diềm Bắc Ninh được tổ chức hàng năm thể hiện sự tôn kính của người dân đối với Vua Bà-Thủy tổ quan họ

Làng Diềm là tên gọi dân gian của thôn Viêm Xá, xã Hòa Long, Bắc Ninh. Lễ hội Diềm là dịp để thể hiện sự tôn kính và lòng nhớ ơn của dân làng đối với Thủy tổ Quan họ và cũng là thời điểm để bà con cầu cho một năm mưa thuận, gió hòa, làm ăn phát đạt.

Lễ hội được diễn ra trong 3 ngày, trong đó ngày 25/3 (mùng 6/2 âm lịch) là chính hội. Hàng trăm người dân trong làng tham gia Lễ rước kiệu trong sự uy nghiêm, xuất phát ở đền Vua Bà sang đình làng, đến đền Cùng rồi quay lại đền Vua Bà. Theo truyền thống, dân làng tổ chức lấy nước ở giếng Ngọc làm lễ bao sái rồi sau đó mới tiến hành tế lễ.

Du khách đến hội Quan họ Diềm từ đêm trước đều được nghe những canh hát mừng thọ các cụ cao tuổi và những canh hát đãi khách thập phương tại nhà. Điều đáng nói của văn hóa Quan họ là dù khách đến hội lần đầu hay nhiều lần, dù khách quen hay khách lạ cũng được gia chủ của bất kỳ nhà nào khoản đãi cơm ăn.

Lễ rước kiệu do hàng trăm người dân trong làng tham gia

Trong số 49 làng quan họ gốc của vùng Kinh Bắc, Làng Diềm là nơi duy nhất có đền thờ Thủy tổ Quan họ. Tiếng quan họ vang lên trong suốt lễ hội, những liền anh liền chị tình tứ trao nhau làn điệu duyên dáng và cảm ơn sự yêu mến của du khách.

Tương truyền rằng, Đức Vua Bà là con gái vua Hùng. Đến tuổi cập kê, nhà vua tổ chức hội cướp cầu để kén chọn phò mã. Tuy nhiên Bà đã không chấp nhận sánh duyên cùng người thắng cuộc mà lại xin vua cha ân điển cho được chu du sơn thủy một thời gian.

Thi cờ tướng bên hông Đình

Khi Bà cùng các thị nữ vừa ra khỏi kinh thành thì một cơn mưa lớn ập đến, giông gió nổi lên dữ dội. Một cơn lốc đã cuốn phăng cả đoàn người lên trời rồi giáng hạ xuống ấp Viêm Trang (thôn Viêm Xá ngày nay).

Nơi đây vốn là một vùng đất hoang vu, Bà đã cho phá đất, đắp bờ, lập nên ruộng đồng, làng xóm và dựng vợ gả chồng cho mọi người. Bà còn sáng tác nhiều bài ca và dạy cho các nam thanh nữ tú nghệ thuật ca hát bên cạnh việc dạy dân cách làm ruộng, trồng dâu, nuôi tằm.... Bởi vậy khi Bà mất, dân làng đã lập đền thờ và tôn vinh Bà là Đức Vương Mẫu, thành hoàng làng. Hàng năm vào ngày hội, dân làng dựng và diễn ở ngoài trời sự tích "Bà Chúa phát lệnh mở hội Xuân".

Ngoài ra, trong hội còn có các hoạt động thể thao như: cầu lông, cờ tướng, cây đu, chọi gà...

Ngoài phần tế lễ, dâng hương... hội còn tổ chức hát đón, hát thờ, hát đối, hát canh Quan họ tại đền Vua Bà và trên thuyền./.

Related Figures

Lễ hội chùa Bái Đính - Ninh Bình

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/1- 30/3 Âm lịch Chùa Bái Đính Ninh Bình có diện tích rộng 80 ha, nằm phía bên kia núi so với chùa cổ và ở phía tây cố đô Hoa Lư. Đây là một quần thể công trình lớn gồm nhiều hạng mục, kiến trúc chính: điện Quan Âm, điện Tam Thế, điện Pháp Chủ, Bảo Tháp, Tháp Chuông và các công trình hạ tầng, phụ trợ, khu học viện Phật giáo, khu đón tiếp... được xây dựng trong nhiều giai đoạn khác nhau. Kiến trúc khu chùa mới nổi bật với những hình khối lớn, hoành tráng mang đậm dấu ấn kiến trúc Việt Nam/p> Kiến trúc khu chùa mới nổi bật với những hình khối lớn, hoành tráng mang đậm dấu ấn kiến trúc Việt Nam và được sử dụng nguyên vật liệu chính ở địa phương như đá xanh Ninh Bình, gỗ tứ thiết, ngói men Bát Tràng màu nâu sẫm... Điều khác biệt nhất ở kiến trúc chùa Bái Đính là ở vòm mái màu nâu sẫm cong vút hình đuôi chim phượng, không giống với nét thẳng thô của chùa Trung Quốc. Các chi tiết trang trí kiến trúc chùa cũng thể hiện đậm nét dấu ấn của các làng nghề truyền thống nổi tiếng ở Việt Nam. Chùa Bái Đính được xây dựng với bàn tay của 500 nghệ nhân gồm rất nhiều tổ thợ đến từ những làng nghề nổi tiếng như trạm khắc đá Ninh Vân, đúc đồng Ý Yên, mộc Phúc Lộc, thêu ren Văn Lâm, trạm bạc Đồng Xâm, sơn mài Cát Đằng,... Các nghệ nhân này được sử dụng các vật liệu địa phương như đá xanh Ninh Bình, gỗ lim, ngói men Bát Tràng... để tạo nên nét thuần Việt trong kiến trúc chùa Bái Đính. Quần thể chùa Bái Đính có diện tích 80 ha Điều đặc biệt ở chùa Bái Đính là không gian nơi đây luôn mở. Ngay từ khi xây dựng với đại tượng Phật đặt ở ngoài trời đã thu hút rất đông các đoàn người đến hành hương. Du khách có thể đi bất cứ nơi nào để quan sát chiêm ngưỡng các bộ phận công trình đang hình thành. Chùa Bái Đính đã được báo giới ca ngợi là một ngôi chùa nổi tiếng với những kỷ lục châu Á và khu vực. Những kỷ lục của chùa Bái Đính được xác lập gồm có: Tượng phật bằng đồng dát vàng lớn nhất châu Á: Tượng đồng nặng 100 tấn ở trong điện Pháp Chủ Tượng phật Di lặc bằng đồng lớn nhất Đông Nam Á: tượng phật Di lặc nặng 100 tấn ngoài trời. Chuông đồng lớn nhất Việt Nam: Đại hồng chung nặng 36 tấn trong Tháp Chuông. Khu chùa rộng nhất Việt Nam: tổng diện tích 539 ha (riêng chùa cổ 27 ha, chùa mới 80 ha). Khu chùa có hành lang La Hán dài nhất châu Á: hành lang La Hán dài gần 3 km. Khu chùa có nhiều tượng La Hán nhất Việt Nam: 500 vị La Hán bằng đá xanh cao khoảng 2m. Khu chùa có giếng ngọc lớn nhất Việt Nam. Khu chùa có số cây bồ đề nhiều nhất Việt Nam: 100 cây bồ đề được chiết từ cây bồ đề Ấn Lễ hội chùa Bái Đính là một lễ hội xuân, diễn ra từ chiều ngày mùng 1 tết, khai mạc ngày mùng 6 tết và kéo dài đến hết tháng 3 âm lịch, khởi đầu cho những lễ hội hành hương tiếp theo về vùng đất cố đô Hoa Lư -Ninh Bình. Ngoài thời gian trên trong năm, du khách đến chùa Bái Đính chỉ có thể vãn cảnh chùa mà không được thăm thú các hoạt động văn hóa của lễ hội. Lễ hội chùa Bái Đính gồm có 2 phần. Phần lễ gồm các nghi thức thắp hương thờ Phật, lễ tế thần Cao Sơn, tưởng nhớ công đức Thánh Nguyễn Minh Không và chầu thánh Mẫu Thượng Ngàn. Phần hội bắt đầu bằng nghi thức rước kiệu mang bài vị thờ Thần Cao Sơn, Đức Thánh Nguyễn và Bà chúa Thượng Ngàn từ khu chùa cổ ra khu chùa mới. Tượng Phật bằng đồng dát vàng lớn nhất Châu Á Phần hội chùa Bái Đính gồm có thăm thú hang động, vãn cảnh chùa, các trò chơi dân gian, thưởng thức nghệ thuật hát Chèo, Xẩm, Ca trù đất Cố đô. Phần sân khấu hóa thường do Nhà hát Chèo Ninh Bình đảm nhiệm, tái hiện lễ đăng đàn xã tắc của vua Đinh Tiên Hoàng và lễ tế cờ của Vua Quang Trung trên núi Đính trước giờ xung trận. Lễ hội chùa Bái Đính là một lễ hội lớn với ưu thế của một quần thể chùa rộng, thu hút đông đảo du khách tham gia. Do có những điển tích gắn với các vị vua Đinh Tiên Hoàng, vua Quang Trung, vua Lê Thánh Tông và tín ngưỡng thờ thánh Nguyễn, thần Cao Sơn, Bà chúa thượng ngàn nên lễ hội chùa Bái Đính vừa có sự sùng bái tự nhiên, vừa thể hiện tín ngưỡng đạo Phật, đạo Mẫu lại có cả Nho giáo./.

Related Figures

Lễ hội ông tổ lò rèn

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 7/1 Âm lịch Để tưởng nhớ đến công ơn của bậc tiên tổ đã truyền nghề sinh nhai cho nhân dân trong vùng, hàng năm vào ngày 07 tháng giêng tại đền thánh “thợ”, Lễ hội nghề rèn truyền thống được tổ chức dưới chân Rú Tiên (núi Tiên) thuộc phường Trung Lương, Thị xã Hồng Lĩnh (Hà Tĩnh). Hai phường Đức Thuận và Trung Lương thuộc thị xã Hồng Lĩnh có nghề rèn nổi tiếng Hai làng cổ Vân Chàng và Minh Lang nằm dưới chân núi Hồng Lĩnh, tương truyền được lập từ đời Lý (thế kỷ 11), nay là hai phường Đức Thuận và Trung Lương thuộc thị xã Hồng Lĩnh có nghề rèn nổi tiếng. Nghề rèn của làng tiếp tục được duy trì và ngày càng tinh xảo từ đời này qua đời khác. Nghệ nhân rèn phường Trung Lương đi truyền nghề khắp nơi trong Nam, ngoài Bắc. Sản phẩm rèn phường Trung Lương được người dân trong nước và thế giới rất tin dùng, ưa chuộng. Ông Đùng tương truyền là tổ sư nghề rèn ở đây. Ông ở trên núi Hồng Lĩnh, thấy dân không có dụng cụ sản xuất, bèn bới đất lấy sắt, nhổ cây rừng đốt thành than để rèn các dụng cụ lao động phát cho mọi người. Từ đó càng có nhiều người trong vùng đến xin học nghề. Ông vui vẻ truyền nghề lại cho dân làng. Những người học được nghề đầu tiên đã lập nên làng rèn phường Trung Lương. Về sau dân làng tưởng nhớ công đức của ông đã đúc tượng lập đền thờ tại Rú Tiên, nằm ngay giữa làng và gọi là đền thờ ông Thánh Thợ. Cũng có một cách giải thích khác về truyền thống làng nghề ở phường Trung Lương. Truyện kể rằng, ngày xưa có hai anh em thợ rèn họ Trương đến đây lập nghiệp. Ít lâu sau, người anh Trương Như ở lại truyền nghề cho dân làng Trung Lương. Người em vào tận Cố đô Huế lập nên làng rèn Hiền Lương. Để nhớ ơn công lao to lớn của người đã dạy nghề cho dân làng, nên trong đền làng Trung Lương xây vào năm 1880 có hai câu đối nhắc đến anh em "Trung - Hiền": "Trước sau Trung Hiền đều sánh bước Xưa nay lương thiện đã thành lề" Trịnh trọng thắp hương chánh tế hành lễ. Cầu mong cho làng nghề phát triển bền vững. Ông Kiều Minh Nhật, một người thợ rèn cao niên trong làng cho biết: “Thợ rèn phường Trung Lương thời kỳ nào cũng tài hoa. Khi đất nước hữu sự, họ đem tay nghề của mình giúp nước, cứu dân. Thời Cần Vương, thầy trò cố Đường đã tình nguyện đem lò bệ của mình lên đại ngàn rèn đao, kiếm cho nghĩa quân cụ Phan Đình Phùng. Cố Đường cùng với ông Cao Thắng đã chế thành công súng cho nghĩa quân. Trong kháng chiến chống Pháp, thợ rèn Phường Trung Lương đã rèn hàng vạn mã tấu, kiếm, dao găm, sản xuất hàng chục tấn lựu đạn,hơn 2.000 khẩu súng kíp, phục vụ dân quân, bộ đội.Nghề rèn của Phường Trung Lương nay vẫn còn tồn tại, cung cấp công cụ sản xuất và đồ gia dụng cho nhân dân trong vùng. Về với Phường Trung Lương hôm nay, bạn sẽ thấy rất vui bởi từ cán bộ địa phương đến từng người làm nghề đều có ý thức vươn lên để hàng của mình cạnh tranh được với hàng ngoại nhập, đồng thời cũng là để bảo lưu nghề truyền thống mà ông cha đã để lại.” Ông Lê Bá Lợi chủ tịch UBMTTQ Thị Xã Hồng Lĩnh nhấn mạnh, rất cần sự quan tâm xứng đáng của các ngành các cấp từ trung ương đến địa phương để phát huy truyền thống uống nước nhớ nguồn và bảo lưu lễ hội cũng như xây dựng tôn tạo cụm di tích lịch sử giàu truyền thống gắn liền với truyền thuyết dân gian, mang đậm dấu ấn lịch sử này ngày một phát triển xứng tầm với xu thế phát triển xã hội, để cụm di tích đền thánh “thợ rèn” và lễ hội trở thành một nét văn hoá đặc trưng trong các lễ hội truyền thống dân gian đầu xuân. Từ đó góp phần làm cho phường Trung Lương trở thành một điểm sáng phát triển kinh tế du lịch văn hoá dân gian bên cụm danh thắng Núi Hồng - Sông Lam - đền “Thánh thợ ” chùa Thiên Tượng nghìn năm tươi đẹp./.

Để tưởng nhớ đến công ơn của bậc tiên tổ đã truyền nghề sinh nhai cho nhân dân trong vùng, hàng năm vào ngày 07 tháng giêng tại đền thánh “thợ”, Lễ hội nghề rèn truyền thống được tổ chức dưới chân Rú Tiên (núi Tiên) thuộc phường Trung Lương, Thị xã Hồng Lĩnh (Hà Tĩnh).

Hai phường Đức Thuận và Trung Lương thuộc thị xã Hồng Lĩnh có nghề rèn nổi tiếng

Hai làng cổ Vân Chàng và Minh Lang nằm dưới chân núi Hồng Lĩnh, tương truyền được lập từ đời Lý (thế kỷ 11), nay là hai phường Đức Thuận và Trung Lương thuộc thị xã Hồng Lĩnh có nghề rèn nổi tiếng. Nghề rèn của làng tiếp tục được duy trì và ngày càng tinh xảo từ đời này qua đời khác. Nghệ nhân rèn phường Trung Lương đi truyền nghề khắp nơi trong Nam, ngoài Bắc. Sản phẩm rèn phường Trung Lương được người dân trong nước và thế giới rất tin dùng, ưa chuộng. Ông Đùng tương truyền là tổ sư nghề rèn ở đây. Ông ở trên núi Hồng Lĩnh, thấy dân không có dụng cụ sản xuất, bèn bới đất lấy sắt, nhổ cây rừng đốt thành than để rèn các dụng cụ lao động phát cho mọi người. Từ đó càng có nhiều người trong vùng đến xin học nghề. Ông vui vẻ truyền nghề lại cho dân làng. Những người học được nghề đầu tiên đã lập nên làng rèn phường Trung Lương. Về sau dân làng tưởng nhớ công đức của ông đã đúc tượng lập đền thờ tại Rú Tiên, nằm ngay giữa làng và gọi là đền thờ ông Thánh Thợ. Cũng có một cách giải thích khác về truyền thống làng nghề ở phường Trung Lương. Truyện kể rằng, ngày xưa có hai anh em thợ rèn họ Trương đến đây lập nghiệp. Ít lâu sau, người anh Trương Như ở lại truyền nghề cho dân làng Trung Lương. Người em vào tận Cố đô Huế lập nên làng rèn Hiền Lương. Để nhớ ơn công lao to lớn của người đã dạy nghề cho dân làng, nên trong đền làng Trung Lương xây vào năm 1880 có hai câu đối nhắc đến anh em "Trung - Hiền": "Trước sau Trung Hiền đều sánh bước Xưa nay lương thiện đã thành lề" Trịnh trọng thắp hương chánh tế hành lễ. Cầu mong cho làng nghề phát triển bền vững. Ông Kiều Minh Nhật, một người thợ rèn cao niên trong làng cho biết: “Thợ rèn phường Trung Lương thời kỳ nào cũng tài hoa. Khi đất nước hữu sự, họ đem tay nghề của mình giúp nước, cứu dân. Thời Cần Vương, thầy trò cố Đường đã tình nguyện đem lò bệ của mình lên đại ngàn rèn đao, kiếm cho nghĩa quân cụ Phan Đình Phùng. Cố Đường cùng với ông Cao Thắng đã chế thành công súng cho nghĩa quân. Trong kháng chiến chống Pháp, thợ rèn Phường Trung Lương đã rèn hàng vạn mã tấu, kiếm, dao găm, sản xuất hàng chục tấn lựu đạn,hơn 2.000 khẩu súng kíp, phục vụ dân quân, bộ đội.Nghề rèn của Phường Trung Lương nay vẫn còn tồn tại, cung cấp công cụ sản xuất và đồ gia dụng cho nhân dân trong vùng. Về với Phường Trung Lương hôm nay, bạn sẽ thấy rất vui bởi từ cán bộ địa phương đến từng người làm nghề đều có ý thức vươn lên để hàng của mình cạnh tranh được với hàng ngoại nhập, đồng thời cũng là để bảo lưu nghề truyền thống mà ông cha đã để lại.” Ông Lê Bá Lợi chủ tịch UBMTTQ Thị Xã Hồng Lĩnh nhấn mạnh, rất cần sự quan tâm xứng đáng của các ngành các cấp từ trung ương đến địa phương để phát huy truyền thống uống nước nhớ nguồn và bảo lưu lễ hội cũng như xây dựng tôn tạo cụm di tích lịch sử giàu truyền thống gắn liền với truyền thuyết dân gian, mang đậm dấu ấn lịch sử này ngày một phát triển xứng tầm với xu thế phát triển xã hội, để cụm di tích đền thánh “thợ rèn” và lễ hội trở thành một nét văn hoá đặc trưng trong các lễ hội truyền thống dân gian đầu xuân. Từ đó góp phần làm cho phường Trung Lương trở thành một điểm sáng phát triển kinh tế du lịch văn hoá dân gian bên cụm danh thắng Núi Hồng - Sông Lam - đền “Thánh thợ ” chùa Thiên Tượng nghìn năm tươi đẹp./.

Related Figures

Hội Chen

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 6/1 Âm lịch Làng Ngà là tên nôm của làng Nga Hoàng ở Quế Võ, trấn Kinh Bắc xưa, ngày nay thuộc địa phận tỉnh Bắc Ninh. Đã từ lâu, cứ vào ngày mồng 6 tháng giêng người dân nơi đây lại làm lễ rước thần, tên của lễ hội này là Hội Chen.. Đám rước xuất phát từ miếu thờ nữ thần Linh Sơn Mỵ Nương (cái tên Mỵ Nương khiến người ta liên tưởng tới thời Hùng Vương). Trong không khí nghiêm trang nhất, quan chủ tế cùng bồi tế và các ông già bà cả sẽ cầu thần khấn niệm với lòng thành kính, thì từ một góc khuất nào đó tiếng ồn ào nổi lên. Thì ra việc CHEN đã chính thức bắt đầu. Đó là khi người đàn ông, thanh niên,con trai hay các ông già đổ xô đến chỗ những người phụ nữ, con gái và các cụ bà mà chen vai thích cánh. Họ giằng co nha, xô đẩy nhau, chen lẫn lộn vào nhau, sau đó bật nhau ra một góc bên một cái giếng hay bờ tường, gốc cây hay một lối rẽ... Nhưng tất cả chỉ như một tiếng cười, một thứ nhạc nền hiện đại mà không có bất cứ tiếng la ó tục tằn nào. Cứ như là đã được sắp đặt sẵn, hẹn hò từ trước đó, dưới bàn tay một người đạo diễn vô hình. Cuộc chen lấn xảy ra như một cơn giông đến vội vã, chỗ nào, biết đâu, ai kia, bàn tay không chạm sát, hương má ửng hồng chẳng kề bên bờ vai vạm vỡ người đàn ông hằng mơ ước... Giây lát, cuộc chen bỗng nhiên im phăng phắc, người người lại chắp tay cầu khấn thần linh: "Lạy thánh mớ bái, cầu xin phù hộ cho xóm làng già trẻ khỏe mạnh, bình yên..." Rước kiệu tại hội Chen Cuộc rước lại được tiếp tục trong trống rong cờ mở, rước quanh làng trong sắc xuân tươi rói, bất chấp trời nắng hay trời mưa. Nhưng rồi đột nhiên một cuộc chen mới lại tái diễn, lúc này thì ngược lại, những người con gái, phụ nữ, cụ bà chen vào phía những người con trai, đàn ông, cụ ông... trong tiếng cười vui thích, hả hê. Biển người chen nhau trong lễ hội Lúc sau, đám rước lại tiếp tục như chưa có chuyện gì xảy ra cho đến khi đám rước dừng chân tại điểm kết thúc. Nhưng vẫn chưa kết thúc, lúc này một cuộc chen mới lại nổ ra như sấm sét. Đó là lúc những người phụ nữ, con gái của làng đi tìm khách đàn ông đến dự hội để chen... Khách trốn vào nhà cũng bị họ lôi ra, trèo lên cây cũng bị họ lôi xuống, cứ chen ra sân, ra đường, ra đình, ra miếu... . Đáng chú ý hơn là các cô gái còn vào những nhà ai đang có khách, họ lễ phép thưa gửi với chủ nhà xong xuôi rồi mới kéo khách ra để chen; họ chen trong cái thế chủ động nhưng cũng rất lễ phép. Hội Chen sôi động cả xóm làng, khiến không ai, không điều gì có thể ngăn được. Du khách nước ngoài tham dự lễ hội Mấy ngày sau đó, đám tế lễ vẫn được người dân cử hành như thường lệ tại khu đền thờ Nam Thần hay còn gọi là Đống Vành. Và lần này cũng không thiếu các cuộc chen, khi thì gái chen nam, lúc thì nam chen nữ.... cho tới đêm rằm, cuộc tế lễ và rước thần sẽ kết thúc tại miếu nữ thần... Hơn nửa thế kỷ nay, hội Chen gần như đã mất. Đến nay cũng chưa có ai đứng ra kêu gọi phục hồi, bởi phong tục và nếp sống của người Việt Nam đã khác xưa nhiều lắm. Để phục hồi một phong tục quả là điều không dễ chút nào. Nhắc lại một nét xưa để chúng ta thấy được người Kinh Bắc có những phong tục tuyền thống trữ tình, dí dỏm và yêu đời. Và có lẽ đây cũng chính là tàn dư của những tục lệ vốn thờ phồn thực, múa tùng hoặc, thờ Linga, tế nõn nường... để cầu xin sinh sôi và phát huy nòi giống.

Related Figures

Lễ hội Yên Thế tháng 3 dương lịch hàng năm

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 16/3- 15/3 Âm lịch Lễ hội Yên Thế thường được tổ chức vào ngày 16 tháng 3 dương lịch hàng năm, tại thị trấn Cầu Gỗ của huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang. Lễ hội được lập ra từ năm 1984 - lễ kỷ niệm 100 năm ngày khởi nghĩa Yên Thế .Từ đó, lễ kỷ niệm này đã trở thành một lễ hội của người dân tỉnh Bắc Giang. Lễ hội Yên Thế tại tỉnh Bắc Giang Lễ hội Yên Thế được tổ chức tại khu đền Thề, nằm đối diện với khu đồn Phồn Xương. Ngoài khu trung tâm này ra, hội còn được tổ chức tại các địa điểm công cộng trên đất Cầu Gồ ở quanh khu đồn Phồn Xương. Vào ngày 16 tháng 3 dương lịch hàng năm. Từ sáng sớm tinh mơ, từ khắp các ngả đường của huyện Yên Thế, Tân Yên, người người nườm nượp kéo nhau đi xem hội. Người ta đi thành ừng đoàn, từng tốp... không khí tưng bừng phấn khởi, người đi đông chật cả đường đi. Tại khu tập kết, các đoàn tham gia lễ hội đã chuẩn bị quần áo chỉnh tề, hoá trang xong chỉ còn chờ giờ xuất phát hành lễ. Lễ diễu hành đi qua kỳ đài được cử hành để chuẩn bị cho khai hội Yên Thế. Đây cũng chính là cuộc biểu dương sức mạnh, biểu dương vẻ đẹp, sự uy nghi cho cho không khí ngày hội Yên Thế. Các đoàn quân nối tiếp nhau tiến qua lễ đài với các biểu tượng và trang phục mang phong cách riêng của mình trong tiếng trống, tiếng chiêng vang lên trong núi rừng Yên Thế. Một tiết mục văn nghệ tái hiện lại khởi nghĩa Yên Thế Sau khi lễ diễu hành kết thúc sẽ bắt đầu tổ chức các trò vui ở nhiều địa điểm. Học sinh các trường sẽ thi cắm trại tại khu sườn đồi đối diện với khu đồn Phồn Xương. Sới vật bắt đầu mở ra trong khu vực đền Thề. Các đô vật sẽ lên làm lễ xe đài và các trận thi đấu chính thức bắt đầu. Các đội văn nghệ và văn công chuyên nghiệp cũng bắt đầu các màn biểu diễn đặc sắc ban ngày cho bà con cùng xem. Ngoài ra, còn có các môn thi đấu thể thao như: bóng đá, cầu lông, bóng chuyền, mô tô bay, đu quay... Cứ như vậy, địa điểm nào trong khu vực Phồn Xương cũng thu hút được rất đông người xem và đến tham dự. Trong khu đền Thề, chùa Lèo và đền thờ Bà Ba Đề Thám, các cụ già cùng các vãi sẽ dâng hương lên lễ Phật, lễ đền. Người ra người vào đông không lúc nào ngớt. Khu nhà trưng bày các kỷ vật về cuộc khởi nghĩa Yên Thế cũng được mở cửa để phục vụ nhân dân các nơi đến hội. Không chỉ hấp dẫn bởi nội dung trên, lễ hội Yên Thế còn có nhiều hoạt động đặc sắc khác như: tổ chức diễu ngựa từ khi đình Hả - Tân Trung (Tân Yên) lên tới Phồn Xương, rước từ Nhã Nam để vào tham dự. Tổ chức tiết mục "Chàng trai Cầu Vồng Yên Thế gặp cô gái Nội Duệ, Cầu Lim", hay tiết mục lễ tế cờ của Hoàng Hoa Thám... các tiết mục này càng làm cho lễ hội Yên Thế thêm phong phú và có bản sắc văn hóa riêng. Tiết mục múa lân trong Lễ hội Yên Thế

Lễ hội Yên Thế thường được tổ chức vào ngày 16 tháng 3 dương lịch hàng năm, tại thị trấn Cầu Gỗ của huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang. Lễ hội được lập ra từ năm 1984 - lễ kỷ niệm 100 năm ngày khởi nghĩa Yên Thế .Từ đó, lễ kỷ niệm này đã trở thành một lễ hội của người dân tỉnh Bắc Giang.

Lễ hội Yên Thế tại tỉnh Bắc Giang

Lễ hội Yên Thế được tổ chức tại khu đền Thề, nằm đối diện với khu đồn Phồn Xương. Ngoài khu trung tâm này ra, hội còn được tổ chức tại các địa điểm công cộng trên đất Cầu Gồ ở quanh khu đồn Phồn Xương. Vào ngày 16 tháng 3 dương lịch hàng năm. Từ sáng sớm tinh mơ, từ khắp các ngả đường của huyện Yên Thế, Tân Yên, người người nườm nượp kéo nhau đi xem hội. Người ta đi thành ừng đoàn, từng tốp... không khí tưng bừng phấn khởi, người đi đông chật cả đường đi. Tại khu tập kết, các đoàn tham gia lễ hội đã chuẩn bị quần áo chỉnh tề, hoá trang xong chỉ còn chờ giờ xuất phát hành lễ. Lễ diễu hành đi qua kỳ đài được cử hành để chuẩn bị cho khai hội Yên Thế. Đây cũng chính là cuộc biểu dương sức mạnh, biểu dương vẻ đẹp, sự uy nghi cho cho không khí ngày hội Yên Thế. Các đoàn quân nối tiếp nhau tiến qua lễ đài với các biểu tượng và trang phục mang phong cách riêng của mình trong tiếng trống, tiếng chiêng vang lên trong núi rừng Yên Thế. Một tiết mục văn nghệ tái hiện lại khởi nghĩa Yên Thế Sau khi lễ diễu hành kết thúc sẽ bắt đầu tổ chức các trò vui ở nhiều địa điểm. Học sinh các trường sẽ thi cắm trại tại khu sườn đồi đối diện với khu đồn Phồn Xương. Sới vật bắt đầu mở ra trong khu vực đền Thề. Các đô vật sẽ lên làm lễ xe đài và các trận thi đấu chính thức bắt đầu. Các đội văn nghệ và văn công chuyên nghiệp cũng bắt đầu các màn biểu diễn đặc sắc ban ngày cho bà con cùng xem. Ngoài ra, còn có các môn thi đấu thể thao như: bóng đá, cầu lông, bóng chuyền, mô tô bay, đu quay... Cứ như vậy, địa điểm nào trong khu vực Phồn Xương cũng thu hút được rất đông người xem và đến tham dự. Trong khu đền Thề, chùa Lèo và đền thờ Bà Ba Đề Thám, các cụ già cùng các vãi sẽ dâng hương lên lễ Phật, lễ đền. Người ra người vào đông không lúc nào ngớt. Khu nhà trưng bày các kỷ vật về cuộc khởi nghĩa Yên Thế cũng được mở cửa để phục vụ nhân dân các nơi đến hội. Không chỉ hấp dẫn bởi nội dung trên, lễ hội Yên Thế còn có nhiều hoạt động đặc sắc khác như: tổ chức diễu ngựa từ khi đình Hả - Tân Trung (Tân Yên) lên tới Phồn Xương, rước từ Nhã Nam để vào tham dự. Tổ chức tiết mục "Chàng trai Cầu Vồng Yên Thế gặp cô gái Nội Duệ, Cầu Lim", hay tiết mục lễ tế cờ của Hoàng Hoa Thám... các tiết mục này càng làm cho lễ hội Yên Thế thêm phong phú và có bản sắc văn hóa riêng. Tiết mục múa lân trong Lễ hội Yên Thế

Related Figures

Lễ hội Bồ Đà

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 16/2- 18/2 Âm lịch Hội Bổ Đà diễn ra từ ngày 16, 17, 18 tháng 2 âm lịch hàng năm, tại khu vực núi Bổ Đà thuộc xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Hội Bổ Đà còn được gọi với cái tên khác là hội chùa Bổ. Cái tên này được đặt bởi trung tâm lễ hội tại khu vực chùa Bổ trong khu vực thôn Tiên Lát Thượng. Du khách chụp ảnh khi tham quan Lễ hội Bổ Đà Ngày vào hội Bổ Đà, cả một vùng núi Bổ Đà sẽ rực rỡ với những hàng cờ. Tiếng trống phách luôn rộn ràng khắp nơi. Người dân nơi đây đang chuẩn bị cho việc tế lễ ở đền Hạ- nơi thờ thánh mẫu và thực hiện lễ rước từ đền Hạ đến đền Trung để thực hiện nghi lễ bái vọng lên đền Thượng. Không khí tại đền Hạ trong ngày hội lúc nào cũng tưng bừng, náo nhiệt. Sáng ngày 17, đoàn rước sẽ cử hành rước từ đền Hạ lên đến đền Trung. Đám rước được phối hợp giữ nhà chùa với người dân trong làng. Đoàn rước sẽ đi qua đình Lát Hạ, chùa Núi, chùa Linh Chi, lên đến đền Trung. Kiệu và đồ rước sẽ được đóng tại đền Trung để người dân làng thực hiện nghi lễ bái vọng lên đền Thượng. Sau khi lễ này kết thúc sẽ là lễ hoàn cung. Du khách thập phương tham gia hội vẫn tiếp tục cùng dân làng lên núi thắp hương, cầu khấn trên đền Thượng và tiến lễ cúng Phật tại chùa Tứ Ân và chùa Quan Âm. Vườn tháp chùa Bổ Đà Đến với lễ hội Bổ Đà, du khách sẽ được chiêm ngưỡng một vùng danh thắng với nhiều truyền tích, huyền thoại thú vị về đá, về một trung tâm Phật giáo lớn của tỉnh Bắc Giang. Sẽ được tận mắt trông thấy tập tục thờ đá rất cổ kính của tỉnh Bắc Giang và sẽ được thấy cuộc sống tu hành nơi thiền viện của các nhà sư. Và cũng qua lễ hội này, du khách cũng sẽ cảm nhận được yếu tố văn hoá dân gian hoà quyện với tín ngưỡng Phật giáo để tạo nên sức sống cho lễ hội Bổ Đà. Tháng hai về với Bắc Giang để tham quan lễ hội Bổ Đà

Hội Bổ Đà diễn ra từ ngày 16, 17, 18 tháng 2 âm lịch hàng năm, tại khu vực núi Bổ Đà thuộc xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Hội Bổ Đà còn được gọi với cái tên khác là hội chùa Bổ. Cái tên này được đặt bởi trung tâm lễ hội tại khu vực chùa Bổ trong khu vực thôn Tiên Lát Thượng.

Du khách chụp ảnh khi tham quan Lễ hội Bổ Đà

Ngày vào hội Bổ Đà, cả một vùng núi Bổ Đà sẽ rực rỡ với những hàng cờ. Tiếng trống phách luôn rộn ràng khắp nơi. Người dân nơi đây đang chuẩn bị cho việc tế lễ ở đền Hạ- nơi thờ thánh mẫu và thực hiện lễ rước từ đền Hạ đến đền Trung để thực hiện nghi lễ bái vọng lên đền Thượng. Không khí tại đền Hạ trong ngày hội lúc nào cũng tưng bừng, náo nhiệt. Sáng ngày 17, đoàn rước sẽ cử hành rước từ đền Hạ lên đến đền Trung. Đám rước được phối hợp giữ nhà chùa với người dân trong làng. Đoàn rước sẽ đi qua đình Lát Hạ, chùa Núi, chùa Linh Chi, lên đến đền Trung. Kiệu và đồ rước sẽ được đóng tại đền Trung để người dân làng thực hiện nghi lễ bái vọng lên đền Thượng. Sau khi lễ này kết thúc sẽ là lễ hoàn cung. Du khách thập phương tham gia hội vẫn tiếp tục cùng dân làng lên núi thắp hương, cầu khấn trên đền Thượng và tiến lễ cúng Phật tại chùa Tứ Ân và chùa Quan Âm. Vườn tháp chùa Bổ Đà Đến với lễ hội Bổ Đà, du khách sẽ được chiêm ngưỡng một vùng danh thắng với nhiều truyền tích, huyền thoại thú vị về đá, về một trung tâm Phật giáo lớn của tỉnh Bắc Giang. Sẽ được tận mắt trông thấy tập tục thờ đá rất cổ kính của tỉnh Bắc Giang và sẽ được thấy cuộc sống tu hành nơi thiền viện của các nhà sư. Và cũng qua lễ hội này, du khách cũng sẽ cảm nhận được yếu tố văn hoá dân gian hoà quyện với tín ngưỡng Phật giáo để tạo nên sức sống cho lễ hội Bổ Đà. Tháng hai về với Bắc Giang để tham quan lễ hội Bổ Đà

Related Figures

Lễ hội Y Sơn

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/1- 17/1 Âm lịch Hội đền chùa Y Sơn ( còn được gọi là IA ) thường diễn ra vào ngày tết Thượng Nguyên ( tức 15 tháng Giêng âm lịch ) tại xã Hoà Sơn, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang. Đây là một lễ hội cổ truyền đã có từ lâu đời. Đền Ý Sơn thờ đức thánh Hùng Linh - người đã có công lao giúp vua Hùng đánh tan giặc Ân, mang lại sự bình yên cho dân tộc. Theo tục lệ, cứ 3 năm chùa sẽ mở một hội to một lần theo đúng nghi lễ cổ truyền ( trong 3 ngày: 15, 16, 17 tháng giêng ) còn các năm khác thường chỉ tổ chức hội lệ chỉ trong 1 ngày. Lễ hội Y Sơn tại Bắc Giang Nghi lễ trong 3 thường ngày được sắp đặt rất chặt chẽ: - Ngày 15: tất cả các giáp sẽ rước kiệu, chiêng trống, cờ quạt, tập trung về đền - nơi đang thờ thánh Hung Linh Công. Sau khi làm lễ tại đền xong, tất cả sẽ rước sang chùa bằng hai cỗ ngựa thần bằng gỗ (một bạch, một hồng được đặt trên giá gỗ có bánh xe. Lễ rước ngựa thần là tiết mục mở đầu cho một ngày hội rất đông vui. Khách trẩy hội thường đi thành đoàn theo rước kiệu tiếp nối dài từ đền sang đến chùa, đi qua núi Yên Ngựa. Khi đoàn rước đến chùa, ngựa thần sẽ được đặt vào vị trí nơi có bệ đứng trang nghiêm, sau đó rước nồi hương xuống nhà hội và đưa chuối dò vào chùa để tiến hành làm lễ. Cây chuối được chọn theo tiêu chuẩn đã đề ra, để cắm những cây dò. Đó là một thanh tre loại bánh tẻ, dài hai gióng và được vót sao cho chụm lại ở một đầu như hình bông hoa ( tương tự cây dò ở đền Sóc Sơn nhưng không nhuộm đỏ ). Bên bông hoa dò sẽ có một ré lúa sai bông mẩy hạt. Mỗi giáp sẽ làm 10 cây dò giống như vậy. Sáu mươi cây dò ( tức 6 giáp ) được cắm vào thân của cây chuối rồi rước vào chùa được gọi là rước dò. Bông hoa dò và ré lúa là thể hiện cho lòng thành cầu trì khấn phật cho mưa thuận gió hoà, cho mùa màng cây trái, tươi tốt và đơm hoa kết quả. Khi tế lễ kết thúc, những bông hoa dò này sẽ được phân phát về các giáp để biếu cho các cụ thất - bát - cửu thập niên trong làng. Tiếp sau sẽ là lễ: “ cuốn cờ đập đất ”. Tất cả các quan viên và trai đồ của các giáp sẽ mang theo chiêng trống, cờ quạt, mặc áo, quấn khăn, gon quần theo một nghi thức truyền thống, tiến đến một khoảng đất rộng khoảng gần một mẫu ( đã được chuẩn bị sẵn ) được điều khiểnbởi một ông quan viên, theo hiệu trống. Đoàn quân tiếp đuôi nhau đi theo hình vành chảo, cuốn thành 3 vòng. Vừa đi vừa đánh chiêng trống rầm rộ. Sau khi kéo thành hàng dài rồi sẽ gấp lại cắt thành chữ tâm và đứng thành ba hàng, cờ trống dàn đều. Theo tiếng trống và tiếng hô hiệu lệnh của quan viên điều khiển, đoàn quân sẽ thực hiện những động tác như: đứng nghiêm, ngồi xuống, vác cờ lên, hạ cờ xuống, quay trái, quay phải…có đến hàng chục động tác ăn nhịp với hồi trống. Tiếp theo sẽ đến lễ “kéo chữ ” hay xếp chữ. ở đây người dân thường xếp các chữ: tâm, nhân, đức bằng chữ Hán. - Ngày 16: tướng, quản tượng lên voi, xe đi vào chùa lễ Phật. Trên bành 5 cỗ voi sẽ có 5 người đàn ông quản tượng và kèm theo 5 nữ tướng. Cách lễ là lễ rún ( như đã kể trên ). Tiếp theo lại diễn lễ sẽ “cuốn cờ đập đất ” và “ kéo chữ ”. Tháng Giêng về Bắc Giang tham dự hội Y Sơn - Ngày 17: là ngày đông vui nhất, náo nhiệt nhất, cũng là ngày kết thúc hội. Sáng sớm ngày ôm ấy, tất cả tướng và quản, tất cả đều lên voi, ngựa. Trước khi vào chùa để làm lễ, năm quản tượng và năm nữ tướng đều phải trải qua 3 vòng khám. Đây là giờ phút trang nghiêm nhất, đòi hỏi các 5 tướng và 5 quản phải thể hiện thần sắc đúng “ sắc vụ tinh hoa, y mạo đoan nghiêm”. Đoàn khám tướng, quản có sáu kiệu, đi ba vòng qua hàng voi ngựa của các giáp. Khi kiệu rước và ngựa thần đi qua hàng của các tướng và quản, thì mắt phải nhìn thẳng không được chớp. Nét mặt hơi tươi cười, ngồi tư thế thẳng đường bệ. Việc khám do giáp thường được tiến hành một cách nghiêm túc và chính xác nhất. Sau khi 3 vòng khám kết thúc, tướng và quản nào đủ tiêu chuẩn thì sẽ được thưởng, khiếm khuyết thì bị phạt. Nghi thức lễ là lễ rún. Đây là buổi lễ tổ chức long trọng nhất, vui nhất. Khi nhìn các nam quản tượng và nữ tướng trong bộ trang phục lễ hội truyền thống với tư thế lễ rún mới thấy nhân dân ở đây đã phải kỳ công tập luyện như thế nào, những thao tác thường nhịp nhàng, uyển chuyển, nhưng cũng rất cung kính và đẹp mắt. Ngoài những cuộc tế lễ, dẫn rước được tổ chức theo nghi thức cổ truyền ra, hội còn tổ chức thêm nhiều trò chơi dân gian như bịt mắt bắt dê (con dê thật ), đánh đu, nhảy phỗng, diễn tuồng, cờ người, hát chèo và các trò chơi khác.

Related Figures

Lễ Hội Dinh Cô

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/2- 12/2 Âm lịch Lễ hội Dinh Cô được tổ chức trong 3 ngày, kể từ ngày mồng 10 cho đến hết ngày 12 tháng 2 âm lịch hàng năm, tại thị trấn Long Hải thuộc huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Dinh Cố là một ngôi miếu nhỏ thờ cúng một trinh nữ bị chết nước, nằm trên một mỏm đồi lộng gió ở bãi tắm Long Hải. Dinh Cô được người dân dựng lên từ lòng tin và sự tín ngưỡng đã có lâu đời trong người dân. Dinh Cô nơi thờ một trinh nữ bị chết nước Tương truyền, 186 năm về trước, xác của một người con gái khoảng 16 tuổi đã trôi dạt vào bãi, cô gái tên là Lê Thị Hồng Thuỷ, quê ở Phan Rang, cô gái theo cha Lê Văn Khương dong ghe bầu đi từ Trung vào Nam để đánh bắt cá và buôn bán, trao đổi hàng đan lát từ tre. Mỗi lần ghe bầu đi qua vùng biển Long Hải, Cô gái nhìn cảnh non nước hữu tình, thường ao ước sẽ được ở lại nơi đây chung sống. Vào một đêm bão tố, ông trời như chiều lòng Cô, đã đưa Cô theo con sóng dạt vào, nằm lại trên một bãi cát trắng xoá, nơi mà Cô đã từng mong ước được sống ở đó. Cát đùn lên như che chở, sóng vỗ muôn nghìn như lời ru cho Cô yên giấc. Dân làng xem Cô gái trẻ này là nữ thần thiêng liêng nên đã lập ngôi mộ của cô trên đồi, và dựng miếu thờ bên cạnh. Đầu tiên đây chỉ là một nấm mộ đất, miếu tre lá. Miếu và mộ đã thay đổi theo sự linh ứng ngày càng lan rộng. Một lần (vào khoảng năm 1966), ngôi miếu phát hoả, nên đã được trùng tu thành một ngôi đền khang trang hơn. Đầu năm 1990, Dinh Cô lại được trùng tu từ nguồn kinh phí quyên góp của du khách thập phương, nay đã trở thành một dinh thự kiên cố. Người dân Long Điền thực hiện nghi lễ rước Cô về Dinh Từ ngày có Dinh Cô để hương khói, ngư dân Long Hải như có thêm sức mạnh về tinh thần để đương đầu với vất vả và gian nan. Thành tích của mình, nhưng người dân ở đây thường gán cho Cô, thêu dệt thành nhiều câu chuyện huyền thoại thi vị, chủ yếu là chuyện Cô linh ứng giúp người dân hiền, nghèo khó vượt khó khăn. Sự tôn kính của người dân nơi đây dành cho Cô đã trở thành một tập quán, tín ngưỡng của người Long Hải, trong đó ẩn chứa khát vọng và niềm tin mãnh liệt về một cuộc sống thanh bình và thịnh vượng. Hàng năm, vào ngày lễ hội sẽ có hàng chục vạn khách thập phương đổ về từ miền Tây, thành phố Hồ Chí Minh, Bình Thuận, Lâm Đồng... họ lũ lượt kéo nhau về Long Hải dự "Giỗ Cô", người người chen chúc nhau trong rừng dương, trên bãi cát, trên những hành lang, khoảng trống tá túc qua đêm, để dự trọn 3 ngày hội. Có người còn phải đến trước mấy ngày mới mong tìm được chỗ trọ. Có gia đình còn mang theo cả con cái và đồ dùng nội trợ để ăn nghỉ tại chỗ. Đêm xuống buông màn, rừng dương lao xao và sóng biển rì rào, lấp loáng ánh trăng, trời lồng lộng gió... cảnh hữu tình này đã khiến người ta quên đi bao vất vả mà vui với cuộc hành hương có tính chất dã ngoại này. Hàng vạn du khách thập hương đổ xô về Long Điền xem lễ hội Dinh Cô Rạng sáng ngày 10 tháng 02 âm lịch, du khách đã bắt đầu viếng Cô. Thường mỗi người sẽ cầm trong tay một nhành huệ trắng vốn để tượng trưng cho sự thanh khiết. Giới trẻ ham vui, các cụ già thì sùng tín đều chen nhau để vượt 187 bậc để để dâng hương xin lộc ở đền chính điện. Đêm ngày 10 và 11 là đêm hội hoa đăng, ánh đèn sáng rực hoà lẫn với ánh trăng. Hàng vạn ghe thuyền đều quay mũi về Dinh chầu Cô, tiếng chiêng, tiếng trống vang lên thâu đêm. Lễ chính được tổ chức vào rạng sáng ngày 12. Từ chính điện, đoàn người đã chuẩn bị chỉnh tề cờ quạt ra bãi, lên thuyền, và tiến ra khơi làm lễ "Nghinh Cô". Lễ "Nghinh Cô" được cử hành rất long trọng. Vị Chánh bái sẽ dẫn đầu, đoàn học trò lễ tiếp bước theo sau, còn có cờ xí, lọng che, hoa đăng rực rỡ. Một chiếc ghe to sẽ được bày hướng án được xem là ghe dành để "Nghinh Cô". Ghe được vài chục chiếc ghe khác hộ tống. Đoàn ghe nối đuôi nhau ra khơi trong tiếng chiêng trống rộn ràng. Đến Mũi Nhỏ, nơi có ngôi mộ Cô, đoàn người xuống ghe và lên viếng mộ, nghênh đón rước Cô về Dinh. Đặc biệt, trong lễ "Nghinh Cô" này, còn duy trì được hình thức truyền thống là diễn xướng "Hát bả trạo". Màn biểu diễn múa rồng đắc sắc trước Dinh Cô Thú vị nhất của khách hữu tình không chỉ ở nội điện, mà là toàn quang cảnh bãi Long Hải trong những ngày lễ hội rộn ràng, đứng ở trên hành lang của chính điện, du khách sẽ có cảm giác như đang ở nơi giao thoa giữa biển và đất trời, giữa đời thực và hư, giữa sóng biển đang dập dềnh như dệt lụa và Dinh Cô về trong thế "phục long" đang muốn bay lên.

Lễ hội Dinh Cô được tổ chức trong 3 ngày, kể từ ngày mồng 10 cho đến hết ngày 12 tháng 2 âm lịch hàng năm, tại thị trấn Long Hải thuộc huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Dinh Cố là một ngôi miếu nhỏ thờ cúng một trinh nữ bị chết nước, nằm trên một mỏm đồi lộng gió ở bãi tắm Long Hải. Dinh Cô được người dân dựng lên từ lòng tin và sự tín ngưỡng đã có lâu đời trong người dân.

Dinh Cô nơi thờ một trinh nữ bị chết nước

Tương truyền, 186 năm về trước, xác của một người con gái khoảng 16 tuổi đã trôi dạt vào bãi, cô gái tên là Lê Thị Hồng Thuỷ, quê ở Phan Rang, cô gái theo cha Lê Văn Khương dong ghe bầu đi từ Trung vào Nam để đánh bắt cá và buôn bán, trao đổi hàng đan lát từ tre. Mỗi lần ghe bầu đi qua vùng biển Long Hải, Cô gái nhìn cảnh non nước hữu tình, thường ao ước sẽ được ở lại nơi đây chung sống. Vào một đêm bão tố, ông trời như chiều lòng Cô, đã đưa Cô theo con sóng dạt vào, nằm lại trên một bãi cát trắng xoá, nơi mà Cô đã từng mong ước được sống ở đó. Cát đùn lên như che chở, sóng vỗ muôn nghìn như lời ru cho Cô yên giấc. Dân làng xem Cô gái trẻ này là nữ thần thiêng liêng nên đã lập ngôi mộ của cô trên đồi, và dựng miếu thờ bên cạnh. Đầu tiên đây chỉ là một nấm mộ đất, miếu tre lá. Miếu và mộ đã thay đổi theo sự linh ứng ngày càng lan rộng. Một lần (vào khoảng năm 1966), ngôi miếu phát hoả, nên đã được trùng tu thành một ngôi đền khang trang hơn. Đầu năm 1990, Dinh Cô lại được trùng tu từ nguồn kinh phí quyên góp của du khách thập phương, nay đã trở thành một dinh thự kiên cố. Người dân Long Điền thực hiện nghi lễ rước Cô về Dinh Từ ngày có Dinh Cô để hương khói, ngư dân Long Hải như có thêm sức mạnh về tinh thần để đương đầu với vất vả và gian nan. Thành tích của mình, nhưng người dân ở đây thường gán cho Cô, thêu dệt thành nhiều câu chuyện huyền thoại thi vị, chủ yếu là chuyện Cô linh ứng giúp người dân hiền, nghèo khó vượt khó khăn. Sự tôn kính của người dân nơi đây dành cho Cô đã trở thành một tập quán, tín ngưỡng của người Long Hải, trong đó ẩn chứa khát vọng và niềm tin mãnh liệt về một cuộc sống thanh bình và thịnh vượng. Hàng năm, vào ngày lễ hội sẽ có hàng chục vạn khách thập phương đổ về từ miền Tây, thành phố Hồ Chí Minh, Bình Thuận, Lâm Đồng... họ lũ lượt kéo nhau về Long Hải dự "Giỗ Cô", người người chen chúc nhau trong rừng dương, trên bãi cát, trên những hành lang, khoảng trống tá túc qua đêm, để dự trọn 3 ngày hội. Có người còn phải đến trước mấy ngày mới mong tìm được chỗ trọ. Có gia đình còn mang theo cả con cái và đồ dùng nội trợ để ăn nghỉ tại chỗ. Đêm xuống buông màn, rừng dương lao xao và sóng biển rì rào, lấp loáng ánh trăng, trời lồng lộng gió... cảnh hữu tình này đã khiến người ta quên đi bao vất vả mà vui với cuộc hành hương có tính chất dã ngoại này. Hàng vạn du khách thập hương đổ xô về Long Điền xem lễ hội Dinh Cô Rạng sáng ngày 10 tháng 02 âm lịch, du khách đã bắt đầu viếng Cô. Thường mỗi người sẽ cầm trong tay một nhành huệ trắng vốn để tượng trưng cho sự thanh khiết. Giới trẻ ham vui, các cụ già thì sùng tín đều chen nhau để vượt 187 bậc để để dâng hương xin lộc ở đền chính điện. Đêm ngày 10 và 11 là đêm hội hoa đăng, ánh đèn sáng rực hoà lẫn với ánh trăng. Hàng vạn ghe thuyền đều quay mũi về Dinh chầu Cô, tiếng chiêng, tiếng trống vang lên thâu đêm. Lễ chính được tổ chức vào rạng sáng ngày 12. Từ chính điện, đoàn người đã chuẩn bị chỉnh tề cờ quạt ra bãi, lên thuyền, và tiến ra khơi làm lễ "Nghinh Cô". Lễ "Nghinh Cô" được cử hành rất long trọng. Vị Chánh bái sẽ dẫn đầu, đoàn học trò lễ tiếp bước theo sau, còn có cờ xí, lọng che, hoa đăng rực rỡ. Một chiếc ghe to sẽ được bày hướng án được xem là ghe dành để "Nghinh Cô". Ghe được vài chục chiếc ghe khác hộ tống. Đoàn ghe nối đuôi nhau ra khơi trong tiếng chiêng trống rộn ràng. Đến Mũi Nhỏ, nơi có ngôi mộ Cô, đoàn người xuống ghe và lên viếng mộ, nghênh đón rước Cô về Dinh. Đặc biệt, trong lễ "Nghinh Cô" này, còn duy trì được hình thức truyền thống là diễn xướng "Hát bả trạo". Màn biểu diễn múa rồng đắc sắc trước Dinh Cô Thú vị nhất của khách hữu tình không chỉ ở nội điện, mà là toàn quang cảnh bãi Long Hải trong những ngày lễ hội rộn ràng, đứng ở trên hành lang của chính điện, du khách sẽ có cảm giác như đang ở nơi giao thoa giữa biển và đất trời, giữa đời thực và hư, giữa sóng biển đang dập dềnh như dệt lụa và Dinh Cô về trong thế "phục long" đang muốn bay lên.

Người dân Long Điền thực hiện nghi lễ rước Cô về Dinh

Related Figures

Hội làng Đại Phú

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 16/1 Âm lịch (lehoi.info)-Làng Đại Phú là tên gọi chung của 2 thôn: Đại Phú 1 và Đại Phú 2 của xã Phi Mô, huyện Lạng Giang, Bắc Giang. Vào ngày 16 tháng giêng hàng năm thì làng Đại Phú sẽ mở hội - hội này là ngày hội chính trong năm. Trong ngày hội làng sẽ diễn ra lễ rước kiệu vào nhà sắc ở giữa làng để nghênh sắc ra đình để thắp hương thờ trong mấy hôm hội. Sau đó sẽ diễn ra lễ rước tại đền Giếng tế lễ và rước nước tại đền Giếng về tới đình. Lễ rước kiệu Đình Đại Phú thờ vị Thành hoàng là Cao Sơn - Quý Minh và Minh Giang đô thống. Tương truyền, trong khu vực làng xưa các nơi như: Non Cầu, Non Hương, Non Lẫm là các địa danh đã gắn với nhân vật anh hùng Cao Sơn - Quý Minh. Bởi thế cũng có những năm được mùa người dân làng này đều tổ chức lễ rước kiệu đi khắp địa vực để tưởng niệm và ghi nhớ công lao đánh giặc của Thánh hoàng làng năm xưa. Theo các cụ kể lại thì trước đây Non Lẫm là kho lương thực của Cao Sơn - Quý Minh. Non Cẩu là trại nuôi chó của 2 ngài. Non Hương là nơi đặt đại bản doanh và cũng là nơi để hai ngài hoá về trời vào ngày 12 tháng 8 âm lịch. Còn ngày 12 tháng giêng âm lịch là ngày sinh của 2 ngài. Đông đảo người dân đến xem hội Sau khi các vị bay về trời, người dân đã lập miếu thờ và đã được triều đình cho phép cúng thờ. Từ đó hai ngày này đã trở thành ngày sự lệ của làng. Dân làng Phú Xuyên xưa ( nay là Đại Phú ) cứ đến ngày 12 tháng giêng và 12 tháng 8, sẽ mở cửu đình và đền Giếng. Đại lễ hay lễ hội sẽ diễn ra vào ngày 16 tháng Giêng. Rước kiệu thành hoàng ra tới Giếng, nhà sắc, hay có năm rước lên đến tận Vôi, xuống tận Phố Giỏ rồi mới quay về đình, được gọi là tuần du địa vực. Ngày nay trên chùa Trúc Sơn vẫn mở cửa đón khách du thập phương về thắp hương lễ phật đầu xuân - Cầu cho mưa thuận gió hoà, mùa màng ngày càng tươi tốt, con cháu ngoan ngoãn, gia đình mạnh khoẻ, ấm no, hạnh phúc. Hát quan họ trong ngày hội Ngoài việc tế lễ, rước sách, ngày hội còn có các trò chơi dân gian như chọi gà, vật, kéo co, hát tuồng, chèo, diễn tích nhà phật và hát mừng nhà thánh. Hội Đại Phú ngày nay đã không còn tổ chức lễ rước sách nhưng đã bổ xung thêm một số trò mới cũng rất hấp dẫn. Đó là sự kết hợp hài hoà giữa nếp sống văn hoá mới và yếu tố văn hoá truyền thống khiến cho lễ hội Đại Phú có thêm sức sống.

Related Figures

Lễ Hội Chol ChNam Thmay của người Khmer

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 14/4- 16/4 Dương lịch (lehoi.info)-Lễ hội Chôl Chnam Thmây còn được gọi là "Lễ chịu tuổi" hay "Tết năm mới" . Là một lễ hội truyền thống của đồng bào dân tộc Khmer ở đồng bằng Nam bộ, rất giống với tết Nguyên Đán của người Việt. Lễ hội kéo dài trong 3 ngày của tháng Chétt (lịch Khmer), đó là ngày 14, 15, 16 tháng 4 Dương lịch (năm nhuận thêm ngày 13-4 dương lịch) tại chùa và ở các hộ gia đình. Một điệu múa người Khmer biểu diễn trong Lễ Hội Chol ChNam Thmay Thời xưa, nghi lễ quan trọng nhất trong ngày Tết năm mới này là "đắp núi cát" và "tắm Phật". Sùng đạo và thành tâm tôn kính đức Phật. Chùa là một nơi tôn nghiêm và cũng chính là nơi quy tụ của cả cộng đồng. Vì vậy tất cả các Lễ hội của người dân Khmer đều tập trung tại chùa. Trong 3 ngày Tết, không khí tại các ngôi chùa và các phum sóc Khmer trở nên náo nhiệt suốt ngày đêm. Tháng tư về... Không gian đã thông thoáng, khí trời lại mát mẽ, khô ráo và mùa màng cũng đã thu hoạch xong. Đây chính là thời điểm thuận lợi nhất, thoải mái nhất để người dân thong dong hưởng thụ những ngày lễ hội vui vẻ mà không phải lo toan điều gì. Chôl Chnam Thmây được tổ chức như những nghi lễ truyền thống, diễn ra trong 3 ngày: - Đêm Giao thừa từ đêm ngày 13 tháng 4, được thực hiện nghi lễ cúng tại nhà để đưa tiễn "Têvađa" cũ, sau đó rước "Têvađa" mới về. Đây cũng chính là một đêm "lễ đi tu" (bôn bâm bous) của những chàng trai nơi đây. Người Khmer tin rằng hàng năm sẽ có một vị Têvađa hạ xuống đây để chăm lo cho đời sống của người dân được an cư, lạc nghiệp. Ngày thứ nhất - Chôl sangkran Thmây (ngày đầu tiên của năm mới): Chọn giờ tốt nhất trong ngày, có thể là 7 giờ sáng hoặc 17 giờ, cũng có khi họ chọn 12 giờ đêm (tùy theo năm). Tất cả mọi người sẽ tắm gội sạch sẽ, mặc những bộ quần áo đẹp, trang trọng và lịch sự nhất, mang theo những lễ vật, hương, đèn vào chùa để làm lễ rước Đại lịch "Maha Sangkran", đồng thời sẽ diễu hành ba vòng xung quanh chính điện để chào đón Chư Thiên (Têvađa). Nghi lễ được một vị Achar được tôn kính nhất trong chùa hướng dẫn thực hiện, tất cả sẽ cùng nhau cầu nguyện, mong cho năm mới Têvađa về để phù hộ độ hộ trì cho mọi người có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Sau đó là đến lễ Phật. Tối đến sẽ tổ chức các trò chơi dân gian và biểu diễn các vũ điệu như múa Dù kê, Lâm thôn, Rôbăm... được mọi người thưởng ngoạn và cùng tham gia vui chơi rất náo nhiệt. Người dân đang dâng lễ vật cúng dường ở Lễ Hội Chol ChNam Thmay Ngày thứ hai - Wonbơf (năm nhuận tổ chức 2 ngày): Trước tiên mọi người sẽ lên chùa làm lễ dâng cơm sáng và cơm trưa (Wen Chông Ham) cho các vị sư chùa. Theo phong tục truyền thống của người Khmer. Vào các ngày Lễ, Tết, ngườidân tỏ lòng thành tâm tín ngưỡng bằng cách đem đồ ăn và các loại bánh trái cho các sư sãi. Đáp lại các nhà sư sẽ làm lễ cúng tạ ơn những người đã sản xuất ra hạt gạo, đã trồng trọt, chăn nuôi, tạo cho cuộc sống của người dân được ấm no, đầy đủ. Sau khi làm lễ mang thức ăn đến cho linh hồn của những người đã khuất, các nhà sư sẽ tiến hành nghi lễ chúc phúc cho những người đã có lòng đêm lễ vât đến cúng chùa. Vào buổi chiều, người ta sẽ tổ chức Lễ đắp núi cát (Puôn Phnon Khsach) để cầu nguyện duyên lành và tránh khỏi những kiếp nạn. Người dân Khmer quây quần cùng ăn cơm tại thánh đường Ngày thứ ba - Lơm săk: hay còn được gọi là ngày Lễ tắm Phật. Vào ngày này, các phật tử Khmer, sẽ mang thức ăn và hoa quả đến chùa từ sáng tinh mơ để dâng cơm lên các vị sư. Sau khi thọ thực kết thúc, thì các nghi lễ tắm Phật cũng chính thức bắt đầu: Trước tiên, các vị sư sẽ dùng nước tinh khiết có ướp các loại hương hoa thơm ngát. Họ dùng những cành hoa sau đó vẫy những giọt nước còn đọng trên hoa lên tượng Phật. Trong làn khói nghi ngút, người dân Khmer sẽ thành tâm cầu nguyện, cầu mong Phật Trời ban cho dân làng được sức khoẻ dồi dào, ruông rẫy luôn tốt tươi và trúng mùa. Họ cũng cầu chư Thiên phù hộ cho phum, sóc an lành, mọi người đều tai qua nạn khỏi và đạt thành những điều đã ước nguyện. Sau lễ tắm Phật, người Khmer sẽ tiến hành lễ tắm cho các nhà sư cao niên trong chùa. Sau đó sẽ là lễ Kha ma tôs, giống như lễ sám hối của người Việt. Sau đó mọi người sẽ theo các vị sư đến các tháp có đựng hài cốt và các nghĩa trang để tiến hành lễ Bâng Skâu (cầu siêu). Tất cả mọi người sẽ được vị Achar hướng dẫn để thành tâm cầu nguyện các linh hồn của những người thân của mình sớm được siêu thoát. Cuối cùng, sau khi kết thúc nghi lễ tắm Phật tại nhà. Tất cả con cháu trong gia đình sẽ trãi chiếu hoa, mời ông bà và cha mẹ ngồi vầo chiếu để nhận lời xin tha thứ về những thiếu sót hay sai lầm mà họ đã vấp phải trong năm qua, và hứa sẽ thành tâm sửa đổi. Sau khi đọc kinh cầu nguyện xong, họ cầu cho năm mới cả nhà sẽ luôn gặp được những điều tốt, vui vẻ, hạnh phúc, con cháu sẽ cùng dùng nước hoa thơm để tắm cho ông bà, cha mẹ để bày tỏ lòng nhớ đến công ơn họ đã sinh thành dưỡng dục

(lehoi.info)-Lễ hội Chôl Chnam Thmây còn được gọi là "Lễ chịu tuổi" hay "Tết năm mới" . Là một lễ hội truyền thống của đồng bào dân tộc Khmer ở đồng bằng Nam bộ, rất giống với tết Nguyên Đán của người Việt. Lễ hội kéo dài trong 3 ngày của tháng Chétt (lịch Khmer), đó là ngày 14, 15, 16 tháng 4 Dương lịch (năm nhuận thêm ngày 13-4 dương lịch) tại chùa và ở các hộ gia đình.

Một điệu múa người Khmer biểu diễn trong Lễ Hội Chol ChNam Thmay Thời xưa, nghi lễ quan trọng nhất trong ngày Tết năm mới này là "đắp núi cát" và "tắm Phật". Sùng đạo và thành tâm tôn kính đức Phật. Chùa là một nơi tôn nghiêm và cũng chính là nơi quy tụ của cả cộng đồng. Vì vậy tất cả các Lễ hội của người dân Khmer đều tập trung tại chùa. Trong 3 ngày Tết, không khí tại các ngôi chùa và các phum sóc Khmer trở nên náo nhiệt suốt ngày đêm. Tháng tư về... Không gian đã thông thoáng, khí trời lại mát mẽ, khô ráo và mùa màng cũng đã thu hoạch xong. Đây chính là thời điểm thuận lợi nhất, thoải mái nhất để người dân thong dong hưởng thụ những ngày lễ hội vui vẻ mà không phải lo toan điều gì. Chôl Chnam Thmây được tổ chức như những nghi lễ truyền thống, diễn ra trong 3 ngày: - Đêm Giao thừa từ đêm ngày 13 tháng 4, được thực hiện nghi lễ cúng tại nhà để đưa tiễn "Têvađa" cũ, sau đó rước "Têvađa" mới về. Đây cũng chính là một đêm "lễ đi tu" (bôn bâm bous) của những chàng trai nơi đây. Người Khmer tin rằng hàng năm sẽ có một vị Têvađa hạ xuống đây để chăm lo cho đời sống của người dân được an cư, lạc nghiệp. Ngày thứ nhất - Chôl sangkran Thmây (ngày đầu tiên của năm mới): Chọn giờ tốt nhất trong ngày, có thể là 7 giờ sáng hoặc 17 giờ, cũng có khi họ chọn 12 giờ đêm (tùy theo năm). Tất cả mọi người sẽ tắm gội sạch sẽ, mặc những bộ quần áo đẹp, trang trọng và lịch sự nhất, mang theo những lễ vật, hương, đèn vào chùa để làm lễ rước Đại lịch "Maha Sangkran", đồng thời sẽ diễu hành ba vòng xung quanh chính điện để chào đón Chư Thiên (Têvađa). Nghi lễ được một vị Achar được tôn kính nhất trong chùa hướng dẫn thực hiện, tất cả sẽ cùng nhau cầu nguyện, mong cho năm mới Têvađa về để phù hộ độ hộ trì cho mọi người có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Sau đó là đến lễ Phật. Tối đến sẽ tổ chức các trò chơi dân gian và biểu diễn các vũ điệu như múa Dù kê, Lâm thôn, Rôbăm... được mọi người thưởng ngoạn và cùng tham gia vui chơi rất náo nhiệt. Người dân đang dâng lễ vật cúng dường ở Lễ Hội Chol ChNam Thmay Ngày thứ hai - Wonbơf (năm nhuận tổ chức 2 ngày): Trước tiên mọi người sẽ lên chùa làm lễ dâng cơm sáng và cơm trưa (Wen Chông Ham) cho các vị sư chùa. Theo phong tục truyền thống của người Khmer. Vào các ngày Lễ, Tết, ngườidân tỏ lòng thành tâm tín ngưỡng bằng cách đem đồ ăn và các loại bánh trái cho các sư sãi. Đáp lại các nhà sư sẽ làm lễ cúng tạ ơn những người đã sản xuất ra hạt gạo, đã trồng trọt, chăn nuôi, tạo cho cuộc sống của người dân được ấm no, đầy đủ. Sau khi làm lễ mang thức ăn đến cho linh hồn của những người đã khuất, các nhà sư sẽ tiến hành nghi lễ chúc phúc cho những người đã có lòng đêm lễ vât đến cúng chùa. Vào buổi chiều, người ta sẽ tổ chức Lễ đắp núi cát (Puôn Phnon Khsach) để cầu nguyện duyên lành và tránh khỏi những kiếp nạn. Người dân Khmer quây quần cùng ăn cơm tại thánh đường Ngày thứ ba - Lơm săk: hay còn được gọi là ngày Lễ tắm Phật. Vào ngày này, các phật tử Khmer, sẽ mang thức ăn và hoa quả đến chùa từ sáng tinh mơ để dâng cơm lên các vị sư. Sau khi thọ thực kết thúc, thì các nghi lễ tắm Phật cũng chính thức bắt đầu: Trước tiên, các vị sư sẽ dùng nước tinh khiết có ướp các loại hương hoa thơm ngát. Họ dùng những cành hoa sau đó vẫy những giọt nước còn đọng trên hoa lên tượng Phật. Trong làn khói nghi ngút, người dân Khmer sẽ thành tâm cầu nguyện, cầu mong Phật Trời ban cho dân làng được sức khoẻ dồi dào, ruông rẫy luôn tốt tươi và trúng mùa. Họ cũng cầu chư Thiên phù hộ cho phum, sóc an lành, mọi người đều tai qua nạn khỏi và đạt thành những điều đã ước nguyện. Sau lễ tắm Phật, người Khmer sẽ tiến hành lễ tắm cho các nhà sư cao niên trong chùa. Sau đó sẽ là lễ Kha ma tôs, giống như lễ sám hối của người Việt. Sau đó mọi người sẽ theo các vị sư đến các tháp có đựng hài cốt và các nghĩa trang để tiến hành lễ Bâng Skâu (cầu siêu). Tất cả mọi người sẽ được vị Achar hướng dẫn để thành tâm cầu nguyện các linh hồn của những người thân của mình sớm được siêu thoát. Cuối cùng, sau khi kết thúc nghi lễ tắm Phật tại nhà. Tất cả con cháu trong gia đình sẽ trãi chiếu hoa, mời ông bà và cha mẹ ngồi vầo chiếu để nhận lời xin tha thứ về những thiếu sót hay sai lầm mà họ đã vấp phải trong năm qua, và hứa sẽ thành tâm sửa đổi. Sau khi đọc kinh cầu nguyện xong, họ cầu cho năm mới cả nhà sẽ luôn gặp được những điều tốt, vui vẻ, hạnh phúc, con cháu sẽ cùng dùng nước hoa thơm để tắm cho ông bà, cha mẹ để bày tỏ lòng nhớ đến công ơn họ đã sinh thành dưỡng dục

Thời xưa, nghi lễ quan trọng nhất trong ngày Tết năm mới này là "đắp núi cát" và "tắm Phật". Sùng đạo và thành tâm tôn kính đức Phật. Chùa là một nơi tôn nghiêm và cũng chính là nơi quy tụ của cả cộng đồng. Vì vậy tất cả các Lễ hội của người dân Khmer đều tập trung tại chùa. Trong 3 ngày Tết, không khí tại các ngôi chùa và các phum sóc Khmer trở nên náo nhiệt suốt ngày đêm. Tháng tư về... Không gian đã thông thoáng, khí trời lại mát mẽ, khô ráo và mùa màng cũng đã thu hoạch xong. Đây chính là thời điểm thuận lợi nhất, thoải mái nhất để người dân thong dong hưởng thụ những ngày lễ hội vui vẻ mà không phải lo toan điều gì. Chôl Chnam Thmây được tổ chức như những nghi lễ truyền thống, diễn ra trong 3 ngày: - Đêm Giao thừa từ đêm ngày 13 tháng 4, được thực hiện nghi lễ cúng tại nhà để đưa tiễn "Têvađa" cũ, sau đó rước "Têvađa" mới về. Đây cũng chính là một đêm "lễ đi tu" (bôn bâm bous) của những chàng trai nơi đây. Người Khmer tin rằng hàng năm sẽ có một vị Têvađa hạ xuống đây để chăm lo cho đời sống của người dân được an cư, lạc nghiệp. Ngày thứ nhất - Chôl sangkran Thmây (ngày đầu tiên của năm mới): Chọn giờ tốt nhất trong ngày, có thể là 7 giờ sáng hoặc 17 giờ, cũng có khi họ chọn 12 giờ đêm (tùy theo năm). Tất cả mọi người sẽ tắm gội sạch sẽ, mặc những bộ quần áo đẹp, trang trọng và lịch sự nhất, mang theo những lễ vật, hương, đèn vào chùa để làm lễ rước Đại lịch "Maha Sangkran", đồng thời sẽ diễu hành ba vòng xung quanh chính điện để chào đón Chư Thiên (Têvađa). Nghi lễ được một vị Achar được tôn kính nhất trong chùa hướng dẫn thực hiện, tất cả sẽ cùng nhau cầu nguyện, mong cho năm mới Têvađa về để phù hộ độ hộ trì cho mọi người có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Sau đó là đến lễ Phật. Tối đến sẽ tổ chức các trò chơi dân gian và biểu diễn các vũ điệu như múa Dù kê, Lâm thôn, Rôbăm... được mọi người thưởng ngoạn và cùng tham gia vui chơi rất náo nhiệt. Người dân đang dâng lễ vật cúng dường ở Lễ Hội Chol ChNam Thmay Ngày thứ hai - Wonbơf (năm nhuận tổ chức 2 ngày): Trước tiên mọi người sẽ lên chùa làm lễ dâng cơm sáng và cơm trưa (Wen Chông Ham) cho các vị sư chùa. Theo phong tục truyền thống của người Khmer. Vào các ngày Lễ, Tết, ngườidân tỏ lòng thành tâm tín ngưỡng bằng cách đem đồ ăn và các loại bánh trái cho các sư sãi. Đáp lại các nhà sư sẽ làm lễ cúng tạ ơn những người đã sản xuất ra hạt gạo, đã trồng trọt, chăn nuôi, tạo cho cuộc sống của người dân được ấm no, đầy đủ. Sau khi làm lễ mang thức ăn đến cho linh hồn của những người đã khuất, các nhà sư sẽ tiến hành nghi lễ chúc phúc cho những người đã có lòng đêm lễ vât đến cúng chùa. Vào buổi chiều, người ta sẽ tổ chức Lễ đắp núi cát (Puôn Phnon Khsach) để cầu nguyện duyên lành và tránh khỏi những kiếp nạn. Người dân Khmer quây quần cùng ăn cơm tại thánh đường Ngày thứ ba - Lơm săk: hay còn được gọi là ngày Lễ tắm Phật. Vào ngày này, các phật tử Khmer, sẽ mang thức ăn và hoa quả đến chùa từ sáng tinh mơ để dâng cơm lên các vị sư. Sau khi thọ thực kết thúc, thì các nghi lễ tắm Phật cũng chính thức bắt đầu: Trước tiên, các vị sư sẽ dùng nước tinh khiết có ướp các loại hương hoa thơm ngát. Họ dùng những cành hoa sau đó vẫy những giọt nước còn đọng trên hoa lên tượng Phật. Trong làn khói nghi ngút, người dân Khmer sẽ thành tâm cầu nguyện, cầu mong Phật Trời ban cho dân làng được sức khoẻ dồi dào, ruông rẫy luôn tốt tươi và trúng mùa. Họ cũng cầu chư Thiên phù hộ cho phum, sóc an lành, mọi người đều tai qua nạn khỏi và đạt thành những điều đã ước nguyện. Sau lễ tắm Phật, người Khmer sẽ tiến hành lễ tắm cho các nhà sư cao niên trong chùa. Sau đó sẽ là lễ Kha ma tôs, giống như lễ sám hối của người Việt. Sau đó mọi người sẽ theo các vị sư đến các tháp có đựng hài cốt và các nghĩa trang để tiến hành lễ Bâng Skâu (cầu siêu). Tất cả mọi người sẽ được vị Achar hướng dẫn để thành tâm cầu nguyện các linh hồn của những người thân của mình sớm được siêu thoát. Cuối cùng, sau khi kết thúc nghi lễ tắm Phật tại nhà. Tất cả con cháu trong gia đình sẽ trãi chiếu hoa, mời ông bà và cha mẹ ngồi vầo chiếu để nhận lời xin tha thứ về những thiếu sót hay sai lầm mà họ đã vấp phải trong năm qua, và hứa sẽ thành tâm sửa đổi. Sau khi đọc kinh cầu nguyện xong, họ cầu cho năm mới cả nhà sẽ luôn gặp được những điều tốt, vui vẻ, hạnh phúc, con cháu sẽ cùng dùng nước hoa thơm để tắm cho ông bà, cha mẹ để bày tỏ lòng nhớ đến công ơn họ đã sinh thành dưỡng dục

Related Figures

Lễ hội Quán âm Nam Hải

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 22/3- 24/3 Âm lịch (lehoi.info)-Lễ hội Quán âm Nam Hải ở tỉnh Bạc Liêu là một trong những lễ hội dân gian mang nét đẹp đặc trưng của người dân miền biển ở Bạc Liêu, đã được Ban Trị sự Phật giáo tỉnh đứng ra tổ chức trong 3 ngày từ ngày 22 đến ngày 24 tháng 3 âm lịch hàng năm, tại khu Quán âm Phật đài thuộc phường Xa Mát, thị xã Bạc Liêu. Lễ hội đã thu hút hàng vạn phật tử, tăng ni, người dân và du khách khắp nơi về dự, bởi sự linh hiển của Quán Âm Phật Đài. Lễ hội Quán âm Nam Hải tại Bạc Liêu thu hút nhiều Phật tử và khách thập phương đến tham dự Công trình tượng Bồ tát Quan Thế Âm được xây dựng từ năm 1973, là một pho tượng cao trên 10 mét, hướng mặt ra biển và cũng chính là biểu tượng bình an của người dân biển Bạc Liêu. Khởi phát từ tín ngưỡng của người dân đối với Quan Thế Âm Bồ Tát, dần dần nhu cầu chiêm bái của người dân càng ngày càng rộng hơn, chính vì thế lễ hội Quan Âm Nam Hải đã ra đời. Lễ hội này pha lẫn giữa màu sắc văn hóa dân tộc và Phật Giáo, là một trong những lễ hội tâm linh nổi bật nhất tại Bạc Liêu và trong toàn quốc. Phật tử và khách hàng hương cùng thắp nến hoa sen dưới chân tượng Bồ Tát Quan Thế Âm Ba ngày hội diễn ra từ ngày 22 đến ngày 24 tháng ba âm lịch với hai phần chính là Phần Lễ và Phần Hội. Ngày lễ đầu tiên sẽ tổ chức các nghi lễ khai mạc như: biểu diễn múa lân múa rồng, xe hoa diễu hành, nghi thức dâng hoa, nhập tịch, chiêu vong… Trong ngày này, du khách thập phương và các tín đồ Phật giáo đến cúng bái Quan Âm Nam Hải rất nhiều. Ngày thứ hai sẽ tổ chức các nghi lễ như: lễ cầu an, lễ lăng nghiêm, thuyết pháp... còn dành thời gian cho các khách hành hương đến dâng hương lên tượng Quan Âm Nam Hải. Buổi tối, tại khuôn viên Quán Âm Phật Đài sẽ có chương trình văn nghệ đặc sắc như hát bội để phục vụ bà con. Ngày cuối cùng của lễ hội, các phật tử, khách hành hương, khách du lịch, tăng ni sẽ tham gia nghi thức lễ cầu an và cùng thả đèn hoa sen để thay cho lời cầu nguyện một năm bình an và gặp nhiều may mắn. Lễ hội Quán âm Nam Hải tại Bạc Liêu

(lehoi.info)-Lễ hội Quán âm Nam Hải ở tỉnh Bạc Liêu là một trong những lễ hội dân gian mang nét đẹp đặc trưng của người dân miền biển ở Bạc Liêu, đã được Ban Trị sự Phật giáo tỉnh đứng ra tổ chức trong 3 ngày từ ngày 22 đến ngày 24 tháng 3 âm lịch hàng năm, tại khu Quán âm Phật đài thuộc phường Xa Mát, thị xã Bạc Liêu. Lễ hội đã thu hút hàng vạn phật tử, tăng ni, người dân và du khách khắp nơi về dự, bởi sự linh hiển của Quán Âm Phật Đài.

Lễ hội Quán âm Nam Hải tại Bạc Liêu thu hút nhiều Phật tử và khách thập phương đến tham dự

Công trình tượng Bồ tát Quan Thế Âm được xây dựng từ năm 1973, là một pho tượng cao trên 10 mét, hướng mặt ra biển và cũng chính là biểu tượng bình an của người dân biển Bạc Liêu. Khởi phát từ tín ngưỡng của người dân đối với Quan Thế Âm Bồ Tát, dần dần nhu cầu chiêm bái của người dân càng ngày càng rộng hơn, chính vì thế lễ hội Quan Âm Nam Hải đã ra đời. Lễ hội này pha lẫn giữa màu sắc văn hóa dân tộc và Phật Giáo, là một trong những lễ hội tâm linh nổi bật nhất tại Bạc Liêu và trong toàn quốc.

Phật tử và khách hàng hương cùng thắp nến hoa sen dưới chân tượng Bồ Tát Quan Thế Âm

Ba ngày hội diễn ra từ ngày 22 đến ngày 24 tháng ba âm lịch với hai phần chính là Phần Lễ và Phần Hội. Ngày lễ đầu tiên sẽ tổ chức các nghi lễ khai mạc như: biểu diễn múa lân múa rồng, xe hoa diễu hành, nghi thức dâng hoa, nhập tịch, chiêu vong… Trong ngày này, du khách thập phương và các tín đồ Phật giáo đến cúng bái Quan Âm Nam Hải rất nhiều. Ngày thứ hai sẽ tổ chức các nghi lễ như: lễ cầu an, lễ lăng nghiêm, thuyết pháp... còn dành thời gian cho các khách hành hương đến dâng hương lên tượng Quan Âm Nam Hải. Buổi tối, tại khuôn viên Quán Âm Phật Đài sẽ có chương trình văn nghệ đặc sắc như hát bội để phục vụ bà con. Ngày cuối cùng của lễ hội, các phật tử, khách hành hương, khách du lịch, tăng ni sẽ tham gia nghi thức lễ cầu an và cùng thả đèn hoa sen để thay cho lời cầu nguyện một năm bình an và gặp nhiều may mắn.

Lễ hội Quán âm Nam Hải tại Bạc Liêu

Related Figures

Lễ hội đua bò của dân tộc Khơ - Me

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 9/10- 10/10 Âm lịch Lễ hội đua bò của dân tộc Khơ - Me thường được tổ chức vào lễ "Đôn ta" (lễ cúng ông bà), từ ngày mồng 9 đến ngày mồng 10 tháng 10 âm lịch hàng năm. "Đôn-ta" là một trong những lễ hội truyền thống lớn của người Khơ-me để bày tỏ lòng tưởng nhớ và biết ơn sâu sắc đối với tổ tiên và những công lao to lớn của những người đã khuất. Lễ hội đua bò dân tộc Khơ - Me tại An Giang Sau lễ rước vong linh ông bà tổ tiên ở chùa về để cùng chung vui với gia đình, người dân Khơ-me sẽ kết những tấm bè chuối để làm thuyền, trên thuyền có bày đầy đủ các loại phẩm vật đã cúng, mỗi thứ một ít, sau đó sẽ được thả xuống dòng nước cạnh nơi ở hoặc ao hồ hay sông rạch gần nhà... Cũng trong dịp này, du khách đến thăm quan phúm, sóc sẽ được người dân Khơ-me đón tiếp một cách nồng hậu, tiếp đãi chu đáo. Vì quan niệm của người dân ở đây là khách là sứ giả của tổ tiên về để thăm gia đình, con cháu... Trong lễ hội ''Đôn-ta" ngoài tập tục thả thuyền, người dân Khơ-me còn tổ chức thêm hội đua bò truyền thống. Để chuẩn bị cho một cuộc đua bò, họ sẽ chọn một khoảnh ruộng bằng phẳng, có chiều dài khoảng 200m, rộng 100m có nước xăm xắp, được “trục” xới nhiều lần để tạo độ trơn của bùn, bốn bên đắp bờ bao và điểm đích có sẽ có một đoạn đường trống để làm độ dừng an toàn cho các chú bò đua. Đoạn đường đua chính chỉ dài 120m theo khoảnh ruộng và cặp sát bờ bao. Nơi xuất phát có cắm 2 cây cờ màu đỏ, xanh, mỗi cây cách nhau 5m, và tại điểm đích cũng cắm hai cây cờ như vậy. Đôi bò nào đứng ở vị trí cây cờ màu gì thì nó phải đến điểm đích có cây cờ màu đó. Lễ hội đua bò là một lễ hội truyền thống lớn của người dân tộc Khơ - Me tại An Giang Trước khi vào trận đua, họ chọn những đôi bò với nhau hoặc sẽ bốc thăm và thoả thuận một số qui định cần thiết như cặp bò nào sẽ đi trước, đi sau... Nhưng thông thường đôi đi sau sẽ có ưu thế hơn. Nếu trong cuộc đua, đôi bò nào chạy lệch ra khỏi đường đua thì sẽ bị loại và đôi bò sau nếu giẫm lên giàn bừa của đôi bò trước là là đôi thắng cuộc. Còn người điều khiển cần phải đứng thật vững nếu không sẽ bị ngã hoặc rơi ra khỏi giàn bừa và bị coi như thua cuộc. Từng đôi bò sẽ được ách vào một chiếc bừa được chế tạo đặc biệt, gọng bừa cũng chính là chiếc bàn đạp gồm một tấm gỗ rộng chừng 30cm, dài 90cm, bên dưới có những chiếc răng bừa. Người điều khiển bò sẽ cầm roi mây hoặc một khúc gỗ tròn vừa tay đó đường kính khoảng 3cm, đầu có tra các cây đinh nhọn - cây xà-lul. Khi trọng tại bắt đầu lệnh xuất phát, người điều khiển sẽ chích mạnh cây xà-lul vào mông của hai con bò, bò bị đau sẽ phóng thật nhanh về phía trước, quan trọng là phải chích cả hai con cho đều thì vận tốc của đôi bò mới đều. Vào ngày hội đua , bà con đã có mặt từ sáng sớm tại địa điểm đua bò. Có người đứng ở cách xa hàng vài cây số nhưng cũng mang theo cả xoong, nồi, mắm, để muối nấu ăn tại chỗ để xem cho hết cuộc đua. Chỗ xem cũng không cần cầu kỳ như sân bóng đá, đua ngựa hay các môn thể thao khác, chỉ cần đứng ở vị trí nào đó hơi cao so với mặt của sân đua hay leo lên các bờ bao là đủ. Từ lúc cuộc đua bắt đầu cho tới lúc kết thúc không khí lúc nào cũng tưng bừng, tiếng vỗ tay, reo hò, cổ động rất sôi nổi dành cho những người điều khiển các cặp bò giỏi hoặc những pha về đích gay cấn, quyết liệt. Hình ảnh người điều khiển đang lái cặp bò của mình

Lễ hội đua bò của dân tộc Khơ - Me thường được tổ chức vào lễ "Đôn ta" (lễ cúng ông bà), từ ngày mồng 9 đến ngày mồng 10 tháng 10 âm lịch hàng năm. "Đôn-ta" là một trong những lễ hội truyền thống lớn của người Khơ-me để bày tỏ lòng tưởng nhớ và biết ơn sâu sắc đối với tổ tiên và những công lao to lớn của những người đã khuất.

Lễ hội đua bò dân tộc Khơ - Me tại An Giang Sau lễ rước vong linh ông bà tổ tiên ở chùa về để cùng chung vui với gia đình, người dân Khơ-me sẽ kết những tấm bè chuối để làm thuyền, trên thuyền có bày đầy đủ các loại phẩm vật đã cúng, mỗi thứ một ít, sau đó sẽ được thả xuống dòng nước cạnh nơi ở hoặc ao hồ hay sông rạch gần nhà... Cũng trong dịp này, du khách đến thăm quan phúm, sóc sẽ được người dân Khơ-me đón tiếp một cách nồng hậu, tiếp đãi chu đáo. Vì quan niệm của người dân ở đây là khách là sứ giả của tổ tiên về để thăm gia đình, con cháu... Trong lễ hội ''Đôn-ta" ngoài tập tục thả thuyền, người dân Khơ-me còn tổ chức thêm hội đua bò truyền thống. Để chuẩn bị cho một cuộc đua bò, họ sẽ chọn một khoảnh ruộng bằng phẳng, có chiều dài khoảng 200m, rộng 100m có nước xăm xắp, được “trục” xới nhiều lần để tạo độ trơn của bùn, bốn bên đắp bờ bao và điểm đích có sẽ có một đoạn đường trống để làm độ dừng an toàn cho các chú bò đua. Đoạn đường đua chính chỉ dài 120m theo khoảnh ruộng và cặp sát bờ bao. Nơi xuất phát có cắm 2 cây cờ màu đỏ, xanh, mỗi cây cách nhau 5m, và tại điểm đích cũng cắm hai cây cờ như vậy. Đôi bò nào đứng ở vị trí cây cờ màu gì thì nó phải đến điểm đích có cây cờ màu đó. Lễ hội đua bò là một lễ hội truyền thống lớn của người dân tộc Khơ - Me tại An Giang Trước khi vào trận đua, họ chọn những đôi bò với nhau hoặc sẽ bốc thăm và thoả thuận một số qui định cần thiết như cặp bò nào sẽ đi trước, đi sau... Nhưng thông thường đôi đi sau sẽ có ưu thế hơn. Nếu trong cuộc đua, đôi bò nào chạy lệch ra khỏi đường đua thì sẽ bị loại và đôi bò sau nếu giẫm lên giàn bừa của đôi bò trước là là đôi thắng cuộc. Còn người điều khiển cần phải đứng thật vững nếu không sẽ bị ngã hoặc rơi ra khỏi giàn bừa và bị coi như thua cuộc. Từng đôi bò sẽ được ách vào một chiếc bừa được chế tạo đặc biệt, gọng bừa cũng chính là chiếc bàn đạp gồm một tấm gỗ rộng chừng 30cm, dài 90cm, bên dưới có những chiếc răng bừa. Người điều khiển bò sẽ cầm roi mây hoặc một khúc gỗ tròn vừa tay đó đường kính khoảng 3cm, đầu có tra các cây đinh nhọn - cây xà-lul. Khi trọng tại bắt đầu lệnh xuất phát, người điều khiển sẽ chích mạnh cây xà-lul vào mông của hai con bò, bò bị đau sẽ phóng thật nhanh về phía trước, quan trọng là phải chích cả hai con cho đều thì vận tốc của đôi bò mới đều. Vào ngày hội đua , bà con đã có mặt từ sáng sớm tại địa điểm đua bò. Có người đứng ở cách xa hàng vài cây số nhưng cũng mang theo cả xoong, nồi, mắm, để muối nấu ăn tại chỗ để xem cho hết cuộc đua. Chỗ xem cũng không cần cầu kỳ như sân bóng đá, đua ngựa hay các môn thể thao khác, chỉ cần đứng ở vị trí nào đó hơi cao so với mặt của sân đua hay leo lên các bờ bao là đủ. Từ lúc cuộc đua bắt đầu cho tới lúc kết thúc không khí lúc nào cũng tưng bừng, tiếng vỗ tay, reo hò, cổ động rất sôi nổi dành cho những người điều khiển các cặp bò giỏi hoặc những pha về đích gay cấn, quyết liệt. Hình ảnh người điều khiển đang lái cặp bò của mình

Sau lễ rước vong linh ông bà tổ tiên ở chùa về để cùng chung vui với gia đình, người dân Khơ-me sẽ kết những tấm bè chuối để làm thuyền, trên thuyền có bày đầy đủ các loại phẩm vật đã cúng, mỗi thứ một ít, sau đó sẽ được thả xuống dòng nước cạnh nơi ở hoặc ao hồ hay sông rạch gần nhà... Cũng trong dịp này, du khách đến thăm quan phúm, sóc sẽ được người dân Khơ-me đón tiếp một cách nồng hậu, tiếp đãi chu đáo. Vì quan niệm của người dân ở đây là khách là sứ giả của tổ tiên về để thăm gia đình, con cháu... Trong lễ hội ''Đôn-ta" ngoài tập tục thả thuyền, người dân Khơ-me còn tổ chức thêm hội đua bò truyền thống. Để chuẩn bị cho một cuộc đua bò, họ sẽ chọn một khoảnh ruộng bằng phẳng, có chiều dài khoảng 200m, rộng 100m có nước xăm xắp, được “trục” xới nhiều lần để tạo độ trơn của bùn, bốn bên đắp bờ bao và điểm đích có sẽ có một đoạn đường trống để làm độ dừng an toàn cho các chú bò đua. Đoạn đường đua chính chỉ dài 120m theo khoảnh ruộng và cặp sát bờ bao. Nơi xuất phát có cắm 2 cây cờ màu đỏ, xanh, mỗi cây cách nhau 5m, và tại điểm đích cũng cắm hai cây cờ như vậy. Đôi bò nào đứng ở vị trí cây cờ màu gì thì nó phải đến điểm đích có cây cờ màu đó. Lễ hội đua bò là một lễ hội truyền thống lớn của người dân tộc Khơ - Me tại An Giang Trước khi vào trận đua, họ chọn những đôi bò với nhau hoặc sẽ bốc thăm và thoả thuận một số qui định cần thiết như cặp bò nào sẽ đi trước, đi sau... Nhưng thông thường đôi đi sau sẽ có ưu thế hơn. Nếu trong cuộc đua, đôi bò nào chạy lệch ra khỏi đường đua thì sẽ bị loại và đôi bò sau nếu giẫm lên giàn bừa của đôi bò trước là là đôi thắng cuộc. Còn người điều khiển cần phải đứng thật vững nếu không sẽ bị ngã hoặc rơi ra khỏi giàn bừa và bị coi như thua cuộc. Từng đôi bò sẽ được ách vào một chiếc bừa được chế tạo đặc biệt, gọng bừa cũng chính là chiếc bàn đạp gồm một tấm gỗ rộng chừng 30cm, dài 90cm, bên dưới có những chiếc răng bừa. Người điều khiển bò sẽ cầm roi mây hoặc một khúc gỗ tròn vừa tay đó đường kính khoảng 3cm, đầu có tra các cây đinh nhọn - cây xà-lul. Khi trọng tại bắt đầu lệnh xuất phát, người điều khiển sẽ chích mạnh cây xà-lul vào mông của hai con bò, bò bị đau sẽ phóng thật nhanh về phía trước, quan trọng là phải chích cả hai con cho đều thì vận tốc của đôi bò mới đều. Vào ngày hội đua , bà con đã có mặt từ sáng sớm tại địa điểm đua bò. Có người đứng ở cách xa hàng vài cây số nhưng cũng mang theo cả xoong, nồi, mắm, để muối nấu ăn tại chỗ để xem cho hết cuộc đua. Chỗ xem cũng không cần cầu kỳ như sân bóng đá, đua ngựa hay các môn thể thao khác, chỉ cần đứng ở vị trí nào đó hơi cao so với mặt của sân đua hay leo lên các bờ bao là đủ. Từ lúc cuộc đua bắt đầu cho tới lúc kết thúc không khí lúc nào cũng tưng bừng, tiếng vỗ tay, reo hò, cổ động rất sôi nổi dành cho những người điều khiển các cặp bò giỏi hoặc những pha về đích gay cấn, quyết liệt. Hình ảnh người điều khiển đang lái cặp bò của mình

Lễ hội đua bò là một lễ hội truyền thống lớn của người dân tộc Khơ - Me tại An Giang

Related Figures

Hội Liên Xương

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 6/1- 8/1 Âm lịch Liên Xương là một làng của xã Xương Lâm, thuộc huyện Lạng Giang, Bắc Giang. Ngày xưa, Liên Xương là một xã thuộc tổng Phi Mô, huyện Bảo Lộc, của phủ Lạng Giang. Mỗi năm, Liên Xương đều duy trì khá nhiều tiết lệ, trong đó các ngày mồng 6, 7,8 tháng giêng là ngày hội lệ to nhất của làng này. Để duy trì các tiết lệ trên, làng đã định ra ban tế và một số chân cai đám, hoá xí…ở Liên Xương, những ai đến tuổi đều được vào làm cai đám. Tuỳ theo từng xóm, từng giáp mà định ra số người. Xóm nào, giáp nào đông người thì những người 30 đến 40 tuổi mới được vào làm. Xóm hoặc giáp nào ít người thì có khi người 20 tuổi đã được làm. Mỗi năm làng sẽ cử ra 3 cai đám, 3 hoá xỉ để lo công việc của làng. Ai làm cai đám đều phải nuôi lợn cỗ trong ba năm liền, nhưng không phải để khao làng. Biểu diễn múa trống tại lễ hội Sau khi tế lễ xong, ba ông cai đám sẽ làm lễ tế cầu ở đình, rồi cả ba sẽ bưng quả cầu gỗ có đường kính khoảng 50cm dán kín giấy đỏ ra đặt lên bệ làm lễ gieo cầu, sau đó bưng quả cầu ra sân. Sân cầu ở đình có vòng được vẽ bằng vôi. Cuộc đánh cầu ở Liên Xương được chơi theo hai cách gọi là cướp cầu và tung cầu. Đầu tiên sẽ là tung cầu. Cai đám sau khi làm lễ cùng nhau xong sẽ bê quả cầu ra sân rồi hô các trai đinh hàng giáp vào sân. Quả cầu sẽ được tung lên trong tiếng reo hò của rất đông dân làng. Ba ông cai đám mỗi người cầm nắm tiền xèng rồi tung vào trong sân. Các giai đinh sẽ chen nhau tìm nhặt đồng tiền ấy được gọi là lấy phước, lấy lộc. Trong cuộc tung cầu này thì chưa ai tranh quả cầu cả. Lễ rước kiệu Tiếp theo, đến phần cướp cầu. Ba ông cai đám lại bưng quả cầu đỏ lên và cùng nhau tung vào sân. Lần này các trai đinh sẽ đổ xô vào tranh cướp để lôi quả cầu ra khỏi sân. Phe nào cầm được quả cầu ra khỏi sân sẽ là phe thắng cuộc, coi như năm ấy mùa màng bội thu, làm ăn phát tài. Hội kéo chữ cũng được tổ chức tại đình. Chữ được xếp là: “ Thiên, Hạ, Thái, Bình ”. Muốn xếp được 4 chữ này, người tham gia cần phải tập duyệt từ trước. Khi xếp chính thức thì cứ theo hiệu lệnh trống mà tiến theo các nét đã quy định, nhịp nhàng cho đến khi chữ hiện lên. Khi chữ kia lên rồi thì ngồi cả xuống để cho các quan viên nhìn rõ và chấm điểm. Đánh cờ người tại lễ hội Hội xuân Liên Xương còn tổ chức cuộc thi cờ người. Quân cờ thường là các cô gái trẻ, mặc trang phục là áo mớ ba mớ bảy, đeo thẻ quân cờ. Tướng ông, tướng bà thường ăn mặc như tướng của quân bài tam cúc. Tuy là đánh cờ người, nhưng chủ yếu là để biểu diễn. Người chơi cờ chỉ cần thực hiện một số nước là xong. Hội Liên Xương ngày nay vẫn được duy trì nhưng quy mô đã thu hẹp lại. Các nghi thức, lễ nghĩa, cỗ bàn đã có phần giản tiện hơn và thay vào đó là một số trò chơi và các môn thể thao mới như bóng chuyền, bóng đá, cầu lông….

Liên Xương là một làng của xã Xương Lâm, thuộc huyện Lạng Giang, Bắc Giang. Ngày xưa, Liên Xương là một xã thuộc tổng Phi Mô, huyện Bảo Lộc, của phủ Lạng Giang. Mỗi năm, Liên Xương đều duy trì khá nhiều tiết lệ, trong đó các ngày mồng 6, 7,8 tháng giêng là ngày hội lệ to nhất của làng này.

Để duy trì các tiết lệ trên, làng đã định ra ban tế và một số chân cai đám, hoá xí…ở Liên Xương, những ai đến tuổi đều được vào làm cai đám. Tuỳ theo từng xóm, từng giáp mà định ra số người. Xóm nào, giáp nào đông người thì những người 30 đến 40 tuổi mới được vào làm. Xóm hoặc giáp nào ít người thì có khi người 20 tuổi đã được làm. Mỗi năm làng sẽ cử ra 3 cai đám, 3 hoá xỉ để lo công việc của làng. Ai làm cai đám đều phải nuôi lợn cỗ trong ba năm liền, nhưng không phải để khao làng. Biểu diễn múa trống tại lễ hội Sau khi tế lễ xong, ba ông cai đám sẽ làm lễ tế cầu ở đình, rồi cả ba sẽ bưng quả cầu gỗ có đường kính khoảng 50cm dán kín giấy đỏ ra đặt lên bệ làm lễ gieo cầu, sau đó bưng quả cầu ra sân. Sân cầu ở đình có vòng được vẽ bằng vôi. Cuộc đánh cầu ở Liên Xương được chơi theo hai cách gọi là cướp cầu và tung cầu. Đầu tiên sẽ là tung cầu. Cai đám sau khi làm lễ cùng nhau xong sẽ bê quả cầu ra sân rồi hô các trai đinh hàng giáp vào sân. Quả cầu sẽ được tung lên trong tiếng reo hò của rất đông dân làng. Ba ông cai đám mỗi người cầm nắm tiền xèng rồi tung vào trong sân. Các giai đinh sẽ chen nhau tìm nhặt đồng tiền ấy được gọi là lấy phước, lấy lộc. Trong cuộc tung cầu này thì chưa ai tranh quả cầu cả. Lễ rước kiệu Tiếp theo, đến phần cướp cầu. Ba ông cai đám lại bưng quả cầu đỏ lên và cùng nhau tung vào sân. Lần này các trai đinh sẽ đổ xô vào tranh cướp để lôi quả cầu ra khỏi sân. Phe nào cầm được quả cầu ra khỏi sân sẽ là phe thắng cuộc, coi như năm ấy mùa màng bội thu, làm ăn phát tài. Hội kéo chữ cũng được tổ chức tại đình. Chữ được xếp là: “ Thiên, Hạ, Thái, Bình ”. Muốn xếp được 4 chữ này, người tham gia cần phải tập duyệt từ trước. Khi xếp chính thức thì cứ theo hiệu lệnh trống mà tiến theo các nét đã quy định, nhịp nhàng cho đến khi chữ hiện lên. Khi chữ kia lên rồi thì ngồi cả xuống để cho các quan viên nhìn rõ và chấm điểm. Đánh cờ người tại lễ hội Hội xuân Liên Xương còn tổ chức cuộc thi cờ người. Quân cờ thường là các cô gái trẻ, mặc trang phục là áo mớ ba mớ bảy, đeo thẻ quân cờ. Tướng ông, tướng bà thường ăn mặc như tướng của quân bài tam cúc. Tuy là đánh cờ người, nhưng chủ yếu là để biểu diễn. Người chơi cờ chỉ cần thực hiện một số nước là xong. Hội Liên Xương ngày nay vẫn được duy trì nhưng quy mô đã thu hẹp lại. Các nghi thức, lễ nghĩa, cỗ bàn đã có phần giản tiện hơn và thay vào đó là một số trò chơi và các môn thể thao mới như bóng chuyền, bóng đá, cầu lông….

Related Figures

Lễ hội làng Thành

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 6/1- 8/1 Âm lịch Làng Thành là một ngôi làng ở xã Xương Giang, thuộc thành phố Bắc Giang . Một năm làng Thành có 2 kỳ hội còn được gọi là xuân thu nhị kỳ. Về mùa xuân hội bắt đầu từ ngày mồng 6 cho đến mồng 8 tháng giêng âm lịch, được gọi là hội xuân. Trong đó ngày mồng 7 tháng giêng là ngày hội chùa, còn hội đình thì tổ chức trong cả ba ngày. Về mùa thu, bắt đầu từ ngày mồng 4 đến hết ngày mồng 5 tháng 8 âm lịch. Hội làng Thành thường diễn ra ở đình và chùa là chủ yếu. Ngoài ra, trong làng còn có một số địa điểm diễn ra các nghi lễ hội nữa, đó là các địa điểm rước kiệu thánh tuần du quanh làng. Đình làng Thành là một ngôi đình lớn đã có từ lâu năm, tọa lạc trên thửa đất ven đường làng, địa thế đình rộng rãi. Đình có quy mô bề thế gồm 5 gian hai dãy mái cong có lợp ngói mũi có sàn, chấn song con tiện ( nay xây gạch bao quanh ), cửa bức bàn, cửa bức bàn. Chùa Thành cũng là một trong những ngôi chùa cổ của Việt Nam, nhìn ra cánh đồng rộng, thoáng đãng. Trong chùa có các công trình mang giá trị nghệ thuật. Theo phong tục cổ truyền, khi làng vào lễ hội thì cho hai giáp làm cỗ, đóng đám. Cỗ vào hội của làng chỉ thịt lợn, xôi và muối vừng. Cỗ được bày lên một chiếc mâm rồi dâng lên thánh cung tế thần. Đức Cao Sơn - Quý Minh được xem là Thành hoàng của làng Thành. Đức Cao Minh được thờ tại đình Chung, thờ chung với bên làng Vẽ. Ngoài ra còn thờ một vị hậu thần là ông Dương Quốc Công. Vị họ ông Dương còn có nghè riêng trong xóm Đình nên gọi là nghè Miễu. Lễ rước kiệu tại Lễ hội làng Thành Trong dịp hội vào mùa xuân, dân làng bắt đầu đóng đám từ ngày mồng 6 tháng Giêng. Trong ngày này sẽ tổ chức lễ rước kiệu. Làng Thành thờ ba vị nên sẽ có ba kiệu rước trong ngày hội. Người dân tổ chức nghênh rước thành hoàng Quý Minh từ đình Thành ra ngã tư rồi vào chùa Thành. Tại đây đoàn rước kiệu này sẽ gặp đoàn rước kiệu ông Dương Quốc Công cũng đang đi đến đó, hai kiệu sẽ nhập vào nhau. Sau đó Kiệu Quý Minh đi trước theo sau là kiệu Dương Quốc Công, cả hai cùng đi tới đình Chung để làm lễ Đức thánh Cả Cao Sơn. Từ đây cả hai kiệu cùng rước về lúc này kiệu Cao Sơn sẽ đi trước. Hành trình rước kiệu lúc này là cả ba kiệu cùng đi từ đình Chung qua đường xóm Dinh, men theo đường làng đến ao Mạo, sau đó thẳng đường giữa làng để ra quốc lộ 1A ( đường cái quan ) đi tới cuối phố quán thánh xong rồi vòng trở về đình Thành. Cả ba kiệu sẽ được hạ ở sân đình. Dân làng sẽ cho nồi hương vào đình để thực hiện lễ an vị, chờ trong 3 ngày. Sau cuộc rước kiệu, làng sẽ tổ chức lễ cướp cầu. Sân cầu ở cổng đình Thành giáp với chùa Thành. Chỗ ấy được gọi là đồng. Truyền tích về quả cầu của người dân ở đây là: Do ngài Dương Quốc Công muốn rèn luyện quan sĩ nên đã làm ra một quả cầu. Thường ngày quả cầu đó vẫn được thờ ở nghè Miễu ( xóm Đinh ). Đến ngày hội thì mang ra chơi; Khi chơi sẽ thực hiện lễ tế cầu. Các cụ trong làng tham dự lễ hội Sân cầu có vạch ở giữa sân và cuối sân. Người chơi sẽ chia thành hai đội đứng ở hai bên. Khi cụ tiên chỉ vào quả cầu mùa gieo cầu, hai bên sẽ xông vào cướp, ai cướp được thì chạy sang sân đối phương rồi ôm chạy về phủ để phục nộp ở cửa đình. Bên nào nộp được cầu là bên đó thắng, năm ấy họ sẽ làm ăn khá giả. Hội làng Thành còn tổ chức môn vật, nhưng không thờ vật mà chỉ tổ chức vật giải. Làng cũng có trò chơi cờ người. Quân cờ sẽ là các chàng trai và các cô gái trẻ, mặc trang phucjc tướng sỹ, có vẽ chữ của các quân cờ. Hai bên, một bên nam và một bên nữ. Có năm cả hai bên đều là nữ. Điều kiện chọn quân cờ đó là những cô gái không quá 18 tuổi. Cô nào đẹp nhất thì sẽ được chọn làm tướng. Khi chơi sẽ có trống đánh rộn ràng và có bàn cờ nhỏ ở bên ngoài để theo dõi. Ở hội làng Thành cũng tổ chức các trò chơi khác như đập niêu, đập nồi, ném vòng cổ chai hay chạy hoá trang. Chạy hoá trang ở đây là xếp từng bộ trang phục mà không cho người tham gia biết, ai lấy phải bộ nào thì sẽ phải mặc bộ đó, vừa chạy vừa mặc. Hai giáp của làng Thành đều có tổ chức múa kỳ lân sư tử. Hai đội này khi hội sẽ được đi đầu đoàn rước, vừa đi vừa nổi trống vừa múa. Khi kiệu về đình sẽ múa thờ ở đình. Mỗi đội kỳ lân có một nét độc đáo riêng, phong cách riêng. cả hai đội đều múa rất giỏi, rất nhiều động tác đẹp mắt. Khi múa thờ ở đình, cả hai đội đều trổ hết những động tác đẹp mắt nhất của mình để biểu diễn. Chiều ngày mồng 8 tháng giêng sẽ là ngày giã hội làng Thành. Làng sẽ tổ chức tế hoàn cung. Khi hoàn cung xong thì ba kiệu lại trở về cơ sở của mình. Đoàn rước lúc này cũng về đình Chung men theo đường ao Mạo.Khi đến đường rẽ lên nghè Miễu thì kiệu thánh Quý Minh sẽ dừng lại để kiệu Dương Quốc Công về. Lúc này kiệu Cao Sơn đi lên đầu, kiệu Quý Minh đi sau, kiệu Cao Sơn chuyển nồi hương vào đến đình Chung thì về thứ 3, cả 3 tiến vào nhà sắc ở ngay giữa làng. Tại đây tề tựu rồi tháo gỡ các kiệu cất vào nhà sắc, lễ hoàn cung xem như đã hoàn thành. Hát Chèo trong hội xuân Cúng trong 3 ngày này, ở đình chùa sẽ tổ chức hát hát chèo, nhà tơ, hát ống….Hát ống là lối hát có đối đáp với nhau, ai hát thì cầm ống hát để cho người bên kia nghe thấy; ống hát được làm bằng ống tre, lấy da con ếch để làm màng loa, hai loa nối với nhau bằng một sợi chỉ truyền âm. Bên kia để ống nghe thu bào tai nghe được thì bỏ tai nghe để làm loa hát cho bên kia đáp lại… Hội làng Thành là hội lớn có tiếng ở tỉnh Bắc Giang. Hội này có cuộc rước kiệu và trò cướp cầu khá hoành tráng, độc đáo. Trong lễ hội, cỗ bàn cúng rất đơn giản không cầu kỳ và cũng không tốn kém. Ngoài lễ hội đầu xuân thì làng Thành còn có lễ hội mùa thu cũng là hội của đình. Nói chung, lệ mùa thu thì bình thường không to, không vui bằng hội xuân. Từ khi có lễ hội Xương Giang, hội làng Thành cũng là hội khiến lễ hội Xương Giang có thêm sức sống.

Làng Thành là một ngôi làng ở xã Xương Giang, thuộc thành phố Bắc Giang . Một năm làng Thành có 2 kỳ hội còn được gọi là xuân thu nhị kỳ. Về mùa xuân hội bắt đầu từ ngày mồng 6 cho đến mồng 8 tháng giêng âm lịch, được gọi là hội xuân. Trong đó ngày mồng 7 tháng giêng là ngày hội chùa, còn hội đình thì tổ chức trong cả ba ngày. Về mùa thu, bắt đầu từ ngày mồng 4 đến hết ngày mồng 5 tháng 8 âm lịch.

Hội làng Thành thường diễn ra ở đình và chùa là chủ yếu. Ngoài ra, trong làng còn có một số địa điểm diễn ra các nghi lễ hội nữa, đó là các địa điểm rước kiệu thánh tuần du quanh làng. Đình làng Thành là một ngôi đình lớn đã có từ lâu năm, tọa lạc trên thửa đất ven đường làng, địa thế đình rộng rãi. Đình có quy mô bề thế gồm 5 gian hai dãy mái cong có lợp ngói mũi có sàn, chấn song con tiện ( nay xây gạch bao quanh ), cửa bức bàn, cửa bức bàn. Chùa Thành cũng là một trong những ngôi chùa cổ của Việt Nam, nhìn ra cánh đồng rộng, thoáng đãng. Trong chùa có các công trình mang giá trị nghệ thuật. Theo phong tục cổ truyền, khi làng vào lễ hội thì cho hai giáp làm cỗ, đóng đám. Cỗ vào hội của làng chỉ thịt lợn, xôi và muối vừng. Cỗ được bày lên một chiếc mâm rồi dâng lên thánh cung tế thần. Đức Cao Sơn - Quý Minh được xem là Thành hoàng của làng Thành. Đức Cao Minh được thờ tại đình Chung, thờ chung với bên làng Vẽ. Ngoài ra còn thờ một vị hậu thần là ông Dương Quốc Công. Vị họ ông Dương còn có nghè riêng trong xóm Đình nên gọi là nghè Miễu. Lễ rước kiệu tại Lễ hội làng Thành Trong dịp hội vào mùa xuân, dân làng bắt đầu đóng đám từ ngày mồng 6 tháng Giêng. Trong ngày này sẽ tổ chức lễ rước kiệu. Làng Thành thờ ba vị nên sẽ có ba kiệu rước trong ngày hội. Người dân tổ chức nghênh rước thành hoàng Quý Minh từ đình Thành ra ngã tư rồi vào chùa Thành. Tại đây đoàn rước kiệu này sẽ gặp đoàn rước kiệu ông Dương Quốc Công cũng đang đi đến đó, hai kiệu sẽ nhập vào nhau. Sau đó Kiệu Quý Minh đi trước theo sau là kiệu Dương Quốc Công, cả hai cùng đi tới đình Chung để làm lễ Đức thánh Cả Cao Sơn. Từ đây cả hai kiệu cùng rước về lúc này kiệu Cao Sơn sẽ đi trước. Hành trình rước kiệu lúc này là cả ba kiệu cùng đi từ đình Chung qua đường xóm Dinh, men theo đường làng đến ao Mạo, sau đó thẳng đường giữa làng để ra quốc lộ 1A ( đường cái quan ) đi tới cuối phố quán thánh xong rồi vòng trở về đình Thành. Cả ba kiệu sẽ được hạ ở sân đình. Dân làng sẽ cho nồi hương vào đình để thực hiện lễ an vị, chờ trong 3 ngày. Sau cuộc rước kiệu, làng sẽ tổ chức lễ cướp cầu. Sân cầu ở cổng đình Thành giáp với chùa Thành. Chỗ ấy được gọi là đồng. Truyền tích về quả cầu của người dân ở đây là: Do ngài Dương Quốc Công muốn rèn luyện quan sĩ nên đã làm ra một quả cầu. Thường ngày quả cầu đó vẫn được thờ ở nghè Miễu ( xóm Đinh ). Đến ngày hội thì mang ra chơi; Khi chơi sẽ thực hiện lễ tế cầu. Các cụ trong làng tham dự lễ hội Sân cầu có vạch ở giữa sân và cuối sân. Người chơi sẽ chia thành hai đội đứng ở hai bên. Khi cụ tiên chỉ vào quả cầu mùa gieo cầu, hai bên sẽ xông vào cướp, ai cướp được thì chạy sang sân đối phương rồi ôm chạy về phủ để phục nộp ở cửa đình. Bên nào nộp được cầu là bên đó thắng, năm ấy họ sẽ làm ăn khá giả. Hội làng Thành còn tổ chức môn vật, nhưng không thờ vật mà chỉ tổ chức vật giải. Làng cũng có trò chơi cờ người. Quân cờ sẽ là các chàng trai và các cô gái trẻ, mặc trang phucjc tướng sỹ, có vẽ chữ của các quân cờ. Hai bên, một bên nam và một bên nữ. Có năm cả hai bên đều là nữ. Điều kiện chọn quân cờ đó là những cô gái không quá 18 tuổi. Cô nào đẹp nhất thì sẽ được chọn làm tướng. Khi chơi sẽ có trống đánh rộn ràng và có bàn cờ nhỏ ở bên ngoài để theo dõi. Ở hội làng Thành cũng tổ chức các trò chơi khác như đập niêu, đập nồi, ném vòng cổ chai hay chạy hoá trang. Chạy hoá trang ở đây là xếp từng bộ trang phục mà không cho người tham gia biết, ai lấy phải bộ nào thì sẽ phải mặc bộ đó, vừa chạy vừa mặc. Hai giáp của làng Thành đều có tổ chức múa kỳ lân sư tử. Hai đội này khi hội sẽ được đi đầu đoàn rước, vừa đi vừa nổi trống vừa múa. Khi kiệu về đình sẽ múa thờ ở đình. Mỗi đội kỳ lân có một nét độc đáo riêng, phong cách riêng. cả hai đội đều múa rất giỏi, rất nhiều động tác đẹp mắt. Khi múa thờ ở đình, cả hai đội đều trổ hết những động tác đẹp mắt nhất của mình để biểu diễn. Chiều ngày mồng 8 tháng giêng sẽ là ngày giã hội làng Thành. Làng sẽ tổ chức tế hoàn cung. Khi hoàn cung xong thì ba kiệu lại trở về cơ sở của mình. Đoàn rước lúc này cũng về đình Chung men theo đường ao Mạo.Khi đến đường rẽ lên nghè Miễu thì kiệu thánh Quý Minh sẽ dừng lại để kiệu Dương Quốc Công về. Lúc này kiệu Cao Sơn đi lên đầu, kiệu Quý Minh đi sau, kiệu Cao Sơn chuyển nồi hương vào đến đình Chung thì về thứ 3, cả 3 tiến vào nhà sắc ở ngay giữa làng. Tại đây tề tựu rồi tháo gỡ các kiệu cất vào nhà sắc, lễ hoàn cung xem như đã hoàn thành. Hát Chèo trong hội xuân Cúng trong 3 ngày này, ở đình chùa sẽ tổ chức hát hát chèo, nhà tơ, hát ống….Hát ống là lối hát có đối đáp với nhau, ai hát thì cầm ống hát để cho người bên kia nghe thấy; ống hát được làm bằng ống tre, lấy da con ếch để làm màng loa, hai loa nối với nhau bằng một sợi chỉ truyền âm. Bên kia để ống nghe thu bào tai nghe được thì bỏ tai nghe để làm loa hát cho bên kia đáp lại… Hội làng Thành là hội lớn có tiếng ở tỉnh Bắc Giang. Hội này có cuộc rước kiệu và trò cướp cầu khá hoành tráng, độc đáo. Trong lễ hội, cỗ bàn cúng rất đơn giản không cầu kỳ và cũng không tốn kém. Ngoài lễ hội đầu xuân thì làng Thành còn có lễ hội mùa thu cũng là hội của đình. Nói chung, lệ mùa thu thì bình thường không to, không vui bằng hội xuân. Từ khi có lễ hội Xương Giang, hội làng Thành cũng là hội khiến lễ hội Xương Giang có thêm sức sống.

Related Figures

Lễ hội Hoa Ban - Mường Lò

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 5/2 Âm lịch Vùng Mường Lò Yên Bái là nơi tập trung đông đảo đồng bào dân tộc Thái sinh sống và là nơi có nhiều phong tục, lễ hội, các tục cúng giỗ vô cùng đặc sắc. Bên cạnh các lễ hội như: Rằm tháng Giêng, Xên bản, Xên Mường, Tết Síp xí,..., lễ hội Hoa ban cũng là một hoạt động văn hóa khá tiêu biểu của vùng đất và cuộc sống tinh thần của người dân tộc Thái Mường Lò. Hội Hoa ban là ngày vui của họ hàng, của bản, của mường và là dịp cho trai, gái gặp gỡ, hẹn hò. Cứ vào ngày 5/2 âm lịch hàng năm là lễ hội Hoa ban được tổ chức. Địa điểm tổ chức thường là ở tại hang Thẳm Lé. Lễ hội Hoa Ban - Mường Lò Lễ hội Hoa ban là lễ hội hàm chứa ý nghĩa cầu phồn thực của cư dân nông nghiệp miền núi, với tâm nguyện thỉnh bái "Then" - vị thần tối cao trong hàng ngũ thánh thần theo quan niệm của người dân tộc Thái; thỉnh bái "Nàng Ban" - là một nữ nhân vật huyền thoại biểu thị cho sự trinh trắng của thiếu nữ Thái và biểu thị cho tình yêu đôi lứa thủy chung; thỉnh bái ma trời, ma đường, ma sông, ma núi... phù hộ cho mưa thuận gió hòa, cho mùa màng tươi tốt, cho vạn vật đơm hoa, kết trái và cho lứa đôi hạnh phúc và cuộc sống của người dân bản yên vui. Hòa mình vào khung cảnh hoa ban nở rộ và điệu xòe thái Theo truyền thuyết của người Thái kể rằng: nàng Ban là một cô gái vô cùng xinh đẹp nhưng nàng bị bệnh đậu mùa, nàng không lấy chồng mà nàng lên hang Thẳm Lé (nay thuộc xã Sơn Thịnh, Văn Chấn) sinh sống. Cuối cùng, nàng đã kiệt sức ở đó. Nơi nàng nằm xuống sau đó đã mọc lên một loài hoa mang búp trắng như búp tay người con gái và chẳng bao lâu sau loài hoa ấy mọc lan ra khắp vùng Tây Bắc. Hằng năm cứ mỗi độ xuân về, hoa lại nở trắng núi rừng và người ta đặt tên cho loài hoa đó là hoa ban. Lễ vật trong nghi lễ đó là thịt lợn. Theo người Thái quan niệm lợn là một con vật thông minh và lợn có thể làm trung gian giao tiếp với các thần linh để thỉnh cầu những ước nguyện của người dân bản; đồ lễ bao gồm có: đầu, đuôi, bốn chân, xương thịt, lục phủ, ngũ tạng và mỗi thứ một gói ngoài ra trong số lễ vật để dâng tế thì rượu cũng là một thứ đồ lễ không thể thiếu được. Lễ hội gồm có hai phần: phần lễ là phần để cúng thần linh, phần hội là phần để tạo nên những tiếng cười sảng khoái nhằm giáo dục con người vươn tới cái đẹp. Toàn bộ phần nghi lễ sẽ được thực hiện ở ngoài cửa hang, sau đó ông thầy mo vái "Then" để xin mở cửa hang thì phần hội lúc đó mới được diễn ra cả ở bên trong và ở bên ngoài hang. Nét đẹp người con gái thái trong lễ hội Hoa Ban - Mường Lò Sau lễ cúng, bà con dân bản sẽ được vào hang dự tiếp phần hội. Nội dung chính của phần hội chủ yếu là khắp giao duyên theo điệu han nê. Sau đó sẽ là các trò chơi hái hoa, ném còn và múa xòe. Các chàng trai sẽ giúp các cô gái hái những bông hoa trắng muốt để đem về nhà. Hoa ban còn là món ăn độc đáo trong văn hóa ẩm thực của người dân tộc Thái. Món hoa ban được nấu với gạo nếp thành xôi cho hương vị đậm đà và ngào ngạt hương thơm. Khi hoàng hôn buông xuống thì cũng là lúc kết thúc các trò chơi trong lễ hội. Các cô gái, tràng trai vừa đi vừa nói những lời chia tay nhau đầy lưu luyến, hẹn đến mùa xuân mới, khi hoa ban nở trắng đồi ta sẽ lại gặp nhau...

Vùng Mường Lò Yên Bái là nơi tập trung đông đảo đồng bào dân tộc Thái sinh sống và là nơi có nhiều phong tục, lễ hội, các tục cúng giỗ vô cùng đặc sắc. Bên cạnh các lễ hội như: Rằm tháng Giêng, Xên bản, Xên Mường, Tết Síp xí,..., lễ hội Hoa ban cũng là một hoạt động văn hóa khá tiêu biểu của vùng đất và cuộc sống tinh thần của người dân tộc Thái Mường Lò. Hội Hoa ban là ngày vui của họ hàng, của bản, của mường và là dịp cho trai, gái gặp gỡ, hẹn hò. Cứ vào ngày 5/2 âm lịch hàng năm là lễ hội Hoa ban được tổ chức. Địa điểm tổ chức thường là ở tại hang Thẳm Lé.

Lễ hội Hoa Ban - Mường Lò Lễ hội Hoa ban là lễ hội hàm chứa ý nghĩa cầu phồn thực của cư dân nông nghiệp miền núi, với tâm nguyện thỉnh bái "Then" - vị thần tối cao trong hàng ngũ thánh thần theo quan niệm của người dân tộc Thái; thỉnh bái "Nàng Ban" - là một nữ nhân vật huyền thoại biểu thị cho sự trinh trắng của thiếu nữ Thái và biểu thị cho tình yêu đôi lứa thủy chung; thỉnh bái ma trời, ma đường, ma sông, ma núi... phù hộ cho mưa thuận gió hòa, cho mùa màng tươi tốt, cho vạn vật đơm hoa, kết trái và cho lứa đôi hạnh phúc và cuộc sống của người dân bản yên vui. Hòa mình vào khung cảnh hoa ban nở rộ và điệu xòe thái Theo truyền thuyết của người Thái kể rằng: nàng Ban là một cô gái vô cùng xinh đẹp nhưng nàng bị bệnh đậu mùa, nàng không lấy chồng mà nàng lên hang Thẳm Lé (nay thuộc xã Sơn Thịnh, Văn Chấn) sinh sống. Cuối cùng, nàng đã kiệt sức ở đó. Nơi nàng nằm xuống sau đó đã mọc lên một loài hoa mang búp trắng như búp tay người con gái và chẳng bao lâu sau loài hoa ấy mọc lan ra khắp vùng Tây Bắc. Hằng năm cứ mỗi độ xuân về, hoa lại nở trắng núi rừng và người ta đặt tên cho loài hoa đó là hoa ban. Lễ vật trong nghi lễ đó là thịt lợn. Theo người Thái quan niệm lợn là một con vật thông minh và lợn có thể làm trung gian giao tiếp với các thần linh để thỉnh cầu những ước nguyện của người dân bản; đồ lễ bao gồm có: đầu, đuôi, bốn chân, xương thịt, lục phủ, ngũ tạng và mỗi thứ một gói ngoài ra trong số lễ vật để dâng tế thì rượu cũng là một thứ đồ lễ không thể thiếu được. Lễ hội gồm có hai phần: phần lễ là phần để cúng thần linh, phần hội là phần để tạo nên những tiếng cười sảng khoái nhằm giáo dục con người vươn tới cái đẹp. Toàn bộ phần nghi lễ sẽ được thực hiện ở ngoài cửa hang, sau đó ông thầy mo vái "Then" để xin mở cửa hang thì phần hội lúc đó mới được diễn ra cả ở bên trong và ở bên ngoài hang. Nét đẹp người con gái thái trong lễ hội Hoa Ban - Mường Lò Sau lễ cúng, bà con dân bản sẽ được vào hang dự tiếp phần hội. Nội dung chính của phần hội chủ yếu là khắp giao duyên theo điệu han nê. Sau đó sẽ là các trò chơi hái hoa, ném còn và múa xòe. Các chàng trai sẽ giúp các cô gái hái những bông hoa trắng muốt để đem về nhà. Hoa ban còn là món ăn độc đáo trong văn hóa ẩm thực của người dân tộc Thái. Món hoa ban được nấu với gạo nếp thành xôi cho hương vị đậm đà và ngào ngạt hương thơm. Khi hoàng hôn buông xuống thì cũng là lúc kết thúc các trò chơi trong lễ hội. Các cô gái, tràng trai vừa đi vừa nói những lời chia tay nhau đầy lưu luyến, hẹn đến mùa xuân mới, khi hoa ban nở trắng đồi ta sẽ lại gặp nhau...

Related Figures

Lễ hội cúng rừng của người Nùng

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 30/1 Âm lịch (lehoi.info)- Lễ hội cúng rừng là một trong những lễ hội truyền thống đặc sắc của người dân tộc Nùng. Hội thường được tổ chức 2 lần trong năm và tại 2 địa điểm khác nhau. Lần thứ nhất sẽ diễn ra vào ngày 30 tháng Giêng. Hội cúng rừng lần hai sẽ diễn ra vào ngày mồng 2 tháng Bảy âm lịch. Địa điểm tổ chức tại một khu rừng cấm, trên một cánh đồng hoặc gò bãi. Theo quan niệm của người dân tộc Nùng, rừng là tất cả đối với họ, rừng đã tạo nên cuộc sống no ấm, hạnh phúc và yên bình cho mọi người, chính vì vậy lễ hội cúng rừng có một ý nghĩa sâu sắc, để giáo dục ý thức cho con cháu họ phải gìn giữ, bảo vệ rừng… Lễ hội cúng rừng của người Nùng tại Bắc Giang Xưa kia lễ hội cúng rừng tổ chức vào ngày 30 tháng Giêng thường do các già bản đứng ra tổ chức, họ mời thầy mo, thầy cúng có kinh nghiệm để tiến hành các thủ tục nghi lễ. Ngày này sẽ do trưởng thôn hoặc trưởng bản đứng ra lo liệu tổ chức. Lễ cúng rừng được chuẩn bị rất kỹ càng. Khu rừng cấm sẽ được dọn dẹp sạch sẽ, lập một bàn thờ có dán giấy đỏ… Lễ vật cúng rừng bao gồm: thịt gà, Rượu nếp cẩm, thịt lợn, vàng, hương... Bàn thờ bày lễ vật có hai tầng: Lễ vật để mâm sẽ có 1 con gà trống lông đỏ mào lá, 1 con lợn đực màu đen tuyền, 7 chén rượu, 1 đĩa muối trắng, 1 bát nước trắng, 7 bát cơm, 7 xâu thịt và có 1 bát thịt tổng hợp - đó chính là bát bảo hộ đất nước, 7 ngựa giấy đen, một ô được làm bằng giấy đen để che bình hương được bện từ cây cỏ và thắp 7 nén hương. Lễ vật mâm dưới gồm có 1 con gà trống, 1 miếng thịt lợn, 5 xiên thịt, 5 chén rượu, 5 bát cơm, 5 ngựa giấy màu và 1 bát ăn chay. Sau khi lễ vật được chuẩn bị chu đáo, trưởng thôn, trưởng bản sẽ thay nhau hành lễ, quỳ lạy hai lần 4 phương, mỗi lần lạy 3 lạy - cầu mong cho mưa thuận, gió hoà, nguồn nước được dồi dào, dân được bình yên vô sự. Tiếp đó mọi người sẽ giết lợn, gà để làm lễ cúng. Khi hành lễ xong mọi người mới được tham ra dự hội và bắt đầu thưởng thức ẩm thực tại chỗ trong bầu không khí đầm ấm của cộng đồng. Trưởng bản đang thực hiện nghi lễ cúng rừng Hội cúng rừng vào diễn ra vào ngày mồng 2 tháng Bảy âm lịch, cũng được tổ chức tại một khu rừng cấm, ở cánh đồng hoặc gò bãi. Thần ở khu rừng này chỉ có thể bảo vệ cây trồng ở đồng ruộng , gò bãi. Điểm tiến hành nghi lễ được chuẩn bị bàn thờ, lễ vật cũng như ngày cúng rừng 30 tháng Giêng, ngoài ra còn có 1 con vịt. Mọi quy trình hành lễ cũng theo như lễ cúng rừng trước. Những người đi dự hội cúng rừng ai cũng phải đội mũ, chân đi giày hoặc đi dép, không được ăn ớt và cơm cháy. Nếu ai không tuân thủ những quy định chung này thì mùa màng sẽ thất bát và đói kém.

Related Figures

Lễ hội Nghinh Ông đình Thắng Tam

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 16/8- 18/8 Âm lịch (lehoi.info) - Tháng 8 âm lịch hàng năm, trên địa bàn tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu người dân ở các làng cá đều tổ chức Lễ hội Nghinh Ông nhưng nổi bật nhất là Lễ hội Lăng Ông - đình Thắng Tam. Lễ hội Nghinh Ông đình Thắng Tam (Nghinh ông Nam hải Đại Tướng Quân) thường tổ chức từ ngày 16-18 tháng 8 âm lịch hàng năm. Đây cũng là dịp để những ngư dân nơi này cầu mong sự bình yên khi đi biển, và cầu đánh bắt được nhiều tôm cá, để có một cuộc sống ấm no, thịnh vượng, và hạnh phúc trường tồn. Lễ hội Nghinh Ông đình Thắng Tam tại Bà Rịa - Vũng Tàu Lễ hội nghinh Ông là một lễ hội nước lớn nhất của những người ngư dân Bà Rịa - Vũng Tàu. Lễ hội này còn có nhiều tên gọi khác nhau như lễ rước cốt ông, lễ tế cá "Ông", lễ cầu ngư, lễ nghinh "Ông", lễ cúng "Ông" hay lễ nghinh ông Thủy tướng, nhưng tất cả lễ này đều có một quan niệm chung rằng cá "Ông" chính là một sinh vật thiêng ở biển, là cứu tinh của những ngư dân và người làm nghề trên biển nói chung. Điều này đã trở thành một tín ngưỡng truyền thống phổ biến trong các thế hệ ngư dân tại các vùng ven biển. Đội múa lân múa rồng trong Lễ hội Nghinh Ông đình Thắng Tam Lễ hội Nghinh Ông đình Thắng Tam ở tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, thường được bắt đầu từ sáng sớm ngày 16/8 âm lịch với một đoàn người gồm các vị bô lão, kỳ hương... sẽ lên một chiếc ghe lớn (có trang trí bàn thờ, hoa, cờ, và bài vị thuỷ tướng, còn có cả đoàn nhạc ngũ âm, chiêng, trống và đội múa lân rất náo nhiệt) đi đến một nơi đã định để dâng hương, dâng rượu. Sau đó, đoàn thuyền sẽ về bến rước Ông đến lăng, và tiếp dến sẽ thực hiện các lễ như: cúng Tiền Hiền, Hậu Hiền, sắc phong, đọc văn tế, học trò dâng rượu, trà, hoa... Lễ hội Nghinh Ông là một lễ hội phổ biến ở các vùng biển Đến với lễ hội Nghinh Ông đình Thắng Tam, du khách còn được thưởng thức nhiều tiết mục đặc sắc như: võ thuật, hát Bội, múa lân.. hòa với nhịp điệu của chiêng, trống trong làn khói hương nghi ngút. Đoàn rước cá "Ông" trong Lễ hội Nghinh Ông đình Thắng Tam tại Bà Rịa - Vũng Tàu

(lehoi.info) - Tháng 8 âm lịch hàng năm, trên địa bàn tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu người dân ở các làng cá đều tổ chức Lễ hội Nghinh Ông nhưng nổi bật nhất là Lễ hội Lăng Ông - đình Thắng Tam. Lễ hội Nghinh Ông đình Thắng Tam (Nghinh ông Nam hải Đại Tướng Quân) thường tổ chức từ ngày 16-18 tháng 8 âm lịch hàng năm. Đây cũng là dịp để những ngư dân nơi này cầu mong sự bình yên khi đi biển, và cầu đánh bắt được nhiều tôm cá, để có một cuộc sống ấm no, thịnh vượng, và hạnh phúc trường tồn.

Lễ hội Nghinh Ông đình Thắng Tam tại Bà Rịa - Vũng Tàu Lễ hội nghinh Ông là một lễ hội nước lớn nhất của những người ngư dân Bà Rịa - Vũng Tàu. Lễ hội này còn có nhiều tên gọi khác nhau như lễ rước cốt ông, lễ tế cá "Ông", lễ cầu ngư, lễ nghinh "Ông", lễ cúng "Ông" hay lễ nghinh ông Thủy tướng, nhưng tất cả lễ này đều có một quan niệm chung rằng cá "Ông" chính là một sinh vật thiêng ở biển, là cứu tinh của những ngư dân và người làm nghề trên biển nói chung. Điều này đã trở thành một tín ngưỡng truyền thống phổ biến trong các thế hệ ngư dân tại các vùng ven biển. Đội múa lân múa rồng trong Lễ hội Nghinh Ông đình Thắng Tam Lễ hội Nghinh Ông đình Thắng Tam ở tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, thường được bắt đầu từ sáng sớm ngày 16/8 âm lịch với một đoàn người gồm các vị bô lão, kỳ hương... sẽ lên một chiếc ghe lớn (có trang trí bàn thờ, hoa, cờ, và bài vị thuỷ tướng, còn có cả đoàn nhạc ngũ âm, chiêng, trống và đội múa lân rất náo nhiệt) đi đến một nơi đã định để dâng hương, dâng rượu. Sau đó, đoàn thuyền sẽ về bến rước Ông đến lăng, và tiếp dến sẽ thực hiện các lễ như: cúng Tiền Hiền, Hậu Hiền, sắc phong, đọc văn tế, học trò dâng rượu, trà, hoa... Lễ hội Nghinh Ông là một lễ hội phổ biến ở các vùng biển Đến với lễ hội Nghinh Ông đình Thắng Tam, du khách còn được thưởng thức nhiều tiết mục đặc sắc như: võ thuật, hát Bội, múa lân.. hòa với nhịp điệu của chiêng, trống trong làn khói hương nghi ngút. Đoàn rước cá "Ông" trong Lễ hội Nghinh Ông đình Thắng Tam tại Bà Rịa - Vũng Tàu

Lễ hội nghinh Ông là một lễ hội nước lớn nhất của những người ngư dân Bà Rịa - Vũng Tàu. Lễ hội này còn có nhiều tên gọi khác nhau như lễ rước cốt ông, lễ tế cá "Ông", lễ cầu ngư, lễ nghinh "Ông", lễ cúng "Ông" hay lễ nghinh ông Thủy tướng, nhưng tất cả lễ này đều có một quan niệm chung rằng cá "Ông" chính là một sinh vật thiêng ở biển, là cứu tinh của những ngư dân và người làm nghề trên biển nói chung. Điều này đã trở thành một tín ngưỡng truyền thống phổ biến trong các thế hệ ngư dân tại các vùng ven biển. Đội múa lân múa rồng trong Lễ hội Nghinh Ông đình Thắng Tam Lễ hội Nghinh Ông đình Thắng Tam ở tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, thường được bắt đầu từ sáng sớm ngày 16/8 âm lịch với một đoàn người gồm các vị bô lão, kỳ hương... sẽ lên một chiếc ghe lớn (có trang trí bàn thờ, hoa, cờ, và bài vị thuỷ tướng, còn có cả đoàn nhạc ngũ âm, chiêng, trống và đội múa lân rất náo nhiệt) đi đến một nơi đã định để dâng hương, dâng rượu. Sau đó, đoàn thuyền sẽ về bến rước Ông đến lăng, và tiếp dến sẽ thực hiện các lễ như: cúng Tiền Hiền, Hậu Hiền, sắc phong, đọc văn tế, học trò dâng rượu, trà, hoa... Lễ hội Nghinh Ông là một lễ hội phổ biến ở các vùng biển Đến với lễ hội Nghinh Ông đình Thắng Tam, du khách còn được thưởng thức nhiều tiết mục đặc sắc như: võ thuật, hát Bội, múa lân.. hòa với nhịp điệu của chiêng, trống trong làn khói hương nghi ngút. Đoàn rước cá "Ông" trong Lễ hội Nghinh Ông đình Thắng Tam tại Bà Rịa - Vũng Tàu

Related Figures

Hội Đả cầu Lương Phong

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 9/1 Âm lịch (lehoi.info)- Lương Phong là một làng cổ của huyện Hiệp Hoà, Bắc Giang. Người dân nơi đây thường làm nghề nông là chính. Sau một năm làm ăn vất vả, khó nhọc, người dân Lương Phong được nghỉ ngơi và tận hưởng những ngày tết vui vẻ bên gia đình . Sau dịp tết Nguyên Đán, người dân Lương Phong sẽ tổ chức hội lệ vào ngày mồng 9 tết. Hội Lương Phong diễn ra tại đình Câu, các nghè, chùa Khánh, lăng họ Trần và đền Giếng Thuỷ Thần, thường được tổ chức rất to. Đó là một không gian hội tương đối rộng, trải rộng trên khắp địa bàn xã Lương Phong cũ, nhưng trung tâm vẫn là đình Câu. Đình Câu là một ngôi đình có quy khá mô lớn, nằm ở trên đỉnh của đồi Đình, ở giữa làng Chớp. Ngôi đình này đã được xây dựng vào thời Lê Trung Hưng ( thế kỷ XIII ) do sự gia đình viên quan thời Lê có tước quận công là Trần Đình Ngọc cùng sự góp sức của bà con làng xã. Trong đình thờ vị thành hoàng làng. Lễ rước kiệu Chuẩn bị vào ngày hội , dân xã sẽ cho người của giáp Đông và Đoài dọn dẹp sạch sẽ bãi hội, bốc cầu, định chỗ đả cầu, cắm cờ dựng phướn, làm sới vật….Cai đám cùng các vị Câu đương được bầu ra để lo công việc cho dân. Các vị này trong ngày mồng 6 tháng Giêng đều phải đem lễ vật xôi, gà ra đình để tế lễ để rước cầu lớn, cầu bé về đặt thờ dưới nồi hương ở đình để chuẩn bị cho hội. Hội đình Câu được du khách khắp nơi biết đến bởi trong lễ hội này có tổ chức rước sách, đả cầu, bốc cầu, cũng chính vì thế mà người ta đặt tên cho hội này là hội đả cầu. Vào ngày mồng 8 tháng giêng, dân làng sẽ cho đóng kiệu ở đình, sau đó tổ chức các tổ vào hội. Sáng ngày mồng 9, dân làng tổ chức lễ rước sắc từ nghè về đình. Ở Lương Phong xưa có tục lệ: Mỗi năm giáo sắc cho từng thôn, từng xóm được lưu giữ ở nghè thôn, mỗi thôn sẽ giữ một năm: khi thôn đăng cai tổ chức lễ rước sắc lên đình thì các thôn khác cũng sẽ tham gia. Sau đó dân làng lại trở về nhà thờ họ Trần tại thôn Chấp rước nồi hương thờ quận công Trần Đình Ngọc lên đình thờ. Lễ rước này cũng có kiệu và các đồ nghi trượng long trọng như lễ rước sắc. Nồi hương này được đặt ở bên phải của đình, sau đó người dân trong thôn tổ chức tế lễ, chèo hát rất nghiêm trang, nhưng cũng rất vui vẻ. Trong ngày này họ Trần sẽ cử ra người đại diện để lên đình cùng với cụ từ và ban tổ chức để trông nom việc đèn hương và tế lễ. Những thành viên khác trong dòng họ cũng tham gia hội như những người trong làng xã. Sáng hôm sau, ngày mồng 10 tháng giêng dân làng sẽ tổ chức thi bốc cầu. Cúng phết Cầu bốc là loại cầu nhỏ được làm bằng gỗ, có đường kính ước chừng 40 cm khi chơi cầu sẽ chia làm hai phe bên Đông và bên Đoài. Cai đám bưng cầu tiến ra giữa sân để gieo cầu, trước khi gieo cầu ông sẽ tuyên bố lý do và cầu cho một năm mùa màng tươi tốt. Quả cầu khi được gieo xuống khỏi tay cai đám thì trai đinh hai bên sẽ xông vào tranh cầu đem cầu về lỗ cầu bên kia để bỏ, nếu bỏ được thì là phe thắng. Chơi bốc cầu chỉ dùng tay để tranh cầu chứ không được dùng dụng cụ. Đả cầu còn được gọi là cầu phết, hay đánh phết. Cầu phết có kích thước to hơn cầu bốc, cầu cũng được làm bằng gỗ, có đường kính ước chừng 60 cm. Khi ông đám gieo cầu, chia hai bên mỗi người có một cái phết được làm bằng tre để đá cầu. Phết cầu là dùng chiếc cù nèo để khèo cầu. Đầu của cù nèo là đoạn củ tre cong để đẩy, khèo cầu về đến hết sân đối phương, nếu đẩy được đến hết sân thì sẽ thắng cuộc. Bắt đầu tung phết và phổ biến luật chơi Có ba người chỉ huy cuộc chơi, chỉ huy chính là người cầm cờ sai, một người cầm cồng và người còn lại cầm lệnh; hai người cầm cồng và cầm lệnh chỉ được đứng bên ngoài để gõ động viên, thôi thúc cuộc chơi. Sau khi cuộc đả cầu kết thúc thì cũng là lúc hội vật bắt đầu. Sới vật mở ra đều có giải, ai tham gia đều có giải. Luật chơi ở đây là qua vật lèo rồi mới đến vật giải. Đô nào “ túc ki địa” hay “ lấm lưng trắng bụng” sẽ là người thua. Xong hội vật lại đến tế lễ, rồi hạ lễ để kết thúc ngày hội. Bánh dày của 8 giáp được hạ xuống để chấm điểm lấy giải. Cỗ nào nhất thì người dân xã sẽ mang biếu nhà thờ họ Trần. Cụ nào cao tuổi nhất làng sẽ được biếu một miếng bánh dầy. Các cụ khác cùng tham gia hội thì ngả cỗ ra ăn và được mang phần về chia phần cho con cháu. Cỗ bánh dày to nhất giành được giải nhất làng sẽ được thưởng bằng trầu cau. Cỗ dân lang mang về nhà thờ họ Trần thì sẽ được chia cho con cháu trong dòng họ. Phần còn lại thì nhà ông trưởng họ sẽ được hưởng cả. Xã Lương Phong ngày nay gồm 3 xã cũ là xã Thiện Mĩ, Lương Phong và Sơn Quả. Tuy đã hợp ba xã cũ thành một xã mới thế nhưng các nơi cứ gọi chung cho cả ba xã này là vùng Gió- Lương Phong. Đây cũng là một vùng đất đẹp và có nhiều phong tục cổ truyền đẹp.

(lehoi.info)- Lương Phong là một làng cổ của huyện Hiệp Hoà, Bắc Giang. Người dân nơi đây thường làm nghề nông là chính. Sau một năm làm ăn vất vả, khó nhọc, người dân Lương Phong được nghỉ ngơi và tận hưởng những ngày tết vui vẻ bên gia đình . Sau dịp tết Nguyên Đán, người dân Lương Phong sẽ tổ chức hội lệ vào ngày mồng 9 tết. Hội Lương Phong diễn ra tại đình Câu, các nghè, chùa Khánh, lăng họ Trần và đền Giếng Thuỷ Thần, thường được tổ chức rất to. Đó là một không gian hội tương đối rộng, trải rộng trên khắp địa bàn xã Lương Phong cũ, nhưng trung tâm vẫn là đình Câu. Đình Câu là một ngôi đình có quy khá mô lớn, nằm ở trên đỉnh của đồi Đình, ở giữa làng Chớp. Ngôi đình này đã được xây dựng vào thời Lê Trung Hưng ( thế kỷ XIII ) do sự gia đình viên quan thời Lê có tước quận công là Trần Đình Ngọc cùng sự góp sức của bà con làng xã. Trong đình thờ vị thành hoàng làng. Lễ rước kiệu Chuẩn bị vào ngày hội , dân xã sẽ cho người của giáp Đông và Đoài dọn dẹp sạch sẽ bãi hội, bốc cầu, định chỗ đả cầu, cắm cờ dựng phướn, làm sới vật….Cai đám cùng các vị Câu đương được bầu ra để lo công việc cho dân. Các vị này trong ngày mồng 6 tháng Giêng đều phải đem lễ vật xôi, gà ra đình để tế lễ để rước cầu lớn, cầu bé về đặt thờ dưới nồi hương ở đình để chuẩn bị cho hội. Hội đình Câu được du khách khắp nơi biết đến bởi trong lễ hội này có tổ chức rước sách, đả cầu, bốc cầu, cũng chính vì thế mà người ta đặt tên cho hội này là hội đả cầu. Vào ngày mồng 8 tháng giêng, dân làng sẽ cho đóng kiệu ở đình, sau đó tổ chức các tổ vào hội. Sáng ngày mồng 9, dân làng tổ chức lễ rước sắc từ nghè về đình. Ở Lương Phong xưa có tục lệ: Mỗi năm giáo sắc cho từng thôn, từng xóm được lưu giữ ở nghè thôn, mỗi thôn sẽ giữ một năm: khi thôn đăng cai tổ chức lễ rước sắc lên đình thì các thôn khác cũng sẽ tham gia. Sau đó dân làng lại trở về nhà thờ họ Trần tại thôn Chấp rước nồi hương thờ quận công Trần Đình Ngọc lên đình thờ. Lễ rước này cũng có kiệu và các đồ nghi trượng long trọng như lễ rước sắc. Nồi hương này được đặt ở bên phải của đình, sau đó người dân trong thôn tổ chức tế lễ, chèo hát rất nghiêm trang, nhưng cũng rất vui vẻ. Trong ngày này họ Trần sẽ cử ra người đại diện để lên đình cùng với cụ từ và ban tổ chức để trông nom việc đèn hương và tế lễ. Những thành viên khác trong dòng họ cũng tham gia hội như những người trong làng xã. Sáng hôm sau, ngày mồng 10 tháng giêng dân làng sẽ tổ chức thi bốc cầu. Cúng phết Cầu bốc là loại cầu nhỏ được làm bằng gỗ, có đường kính ước chừng 40 cm khi chơi cầu sẽ chia làm hai phe bên Đông và bên Đoài. Cai đám bưng cầu tiến ra giữa sân để gieo cầu, trước khi gieo cầu ông sẽ tuyên bố lý do và cầu cho một năm mùa màng tươi tốt. Quả cầu khi được gieo xuống khỏi tay cai đám thì trai đinh hai bên sẽ xông vào tranh cầu đem cầu về lỗ cầu bên kia để bỏ, nếu bỏ được thì là phe thắng. Chơi bốc cầu chỉ dùng tay để tranh cầu chứ không được dùng dụng cụ. Đả cầu còn được gọi là cầu phết, hay đánh phết. Cầu phết có kích thước to hơn cầu bốc, cầu cũng được làm bằng gỗ, có đường kính ước chừng 60 cm. Khi ông đám gieo cầu, chia hai bên mỗi người có một cái phết được làm bằng tre để đá cầu. Phết cầu là dùng chiếc cù nèo để khèo cầu. Đầu của cù nèo là đoạn củ tre cong để đẩy, khèo cầu về đến hết sân đối phương, nếu đẩy được đến hết sân thì sẽ thắng cuộc. Bắt đầu tung phết và phổ biến luật chơi Có ba người chỉ huy cuộc chơi, chỉ huy chính là người cầm cờ sai, một người cầm cồng và người còn lại cầm lệnh; hai người cầm cồng và cầm lệnh chỉ được đứng bên ngoài để gõ động viên, thôi thúc cuộc chơi. Sau khi cuộc đả cầu kết thúc thì cũng là lúc hội vật bắt đầu. Sới vật mở ra đều có giải, ai tham gia đều có giải. Luật chơi ở đây là qua vật lèo rồi mới đến vật giải. Đô nào “ túc ki địa” hay “ lấm lưng trắng bụng” sẽ là người thua. Xong hội vật lại đến tế lễ, rồi hạ lễ để kết thúc ngày hội. Bánh dày của 8 giáp được hạ xuống để chấm điểm lấy giải. Cỗ nào nhất thì người dân xã sẽ mang biếu nhà thờ họ Trần. Cụ nào cao tuổi nhất làng sẽ được biếu một miếng bánh dầy. Các cụ khác cùng tham gia hội thì ngả cỗ ra ăn và được mang phần về chia phần cho con cháu. Cỗ bánh dày to nhất giành được giải nhất làng sẽ được thưởng bằng trầu cau. Cỗ dân lang mang về nhà thờ họ Trần thì sẽ được chia cho con cháu trong dòng họ. Phần còn lại thì nhà ông trưởng họ sẽ được hưởng cả. Xã Lương Phong ngày nay gồm 3 xã cũ là xã Thiện Mĩ, Lương Phong và Sơn Quả. Tuy đã hợp ba xã cũ thành một xã mới thế nhưng các nơi cứ gọi chung cho cả ba xã này là vùng Gió- Lương Phong. Đây cũng là một vùng đất đẹp và có nhiều phong tục cổ truyền đẹp.

(lehoi.info)- Lương Phong là một làng cổ của huyện Hiệp Hoà, Bắc Giang. Người dân nơi đây thường làm nghề nông là chính. Sau một năm làm ăn vất vả, khó nhọc, người dân Lương Phong được nghỉ ngơi và tận hưởng những ngày tết vui vẻ bên gia đình . Sau dịp tết Nguyên Đán, người dân Lương Phong sẽ tổ chức hội lệ vào ngày mồng 9 tết. Hội Lương Phong diễn ra tại đình Câu, các nghè, chùa Khánh, lăng họ Trần và đền Giếng Thuỷ Thần, thường được tổ chức rất to. Đó là một không gian hội tương đối rộng, trải rộng trên khắp địa bàn xã Lương Phong cũ, nhưng trung tâm vẫn là đình Câu.

Đình Câu là một ngôi đình có quy khá mô lớn, nằm ở trên đỉnh của đồi Đình, ở giữa làng Chớp. Ngôi đình này đã được xây dựng vào thời Lê Trung Hưng ( thế kỷ XIII ) do sự gia đình viên quan thời Lê có tước quận công là Trần Đình Ngọc cùng sự góp sức của bà con làng xã. Trong đình thờ vị thành hoàng làng. Lễ rước kiệu Chuẩn bị vào ngày hội , dân xã sẽ cho người của giáp Đông và Đoài dọn dẹp sạch sẽ bãi hội, bốc cầu, định chỗ đả cầu, cắm cờ dựng phướn, làm sới vật….Cai đám cùng các vị Câu đương được bầu ra để lo công việc cho dân. Các vị này trong ngày mồng 6 tháng Giêng đều phải đem lễ vật xôi, gà ra đình để tế lễ để rước cầu lớn, cầu bé về đặt thờ dưới nồi hương ở đình để chuẩn bị cho hội. Hội đình Câu được du khách khắp nơi biết đến bởi trong lễ hội này có tổ chức rước sách, đả cầu, bốc cầu, cũng chính vì thế mà người ta đặt tên cho hội này là hội đả cầu. Vào ngày mồng 8 tháng giêng, dân làng sẽ cho đóng kiệu ở đình, sau đó tổ chức các tổ vào hội. Sáng ngày mồng 9, dân làng tổ chức lễ rước sắc từ nghè về đình. Ở Lương Phong xưa có tục lệ: Mỗi năm giáo sắc cho từng thôn, từng xóm được lưu giữ ở nghè thôn, mỗi thôn sẽ giữ một năm: khi thôn đăng cai tổ chức lễ rước sắc lên đình thì các thôn khác cũng sẽ tham gia. Sau đó dân làng lại trở về nhà thờ họ Trần tại thôn Chấp rước nồi hương thờ quận công Trần Đình Ngọc lên đình thờ. Lễ rước này cũng có kiệu và các đồ nghi trượng long trọng như lễ rước sắc. Nồi hương này được đặt ở bên phải của đình, sau đó người dân trong thôn tổ chức tế lễ, chèo hát rất nghiêm trang, nhưng cũng rất vui vẻ. Trong ngày này họ Trần sẽ cử ra người đại diện để lên đình cùng với cụ từ và ban tổ chức để trông nom việc đèn hương và tế lễ. Những thành viên khác trong dòng họ cũng tham gia hội như những người trong làng xã. Sáng hôm sau, ngày mồng 10 tháng giêng dân làng sẽ tổ chức thi bốc cầu. Cúng phết Cầu bốc là loại cầu nhỏ được làm bằng gỗ, có đường kính ước chừng 40 cm khi chơi cầu sẽ chia làm hai phe bên Đông và bên Đoài. Cai đám bưng cầu tiến ra giữa sân để gieo cầu, trước khi gieo cầu ông sẽ tuyên bố lý do và cầu cho một năm mùa màng tươi tốt. Quả cầu khi được gieo xuống khỏi tay cai đám thì trai đinh hai bên sẽ xông vào tranh cầu đem cầu về lỗ cầu bên kia để bỏ, nếu bỏ được thì là phe thắng. Chơi bốc cầu chỉ dùng tay để tranh cầu chứ không được dùng dụng cụ. Đả cầu còn được gọi là cầu phết, hay đánh phết. Cầu phết có kích thước to hơn cầu bốc, cầu cũng được làm bằng gỗ, có đường kính ước chừng 60 cm. Khi ông đám gieo cầu, chia hai bên mỗi người có một cái phết được làm bằng tre để đá cầu. Phết cầu là dùng chiếc cù nèo để khèo cầu. Đầu của cù nèo là đoạn củ tre cong để đẩy, khèo cầu về đến hết sân đối phương, nếu đẩy được đến hết sân thì sẽ thắng cuộc. Bắt đầu tung phết và phổ biến luật chơi Có ba người chỉ huy cuộc chơi, chỉ huy chính là người cầm cờ sai, một người cầm cồng và người còn lại cầm lệnh; hai người cầm cồng và cầm lệnh chỉ được đứng bên ngoài để gõ động viên, thôi thúc cuộc chơi. Sau khi cuộc đả cầu kết thúc thì cũng là lúc hội vật bắt đầu. Sới vật mở ra đều có giải, ai tham gia đều có giải. Luật chơi ở đây là qua vật lèo rồi mới đến vật giải. Đô nào “ túc ki địa” hay “ lấm lưng trắng bụng” sẽ là người thua. Xong hội vật lại đến tế lễ, rồi hạ lễ để kết thúc ngày hội. Bánh dày của 8 giáp được hạ xuống để chấm điểm lấy giải. Cỗ nào nhất thì người dân xã sẽ mang biếu nhà thờ họ Trần. Cụ nào cao tuổi nhất làng sẽ được biếu một miếng bánh dầy. Các cụ khác cùng tham gia hội thì ngả cỗ ra ăn và được mang phần về chia phần cho con cháu. Cỗ bánh dày to nhất giành được giải nhất làng sẽ được thưởng bằng trầu cau. Cỗ dân lang mang về nhà thờ họ Trần thì sẽ được chia cho con cháu trong dòng họ. Phần còn lại thì nhà ông trưởng họ sẽ được hưởng cả. Xã Lương Phong ngày nay gồm 3 xã cũ là xã Thiện Mĩ, Lương Phong và Sơn Quả. Tuy đã hợp ba xã cũ thành một xã mới thế nhưng các nơi cứ gọi chung cho cả ba xã này là vùng Gió- Lương Phong. Đây cũng là một vùng đất đẹp và có nhiều phong tục cổ truyền đẹp.

Related Figures

Lễ cầu mưa của người S’tiêng Bù Lơ

Thông tin thời kỳ

Lễ hội cầu mưa là một trong những nghi lễ quan trọng và thiêng liêng nhất của người STiêng Bù Lơ. Hàng năm cứ vào cuối mùa khô, đầu mùa mưa người STiêng Bù Lơ sẽ tổ chức làm lễ cầu mưa theo từng bon (Wăng). Chuẩn bị làm lễ cầu mưa Lễ cầu mưa được làm theo từng wang nên trước khi tổ chức buổi lễ các vị Già làng và chủ làng sẽ họp để ấn định thời gian hành lễ, sau đó tập trung cả bon để phân công công việc cụ thể, trong đó; - Trai tráng và một số nghệ nhân làm cột cây nêu và những công việc nặng nhọc khác. - Phụ nữ chuẩn bị củi, nước, gạo nếp, ống nứa để nấu cơm lam, một ché rượu cần để cúng lễ. Khi công việc chuẩn bị đã xong và đến giờ làm lễ, cả làng sẽ tập trung đầy đủ và buộc chặt trâu vào cây nêu, sau đó dân bản đúng thành vòng tròn quanh cây nêu để chứng kiến nghi lễ. Cột trâu vào cây nêu Tiếp đó, Già làng (Bu Kuông) sẽ tuyên bố lý do buổi lễ và phân công 1 đến 3 người đàn ông khỏe mạnh ở độ tuổi trung niên cầm lao hoặc chà gạc để giết trâu. Khi con trâu chết, Già làng lấy máu bôi lên cột cây nêu, dùng gạo trắng và muối rải lên mình trâu. Làm xong, già làng ngồi bên ché rượu cần để cúng các vị thần lúa, thần mưa, thần rừng, cầu cho mưa thuận gió hoà để dân làng có một mùa vụ năm mới bội thu, cầu cho vạn vật sinh sôi nảy nở. Lễ cầu mưa của người S’tiêng Bù Lơ Xong nghi lễ, mọi người xẻ trâu lấy thịt nướng, uống rượu cần và xem những màn biểu diễn cồng chiêng, những điệu múa của các nam nữ miền sơn cước. Khi đêm đến, mọi người sẽ được già làng giáo huấn về luật tục và xướng sử thi cho đến sáng hôm sau. Tổng hợp

Lễ hội cầu mưa là một trong những nghi lễ quan trọng và thiêng liêng nhất của người STiêng Bù Lơ. Hàng năm cứ vào cuối mùa khô, đầu mùa mưa người STiêng Bù Lơ sẽ tổ chức làm lễ cầu mưa theo từng bon (Wăng).

Chuẩn bị làm lễ cầu mưa

Lễ cầu mưa được làm theo từng wang nên trước khi tổ chức buổi lễ các vị Già làng và chủ làng sẽ họp để ấn định thời gian hành lễ, sau đó tập trung cả bon để phân công công việc cụ thể, trong đó; - Trai tráng và một số nghệ nhân làm cột cây nêu và những công việc nặng nhọc khác. - Phụ nữ chuẩn bị củi, nước, gạo nếp, ống nứa để nấu cơm lam, một ché rượu cần để cúng lễ. Khi công việc chuẩn bị đã xong và đến giờ làm lễ, cả làng sẽ tập trung đầy đủ và buộc chặt trâu vào cây nêu, sau đó dân bản đúng thành vòng tròn quanh cây nêu để chứng kiến nghi lễ. Cột trâu vào cây nêu Tiếp đó, Già làng (Bu Kuông) sẽ tuyên bố lý do buổi lễ và phân công 1 đến 3 người đàn ông khỏe mạnh ở độ tuổi trung niên cầm lao hoặc chà gạc để giết trâu. Khi con trâu chết, Già làng lấy máu bôi lên cột cây nêu, dùng gạo trắng và muối rải lên mình trâu. Làm xong, già làng ngồi bên ché rượu cần để cúng các vị thần lúa, thần mưa, thần rừng, cầu cho mưa thuận gió hoà để dân làng có một mùa vụ năm mới bội thu, cầu cho vạn vật sinh sôi nảy nở. Lễ cầu mưa của người S’tiêng Bù Lơ Xong nghi lễ, mọi người xẻ trâu lấy thịt nướng, uống rượu cần và xem những màn biểu diễn cồng chiêng, những điệu múa của các nam nữ miền sơn cước. Khi đêm đến, mọi người sẽ được già làng giáo huấn về luật tục và xướng sử thi cho đến sáng hôm sau. Tổng hợp

Related Figures

Lễ hội Dạ cổ hoài lang

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 12/8 Âm lịch (lehoi.info) - Lễ hội Dạ cổ hoài lang hay Lễ giỗ tổ cổ nhạc Bạc Liêu được tổ chức vào ngày 12 tháng 8 âm lịch hàng năm, tại Khu lưu niệm của cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu, tại phường 2, Thị xã Bạc Liêu. Lễ hội Dạ cổ hoài lang là sự tri ân cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu, người đã có công sáng tạo nên loại hình nghệ thuật truyền thống độc đáo này cho dân tộc. Lễ hội Dạ cổ hoài lang tại Bạc Liêu Hàng năm cứ đến ngày 12 tháng 8 âm lịch, các nghệ sĩ trong làng ca nhạc cổ Bạc Liêu lại rộn ràng chuẩn bị cho ngày giỗ Tổ. Địa điểm tổ chức hành lễ trước kia đặt tại nhà của nhạc sĩ Lê Văn Chột tại xóm Rạch Ông Bổn, năm 1950 đã di dời về nhà nhạc sĩ Trần Tấn Hưng ở số 225 đường Minh Mạng - Bạc Liêu (nay là số nhà 165 đường Nguyễn Thị Minh Khai, phường 5 thị xã Bạc Liêu), năm 1982 nhạc sĩ Trần Tấn Hưng qua đời, lễ giỗ Tổ lại tiếp tục được di dời một lần nữa, sau đó được di dời một vài nơi khác cho đến khi dời đến Đoàn Cải lương Cao Văn Lầu, để thờ như ngày nay. Ngày nay, lễ giỗ Tổ được tổ chức đơn giản hơn nhiều so với những năm trước đây. Ngày xưa, cách ngày 12 tháng 8 vài hôm những nhạc sĩ lão thành sẽ tổ chức một cuộc họp để bàn việc tổ chức lễ giỗ Tổ. Nội dung của cuộc họp sẽ thống nhất về các chương trình trong ngày giỗ Tổ như hành lễ, hương đăng trà quả, các bản nhạc tế lễ, đồ ăn thức uống, quy định về mức đóng góp của các thành viên, đồng thời cử ra một ban ban gồm thư ký, thủ quỹ và các ban khác như: tiếp tân, tế lễ, hậu cần... Lễ hội Dạ cổ hoài lang là dịp các nghệ nhân của làng ca vọng cổ tri ân cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu Sáng ngày 11, ban tổ chức sẽ cử ra người đi chợ để mua sắm những thứ cần thiết, đêm hôm đó họ sẽ bắt đầu nấu nướng, có khi còn thức cả đêm để hoàn thành nhiệm vụ đã được giao, ban tế lễ cũng phải túc trực để chỉ đạo người trang trí bàn thờ Tổ, sắp xếp nơi thực hiện nghi thức hành lễ, dọn dẹp và bày biện nơi tiếp khách... Sáng ngày 12 tháng 8 ban tiếp tân phải đến từ rất sớm, họ chuẩn bị trà nước và sắp đặt bàn ghế, phụ giúp ban tế lễ nâng hoa quả rượu, trà do khách mang tới thắp hương. Ban tiếp tân còn phải phụ trách cả công việc bưng mâm để tế lễ. Trên bàn thờ Tổ không có ảnh hoặc tượng mà chỉ có một bài vị ghi 4 chữ Cổ Nhạc Tổ Sư đều bằng chữ Hán. Phía trước đặt một bát hương to, hai bên đặt chân đèn và cặp nến thắp sáng, trên bàn thờ bày biện mâm ngũ quả, hương, hoa, hai bên bàn thờ còn treo các loại nhạc cụ như: đàn sến, đàn kìm, đàn gáo, đàn tranh, đàn cò, đàn lục huyền, đàn độc huyền... và các loại kèn sáo, bên cạnh đó còn có một bộ trống cổ; phía trước bàn thờ đặt một cái bàn thấp để bày mâm cúng thức ăn, giữa bàn thường đặt một con heo quay đỏ chói, phía trước bàn thờ là một khoảng trống khá rộng, có trải đệm hoặc chiếu để mọi người tế lễ. Nghệ sĩ dâng hương trong ngày Lễ hội Dạ cổ hoài lang tại Bạc Liêu 10 giờ sẽ bắt đầu hành lễ. Người đến dự lễ đa số là các nghệ nhân trong nghề hay nghệ sĩ địa phương và nhiều người hâm mộ. Mọi người sẽ đứng xếp thành hình chữ U lớn ngay trước bàn thờ Tổ, người chủ tế và bồi tế mặc trang phục áo dài khăn đóng màu xanh, lần lượt bước ra trong tiếng chuông, tiếng trống đánh liên hồi, bắt đầu thực hiện các nghi thức tế lễ như: dâng hương, dâng rượu, dâng hoa, dâng bánh, âng ngũ quả, dâng giấy tiền... sau cùng họ sẽ đọc văn tế - nội dung của bài văn tế là để tuyên dương công đức Tổ và cầu chúc cho quốc thái dân an. Sau khi tế lễ xong, mọi người sẽ lui về vị trí của mình và ngồi xuống. Tiếng nhị cầm (đàn cò) lại tiếp tục vang lên, các loại đàn sáo cũng hòa theo mở màn cho một bản nhạc lớn; giữa hương khói nghi ngút một người (đã được chọn từ trước) bước ra trước bàn thờ Tổ quỳ xuống và lạy 3 lạy, sau đó cất tiếng ca để hòa chung với điệu đàn; bản mở đầu thường chọn bản Lưu thủy trường - bản thứ nhất của 20 bản Tổ; tiếp theo sẽ là màn hòa tấu của một số bản (đã định trước) trong 19 bản Tổ còn lại gồm: Xuân tình, Phú lục, Bình bán, Xàng xê, Ngũ đối thượng, Tây thi, Cổ bản, Ngũ đối hạ, Long đăng, Long ngâm, Phụng hoàng, Giang nam, Đảo ngũ cung, Tứ đại oán, Vạn giá, Tiểu khúc, Nam xuân, Nam ai, Phụng cầu. Chấm dứt phần lễ hiến Tổ sẽ là một hồi trống dài, mọi người sẽ đứng dậy nghiêm trang và cùng bái Tổ. Bạc Liêu là nơi sinh ra những làn điệu vọng cổ Sau khi cúng tế xong, các món ăn sẽ được dọn ra, các món ăn được bày trí theo hình chữ U, những người tham dự vừa ăn vừa tiếp tục hòa tấu. Giai đoạn này những nghệ nhân tấu nhạc sẽ thực hiện các bản nhạc canh tân, thường mở đầu bằng các tuyệt phẩm do Nhạc Khị sáng tác như: Minh hoàng thưởng nguyệt, Ngự giá đăng lâu, Phò mã giao duyên hoặc Ái tử kê. Tiếp theo đó sẽ hòa tấu một số trong các nhạc bản sau: - Nhạc do người Bạc Liêu sáng tác như: Thu phong (Bá điểu), Dạ cổ hoài lang, Liêu giang, Hòa duyên, Huỳnh ba, Mẫu đơn, Vạn thọ, Nhật nguyệt, Lưỡng long, Tam quan nguyệt, Minh hoàng thưởng nguyệt, Tùng lâm dạ lãm, Vọng cổ, Hứng trung thinh, Ngũ quan, Ngự giá... - Nhạc phẩm đã được cải tiến từ nhạc cổ Trung bộ như: Nguyên tiêu, Hồ Quảng, Phẩm tuyết, Bình bản (Bình nguyên), Tây mai, Liên huờn, Kim tiền Huế, Tẩu mã, Xuân phong, Long hổ... - Nhạc bản được cải tiến từ nhạc cổ Trung Quốc như: Khốc hoàng thiên, Uyên ương hội vũ, Mạnh Lệ Quân, Xang xừ liếu, Tân xái phỉ, Ngũ điểm, Bài tạ, Quý phi túy tửu, Lạc âm thiều, Tô Vũ mục dương... - Nhạc bản cải tiến từ dân ca như: Lý thập tình, Lý giao duyên, Lý ngựa ô, Lý con sáo, Ngựa ô nam... Khoảng 3 giờ chiều, buổi lễ sẽ kết thúc. Kèn trống nổi lên tưng bừng, mọi người đến dự lễ cùng hướng về linh vị Tổ bái 3 bái, sau đó cùng nhau thu dọn và lần lượt ra về. Ban tế lễ cùng các nhạc sĩ lớn tuổi sẽ ở lại để dự cuộc họp thường niên. Trong lễ hội còn có các chương trình biểu diễn nghệ thuật khác như: rước đèn trung thu, thả hoa đăng, giao lưu Đờn Ca tài tử, tổ chức khu ẩm thực Bạc Liêu, trưng bày hiện vật và hình ảnh về cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu và các sản phẩm nghề truyền thống… Đây không chỉ là dịp khơi dậy giá trị truyền thống lễ hội Dạ cổ hoài lang mà còn là dịp góp phần quảng bá hình ảnh vùng miền, con người, văn hóa và tiềm năng du lịch của tỉnh Bạc Liêu.

(lehoi.info) - Lễ hội Dạ cổ hoài lang hay Lễ giỗ tổ cổ nhạc Bạc Liêu được tổ chức vào ngày 12 tháng 8 âm lịch hàng năm, tại Khu lưu niệm của cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu, tại phường 2, Thị xã Bạc Liêu. Lễ hội Dạ cổ hoài lang là sự tri ân cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu, người đã có công sáng tạo nên loại hình nghệ thuật truyền thống độc đáo này cho dân tộc.

Lễ hội Dạ cổ hoài lang tại Bạc Liêu

Hàng năm cứ đến ngày 12 tháng 8 âm lịch, các nghệ sĩ trong làng ca nhạc cổ Bạc Liêu lại rộn ràng chuẩn bị cho ngày giỗ Tổ. Địa điểm tổ chức hành lễ trước kia đặt tại nhà của nhạc sĩ Lê Văn Chột tại xóm Rạch Ông Bổn, năm 1950 đã di dời về nhà nhạc sĩ Trần Tấn Hưng ở số 225 đường Minh Mạng - Bạc Liêu (nay là số nhà 165 đường Nguyễn Thị Minh Khai, phường 5 thị xã Bạc Liêu), năm 1982 nhạc sĩ Trần Tấn Hưng qua đời, lễ giỗ Tổ lại tiếp tục được di dời một lần nữa, sau đó được di dời một vài nơi khác cho đến khi dời đến Đoàn Cải lương Cao Văn Lầu, để thờ như ngày nay. Ngày nay, lễ giỗ Tổ được tổ chức đơn giản hơn nhiều so với những năm trước đây. Ngày xưa, cách ngày 12 tháng 8 vài hôm những nhạc sĩ lão thành sẽ tổ chức một cuộc họp để bàn việc tổ chức lễ giỗ Tổ. Nội dung của cuộc họp sẽ thống nhất về các chương trình trong ngày giỗ Tổ như hành lễ, hương đăng trà quả, các bản nhạc tế lễ, đồ ăn thức uống, quy định về mức đóng góp của các thành viên, đồng thời cử ra một ban ban gồm thư ký, thủ quỹ và các ban khác như: tiếp tân, tế lễ, hậu cần... Lễ hội Dạ cổ hoài lang là dịp các nghệ nhân của làng ca vọng cổ tri ân cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu Sáng ngày 11, ban tổ chức sẽ cử ra người đi chợ để mua sắm những thứ cần thiết, đêm hôm đó họ sẽ bắt đầu nấu nướng, có khi còn thức cả đêm để hoàn thành nhiệm vụ đã được giao, ban tế lễ cũng phải túc trực để chỉ đạo người trang trí bàn thờ Tổ, sắp xếp nơi thực hiện nghi thức hành lễ, dọn dẹp và bày biện nơi tiếp khách... Sáng ngày 12 tháng 8 ban tiếp tân phải đến từ rất sớm, họ chuẩn bị trà nước và sắp đặt bàn ghế, phụ giúp ban tế lễ nâng hoa quả rượu, trà do khách mang tới thắp hương. Ban tiếp tân còn phải phụ trách cả công việc bưng mâm để tế lễ. Trên bàn thờ Tổ không có ảnh hoặc tượng mà chỉ có một bài vị ghi 4 chữ Cổ Nhạc Tổ Sư đều bằng chữ Hán. Phía trước đặt một bát hương to, hai bên đặt chân đèn và cặp nến thắp sáng, trên bàn thờ bày biện mâm ngũ quả, hương, hoa, hai bên bàn thờ còn treo các loại nhạc cụ như: đàn sến, đàn kìm, đàn gáo, đàn tranh, đàn cò, đàn lục huyền, đàn độc huyền... và các loại kèn sáo, bên cạnh đó còn có một bộ trống cổ; phía trước bàn thờ đặt một cái bàn thấp để bày mâm cúng thức ăn, giữa bàn thường đặt một con heo quay đỏ chói, phía trước bàn thờ là một khoảng trống khá rộng, có trải đệm hoặc chiếu để mọi người tế lễ. Nghệ sĩ dâng hương trong ngày Lễ hội Dạ cổ hoài lang tại Bạc Liêu 10 giờ sẽ bắt đầu hành lễ. Người đến dự lễ đa số là các nghệ nhân trong nghề hay nghệ sĩ địa phương và nhiều người hâm mộ. Mọi người sẽ đứng xếp thành hình chữ U lớn ngay trước bàn thờ Tổ, người chủ tế và bồi tế mặc trang phục áo dài khăn đóng màu xanh, lần lượt bước ra trong tiếng chuông, tiếng trống đánh liên hồi, bắt đầu thực hiện các nghi thức tế lễ như: dâng hương, dâng rượu, dâng hoa, dâng bánh, âng ngũ quả, dâng giấy tiền... sau cùng họ sẽ đọc văn tế - nội dung của bài văn tế là để tuyên dương công đức Tổ và cầu chúc cho quốc thái dân an. Sau khi tế lễ xong, mọi người sẽ lui về vị trí của mình và ngồi xuống. Tiếng nhị cầm (đàn cò) lại tiếp tục vang lên, các loại đàn sáo cũng hòa theo mở màn cho một bản nhạc lớn; giữa hương khói nghi ngút một người (đã được chọn từ trước) bước ra trước bàn thờ Tổ quỳ xuống và lạy 3 lạy, sau đó cất tiếng ca để hòa chung với điệu đàn; bản mở đầu thường chọn bản Lưu thủy trường - bản thứ nhất của 20 bản Tổ; tiếp theo sẽ là màn hòa tấu của một số bản (đã định trước) trong 19 bản Tổ còn lại gồm: Xuân tình, Phú lục, Bình bán, Xàng xê, Ngũ đối thượng, Tây thi, Cổ bản, Ngũ đối hạ, Long đăng, Long ngâm, Phụng hoàng, Giang nam, Đảo ngũ cung, Tứ đại oán, Vạn giá, Tiểu khúc, Nam xuân, Nam ai, Phụng cầu. Chấm dứt phần lễ hiến Tổ sẽ là một hồi trống dài, mọi người sẽ đứng dậy nghiêm trang và cùng bái Tổ. Bạc Liêu là nơi sinh ra những làn điệu vọng cổ Sau khi cúng tế xong, các món ăn sẽ được dọn ra, các món ăn được bày trí theo hình chữ U, những người tham dự vừa ăn vừa tiếp tục hòa tấu. Giai đoạn này những nghệ nhân tấu nhạc sẽ thực hiện các bản nhạc canh tân, thường mở đầu bằng các tuyệt phẩm do Nhạc Khị sáng tác như: Minh hoàng thưởng nguyệt, Ngự giá đăng lâu, Phò mã giao duyên hoặc Ái tử kê. Tiếp theo đó sẽ hòa tấu một số trong các nhạc bản sau: - Nhạc do người Bạc Liêu sáng tác như: Thu phong (Bá điểu), Dạ cổ hoài lang, Liêu giang, Hòa duyên, Huỳnh ba, Mẫu đơn, Vạn thọ, Nhật nguyệt, Lưỡng long, Tam quan nguyệt, Minh hoàng thưởng nguyệt, Tùng lâm dạ lãm, Vọng cổ, Hứng trung thinh, Ngũ quan, Ngự giá... - Nhạc phẩm đã được cải tiến từ nhạc cổ Trung bộ như: Nguyên tiêu, Hồ Quảng, Phẩm tuyết, Bình bản (Bình nguyên), Tây mai, Liên huờn, Kim tiền Huế, Tẩu mã, Xuân phong, Long hổ... - Nhạc bản được cải tiến từ nhạc cổ Trung Quốc như: Khốc hoàng thiên, Uyên ương hội vũ, Mạnh Lệ Quân, Xang xừ liếu, Tân xái phỉ, Ngũ điểm, Bài tạ, Quý phi túy tửu, Lạc âm thiều, Tô Vũ mục dương... - Nhạc bản cải tiến từ dân ca như: Lý thập tình, Lý giao duyên, Lý ngựa ô, Lý con sáo, Ngựa ô nam... Khoảng 3 giờ chiều, buổi lễ sẽ kết thúc. Kèn trống nổi lên tưng bừng, mọi người đến dự lễ cùng hướng về linh vị Tổ bái 3 bái, sau đó cùng nhau thu dọn và lần lượt ra về. Ban tế lễ cùng các nhạc sĩ lớn tuổi sẽ ở lại để dự cuộc họp thường niên. Trong lễ hội còn có các chương trình biểu diễn nghệ thuật khác như: rước đèn trung thu, thả hoa đăng, giao lưu Đờn Ca tài tử, tổ chức khu ẩm thực Bạc Liêu, trưng bày hiện vật và hình ảnh về cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu và các sản phẩm nghề truyền thống… Đây không chỉ là dịp khơi dậy giá trị truyền thống lễ hội Dạ cổ hoài lang mà còn là dịp góp phần quảng bá hình ảnh vùng miền, con người, văn hóa và tiềm năng du lịch của tỉnh Bạc Liêu.

Related Figures

Lễ hội Nghinh Ông Quan Thánh Đế Quân

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/7- 17/7 Âm lịch (lehoi.info) - Lễ hội Nghinh Ông Quan thánh Đế Quân ở Bình Thuận được tổ chức hai năm một lần, vào năm chẵn dương lịch (ngày rằm tháng 7 âm lịch) tại Quan Đế Miếu thành phố Phan Thiết. Đây là một trong những nét văn hóa truyền thống đặc sắc của người Hoa sinh sống tại Bình Thuận được gìn giữ và bảo tồn từ nhiều năm nay. Lễ hội được tổ chức trong 3 ngày và là dịp để cộng đồng người Hoa tại Phan Thiết thể hiện đức tin đối với Quan Thánh Đế Quân (tức Quan Công), cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, cuộc sống ngày càng ấm no hạnh phúc. Trong 2 ngày đầu sẽ diễn ra phần lễ được tổ chức tại chùa và phần hội diễn ra vào ngày thứ 3 theo hình thức diễu hành qua phố. Đón bà Quan Am Bồ Tát tại Lễ hội Nghinh Ông Quan Thánh Đế Quân Các chương trình cụ thể trong 3 ngày lễ là: Ngày thứ nhất sẽ tổ chức các nghi lễ như: Lễ Thỉnh Kiệu Bà Thiên Hậu, Lễ Thỉnh nước, Lễ Thỉnh Kinh, Lễ Thỉnh Kiệu thần Chiêu Ứng Công, Lễ Yết Quan Thánh, Cáo Tiền Hiền, Lễ Chiêu vong linh Tiền Hiền. Ngày thứ hai bao gồm các hoạt động: Hội Quán Triều Châu, Hội Quán Hải Nam, Đoàn Rồng Thanh Long Quan Đế Miếu, Lễ phóng sinh, Cúng ngọ, Cúng thí thực, Thả thuyền (cửa biển Phan Thiết), Lễ Hoàn mãn. Múa Lân tại ngày hội Nghinh Ông Quan Thánh Đế Quân Ngày thứ ba sẽ là ngày hội đặc sắc với nhiều hoạt động hấp dẫn và sinh động. Vào ngày này, từ sáng sớm đoàn rước sẽ rước kiệu của Quan thánh đi diễu hành qua các đường phố lớn của thành phố Phan Thiết cho đến 12h trưa thì dừng lại. Đoàn rước sẽ gồm khoảng từ 1200 đến 1500 người, đầu tiên là đoàn của Quan Đế miếu, rồi đến các tiết mục của hội quán Quảng Đông, Phúc Kiến, Hải Nam, Triều Châu xen kẽ nhau, một con rồng xanh dài gần 50m đi kèm phía sau hộ “ngai” Quan thánh… Nghênh Quan Thánh Đế Quân Vào ngày hội, cuộc diễu hành thường thu hút rất nhiều sự tham gia của người dân địa phương và khách du lịch trong và ngoài nước, tạo niềm vui, sự náo nhiệt và tiếng cười cho mọi người.

(lehoi.info) - Lễ hội Nghinh Ông Quan thánh Đế Quân ở Bình Thuận được tổ chức hai năm một lần, vào năm chẵn dương lịch (ngày rằm tháng 7 âm lịch) tại Quan Đế Miếu thành phố Phan Thiết. Đây là một trong những nét văn hóa truyền thống đặc sắc của người Hoa sinh sống tại Bình Thuận được gìn giữ và bảo tồn từ nhiều năm nay. Lễ hội được tổ chức trong 3 ngày và là dịp để cộng đồng người Hoa tại Phan Thiết thể hiện đức tin đối với Quan Thánh Đế Quân (tức Quan Công), cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, cuộc sống ngày càng ấm no hạnh phúc. Trong 2 ngày đầu sẽ diễn ra phần lễ được tổ chức tại chùa và phần hội diễn ra vào ngày thứ 3 theo hình thức diễu hành qua phố. Đón bà Quan Am Bồ Tát tại Lễ hội Nghinh Ông Quan Thánh Đế Quân Các chương trình cụ thể trong 3 ngày lễ là: Ngày thứ nhất sẽ tổ chức các nghi lễ như: Lễ Thỉnh Kiệu Bà Thiên Hậu, Lễ Thỉnh nước, Lễ Thỉnh Kinh, Lễ Thỉnh Kiệu thần Chiêu Ứng Công, Lễ Yết Quan Thánh, Cáo Tiền Hiền, Lễ Chiêu vong linh Tiền Hiền. Ngày thứ hai bao gồm các hoạt động: Hội Quán Triều Châu, Hội Quán Hải Nam, Đoàn Rồng Thanh Long Quan Đế Miếu, Lễ phóng sinh, Cúng ngọ, Cúng thí thực, Thả thuyền (cửa biển Phan Thiết), Lễ Hoàn mãn. Múa Lân tại ngày hội Nghinh Ông Quan Thánh Đế Quân Ngày thứ ba sẽ là ngày hội đặc sắc với nhiều hoạt động hấp dẫn và sinh động. Vào ngày này, từ sáng sớm đoàn rước sẽ rước kiệu của Quan thánh đi diễu hành qua các đường phố lớn của thành phố Phan Thiết cho đến 12h trưa thì dừng lại. Đoàn rước sẽ gồm khoảng từ 1200 đến 1500 người, đầu tiên là đoàn của Quan Đế miếu, rồi đến các tiết mục của hội quán Quảng Đông, Phúc Kiến, Hải Nam, Triều Châu xen kẽ nhau, một con rồng xanh dài gần 50m đi kèm phía sau hộ “ngai” Quan thánh… Nghênh Quan Thánh Đế Quân Vào ngày hội, cuộc diễu hành thường thu hút rất nhiều sự tham gia của người dân địa phương và khách du lịch trong và ngoài nước, tạo niềm vui, sự náo nhiệt và tiếng cười cho mọi người.

Related Figures

Người Dao đỏ làm lễ Cấp sắc

Thông tin thời kỳ

Cấp sắc là một trong những nghi lễ quan trọng không thể thiếu của người Dao đỏ để công nhận sự trưởng thành của một người đàn ông hay một người phụ nữ. Cùng với nhiều người dân tại tỉnh Yên Bái chào đón năm mới, đồng bào Dao đỏ xã Phúc Lợi, Lục Yên, Yên Bái sẽ tổ chức nghi lễ cấp sắc. Lễ Cấp sắc của người Dao đỏ ở Yên Bái Trong lễ này, sau bước báo cáo với tổ tiên của các thầy cúng, tiếng trống chiêng của buổi lễ cấp sắc vang lên và báo hiệu buổi lễ cấp sắc của gia đình đã bắt đầu. Các thầy cúng và những cặp vợ chồng là con cái trong gia đình chào hỏi nhau trước bàn thờ tổ tiên để bắt đầu cho các thủ tục của lễ. Theo truyền thống của người dân Dao đỏ, một lễ cấp sắc sẽ có nhiều bậc: 3 đèn, 7 đèn và 12 đèn. Với lễ cấp sắc được tổ chức theo bậc 7 đèn thì diễn ra trong thời gian 3 ngày, 3 đêm. Các nghi lễ chính trong lễ cấp sắc này bao gồm lễ trình diện, gia chủ mổ lợn để tế lễ tổ tiên. Những ông thầy cúng sẽ đánh trống mời tổ tiên về dự, báo cáo cho tổ tiên biết lý do của buổi lễ. Độc đáo lễ Cấp sắc của người Dao đỏ Sau một hồi các ông thầy khấn làm thủ tục, xin âm dương, xin thần linh, người được cấp sắc sẽ chính thức sẽ được đặt tên âm, sẽ được công nhận là người đã trường thành và sẽ được cả cộng đồng công nhận đủ uy tín để đảm đương những công việc lớn của gia đình và bản làng. Trong ngày đầu tiên của lễ cấp sắc này, các cặp con cái trong gia đình sẽ được ăn một bữa cơm có đầy đủ thịt rượu, sau đó phải tắm rửa thật sạch sẽ để được mặc lễ phục mới của dân tộc và thực hiện ăn cơm chay đến khi nào hết lễ mới thôi. Cấp sắc là một nghi lễ rất quan trọng không thể thiếu của người dân Dao đỏ để công nhận sự trưởng thành của một người đàn ông hay một người phụ nữ. Đây cũng là một nghi lễ để cầu cho cuộc sống bình an may mắn, răn dạy con em người đồng bào Dao đỏ phải biết hiếu thảo với ông bà với cha mẹ với người thân của mình. Một nghi thức trong lễ Cấp sắc Ông Triệu Tiến Kim, là ông thầy cả trong lễ cấp sắc tại gia đình của ông Triệu Tiến Trường (xã Phúc Lợi, Lục Yên) cho biết: “Trong làng, nhà nhà phải gìn giữ bản sắc văn hoá dân tộc. Cấp sắc 7 đèn còn để cầu lộc, cầu phúc, cầu tài; trồng cây lúa, ngô, sắn, khoai, nuôi con lợn, nuôi con gà bình an. Hàng năm, quỷ thần không đền quấy rối vì có tiếng tăm rồi, nên không dám đền quấy rối nhà mình nữa”./.

Cấp sắc là một trong những nghi lễ quan trọng không thể thiếu của người Dao đỏ để công nhận sự trưởng thành của một người đàn ông hay một người phụ nữ.

Cùng với nhiều người dân tại tỉnh Yên Bái chào đón năm mới, đồng bào Dao đỏ xã Phúc Lợi, Lục Yên, Yên Bái sẽ tổ chức nghi lễ cấp sắc. Lễ Cấp sắc của người Dao đỏ ở Yên Bái Trong lễ này, sau bước báo cáo với tổ tiên của các thầy cúng, tiếng trống chiêng của buổi lễ cấp sắc vang lên và báo hiệu buổi lễ cấp sắc của gia đình đã bắt đầu. Các thầy cúng và những cặp vợ chồng là con cái trong gia đình chào hỏi nhau trước bàn thờ tổ tiên để bắt đầu cho các thủ tục của lễ. Theo truyền thống của người dân Dao đỏ, một lễ cấp sắc sẽ có nhiều bậc: 3 đèn, 7 đèn và 12 đèn. Với lễ cấp sắc được tổ chức theo bậc 7 đèn thì diễn ra trong thời gian 3 ngày, 3 đêm. Các nghi lễ chính trong lễ cấp sắc này bao gồm lễ trình diện, gia chủ mổ lợn để tế lễ tổ tiên. Những ông thầy cúng sẽ đánh trống mời tổ tiên về dự, báo cáo cho tổ tiên biết lý do của buổi lễ. Độc đáo lễ Cấp sắc của người Dao đỏ Sau một hồi các ông thầy khấn làm thủ tục, xin âm dương, xin thần linh, người được cấp sắc sẽ chính thức sẽ được đặt tên âm, sẽ được công nhận là người đã trường thành và sẽ được cả cộng đồng công nhận đủ uy tín để đảm đương những công việc lớn của gia đình và bản làng. Trong ngày đầu tiên của lễ cấp sắc này, các cặp con cái trong gia đình sẽ được ăn một bữa cơm có đầy đủ thịt rượu, sau đó phải tắm rửa thật sạch sẽ để được mặc lễ phục mới của dân tộc và thực hiện ăn cơm chay đến khi nào hết lễ mới thôi. Cấp sắc là một nghi lễ rất quan trọng không thể thiếu của người dân Dao đỏ để công nhận sự trưởng thành của một người đàn ông hay một người phụ nữ. Đây cũng là một nghi lễ để cầu cho cuộc sống bình an may mắn, răn dạy con em người đồng bào Dao đỏ phải biết hiếu thảo với ông bà với cha mẹ với người thân của mình. Một nghi thức trong lễ Cấp sắc Ông Triệu Tiến Kim, là ông thầy cả trong lễ cấp sắc tại gia đình của ông Triệu Tiến Trường (xã Phúc Lợi, Lục Yên) cho biết: “Trong làng, nhà nhà phải gìn giữ bản sắc văn hoá dân tộc. Cấp sắc 7 đèn còn để cầu lộc, cầu phúc, cầu tài; trồng cây lúa, ngô, sắn, khoai, nuôi con lợn, nuôi con gà bình an. Hàng năm, quỷ thần không đền quấy rối vì có tiếng tăm rồi, nên không dám đền quấy rối nhà mình nữa”./.

Related Figures

Tưng bừng Lễ hội Xương Giang

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 6/1- 7/1 Âm lịch Lễ hội Xương Giang diễn ra ở một vùng đất của tỉnh Bắc Giang bắt đầu vào năm 1998 và vẫn được duy trì liên tục từ đó cho đến ngày nay. Đây là lễ hội được xây dựng dựa trên chiến thắng Chi Lăng - Xương Giang vào năm 1427 của quân dân Đại Việt đã đập tan gần 10 vạn quân Minh. Vì thế, lễ hội Xương Giang là một trong những lễ hội phản ánh lịch sử kháng chiến hào hùng chống giặc xâm lăng của dân tộc Việt Nam, thông qua hình thức văn hoá ngay trên mảnh đất Xương Giang lịch sử. Lễ hội được diễn ra vào ngày mồng 6 đến mồng 7 tháng Giêng hàng năm. Lễ hội Xương Giang là một trong những lễ hội lớn của tỉnh Bắc Giang Dù đã trải qua hơn 5 thế kỷ, nhưng dư âm của chiến thắng Xương Giang vẫn luôn vang dội trong ký ức của người Việt Nam nói chung và người dân tỉnh Bắc Giang nói riêng. Vào buổi sáng sớm ngày mồng 6 tháng giêng âm lịch, người dân từ các phường xã, sẽ giương cờ, gióng trống rước xe kiệu với những bộ trang phục rực rỡ, chỉnh tề từ các ngả đường nô nức kéo về trung tâm khai hội. Không khí tưng bừng với cờ hoa, biểu ngữ, và các đoàn quân hành tiến trong nhịp trống, tiếng chiêng, tiếng nhạc khiến cho cả thành phố Bắc Giang khí thế hẳn lên. Trước ngày diễn ra lễ khai hội, thanh niên ở đây sẽ tổ chức đốt lửa trại. Họ cùng nắm tay nhau, kết vòng tay lớn bao quanh đống lửa trại. Đêm hôm ấy, người dân các làng, các thôn, xã, phường gần như không ngủ. Mọi người đang háo hức chuẩn bị cho cuộc hành rước hôm sau. Tại các đình, đền, chùa, miếu và nhà văn hoá ánh đèn đuốc sáng rực suốt đêm để tới canh năm ngày hôm sau tề chỉnh sắp hàng ngũ, chiêng trống tiến về nơi khai hội. Đoàn rước kiệu bằng xe ngựa gỗ Đoàn làng Kế sẽ lên đường với xa kiệu, ngựa, và đưa đội quân tượng trưng cho đức thánh Cao Sơn, Quý Minh tiến về lễ hội. Đoàn này lần lượt hội tụ đầy đủ các đội quân hành rước của làng Kế, làng Tiêu, làng Vĩnh hợp thành một đoàn diễu hành các phố phường. Đoàn rước của làng Thành và làng Vẽ sẽ đưa đồ rước của đức thánh Cao Sơn - Qúy Minh đến tham dự. Hai làng này vốn là hai lằng nằm kề bên phía cửu Bắc của hành Xương Giang. Trong cuộc kháng chiến chống lại quân xâm lược Minh năm xưa, họ đã dựng thành bằng cót làm cho quân địch khiếp sợ bạt vía tưởng quân ta có Thần giúp đỡ nên chỉ trong một đêm đã dựng xong thành. Đoàn rước của thôn Hoà Yên rầm rộ kéo nhau đi như tinh thần dũng mãnh của tướng quân nhà nhà Lý Lều Văn Minh đánh tan quân giặc Chiêm. Họ mang đến hội một niềm kiêu hãnh bởi những người cha người anh xưa đã có mặt trong cuộc kháng chiến chống lại quân Minh. Đoàn rước xã Đa Mai của phường Mĩ Độ sẽ bắt đầu đi từ bờ nam sông Thương qua cầu Bắc Giang, sau đó men theo quốc lộ 1A tiến thẳng vào khu khai hội. Làng Đa Mai thờ hai vị công chúa nhà Trần đã có công trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên thế kỷ XIII ngay tại khúc sông này, chính vì vậy dân làng không rước kiệu mà rước bằng thuyền với anh linh của hai công chúa này. Họ còn có một đội kỳ lân, sư tử do các bà đồn biểu diễn rất hăng say và đẹp mắt. Người Mĩ Độ thì rước tượng của đức thành hoàng với long đỉnh, hương án, bát bửu…oai phong. Đoàn múa nghệ thuật trong Lễ hội Xương Giang tại Bắc Giang Lễ dâng hương sẽ được tổ chức ở trung tâm của lễ khai hội , diễn ra rất long trọng. Ở đây, các lễ chào cờ hay đọc diễn văn, đọc " Đại cáo bình Ngô ", và lễ múa ra quân đều được tiến hành. Giữa các lễ này có nhạc hiệu làm nền vang để nối nhau, lên trầm hùng và thúc giục lòng người. Sau khi dâng hương xong, các đoàn rước sẽ trở về làng mình, làm lễ Am Vị đưa các đồ tế khí, ngựa, kiệu về vị trí cũ. Riêng làng Vẽ và làng Thành thì xem như đã bắt đầu vào hội lệ của làng mình. Cờ, ngựa, kiệu…sẽ được đóng ở trước sân đình. Ở khu vực đình, chùa của hai làng, sẽ tổ chức các trò chơi như: Đu, cờ bỏi, đu quay, cờ tướng, dâng hương lễ phật, hát chèo nhà chùa, tế thành hoàng, hương ẩm sẽ được tổ chức cho tới ngày mồng 7 tháng Giêng mới kết thúc. Lễ hội Xương Giang là một lễ hội mới tổ chức lại. Hình thức khai hội này thay đổi theo từng năm nên rất phong phú.

Lễ hội Xương Giang diễn ra ở một vùng đất của tỉnh Bắc Giang bắt đầu vào năm 1998 và vẫn được duy trì liên tục từ đó cho đến ngày nay. Đây là lễ hội được xây dựng dựa trên chiến thắng Chi Lăng - Xương Giang vào năm 1427 của quân dân Đại Việt đã đập tan gần 10 vạn quân Minh. Vì thế, lễ hội Xương Giang là một trong những lễ hội phản ánh lịch sử kháng chiến hào hùng chống giặc xâm lăng của dân tộc Việt Nam, thông qua hình thức văn hoá ngay trên mảnh đất Xương Giang lịch sử. Lễ hội được diễn ra vào ngày mồng 6 đến mồng 7 tháng Giêng hàng năm.

Lễ hội Xương Giang là một trong những lễ hội lớn của tỉnh Bắc Giang

Dù đã trải qua hơn 5 thế kỷ, nhưng dư âm của chiến thắng Xương Giang vẫn luôn vang dội trong ký ức của người Việt Nam nói chung và người dân tỉnh Bắc Giang nói riêng. Vào buổi sáng sớm ngày mồng 6 tháng giêng âm lịch, người dân từ các phường xã, sẽ giương cờ, gióng trống rước xe kiệu với những bộ trang phục rực rỡ, chỉnh tề từ các ngả đường nô nức kéo về trung tâm khai hội. Không khí tưng bừng với cờ hoa, biểu ngữ, và các đoàn quân hành tiến trong nhịp trống, tiếng chiêng, tiếng nhạc khiến cho cả thành phố Bắc Giang khí thế hẳn lên. Trước ngày diễn ra lễ khai hội, thanh niên ở đây sẽ tổ chức đốt lửa trại. Họ cùng nắm tay nhau, kết vòng tay lớn bao quanh đống lửa trại. Đêm hôm ấy, người dân các làng, các thôn, xã, phường gần như không ngủ. Mọi người đang háo hức chuẩn bị cho cuộc hành rước hôm sau. Tại các đình, đền, chùa, miếu và nhà văn hoá ánh đèn đuốc sáng rực suốt đêm để tới canh năm ngày hôm sau tề chỉnh sắp hàng ngũ, chiêng trống tiến về nơi khai hội. Đoàn rước kiệu bằng xe ngựa gỗ Đoàn làng Kế sẽ lên đường với xa kiệu, ngựa, và đưa đội quân tượng trưng cho đức thánh Cao Sơn, Quý Minh tiến về lễ hội. Đoàn này lần lượt hội tụ đầy đủ các đội quân hành rước của làng Kế, làng Tiêu, làng Vĩnh hợp thành một đoàn diễu hành các phố phường. Đoàn rước của làng Thành và làng Vẽ sẽ đưa đồ rước của đức thánh Cao Sơn - Qúy Minh đến tham dự. Hai làng này vốn là hai lằng nằm kề bên phía cửu Bắc của hành Xương Giang. Trong cuộc kháng chiến chống lại quân xâm lược Minh năm xưa, họ đã dựng thành bằng cót làm cho quân địch khiếp sợ bạt vía tưởng quân ta có Thần giúp đỡ nên chỉ trong một đêm đã dựng xong thành. Đoàn rước của thôn Hoà Yên rầm rộ kéo nhau đi như tinh thần dũng mãnh của tướng quân nhà nhà Lý Lều Văn Minh đánh tan quân giặc Chiêm. Họ mang đến hội một niềm kiêu hãnh bởi những người cha người anh xưa đã có mặt trong cuộc kháng chiến chống lại quân Minh. Đoàn rước xã Đa Mai của phường Mĩ Độ sẽ bắt đầu đi từ bờ nam sông Thương qua cầu Bắc Giang, sau đó men theo quốc lộ 1A tiến thẳng vào khu khai hội. Làng Đa Mai thờ hai vị công chúa nhà Trần đã có công trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên thế kỷ XIII ngay tại khúc sông này, chính vì vậy dân làng không rước kiệu mà rước bằng thuyền với anh linh của hai công chúa này. Họ còn có một đội kỳ lân, sư tử do các bà đồn biểu diễn rất hăng say và đẹp mắt. Người Mĩ Độ thì rước tượng của đức thành hoàng với long đỉnh, hương án, bát bửu…oai phong. Đoàn múa nghệ thuật trong Lễ hội Xương Giang tại Bắc Giang Lễ dâng hương sẽ được tổ chức ở trung tâm của lễ khai hội , diễn ra rất long trọng. Ở đây, các lễ chào cờ hay đọc diễn văn, đọc " Đại cáo bình Ngô ", và lễ múa ra quân đều được tiến hành. Giữa các lễ này có nhạc hiệu làm nền vang để nối nhau, lên trầm hùng và thúc giục lòng người. Sau khi dâng hương xong, các đoàn rước sẽ trở về làng mình, làm lễ Am Vị đưa các đồ tế khí, ngựa, kiệu về vị trí cũ. Riêng làng Vẽ và làng Thành thì xem như đã bắt đầu vào hội lệ của làng mình. Cờ, ngựa, kiệu…sẽ được đóng ở trước sân đình. Ở khu vực đình, chùa của hai làng, sẽ tổ chức các trò chơi như: Đu, cờ bỏi, đu quay, cờ tướng, dâng hương lễ phật, hát chèo nhà chùa, tế thành hoàng, hương ẩm sẽ được tổ chức cho tới ngày mồng 7 tháng Giêng mới kết thúc. Lễ hội Xương Giang là một lễ hội mới tổ chức lại. Hình thức khai hội này thay đổi theo từng năm nên rất phong phú.

Related Figures

Lễ hội đình Từ Phong

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 9/3 Âm lịch Đình Từ Phong nằm ở thôn Từ Phong, thuộc xã Cách Bi, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Ngày mồng 9 tháng ba âm lịch hàng năm hội đình Từ Phong sẽ được tổ chức với không khí tưng bừng, náo nhiệt. Lễ hội này mang đậm tính thuần phong mỹ tục, không chỉ tạo nên những nét đẹp trong văn hóa dân tộc mà còn góp phần dựng nên văn hiến của vùng quê Bắc Ninh. Trước đây, để lo công việc đình đám 5 làng đã họp và cử ra 4 giáp là Đông, Đoài, Bắc, Nam, được nhận ruộng công để trồng trọt, nuôi lợn tế, nấu xôi, thịt gà cúng, hoa quả. Lễ vật chính trong lễ tế Thành hoàng làng là một con “lợn tạ” tế sống. Để chuẩn bị cho phần tế lễ hương khói Thần ở đình làng, bốn giáp sẽ cử ra 4 ông Quan đám đại diện cho giáp. Con lợn tạ chuẩn bị cho lễ tế hoàng thành Vào ngày đình đám, từ ngày mồng 8 tháng 3, làng sẽ cho mở cửa đình để làm lễ “mộc dục” lau chùi ngai bài vị của Thánh. Sáng ngày mồng 9, làng sẽ tổ chức lễ rước kiệu Thánh từ nghè “Ba chạ” về tới đình làng để thực hiện nghi lễ tế lễ và mở hội. Chiểu theoThần tích sắc phong, Thánh được dân 3 làng (Từ Phong và Mai Cương) cúng thờ là một người đỗ khoa bảng đã có công với dân với nước. Đám rước Thánh diễn ra với đầy đủ kiệu, cờ, tàn lọng, siêu đao, bát bửu, bát âm, trống chiêng. Sau khi kiệu Thánh đã rước yên vị ở trong đình, làng sẽ thực hiện tế lễ Thánh bằng con lợn của các giáp. Ngày 13, sẽ tiến hành tục rước Thánh sang thôn Hiền Lương,thuộc xã Phù Lương để giao lưu “chạ” anh em. Lễ rước kiệu Hai thôn Hiền Lương và Từ Phong nằm sát nhau cánh đồng, để sinh tồn như các làng cổ khác nên hai thôn này đã “kết chạ” anh em với nhau. Sau khi đã kết chạ thì hai làng sẽ coi nhau như anh em ruột thịt, cùng nhau bảo vệ đồng ruộng, mùa màng, nguồn nước. Mỗi khi có đình đám hội hè hai làng thường rước kiệu Thánh sang giao lưu văn hóa với nhau. Đây là một nét đẹp trong phong tục của làng xã. Đám rước được tổ chức với quy mô khá lớn, và long trọng. Khi đám rước của làng Từ Phong đến, quan viên thôn Hiền Lương sẽ đón kiệu ở đầu làng, sau đó rước kiệu Thánh vào đình làng mình. Tại đình quan viên tế của 2 làng sẽ tiến hành phần tế lễ Thánh và phần hội giao lưu ca hát, ẩm thực. Biểu diễn múa rối nước Sau phần lễ sẽ đến phần hội với các trò chơi dân gian như: chèo, đu cây, bắt vịt, hát tuồng.., đặc biệt còn có múa rối nước tại đình làng Từ Phong vốn là làng nghề làm rối truyền thống. Những ngày hội này còn là dịp để các nghệ nhân phô diễn tài năng của mình trước nhân dân làng xã và khách thập phương. Những tục trò dân gian diễn ra vui vẻ và náo nhiệt, đã thu hút sự quan tâm của đông đảo quần chúng nhân dân địa phương.

Đình Từ Phong nằm ở thôn Từ Phong, thuộc xã Cách Bi, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Ngày mồng 9 tháng ba âm lịch hàng năm hội đình Từ Phong sẽ được tổ chức với không khí tưng bừng, náo nhiệt. Lễ hội này mang đậm tính thuần phong mỹ tục, không chỉ tạo nên những nét đẹp trong văn hóa dân tộc mà còn góp phần dựng nên văn hiến của vùng quê Bắc Ninh.

Trước đây, để lo công việc đình đám 5 làng đã họp và cử ra 4 giáp là Đông, Đoài, Bắc, Nam, được nhận ruộng công để trồng trọt, nuôi lợn tế, nấu xôi, thịt gà cúng, hoa quả. Lễ vật chính trong lễ tế Thành hoàng làng là một con “lợn tạ” tế sống. Để chuẩn bị cho phần tế lễ hương khói Thần ở đình làng, bốn giáp sẽ cử ra 4 ông Quan đám đại diện cho giáp. Con lợn tạ chuẩn bị cho lễ tế hoàng thành Vào ngày đình đám, từ ngày mồng 8 tháng 3, làng sẽ cho mở cửa đình để làm lễ “mộc dục” lau chùi ngai bài vị của Thánh. Sáng ngày mồng 9, làng sẽ tổ chức lễ rước kiệu Thánh từ nghè “Ba chạ” về tới đình làng để thực hiện nghi lễ tế lễ và mở hội. Chiểu theoThần tích sắc phong, Thánh được dân 3 làng (Từ Phong và Mai Cương) cúng thờ là một người đỗ khoa bảng đã có công với dân với nước. Đám rước Thánh diễn ra với đầy đủ kiệu, cờ, tàn lọng, siêu đao, bát bửu, bát âm, trống chiêng. Sau khi kiệu Thánh đã rước yên vị ở trong đình, làng sẽ thực hiện tế lễ Thánh bằng con lợn của các giáp. Ngày 13, sẽ tiến hành tục rước Thánh sang thôn Hiền Lương,thuộc xã Phù Lương để giao lưu “chạ” anh em. Lễ rước kiệu Hai thôn Hiền Lương và Từ Phong nằm sát nhau cánh đồng, để sinh tồn như các làng cổ khác nên hai thôn này đã “kết chạ” anh em với nhau. Sau khi đã kết chạ thì hai làng sẽ coi nhau như anh em ruột thịt, cùng nhau bảo vệ đồng ruộng, mùa màng, nguồn nước. Mỗi khi có đình đám hội hè hai làng thường rước kiệu Thánh sang giao lưu văn hóa với nhau. Đây là một nét đẹp trong phong tục của làng xã. Đám rước được tổ chức với quy mô khá lớn, và long trọng. Khi đám rước của làng Từ Phong đến, quan viên thôn Hiền Lương sẽ đón kiệu ở đầu làng, sau đó rước kiệu Thánh vào đình làng mình. Tại đình quan viên tế của 2 làng sẽ tiến hành phần tế lễ Thánh và phần hội giao lưu ca hát, ẩm thực. Biểu diễn múa rối nước Sau phần lễ sẽ đến phần hội với các trò chơi dân gian như: chèo, đu cây, bắt vịt, hát tuồng.., đặc biệt còn có múa rối nước tại đình làng Từ Phong vốn là làng nghề làm rối truyền thống. Những ngày hội này còn là dịp để các nghệ nhân phô diễn tài năng của mình trước nhân dân làng xã và khách thập phương. Những tục trò dân gian diễn ra vui vẻ và náo nhiệt, đã thu hút sự quan tâm của đông đảo quần chúng nhân dân địa phương.

Related Figures

Hội Lim

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 12/1- 14/1 Âm lịch Hội Lim ở Bắc Ninh là một lễ hội lớn đầu xuân, thường được tổ chức từ ngày 12 đến ngày 14 tháng Giêng hàng năm, tại huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh. Có giả thuyết cho rằng hội Lim bắt nguồn từ hội chùa, hội hát, và có liên quan đến tiếng hát của chàng Trương Chi trong truyền thuyết "Trương Chi - Mỵ Nương" . Hội Lim là ngày hội của những làng xã cổ chung quanh núi Lim và hai bên bờ sông Tiêu Tương . Hội Lim tại Bắc Ninh Hội Lim đã trở thành hội hàng tổng (hội vùng) từ thế kỷ thứ 18. Khi quan trấn thủ xứ Thanh Hóa là Nguyễn Đình Diễn, là một người ở thôn Đình Cả, Nội Duệ, xứ Kinh Bắc, đã có công lớn với triều đình, đã được phong thưởng và hưởng bổng lộc. Ông đã tự hiến ruộng vườn và tiền bạc của mình cho tổng Nội Duệ để trùng tu lại đình chùa, mở mang hội hè nhằm gìn giữ bản sắc của địa phương. Ông còn cho quân lính xây dựng trước khu lăng mộ của mình và đặt tên là lăng Hồng Vân nằm trên núi Lim. Vì có nhiều công lao với người dân nơi đây cộng với việc ông đặt hậu tại chùa Hồng ân, nên khi ông qua đời người dân tổng Nội Duệ đã tôn ông làm hậu thần, hậu Phật hàng tổng. Văn bia lăng Hồng Vân hiện đang được lưu giữ tại đình thôn Đình Cả, đã nêu rõ lai lịch, công trạng và việc thờ phụng quan trấn xử Nguyễn Đình Diễn mỗi năm vào hai dịp là "ngày sinh" và "ngày hóa" của ông tại khu lăng mộ Hồng Vân và chùa Hồng ân nằm trên núi Lim. Song trải qua năm tháng lịch sử, hội Lim ngày nay đã có nhiều lớp văn hóa, ngày nay người ta chỉ tổ chức nghi thức tế lễ hậu thần vào ngày 13 tháng giêng, trùng với ngày hội chùa Lim. Chính vì thế mà có hội Lim và đây chính là hội hàng tổng Vào ngày Hội Lim người dân trong vùng và khách thập phương nô nức kéo nhau về xem hội Phần lễ Ngày 13 tháng giêng âm lịch là ngày hội chính. Vào lúc 8giờ sáng, Hội Lim sẽ được mở đầu bằng lễ rước. Đoàn rước có đông đảo người dân tham gia, đoàn người diện những bộ lễ phục ngày xưa, trông rất sặc sỡ và cũng vô cùng cầu kì, đẹp mắt, đoàn lễ rước kéo dài tới cả gần km. Trong ngày hội, người ta sẽ tiến hành nhiều nghi lễ và các trò chơi dân gian nổi tiếng, trong đó điển hình là tục hát thờ hậu. Buổi sáng ngày 13 tháng giêng quan viên, hương lão và nam đinh của các làng xã thuộc tổng Nội Duệ sẽ tề tựu đầy đủ về lăng Hồng Vân để tham gia nghi lễ tế lễ hậu thần. Trong khi tế sẽ có nghi thức hát quan họ để thờ thần. Khi hát thờ, các bọn quan họ nam, nữ của tổng Nội Duệ sẽ đứng thành hàng ngay ngắn trước cửa lăng và hát vọng vào. Trong khi hát, chỉ được hát những giọng lề lối với nội dung ca ngợi công lao của thần Phần hội Phần hội diễn ra rất vui nhộn và náo nhiệt với nhiều trò chơi dân gian như đấu vật, đấu võ, đấu cờ, thi dệt cửi, đu tiên, nấu cơm. Đặc sắc nhất vẫn là phần hát hội. Các liền anh liền chị hát quan họ trên thuyền rồng Được xem là phần căn bản và đặc sắc nhất của hội Lim. Từ điệu hát mời trầu, hát gọi đò cho đến con nhện giăng mùng, con sáo sang sông. Hội thi hát thường được tổ chức vào thời gian gần trưa theo nghi thức du thuyền hát quan họ. Tại một hồ nước nhỏ nằm sát cánh đồng của làng Lim, chiếc thuyền hình rồng đã được sơn màu son thiếp vàng sẽ rời bến chở những liền anh, liền chị mang đến những câu hát đậm đà nghĩa tình cho người xem. Một bên thuyền chở các liền chị, đối diện sẽ là những em nhỏ diện những tà áo tứ thân có màu sắc rực rỡ. Các liền anh sẽ đứng hoặc ngồi sát ở hai phía đầu hoặc cuối thuyền. Tối ngày 12, sẽ tổ chức đêm hội hát thi quan họ giữa các làng Lim và các làng quan họ. Mỗi làng quan họ sẽ dựng một trại tại phần của một khu đất rộng của đồi Lim. Đây là phần hội hấp dẫn nhất của lễ hội Hội Lim. Hội Lim là một trong nhưng lễ hội lớn nhất của vùng Kinh Bắc ,với những hoạt động văn hóa, văn nghệ phong phú, đặc trưng của lễ hội, gần như hội tụ đầy đủ những hoạt động văn hóa, nghệ thuật và tín ngưỡng tâm linh của con người ở vùng quê Kinh Bắc.

Hội Lim ở Bắc Ninh là một lễ hội lớn đầu xuân, thường được tổ chức từ ngày 12 đến ngày 14 tháng Giêng hàng năm, tại huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh. Có giả thuyết cho rằng hội Lim bắt nguồn từ hội chùa, hội hát, và có liên quan đến tiếng hát của chàng Trương Chi trong truyền thuyết "Trương Chi - Mỵ Nương" . Hội Lim là ngày hội của những làng xã cổ chung quanh núi Lim và hai bên bờ sông Tiêu Tương .

Hội Lim tại Bắc Ninh

Hội Lim đã trở thành hội hàng tổng (hội vùng) từ thế kỷ thứ 18. Khi quan trấn thủ xứ Thanh Hóa là Nguyễn Đình Diễn, là một người ở thôn Đình Cả, Nội Duệ, xứ Kinh Bắc, đã có công lớn với triều đình, đã được phong thưởng và hưởng bổng lộc. Ông đã tự hiến ruộng vườn và tiền bạc của mình cho tổng Nội Duệ để trùng tu lại đình chùa, mở mang hội hè nhằm gìn giữ bản sắc của địa phương. Ông còn cho quân lính xây dựng trước khu lăng mộ của mình và đặt tên là lăng Hồng Vân nằm trên núi Lim. Vì có nhiều công lao với người dân nơi đây cộng với việc ông đặt hậu tại chùa Hồng ân, nên khi ông qua đời người dân tổng Nội Duệ đã tôn ông làm hậu thần, hậu Phật hàng tổng. Văn bia lăng Hồng Vân hiện đang được lưu giữ tại đình thôn Đình Cả, đã nêu rõ lai lịch, công trạng và việc thờ phụng quan trấn xử Nguyễn Đình Diễn mỗi năm vào hai dịp là "ngày sinh" và "ngày hóa" của ông tại khu lăng mộ Hồng Vân và chùa Hồng ân nằm trên núi Lim. Song trải qua năm tháng lịch sử, hội Lim ngày nay đã có nhiều lớp văn hóa, ngày nay người ta chỉ tổ chức nghi thức tế lễ hậu thần vào ngày 13 tháng giêng, trùng với ngày hội chùa Lim. Chính vì thế mà có hội Lim và đây chính là hội hàng tổng Vào ngày Hội Lim người dân trong vùng và khách thập phương nô nức kéo nhau về xem hội Phần lễ Ngày 13 tháng giêng âm lịch là ngày hội chính. Vào lúc 8giờ sáng, Hội Lim sẽ được mở đầu bằng lễ rước. Đoàn rước có đông đảo người dân tham gia, đoàn người diện những bộ lễ phục ngày xưa, trông rất sặc sỡ và cũng vô cùng cầu kì, đẹp mắt, đoàn lễ rước kéo dài tới cả gần km. Trong ngày hội, người ta sẽ tiến hành nhiều nghi lễ và các trò chơi dân gian nổi tiếng, trong đó điển hình là tục hát thờ hậu. Buổi sáng ngày 13 tháng giêng quan viên, hương lão và nam đinh của các làng xã thuộc tổng Nội Duệ sẽ tề tựu đầy đủ về lăng Hồng Vân để tham gia nghi lễ tế lễ hậu thần. Trong khi tế sẽ có nghi thức hát quan họ để thờ thần. Khi hát thờ, các bọn quan họ nam, nữ của tổng Nội Duệ sẽ đứng thành hàng ngay ngắn trước cửa lăng và hát vọng vào. Trong khi hát, chỉ được hát những giọng lề lối với nội dung ca ngợi công lao của thần Phần hội Phần hội diễn ra rất vui nhộn và náo nhiệt với nhiều trò chơi dân gian như đấu vật, đấu võ, đấu cờ, thi dệt cửi, đu tiên, nấu cơm. Đặc sắc nhất vẫn là phần hát hội. Các liền anh liền chị hát quan họ trên thuyền rồng Được xem là phần căn bản và đặc sắc nhất của hội Lim. Từ điệu hát mời trầu, hát gọi đò cho đến con nhện giăng mùng, con sáo sang sông. Hội thi hát thường được tổ chức vào thời gian gần trưa theo nghi thức du thuyền hát quan họ. Tại một hồ nước nhỏ nằm sát cánh đồng của làng Lim, chiếc thuyền hình rồng đã được sơn màu son thiếp vàng sẽ rời bến chở những liền anh, liền chị mang đến những câu hát đậm đà nghĩa tình cho người xem. Một bên thuyền chở các liền chị, đối diện sẽ là những em nhỏ diện những tà áo tứ thân có màu sắc rực rỡ. Các liền anh sẽ đứng hoặc ngồi sát ở hai phía đầu hoặc cuối thuyền. Tối ngày 12, sẽ tổ chức đêm hội hát thi quan họ giữa các làng Lim và các làng quan họ. Mỗi làng quan họ sẽ dựng một trại tại phần của một khu đất rộng của đồi Lim. Đây là phần hội hấp dẫn nhất của lễ hội Hội Lim. Hội Lim là một trong nhưng lễ hội lớn nhất của vùng Kinh Bắc ,với những hoạt động văn hóa, văn nghệ phong phú, đặc trưng của lễ hội, gần như hội tụ đầy đủ những hoạt động văn hóa, nghệ thuật và tín ngưỡng tâm linh của con người ở vùng quê Kinh Bắc.

Related Figures

Lễ hội Đền Mẫu Thác Bà

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 9/1 Âm lịch Đã thành thông lệ, cứ đến ngày mùng 9 tháng giêng âm lịch hàng năm, thì đông đảo bà con nhân dân trong vùng cùng du khách thập phương lại nô nức về dự lễ hội Đền Mẫu Thác Bà của thị trấn Thác Bà, Yên Bình, Yên Bái. Tương truyền từ thời xã xưa, thời các vua Hùng, có một nàng công chúa tên gọi là Minh Đạt được cắt cử trông coi vùng sông Chảy Thác Bà, dạy người dân khai khẩn đất hoang, dệt vải và trồng lúa. Khi bà mất được nhân dân tôn kính và lập đền thờ phụng tại Thác Bà. Khung cảnh đền Mẫu Thác Bà Cũng giống như nhiều lễ hội khác, lễ hội Đền Mẫu Thác Bà gồm có hai phần chính, đó là phần lễ và phần hội. Phần lễ là phần với những nghi thức truyền thống trang trọng, mở đầu phần lễ là phần rước kiệu. Phần rước được chia thành ba hướng, hướng thứ nhất là rước kiệu võng, kiệu bát cổng và kiệu hoa; hướng thứ hai là rước lễ vật gồm có 8 mâm từ hồ xanh lên gồm có bánh, hoa quả và chè kho; hướng thứ ba sẽ là rước cá từ Hồ Thác Bà vào. Tiếng trống trong hội xuân rộn rã thúc giục, làm bừng lên không khí nhộn nhịp trong cả vùng. Người người, nhà nhà tấp nập đội lễ ra đền thành tâm cung kính, gạt bỏ hết tất cả mọi điều ác để hướng thiện. Sau phần rước kiệu sẽ là lễ tế mẫu, lễ dâng hương kính mẫu, lễ dâng tửu, lễ dâng hoa, lễ dâng quả… Tất cả mọi nghi lễ tế, rước, dâng hương đều thể hiện tấm lòng thành kính và biết ơn của dân làng đối với người xưa. Lễ tế Mẫu tại lễ hội Đền Mẫu Thác Bà Ngay sau phần lễ nghiêm trang là đến phần hội sôi nổi, vui nhộn với các trò chơi dân gian như: đẩy gậy, kéo co, ném còn, chọi gà, cờ tướng v.v…Những hình thức sinh hoạt văn hóa mang đậm màu sắc dân gian đã tạo cho không khí ngày hội của nhân dân vùng hạ lưu sông Chảy thêm phần sống động và thực sự đây là nơi giao lưu văn hóa giữa các dân tộc Kinh, Nùng và Tày trong vùng. Những trò chơi trong hội không chỉ thể hiện sự tài trí, khéo léo và thông minh mà còn toát lên tính tập thể và tinh thần cộng đồng cao. Kéo co- một phần trò chơi trong phần hội Lễ hội Đền Mẫu Thác Bà hội tụ đầy đủ sắc thái văn hóa của cư dân bản địa lâu đời, và lễ hội cũng mang nhiều yếu tố tín ngưỡng tiến bộ. Theo yenbai.gov.vn

Đã thành thông lệ, cứ đến ngày mùng 9 tháng giêng âm lịch hàng năm, thì đông đảo bà con nhân dân trong vùng cùng du khách thập phương lại nô nức về dự lễ hội Đền Mẫu Thác Bà của thị trấn Thác Bà, Yên Bình, Yên Bái. Tương truyền từ thời xã xưa, thời các vua Hùng, có một nàng công chúa tên gọi là Minh Đạt được cắt cử trông coi vùng sông Chảy Thác Bà, dạy người dân khai khẩn đất hoang, dệt vải và trồng lúa. Khi bà mất được nhân dân tôn kính và lập đền thờ phụng tại Thác Bà.

Khung cảnh đền Mẫu Thác Bà Cũng giống như nhiều lễ hội khác, lễ hội Đền Mẫu Thác Bà gồm có hai phần chính, đó là phần lễ và phần hội. Phần lễ là phần với những nghi thức truyền thống trang trọng, mở đầu phần lễ là phần rước kiệu. Phần rước được chia thành ba hướng, hướng thứ nhất là rước kiệu võng, kiệu bát cổng và kiệu hoa; hướng thứ hai là rước lễ vật gồm có 8 mâm từ hồ xanh lên gồm có bánh, hoa quả và chè kho; hướng thứ ba sẽ là rước cá từ Hồ Thác Bà vào. Tiếng trống trong hội xuân rộn rã thúc giục, làm bừng lên không khí nhộn nhịp trong cả vùng. Người người, nhà nhà tấp nập đội lễ ra đền thành tâm cung kính, gạt bỏ hết tất cả mọi điều ác để hướng thiện. Sau phần rước kiệu sẽ là lễ tế mẫu, lễ dâng hương kính mẫu, lễ dâng tửu, lễ dâng hoa, lễ dâng quả… Tất cả mọi nghi lễ tế, rước, dâng hương đều thể hiện tấm lòng thành kính và biết ơn của dân làng đối với người xưa. Lễ tế Mẫu tại lễ hội Đền Mẫu Thác Bà Ngay sau phần lễ nghiêm trang là đến phần hội sôi nổi, vui nhộn với các trò chơi dân gian như: đẩy gậy, kéo co, ném còn, chọi gà, cờ tướng v.v…Những hình thức sinh hoạt văn hóa mang đậm màu sắc dân gian đã tạo cho không khí ngày hội của nhân dân vùng hạ lưu sông Chảy thêm phần sống động và thực sự đây là nơi giao lưu văn hóa giữa các dân tộc Kinh, Nùng và Tày trong vùng. Những trò chơi trong hội không chỉ thể hiện sự tài trí, khéo léo và thông minh mà còn toát lên tính tập thể và tinh thần cộng đồng cao. Kéo co- một phần trò chơi trong phần hội Lễ hội Đền Mẫu Thác Bà hội tụ đầy đủ sắc thái văn hóa của cư dân bản địa lâu đời, và lễ hội cũng mang nhiều yếu tố tín ngưỡng tiến bộ. Theo yenbai.gov.vn

Lễ tế Mẫu tại lễ hội Đền Mẫu Thác Bà

Related Figures

Lễ hội Xên Mường của đồng bào Thái Mường Lò

Thông tin thời kỳ

Lễ hội Xên Mường (cúng Mường) là một trong những lễ hội lớn trong năm của người dân tộc Thái nhằm tưởng nhớ đến những vị thần linh đã khai sáng ra mường, (cách gọi tên vùng đất nơi mà người Thái đang sinh sống), cầu mong cho người Thái được hạnh phúc, ấm no. Lễ hội Xên Mường này diễn ra giống nhau ở mọi vùng, nhưng mỗi một mường lại chọn địa điểm, chon cách thức tiến hành và chọn một số nghi lễ khác nhau. Người Thái vùng Tây Bắc thường tổ chức lễ hội này tại đầu nguồn sông suối, nơi cung cấp nước cho toàn mường; người Thái đen tại Mường Lò (Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái) thì lại tổ chức ở khu rừng cấm của Mường (Tu Mường) - nơi mà có gốc đa to nhất, xung quanh là nơi yên nghỉ của những con người đã khuất. Lễ hội Xên Mường của đồng bào Thái Mường Lò Lễ hội Xên Mường của người Thái tại Mường Lò do ông Mo Nghè (Mo mường), là người trông coi thần quyền cho Chủ mường (Chạu Mường) và hội phụ lão (Hang thạu ké) đứng ra tổ chức. Lễ hội Xên mường phải có áo của người con trai thuộc dòng dõi quý tộc gốc (Tạo chạu sựa) hoặc người đương chức (Phìa tạo) làm vật tế. Ngày nay, thì chức danh quý tộc không còn nên người Thái lấy áo của các vị lãnh đạo xã làm vật tế. Toàn bộ lễ vật là do người dân mường đóng góp, người dân có thể mổ từ hai đến bốn con trâu. Riêng người Thái ở Yên Châu, Sơn La thì tế bằng trâu trắng. Điều lạ ở đây là, con trâu để Xên Mường thì phải do chính ông mo Nghè đi tìm, ông mo Nghè thích con nào thì chỉ con đấy, không cần biết là con trâu của nhà ai. Điều thú vị hơn, đó là khi bị ông Mo chỉ gậy vào, thì con trâu đứng yên đến mức gần như bị thôi miên, nên người giúp việc (ông Cón) chỉ việc dắt trâu về nơi tổ chức lễ hội. Cỗ cúng bao gồm ba có mâm thịt trâu chín, rượi và gạo. Ông Mo sẽ khấn bảy lần, mời các vị thần, mời các vị tổ tiên về dự lễ và phù hộ cho người dân mường có cuộc sống an vui, ấm no, sung túc.Trâu là vật dùng để tế trong lễ hội Xên Mường. Trâu là vật dùng để tế trong lễ hội Xên Mường Những trò chơi trong lễ hội Xên Mường thường là xoè vòng theo nhịp và liền sau là trò ném còn. Trước khi bắt đầu, người dân lập đàn tế còn ngay dưới chân cột còn cao 15m-20m. Lễ vật sẽ gần giống Xên Mường, chỉ khác là phải có thêm hàng trăm quả còn trên đàn tế. Theo quan niệm của người Thái cho rằng, ông trời sai con muỗi, con vắt trên rừng, con đỉa dưới ruộng hút máu đem lên trời. Nay người mường tổ chức ném còn để đòi lại. Tham gia trò chơi này chủ yếu là những nam thanh niên, ai là người ném rách tâm điểm trên đỉnh cột còn sẽ được coi là người hùng của hội. Lễ hội Xên Mường – Nét đẹp văn hóa người Thái Trong lễ hội Xên Mường còn tổ chức săn cá tập thể, đây một sinh hoạt khá lý thú. Mọi thành viên trong mường ai cũng có quyền được tham gia vào cuộc săn này. Đây không chỉ đơn thuần là vấn đề kiếm ăn mà đây còn là một hoạt động sinh hoạt văn hoá khẳng định tính thống nhất cộng đồng chặt chẽ hơn. Có thể nói Xên Mường là một lễ hội cầu an, vật thịnh, xã hội bền vững

Lễ hội Xên Mường (cúng Mường) là một trong những lễ hội lớn trong năm của người dân tộc Thái nhằm tưởng nhớ đến những vị thần linh đã khai sáng ra mường, (cách gọi tên vùng đất nơi mà người Thái đang sinh sống), cầu mong cho người Thái được hạnh phúc, ấm no. Lễ hội Xên Mường này diễn ra giống nhau ở mọi vùng, nhưng mỗi một mường lại chọn địa điểm, chon cách thức tiến hành và chọn một số nghi lễ khác nhau. Người Thái vùng Tây Bắc thường tổ chức lễ hội này tại đầu nguồn sông suối, nơi cung cấp nước cho toàn mường; người Thái đen tại Mường Lò (Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái) thì lại tổ chức ở khu rừng cấm của Mường (Tu Mường) - nơi mà có gốc đa to nhất, xung quanh là nơi yên nghỉ của những con người đã khuất.

Lễ hội Xên Mường của đồng bào Thái Mường Lò Lễ hội Xên Mường của người Thái tại Mường Lò do ông Mo Nghè (Mo mường), là người trông coi thần quyền cho Chủ mường (Chạu Mường) và hội phụ lão (Hang thạu ké) đứng ra tổ chức. Lễ hội Xên mường phải có áo của người con trai thuộc dòng dõi quý tộc gốc (Tạo chạu sựa) hoặc người đương chức (Phìa tạo) làm vật tế. Ngày nay, thì chức danh quý tộc không còn nên người Thái lấy áo của các vị lãnh đạo xã làm vật tế. Toàn bộ lễ vật là do người dân mường đóng góp, người dân có thể mổ từ hai đến bốn con trâu. Riêng người Thái ở Yên Châu, Sơn La thì tế bằng trâu trắng. Điều lạ ở đây là, con trâu để Xên Mường thì phải do chính ông mo Nghè đi tìm, ông mo Nghè thích con nào thì chỉ con đấy, không cần biết là con trâu của nhà ai. Điều thú vị hơn, đó là khi bị ông Mo chỉ gậy vào, thì con trâu đứng yên đến mức gần như bị thôi miên, nên người giúp việc (ông Cón) chỉ việc dắt trâu về nơi tổ chức lễ hội. Cỗ cúng bao gồm ba có mâm thịt trâu chín, rượi và gạo. Ông Mo sẽ khấn bảy lần, mời các vị thần, mời các vị tổ tiên về dự lễ và phù hộ cho người dân mường có cuộc sống an vui, ấm no, sung túc.Trâu là vật dùng để tế trong lễ hội Xên Mường. Trâu là vật dùng để tế trong lễ hội Xên Mường Những trò chơi trong lễ hội Xên Mường thường là xoè vòng theo nhịp và liền sau là trò ném còn. Trước khi bắt đầu, người dân lập đàn tế còn ngay dưới chân cột còn cao 15m-20m. Lễ vật sẽ gần giống Xên Mường, chỉ khác là phải có thêm hàng trăm quả còn trên đàn tế. Theo quan niệm của người Thái cho rằng, ông trời sai con muỗi, con vắt trên rừng, con đỉa dưới ruộng hút máu đem lên trời. Nay người mường tổ chức ném còn để đòi lại. Tham gia trò chơi này chủ yếu là những nam thanh niên, ai là người ném rách tâm điểm trên đỉnh cột còn sẽ được coi là người hùng của hội. Lễ hội Xên Mường – Nét đẹp văn hóa người Thái Trong lễ hội Xên Mường còn tổ chức săn cá tập thể, đây một sinh hoạt khá lý thú. Mọi thành viên trong mường ai cũng có quyền được tham gia vào cuộc săn này. Đây không chỉ đơn thuần là vấn đề kiếm ăn mà đây còn là một hoạt động sinh hoạt văn hoá khẳng định tính thống nhất cộng đồng chặt chẽ hơn. Có thể nói Xên Mường là một lễ hội cầu an, vật thịnh, xã hội bền vững

Related Figures

Lễ hội cướp cầu vùng Yên Thế

Thông tin thời kỳ

Tháng giêng âm lịch hàng năm, tại các Phúc Lễ (Phúc Hòa), làng Ngọc Cục (Việt Ngọc), kép Thượng (Lam Cốt), Làng Lý (Ngọc Lý)... thuộc miền hạ Yên Thế, hiện nay thuộc huyện Tân Yên, Bắc Giang, sẽ tổ chức hội cướp cầu mừng xuân. Hình thức tổ chức sẽ tùy thuộc theo làng lớn hay nhỏ mà có cách tổ chức khác nhau. Làng nhỏ thường chia làm 2 giáp, làng vừa sẽ chia thành 4 giáp, theo lượng người mà chia thành số Giáp. Những trai đinh tham gia cuộc thi thường là người cường tráng, nhanh nhẹn. Hình thức trang phục thường tùy thuộc vào sự lựa chọn của từng làng. Có làng người tham gia cuộc thi sẽ cởi trần, đóng khố lụa có nhiều màu sắc xanh đỏ trông rất sặc sỡ, tay sẽ cầm một chiếc móc có cán dài. Có làng thì trai đinh sẽ mặc quần áo, có chít một chiếc khăn màu trên đầu, ngang lưng có thắt một chiếc bao lụa các màu rực rỡ, tay không để cướp cầu. Trận cướp cầu quyết liệt trong Lễ hội cướp cầu vùng Yên Thế tại Bắc Giang Địa điểm tổ chức nơi cướp cầu có khi lại là sân đình hoặc một bãi rộng cửa đình, hay một bãi rộng bên đình. Vào giờ lễ của hội cướp cầu, trai đinh các giáp trong các bộ trang phục nhiều màu sắc rực rõ, đứng tề chỉnh, và trang nghiêm trước sân đình với khí thế hừng hậu, quyết thắng. Trận cướp cầu quyết liệt trong Lễ hội cướp cầu vùng Yên Thế tại Bắc Giang Quả cầu thường được sơn màu son thiếp vàng, có màu sắc rực rỡ, trông rất hấp dẫn. Khi hiệu lệnh bắt đầu nổi lên,Trai tráng các giáp sẽ xô nhau cướp, chặn đối phương, luồn lách và tranh cướp lấy quả cầu đỏ rồi ôm vào lòng. Đây là cả một quá trình vật lộn, tranh giành và đua chen rất quyết liệt, không chỉ đòi hỏi có lực, mà cần phải có trí, có mưu lược và sự dũng mãnh mới hy vọng giành được phần thắng. Trong khi đó, chiêng trống của làng sẽ nổi lên rộn ràng, sôi nổi, người dân của các giáp sẽ đứng quanh đông đảo từ vòng trong ra vòng ngoài. Đội thắng là đội ôm được bóng chạy vào sân đình Cuối cùng, trai đinh của giáp nào cướp được quả cầu, ôm lấy, rồi chạy vào đặt được trong cung đình thì giáp đó sẽ thắng cuộc. Cuối cùng, quả cầu sẽ được đặt tại vị trí tôn nghiêm. Cả giáp, cả làng, và người dân đều rất vui sướng. Chiêng trống rền vang, thúc giục dồn dập, người người già, người trẻ, gái, trai đua nhau reo hò vang cầu trường. Giáp thắng cuộc sẽ nhận được giải thưởng của và vui mừng vì năm ấy cả làng, cả giáp sẽ gặp may, bình an, và làm ăn phát đạt.

Tháng giêng âm lịch hàng năm, tại các Phúc Lễ (Phúc Hòa), làng Ngọc Cục (Việt Ngọc), kép Thượng (Lam Cốt), Làng Lý (Ngọc Lý)... thuộc miền hạ Yên Thế, hiện nay thuộc huyện Tân Yên, Bắc Giang, sẽ tổ chức hội cướp cầu mừng xuân.

Hình thức tổ chức sẽ tùy thuộc theo làng lớn hay nhỏ mà có cách tổ chức khác nhau. Làng nhỏ thường chia làm 2 giáp, làng vừa sẽ chia thành 4 giáp, theo lượng người mà chia thành số Giáp. Những trai đinh tham gia cuộc thi thường là người cường tráng, nhanh nhẹn. Hình thức trang phục thường tùy thuộc vào sự lựa chọn của từng làng. Có làng người tham gia cuộc thi sẽ cởi trần, đóng khố lụa có nhiều màu sắc xanh đỏ trông rất sặc sỡ, tay sẽ cầm một chiếc móc có cán dài. Có làng thì trai đinh sẽ mặc quần áo, có chít một chiếc khăn màu trên đầu, ngang lưng có thắt một chiếc bao lụa các màu rực rỡ, tay không để cướp cầu. Trận cướp cầu quyết liệt trong Lễ hội cướp cầu vùng Yên Thế tại Bắc Giang Địa điểm tổ chức nơi cướp cầu có khi lại là sân đình hoặc một bãi rộng cửa đình, hay một bãi rộng bên đình. Vào giờ lễ của hội cướp cầu, trai đinh các giáp trong các bộ trang phục nhiều màu sắc rực rõ, đứng tề chỉnh, và trang nghiêm trước sân đình với khí thế hừng hậu, quyết thắng. Trận cướp cầu quyết liệt trong Lễ hội cướp cầu vùng Yên Thế tại Bắc Giang Quả cầu thường được sơn màu son thiếp vàng, có màu sắc rực rỡ, trông rất hấp dẫn. Khi hiệu lệnh bắt đầu nổi lên,Trai tráng các giáp sẽ xô nhau cướp, chặn đối phương, luồn lách và tranh cướp lấy quả cầu đỏ rồi ôm vào lòng. Đây là cả một quá trình vật lộn, tranh giành và đua chen rất quyết liệt, không chỉ đòi hỏi có lực, mà cần phải có trí, có mưu lược và sự dũng mãnh mới hy vọng giành được phần thắng. Trong khi đó, chiêng trống của làng sẽ nổi lên rộn ràng, sôi nổi, người dân của các giáp sẽ đứng quanh đông đảo từ vòng trong ra vòng ngoài. Đội thắng là đội ôm được bóng chạy vào sân đình Cuối cùng, trai đinh của giáp nào cướp được quả cầu, ôm lấy, rồi chạy vào đặt được trong cung đình thì giáp đó sẽ thắng cuộc. Cuối cùng, quả cầu sẽ được đặt tại vị trí tôn nghiêm. Cả giáp, cả làng, và người dân đều rất vui sướng. Chiêng trống rền vang, thúc giục dồn dập, người người già, người trẻ, gái, trai đua nhau reo hò vang cầu trường. Giáp thắng cuộc sẽ nhận được giải thưởng của và vui mừng vì năm ấy cả làng, cả giáp sẽ gặp may, bình an, và làm ăn phát đạt.

Related Figures

Hội làng Trịnh Nguyễn

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/3- 12/3 Âm lịch (lehoi.info) - Hội Làng Trịnh Nguyễn diền ra vào ngày mồng 10 tháng Ba Âm lịch hàng năm, tại phường Châu Khê thuộc thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Lễ hội này kéo dài trong 3 ngày. Trò chơi bắt vịt dưới ao trong Hội làng Trịnh Nguyễn tại Bắc Ninh Người dân phường Châu Khê, kể cả những người đã sinh ra và lớn lên tại làng Trịnh Nguyễn dù đã đi làm ở phương xa, nhưng ai ai cũng luôn ghi nhớ câu răn dạy: “Dù ai đi khắp 4 phương/Nhớ ngày giỗ tổ Hùng Vương lại quay trở về”. Ngày mồng 1o tháng Ba âm lịch là ngày Quốc lễ của dân tộc và cũng chính là ngày Hội của làng Trịnh Nguyễn. Vì thế cứ vào ngày mồng 10 tháng Ba hàng năm, bà con dân làng Trịnh Nguyễn lại nô nức để chuẩn bị cho lễ hội kéo dài trong 3 ngày. Trước đây, làng Trịnh Nguyễn còn có tên gọi khác là làng Nguyễn Xá. Sau biết bao biến thiên của trời đất, tên làng đã được thay đổi và có tên Trịnh Nguyễn như ngày nay. Nhưng người dân ở làng Trịnh Nguyễn và người dân ở các vùng lân cận vẫn quen gọi là làng Trịnh Nguyễn. Ngày nay khu phố Trịnh Nguyễn có một cụm di tích lịch sử văn hoá là Đền-Đình-Chùa, vẫn được bảo tồn gần như nguyên vẹn. Suốt 20 năm qua, người dân làng Trịnh Nguyễn đã bỏ ra cả hàng chục tỷ đồng để trùng tu và kiến tạo lại cụm di tích này để nó có một thể hoàn chỉnh và khang trang như ngày nay. Đình làng Trịnh Nguyễn tại thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Binh Làng Trịnh Nguyễn cúng thờ đức vua Hùng, đây cũng chính là lý do vì sao ngày hội của làng vẫn thường được tổ chức vào đúng ngày mồng 10 tháng Ba âm lịch. Trịnh Nguyễn là một ngôi làng vẫn còn giữ được nhiều phong tục văn hóa và các cổ vật quý như các đạo sắc phong, ngọc Phả… Cứ vào năm chẵn, người dân làng Trịnh Nguyễn sẽ tổ chức lễ hội to hơn; hoành tráng hơn năm những năm lẻ, với các hoạt động như rước lễ, ca trù, hát quan họ, tế hội đồng, chọi gà, thi đấu vật, bắt vịt… Sáng ngày mồng 10 tháng Ba Âm lịch, tại ao làng ngay trước sân đền, các liền anh, liền chị hát quan họ trong câu lạc bộ của làng Trịnh Nguyễn sẽ tổ chức hát quan họ. Họ ngồi trên chiếc thuyền rồng được sơn màu son thiếc, các liền anh, liền chị sẽ hát điệu Mời trầu hay Ngồi tựa mạn thuyền… những câu hát đã làm say đắm lòng khách thập phương về xem hội. Chọi gà là một trò chơi vui được nhiều người dân và du khách thập phương yêu thích trong lễ Hội làng Trịnh Nguyễn tại Bắc Ninh Ngày đầu tiên của lễ hội, ban tổ chức sẽ tổ chức các trò chơi vui như: bắt vịt dưới ao, bịt mắt bắt gà, chọi gà, đấu vật... các trò chơi diễn ra trong không khí vui vẻ, và hết sức sôi nổi. Người chơi nào bắt được gà, được vịt sẽ càng vui, nhưng người thua cũng không vì thế mà tỏ ra chán nản. Hiện nay, người dân Trịnh Nguyễn vẫn được giữ gìn được phong tục văn hóa tiêu biểu từ xa xưa đến nay đó là tục mời khách. Không phải mời người dân trong làng, trong họ đến dùng cơm mà là mời khách thập phương về xem hội. Gia chủ nào mời được càng nhiều khách từ nhiều nơi khác đến xem hội và dùng cơm với gia đình sẽ càng vui và tự hào hơn. Điều đó đã nói lên khả năng giao thiệp rộng rãi của gia chủ, đó cũng là cách để bà con Trịnh Nguyễn thể hiện sự trọng thị đối với những người khách thập phương đã yêu mến nét văn hóa của họ. Các liền anh liền chị hát Quan họ trên thuyền trong ngày Hội làng Trịnh Nguyễn Mâm cơm mời khách trong ngày Hội bao giờ cũng được chuẩn bị một cách tươm tất, dù nhà giàu có hay nhà không có điều kiện, mâm cỗ trước là để dâng lên tiên tổ, sau đó sẽ hạ xuống đãi khách. Đại đa số, gia đình nào cũng sẽ thịt vài con gà, hai con chó, gói vài trăm cái bánh tẻ và chuẩn bị nhiều trái cây các loại. Trong 3 ngày hội, người đảm nhiệm công việc nội trợ trong gia đình lúc nào cũng bận rộn nhất, vất vả nhất, nhưng đó cũng chính là niềm vui lớn nhất của người ấy vì đã góp phần gìn giữ nét đẹp trong nền văn hóa ẩm thực của người dân làng Trịnh Nguyễn.

(lehoi.info) - Hội Làng Trịnh Nguyễn diền ra vào ngày mồng 10 tháng Ba Âm lịch hàng năm, tại phường Châu Khê thuộc thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Lễ hội này kéo dài trong 3 ngày.

Trò chơi bắt vịt dưới ao trong Hội làng Trịnh Nguyễn tại Bắc Ninh

Người dân phường Châu Khê, kể cả những người đã sinh ra và lớn lên tại làng Trịnh Nguyễn dù đã đi làm ở phương xa, nhưng ai ai cũng luôn ghi nhớ câu răn dạy: “Dù ai đi khắp 4 phương/Nhớ ngày giỗ tổ Hùng Vương lại quay trở về”. Ngày mồng 1o tháng Ba âm lịch là ngày Quốc lễ của dân tộc và cũng chính là ngày Hội của làng Trịnh Nguyễn. Vì thế cứ vào ngày mồng 10 tháng Ba hàng năm, bà con dân làng Trịnh Nguyễn lại nô nức để chuẩn bị cho lễ hội kéo dài trong 3 ngày. Trước đây, làng Trịnh Nguyễn còn có tên gọi khác là làng Nguyễn Xá. Sau biết bao biến thiên của trời đất, tên làng đã được thay đổi và có tên Trịnh Nguyễn như ngày nay. Nhưng người dân ở làng Trịnh Nguyễn và người dân ở các vùng lân cận vẫn quen gọi là làng Trịnh Nguyễn. Ngày nay khu phố Trịnh Nguyễn có một cụm di tích lịch sử văn hoá là Đền-Đình-Chùa, vẫn được bảo tồn gần như nguyên vẹn. Suốt 20 năm qua, người dân làng Trịnh Nguyễn đã bỏ ra cả hàng chục tỷ đồng để trùng tu và kiến tạo lại cụm di tích này để nó có một thể hoàn chỉnh và khang trang như ngày nay. Đình làng Trịnh Nguyễn tại thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Binh Làng Trịnh Nguyễn cúng thờ đức vua Hùng, đây cũng chính là lý do vì sao ngày hội của làng vẫn thường được tổ chức vào đúng ngày mồng 10 tháng Ba âm lịch. Trịnh Nguyễn là một ngôi làng vẫn còn giữ được nhiều phong tục văn hóa và các cổ vật quý như các đạo sắc phong, ngọc Phả… Cứ vào năm chẵn, người dân làng Trịnh Nguyễn sẽ tổ chức lễ hội to hơn; hoành tráng hơn năm những năm lẻ, với các hoạt động như rước lễ, ca trù, hát quan họ, tế hội đồng, chọi gà, thi đấu vật, bắt vịt… Sáng ngày mồng 10 tháng Ba Âm lịch, tại ao làng ngay trước sân đền, các liền anh, liền chị hát quan họ trong câu lạc bộ của làng Trịnh Nguyễn sẽ tổ chức hát quan họ. Họ ngồi trên chiếc thuyền rồng được sơn màu son thiếc, các liền anh, liền chị sẽ hát điệu Mời trầu hay Ngồi tựa mạn thuyền… những câu hát đã làm say đắm lòng khách thập phương về xem hội. Chọi gà là một trò chơi vui được nhiều người dân và du khách thập phương yêu thích trong lễ Hội làng Trịnh Nguyễn tại Bắc Ninh Ngày đầu tiên của lễ hội, ban tổ chức sẽ tổ chức các trò chơi vui như: bắt vịt dưới ao, bịt mắt bắt gà, chọi gà, đấu vật... các trò chơi diễn ra trong không khí vui vẻ, và hết sức sôi nổi. Người chơi nào bắt được gà, được vịt sẽ càng vui, nhưng người thua cũng không vì thế mà tỏ ra chán nản. Hiện nay, người dân Trịnh Nguyễn vẫn được giữ gìn được phong tục văn hóa tiêu biểu từ xa xưa đến nay đó là tục mời khách. Không phải mời người dân trong làng, trong họ đến dùng cơm mà là mời khách thập phương về xem hội. Gia chủ nào mời được càng nhiều khách từ nhiều nơi khác đến xem hội và dùng cơm với gia đình sẽ càng vui và tự hào hơn. Điều đó đã nói lên khả năng giao thiệp rộng rãi của gia chủ, đó cũng là cách để bà con Trịnh Nguyễn thể hiện sự trọng thị đối với những người khách thập phương đã yêu mến nét văn hóa của họ. Các liền anh liền chị hát Quan họ trên thuyền trong ngày Hội làng Trịnh Nguyễn Mâm cơm mời khách trong ngày Hội bao giờ cũng được chuẩn bị một cách tươm tất, dù nhà giàu có hay nhà không có điều kiện, mâm cỗ trước là để dâng lên tiên tổ, sau đó sẽ hạ xuống đãi khách. Đại đa số, gia đình nào cũng sẽ thịt vài con gà, hai con chó, gói vài trăm cái bánh tẻ và chuẩn bị nhiều trái cây các loại. Trong 3 ngày hội, người đảm nhiệm công việc nội trợ trong gia đình lúc nào cũng bận rộn nhất, vất vả nhất, nhưng đó cũng chính là niềm vui lớn nhất của người ấy vì đã góp phần gìn giữ nét đẹp trong nền văn hóa ẩm thực của người dân làng Trịnh Nguyễn.

Related Figures

Lễ hội đền Suối Mỡ

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/4 Âm lịch Khu di tích đền Suối Mỡ gồm 3 ngôi: đền Thượng, đền Trung và đền Hạ . Nằm ở xã Nghĩa Phượng, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Hội đền Suối Mỡ thường mở vào ngày mồng 1 tháng 4 âm lịch hàng năm. Theo các tài liệu xưa đã ghi chép lại: đền Suối Mỡ là nơi để thờ công chúa thời vua Hùng Định Vương tên là Quế Mỵ Nương, đã có công giúp người dân khơi nguồn suối lấy nước trồng trọt, làm nương, khiến cuộc sống của người dân được no ấm. Lễ tế cúng vật trong ngày Lễ hội đền Suối Mỡ tại Bắc Giang Ngày hội đền Suối Mỡ là ngày rước của người dân ở nơi đây. Làng Dùm có một ngôi đình to cách đền Suối Mỡ hơn 1 km về phía đông. Từ sáng inh mơ người dân và quan viên đã đến tế lễ ở đình. Tế xong họ xin rước sắc và bài vị của công chúa Quế Mỵ Nương ra đền suối. Đám rước có trống dong, cờ mở đi đến đền cây Xanh đến gần trưa mới tới đền Hạ. Cũng thời điểm ấy, người dân làng Quỷnh cũng bắt đầu rước từ đình Quỷnh ở phía Tây Suối Mỡ đi lên, rước qua nghè Hàn Lâm tiến về đền Trung làm lễ. Khi đám rước đi đến đền Hạ thì làm lễ tế an vị. Những năm hội lớn, thì lễ này thường mổ lợn to. Cuộc tế này thường diễn ra ở khu sân tiền đường của đền Hạ. Khuôn viên đền Suối Mỡ tỉnh Bắc Giang Ngoài tế lễ, hội đền còn tổ chức các trò chơi truyền thống như: thi bắn cung, đi quyền, võ dân tộc, múa kiếm, múa côn, múa đao…. Tối đến, tại nhà đền sẽ tổ chức hát chầu văn. Các đội hát chầu văn sẽ hát ở khu tiền đường. Thường thì người dân ở đây sẽ ưu tiên cho các đội chầu văn hàng hội của Chí Linh, Kiếp Bạc (tỉnh Hải Dương) biểu diễn cho người dân và du khách thập phương xem. Khách đến thăm quan hội đền Suối Mỡ rất đông, từ nhiều các huyện trong tỉnh, và các nơi trong nước. Trong đó có các bà, các chị thường đi lễ và xem hát chầu văn; Thanh niên nam nữ trẻ và những người chưa vợ, chưa chồng thì đi bộ leo suối, leo núi. Suối, núi ở Suối Mỡ hoà quyện với nhau rất hữu tình. Lễ hội đền Suối Mỡ tại Bắc Giang

Khu di tích đền Suối Mỡ gồm 3 ngôi: đền Thượng, đền Trung và đền Hạ . Nằm ở xã Nghĩa Phượng, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Hội đền Suối Mỡ thường mở vào ngày mồng 1 tháng 4 âm lịch hàng năm. Theo các tài liệu xưa đã ghi chép lại: đền Suối Mỡ là nơi để thờ công chúa thời vua Hùng Định Vương tên là Quế Mỵ Nương, đã có công giúp người dân khơi nguồn suối lấy nước trồng trọt, làm nương, khiến cuộc sống của người dân được no ấm.

Lễ tế cúng vật trong ngày Lễ hội đền Suối Mỡ tại Bắc Giang

Ngày hội đền Suối Mỡ là ngày rước của người dân ở nơi đây. Làng Dùm có một ngôi đình to cách đền Suối Mỡ hơn 1 km về phía đông. Từ sáng inh mơ người dân và quan viên đã đến tế lễ ở đình. Tế xong họ xin rước sắc và bài vị của công chúa Quế Mỵ Nương ra đền suối. Đám rước có trống dong, cờ mở đi đến đền cây Xanh đến gần trưa mới tới đền Hạ. Cũng thời điểm ấy, người dân làng Quỷnh cũng bắt đầu rước từ đình Quỷnh ở phía Tây Suối Mỡ đi lên, rước qua nghè Hàn Lâm tiến về đền Trung làm lễ. Khi đám rước đi đến đền Hạ thì làm lễ tế an vị. Những năm hội lớn, thì lễ này thường mổ lợn to. Cuộc tế này thường diễn ra ở khu sân tiền đường của đền Hạ. Khuôn viên đền Suối Mỡ tỉnh Bắc Giang Ngoài tế lễ, hội đền còn tổ chức các trò chơi truyền thống như: thi bắn cung, đi quyền, võ dân tộc, múa kiếm, múa côn, múa đao…. Tối đến, tại nhà đền sẽ tổ chức hát chầu văn. Các đội hát chầu văn sẽ hát ở khu tiền đường. Thường thì người dân ở đây sẽ ưu tiên cho các đội chầu văn hàng hội của Chí Linh, Kiếp Bạc (tỉnh Hải Dương) biểu diễn cho người dân và du khách thập phương xem. Khách đến thăm quan hội đền Suối Mỡ rất đông, từ nhiều các huyện trong tỉnh, và các nơi trong nước. Trong đó có các bà, các chị thường đi lễ và xem hát chầu văn; Thanh niên nam nữ trẻ và những người chưa vợ, chưa chồng thì đi bộ leo suối, leo núi. Suối, núi ở Suối Mỡ hoà quyện với nhau rất hữu tình. Lễ hội đền Suối Mỡ tại Bắc Giang

Related Figures

Lễ hội đền Nhược Sơn

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 20/9 Âm lịch (lehoi.info)- Lễ hội đền Nhược Sơn là lễ hội được diễn ra vào ngày 20 tháng 9 âm lịch hàng năm, tại xã Châu Quế Hạ. Đông đảo bà con trong xã và du khách thập phương đến dâng hương tại đền Nhược Sơn để tưởng nhớ công lao của Hà Chương và cầu cho cuộc sống ngày càng ấm no hạnh phúc. Quang cảnh đền Nhược Sơn Đền Nhược Sơn thuộc thôn Ngọc Châu xã Châu Quế Hạ, đây là đền thờ ngài Hà Khắc Chương, là một nhân võ tướng thời Trần đã có công đóng góp to lớn trong việc trấn giữ vùng biên cương phía bắc, trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ hai, đã đuổi quân nguyên từ tỉnh Phú Thọ theo đường Sông hồng lên tỉnh Yên Bái, tới Châu Quế Thổ tức Châu Quế Hạ ngày nay, Hà Khắc Chương đã chiêu mộ thêm thổ binh địa phương tiếp tục truy kích địch, đóng bè mảng đem ra cắm chốt tại cử Ngòi Thác Nhược, để phục kích quân địch, sau một tuần quân địch đã lọt vào trận địa mai phục. Quân ta từ mọi hướng xông ra và phá tan quân địch. Trong lúc quyết chiến Hà khắc Chương đã bị thương nặng và chết. Thi hài của Hà Khắc Chương được đưa sang sông chôn cất tại cửa thác Nhược Sơn. Đền Nhược Sơn được đặt quay mặt ra hướng Bắc, đền có hình thể không đều và kết cấu theo kiểu chữ đinh, trên mặt bằng tổng thể được chia thành hai phần là phần kiến trúc chính và phần kiến trúc phụ, với diện tích mặt bằng là 191,44 m vuông. Trong đền có khoảng trên 10 di vật gồm các ô chữ, chuông đồng, bát nhang và tượng Hà Chương được đúc bằng đồng cao 28,5cm rộng 9 cm, nặng 67 kg. Lễ hội đền Nhược Sơn Lễ hội đền Nhược Sơn sẽ được tổ chức gồm 2 phần chính đó là phần lễ và phần hội. Phần lề: ngoài những tiết theo kiểu thờ thánh mẫu, ở đây đáng chú ý còn có lễ Tứ Viết được tổ chức mỗi năm hai lần vào ngày 20 tháng 1 và 20 tháng 9 (Âm lịch), tiếng Tày được gọi là "phá lường" (tức: lên đồng). Ngày 20 tháng 9, tương truyền đó là ngày Hà Chương mất. Nhân dân sẽ làm cốm cúng và bàn công tác trù bị chuẩn bị cho việc đón du khách thập phương tới hương khói, thờ cúng Ngài. - Thời gian là từ 5 giờ sáng đến 5 giờ chiều. - Thành phần gồm các cụ tiên chỉ, chánh tổng, phó lý, bá hộ… - Từ 5h sáng, lính dõng sẽ chỉ đạo việc mổ lợn (lợn từ 60 đến 70kg, không quy định lợn đen hay lợn trắng). Lợn sẽ được mổ tại bờ sông Hồng, tiết được chia thành 12 chậu (để cúng Long vương ngay tại thác Nhược Sơn) (có băng ghi âm kèm theo - xem mục IX - hồ sơ ảnh và băng tư liệu). - 6h sáng, bà con dân bản sẽ đem bánh dày và cốm (được đựng trong coóng) dâng lên quan lớn Nhược Sơn. - 9h sáng, lễ chính sẽ diễn ra, ông thầy mo đọc bài văn tế gồm 7 tuần, với nội dung: tưởng nhớ công lao của ngài và cầu cho nhân dân được no ấm và hạnh phúc. - 10h sáng, ông thấy mo cúng xong, bộ phận nhà lân (nhà khách) sẽ làm cơm phục vụ khách mời và du khách thập phương về dự lễ hội. - Ngày 20 tháng1 (Âm lịch) khác với ngày 20 tháng 9 ở chỗ: mổ lợn sẽ được thay bằng mổ trâu, phần lễ và phần hội cũng giống như ngày 20 tháng 9. Lễ do các “giai chay, gái tịnh” trong trang phục dân tộc Tày dâng lên quan ngài. Phần hội: - Thời gian là từ 10h sáng tới 5h chiều. - 10h sáng, các hoạt động trong sinh hoạt lễ hội sẽ diễn ra đồng loạt như: hội múa xoè, hội ném còn, hội đại yến, hội hát đúm… - 10h sáng, hội múa xoè được tổ chức ngay tại sân đền. Dân làng phải diện trong những bộ quần áo dân tộc xoè ngay trước đền. Ông thầy mo sẽlà người xoè trước, mỗi bài xoè có từ 6 đến 7 người cùng xoè, mỗi người sẽ đeo 10 quả nhạc vừa xoè vừa hát những bài hát mang nội dung cầu mùa. - Từ 11h đến 5h chiều, hội hát đúm (hát đối), hội đánh yến, hội ném còn được tổ chức tại sân đền. + Hội đánh yến: quả yến sẽ được làm bằng lá của cây dứa dại, được tết từ 4 cái lá và buộc 3 chiếc lông cánh gà. Người đánh yến sẽ chuyền cho nhau, nếu người nào đánh rơi quả yến sẽ bị đấm một phát nhẹ. + Hội ném còn: được chia làm 2 đội, một bên là nam và một bên là nữ, ailà người ném thủng vòng còn sẽ được Lý trưởng được thưởng bằng hiện vật. Cây nêu cao từ 15 đến 20m, vòng còn từ 20 đến 25cm, được dán bằng giấy màu đỏ mặt hướng ra bờ sông (đầu sông thì ném xuống và cuối sông lại ném lên). Quả còn được làm bằng vải, bên trong đựng hạt bông và được gói thành hình vuông, bốn góc đều trang trí thành những tua đỏ xanh. Tua được làm bằng dây dài 70cm, được tết từ lạt nứa và thắt thành 7 đốt bằng vải đỏ, xanh, vàng, tím (tượng trưng cho 7 vía của ngài). Thầy mo sẽ là người khởi xướng cho việc ném còn. Dưới chân cột còn có một mâm xôi và gà để cúng thổ địa. + Hội hát đúm (hát đối): nhân dân các bản sẽ hát đối với nhau những bài hát với nội dung hỏi thăm sức khoẻ và chúc nhau làm ăn phát đạt. - Kết thúc phần lễ hội (5h chiều), lý trưởng, bá hộ sẽ công bố và có lời cảm ơn tới nhân dân và du khách thập phương./. Du khách thập phương đến lễ hội đền Nhược Sơn

(lehoi.info)- Lễ hội đền Nhược Sơn là lễ hội được diễn ra vào ngày 20 tháng 9 âm lịch hàng năm, tại xã Châu Quế Hạ. Đông đảo bà con trong xã và du khách thập phương đến dâng hương tại đền Nhược Sơn để tưởng nhớ công lao của Hà Chương và cầu cho cuộc sống ngày càng ấm no hạnh phúc.

Quang cảnh đền Nhược Sơn Đền Nhược Sơn thuộc thôn Ngọc Châu xã Châu Quế Hạ, đây là đền thờ ngài Hà Khắc Chương, là một nhân võ tướng thời Trần đã có công đóng góp to lớn trong việc trấn giữ vùng biên cương phía bắc, trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ hai, đã đuổi quân nguyên từ tỉnh Phú Thọ theo đường Sông hồng lên tỉnh Yên Bái, tới Châu Quế Thổ tức Châu Quế Hạ ngày nay, Hà Khắc Chương đã chiêu mộ thêm thổ binh địa phương tiếp tục truy kích địch, đóng bè mảng đem ra cắm chốt tại cử Ngòi Thác Nhược, để phục kích quân địch, sau một tuần quân địch đã lọt vào trận địa mai phục. Quân ta từ mọi hướng xông ra và phá tan quân địch. Trong lúc quyết chiến Hà khắc Chương đã bị thương nặng và chết. Thi hài của Hà Khắc Chương được đưa sang sông chôn cất tại cửa thác Nhược Sơn. Đền Nhược Sơn được đặt quay mặt ra hướng Bắc, đền có hình thể không đều và kết cấu theo kiểu chữ đinh, trên mặt bằng tổng thể được chia thành hai phần là phần kiến trúc chính và phần kiến trúc phụ, với diện tích mặt bằng là 191,44 m vuông. Trong đền có khoảng trên 10 di vật gồm các ô chữ, chuông đồng, bát nhang và tượng Hà Chương được đúc bằng đồng cao 28,5cm rộng 9 cm, nặng 67 kg. Lễ hội đền Nhược Sơn Lễ hội đền Nhược Sơn sẽ được tổ chức gồm 2 phần chính đó là phần lễ và phần hội. Phần lề: ngoài những tiết theo kiểu thờ thánh mẫu, ở đây đáng chú ý còn có lễ Tứ Viết được tổ chức mỗi năm hai lần vào ngày 20 tháng 1 và 20 tháng 9 (Âm lịch), tiếng Tày được gọi là "phá lường" (tức: lên đồng). Ngày 20 tháng 9, tương truyền đó là ngày Hà Chương mất. Nhân dân sẽ làm cốm cúng và bàn công tác trù bị chuẩn bị cho việc đón du khách thập phương tới hương khói, thờ cúng Ngài. - Thời gian là từ 5 giờ sáng đến 5 giờ chiều. - Thành phần gồm các cụ tiên chỉ, chánh tổng, phó lý, bá hộ… - Từ 5h sáng, lính dõng sẽ chỉ đạo việc mổ lợn (lợn từ 60 đến 70kg, không quy định lợn đen hay lợn trắng). Lợn sẽ được mổ tại bờ sông Hồng, tiết được chia thành 12 chậu (để cúng Long vương ngay tại thác Nhược Sơn) (có băng ghi âm kèm theo - xem mục IX - hồ sơ ảnh và băng tư liệu). - 6h sáng, bà con dân bản sẽ đem bánh dày và cốm (được đựng trong coóng) dâng lên quan lớn Nhược Sơn. - 9h sáng, lễ chính sẽ diễn ra, ông thầy mo đọc bài văn tế gồm 7 tuần, với nội dung: tưởng nhớ công lao của ngài và cầu cho nhân dân được no ấm và hạnh phúc. - 10h sáng, ông thấy mo cúng xong, bộ phận nhà lân (nhà khách) sẽ làm cơm phục vụ khách mời và du khách thập phương về dự lễ hội. - Ngày 20 tháng1 (Âm lịch) khác với ngày 20 tháng 9 ở chỗ: mổ lợn sẽ được thay bằng mổ trâu, phần lễ và phần hội cũng giống như ngày 20 tháng 9. Lễ do các “giai chay, gái tịnh” trong trang phục dân tộc Tày dâng lên quan ngài. Phần hội: - Thời gian là từ 10h sáng tới 5h chiều. - 10h sáng, các hoạt động trong sinh hoạt lễ hội sẽ diễn ra đồng loạt như: hội múa xoè, hội ném còn, hội đại yến, hội hát đúm… - 10h sáng, hội múa xoè được tổ chức ngay tại sân đền. Dân làng phải diện trong những bộ quần áo dân tộc xoè ngay trước đền. Ông thầy mo sẽlà người xoè trước, mỗi bài xoè có từ 6 đến 7 người cùng xoè, mỗi người sẽ đeo 10 quả nhạc vừa xoè vừa hát những bài hát mang nội dung cầu mùa. - Từ 11h đến 5h chiều, hội hát đúm (hát đối), hội đánh yến, hội ném còn được tổ chức tại sân đền. + Hội đánh yến: quả yến sẽ được làm bằng lá của cây dứa dại, được tết từ 4 cái lá và buộc 3 chiếc lông cánh gà. Người đánh yến sẽ chuyền cho nhau, nếu người nào đánh rơi quả yến sẽ bị đấm một phát nhẹ. + Hội ném còn: được chia làm 2 đội, một bên là nam và một bên là nữ, ailà người ném thủng vòng còn sẽ được Lý trưởng được thưởng bằng hiện vật. Cây nêu cao từ 15 đến 20m, vòng còn từ 20 đến 25cm, được dán bằng giấy màu đỏ mặt hướng ra bờ sông (đầu sông thì ném xuống và cuối sông lại ném lên). Quả còn được làm bằng vải, bên trong đựng hạt bông và được gói thành hình vuông, bốn góc đều trang trí thành những tua đỏ xanh. Tua được làm bằng dây dài 70cm, được tết từ lạt nứa và thắt thành 7 đốt bằng vải đỏ, xanh, vàng, tím (tượng trưng cho 7 vía của ngài). Thầy mo sẽ là người khởi xướng cho việc ném còn. Dưới chân cột còn có một mâm xôi và gà để cúng thổ địa. + Hội hát đúm (hát đối): nhân dân các bản sẽ hát đối với nhau những bài hát với nội dung hỏi thăm sức khoẻ và chúc nhau làm ăn phát đạt. - Kết thúc phần lễ hội (5h chiều), lý trưởng, bá hộ sẽ công bố và có lời cảm ơn tới nhân dân và du khách thập phương./. Du khách thập phương đến lễ hội đền Nhược Sơn

Related Figures

Hội làng Phù Ðổng

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 8/4 Âm lịch Vào ngày mồng 8 tháng Tư hàng năm, tại đình làng Gióng (tên chữ là làng Phù Đổng), thuộc huyện Tiên Du, Bắc Ninh, sẽ diễn ra hội kỷ niệm đức Phù Đổng Thiên Vương, tức Đức Thánh Gióng. Hội làng Phù Đổng diễn ra linh đình và trang trọng. Hội đền Phù Đổng Thiên Vương còn được gọi là hội Gióng, hội thu hút người xem bởi cuộc rước lịch sử, tái diễn lại cảnh đức Thánh Gióng đánh giặc Ân. Người dân diễn lại Thần tích Thánh Gióng đánh thắng Giặc Ân Hội đền Phù Đổng Thiên Vương là một hội được tổ chức với quy mô lớn, do 4 xã thuộc tổng Phù Đổng cùng đứng ra tổ chức cùng với sự tham gia của làng hội Xá, nên công việc sửa soạn cho ngày hội cũng được người dân thực hiện rất cẩn trọng, nhất là việc sửa soạn cho cuộc tái diễn lại chiến thắng lịch sử của đức Thánh Gióng phá giặc Ân. Trong bốn xã này sẽ có hai xã là Phù Dực và Phù Đồng sẽ luân phiên cử một người ra làm chủ tọa đám hội. Hai xã Đổng Viên và Đổng Xuyên chỉ đóng vai phụ tá trong ngày hội và thường chỉ được đóng vai quân lính do thám trong cuộc diễn thần tích của đức Thánh Gióng. Mỗi xã lại được chia thành nhiều giáp, mỗi giáp giống một ấp như ngày nay. Hàng giáp sẽ phải cử ra những người đảm nhiệm các vai lớn trong cuộc diễn lại trận diệt giặc Ân. Những người này thường là các ông Hiệu, hiệu Chiêng điều khiển khiêng, hiệu Cờ trông nom cờ lệnh, hiệu Trống điều khiển trống. Còn một ông Hiệu Trung Quân là người phối hợp điều hòa sự tiến quân cùng 2 ông Hiệu Tiểu Cổ sẽ đi tiên phong thám thính quân giặc. Hội làng Phù Ðổng tại Bắc Ninh Tất cả các ông Hiệu được chọn đều được kén chọn cẩn trọng trong đám thanh niên từ 12 đến 26 tuổi. Có thể chọn những chàng trai đã lập gia đình rồi nhưng yêu cầu phải chay tịnh trong quá trình sửa soạn cho đến ngày hội. Quân lính sẽ được chọn ở bốn xã trong lứa tuổi từ 18 đến 36, sẽ họp thành 10 cơ, mỗi cơ sẽ có 1 cơ trưởng và 15 cơ binh. 28 thiếu nữ ở độ tuổi tuổi từ 10 đến 13 sẽ đóng làm quân địch là Giặc Ân. Cuộc diễn trận được sửa soạn bắt đầu từ ngày mồng 6 tháng Tư. Ngay từ 3 giờ chiều ngày mồng 6, dân làng đã tiến hành một đám rước đến giếng trước đền Mẫu, tức là Đền Hạ, để mang nước về lau rửa tự khí sẽ dùng trong việc diễn trận. Nước được đựng vào hai chỏe sứ. 24 quân sĩ của Phù Đổng Thiên Vương được dàn thành hàng theo bậc Giếng từ trên bờ xuống đến mặt nước để lấy nước. Người cơ binh đứng trên bậc Giếng cuối cùng ngay sát mặt nước, cúi xuống múc nước vào một chiếc gáo bằng đồng rồi đưa lên cho người đứng cùng hàng ngay sau mình. Người này nhận gáo nước rồi chuyển cho người đứng kế bên và cứ tiếp diễn như thế, cho đến khi gáo nước được chuyển 1 lượt theo hình chữ "CHI" sẽ đến miệng giếng. Người đứng bên chóe sứ sẽ đổ nước vào chóe. Tự khí sẽ được rửa sạch sẽ bằng nước đựng trong chóe sứ. Ngày mồng 7 vào cuối giờ Tỵ, khi cờ lệnh được rước từ đền Mẫu về đến đền Thượng và vào đúng giờ Mùi, hàng tổng sẽ đi kiểm soát con đường từ đền tới bãi trận. Có điều gì chưa đạt yêu cầu thì lập tức phải sửa chữa ngay. Vào giờ Tỵ ngày mồng 9 sẽ cử hành lễ tế cờ tại đền, sẽ mổ trâu giết bò. Mọi người trong đoàn diễn đều đã sẵn sàng để xuất trận. Mặt trận khá sơ sài, dưới chân Đê có một hồ sen là nơi quân địch chiếm đóng. Quân Phù Đổng Thiên Vương tiến đến giao chiến với quân địch và chiếm bờ hồ bên này, có một khoảng đất trống có nhiều mô nhỏ. Ba chiếc chiếu đã được trải sẵn giữa những mô đấy này. Giữa mỗi chiếc chiếu đều đặt một chiếc bát úp lên một tờ giấy: Chiếu để tượng trưng cho cánh đồng, Bát là để tượng trưng cho đồi núi, Tờ giấy sẽ tượng trưng cho mây. Một nghi thức trong Hội làng Phù Ðổng tại Bắc Ninh Khi cờ lệnh đã trương lên, ông Hiệu cờ tiếp lấy sau đó tiến lên ba bước. Rồi ông đứng ngay chính giữa chiếc chiếu, hai chân đứng chụm vào nhau. Ông nhảy lên hai lần rồi quỳ gối bên phải xuống chiếu, bàn chân trái đặt đằng trước tạo hình hình chữ "Lệnh", hai tay ông phất cờ lệnh rồi xoay mình 3 lần. Dân chúng dự cuộc diễn lúc đó đều đếm theo mỗi khi ông xoay mình. ông đứng lùi ra khỏi chiếc chiếu. Ngay lập tức mọi người đổ xô tới cướp lấy xé chiếc chiếu. Họ tin rằng những mảnh chiếu này sẽ mang lại may mắn cho họ, và những người hiếm con nếu xé được mảnh chiếu sẽ sớm có tin mừng. Khi chiếc chiếu thứ ba được những người dân xem hội xâu xé chia nhau thì quân giặc cũng tan, các tướng giặc cũng bắt đầu rút lui hỗn loạn. Kiệu của các thiếu nữ sẽ được rước về làng Phù Đổng. Một bữa tiệc khao quân lớn sẽ diễn ra linh đình ngay trước cửa đền. Trận tái chiến diễn ra trên bãi Sòi Bia ở làng Phù Đổng, nơi đây cũng trải ba chiếc chiếu giống như ở Đồng Đàm. Ngày mồng 10 tháng Tư, hàng tổng sẽ duyệt lại đạo binh thắng trận. Các khí giới đều được kiểm soát. Hàng tổng sẽ tiến hành lễ trước đền. Quân sĩ sẽ được khao thưởng. Như vậy "thiên hạ Thái Bình". Sau ngày diễn trận, hàng tổng tiếp tục tổ chức rước nước để cử hành việc rửa lại khí giới, đồ thờ đã dùng trong việc diễn trận. Hội làng Phù Đổng còn hấp dẫn bởi các trò chơi dân gian như hát chèo, có cô đầu hát thờ và đánh vật.

Vào ngày mồng 8 tháng Tư hàng năm, tại đình làng Gióng (tên chữ là làng Phù Đổng), thuộc huyện Tiên Du, Bắc Ninh, sẽ diễn ra hội kỷ niệm đức Phù Đổng Thiên Vương, tức Đức Thánh Gióng. Hội làng Phù Đổng diễn ra linh đình và trang trọng. Hội đền Phù Đổng Thiên Vương còn được gọi là hội Gióng, hội thu hút người xem bởi cuộc rước lịch sử, tái diễn lại cảnh đức Thánh Gióng đánh giặc Ân.

Người dân diễn lại Thần tích Thánh Gióng đánh thắng Giặc Ân

Hội đền Phù Đổng Thiên Vương là một hội được tổ chức với quy mô lớn, do 4 xã thuộc tổng Phù Đổng cùng đứng ra tổ chức cùng với sự tham gia của làng hội Xá, nên công việc sửa soạn cho ngày hội cũng được người dân thực hiện rất cẩn trọng, nhất là việc sửa soạn cho cuộc tái diễn lại chiến thắng lịch sử của đức Thánh Gióng phá giặc Ân. Trong bốn xã này sẽ có hai xã là Phù Dực và Phù Đồng sẽ luân phiên cử một người ra làm chủ tọa đám hội. Hai xã Đổng Viên và Đổng Xuyên chỉ đóng vai phụ tá trong ngày hội và thường chỉ được đóng vai quân lính do thám trong cuộc diễn thần tích của đức Thánh Gióng. Mỗi xã lại được chia thành nhiều giáp, mỗi giáp giống một ấp như ngày nay. Hàng giáp sẽ phải cử ra những người đảm nhiệm các vai lớn trong cuộc diễn lại trận diệt giặc Ân. Những người này thường là các ông Hiệu, hiệu Chiêng điều khiển khiêng, hiệu Cờ trông nom cờ lệnh, hiệu Trống điều khiển trống. Còn một ông Hiệu Trung Quân là người phối hợp điều hòa sự tiến quân cùng 2 ông Hiệu Tiểu Cổ sẽ đi tiên phong thám thính quân giặc. Hội làng Phù Ðổng tại Bắc Ninh Tất cả các ông Hiệu được chọn đều được kén chọn cẩn trọng trong đám thanh niên từ 12 đến 26 tuổi. Có thể chọn những chàng trai đã lập gia đình rồi nhưng yêu cầu phải chay tịnh trong quá trình sửa soạn cho đến ngày hội. Quân lính sẽ được chọn ở bốn xã trong lứa tuổi từ 18 đến 36, sẽ họp thành 10 cơ, mỗi cơ sẽ có 1 cơ trưởng và 15 cơ binh. 28 thiếu nữ ở độ tuổi tuổi từ 10 đến 13 sẽ đóng làm quân địch là Giặc Ân. Cuộc diễn trận được sửa soạn bắt đầu từ ngày mồng 6 tháng Tư. Ngay từ 3 giờ chiều ngày mồng 6, dân làng đã tiến hành một đám rước đến giếng trước đền Mẫu, tức là Đền Hạ, để mang nước về lau rửa tự khí sẽ dùng trong việc diễn trận. Nước được đựng vào hai chỏe sứ. 24 quân sĩ của Phù Đổng Thiên Vương được dàn thành hàng theo bậc Giếng từ trên bờ xuống đến mặt nước để lấy nước. Người cơ binh đứng trên bậc Giếng cuối cùng ngay sát mặt nước, cúi xuống múc nước vào một chiếc gáo bằng đồng rồi đưa lên cho người đứng cùng hàng ngay sau mình. Người này nhận gáo nước rồi chuyển cho người đứng kế bên và cứ tiếp diễn như thế, cho đến khi gáo nước được chuyển 1 lượt theo hình chữ "CHI" sẽ đến miệng giếng. Người đứng bên chóe sứ sẽ đổ nước vào chóe. Tự khí sẽ được rửa sạch sẽ bằng nước đựng trong chóe sứ. Ngày mồng 7 vào cuối giờ Tỵ, khi cờ lệnh được rước từ đền Mẫu về đến đền Thượng và vào đúng giờ Mùi, hàng tổng sẽ đi kiểm soát con đường từ đền tới bãi trận. Có điều gì chưa đạt yêu cầu thì lập tức phải sửa chữa ngay. Vào giờ Tỵ ngày mồng 9 sẽ cử hành lễ tế cờ tại đền, sẽ mổ trâu giết bò. Mọi người trong đoàn diễn đều đã sẵn sàng để xuất trận. Mặt trận khá sơ sài, dưới chân Đê có một hồ sen là nơi quân địch chiếm đóng. Quân Phù Đổng Thiên Vương tiến đến giao chiến với quân địch và chiếm bờ hồ bên này, có một khoảng đất trống có nhiều mô nhỏ. Ba chiếc chiếu đã được trải sẵn giữa những mô đấy này. Giữa mỗi chiếc chiếu đều đặt một chiếc bát úp lên một tờ giấy: Chiếu để tượng trưng cho cánh đồng, Bát là để tượng trưng cho đồi núi, Tờ giấy sẽ tượng trưng cho mây. Một nghi thức trong Hội làng Phù Ðổng tại Bắc Ninh Khi cờ lệnh đã trương lên, ông Hiệu cờ tiếp lấy sau đó tiến lên ba bước. Rồi ông đứng ngay chính giữa chiếc chiếu, hai chân đứng chụm vào nhau. Ông nhảy lên hai lần rồi quỳ gối bên phải xuống chiếu, bàn chân trái đặt đằng trước tạo hình hình chữ "Lệnh", hai tay ông phất cờ lệnh rồi xoay mình 3 lần. Dân chúng dự cuộc diễn lúc đó đều đếm theo mỗi khi ông xoay mình. ông đứng lùi ra khỏi chiếc chiếu. Ngay lập tức mọi người đổ xô tới cướp lấy xé chiếc chiếu. Họ tin rằng những mảnh chiếu này sẽ mang lại may mắn cho họ, và những người hiếm con nếu xé được mảnh chiếu sẽ sớm có tin mừng. Khi chiếc chiếu thứ ba được những người dân xem hội xâu xé chia nhau thì quân giặc cũng tan, các tướng giặc cũng bắt đầu rút lui hỗn loạn. Kiệu của các thiếu nữ sẽ được rước về làng Phù Đổng. Một bữa tiệc khao quân lớn sẽ diễn ra linh đình ngay trước cửa đền. Trận tái chiến diễn ra trên bãi Sòi Bia ở làng Phù Đổng, nơi đây cũng trải ba chiếc chiếu giống như ở Đồng Đàm. Ngày mồng 10 tháng Tư, hàng tổng sẽ duyệt lại đạo binh thắng trận. Các khí giới đều được kiểm soát. Hàng tổng sẽ tiến hành lễ trước đền. Quân sĩ sẽ được khao thưởng. Như vậy "thiên hạ Thái Bình". Sau ngày diễn trận, hàng tổng tiếp tục tổ chức rước nước để cử hành việc rửa lại khí giới, đồ thờ đã dùng trong việc diễn trận. Hội làng Phù Đổng còn hấp dẫn bởi các trò chơi dân gian như hát chèo, có cô đầu hát thờ và đánh vật.

Related Figures

Lễ hội đình Làng Dọc

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 3/1- 4/1 Âm lịch (lehoi.info)- Lễ hội đình làng Dọc là một lễ hội dân gian mang đậm sắc thái của người Tày và người Kinh cổ. Đặc biệt, lễ hội thường được tổ chức 2 kỳ trong một năm, vào ngày mồng 3 và ngày mồng 4 tháng Giêng âm lịch (gọi là lễ Hạ điền) và ngày 13 và ngày 14 tháng 7 âm lịch (lễ hội cầu Thần Nông). Đây là dịp nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái cầu cho mạ xanh lúa tốt, cuộc sống an lành, nhà nhà no ấm, hạnh phúc. Lễ hội đình Làng Dọc Đình làng Dọc nằm ngay tại làng Dọc, xã Việt Hồng, Trấn Yên, Yên Bái. Đình được xây dựng vào thế kỷ 19 và được ban sắc phong vào đời vua Khải Định đình gồm 5 gian 2 trái, kiến trúc chữ “đinh”. Gian trước của đình được làm theo kiến trúc cúng thờ. Hiên trái phía đông được chọn làm cửa chính đi vào đình. Đình nhìn ra suối nước trong xanh có mỏ nước ngầm chảy xuốt bốn mùa, theo tương truyền thì đó là long mạch của đình và phía trên mỏ nước là một phiến đá lớn nơi còn lưu giữ lại vết chân ngựa của người xưa đến vùng đất này khai khẩn. Sân trước của đình hẹp, kề sát với vực suối và mỏ nước ngầm. Bên trái đình kề với dải đồi dốc thấp và được chọn làm nơi lên xuống, đón khách chiêm bái. Ngoài ra, kiến trúc của đình cũng là sự giao thoa giữa lan can của người dân tộc Tày và kiểu dáng nhà đất của người dân tộc Kinh. Lễ cúng trong lễ hội đình Làng Dọc Hằng năm, lễ hội đình làng Dọc sẽ được tổ chức vào ngày lễ tháng Giêng và ngày lễ tháng 7. Lễ hội có sự pha trộn giữa nghi thức tế lễ của người dân tộc Kinh với các điệu múa xòe then của người dân tộc Tày. Phần lễ cúng Thành hoàng, các bậc tiền bối, tổ tiên có công khai khẩn vùng đất này gồm có 4 mâm cỗ chay và có 27 mâm cỗ mặn. Riêng lễ vào tháng 7 còn có thêm thịt dê hay thịt trâu. Phần lễ phải có sự tham gia của Đảng ủy, chính quyền xã và được tổ chức trang nghiêm, tiết kiệm, không lợi dụng mê tín dị đoan. Phần hội cũng được tổ chức vô cùng phong phú, đa dạng với những trò chơi truyền thống của các dân tộc miền núi thuộc tỉnh Yên Bái như: kéo co, ném còn, đẩy gậy… Trò chơi dân gian trong lễ hội đình Làng Dọc Trải qua bao thăng trầm của lịch sử và sự tàn phá của chiến tranh, lễ hội đình làng Dọc đã đi vào tiềm thức của mỗi người dân, minh chứng cho sức sống mãnh liệt của một lễ hội mang đậm giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc, đậm nét tâm linh của đồng bào các dân tộc huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái. Đây cũng là dịp để thắt chặt tình đoàn kết giữa các dân tộc Kinh, Thái, Tày, thắt chặt tình làng nghĩa xóm, và tưởng nhớ đến tổ tiên đến ông cha đã có công khai khẩn ra mảnh đất này.

(lehoi.info)- Lễ hội đình làng Dọc là một lễ hội dân gian mang đậm sắc thái của người Tày và người Kinh cổ. Đặc biệt, lễ hội thường được tổ chức 2 kỳ trong một năm, vào ngày mồng 3 và ngày mồng 4 tháng Giêng âm lịch (gọi là lễ Hạ điền) và ngày 13 và ngày 14 tháng 7 âm lịch (lễ hội cầu Thần Nông). Đây là dịp nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái cầu cho mạ xanh lúa tốt, cuộc sống an lành, nhà nhà no ấm, hạnh phúc.

Lễ hội đình Làng Dọc Đình làng Dọc nằm ngay tại làng Dọc, xã Việt Hồng, Trấn Yên, Yên Bái. Đình được xây dựng vào thế kỷ 19 và được ban sắc phong vào đời vua Khải Định đình gồm 5 gian 2 trái, kiến trúc chữ “đinh”. Gian trước của đình được làm theo kiến trúc cúng thờ. Hiên trái phía đông được chọn làm cửa chính đi vào đình. Đình nhìn ra suối nước trong xanh có mỏ nước ngầm chảy xuốt bốn mùa, theo tương truyền thì đó là long mạch của đình và phía trên mỏ nước là một phiến đá lớn nơi còn lưu giữ lại vết chân ngựa của người xưa đến vùng đất này khai khẩn. Sân trước của đình hẹp, kề sát với vực suối và mỏ nước ngầm. Bên trái đình kề với dải đồi dốc thấp và được chọn làm nơi lên xuống, đón khách chiêm bái. Ngoài ra, kiến trúc của đình cũng là sự giao thoa giữa lan can của người dân tộc Tày và kiểu dáng nhà đất của người dân tộc Kinh. Lễ cúng trong lễ hội đình Làng Dọc Hằng năm, lễ hội đình làng Dọc sẽ được tổ chức vào ngày lễ tháng Giêng và ngày lễ tháng 7. Lễ hội có sự pha trộn giữa nghi thức tế lễ của người dân tộc Kinh với các điệu múa xòe then của người dân tộc Tày. Phần lễ cúng Thành hoàng, các bậc tiền bối, tổ tiên có công khai khẩn vùng đất này gồm có 4 mâm cỗ chay và có 27 mâm cỗ mặn. Riêng lễ vào tháng 7 còn có thêm thịt dê hay thịt trâu. Phần lễ phải có sự tham gia của Đảng ủy, chính quyền xã và được tổ chức trang nghiêm, tiết kiệm, không lợi dụng mê tín dị đoan. Phần hội cũng được tổ chức vô cùng phong phú, đa dạng với những trò chơi truyền thống của các dân tộc miền núi thuộc tỉnh Yên Bái như: kéo co, ném còn, đẩy gậy… Trò chơi dân gian trong lễ hội đình Làng Dọc Trải qua bao thăng trầm của lịch sử và sự tàn phá của chiến tranh, lễ hội đình làng Dọc đã đi vào tiềm thức của mỗi người dân, minh chứng cho sức sống mãnh liệt của một lễ hội mang đậm giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc, đậm nét tâm linh của đồng bào các dân tộc huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái. Đây cũng là dịp để thắt chặt tình đoàn kết giữa các dân tộc Kinh, Thái, Tày, thắt chặt tình làng nghĩa xóm, và tưởng nhớ đến tổ tiên đến ông cha đã có công khai khẩn ra mảnh đất này.

Related Figures

Lễ Bỏ mả

Thông tin thời kỳ

Bạn có từng tò mò về lễ ma chay của đồng bào các dân tộc thiểu số? Hãy cùng tìm hiểu lễ Bỏ mả của người dân tộc tại Bình Phương nhé. Bình Phước là một tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ nhưng lại có khoảng 18% dân số là người dân tộc thiểu số như S’tiêng, M’nông, Kh’mer, Hoa, Tày, Nùng…có cuộc sống mang đậm nét văn hóa của vùng Tây Nguyên. Một số dân tộc như người M’nông, S’tiêng… không thờ cúng tổ tiên mà thờ thần mưa, thần gió, thần mặt trời, thần lúa…theo tín ngưỡng dân gian. Vậy khi có người thân qua đời, họ sẽ thờ cúng như thế nào? Lễ bỏ mã ở Bình Phước Tại một số dân tộc thiểu số ở Bình Phước, người ta cho rằng người chết sẽ sống ở một thế giới khác nên người sống phải chia gia tài cho họ để họ sử dụng ở thế giới mới khi trong nhà có người thân qua đời. Khi có một người ra đi, người nhà sẽ đánh trống cái báo tin cho làng để gọi người trong làng đến giúp tang ma. Đưa tiễn người chết Tang lễ của người dân tộc ở đây thường kéo dài vài ngày và tục lệ ma chay rất phức tạp. Sau khi hạ táng, người thân sẽ cắm một ống tre ở đầu huyệt mộ và hàng ngày người nhà đem cơm tới đổ vào ống tre tiếp tế cho người chết. Của cải chia cho người chết được cũng được để rải rác xung quanh mộ như ché, bầu, chén, nồi…. và đây là phần lễ cuối cùng của nghi thức tiễn đưa người chết về thế giới bên kia và cũng là phần quan trọng nhất trong tang lễ. Toàn cảnh tổ chức lễ bỏ mã Khi làm lễ bỏ mả người nhà phải mổ trâu, bò, lợn, gà…. để cúng. Nhà giàu có điều kiện thì làm lễ bỏ mả sớm còn nhà nghèo thì phải chờ cho có đủ trâu bò, gà rượu… mới làm lễ. Lễ này kéo dài từ 2 đến 5 ngày và trong những ngày này người dân trong làng từ già, trẻ, gái, trai đều ăn uống, ca hát vui vẻ thâu đêm ở quanh khu vực mồ mả. Khi làm xong lễ bỏ mã thì người chết coi như đã đi đầu thai, người nhà đến khóc lần cuối rồi thôi và mộ người chết được bỏ hẳn không ai trông coi nữa và cũng không có ngày giỗ. Sau lễ này, người vợ (chồng) của người chết cũng sẽ có được quyền đi lấy chồng (vợ) khác.

Related Figures

Lễ hội Đình Vồng

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/1 Âm lịch Đình Vồng là một địa danh thuộc xã Song Vân, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Lễ hội đình Vồng do bốn xã của tổng Vân Cầu cũ gồm: Ngọc Vân, Lam Cốt Song Vân và Việt Ngọc, tổ chức . Ngoài ra còn các xã khác nằm xung quanh ở phía Tây của huyện cũng tham gia. Lễ hội đình Vồng là một lễ hội đã tôn tại từ lâu đời. Lễ hội đình Vồng thường được tổ chức vào ngày 15 tháng giêng và ngày mồng 9, 10, 11 tháng 9 âm lịch hàng năm. Ông cai đám nổi trống khai hội Đình Vồng Trong ngày hội, người dân nơi đây sẽ tổ chức tế lễ, rước sách, các môn thi và các trò chơi dân gian. Đám rước trong hội đình Vồng thường được được tổ chức với nghi thức long trọng. Ngày 15 sẽ tổ chức lễ rước 17 đạo sắc từ nhà để sắc tại làng Vân Cầu về đình. Một người đóng tướng sẽ đi đầu đoàn rước. Người này phải được lựa chọn rất cẩn thận theo từng năm. Đó phải là người có chức sắc trong làng, gia đình vẹn toàn và có uy tín trong lòng dân, được mọi người kính nể. Khi rước sắc về tới đình sẽ bắt đầu tổ chức tế lễ một cách long trọng. Trong hội đình Vòng xưa kia có tục tế ngựa diễn ra rất uy nghiêm, nhiều trò chơi và nhiều môn thi đấu dân gian mang tính thượng võ như: Vật, đua ngựa, múa võ, bắn cung, bắn phết, bắn nỏ, và nhiều trò chơi dân gian khác như: thi thổi cơm, chọi gà, thi thả diều, chạy chữ. Hấp dẫn nhất phải kể đến cuộc thi đua ngựa, được tổ chức rất chu đáo, uy nghiêm và có lề luật. Địa điểm tổ chức cuộc đua ngựa thường là con đường rộng chạy quanh một quả đồi. Trên đường đua sẽ được đặt các trướng ngại vật là những cây tre bắc cao ngang đầu ngựa. Chuẩn bị bắt đầu vào cuộc thi ông cai đám sẽ tiến đến điểm xuất phát đã đặt sẵn hương án và cắm cờ, ông sẽ thắp hương và cúng. Sau khi làm lễ xong rồi sẽ tuyên bố lý do và ra hiệu nổi trống đốt pháo hiệu. Khi có tiếng pháo hiệu nổ, hai kỵ sỹ điều khiển hai ngựa diện trang phục quần áo nai nịt gọn gàng, đầu có chít một chiếc khăn đỏ bỏ múi, ngang sườn có thắt bao thúc ngựa tiến đến trường đua. Gần đến đích ( nơi Có vật chắn ), người dự thi cúi giạp người trên lưng ngựa để vượt qua trướng ngại vật. Nếu ai về đích nhanh hơn và không để rơi bất cứ một chướng ngại vật nào thì sẽ là người thắng cuộc . Lễ hội Đình Vồng tại Bắc Giang nét đẹp văn hóa truyền thống của người Bắc Bộ Trong cuộc thi đua ngựa bắn cung thì thi đua ngựa chỉ là phụ, bắn cung mới là chính. Cuộc đua thường diễn ra trên một bãi đất rộng. Gần đích sẽ đặt một nia có quét vôi trắng, trong chiếc nia này sẽ vẽ một vòng tròn nhỏ bằng mực ở tâm điểm của chiếc nia. Người ta sẽ chôn ba cây tre cao và sau đó treo ba cái nia như vậy lên các ngọn cây tre. Sau khi có hiệu lệnh chuẩn bị, từng tốp ba kỵ sỹ có đeo cung sẽ tên phi quanh sân một vòng để lấy đà, đến khi đến nơi cách đích khoảng 40m ( nơi có một vạch vôi trắng ) thì sẽ dừng ngựa và bắn cung. Nếu kỵ sĩ nào bắn trúng ba phát vào trong tâm của ba chiếc nia thì sẽ được giải, ông cai đám sẽ trao giải cho người thắng cuộc bằng cách vòng một vuông nhiễu điều vào cổ này, sau đó trao cho anh ta một đồng bạc, một gói chè và một bánh pháo. Trong trò thi thả diều, ban tổ chức sẽ chia thành hai loại : Diều loại to có gắn sáo và diều loại nhỏ không gắn sáo. Ông cái đám sẽ là người cầm đầu ban chấm thi và là người điều hành cuộc thi. Từng nhóm ba diều lần lượt vào xới. Một diều sẽ có một người đâm ( phóng ) diều và một người ra dây. Sau khi cai đám tuyên bố lý do cuộc thi xong, pháo nổ cũng rứt, các diều cũng vun vút lao lên trời. Loại diều có sáo phải đạt yêu cầu : Diều to, lên thẳng, lên cao và không trao đảo, sáo kêu phải đều và hay thì mới được giải theo thứ tự nhất, nhì, ba. Hội thi thả diều thu hút được lượng đông đảo người đến dự và cổ vũ. Lễ hội Đình Vồng tại Bắc Giang Hội đình Vồng thường được tổ chức rất long trọng, vui vẻ trong 3, 4 ngày đêm. Ở hội đình Vồng còn tổ chức cuộc thi hát đối đáp giữa các gánh hát trong vùng và gánh hát từ các nơi khác đến biểu diễn khiến không khí ngày hội càng thêm hấp dẫn và sôi động. Do điều kiện thực tế khách quan nên từ sau năm 1953, lễ hội đình Vồng thường không được tổ chức lớn mà chỉ được tổ chức với quy mô nhỏ tại địa phương. Đến năm 1998, dưới sự chỉ đạo của Sở Văn hóa thể thao và UBND huyện Tân Yên, lễ hội đình Vồng đã được tổ chức long trọng trở lại tại trung tâm huyện theo đình kỳ năm năm một lần, nhằm gìn giữ và phát huy nét đẹp văn hoá truyền thống của nhân dân trong vùng Hạ Yên Thế (nay là Tân Yên). Ngoài ra, Lễ hội đình Vồng còn góp phần vào việc giáo dục thế hệ con cháu sau này phải biết giữ gìn đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, những nét truyền thống cao đẹp của các bậc tiền nhân để lại.

Đình Vồng là một địa danh thuộc xã Song Vân, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Lễ hội đình Vồng do bốn xã của tổng Vân Cầu cũ gồm: Ngọc Vân, Lam Cốt Song Vân và Việt Ngọc, tổ chức . Ngoài ra còn các xã khác nằm xung quanh ở phía Tây của huyện cũng tham gia. Lễ hội đình Vồng là một lễ hội đã tôn tại từ lâu đời. Lễ hội đình Vồng thường được tổ chức vào ngày 15 tháng giêng và ngày mồng 9, 10, 11 tháng 9 âm lịch hàng năm.

Ông cai đám nổi trống khai hội Đình Vồng

Trong ngày hội, người dân nơi đây sẽ tổ chức tế lễ, rước sách, các môn thi và các trò chơi dân gian. Đám rước trong hội đình Vồng thường được được tổ chức với nghi thức long trọng. Ngày 15 sẽ tổ chức lễ rước 17 đạo sắc từ nhà để sắc tại làng Vân Cầu về đình. Một người đóng tướng sẽ đi đầu đoàn rước. Người này phải được lựa chọn rất cẩn thận theo từng năm. Đó phải là người có chức sắc trong làng, gia đình vẹn toàn và có uy tín trong lòng dân, được mọi người kính nể. Khi rước sắc về tới đình sẽ bắt đầu tổ chức tế lễ một cách long trọng. Trong hội đình Vòng xưa kia có tục tế ngựa diễn ra rất uy nghiêm, nhiều trò chơi và nhiều môn thi đấu dân gian mang tính thượng võ như: Vật, đua ngựa, múa võ, bắn cung, bắn phết, bắn nỏ, và nhiều trò chơi dân gian khác như: thi thổi cơm, chọi gà, thi thả diều, chạy chữ.

Trong ngày hội, người dân nơi đây sẽ tổ chức tế lễ, rước sách, các môn thi và các trò chơi dân gian.

Đám rước trong hội đình Vồng thường được được tổ chức với nghi thức long trọng. Ngày 15 sẽ tổ chức lễ rước 17 đạo sắc từ nhà để sắc tại làng Vân Cầu về đình. Một người đóng tướng sẽ đi đầu đoàn rước. Người này phải được lựa chọn rất cẩn thận theo từng năm. Đó phải là người có chức sắc trong làng, gia đình vẹn toàn và có uy tín trong lòng dân, được mọi người kính nể. Khi rước sắc về tới đình sẽ bắt đầu tổ chức tế lễ một cách long trọng.

Trong hội đình Vòng xưa kia có tục tế ngựa diễn ra rất uy nghiêm, nhiều trò chơi và nhiều môn thi đấu dân gian mang tính thượng võ như: Vật, đua ngựa, múa võ, bắn cung, bắn phết, bắn nỏ, và nhiều trò chơi dân gian khác như: thi thổi cơm, chọi gà, thi thả diều, chạy chữ.

Hấp dẫn nhất phải kể đến cuộc thi đua ngựa, được tổ chức rất chu đáo, uy nghiêm và có lề luật. Địa điểm tổ chức cuộc đua ngựa thường là con đường rộng chạy quanh một quả đồi. Trên đường đua sẽ được đặt các trướng ngại vật là những cây tre bắc cao ngang đầu ngựa. Chuẩn bị bắt đầu vào cuộc thi ông cai đám sẽ tiến đến điểm xuất phát đã đặt sẵn hương án và cắm cờ, ông sẽ thắp hương và cúng. Sau khi làm lễ xong rồi sẽ tuyên bố lý do và ra hiệu nổi trống đốt pháo hiệu. Khi có tiếng pháo hiệu nổ, hai kỵ sỹ điều khiển hai ngựa diện trang phục quần áo nai nịt gọn gàng, đầu có chít một chiếc khăn đỏ bỏ múi, ngang sườn có thắt bao thúc ngựa tiến đến trường đua. Gần đến đích ( nơi Có vật chắn ), người dự thi cúi giạp người trên lưng ngựa để vượt qua trướng ngại vật. Nếu ai về đích nhanh hơn và không để rơi bất cứ một chướng ngại vật nào thì sẽ là người thắng cuộc . Lễ hội Đình Vồng tại Bắc Giang nét đẹp văn hóa truyền thống của người Bắc Bộ Trong cuộc thi đua ngựa bắn cung thì thi đua ngựa chỉ là phụ, bắn cung mới là chính. Cuộc đua thường diễn ra trên một bãi đất rộng. Gần đích sẽ đặt một nia có quét vôi trắng, trong chiếc nia này sẽ vẽ một vòng tròn nhỏ bằng mực ở tâm điểm của chiếc nia. Người ta sẽ chôn ba cây tre cao và sau đó treo ba cái nia như vậy lên các ngọn cây tre. Sau khi có hiệu lệnh chuẩn bị, từng tốp ba kỵ sỹ có đeo cung sẽ tên phi quanh sân một vòng để lấy đà, đến khi đến nơi cách đích khoảng 40m ( nơi có một vạch vôi trắng ) thì sẽ dừng ngựa và bắn cung. Nếu kỵ sĩ nào bắn trúng ba phát vào trong tâm của ba chiếc nia thì sẽ được giải, ông cai đám sẽ trao giải cho người thắng cuộc bằng cách vòng một vuông nhiễu điều vào cổ này, sau đó trao cho anh ta một đồng bạc, một gói chè và một bánh pháo. Trong trò thi thả diều, ban tổ chức sẽ chia thành hai loại : Diều loại to có gắn sáo và diều loại nhỏ không gắn sáo. Ông cái đám sẽ là người cầm đầu ban chấm thi và là người điều hành cuộc thi. Từng nhóm ba diều lần lượt vào xới. Một diều sẽ có một người đâm ( phóng ) diều và một người ra dây. Sau khi cai đám tuyên bố lý do cuộc thi xong, pháo nổ cũng rứt, các diều cũng vun vút lao lên trời. Loại diều có sáo phải đạt yêu cầu : Diều to, lên thẳng, lên cao và không trao đảo, sáo kêu phải đều và hay thì mới được giải theo thứ tự nhất, nhì, ba. Hội thi thả diều thu hút được lượng đông đảo người đến dự và cổ vũ. Lễ hội Đình Vồng tại Bắc Giang Hội đình Vồng thường được tổ chức rất long trọng, vui vẻ trong 3, 4 ngày đêm. Ở hội đình Vồng còn tổ chức cuộc thi hát đối đáp giữa các gánh hát trong vùng và gánh hát từ các nơi khác đến biểu diễn khiến không khí ngày hội càng thêm hấp dẫn và sôi động. Do điều kiện thực tế khách quan nên từ sau năm 1953, lễ hội đình Vồng thường không được tổ chức lớn mà chỉ được tổ chức với quy mô nhỏ tại địa phương. Đến năm 1998, dưới sự chỉ đạo của Sở Văn hóa thể thao và UBND huyện Tân Yên, lễ hội đình Vồng đã được tổ chức long trọng trở lại tại trung tâm huyện theo đình kỳ năm năm một lần, nhằm gìn giữ và phát huy nét đẹp văn hoá truyền thống của nhân dân trong vùng Hạ Yên Thế (nay là Tân Yên). Ngoài ra, Lễ hội đình Vồng còn góp phần vào việc giáo dục thế hệ con cháu sau này phải biết giữ gìn đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, những nét truyền thống cao đẹp của các bậc tiền nhân để lại.

Lễ hội Đình Vồng tại Bắc Giang nét đẹp văn hóa truyền thống của người Bắc Bộ

Related Figures

Lễ hội Đền Đậu

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 16/3- 20/3 Âm lịch (lehoi.info)- Ven sông Đuống ở phía nam huyện Quế Võ là các làng cổ, trong đó có Mộ Đạo tên nôm là làng “Đậu”. Tại đây có một ngôi đền cổ có tên gọi là đền Đậu, là nơi chính đền của ba tổng chín làng xã xưa. Đền Đậu thờ một vị danh tướng có công đánh giặc dưới thời vua Hùng Vương. Đã từ rất lâu, hội của chín làng vùng ven sông Đuống này đã trở thành một hội vùng rất nổi tiếng. Theo tục lệ, cứ vào ngày 16 đến ngày 20 tháng 3 âm lịch, 3 năm một lần vào các năm Tý, Dậu, Mão, 9 làng này sẽ mở hội lớn tại đền Đậu . Lễ hội Đền Đậu tại Bắc Ninh Những làng tham ga hội đền Đậu, xưa kia thuộc 3 tổng là Mộ Đạo, Quảng Lãm và Đại Toán, ngày nay là 3 xã Mộ Đạo, Yên Giả và Chi Lăng. Chín làng gồm các làng sau: Đức Tái, Đô Đàn, Mộ Đạo, Mai Ổ, Tập Ninh, Trúc Ổ, Trạc Nhiệt, Yên Giả, La Miệt. Trong 9 làng này cùng thờ một thánh, trên đền Mộ Đạo được xem là nơi chính đền (anh Cả), tám làng còn lại chỉ là hàng từ và phân chia 3 “tích”: Tích thứ nhất gồm 3 làng là Mộ Đạo, Mai Ổ và Trạc Nhiệt, tích nhì gồm làng Tập Ninh, Đô Đàn và Đức Tái, tích ba gồm các làng Trúc Ổ, Yên Giả và La Miệt. Những làng này đễn nay vẫn còn bảo lưu được thần phả sắc phong, hoành phi, bia đá, câu đối, ghi chép phản ánh lai lịch của người được thờ. Căn cứ vào thần tích và sắc phong thì vị thần được 9 làng trên thờ là “Bình Thiên hiển đức đại vương”, là một vị danh tướng có công lao hiển hách thời vua hùng thứ 18. Theo người dân nơi đây kể lại, thần thường linh ứng trợ giúp các triều vua đánh giặc và phù hộ cho người dân người khang vật thịnh, nên các triều vua đã gia phong mỹ tự và ban sắc lệnh cho chín làng xã nơi đây phải thờ phụng thần. Để chuẩn bị cho ngày vào hội, các chức sắc của chín làng phải tổ chức cuộc họp bàn về kế hoạch tổ chức hội. Làng Mộ Đạo là nơi có chính đền, thuộc tích nhất nên phải chuẩn bị các lễ vật để dâng lên tế thần tại đền Đậu như: lợn tượng (lợn tạ), Lễ Tam sinh (gồm ba con là lợn, ngỗng trắng), và các loại rượu, bánh trái và hoa quả đặc sản của địa phương. Những làng còn khác thì mỗi làng phải chuẩn bị một lợn tượng để dâng lên tế thần. Sáng ngày 16 tháng 3, ngày đầu tiên của hội, cả 9 làng phải rước kiệu thần đi từ đình của làng mình ra đến điểm tập trung là tại đền Đậu để tế lễ và tiến hành mở hội. Đoàn rước kiệu của các làng có vai cờ kiệu là “là những trai tráng to khỏe, cởi trần, đóng khố, có đầy đủ cờ kiệu, siêu đao, tàn lọng, bát bửu, đội “quân cờ” và trống chiêng. Đội quân cờ gồm có tướng cờ và quân cờ, diện các bộ trang phục màu đỏ, tướng cờ sẽ được người cầm lọng che đi theo và đội quân cờ này chính là để tượng trưng cho nghĩa binh của thần khi đi đánh giặc. Khi các đoàn rước của 9 làng tập trung đông đủ tại khu vực đền Đậu, theo thứ tự các làng sẽ rước kiệu vào đền trong, đền ngoài các quan viên tế của 9 làng sẽ cùng nhau tế. Trong khi tế lễ sẽ hát ca trù để thờ thần. Làng Mộ Đạo là một trong những cái nôi của nghệ thuật ca trù, các nghệ nhân không chỉ tham gia hát thờ, mà còn hát trong hội. Lễ hội đền Đậu kéo dài đến hết ngày 20, sau khi tế “rã đám” người dân các làng sẽ rước kiệu thần về làng mình. Một nghi thức trong Lễ hội Đền Đậu tại Bắc Ninh Trong những ngày diễn ra lễ hội đền Đậu, sau phần lễ sẽ là phần hội. Phần hội thường náo nhiệt hơn bởi các trò chơi dân gian hay các trò giải trí như: ca trù, tuồng, chèo, đu cây, nhảy phỗng, thi vật, thi dệt vải, bắt trạch, bắt vịt… thu hút hàng ngàn khách thập phương đến lễ hội. Lễ hội đền Đậu đã trở thành một nét văn hóa đặc trưng của Bắc Ninh.

(lehoi.info)- Ven sông Đuống ở phía nam huyện Quế Võ là các làng cổ, trong đó có Mộ Đạo tên nôm là làng “Đậu”. Tại đây có một ngôi đền cổ có tên gọi là đền Đậu, là nơi chính đền của ba tổng chín làng xã xưa. Đền Đậu thờ một vị danh tướng có công đánh giặc dưới thời vua Hùng Vương. Đã từ rất lâu, hội của chín làng vùng ven sông Đuống này đã trở thành một hội vùng rất nổi tiếng. Theo tục lệ, cứ vào ngày 16 đến ngày 20 tháng 3 âm lịch, 3 năm một lần vào các năm Tý, Dậu, Mão, 9 làng này sẽ mở hội lớn tại đền Đậu .

Lễ hội Đền Đậu tại Bắc Ninh

Những làng tham ga hội đền Đậu, xưa kia thuộc 3 tổng là Mộ Đạo, Quảng Lãm và Đại Toán, ngày nay là 3 xã Mộ Đạo, Yên Giả và Chi Lăng. Chín làng gồm các làng sau: Đức Tái, Đô Đàn, Mộ Đạo, Mai Ổ, Tập Ninh, Trúc Ổ, Trạc Nhiệt, Yên Giả, La Miệt. Trong 9 làng này cùng thờ một thánh, trên đền Mộ Đạo được xem là nơi chính đền (anh Cả), tám làng còn lại chỉ là hàng từ và phân chia 3 “tích”: Tích thứ nhất gồm 3 làng là Mộ Đạo, Mai Ổ và Trạc Nhiệt, tích nhì gồm làng Tập Ninh, Đô Đàn và Đức Tái, tích ba gồm các làng Trúc Ổ, Yên Giả và La Miệt. Những làng này đễn nay vẫn còn bảo lưu được thần phả sắc phong, hoành phi, bia đá, câu đối, ghi chép phản ánh lai lịch của người được thờ. Căn cứ vào thần tích và sắc phong thì vị thần được 9 làng trên thờ là “Bình Thiên hiển đức đại vương”, là một vị danh tướng có công lao hiển hách thời vua hùng thứ 18. Theo người dân nơi đây kể lại, thần thường linh ứng trợ giúp các triều vua đánh giặc và phù hộ cho người dân người khang vật thịnh, nên các triều vua đã gia phong mỹ tự và ban sắc lệnh cho chín làng xã nơi đây phải thờ phụng thần. Để chuẩn bị cho ngày vào hội, các chức sắc của chín làng phải tổ chức cuộc họp bàn về kế hoạch tổ chức hội. Làng Mộ Đạo là nơi có chính đền, thuộc tích nhất nên phải chuẩn bị các lễ vật để dâng lên tế thần tại đền Đậu như: lợn tượng (lợn tạ), Lễ Tam sinh (gồm ba con là lợn, ngỗng trắng), và các loại rượu, bánh trái và hoa quả đặc sản của địa phương. Những làng còn khác thì mỗi làng phải chuẩn bị một lợn tượng để dâng lên tế thần. Sáng ngày 16 tháng 3, ngày đầu tiên của hội, cả 9 làng phải rước kiệu thần đi từ đình của làng mình ra đến điểm tập trung là tại đền Đậu để tế lễ và tiến hành mở hội. Đoàn rước kiệu của các làng có vai cờ kiệu là “là những trai tráng to khỏe, cởi trần, đóng khố, có đầy đủ cờ kiệu, siêu đao, tàn lọng, bát bửu, đội “quân cờ” và trống chiêng. Đội quân cờ gồm có tướng cờ và quân cờ, diện các bộ trang phục màu đỏ, tướng cờ sẽ được người cầm lọng che đi theo và đội quân cờ này chính là để tượng trưng cho nghĩa binh của thần khi đi đánh giặc. Khi các đoàn rước của 9 làng tập trung đông đủ tại khu vực đền Đậu, theo thứ tự các làng sẽ rước kiệu vào đền trong, đền ngoài các quan viên tế của 9 làng sẽ cùng nhau tế. Trong khi tế lễ sẽ hát ca trù để thờ thần. Làng Mộ Đạo là một trong những cái nôi của nghệ thuật ca trù, các nghệ nhân không chỉ tham gia hát thờ, mà còn hát trong hội. Lễ hội đền Đậu kéo dài đến hết ngày 20, sau khi tế “rã đám” người dân các làng sẽ rước kiệu thần về làng mình. Một nghi thức trong Lễ hội Đền Đậu tại Bắc Ninh Trong những ngày diễn ra lễ hội đền Đậu, sau phần lễ sẽ là phần hội. Phần hội thường náo nhiệt hơn bởi các trò chơi dân gian hay các trò giải trí như: ca trù, tuồng, chèo, đu cây, nhảy phỗng, thi vật, thi dệt vải, bắt trạch, bắt vịt… thu hút hàng ngàn khách thập phương đến lễ hội. Lễ hội đền Đậu đã trở thành một nét văn hóa đặc trưng của Bắc Ninh.

Related Figures

Lễ hội Làng Vẽ

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/3 Âm lịch Xã Nam Xương, tổng Thọ Xương, tỉnh Bắc Giang ngày xưa chính là Làng Vẽ ngày hôm nay. Làng Vẽ thuộc xã Xương Giang của thành phố Bắc Giang. Ở làng Vẽ hàng năm sẽ tổ chức hai hội lệ chính là Hội đình tổ chức vào ngày mồng 10 tháng 3 âm lịch, và Hội chùa tổ chức vào ngày mồng 7 tháng Giêng âm lịch. Hai ngày này là ngày chính hội Làng Vẽ. Trước ngày hội một ngày và sau một ngày thì gọi là vào hội và giã hội, như thế mỗi hội sẽ có 3 ngày. Hội đình hay hội chùa cũng đều lấy đình Cả, chùa Vẽ để làm nơi trung tâm tổ chức hội. Ngày hội chùa mồng 7 tháng Giêng âm lịch: người dân ở đây sẽ cho mở cửa chùa từ ngày mồng 6, trước sân chùa có dựng phướn và cắm cờ hội lớn, cờ thần. Các cụ bà ra chùa tụng kinh, để lễ phật và đón tiếp khách thập phương đến tham dự. Ngày mồng 7 trong chùa, và cả bên đình Cả người đến tham quan dâng hương thường đông như nêm. Các già làm cơm ở nhà chùa, chủ yếu đều là sôi oản lễ phật. Tiếng tụng kinh và gõ mõ xen kẻ với tiếng chuông vang lên trong khắp khu chùa. Ở làng Vẽ các vãi sẽ đón tiếp nhau bằng lối hát kể hạnh. Lối hát này có một số bài mời khách, mời nước, mời trầu, hỏi thăm, ca ngợi và tiễn nhau về…tuỳ theo hoàn cảnh để đối đáp. Lối hát này ai ai cũng thuộc, ai biết hát thì tham gia đều rất vui vẻ. Chùa Vẽ - Bắc Giang Hội chùa, dân làng sẽ cho mở hội. Cây đu dựng ngay trước đình, chùa từ trước Tết, để qua tháng Giêng, hết hội chùa mới hạ xuống . Hội còn có các tiết mục hát trò, hát chèo. Ở các khoảng đất trống nằm bên cạnh đình chùa, sẽ tổ chức các trò như chạy hoá trang, múa nón, múa xin tiền, đạp niêu, múa kiếm, cướp cờ…. Hội đình làng Vẽ thường tổ chức vào ngày 10 tháng 3 âm lịch. Trước ngày hội, người dân sẽ cho rước cầu hậu cung để lên hương án thờ cầu, chuẩn bị cho ngày hội. Lại họp các giáp để chọn quan viên vào các ban tế và các đô tuỳ để rước kiệu thánh ở đình Cả. Tối ngày mồng 8 sẽ thực hiện tế lễ và hát nhà tơ ở khu đình Cả. Hát nhà tơ thường là mời các nơi về biểu diễn góp vui; dân làng, các cụ không mấy khi cầm chầu như các nơi khác, nhưng cũng không vì thế mà được phép phạm uý. Trò chơi Đu trong ngày hội làng Vẽ Sáng ngày mồng 10 tháng 3, các giáp sẽ tổ chức nghi lễ rước kiệu từ các đình lên khu đình Cả, hội họp tề tựu tại đây để phù giá cho kiệu thánh đình Cả. Cả làng thờ 6 vị thành hoàng, nhưng trong hội chỉ hành rước 5 kiệu. Trong đó, giáp bắc rước 2 kiệu: một kiệu của Quốc Công và một kiệu của thánh Tứ Vệ, giáp tây sẽ rước kiệu thánh Anh Dũng, giáp nam sẽ rước kiệu thánh Quảng Hưng. Các đô tuỳ 3 giáp đều được chọn kiểu rước kiệu thánh đình Cả. Rước thánh đình Cả thì chỉ rước có một thánh; còn một thánh để ngự tại đình. Đoàn rước 5 kiệu được tiến hành rất uy nghi, long trọng và rất náo nhiệt. Các vị thành hoàng tuần du địa vực chỉ là để tượng trưng, chính vì vậy các kiệu thường chỉ rước nồi hương và sắc. Đường rước ngày 10 tháng 3 ở làng Vẽ sẽ bắt đầu từ khu đình Cả, mỗi đoàn đi cách nhau khoảng 20m - 30 m, đi về phía Bắc tới đình Hậu, sau đó sẽ đi về phía tây để đến đình Kẹm, từ đình Kẹm tiếp tục đi về phía Nam, nơi có đình Diệc, khi qua đình Diệc se quay trở về đình Cả, dừng kiệu tại đây để tổ chức tế lễ. Tới chiều, dân làng tổ chức tế lễ xong thì sẽ ho rước hoàn cung. ở đình hàng giáp, các giáp sẽ tổ chức tế lễ thờ thần bằng nghi thức của chính giáp mình. Lễ rước kiệu Trong hội làng Vẽ có tục cướp cầu thần, tục này đã có từ lâu đời. Cầu được thờ ở trong đình là một quả cầu lớn, bằng gỗ, có đường kính từ 40 - 50 cm, sơn màu đỏ. Sau khi tế lễ xong thì sẽ tổ chức cuộc thi cướp cầu. Sân cầu ngay phía trước đình làng, chia làm hai đội, cuối sân hai bên sẽ vẽ một vạch chuẩn, giữa sân người dân trải sẵn một chiếc chiếu hoa, giữa có ghi chữ "thọ". Tham gia cướp cầu thần là những giai đinh hàng giáp được chia thanh hai bên, bên Đông và bên Đoài. Cai đám sẽ bưng quả cầu ra đặt ngay ở giữa chiếu, trên chữ thọ. Khi bắt đầu cuộc chơi, cai đám sẽ hô lớn: Cầu cho một năm mùa màng tươi tốt, dân khang vật thịnh. Rồi phất cờ chéo để ra lệnh bắt đầu trận đấu. Hai bên liền lập tức xô vào nhau để giành quả cầu đang đặt ở chiếc chiếu rồi tranh cầu, đẩy cầu bằng tay về phía vạch giới hạn của sân đối phương, nếu sân bên nào bị cầu chạm vạch thì bên đó thua cuộc, cứ như thế hết trận này đến trận khác. Mỗi trận, mỗi bên sẽ có 10 giai đinh khoẻ đóng khố cởi trần để tham gia. Giai đinh các giáp tham gia trận đấu nếu thắng thì cho rằng năm đó anh ta sẽ làm ăn khấm khá, mùa màng thì bội thu. Trò cướp cờ sẽ tổ chức sau khi trò cướp cầu kết thúc. Cờ được cắm ngay giữa sân, mỗi bên sẽ có 10 người, có một ông tổng cờ đứng chỉ huy. Khi tổng cờ ra hiệu lệnh bắt đầu thì hai bên sẽ lao vào cướp cờ. Người cướp được cờ chạy về phía mình, phía bên kia đuổi theo. Bên cướp được cờ phải cản người của đối phương để bảo vệ người cầm cờ, nếu bị người bên kia đuổi kịp và đập tay vào người thì cuộc cướp cờ sẽ bắt đầu lại từ đầu. Cứ như thế, từ hiệp đến hiệp khác, trò chơi này đã rèn luyện sự tinh nhanh và sức khoẻ dẻo dai cho mỗi thành viên. Hội ở làng Vẽ diễn ra cùng ngày với hội làng Thành. Hai làng này cùng nằm trên một vùng đất bên phía Tây Bắc của thành Xương Giang xưa, bởi thế lễ hội của hai làng này được mở ra luôn có khí thế mạnh, tiếng vang lớn thu hút đông người đến xem.

Related Figures

Lễ Hội Trùng Cửu cầu an lành

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 8/9- 9/9 Âm lịch Lễ hội Trùng Cửu thường được diễn ra vào ngày mùng 9 tháng 9 âm lịch hàng năm, được tổ chức tại Nhà Lớn Long Sơn đây là một lễ hội cầu an lành, là lễ hội cầu cho vạn dân bá tánh luôn được khoẻ mạnh và an lành, lễ hội diễn ra từ đêm mồng 8 đến hết ngày 9/9 âm lịch. Các vị bô lão đang cúng ông Trần trong ngày lễ Trùng Cửu Đêm ngày 8 rạng sáng ngày 9 tháng 9 âm lịch sẽ thực hiện lễ Tiên Thường kỉnh mặn (cúng mặn) chủ yếu là dâng các sản vật do người dân mang vào cúng, và ngày 9/9 gọi là Chánh Giỗ kỉnh chay tức là cúng chay, lễ hội này không tổ chức linh đình như các lễ hội khác, và chủ yếu là đi dâng hương và cầu nguyện, khấn vái, tưởng nhớ đến những công lao to lớn của ông Trần. Tuy nhiên vào những ngày này hàng năm, có hàng vạn du khách thập phương quy tụ về đây, đặc biệt là những người thuộc các tỉnh Miền Tây và Miền Đông Nam Bộ, tự xem mình là những tín đồ của đạo Ông Trần. Du khách đến đây sẽ có thể chiêm ngưỡng những điều mới lạ mà người những người dân ở đây đã tạo ra theo mong muốn và ước vọng của họ, để bổ sung thêm vào kho tàng hiểu biết của mình. Người dân dâng lễ cúng ông Trần với mong ước được an lành và hạnh phúc Theo người dân sinh sống ở xã Long Sơn, ông Trần, tên thật là Lê Văn Mưu, là người từng tham gia cuộc khởi nghĩa chống lại thực dân Pháp do quản cơ Trần Văn Thành làm đứng đầu. Sau khi cuộc khởi nghĩa thất bại, ông Trần đã đưa gia quyến của mình về lánh nạn ở khu vực phía Đông núi Nứa, lập nên ấp Bà Trao (nay là xã Long Sơn). Ông chính là người đã cho xây cất quần thể kiến trúc Nhà Lớn này để thờ trời, thờ phật, tiên, thánh. Khi ông mất, người dân gian để bày tỏ lòng biết ơn ông nên đã hình thành tín ngưỡng đạo Ông Trần, hay còn gọi với cái tên ông Nhà Lớn. Khu quần thể kiến trúc Nhà lớn được khởi công xây dựng từ năm 1990. Đến năm 1991 thì được trùng tu. Công trình kiến trúc này rộng khoảng 2ha, gồm khi đền thờ, nhà bảo tồn Ghe Sấm, nhà hội, chợ, trường học và khu lăng mộ ông Trần, Đây được xem là một trong những công trình kiến trúc bằng gỗ đồ sộ nhất được làm bằng các loại gỗ lim, trắc, bá gụ, táo... Quang cảnh khu Nhà Lớn trong quần thể kiến trúc Nhà lớn

Quang cảnh khu Nhà Lớn trong quần thể kiến trúc Nhà lớn

Related Figures

Hội Chùa Thú

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 21/1 Âm lịch Khu chùa Thú nằm ở sườn núi thuộc thôn Cầu Cần, xã Việt Lập, Tân Yên tỉnh Bắc Giang. Trước kia chùa Thú thuộc xã Tuy Lộc Sơn, tổng Tuy Lộc Sơn, thuộc huyện Yên Thế, phủ Lạng Giang. Mỗi năm ngôi chùa diễn ra hai lần hội. Hội xuân được tổ chức vào ngày 21 tháng Giêng âm lịch và một hội vào cuối xuân, tổ chức vào ngày 19 tháng 3 âm lịch. Trong ngày hội xuân vào 21 tháng giêng, người dân từ các làng, các xã lân cận nô nức kéo nhau về làm lễ dâng hương bái Phật, cúng quan quan Thái Bảo và Phán Thú (triều Lê). Lễ dâng hương của các đoàn hành hương chủ yếu là lễ chay, có hoa quả, đèn hương... Các bà vãi, các đoàn đi quy đến từ các bản có tâm thành kính dâng lễ, tụng kinh, cầu tài lộc, và cầu bình yên cho gia đình, và cầu cho xã hội an bình. Chùa Thú, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Trước đây, trong hội chùa Thú còn có tục đua ngựa, nhưng ngày nay đã không còn. Sách Địa chí Tân Yên có chép rằng: “Đua ngựa: được tổ chức vào mùa xuân, dân làng khi vào đám mở hội. Các cuộc đua được coi là sân quần ngựa, nằm trên một khoảng đất không rộng trước đình Lý Cốt (Phúc Sơn), chùa Thú (Việt Lập) ở xóm Khủa (Tân Trung). Đông đảo người dân đến dâng hương tại chùa Thú Sân quần ngựa có một đường rộng chạy bao quanh một quả đồi, trên đường đua sẽ đặt một chướng ngại vật là những cây cầu tre bắc ngang trên độ cao bằng đầu ngựa. Sắp bắt đầu cuộc thi, ông Cai đám tiến đến gần điểm xuất phát đã đặt sẵn hương án và đầm cờ. Ông Ca sẽ thắp hương làm lễ, sau đó tuyên bố lý do tổ chức cuộc đua rồi nổi trống đốt pháo do 2 kỵ thực hiện, sỹ điều khiển sẽ mặc quần áo nai nịt gọn gàng, đầu chít khăn và ngang sườn có thắt một cái bao. Pháo nổ vừa xong thì hai chàng kỵ mã cũng bắt đầu thúc ngựa lao vào phía trường đua. Đến chỗ vật chắn (gần đích) người đua ngựa phải cúi rạp người xuống và thúc ngựa vượt qua chướng ngại vật. Ai nhanh hơn và không làm rơi vật chắn sẽ là người thắng cuộc. Hội đua ngựa truyền thống Cuối tháng 3 cũng là thời điểm cuối mùa xuân và cũng sắp sang hè, lúc ấy thời thiết thường có mưa rào; trời trong sáng, gió nam thổi đều làm diều sáo ở các làng quê vi vu trên không, rất êm đềm và thi vị. Hội thi diều ở chùa Thú cũng được mở ra trong bầu không khí ấm áp và tươi vui như vậy. Khi diều bay đã lên, đã đậu mọi người cùng ngồi nói chuyện vui ngắm diều, uống trà, uống rượu, vị quan Phán Thú với nhiều suy ngẫm ly kỳ, đầy chất dân gian độc đáo.

Khu chùa Thú nằm ở sườn núi thuộc thôn Cầu Cần, xã Việt Lập, Tân Yên tỉnh Bắc Giang. Trước kia chùa Thú thuộc xã Tuy Lộc Sơn, tổng Tuy Lộc Sơn, thuộc huyện Yên Thế, phủ Lạng Giang. Mỗi năm ngôi chùa diễn ra hai lần hội. Hội xuân được tổ chức vào ngày 21 tháng Giêng âm lịch và một hội vào cuối xuân, tổ chức vào ngày 19 tháng 3 âm lịch.

Trong ngày hội xuân vào 21 tháng giêng, người dân từ các làng, các xã lân cận nô nức kéo nhau về làm lễ dâng hương bái Phật, cúng quan quan Thái Bảo và Phán Thú (triều Lê). Lễ dâng hương của các đoàn hành hương chủ yếu là lễ chay, có hoa quả, đèn hương... Các bà vãi, các đoàn đi quy đến từ các bản có tâm thành kính dâng lễ, tụng kinh, cầu tài lộc, và cầu bình yên cho gia đình, và cầu cho xã hội an bình. Chùa Thú, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Trước đây, trong hội chùa Thú còn có tục đua ngựa, nhưng ngày nay đã không còn. Sách Địa chí Tân Yên có chép rằng: “Đua ngựa: được tổ chức vào mùa xuân, dân làng khi vào đám mở hội. Các cuộc đua được coi là sân quần ngựa, nằm trên một khoảng đất không rộng trước đình Lý Cốt (Phúc Sơn), chùa Thú (Việt Lập) ở xóm Khủa (Tân Trung). Đông đảo người dân đến dâng hương tại chùa Thú Sân quần ngựa có một đường rộng chạy bao quanh một quả đồi, trên đường đua sẽ đặt một chướng ngại vật là những cây cầu tre bắc ngang trên độ cao bằng đầu ngựa. Sắp bắt đầu cuộc thi, ông Cai đám tiến đến gần điểm xuất phát đã đặt sẵn hương án và đầm cờ. Ông Ca sẽ thắp hương làm lễ, sau đó tuyên bố lý do tổ chức cuộc đua rồi nổi trống đốt pháo do 2 kỵ thực hiện, sỹ điều khiển sẽ mặc quần áo nai nịt gọn gàng, đầu chít khăn và ngang sườn có thắt một cái bao. Pháo nổ vừa xong thì hai chàng kỵ mã cũng bắt đầu thúc ngựa lao vào phía trường đua. Đến chỗ vật chắn (gần đích) người đua ngựa phải cúi rạp người xuống và thúc ngựa vượt qua chướng ngại vật. Ai nhanh hơn và không làm rơi vật chắn sẽ là người thắng cuộc. Hội đua ngựa truyền thống Cuối tháng 3 cũng là thời điểm cuối mùa xuân và cũng sắp sang hè, lúc ấy thời thiết thường có mưa rào; trời trong sáng, gió nam thổi đều làm diều sáo ở các làng quê vi vu trên không, rất êm đềm và thi vị. Hội thi diều ở chùa Thú cũng được mở ra trong bầu không khí ấm áp và tươi vui như vậy. Khi diều bay đã lên, đã đậu mọi người cùng ngồi nói chuyện vui ngắm diều, uống trà, uống rượu, vị quan Phán Thú với nhiều suy ngẫm ly kỳ, đầy chất dân gian độc đáo.

Related Figures

Hội làng Tam Tảo

Thông tin thời kỳ

Tam Tảo là một ngôi làng thuộc xã Phú Lâm, của huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, là một làng quê đã có lịch sử từ lâu đời của xứ Kinh Bắc. Người dân Tam Tảo luôn tự hào là một làng quê có lịch sử lâu đời nhất, và tự hảo bởi nơi đây còn lưu giữ nhiều kỷ niệm về các vị danh nhân triều Lý, những người đã có công phò tá vua Lý Công Uẩn lập lên một triều đại vàng son trong lịch sử dân tộc. Hội làng Tam Đảo được tổ chức vào ngày mồng 10 tháng Hai âm lịch hàng năm, nhằm kỷ niệm ngày sinh của vợ chồng ông bà Trần Quý, người đã có ông giúp vua Lý Công Uẩn trốn thoát quân lý triều Lê. Đây là lễ hội có qui mô lớn nhất trong năm của người dân Tam Tảo. Lễ rước kiệu trong ngày Hội làng Tam Tảo tại Bắc Ninh Những tài liệu đã ghi chép khá rõ về vợ chồng ông bà Trần Quý, những người đã cứu Lý Công Uẩn thoát khỏi sự truy lùng ráo riết của quan quân triều Lê. Lý Công Uẩn là một vị quan đại thần dưới triều Tiền lê , nhưng khi triều Tiền Lê đang trên đà suy thoái, trăm họ đều oán thán, ông đã lập mưu dựng nên nhà Lý. Trong quá trình diễn ra cuộc binh biến này, Lý Công Uẩn đã từng thất bại và chạy về Kinh Bắc, chạy đến trang Tam Tảo, được vợ ông Trần Quý và Đặng Thị Phương Dung giải cứu. Sau khi Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế, ông đã phong cho ông Trần Quý chức quan Phụ quốc Tán trị, vệ dực bảo quốc, còn vợ ông là Hoàng thái hậu. Sau khi vợ chồng ông Trần Quý qua đời, người dân Tam Tảo đã lập đền thờ vợ chồng ông ngay trên khu đất hai ông bà đã ở trước, và đặt tên là đền Hộ Quốc, tức đền giúp nước. Đền này có quy mô tương đối lớn, là nơi nhà vua thường hay đến tế lễ để vày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến vợ chồng ông Trần Quý. Các triều đại sau đó cũng nhiều lần tiến hành tu bổ, tôn tạo, chính vì vậy đền Hộ Quốc vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Hàng nghìn du khách thập phương về tham quan Hội làng Tam Tảo Hội làng diễn ra vào ngày mồng 10 tháng Hai, được dân làng tổ chức với qui mô lớn, chu đáo, và thường kéo dài trong ba ngày, với nhiều nghi thức tế lễ độc đáo, rước sách được cử hành rất uy nghiêm. Cuộc rước với kiệu và lễ vật, tàn, bát biểu, quạt, siêu đao, các đồ thần khí, trống chiêng, tế khí, phường bát âm… xuất phát từ đình sang nghè, tới chùa, rồi tới đền Hộ Quốc rước bài vị ông bà Trần Quý về đình. Cuộc rước thật uy nghi, hoành tráng, với hàng nghìn người tham gia, kéo dài hàng cây số, với màu sắc rực rỡ, âm thanh vang động, biểu hiện sự nhớ ơn, tôn kính của mọi người dân Tam Tảo đối với công lao của ông bà Trần Quý. Cùng với tế lễ, nhiều trò chơi dân gian được tổ chức như múa rối nước, đu tiên, cờ người, thi dệt vải, thi bắt chạch trong chum, vật, hát chèo, ca quan họ, diễn tuồng. Lễ hội Tam Tảo là lễ hội lớn, thu hút người dân trong vùng và khách thập phương tới tham dự. Đặc biệt trong ngày hội, dân làng Tam Tảo được đón tiếp các vị khách quý có liên quan đến triều Lý. Đó là nhân dân Đình Bảng, quê hương của Lý Công Uẩn, nhân dân thôn Dương Lôi, quê hương bà Phạm Thị, thân mẫu của Lý Công Uẩn, nhân dân Tiêu Thượng, nơi có chùa Tiêu Sơn là chốn trụ trì hành đạo của Thiền sư Vạn Hạnh- người có công nuôi dạy Lý Công Uẩn và giúp ông lên ngôi, khai mở vương nghiệp triều Lý, Nhân dân các làng trên đã cử đại biểu mang lễ vật, hương hoa về tế lễ tại đền Hộ Quốc và đình Tam Tảo, được đón tiếp chu đáo, tận tình. Du khách nước ngoài đến tham quan Hội làng Tam Tảo tại Bắc Ninh

Related Figures

Lễ Kỳ Yên

Thông tin thời kỳ

(lehoi.info)- Lễ hội Kỳ Yên (hay còn gọi là lễ cầu an) là một trong những lễ hội có quy mô lớn, được người dân Bạc Liêu tổ chức long trọng mỗi khi xuân về. Mục đích của lễ hội này là cầu cho một năm mưa thuận gió hoà, cây cối tươi tốt, mùa màng bội thu, xóm làng yên bình, dân giàu nước mạn, gia đình hạnh phúc. Lễ hội gồm hai phần là Phần Lễ và Phần hội. Trong phần lễ sẽ thực hiện các nghi thức rước sắc thần về đình; dâng hương, dâng trà, dâng rượu, và đọc văn tế cầu nguyện và cảm tạ các đức thần Thành Hoàng, Hậu hiền, Tiên hiền, thần Nông, thần Hổ... đã phù hộ cho nhân dân có được cuộc sống ấm no và hạnh phúc. Lễ Kỳ Yên tại Bạc Liêu hấp dẫn bởi chương trình hát bội với nhiều tuồng tích cổ Phần hội của Lễ hội Kỳ Yên thu hút sực chú ý của bà con quanh vùng và khách thập phương bởi chương trình hát bội với nhiều tuồng tích hấp dẫn như: Thần Nữ Ngũ Linh Kỳ, Chung Vô Diệm, Lưu Kim Đính, Tiết Đinh San, Trảm Trinh Ân... Đi xem hát bội trẩy hội Kỳ Yên” đã trở thành một món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống của người dân Bạc Liêu trong những ngày xuân. Bên cạnh đó là những trò chơi dân gian như ném banh, nhảy cà ròn, phóng tiêu… Khách đến dự Lễ hội Kỳ Yên, ngoài việc cầu phước, cầu tài lộc thọ, cầu cuộc sống hạnh phúc..., ai cũng đều cảm thấy xốn xang, rạo rực bởi sự hấp dẫn từ những trò chơi dân gian, những cái nắm tay thắm thiết của họ hàng, anh em gần xa, bạn bè, bằng hữu, đồng nghiệp, những giai điệu trữ tình trầm bổng của nghệ thuật hát bội... Người ta cũng có thể bắt gặp hình ảnh các vị bô lão trong những bộ áo dài với nhiều màu sắc, khăn xếp ngồi đánh trống chầu hay hình ảnh của những nam thanh, nữ tú đang hân hoan tìm về nguồn cội của dân tộc. Không ít nam thanh nữ tú đã bén duyên vợ chồng sau mùa hội Kỳ Yên. Lễ Kỳ Yên tại Bạc Liêu Điều ghi nhận từ lễ hội Kỳ Yên đã cho thấy, lễ hội này đã được nhân dân tổ chức với quy mô lớn hơn xưa, nghi lễ linh đình, thiêng liêng nhưng cũng gọn nhẹ, tiết kiệm hơn so với nhiều năm về trước. Ngoài yếu tố tâm linh, Lễ hội Kỳ Yên còn dịp để giáo dục thế hệ con cháu có ý thức giữ gìn và phát huy giá trị nét văn hoá truyền thống, đạo lý uống nước nhớ nguồn và lòng tự hào dân tộc./.

(lehoi.info)- Lễ hội Kỳ Yên (hay còn gọi là lễ cầu an) là một trong những lễ hội có quy mô lớn, được người dân Bạc Liêu tổ chức long trọng mỗi khi xuân về. Mục đích của lễ hội này là cầu cho một năm mưa thuận gió hoà, cây cối tươi tốt, mùa màng bội thu, xóm làng yên bình, dân giàu nước mạn, gia đình hạnh phúc.

Lễ hội gồm hai phần là Phần Lễ và Phần hội.

Trong phần lễ sẽ thực hiện các nghi thức rước sắc thần về đình; dâng hương, dâng trà, dâng rượu, và đọc văn tế cầu nguyện và cảm tạ các đức thần Thành Hoàng, Hậu hiền, Tiên hiền, thần Nông, thần Hổ... đã phù hộ cho nhân dân có được cuộc sống ấm no và hạnh phúc.

Lễ Kỳ Yên tại Bạc Liêu hấp dẫn bởi chương trình hát bội với nhiều tuồng tích cổ

Phần hội của Lễ hội Kỳ Yên thu hút sực chú ý của bà con quanh vùng và khách thập phương bởi chương trình hát bội với nhiều tuồng tích hấp dẫn như: Thần Nữ Ngũ Linh Kỳ, Chung Vô Diệm, Lưu Kim Đính, Tiết Đinh San, Trảm Trinh Ân... Đi xem hát bội trẩy hội Kỳ Yên” đã trở thành một món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống của người dân Bạc Liêu trong những ngày xuân. Bên cạnh đó là những trò chơi dân gian như ném banh, nhảy cà ròn, phóng tiêu…

Khách đến dự Lễ hội Kỳ Yên, ngoài việc cầu phước, cầu tài lộc thọ, cầu cuộc sống hạnh phúc..., ai cũng đều cảm thấy xốn xang, rạo rực bởi sự hấp dẫn từ những trò chơi dân gian, những cái nắm tay thắm thiết của họ hàng, anh em gần xa, bạn bè, bằng hữu, đồng nghiệp, những giai điệu trữ tình trầm bổng của nghệ thuật hát bội... Người ta cũng có thể bắt gặp hình ảnh các vị bô lão trong những bộ áo dài với nhiều màu sắc, khăn xếp ngồi đánh trống chầu hay hình ảnh của những nam thanh, nữ tú đang hân hoan tìm về nguồn cội của dân tộc. Không ít nam thanh nữ tú đã bén duyên vợ chồng sau mùa hội Kỳ Yên.

Lễ Kỳ Yên tại Bạc Liêu

Điều ghi nhận từ lễ hội Kỳ Yên đã cho thấy, lễ hội này đã được nhân dân tổ chức với quy mô lớn hơn xưa, nghi lễ linh đình, thiêng liêng nhưng cũng gọn nhẹ, tiết kiệm hơn so với nhiều năm về trước. Ngoài yếu tố tâm linh, Lễ hội Kỳ Yên còn dịp để giáo dục thế hệ con cháu có ý thức giữ gìn và phát huy giá trị nét văn hoá truyền thống, đạo lý uống nước nhớ nguồn và lòng tự hào dân tộc./.

Related Figures

Hội Đền Tuần Quán

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 3/3 Âm lịch (lehoi.info) - Đền Tuần Quán là đền thuộc phường Yên Ninh, thành phố Yên Bái. Ngoài ra đền còn có tên gọi khác là Đền thần Diệp phu nhân Bách Lẫm. Đền Tuần Quán có từ thời Lê Trung Hưng, đầu thế kỷ XV. Đền là nơi thờ mẫu Liễu Hạnh, ngoài ra Đền còn thờ đức thánh Trần là Trần Quốc Tuấn, là người đã có công giúp vua đánh giặc cứu nước. Hàng năm cứ vào ngày mùng 3 tháng 3 âm lịch là Đền tổ chức chính hội (Ngày hội Mẹ) để tưởng nhớ công lao của Mẫu Liễu Hạnh, người có công giúp nhân dân khai khẩn ruộng nương, bảo vệ và xây dựng tổ quốc Quang cảnh lễ hội Đền Tuần Quán tại Yên Bái Toạ lạc bên bờ sông Hồng hiền hoà, Đền Tuần Quán lâu nay không chỉ được biết đến là điểm cúng lễ, cầu an lành của tín đồ phật tử thập phương, mà còn được xem như một trong những điểm đến không thể thiếu trong hành trình tâm linh cầu tài cầu lộc của du khách xa gần trong những dịp đầu xuân. Theo tích xưa, Đền thuộc tổng Bách Lẫm, huyện Trấn Yên, tỉnh Hưng Hoá, nay thuộc phường Yên Ninh, thành phố Yên Bái. Một nghi thức hành lễ tại Đền Tuần Quán Hội đền Tuần Quán gồm có 2 phần: Phần lễ là phần những nghi lễ dâng hương truyền thống được tổ chức trang trọng và công phu. Phần hội là phần có những trò chơi dân gian truyền thống như đánh vật, kéo co, cờ tướng, làm bánh dày, hát chèo, hát chầu văn,… nhằm tái hiện lại cuộc sống, tái hiện lại giá trị văn hoá thủa xưa trong truyền thống dựng nước và giữ nước của ông cha ta. Làn điệu hát văn trong lễ hội đền Tuần Quán Ngoài ra Đền còn có một lễ hội nữa được gọi là tiệc cha và tiệc cha được tổ chức vào ngày 20 tháng 8 âm lịch hàng năm. Với nhiều nét đặc trưng, sự thành kính trang nghiêm, hàng năm, cứ vào mỗi dịp đầu xuân, du khách thập phương lại nô nức trở về Đền để trảy hội, cầu tài cầu lộc, cầu cho một năm mới với nhiều may mắn, mưa thuận gió hoà, phúc đẳng hà sa, Quốc thái dân an.

(lehoi.info) - Đền Tuần Quán là đền thuộc phường Yên Ninh, thành phố Yên Bái. Ngoài ra đền còn có tên gọi khác là Đền thần Diệp phu nhân Bách Lẫm. Đền Tuần Quán có từ thời Lê Trung Hưng, đầu thế kỷ XV. Đền là nơi thờ mẫu Liễu Hạnh, ngoài ra Đền còn thờ đức thánh Trần là Trần Quốc Tuấn, là người đã có công giúp vua đánh giặc cứu nước. Hàng năm cứ vào ngày mùng 3 tháng 3 âm lịch là Đền tổ chức chính hội (Ngày hội Mẹ) để tưởng nhớ công lao của Mẫu Liễu Hạnh, người có công giúp nhân dân khai khẩn ruộng nương, bảo vệ và xây dựng tổ quốc

Quang cảnh lễ hội Đền Tuần Quán tại Yên Bái Toạ lạc bên bờ sông Hồng hiền hoà, Đền Tuần Quán lâu nay không chỉ được biết đến là điểm cúng lễ, cầu an lành của tín đồ phật tử thập phương, mà còn được xem như một trong những điểm đến không thể thiếu trong hành trình tâm linh cầu tài cầu lộc của du khách xa gần trong những dịp đầu xuân. Theo tích xưa, Đền thuộc tổng Bách Lẫm, huyện Trấn Yên, tỉnh Hưng Hoá, nay thuộc phường Yên Ninh, thành phố Yên Bái. Một nghi thức hành lễ tại Đền Tuần Quán Hội đền Tuần Quán gồm có 2 phần: Phần lễ là phần những nghi lễ dâng hương truyền thống được tổ chức trang trọng và công phu. Phần hội là phần có những trò chơi dân gian truyền thống như đánh vật, kéo co, cờ tướng, làm bánh dày, hát chèo, hát chầu văn,… nhằm tái hiện lại cuộc sống, tái hiện lại giá trị văn hoá thủa xưa trong truyền thống dựng nước và giữ nước của ông cha ta. Làn điệu hát văn trong lễ hội đền Tuần Quán Ngoài ra Đền còn có một lễ hội nữa được gọi là tiệc cha và tiệc cha được tổ chức vào ngày 20 tháng 8 âm lịch hàng năm. Với nhiều nét đặc trưng, sự thành kính trang nghiêm, hàng năm, cứ vào mỗi dịp đầu xuân, du khách thập phương lại nô nức trở về Đền để trảy hội, cầu tài cầu lộc, cầu cho một năm mới với nhiều may mắn, mưa thuận gió hoà, phúc đẳng hà sa, Quốc thái dân an.

Related Figures

Hội xuân chợ Gò

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/1 Âm lịch Hội Xuân chợ Gò (thôn Phong Thạnh, thị trấn Tuy Phước, Bình Định) là một hội chợ lớn được tổ chức hằng năm vào ngày mùng một tết và là nơi vui chơi, cầu lộc của người dân trong ngày đầu năm mới. Biểu diễn trong lễ khai mạc hội xuân chợ Gò Nếu ở các địa phương khác ngày mùng một tết tất cả mọi người và thương nhân đều nghỉ tết thì ở chợ Gò lại ngược lại. Từ rạng sáng, người dân từ các vùng phụ cận đã mang đến những vật phẩm của mình đến chợ bán và mặt hàng được bán nhiều nhất là trầu cau và các đặc sản địa phương. Điều đặc biệt là việc buôn bán này không mang tính kinh doanh mà chỉ là hình thức cầu lộc đầu năm, người bán sẽ không nói thách và người mua cũng không trả giá mà chỉ là trao đổi mua bán thuần túy. Mua bán lộc đầu năm tại hội xuân chợ Gò Ngoài việc mua bán cầu lộc, khách tham quan còn được thưởng thức những món đặc sản của quê hương Bình Định như cả cá, nem chua, bánh lá gai và tham gia các trò chơi dân gian như hô bài chòi, lô tô, đánh cờ người, múa lân… Biểu diễn võ thuật trong ngày hội Hội xuân chợ Gò được tổ chức từ rạng sáng và kéo dài đến khi trưa tròn bóng nắng thì kết thúc. Hội chợ không chỉ là hình thức cầu lộc đầu năm mà còn là nơi giao lưu, vui chơi giải trí của đông đảo người dân. Theo truyền thuyết, Hội xuân chợ Gò xuất phát từ thời Tây Sơn khi quân Tây Sơn đóng quân án ngữ tại khu vực này, ngày Tết Vua sợ quân lính buồn, nhớ nhà nên cho mở hội chợ Gò để nhân dân và quân sĩ vui chơi… Theo thời gian, hội Xuân chợ Gò mỗi năm một lần đến hẹn lại lên đã đi vào tiềm thức của dân địa phương như một nét sinh hoạt văn hóa cộng đồng thu hút đông đảo người dân địa phương và khách du lịch. Tổng hợp

Hội Xuân chợ Gò (thôn Phong Thạnh, thị trấn Tuy Phước, Bình Định) là một hội chợ lớn được tổ chức hằng năm vào ngày mùng một tết và là nơi vui chơi, cầu lộc của người dân trong ngày đầu năm mới.

Biểu diễn trong lễ khai mạc hội xuân chợ Gò Nếu ở các địa phương khác ngày mùng một tết tất cả mọi người và thương nhân đều nghỉ tết thì ở chợ Gò lại ngược lại. Từ rạng sáng, người dân từ các vùng phụ cận đã mang đến những vật phẩm của mình đến chợ bán và mặt hàng được bán nhiều nhất là trầu cau và các đặc sản địa phương. Điều đặc biệt là việc buôn bán này không mang tính kinh doanh mà chỉ là hình thức cầu lộc đầu năm, người bán sẽ không nói thách và người mua cũng không trả giá mà chỉ là trao đổi mua bán thuần túy. Mua bán lộc đầu năm tại hội xuân chợ Gò Ngoài việc mua bán cầu lộc, khách tham quan còn được thưởng thức những món đặc sản của quê hương Bình Định như cả cá, nem chua, bánh lá gai và tham gia các trò chơi dân gian như hô bài chòi, lô tô, đánh cờ người, múa lân… Biểu diễn võ thuật trong ngày hội Hội xuân chợ Gò được tổ chức từ rạng sáng và kéo dài đến khi trưa tròn bóng nắng thì kết thúc. Hội chợ không chỉ là hình thức cầu lộc đầu năm mà còn là nơi giao lưu, vui chơi giải trí của đông đảo người dân. Theo truyền thuyết, Hội xuân chợ Gò xuất phát từ thời Tây Sơn khi quân Tây Sơn đóng quân án ngữ tại khu vực này, ngày Tết Vua sợ quân lính buồn, nhớ nhà nên cho mở hội chợ Gò để nhân dân và quân sĩ vui chơi… Theo thời gian, hội Xuân chợ Gò mỗi năm một lần đến hẹn lại lên đã đi vào tiềm thức của dân địa phương như một nét sinh hoạt văn hóa cộng đồng thu hút đông đảo người dân địa phương và khách du lịch. Tổng hợp

Mua bán lộc đầu năm tại hội xuân chợ Gò

Biểu diễn võ thuật trong ngày hội

Related Figures

Lễ hội Thổ Hà

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 19/1- 21/1 Âm lịch Lễ hội Thổ Hà (tại xã Vân Hà, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang) thường diễn ra vào ngày 19 đến ngày 21 tháng Giêng hằng năm. Đối tượng được dân làng nơi đây suy tôn là Thành Hoàng làng. Năm nào người dân cũng tổ chức lễ hội nhưng 3 năm mới tổ chức một hội lớn có lễ rước. Đây là một lễ hội vẫn còn duy trì được nhiều nét bản sắc dân tộc độc đáo của lễ hội xứ Bắc. Lễ hội Thổ Hà tại Bắc Giang là một nét đẹp văn hóa của người dân Kinh Bắc Lễ hội làng Thổ Hà gồm 2 phần, phần lễ và phần hội. Phần lễ thường được tổ chức rất, long trọng, trang nghiêm và bài bản. Từ sáng sớm, chánh tế, độc chúc, thông xướng cùng các bô lão trong ban tế đã diện quần áo chỉnh tề để chuẩn bị lễ đón đám rước từ các miếu về đình làng. Chủ tế thường đứng ở bậc tam cấp đón của đám rước. Khi mọi người đã yên vị xong, cuộc tế sẽ chính thức được bắt đầu với các nghi thức long trọng. Tất cả đều bày tỏ lòng thành kính để mời Thánh về dự ngày hội cùng dân làng và xin Thánh hoàng làng phù hộ cho dân làng một năm mới khỏe mạnh, làm ăn khá giả, xóm làng yên vui, gia đình luôn được hạnh phúc. Lễ hội Thổ Hà tại Bắc Giang được tổ chức rất long trọng và trang nghiêm Sau khi nghi thức tế lễ kết thúc sẽ đến phần hội với nhiều trò chơi dân gian đặc sắc như bơi trải, chọi gà, đấu vật, chơi cờ, chèo thuyền bắt vịt, cầu lông… nhưng tiêu biểu nhất đó là tiết mục hát quan họ. Thổ Hà được xem là một nơi gốc rễ của nghệ thuật hát quan họ. Các liền anh, liền chị của các vùng lân cận cũng về dự hội và trổ tài hát quan họ cả ngày lẫn đêm tại khu vực sân đình hay trên thuyền. Lời hát trữ tình, mượt mà đã làm say lòng bao du khách gần xa. Ngoài tiết mục hát quan họ, một môn thi khác cũng không kém phần hấp dẫn và thú vị, cũng thu hút được rất nhiều người tham gia đó là môn cờ tướng. Các bàn cờ thường được bày ra để mời các thí sinh tham gia tranh tài cao thấp. Người thắng thì vui mừng, người thua không vì thế mà "cay cú" mà chỉ ước mong đến ngày hội năm sau sẽ được gặp lại đối thủ. Kết thúc lễ hội, mọi người ra về trong niềm vui hân hoan. Lễ hội Thổ Hà là một nét đẹp đặc sắc trong văn hóa của người dân Kinh Bắc, đã làm phong phú thêm cho kho tàng văn hóa nước Việt, một nét đẹp đáng được gìn giữ và phát huy. Nghi thức tế lễ trong Lễ hội Thổ Hà tại Bắc Giang

Lễ hội Thổ Hà (tại xã Vân Hà, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang) thường diễn ra vào ngày 19 đến ngày 21 tháng Giêng hằng năm. Đối tượng được dân làng nơi đây suy tôn là Thành Hoàng làng. Năm nào người dân cũng tổ chức lễ hội nhưng 3 năm mới tổ chức một hội lớn có lễ rước. Đây là một lễ hội vẫn còn duy trì được nhiều nét bản sắc dân tộc độc đáo của lễ hội xứ Bắc.

Lễ hội Thổ Hà tại Bắc Giang là một nét đẹp văn hóa của người dân Kinh Bắc

Lễ hội làng Thổ Hà gồm 2 phần, phần lễ và phần hội. Phần lễ thường được tổ chức rất, long trọng, trang nghiêm và bài bản. Từ sáng sớm, chánh tế, độc chúc, thông xướng cùng các bô lão trong ban tế đã diện quần áo chỉnh tề để chuẩn bị lễ đón đám rước từ các miếu về đình làng. Chủ tế thường đứng ở bậc tam cấp đón của đám rước. Khi mọi người đã yên vị xong, cuộc tế sẽ chính thức được bắt đầu với các nghi thức long trọng. Tất cả đều bày tỏ lòng thành kính để mời Thánh về dự ngày hội cùng dân làng và xin Thánh hoàng làng phù hộ cho dân làng một năm mới khỏe mạnh, làm ăn khá giả, xóm làng yên vui, gia đình luôn được hạnh phúc. Lễ hội Thổ Hà tại Bắc Giang được tổ chức rất long trọng và trang nghiêm Sau khi nghi thức tế lễ kết thúc sẽ đến phần hội với nhiều trò chơi dân gian đặc sắc như bơi trải, chọi gà, đấu vật, chơi cờ, chèo thuyền bắt vịt, cầu lông… nhưng tiêu biểu nhất đó là tiết mục hát quan họ. Thổ Hà được xem là một nơi gốc rễ của nghệ thuật hát quan họ. Các liền anh, liền chị của các vùng lân cận cũng về dự hội và trổ tài hát quan họ cả ngày lẫn đêm tại khu vực sân đình hay trên thuyền. Lời hát trữ tình, mượt mà đã làm say lòng bao du khách gần xa. Ngoài tiết mục hát quan họ, một môn thi khác cũng không kém phần hấp dẫn và thú vị, cũng thu hút được rất nhiều người tham gia đó là môn cờ tướng. Các bàn cờ thường được bày ra để mời các thí sinh tham gia tranh tài cao thấp. Người thắng thì vui mừng, người thua không vì thế mà "cay cú" mà chỉ ước mong đến ngày hội năm sau sẽ được gặp lại đối thủ. Kết thúc lễ hội, mọi người ra về trong niềm vui hân hoan. Lễ hội Thổ Hà là một nét đẹp đặc sắc trong văn hóa của người dân Kinh Bắc, đã làm phong phú thêm cho kho tàng văn hóa nước Việt, một nét đẹp đáng được gìn giữ và phát huy. Nghi thức tế lễ trong Lễ hội Thổ Hà tại Bắc Giang

Lễ hội Thổ Hà tại Bắc Giang được tổ chức rất long trọng và trang nghiêm

Related Figures

Lễ hội Nguyễn Đình Chiểu

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/7 Âm lịch (lehoi.info) - Để tưởng niệm và nghi nhớ công ơn của nhà thơ, nhà văn hóa Nguyễn Đình Chiểu, vào ngày 1/7 hằng năm người dân xã An Đức, huyện Ba Tri tỉnh Bến Tre đều long trọng tổ chức lễ hội Nguyễn Đình Chiểu tại khu mộ của nhà thơ với sự tham gia của hàng ngàn người dân địa phương và du khách thập phương. Lễ hội Nguyễn Đình Chiểu Ông Nguyễn Đình Chiểu tuy không sinh ra ở đất Bến Tre nhưng phần lớn cuộc đời ông gắn liền với vùng đất này. Ông vừa là thầy thuốc, thầy giáo, vừa là nhà thơ, nhà văn hóa, tư tưởng lớn có uy tín và sức ảnh hưởng sâu rộng trong đồng bào Bến Tre. Để tỏ lòng thành kính và biết ơn Nguyễn Đình Chiểu, vào ngày sinh của ông (1/7 hằng năm), người dân tỉnh Bến Tre sẽ tổ chức lễ hội Nguyễn Đình Chiểu theo đúng nghi thức lễ hội truyền thống với nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao đặc sắc. Đây là một ngày lễ lớn nhằm tuyên truyền, học tập, kế thừa những giá trị tư tưởng, nhân cách, đạo đức của nhà giáo, thầy thuốc, nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu. Đấu võ trong ngày hội Nguyễn Đình Chiểu Lễ hội Nguyễn Đình Chiểu gồm 2 phần với phần lễ là bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” được xướng lên trong không gian trang nghiêm. Sau đó là các hoạt cảnh diễn lại tích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga nổi tiếng và các hoạt động khác nhằm tưởng nhớ nhà thơ tài hoa Nguyễn Đình Chiểu, người đã gắn bó và gần gũi với nhân dân Ba Tri. Khu lăng mộ Nguyễn Đình Chiểu Tiếp đó là phần hội gồm các hoạt động như bốc thuốc miễn phí, thi nấu ăn, kéo co, đập niêu, hát đờn ca tài tử, ngâm thơ, múa lân, thi hóa trang thành các nhân vật trong Lục Vân Tiên… Đến với lễ hội, quý khách không chỉ được vui chơi mà còn có dịp tham quan các tác phẩm văn thơ của Nguyễn Đình Chiểu cũng như tìm hiểu về thân thế và sự nghiệp văn chương của ông. Với sự quan tâm của chính quyền địa phương và Bộ Văn hóa, khu mộ nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã được xây dựng lại thành một khu di tích lịch sử có giá trị văn hóa cao đẹp và là khu thăm quan du lịch thu hút đông đảo khách thập phương với nhiều công trình kiến trúc cổ mang đậm bản sắc dân tộc. Nếu du khách có dịp về Bến Tre đừng quên đến thăm khu mộ nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu ở An Đức, Ba Tri, Bến Tre nhé. Tổng hợp.

(lehoi.info) - Để tưởng niệm và nghi nhớ công ơn của nhà thơ, nhà văn hóa Nguyễn Đình Chiểu, vào ngày 1/7 hằng năm người dân xã An Đức, huyện Ba Tri tỉnh Bến Tre đều long trọng tổ chức lễ hội Nguyễn Đình Chiểu tại khu mộ của nhà thơ với sự tham gia của hàng ngàn người dân địa phương và du khách thập phương.

Lễ hội Nguyễn Đình Chiểu

Ông Nguyễn Đình Chiểu tuy không sinh ra ở đất Bến Tre nhưng phần lớn cuộc đời ông gắn liền với vùng đất này. Ông vừa là thầy thuốc, thầy giáo, vừa là nhà thơ, nhà văn hóa, tư tưởng lớn có uy tín và sức ảnh hưởng sâu rộng trong đồng bào Bến Tre. Để tỏ lòng thành kính và biết ơn Nguyễn Đình Chiểu, vào ngày sinh của ông (1/7 hằng năm), người dân tỉnh Bến Tre sẽ tổ chức lễ hội Nguyễn Đình Chiểu theo đúng nghi thức lễ hội truyền thống với nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao đặc sắc. Đây là một ngày lễ lớn nhằm tuyên truyền, học tập, kế thừa những giá trị tư tưởng, nhân cách, đạo đức của nhà giáo, thầy thuốc, nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu. Đấu võ trong ngày hội Nguyễn Đình Chiểu Lễ hội Nguyễn Đình Chiểu gồm 2 phần với phần lễ là bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” được xướng lên trong không gian trang nghiêm. Sau đó là các hoạt cảnh diễn lại tích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga nổi tiếng và các hoạt động khác nhằm tưởng nhớ nhà thơ tài hoa Nguyễn Đình Chiểu, người đã gắn bó và gần gũi với nhân dân Ba Tri. Khu lăng mộ Nguyễn Đình Chiểu Tiếp đó là phần hội gồm các hoạt động như bốc thuốc miễn phí, thi nấu ăn, kéo co, đập niêu, hát đờn ca tài tử, ngâm thơ, múa lân, thi hóa trang thành các nhân vật trong Lục Vân Tiên… Đến với lễ hội, quý khách không chỉ được vui chơi mà còn có dịp tham quan các tác phẩm văn thơ của Nguyễn Đình Chiểu cũng như tìm hiểu về thân thế và sự nghiệp văn chương của ông. Với sự quan tâm của chính quyền địa phương và Bộ Văn hóa, khu mộ nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã được xây dựng lại thành một khu di tích lịch sử có giá trị văn hóa cao đẹp và là khu thăm quan du lịch thu hút đông đảo khách thập phương với nhiều công trình kiến trúc cổ mang đậm bản sắc dân tộc. Nếu du khách có dịp về Bến Tre đừng quên đến thăm khu mộ nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu ở An Đức, Ba Tri, Bến Tre nhé. Tổng hợp.

Related Figures

Hội làng Đồng Kỵ

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 4/1 Âm lịch (lehoi.info)- Đồng Kỵ là một làng của xã Đồng Quang, thuộc thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Hội làng Đồng Kỵ diễn ra vào ngày mồng 4 tháng Giêng âm lịch hàng năm. Tuy chỉ là một lễ hội nhỏ thế nhưng Hội làng Đồng Kỹ vẫn thu hút được rất nhiều người dân quanh vùng cũng như đông đảo khách thập phương đến xem hội, bởi hội đã duy trì được nét truyền thống đặc sắc. Trước kia lễ hội này được tổ chức hàng tuần nhưng mấy năm trở lại đây lễ hội đã rút gọn lại và chỉ tổ chức 11 ngày vào ngày mồng 4 tháng Giêng Âm lịch. Hội làng Đồng Kỵ tại Bắc Ninh Hội rước pháo làng Đồng Kỵ được xem là hoạt động tiêu biểu nhất mà bà con làng nghề vốn được cho là giàu có nhất vùng Kinh Bắc còn gìn giữ được cho đến ngày hôm nay. Đây cũng là một nghi thức truyền thống vẫn được nhiều người dân chờ đợi nhất của lễ hội. Hội thi làm pháo và đốt pháo trong lễ hội Đồng Kỵ là để tưởng nhớ và tái hiện lại không khí ngày Thánh Thiên Cương - một vị tướng sau này đã được người dân nơi đây tôn thờ làm thành hoàng làng, đã ra lệnh xuất quân đánh giặc. Lễ hội thực chất được bắt đầu từ ngày mồng 3.Từ sáng sớm ngày mồng 3 tháng Giêng, người dân đã cử hành nghi lễ rước thỉnh Đức Thánh Thiên Cương lên Đền Trung. Lễ rước pháp trong ngày Hội làng Đồng Kỵ tại Bắc Ninh Lễ rước pháo là một trong những nét văn hóa đặc trưng nhất trong ngày hội làng Đồng Kỵ. Khâu chuẩn bị cho Lễ rước pháo đã được người dân chuẩn bị từ sáng sớm ngày mồng 4 nhưng phải chờ đến lúc đúng 9 giờ sáng, hai quả pháo lớn mới được các thanh niên trai tráng của làng rước từ nhà ông đám trưởng (Trưởng Ban Khánh tiết) về đình cùng đoàn tế hàng trăm người trước sự chứng kiến và sự thích thú của hàng nghìn khách thập phương. Hội Đồng Kỵ thu hút khách thập phương bởi tục rước pháo nhưng bên cạnh đó, các hoạt động văn hoám văn nghệ, thể thao cũng diễn ra với sự đông vui không kém. Đến Đồng Kỵ vào ngày hội khách thập phương sẽ được nghe các liền anh liền chị của làng hát Quan họ trên thuyền cả ngày mồng 4, và sang các buổi sáng của ngày mồng 5, 6. Đây cũng là dịp để đội Tuồng của làng được thoả sức biểu diễn phục vụ bà con. Các vở Tuồng thường được tổ chức ngay trong sân đình, tối nào sân khấu của làng cũng sáng đèn, có khi buổi chiều cũng có tiếng trống Tuồng vang lên như giục giã mọi người đến xem. Đặc biệt, cả hát Quan họ và các tích Tuồng cổ đều do các nghệ nhân trong làng thể hiện. Giải Vật cổ truyền cũng thu hút sự quan tâm của hàng chục đô vật từ các tỉnh trong nước về tranh tài; các môn bóng chuyền, Cầu lông, Cờ tướng, Chọi gà… đã thể hiện những nét văn hoá lành mạnh trong ngày hội của làng Đồng Kỵ Lễ rước pháo là một trong những nét văn hóa đặc trưng nhất trong ngày hội làng Đồng Kỵ

(lehoi.info)- Đồng Kỵ là một làng của xã Đồng Quang, thuộc thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Hội làng Đồng Kỵ diễn ra vào ngày mồng 4 tháng Giêng âm lịch hàng năm. Tuy chỉ là một lễ hội nhỏ thế nhưng Hội làng Đồng Kỹ vẫn thu hút được rất nhiều người dân quanh vùng cũng như đông đảo khách thập phương đến xem hội, bởi hội đã duy trì được nét truyền thống đặc sắc. Trước kia lễ hội này được tổ chức hàng tuần nhưng mấy năm trở lại đây lễ hội đã rút gọn lại và chỉ tổ chức 11 ngày vào ngày mồng 4 tháng Giêng Âm lịch.

Hội làng Đồng Kỵ tại Bắc Ninh

Hội rước pháo làng Đồng Kỵ được xem là hoạt động tiêu biểu nhất mà bà con làng nghề vốn được cho là giàu có nhất vùng Kinh Bắc còn gìn giữ được cho đến ngày hôm nay. Đây cũng là một nghi thức truyền thống vẫn được nhiều người dân chờ đợi nhất của lễ hội. Hội thi làm pháo và đốt pháo trong lễ hội Đồng Kỵ là để tưởng nhớ và tái hiện lại không khí ngày Thánh Thiên Cương - một vị tướng sau này đã được người dân nơi đây tôn thờ làm thành hoàng làng, đã ra lệnh xuất quân đánh giặc. Lễ hội thực chất được bắt đầu từ ngày mồng 3.Từ sáng sớm ngày mồng 3 tháng Giêng, người dân đã cử hành nghi lễ rước thỉnh Đức Thánh Thiên Cương lên Đền Trung. Lễ rước pháp trong ngày Hội làng Đồng Kỵ tại Bắc Ninh Lễ rước pháo là một trong những nét văn hóa đặc trưng nhất trong ngày hội làng Đồng Kỵ. Khâu chuẩn bị cho Lễ rước pháo đã được người dân chuẩn bị từ sáng sớm ngày mồng 4 nhưng phải chờ đến lúc đúng 9 giờ sáng, hai quả pháo lớn mới được các thanh niên trai tráng của làng rước từ nhà ông đám trưởng (Trưởng Ban Khánh tiết) về đình cùng đoàn tế hàng trăm người trước sự chứng kiến và sự thích thú của hàng nghìn khách thập phương. Hội Đồng Kỵ thu hút khách thập phương bởi tục rước pháo nhưng bên cạnh đó, các hoạt động văn hoám văn nghệ, thể thao cũng diễn ra với sự đông vui không kém. Đến Đồng Kỵ vào ngày hội khách thập phương sẽ được nghe các liền anh liền chị của làng hát Quan họ trên thuyền cả ngày mồng 4, và sang các buổi sáng của ngày mồng 5, 6. Đây cũng là dịp để đội Tuồng của làng được thoả sức biểu diễn phục vụ bà con. Các vở Tuồng thường được tổ chức ngay trong sân đình, tối nào sân khấu của làng cũng sáng đèn, có khi buổi chiều cũng có tiếng trống Tuồng vang lên như giục giã mọi người đến xem. Đặc biệt, cả hát Quan họ và các tích Tuồng cổ đều do các nghệ nhân trong làng thể hiện. Giải Vật cổ truyền cũng thu hút sự quan tâm của hàng chục đô vật từ các tỉnh trong nước về tranh tài; các môn bóng chuyền, Cầu lông, Cờ tướng, Chọi gà… đã thể hiện những nét văn hoá lành mạnh trong ngày hội của làng Đồng Kỵ Lễ rước pháo là một trong những nét văn hóa đặc trưng nhất trong ngày hội làng Đồng Kỵ

Related Figures

Lễ hội rước lợn làng La Phù - Hoài Đức, Hà Nội.

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 7/1- 14/1 Âm lịch (lehoi.info)- Từ ngày 7 đến ngày 14 tháng Giêng âm lịch, lễ hội rước lợn làng La Phù (huyện Hoài Đức, Hà Nội) lại được tổ chức nhằm cầu mong một năm mới an lành, làm ăn phát đạt, phú quý. Theo các vị bô lão trong làng kể lại, hội rước lợn làng La Phù được tổ chức là dịp tưởng nhớ đến ông Tĩnh Quốc, một vị Lạc tướng anh hùng của làng La Phù dưới thời Hùng Vương đã mở tiệc khao quân trước khi lên đường đánh giặc. Sau khi ông mất, dân làng đã tổ chức lễ hội để tỏ lòng biết ơn và tôn ông là Thành hoàng. Lễ rước "ông" lợn ở làng La Phù Theo thông lệ, hàng năm, mỗi xóm của làng La Phù sẽ chọn một gia đình đăng cai nuôi lợn và sửa tế lễ với điều kiện gia đình đó phải thuận hòa, êm ấm, khá giả, không có tang ma, ăn ở phúc đức, con cái thành đạt. "Ông” lợn được dâng tế phải là loại lợn giống to, khỏe mạnh, được nuôi rất sạch sẽ, khi nuôi phải rửa chuồng, tắm hàng ngày, nóng được quạt mát, lạnh được sưởi ấm. Trước khi tế lễ, ông lợn sẽ được ăn cháo gạo, bảo đảm chay tịnh. Sau một năm chăm sóc cẩn thận, mỗi "ông" lợn thường có trọng lượng hơn 200 kg, nặng nhất là 280 kg. "Ông" lợn sẽ được mổ cầu kỳ và trang trí thật đẹp trước khi đưa lên kiệu Khi làm lễ, "ông" lợn được mổ cầu kỳ, làm lông sạch sẽ và đưa lên kiệu để trang trí thật đẹp. Người dân trong làng thường dùng hai lá mỡ kéo ra phủ kín tấm lưng, gắn thêm hoa, tai, mắt bằng giấy. Sau khi hoàn tất việc sắp lễ, các đoàn tế sẽ rước "ông lợn" vào đình. Phía trước, phía sau kiệu lợn là tán lọng, cờ hoa, mâm ngũ quả, còn đi hai bên là nhóm trai đinh chưa vợ làm nhiệm vụ khênh kiệu. Trong lễ rước lợn, tiếng nhạc phường bát âm, tiếng chiêng, trống rộn ràng khắp nẻo đường. Sau khi đến đình, dân làng làm lễ dâng hương tỏ lòng thành kính với Thành hoàng. Khi đồng hồ điểm sang giờ ngày hôm sau thì lễ tế mới bắt đầu. Làm tế lễ xong, "ông lợn" sẽ được chia cho từng hộ trong xóm ăn để lấy may. Biểu diễn trống hội trong ngày lễ Trải qua bề dày lịch sử, Lễ hội rước lợn ở làng La Phù vẫn tồn tại và giữ được những nét văn hóa truyền thống đặc sắc. Đây cũng là cách con cháu thể hiện lòng hiếu kính với tổ tiên và tri ân với các bậc tiền bối đã có công bảo vệ xóm làng.

(lehoi.info)- Từ ngày 7 đến ngày 14 tháng Giêng âm lịch, lễ hội rước lợn làng La Phù (huyện Hoài Đức, Hà Nội) lại được tổ chức nhằm cầu mong một năm mới an lành, làm ăn phát đạt, phú quý.

Theo các vị bô lão trong làng kể lại, hội rước lợn làng La Phù được tổ chức là dịp tưởng nhớ đến ông Tĩnh Quốc, một vị Lạc tướng anh hùng của làng La Phù dưới thời Hùng Vương đã mở tiệc khao quân trước khi lên đường đánh giặc. Sau khi ông mất, dân làng đã tổ chức lễ hội để tỏ lòng biết ơn và tôn ông là Thành hoàng. Lễ rước "ông" lợn ở làng La Phù Theo thông lệ, hàng năm, mỗi xóm của làng La Phù sẽ chọn một gia đình đăng cai nuôi lợn và sửa tế lễ với điều kiện gia đình đó phải thuận hòa, êm ấm, khá giả, không có tang ma, ăn ở phúc đức, con cái thành đạt. "Ông” lợn được dâng tế phải là loại lợn giống to, khỏe mạnh, được nuôi rất sạch sẽ, khi nuôi phải rửa chuồng, tắm hàng ngày, nóng được quạt mát, lạnh được sưởi ấm. Trước khi tế lễ, ông lợn sẽ được ăn cháo gạo, bảo đảm chay tịnh. Sau một năm chăm sóc cẩn thận, mỗi "ông" lợn thường có trọng lượng hơn 200 kg, nặng nhất là 280 kg. "Ông" lợn sẽ được mổ cầu kỳ và trang trí thật đẹp trước khi đưa lên kiệu Khi làm lễ, "ông" lợn được mổ cầu kỳ, làm lông sạch sẽ và đưa lên kiệu để trang trí thật đẹp. Người dân trong làng thường dùng hai lá mỡ kéo ra phủ kín tấm lưng, gắn thêm hoa, tai, mắt bằng giấy. Sau khi hoàn tất việc sắp lễ, các đoàn tế sẽ rước "ông lợn" vào đình. Phía trước, phía sau kiệu lợn là tán lọng, cờ hoa, mâm ngũ quả, còn đi hai bên là nhóm trai đinh chưa vợ làm nhiệm vụ khênh kiệu. Trong lễ rước lợn, tiếng nhạc phường bát âm, tiếng chiêng, trống rộn ràng khắp nẻo đường. Sau khi đến đình, dân làng làm lễ dâng hương tỏ lòng thành kính với Thành hoàng. Khi đồng hồ điểm sang giờ ngày hôm sau thì lễ tế mới bắt đầu. Làm tế lễ xong, "ông lợn" sẽ được chia cho từng hộ trong xóm ăn để lấy may. Biểu diễn trống hội trong ngày lễ Trải qua bề dày lịch sử, Lễ hội rước lợn ở làng La Phù vẫn tồn tại và giữ được những nét văn hóa truyền thống đặc sắc. Đây cũng là cách con cháu thể hiện lòng hiếu kính với tổ tiên và tri ân với các bậc tiền bối đã có công bảo vệ xóm làng.

Related Figures

Lễ hội Thuỷ tổ quan họ làng Viêm Xá

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 6/2- 7/2 Âm lịch Lễ hội đền Vua Bà được coi là lễ hội lớn nhất và quan trọng nhất của người dân làng Viêm Xá, xã Hoà Long, huyện Yên Phong , tỉnh Bắc Ninh. Lễ hội này thường được tổ chức vào hai ngày mồng 6 và mồng 7 tháng hai âm lịch hàng năm. Hội đền Vua Bà còn là ngày hội Quan họ duy nhất của vùng Quan họ, bởi vì đây là lễ hội Thuỷ tổ của làn điệu Quan họ. Mọi hoạt động trong lễ hội đều có liên quan trực tiếp với nghệ thuật Quan họ và vị thần được người dân rước trọng trong ngày hội chính là Đức Vua Bà - người được xem là Thuỷ tổ Quan họ. Lễ hội Thuỷ tổ quan họ làng Viêm Xá tại Bắc Ninh Tục truyền rằng, vào ngày mùng 6 tháng giêng là ngày Đức Vua Bà được thiên đình giáng xuống ấp Viêm Trang (chính là làng Viêm Xá ngày nay). Bà là công chúa của vua Hùng Vương. Khi bà sắp đến tuổi cập kê, có rất nhiều trai tráng đến cầu hôn. Vua cha vì muốn kén được rể tài nên đã tổ chức hội cướp cầu để tuyển chọn phò mã quý. Tuy nhiên, Đức Vua Bà đã không ưng thuận lấy người thắng cuộc mà xin với vua cha để bà được đi chu du trong nước. Sau khi được vua cha đồng ý, bà cùng các thị nữ khăn gói rời thành nhưng vừa rời khỏi kinh thành không xa thì gặp cơn giông mưa to, gió lớn đã cuốn cả đoàn người của công chúa lên trời, sau đó lại giáng xuống ấp Viêm Trang. Viêm Trang khi đó chỉ là một vùng đất hoang, cây lau sậy, cây đước mọc um tùm, rậm rạp. Bà đã cho khai hoang vùng đất này và lập lên đồng ruộng, từ đó lập nên làng xóm. Bà là người đã dạy người dân nơi đây cách làm nông, trồng dâu nuôi tằm và trồng mía kéo mật. Đức Vua Bà còn sáng tác ra nhiều bài ca và truyền dạy cho các nam thanh nữ tú hát. Sau khi Bà qua đời, người dân nơi đây đã lập đền thờ và tôn vinh bà là Đức Vương Mẫu, Vua bà- Thủy tổ của lối hát Quan họ, và tôn là thành hoàng của làng. Làng Viêm Xá được xem là cái nôi của làn điệu Quan họ Bắc Ninh] Ngày chính của hội Thủy tổ là ngày mồng 6, nhưng từ chiều ngày mồng 5, dân làng đã tiến hành lễ mở cửa đền để dâng hương, và tiến hành lễ cầu mưa rửa đền. Người làng Viêm Xá có niềm tin rằng lễ cầu mưa rửa đền rất linh nghiệm. Quả thực, đêm ngày mồng 5, rạng ngày mồng 6 có ít năm không có mưa. Sáng hôm sau khi đám rước Vua Bà bắt đầu khởi hành, cũng là lúc bầu trời tạnh ráo. Lễ tế thần được thực hiện vào sáng ngày mồng 6, còn có hát Quan họ để ca ngợi công lao của Đứa Vua Bà, cầu Đức Vua Bà phù hộ cho mưa thuận gió hoà để cây cối được tốt tươi, mùa màng bội thu. Hát thờ ở hội đền Vua Bà các nghệ nhân chỉ được hát giọng La rằng (làng Viêm Xá gọi là giọng A rằng). Về sau dân làng còn dựng thêm các diễn sự tích Vua Bà ở ngoài trời. Trong diễn tích có các những câu thuộc giọng lẻ, giọng vặt có nội dung giao duyên nam nữ. Các liền anh liền chị hát giao duyên trong ngày hội

Lễ hội đền Vua Bà được coi là lễ hội lớn nhất và quan trọng nhất của người dân làng Viêm Xá, xã Hoà Long, huyện Yên Phong , tỉnh Bắc Ninh. Lễ hội này thường được tổ chức vào hai ngày mồng 6 và mồng 7 tháng hai âm lịch hàng năm. Hội đền Vua Bà còn là ngày hội Quan họ duy nhất của vùng Quan họ, bởi vì đây là lễ hội Thuỷ tổ của làn điệu Quan họ. Mọi hoạt động trong lễ hội đều có liên quan trực tiếp với nghệ thuật Quan họ và vị thần được người dân rước trọng trong ngày hội chính là Đức Vua Bà - người được xem là Thuỷ tổ Quan họ.

Lễ hội Thuỷ tổ quan họ làng Viêm Xá tại Bắc Ninh

Tục truyền rằng, vào ngày mùng 6 tháng giêng là ngày Đức Vua Bà được thiên đình giáng xuống ấp Viêm Trang (chính là làng Viêm Xá ngày nay). Bà là công chúa của vua Hùng Vương. Khi bà sắp đến tuổi cập kê, có rất nhiều trai tráng đến cầu hôn. Vua cha vì muốn kén được rể tài nên đã tổ chức hội cướp cầu để tuyển chọn phò mã quý. Tuy nhiên, Đức Vua Bà đã không ưng thuận lấy người thắng cuộc mà xin với vua cha để bà được đi chu du trong nước. Sau khi được vua cha đồng ý, bà cùng các thị nữ khăn gói rời thành nhưng vừa rời khỏi kinh thành không xa thì gặp cơn giông mưa to, gió lớn đã cuốn cả đoàn người của công chúa lên trời, sau đó lại giáng xuống ấp Viêm Trang. Viêm Trang khi đó chỉ là một vùng đất hoang, cây lau sậy, cây đước mọc um tùm, rậm rạp. Bà đã cho khai hoang vùng đất này và lập lên đồng ruộng, từ đó lập nên làng xóm. Bà là người đã dạy người dân nơi đây cách làm nông, trồng dâu nuôi tằm và trồng mía kéo mật. Đức Vua Bà còn sáng tác ra nhiều bài ca và truyền dạy cho các nam thanh nữ tú hát. Sau khi Bà qua đời, người dân nơi đây đã lập đền thờ và tôn vinh bà là Đức Vương Mẫu, Vua bà- Thủy tổ của lối hát Quan họ, và tôn là thành hoàng của làng. Làng Viêm Xá được xem là cái nôi của làn điệu Quan họ Bắc Ninh] Ngày chính của hội Thủy tổ là ngày mồng 6, nhưng từ chiều ngày mồng 5, dân làng đã tiến hành lễ mở cửa đền để dâng hương, và tiến hành lễ cầu mưa rửa đền. Người làng Viêm Xá có niềm tin rằng lễ cầu mưa rửa đền rất linh nghiệm. Quả thực, đêm ngày mồng 5, rạng ngày mồng 6 có ít năm không có mưa. Sáng hôm sau khi đám rước Vua Bà bắt đầu khởi hành, cũng là lúc bầu trời tạnh ráo. Lễ tế thần được thực hiện vào sáng ngày mồng 6, còn có hát Quan họ để ca ngợi công lao của Đứa Vua Bà, cầu Đức Vua Bà phù hộ cho mưa thuận gió hoà để cây cối được tốt tươi, mùa màng bội thu. Hát thờ ở hội đền Vua Bà các nghệ nhân chỉ được hát giọng La rằng (làng Viêm Xá gọi là giọng A rằng). Về sau dân làng còn dựng thêm các diễn sự tích Vua Bà ở ngoài trời. Trong diễn tích có các những câu thuộc giọng lẻ, giọng vặt có nội dung giao duyên nam nữ. Các liền anh liền chị hát giao duyên trong ngày hội

Related Figures

Zù xu - Lễ cúng họ của người Hmông Suối Giàng

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 17/9- 19/9 Âm lịch Trong các sinh hoạt tín ngưỡng của người Hmông Si tại xã Suối Giàng Văn Chấn Yên Bái, lễ cúng họ "Zù xu" là một trong những lễ cúng chung, cúng tập thể của cả dòng họ lễ cúng thể hiện một tinh thần đoàn kết, tương trợ và giúp đỡ lẫn nhau giữa những người cùng dòng họ, cùng huyết thống để cùng nhau xây dựng nên một cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn với những khát vọng của một dân tộc giàu truyền thống văn hóa. Lễ "Zù xu" được người dân tổ chức thường xuyên hàng năm, còn tùy thuộc vào mỗi dòng họ và những điều kiêng kỵ mà những dòng họ người Hmông Si của xã Suối Giàng sẽ có những ngày tổ chức nghi lễ khác nhau. Lễ cúng họ của người Hmông Suối Giàng Lễ “Zù xu” là lễ cúng cầu xin các thần linh phù hộ và che chở cho các gia đình trong dòng hộ luôn gặp được nhiều may mắn trong cuộc sống, anh em con cháu không bị ốm đau, bệnh tật, không gặp phải những tai ương mất mùa và những tai nạn trong lao động sản xuât… Cầu xin tổ tiên ban cho mùa màng của anh em con cháu họ hàng trong dòng họ luôn được tươi tôt, thóc ngô đầy nhà. Lễ cúng họ cầu xin thần linh phù hộ cho dòng họ một năm được mưa thuận gió hòa, gặp nhiều điều may mắn, tránh được tai ương… Ngày nay, dòng họ Giàng, Sùng tổ chức lễ cúng “Zù xu” vào ngày 17 hoặc 19 tháng 9 âm lịch, dòng họ Vàng, Trang thì tổ chức vào ngày 27 tháng 7 âm lịch…ngày tổ chức nghi lễ sẽ phụ thuộc vào những ngày kiêng kị của mỗi dòng họ mà đồng bào không thể thay thế vào những ngày khác. Địa điểm tổ chức lễ cúng cũng được thay đổi luân phiên lần lượt theo từng năm, ở đây mỗi một gia đình trong dòng họ sẽ được đứng ra tổ chức nghi lễ một lần và theo chu kỳ tuần tự từ nhà này sang nhà khác. Theo quan niệm của những người Hmông nơi đây, việc tổ chức lễ cúng "Zù xu " như vậy thì các gia đình mới có điều kiện để thể hiện lòng thành của gia đình mình đối với thần linh, tổ tiên thông qua việc trang trải và chi phí mọi lễ vật dâng cúng trong ngày diễn ra nghi lễ. Trong việc tổ chức lễ cúng "Zù xu", đến lượt gia đình nào được vinh dự tổ chức nghi lễ thì gia đình đó sẽ phải tự lo liệu toàn bộ các chi phí từ đồ dâng cúng, lễ vật cho đến thực phẩm thiết đãi toàn bộ dòng họ trong ngày lễ đó, anh em trong dòng họ đi dự lễ thì không phải đóng góp bất kỳ thứ gì mà mỗi người chỉ cần mang theo một chai rượu để làm lễ vật dâng cúng của gia đình. Lễ vật chính trong lễ cúng họ " Zù xu " là thịt lợn, gia đình nơ tổ chức lễ cúng cần phải chuẩn bị thực phẩm và lễ vật dâng cúng từ trước, gia chủ phải sắp sẵn một con lợn khoảng từ 50 đến 70 kg gọi là lợn " Zù xu" để tổ chức nghi lễ cúng, ngoài việc được dùng làm lợn " Zù xu" thì con lơn này còn được dùng làm thực phẩm thiết đãi anh em trong dòng họ và dành một phần để trả công cho thầy cúng và những người giúp việc cho gia đình. Mọi công việc chuẩn bị như trang trí nhà cửa, bài trí bàn thờ và mổ lợn cúng đều được tiến hành từ ngày hôm trước. Trong ngày diễn ra lễ chính thức, theo truyền thống, đồng bào Hmông nơi đây phải kiêng máu và những việc liên quan đến tiết động vật, bởi lễ " Zù xu " là ngày lễ cầu cho sự may mắn. cầu cho tai qua nạn khỏi, nên nếu nhìn thấy máu thì những điều xấu xa, những điều không may mắn vẫn còn quanh quẩn làm hại mọi người anh em trong dòng họ. Lễ cúng "Zù Xu" chính thức sẽ được tổ chức vào buổi sáng, lễ cúng sẽ kéo dài và kết thúc vào buổi trưa. Trong ngày lễ, mọi gia đình đều phải tập trung tại nhà của gia chủ. Cùng với việc mang theo 1 chai rượu thể hiện tấm lòng, từ ngày hôm trước mỗi gia đình sẽ vào chọn và chặt 3 cành cây chè vè (lấy phần ngọn dài 40cm), đồng thời dùng 3 loại chỉ trắng - đen - đỏ buộc vào ngọn của cây chè vè và mang tới nhà gia đình chủ lễ. Theo người dân ở đây, cây chè vè được dùng để xua đuổi tà ma đồng thời cũng được dùng để đón những điều tốt đẹp và may mắn. Trong ngày lễ cúng "Zù xu" để trang hoàng cho lễ cúng, gia chủ sẽ vào rừng chặt một cây "Zàng" cao từ 1,5 đến 2m và lấy phần ngọn của cây mang về chôn chính giữa ngôi nhà, mọi cành chè vè sẽ buộc chỉ 3 màu của các gia đình trong dòng họ đều được treo lên trên thân cây "Zàng". Đồng bào Hmông ở đây họ quan niệm rằng cây "Zàng " cùng với cây chè vè có tác dụng trừ tà, buộc chung cây "Zàng" với các cành cây chè vè trong ngày lễ sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp xua tan được mọi điều xấu xa. Lễ cúng chính thức sẽ được tổ chức ở hai nơi, nơi thứ nhất thầy cúng sẽ mặc trang phục truyền thống cầm cây hương cúng khấn trước cây "Zàng", lời cúng có đại ý là cầu xin thần linh phù hộ cho dòng họ một năm có được mưa thuận gió hòa, các gia đình trong dòng có được một năm gặp được nhiều may mắn và tránh được nhứng tai ương… Nơi cúng lễ “Zù xu” tiếp theo được tiến hành ngay sau khi kết thúc lễ cúng ở trong nhà, thầy cúng sẽ nhổ cây "Zàng" mang ra cửa chính và đi vòng ra phía sau nhà theo hướng tay phải để làm nghi thức xua đuổi tà ma cho cả dòng họ. Tất cả anh em con cháu đều phải theo thầy cúng đi ra phía sau nhà, thầy cúng phụ sẽ phải mang theo một con dao và một cây nỏ để thực hiện các hành động xua đuổi tà ma và xua đuổi những điều xấu. Sau đó, cây "Zàng" lại được mang chôn vào chính giữa ngôi nhà và sau đó thầy cúng lại tiếp tục cúng trong khoảng 30' với nội dung giống như lần trước, cầu xin thần linh bảo vệ cho cả dòng họ thoát hẳn khỏi sự quấy phá của ma tà. Bữa cơm của người Hmông Suối Giàng trong lễ cúng "Zù Xu" Sau khi kết thúc lễ cúng, thầy cúng sẽ dùng một con dao chặt đôi bó chè vè và cho anh em con cháu trong dòng họ mang đi vứt thật xa ngôi nhà của gia chủ. Đồng bào người Hmông tin rằng, ai càng mang vứt đi xa thì người đó và gia đình của họ càng gặp nhiều may mắn hơn. Sau khi bó chè vè được chặt làm đôi được vứt bỏ, thì thầy cúng phụ sẽ dùng cây nỏ bắn lên trời 3 mũi tên để xua đuổi tà ma, không cho về làm hại các gia đình cho dù ở trên không trung hay dưới đất. Lễ cúng "Zù xu" là một nghi lễ vô cùng đặc sắc và hết sức độc đáo của người Hmông Si Suối Giàng, lễ hội tích hợp được nhiều yếu tố văn hóa bản địa và thấm đượm các giá trị nhân văn, qua đó, cũng góp phần tăng cường tình đoàn kết, tương trợ lẫn nhau giữa các gia đình trong dòng họ để cùng chung tay cộng sức xây dựng đời sống ngày càng hạnh phúc, ấm no./. Theo yenbai.gov.vn

Related Figures

Lễ hội Miếu Bà

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 16/10- 18/10 Âm lịch (lehoi.info) Hàng năm, lễ hội Miếu Bà được tổ chức từ 3 ngày từ ngày 16 đến ngày 18 tháng 10 Âm lịch tại khu di tích Miếu Bà ngũ hành tọa lạc trên đường Hoàng Hoa Thám, thành phố Vũng Tàu. Miếu Bà Ngũ Hành nằm bên trái so với di tích Đình Thắng Tam, được Ngư dân nơi đây lập nên để thờ cúng 5 bà Nữ thần là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ cùng Thiên Y Ana và Thủy Long Thần Nữ. Nhân dân Vũng Tàu gọi đó là 7 Bà. Cổng vào Miếu Bà tại Bà Rịa - Vũng Tàu/div> Miếu Bà Ngũ Hành được xây dựng từ năm 1832. Từ năm 1845-1846, đã được vua Thiệu Trị tặng cấp 4 đạo sắc Thiên Y A Na Diễn Ngọc Phi Thượng Đẳng Thần. Được Vua Tự Đức tặng đạo sắc cấp 2 Thiên Y A Na Thần Nữ Thượng Đẳng Thần và sau đó được tặng Thủy Long Thần Nữ thượng đẳng thần vào năm 1850. Lễ hội Miếu Bà tại Bà Rịa - Vũng Tàu diễn ra từ ngày 16 đến 18 tháng 10 âm lịch Hội viên Miếu Bà chỉ dành riêng cho nữ giới, banh điều hành cũng là do nữ giới phụ trách. Miếu Bà được tổ chức và hoạt động bởi tổ chức gồm 160 hội viên toàn là nữ. Các hội viên được bầu vào ban quản lý sẽ có trách nhiệm quản lý và điều hành mọi hoạt động của miếu. Lễ hội Miếu Bà diễn ra với không khí sôi động và linh đình: có lễ rước cờ, lọng, rượu hoa quả, Ngũ sự, kiệu nghinh Bà, múa Mâm Vàng, chiêng trống, nhạc bát âm, mâm Bạc, múa lân, Bóng Rỗi, Thỉnh sắc, Lễ nghinh Thần, tế lễ, Lễ Xây Chầu “trình tuồng, hát bội” và các trò chơi dân gian khác. Vốn đã có tiếng hiển linh nên trong những ngày hội Miếu Bà thường thu hút một lượng lớn du khách từ khắp các nơi đổ về hành hương và dâng lễ lên các Bà Thần. Đội làm lễ bên trong Miếu Bà Bài viết về Bà Rịa - Vũng Tàu liên quan Festival biển Bà Rịa - Vũng Tàu 2018 trở lại sau 12 năm vắng bóng Festival biển Bà Rịa - Vũng Tàu 2018 với chủ đề "Liên kết các tỉnh, thành phố biển Việt Nam - Phát triển bền vững thương mại - du lịch và kinh tế biển" diễn ra trong 7 ngày từ 28/8-3/9/2018, tại khu vực... Lễ hội Unrealland - Happy New Year 2018 - Vung Tau beach Lễ hội Unrealland - Happy New Year 2018 - Vung Tau beach (UHV 2018) là sự kiện giải trí bãi biển kết hợp giữa âm nhạc, ẩm thực và du lịch được tổ chức ngày 30-31/12/2017 và 1/1/2018 tại Khu du lịch... Lễ vía bà Phi Yến tại Côn Đảo Lễ giỗ bà Phi Yến được tổ chức ngày 17-18/10 âm lịch hàng năm. Lễ giỗ bà là hoạt động văn hóa có ý nghĩa đặc biệt với người dân Côn Đảo. Theo truyền thuyết, bà Phi Yến là người phụ nữ trung trinh tiết... Bà Rịa Vũng Tàu rực rỡ ngày khai mạc Festival Diều Ngày 8/4, Festival Diều quốc tế lần 3 - 2011 đã chính thức khai mạc tại Intourco Resort, Bà Rịa - Vũng Tàu. Triển lãm diều của 30 đội diều đến từ hơn 20 quốc gia và vùng lãnh... Lễ Hội Dinh Cô tại Long Điền tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Lễ hội Dinh Cô được tổ chức trong 3 ngày, kể từ ngày mồng 10 cho đến hết ngày 12 tháng 2 âm lịch hàng năm, tại thị trấn Long Hải thuộc huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Dinh Cố là một ngôi... Dư âm Lễ hội ẩm thực văn hoá thế giới Bà Rịa - Vũng Tàu 2010 (lehoi.org) - Lễ hội văn hóa ẩm thực thế giới 2010 được tổ chức trên chiều dài 3km đường Thùy Vân, Bà rịa -Vũng Tàu với chủ đề "Nếm cả thế giới", đã thu hút hàng vạn... Lễ hội Nghinh Ông đình Thắng Tam ở Bà Rịa - Vũng Tàu (lehoi.org) - Tháng 8 âm lịch hàng năm, trên địa bàn tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu người dân ở các làng cá đều tổ chức Lễ hội Nghinh Ông nhưng nổi bật nhất là Lễ hội Lăng Ông - đình Thắng Tam. Lễ hội Nghinh Ông... Tưng bừng Lễ rước cá Ông tại Vũng Tàu (lehoi.org)- Ngày 1/10, hàng chục nghìn người dân địa phương và du khách các tỉnh lân cận đã đổ về phường 2, thành phố Vũng Tàu để tham dự Lễ rước cá Ông - một nghi lễ quan trọng... Bà Rịa – Vũng Tàu khai hội Văn hóa – Du lịch với chủ đề “Qua miền di sản” (lehoi.org)- Lễ hội Văn hóa - Du lịch tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu lần thứ 8 với chủ đề “Qua miền di sản” đã chính thức khai hội tại Trung tâm Hành chính- Chính trị tỉnh... Lễ Hội Trùng Cửu cầu an lành tại Bà Rịa - Vũng Tàu Lễ hội Trùng Cửu thường được diễn ra vào ngày mùng 9 tháng 9 âm lịch hàng năm, được tổ chức tại Nhà Lớn Long Sơn đây là một lễ hội cầu an lành, là lễ hội cầu cho vạn dân bá tánh luôn được khoẻ mạnh và... Sôi động Lễ hội Dinh Cô 2010 tại Bà Rịa – Vũng Tàu (lehoi.org) - Năm nay, vào ngày 25/3 (tức 10/2 âm lịch năm Canh Dần), Uỷ ban nhân dân huyện Long Điền đã long trọng tổ chức Lễ hội Dinh Cô 2010 tại khu di tích văn hoá Dinh Cô, thị... Festival quà tặng Việt Nam lần thứ nhất sẽ được tổ chức tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (lehoi.org) - Theo như kế hoạch, thì Festival quà tặng Việt Nam lần thứ nhất sẽ được diễn ra từ ngày 17 đến ngày 21 tháng 11, tại khu vực Bãi Sau, thành phố Vũng Tàu. Ban tổ chức dự kiến sẽ thu hút được... Giao lưu văn hoá Việt - Thái trong lễ hội hoa đăng Loykathong Thái Lan Trong khuôn khổ lễ hội hoa đăng Loykathong ở tỉnh Roi-Et, đất nước Thái Lan, Cơ quan đại diện Bộ VHTTDL tại phía Nam và Đoàn nghệ thuật tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu bao gồm 29 thành viên đã tham gia vào các hoạt... Bà Rịa – Vũng Tàu: Nâng cấp Lễ hội Nghinh Ông thành một lễ hội lớn trong năm 2011 (lehoi.org) - Theo kết luận của Ủy ban nhân dân tỉnh tại cuộc họp thông qua các sự kiện văn hóa, thể thao và du lịch trong năm 2011 vào đầu tháng 11 vừa qua, sẽ có 9 sự kiện văn hóa, thể thao và du lịch... Khẩn trương xây dựng và triển khai kế hoạch Lễ hội đua thuyền buồm tại Bà Rịa - Vũng Tàu (lehoi.org) - Uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu vừa có văn bản yêu cầu các sở, ban, ngành liên quan phối hợp tổ chức thành công “Lễ hội đua thuyền buồm” năm 2011. Để bảo đảm cho việc tổ chức... 1 2 Tiếp Ghi chú bài viết Lễ hội Miếu Bà tại Bà Rịa - Vũng Tàu Nếu xảy ra lỗi với bài viết Lễ hội Miếu Bà tại Bà Rịa - Vũng Tàu, hoặc nội dung chưa chính xác, vui lòng liên hệ với chúng tôi để chúng tôi chỉnh sửa lại. Từ khóa: (lehoi.org) Hàng năm, lễ hội Miếu Bà được tổ chức từ 3 ngày từ ngày 16 đến ngày 18 tháng 10 Âm lịch tại khu di tích Miếu Bà ngũ hành tọa lạc trên đường...

(lehoi.info) Hàng năm, lễ hội Miếu Bà được tổ chức từ 3 ngày từ ngày 16 đến ngày 18 tháng 10 Âm lịch tại khu di tích Miếu Bà ngũ hành tọa lạc trên đường Hoàng Hoa Thám, thành phố Vũng Tàu. Miếu Bà Ngũ Hành nằm bên trái so với di tích Đình Thắng Tam, được Ngư dân nơi đây lập nên để thờ cúng 5 bà Nữ thần là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ cùng Thiên Y Ana và Thủy Long Thần Nữ. Nhân dân Vũng Tàu gọi đó là 7 Bà.

Cổng vào Miếu Bà tại Bà Rịa - Vũng Tàu/div> Miếu Bà Ngũ Hành được xây dựng từ năm 1832. Từ năm 1845-1846, đã được vua Thiệu Trị tặng cấp 4 đạo sắc Thiên Y A Na Diễn Ngọc Phi Thượng Đẳng Thần. Được Vua Tự Đức tặng đạo sắc cấp 2 Thiên Y A Na Thần Nữ Thượng Đẳng Thần và sau đó được tặng Thủy Long Thần Nữ thượng đẳng thần vào năm 1850. Lễ hội Miếu Bà tại Bà Rịa - Vũng Tàu diễn ra từ ngày 16 đến 18 tháng 10 âm lịch Hội viên Miếu Bà chỉ dành riêng cho nữ giới, banh điều hành cũng là do nữ giới phụ trách. Miếu Bà được tổ chức và hoạt động bởi tổ chức gồm 160 hội viên toàn là nữ. Các hội viên được bầu vào ban quản lý sẽ có trách nhiệm quản lý và điều hành mọi hoạt động của miếu. Lễ hội Miếu Bà diễn ra với không khí sôi động và linh đình: có lễ rước cờ, lọng, rượu hoa quả, Ngũ sự, kiệu nghinh Bà, múa Mâm Vàng, chiêng trống, nhạc bát âm, mâm Bạc, múa lân, Bóng Rỗi, Thỉnh sắc, Lễ nghinh Thần, tế lễ, Lễ Xây Chầu “trình tuồng, hát bội” và các trò chơi dân gian khác. Vốn đã có tiếng hiển linh nên trong những ngày hội Miếu Bà thường thu hút một lượng lớn du khách từ khắp các nơi đổ về hành hương và dâng lễ lên các Bà Thần. Đội làm lễ bên trong Miếu Bà

Miếu Bà Ngũ Hành được xây dựng từ năm 1832. Từ năm 1845-1846, đã được vua Thiệu Trị tặng cấp 4 đạo sắc Thiên Y A Na Diễn Ngọc Phi Thượng Đẳng Thần. Được Vua Tự Đức tặng đạo sắc cấp 2 Thiên Y A Na Thần Nữ Thượng Đẳng Thần và sau đó được tặng Thủy Long Thần Nữ thượng đẳng thần vào năm 1850. Lễ hội Miếu Bà tại Bà Rịa - Vũng Tàu diễn ra từ ngày 16 đến 18 tháng 10 âm lịch Hội viên Miếu Bà chỉ dành riêng cho nữ giới, banh điều hành cũng là do nữ giới phụ trách. Miếu Bà được tổ chức và hoạt động bởi tổ chức gồm 160 hội viên toàn là nữ. Các hội viên được bầu vào ban quản lý sẽ có trách nhiệm quản lý và điều hành mọi hoạt động của miếu. Lễ hội Miếu Bà diễn ra với không khí sôi động và linh đình: có lễ rước cờ, lọng, rượu hoa quả, Ngũ sự, kiệu nghinh Bà, múa Mâm Vàng, chiêng trống, nhạc bát âm, mâm Bạc, múa lân, Bóng Rỗi, Thỉnh sắc, Lễ nghinh Thần, tế lễ, Lễ Xây Chầu “trình tuồng, hát bội” và các trò chơi dân gian khác. Vốn đã có tiếng hiển linh nên trong những ngày hội Miếu Bà thường thu hút một lượng lớn du khách từ khắp các nơi đổ về hành hương và dâng lễ lên các Bà Thần. Đội làm lễ bên trong Miếu Bà

Miếu Bà Ngũ Hành được xây dựng từ năm 1832. Từ năm 1845-1846, đã được vua Thiệu Trị tặng cấp 4 đạo sắc Thiên Y A Na Diễn Ngọc Phi Thượng Đẳng Thần. Được Vua Tự Đức tặng đạo sắc cấp 2 Thiên Y A Na Thần Nữ Thượng Đẳng Thần và sau đó được tặng Thủy Long Thần Nữ thượng đẳng thần vào năm 1850.

Lễ hội Miếu Bà tại Bà Rịa - Vũng Tàu diễn ra từ ngày 16 đến 18 tháng 10 âm lịch

Hội viên Miếu Bà chỉ dành riêng cho nữ giới, banh điều hành cũng là do nữ giới phụ trách. Miếu Bà được tổ chức và hoạt động bởi tổ chức gồm 160 hội viên toàn là nữ. Các hội viên được bầu vào ban quản lý sẽ có trách nhiệm quản lý và điều hành mọi hoạt động của miếu. Lễ hội Miếu Bà diễn ra với không khí sôi động và linh đình: có lễ rước cờ, lọng, rượu hoa quả, Ngũ sự, kiệu nghinh Bà, múa Mâm Vàng, chiêng trống, nhạc bát âm, mâm Bạc, múa lân, Bóng Rỗi, Thỉnh sắc, Lễ nghinh Thần, tế lễ, Lễ Xây Chầu “trình tuồng, hát bội” và các trò chơi dân gian khác.

Vốn đã có tiếng hiển linh nên trong những ngày hội Miếu Bà thường thu hút một lượng lớn du khách từ khắp các nơi đổ về hành hương và dâng lễ lên các Bà Thần. Đội làm lễ bên trong Miếu Bà

Festival biển Bà Rịa - Vũng Tàu 2018 trở lại sau 12 năm vắng bóng Festival biển Bà Rịa - Vũng Tàu 2018 với chủ đề "Liên kết các tỉnh, thành phố biển Việt Nam - Phát triển bền vững thương mại - du lịch và kinh tế biển" diễn ra trong 7 ngày từ 28/8-3/9/2018, tại khu vực... Lễ hội Unrealland - Happy New Year 2018 - Vung Tau beach Lễ hội Unrealland - Happy New Year 2018 - Vung Tau beach (UHV 2018) là sự kiện giải trí bãi biển kết hợp giữa âm nhạc, ẩm thực và du lịch được tổ chức ngày 30-31/12/2017 và 1/1/2018 tại Khu du lịch... Lễ vía bà Phi Yến tại Côn Đảo Lễ giỗ bà Phi Yến được tổ chức ngày 17-18/10 âm lịch hàng năm. Lễ giỗ bà là hoạt động văn hóa có ý nghĩa đặc biệt với người dân Côn Đảo. Theo truyền thuyết, bà Phi Yến là người phụ nữ trung trinh tiết... Bà Rịa Vũng Tàu rực rỡ ngày khai mạc Festival Diều Ngày 8/4, Festival Diều quốc tế lần 3 - 2011 đã chính thức khai mạc tại Intourco Resort, Bà Rịa - Vũng Tàu. Triển lãm diều của 30 đội diều đến từ hơn 20 quốc gia và vùng lãnh... Lễ Hội Dinh Cô tại Long Điền tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Lễ hội Dinh Cô được tổ chức trong 3 ngày, kể từ ngày mồng 10 cho đến hết ngày 12 tháng 2 âm lịch hàng năm, tại thị trấn Long Hải thuộc huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Dinh Cố là một ngôi... Dư âm Lễ hội ẩm thực văn hoá thế giới Bà Rịa - Vũng Tàu 2010 (lehoi.org) - Lễ hội văn hóa ẩm thực thế giới 2010 được tổ chức trên chiều dài 3km đường Thùy Vân, Bà rịa -Vũng Tàu với chủ đề "Nếm cả thế giới", đã thu hút hàng vạn... Lễ hội Nghinh Ông đình Thắng Tam ở Bà Rịa - Vũng Tàu (lehoi.org) - Tháng 8 âm lịch hàng năm, trên địa bàn tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu người dân ở các làng cá đều tổ chức Lễ hội Nghinh Ông nhưng nổi bật nhất là Lễ hội Lăng Ông - đình Thắng Tam. Lễ hội Nghinh Ông... Tưng bừng Lễ rước cá Ông tại Vũng Tàu (lehoi.org)- Ngày 1/10, hàng chục nghìn người dân địa phương và du khách các tỉnh lân cận đã đổ về phường 2, thành phố Vũng Tàu để tham dự Lễ rước cá Ông - một nghi lễ quan trọng... Bà Rịa – Vũng Tàu khai hội Văn hóa – Du lịch với chủ đề “Qua miền di sản” (lehoi.org)- Lễ hội Văn hóa - Du lịch tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu lần thứ 8 với chủ đề “Qua miền di sản” đã chính thức khai hội tại Trung tâm Hành chính- Chính trị tỉnh... Lễ Hội Trùng Cửu cầu an lành tại Bà Rịa - Vũng Tàu Lễ hội Trùng Cửu thường được diễn ra vào ngày mùng 9 tháng 9 âm lịch hàng năm, được tổ chức tại Nhà Lớn Long Sơn đây là một lễ hội cầu an lành, là lễ hội cầu cho vạn dân bá tánh luôn được khoẻ mạnh và... Sôi động Lễ hội Dinh Cô 2010 tại Bà Rịa – Vũng Tàu (lehoi.org) - Năm nay, vào ngày 25/3 (tức 10/2 âm lịch năm Canh Dần), Uỷ ban nhân dân huyện Long Điền đã long trọng tổ chức Lễ hội Dinh Cô 2010 tại khu di tích văn hoá Dinh Cô, thị... Festival quà tặng Việt Nam lần thứ nhất sẽ được tổ chức tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (lehoi.org) - Theo như kế hoạch, thì Festival quà tặng Việt Nam lần thứ nhất sẽ được diễn ra từ ngày 17 đến ngày 21 tháng 11, tại khu vực Bãi Sau, thành phố Vũng Tàu. Ban tổ chức dự kiến sẽ thu hút được... Giao lưu văn hoá Việt - Thái trong lễ hội hoa đăng Loykathong Thái Lan Trong khuôn khổ lễ hội hoa đăng Loykathong ở tỉnh Roi-Et, đất nước Thái Lan, Cơ quan đại diện Bộ VHTTDL tại phía Nam và Đoàn nghệ thuật tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu bao gồm 29 thành viên đã tham gia vào các hoạt... Bà Rịa – Vũng Tàu: Nâng cấp Lễ hội Nghinh Ông thành một lễ hội lớn trong năm 2011 (lehoi.org) - Theo kết luận của Ủy ban nhân dân tỉnh tại cuộc họp thông qua các sự kiện văn hóa, thể thao và du lịch trong năm 2011 vào đầu tháng 11 vừa qua, sẽ có 9 sự kiện văn hóa, thể thao và du lịch... Khẩn trương xây dựng và triển khai kế hoạch Lễ hội đua thuyền buồm tại Bà Rịa - Vũng Tàu (lehoi.org) - Uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu vừa có văn bản yêu cầu các sở, ban, ngành liên quan phối hợp tổ chức thành công “Lễ hội đua thuyền buồm” năm 2011. Để bảo đảm cho việc tổ chức... 1 2 Tiếp

Festival biển Bà Rịa - Vũng Tàu 2018 với chủ đề "Liên kết các tỉnh, thành phố biển Việt Nam - Phát triển bền vững thương mại - du lịch và kinh tế biển" diễn ra trong 7 ngày từ 28/8-3/9/2018, tại khu vực...

Lễ hội Unrealland - Happy New Year 2018 - Vung Tau beach (UHV 2018) là sự kiện giải trí bãi biển kết hợp giữa âm nhạc, ẩm thực và du lịch được tổ chức ngày 30-31/12/2017 và 1/1/2018 tại Khu du lịch...

Lễ giỗ bà Phi Yến được tổ chức ngày 17-18/10 âm lịch hàng năm. Lễ giỗ bà là hoạt động văn hóa có ý nghĩa đặc biệt với người dân Côn Đảo. Theo truyền thuyết, bà Phi Yến là người phụ nữ trung trinh tiết...

Ngày 8/4, Festival Diều quốc tế lần 3 - 2011 đã chính thức khai mạc tại Intourco Resort, Bà Rịa - Vũng Tàu. Triển lãm diều của 30 đội diều đến từ hơn 20 quốc gia và vùng lãnh...

Lễ hội Dinh Cô được tổ chức trong 3 ngày, kể từ ngày mồng 10 cho đến hết ngày 12 tháng 2 âm lịch hàng năm, tại thị trấn Long Hải thuộc huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Dinh Cố là một ngôi...

(lehoi.org) - Lễ hội văn hóa ẩm thực thế giới 2010 được tổ chức trên chiều dài 3km đường Thùy Vân, Bà rịa -Vũng Tàu với chủ đề "Nếm cả thế giới", đã thu hút hàng vạn...

(lehoi.org) - Tháng 8 âm lịch hàng năm, trên địa bàn tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu người dân ở các làng cá đều tổ chức Lễ hội Nghinh Ông nhưng nổi bật nhất là Lễ hội Lăng Ông - đình Thắng Tam. Lễ hội Nghinh Ông...

(lehoi.org)- Ngày 1/10, hàng chục nghìn người dân địa phương và du khách các tỉnh lân cận đã đổ về phường 2, thành phố Vũng Tàu để tham dự Lễ rước cá Ông - một nghi lễ quan trọng...

(lehoi.org)- Lễ hội Văn hóa - Du lịch tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu lần thứ 8 với chủ đề “Qua miền di sản” đã chính thức khai hội tại Trung tâm Hành chính- Chính trị tỉnh...

Lễ hội Trùng Cửu thường được diễn ra vào ngày mùng 9 tháng 9 âm lịch hàng năm, được tổ chức tại Nhà Lớn Long Sơn đây là một lễ hội cầu an lành, là lễ hội cầu cho vạn dân bá tánh luôn được khoẻ mạnh và...

(lehoi.org) - Năm nay, vào ngày 25/3 (tức 10/2 âm lịch năm Canh Dần), Uỷ ban nhân dân huyện Long Điền đã long trọng tổ chức Lễ hội Dinh Cô 2010 tại khu di tích văn hoá Dinh Cô, thị...

(lehoi.org) - Theo như kế hoạch, thì Festival quà tặng Việt Nam lần thứ nhất sẽ được diễn ra từ ngày 17 đến ngày 21 tháng 11, tại khu vực Bãi Sau, thành phố Vũng Tàu. Ban tổ chức dự kiến sẽ thu hút được...

Trong khuôn khổ lễ hội hoa đăng Loykathong ở tỉnh Roi-Et, đất nước Thái Lan, Cơ quan đại diện Bộ VHTTDL tại phía Nam và Đoàn nghệ thuật tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu bao gồm 29 thành viên đã tham gia vào các hoạt...

(lehoi.org) - Theo kết luận của Ủy ban nhân dân tỉnh tại cuộc họp thông qua các sự kiện văn hóa, thể thao và du lịch trong năm 2011 vào đầu tháng 11 vừa qua, sẽ có 9 sự kiện văn hóa, thể thao và du lịch...

(lehoi.org) - Uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu vừa có văn bản yêu cầu các sở, ban, ngành liên quan phối hợp tổ chức thành công “Lễ hội đua thuyền buồm” năm 2011. Để bảo đảm cho việc tổ chức...

1 2 Tiếp

Nếu xảy ra lỗi với bài viết Lễ hội Miếu Bà tại Bà Rịa - Vũng Tàu, hoặc nội dung chưa chính xác, vui lòng liên hệ với chúng tôi để chúng tôi chỉnh sửa lại. Từ khóa: (lehoi.org) Hàng năm, lễ hội Miếu Bà được tổ chức từ 3 ngày từ ngày 16 đến ngày 18 tháng 10 Âm lịch tại khu di tích Miếu Bà ngũ hành tọa lạc trên đường...

Related Figures

Già - ì - Xì - Mờ – Ra – Né (Lễ ăn mừng cơm mới của tộc người Xá Phó)

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/8- 15/9 Âm lịch Người Xá Phó (Phù Lá) sống ở tỉnh Yên Bái cư trú chủ yếu ở huyện Văn Yên, một số rất ít sinh sống tại các huyện Văn Chấn và Yên Bình với tập quán là canh tác lúa nương truyền thống và kỹ thuật thủ công phát nương trọc lỗ, tra hạt. Hàng năm vào 15/8- 15/9 ( Âm lịch), vào khi những bông lúa mới trên nương đang uốn cong mình thì cũng là lúc đồng bào dân tộc Xá Phó chuẩn bị cho mùa thu hoạch mới và tổ chức lễ ăn mừng cơm mới (Già - ì - xì - mờ - ra - né) để vừa cám ơn tổ tiên vừa cám ơn trời đất vì đã ban cho mưa thuận gió hoà, đạt được một mùa mới bội thu. Địa điểm tổ chức lễ Già - ì - xì - mờ - ra - né tại mỗi gia đình, tuỳ mỗi gia đình dòng họ mà đồng bào sẽ lựa chọn những ngày tổ chức, phụ thuộc vào những kiêng kị cụ thể của từng nhà, từng gia đình, dòng họ. Tuy nhiên, đồng bào kiêng tổ chức vào các ngày con Dê, con Khỉ hay những ngày sinh của bố mẹ chủ gia đình nơi tổ chức mừng cơm mới. Người Xá Phó ở đây ăn mừng cơm mới trong 3 ngày: ngày đầu tiên là ngày chuẩn bị gạo mới, ngày tiếp theo là cúng tạ ông bà tổ tiên, trời đất (đây chính là ngày tổ chức lễ chính thức) và ngày cuối cùng là tổng kết lễ ăn mừng cơm mới. Vào ngày đầu tiên, gia chủ sẽ cử một người vào nương gặt lúa vào sáng sớm tinh mơ. Người đi gặt lúa bao giờ cũng phải là người vợ chủ nhà, người luôn chăm lo các công việc “nội trợ” cho gia đình. Vào thời điểm gặt lúa, người được cử đi gặt phải phải luôn giữ cho tâm thanh tịnh, mặc bộ quần áo mới, khăn mũ mới để đi đón “hồn lúa” (theo quan niệm của người dân). Trong lúc đi đón hồn lúa mới trở về gia đình, người vợ sẽ phải kiêng không được nói chuyện, chào hỏi mọi người trong toàn quãng đường từ nhà tới nương lúa và đi thật nhanh không dừng lại từ nhà mà tới thẳng nương lúa. Để có thể gặt lúa mới, cần mang theo dụng cụ bao gồm dao (mi the), gùi đựng lúa (á tre) và hái lúa (le dị). Khi tới nương lúa, người được cử đi gặt thường sẽ chặt cây làm ám hiệu để thông báo cho những người đi nương khác biết và không được vào nương trong thời gian thực hiện các nghi thức đón hồn lúa mới theo phong tục tập quán truyền thống. Khi gặt lúa, người đi gặt phải quay mặt về hướng Đông là hướng mặt trời mọc. Chiểu theo quan niệm dân gian, giữ được hồn lúa, đón được hồn lúa về nhà để tổ chức lễ mừng cơm mới để cám ơn trời đất và cầu nguyện cho vụ mùa tới tươi tốt thì không nên để hồn lúa gặp những người ngoài vì khiến hồn lúa sợ mà đi mất hoặc không về được nhà. Hồn lúa mà không về nhà sẽ làm cho vụ mùa năm tới không còn may mắn, không tốt tươi. Cũng với quan niệm đó mà ngay cả khi gặt lúa, người vợ chủ nhà phải gặt thật nhanh chóng những bông lúa đầu tiên. Ở ba cum lúa đầu (cum - đơn vị chỉ một bó lúa của người Xá Phó) phải gặt lúa mới thật nhanh để giữ hồn lúa và các cum lúa sau có thể gặt bình thường lại và sau đó gặt thêm 6 cum lúa khác để chuẩn bị gạo tổ chức lễ mừng cơm mới. Tổng số 9 cum lúa sẽ được gặt trong ngày đầu tiên, 8 cum sẽ được mang về nhà làm lễ cúng Già - ì - xì - mờ - ra - né, một cum được để lại nương, đặt vào một vị trí cao và trang trọng nhất trong nương. Theo quan niệm dân gian đây là cum lúa giống, đồng thời cũng là cum lúa để thông báo cho thổ công thổ địa biết việc tiến hành nghi thức cúng mừng cơm mới của gia đình để thổ công thổ địa gìn giữ và phù hộ cho lúa. Sau nghi thức gặt lúa này, từ các ngày sau đó mọi người trong gia đình có thể lên gặt lúa mới bất kỳ lúc nào. Trường hợp gia đình chưa làm được lễ cúng cơm mới thì tuyệt nhiên trong gia đình không ai được vào nương, không ai được hái lúa. Lúa mới được mang về nhà, cho lên gác bếp sấy khô rồi đem giã lấy gạo. Gạo làm cơm mới không được giã quá kỹ để giữ lấy hương vị thơm ngon, tinh khiết của lúa mới. Gạo sau khi giã xong được cho vào một ống nứa mới, dựng gần bếp lửa nơi sẽ diễn ra các nghi thức của lễ mừng cơm mới. Trấu và cám của gạo mới cũng không được vứt đi. Tất cả được để riêng và dùng cho phục vụ gia súc, gia cầm sau khi nghi thức cúng cơm mới cho tổ tiên đã kết thúc. Khi gặt lúa, cả hai loại gạo nếp và tẻ được gặt về và trong lễ Già - ì - xì - mờ - ra - né hai loại cơm đó đều được xôi cúng trời đất và tổ tiên. Sang ngày thứ hai, ngày chính thức của lễ Già - ì - xì - mờ - ra - né, vào buổi sáng gia đình sẽ chuẩn bị đồ lễ, lễ vật dâng cúng như gạo để thổi xôi, mổ lợn, gà... Vào sáng sớm, người chồng phải vào rừng hái lá chuối rừng, lấy một bi chuối (hoa chuối rừng) bóc lấy phần non, kiếm thêm một chút cát vàng ven suối, hái một chùm quả cà dại (loại cà dại quả xanh nhỏ bằng đầu ngón tay). Mỗi thứ lấy một ít và chỉ được lấy một lần. Các đồ vật do người chồng vào rừng lấy sẽ đem đi rửa sạch, rồi gói riêng theo từng loại vào lá chuối rừng đặt xuống đáy chõ xôi cùng cơm mới. Theo quan niệm của đồng bào, hoa chuối tượng trưng cho sự sinh sôi nảy nở, do đó trong nghi thức cúng cơm mới luôn có hoa chuối cùng với mong muốn lúa luôn tươi tốt phát triển, lúa sẽ phát triển nhanh, mạnh, nhiều như chuối rừng, nhiều như cát và cà xanh (nhiều hạt). Lễ cúng và ăn mừng cơm mới thường được diễn ra vào buổi chiều tối, khoảng từ 7h đến 8h tối. Ngày hôm đó, gia đình chuẩn bị tất cả công việc cho lễ cúng theo cách tổ chức lễ Già - ì - xì - mờ - ra - né truyền thống. Mọi công việc từ chuẩn bị cho đến việc tiến hành các nghi thức đều phải diễn ra âm thầm, tránh tổ chức ấm ĩ, phô trương. Khách đến dự lễ thường là anh em người thân trong gia đình, dòng họ, họ có thể mời nhau tới cùng dự lễ cúng từ trước đó nhưng cũng có thể tới gần giờ tổ chức nghi lễ mới cho con cháu sang mời để tránh được sự ồn ào, náo nhiệt. Gạo tẻ và gạo nếp được ngâm từ khoảng 2 giờ đến 3 giờ chiều, tới 5h chiều dưới sự hướng dẫn của bà chủ gia đình sẽ tiến hành xôi cơm mới với hoa chuối rừng, cát vàng và quả cà dại. Gạo tẻ sẽ được xôi chín cho ra một chiếc mẹt, tiếp đó chiếc chõ tiếp tục được sử dụng ngay để xôi cơm nếp dâng cúng tổ tiên trời đất. Cơm sau khi xôi chín sẽ được cất kỹ do bà chủ nhà phụ trách để tránh trẻ em ăn cơm mới trước khi cúng tổ tiên. Chủ nhà phải chuẩn bị hai mâm cúng, cúng mừng cơm mới. Một mâm cúng tổ tiên được đặt trong nhà dưới “cửa ma” gọi là A - nẹ - na - be dùng khi cúng cám ơn tổ tiên (cửa ma là tên gọi nơi thờ tổ tiên của đồng bào Xá Phó, một miếng liếp giống như một chiếc cửa sổ nhỏ ngay vách chính giữa ngôi nhà truyền thống của đồng bào, trên đó có cắm hai chiếc lông gà). Mâm cúng được đan bằng nứa hình mắt cáo, trên đó được lót một phần đuôi của tàu lá chuối rừng (một phần tư tàu lá chuối, phần ngọn lá được quay về phía cửa ma, cuống lá chuối được xếp thẳng với bếp lửa, như vậy tàu lá được xem như dụng cụ thông quan giữa thần linh với con người trong lễ cơm mới qua hình tượng bếp lửa). Trên mâm cúng được đặt sáu chén (làm bằng ống nứa) xếp hình cung theo chiều của mâm. Hai bên mâm đặt mỗi bên ba chiếc bát (làm bằng ống nứa to) và ba đôi đũa. Trên mâm còn được bài trí một chút cơm tẻ và một chút cơm nếp mới được xôi. Hai bên mâm để một đĩa thịt gà luộc đặt bên phải và một đĩa thịt lợn luộc đặt bên trái. Hai ống nứa đựng rượu đặt hai bên cửa ma. Cát, cà xanh và hoa chuối xôi cùng cơm mới cúng được người dân bài trí lên mâm cúng cho tổ tiên cùng với những ước mong nguyện vọng của họ về một năm mới với những vụ mùa tươi tốt.Thêm một chút muối cùng với gừng giã, hai cuộn chỉ một trắng và một đen là hoàn thiện một mâm cúng đầy đủ để dâng cúng tổ tiên trong lễ Già - ì - xì - mờ - ra - né. Phía trên vách nhà, hai bên được bài trí quần áo và những đồ trang sức của phụ nữ Xá Phó được bày trong suốt thời gian gia đình tổ chức lễ Già - ì - xì - mờ - ra - né. Một mâm cúng trời đất, thiên nhiên được gia đình sắp đặt bên ngoài Thích (sàn ngoài trời nơi đây cầu thang nhà người Xá Phó), mâm cúng có tên là Mu - thiu - a - né - pư - bá. Các lễ vật trên mâm Mu thiu a né pư bá bao gồm có 6 cái bát, 6 đôi đũa và 6 chén uống rượu bằng tre, một nải chuối được đặt chính giữa, một miếng thịt lợn sống và một đĩa muối trắng. Hai bên mâm cúng có hai cây mía còn lá được đặt chạm tới đất, phần lá bên trên được uốn cong vào giữa mâm cúng. Hai thân mía đồng bào buộc hai ống đựng rượu, ở chính giữa phía sau mâm cúng là một cây chuối rừng được chặt hết phần lá còn để lại duy nhất một mầm non ở giữa. Đồng bào Xá Phó ở Yên Bái kiêng mang cây xanh vào trong nhà ở của họ vì vậy mâm cúng thiên nhiên với các lễ vật là cỏ cây hoa lá được đồng bào đặt tại Thích và tiến hành các nghi thức cúng bái tại đó. Sau khi đã chuẩn bị xong hai mâm cúng, gia chủ cho mời thầy cúng đến thay mặt gia đình tiến hành nghi thức cúng mừng cơm mới, cám ơn tổ tiên trời đất và mời tổ tiên về tham dự lễ cúng và cùng chung vui với gia đình, sau đó cúng cầu xin tổ tiên và thần thánh phù hộ cho vụ mùa năm sau. Mỗi một mâm cúng thầy cúng tiến hành trong khoảng 30 phút với ý tứ : “Hôm nay gia chủ có con gà, có bát cơm mới là lễ cúng mừng cho lúa mới đã về nhà…hồn lúa đã ở lại đây…xin mời tổ tiên…thần thánh về dự và hưởng cơm mới cùng con cháu, con cháu đã làm lễ này để cảm ơn các ma…” Nghi thức cúng ngoài trời cũng được thực hiện bởi thầy cúng với nội dung cúng tương tự. Tuy nhiên đối tượng cầu xin ở đây được xem là chính bởi trời đất và thiên nhiên mới ban cho con người mưa thuận gió hoà để mùa màng tốt tươi. Kết thúc các nghi thức cúng mừng cơm mới của thầy cúng là các nghi thức ăn mừng của gia đình do bà vợ chủ nhà thực hiện. Mâm cơm chính của lễ Già - ì - xì - mờ - ra - né được gia đình chuẩn bị từ trước mang lên đặt dưới cửa ma. Thầy cúng và những người cao tuổi sẽ được mời vào mâm này. Vợ chủ nhà cũng ngồi vào mâm chính của lễ mừng cơm mới và bắt đầu thực hiện các nghi thức. Trang phục của bà vợ phải là trang phục mới được mặc từ hôm trước đi gặt lúa (trong suốt thời gian 3 ngày của lễ cơm mới là thời gian kiêng, người vợ phải mặc nguyên một bộ áo váy mới và không được thay ra cho tới khi kết thúc 3 ngày kiêng kị). Bà vợ lấy một chiếc bát xới một bát cơm nửa tẻ, nửa nếp úp lên trên đó một miếng lá chuối mang xuống để dưới sàn của chạn đựng bát. Theo người dân, đây là một nghi thức mà người dân tin rằng sẽ đoán biết được vụ mùa năm sau. Sáng hôm sau ở bát cơm này ra, nếu thấy bát cơm ngót đi họ cho rằng sẽ phải đón chờ một vụ mùa không thuận lợi. Nếu bát cơm còn nguyên không vơi đi thì người dân vui mừng vì sẽ đón chờ một vụ mùa may mắn. Tiếp theo, người vợ lại xới một bát cơm nửa nếp, nửa tẻ, chan vào đó một chút nước “lần” (nước khe suối) dùng tay trộn đều hai loại cơm rồi dùng tay quãi cơm về phía mọi người, phía con cháu và khách tới dự lễ Già - ì - xì - mờ - ra – né. Mọi người có mặt trong lễ cúng sẽ dùng vạt áo để hứng những hạt cơm “lộc” do bà chủ nhà quãi, sau đó dùng một miếng lá chuối nhỏ đã chuẩn bị từ trước gói những hạt cơm đã hứng được mang về nhà đặt dưới bồ thóc của mình với niềm hy vọng những may mắn của một vụ mùa tới của gia chủ cũng sẽ đến với mọi gia đình. Bát cơm thứ ba của nghi thức này cũng được bà chủ nhà lấy hai loại cơm trộn đều với nước lần và đưa cho mọi người để cúng thưởng thức cơm mới và đánh giá chất lượng của gạo mới năm nay. Thầy cúng là người được thưởng thức đầu tiên và thông thường họ sẽ khen cơm ngon, dẻo hơn mọi năm. Tiếp đó là lần lượt từng người trong buổi lễ từ vai vế cao trở xuống sẽ cùng nhau thực hiện nghi thức này. Mọi người đều dùng tay để bốc và ăn thử cho tới khi hết bát cơm. Sau đó chủ nhà cho dọn những mâm cỗ đầy, với các loại rượu ngon của gia đình thiết đãi mọi người để mừng cho vụ mùa mới, mừng cho cơm mới của gia đình. Ngày thứ 3 là ngày tổng kết lễ Già - ì - xì - mờ - ra – né. Trấu, cám và những sản phẩm thừa từ việc chiết xuất gạo mới sẽ được cho gia súc gia cầm ăn. Người dân quan niệm rằng con người được ăn cơm mới thì trong ngày đó súc vật, gia cầm cúng được hưởng và họ sẽ cho vào ngày tổng kết lê Già - ì - xì - mờ - ra - né. Lễ mừng cơm mới là một nghi lễ đầy ý nghĩa và khá độc đáo của người Xá Phó. Nghi lễ thể hiện nhiều giá trị thẩm mỹ cao đẹp, giáo dục con người phải biết tôn trọng thiên nhiên. Ngày nay, người Xá Phó ở đây vẫn thường xuyên tổ chức lễ ăn mừng cơm mới, duy trì truyền thống văn hoá tốt đẹp mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Tuy nhiên việc tổ chức lễ Già - ì - xì - mờ - ra - né đã đơn giản hơn cả về thời gian và quy mô tổ chức./.

Related Figures

Lễ hội chọi trâu

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 16/1- 17/1 Âm lịch Trong rất nhiều lễ hội văn hóa của nước ta thì lễ hội chọi trâu cũng là một nghi lễ đặc biệt của bà con nông dân trong dịp đầu năm mới. Hàng năm vào hai ngày 16 và ngày 17 tháng Giêng âm lịch người dân tại xã Hải Lưu, Lập Thạch, Vĩnh Phúc lại tưng bừng mở lễ hội chọi trâu để cầu cho mưa thuận gió hòa và một vụ mùa bội thu. Đây còn là một trong những lễ hội văn hóa dân gian đậm đà bản sắc dân tộc. Bởi nó biểu trưng cho tính cộng đồng và đặc biệt hơn nó còn gợi nhớ về cội nguồi cũng như giáo dục tình yêu quê hương sâu sắc. Toàn cảnh lễ hội chọi trâu tại Vĩnh Phúc Việc chuẩn bị cho lễ hội được diễn ra từ những ngày trước đó, vào trước đêm lễ hội là lễ tế Thàng hoàng làng, nét tưng bừng nhộn nhịp hòa cùng với những chén rượu nhỏ, với những lời ca tiếng hát và những câu chuyện dự tính làm ăn trong dịp đầu xuân năm mới. Khi trời bắt đầu rạng sáng mọi người cùng chuẩn bị cho trâu chọi vào xới chọi ngày mai. Tất cả đều vui vẻ và bình dị như chính con người ở nơi đây. Tùy vào từng năm mà số lượng trâu ít hay nhiều. Trâu được chọn là trâu chọi phải đáp ứng những tiêu chuẩn như sau: ngoại hình phải đẹp, cân đối, lông phải có màu đen, da trê… Trước vài ngày thi đấu trâu chọi được chăm sóc rất chu đáo. Nét đặc biệt so với nhiều lễ hội chọi trâu khác chính là trâu chọi không phải được nuôi theo một cá nhân mà được các tập thể cùng tham gia chăm sóc và nuôi dưỡng. Chính nét đặc sắc này khiến bà con nông dân ở trong vùng thêm thân thiết và gần gũi với nhau hơn. Đặc sắc lễ hội chọi trâu Vĩnh Phúc Thường thì lễ hội chọi trâu sẽ được diễn ra ba vòng, mỗi vòng sẽ chọn ra những con trâu khỏe nhất, đẹp nhất và “duyên dáng” nhất. Những chú trâu được rèn luyện rất kĩ lưỡng, béo tốt và tràn đầy sinh lực trước khi bước vào trận thi đấu. Tiếng chiêng tiếng trống, tiếng hò hét bên ngoài làm tăng thêm khí thế chiến đấu của những chú trâu chọi đầy hiếu chiến. Trâu chọi bao giờ cũng phải có đôi sừng to và dài, đấu nhau và lối đối mặt dùng sừng, những thế tấn công của các cặp trâu thi đấu sôi nổi, hấp dẫn và nhận được rất nhiều sự cổ vũ của tất cả mọi người. Khi lễ hội kết thúc bất kể là trâu thắng hay là trâu thua thì đều được đem giết thịt, liên hoan tập thể và mời các du khách phương xa tham dự những ly rượu thịt trâu đầu năm mới. Mọi người cùng nhau thưởng thức những miếng thịt trâu thơm ngon và cùng nhau bàn luận vui vẻ, sôi nổi về những pha gay cấn đã diễn ra trong cuộc thi. Hàng ngàn người đổ về tham dự lễ hội chọi trâu tại Vĩnh Phúc Nếu ai đã từng đến với lễ hội chọi trâu Vĩnh Phúc một lần, hòa chung niềm vui đầu năm cùng những người dân nơi đây, cùng sống trong không khí sôi động này thì hẳn sẽ nhớ mãi về một lễ hội đặc sắc mang đậm nét riêng thổi hồn vào truyền thống dân tộc. Theo MonngonHanoi.com

Trong rất nhiều lễ hội văn hóa của nước ta thì lễ hội chọi trâu cũng là một nghi lễ đặc biệt của bà con nông dân trong dịp đầu năm mới. Hàng năm vào hai ngày 16 và ngày 17 tháng Giêng âm lịch người dân tại xã Hải Lưu, Lập Thạch, Vĩnh Phúc lại tưng bừng mở lễ hội chọi trâu để cầu cho mưa thuận gió hòa và một vụ mùa bội thu. Đây còn là một trong những lễ hội văn hóa dân gian đậm đà bản sắc dân tộc. Bởi nó biểu trưng cho tính cộng đồng và đặc biệt hơn nó còn gợi nhớ về cội nguồi cũng như giáo dục tình yêu quê hương sâu sắc.

Toàn cảnh lễ hội chọi trâu tại Vĩnh Phúc Việc chuẩn bị cho lễ hội được diễn ra từ những ngày trước đó, vào trước đêm lễ hội là lễ tế Thàng hoàng làng, nét tưng bừng nhộn nhịp hòa cùng với những chén rượu nhỏ, với những lời ca tiếng hát và những câu chuyện dự tính làm ăn trong dịp đầu xuân năm mới. Khi trời bắt đầu rạng sáng mọi người cùng chuẩn bị cho trâu chọi vào xới chọi ngày mai. Tất cả đều vui vẻ và bình dị như chính con người ở nơi đây. Tùy vào từng năm mà số lượng trâu ít hay nhiều. Trâu được chọn là trâu chọi phải đáp ứng những tiêu chuẩn như sau: ngoại hình phải đẹp, cân đối, lông phải có màu đen, da trê… Trước vài ngày thi đấu trâu chọi được chăm sóc rất chu đáo. Nét đặc biệt so với nhiều lễ hội chọi trâu khác chính là trâu chọi không phải được nuôi theo một cá nhân mà được các tập thể cùng tham gia chăm sóc và nuôi dưỡng. Chính nét đặc sắc này khiến bà con nông dân ở trong vùng thêm thân thiết và gần gũi với nhau hơn. Đặc sắc lễ hội chọi trâu Vĩnh Phúc Thường thì lễ hội chọi trâu sẽ được diễn ra ba vòng, mỗi vòng sẽ chọn ra những con trâu khỏe nhất, đẹp nhất và “duyên dáng” nhất. Những chú trâu được rèn luyện rất kĩ lưỡng, béo tốt và tràn đầy sinh lực trước khi bước vào trận thi đấu. Tiếng chiêng tiếng trống, tiếng hò hét bên ngoài làm tăng thêm khí thế chiến đấu của những chú trâu chọi đầy hiếu chiến. Trâu chọi bao giờ cũng phải có đôi sừng to và dài, đấu nhau và lối đối mặt dùng sừng, những thế tấn công của các cặp trâu thi đấu sôi nổi, hấp dẫn và nhận được rất nhiều sự cổ vũ của tất cả mọi người. Khi lễ hội kết thúc bất kể là trâu thắng hay là trâu thua thì đều được đem giết thịt, liên hoan tập thể và mời các du khách phương xa tham dự những ly rượu thịt trâu đầu năm mới. Mọi người cùng nhau thưởng thức những miếng thịt trâu thơm ngon và cùng nhau bàn luận vui vẻ, sôi nổi về những pha gay cấn đã diễn ra trong cuộc thi. Hàng ngàn người đổ về tham dự lễ hội chọi trâu tại Vĩnh Phúc Nếu ai đã từng đến với lễ hội chọi trâu Vĩnh Phúc một lần, hòa chung niềm vui đầu năm cùng những người dân nơi đây, cùng sống trong không khí sôi động này thì hẳn sẽ nhớ mãi về một lễ hội đặc sắc mang đậm nét riêng thổi hồn vào truyền thống dân tộc. Theo MonngonHanoi.com

Related Figures

Lễ hội tứ dân chi nghiệp

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 20/1 Âm lịch (lehoi.info) - Lễ hội Tứ dân chi nghiệp thể hiện mong muốn của những người dân Đại Đồng cho một năm cây cối tốt tươi, gia súc gia cầm sinh sôi nảy nở, mùa màng bội thu. Lễ hội tứ dân chi nghiệp được tổ chức vào ngày 20 tháng giêng hàng năm, tại xã Đại Đồng huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Quang cảnh lễ hội tứ dân chi nghiệp tại Vĩnh Phúc Lễ hội tứ dân chi nghiệp ở Đại Đồng diễn ra với phần rước kiệu thành hoàng làng - Đinh Thiên Tích Tướng thời Hùng Vương thứ 6 chống giặc Ân. Một nghi thức trong lễ hội tứ dân chi nghiệp tại Vĩnh Phúc Hàng năm vào ngày mùng 4 đến mùng 5 tháng giêng những nhà có trâu và gia đình "sạch bụi phong quang" đều phải "sắm" một con trâu, con bò đem ra sân đình để làm lễ (rơm rạ được chuyển bị từ mùa vụ trước). Trên đoạn đường từ đến tớ đình (chỉ khoảng hơn 1km), nhưng phải tới cả buổi vì kiệu khi ngược, khi xuôi, quay tròn giữa đám đông những người xem hội. Trâu bò này sẽ buộc vào cày, bừa đã được tháo lưỡi có người kéo và cày. Trên sân đình sẽ có vài chục trâu bò như thế và có một số cô gái cắp thúng trấu, cùng với một số trẻ em trong vai mục đồng, bê, nghé người câu ếch, úp cá… mọi động tác trình diễn đều phải theo nhịp chiêng, trống của người chỉ huy (đạo diễn). Đặc sắc lễ hội tứ dân chi nghiệp tại Vĩnh Phúc Đặc biệt trong trò diễn này nam thì đóng giả nữ, còn nữ lại đóng giả nam để tăng tính hài hước, vui nhộn và ngộ nghĩnh. Trò diễn không giới hạn về thời gian, nên mọi người có thể tham gia trong suốt hội làng… Còn có trò " thi đệt cửi trên mặt ao và rước kén tằm". Tục rước "Ông bò" và "cướp con" mang đậm màu sắc tín ngưỡng phồn thực./.

(lehoi.info) - Lễ hội Tứ dân chi nghiệp thể hiện mong muốn của những người dân Đại Đồng cho một năm cây cối tốt tươi, gia súc gia cầm sinh sôi nảy nở, mùa màng bội thu. Lễ hội tứ dân chi nghiệp được tổ chức vào ngày 20 tháng giêng hàng năm, tại xã Đại Đồng huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.

(lehoi.info) - Lễ hội Tứ dân chi nghiệp thể hiện mong muốn của những người dân Đại Đồng cho một năm cây cối tốt tươi, gia súc gia cầm sinh sôi nảy nở, mùa màng bội thu.

Lễ hội tứ dân chi nghiệp được tổ chức vào ngày 20 tháng giêng hàng năm, tại xã Đại Đồng huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.

Quang cảnh lễ hội tứ dân chi nghiệp tại Vĩnh Phúc Lễ hội tứ dân chi nghiệp ở Đại Đồng diễn ra với phần rước kiệu thành hoàng làng - Đinh Thiên Tích Tướng thời Hùng Vương thứ 6 chống giặc Ân. Một nghi thức trong lễ hội tứ dân chi nghiệp tại Vĩnh Phúc Hàng năm vào ngày mùng 4 đến mùng 5 tháng giêng những nhà có trâu và gia đình "sạch bụi phong quang" đều phải "sắm" một con trâu, con bò đem ra sân đình để làm lễ (rơm rạ được chuyển bị từ mùa vụ trước). Trên đoạn đường từ đến tớ đình (chỉ khoảng hơn 1km), nhưng phải tới cả buổi vì kiệu khi ngược, khi xuôi, quay tròn giữa đám đông những người xem hội. Trâu bò này sẽ buộc vào cày, bừa đã được tháo lưỡi có người kéo và cày. Trên sân đình sẽ có vài chục trâu bò như thế và có một số cô gái cắp thúng trấu, cùng với một số trẻ em trong vai mục đồng, bê, nghé người câu ếch, úp cá… mọi động tác trình diễn đều phải theo nhịp chiêng, trống của người chỉ huy (đạo diễn). Đặc sắc lễ hội tứ dân chi nghiệp tại Vĩnh Phúc Đặc biệt trong trò diễn này nam thì đóng giả nữ, còn nữ lại đóng giả nam để tăng tính hài hước, vui nhộn và ngộ nghĩnh. Trò diễn không giới hạn về thời gian, nên mọi người có thể tham gia trong suốt hội làng… Còn có trò " thi đệt cửi trên mặt ao và rước kén tằm". Tục rước "Ông bò" và "cướp con" mang đậm màu sắc tín ngưỡng phồn thực./.

Related Figures

Lễ hội đền thờ Đức Ông

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 6/1- 7/1 Âm lịch (lehoi.info) - Lễ hội đền thờ Đức Ông (hay Lễ hội chợ Dưng), được tổ chức vào ngày mồng 6 tháng giêng hàng năm, ở tại đền thờ Đức Ông nằm bên cạnh đầm Dưng thuộc xã Tứ Trưng. Lễ hội được tổ chức với mong ước cả một năm đó cuộc sống của người dân được ấm no, hạnh phúc, mùa màng tốt tươi. Đền thờ Đức Ông Đền thờ một danh tướng dưới thời Lý Cao Tông 1176 Nguyễn Văn Nhượng, ông là người đã có công đánh giặc Ai Lao, giữ gìn biên ải bình định non sông đã được vua Lý Cao Tông ban cho nhiều ấn tín, khi ông mất ông được vua cho xây lăng và lập đền thờ phong Đông Kinh Thông Phán Đại Vương Thượng Đẳng phúc thần hưởng và theo nghi lễ quốc thể. Đền nằm ở bên bờ sông Kỳ Giang bây giờ được gọi là “Đầm Dưng”. Các triều đại đều có sắc phong tặng cho ông là một bậc Đại Vương bậc Thượng Đẳng Tối Linh Từ. Kiến trúc của đền thờ được làm rất đẹp và được khắc chạm chổ rất nhiều hoa văn tinh tế, về các đề tài như Rồng, Phượng và Kim nghi long mũ quạt giấy… rất phong phú, nó phản ánh lên ước vọng về một cuộc sống đầy đủ, thanh bình của người dân lúc bấy giờ, đồng thời cũng phản ánh lên các tập tục tín ngưỡng của nhân dân thời đó. Phần hội trong lễ hội Xong phần lễ sẽ đến phần hội. Vì lễ hội chỉ được diễn ra trong một ngày nên ngày mùng 6 cả dân làng già trẻ, trai gái… gác hết các công việc gia đình lại để tập trung ở chợ Rưng cùng nhau vui chơi biểu diễn các trò chơi truyền thống như đánh đu, đấu vật, kéo co, đánh cờ người, nấu cơm thi, bơi thuyền ván, bắt trạch trong chum. Họ bảo nhau rằng trò chơi bắt trạch trong chum có nguồn gốc từ chính nơi này. Người ta thả mỗi một con trạch vào một chiếc chum, mỗi một đội tham gia bắt trạch chỉ có hai người một trai và một gái biểu hiện cho tín ngưỡng phồn thực. Chàng trai sẽ luồn tay phải qua eo của cô gái và cô gái thì luồn tay trái qua eo của chàng trai. Họ cùng nhau cúi xuống và cho tay còn lại vào trong chum để bắt trạch. Đội nào bắt được nhanh hơn thì đội đó sẽ giành chiến thắng. Sắc màu lễ hội đền thờ Đức Ông Tiếp đến ngày mùng 7, dân làng sẽ tổ chức lễ giỗ ông Nguyễn Văn Nhượng. Lễ giỗ ông Nhượng được những người già và những người có trọng trách trong xã đứng ra tổ chức ở tại Miếu Ông, sau đó dân làng sẽ đến làm lễ cúng ông Nhượng để tỏ lòng biết ơn và tưởng nhớ đến những người con yêu nước của xã. Và lễ giỗ ông Nguyễn Văn Nhượng được duy trì cho đến tận bây giờ./.

(lehoi.info) - Lễ hội đền thờ Đức Ông (hay Lễ hội chợ Dưng), được tổ chức vào ngày mồng 6 tháng giêng hàng năm, ở tại đền thờ Đức Ông nằm bên cạnh đầm Dưng thuộc xã Tứ Trưng. Lễ hội được tổ chức với mong ước cả một năm đó cuộc sống của người dân được ấm no, hạnh phúc, mùa màng tốt tươi.

Đền thờ Đức Ông Đền thờ một danh tướng dưới thời Lý Cao Tông 1176 Nguyễn Văn Nhượng, ông là người đã có công đánh giặc Ai Lao, giữ gìn biên ải bình định non sông đã được vua Lý Cao Tông ban cho nhiều ấn tín, khi ông mất ông được vua cho xây lăng và lập đền thờ phong Đông Kinh Thông Phán Đại Vương Thượng Đẳng phúc thần hưởng và theo nghi lễ quốc thể. Đền nằm ở bên bờ sông Kỳ Giang bây giờ được gọi là “Đầm Dưng”. Các triều đại đều có sắc phong tặng cho ông là một bậc Đại Vương bậc Thượng Đẳng Tối Linh Từ. Kiến trúc của đền thờ được làm rất đẹp và được khắc chạm chổ rất nhiều hoa văn tinh tế, về các đề tài như Rồng, Phượng và Kim nghi long mũ quạt giấy… rất phong phú, nó phản ánh lên ước vọng về một cuộc sống đầy đủ, thanh bình của người dân lúc bấy giờ, đồng thời cũng phản ánh lên các tập tục tín ngưỡng của nhân dân thời đó. Phần hội trong lễ hội Xong phần lễ sẽ đến phần hội. Vì lễ hội chỉ được diễn ra trong một ngày nên ngày mùng 6 cả dân làng già trẻ, trai gái… gác hết các công việc gia đình lại để tập trung ở chợ Rưng cùng nhau vui chơi biểu diễn các trò chơi truyền thống như đánh đu, đấu vật, kéo co, đánh cờ người, nấu cơm thi, bơi thuyền ván, bắt trạch trong chum. Họ bảo nhau rằng trò chơi bắt trạch trong chum có nguồn gốc từ chính nơi này. Người ta thả mỗi một con trạch vào một chiếc chum, mỗi một đội tham gia bắt trạch chỉ có hai người một trai và một gái biểu hiện cho tín ngưỡng phồn thực. Chàng trai sẽ luồn tay phải qua eo của cô gái và cô gái thì luồn tay trái qua eo của chàng trai. Họ cùng nhau cúi xuống và cho tay còn lại vào trong chum để bắt trạch. Đội nào bắt được nhanh hơn thì đội đó sẽ giành chiến thắng. Sắc màu lễ hội đền thờ Đức Ông Tiếp đến ngày mùng 7, dân làng sẽ tổ chức lễ giỗ ông Nguyễn Văn Nhượng. Lễ giỗ ông Nhượng được những người già và những người có trọng trách trong xã đứng ra tổ chức ở tại Miếu Ông, sau đó dân làng sẽ đến làm lễ cúng ông Nhượng để tỏ lòng biết ơn và tưởng nhớ đến những người con yêu nước của xã. Và lễ giỗ ông Nguyễn Văn Nhượng được duy trì cho đến tận bây giờ./.

Related Figures

Lễ hội đúc bụt

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 8/1 Âm lịch Hàng năm cứ vào tháng Giêng - mùa lễ hội - cũng giống như bao làng quê khác, nhân dân thôn Phù Liễn - xã Đồng Tĩnh - Tam Dương lại tổ chức một lễ hội truyền thống đó là: Hội “Đúc Bụt” để ôn lại một truyền tích đáng tự hào, mà ở trong tỉnh Vĩnh Phúc thì chỉ riêng làng Phù Liễn mới có lễ hội đặc biệt này. Một nghi thức trong lễ hội đúc bụt ở Đồng Tĩnh Theo như các cụ già ở địa phương kể lại, tương truyền lễ hội “Đúc Bụt” là một hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian đã có từ rất lâu đời, để nhằm ôn lại quá trình chiêu mộ nghĩa sĩ, tập hợp lực lượng, rèn đúc vũ khí của Ngọc Kinh công chúa, là một nữ tướng tài ba, chí dũng vẹn toàn và để hưởng ứng lời kêu gọi của Hai Bà Trưng đền nợ nước, trả thù nhà, diệt giặc Tô Định ở những năm 40 sau Công nguyên đã từng được ghi vào chính sử. Truyện xưa kể rằng Ngọc Kinh công chúa (Mỹ Tự được Vua Bà phong sau khi dẹp xong Tô Định và Trưng Trắc lên ngôi vua), nguyên là một người phụ nữ tài đức vẹn toàn đã có chồng và có hai người con trai, khi Hai Bà Trưng dựng cờ khởi nghĩa, Bà đã để các con ở lại quê hương và theo về với Hai Bà đánh giặc, được Hai Bà cử về quê Phù Liễn để mộ quân, rèn đúc vũ khí và chuẩn bị lực lượng. Tại đây, Bà đã ẩn mình dưới dạng một nhà sư, tu luyện ngay tại chùa Phù Liễn, dạy cho dân biết làm sĩ, nông, công và cổ. Sĩ: nghĩa là dạy dân học hành, nâng cao hiểu biết, bồi đúc lòng căm thù giặc Hán xâm lược. Nông: nghĩa là dạy dân cày cấy, săn bắn, trồng trọt làm ra sản phẩm để chủ động nuôi sống người và cung cấp lương thực cho nghĩa sĩ. Công: nghĩa là nghề phụ trợ, ở đây là nghề rèn đúc sản xuất công cụ sản xuất và vũ khí để đánh giặc. Cổ: nghĩa là cổ giả, là sự lưu thông hàng hoá, đồng thời cũng là một hình thức thông tin, dò la tin tức quân giặc... Từ đó, Đức Bà đã dần dần xây dựng được một lực lượng đông đảo, bao gồm những người dân Phù Liễn và những người dân ở các vùng xung quanh, cùng với 65 quận thành trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng giành độc lập. Sau này, để tưởng nhớ công lao, nhân dân Phù Liễn đã lập một Đền thờ Bà và quen gọi với cái tên Đền thờ Đức Bà và được lưu truyền đến ngày nay. Và hàng năm cứ đến ngày mùng 8 tháng giêng (ngày hoá của Đức Bà), nhân dân Phù Liễn lại tổ chức lễ hội để diễn lại các tích trò xưa, và trong đó, tích trò “Đúc Bụt” là tích trò được đặc biệt quan tâm và không thể thiếu trong ngày lễ hội này. Để chuẩn bị cho lễ hội, thường là vào trung tuần tháng Chạp ta năm trước các quan viên và các bộ lão trong làng đã họp bàn, quyết định tổ chức mở lễ hội, phân công công việc và chọn lựa những người trực tiếp tham gia vào lễ hội, những người trực tiếp tham gia và những người được chọn lựa đều phải đạt các nghi lễ theo lệ làng, về cơ bản thì đó phải là những trai thanh, gái lịch hoặc những người già phải gương mẫu, song toàn, gia đình ấm êm, hoà thuận, được dân làng hàng xóm mến phục tin yêu... Trong đó nghiêm ngặt nhất là bầu chọn ra ông chủ lễ, chủ trò và 3 thanh niên được chọn làm Bụt. Những người tham gia gồm có: Ông Chủ tế và 3 thanh niên khoẻ mạnh, chưa có vợ, gia đình song toàn, gương mẫu. Một ông thợ Đúc Bụt (cũng là người chủ trò) kèm theo có các công việc bổ củi, kéo bễ, nấu đồng, quạt lò, che lọng (mỗi công việc sẽ có 1 người thực hiện) Một vị sư và năm bà vãi phục vụ Một ông giáo học (có tráp, bút kèm theo) và năm học trò Nghề nông gồm có: 1 người thợ cày, 1 người thợ cấy và 1 người làm trâu kéo cày, 1 người cuốc góc, 1 người phát bờ, 1 người nhổ mạ, 1 người câu ếch, 1 người tát nước Tất cả có khoảng 30 người trực tiếp tham gia diễn trò. Những công việc chọn người, chuẩn bị đồ dùng và dụng cụ... được người dân chuẩn bị kỹ càng, chu đáo từ trước tết Âm lịch để sau khi ăn tết xong cả làng sẽ vào hội. Vào đúng ngày mùng 8 tháng Giêng Âm lịch; ngay từ sáng sớm, tất cả những người dân trong làng và các vùng xung quanh đã nô nức tập hợp về khu vực sân ở Đình làng, Ban tế làm lễ tế thân ngay tại Đình, sau 3 tuần tế, ông Chủ tế sẽ xin âm dương và phân công quan viên đi Đúc Bụt, các quan viên cùng với dân làng chuẩn bị xôi, chiếu, trầu cau.v.v... và những người đã được lựa chọn để tham gia vào các tích trò Sĩ, nông, công, cổ nêu trên cùng 3 thanh niên đã được lựa chọn kỹ tiến ra vùng ao (hoặc vùng ruộng) đã tát cạn hết nước từ ngày hôm trước (thông thường là ở gần bờ kênh Liễn Sơn và cách đình làng khoảng 500m) tới nơi, 3 thanh niên sẽ tự xuống ao, lấy bùn trát kín toàn thân và sau đó, quan viên sẽ dùng một sợi dây buộc ngang 1/3 (theo chiều rộng) một chiếc chiếu cói, rồi xoè phần dưới để chụp lên đầu mỗi Bụt một chiếc chiếu riêng “Bụt” đi giữa, trên đỉnh đầu, phần chiếu buộc phía trên sẽ đặt một bó mạ xanh, sau đó quan viên cùng với dân làng làm lễ rước “Bụt” về đình. Thoạt tiên, sau khi chùm chiếu xong, các cụ phụ lão sẽ dùng trầu cau đã được chuẩn bị sẵn từ trước, bón cho mỗi “Bụt” một miếng, rồi cả đoàn người cùng với ông Chủ lễ từ từ tiến về đình trong tiếng chiêng, tiếng trống, cờ xí và các điệu múa dân gian. Trên đường đi sẽ diễn ra tất cả 3 lần mời trầu do các tốp phụ lão khác nhau lần lượt bón cho các “Bụt” thì cả đoàn rước mới được về tới sân đình. Khi đoàn đi rước “Bụt” về tới đình, ông Chủ tế sẽ phải làm thủ tục xin phép Thần Thành Hoàng, ba “Bụt” sẽ chạy nhanh vào một khoảng trống ở sân Đình đã được định sẵn, ngồi thành hàng ngang, quay mặt vào gian chính giữa của cửa đình, xung quanh nhân dân sẽ quây thành một vòng tròn có đường kính khoảng 15m, đồng thời tất cả các tích trò đều sẽ được diễn ra ngay trong vòng tròn đó, trong tiếng chiêng tiếng trống, hò reo vui vẻ của cả biển người. Các trò sẽ được diễn ra như sau: Những người làm ruộng, trâu kéo cày và người cầm cày chạy theo ngược với chiều kim đồng hồ, cùng với các tốp thợ nhổ mạ, tát nước, phát bờ, cuốc góc và câu ếch... cùng vừa diễn động tác và vừa chạy theo người thợ cày. Ở một góc đình, ông giáo học đang lên lớp giảng bài cho những học sinh và tích trò trung tâm là ông chủ trò (vai người thợ Đúc Bụt) có thợ phụ trợ là bổ củi và quạt lò kéo bễ... để nấu đồng trong một chiếc nồi đất to (đường kính khoảng từ 0,60 - 0,8m), ông thợ đúc chân đi tập tễnh, thi thoảng lại bị người thợ phụ đá cho một cái (nhằm gây tiếng cười); cũng giống như vậy anh thợ cuốc bờ thì để lưỡi cuốc ngoảng ra ngoài, người đi câu ếch thì làm phao bằng bông hoa đỏ, giỏ thì thủng đáy lại treo ngược lên... càng làm cho không khí thêm vui nhộn hơn. Trong quá trình diễn trò thi thoảng ba “Bụt” ở giữa vòng tròn sẽ được 2 người phụ nữ đem xôi, trầu bón cho nhưng chỉ được bón nhử thôi. (Phải chăng đây là một tục hèm của lễ “Cầu Đinh”). Khi các tích trò diễn ra liên tục trong khoảng 40-45 phút, tức là nguyên liệu đồng trong nồi nấu đã đến nóng chảy, ông thợ đúc sẽ dùng gáo múc đồng trong nồi để đổ vào các “Bụt” (chính xác hơn là đổ vào các “khuôn Bụt”), sau đó dùng “kìm” (một thanh tre tươi to bản bẻ gập) để xoay Bụt (cho rời khỏi khuôn) cũng theo chiều ngược với chiều của kim đồng hồ, đồng thời, một nhà Sư xuất hiện gieo quẻ xin âm dương, khi được, ông thợ Đúc ngay lập tức cầm 3 chiếc chiếu trùm lên “Bụt” ném ra ngoài và đập vỡ luôn nồi nấu đồng. Đồng thời 3 thanh niên làm khuôn Bụt cũng nhanh chóng chạy biến ra ngoài và kết thúc trò diễn này, nhân dân reo hò và tranh nhau cướp chiếu, ba chiếc chiếu sẽ được cướp giật thực sự từ tay người này đến tay người khác, đến khi nào rách nát tả tơi, hoặc có một người khoẻ mạnh hơn người, cướp được và tránh không để ai đuổi cướp lại được nữa, nhất là chiếc chiếu ở giữa có bó mạ xanh ban đầu thì chắc chắn năm đó vợ chồng họ sẽ sinh được con trai. Vì vậy Hội rất đông và cũng có nhiều người ở rất xa mà chưa sinh được quý tử đến dự Hội với hy vọng cướp được dù một mảnh chiếu rách là cũng đã đạt nguyện vọng. (Một điều lạ là mặc dù lễ hội năm nào cũng được tổ chức, trong đám đông tranh cướp huyên náo như vậy nhưng chưa bao giờ xảy ra thương tích!). Cảnh tranh cướp chiếu cói mong sinh quý tử tại lễ hội Đúc Bụt ở Đồng Tĩnh Buổi chiều, các trò chơi phụ trợ sẽ được tổ chức đến tối gồm thi đấu cờ tướng, bóng chuyền... Những trò chơi dân gian trong lễ hội đúc bụt ở Đồng Tĩnh Như vậy có thể thấy là: Lễ Hội “Đúc Bụt” ngày mùng 8 tháng Giêng ở Phù Liễn (thuộc xãĐồng Tĩnh) là một hình thức văn hoá dân gian truyền thống tồn tại và phát huy cho đến ngày nay, để nhằm ôn lại một truyền tích đẹp về “Đức Bà” (Ngọc Kinh công chúa), cùng với nhân dân hưởng ứng lời kêu gọi của Hai Bà Trưng dựng cờ khởi nghĩa, đánh đuổi Tô Định - đại diện cho một thế lực xâm lược, đô hộ của Nhà Hán vào thế kỷ đầu Công nguyên; đồng thời cũng có thể thấy, trong cuộc sống của một cộng đồng, không thể thiếu được sự phối hợp, sự dung hoà của những ngành nghề sơ khai của một nền văn minh lúa nước nông nghiệp, thủ công nghiệp và trao đổi hàng hoá đang dần phát triển trở thành những nghề truyền thống, trong sự phân công lao động tại những giai đoạn phát triển tiếp theo của xã hội. Trong suốt cả quá trình diễn tích trò của hội “Đúc Bụt” mọi sự vận hành đều sẽ được diễn ra trong một vòng tròn khép kín theo chiều ngược chiều kim đồng hồ (mà theo các cụ già ở trong làng kể lại thì từ xưa tới nay vẫn được thực hiện như thế, không hiểu vì sao nhưng không ai dám lên ý kiến để thay đổi cả). Điều này dễ gợi lên một sự liên tưởng tới cách bố trí những hoa văn trên trống đồng cổ. Cũng là những mô típ trang trí hoa văn lên các cảnh sinh hoạt trong đời sống, lễ hội của người Việt thời cổ, được hoá trang (hay mô phỏng) thành những hình chim, hình thú.v.v... hay cách điệu hoá và cũng đều xoay quanh những hình tròn đồng tâm theo chiều ngược chiều kim đồng hồ. Thêm vào đó, trên địa bàn xã Đồng Tĩnh hiện nay rải rác, nhân dân cũng có phát hiện một vài công cụ bằng đá mài như: bàn đá, rìu đá và hiện vật bằng đồng. Có niên đại vào khoảng đầu công nguyên (thuộc vào giai đoạn văn hoá Phùng Nguyên muộn). Vậy thì phải chăng lễ hội “Đúc Bụt” ở Phù Liễu muốn mô phỏng một nghề tuy là mới ra đời nhưng đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống. Nghề Đúc Đồng - các sản phẩm của nghề này sẽ dần thay thế cho các công cụ đá có vai trò như là một yếu tố quyết định để làm thay đổi một hình thái sản xuất trong lịch sử của loài người. Và nếu có thêm được những cơ sở khoa học đáng tin cậy vào điều giả định này, thì nên chăng vào thời gian tới đây, những cơ quan hữu trách, những nhà nghiên cứu có thể ưu tiên hơn về mọi mặt để khai thác thêm và khẳng định những gì có thể khẳng định nhằm gìn giữ được một kho tàng văn hoá phi vật thể của tỉnh nhà. Theo quan niệm ngày khai xuân, cả làng sẽ mở hội vui vẻ cầu mong cho vạn vật sinh sôi nảy nở, giống nòi phát triển, mùa màng bôi thu, một quan niệm phồn thực là một quan niệm đẹp và biện chứng của cư dân nông nghiệp được thể hiện ở việc đặt lên chiếc chiếu giữa một bó mạ xanh, tục cướp chiếu là tục được diễn ra rất nhiệt tình, thậm chí là rất quyết liệt, cách bón trầu và xôi nhử của 2 phụ nữ bón cho “khuôn Bụt”... và qua kinh nghiệm lâu đời của những người dân địa phương thì hình thức “cầu Đinh” ở lễ hội này rất điển hình và cũng rất hiệu nghiệm. Song song và phụ trợ cho tích truyện “Đúc Bụt” trong lễ hội cũng diễn ra những trò hài, những cuộc thi đấu thể thao cờ tướng nhằm rèn trí, nâng cao thể lực, nâng cao sức khoẻ và tạo thêm sự vui vẻ phấn chấn trong lao động và sản xuất, tất cả đã tạo nên một phẩm chất đẹp của người Việt và trở thành bản sắc riêng của con người dân tộc Việt Nam.

Hàng năm cứ vào tháng Giêng - mùa lễ hội - cũng giống như bao làng quê khác, nhân dân thôn Phù Liễn - xã Đồng Tĩnh - Tam Dương lại tổ chức một lễ hội truyền thống đó là: Hội “Đúc Bụt” để ôn lại một truyền tích đáng tự hào, mà ở trong tỉnh Vĩnh Phúc thì chỉ riêng làng Phù Liễn mới có lễ hội đặc biệt này.

Một nghi thức trong lễ hội đúc bụt ở Đồng Tĩnh Theo như các cụ già ở địa phương kể lại, tương truyền lễ hội “Đúc Bụt” là một hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian đã có từ rất lâu đời, để nhằm ôn lại quá trình chiêu mộ nghĩa sĩ, tập hợp lực lượng, rèn đúc vũ khí của Ngọc Kinh công chúa, là một nữ tướng tài ba, chí dũng vẹn toàn và để hưởng ứng lời kêu gọi của Hai Bà Trưng đền nợ nước, trả thù nhà, diệt giặc Tô Định ở những năm 40 sau Công nguyên đã từng được ghi vào chính sử. Truyện xưa kể rằng Ngọc Kinh công chúa (Mỹ Tự được Vua Bà phong sau khi dẹp xong Tô Định và Trưng Trắc lên ngôi vua), nguyên là một người phụ nữ tài đức vẹn toàn đã có chồng và có hai người con trai, khi Hai Bà Trưng dựng cờ khởi nghĩa, Bà đã để các con ở lại quê hương và theo về với Hai Bà đánh giặc, được Hai Bà cử về quê Phù Liễn để mộ quân, rèn đúc vũ khí và chuẩn bị lực lượng. Tại đây, Bà đã ẩn mình dưới dạng một nhà sư, tu luyện ngay tại chùa Phù Liễn, dạy cho dân biết làm sĩ, nông, công và cổ. Sĩ: nghĩa là dạy dân học hành, nâng cao hiểu biết, bồi đúc lòng căm thù giặc Hán xâm lược. Nông: nghĩa là dạy dân cày cấy, săn bắn, trồng trọt làm ra sản phẩm để chủ động nuôi sống người và cung cấp lương thực cho nghĩa sĩ. Công: nghĩa là nghề phụ trợ, ở đây là nghề rèn đúc sản xuất công cụ sản xuất và vũ khí để đánh giặc. Cổ: nghĩa là cổ giả, là sự lưu thông hàng hoá, đồng thời cũng là một hình thức thông tin, dò la tin tức quân giặc... Từ đó, Đức Bà đã dần dần xây dựng được một lực lượng đông đảo, bao gồm những người dân Phù Liễn và những người dân ở các vùng xung quanh, cùng với 65 quận thành trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng giành độc lập. Sau này, để tưởng nhớ công lao, nhân dân Phù Liễn đã lập một Đền thờ Bà và quen gọi với cái tên Đền thờ Đức Bà và được lưu truyền đến ngày nay. Và hàng năm cứ đến ngày mùng 8 tháng giêng (ngày hoá của Đức Bà), nhân dân Phù Liễn lại tổ chức lễ hội để diễn lại các tích trò xưa, và trong đó, tích trò “Đúc Bụt” là tích trò được đặc biệt quan tâm và không thể thiếu trong ngày lễ hội này. Để chuẩn bị cho lễ hội, thường là vào trung tuần tháng Chạp ta năm trước các quan viên và các bộ lão trong làng đã họp bàn, quyết định tổ chức mở lễ hội, phân công công việc và chọn lựa những người trực tiếp tham gia vào lễ hội, những người trực tiếp tham gia và những người được chọn lựa đều phải đạt các nghi lễ theo lệ làng, về cơ bản thì đó phải là những trai thanh, gái lịch hoặc những người già phải gương mẫu, song toàn, gia đình ấm êm, hoà thuận, được dân làng hàng xóm mến phục tin yêu... Trong đó nghiêm ngặt nhất là bầu chọn ra ông chủ lễ, chủ trò và 3 thanh niên được chọn làm Bụt. Những người tham gia gồm có: Ông Chủ tế và 3 thanh niên khoẻ mạnh, chưa có vợ, gia đình song toàn, gương mẫu. Một ông thợ Đúc Bụt (cũng là người chủ trò) kèm theo có các công việc bổ củi, kéo bễ, nấu đồng, quạt lò, che lọng (mỗi công việc sẽ có 1 người thực hiện) Một vị sư và năm bà vãi phục vụ Một ông giáo học (có tráp, bút kèm theo) và năm học trò Nghề nông gồm có: 1 người thợ cày, 1 người thợ cấy và 1 người làm trâu kéo cày, 1 người cuốc góc, 1 người phát bờ, 1 người nhổ mạ, 1 người câu ếch, 1 người tát nước Tất cả có khoảng 30 người trực tiếp tham gia diễn trò. Những công việc chọn người, chuẩn bị đồ dùng và dụng cụ... được người dân chuẩn bị kỹ càng, chu đáo từ trước tết Âm lịch để sau khi ăn tết xong cả làng sẽ vào hội. Vào đúng ngày mùng 8 tháng Giêng Âm lịch; ngay từ sáng sớm, tất cả những người dân trong làng và các vùng xung quanh đã nô nức tập hợp về khu vực sân ở Đình làng, Ban tế làm lễ tế thân ngay tại Đình, sau 3 tuần tế, ông Chủ tế sẽ xin âm dương và phân công quan viên đi Đúc Bụt, các quan viên cùng với dân làng chuẩn bị xôi, chiếu, trầu cau.v.v... và những người đã được lựa chọn để tham gia vào các tích trò Sĩ, nông, công, cổ nêu trên cùng 3 thanh niên đã được lựa chọn kỹ tiến ra vùng ao (hoặc vùng ruộng) đã tát cạn hết nước từ ngày hôm trước (thông thường là ở gần bờ kênh Liễn Sơn và cách đình làng khoảng 500m) tới nơi, 3 thanh niên sẽ tự xuống ao, lấy bùn trát kín toàn thân và sau đó, quan viên sẽ dùng một sợi dây buộc ngang 1/3 (theo chiều rộng) một chiếc chiếu cói, rồi xoè phần dưới để chụp lên đầu mỗi Bụt một chiếc chiếu riêng “Bụt” đi giữa, trên đỉnh đầu, phần chiếu buộc phía trên sẽ đặt một bó mạ xanh, sau đó quan viên cùng với dân làng làm lễ rước “Bụt” về đình. Thoạt tiên, sau khi chùm chiếu xong, các cụ phụ lão sẽ dùng trầu cau đã được chuẩn bị sẵn từ trước, bón cho mỗi “Bụt” một miếng, rồi cả đoàn người cùng với ông Chủ lễ từ từ tiến về đình trong tiếng chiêng, tiếng trống, cờ xí và các điệu múa dân gian. Trên đường đi sẽ diễn ra tất cả 3 lần mời trầu do các tốp phụ lão khác nhau lần lượt bón cho các “Bụt” thì cả đoàn rước mới được về tới sân đình. Khi đoàn đi rước “Bụt” về tới đình, ông Chủ tế sẽ phải làm thủ tục xin phép Thần Thành Hoàng, ba “Bụt” sẽ chạy nhanh vào một khoảng trống ở sân Đình đã được định sẵn, ngồi thành hàng ngang, quay mặt vào gian chính giữa của cửa đình, xung quanh nhân dân sẽ quây thành một vòng tròn có đường kính khoảng 15m, đồng thời tất cả các tích trò đều sẽ được diễn ra ngay trong vòng tròn đó, trong tiếng chiêng tiếng trống, hò reo vui vẻ của cả biển người. Các trò sẽ được diễn ra như sau: Những người làm ruộng, trâu kéo cày và người cầm cày chạy theo ngược với chiều kim đồng hồ, cùng với các tốp thợ nhổ mạ, tát nước, phát bờ, cuốc góc và câu ếch... cùng vừa diễn động tác và vừa chạy theo người thợ cày. Ở một góc đình, ông giáo học đang lên lớp giảng bài cho những học sinh và tích trò trung tâm là ông chủ trò (vai người thợ Đúc Bụt) có thợ phụ trợ là bổ củi và quạt lò kéo bễ... để nấu đồng trong một chiếc nồi đất to (đường kính khoảng từ 0,60 - 0,8m), ông thợ đúc chân đi tập tễnh, thi thoảng lại bị người thợ phụ đá cho một cái (nhằm gây tiếng cười); cũng giống như vậy anh thợ cuốc bờ thì để lưỡi cuốc ngoảng ra ngoài, người đi câu ếch thì làm phao bằng bông hoa đỏ, giỏ thì thủng đáy lại treo ngược lên... càng làm cho không khí thêm vui nhộn hơn. Trong quá trình diễn trò thi thoảng ba “Bụt” ở giữa vòng tròn sẽ được 2 người phụ nữ đem xôi, trầu bón cho nhưng chỉ được bón nhử thôi. (Phải chăng đây là một tục hèm của lễ “Cầu Đinh”). Khi các tích trò diễn ra liên tục trong khoảng 40-45 phút, tức là nguyên liệu đồng trong nồi nấu đã đến nóng chảy, ông thợ đúc sẽ dùng gáo múc đồng trong nồi để đổ vào các “Bụt” (chính xác hơn là đổ vào các “khuôn Bụt”), sau đó dùng “kìm” (một thanh tre tươi to bản bẻ gập) để xoay Bụt (cho rời khỏi khuôn) cũng theo chiều ngược với chiều của kim đồng hồ, đồng thời, một nhà Sư xuất hiện gieo quẻ xin âm dương, khi được, ông thợ Đúc ngay lập tức cầm 3 chiếc chiếu trùm lên “Bụt” ném ra ngoài và đập vỡ luôn nồi nấu đồng. Đồng thời 3 thanh niên làm khuôn Bụt cũng nhanh chóng chạy biến ra ngoài và kết thúc trò diễn này, nhân dân reo hò và tranh nhau cướp chiếu, ba chiếc chiếu sẽ được cướp giật thực sự từ tay người này đến tay người khác, đến khi nào rách nát tả tơi, hoặc có một người khoẻ mạnh hơn người, cướp được và tránh không để ai đuổi cướp lại được nữa, nhất là chiếc chiếu ở giữa có bó mạ xanh ban đầu thì chắc chắn năm đó vợ chồng họ sẽ sinh được con trai. Vì vậy Hội rất đông và cũng có nhiều người ở rất xa mà chưa sinh được quý tử đến dự Hội với hy vọng cướp được dù một mảnh chiếu rách là cũng đã đạt nguyện vọng. (Một điều lạ là mặc dù lễ hội năm nào cũng được tổ chức, trong đám đông tranh cướp huyên náo như vậy nhưng chưa bao giờ xảy ra thương tích!). Cảnh tranh cướp chiếu cói mong sinh quý tử tại lễ hội Đúc Bụt ở Đồng Tĩnh Buổi chiều, các trò chơi phụ trợ sẽ được tổ chức đến tối gồm thi đấu cờ tướng, bóng chuyền... Những trò chơi dân gian trong lễ hội đúc bụt ở Đồng Tĩnh Như vậy có thể thấy là: Lễ Hội “Đúc Bụt” ngày mùng 8 tháng Giêng ở Phù Liễn (thuộc xãĐồng Tĩnh) là một hình thức văn hoá dân gian truyền thống tồn tại và phát huy cho đến ngày nay, để nhằm ôn lại một truyền tích đẹp về “Đức Bà” (Ngọc Kinh công chúa), cùng với nhân dân hưởng ứng lời kêu gọi của Hai Bà Trưng dựng cờ khởi nghĩa, đánh đuổi Tô Định - đại diện cho một thế lực xâm lược, đô hộ của Nhà Hán vào thế kỷ đầu Công nguyên; đồng thời cũng có thể thấy, trong cuộc sống của một cộng đồng, không thể thiếu được sự phối hợp, sự dung hoà của những ngành nghề sơ khai của một nền văn minh lúa nước nông nghiệp, thủ công nghiệp và trao đổi hàng hoá đang dần phát triển trở thành những nghề truyền thống, trong sự phân công lao động tại những giai đoạn phát triển tiếp theo của xã hội. Trong suốt cả quá trình diễn tích trò của hội “Đúc Bụt” mọi sự vận hành đều sẽ được diễn ra trong một vòng tròn khép kín theo chiều ngược chiều kim đồng hồ (mà theo các cụ già ở trong làng kể lại thì từ xưa tới nay vẫn được thực hiện như thế, không hiểu vì sao nhưng không ai dám lên ý kiến để thay đổi cả). Điều này dễ gợi lên một sự liên tưởng tới cách bố trí những hoa văn trên trống đồng cổ. Cũng là những mô típ trang trí hoa văn lên các cảnh sinh hoạt trong đời sống, lễ hội của người Việt thời cổ, được hoá trang (hay mô phỏng) thành những hình chim, hình thú.v.v... hay cách điệu hoá và cũng đều xoay quanh những hình tròn đồng tâm theo chiều ngược chiều kim đồng hồ. Thêm vào đó, trên địa bàn xã Đồng Tĩnh hiện nay rải rác, nhân dân cũng có phát hiện một vài công cụ bằng đá mài như: bàn đá, rìu đá và hiện vật bằng đồng. Có niên đại vào khoảng đầu công nguyên (thuộc vào giai đoạn văn hoá Phùng Nguyên muộn). Vậy thì phải chăng lễ hội “Đúc Bụt” ở Phù Liễu muốn mô phỏng một nghề tuy là mới ra đời nhưng đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống. Nghề Đúc Đồng - các sản phẩm của nghề này sẽ dần thay thế cho các công cụ đá có vai trò như là một yếu tố quyết định để làm thay đổi một hình thái sản xuất trong lịch sử của loài người. Và nếu có thêm được những cơ sở khoa học đáng tin cậy vào điều giả định này, thì nên chăng vào thời gian tới đây, những cơ quan hữu trách, những nhà nghiên cứu có thể ưu tiên hơn về mọi mặt để khai thác thêm và khẳng định những gì có thể khẳng định nhằm gìn giữ được một kho tàng văn hoá phi vật thể của tỉnh nhà. Theo quan niệm ngày khai xuân, cả làng sẽ mở hội vui vẻ cầu mong cho vạn vật sinh sôi nảy nở, giống nòi phát triển, mùa màng bôi thu, một quan niệm phồn thực là một quan niệm đẹp và biện chứng của cư dân nông nghiệp được thể hiện ở việc đặt lên chiếc chiếu giữa một bó mạ xanh, tục cướp chiếu là tục được diễn ra rất nhiệt tình, thậm chí là rất quyết liệt, cách bón trầu và xôi nhử của 2 phụ nữ bón cho “khuôn Bụt”... và qua kinh nghiệm lâu đời của những người dân địa phương thì hình thức “cầu Đinh” ở lễ hội này rất điển hình và cũng rất hiệu nghiệm. Song song và phụ trợ cho tích truyện “Đúc Bụt” trong lễ hội cũng diễn ra những trò hài, những cuộc thi đấu thể thao cờ tướng nhằm rèn trí, nâng cao thể lực, nâng cao sức khoẻ và tạo thêm sự vui vẻ phấn chấn trong lao động và sản xuất, tất cả đã tạo nên một phẩm chất đẹp của người Việt và trở thành bản sắc riêng của con người dân tộc Việt Nam.

Related Figures

Hội vật

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 7/1 Âm lịch Trong số các môn võ cổ truyền, môn vật tuy là môn đơn giản nhưng lại được đông đảo người xem yêu thích. Cư dân thuộc vùng núi Tam Đảo vốn là những người dân thượng võ, từ thời xa xưa đã có những lò vật nổi tiếng với nhiều đô vật lừng danh. Trong đó phải kể đến đô vật Trần Nguyên Hãn đã dẫn đầu đoàn quân đô vật trong vùng đi giúp vua Lê Lợi đánh đuổi giặc Minh ra khỏi bờ cõi, giành lại nền độc lập cho dân tộc ta. Ở vùng chân núi Tam Đảo có rất nhiều hội vật nhưng hội vật ở làng Hà xã Hồ Sơn Tam Đảo là hội vật vui nhất. Vì tất cả các danh thủ vô địch ở các hội khác đều hẹn nhau về để tranh tài cao thấp lần nữa ở hội này. Ai đoạt được giải vô địch ở làng Hà mới đáng mặt anh hùng. Hội vật làng Hà tại Vĩnh Phúc thu hút đông đảo người dân trong và ngoài xã Hội vật làng Hà thường được tổ chức hàng năm vào ngày mùng bảy tết. Ngay từ sáng sớm sau khi các bô lão làm lễ ở đình xong, tiếng trống trận sẽ nổi lên để gọi đám đông về tụ tập. Trên bãi cỏ ngay trước sân đình bên cây đa cổ thụ, từng cặp đô vật sẽ ra múa chào dân làng ngay giữa đám đông mang nghi thức trình làng. Trước khi vào cuộc đấu, đô vật còn "múa hạc" hay "xe đài". Đây là một hình thức khởi động cơ thể để tạo không khí vui vẻ và mang phong cách biểu diễn nghệ thuật. "Xe đài" còn tạo một không khí áp đảo đối phương hoặc phô diễn những sở trường sở đoản của mình cùng với những miếng võ độc đáo. Rồi sau đó chuyển sang múa Hạc "uyển chuyển". Múa càng khéo thì càng lôi cuốn được người tới xem. Theo hiệu lệnh trống của vị trưởng lão cầm trịch, các đô vật trẻ sẽ múa vờn nhau rồi vào cuộc vật "dọn bãi". Tuy chỉ là các đô vật dọn bãi nhưng cũng khá gay cấn và hấp dẫn. Hai đô vật đùn đẩy nhau đến đâu, thì đám đông giãn ra đến đó, lúc co vào lúc giãn ra trong tiếng reo hò ràn rạt và trong nhịp trống cái thúc vang trời dậy đất như kêu gọi khách thập phương hội tụ về mỗi lúc một đông, chật đường chật bãi và leo lên kín cả gốc đa cổ thụ. Khi các keo vật kết thúc thì vòng tròn sân bãi cũng được hình thành xong và hội vật được bắt đầu. Các đô vật nổi tiếng sẽ nhường nhau vào đình nhận khố đỏ và khăn điều để lên xới giữ giải và nhận thách đấu trước bàn dân thiên hạ. Quang cảnh hội vật ở làng Hà tại Vĩnh Phúc Hội vật làng Hà theo một lề lối tự do với cách thách đấu giữ giải. Cho nên bất cứ ai dù già trẻ lớn bé đều có thể vào tranh giải. Tùy vào các tình huống, diễn biến mà cụ trưởng lão đánh trống cầm trịch sẽ gióng trống "Cắc" hay "Tùng" để phân định và điều khiển cuộc chiến. Trống là mệnh lệnh, một hồi ba tiếng trống là các đô vật chuẩn bị vào xới vật. Trống đánh nhịp ba là múa "xe đài" rồi "múa hạc". Trống đánh ngũ liên là vào kịch chiến, khi nghe các tiếng "cắc, cắc" đều nghĩa là tạm ngừng chiến. Một hồi trống dõng dạc vang lên là trận đấu kết thúc đã có kẻ thua người thắng rõ ràng. Ở đây, ai là người làm cho đối phương ngã lấm lưng, trắng bụng hay bị nhấc bổng lên khỏi mặt đất hoặc đùn đẩy đối phương ra khỏi vòng tròn xới vật...là người đó đã chiến thắng. Vì vật, đã từng có đô vật trông rất nhỏ con mà đã giữ giải được cả buổi. Nhiều đô vật to lớn vào đấu, chỉ vì sơ ý chủ quan mà đã bị đối phương bất thình lình đội nhấc lên khỏi mặt đất hoặc do quá ham húc, đẩy, cày nên đã bị đối phương lừa thế quay ngoắt lại tránh đòn và thuận đà nên liền đẩy theo cho ngã xõng xoài ra khỏi vòng chiến. Đành cay đắng, ngậm ngùi lóp ngóp bò dậy và chịu thua trong tiếng trống cắc, tùng chua chát và tiếng cười chọc ghẹo của đám đông, nhất là của những người phụ nữ. Rõ ràng là nếu muốn dành chiến thắng ở đây không chỉ cần có sức mạnh mà cón cần phải có cả trí và dũng nữa. Vì vậy, hội vật của làng Hà có rất nhiều pha bất ngờ và thích thú như nhỏ thắng to, gầy thắng béo và bé thắng lớn. Đặc biệt là những người đấu vật ở đây không nhất thiết phải đóng khố cởi trần. Vì thế cũng đã từng có những bậc nữ cao thủ ăn mặc giả trai để vào đấu tranh giải. Chỉ sau chiến thắng giòn giã bậc mày râu, vị tướng nữ đó mới chịu lột khăn và để lộ mái tóc mây óng ả vứi mắt phượng mày ngài, rồi nàng từ tốn xin nhường lại giải cho các đấng nam nhi bởi lượng sức nữ nhi khó mà giữ giải được lâu bền. Đến lúc này thì cả đám hội đều ngớ người ra rồi suýt xoa phục tài và tiếc rẻ!Nhờ vậy mà hội vật làng Hà càng trở nên hấp dẫn người xem đến say mê quên cả việc về ăn cơm trưa, cơm chiều mặc dù bụng đã đói cồn cào. Các đô vật trước khi vào cuộc tại hội vật ở làng Hà Từ nhiều đời nay, người dân quanh vùng còn kể cho nhau nghe về một trận tranh hùng giữa hai đô vật rất nổi tiếng bởi sự bất ngờ đến khó tin. Đó là đô Đình có vẻ như già yếu trói gà không chặt đã chiến thắng giòn giã đô Ba Trại rất cường tráng và oai phong lẫm liệt chỉ trong khoảng thời gian đánh xong ba hồi trống trận. Lại có nhiều cuộc chưa đấu đã thắng bởi vì đối thủ biết cách diễu võ dương oai. Trước khi bước vào xới, anh ta còn nhẩn nha bước lên nhỏ cột cờ nhẹ tựa lông hồng, nâng cao cối đá lỗ nặng trịch hoặc vươn tay bóp vỡ ống tre kêu rôm rốp...mà vẻ mặt thì vẫn thản nhiên không hề biến sắc, khiến cho các đối thủ nhìn thấy đã phát hoảng nên đành lắc đầu lè lưỡi xin vái tạ và tự rút lui không dám vào vuốt râu hùm! Điều đó cũng đủ để nói lên rằng các đô vật đã đứng vững trên các võ đài quả thật có một sức khỏe thật đáng kính nể. Với các cách đấu và thách đấu như vậy, hội vật làng Hà bao giờ cũng chỉ được mở trong vòng một ngày mà vẫn thành công. Cuối ngày đều tìm được chủ nhân của chức vô địch - một người xứng đáng để nhận giải thưởng. Lễ trao giải ở đây cũng vô cùng độc đáo. Một vị trưởng lão mặc kễ phục đi trước cầm bó hương theo sau là một cô gái trẻ đẹp nhất làng đội một mâm xôi có một chân giò lợn lớn và có một vò rượu tăm đem đến tận nguyên quán của nhà vô địch để làm lễ gia tiên và kính cáo với dân làng sở tại, nơi đã sinh ra được một thiên tài làm rạng rỡ truyền thống thượng võ của quê hương. Giải thưởng chỉ có vậy thôi nhưng ý nghĩa thì thật sâu xa. Chỉ có những dân tộc có truyền thống thượng võ lâu đời thì mới có được những hội vui như vậy! Hội vật ở làng Hà ngày nay cũng vẫn được mở vào ngày mùng bảy tháng giêng hàng năm. Nhưng lề lối và truyền thống thời xưa đã được thay bằng những kiểu cách vật hiện đại theo từng hạng cân với thể thức thi đấu loại vòng tròn và phần thưởng sẽ là những gói tiền lớn. Tuy vậy, hội vẫn không được hấp dẫn và đông vui như hội vật ngày xưa. Điều đó cũng rất đáng để cho chúng ta phải suy ngẫm./.

Trong số các môn võ cổ truyền, môn vật tuy là môn đơn giản nhưng lại được đông đảo người xem yêu thích. Cư dân thuộc vùng núi Tam Đảo vốn là những người dân thượng võ, từ thời xa xưa đã có những lò vật nổi tiếng với nhiều đô vật lừng danh. Trong đó phải kể đến đô vật Trần Nguyên Hãn đã dẫn đầu đoàn quân đô vật trong vùng đi giúp vua Lê Lợi đánh đuổi giặc Minh ra khỏi bờ cõi, giành lại nền độc lập cho dân tộc ta. Ở vùng chân núi Tam Đảo có rất nhiều hội vật nhưng hội vật ở làng Hà xã Hồ Sơn Tam Đảo là hội vật vui nhất. Vì tất cả các danh thủ vô địch ở các hội khác đều hẹn nhau về để tranh tài cao thấp lần nữa ở hội này. Ai đoạt được giải vô địch ở làng Hà mới đáng mặt anh hùng.

Hội vật làng Hà tại Vĩnh Phúc thu hút đông đảo người dân trong và ngoài xã Hội vật làng Hà thường được tổ chức hàng năm vào ngày mùng bảy tết. Ngay từ sáng sớm sau khi các bô lão làm lễ ở đình xong, tiếng trống trận sẽ nổi lên để gọi đám đông về tụ tập. Trên bãi cỏ ngay trước sân đình bên cây đa cổ thụ, từng cặp đô vật sẽ ra múa chào dân làng ngay giữa đám đông mang nghi thức trình làng. Trước khi vào cuộc đấu, đô vật còn "múa hạc" hay "xe đài". Đây là một hình thức khởi động cơ thể để tạo không khí vui vẻ và mang phong cách biểu diễn nghệ thuật. "Xe đài" còn tạo một không khí áp đảo đối phương hoặc phô diễn những sở trường sở đoản của mình cùng với những miếng võ độc đáo. Rồi sau đó chuyển sang múa Hạc "uyển chuyển". Múa càng khéo thì càng lôi cuốn được người tới xem. Theo hiệu lệnh trống của vị trưởng lão cầm trịch, các đô vật trẻ sẽ múa vờn nhau rồi vào cuộc vật "dọn bãi". Tuy chỉ là các đô vật dọn bãi nhưng cũng khá gay cấn và hấp dẫn. Hai đô vật đùn đẩy nhau đến đâu, thì đám đông giãn ra đến đó, lúc co vào lúc giãn ra trong tiếng reo hò ràn rạt và trong nhịp trống cái thúc vang trời dậy đất như kêu gọi khách thập phương hội tụ về mỗi lúc một đông, chật đường chật bãi và leo lên kín cả gốc đa cổ thụ. Khi các keo vật kết thúc thì vòng tròn sân bãi cũng được hình thành xong và hội vật được bắt đầu. Các đô vật nổi tiếng sẽ nhường nhau vào đình nhận khố đỏ và khăn điều để lên xới giữ giải và nhận thách đấu trước bàn dân thiên hạ. Quang cảnh hội vật ở làng Hà tại Vĩnh Phúc Hội vật làng Hà theo một lề lối tự do với cách thách đấu giữ giải. Cho nên bất cứ ai dù già trẻ lớn bé đều có thể vào tranh giải. Tùy vào các tình huống, diễn biến mà cụ trưởng lão đánh trống cầm trịch sẽ gióng trống "Cắc" hay "Tùng" để phân định và điều khiển cuộc chiến. Trống là mệnh lệnh, một hồi ba tiếng trống là các đô vật chuẩn bị vào xới vật. Trống đánh nhịp ba là múa "xe đài" rồi "múa hạc". Trống đánh ngũ liên là vào kịch chiến, khi nghe các tiếng "cắc, cắc" đều nghĩa là tạm ngừng chiến. Một hồi trống dõng dạc vang lên là trận đấu kết thúc đã có kẻ thua người thắng rõ ràng. Ở đây, ai là người làm cho đối phương ngã lấm lưng, trắng bụng hay bị nhấc bổng lên khỏi mặt đất hoặc đùn đẩy đối phương ra khỏi vòng tròn xới vật...là người đó đã chiến thắng. Vì vật, đã từng có đô vật trông rất nhỏ con mà đã giữ giải được cả buổi. Nhiều đô vật to lớn vào đấu, chỉ vì sơ ý chủ quan mà đã bị đối phương bất thình lình đội nhấc lên khỏi mặt đất hoặc do quá ham húc, đẩy, cày nên đã bị đối phương lừa thế quay ngoắt lại tránh đòn và thuận đà nên liền đẩy theo cho ngã xõng xoài ra khỏi vòng chiến. Đành cay đắng, ngậm ngùi lóp ngóp bò dậy và chịu thua trong tiếng trống cắc, tùng chua chát và tiếng cười chọc ghẹo của đám đông, nhất là của những người phụ nữ. Rõ ràng là nếu muốn dành chiến thắng ở đây không chỉ cần có sức mạnh mà cón cần phải có cả trí và dũng nữa. Vì vậy, hội vật của làng Hà có rất nhiều pha bất ngờ và thích thú như nhỏ thắng to, gầy thắng béo và bé thắng lớn. Đặc biệt là những người đấu vật ở đây không nhất thiết phải đóng khố cởi trần. Vì thế cũng đã từng có những bậc nữ cao thủ ăn mặc giả trai để vào đấu tranh giải. Chỉ sau chiến thắng giòn giã bậc mày râu, vị tướng nữ đó mới chịu lột khăn và để lộ mái tóc mây óng ả vứi mắt phượng mày ngài, rồi nàng từ tốn xin nhường lại giải cho các đấng nam nhi bởi lượng sức nữ nhi khó mà giữ giải được lâu bền. Đến lúc này thì cả đám hội đều ngớ người ra rồi suýt xoa phục tài và tiếc rẻ!Nhờ vậy mà hội vật làng Hà càng trở nên hấp dẫn người xem đến say mê quên cả việc về ăn cơm trưa, cơm chiều mặc dù bụng đã đói cồn cào. Các đô vật trước khi vào cuộc tại hội vật ở làng Hà Từ nhiều đời nay, người dân quanh vùng còn kể cho nhau nghe về một trận tranh hùng giữa hai đô vật rất nổi tiếng bởi sự bất ngờ đến khó tin. Đó là đô Đình có vẻ như già yếu trói gà không chặt đã chiến thắng giòn giã đô Ba Trại rất cường tráng và oai phong lẫm liệt chỉ trong khoảng thời gian đánh xong ba hồi trống trận. Lại có nhiều cuộc chưa đấu đã thắng bởi vì đối thủ biết cách diễu võ dương oai. Trước khi bước vào xới, anh ta còn nhẩn nha bước lên nhỏ cột cờ nhẹ tựa lông hồng, nâng cao cối đá lỗ nặng trịch hoặc vươn tay bóp vỡ ống tre kêu rôm rốp...mà vẻ mặt thì vẫn thản nhiên không hề biến sắc, khiến cho các đối thủ nhìn thấy đã phát hoảng nên đành lắc đầu lè lưỡi xin vái tạ và tự rút lui không dám vào vuốt râu hùm! Điều đó cũng đủ để nói lên rằng các đô vật đã đứng vững trên các võ đài quả thật có một sức khỏe thật đáng kính nể. Với các cách đấu và thách đấu như vậy, hội vật làng Hà bao giờ cũng chỉ được mở trong vòng một ngày mà vẫn thành công. Cuối ngày đều tìm được chủ nhân của chức vô địch - một người xứng đáng để nhận giải thưởng. Lễ trao giải ở đây cũng vô cùng độc đáo. Một vị trưởng lão mặc kễ phục đi trước cầm bó hương theo sau là một cô gái trẻ đẹp nhất làng đội một mâm xôi có một chân giò lợn lớn và có một vò rượu tăm đem đến tận nguyên quán của nhà vô địch để làm lễ gia tiên và kính cáo với dân làng sở tại, nơi đã sinh ra được một thiên tài làm rạng rỡ truyền thống thượng võ của quê hương. Giải thưởng chỉ có vậy thôi nhưng ý nghĩa thì thật sâu xa. Chỉ có những dân tộc có truyền thống thượng võ lâu đời thì mới có được những hội vui như vậy! Hội vật ở làng Hà ngày nay cũng vẫn được mở vào ngày mùng bảy tháng giêng hàng năm. Nhưng lề lối và truyền thống thời xưa đã được thay bằng những kiểu cách vật hiện đại theo từng hạng cân với thể thức thi đấu loại vòng tròn và phần thưởng sẽ là những gói tiền lớn. Tuy vậy, hội vẫn không được hấp dẫn và đông vui như hội vật ngày xưa. Điều đó cũng rất đáng để cho chúng ta phải suy ngẫm./.

Related Figures

Lễ Chol Chnam Thmay

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/3- 17/3 Âm lịch Lễ Chol Chnam Thmay là lễ mừng năm mới của người dân Khơme, lễ này được tổ chức vào giữa tháng ba âm lịch hàng năm. Đây cũng chính là thời điểm giao mùa giữa mùa mưa và mùa nắng, thời điểm bắt đầu cho vụ sản xuất nông nghiệp theo nông lịch cổ truyền của người dân Khơme nên lễ Chol Chnam Thmay còn đồng nghĩa với việc mừng cho vụ mùa mới trong năm. Lễ Chol Chnam Thmay tại Vĩnh Long Lễ Chol Chnam Thmay là một trong những lễ được coi là quan trọng nhất trong năm, lễ được tổ chức tại chùa và tổ chức trong từng gia đình. Lễ kéo dài trong vòng 3 ngày: ngày thứ nhất được gọi là ngày “sangkran” tức là ngày “rước quyển Đại lịch” (Maha sangkran) có ý nghĩa đón mừng năm mới mà nghi thức lễ gắn liền với thần thoại Thomabal và Kabil Maha Prum; ngày thứ hai gọi là ngày “wonbot”, vào ngày này mọi người sẽ đi chùa lễ Phật, mang thức ănđể dâng cho các sư sãi; ngày thứ ba thì được gọi là ngày “Lơn sak” với các nghi thức chính là tắm cho tượng Phật và cầu siêu. Tắm tượng Phật trong lễ hội Chol Chnam Thmay Vào ngày thứ ba của lễ, trước tượng đức Phật, chư tăng phải đọc kinh sám hối và sau đó chư tăng sẽ dùng một cành hoa nhúng vào nước có hương thơm để tắm cho tượng Phật bằng cách vẩy nước thơm vào tượng. Sau đó, mọi người sẽ theo tuần tự đến trước tượng để làm lễ đức Phật. Đến đây thì Phật tử cũng dùng nước thơm để vẩy lên người các vị sư để tỏ lòng tôn kính và cũng từ đó mọi người sẽ cùng té nước vào nhau để chúc mừng và cầu xin sự may mắn bởi đối với con người Khơme nước là biểu tượng của sự may mắn và sung túc. Đây chính là nghi thức kết thúc hội lễ Chol Chnam Thmay nhưng đây cũng là sự tiếp nối cuộc vui trong những ngày đầu năm mới. Đắp núi cát là nghi thức được đồng bào Khmer thực hiện trong dịp tết Chol Chnam Thmay

Related Figures

Lễ hội đền Bắc Cung

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 6/1- 9/1 Âm lịch Lễ hội đền Bắc Cung hay còn có tên gọi là lễ hội đền Thính được tổ chức từ ngày mồng 6 đến ngày mồng 9 tháng Giêng âm lịch hàng năm. Lễ hội diễn ra nhằm tưởng nhớ Đức thánh Tản Viên, người anh hùng đã có công khai điền trị thuỷ từ thuở Vua Hùng dựng nước. Lễ hội đền Bắc Cung thu hút đông đảo người dân tham gia Đền Bắc Cung nằm tại xã Tam Hồng, Yên Lạc, Vĩnh Phúc. Đền thờ đức thánh Tản Viên (một trong tứ bất tử của tâm thức con người Việt Nam). Tương truyền, đức Thánh Tản Viên có tên thật là Nguyễn Tuấn, con của một vị trưởng lão họ Nguyễn ở Sơn Tây. Vào năm 6 tuổi thì người cha qua đời, 2 mẹ con đến ở nhờ tại nhà bà Ma Thị Cao (con của thần núi Tản Viên). Một hôm, Nguyễn Tuấn lên núi đốn củi thì gặp thần Thái Bạch, thấy cậu bé khôi ngô, tuấn tú, thần đã trao cho cậu bé một cây gậy thần và dạy cậu câu thần chú để cứu đời. Sau này chàng đã có công cứu con Long Vương thoát chết và được Long Vương đền ơn biếu cho cuốn sách có thể hiểu mọi lẽ huyền vi của đất trời. Biết chàng là một người có tài, có hiếu, trước khi qua đời, mẹ nuôi đã trao cho chàng cai quản muôn vật tại núi Tản Viên. Khi Vua Hùng tổ chức kén rể cho công chúa Mị Nương, Nguyễn Tuấn nhờ có cuốn sách quý và gậy thần nên đã kiếm được sính lễ mang đến trước Thủy Tinh và cưới được công chúa Mị Nương. Sau chiến thắng Thủy Tinh và chiến thắng quân Thục, biết chàng là con người có tài, Hùng Vương đã trao lại quyền trị nước cho Nguyễn Tuấn, nhưng chàng đã từ chối và xin vua cha cho đi du ngoạn khắp nơi để giúp dân. Khi Ngài đi qua vùng Tam Hồng, thấy ở đây cảnh sơn thủy hữu tình, Ngài đã dừng chân và dạy dân đánh cá, trồng lúa, sản xuất nông nghiệp. Để ghi nhớ công đức của Ngài, nhân dân Tam Hồng đã dựng một ngôi đền thờ và gọi là đến Thính, xây dựng ở phía Bắc núi Ba Vì và châu thổ sông Hồng nên có tên gọi là đền Bắc Cung (một trong “Tứ cung” thờ Đức thánh Tản Viên). Thần núi Tản Viên hết sức linh ứng, khi nào nhân dân cầu nắng, cầu mưa cho mùa màng thì đều được ứng nghiệm. Mỗi khi lạnh trời, thánh Tản Viên thường hiện hình tại các khe suối, lại đem theo cây gậy thần để cứu chữa bệnh cho những người nghèo khổ, đi đến đâu, Ngài sẽ cho hiện ra đền đài để nghỉ ngơi. Để ghi nhớ công lao của Ngài Tản Viên Sơn Thánh, tại vị trí này nhân dân Tam Hồng đã dựng một ngôi đền để thờ phụng được gọi là đền Bắc Cung. Nghi lễ tế mở hội trong lễ hội đền Bắc Cung Lễ hội gồm có hai phần: Phần Lễ và Phần Hội Trong phần lễ, nhân dân Tam Hồng sẽ tổ chức rước kiệu từ những đình Phù Lưu, Man Để, Tảo Phú, Lâm Xuyên và Nho Lâm lên đền. Mỗi làng đều phải có Ban tế gồm: Chủ tế, Tây xướng, Đông xướng, Bồi tế và người hầu chủ tế cùng một bộ phận chấp kích. Chủ tế ở đây phải là người trên 60 tuổi, phải có con, có cháu đầy đủ cả trai, cả gái. Lễ tế phải có một thủ lợn, một mâm xôi và hoa quả do những người dân ở các làng làm ra. Chủ tế sẽ thay mặt cho những người dân trong làng dâng hương, rượu, nước, lễ vật và đọc văn tế cầu xin Đức thánh Tản Viên cầu cho mùa màng bội thu, mưa thuận, gió hòa, nhân dân no ấm, hạnh phúc. Diễn xướng hát chầu văn phục vụ đông đảo bà con nhân dân Ngay sau phần lễ là phần hội. Hội đền Bắc Cung được tổ chức với rất nhiều những hoạt động phong phú như có các trò chơi dân gian: đấu vật, chọi gà, đánh cờ người, kéo co, đu cây, bóng chuyền. Những cuộc thi múa hát dân ca, dân vũ của các làng, trống hội. Nhân dân trong vùng và những du khách thập phương từ mọi miền Tổ quốc về hội đền Bắc Cung rất đông, mỗi năm đều có trên một triệu lượt du khách thập phương đến vãn cảnh, bình an, hạnh phúc. Nhân dân trong xãTam Hồng mỗi khi xuất hành đi xa, hay xây dựng nhà cửa, hay con cháu học hành đều thành tâm ra lễ đền để cầu xin được Thánh phù hộ. Các trò chơi dân gian trong lễ hội Lễ hội đền Bắc Cung không chỉ là một hình thức sinh hoạt văn hóa, tinh thần nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của quốc gia, mà còn là một điểm thăm quan, sinh hoạt văn hóa cộng đồng của những người trong và ngoài tỉnh.

Lễ hội đền Bắc Cung hay còn có tên gọi là lễ hội đền Thính được tổ chức từ ngày mồng 6 đến ngày mồng 9 tháng Giêng âm lịch hàng năm. Lễ hội diễn ra nhằm tưởng nhớ Đức thánh Tản Viên, người anh hùng đã có công khai điền trị thuỷ từ thuở Vua Hùng dựng nước.

Lễ hội đền Bắc Cung thu hút đông đảo người dân tham gia Đền Bắc Cung nằm tại xã Tam Hồng, Yên Lạc, Vĩnh Phúc. Đền thờ đức thánh Tản Viên (một trong tứ bất tử của tâm thức con người Việt Nam). Tương truyền, đức Thánh Tản Viên có tên thật là Nguyễn Tuấn, con của một vị trưởng lão họ Nguyễn ở Sơn Tây. Vào năm 6 tuổi thì người cha qua đời, 2 mẹ con đến ở nhờ tại nhà bà Ma Thị Cao (con của thần núi Tản Viên). Một hôm, Nguyễn Tuấn lên núi đốn củi thì gặp thần Thái Bạch, thấy cậu bé khôi ngô, tuấn tú, thần đã trao cho cậu bé một cây gậy thần và dạy cậu câu thần chú để cứu đời. Sau này chàng đã có công cứu con Long Vương thoát chết và được Long Vương đền ơn biếu cho cuốn sách có thể hiểu mọi lẽ huyền vi của đất trời. Biết chàng là một người có tài, có hiếu, trước khi qua đời, mẹ nuôi đã trao cho chàng cai quản muôn vật tại núi Tản Viên. Khi Vua Hùng tổ chức kén rể cho công chúa Mị Nương, Nguyễn Tuấn nhờ có cuốn sách quý và gậy thần nên đã kiếm được sính lễ mang đến trước Thủy Tinh và cưới được công chúa Mị Nương. Sau chiến thắng Thủy Tinh và chiến thắng quân Thục, biết chàng là con người có tài, Hùng Vương đã trao lại quyền trị nước cho Nguyễn Tuấn, nhưng chàng đã từ chối và xin vua cha cho đi du ngoạn khắp nơi để giúp dân. Khi Ngài đi qua vùng Tam Hồng, thấy ở đây cảnh sơn thủy hữu tình, Ngài đã dừng chân và dạy dân đánh cá, trồng lúa, sản xuất nông nghiệp. Để ghi nhớ công đức của Ngài, nhân dân Tam Hồng đã dựng một ngôi đền thờ và gọi là đến Thính, xây dựng ở phía Bắc núi Ba Vì và châu thổ sông Hồng nên có tên gọi là đền Bắc Cung (một trong “Tứ cung” thờ Đức thánh Tản Viên). Thần núi Tản Viên hết sức linh ứng, khi nào nhân dân cầu nắng, cầu mưa cho mùa màng thì đều được ứng nghiệm. Mỗi khi lạnh trời, thánh Tản Viên thường hiện hình tại các khe suối, lại đem theo cây gậy thần để cứu chữa bệnh cho những người nghèo khổ, đi đến đâu, Ngài sẽ cho hiện ra đền đài để nghỉ ngơi. Để ghi nhớ công lao của Ngài Tản Viên Sơn Thánh, tại vị trí này nhân dân Tam Hồng đã dựng một ngôi đền để thờ phụng được gọi là đền Bắc Cung. Nghi lễ tế mở hội trong lễ hội đền Bắc Cung Lễ hội gồm có hai phần: Phần Lễ và Phần Hội Trong phần lễ, nhân dân Tam Hồng sẽ tổ chức rước kiệu từ những đình Phù Lưu, Man Để, Tảo Phú, Lâm Xuyên và Nho Lâm lên đền. Mỗi làng đều phải có Ban tế gồm: Chủ tế, Tây xướng, Đông xướng, Bồi tế và người hầu chủ tế cùng một bộ phận chấp kích. Chủ tế ở đây phải là người trên 60 tuổi, phải có con, có cháu đầy đủ cả trai, cả gái. Lễ tế phải có một thủ lợn, một mâm xôi và hoa quả do những người dân ở các làng làm ra. Chủ tế sẽ thay mặt cho những người dân trong làng dâng hương, rượu, nước, lễ vật và đọc văn tế cầu xin Đức thánh Tản Viên cầu cho mùa màng bội thu, mưa thuận, gió hòa, nhân dân no ấm, hạnh phúc. Diễn xướng hát chầu văn phục vụ đông đảo bà con nhân dân Ngay sau phần lễ là phần hội. Hội đền Bắc Cung được tổ chức với rất nhiều những hoạt động phong phú như có các trò chơi dân gian: đấu vật, chọi gà, đánh cờ người, kéo co, đu cây, bóng chuyền. Những cuộc thi múa hát dân ca, dân vũ của các làng, trống hội. Nhân dân trong vùng và những du khách thập phương từ mọi miền Tổ quốc về hội đền Bắc Cung rất đông, mỗi năm đều có trên một triệu lượt du khách thập phương đến vãn cảnh, bình an, hạnh phúc. Nhân dân trong xãTam Hồng mỗi khi xuất hành đi xa, hay xây dựng nhà cửa, hay con cháu học hành đều thành tâm ra lễ đền để cầu xin được Thánh phù hộ. Các trò chơi dân gian trong lễ hội Lễ hội đền Bắc Cung không chỉ là một hình thức sinh hoạt văn hóa, tinh thần nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của quốc gia, mà còn là một điểm thăm quan, sinh hoạt văn hóa cộng đồng của những người trong và ngoài tỉnh.

Related Figures

Lễ hội đền Ngự Dội

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/1 Âm lịch (lehoi.info) - Lễ hội đền Ngự Dội Vĩnh Phúc được tổ chức vào ngày rằm tháng Giêng hàng năm, tại xã Vĩnh Ninh, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc. Nếu như lễ hội đền Và là một trong những lễ hội to nhất và đông vui nhất ở thị xã Sơn Tây thì lễ hội đền Ngự Dội cũng đã được xác định là một lễ hội vùng của huyện Vĩnh Tường. Người tham dự hội có thể thấy ở lễ hội đắc sắc này sự hội tụ sức mạnh của cộng đồng và gửi gắm khát vọng về hòa bình, hạnh phúc, no ấm của những người dân vùng đất bãi ven sông trong suốt dọc dài lịch sử. Quang cảnh lễ hội đền Ngự Dội tại Vĩnh Phúc Được xây dựng vào năm 603 trên cánh bãi La Phiên thời xưa, ngày nay là xã Vĩnh Ninh, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, đền Ngự Dội đã chứng kiến biết bao mùa đổi dòng thay hướng của sông Hồng vào mỗi mùa con nước. Ngôi đền được lập nên để lưu giữ dấu linh của Đức thành Tản Viên trên mảnh đất Vĩnh Ninh, gắn liền với huyền tích hai cô thôn nữ nhờ phép màu của Đức Thánh đã dùng sọt để gánh cỏ mà gánh được nước ở sông Hồng dâng lên để Đức Ngài gột tẩy bụi trường chinh, trước khi Ngài về hóa Thánh ở trên đỉnh non Tản. Qua bao nhiêu biến cố thăng trầm của lịch sử, đền Ngự dội xưa đã không còn nữa. Vào năm 1989, đền bắt đầu được khởi công tôn tạo lại và được bảo tồn cho đến ngày nay. Lễ hội đền Ngự Dội được tổ chức vào ngày rằm tháng giêng, thường diễn ra trong vòng 4 ngày. Đặc biệt, vào những năm: Tý, Ngọ, Mão và Dậu, được gọi là những năm đại lễ, 8 làng: Vân Gia, Nghĩa Phủ, Thanh Trì, Mai Trai và Đạm Trai thuộc xã Trung Hưng; Phú Nhi, Phù Sa thuộc xã Viên Sơn, Sơn Tây, Hà Nội và làng Duy Bình thuộc xã Vĩnh Ninh, Vĩnh Tường sẽ cùng nhau tổ chức một cuộc rước lớn: rước kiệu Thánh từ đền Và thuộc xã Trung Hưng sang đền Ngự Dội thuộc xã Vĩnh Ninh. Đây là nghi thức hoành tráng nhất và đặc sắc nhất của lễ hội đền Ngự Dội bên cạnh còn có các nghi lễ trang trọng và thiêng liêng khác như: cử hành lễ mộc dục, tổ chức rước nước tại Sông Hồng, lễ tiến đốn và lế tế, tổ chức tiệc làng Duy Bình… Đặc sắc lễ hội đền Ngự Dội tại Vĩnh Phúc Lễ rước ngai Thánh đi trong đêm vào lúc 2h sáng. Từ đền Và, đám rước đi qua cầu Cộng, đi vào thị xã Sơn Tây, ra bến sông sau đó xuống thuyền qua sông Hồng sang địa phận xã Vĩnh Ninh, huyện Vĩnh Tường. Những người chở đò phải ăn mặc quần áo lễ hội và chở những du khách thập phương qua sông đều không được lấy tiền. Khoảng gần chục chiếc thuyền lớn được cột với nhau và trải tre vầu phẳng phiu để ngự kiệu và chở những người hành lễ. Có đến hàng ngàn người theo thuyền chở ngai Thánh Tản sang sông cùng với các thuyền nan hộ tống, còn đoàn rước thì hò reo, gõ trống, khua chiêng và ca hát làm náo động cả một khúc sông rộng. Tiếng cườ nói hân hoan lan toả làm nức lòng những con người theo hầu Thánh Tản sang sông. Ở bên này bờ, kiệu thánh của đền Ngự Dội đã đợi sẵn cùng với hàng trăm người dân và du khách thập phương náo nức đợi rước Thánh về. Một nghi thức trong lễ hội đền Ngự Dội tại Vĩnh Phúc Khi chiếc thuyền rước kiệu Thánh từ đền Và cập bờ, lá cờ ở đầu kiệu sẽ phất về phía bờ bắc sông Hồng, ấy là lúc cả khúc sông dậy lên tiếng reo hò hân hoan cùng những tiếng bước chân chạy rầm rập; người dự hội ùa ra đón kiệu Thánh với tất cả lòng tôn kính và ngưỡng mộ. Người thì thành kính chiêm bái, người thì chen chúc để được chui dưới gầm kiệu, cầu cho mình có được một năm mới khỏe mạnh và bình an. Đoàn rước xếp thành cả một dãy dài với 8 chiếc kiệu, cờ phướn rợp trời. Đoàn rước kiệu đi trong không khí tưng bừng và náo nhiệt. Hương trầm ngạt ngào, trống hội âm vang và cùng với tiếng nhạc xênh tiền uyển chuyển khiến cho lễ hội vừa mang tính linh thiêng mà cũng vô cùng gần gũi, đời thường. Khi đoàn rước về đến đền Ngự Dội, cũng là lúc diễn ra lễ khai hội cùng lễ tiến đốn và lế tế. Nhân dân ở 2 bên bờ sông Hồng cùng hòa chung trong không khí linh thiêng của lễ hội, hòa vào những trò chơi dân gian đang làm mê mẩn những vị khách hành hương... Cho tới khi lá cờ ở cổng đền phất về phía sông Hồng, đoàn người sẽ lại cùng nhau rước kiệu Thánh trở về đền Và nằm ở bên kia sông./.

(lehoi.info) - Lễ hội đền Ngự Dội Vĩnh Phúc được tổ chức vào ngày rằm tháng Giêng hàng năm, tại xã Vĩnh Ninh, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc. Nếu như lễ hội đền Và là một trong những lễ hội to nhất và đông vui nhất ở thị xã Sơn Tây thì lễ hội đền Ngự Dội cũng đã được xác định là một lễ hội vùng của huyện Vĩnh Tường. Người tham dự hội có thể thấy ở lễ hội đắc sắc này sự hội tụ sức mạnh của cộng đồng và gửi gắm khát vọng về hòa bình, hạnh phúc, no ấm của những người dân vùng đất bãi ven sông trong suốt dọc dài lịch sử.

Quang cảnh lễ hội đền Ngự Dội tại Vĩnh Phúc Được xây dựng vào năm 603 trên cánh bãi La Phiên thời xưa, ngày nay là xã Vĩnh Ninh, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, đền Ngự Dội đã chứng kiến biết bao mùa đổi dòng thay hướng của sông Hồng vào mỗi mùa con nước. Ngôi đền được lập nên để lưu giữ dấu linh của Đức thành Tản Viên trên mảnh đất Vĩnh Ninh, gắn liền với huyền tích hai cô thôn nữ nhờ phép màu của Đức Thánh đã dùng sọt để gánh cỏ mà gánh được nước ở sông Hồng dâng lên để Đức Ngài gột tẩy bụi trường chinh, trước khi Ngài về hóa Thánh ở trên đỉnh non Tản. Qua bao nhiêu biến cố thăng trầm của lịch sử, đền Ngự dội xưa đã không còn nữa. Vào năm 1989, đền bắt đầu được khởi công tôn tạo lại và được bảo tồn cho đến ngày nay. Lễ hội đền Ngự Dội được tổ chức vào ngày rằm tháng giêng, thường diễn ra trong vòng 4 ngày. Đặc biệt, vào những năm: Tý, Ngọ, Mão và Dậu, được gọi là những năm đại lễ, 8 làng: Vân Gia, Nghĩa Phủ, Thanh Trì, Mai Trai và Đạm Trai thuộc xã Trung Hưng; Phú Nhi, Phù Sa thuộc xã Viên Sơn, Sơn Tây, Hà Nội và làng Duy Bình thuộc xã Vĩnh Ninh, Vĩnh Tường sẽ cùng nhau tổ chức một cuộc rước lớn: rước kiệu Thánh từ đền Và thuộc xã Trung Hưng sang đền Ngự Dội thuộc xã Vĩnh Ninh. Đây là nghi thức hoành tráng nhất và đặc sắc nhất của lễ hội đền Ngự Dội bên cạnh còn có các nghi lễ trang trọng và thiêng liêng khác như: cử hành lễ mộc dục, tổ chức rước nước tại Sông Hồng, lễ tiến đốn và lế tế, tổ chức tiệc làng Duy Bình… Đặc sắc lễ hội đền Ngự Dội tại Vĩnh Phúc Lễ rước ngai Thánh đi trong đêm vào lúc 2h sáng. Từ đền Và, đám rước đi qua cầu Cộng, đi vào thị xã Sơn Tây, ra bến sông sau đó xuống thuyền qua sông Hồng sang địa phận xã Vĩnh Ninh, huyện Vĩnh Tường. Những người chở đò phải ăn mặc quần áo lễ hội và chở những du khách thập phương qua sông đều không được lấy tiền. Khoảng gần chục chiếc thuyền lớn được cột với nhau và trải tre vầu phẳng phiu để ngự kiệu và chở những người hành lễ. Có đến hàng ngàn người theo thuyền chở ngai Thánh Tản sang sông cùng với các thuyền nan hộ tống, còn đoàn rước thì hò reo, gõ trống, khua chiêng và ca hát làm náo động cả một khúc sông rộng. Tiếng cườ nói hân hoan lan toả làm nức lòng những con người theo hầu Thánh Tản sang sông. Ở bên này bờ, kiệu thánh của đền Ngự Dội đã đợi sẵn cùng với hàng trăm người dân và du khách thập phương náo nức đợi rước Thánh về. Một nghi thức trong lễ hội đền Ngự Dội tại Vĩnh Phúc Khi chiếc thuyền rước kiệu Thánh từ đền Và cập bờ, lá cờ ở đầu kiệu sẽ phất về phía bờ bắc sông Hồng, ấy là lúc cả khúc sông dậy lên tiếng reo hò hân hoan cùng những tiếng bước chân chạy rầm rập; người dự hội ùa ra đón kiệu Thánh với tất cả lòng tôn kính và ngưỡng mộ. Người thì thành kính chiêm bái, người thì chen chúc để được chui dưới gầm kiệu, cầu cho mình có được một năm mới khỏe mạnh và bình an. Đoàn rước xếp thành cả một dãy dài với 8 chiếc kiệu, cờ phướn rợp trời. Đoàn rước kiệu đi trong không khí tưng bừng và náo nhiệt. Hương trầm ngạt ngào, trống hội âm vang và cùng với tiếng nhạc xênh tiền uyển chuyển khiến cho lễ hội vừa mang tính linh thiêng mà cũng vô cùng gần gũi, đời thường. Khi đoàn rước về đến đền Ngự Dội, cũng là lúc diễn ra lễ khai hội cùng lễ tiến đốn và lế tế. Nhân dân ở 2 bên bờ sông Hồng cùng hòa chung trong không khí linh thiêng của lễ hội, hòa vào những trò chơi dân gian đang làm mê mẩn những vị khách hành hương... Cho tới khi lá cờ ở cổng đền phất về phía sông Hồng, đoàn người sẽ lại cùng nhau rước kiệu Thánh trở về đền Và nằm ở bên kia sông./.

Related Figures

Lễ hội bơi trải Tứ Yên

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 24/5- 25/5 Âm lịch (lehoi.info)- Lễ hội bơi trải Tứ Yên được tổ chức vào tháng 5 âm lịch hàng năm, tại xã Tứ Yên, Sông Lô, Vĩnh Phúc. Tứ Yên gồm có 4 thôn, mỗi thôn thì có một chải và mỗi chải thì có 36 tay chèo, họ bơi từ bến Yên Lương tới bến Yên Lập rồi lại bơi trở về, dọc theo đường bơi trên sông đều có cắm cờ. Quang Lễ hội bơi trải Tứ Yên Vào năm 544, trước sự tấn công của đoàn quân Lương, vua Lý Nam Đế đã từ Long Biên (thuộc Hà Nội ngày nay) rút lực lượng về xây dựng căn cứ tại miền rừng núi Lập Thạch. Sau đó, Ngài đã đem quân ra mai phục tại vùng hồ Điển Triệt, tức là hồ Miêng tại xã Tứ Yên để giao chiến với quân giặc. Ở tại đây đã diễn ra một trận thủy chiến vang dội trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta. Quân ta do lực lượng còn non yếu nên đã bị thất bại. Vua Lý Nam Đế đã phải rút quân về động Khuất Lão (Tam Nông, Phú Thọ) rồi trao binh quyền cho tướng Triệu Quang Phục để tiếp tục cuộc kháng chiến chống quân Lương, rồi Ngài cũng mất ở đó luôn. Tuy bị thất bại, nhưng cuộc khởi nghĩa Lý Bí vào thế kỷ thứ VI đã để lại nhiều dấu tích hào hùng trên mảnh đất Tứ Yên, khiến những người dân trong các thôn Yên Lập, Yên Mỹ, Yên Phú và Yên Lương dù đang lao động, sinh sống và học tập ở đâu cũng luôn cảm thấy tự hào về quê hương, xứ sở của mình. Những cái tên như Rừng Cấm, Thành Lĩnh, đồi Ông Ngự là nơi vua ở; những Phù Giai, Phù Yến, Phù Lánh, Phù Gầm, Phù Chè... chính là nơi quân ta mai phục; những cái tên nghe hoang sơ và dân giã như Bến Bêu, Cơm Son, Đồng Bịch, Đồng Quét, hóc Áo trôi... vốn có từ thời xa xưa và liên quan đến sự có mặt của vị Hoàng đế đầu tiên của dân tộc ta, cùng với hàng vạn nghĩa quân do Lý Bí chỉ huy, đã chiến đấu dũng cảm và hy sinh oanh liệt trên vùng đất địa linh nhân kiệt này cách thời nay một nghìn 500 năm. Tất cả những cái đó đã đi vào máu thịt của mỗi người dân Tứ Yên từ cụ già cho đến em nhỏ, không một ai là không biết đến. Uống nước nhớ nguồn vốn là truyền thống nghìn đời của con người dân tộc ta. Người dân Tứ Yên cách đây 4 trăm, 5 trăm năm đã dựng đình dựng miếu để thờ cúng, tưởng nhớ và tôn vinh tới người anh hùng Lý Bí và thờ vọng Thánh Tản Viên, người đã có công dựng nước thời đại Hùng Vương. Khi đã có đình, có miếu thì hàng năm làng tổ chức lễ hội. Từ đó thì những người dân nơi đây đã truyền tụng nhau câu ca: “Rau gác Hạc bơi, Hạc gác Me bơi, Me gác Đức Bác bơi, Đức Bác gác Dạng bơi”. Rau là thôn Cựu ấp, xã Liên Châu (Yên Lạc); Hạc là phường Bạch Hạc (Việt Trì); Me là xã Yên Lập (Vĩnh Tường); Đức Bác là xã Đức Bác (Lập Thạch) và Dạng là xã Tứ Yên (Lập Thạch). Đây chính là trình tự thời gian thi bơi trải của các địa phương dọc theo hai dòng sông Hồng và sông Lô. Bơi trải của các làng ở Tứ Yên được đóng bằng gỗ chò và sơn màu đỏ. Đầu trải là hình đầu con chim phượng, thân trải là thót dần uốn hình đuôi tôm cong ngược. Trải dài 20,5 mét, lòng trải được chia thành nhiều khoang, chỗ rộng nhất là 1,5 mét. Mỗi trải gồm có 36 tay giầm, được chia thành 18 cặp và ngồi hàng ngang. Người bơi trải là những trai tráng khoẻ mạnh đã được tuyển chọn, ngồi quỳ một chân xuống mạn trải theo một tư thế thống nhất và tay cầm dầm đúng chiều. Chuôi dầm được sơn màu đỏ mái dầm thì sơn màu trắng, khi bơi phải bơi theo đúng nhịp hò của người hò mõ, tay bơi và miệng phụ hoạ theo tiếng hò. Lễ hội bơi trải Tứ Yên thu hút đông đảo người dân tham gia Ngày lễ hội, ngoài việc tế lễ ở đình ở miếu, thì còn có hình thức rước kiệu và bơi trải giữa hai làng Yên Lập và Yên Lương vào các ngày 24 và ngày 25 tháng Năm.Trước giờ xuất phát các làng sẽ sắm lễ vật cúng quan Hà Bá, sau đó bốn chiếc trải sẽ dàn hàng ngang dưới sông trước của cửa đình để chờ hiệu lệnh. Khi nào có hiệu lệnh thì các tay bơi mới được vung giầm và reo hò để cố cho trải mình lao lên trước. Sau mỗi lần thi bơi trải, người bơi cũng như người xem đều mệt lả, tắt tiếng vì reo hò. Làng nào chiến thắng thì sẽ được thưởng, mặc dù phần thưởng không nhiều nhưng niềm vui và vinh dự thì náo nức trong cả năm, mọi người tin rằng trong năm đó làng mình sẽ an khang thịnh vượng. Đặc sắc lễ hội bơi trải Tứ Yên Đây là một trong những cuộc thi tài sức dẻo dai bền bỉ, tinh thần đoàn kết của những đội thuỷ binh, rồi trở thành những cuộc đua tài trí của các làng trong hội thi bơi trải. Đó chính là hình thức khai hạ, mừng nước vốn có từ rất lâu đời ở vùng cư dân nông nghiệp trồng lúa nước. Nó đã trở thành một nét đẹp văn hoá truyền thống của những con người ở vùng quê quanh năm gắn bó với sông nước./.

(lehoi.info)- Lễ hội bơi trải Tứ Yên được tổ chức vào tháng 5 âm lịch hàng năm, tại xã Tứ Yên, Sông Lô, Vĩnh Phúc. Tứ Yên gồm có 4 thôn, mỗi thôn thì có một chải và mỗi chải thì có 36 tay chèo, họ bơi từ bến Yên Lương tới bến Yên Lập rồi lại bơi trở về, dọc theo đường bơi trên sông đều có cắm cờ.

Quang Lễ hội bơi trải Tứ Yên Vào năm 544, trước sự tấn công của đoàn quân Lương, vua Lý Nam Đế đã từ Long Biên (thuộc Hà Nội ngày nay) rút lực lượng về xây dựng căn cứ tại miền rừng núi Lập Thạch. Sau đó, Ngài đã đem quân ra mai phục tại vùng hồ Điển Triệt, tức là hồ Miêng tại xã Tứ Yên để giao chiến với quân giặc. Ở tại đây đã diễn ra một trận thủy chiến vang dội trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta. Quân ta do lực lượng còn non yếu nên đã bị thất bại. Vua Lý Nam Đế đã phải rút quân về động Khuất Lão (Tam Nông, Phú Thọ) rồi trao binh quyền cho tướng Triệu Quang Phục để tiếp tục cuộc kháng chiến chống quân Lương, rồi Ngài cũng mất ở đó luôn. Tuy bị thất bại, nhưng cuộc khởi nghĩa Lý Bí vào thế kỷ thứ VI đã để lại nhiều dấu tích hào hùng trên mảnh đất Tứ Yên, khiến những người dân trong các thôn Yên Lập, Yên Mỹ, Yên Phú và Yên Lương dù đang lao động, sinh sống và học tập ở đâu cũng luôn cảm thấy tự hào về quê hương, xứ sở của mình. Những cái tên như Rừng Cấm, Thành Lĩnh, đồi Ông Ngự là nơi vua ở; những Phù Giai, Phù Yến, Phù Lánh, Phù Gầm, Phù Chè... chính là nơi quân ta mai phục; những cái tên nghe hoang sơ và dân giã như Bến Bêu, Cơm Son, Đồng Bịch, Đồng Quét, hóc Áo trôi... vốn có từ thời xa xưa và liên quan đến sự có mặt của vị Hoàng đế đầu tiên của dân tộc ta, cùng với hàng vạn nghĩa quân do Lý Bí chỉ huy, đã chiến đấu dũng cảm và hy sinh oanh liệt trên vùng đất địa linh nhân kiệt này cách thời nay một nghìn 500 năm. Tất cả những cái đó đã đi vào máu thịt của mỗi người dân Tứ Yên từ cụ già cho đến em nhỏ, không một ai là không biết đến. Uống nước nhớ nguồn vốn là truyền thống nghìn đời của con người dân tộc ta. Người dân Tứ Yên cách đây 4 trăm, 5 trăm năm đã dựng đình dựng miếu để thờ cúng, tưởng nhớ và tôn vinh tới người anh hùng Lý Bí và thờ vọng Thánh Tản Viên, người đã có công dựng nước thời đại Hùng Vương. Khi đã có đình, có miếu thì hàng năm làng tổ chức lễ hội. Từ đó thì những người dân nơi đây đã truyền tụng nhau câu ca: “Rau gác Hạc bơi, Hạc gác Me bơi, Me gác Đức Bác bơi, Đức Bác gác Dạng bơi”. Rau là thôn Cựu ấp, xã Liên Châu (Yên Lạc); Hạc là phường Bạch Hạc (Việt Trì); Me là xã Yên Lập (Vĩnh Tường); Đức Bác là xã Đức Bác (Lập Thạch) và Dạng là xã Tứ Yên (Lập Thạch). Đây chính là trình tự thời gian thi bơi trải của các địa phương dọc theo hai dòng sông Hồng và sông Lô. Bơi trải của các làng ở Tứ Yên được đóng bằng gỗ chò và sơn màu đỏ. Đầu trải là hình đầu con chim phượng, thân trải là thót dần uốn hình đuôi tôm cong ngược. Trải dài 20,5 mét, lòng trải được chia thành nhiều khoang, chỗ rộng nhất là 1,5 mét. Mỗi trải gồm có 36 tay giầm, được chia thành 18 cặp và ngồi hàng ngang. Người bơi trải là những trai tráng khoẻ mạnh đã được tuyển chọn, ngồi quỳ một chân xuống mạn trải theo một tư thế thống nhất và tay cầm dầm đúng chiều. Chuôi dầm được sơn màu đỏ mái dầm thì sơn màu trắng, khi bơi phải bơi theo đúng nhịp hò của người hò mõ, tay bơi và miệng phụ hoạ theo tiếng hò. Lễ hội bơi trải Tứ Yên thu hút đông đảo người dân tham gia Ngày lễ hội, ngoài việc tế lễ ở đình ở miếu, thì còn có hình thức rước kiệu và bơi trải giữa hai làng Yên Lập và Yên Lương vào các ngày 24 và ngày 25 tháng Năm.Trước giờ xuất phát các làng sẽ sắm lễ vật cúng quan Hà Bá, sau đó bốn chiếc trải sẽ dàn hàng ngang dưới sông trước của cửa đình để chờ hiệu lệnh. Khi nào có hiệu lệnh thì các tay bơi mới được vung giầm và reo hò để cố cho trải mình lao lên trước. Sau mỗi lần thi bơi trải, người bơi cũng như người xem đều mệt lả, tắt tiếng vì reo hò. Làng nào chiến thắng thì sẽ được thưởng, mặc dù phần thưởng không nhiều nhưng niềm vui và vinh dự thì náo nức trong cả năm, mọi người tin rằng trong năm đó làng mình sẽ an khang thịnh vượng. Đặc sắc lễ hội bơi trải Tứ Yên Đây là một trong những cuộc thi tài sức dẻo dai bền bỉ, tinh thần đoàn kết của những đội thuỷ binh, rồi trở thành những cuộc đua tài trí của các làng trong hội thi bơi trải. Đó chính là hình thức khai hạ, mừng nước vốn có từ rất lâu đời ở vùng cư dân nông nghiệp trồng lúa nước. Nó đã trở thành một nét đẹp văn hoá truyền thống của những con người ở vùng quê quanh năm gắn bó với sông nước./.

Related Figures

Lễ cúng Miễu

Thông tin thời kỳ

Lễ cúng miễu là lễ cúng mang tính dân dã, ban tổ chức cúng kiếng cũng chỉ mang tính dân gian. Ở vùng Nam bộ, việc đình miếu đã bớt đi tính chính thống. Thời cận đại, giới phụ nữ chỉ có thể đến lễ bái hoặc tham gia vào một số công việc một cách tự nhiên. Thế nhưng còn việc tổ chức và tế lễ đều phải do giới đàn ông đảm nhiệm. Văn Thánh Miếu Vĩnh Long Trái lại, thì lễ cúng miễu đã bình dị hơn. Cả nam nữ, cả già trẻ đều có thể đến cúng lạy. Ban tổ chức cúng kiếng có thể là một ông bô lão, một trùm ấp, một người nông dân hay một người phụ nữ. Lễ vật cúng kiếng biểu hiện cho tấm lòng của những người dân trong xóm. Trừ một số lễ bị cấm kẹp theo như truyền thống, thì nhìn chung không có quy định nào khắt khe giống như lễ cúng đình. Khuôn viên Văn Thánh Miếu ở Vĩnh Long Tùy theo đối tượng của miếu thờ phượng, có lễ được chia ra làm 3 loại lễ cúng miễu : + Lễ cúng miễu ông Miễu ông là miễu thờ những vị nam thần xuất phát từ văn hóa Hán - Việt, gồm có Quan Công, Thổ địa và thần Nông. Nghi lễ cúng miễu ông là một nghi lễ Nho giáo, gồm có các lễ sau: thỉnh Tro (thỉnh lư hương từ đền thờ chính về miễu, mang ý nghĩa thỉnh thần về dự lễ), Chánh cúng, cúng Tiến Yết, cúng Tiên sư, Tiền vãng (tức là những bậc đàn anh có công với xóm ấp, những người đứng lên ra lập miễu). Những nơi có điều kiện có thể dùng nghi thức tế với nhạc lễ, với nhạc sanh… thay vì dùng những nghi thức cúng vái bình thường. Trừ những nơi thờ Quan Công thì phải có 3 ngày vía (vía sanh vào ngày 13 tháng Giêng âm lịch, vía tử vào ngày 13 tháng Năm, vía hiển Thánh ngày 23 tháng Sáu. Vía sanh và vía tử có thể cúng mặn. Riêng vào ngày vía hiển Thánh, người ta tin Quan Công đã quy y Phật giáo nên chỉ cúng chay). Còn các miễu thờ Thổ địa hoặc thần Nông thì chỉ có 2 ngày lễ gọi là lễ xuất tế hay lễ thu tế, lễ Thượng điền và lễ Hạ điền. Các ngày vía này là do địa phương quy định và không thống nhất. Gần đây, tín ngưỡng Phật giáo đang tràn về nông thôn nên nhiều miễu khi cúng có mời sư thầy đến để tụng kinh cầu an cho bà con trong xóm ấp. + Lễ cúng miễu cô hồn Chương trình cúng miễu cô hồn cũng giống với chương trình cúng miễu ông, tức là cũng có các nghi tiết cúng (hay tế), tiền vàng, Tiền yết, tiền sư và Chánh cúng. Ngoài ra, khi cúng miễu cô hồn còn phải mời sư thầy đến để tụng kinh cầu siêu và khí thực cho cô hồn. Những nơi có điều kiện hơn, lễ cúng cô hồn sẽ kéo dài ra tận 3 ngày, mời nhiều sư thầy đến “ứng phú” và giàn nhạc lễ đến làm lễ theo khoa nhi Phật giáo như : lễ Hưng tác, lễ Chiêu u, lễ Khai chung bản thỉnh Phật, thỉnh Tổ, lễ Đề phan, lễ Tịch trù cấp thủy, lễ Lược pháp, lễ các Thủy quan, lễ thỉnh Thập điện và cuối cùng là lễ đăng đàn Chân tế cô hồn. + Lễ cúng miễu bà Ở Vĩnh Long có nhiều miễu thờ Thất thánh Nương nương, Ngũ hàng Nương nương và Thiên hậu Thánh mẫu… (thuộc văn hóa Hán - Việt) nhưng tất cả đều áp dụng nghi lễ cúng miễu nữ thần Thiên Y A Na (hoặc Chúa xứ Thánh mẫu và Thủy long Thần nữ… ). Chương trình cúng miễu bà gồm có các nghi thức : lễ thỉnh Đất và Nước (đất và nước đước lấy từ giữa dòng sông đưa về, ngụ ý là mời thần về dự lễ, ý nghĩa tương tự với lễ thỉnh Tro). Lễ cúng (hay lễ tế) Tiên sư, Tiền vãng. Lễ Tiền yết và lễ Chánh cúng. Đặc biệt vì nữ thần Thiên Y A Na Ngọc Diễn Phi vì gốc là từ tín ngưỡng Chăm nên trước kia mới có tục mời bà bóng đến rỗi mời, múa dâng lễ (gồm dâng một mâm vàng - mô hình là chiếc tháp Chàm bằng giấy, dâng 3 chén bông và 3 chén trái cây). Các nghi tiết này đều phải có giàn nhạc lễ diễn đầu. Những nơi có điều kiện hơn có thể mời diễn viên (thường là các thầy đờn và các bà bóng) hát tuồng “Địa nàng” hay “Địa trạo nghinh năm bà” và múa tạp kỹ. Chương trình văn nghệ này thường mang tính tùy hứng đề nghị, ít khi tổ chức trước. Nhiều nơi khi tổ chức cúng miễu bà cũng mời sư đến tụng kinh cầu an. Văn Xương Các ở Văn Thánh Miếu Vĩnh Long Điều đáng chú ý ở đây là tục mời bà bóng đến rồi mời múa dâng lễ là tục lệ không có gì đáng phê phán. Chỉ trừ những tiết mục có người lợi dụng danh nghĩa “bà về”, dùng lời huyễn hoặc và mê tín. Nhà nghiên cứu Trương Ngọc Tường - Sách Tìm hiểu Văn hóa Vĩnh Long

Lễ cúng miễu là lễ cúng mang tính dân dã, ban tổ chức cúng kiếng cũng chỉ mang tính dân gian. Ở vùng Nam bộ, việc đình miếu đã bớt đi tính chính thống. Thời cận đại, giới phụ nữ chỉ có thể đến lễ bái hoặc tham gia vào một số công việc một cách tự nhiên. Thế nhưng còn việc tổ chức và tế lễ đều phải do giới đàn ông đảm nhiệm.

Văn Thánh Miếu Vĩnh Long Trái lại, thì lễ cúng miễu đã bình dị hơn. Cả nam nữ, cả già trẻ đều có thể đến cúng lạy. Ban tổ chức cúng kiếng có thể là một ông bô lão, một trùm ấp, một người nông dân hay một người phụ nữ. Lễ vật cúng kiếng biểu hiện cho tấm lòng của những người dân trong xóm. Trừ một số lễ bị cấm kẹp theo như truyền thống, thì nhìn chung không có quy định nào khắt khe giống như lễ cúng đình. Khuôn viên Văn Thánh Miếu ở Vĩnh Long Tùy theo đối tượng của miếu thờ phượng, có lễ được chia ra làm 3 loại lễ cúng miễu : + Lễ cúng miễu ông Miễu ông là miễu thờ những vị nam thần xuất phát từ văn hóa Hán - Việt, gồm có Quan Công, Thổ địa và thần Nông. Nghi lễ cúng miễu ông là một nghi lễ Nho giáo, gồm có các lễ sau: thỉnh Tro (thỉnh lư hương từ đền thờ chính về miễu, mang ý nghĩa thỉnh thần về dự lễ), Chánh cúng, cúng Tiến Yết, cúng Tiên sư, Tiền vãng (tức là những bậc đàn anh có công với xóm ấp, những người đứng lên ra lập miễu). Những nơi có điều kiện có thể dùng nghi thức tế với nhạc lễ, với nhạc sanh… thay vì dùng những nghi thức cúng vái bình thường. Trừ những nơi thờ Quan Công thì phải có 3 ngày vía (vía sanh vào ngày 13 tháng Giêng âm lịch, vía tử vào ngày 13 tháng Năm, vía hiển Thánh ngày 23 tháng Sáu. Vía sanh và vía tử có thể cúng mặn. Riêng vào ngày vía hiển Thánh, người ta tin Quan Công đã quy y Phật giáo nên chỉ cúng chay). Còn các miễu thờ Thổ địa hoặc thần Nông thì chỉ có 2 ngày lễ gọi là lễ xuất tế hay lễ thu tế, lễ Thượng điền và lễ Hạ điền. Các ngày vía này là do địa phương quy định và không thống nhất. Gần đây, tín ngưỡng Phật giáo đang tràn về nông thôn nên nhiều miễu khi cúng có mời sư thầy đến để tụng kinh cầu an cho bà con trong xóm ấp. + Lễ cúng miễu cô hồn Chương trình cúng miễu cô hồn cũng giống với chương trình cúng miễu ông, tức là cũng có các nghi tiết cúng (hay tế), tiền vàng, Tiền yết, tiền sư và Chánh cúng. Ngoài ra, khi cúng miễu cô hồn còn phải mời sư thầy đến để tụng kinh cầu siêu và khí thực cho cô hồn. Những nơi có điều kiện hơn, lễ cúng cô hồn sẽ kéo dài ra tận 3 ngày, mời nhiều sư thầy đến “ứng phú” và giàn nhạc lễ đến làm lễ theo khoa nhi Phật giáo như : lễ Hưng tác, lễ Chiêu u, lễ Khai chung bản thỉnh Phật, thỉnh Tổ, lễ Đề phan, lễ Tịch trù cấp thủy, lễ Lược pháp, lễ các Thủy quan, lễ thỉnh Thập điện và cuối cùng là lễ đăng đàn Chân tế cô hồn. + Lễ cúng miễu bà Ở Vĩnh Long có nhiều miễu thờ Thất thánh Nương nương, Ngũ hàng Nương nương và Thiên hậu Thánh mẫu… (thuộc văn hóa Hán - Việt) nhưng tất cả đều áp dụng nghi lễ cúng miễu nữ thần Thiên Y A Na (hoặc Chúa xứ Thánh mẫu và Thủy long Thần nữ… ). Chương trình cúng miễu bà gồm có các nghi thức : lễ thỉnh Đất và Nước (đất và nước đước lấy từ giữa dòng sông đưa về, ngụ ý là mời thần về dự lễ, ý nghĩa tương tự với lễ thỉnh Tro). Lễ cúng (hay lễ tế) Tiên sư, Tiền vãng. Lễ Tiền yết và lễ Chánh cúng. Đặc biệt vì nữ thần Thiên Y A Na Ngọc Diễn Phi vì gốc là từ tín ngưỡng Chăm nên trước kia mới có tục mời bà bóng đến rỗi mời, múa dâng lễ (gồm dâng một mâm vàng - mô hình là chiếc tháp Chàm bằng giấy, dâng 3 chén bông và 3 chén trái cây). Các nghi tiết này đều phải có giàn nhạc lễ diễn đầu. Những nơi có điều kiện hơn có thể mời diễn viên (thường là các thầy đờn và các bà bóng) hát tuồng “Địa nàng” hay “Địa trạo nghinh năm bà” và múa tạp kỹ. Chương trình văn nghệ này thường mang tính tùy hứng đề nghị, ít khi tổ chức trước. Nhiều nơi khi tổ chức cúng miễu bà cũng mời sư đến tụng kinh cầu an. Văn Xương Các ở Văn Thánh Miếu Vĩnh Long Điều đáng chú ý ở đây là tục mời bà bóng đến rồi mời múa dâng lễ là tục lệ không có gì đáng phê phán. Chỉ trừ những tiết mục có người lợi dụng danh nghĩa “bà về”, dùng lời huyễn hoặc và mê tín. Nhà nghiên cứu Trương Ngọc Tường - Sách Tìm hiểu Văn hóa Vĩnh Long

Related Figures

Lễ hội Kỳ Yên

Thông tin thời kỳ

Lễ kỳ yên mang ý nghĩa là một ngày giỗ hội của làng. Mục đích của lễ kỳ yên là tế thần thành hoàng để cầu quốc thái dân an, xóm làng thịnh vượng, ấm no, hạnh phúc. Lễ hội Kỳ Yên tại Vĩnh Long Phần Lễ gồm có các nghi lễ chính sau: lễ thỉnh sắc thần; cúng miễu, liệt sĩ; lễ tế Thần Nông, lễ Túc yết; lễ cúng Tiền hiền, Hậu hiền, Hội viên quá vãng; lễ Chánh tế; lễ đưa sắc thần. Các đình đều thờ tiền hiền và hậu hiền là những con người có công quy dân lập làng hoặc bỏ ra tiền của để xây dựng các công trình phúc lợi công cộng đầu tiên và để lại gương soi cho đời sau. Vì thế cho nên trong chương trình lễ kỳ yên đều có nghi tiết tế các vị tiền bối hữu công kể trên. Cũng mang được ý nghĩa “uống nước nhớ nguồn” như vậy, nên nhiều đình bày ra nghi tiết tế Quốc Tổ Hùng Vương, Bác Hồ hoặc liệt sĩ. Nói tóm lại, ngày kỳ yên mang ý nghĩa là một ngày giỗ hội của làng. Người dân ở địa phương, cho dù có đi làm ăn xa thì đến ngày ấy đều mong muốn trở về để tham dự. Tất cả các nghi tiết dù ngắn hay dài, đơn giản hay phong phú… đều mang ý nghĩa là biểu lộ tấm lòng thành của mình. Độc đáo lễ hội Kỳ Yên Riêng đối với các danh nhân ở địa phương như Lâm Thao Quận công Châu Văn Tiếp, Hữu phủ Tống Phước Hiệp, Thống chế Điều bát Nguyễn Văn Tồn hay quan Tiền hiền Phan Công An, ngày lễ hội là ngày gắn liền với ngày giỗ, ngày kỷ niệm. Nghi thức tế lễ cũng tương tự như nghi thức tế lễ trong ngày kỳ yên. Có thể nói, lễ kỳ yên ở đình làng là một nghi thức căn bản, có thể áp dụng được cho tất cả các đền miếu. Riêng ngày giỗ Thống chế Điều bát Nguyễn Văn Tồn (ngày mùng 3 và ngày mùng 4 Tết) mang đầy đủ màu sắc Kinh - Hoa - Khmer, là một ngày lễ hội đẹp mắt và hấp dẫn. Các nghi lễ thường giống nhau, gồm có một tiết mục dâng hương, ba lần dâng rượu và một lần dâng trà. Cuối mỗi nghi lễ đều có một bài văn tế thay cho lời khấn, nội dung bài tế gồm những lời tán dương thần thánh và những lời cầu nguyện của dân làng. Khi tế lễ phải có một giàn nhạc cụ để gõ nhịp gồm : chuông, mõ, chiêng, trống. Mõ là sự tượng trưng cho uy quyền địa phương nên được dẫn đầu. Những buổi lễ tế Quan Công, Khổng Tử hoặc một số thần linh khác thì lại không được dùng mõ. Ngoài giàn nhạc cụ gõ nhịp vừa kể trên còn có giàn nhạc lễ, đủ ngũ âm. Người phục vụ tế lễ bao gồm có một cặp lễ sanh xướng ngôn, một cặp lễ sanh bưng đè, một cặp lễ sanh lặp lại (do chưa có máy khuếch đại) và một cặp lễ sanh dâng lễ vật. Ngoài ra, trước các lễ sanh đăng đài có thể sẽ có võ sĩ múa dẫn lễ (mô phỏng điệu “Tiên nữ dâng hoa” nhà chùa khi dâng lục cúng). Phía sau các lễ sanh vừa kể trên cũng có thể sẽ có mấy cô đào hóa trang thành các tiên nữ vừa đi vừa cầm quạt hát theo điệu thài. Tất cả các tiết mục vừa kể ở trên do một người am tường gọi là Hương lễ chỉ huy. Trên thực tế lễ kỳ yên thì phần “lễ” là phần quan trọng hơn phần “hội”. Ở đây, các đối tượng được cúng lễ là tập hợp thần linh đông đảo không phải chỉ riêng có thần Thành hoàng bổn cảnh. Do đó, khi cúng đình cũng có nghĩa là cúng cả miễu. Trước kia, khi cúng miễu thì phải mời bà bóng đến rồi mời múa hát. Lễ kỳ yên cũng có nghĩa là “lễ cầu an” nên thường mời các vị chân tu đến để tụng kinh cầu an hoặc mời thầy pháp đến để gõ đầu tiễn thần “ôn hoàng dịch lệ” đem lại sự an lành cho xóm làng. Thế nhưng, khoảng mấy chục năm trở lại đây, tục mời bà bóng và mời thầy pháp không còn. Lễ kỳ yên mang tính thuần khiết hơn xưa. Lễ kỳ yên cũng là dịp để dân làng họp mặt, bàn chuyện gia đình yên ấm và vui chơi. Xưa kia, các đình thuộc vùng Vĩnh Long có tục cứ 3 năm đáo lệ là lại tổ chức hát bội cúng thần giúp vui bá gia bá tánh. Những tục lệ này giúp thắt chặt tình cộng đồng. Còn hát xướng trong ngày kỳ yên không phải là một loại văn nghệ bình thường, mà nó mang nội dung nghi lễ. Chương trình văn nghệ phải có nội dung đạo lý và- kết thúc có hậu. Lễ kỳ yên còn là dịp để cho các nghệ nhân giới thiệu sự khéo léo của bản thân mình như chưng hoa kết quả hoặc giới thiệu cái đỉnh đồng, giới thiệu cái lọ cắm hoa. Lễ Kỳ yên còn là dịp cho những người làm vườn giới thiệu các loại cây trái mới, những người làm ruộng giới thiệu các giống nếp ngon qua tài thổi xôi, làm bánh của những chị em phụ nữ. Nói đến hội hè cũng là nói đến tiệc tùng yến ẩm. Thế nhưng từ thời xưa, ở tại địa phương này đã có lệ, hễ được hưởng lộc nhiều thì phải đóng góp nhiều nên không có cảnh “một miếng thịt làng bằng một sàng xó bếp” và cũng không có tục “chiếu trên, chiếu dưới” nhậu nhẹt say sưa. Do đó, tiệc tùng yến ẩm ở trong ngày lễ kỳ yên chỉ mang tính liên hoan và chiêu đãi. Tưng bừng lễ hội Kỳ Yên Nhà nghiên cứu Trương Ngọc Tường - Sách Tìm hiểu Văn hóa Vĩnh Long

Lễ kỳ yên mang ý nghĩa là một ngày giỗ hội của làng. Mục đích của lễ kỳ yên là tế thần thành hoàng để cầu quốc thái dân an, xóm làng thịnh vượng, ấm no, hạnh phúc.

Lễ hội Kỳ Yên tại Vĩnh Long Phần Lễ gồm có các nghi lễ chính sau: lễ thỉnh sắc thần; cúng miễu, liệt sĩ; lễ tế Thần Nông, lễ Túc yết; lễ cúng Tiền hiền, Hậu hiền, Hội viên quá vãng; lễ Chánh tế; lễ đưa sắc thần. Các đình đều thờ tiền hiền và hậu hiền là những con người có công quy dân lập làng hoặc bỏ ra tiền của để xây dựng các công trình phúc lợi công cộng đầu tiên và để lại gương soi cho đời sau. Vì thế cho nên trong chương trình lễ kỳ yên đều có nghi tiết tế các vị tiền bối hữu công kể trên. Cũng mang được ý nghĩa “uống nước nhớ nguồn” như vậy, nên nhiều đình bày ra nghi tiết tế Quốc Tổ Hùng Vương, Bác Hồ hoặc liệt sĩ. Nói tóm lại, ngày kỳ yên mang ý nghĩa là một ngày giỗ hội của làng. Người dân ở địa phương, cho dù có đi làm ăn xa thì đến ngày ấy đều mong muốn trở về để tham dự. Tất cả các nghi tiết dù ngắn hay dài, đơn giản hay phong phú… đều mang ý nghĩa là biểu lộ tấm lòng thành của mình. Độc đáo lễ hội Kỳ Yên Riêng đối với các danh nhân ở địa phương như Lâm Thao Quận công Châu Văn Tiếp, Hữu phủ Tống Phước Hiệp, Thống chế Điều bát Nguyễn Văn Tồn hay quan Tiền hiền Phan Công An, ngày lễ hội là ngày gắn liền với ngày giỗ, ngày kỷ niệm. Nghi thức tế lễ cũng tương tự như nghi thức tế lễ trong ngày kỳ yên. Có thể nói, lễ kỳ yên ở đình làng là một nghi thức căn bản, có thể áp dụng được cho tất cả các đền miếu. Riêng ngày giỗ Thống chế Điều bát Nguyễn Văn Tồn (ngày mùng 3 và ngày mùng 4 Tết) mang đầy đủ màu sắc Kinh - Hoa - Khmer, là một ngày lễ hội đẹp mắt và hấp dẫn. Các nghi lễ thường giống nhau, gồm có một tiết mục dâng hương, ba lần dâng rượu và một lần dâng trà. Cuối mỗi nghi lễ đều có một bài văn tế thay cho lời khấn, nội dung bài tế gồm những lời tán dương thần thánh và những lời cầu nguyện của dân làng. Khi tế lễ phải có một giàn nhạc cụ để gõ nhịp gồm : chuông, mõ, chiêng, trống. Mõ là sự tượng trưng cho uy quyền địa phương nên được dẫn đầu. Những buổi lễ tế Quan Công, Khổng Tử hoặc một số thần linh khác thì lại không được dùng mõ. Ngoài giàn nhạc cụ gõ nhịp vừa kể trên còn có giàn nhạc lễ, đủ ngũ âm. Người phục vụ tế lễ bao gồm có một cặp lễ sanh xướng ngôn, một cặp lễ sanh bưng đè, một cặp lễ sanh lặp lại (do chưa có máy khuếch đại) và một cặp lễ sanh dâng lễ vật. Ngoài ra, trước các lễ sanh đăng đài có thể sẽ có võ sĩ múa dẫn lễ (mô phỏng điệu “Tiên nữ dâng hoa” nhà chùa khi dâng lục cúng). Phía sau các lễ sanh vừa kể trên cũng có thể sẽ có mấy cô đào hóa trang thành các tiên nữ vừa đi vừa cầm quạt hát theo điệu thài. Tất cả các tiết mục vừa kể ở trên do một người am tường gọi là Hương lễ chỉ huy. Trên thực tế lễ kỳ yên thì phần “lễ” là phần quan trọng hơn phần “hội”. Ở đây, các đối tượng được cúng lễ là tập hợp thần linh đông đảo không phải chỉ riêng có thần Thành hoàng bổn cảnh. Do đó, khi cúng đình cũng có nghĩa là cúng cả miễu. Trước kia, khi cúng miễu thì phải mời bà bóng đến rồi mời múa hát. Lễ kỳ yên cũng có nghĩa là “lễ cầu an” nên thường mời các vị chân tu đến để tụng kinh cầu an hoặc mời thầy pháp đến để gõ đầu tiễn thần “ôn hoàng dịch lệ” đem lại sự an lành cho xóm làng. Thế nhưng, khoảng mấy chục năm trở lại đây, tục mời bà bóng và mời thầy pháp không còn. Lễ kỳ yên mang tính thuần khiết hơn xưa. Lễ kỳ yên cũng là dịp để dân làng họp mặt, bàn chuyện gia đình yên ấm và vui chơi. Xưa kia, các đình thuộc vùng Vĩnh Long có tục cứ 3 năm đáo lệ là lại tổ chức hát bội cúng thần giúp vui bá gia bá tánh. Những tục lệ này giúp thắt chặt tình cộng đồng. Còn hát xướng trong ngày kỳ yên không phải là một loại văn nghệ bình thường, mà nó mang nội dung nghi lễ. Chương trình văn nghệ phải có nội dung đạo lý và- kết thúc có hậu. Lễ kỳ yên còn là dịp để cho các nghệ nhân giới thiệu sự khéo léo của bản thân mình như chưng hoa kết quả hoặc giới thiệu cái đỉnh đồng, giới thiệu cái lọ cắm hoa. Lễ Kỳ yên còn là dịp cho những người làm vườn giới thiệu các loại cây trái mới, những người làm ruộng giới thiệu các giống nếp ngon qua tài thổi xôi, làm bánh của những chị em phụ nữ. Nói đến hội hè cũng là nói đến tiệc tùng yến ẩm. Thế nhưng từ thời xưa, ở tại địa phương này đã có lệ, hễ được hưởng lộc nhiều thì phải đóng góp nhiều nên không có cảnh “một miếng thịt làng bằng một sàng xó bếp” và cũng không có tục “chiếu trên, chiếu dưới” nhậu nhẹt say sưa. Do đó, tiệc tùng yến ẩm ở trong ngày lễ kỳ yên chỉ mang tính liên hoan và chiêu đãi. Tưng bừng lễ hội Kỳ Yên Nhà nghiên cứu Trương Ngọc Tường - Sách Tìm hiểu Văn hóa Vĩnh Long

Related Figures

Lễ hội Lăng Ông

Thông tin thời kỳ

Lăng Ông - theo cách gọi quen thuộc từ nhiều đời trước của người dân địa phương, đây là khu di tích văn hóa lễ hội đình thần, tọa lạc tại giồng Thanh Bạch thuộc ấp Mỹ Hòa, Thiện Mỹ, cách thị trấn Trà Ôn (tỉnh Vĩnh Long) khoảng 2 km. Đây chính là nơi phần mộ và miếu thờ phụng để tri ân, cầu phước bởi công đức của một ông quan ở triều đình Nhà Nguyễn đó là ông Nguyễn Văn Tồn. Khu Lăng mộ, miếu thờ này đã được Bộ Văn hóa -Thông tin công nhận là một di tích văn hóa. Đền Lăng Ông ở Trà Ôn Quan Tiền tướng quân Thống chế Điều bát Nguyễn Văn Tồn (1763 - 1820) là một người dân tộc Khơ-me, quê ở tại làng Nguyệt Lãng, xã Bình Phú, Càng Long (Trà Vinh). Ông có tên thật là Thạch Duồng. Vì ông hết lòng tận trung và đã có công với nhà Nguyễn nên ông được cho mang “quốc tính” và được lấy họ của nhà vua làm tự danh. Đời nhà Nguyễn, ông được phân công đi chiêu mộ thành lập một đội quân là người dân tộc Khơ-me và lãnh nhiệm vụ thống quản cả đội quân đó. Vào năm Gia Long thứ nhất (1802) ông được thăng Cai cơ, trấn giữ đồn Trà Ôn (thuộc Trấn Giang) kiêm luôn Quản hóa phủ Trà Vinh và Mang Thít thuộc Vĩnh Trấn. Ở thời kỳ này, ông đã có công giúp được nhà Nguyễn dẹp loạn ngoại xâm và nội phản ở biên giới Tây Nam. Vào năm Gia Long thứ bảy (1808) và năm Gia Long thứ mười một (1811) ông được thăng Thống Chế. Năm 1819 ông được phân công trông coi dân phu và cùng giúp Thoại Ngọc Hầu đào kênh Vĩnh Tế. Do lao tâm, lao lực ông đã bị bệnh và mất đầu năm Canh Thìn 1820. Công đức của ông là giúp dân ở vùng Trà Ôn, Trà Vinh và Măng Thít khai khẩn đất hoang, thành lập xóm làng. Một nghi thức trong lễ hội Lăng Ông ở Trà Ôn tại Vĩnh Long Hiện nay ngày giỗ vào đầu tháng Giêng hàng năm, được gọi là Lễ hội Lăng Ông, nó mang ý nghĩa cầu phước vào những ngày xuân và quan Thống chế Điều bát Nguyễn Văn Tồn trở thành vị phúc thần của bà con 3 dân tộc:Khơ-me, Kinh, Hoa. Trong ngày lễ thường có hàng nghìn du khách đến tham dự lễ hội. Lễ lớn khi có cả chục nghìn khách. Người ta nói, ông là một bậc tiền bối linh thiêng trên đất này, phải cầu phước trong dịp ngày giỗ của ông thì vùng đất này mới được mưa thuận gió hòa, bà con trong vùng đất này sẽ làm ăn phát đạt, thịnh vượng trong làm ăn, gia cư, xóm ấp luôn yên lành. Đây cũng là một địa chỉ du lịch văn hóa lễ hội đình làng truyền thống, đã được những du khách thập phương ghé đến để thưởng ngoạn phong cảnh, để thắp hương cầu may và được xem các hoạt động văn hóa nghệ thuật dân gian, làm phong phú thêm những nhu cầu tâm thức, tâm linh và nâng cao thêm vốn hiểu biết về văn hóa các vùng quê thuộc miệt vuờn Nam bộ./. Lễ hội Lăng Ông ở Trà Ôn tại Vĩnh Long

Lăng Ông - theo cách gọi quen thuộc từ nhiều đời trước của người dân địa phương, đây là khu di tích văn hóa lễ hội đình thần, tọa lạc tại giồng Thanh Bạch thuộc ấp Mỹ Hòa, Thiện Mỹ, cách thị trấn Trà Ôn (tỉnh Vĩnh Long) khoảng 2 km. Đây chính là nơi phần mộ và miếu thờ phụng để tri ân, cầu phước bởi công đức của một ông quan ở triều đình Nhà Nguyễn đó là ông Nguyễn Văn Tồn. Khu Lăng mộ, miếu thờ này đã được Bộ Văn hóa -Thông tin công nhận là một di tích văn hóa.

Đền Lăng Ông ở Trà Ôn Quan Tiền tướng quân Thống chế Điều bát Nguyễn Văn Tồn (1763 - 1820) là một người dân tộc Khơ-me, quê ở tại làng Nguyệt Lãng, xã Bình Phú, Càng Long (Trà Vinh). Ông có tên thật là Thạch Duồng. Vì ông hết lòng tận trung và đã có công với nhà Nguyễn nên ông được cho mang “quốc tính” và được lấy họ của nhà vua làm tự danh. Đời nhà Nguyễn, ông được phân công đi chiêu mộ thành lập một đội quân là người dân tộc Khơ-me và lãnh nhiệm vụ thống quản cả đội quân đó. Vào năm Gia Long thứ nhất (1802) ông được thăng Cai cơ, trấn giữ đồn Trà Ôn (thuộc Trấn Giang) kiêm luôn Quản hóa phủ Trà Vinh và Mang Thít thuộc Vĩnh Trấn. Ở thời kỳ này, ông đã có công giúp được nhà Nguyễn dẹp loạn ngoại xâm và nội phản ở biên giới Tây Nam. Vào năm Gia Long thứ bảy (1808) và năm Gia Long thứ mười một (1811) ông được thăng Thống Chế. Năm 1819 ông được phân công trông coi dân phu và cùng giúp Thoại Ngọc Hầu đào kênh Vĩnh Tế. Do lao tâm, lao lực ông đã bị bệnh và mất đầu năm Canh Thìn 1820. Công đức của ông là giúp dân ở vùng Trà Ôn, Trà Vinh và Măng Thít khai khẩn đất hoang, thành lập xóm làng. Một nghi thức trong lễ hội Lăng Ông ở Trà Ôn tại Vĩnh Long Hiện nay ngày giỗ vào đầu tháng Giêng hàng năm, được gọi là Lễ hội Lăng Ông, nó mang ý nghĩa cầu phước vào những ngày xuân và quan Thống chế Điều bát Nguyễn Văn Tồn trở thành vị phúc thần của bà con 3 dân tộc:Khơ-me, Kinh, Hoa. Trong ngày lễ thường có hàng nghìn du khách đến tham dự lễ hội. Lễ lớn khi có cả chục nghìn khách. Người ta nói, ông là một bậc tiền bối linh thiêng trên đất này, phải cầu phước trong dịp ngày giỗ của ông thì vùng đất này mới được mưa thuận gió hòa, bà con trong vùng đất này sẽ làm ăn phát đạt, thịnh vượng trong làm ăn, gia cư, xóm ấp luôn yên lành. Đây cũng là một địa chỉ du lịch văn hóa lễ hội đình làng truyền thống, đã được những du khách thập phương ghé đến để thưởng ngoạn phong cảnh, để thắp hương cầu may và được xem các hoạt động văn hóa nghệ thuật dân gian, làm phong phú thêm những nhu cầu tâm thức, tâm linh và nâng cao thêm vốn hiểu biết về văn hóa các vùng quê thuộc miệt vuờn Nam bộ./. Lễ hội Lăng Ông ở Trà Ôn tại Vĩnh Long

Related Figures

Lễ Donta của người Khơme

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 16/8- 30/8 Âm lịch Lễ Đonta của người dân Khơme được tổ chức vào cuối tháng tám âm lịch, đây cuãng là một trong những hội lễ quan trọng được người dân Khơme xem là cái Tết thứ hai trong năm. Lễ hội Đonta bắt đầu từ ngày 16 tháng 8 âm lịch và kéo dài đến ngày cuối của tháng 8 âm lịch hàng năm. Trong suốt khoảng thời gian này, những gia đình người Khơme thường mang cơm nước, bánh trái, hoa quả, … đến chùa để sư sãi làm lễ cúng cho vong hồn của những người đã khuất và làm lễ cầu siêu cho những vong hồn đó. Lễ Donta của người Khơme tại Vĩnh Long Do tính chất cùng góp vật thực để cúng vong hồn cho những người đã khuất, cho những cô hồn, để sư sãi dùng cũng như cho bữa cơm cộng đồng, đặc biệt là có “baibanh” (xôi tròn hay nắm cơm) mà vào ngày lễ chính của lễ Đonta (ngày 30 tháng 8 âm lịch) được người dân Khơme gọi là ngày “phchumbanh”, tức là lễ “góp bánh”. Sau khi kết thúc các nghi thức lễ tại chùa vào buổi sáng ngày lễ phchum banh hay ngày lễ chính thức, mọi người sẽ trở về nhà để làm lễ cúng ông bà được gọi là lễ “senchaktum”. Người ta làm cỗ, thắp nhang đèn để dâng cúng tổ tiên, ông bà, cầu xin cho vong hồn của họ được siêu thoát và van vái, cầu xin ông bà phù hộ. Lễ Donta của người Khmer Nhìn chung, qua nghi thức, qua thời gian và qua cách thức tổ chức lễ có thể thấy lễ hội Đonta là sự kết hợp giữa hình thức lễ nghi nông nghiệp với lễ cúng ông bà, tổ tiên và lễ xá tội vong nhân của đạo Phật. Sự hợp nhất các ý nghĩa của lễ hội Đonta đã làm cho nó có được tầm quan trọng trong hệ thống lễ hội cộng đồng của người dân Khơme tại Vĩnh Long. Lễ Donta của đồng bào dân tộc Khơme Đối với đời sống tinh thần của con người thì các lễ hội được xem như một sợi dây cộng cảm, nơi người ta có thể cùng nhau sẻ chia lòng biết ơn với ông bà, với tổ tiển, niềm tin tôn giáo, gửi gắm một ước vọng về tương lai, … Cũng với ý nghĩa như vậy, các lễ hội ở tỉnh Vĩnh Long đã thể hiện rõ nét đặc trưng của vùng đất nơi ba dân tộc Khơme, Hoa, Việt đang sinh sống trong tình đoàn kết và gắn bó.

Lễ Đonta của người dân Khơme được tổ chức vào cuối tháng tám âm lịch, đây cuãng là một trong những hội lễ quan trọng được người dân Khơme xem là cái Tết thứ hai trong năm. Lễ hội Đonta bắt đầu từ ngày 16 tháng 8 âm lịch và kéo dài đến ngày cuối của tháng 8 âm lịch hàng năm. Trong suốt khoảng thời gian này, những gia đình người Khơme thường mang cơm nước, bánh trái, hoa quả, … đến chùa để sư sãi làm lễ cúng cho vong hồn của những người đã khuất và làm lễ cầu siêu cho những vong hồn đó.

Lễ Donta của người Khơme tại Vĩnh Long Do tính chất cùng góp vật thực để cúng vong hồn cho những người đã khuất, cho những cô hồn, để sư sãi dùng cũng như cho bữa cơm cộng đồng, đặc biệt là có “baibanh” (xôi tròn hay nắm cơm) mà vào ngày lễ chính của lễ Đonta (ngày 30 tháng 8 âm lịch) được người dân Khơme gọi là ngày “phchumbanh”, tức là lễ “góp bánh”. Sau khi kết thúc các nghi thức lễ tại chùa vào buổi sáng ngày lễ phchum banh hay ngày lễ chính thức, mọi người sẽ trở về nhà để làm lễ cúng ông bà được gọi là lễ “senchaktum”. Người ta làm cỗ, thắp nhang đèn để dâng cúng tổ tiên, ông bà, cầu xin cho vong hồn của họ được siêu thoát và van vái, cầu xin ông bà phù hộ. Lễ Donta của người Khmer Nhìn chung, qua nghi thức, qua thời gian và qua cách thức tổ chức lễ có thể thấy lễ hội Đonta là sự kết hợp giữa hình thức lễ nghi nông nghiệp với lễ cúng ông bà, tổ tiên và lễ xá tội vong nhân của đạo Phật. Sự hợp nhất các ý nghĩa của lễ hội Đonta đã làm cho nó có được tầm quan trọng trong hệ thống lễ hội cộng đồng của người dân Khơme tại Vĩnh Long. Lễ Donta của đồng bào dân tộc Khơme Đối với đời sống tinh thần của con người thì các lễ hội được xem như một sợi dây cộng cảm, nơi người ta có thể cùng nhau sẻ chia lòng biết ơn với ông bà, với tổ tiển, niềm tin tôn giáo, gửi gắm một ước vọng về tương lai, … Cũng với ý nghĩa như vậy, các lễ hội ở tỉnh Vĩnh Long đã thể hiện rõ nét đặc trưng của vùng đất nơi ba dân tộc Khơme, Hoa, Việt đang sinh sống trong tình đoàn kết và gắn bó.

Related Figures

Lễ hội Đền Hạ

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 11/2- 16/2 Âm lịch Đền Hạ được xây dựng dưới thời hậu Lê vào năm 1738, thờ Mẫu thần nhằm đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của những người địa phương. Lễ hội đền Hạ là một trong những lễ hội lớn nhất trong năm của người dân ở thị xã Tuyên Quang. Lễ hội diễn ra từ ngày 11 đến ngày 16 tháng Hai âm lịch hàng năm.Đây là một nét sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng của nhân dân tại thị xã Tuyên Quang trong dịp đầu năm mới, cầu cho mưa thuận, gió hoà, mùa màng tươi tốt, cầu cho mọi người luôn được khoẻ mạnh. Quang cảnh lễ hội Đền Hạ Ngày 11 và ngày 12 tháng 2 là ngày chính lễ. Từ 6 giờ sáng ngày 11 tháng 2, nhân dân trong vùng và du khách thập phương tập trung tại đền Ỷ La để rước bà Phương Dung công chúa từ đền Ỷ La ra đền Hạ. Tiếp đến vào ngày 12 tháng 2 mọi người lại tề tựu đông đủ ở đền Thượng, xã Tràng Đà để tham gia vào đoàn rước bà Ngọc Lân công chúa từ đền Thượng ra đền Hạ để cho hai bà gặp nhau tại đền Hạ. Dẫn đầu đoàn rước lễ là một đội múa lân, trống, cờ, phường bát âm và tiếp đó là nhang án, kiệu bát cống kiệu võng, các cụ bô lão, những người hành lễ, những du khách thập phương. Đoàn rước Mẫu đi đến nơi đâu cũng có nhân dân nô nức ra xem, nhiều gia đình trong vùng còn sắp một mâm lễ, đinh tiền, nén nhang và chờ đoàn rước đi qua, cầu Mẫu mang phước lộc đến cho gia đình mình. Không chỉ xem, chỉ ngắm, mà hàng ngàn người từ trung niên, những cụ già 70 tuổi, 80 tuổi đến những em nhỏ cũng tự nguyện ngồi thành hàng dọc đường để được chui qua kiệu Mẫu. Lễ hội Đền Hạ thu hút đông đảo người dân tham gia Người xưa quan niệm rằng nếu được chui qua kiệu Mẫu, người già thì sẽ có sức khoẻ, trẻ con thì hay ăn chóng lớn, người người ăn nên làm ra... Một nghi thức trong lễ hội Đền Hạ Ngay sau các phần lễ, là phần hội được diễn ra với rất nhiều những trò chơi như: Đánh tổ tôm, cờ tướng, tam cúc, ô ăn quan, kéo co, chọi gà, hát văn... Vào ngày 16-2 âm lịch, nhân dân lại làm lễ hoàn cung để đưa Mẫu trở về đền thờ riêng của mình để phù trợ và giữ yên cho muôn dân được an lành, làm ăn tấn tới. Lễ rước Mẫu từ đền Ỷ La đến đền Hạ tại Tuyên Quang Trong những ngày rước Mẫu, đền Hạ đông hơn gấp bội lần. Nhân dân tổ chức lễ tế. Đông đảo bà con nhân dân và du khách thập phương hoà trong âm hưởng của những bài tế mừng Mẫu. Bên cạnh những bài tế, là những lễ vật dâng thánh Mẫu gồm có oản, hoa quả, xôi... Tất cả đều thể hiện tấm lòng biết ơn trời đất, biết ơn Thánh Mẫu Thượng ngàn đã che chở cho nước thịnh, dân an, mùa màng luôn tươi tốt.

Đền Hạ được xây dựng dưới thời hậu Lê vào năm 1738, thờ Mẫu thần nhằm đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của những người địa phương. Lễ hội đền Hạ là một trong những lễ hội lớn nhất trong năm của người dân ở thị xã Tuyên Quang. Lễ hội diễn ra từ ngày 11 đến ngày 16 tháng Hai âm lịch hàng năm.Đây là một nét sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng của nhân dân tại thị xã Tuyên Quang trong dịp đầu năm mới, cầu cho mưa thuận, gió hoà, mùa màng tươi tốt, cầu cho mọi người luôn được khoẻ mạnh.

Quang cảnh lễ hội Đền Hạ Ngày 11 và ngày 12 tháng 2 là ngày chính lễ. Từ 6 giờ sáng ngày 11 tháng 2, nhân dân trong vùng và du khách thập phương tập trung tại đền Ỷ La để rước bà Phương Dung công chúa từ đền Ỷ La ra đền Hạ. Tiếp đến vào ngày 12 tháng 2 mọi người lại tề tựu đông đủ ở đền Thượng, xã Tràng Đà để tham gia vào đoàn rước bà Ngọc Lân công chúa từ đền Thượng ra đền Hạ để cho hai bà gặp nhau tại đền Hạ. Dẫn đầu đoàn rước lễ là một đội múa lân, trống, cờ, phường bát âm và tiếp đó là nhang án, kiệu bát cống kiệu võng, các cụ bô lão, những người hành lễ, những du khách thập phương. Đoàn rước Mẫu đi đến nơi đâu cũng có nhân dân nô nức ra xem, nhiều gia đình trong vùng còn sắp một mâm lễ, đinh tiền, nén nhang và chờ đoàn rước đi qua, cầu Mẫu mang phước lộc đến cho gia đình mình. Không chỉ xem, chỉ ngắm, mà hàng ngàn người từ trung niên, những cụ già 70 tuổi, 80 tuổi đến những em nhỏ cũng tự nguyện ngồi thành hàng dọc đường để được chui qua kiệu Mẫu. Lễ hội Đền Hạ thu hút đông đảo người dân tham gia Người xưa quan niệm rằng nếu được chui qua kiệu Mẫu, người già thì sẽ có sức khoẻ, trẻ con thì hay ăn chóng lớn, người người ăn nên làm ra... Một nghi thức trong lễ hội Đền Hạ Ngay sau các phần lễ, là phần hội được diễn ra với rất nhiều những trò chơi như: Đánh tổ tôm, cờ tướng, tam cúc, ô ăn quan, kéo co, chọi gà, hát văn... Vào ngày 16-2 âm lịch, nhân dân lại làm lễ hoàn cung để đưa Mẫu trở về đền thờ riêng của mình để phù trợ và giữ yên cho muôn dân được an lành, làm ăn tấn tới. Lễ rước Mẫu từ đền Ỷ La đến đền Hạ tại Tuyên Quang Trong những ngày rước Mẫu, đền Hạ đông hơn gấp bội lần. Nhân dân tổ chức lễ tế. Đông đảo bà con nhân dân và du khách thập phương hoà trong âm hưởng của những bài tế mừng Mẫu. Bên cạnh những bài tế, là những lễ vật dâng thánh Mẫu gồm có oản, hoa quả, xôi... Tất cả đều thể hiện tấm lòng biết ơn trời đất, biết ơn Thánh Mẫu Thượng ngàn đã che chở cho nước thịnh, dân an, mùa màng luôn tươi tốt.

Related Figures

Lễ hội Cầu mùa Đình Tân Trào

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 4/1 Âm lịch Lễ hội Cầu mùa được tổ chức hàng năm vào ngày mồng 4 tháng Giêng tại Đình Tân Trào và Quảng trường Tân Trào huyện Sơn Dương Tuyên Quang. Đây là Lễ hội cầu mùa của làng Kim Long ngày xưa (nay do 3 thôn Tân Lập, Mỏ Ché và Lũng Búng thực hiện). Một nghi thức trong lễ hội Cầu mùa Đình Tân Trào Lễ hội được chính thức bắt đầu ở Đình Tân Trào, ngôi đình đã gắn liền với đời sống của người dân Tân Trào và gắn liền với toàn thể dân tộc Việt Nam. Lễ hội Cầu mùa tại Đình Tân Trào có ý nghĩa cả về mặt tâm linh cũng như về mặt giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ. Đặc sắc lễ hội Cầu mùa Đình Tân Trào Lễ hội cầu mùa gồm có 2 phần là phần lễ và phần hội. Phần lễ được tổ chức hết sức thành kính và trang nghiêm ở tại Đình Tân Trào. tám mâm cỗ lần lượt được tám thanh niên bưng vào đền để làm lễ. Sau khi tiếng chiêng, tiếng trống vang lên, tất cả mọi người đều phủ phục để tỏ lòng biết ơn đến vị Thành Hoàng làng và tám vị Đại vương. Năm nay, phần nghi lễ ở trong đình là do 3 ông Hương đình đảm nhận. Phần lễ trong lễ hội Cầu mùa Đình Tân Trào Sau khi hành lễ xong tại Đình Tân Trào là lễ rước kiệu Thành Hoàng làng từ Đình Tân Trào đến Quảng trường Tân Trào để tổ chức tiếp phần hội. Những trò chơi dân gian được đông đảo nhân dân và du khách tham gia như kéo co, bắt trạch, tung còn và leo cầu vồng. Trò chơi bắt trạch trong chum là do một đôi trai gái thực hiện và dâng đôi trạch bắt được tại kiệu Thành Hoàng làng (lúc này được đặt trang trọng trước khán đài). Trò tung còn trong lễ hội Cầu mùa Tại phần hội còn có các tích trò tái hiện lại cảnh sinh hoạt của những người nông dân như bắt tôm cá, cày bừa,... và cả những tích trò mang đậm tính chất giáo dục nhân văn sâu sắc như: Thầy đồ dạy học, bán thuốc nam, làm then tìm vợ. Theo Baotuyenquang

Lễ hội Cầu mùa được tổ chức hàng năm vào ngày mồng 4 tháng Giêng tại Đình Tân Trào và Quảng trường Tân Trào huyện Sơn Dương Tuyên Quang. Đây là Lễ hội cầu mùa của làng Kim Long ngày xưa (nay do 3 thôn Tân Lập, Mỏ Ché và Lũng Búng thực hiện).

Một nghi thức trong lễ hội Cầu mùa Đình Tân Trào Lễ hội được chính thức bắt đầu ở Đình Tân Trào, ngôi đình đã gắn liền với đời sống của người dân Tân Trào và gắn liền với toàn thể dân tộc Việt Nam. Lễ hội Cầu mùa tại Đình Tân Trào có ý nghĩa cả về mặt tâm linh cũng như về mặt giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ. Đặc sắc lễ hội Cầu mùa Đình Tân Trào Lễ hội cầu mùa gồm có 2 phần là phần lễ và phần hội. Phần lễ được tổ chức hết sức thành kính và trang nghiêm ở tại Đình Tân Trào. tám mâm cỗ lần lượt được tám thanh niên bưng vào đền để làm lễ. Sau khi tiếng chiêng, tiếng trống vang lên, tất cả mọi người đều phủ phục để tỏ lòng biết ơn đến vị Thành Hoàng làng và tám vị Đại vương. Năm nay, phần nghi lễ ở trong đình là do 3 ông Hương đình đảm nhận. Phần lễ trong lễ hội Cầu mùa Đình Tân Trào Sau khi hành lễ xong tại Đình Tân Trào là lễ rước kiệu Thành Hoàng làng từ Đình Tân Trào đến Quảng trường Tân Trào để tổ chức tiếp phần hội. Những trò chơi dân gian được đông đảo nhân dân và du khách tham gia như kéo co, bắt trạch, tung còn và leo cầu vồng. Trò chơi bắt trạch trong chum là do một đôi trai gái thực hiện và dâng đôi trạch bắt được tại kiệu Thành Hoàng làng (lúc này được đặt trang trọng trước khán đài). Trò tung còn trong lễ hội Cầu mùa Tại phần hội còn có các tích trò tái hiện lại cảnh sinh hoạt của những người nông dân như bắt tôm cá, cày bừa,... và cả những tích trò mang đậm tính chất giáo dục nhân văn sâu sắc như: Thầy đồ dạy học, bán thuốc nam, làm then tìm vợ. Theo Baotuyenquang

Related Figures

Lễ hội Lồng Tông

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 8/1 Âm lịch Lễ hội Lồng Tông được tổ chức ngay tại thị trấn Vĩnh Lộc, Chiêm Hoá, Tuyên Quang. Lễ hội diễn ra vào ngày mùng 8 tháng Giêng hàng năm. Đây là một lễ hội mang đậm bản sắc văn hoá của người dân tộc Tày nhằm cầu cho mùa màng bội thu, mưa thuận gió hoà, dân chúng an lành... Lễ hội Lồng Tông tại Tuyên Quang thu hút đông đảo người dân tham gia Lễ hội Lồng Tông theo như nghi thức truyền thống, người ta sẽ dựng một kệ tồng 3 tầng làm bằng tre ở giữa một khu ruộng lớn và đây là nơi đặt các mâm có chứa đồ lễ để cúng thánh thần, Thần Nông và Thổ Địa . Một nghi thức trong lễ hội Lồng Tông Vào ngày tổ chức lễ hội Lồng Tông, khi trời bắt đầu hửng sáng, mặt trời bắt đầu lên cũng là lúc đoàn người rước mâm tồng ra nơi làm lễ. Đi đầu sẽ là 7 thanh niên trai tráng, mỗi người cầm trên tay một cành lá cây và vừa đi vừa vung vẩy, theo quan niệm của đồng bào là để xua đuổi rủi ro và tà khí. Đi phía sau là đoàn múa lân, tiếp đến là ông thầy Cả (người cúng chính của buổi lễ) và các ông thầy giúp việc. Theo sau là 9 mâm tồng được các thiếu nữ đội ở trên đầu. Lễ vật bao gồm có gà luộc, các loại bánh, các loại hạt giống lúa, ngô, đỗ tương, lạc, hoa quả và rượu trắng. Các mâm lễ phải được đặt thứ tự lên kệ Tồng, tầng trên cùng được gọi là thượng án là nơi đặt mâm Tồng chính lễ, tầng thứ 2 gọi là Trung án và tầng thứ 3 gọi là Hạ án, mỗi tầng sẽ đặt 4 mâm, tất cả đều đặt quay về hướng chính Đông nơi có núi Bách Thần sừng sững. Sau khi ông Thầy Cả làm lễ đặt mâm Tồng thì đến lễ tạ ơn và lễ cầu sự ấm no và hạnh phúc. Một phần quan trọng không thể thiếu được trong lễ Lồng Tông đó là phần cầu mưa và lễ cày ruộng, sau đó là đến phần cấy lúa và gieo hạt được thể hiện tượng trưng qua màn múa của các em học sinh. Lễ vật trong lễ hội Lồng Tông Bước sang đến phần hội, hoạt động đầu tiên đặc trưng, đông vui nhất là hội tung còn, đây là một trò chơi nhưng cũng là một nghi thức không bao giờ thiếu trong lễ hội Lồng Tông này. Trên cây còn sẽ treo 3 vòng nhật nguyệt, mang tượng trưng cho Thiên - Địa - Nhân (trời, đất và con người). Theo quan niệm của đồng bào nơi đây, còn phải được ném thủng và nếu thủng trước giời chính Ngọ thì năm đó là một năm mưa thuận, gió hoà, mùa màng bội thu. Trong hội còn tổ chức rất nhiều các hoạt động vui chơi khác như kéo co, thi văn nghệ, thi nấu ăn... thu hút đông đảo đồng bào các dân tộc tham gia và cổ vũ. Theo Tuyenquang.gov.vn

Lễ hội Lồng Tông được tổ chức ngay tại thị trấn Vĩnh Lộc, Chiêm Hoá, Tuyên Quang. Lễ hội diễn ra vào ngày mùng 8 tháng Giêng hàng năm. Đây là một lễ hội mang đậm bản sắc văn hoá của người dân tộc Tày nhằm cầu cho mùa màng bội thu, mưa thuận gió hoà, dân chúng an lành...

Lễ hội Lồng Tông tại Tuyên Quang thu hút đông đảo người dân tham gia Lễ hội Lồng Tông theo như nghi thức truyền thống, người ta sẽ dựng một kệ tồng 3 tầng làm bằng tre ở giữa một khu ruộng lớn và đây là nơi đặt các mâm có chứa đồ lễ để cúng thánh thần, Thần Nông và Thổ Địa . Một nghi thức trong lễ hội Lồng Tông Vào ngày tổ chức lễ hội Lồng Tông, khi trời bắt đầu hửng sáng, mặt trời bắt đầu lên cũng là lúc đoàn người rước mâm tồng ra nơi làm lễ. Đi đầu sẽ là 7 thanh niên trai tráng, mỗi người cầm trên tay một cành lá cây và vừa đi vừa vung vẩy, theo quan niệm của đồng bào là để xua đuổi rủi ro và tà khí. Đi phía sau là đoàn múa lân, tiếp đến là ông thầy Cả (người cúng chính của buổi lễ) và các ông thầy giúp việc. Theo sau là 9 mâm tồng được các thiếu nữ đội ở trên đầu. Lễ vật bao gồm có gà luộc, các loại bánh, các loại hạt giống lúa, ngô, đỗ tương, lạc, hoa quả và rượu trắng. Các mâm lễ phải được đặt thứ tự lên kệ Tồng, tầng trên cùng được gọi là thượng án là nơi đặt mâm Tồng chính lễ, tầng thứ 2 gọi là Trung án và tầng thứ 3 gọi là Hạ án, mỗi tầng sẽ đặt 4 mâm, tất cả đều đặt quay về hướng chính Đông nơi có núi Bách Thần sừng sững. Sau khi ông Thầy Cả làm lễ đặt mâm Tồng thì đến lễ tạ ơn và lễ cầu sự ấm no và hạnh phúc. Một phần quan trọng không thể thiếu được trong lễ Lồng Tông đó là phần cầu mưa và lễ cày ruộng, sau đó là đến phần cấy lúa và gieo hạt được thể hiện tượng trưng qua màn múa của các em học sinh. Lễ vật trong lễ hội Lồng Tông Bước sang đến phần hội, hoạt động đầu tiên đặc trưng, đông vui nhất là hội tung còn, đây là một trò chơi nhưng cũng là một nghi thức không bao giờ thiếu trong lễ hội Lồng Tông này. Trên cây còn sẽ treo 3 vòng nhật nguyệt, mang tượng trưng cho Thiên - Địa - Nhân (trời, đất và con người). Theo quan niệm của đồng bào nơi đây, còn phải được ném thủng và nếu thủng trước giời chính Ngọ thì năm đó là một năm mưa thuận, gió hoà, mùa màng bội thu. Trong hội còn tổ chức rất nhiều các hoạt động vui chơi khác như kéo co, thi văn nghệ, thi nấu ăn... thu hút đông đảo đồng bào các dân tộc tham gia và cổ vũ. Theo Tuyenquang.gov.vn

Related Figures

Lễ hội Khai nhạc của dân tộc Cao Lan

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 2/1 Âm lịch Hàng năm cứ vào ngày mùng 2 Tết Nguyên đán, bà con dân tộc Cao Lan ở xã Thành Long (huyện Hàm Yên) lại tổ chức Lễ hội Khai nhạc. Các tiết mục trong lễ hội này thể hiện những nét văn hoá truyền thống độc đáo của con người đồng bào dân tộc Cao Lan. Lễ hội Khai nhạc là lễ hội nằm trong nghi lễ trả nợ (đám tang, đám chay) của 4 dòng họ của người dân tộc Cao Lan: Hoàng, Lương, Lý và Hà. Từ sáng sớm các con cháu đã tổ chức lễ rước kiệu tổ tiên, tổ tông và thần linh từ nhà ra đồng (ngoài đồng sẽ dựng sẵn cái rạp đã lập đàn), sau đó ông thầy mo đánh 3 hồi trống để bắt đầu lễ Khai nhạc. Khi lễ Khai nhạc kết thúc thì cũng là lúc nghi lễ trả nợ hoàn thành. Thầy mo làm phép khai binh khiển tướng, cấp lễ hội này cho tổ tiên, tổ tông và thần linh. Coi như con cháu đã trả nợ xong công ơn của các bậc đã phù hộ cho cuộc sống của họ được bình yên và hạnh phúc trong nhiều năm qua. Nghi lễ trả nợ không phải lúc nào cũng có mà chỉ khi nào có nợ với tổ tiên, tổ tông và thần linh. Tức là đời cha, mẹ, ông, bà trước kia nuôi con, cháu khó, nuôi trâu bò, gà lợn khó, mùa màng thất thu... đã khấn các vị để được phù hộ. Sau khi đã được phù hộ, việc trong nhà ngoài ngõ đều thuận buồm xuôi gió là đến lúc họ phải làm lễ để trả nợ. Nếu đời bố không trả được thì đến đời con, đời cháu phải trả và tuyệt đối không được để quá 3 đời. Các đồ cúng tế trong nghi lễ là lợn (họ Lý, Hà), trâu (họ Hoàng) và bò (họ Lương). Lễ Khai nhạc gồm có 10 điệu múa: Khai đao mở đường, Tập thể, Mời thần an toạ, Khỉ giã gạo, Bồ câu xoè cánh, Xúc tép, Dâng hương, Dâng rượu, Dâng trà, Khai đèn và 24 câu xướng. Hát xướng là một hình thức phụ họa (hát đệm) để chuyển bài, qua đó làm tăng thêm tính hấp dẫn và nghiêm trang của lễ hội. 10 điệu múa ở trong lễ Khai nhạc thể hiện sự biết ơn tổ tiên, tổ tông và thần linh đã mang lại những điều may mắn cho con, cho cháu, cho người nhà luôn khoẻ mạnh, trâu bò không bị ốm đau, mùa màng được tốt tươi. Hiện nay, những tiết mục múa trong phần lễ Khai nhạc của nghi lễ trả nợ được các nghệ nhân người dân tộc Cao Lan lưu giữ và thể hiện dưới một hình thức sân khấu hoá. Các tiết mục này đều dùng công cụ chủ đạo đó là trống cái - ông thầy đánh trống và các đồng nhi (tồng nhi - diễn viên múa) múa theo tiếng trống. Diễn viên múa ở đây không phân biệt nam - nữ hay lứa tuổi. Người đánh trống là người giữ vai trò chủ đạo, xuyên suốt trong bài múa, điệu múa. Mỗi một hồi trống gắn với một động tác múa khác nhau. Sau mỗi điệu múa người đánh trống sẽ hát xen vào đó 2 câu xướng - coi như là bản nhạc dạo để các đồng nhi chuẩn bị cho điệu múa tiếp theo. Hiện nay để lưu giữ nghi lễ truyền thống này hàng năm cứ vào ngày mùng 2 Tết Nguyên đán bà con dân tộc Cao Lan ở xã Thành Long lại mở hội Khai nhạc. Tại buổi lễ bà con dân tộc Cao Lan chuẩn bị một mâm cỗ đơn giản để vái thần Hoàng Làng, sau đó tập trung tại nhà của già làng (thầy mo) mở hội. Lễ hội Khai nhạc thu hút đông đảo bà con trong xã tham gia, không kể dân tộc, không kể dòng họ. Họ đến lễ hội vừa là để vui xuân đón tết, vừa là để học những điệu múa truyền thống của đồng bào dân tộc Cao Lan. Theo Báo Tuyên Quang

Hàng năm cứ vào ngày mùng 2 Tết Nguyên đán, bà con dân tộc Cao Lan ở xã Thành Long (huyện Hàm Yên) lại tổ chức Lễ hội Khai nhạc. Các tiết mục trong lễ hội này thể hiện những nét văn hoá truyền thống độc đáo của con người đồng bào dân tộc Cao Lan.

Lễ hội Khai nhạc là lễ hội nằm trong nghi lễ trả nợ (đám tang, đám chay) của 4 dòng họ của người dân tộc Cao Lan: Hoàng, Lương, Lý và Hà. Từ sáng sớm các con cháu đã tổ chức lễ rước kiệu tổ tiên, tổ tông và thần linh từ nhà ra đồng (ngoài đồng sẽ dựng sẵn cái rạp đã lập đàn), sau đó ông thầy mo đánh 3 hồi trống để bắt đầu lễ Khai nhạc. Khi lễ Khai nhạc kết thúc thì cũng là lúc nghi lễ trả nợ hoàn thành. Thầy mo làm phép khai binh khiển tướng, cấp lễ hội này cho tổ tiên, tổ tông và thần linh. Coi như con cháu đã trả nợ xong công ơn của các bậc đã phù hộ cho cuộc sống của họ được bình yên và hạnh phúc trong nhiều năm qua. Nghi lễ trả nợ không phải lúc nào cũng có mà chỉ khi nào có nợ với tổ tiên, tổ tông và thần linh. Tức là đời cha, mẹ, ông, bà trước kia nuôi con, cháu khó, nuôi trâu bò, gà lợn khó, mùa màng thất thu... đã khấn các vị để được phù hộ. Sau khi đã được phù hộ, việc trong nhà ngoài ngõ đều thuận buồm xuôi gió là đến lúc họ phải làm lễ để trả nợ. Nếu đời bố không trả được thì đến đời con, đời cháu phải trả và tuyệt đối không được để quá 3 đời. Các đồ cúng tế trong nghi lễ là lợn (họ Lý, Hà), trâu (họ Hoàng) và bò (họ Lương). Lễ Khai nhạc gồm có 10 điệu múa: Khai đao mở đường, Tập thể, Mời thần an toạ, Khỉ giã gạo, Bồ câu xoè cánh, Xúc tép, Dâng hương, Dâng rượu, Dâng trà, Khai đèn và 24 câu xướng. Hát xướng là một hình thức phụ họa (hát đệm) để chuyển bài, qua đó làm tăng thêm tính hấp dẫn và nghiêm trang của lễ hội. 10 điệu múa ở trong lễ Khai nhạc thể hiện sự biết ơn tổ tiên, tổ tông và thần linh đã mang lại những điều may mắn cho con, cho cháu, cho người nhà luôn khoẻ mạnh, trâu bò không bị ốm đau, mùa màng được tốt tươi. Hiện nay, những tiết mục múa trong phần lễ Khai nhạc của nghi lễ trả nợ được các nghệ nhân người dân tộc Cao Lan lưu giữ và thể hiện dưới một hình thức sân khấu hoá. Các tiết mục này đều dùng công cụ chủ đạo đó là trống cái - ông thầy đánh trống và các đồng nhi (tồng nhi - diễn viên múa) múa theo tiếng trống. Diễn viên múa ở đây không phân biệt nam - nữ hay lứa tuổi. Người đánh trống là người giữ vai trò chủ đạo, xuyên suốt trong bài múa, điệu múa. Mỗi một hồi trống gắn với một động tác múa khác nhau. Sau mỗi điệu múa người đánh trống sẽ hát xen vào đó 2 câu xướng - coi như là bản nhạc dạo để các đồng nhi chuẩn bị cho điệu múa tiếp theo. Hiện nay để lưu giữ nghi lễ truyền thống này hàng năm cứ vào ngày mùng 2 Tết Nguyên đán bà con dân tộc Cao Lan ở xã Thành Long lại mở hội Khai nhạc. Tại buổi lễ bà con dân tộc Cao Lan chuẩn bị một mâm cỗ đơn giản để vái thần Hoàng Làng, sau đó tập trung tại nhà của già làng (thầy mo) mở hội. Lễ hội Khai nhạc thu hút đông đảo bà con trong xã tham gia, không kể dân tộc, không kể dòng họ. Họ đến lễ hội vừa là để vui xuân đón tết, vừa là để học những điệu múa truyền thống của đồng bào dân tộc Cao Lan. Theo Báo Tuyên Quang

Related Figures

Lễ hội Đình làng Giếng Tanh

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/1 Âm lịch Đình làng Giếng Tanh thuộc làng Giếng Tanh, xã Kim Phú, Yên Sơn, Tuyên Quang. Đây là nơi tâm linh tín ngưỡng thể hiện bản sắc cộng đồng cư dân sống trên mảnh đất Giếng Tanh. Trong năm đình làng Giếng Tanh diễn ra rất nhiều lễ hội, lễ hội chính được tổ chức vào ngày mồng 10 tháng Giêng âm lịch hàng năm. Quang cảnh lễ hội Đình làng Giếng Tanh Ngoài một ngày lễ chính còn có các ngày lễ phụ như: Lễ khai xuân được tổ chức vào ngày mùng 2 tháng Giêng; Lễ cúng cơm mới được tổ chức vào ngày 15 tháng 8 âm lịch; Lễ Thượng điền được tổ chức vào ngày mùng 9 tháng 11 âm lịch; Lễ Khép ấn được tổ chức vào ngày 25 tháng 12 âm lịch. Các ngày lễ phụ thường được tổ chức đơn giản: Thắp hương, dâng lễ là những sản vật mà địa phương làm ra (cúng cơm mới) để tưởng nhớ và biết ơn tổ tiên đã tạo dựng nơi cư chú, cầu mong có một cuộc sống yên vui và hạnh phúc. Một nghi thức trong lễ hội Đình làng Giếng Tanh Ngày hội chính được tổ chức trọng thể bao gồm có đủ cả phần lễ và phần hội. Phần Lễ mở đầu ngày hội sẽ có 7 người tham gia gồm: Chủ tế, xướng tế, 4 chấp Dư và người đọc văn tế (chủ tế phải mặc áo màu đỏ, còn lại tất cả mặc áo màu xanh). Phần tổ chức cúng tế ở trong đình là theo nghi thức cổ truyền, nội dung chủ yếu là cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận, gió hoà, mùa màng tươi tốt, gia súc sinh sôi... Phần tế lễ rất nghiêm trang thành kính nhưng nó không thể hiện sự mê tín dị đoan mà thuần khiết là tâm linh tín ngưỡng. Khi cúng tế kết thúc, phần hội sẽ được bắt đầu bằng Lễ tung còn thu hút được nhiều người tham gia và vô cùng náo nhiệt. Các trò chơi kéo co, đấu vật, biêu diễn nghệ thuật... cũng đồng thời diễn ra trong một không khí hội hè sôi động tưởng chừng như không dứt. Hội đình làng Giếng Tanh đã thực sự góp phần xây dựng nên đời sống văn hoá, tinh thần của cộng đồng các dân tộc Kim Phú. Độc đáo hội thi khâu còn trong lễ hội đình làng Giếng Tanh

Đình làng Giếng Tanh thuộc làng Giếng Tanh, xã Kim Phú, Yên Sơn, Tuyên Quang. Đây là nơi tâm linh tín ngưỡng thể hiện bản sắc cộng đồng cư dân sống trên mảnh đất Giếng Tanh. Trong năm đình làng Giếng Tanh diễn ra rất nhiều lễ hội, lễ hội chính được tổ chức vào ngày mồng 10 tháng Giêng âm lịch hàng năm.

Quang cảnh lễ hội Đình làng Giếng Tanh Ngoài một ngày lễ chính còn có các ngày lễ phụ như: Lễ khai xuân được tổ chức vào ngày mùng 2 tháng Giêng; Lễ cúng cơm mới được tổ chức vào ngày 15 tháng 8 âm lịch; Lễ Thượng điền được tổ chức vào ngày mùng 9 tháng 11 âm lịch; Lễ Khép ấn được tổ chức vào ngày 25 tháng 12 âm lịch. Các ngày lễ phụ thường được tổ chức đơn giản: Thắp hương, dâng lễ là những sản vật mà địa phương làm ra (cúng cơm mới) để tưởng nhớ và biết ơn tổ tiên đã tạo dựng nơi cư chú, cầu mong có một cuộc sống yên vui và hạnh phúc. Một nghi thức trong lễ hội Đình làng Giếng Tanh Ngày hội chính được tổ chức trọng thể bao gồm có đủ cả phần lễ và phần hội. Phần Lễ mở đầu ngày hội sẽ có 7 người tham gia gồm: Chủ tế, xướng tế, 4 chấp Dư và người đọc văn tế (chủ tế phải mặc áo màu đỏ, còn lại tất cả mặc áo màu xanh). Phần tổ chức cúng tế ở trong đình là theo nghi thức cổ truyền, nội dung chủ yếu là cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận, gió hoà, mùa màng tươi tốt, gia súc sinh sôi... Phần tế lễ rất nghiêm trang thành kính nhưng nó không thể hiện sự mê tín dị đoan mà thuần khiết là tâm linh tín ngưỡng. Khi cúng tế kết thúc, phần hội sẽ được bắt đầu bằng Lễ tung còn thu hút được nhiều người tham gia và vô cùng náo nhiệt. Các trò chơi kéo co, đấu vật, biêu diễn nghệ thuật... cũng đồng thời diễn ra trong một không khí hội hè sôi động tưởng chừng như không dứt. Hội đình làng Giếng Tanh đã thực sự góp phần xây dựng nên đời sống văn hoá, tinh thần của cộng đồng các dân tộc Kim Phú. Độc đáo hội thi khâu còn trong lễ hội đình làng Giếng Tanh

Related Figures

Lễ hội làng Như Xuyên

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 6/1 Âm lịch Hàng năm cứ đến ngày mùng 6 Tết âm lịch, hàng nghìn người dân ở khắp mọi nơi trong và ngoài huyện Sơn Dương lại tìm về làng Như Xuyên, xã Đồng Quý huyện Sơn Dương để vui lễ hội làng. Quang cảnh lễ hội làng Như Xuyên Lễ hội gồm có 2 phần. Phần lễ được tổ chức ngay tại đình làng với các nghi lễ tâm linh thể hiện sự tôn kính của những người dân nơi đây với các vị Vương tổ của người dân tộc Cao Lan, với Thành Hoàng làng và với các vị thần, cầu cho một năm mới mùa màng tươi tốt, mưa thuận gió hòa, nhân dân luôn được mạnh khỏe, no ấm và bình yên. Tiết mục hát Sình Ca của dân tộc Cao Lan trong lễ hội làng Như Xuyên Phần hội thì được tổ chức ở sân đình, trên bờ và dưới mặt nước hồ Như Xuyên cùng với các tiết mục hát Sình Ca của dân tộc Cao Lan, với các trò chơi dân gian, đánh yến, tung còn, chọi gà, đua thuyền… Lễ hội còn là dịp để xã duy trì và phát triển các tiết mục văn hóa đặc sắc của địa phương mình, đặc biệt là các làn điệu Sình Ca của người dân tộc Cao Lan. Đây cũng chính là một điểm nhấn quan trọng và thu hút du khách thập phương về với lễ hội. Lễ hội làng Như Xuyên thu hút đông người dân tham gia Trong ngày lễ hội diễn ra, dưới gốc đa hàng nghìn năm tuổi ở tại đình làng, những làn điệu Sình Ca ca ngợi mùa xuân quê hương đất nước tha thiết và ngọt ngào được đội văn nghệ thôn thể hiện làm say lòng những người du khách. Những trò chơi dân gian; đánh yến, tung còn, chọi gà, đua thuyền trên hồ Như Xuyên diễn ra càng làm cho không khí lễ hội thêm phần náo nhiệt và sôi động.

Hàng năm cứ đến ngày mùng 6 Tết âm lịch, hàng nghìn người dân ở khắp mọi nơi trong và ngoài huyện Sơn Dương lại tìm về làng Như Xuyên, xã Đồng Quý huyện Sơn Dương để vui lễ hội làng.

Quang cảnh lễ hội làng Như Xuyên Lễ hội gồm có 2 phần. Phần lễ được tổ chức ngay tại đình làng với các nghi lễ tâm linh thể hiện sự tôn kính của những người dân nơi đây với các vị Vương tổ của người dân tộc Cao Lan, với Thành Hoàng làng và với các vị thần, cầu cho một năm mới mùa màng tươi tốt, mưa thuận gió hòa, nhân dân luôn được mạnh khỏe, no ấm và bình yên. Tiết mục hát Sình Ca của dân tộc Cao Lan trong lễ hội làng Như Xuyên Phần hội thì được tổ chức ở sân đình, trên bờ và dưới mặt nước hồ Như Xuyên cùng với các tiết mục hát Sình Ca của dân tộc Cao Lan, với các trò chơi dân gian, đánh yến, tung còn, chọi gà, đua thuyền… Lễ hội còn là dịp để xã duy trì và phát triển các tiết mục văn hóa đặc sắc của địa phương mình, đặc biệt là các làn điệu Sình Ca của người dân tộc Cao Lan. Đây cũng chính là một điểm nhấn quan trọng và thu hút du khách thập phương về với lễ hội. Lễ hội làng Như Xuyên thu hút đông người dân tham gia Trong ngày lễ hội diễn ra, dưới gốc đa hàng nghìn năm tuổi ở tại đình làng, những làn điệu Sình Ca ca ngợi mùa xuân quê hương đất nước tha thiết và ngọt ngào được đội văn nghệ thôn thể hiện làm say lòng những người du khách. Những trò chơi dân gian; đánh yến, tung còn, chọi gà, đua thuyền trên hồ Như Xuyên diễn ra càng làm cho không khí lễ hội thêm phần náo nhiệt và sôi động.

Related Figures

Lễ hội giã cốm

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/9- 1/10 Âm lịch Lễ hội giã cốm (khẩu mẩu, lẩu then) của những người đồng bào dân tộc Tày tại Chiêm Hoá là lễ hội truyền thống sau mỗi một vụ mùa thu hoạch lúa, để thể hiện sự biết ơn của người dân nơi đây đối với đất trời đã cho mùa màng tươi tốt, cuộc sống ấm no và hạnh phúc. Lễ hội giã cốm là lễ hội khẳng định trình độ sản xuất nông nghiệp của bà con, không bao giờ khuất phục trước mọi thiên tai dịch họa để cho cây lúa luôn trĩu bông, thóc lúa luôn đầy bồ. Lễ hội được tổ chức hàng năm vào dịp tháng 9 và tháng 10 âm lịch. Người dân tham gia lễ hội giã cốm tại Tuyên Quang Khi lúa nếp cái bắt đầu vào thời điểm chắc hạt, gia đình trưởng họ sẽ xem ngày lành, tháng tốt, nhờ các chị em trong dòng họ nhặt lúa thành cum, đem lạt buộc lúa thành túm nhỏ, đào lò, đan một miếng phên vuông đậy lên trên miệng lò sau đó chất củi đốt rồi hơ cho lúa chín và để nguội rồi đem vào cối giã thành những hạt cốm thơm ngon, để tế dâng lên cho Ngọc Hoàng Thượng đế và cho các vị Thần linh. Đây được coi như là một lễ báo công tạ ơn Ngọc Hoàng Thượng đế và các vị Thần linh đã ban cho muôn dân cói được một vụ mùa tốt tươi và mọi nhà đều được no ấm. Đặc sắc lễ hội giã cốm tại Tuyên Quang Không chỉ có như vậy mà lễ hội giã cốm còn là dịp để những đôi trai làng, gái bản đua sức đua tài và tìm bạn kết duyên. Với những nhịp chày khua đều đặn và khỏe khoắn tạo thành những âm điệu rộn ràng vang vọng khắp rừng núi bản làng với hai người cầm trịch, tiếng Tày thì gọi là “khửn khèng”, và bên nam bên nữ thi nhau giã thì gọi là “kéng mưởn”. Âm thanh được chuyển điệu thành ba nhịp, nhịp đầu được gọi là "kéng mưởn", có nghĩa là giã mướn, nhịp hai được gọi là "tắm húc" có nghĩa là dệt vải, nhịp ba thì gọi là "khắp kha" có nghĩa là kẹp chân. Cứ ba nhịp chuyển điệu đều đặn suốt canh này sang canh khác có khi còn đến tận sáng. Giã cốm trong lễ hội Lễ hội giã cốm tại đêm văn nghệ dân ca và trình diễn thời trang các dân tộc "Âm vang Bản Ba" có thể nói đây là một điểm nhấn, nét tươi mới trong các lễ hội ở huyện Chiêm Hóa. Với các nghi thức truyền thống, lễ hội giã cốm thể hiện sức sống và tinh thần lễ hội đặc sắc mang lại cho những du khách thập phương và cả những người dân bản địa được sống trong một cảm giác linh thiêng. Những nhịp giã chuyển điệu rộn ràng làm xốn sang lòng người và tạo nên nét đặc sắc của riêng một lễ hội có từ rất lâu đời.

Lễ hội giã cốm (khẩu mẩu, lẩu then) của những người đồng bào dân tộc Tày tại Chiêm Hoá là lễ hội truyền thống sau mỗi một vụ mùa thu hoạch lúa, để thể hiện sự biết ơn của người dân nơi đây đối với đất trời đã cho mùa màng tươi tốt, cuộc sống ấm no và hạnh phúc. Lễ hội giã cốm là lễ hội khẳng định trình độ sản xuất nông nghiệp của bà con, không bao giờ khuất phục trước mọi thiên tai dịch họa để cho cây lúa luôn trĩu bông, thóc lúa luôn đầy bồ. Lễ hội được tổ chức hàng năm vào dịp tháng 9 và tháng 10 âm lịch.

Người dân tham gia lễ hội giã cốm tại Tuyên Quang Khi lúa nếp cái bắt đầu vào thời điểm chắc hạt, gia đình trưởng họ sẽ xem ngày lành, tháng tốt, nhờ các chị em trong dòng họ nhặt lúa thành cum, đem lạt buộc lúa thành túm nhỏ, đào lò, đan một miếng phên vuông đậy lên trên miệng lò sau đó chất củi đốt rồi hơ cho lúa chín và để nguội rồi đem vào cối giã thành những hạt cốm thơm ngon, để tế dâng lên cho Ngọc Hoàng Thượng đế và cho các vị Thần linh. Đây được coi như là một lễ báo công tạ ơn Ngọc Hoàng Thượng đế và các vị Thần linh đã ban cho muôn dân cói được một vụ mùa tốt tươi và mọi nhà đều được no ấm. Đặc sắc lễ hội giã cốm tại Tuyên Quang Không chỉ có như vậy mà lễ hội giã cốm còn là dịp để những đôi trai làng, gái bản đua sức đua tài và tìm bạn kết duyên. Với những nhịp chày khua đều đặn và khỏe khoắn tạo thành những âm điệu rộn ràng vang vọng khắp rừng núi bản làng với hai người cầm trịch, tiếng Tày thì gọi là “khửn khèng”, và bên nam bên nữ thi nhau giã thì gọi là “kéng mưởn”. Âm thanh được chuyển điệu thành ba nhịp, nhịp đầu được gọi là "kéng mưởn", có nghĩa là giã mướn, nhịp hai được gọi là "tắm húc" có nghĩa là dệt vải, nhịp ba thì gọi là "khắp kha" có nghĩa là kẹp chân. Cứ ba nhịp chuyển điệu đều đặn suốt canh này sang canh khác có khi còn đến tận sáng. Giã cốm trong lễ hội Lễ hội giã cốm tại đêm văn nghệ dân ca và trình diễn thời trang các dân tộc "Âm vang Bản Ba" có thể nói đây là một điểm nhấn, nét tươi mới trong các lễ hội ở huyện Chiêm Hóa. Với các nghi thức truyền thống, lễ hội giã cốm thể hiện sức sống và tinh thần lễ hội đặc sắc mang lại cho những du khách thập phương và cả những người dân bản địa được sống trong một cảm giác linh thiêng. Những nhịp giã chuyển điệu rộn ràng làm xốn sang lòng người và tạo nên nét đặc sắc của riêng một lễ hội có từ rất lâu đời.

Related Figures

Lễ cúng biển

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/5- 12/5 Âm lịch (lehoi.info)-Lễ hội cúng biển hay còn gọi là Lễ Nghinh Ông ở Mỹ Long, Cầu Ngang, Trà Vinh từ lâu đã được xem là một trong những lễ hội quan trọng ở tỉnh Trà Vinh. Lễ hội được tổ chức hàng năm từ ngày mùng 10 đến ngày 12 tháng 5 âm lịch.Lễ hội này được tổ chức lần đầu tiên từ năm 1917 để nhằm thể hiện lòng thành của các ngư dân trong vùng tạ ơn biển cả đã đem lại cuộc sống hạnh phúc ấm no cho người dân làng nơi đây. Cùng với việc cầu cho trời yên biển lặng, mưa thuận gió hòa, lễ hội còn mang tính chất tạ ơn cá voi (cá Ông) mà ngư dân nơi đây thường gọi là ông Nam Hải. Lễ cúng biển ở Mỹ Long Lễ cúng biển sẽ được chia ra làm 6 phần chính gồm: Đi nghinh Nam Hải bằng ghe biển; Chánh tế; Giỗ tiền chức; Chánh tế Bà Chúa; Tống tàu ra khơi; Đi nghinh ngũ phương. Nghinh ông Nam Hải là lễ chính thức đầu tiên của Lễ hội cúng ở biển Mỹ Long, lễ được tiến hành vào lúc 10 giờ sáng của ngày 11 tháng 5 âm lịch. Những vị chủ lễ vận lễ phục được bố trí ngồi trên chiếc ghe được mùa nhất của mùa biển năm trước và dẫn đầu đoàn ghe biển ra khơi để làm lễ cúng. Vào buổi sáng của ngày 11 tháng 5 âm lịch, ban tổ chức làm lễ nghinh Chúa Xứ Nguyên nhung. Đến chiều, khi mặt trời lặn là lúc bắt đầu vào lễ tế Chúa Xứ Nguyên nhung, có hương chức đọc văn tế và lễ xướng. Trong dịp này có một tiết mục rất là sôi động, đó CHÍNH là màn múa bông của các cô bóng từ nhiều nơi tựu về. Đặc sắc Lễ cúng biển ở Mỹ Long Ngày thứ hai (ngày 12 tháng 5 âm lịch) có lễ nghinh Ngũ phương. Lần này thì kiệu sẽ đi đường bộ và vừa đi vừa đánh trống vòng qua 4 hướng qua chợ Mỹ Long và các ấp lân cận. Hai bên đường kiệu đi qua, theo tập tục thì nhà nào cũng phải đặt những chung muối gạo trước cửa với ý nghĩa cúng cô hồn, sợ chúng vào trong nhà quấy nhiễu. Trong đoàn có ông Quan Công ngồi ở trong giá thờ được dân làng khiêng đi. Đúng ngọ vào ngày 12, ban tổ chức sẽ đặt heo quay lên chiếc tàu, có đáy được kết bằng chuối cây, vỏ tàu thì bằng nan tre, được dán giấy vẽ màu giống như tàu thật, trong tàu có đủ tài công, thủy thủ và các vật dụng đi biển đều được làm bằng giấy. Khi tàu chở đầy đủ lễ vật gồm: heo cúng, muối và gạo.Tàu sẽ dần trôi theo dòng nước và chuông trống vang lên. Đến khi ở trên bờ không còn thấy nữa thì một hồi trống kết thúc buổi lễ này. Lễ cúng biển ở Mỹ Long thu hút đông đảo người dân tham gia Với những nghi thức mang đậm nét truyền thống dân tộc, Lễ hội cúng biển Mỹ Long đã trở thành một sinh hoạt văn hóa độc đáo của người dân địa phương nới đây và thu hút đông đảo du khách trong nước và ngoài nước tới tham dự... Cùng với những nghi thức được tiến hành theo truyền thống, lễ cúng biển Mỹ Long ngày nay còn có rất nhiều trò chơi phục vụ cho nhu cầu giải trí của ngư dân như biểu diễn văn nghệ, đi cà kheo, thi đấu thể thao... tạo nên một không khí vui tươi trong những ngày lễ hội.

(lehoi.info)-Lễ hội cúng biển hay còn gọi là Lễ Nghinh Ông ở Mỹ Long, Cầu Ngang, Trà Vinh từ lâu đã được xem là một trong những lễ hội quan trọng ở tỉnh Trà Vinh. Lễ hội được tổ chức hàng năm từ ngày mùng 10 đến ngày 12 tháng 5 âm lịch.Lễ hội này được tổ chức lần đầu tiên từ năm 1917 để nhằm thể hiện lòng thành của các ngư dân trong vùng tạ ơn biển cả đã đem lại cuộc sống hạnh phúc ấm no cho người dân làng nơi đây. Cùng với việc cầu cho trời yên biển lặng, mưa thuận gió hòa, lễ hội còn mang tính chất tạ ơn cá voi (cá Ông) mà ngư dân nơi đây thường gọi là ông Nam Hải.

Lễ cúng biển ở Mỹ Long Lễ cúng biển sẽ được chia ra làm 6 phần chính gồm: Đi nghinh Nam Hải bằng ghe biển; Chánh tế; Giỗ tiền chức; Chánh tế Bà Chúa; Tống tàu ra khơi; Đi nghinh ngũ phương. Nghinh ông Nam Hải là lễ chính thức đầu tiên của Lễ hội cúng ở biển Mỹ Long, lễ được tiến hành vào lúc 10 giờ sáng của ngày 11 tháng 5 âm lịch. Những vị chủ lễ vận lễ phục được bố trí ngồi trên chiếc ghe được mùa nhất của mùa biển năm trước và dẫn đầu đoàn ghe biển ra khơi để làm lễ cúng. Vào buổi sáng của ngày 11 tháng 5 âm lịch, ban tổ chức làm lễ nghinh Chúa Xứ Nguyên nhung. Đến chiều, khi mặt trời lặn là lúc bắt đầu vào lễ tế Chúa Xứ Nguyên nhung, có hương chức đọc văn tế và lễ xướng. Trong dịp này có một tiết mục rất là sôi động, đó CHÍNH là màn múa bông của các cô bóng từ nhiều nơi tựu về. Đặc sắc Lễ cúng biển ở Mỹ Long Ngày thứ hai (ngày 12 tháng 5 âm lịch) có lễ nghinh Ngũ phương. Lần này thì kiệu sẽ đi đường bộ và vừa đi vừa đánh trống vòng qua 4 hướng qua chợ Mỹ Long và các ấp lân cận. Hai bên đường kiệu đi qua, theo tập tục thì nhà nào cũng phải đặt những chung muối gạo trước cửa với ý nghĩa cúng cô hồn, sợ chúng vào trong nhà quấy nhiễu. Trong đoàn có ông Quan Công ngồi ở trong giá thờ được dân làng khiêng đi. Đúng ngọ vào ngày 12, ban tổ chức sẽ đặt heo quay lên chiếc tàu, có đáy được kết bằng chuối cây, vỏ tàu thì bằng nan tre, được dán giấy vẽ màu giống như tàu thật, trong tàu có đủ tài công, thủy thủ và các vật dụng đi biển đều được làm bằng giấy. Khi tàu chở đầy đủ lễ vật gồm: heo cúng, muối và gạo.Tàu sẽ dần trôi theo dòng nước và chuông trống vang lên. Đến khi ở trên bờ không còn thấy nữa thì một hồi trống kết thúc buổi lễ này. Lễ cúng biển ở Mỹ Long thu hút đông đảo người dân tham gia Với những nghi thức mang đậm nét truyền thống dân tộc, Lễ hội cúng biển Mỹ Long đã trở thành một sinh hoạt văn hóa độc đáo của người dân địa phương nới đây và thu hút đông đảo du khách trong nước và ngoài nước tới tham dự... Cùng với những nghi thức được tiến hành theo truyền thống, lễ cúng biển Mỹ Long ngày nay còn có rất nhiều trò chơi phục vụ cho nhu cầu giải trí của ngư dân như biểu diễn văn nghệ, đi cà kheo, thi đấu thể thao... tạo nên một không khí vui tươi trong những ngày lễ hội.

Related Figures

Lễ hội chọi trâu Hàm Yên

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/1- 11/1 Âm lịch (lehoi.info) - Lễ hội chọi trâu được tổ chức vào các ngày mùng 10 và ngày 11 tháng Giêng âm lịch, tại huyện Hàm Yên, tình Tuyên Quang. Đây là một trong những lễ hội đặc sắc vào dịp đầu xuân năm mới lễ hội luôn thu hút hàng vạn người về tham dự. Đặc sắc lễ hội chọi trâu Hàm Yên tại Tuyên Quang Tương truyền lễ hội chọi trâu Hàm Yên là lễ hội đã có từ rất lâu đời song trải qua những biến cố, thăng trầm nên đã có một thời gian dài bị gián đoạn, vài năm trở lại đây lễ hội mới được khôi phục lại. Mặc dù trong quá trình tổ chức vẫn còn có nhiều những bỡ ngỡ song bước đầu hội chọi trâu Hàm Yên đã tạo được ấn tượng với những người dân địa phương và du khác gần xa. Chính vì vậy, vào những ngày lễ hội diễn ra, hàng vạn người đã đổ về sân vận động trung tâm của huyện Hàm Yên để được tận mắt chứng kiến những trận đấu hấp dẫn và quyết liệt. Quang cảnh lễ hội chọi trâu Hàm Yên Hàng năm, lễ hội chọi trâu huyện Hàm Yên luôn không chỉ thu hút được sự tham dự của các chủ trâu đến từ các huyện trong tỉnh mà còn thu hút được các chủ trâu từ các tỉnh bạn như: Thái Nguyên, Phú Thọ, Hà Nội, Hà Giang. Các trâu chọi khỏe mạnh, được chăm sóc, huấn luyện bài bản và được chia cặp đấu loại để tìm ra những đại diện xuất sắc đi vào vòng trong và tìm ra cặp trâu tốt nhất thi đấu vòng chung kết. Lễ họi chọi trâu Hàm Yên thu hút đông đảo người dân tham gia Theo đúng phong tục của những người dân bản địa, giải đấu kết thúc, con trâu nào chiến thắng sẽ được hóa kiếp và mang về tế lễ tại Đền Bắc Mục. Với mỗi một người dân địa phương, hội chọi trâu Hàm Yên là dịp để tạ ơn đất trời, cầu mong cho cuộc sống bình yên hạnh phúc, làm ăn thịnh vượng và may mắn. Còn đối với huyện Hàm Yên, việc tổ chức lễ hội chọi trâu hàng năm gắn liền với mục tiêu phát triển và nhân rộng đàn trâu của huyện mình, từng bước xây dựng nên thương hiệu Trâu Hàm Yên, góp phần thúc đẩy kinh tế trên của huyện phát triển và xây dựng thương hiệu trâu Hàm Yên. lehoi.info tổng hợp

(lehoi.info) - Lễ hội chọi trâu được tổ chức vào các ngày mùng 10 và ngày 11 tháng Giêng âm lịch, tại huyện Hàm Yên, tình Tuyên Quang. Đây là một trong những lễ hội đặc sắc vào dịp đầu xuân năm mới lễ hội luôn thu hút hàng vạn người về tham dự.

Đặc sắc lễ hội chọi trâu Hàm Yên tại Tuyên Quang Tương truyền lễ hội chọi trâu Hàm Yên là lễ hội đã có từ rất lâu đời song trải qua những biến cố, thăng trầm nên đã có một thời gian dài bị gián đoạn, vài năm trở lại đây lễ hội mới được khôi phục lại. Mặc dù trong quá trình tổ chức vẫn còn có nhiều những bỡ ngỡ song bước đầu hội chọi trâu Hàm Yên đã tạo được ấn tượng với những người dân địa phương và du khác gần xa. Chính vì vậy, vào những ngày lễ hội diễn ra, hàng vạn người đã đổ về sân vận động trung tâm của huyện Hàm Yên để được tận mắt chứng kiến những trận đấu hấp dẫn và quyết liệt. Quang cảnh lễ hội chọi trâu Hàm Yên Hàng năm, lễ hội chọi trâu huyện Hàm Yên luôn không chỉ thu hút được sự tham dự của các chủ trâu đến từ các huyện trong tỉnh mà còn thu hút được các chủ trâu từ các tỉnh bạn như: Thái Nguyên, Phú Thọ, Hà Nội, Hà Giang. Các trâu chọi khỏe mạnh, được chăm sóc, huấn luyện bài bản và được chia cặp đấu loại để tìm ra những đại diện xuất sắc đi vào vòng trong và tìm ra cặp trâu tốt nhất thi đấu vòng chung kết. Lễ họi chọi trâu Hàm Yên thu hút đông đảo người dân tham gia Theo đúng phong tục của những người dân bản địa, giải đấu kết thúc, con trâu nào chiến thắng sẽ được hóa kiếp và mang về tế lễ tại Đền Bắc Mục. Với mỗi một người dân địa phương, hội chọi trâu Hàm Yên là dịp để tạ ơn đất trời, cầu mong cho cuộc sống bình yên hạnh phúc, làm ăn thịnh vượng và may mắn. Còn đối với huyện Hàm Yên, việc tổ chức lễ hội chọi trâu hàng năm gắn liền với mục tiêu phát triển và nhân rộng đàn trâu của huyện mình, từng bước xây dựng nên thương hiệu Trâu Hàm Yên, góp phần thúc đẩy kinh tế trên của huyện phát triển và xây dựng thương hiệu trâu Hàm Yên. lehoi.info tổng hợp

Đặc sắc lễ hội chọi trâu Hàm Yên tại Tuyên Quang

Quang cảnh lễ hội chọi trâu Hàm Yên

Lễ họi chọi trâu Hàm Yên thu hút đông đảo người dân tham gia

Related Figures

Lễ hội Kim Bình Chiêm Hóa

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 14/1 Âm lịch (lehoi.info)- Lễ hội Kim Bình được tổ chức vào ngày 14 tháng Giêng âm lịch hàng năm ở Xã Kim Bình cách trung tâm thị trấn Vĩnh Lộc (huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang) khoảng 15 km. Đây là một nơi có nhiều di tích lịch sử in đậm truyền thống cách mạng hào hùng và phong tục tập quán của các dân tộc phong phú... Tiết mục múa màng của dân tộc Dao tiền tại Lễ hội Kim Bình Chiêm Hóa Lễ hội này được tổ chức lần đầu vào năm 2012. Lễ hội Kim Bình không chỉ là dịp tăng cường công tác giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng cho mọi tầng lớp nhân dân mà còn tạo được không khí vui tươi, phấn khởi để động viên nhân dân hăng hái thi đua lao động sản xuất, tin tưởng vào đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng, cảu nhà nước phát huy sức mạnh đoàn kết của các dân tộc. Đông đảo du khách thập phương tham dự Lễ hội Lễ hội gồm có hai phần: phần Lễ và phần Hội Phần lễ là phần dâng hương tại Đài tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ và nhà làm việc của Bác Hồ được tổ chức trang nghiêm. Bà Triệu Thị Nhung, thôn Khuôn Nhự, xã Kim Bình xúc động chia sẻ, lễ hội là sự mong chờ của người dân Kim Bình từ lâu lắm, người già chúng tôi được bày tỏ lòng thành kính với Bác Hồ, với những liệt sỹ đã khuất. Mong rằng lớp trẻ hôm nay sẽ nối tiếp những trang sử hào hùng, vẻ vang của dân tộc trong kiến thiết dựng xây quê hương, đất nước giàu đẹp, văn minh. Điều đó mới thật đáng quý và tự hào biết bao. Phần hội là phần rộn ràng không khí mùa xuân với tiết mục múa Màng (múa cầu mùa) mang đậm nét quê hương của những chàng trai, những cô gái Dao Tiền, thôn Bó Củng. Bên cạnh đó còn có các trò chới dân gian đặc sắc như hội tung còn, đánh yến, đánh bàm, chơi cù… Các trò chơi dân gian trong lễ hội Kim Bình Chiêm Hóa lehoi.info

(lehoi.info)- Lễ hội Kim Bình được tổ chức vào ngày 14 tháng Giêng âm lịch hàng năm ở Xã Kim Bình cách trung tâm thị trấn Vĩnh Lộc (huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang) khoảng 15 km. Đây là một nơi có nhiều di tích lịch sử in đậm truyền thống cách mạng hào hùng và phong tục tập quán của các dân tộc phong phú...

Tiết mục múa màng của dân tộc Dao tiền tại Lễ hội Kim Bình Chiêm Hóa Lễ hội này được tổ chức lần đầu vào năm 2012. Lễ hội Kim Bình không chỉ là dịp tăng cường công tác giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng cho mọi tầng lớp nhân dân mà còn tạo được không khí vui tươi, phấn khởi để động viên nhân dân hăng hái thi đua lao động sản xuất, tin tưởng vào đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng, cảu nhà nước phát huy sức mạnh đoàn kết của các dân tộc. Đông đảo du khách thập phương tham dự Lễ hội Lễ hội gồm có hai phần: phần Lễ và phần Hội Phần lễ là phần dâng hương tại Đài tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ và nhà làm việc của Bác Hồ được tổ chức trang nghiêm. Bà Triệu Thị Nhung, thôn Khuôn Nhự, xã Kim Bình xúc động chia sẻ, lễ hội là sự mong chờ của người dân Kim Bình từ lâu lắm, người già chúng tôi được bày tỏ lòng thành kính với Bác Hồ, với những liệt sỹ đã khuất. Mong rằng lớp trẻ hôm nay sẽ nối tiếp những trang sử hào hùng, vẻ vang của dân tộc trong kiến thiết dựng xây quê hương, đất nước giàu đẹp, văn minh. Điều đó mới thật đáng quý và tự hào biết bao. Phần hội là phần rộn ràng không khí mùa xuân với tiết mục múa Màng (múa cầu mùa) mang đậm nét quê hương của những chàng trai, những cô gái Dao Tiền, thôn Bó Củng. Bên cạnh đó còn có các trò chới dân gian đặc sắc như hội tung còn, đánh yến, đánh bàm, chơi cù… Các trò chơi dân gian trong lễ hội Kim Bình Chiêm Hóa lehoi.info

Tiết mục múa màng của dân tộc Dao tiền tại Lễ hội Kim Bình Chiêm Hóa

Related Figures

Đặc sắc Lễ hội Lồng tông Bản Cuống

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 3/1 Âm lịch Lễ hội Lồng tông là Lễ hội độc đáo của bà con đồng bào dân tộc Tày. Cho đến ngày nay, lễ hội này vẫn còn giữ được rất nhiều nét văn hóa độc đáo cần được bảo tồn và phát huy. Ở Bản Cuống, xã Minh Quang, Chiêm Hóa, Tuyên Quang, Lễ hội Lồng Tông ở đây đang được gìn giữ và phát triển làm phong phú thêm kho tàng văn hóa các dân tộc ở tỉnh nhà. Đặc sắc Lễ hội Lồng tông Bản Cuống tại Tuyên Quang Khác với những địa phương khác, Lễ hội Lồng tông ở xã Minh Quang, Chiêm Hóa được diễn ra vào buổi chiều ngày mùng 3 tết. Đây là thời gian mà những người dân nơi đây đã hoàn tất mọi lễ nghi ngày tết ở gia đình mình. Nơi được chọn tổ chức Lễ hội bao đời nay vẫn là cánh đồng ở Bản Cuống, xã Minh Quang, Chiêm Hóa. Dưới chân ngôi đền thờ Bó Cuống, là một ngôi đền thờ vị tướng quân Ma Doãn Giáo, là người đã có công lao to lớn cùng nhân dân đánh giặc “Cờ đen” vào hồi cuối thế kỷ XIX được nhân dân phong thánh. Phần lễ của Lễ hội Lồng tông, xã Minh Quang, Chiêm Hóa gắn liền với tín ngưỡng thờ các vị thần trên đền Bó Cuống của đồng bào dân tộc Tày ở nơi đây Lễ hội Lồng tông Bản Cuống thu hút đông đảo người dân tham gia Ngày nay, người dân Bó Cuống vẫn còn để ra 3 thửa ruộng để dành riêng cho Lễ hội hàng năm. Một thửa ruộng sẽ dành để bày mâm “tồng” được gọi là Nà Mo, thửa để treo trống hội và dựng cây còn. Đồng bào tại nơi đây giữ các thửa ruộng này như một mảnh đất thiêng, đem lại may mắn, ấm no, hạnh phúc cho cả bản. Phần hội tại Lễ hội Lồng Tông ở xã Minh Quang luôn thu hút được sự hưởng ứng tham gia của nhân dân từ những trò chơi dân gian như đi cầu leo, tung còn, cầu lút, đánh pàm đánh yến. Đây là những trò chơi đã được những người đồng bào dân tộc Tày lưu giữ từ bao đời nay. Những trò chơi dân gian trong lễ hội Lồng tông Bản Cuống Năm nay, Lễ hội Lồng tông Bản Cuống tại Tuyên Quang đã được Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch giúp đỡ khôi phục lại những nét văn hóa đặc sắc, quy mô của Lễ hội cũng đã được mở rộng hơn và trở thành Lễ hội Lồng tông của xã Minh Quang. Từ đây, cứ đến ngày mùng 3 tết, nhân dân các dân tộc trong xã và các vùng lân cận lại có thêm một địa chỉ văn hóa độc đáo và đậm đà bản sắc dân tộc. Là năm đầu tiên được tổ chức Lễ hội cấp xã, nhưng Lễ hội Lồng Tông ở bản Cuống, xã Minh Quang, huyện Chiêm Hóa đã nhận được sự hưởng ứng, tham gia của đông đảo bà con trong vùng. Ngoài những trò chơi dân gian, xã còn tổ chức cả lễ hội ẩm thực để đồng bào nơi đây có dịp giới thiệu với những du khách gần xa các món ăn đặc sản từ chính những sản vật của quê hương mình. Người dân xã Minh Quang hy vọng, trong năm tới, xã Minh Quang không chỉ có những vụ mùa bội thu mà còn có cả thu nhập đáng kể từ du lịch ở vùng quê giàu truyền thống văn hóa này./. Theo tuyenquangtv

Lễ hội Lồng tông là Lễ hội độc đáo của bà con đồng bào dân tộc Tày. Cho đến ngày nay, lễ hội này vẫn còn giữ được rất nhiều nét văn hóa độc đáo cần được bảo tồn và phát huy. Ở Bản Cuống, xã Minh Quang, Chiêm Hóa, Tuyên Quang, Lễ hội Lồng Tông ở đây đang được gìn giữ và phát triển làm phong phú thêm kho tàng văn hóa các dân tộc ở tỉnh nhà.

Đặc sắc Lễ hội Lồng tông Bản Cuống tại Tuyên Quang Khác với những địa phương khác, Lễ hội Lồng tông ở xã Minh Quang, Chiêm Hóa được diễn ra vào buổi chiều ngày mùng 3 tết. Đây là thời gian mà những người dân nơi đây đã hoàn tất mọi lễ nghi ngày tết ở gia đình mình. Nơi được chọn tổ chức Lễ hội bao đời nay vẫn là cánh đồng ở Bản Cuống, xã Minh Quang, Chiêm Hóa. Dưới chân ngôi đền thờ Bó Cuống, là một ngôi đền thờ vị tướng quân Ma Doãn Giáo, là người đã có công lao to lớn cùng nhân dân đánh giặc “Cờ đen” vào hồi cuối thế kỷ XIX được nhân dân phong thánh. Phần lễ của Lễ hội Lồng tông, xã Minh Quang, Chiêm Hóa gắn liền với tín ngưỡng thờ các vị thần trên đền Bó Cuống của đồng bào dân tộc Tày ở nơi đây Lễ hội Lồng tông Bản Cuống thu hút đông đảo người dân tham gia Ngày nay, người dân Bó Cuống vẫn còn để ra 3 thửa ruộng để dành riêng cho Lễ hội hàng năm. Một thửa ruộng sẽ dành để bày mâm “tồng” được gọi là Nà Mo, thửa để treo trống hội và dựng cây còn. Đồng bào tại nơi đây giữ các thửa ruộng này như một mảnh đất thiêng, đem lại may mắn, ấm no, hạnh phúc cho cả bản. Phần hội tại Lễ hội Lồng Tông ở xã Minh Quang luôn thu hút được sự hưởng ứng tham gia của nhân dân từ những trò chơi dân gian như đi cầu leo, tung còn, cầu lút, đánh pàm đánh yến. Đây là những trò chơi đã được những người đồng bào dân tộc Tày lưu giữ từ bao đời nay. Những trò chơi dân gian trong lễ hội Lồng tông Bản Cuống Năm nay, Lễ hội Lồng tông Bản Cuống tại Tuyên Quang đã được Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch giúp đỡ khôi phục lại những nét văn hóa đặc sắc, quy mô của Lễ hội cũng đã được mở rộng hơn và trở thành Lễ hội Lồng tông của xã Minh Quang. Từ đây, cứ đến ngày mùng 3 tết, nhân dân các dân tộc trong xã và các vùng lân cận lại có thêm một địa chỉ văn hóa độc đáo và đậm đà bản sắc dân tộc. Là năm đầu tiên được tổ chức Lễ hội cấp xã, nhưng Lễ hội Lồng Tông ở bản Cuống, xã Minh Quang, huyện Chiêm Hóa đã nhận được sự hưởng ứng, tham gia của đông đảo bà con trong vùng. Ngoài những trò chơi dân gian, xã còn tổ chức cả lễ hội ẩm thực để đồng bào nơi đây có dịp giới thiệu với những du khách gần xa các món ăn đặc sản từ chính những sản vật của quê hương mình. Người dân xã Minh Quang hy vọng, trong năm tới, xã Minh Quang không chỉ có những vụ mùa bội thu mà còn có cả thu nhập đáng kể từ du lịch ở vùng quê giàu truyền thống văn hóa này./. Theo tuyenquangtv

Những trò chơi dân gian trong lễ hội Lồng tông Bản Cuống

Related Figures

Lễ hội nghinh Ông

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/8- 17/8 Âm lịch Lễ hội nghinh Ông đó là tục thờ cá "Ông" phổ biến từ Quảng Bình trở vào Nam là một trong những lễ hội lớn nhất của ngư dân vùng biển. Từ ngày 15 đến ngày 17 tháng 8 âm lịch hàng năm tại lăng Ông Thủy tướng được vua Tự Đức ban sắc phong: “Nam Hải tướng quân” thuộc Xã Cần Thạnh, huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh đều diễn ra lễ tế rất trang trọng của ngư dân Cần Giờ để tưởng nhớ tới công ơn của cá "Ông". Lễ hội nghinh Ông tại Cần Giờ Lễ hội còn có nhiều tên gọi khác như: Lễ rước cốt Ông, Lễ tế cá Ông, Lễ cầu ngư, Lễ cúng Ông, Lễ nghinh Ông Thủy tướng, Lễ nghinh Ông... Nhưng tất cả đều có chung một quan niệm rằng cá "Ông" chính là thần bảo trợ nghề cá và cnhững nghề trên biển nói chung, và từ đó trở thành tín ngưỡng của ngư dân nơi đây. Đoàn thuyền rồng rước ông Thủy tướng trong lễ hội nghinh Ông ở Cần Giờ Ngày 15 tháng 8 không khí lễ hội đã diễn ra nhộn nhịp ở bên ngoài lăng với nhiều những hoạt động văn hoá sôi nổi. Sáng ngày 16 tháng 8, khoảng 10 giờ, các vị ở trong hội lăng trong trang phục chỉnh tề làm lễ rước kiệu của Nam hải Tướng quân xuống thuyền rồng ra biển. Đoàn ghe nghinh xuất phát ở tại bến đò Cần Giờ - Vũng Tàu. Dọc theo đường rước, ngư dân sống trên biển và bà con hai bên phố bày lễ vật để nghênh đón, khói nhang nghi ngút. Cùng với thuyền rồng rước thuỷ tướng, còn có hàng trăm ghe lớn nhỏ, trang hoàng lộng lẫy và cờ hoa rực rỡ tháp tùng ra biển nghênh ông. Trước mũi ghe là mâm lễ vật và hương án. Trên các ghe lớn nhỏ này có chở hàng nghìn du khách và bà con tham dự đoàn rước. Đoàn rước đi được khoảng 2 giờ thì quay về bến nơi xuất phát, rước ông về lăng ông Thuỷ tướng. Tại bến một đoàn múa lân, múa sư tử, múa rồng đã đợi sẵn để đón ông về lăng. Khi rước ông vào lăng, các nghi thức đón và tế diễn ra rất trang trọng và đúng với nghi thức cổ truyền. Các lễ cầu an, xây chầu đại bội và hát bội diễn ra tại lăng ông Thuỷ tướng. Ngoài lăng, còn có các hoạt động văn hoá văn nghệ. Vào khoảng 20 giờ đến 23 giờ cùng ngày lễ cúng tế, hát bội vẫn tiếp tục diễn ra trong lăng. Sáng ngày 17 tháng 8: từ 8h đến 22h tại lăng ông Thuỷ tướng diễn ra lễ tôn vương ông Thuỷ tướng theo sắc phong. Lễ cúng có hát thờ. Sau phần lễ tôn ông theo sắc phong cũng là lúc lễ hội chấm dứt. Hàng ngàn bà con ngư dân và du khách về tham dự Lễ hội Nghinh Ông ở Cần Giờ

Lễ hội nghinh Ông đó là tục thờ cá "Ông" phổ biến từ Quảng Bình trở vào Nam là một trong những lễ hội lớn nhất của ngư dân vùng biển. Từ ngày 15 đến ngày 17 tháng 8 âm lịch hàng năm tại lăng Ông Thủy tướng được vua Tự Đức ban sắc phong: “Nam Hải tướng quân” thuộc Xã Cần Thạnh, huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh đều diễn ra lễ tế rất trang trọng của ngư dân Cần Giờ để tưởng nhớ tới công ơn của cá "Ông".

Lễ hội nghinh Ông tại Cần Giờ

Lễ hội còn có nhiều tên gọi khác như: Lễ rước cốt Ông, Lễ tế cá Ông, Lễ cầu ngư, Lễ cúng Ông, Lễ nghinh Ông Thủy tướng, Lễ nghinh Ông... Nhưng tất cả đều có chung một quan niệm rằng cá "Ông" chính là thần bảo trợ nghề cá và cnhững nghề trên biển nói chung, và từ đó trở thành tín ngưỡng của ngư dân nơi đây. Đoàn thuyền rồng rước ông Thủy tướng trong lễ hội nghinh Ông ở Cần Giờ Ngày 15 tháng 8 không khí lễ hội đã diễn ra nhộn nhịp ở bên ngoài lăng với nhiều những hoạt động văn hoá sôi nổi. Sáng ngày 16 tháng 8, khoảng 10 giờ, các vị ở trong hội lăng trong trang phục chỉnh tề làm lễ rước kiệu của Nam hải Tướng quân xuống thuyền rồng ra biển. Đoàn ghe nghinh xuất phát ở tại bến đò Cần Giờ - Vũng Tàu. Dọc theo đường rước, ngư dân sống trên biển và bà con hai bên phố bày lễ vật để nghênh đón, khói nhang nghi ngút. Cùng với thuyền rồng rước thuỷ tướng, còn có hàng trăm ghe lớn nhỏ, trang hoàng lộng lẫy và cờ hoa rực rỡ tháp tùng ra biển nghênh ông. Trước mũi ghe là mâm lễ vật và hương án. Trên các ghe lớn nhỏ này có chở hàng nghìn du khách và bà con tham dự đoàn rước. Đoàn rước đi được khoảng 2 giờ thì quay về bến nơi xuất phát, rước ông về lăng ông Thuỷ tướng. Tại bến một đoàn múa lân, múa sư tử, múa rồng đã đợi sẵn để đón ông về lăng. Khi rước ông vào lăng, các nghi thức đón và tế diễn ra rất trang trọng và đúng với nghi thức cổ truyền. Các lễ cầu an, xây chầu đại bội và hát bội diễn ra tại lăng ông Thuỷ tướng. Ngoài lăng, còn có các hoạt động văn hoá văn nghệ. Vào khoảng 20 giờ đến 23 giờ cùng ngày lễ cúng tế, hát bội vẫn tiếp tục diễn ra trong lăng. Sáng ngày 17 tháng 8: từ 8h đến 22h tại lăng ông Thuỷ tướng diễn ra lễ tôn vương ông Thuỷ tướng theo sắc phong. Lễ cúng có hát thờ. Sau phần lễ tôn ông theo sắc phong cũng là lúc lễ hội chấm dứt. Hàng ngàn bà con ngư dân và du khách về tham dự Lễ hội Nghinh Ông ở Cần Giờ

Related Figures

Lễ Vu lan thắng hội

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 27/7- 28/7 Âm lịch (lehoi.info)- Lễ Vu lan thắng hội, lễ cúng cô hồn là một nét văn hóa tâm linh từ mấy trăm năm kể từ khi người Triều Châu đến tỉnh Trà Vinh để sinh cơ lập nghiệp, đã được công nhận là lễ hội cấp tỉnh và hằng năm lễ hội diễn vào ngày 27 và ngày 28 tháng 7 Âm lịch. Quang cảnh lễ Vu lan thắng hội Trong những ngày này, có nhiều nghi lễ được tiến hành trang trọng và độc đáo như: Lễ rước Phật, rước thần ở các đình, các chùa vùng phụ cận về Vạn Niên Phong Cung; Lễ khai kinh; Thỉnh kinh - diễn lại câu chuyện thỉnh kinh của thầy trò Đường Tam Tạng; Đăng đàn thí thực; Cầu quốc thái dân an.... Mục đích của lễ hội này là báo hiếu, cầu an - cầu phúc. Đây là lễ hội của cộng đồng các dân tộc Việt, Khmer, Hoa, nó phản ánh đậm nét sự hỗn dung tín ngưỡng. Hàng năm lễ hội đã thu hút được hàng chục ngàn người về tham dự. Trong lễ, các ông Bổn bận quần áo màu đỏ, quấn khăn màu đỏ và cầm gươm bén xuất hiện ở trong chánh điện chùa Ông Bổn (có tên chữ là Vạn Niên Phong Cung, tọa lạc ở thi trấn Cầu Kè, huyện Cầu Kè), trong chừng hai ba giờ từ lúc 10 giờ sáng của ngày 27. Cũng diễn ra cảnh "đánh trái chông", "rạch lưỡi" như vậy vào ngày 28 trong sân của chùa lộ thiên, nhưng bắt đầu lúc nào thì là do ông Bổn quyết định để tránh mưa. Hòa cùng với tiếng trống, tiêng thanh la, tiếng não bạc, tiếng chập chã , tiếng kèn lá liễu... của dàn nhạc "Tùa lầu cấu" (Đại la cổ: dàn nhạc của con người Triều Châu) có nhiều thanh la và trống lớn rền vang, 4 ông Bổn trong quần áo mũ mão màu đỏ chói, rung rung người và tay cầm kiếm múa may. Sau đó, có vị cầm sợi dây vải màu đỏ gắn chặt vào một trái chông tua tủa những đinh thép sang giới, dài khoảng chừng một tấc quất mạnh vào người. Rồi 4 ông lần lượt cầm dao bén ngót rạch mạnh và liên hồi lên mặt lưỡi mình. Máu đỏ túa ra, các ông sẽ dùng bút lông tẩm máu vẽ nguệch ngoạt lên những tờ giấy hình chữ nhật nhỏ dài có màu vàng. Cứ như vậy trong tiếng trống tiếng chiên náo hoạt, các ông tạo nên một cảnh rùng rợn thích thú đối với hàng vạn người tham dự. Lễ Vu lan thắng hội thu hút đông đảo người dân tham gia Ngày xưa, buổi lễ này còn có phần hấp dẫn hơn vì có cảnh các ông đi chân trần trên lớp than đước dài hàng chục thước, lúc nào lửa cũng cháy đỏ rực (do những người trong chùa quạt không ngừng nghỉ). Rồi các ông sẽ dùng một bó lá tre nhúng vào chảo dầu phộng sôi sung sục và quất mạnh vào người được gọi là "tắm dầu" đây cũng là cảnh "ác liệt" nhất. Bắt đầu lễ Vu lan thắng hội, vào lúc chập choạng tối, chùa sẽ tổ chức cảnh Trần Huyền Trang (Đường Tăng) cùng với ba đệ tử Tề Thiên Đại Thánh, Sa Tăng và Trư Bát Giới đi thỉnh kinh. Đường Tăng cưỡi trên lưng một con ngựa bạch phất bằng giấy có bánh xe lăn trên đường, còn Tề Thiên, Trư Bát Giới và Sa Tăng chạy bộ theo. Đến các ngã ba, ngã tư của thị trấn gặp "động quỹ" (làm bằng tre có gài lá đủng đỉnh), Tề Thiên sẽ huơ thiết bảng khiêu chiến. Con quỷ núp ở trong động nhảy xổ ra. Cuộc chiến diễn ra hết sức "ảo diệu" vì thỉnh thoảng lại có một người ngậm dầu lửa thổi xuyên qua cây đuốc cháy đỏ rực trên tay, tạo thành một quầng lửa bay ào ào trong màn đêm. Một nghi thức trong lễ Vu lan thắng hội Tại chùa, ngoài các buổi cầu kinh của những nhà sư, còn có những buổi "sáp môl" (tức tụng kinh) của các vị sư Kmer. Xen kẽ trong các lễ cầu kinh ấy là việc biểu diễn âm nhạc đặc sắc của dàn nhạc "Tùa lầu cấu". Với dàn kèn, trống, chập chã, thanh tao và não bạt đặc trưng của con người Triều Châu, ngoài những bản nhạc truyền thống của cộng đồng tộc người này, họ còn biểu diễn cả những bản cổ nhạc, tân nhạc… Đến với Cầu Kè dịp này, du khách còn được thưởng thức món bún nước lèo đặc trưng của người dân địa phương. Chỉ đơn thuần là món bún chan với nước mắm "prohoc" của đồng bào Kmer Nam Bộ cùng với một vài miêng thịt cá lóc, rau ghém và huyết heo. Bún được ăn với giấm ớt hoặc muối hột đâm ớt hiểm. Ngon và không "đụng hàng" với những chiếc bánh ống nho nhỏ làm bằng bột gạo đâm trộn với nước cốt dừa và đường, hấp trong hai ống tre và đặt trên mặt nồi đất. Rồi nếm thử chuối tá quạ, dừa sáp…còn được thưởng thức cả món ăn pha lấu củ cải. Vu lan thắng hội Cầu Kè là một trong những lễ hội dân gian tiêu biểu của cộng đồng các dân tộc ở tỉnh Trà Vinh./. lehoi.info tổng hợp

(lehoi.info)- Lễ Vu lan thắng hội, lễ cúng cô hồn là một nét văn hóa tâm linh từ mấy trăm năm kể từ khi người Triều Châu đến tỉnh Trà Vinh để sinh cơ lập nghiệp, đã được công nhận là lễ hội cấp tỉnh và hằng năm lễ hội diễn vào ngày 27 và ngày 28 tháng 7 Âm lịch.

Quang cảnh lễ Vu lan thắng hội Trong những ngày này, có nhiều nghi lễ được tiến hành trang trọng và độc đáo như: Lễ rước Phật, rước thần ở các đình, các chùa vùng phụ cận về Vạn Niên Phong Cung; Lễ khai kinh; Thỉnh kinh - diễn lại câu chuyện thỉnh kinh của thầy trò Đường Tam Tạng; Đăng đàn thí thực; Cầu quốc thái dân an.... Mục đích của lễ hội này là báo hiếu, cầu an - cầu phúc. Đây là lễ hội của cộng đồng các dân tộc Việt, Khmer, Hoa, nó phản ánh đậm nét sự hỗn dung tín ngưỡng. Hàng năm lễ hội đã thu hút được hàng chục ngàn người về tham dự. Trong lễ, các ông Bổn bận quần áo màu đỏ, quấn khăn màu đỏ và cầm gươm bén xuất hiện ở trong chánh điện chùa Ông Bổn (có tên chữ là Vạn Niên Phong Cung, tọa lạc ở thi trấn Cầu Kè, huyện Cầu Kè), trong chừng hai ba giờ từ lúc 10 giờ sáng của ngày 27. Cũng diễn ra cảnh "đánh trái chông", "rạch lưỡi" như vậy vào ngày 28 trong sân của chùa lộ thiên, nhưng bắt đầu lúc nào thì là do ông Bổn quyết định để tránh mưa. Hòa cùng với tiếng trống, tiêng thanh la, tiếng não bạc, tiếng chập chã , tiếng kèn lá liễu... của dàn nhạc "Tùa lầu cấu" (Đại la cổ: dàn nhạc của con người Triều Châu) có nhiều thanh la và trống lớn rền vang, 4 ông Bổn trong quần áo mũ mão màu đỏ chói, rung rung người và tay cầm kiếm múa may. Sau đó, có vị cầm sợi dây vải màu đỏ gắn chặt vào một trái chông tua tủa những đinh thép sang giới, dài khoảng chừng một tấc quất mạnh vào người. Rồi 4 ông lần lượt cầm dao bén ngót rạch mạnh và liên hồi lên mặt lưỡi mình. Máu đỏ túa ra, các ông sẽ dùng bút lông tẩm máu vẽ nguệch ngoạt lên những tờ giấy hình chữ nhật nhỏ dài có màu vàng. Cứ như vậy trong tiếng trống tiếng chiên náo hoạt, các ông tạo nên một cảnh rùng rợn thích thú đối với hàng vạn người tham dự. Lễ Vu lan thắng hội thu hút đông đảo người dân tham gia Ngày xưa, buổi lễ này còn có phần hấp dẫn hơn vì có cảnh các ông đi chân trần trên lớp than đước dài hàng chục thước, lúc nào lửa cũng cháy đỏ rực (do những người trong chùa quạt không ngừng nghỉ). Rồi các ông sẽ dùng một bó lá tre nhúng vào chảo dầu phộng sôi sung sục và quất mạnh vào người được gọi là "tắm dầu" đây cũng là cảnh "ác liệt" nhất. Bắt đầu lễ Vu lan thắng hội, vào lúc chập choạng tối, chùa sẽ tổ chức cảnh Trần Huyền Trang (Đường Tăng) cùng với ba đệ tử Tề Thiên Đại Thánh, Sa Tăng và Trư Bát Giới đi thỉnh kinh. Đường Tăng cưỡi trên lưng một con ngựa bạch phất bằng giấy có bánh xe lăn trên đường, còn Tề Thiên, Trư Bát Giới và Sa Tăng chạy bộ theo. Đến các ngã ba, ngã tư của thị trấn gặp "động quỹ" (làm bằng tre có gài lá đủng đỉnh), Tề Thiên sẽ huơ thiết bảng khiêu chiến. Con quỷ núp ở trong động nhảy xổ ra. Cuộc chiến diễn ra hết sức "ảo diệu" vì thỉnh thoảng lại có một người ngậm dầu lửa thổi xuyên qua cây đuốc cháy đỏ rực trên tay, tạo thành một quầng lửa bay ào ào trong màn đêm. Một nghi thức trong lễ Vu lan thắng hội Tại chùa, ngoài các buổi cầu kinh của những nhà sư, còn có những buổi "sáp môl" (tức tụng kinh) của các vị sư Kmer. Xen kẽ trong các lễ cầu kinh ấy là việc biểu diễn âm nhạc đặc sắc của dàn nhạc "Tùa lầu cấu". Với dàn kèn, trống, chập chã, thanh tao và não bạt đặc trưng của con người Triều Châu, ngoài những bản nhạc truyền thống của cộng đồng tộc người này, họ còn biểu diễn cả những bản cổ nhạc, tân nhạc… Đến với Cầu Kè dịp này, du khách còn được thưởng thức món bún nước lèo đặc trưng của người dân địa phương. Chỉ đơn thuần là món bún chan với nước mắm "prohoc" của đồng bào Kmer Nam Bộ cùng với một vài miêng thịt cá lóc, rau ghém và huyết heo. Bún được ăn với giấm ớt hoặc muối hột đâm ớt hiểm. Ngon và không "đụng hàng" với những chiếc bánh ống nho nhỏ làm bằng bột gạo đâm trộn với nước cốt dừa và đường, hấp trong hai ống tre và đặt trên mặt nồi đất. Rồi nếm thử chuối tá quạ, dừa sáp…còn được thưởng thức cả món ăn pha lấu củ cải. Vu lan thắng hội Cầu Kè là một trong những lễ hội dân gian tiêu biểu của cộng đồng các dân tộc ở tỉnh Trà Vinh./. lehoi.info tổng hợp

Quang cảnh lễ Vu lan thắng hội

Related Figures

Lễ hội Ok Om Bok

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/10 Âm lịch Ok Om Bok, hay còn được gọi là lễ hội Cúng Trăng, là một trong ba lễ hội tiêu biểu của đồng bào người dân tộc Khmer theo chu kỳ một năm. Theo quan niệm tín ngưỡng của những người Khmer, Mặt Trăng là vị thần cai quản thời tiết và mùa màng trong một năm. Lễ hội này được diễn ra vào ngày Rằm tháng Cađấc theo Phật lịch, tức vào ngày Rằm tháng Mười âm lịch, là vào thời điểm mùa mưa chuyển sang mùa khô, mùa gieo trồng thì chuyển sang mùa thu hoạch. Do vậy, Ok Om Bok có nhiều điểm tương đồng với lễ Thượng điền của người Việt. Lễ hội Ok Om Bok của mỗi phum sóc được diễn ra tại sân chùa, còn trên phạm vi cả tỉnh thì được diễn ra tại Ao Bà Om thuộc khóm 3 phường 8 thị xã Trà Vinh. Quang cảnh lễ hội Ok Om Bok tại Trà Vinh Khi vị thần Mặt Trăng lên cao, người ta dâng cúng những phẩm vật là các loại nông sản vừa mới thu hoạch như cốm dẹp, mía, chuối… vừa để tạ ơn vừa để cầu mong thần linh tiếp tục phò trợ cho năm sau mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt. Sau đó, các bậc bô lão sẽ bốc từng nắm cốm dẹp đút vào mồm trẻ con với lời chúc hay ăn chóng lớn (Ok Om Bok dịch sát nghĩa là ăn cốm dẹp bằng cách nắm cốm dẹp và đút vô miệng). Đoàn diễu hành xung quanh Ao Bà Om Trong lễ hội Ok Om Bok vào buổi tối sẽ diễn ra cuộc thi thả đèn gió. Đèn gió được làm bằng khung tre, có dán giấy chung quanh, sau đó dùng bùi nhùi quấn phía dưới và đốt cháy đưa chiếc đèn bay bổng lên cao. Đèn gió bay lên, bay lên mãi như mang tất cả những ước vọng, niềm tin của những người nông dân Khmer đến với vị thần Mặt Trăng đang vạch mây nhìn xuống. Tại Ao Bà Om, nghi thức thả đèn gió đã trở thành một cuộc thi sôi động với sự tham gia của hàng chục ngôi chùa ở trong tỉnh, dưới sự cổ vũ của hàng chục hàng ngàn người trẩy hội. Trước đó, vào trưa ngày 14 tháng 10 âm lịch, ở trên dòng sông Long Bình diễn ra cuộc đua ghe Ngo sôi nổi giữa tiếng nhạc Ngũ âm vang lừng và tiếng hò reo cổ vũ vang dậy của hàng chục hàng nghìn người dự khán. Các đội đua đến từ các huyện thị trong tỉnh và các tỉnh lân cận mang đến cho lễ hội một không khí tưng bừng, cuồng nhiệt. Ghe Ngo vừa là một trò chơi dân gian, vừa bày tỏ sức mạnh và sự đoàn kết, vừa là một nghi thức truyền thống tiễn đưa thần Nước sau mùa gieo trồng về với biển cả và cũng là một nghi thức tôn giáo của người Khmer tưởng nhớ rắn thần Nagar thời xưa từng biến thành đoạn gỗ đưa đức Phật qua sông. Ao Bà Om – địa điểm chính diễn ra Lễ hội

Ok Om Bok, hay còn được gọi là lễ hội Cúng Trăng, là một trong ba lễ hội tiêu biểu của đồng bào người dân tộc Khmer theo chu kỳ một năm. Theo quan niệm tín ngưỡng của những người Khmer, Mặt Trăng là vị thần cai quản thời tiết và mùa màng trong một năm. Lễ hội này được diễn ra vào ngày Rằm tháng Cađấc theo Phật lịch, tức vào ngày Rằm tháng Mười âm lịch, là vào thời điểm mùa mưa chuyển sang mùa khô, mùa gieo trồng thì chuyển sang mùa thu hoạch. Do vậy, Ok Om Bok có nhiều điểm tương đồng với lễ Thượng điền của người Việt. Lễ hội Ok Om Bok của mỗi phum sóc được diễn ra tại sân chùa, còn trên phạm vi cả tỉnh thì được diễn ra tại Ao Bà Om thuộc khóm 3 phường 8 thị xã Trà Vinh.

Quang cảnh lễ hội Ok Om Bok tại Trà Vinh Khi vị thần Mặt Trăng lên cao, người ta dâng cúng những phẩm vật là các loại nông sản vừa mới thu hoạch như cốm dẹp, mía, chuối… vừa để tạ ơn vừa để cầu mong thần linh tiếp tục phò trợ cho năm sau mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt. Sau đó, các bậc bô lão sẽ bốc từng nắm cốm dẹp đút vào mồm trẻ con với lời chúc hay ăn chóng lớn (Ok Om Bok dịch sát nghĩa là ăn cốm dẹp bằng cách nắm cốm dẹp và đút vô miệng). Đoàn diễu hành xung quanh Ao Bà Om Trong lễ hội Ok Om Bok vào buổi tối sẽ diễn ra cuộc thi thả đèn gió. Đèn gió được làm bằng khung tre, có dán giấy chung quanh, sau đó dùng bùi nhùi quấn phía dưới và đốt cháy đưa chiếc đèn bay bổng lên cao. Đèn gió bay lên, bay lên mãi như mang tất cả những ước vọng, niềm tin của những người nông dân Khmer đến với vị thần Mặt Trăng đang vạch mây nhìn xuống. Tại Ao Bà Om, nghi thức thả đèn gió đã trở thành một cuộc thi sôi động với sự tham gia của hàng chục ngôi chùa ở trong tỉnh, dưới sự cổ vũ của hàng chục hàng ngàn người trẩy hội. Trước đó, vào trưa ngày 14 tháng 10 âm lịch, ở trên dòng sông Long Bình diễn ra cuộc đua ghe Ngo sôi nổi giữa tiếng nhạc Ngũ âm vang lừng và tiếng hò reo cổ vũ vang dậy của hàng chục hàng nghìn người dự khán. Các đội đua đến từ các huyện thị trong tỉnh và các tỉnh lân cận mang đến cho lễ hội một không khí tưng bừng, cuồng nhiệt. Ghe Ngo vừa là một trò chơi dân gian, vừa bày tỏ sức mạnh và sự đoàn kết, vừa là một nghi thức truyền thống tiễn đưa thần Nước sau mùa gieo trồng về với biển cả và cũng là một nghi thức tôn giáo của người Khmer tưởng nhớ rắn thần Nagar thời xưa từng biến thành đoạn gỗ đưa đức Phật qua sông. Ao Bà Om – địa điểm chính diễn ra Lễ hội

Related Figures

Lễ kỳ yên đình Phú Nhuận

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 16/1- 18/1 Âm lịch (lehoi.info) - Lễ kỳ yên đình Phú Nhuận, được tổ chức hàng năm vào khoảng ngày 16 đến ngày18 tháng 01 âm lịch, tại 18 đường Mai Văn Ngọc phường 10, quận Phú Nhuận TP Hồ Chí Minh. Trong lễ có các nghi thức tụng kinh cầu an, lễ tế và nghi thức tôn vương, hồi chầu nhằm suy tôn Phật, thần và các vị tiền hiền, hậu hiền. Di tích đình Phú Nhuận Hiện nay, còn rất nhiều ý kiến khác nhau, về thời gian thành lập đình Phú Nhuận, nhưng ý kiến mà được nhiều người ủng hộ nhất, là đình được xây dựng vào đầu thế kỷ 19. Qua những tài liệu Hán Nôm ở trong đình cho thấy, mốc thời gian sớm nhất, mà đình được ghi chép bằng văn tự là sắc phong của vua Tự Đức ban cho vào năm 1852. Đó là văn bản cổ xưa nhất, xác định danh tánh ngôi đình, chính vì vậy, nên nhiều người đã lấy mốc xây dựng đình là năm 1852, bởi họ chưa tìm thấy một bằng chứng nào chắc chắn hơn. Đặc săc lễ kỳ yên đình Phú Nhuận Tuy nhiên, cũng có những ý kiến khác cho rằng: Đình Phú Nhuận được tái thiết vào năm 1852, nghĩa là đình đã có từ thời trước đó. Theo di tích còn lại hiện nay, là một cây đòn võng trên nóc đình có khắc chữ Hán " Tự Đức ngũ niên ", nghĩa là năm Tự Đức thứ năm - tức là năm 1852. Đình được tái thiết, vì lúc đầu, đình nằm ở vị trí khác, bên bờ một con kinh đào (đã lấp) và bên cạnh chùa Cây Sai (chùa Phú Thạnh) trên con đường Huỳnh Văn Bánh hiện nay. Vào khoảng giữa thế kỷ 19, dân cư bắt đầu quy tụ về vùng Phú Nhuận, phần lớn, họ thuộc những gia đình binh sĩ vào đóng ở trấn Phiên An, hoặc di dân từ "đàng Ngoài" vào. Ông Lê Tự Tài, quê ở Bắc Bộ vào Gia Định rất sớm, có công huy động dân khẩn hoang và lập ấp ở quanh vùng cầu Kiệu. Ông Tài, từng là thôn trưởng của thôn Phú Nhuận và trở thành Xã trưởng, khi Phú Nhuận đổi thành xã, do đó, người ta cũng quen gọi ông là xã Tài. Nhận thấy đình Phú Nhuận, trước kia nằm ở vị trí vùng trũng và gần rạch Thị Nghè, thường xuyên bị lầy lội vào mùa mưa nên xã Tài hiến cho làng Phú Nhuận hai mẫu đất ở trên gò Kim Qui, để dời đình về vị trí hiện nay. Theo những tài liệu hiện có ở đình, vào năm 1852 khi mới tái thiết, đình Phú Nhuận, do hội tề làng Phú Nhuận quản trị, kinh phí xây dựng thì do quỹ làng xuất ra và một phần là do dân làng tự ngyện đóng góp. Quang cảnh lễ kỳ yên đình Phú Nhuận Lễ Kỳ yên được bắt đầu bằng nghi thức tụng kinh cầu an của Phật giáo, tiếp theo là phần múa lân và phần biểu diễn võ thuật cổ truyền, các nghi thức tế thần và tế tiền hiền, hậu hiền. Buổi tối còn có phần xây chầu, đại bội và hát bội. Ngày thứ hai và ngày thứ ba có nghi thức tế nam quan, nữ quan theo truyền thống Bắc bộ. Chấm dứt lễ hội là nghi thức tôn vương và hồi chầu theo truyền thống của các đình Nam bộ./.

(lehoi.info) - Lễ kỳ yên đình Phú Nhuận, được tổ chức hàng năm vào khoảng ngày 16 đến ngày18 tháng 01 âm lịch, tại 18 đường Mai Văn Ngọc phường 10, quận Phú Nhuận TP Hồ Chí Minh. Trong lễ có các nghi thức tụng kinh cầu an, lễ tế và nghi thức tôn vương, hồi chầu nhằm suy tôn Phật, thần và các vị tiền hiền, hậu hiền.

Di tích đình Phú Nhuận

Hiện nay, còn rất nhiều ý kiến khác nhau, về thời gian thành lập đình Phú Nhuận, nhưng ý kiến mà được nhiều người ủng hộ nhất, là đình được xây dựng vào đầu thế kỷ 19. Qua những tài liệu Hán Nôm ở trong đình cho thấy, mốc thời gian sớm nhất, mà đình được ghi chép bằng văn tự là sắc phong của vua Tự Đức ban cho vào năm 1852. Đó là văn bản cổ xưa nhất, xác định danh tánh ngôi đình, chính vì vậy, nên nhiều người đã lấy mốc xây dựng đình là năm 1852, bởi họ chưa tìm thấy một bằng chứng nào chắc chắn hơn. Đặc săc lễ kỳ yên đình Phú Nhuận Tuy nhiên, cũng có những ý kiến khác cho rằng: Đình Phú Nhuận được tái thiết vào năm 1852, nghĩa là đình đã có từ thời trước đó. Theo di tích còn lại hiện nay, là một cây đòn võng trên nóc đình có khắc chữ Hán " Tự Đức ngũ niên ", nghĩa là năm Tự Đức thứ năm - tức là năm 1852. Đình được tái thiết, vì lúc đầu, đình nằm ở vị trí khác, bên bờ một con kinh đào (đã lấp) và bên cạnh chùa Cây Sai (chùa Phú Thạnh) trên con đường Huỳnh Văn Bánh hiện nay. Vào khoảng giữa thế kỷ 19, dân cư bắt đầu quy tụ về vùng Phú Nhuận, phần lớn, họ thuộc những gia đình binh sĩ vào đóng ở trấn Phiên An, hoặc di dân từ "đàng Ngoài" vào. Ông Lê Tự Tài, quê ở Bắc Bộ vào Gia Định rất sớm, có công huy động dân khẩn hoang và lập ấp ở quanh vùng cầu Kiệu. Ông Tài, từng là thôn trưởng của thôn Phú Nhuận và trở thành Xã trưởng, khi Phú Nhuận đổi thành xã, do đó, người ta cũng quen gọi ông là xã Tài. Nhận thấy đình Phú Nhuận, trước kia nằm ở vị trí vùng trũng và gần rạch Thị Nghè, thường xuyên bị lầy lội vào mùa mưa nên xã Tài hiến cho làng Phú Nhuận hai mẫu đất ở trên gò Kim Qui, để dời đình về vị trí hiện nay. Theo những tài liệu hiện có ở đình, vào năm 1852 khi mới tái thiết, đình Phú Nhuận, do hội tề làng Phú Nhuận quản trị, kinh phí xây dựng thì do quỹ làng xuất ra và một phần là do dân làng tự ngyện đóng góp. Quang cảnh lễ kỳ yên đình Phú Nhuận Lễ Kỳ yên được bắt đầu bằng nghi thức tụng kinh cầu an của Phật giáo, tiếp theo là phần múa lân và phần biểu diễn võ thuật cổ truyền, các nghi thức tế thần và tế tiền hiền, hậu hiền. Buổi tối còn có phần xây chầu, đại bội và hát bội. Ngày thứ hai và ngày thứ ba có nghi thức tế nam quan, nữ quan theo truyền thống Bắc bộ. Chấm dứt lễ hội là nghi thức tôn vương và hồi chầu theo truyền thống của các đình Nam bộ./.

Related Figures

Hội miếu Ông Địa

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 2/2 Âm lịch Miếu Ông Địa (125 Lê Lợi, Gò Vấp) hình thành những năm đầu thế kỷ 19 và từng được Vua Tự Đức sắc phong vào năm 1852. Miếu thờ Thổ Địa Phúc Đức Chính Thần và nhiều vị thần dân khác. Hội miếu Ông Địa Hội miếu Ông Địa diễn ra hàng năm vào khoảng thời gian ngày 2 tháng 2 âm lịch, tại 125 đường Lê Lợi, phường 3, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh. Người dân dâng hương tại hội miếu Ông Địa Hội được tổ chức nhằm suy tôn Thổ địa Phúc Đức Chính Thần và nhiều các vị thần dân gian khác. Đây là lễ hội tiêu biểu cho các lễ hội miếu ở tại thành phố Hồ Chí Minh và Nam bộ với các nghi thức như: “gióng trống khai trang” thông báo vào lễ, “mời trầu” bằng điệu hát bóng rỗi để thỉnh thần về dự lễ, diễn tuồng hài “Địa Nàng” với nhân vật ông Địa và nàng tiên mang nội dung phê phán những thói hư tật xấu trong xã hội hương thôn thời xưa. Sau đó là màn diễn múa mâm vàng, múa mâm bạc và múa đồ chơi do các nghệ nhân dân gian trình diễn. Kết thúc hội thì là nghi thức phát lộc./. Quang cảnh hội miếu Ông Địa

Miếu Ông Địa (125 Lê Lợi, Gò Vấp) hình thành những năm đầu thế kỷ 19 và từng được Vua Tự Đức sắc phong vào năm 1852. Miếu thờ Thổ Địa Phúc Đức Chính Thần và nhiều vị thần dân khác.

Hội miếu Ông Địa

Hội miếu Ông Địa diễn ra hàng năm vào khoảng thời gian ngày 2 tháng 2 âm lịch, tại 125 đường Lê Lợi, phường 3, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh.

Người dân dâng hương tại hội miếu Ông Địa

Hội được tổ chức nhằm suy tôn Thổ địa Phúc Đức Chính Thần và nhiều các vị thần dân gian khác. Đây là lễ hội tiêu biểu cho các lễ hội miếu ở tại thành phố Hồ Chí Minh và Nam bộ với các nghi thức như: “gióng trống khai trang” thông báo vào lễ, “mời trầu” bằng điệu hát bóng rỗi để thỉnh thần về dự lễ, diễn tuồng hài “Địa Nàng” với nhân vật ông Địa và nàng tiên mang nội dung phê phán những thói hư tật xấu trong xã hội hương thôn thời xưa. Sau đó là màn diễn múa mâm vàng, múa mâm bạc và múa đồ chơi do các nghệ nhân dân gian trình diễn. Kết thúc hội thì là nghi thức phát lộc./.

Quang cảnh hội miếu Ông Địa

Related Figures

Lễ hội Giỗ Tổ Nghề Kim Hoàn

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 6/2- 8/2 Âm lịch Lễ hội Giỗ Tổ Nghề Kim Hoàn diễn ra trong vòng 3 ngày mùng 6, mùng 7 và mùng 8 tháng 2 âm lịch hằng năm tại Hội quán Lệ Châu, 586 Trần Hưng Đạo,quận 5, thành phố Hồ Chí Minh. Lễ hội được tổ chức rất qui mô và quy tụ hàng ngàn người trong ngành thợ kim hoàn, không chỉ riêng Thành Phố Hồ Chí Minh mà còn từ các tỉnh Nam Bộ cũng về dự, cúng bái những tổ sư khai sáng ra ngành kim hoàn. Lễ hội Giỗ Tổ Nghề Kim Hoàn tại thành phố Hồ Chí Minh Trong những ngày lễ hội diễn ra, Lệ Châu hội quán được trang hoàng rất rực rỡ, nến và hương được thắp từ trong ra ngoài, tạo cho ngày giỗ hết sức trang nghiêm. Mặc dù ngày mùng 7 mới là ngày chính lễ, nhưng việc cúng tế đã được chuẩn bị từ trước đó vài ngày. Quang cảnh lễ hội Giỗ Tổ Nghề Kim Hoàn tại Mở màn giỗ tổ là tối ngày mùng 6 tháng 2 với nghi thức cúng cầu quốc thái dân an, tuyên đọc sắc phong tổ sư thợ bạc Việt Nam của các vị vua Triều Nguyễn cho những người tham dự, đặc biệt là những người trong nghề hiểu biết xuất xứ của tổ nghề. Ngày chánh tế mùng 7 tháng 2, cúng ba “Viên” theo nghi thức lễ giỗ truyền thống. Viên thứ nhất cúng Chấp minh vào 8h sáng để rước tổ sư. Viên thứ hai cúng Chánh tế tổ sư từ 22h đến 24h. Viên thứ ba diễn ra vào 16h ngày mùng 8 tháng 2, tế nghĩa từ - những người đã có công xây dựng Lệ Châu hội quán. Một nghi thức trong lễ hội Giỗ Tổ Nghề Kim Hoàn Viên đó là cách gọi về mỗi phần lễ. Viên được tiến hành theo nghi thức cổ truyền, dâng phẩm vật như bánh, trà, trái cây và heo quay…Trong các viên, chánh hoặc phó hội trưởng Lệ Châu hội quán đọc văn tế đọc trong ngày giỗ tổ do soạn giả cải lương Viễn Câu sáng tác, thay vì xưa kia chỉ xây chầu hát bội. Các thành viên ban quản trị đền thờ trong bộ lễ phục áo dài khăn đóng, đứng trước Bài Vị tổ sư vái lạy. Bên trong đền, những người thợ bạc thắp hương và dâng mâm hoa quả xếp hình long, lân, quy, phụng với một tấm lòng thành kính, biết ơn người đã có công truyền dạy nghề cho con cho cháu, giúp ích cho xã hội và mang lại một cuộc sống ấm no cho gia đình họ. Nếu như xưa kia, Lệ Châu Hội Quán là nơi hội họp quan trọng của những người thợ bạc vùng đất lục tỉnh thì ngày nay, Lệ Châu hội quán đã trở thành nơi để những thợ kim hoàn thể hiện lòng biết ơn đối với tổ nghề. Chính nơi đây họ còn tìm thấy một sức mạnh tinh thần để có thêm niềm tin đối với chính bản thân cũng như nghề nghiệp.

Lễ hội Giỗ Tổ Nghề Kim Hoàn diễn ra trong vòng 3 ngày mùng 6, mùng 7 và mùng 8 tháng 2 âm lịch hằng năm tại Hội quán Lệ Châu, 586 Trần Hưng Đạo,quận 5, thành phố Hồ Chí Minh. Lễ hội được tổ chức rất qui mô và quy tụ hàng ngàn người trong ngành thợ kim hoàn, không chỉ riêng Thành Phố Hồ Chí Minh mà còn từ các tỉnh Nam Bộ cũng về dự, cúng bái những tổ sư khai sáng ra ngành kim hoàn.

Lễ hội Giỗ Tổ Nghề Kim Hoàn tại thành phố Hồ Chí Minh

Trong những ngày lễ hội diễn ra, Lệ Châu hội quán được trang hoàng rất rực rỡ, nến và hương được thắp từ trong ra ngoài, tạo cho ngày giỗ hết sức trang nghiêm. Mặc dù ngày mùng 7 mới là ngày chính lễ, nhưng việc cúng tế đã được chuẩn bị từ trước đó vài ngày. Quang cảnh lễ hội Giỗ Tổ Nghề Kim Hoàn tại Mở màn giỗ tổ là tối ngày mùng 6 tháng 2 với nghi thức cúng cầu quốc thái dân an, tuyên đọc sắc phong tổ sư thợ bạc Việt Nam của các vị vua Triều Nguyễn cho những người tham dự, đặc biệt là những người trong nghề hiểu biết xuất xứ của tổ nghề. Ngày chánh tế mùng 7 tháng 2, cúng ba “Viên” theo nghi thức lễ giỗ truyền thống. Viên thứ nhất cúng Chấp minh vào 8h sáng để rước tổ sư. Viên thứ hai cúng Chánh tế tổ sư từ 22h đến 24h. Viên thứ ba diễn ra vào 16h ngày mùng 8 tháng 2, tế nghĩa từ - những người đã có công xây dựng Lệ Châu hội quán. Một nghi thức trong lễ hội Giỗ Tổ Nghề Kim Hoàn Viên đó là cách gọi về mỗi phần lễ. Viên được tiến hành theo nghi thức cổ truyền, dâng phẩm vật như bánh, trà, trái cây và heo quay…Trong các viên, chánh hoặc phó hội trưởng Lệ Châu hội quán đọc văn tế đọc trong ngày giỗ tổ do soạn giả cải lương Viễn Câu sáng tác, thay vì xưa kia chỉ xây chầu hát bội.

Các thành viên ban quản trị đền thờ trong bộ lễ phục áo dài khăn đóng, đứng trước Bài Vị tổ sư vái lạy. Bên trong đền, những người thợ bạc thắp hương và dâng mâm hoa quả xếp hình long, lân, quy, phụng với một tấm lòng thành kính, biết ơn người đã có công truyền dạy nghề cho con cho cháu, giúp ích cho xã hội và mang lại một cuộc sống ấm no cho gia đình họ. Nếu như xưa kia, Lệ Châu Hội Quán là nơi hội họp quan trọng của những người thợ bạc vùng đất lục tỉnh thì ngày nay, Lệ Châu hội quán đã trở thành nơi để những thợ kim hoàn thể hiện lòng biết ơn đối với tổ nghề. Chính nơi đây họ còn tìm thấy một sức mạnh tinh thần để có thêm niềm tin đối với chính bản thân cũng như nghề nghiệp.

Related Figures

Lễ hội Kỳ Yên

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 14/12- 16/12 Âm lịch Lễ hội Kỳ Yên (hay lễ hội Cầu An) được tổ chức trong các ngày từ ngày 14 đến ngày 16 tháng chạp hằng năm ở tại đình Vĩnh Lợi, thị trấn Vĩnh Bình, Gò Công Tây, Tiền Giang. Lễ hội này không chỉ là một trong những lễ hội mang đậm nét văn hóa của vùng đất nông nghiệp mà còn là dịp để những người dân nơi đây vui mừng sau một năm đã qua yên ổn, thuận hòa, cầu phúc cho một năm mới được bình an, mùa màng tươi tốt, bội thu... Tưng bừng lễ hội Kỳ Yên Trong những ngày lễ hội diễn ra, đường phố ở thị trấn Vĩnh Bình nhộn nhịp hẳn lên. Nhà nhà đều dọn dẹp tươm tất và chưng mâm ngũ quả ngay trước cửa nhà để đón rước "sắc thần". Ngay từ xế chiều ngày 14 tháng chạp (âm lịch), đội lân rồng của đình đón "Bàn các ấp" của thị trấn - một nghi thức có từ rất lâu của đình để cung thỉnh các vị đang được thờ tại các miễu và thỉnh vong linh của các bậc tiền bối đã có công với địa phương. Trên bàn là những phẩm vật về nông nghiệp cùng với bàn tay khéo léo của các nghệ nhân đã làm nên những hình tượng tứ linh trông rất sinh động để cúng tạ thành hoàng. Sau đó sẽ là lễ đưa linh vị thần đến miếu Bà, cúng tế rồi lại đưa linh vị thần trở về lại đình. Vào ngày 15 tháng chạp diễn ra các lễ cúng Tiền hiền, Hậu hiền và vong linh liệt sĩ, cho đến nửa đêm thì cúng tế thần. Trong suốt ngày 16 tháng chạp, dân làng đến dâng lễ vật (bánh,trái, thịt, xôi) cùng du khách thập phương đến cúng tế và chiêm ngưỡng những ngày diễn ra lễ hội tưng bừng. Khi màn đêm dần buông, ánh trăng mười sáu dần ló dạng cũng là lúc đội rồng đi quanh chợ, chúc sự phát đạt và an khang thịnh vượng cho mọi người, mọi nhà. Đến nửa đêm, lễ tống gió được tiến hành. Những con tàu bằng giấy kiếng, được trang trí cầu kỳ, thắp những cây đèn cầy, thả trôi sông cùng với các nghi lễ tống gió độc, tống những điều xui xẻo ra biển và kết thúc 3 ngày 3 đêm náo nhiệt tưng bừng của những ngày lễ hội. Một nghi thức trong lễ hội Kỳ Yên ở Gò Công Tây tại Tiền Giang Bên cạnh phần lễ, trong dịp lễ hội Kỳ Yên diễn ra còn có những trò chơi dân gian kéo dài trong suốt 3 ngày như: nhảy bao bố, đẩy cây, bịt mắt đập nồi, ngâm thơ, bắt vịt trên sông, ra câu hò, câu đối, múa lân ... Ở tại đình, đội múa lân, múa rồng liên tục trổ tài rất vui nhộn. Các đêm có diễn tuồng hát bội. Suốt mấy ngày đêm dân làng lũ lượt đi ra đình làng cúng bái và chiêm ngưỡng. Đặc sắc lễ hội Kỳ Yên ở Gò Công Tây

Related Figures

Lễ hội Nghinh Ông Vàm Láng

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 9/3- 11/3 Âm lịch Lễ hội Nghinh Ông Vàm Láng - một trong những lễ hội lớn nhất của cư dân vùng biển tại Tiền Giang lễ hội được tổ chức tại xã Vàm Láng, Gò Công Đông, Tiền Giang. Lễ hội diễn ra trong suốt 3 ngày mùng 9, mùng 10 và 11 tháng 3 âm lịch hằng năm nhằm cầu mong cho biển lặng, gió hoà, ngư dân gặp nhiều may mắn làm ăn phát đạt an khang. Quang cảnh lễ hội nghinh Ông Vàm Láng Mở đầu cho lễ hội Nghinh Ông Vàm Láng là lễ rước sắc thần diễn ra vào ngày mùng 9. Đoàn rước có khoảng trên 50 người cùng với 2 xe ngựa đến đình Kiểng Phước. Cúng an vị và thỉnh sắc, nhạc lễ làm đúng theo như thủ tục từ thời xưa. Trống kèn nổi lên cho đến khi sắc thần được rước về lăng. Rồi ở tại lăng, lễ cúng an vị lại được tổ chức trong sự chờ đợi và theo dõi cũa hàng nghìn người. Vào khoảng 3 giờ chiều, lễ cúng thủy lực, có các phẩm vật dưới biển, phẩm vật trên đất để dâng lên các thần. Nhạc lễ được phục vụ cho đến khi hết cúng. Tới 8 giờ tối, trong ánh đèn đủ các màu, cờ hoa rực rỡ và lễ cúng vong linh thiên vị trước giàn thí. Trên giàn, hàng chục mâm bánh trái và được chất đầy hàng mã. Cúng xong là sẽ đến lễ xô giàn thí. Vào những năm chưa có lệnh cấm đốt pháo, thì người ta tổ chức đốt pháo ran trời. Năm nào được mùa cá thì sẽ đốt pháo bông. Nay không còn đốt pháo, nên dứt nhạc lễ là xô giàn thí, hàng mã được đem đi đốt, trẻ em tranh nhau trèo lên để lấy bánh trái, mặt mày hớn hở. Lễ hội Nghinh Ông Vàm Láng Từ xưa đến nay, ở vàm Láng, mỗi lần tổ chức lễ hội Nghinh Ông đều có rước đoàn hát bội về để biểu diễn. Năm nào mà ngư phủ khá giả thì hát bội nhiều đêm, năm nào thất bại thì diễn khoảng chừng 2 đêm. Sau lễ xô giàn thí thì đoàn hát bội diễn trên sân khấu cho đến tận canh một, canh hai thì mới kết thúc. Rạng sáng ngày mùng 10, khoảng hơn 70 tàu có đặt hương án và được trang hoàng cờ đèn rực rỡ. Thanh niên trai tráng ăn mặc tươm tất đứng sẵn trên tàu. Tiếng trống từ Lăng Ông Nam Hải đổ hồi báo hiệu cho mọi người biết rõ rằng lễ nghinh Ông sắp được tiến hành. Ban khánh tiết, các vị bô lão, đội nhạc lễ cổ truyền và đội lân rước long đình có bài vị thủy tướng lên trên một chiếc tàu lớn, đã được trang trí đầy cờ và đèn rực rỡ. Đội lân múa trên tàu, tiếng trống lân rộn rã vang trên bến, báo cho tất cả tàu thuyền nổ máy và chuẩn bị xuất phát. 7 giờ, chiếc tàu lớn có chở đội lân, đội nhạc lễ và ban khánh tiết buông neo ra đi, theo sau là hơn 70 chiếc tàu được trang hoàng rực rỡ. Cả một vùng biển ầm ầm trong tiếng kèn, tiếng trống, tiếng máy và đặc nghẹt tàu đi, khung cảnh thật là hoành tráng. Vào những năm chưa cấm đốt pháo, phía trước các mũi tàu là một hàng dây pháo. Pháo nổ cho đến khi tàu quay về đến các bến. Khi đoàn tàu tiến ra biển cả, trên chiếc tàu lớn có đặt mâm heo quay, xôi và bánh trái. Đội nhạc lễ gồm có 10 người, trong đó gồm có 4 cô đào thày và có 6 nhạc công (một trống hầu, một trống cái, một đờn cò, một bạt lớn, một đầu đường và một kèn) diễn trước long đình. Tàu đi chừng khoảng 8km thì làm thủ tục rước Ông (tức là Nghinh Ông) và chờ Ông lên “vọi”. Theo như quan niệm của cư dân vùng biển: thì năm nào mà gặp Ông lên vọi thì năm ấy là năm được mùa. Nếu chưa gặp được Ông lên vọi thì có thể chờ một chú cá lớn nào đó lên vọi để hình dung về “Ông”. Và như thế cũng dâng tràn lên niềm hạnh phú về một năm đánh cá sẽ đại thắng. Khi tưởng tượng ra Ông vọi, thì đội lân múa để nghênh đón. Nhang đèn, trầm hương, rượu đều được dâng lên, chủ lễ sẽ đứng ra khấn vài thỉnh mời Thủy tướng. Các vị bô lão cúi lạy. Đội nhạc lễ phải biểu diễn một cách cung kính. Tàu đi đủ vòng cho đúng thủ tục, rồi sẽ quay về bến. Đoàn tàu trở về, cờ hoa rực rỡ. Chiếc tàu nào có long đình nổi trống, sẽ đi vào các bến để chúc sự tốt lành cho các đội tàu. Bên các bờ rạch, nhà nhà đều đặt bàn hương án ngoài trời, với đầy đủ lễ vật, hương hoa, khói nhang nghi ngút. Khi tàu trở về lăng. Trên bờ sẽ lại có sẵn một đội lân nghênh đón (trước đây có thêm cả pháo nổ). Long đình, mâm heo quay, lư hương, bánh trái được long trọng đưa vào lăng để làm lễ an vị, trong sự chào đón hoan hỉ của hàng nghìn người. Tiếp sau phần lễ sẽ là phần hội được tổ chức một cách tưng bừng và náo nhiệt. Đoàn hát bội thì diễn các tuồng xưa. Diễn đêm, diễn ngày tùy theo sức đóng góp của những đội tàu (Đội tàu sẽ được phân theo ngành: ngành sông cầu, ngành lưới gộc, ngành đáy chạy v.v…). Dân làng thả sức xem hát, vui chơi, ăn uống suốt 2 ngày nữa. Trong những ngày lễ hội, tại Vàm Láng, diễn ra nhiều cuộc thi thể thao, nhiều trò chơi như: bón đá, bóng chuyền, bơi lội, kéo co… làm cho không khí ngày hội càng thêm vui tươi, huyên náo. Một nghi thức trong lễ hội Nghinh Ông Vàm Láng Có thể nói, lễ hội Nghinh Ông là dịp để cho những người dân đánh cá thả hết tâm hồn mình vào những trò chơi giải trí, mà quên đi những ngày mệt nhọc, gian nguy và để hướng tới một mùa bội thu sắp đến. Tục thờ cá Ông ở Vàm Láng đã tạo nên một bản sắc riêng trong dòng chảy tín ngưỡng dân gian khá phổ biến của vùng văn hóa Nam Bộ. Những ai đã từng được tham dự vào những ngày lễ hội đầy ấn tượng này, hẳn sẽ sẽ chẳng thể nào quên.

Related Figures

Lễ hội chùa Phước Hải

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 9/1 Âm lịch (lehoi.info) - Lễ hội chùa Phước Hải được tổ chức hàng năm vào ngày mồng 9 tháng 1 âm lịch, tại số 73, đường Mai Thị Lựu, gần chợ Đa Kao thuộc phường Đa Kao, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh. Di tích chùa Phước hải Tự Chùa Ngọc Hoàng hay là Ngọc Hoàng điện, nay gọi là chùa Phước Hải, tọa lạc tại số 73, đường Mai Thị Lựu, gần chợ Đa Kao thuộc phường Đa Kao, quận I, TP. Hồ Chí Minh.Chùa Ngọc Hoàng được thành lập từ năm 1892 do một người Hoa tên là Lưu Minh chủ xướng. Vào năm 1900, công cuộc xây cất chùa được hoàn thành, nhưng đến năm 1906 thì mới làm lễ khánh thành. Chùa khởi nguyên có tên là Ngọc Hoàng Điện, người Pháp gọi là "chùa Đa Kao", năm 1982 chùa gia nhập Giáo hội Phật Giáo Việt Nam với hòa thượng Thích Vĩnh Khương làm chủ trì, mới đổi tên thành Phước Hải Tự, nhưng dân gian ở đây vẫn quen gọi là chùa Ngọc Hoàng. Lễ hội chùa Phước Hải tại thành phố Hồ Chí Minh Ở trong sân chùa Ngọc Hoàng, ngoài 2 hồ nuôi cá và nuôi rùa, còn có một miếu thờ Hộ Pháp và một nhà bát giác che chiếc đỉnh lớn được đúc bằng xi măng giả đồng dành cho khách hành hương thắp nhang trước khi vào chùa cũng như khi ra khỏi chùa. Chùa Ngọc Hoàng có tổng cộng trên 300 tượng thờ và được phân bố trong ba gian thờ. Gian ở giữa là gian liền với cổng vào, đó là gian thờ các bậc thiên tướng và Ngọc Hoàng, theo thứ tự từ ngoài vào trong bao gồm có: Thổ địa (ở bên trái cửa vào), Môn Quan (ở bên phải cửa vào)- Phật Dược Sư, tượng phật duy nhất bằng gỗ trầm được đặt trong lồng kính, ở giữa chánh điện- Thanh Long đại tướng (ở bên phải) và Phục Hổ đại tướng (ở bên trái), tượng to bằng người thật- Cung thờ Ngọc Hoàng ở giữa, cung thờ Chuẩn Đề Quan Âm ở bên phải và cung thờ Bắc Đế, tức Huyền Võ hay Trấn Võ ở bên trái.Ở gian thờ Ngọc Hoàng có 6 pho tượng chính: bên phải gồm có ba vị, với giữa là Quan Phu Tử (chủ về việc võ) và hai bên là Thiên Tướng và Thiên Thần. Ngoài ra, còn có các tượng thờ khác như: Nam Tào, Bắc Đẩu Tề Thiên đại thánh, Hoa Đà tiên sư, Quan Thánh đế quân, thần Nhật, thần Nguyệt, Tứ Đại kim quang, Long Mẫu nương nương, Thái ất chân nhân, Khuyến thiện đại sư, Hòa thượng Đạo Minh, hai quan văn, hai quan võ, hai đồng tử và Ông bà bà Thiên Lôi cùng bảy thiên tướng... Hầu hết các tượng thờ ở đây đều làm bằng gỗ, một số ít được làm bằng giấy bồi. Riêng tượng của Ngọc Hoàng là pho tượng ngồi lớn nhất ở trong chùa. Đầu của tượng Ngọc Hoàng đội mão lớn có mái che phía trước trán. Hai tay của Ngọc Hoàng cầm lịnh tiễn. Mặt Ngọc Hoàng bình thản, không vui cũng không buồn, mắt thì trong tư thế mở nhưng không thấy rõ tròng mắt, mũi dời và to. Khuôn mặt tượng Ngọc Hoàng có hình chữ điền, hai má rộng và cao, có 4 chòm râu tỏa dài xuống ngang vai.Ngọc Hoàng mặc áo choàng rộng, hai tay áo phủ tận đến các ngón tay. áo được chạm nối dính hến vào tượng với kỹ thuật sơn son thếp vàng tinh xảo làm nổi bật lên đường nét trang trí trên thân áo với một con rồng uốn lượn.Gian bên trái từ bên ngoài vào, theo thứ tự từ trước ra sau có những hương án với các tượng thờ sau:- Gian đầu tiên là thờ Kim Hoa thánh mẫu, mười hai bà mụ và các nhũ mẫu trong các tư thế nuôi dạy cho trẻ nhỏ.Đây là gian cầu tự cho những người hiếm muộn con- Gian tiếp theo là Thập Điện Diêm Vương, với 10 bức chạm gỗ với cảnh mười cửa ngục phân bổ đều mỗi bên vách 5 bức. Nối liền gian Thập Điện với gian Kim Hoa thính mẫu, có các tượng thờ: Quan Âm, Kim Đồng, Ngọc Nữ Hoạt Vô Thường, Địa Tạng Vương bồ tát (biểu tượng cho sự cứu rỗi), Tư Mạng sứ quân và Dẫn Hồn Tiền (biểu tượng sự dẫn dắt, phân biệt linh bổ lành dữ)- Thần Tài: Trang phục đồ tạng, biểu tượng mang hết sự rủi ro vào mình và ban phát tài lộc cho nhân gian. Tượng đứng cuối gian Thập Điện, tay cầm một cái rổ đựng các gói giấy đỏ bọc mảnh giấy nhỏ ghi hai chữ Hán "Tài Thần" bên trong để cho khách hành hương xin lộc- Gian nối liền với gian Thập Điện có các tượng thờ: Nhị Vị song án, Thành Hoàng Lỗ Ban Mã tướng quân và Thái Tuế- Gian cuối cùng (hiện không còn cho khách vào chiêm bái) gồm có 2 hương án thờ Thạch Cẩm Đương (tục thờ đá của người Hoa) và thờ Ông Tà (tục thờ đá của người Khmer)- Bên phải gian thờ Ngọc Hoàng chính là phòng khách của chùa, sau phòng này có cầu thang đi lên lầu. Nơi đây thờ phụng: Quan Âm bồ tát, Quan Thánh Đế Quân, Hộ pháp và Tổ Lưu Minh - người lập chùa. Lễ hội còn diễn ra vào những ngày rằm, ngày mùng một âm lịch, nhất là vào những ngày rằm lớn trong năm (ngày 15 tháng 1 âm lịch, ngày 15 tháng 7 âm lịch, ngày 15 tháng 10 âm lịch) du khách đến lễ chùa đông đến hàng vạn người. Tuy nhiên, dịp lễ hội thu hút khách đông nhất đó là dịp lễ vía Ngọc Hoàng vào ngày mồng 9 tháng giêng âm lịch hàng năm. Lễ hội chùa Phước Hải thu hút đông đảo người dân tham dự Vào dịp này, tối ngày mồng 8, vị hòa thượng trụ trì chùa tổ chức tụng kinh cầu an. Cả ngày mồng 9 dành cho hàng chục vạn du khách đến chiêm bái, có cả người Hoa lẫn người Việt. Khói hương mù mịt khắp cả trong ngoài...Trong các cơ sở tín ngưỡng dân gian của người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh, chùa Ngọc Hoàng có thể xem là một trong những điểm có sức thu hút khách trong và ngoài nước đến tham quan và chiêm bái rất đông đảo./.

(lehoi.info) - Lễ hội chùa Phước Hải được tổ chức hàng năm vào ngày mồng 9 tháng 1 âm lịch, tại số 73, đường Mai Thị Lựu, gần chợ Đa Kao thuộc phường Đa Kao, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh.

Di tích chùa Phước hải Tự

Chùa Ngọc Hoàng hay là Ngọc Hoàng điện, nay gọi là chùa Phước Hải, tọa lạc tại số 73, đường Mai Thị Lựu, gần chợ Đa Kao thuộc phường Đa Kao, quận I, TP. Hồ Chí Minh.Chùa Ngọc Hoàng được thành lập từ năm 1892 do một người Hoa tên là Lưu Minh chủ xướng. Vào năm 1900, công cuộc xây cất chùa được hoàn thành, nhưng đến năm 1906 thì mới làm lễ khánh thành. Chùa khởi nguyên có tên là Ngọc Hoàng Điện, người Pháp gọi là "chùa Đa Kao", năm 1982 chùa gia nhập Giáo hội Phật Giáo Việt Nam với hòa thượng Thích Vĩnh Khương làm chủ trì, mới đổi tên thành Phước Hải Tự, nhưng dân gian ở đây vẫn quen gọi là chùa Ngọc Hoàng. Lễ hội chùa Phước Hải tại thành phố Hồ Chí Minh Ở trong sân chùa Ngọc Hoàng, ngoài 2 hồ nuôi cá và nuôi rùa, còn có một miếu thờ Hộ Pháp và một nhà bát giác che chiếc đỉnh lớn được đúc bằng xi măng giả đồng dành cho khách hành hương thắp nhang trước khi vào chùa cũng như khi ra khỏi chùa. Chùa Ngọc Hoàng có tổng cộng trên 300 tượng thờ và được phân bố trong ba gian thờ. Gian ở giữa là gian liền với cổng vào, đó là gian thờ các bậc thiên tướng và Ngọc Hoàng, theo thứ tự từ ngoài vào trong bao gồm có: Thổ địa (ở bên trái cửa vào), Môn Quan (ở bên phải cửa vào)- Phật Dược Sư, tượng phật duy nhất bằng gỗ trầm được đặt trong lồng kính, ở giữa chánh điện- Thanh Long đại tướng (ở bên phải) và Phục Hổ đại tướng (ở bên trái), tượng to bằng người thật- Cung thờ Ngọc Hoàng ở giữa, cung thờ Chuẩn Đề Quan Âm ở bên phải và cung thờ Bắc Đế, tức Huyền Võ hay Trấn Võ ở bên trái.Ở gian thờ Ngọc Hoàng có 6 pho tượng chính: bên phải gồm có ba vị, với giữa là Quan Phu Tử (chủ về việc võ) và hai bên là Thiên Tướng và Thiên Thần. Ngoài ra, còn có các tượng thờ khác như: Nam Tào, Bắc Đẩu Tề Thiên đại thánh, Hoa Đà tiên sư, Quan Thánh đế quân, thần Nhật, thần Nguyệt, Tứ Đại kim quang, Long Mẫu nương nương, Thái ất chân nhân, Khuyến thiện đại sư, Hòa thượng Đạo Minh, hai quan văn, hai quan võ, hai đồng tử và Ông bà bà Thiên Lôi cùng bảy thiên tướng... Hầu hết các tượng thờ ở đây đều làm bằng gỗ, một số ít được làm bằng giấy bồi. Riêng tượng của Ngọc Hoàng là pho tượng ngồi lớn nhất ở trong chùa. Đầu của tượng Ngọc Hoàng đội mão lớn có mái che phía trước trán. Hai tay của Ngọc Hoàng cầm lịnh tiễn. Mặt Ngọc Hoàng bình thản, không vui cũng không buồn, mắt thì trong tư thế mở nhưng không thấy rõ tròng mắt, mũi dời và to. Khuôn mặt tượng Ngọc Hoàng có hình chữ điền, hai má rộng và cao, có 4 chòm râu tỏa dài xuống ngang vai.Ngọc Hoàng mặc áo choàng rộng, hai tay áo phủ tận đến các ngón tay. áo được chạm nối dính hến vào tượng với kỹ thuật sơn son thếp vàng tinh xảo làm nổi bật lên đường nét trang trí trên thân áo với một con rồng uốn lượn.Gian bên trái từ bên ngoài vào, theo thứ tự từ trước ra sau có những hương án với các tượng thờ sau:- Gian đầu tiên là thờ Kim Hoa thánh mẫu, mười hai bà mụ và các nhũ mẫu trong các tư thế nuôi dạy cho trẻ nhỏ.Đây là gian cầu tự cho những người hiếm muộn con- Gian tiếp theo là Thập Điện Diêm Vương, với 10 bức chạm gỗ với cảnh mười cửa ngục phân bổ đều mỗi bên vách 5 bức. Nối liền gian Thập Điện với gian Kim Hoa thính mẫu, có các tượng thờ: Quan Âm, Kim Đồng, Ngọc Nữ Hoạt Vô Thường, Địa Tạng Vương bồ tát (biểu tượng cho sự cứu rỗi), Tư Mạng sứ quân và Dẫn Hồn Tiền (biểu tượng sự dẫn dắt, phân biệt linh bổ lành dữ)- Thần Tài: Trang phục đồ tạng, biểu tượng mang hết sự rủi ro vào mình và ban phát tài lộc cho nhân gian. Tượng đứng cuối gian Thập Điện, tay cầm một cái rổ đựng các gói giấy đỏ bọc mảnh giấy nhỏ ghi hai chữ Hán "Tài Thần" bên trong để cho khách hành hương xin lộc- Gian nối liền với gian Thập Điện có các tượng thờ: Nhị Vị song án, Thành Hoàng Lỗ Ban Mã tướng quân và Thái Tuế- Gian cuối cùng (hiện không còn cho khách vào chiêm bái) gồm có 2 hương án thờ Thạch Cẩm Đương (tục thờ đá của người Hoa) và thờ Ông Tà (tục thờ đá của người Khmer)- Bên phải gian thờ Ngọc Hoàng chính là phòng khách của chùa, sau phòng này có cầu thang đi lên lầu. Nơi đây thờ phụng: Quan Âm bồ tát, Quan Thánh Đế Quân, Hộ pháp và Tổ Lưu Minh - người lập chùa. Lễ hội còn diễn ra vào những ngày rằm, ngày mùng một âm lịch, nhất là vào những ngày rằm lớn trong năm (ngày 15 tháng 1 âm lịch, ngày 15 tháng 7 âm lịch, ngày 15 tháng 10 âm lịch) du khách đến lễ chùa đông đến hàng vạn người. Tuy nhiên, dịp lễ hội thu hút khách đông nhất đó là dịp lễ vía Ngọc Hoàng vào ngày mồng 9 tháng giêng âm lịch hàng năm. Lễ hội chùa Phước Hải thu hút đông đảo người dân tham dự Vào dịp này, tối ngày mồng 8, vị hòa thượng trụ trì chùa tổ chức tụng kinh cầu an. Cả ngày mồng 9 dành cho hàng chục vạn du khách đến chiêm bái, có cả người Hoa lẫn người Việt. Khói hương mù mịt khắp cả trong ngoài...Trong các cơ sở tín ngưỡng dân gian của người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh, chùa Ngọc Hoàng có thể xem là một trong những điểm có sức thu hút khách trong và ngoài nước đến tham quan và chiêm bái rất đông đảo./.

Related Figures

Festival Huế 2010 - Nơi gặp gỡ ấn tượng của các lễ hội

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 5/6- 13/6 Dương lịch Festival 2010 diễn ra từ ngày mùng 5 đến ngày 13 tháng 6, là nơi gặp gỡ đầy ấn tượng của 31 quốc gia đến từ 5 châu lục; gồm có nhiều thành phố vốn là cố đô, hoặc có di sản thế giới như Nga, Pháp, Đan Mạch, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Ấn Độ, Lào, Mexico, Hoa Kỳ, Australia, Argentina... Festival Huế 2010 - Nơi gặp gỡ ấn tượng của các lễ hội Festival Huế năm 2010 có các đoàn nghệ thuật của 27 nước tham gia, trong đó cũng có nhiều quốc gia lần đầu tiên có mặt như Haiti, Cuba, Senegal, Na Uy, Đan Mạch, Ba Lan, Mông Cổ, Mexico. Pháp vẫn là , với 8 đoàn nghệ thuật tham gia lễ hội. Ngoài hơn 550 nghệ sĩ người nước ngoài, Festival Huế còn có hơn 2.300 người nghệ sĩ trong nước (có 800 nghệ sĩ chuyên nghiệp và 1.500 nghệ sĩ nghiệp dư) đến từ hơn 30 đoàn, nhà hát và đơn vị nghệ thuật trong cả nước. Một phần biểu diễn tại Festival Huế 2010 Tại tỉnh Thừa Thiên-Huế đã xây dựng hoàn chỉnh 12 khán đài tại 6 địa điểm chính tại Ngọ Môn, cung An Định và Đại Nội, với sức chứa khoảng hơn 25.000 chỗ ngồi. Các khán đài của Festival Huế năm 2010 hiện được lắp ráp theo công nghệ của Hàn Quốc và cũng lần đầu tiên được sử dụng ở tại Việt Nam. Riêng sân khấu khai mạc sẽ bao gồm ba tầng vừa cố định vừa có thể quay, có thể trượt và có thể xoay (do đơn vị Kết nối xanh - Hưng Thành thực hiện) theo công nghệ tiên tiến nhất hiện nay...Đây cũng là nơi mà các đoàn nghệ thuật biểu diễn hàng đêm. Hình ảnh các nghệ sĩ biểu diễn tại Festival Huế 2010 Tổng đạo diễn chương trình, đạo diễn Lê Quý Dương cho biết, sẽ có các lễ hội tiêu biểu được dàn dựng hết sức công phu trình diễn tại Festival Huế 2010 như "Đêm hoàng cung" diễn ra vào tối ngày mùng 5, mùng 8 và ngày 11/6 tại Đại Nội, Huế; "Huyền thoại sông Hương" diễn ra vào tối 6 và 12 tháng 6 trên sông Hương; "Lễ Tế giao" diễn ra vào tối ngày mùng 9 tháng 6 tại Đàn Nam Giao và đêm hội "Hành trình mở cõi" - Chương trình trọng tâm của Festival Huế 2010 sẽ diễn ra vào tối ngày mùng 10 tháng 6 tại Kỳ Đài Huế, hướng tới Đại lễ Kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long-Hà Nội. Không gian nghệ thuật thực hiện "Hành trình mở cõi" rất lớn, trước Kỳ Đài và quanh khu vực Hộ Thành hào. Vì vậy, tại đây, hàng cây đại cổ thụ buộc phải "di dời" để nhường chỗ cho sân khấu và sẽ được "hoàn trả" lại ngay sau lễ hội. Không gian Festival Huế 2010 được mở rộng ra cả những vùng lân cận, các khu thị trấn, thị tứ, các khu đô thị mới. Nhiều địa điểm lần đầu tiên được đưa vào khai thác phục vụ Festival Huế 2010 với các chương trình mới phục vụ du khách như Đêm phương Đông, Vẻ đẹp Việt II hơi thở của nước và Cuộc thao diễn thủy binh thời Chúa Nguyễn... Tại Festival lần này, Huế sẽ hoàn thiện và nâng tầm nghệ thuật một số lễ hội cung đình, lễ hội truyền thống đã trở thành thương hiệu của Festival Huế như Đêm Hoàng Cung, Lễ Tế giao, Huyền thoại sông Hương... Hình ảnh các nghệ sĩ biểu diễn tại Festival Huế 2010 Không gian Festival Huế được mở rộng với hầu hết các sân khấu đều được tổ chức ngoài trời. Đại Nội Huế về đêm hết sức quyến rũ, với nhiều sân khấu nghệ thuật đa dạng, với các đêm hoàng cung, những buổi yến tiệc và những trò chơi cung đình hấp dẫn, sang trọng và thú vị. Ngoài Đại Nội, Công viên Nguyễn Văn Trỗi, biệt cung An Định, Công viên Thương Bạc, đường Nguyễn Đình Chiểu, Công viên 3-2, Khu du lịch Thuận An, Cầu ngói Thanh Toàn, Lăng Cô, Phước Tích Phong Điền, A Lưới, thị trấn Nam Đông, Khu tưởng niệm Anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ Quang Trung, Khu văn hóa Huyền Trân... sẽ được tổ chức thành các trung tâm lễ hội, với những buổi quảng diễn nghệ thuật suốt ngày suốt đêm, hoành tráng, sôi động và nhiều sân chơi dân gian, phố ẩm thực. Vẻ đẹp Festival Huế 2010 Dịp này, tỉnh Thừa Thiên Huế còn gắn chương trình festival với những tuyến du lịch cộng đồng, du lịch đầm phá đầy kỳ thú đáp ứng mọi nhu cầu của các du khách như "Một ngày, một đêm, một cuộc phiêu lưu," "Tam Giang, nắng và gió," hành hương về những ngôi chùa Huế nổi tiếng hay thưởng thức những điệu ca Huế trên sông Hương. Ban tổ chức Festival Huế cho biết, lần đầu tiên tại Festival Huế 2010, toàn bộ giá vé xem biểu diễn nghệ thuật được áp dụng một mức giá chung (được tính bằng Việt Nam đồng) cho cả khách trong nước và quốc tế. Một số chương trình như Lễ khai mạc (tối ngày mùng 5 tháng 6) tại Quảng trường Ngọ Môn; lễ bế mạc (tối ngày 13 tháng 6) tại khu vực bãi bồi cầu Gia Hội và lễ hội Áo dài (tối ngày mùng 8 tháng 6) tại cửa Thượng Tứ có giá vé là 100.000 đồng/người; chương trình nghệ thuật tại Đại Nội (có yến tiệc) là 500.000 đồng/người và không dự yến tiệc là 50.000 đồng/người. Tại các chương trình khác có giá vé bình quân từ 50.000 đồng/người trở xuống...Tại các lễ khai mạc và bế mạc đều được bắn pháo hoa tầm thấp với thời lượng 15 phút/buổi để phục vụ nhân dân và du khách. Festival Huế 2010 Ông Ngô Hòa, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Thừa Thiên-Huế, Trưởng Ban Tổ chức Festival Huế 2010 cho biết đến thời điểm này, mọi công việc chuẩn bị cho lễ hội cơ bản dã hoàn tất./.

Festival 2010 diễn ra từ ngày mùng 5 đến ngày 13 tháng 6, là nơi gặp gỡ đầy ấn tượng của 31 quốc gia đến từ 5 châu lục; gồm có nhiều thành phố vốn là cố đô, hoặc có di sản thế giới như Nga, Pháp, Đan Mạch, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Ấn Độ, Lào, Mexico, Hoa Kỳ, Australia, Argentina...

Festival Huế 2010 - Nơi gặp gỡ ấn tượng của các lễ hội Festival Huế năm 2010 có các đoàn nghệ thuật của 27 nước tham gia, trong đó cũng có nhiều quốc gia lần đầu tiên có mặt như Haiti, Cuba, Senegal, Na Uy, Đan Mạch, Ba Lan, Mông Cổ, Mexico. Pháp vẫn là , với 8 đoàn nghệ thuật tham gia lễ hội. Ngoài hơn 550 nghệ sĩ người nước ngoài, Festival Huế còn có hơn 2.300 người nghệ sĩ trong nước (có 800 nghệ sĩ chuyên nghiệp và 1.500 nghệ sĩ nghiệp dư) đến từ hơn 30 đoàn, nhà hát và đơn vị nghệ thuật trong cả nước. Một phần biểu diễn tại Festival Huế 2010 Tại tỉnh Thừa Thiên-Huế đã xây dựng hoàn chỉnh 12 khán đài tại 6 địa điểm chính tại Ngọ Môn, cung An Định và Đại Nội, với sức chứa khoảng hơn 25.000 chỗ ngồi. Các khán đài của Festival Huế năm 2010 hiện được lắp ráp theo công nghệ của Hàn Quốc và cũng lần đầu tiên được sử dụng ở tại Việt Nam. Riêng sân khấu khai mạc sẽ bao gồm ba tầng vừa cố định vừa có thể quay, có thể trượt và có thể xoay (do đơn vị Kết nối xanh - Hưng Thành thực hiện) theo công nghệ tiên tiến nhất hiện nay...Đây cũng là nơi mà các đoàn nghệ thuật biểu diễn hàng đêm. Hình ảnh các nghệ sĩ biểu diễn tại Festival Huế 2010 Tổng đạo diễn chương trình, đạo diễn Lê Quý Dương cho biết, sẽ có các lễ hội tiêu biểu được dàn dựng hết sức công phu trình diễn tại Festival Huế 2010 như "Đêm hoàng cung" diễn ra vào tối ngày mùng 5, mùng 8 và ngày 11/6 tại Đại Nội, Huế; "Huyền thoại sông Hương" diễn ra vào tối 6 và 12 tháng 6 trên sông Hương; "Lễ Tế giao" diễn ra vào tối ngày mùng 9 tháng 6 tại Đàn Nam Giao và đêm hội "Hành trình mở cõi" - Chương trình trọng tâm của Festival Huế 2010 sẽ diễn ra vào tối ngày mùng 10 tháng 6 tại Kỳ Đài Huế, hướng tới Đại lễ Kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long-Hà Nội. Không gian nghệ thuật thực hiện "Hành trình mở cõi" rất lớn, trước Kỳ Đài và quanh khu vực Hộ Thành hào. Vì vậy, tại đây, hàng cây đại cổ thụ buộc phải "di dời" để nhường chỗ cho sân khấu và sẽ được "hoàn trả" lại ngay sau lễ hội. Không gian Festival Huế 2010 được mở rộng ra cả những vùng lân cận, các khu thị trấn, thị tứ, các khu đô thị mới. Nhiều địa điểm lần đầu tiên được đưa vào khai thác phục vụ Festival Huế 2010 với các chương trình mới phục vụ du khách như Đêm phương Đông, Vẻ đẹp Việt II hơi thở của nước và Cuộc thao diễn thủy binh thời Chúa Nguyễn... Tại Festival lần này, Huế sẽ hoàn thiện và nâng tầm nghệ thuật một số lễ hội cung đình, lễ hội truyền thống đã trở thành thương hiệu của Festival Huế như Đêm Hoàng Cung, Lễ Tế giao, Huyền thoại sông Hương... Hình ảnh các nghệ sĩ biểu diễn tại Festival Huế 2010 Không gian Festival Huế được mở rộng với hầu hết các sân khấu đều được tổ chức ngoài trời. Đại Nội Huế về đêm hết sức quyến rũ, với nhiều sân khấu nghệ thuật đa dạng, với các đêm hoàng cung, những buổi yến tiệc và những trò chơi cung đình hấp dẫn, sang trọng và thú vị. Ngoài Đại Nội, Công viên Nguyễn Văn Trỗi, biệt cung An Định, Công viên Thương Bạc, đường Nguyễn Đình Chiểu, Công viên 3-2, Khu du lịch Thuận An, Cầu ngói Thanh Toàn, Lăng Cô, Phước Tích Phong Điền, A Lưới, thị trấn Nam Đông, Khu tưởng niệm Anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ Quang Trung, Khu văn hóa Huyền Trân... sẽ được tổ chức thành các trung tâm lễ hội, với những buổi quảng diễn nghệ thuật suốt ngày suốt đêm, hoành tráng, sôi động và nhiều sân chơi dân gian, phố ẩm thực. Vẻ đẹp Festival Huế 2010 Dịp này, tỉnh Thừa Thiên Huế còn gắn chương trình festival với những tuyến du lịch cộng đồng, du lịch đầm phá đầy kỳ thú đáp ứng mọi nhu cầu của các du khách như "Một ngày, một đêm, một cuộc phiêu lưu," "Tam Giang, nắng và gió," hành hương về những ngôi chùa Huế nổi tiếng hay thưởng thức những điệu ca Huế trên sông Hương. Ban tổ chức Festival Huế cho biết, lần đầu tiên tại Festival Huế 2010, toàn bộ giá vé xem biểu diễn nghệ thuật được áp dụng một mức giá chung (được tính bằng Việt Nam đồng) cho cả khách trong nước và quốc tế. Một số chương trình như Lễ khai mạc (tối ngày mùng 5 tháng 6) tại Quảng trường Ngọ Môn; lễ bế mạc (tối ngày 13 tháng 6) tại khu vực bãi bồi cầu Gia Hội và lễ hội Áo dài (tối ngày mùng 8 tháng 6) tại cửa Thượng Tứ có giá vé là 100.000 đồng/người; chương trình nghệ thuật tại Đại Nội (có yến tiệc) là 500.000 đồng/người và không dự yến tiệc là 50.000 đồng/người. Tại các chương trình khác có giá vé bình quân từ 50.000 đồng/người trở xuống...Tại các lễ khai mạc và bế mạc đều được bắn pháo hoa tầm thấp với thời lượng 15 phút/buổi để phục vụ nhân dân và du khách. Festival Huế 2010 Ông Ngô Hòa, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Thừa Thiên-Huế, Trưởng Ban Tổ chức Festival Huế 2010 cho biết đến thời điểm này, mọi công việc chuẩn bị cho lễ hội cơ bản dã hoàn tất./.

Related Figures

Lễ hội Cầu ngư

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 3/1 Âm lịch Lễ hội Cầu Ngư ở Của Hội là một trong những sinh hoạt văn hóa mang đậm yếu tố tâm linh của ngư dân vùng cửa biển. Nó gắn liền với các tín ngưỡng thờ cá - là vật tổ từ thời xa xưa của cha ông ta trong những ngày đầu di dân về phía biển. Lễ hội được tổ chức hoành tráng và trang nghiêm vào ngày mùng 3 tết hàng năm. Đặc sắc lễ hội Cầu ngư ở Cửa Hội Từ thời xa xưa, khi khoa học vẫn còn lạc hậu, con người chỉ dựa bằng vốn sống và dựa bằng kinh nghiệm thực tế chứ hoàn toàn không dựa trên cơ sở khoa học. Chính vì thế mà không biết bao nhiêu con thuyền cùng với những sinh mạng đã bị nhấn chìm dưới đáy sông. Từ đó, người ta bắt đầu tin vào một sức mạnh vô hình siêu nhiên nào đó, họ vừa sợ hãi, họ vừa cầu mong sự che chở. Cho nên lễ hội cầu Ngư cũng có nguồn gốc từ đó. Trong quan niệm của những người dân đi biển ở đây thì "cá ngài" là chúa tể của muôn loài ở chốn biển khơi. "Cá ngài" là biểu tượng về sự thiêng liêng và uy quyền. Đồng thời mọi biểu hiện của cá đều là sự dự báo chính xác về mọi đều tốt, điều xấu, sự may rủi cho một năm, một vụ mùa hay một sự kiện liên quan đến nghề biển. Lễ tế cầu bình an cho tàu thuyền ra khơi Trong lễ hội Cầu ngư thì chủ yếu chỉ có phần lễ. Phần lễ được tiến hành một cách đơn giản nhưng cũng mang đầy không khí trang nghiêm thành kính. Vào đúng 5 giờ sáng phía Nam Cửa Hội sẽ có 3 hồi trống trầm ấm và dõng dạc do một vị bô lão trong trang phục áo the, khăn đóng chỉnh tề đánh. Khi tiếng trống vang lên thì 3 chiếc thuyền lớn từ bờ bắc xếp theo hình mũi tên : một chiếc thì hơi nhô về phía trước, hai chiếc còn lại thì song song áp sát theo sau từ từ tiến ra giữa dòng. Cả ba con thuyền này đều thuộc vào loại lớn nhất trong vạn chài, nó có kích thước và chủng loại gần giống nhau, chỉ trừ thuyền đi trước to hơn, mũi cao hơn một chút, còn hai thuyền sau phải đều giống nhau. Cả 3 chiếc thuyền này đều được trang hoàng rực rỡ, trên mũi thuyền được thắt một tấm vải đỏ (là biểu tượng cho sự may mắn). Phía hai bên đầu của thuyền là hai con mắt được vẽ nổi, cả ba thuyền trong lúc hành lễ đều phải là thuyền chèo. Thuyền đi đầu tiên bao gồm có 9 người, trong đó thì có 8 tay chèo là do 8 thanh niên khỏe mạnh và có kinh nghiệm đi biển. Tất cả đều phải trong trang phục của những người ngư dân xưa : quần áo nâu mành cánh buồm đều tay đưa thuyền ra giữa "Lạch". Còn người cuối cùng trên chiếc thuyền là một ngư ông cao tuổi - đây là linh hồn của lễ hội Cầu Ngư. Ông phải là một người đi biển nhiều năm, am tường mọi biến thiên về thời tiết của vùng, đồng thời cũng là một người có uy tín và có tiếng nói nhất được mọi người nể phục. Ông sẽ là một người giữ vai trò chủ tế được cả làng cử ra trước đây. Một điều hết sức đặc biệt ở đây là ngay con thuyền này còn chở "cá ngài" với chiều dài gần hết con thuyền. “Cá ngài” thì được làm bằng nhựa mềm và có vẻ rất giống thật. Hai chiếc thuyền còn lại ở hai phía đều có người. Trong 9 người ở mỗi thuyền thì đã có 8 người thay nhau chèo còn người thứ 9 trong thuyền là người giữ vai trò thuyền trưởng của cả đội. Người này phải chịu trách nhiệm điều hành mọi hoạt động theo nghi thức đặc biệt và theo sự phân công, ra hiệu từ con thuyền phía trước do vị chủ tế giao phó. Có một điểm khác so với chiếc thuyền phía trước là cả hai chiếc thuyền này đều phải chở đầy lưới sạch, được xếp trong tư thế như chuẩn bị đánh cả. Ở phần đầu giữa mũi thuyền cũng có hương án bày đầy đủ hương đăng, hoa quả, lễ vật. Cả 3 con thuyền chầm chậm tiến ra vị từ giữa dòng trước sự chứng kiến của hàng chục hàng vạn người. Khi cả 3 con thuyền ra đến giữa dòng thì lập tức mũi thuyền đồng loạt hướng về phía biển Đông theo hướng chỉ tay của vị chủ tế. Thuyền ra giữa trung tâm "Lạch" - đó là lúc phần lễ cầu Ngư - Cửa Hội chính thức được bắt đầu. Khi phần lễ được bắt đầu cũng là lúc trống từ hai bờ Nam Bắc cất lên khoan thai và trịnh trọng. Vị chủ tế đứng thẳng người, mắt hướng về phía “Lạch”, hai tay đan nhau để lên trán và đọc lời cầu lễ. Đó là lời cầu nguyện của đại diện cho hơn bốn vạn dân cầu mong cho một năm mưa hòa, gió hòa, trời yên biển lặng, tôm cá sinh sôi, ngư dân gặp thật nhiều may mắn. Cứ sau mỗi một đoạn tế ngắn thì vị chủ tế quỳ xuống, dập đầu lạy ba lạy, hai vị thuyền trưởng còn lại cũng hành lễ theo trong sự yên lặng theo dõi của mọi người ở hai bên bờ. Cứ sau mỗi một đoạn tế ngắn thì vị chủ tế lại tiếp tục cầu nguyện, còn hai thuyền trưởng sẽ ném dần lễ vật như hương vàng, hoa quả gạo, đèn xuống cửa sông. Phần lễ được tiến hành trong khoảng 30 phút, khi kết thúc phần lễ, vị chú tế cùng với hai truyền trưởng phía sau dập đầu lạy chín lạy. Xong đâu đó 2 thuyền trưởng của 2 thuyền kia sẽ nhảy sang thuyền lớn trong tiếng trống đổ dồn cùng với vị chủ tế đưa "cá ngài" xuống của sông. Việc đưa "cá ngài” xuống nước là một việc mang đầy ý nghĩa, đó chính là sự trở về với giang sơn biển cả, của chúa muôn loài. Đồng thời, khi trở về vật tổ đã mang trong mình đầy đủ những thông điệp cũng như những lời nguyện cầu của muôn dân về một năm may mắn và tốt lành. Đây cũng là lúc mọi người cảm thấy nhẹ nhõm hơn, trong lòng cũng trở nên phấn trấn và tự tin hơn. Nhưng đến đây không phải 3 chiếc thuyền đã hoàn thành phần việc của mình, mà đi qua phần nguy hiểm của "lạch” một quãng thì vị chủ tế lại trèo lên cột thuyền, nơi có vị trí cao nhất để chỉ huy việc đánh lưới, một mẻ lưới được tiến hành cần có sự phối hợp đồng bộ giữa 3 con thuyền. Khi lưới được vây kín đến gang tay cuối cùng thì đó cũng là lúc hàng trăm thuyền máy lớn nhỏ đồng loạt khởi động và chạy ra tham gia vui hội, "chia phần”. Những con thuyền này sẽ cố lượn thật sát mẻ lưới đầu tiên đầy thiêng liêng này và múc nước ở đó đổ vào lòng thuyền của mình. Họ cho rằng làm như vậy thì mọi may mắn trong năm sẽ đến với thuyền của mình. Sau khi nhiệm vụ "chia phần” đã hoàn thành, những con thuyền này sẽ chạy vòng ngoài nhường chỗ cho những con thuyền khác ở vòng ngoài vào ’lấy lộc”. Trong khi các con thuyền liên tục thay nhau vào ra thì ba con thuyền hành lễ ban đầu vẫn miệt mài với công việc của mình. Họ tiến hành làm thủ tục đánh cá như thật, cá thu được có khi lên đến hàng tạ. Dù là không nhiều song những năm như thế mọi người cũng thấy hoan hỉ lắm. Vì họ cho rằng đó là một điềm báo, là dấu hiệu cho thấy một năm bội thu hoặc là sự linh ứng nhãn tiền của vật tổ khi mẻ lưới cuối cùng được kéo lên thì cũng là lúc tất cả những con thuyền tham gia lễ hội hướng hết mũi ra biển Đông đã vượt “lạch”. Sau khi vượt "lạch" một quãng thì họ lại quay mũi hướng thuyền về phía bờ trong tiếng hò reo hoan hỉ của tất cả mọi người. Trong quá trình đó người ta vẫn tiếp tục thắp nhang cầu mong sự may mắn và như để vơi bớt nỗi oan khuất cho những người trước kia đã nằm lại ở nơi đây. Lễ hội cầu ngư thu hút đông đảo người dân tham gia Lễ hội Cầu Ngư là dịp để bày tỏ lòng thành kính của ngư dân vùng này với "cá ngài", cầu mong sự che chở, cầu mong tốt lành bội thu và cũng như để xua đi mọi điều xấu đồng thời còn là dịp để người ta cúng tế những vong hồn oan khuất và vĩnh viễn ở lại với biển nhằm xoa dịu nỗi đau của những người ở lại lehoi.info tổng hợp

Lễ hội Cầu Ngư ở Của Hội là một trong những sinh hoạt văn hóa mang đậm yếu tố tâm linh của ngư dân vùng cửa biển. Nó gắn liền với các tín ngưỡng thờ cá - là vật tổ từ thời xa xưa của cha ông ta trong những ngày đầu di dân về phía biển. Lễ hội được tổ chức hoành tráng và trang nghiêm vào ngày mùng 3 tết hàng năm.

Đặc sắc lễ hội Cầu ngư ở Cửa Hội Từ thời xa xưa, khi khoa học vẫn còn lạc hậu, con người chỉ dựa bằng vốn sống và dựa bằng kinh nghiệm thực tế chứ hoàn toàn không dựa trên cơ sở khoa học. Chính vì thế mà không biết bao nhiêu con thuyền cùng với những sinh mạng đã bị nhấn chìm dưới đáy sông. Từ đó, người ta bắt đầu tin vào một sức mạnh vô hình siêu nhiên nào đó, họ vừa sợ hãi, họ vừa cầu mong sự che chở. Cho nên lễ hội cầu Ngư cũng có nguồn gốc từ đó. Trong quan niệm của những người dân đi biển ở đây thì "cá ngài" là chúa tể của muôn loài ở chốn biển khơi. "Cá ngài" là biểu tượng về sự thiêng liêng và uy quyền. Đồng thời mọi biểu hiện của cá đều là sự dự báo chính xác về mọi đều tốt, điều xấu, sự may rủi cho một năm, một vụ mùa hay một sự kiện liên quan đến nghề biển. Lễ tế cầu bình an cho tàu thuyền ra khơi Trong lễ hội Cầu ngư thì chủ yếu chỉ có phần lễ. Phần lễ được tiến hành một cách đơn giản nhưng cũng mang đầy không khí trang nghiêm thành kính. Vào đúng 5 giờ sáng phía Nam Cửa Hội sẽ có 3 hồi trống trầm ấm và dõng dạc do một vị bô lão trong trang phục áo the, khăn đóng chỉnh tề đánh. Khi tiếng trống vang lên thì 3 chiếc thuyền lớn từ bờ bắc xếp theo hình mũi tên : một chiếc thì hơi nhô về phía trước, hai chiếc còn lại thì song song áp sát theo sau từ từ tiến ra giữa dòng. Cả ba con thuyền này đều thuộc vào loại lớn nhất trong vạn chài, nó có kích thước và chủng loại gần giống nhau, chỉ trừ thuyền đi trước to hơn, mũi cao hơn một chút, còn hai thuyền sau phải đều giống nhau. Cả 3 chiếc thuyền này đều được trang hoàng rực rỡ, trên mũi thuyền được thắt một tấm vải đỏ (là biểu tượng cho sự may mắn). Phía hai bên đầu của thuyền là hai con mắt được vẽ nổi, cả ba thuyền trong lúc hành lễ đều phải là thuyền chèo. Thuyền đi đầu tiên bao gồm có 9 người, trong đó thì có 8 tay chèo là do 8 thanh niên khỏe mạnh và có kinh nghiệm đi biển. Tất cả đều phải trong trang phục của những người ngư dân xưa : quần áo nâu mành cánh buồm đều tay đưa thuyền ra giữa "Lạch". Còn người cuối cùng trên chiếc thuyền là một ngư ông cao tuổi - đây là linh hồn của lễ hội Cầu Ngư. Ông phải là một người đi biển nhiều năm, am tường mọi biến thiên về thời tiết của vùng, đồng thời cũng là một người có uy tín và có tiếng nói nhất được mọi người nể phục. Ông sẽ là một người giữ vai trò chủ tế được cả làng cử ra trước đây. Một điều hết sức đặc biệt ở đây là ngay con thuyền này còn chở "cá ngài" với chiều dài gần hết con thuyền. “Cá ngài” thì được làm bằng nhựa mềm và có vẻ rất giống thật. Hai chiếc thuyền còn lại ở hai phía đều có người. Trong 9 người ở mỗi thuyền thì đã có 8 người thay nhau chèo còn người thứ 9 trong thuyền là người giữ vai trò thuyền trưởng của cả đội. Người này phải chịu trách nhiệm điều hành mọi hoạt động theo nghi thức đặc biệt và theo sự phân công, ra hiệu từ con thuyền phía trước do vị chủ tế giao phó. Có một điểm khác so với chiếc thuyền phía trước là cả hai chiếc thuyền này đều phải chở đầy lưới sạch, được xếp trong tư thế như chuẩn bị đánh cả. Ở phần đầu giữa mũi thuyền cũng có hương án bày đầy đủ hương đăng, hoa quả, lễ vật. Cả 3 con thuyền chầm chậm tiến ra vị từ giữa dòng trước sự chứng kiến của hàng chục hàng vạn người. Khi cả 3 con thuyền ra đến giữa dòng thì lập tức mũi thuyền đồng loạt hướng về phía biển Đông theo hướng chỉ tay của vị chủ tế. Thuyền ra giữa trung tâm "Lạch" - đó là lúc phần lễ cầu Ngư - Cửa Hội chính thức được bắt đầu. Khi phần lễ được bắt đầu cũng là lúc trống từ hai bờ Nam Bắc cất lên khoan thai và trịnh trọng. Vị chủ tế đứng thẳng người, mắt hướng về phía “Lạch”, hai tay đan nhau để lên trán và đọc lời cầu lễ. Đó là lời cầu nguyện của đại diện cho hơn bốn vạn dân cầu mong cho một năm mưa hòa, gió hòa, trời yên biển lặng, tôm cá sinh sôi, ngư dân gặp thật nhiều may mắn. Cứ sau mỗi một đoạn tế ngắn thì vị chủ tế quỳ xuống, dập đầu lạy ba lạy, hai vị thuyền trưởng còn lại cũng hành lễ theo trong sự yên lặng theo dõi của mọi người ở hai bên bờ. Cứ sau mỗi một đoạn tế ngắn thì vị chủ tế lại tiếp tục cầu nguyện, còn hai thuyền trưởng sẽ ném dần lễ vật như hương vàng, hoa quả gạo, đèn xuống cửa sông. Phần lễ được tiến hành trong khoảng 30 phút, khi kết thúc phần lễ, vị chú tế cùng với hai truyền trưởng phía sau dập đầu lạy chín lạy. Xong đâu đó 2 thuyền trưởng của 2 thuyền kia sẽ nhảy sang thuyền lớn trong tiếng trống đổ dồn cùng với vị chủ tế đưa "cá ngài" xuống của sông. Việc đưa "cá ngài” xuống nước là một việc mang đầy ý nghĩa, đó chính là sự trở về với giang sơn biển cả, của chúa muôn loài. Đồng thời, khi trở về vật tổ đã mang trong mình đầy đủ những thông điệp cũng như những lời nguyện cầu của muôn dân về một năm may mắn và tốt lành. Đây cũng là lúc mọi người cảm thấy nhẹ nhõm hơn, trong lòng cũng trở nên phấn trấn và tự tin hơn. Nhưng đến đây không phải 3 chiếc thuyền đã hoàn thành phần việc của mình, mà đi qua phần nguy hiểm của "lạch” một quãng thì vị chủ tế lại trèo lên cột thuyền, nơi có vị trí cao nhất để chỉ huy việc đánh lưới, một mẻ lưới được tiến hành cần có sự phối hợp đồng bộ giữa 3 con thuyền. Khi lưới được vây kín đến gang tay cuối cùng thì đó cũng là lúc hàng trăm thuyền máy lớn nhỏ đồng loạt khởi động và chạy ra tham gia vui hội, "chia phần”. Những con thuyền này sẽ cố lượn thật sát mẻ lưới đầu tiên đầy thiêng liêng này và múc nước ở đó đổ vào lòng thuyền của mình. Họ cho rằng làm như vậy thì mọi may mắn trong năm sẽ đến với thuyền của mình. Sau khi nhiệm vụ "chia phần” đã hoàn thành, những con thuyền này sẽ chạy vòng ngoài nhường chỗ cho những con thuyền khác ở vòng ngoài vào ’lấy lộc”. Trong khi các con thuyền liên tục thay nhau vào ra thì ba con thuyền hành lễ ban đầu vẫn miệt mài với công việc của mình. Họ tiến hành làm thủ tục đánh cá như thật, cá thu được có khi lên đến hàng tạ. Dù là không nhiều song những năm như thế mọi người cũng thấy hoan hỉ lắm. Vì họ cho rằng đó là một điềm báo, là dấu hiệu cho thấy một năm bội thu hoặc là sự linh ứng nhãn tiền của vật tổ khi mẻ lưới cuối cùng được kéo lên thì cũng là lúc tất cả những con thuyền tham gia lễ hội hướng hết mũi ra biển Đông đã vượt “lạch”. Sau khi vượt "lạch" một quãng thì họ lại quay mũi hướng thuyền về phía bờ trong tiếng hò reo hoan hỉ của tất cả mọi người. Trong quá trình đó người ta vẫn tiếp tục thắp nhang cầu mong sự may mắn và như để vơi bớt nỗi oan khuất cho những người trước kia đã nằm lại ở nơi đây. Lễ hội cầu ngư thu hút đông đảo người dân tham gia Lễ hội Cầu Ngư là dịp để bày tỏ lòng thành kính của ngư dân vùng này với "cá ngài", cầu mong sự che chở, cầu mong tốt lành bội thu và cũng như để xua đi mọi điều xấu đồng thời còn là dịp để người ta cúng tế những vong hồn oan khuất và vĩnh viễn ở lại với biển nhằm xoa dịu nỗi đau của những người ở lại lehoi.info tổng hợp

Related Figures

Lễ giỗ Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/4 Âm lịch (lehoi.info) - Lễ giỗ Thủ Khoa Nguyễn Hữu Huân được tổ chức hàng năm vào ngày 15 tháng 4 âm lịch, tại đền thờ Nguyễn Hữu Huân, thuộc xã Hoà Tịnh huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang. Hằng năm đều có các ban ngành ở trong tỉnh và ngoài tỉnh, nhân dân trong huyện, học sinh ở các trường và bà con dòng tộc về tham dự lễ. Đền thờ Nguyễn Hữu Huân Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân sinh ra vào năm Canh Dần (1830) ở tại làng Tịnh Hà, tổng Thanh Quơn, Kiến Hưng, Định Tường (nay là xã Mỹ Tịnh An, Chợ Gạo, Tiền Giang) trong một gia đình nông dân khá giả ở trong vùng. Từ thuở nhỏ, Nguyễn Hữu Huân đã nổi tiếng thông minh, học giỏi. Vào năm 1852, dưới triều vua Tự Đức, ông đã thi Hương tại Gia Định và đậu thủ khoa được bổ làm Giáo thụ, tức Đốc học ở huyện Kiến Hưng, tỉnh Định Tường. Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, ông đã bỏ chức Giáo thụ, từ biệt gia đình, liên kết với các sĩ phu yêu nước, chiêu mộ nghĩa binh đứng lên chống giặc ngoại xâm. Lễ giỗ Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân Vào đầu năm 1862, giặc Pháp đánh úp. Ông đã bị bắt và giải về Sài Gòn. Đích thân tên việt gian Đỗ Hữu Phương (tức Tổng đốc Phương) đã dùng mọi thủ đoạn mua chuộc. Ông từ chối và khôn khéo tìm mọi cách để trở lại hoạt động, liên kết với nghĩa quân Trương Định khởi nghĩa. Tháng 6 năm 1863, giặc phát hiện ra căn cứ hoạt động của ông tại Thuộc Nhiêu - Cai Lậy nên đã bao vây càn quét. Ông và Thiên Hộ Dương đã chạy thoát về căn cứ Bảy Núi. Dựa vào điều ước Nhâm Tuất (năm 1862), Pháp gửi tối hậu thư buộc quan tỉnh An Giang phải nộp Thủ Khoa Huân và Thiên Hộ Dương. Thiên Hộ Dương trốn thoát được về căn cứ Đồng Tháp Mười còn Thủ Khoa Huân đã bị bắt (lần hai), bị kết án 10 năm khổ sai và đày ông ra đảo RéUNI0N. Sau 7 năm tù, chúng đã đưa ông về quản thúc tại nhà Đỗ Hữu Phương, cử ông làm Giáo thụ và dạy bảo “sinh đồ” ở Chợ Lớn với hy vọng lôi kéo được ông về phía chúng. Nhưng ông đã lợi dụng điều kiện dạy học để liên lạc với các sĩ phu yêu nước và chuẩn bị khởi nghĩa. Vào năm 1875, trong một trận giao tranh với giặc, Đốc binh Hương bị Trần Bá Lộc mua chuộc dẫn quân về bắt Nguyễn Hữu Huân tại Chợ Gạo ngày 15 tháng 5 năm 1875 đem giam tại Mỹ Tho (ông bị bắt lần 3). Ngày 19 tháng 5 năm 1875, giặc đem ông về quê Mỹ Tịnh An để hành quyết. Năm ấy ông được 45 tuổi. Hình ảnh các em học sinh thắp hương tại lễ giỗ thủ khoa Nguyễn Hữu Huân Sau khi ông mất, để tỏ lòng tôn kính và biết ơn, những người dân địa phương đã lập đền thờ cách nơi ông bị xử trảm. Để tưởng nhớ đến ông, Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang đã cho xây dựng một tượng đài lớn trong công viên ngay cạnh sông Tiền, thuộc trung tâm thành phố Mỹ Tho. Và công viên này cũng chính thức mang tên ông./.

(lehoi.info) - Lễ giỗ Thủ Khoa Nguyễn Hữu Huân được tổ chức hàng năm vào ngày 15 tháng 4 âm lịch, tại đền thờ Nguyễn Hữu Huân, thuộc xã Hoà Tịnh huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang. Hằng năm đều có các ban ngành ở trong tỉnh và ngoài tỉnh, nhân dân trong huyện, học sinh ở các trường và bà con dòng tộc về tham dự lễ.

Đền thờ Nguyễn Hữu Huân Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân sinh ra vào năm Canh Dần (1830) ở tại làng Tịnh Hà, tổng Thanh Quơn, Kiến Hưng, Định Tường (nay là xã Mỹ Tịnh An, Chợ Gạo, Tiền Giang) trong một gia đình nông dân khá giả ở trong vùng. Từ thuở nhỏ, Nguyễn Hữu Huân đã nổi tiếng thông minh, học giỏi. Vào năm 1852, dưới triều vua Tự Đức, ông đã thi Hương tại Gia Định và đậu thủ khoa được bổ làm Giáo thụ, tức Đốc học ở huyện Kiến Hưng, tỉnh Định Tường. Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, ông đã bỏ chức Giáo thụ, từ biệt gia đình, liên kết với các sĩ phu yêu nước, chiêu mộ nghĩa binh đứng lên chống giặc ngoại xâm. Lễ giỗ Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân Vào đầu năm 1862, giặc Pháp đánh úp. Ông đã bị bắt và giải về Sài Gòn. Đích thân tên việt gian Đỗ Hữu Phương (tức Tổng đốc Phương) đã dùng mọi thủ đoạn mua chuộc. Ông từ chối và khôn khéo tìm mọi cách để trở lại hoạt động, liên kết với nghĩa quân Trương Định khởi nghĩa. Tháng 6 năm 1863, giặc phát hiện ra căn cứ hoạt động của ông tại Thuộc Nhiêu - Cai Lậy nên đã bao vây càn quét. Ông và Thiên Hộ Dương đã chạy thoát về căn cứ Bảy Núi. Dựa vào điều ước Nhâm Tuất (năm 1862), Pháp gửi tối hậu thư buộc quan tỉnh An Giang phải nộp Thủ Khoa Huân và Thiên Hộ Dương. Thiên Hộ Dương trốn thoát được về căn cứ Đồng Tháp Mười còn Thủ Khoa Huân đã bị bắt (lần hai), bị kết án 10 năm khổ sai và đày ông ra đảo RéUNI0N. Sau 7 năm tù, chúng đã đưa ông về quản thúc tại nhà Đỗ Hữu Phương, cử ông làm Giáo thụ và dạy bảo “sinh đồ” ở Chợ Lớn với hy vọng lôi kéo được ông về phía chúng. Nhưng ông đã lợi dụng điều kiện dạy học để liên lạc với các sĩ phu yêu nước và chuẩn bị khởi nghĩa. Vào năm 1875, trong một trận giao tranh với giặc, Đốc binh Hương bị Trần Bá Lộc mua chuộc dẫn quân về bắt Nguyễn Hữu Huân tại Chợ Gạo ngày 15 tháng 5 năm 1875 đem giam tại Mỹ Tho (ông bị bắt lần 3). Ngày 19 tháng 5 năm 1875, giặc đem ông về quê Mỹ Tịnh An để hành quyết. Năm ấy ông được 45 tuổi. Hình ảnh các em học sinh thắp hương tại lễ giỗ thủ khoa Nguyễn Hữu Huân Sau khi ông mất, để tỏ lòng tôn kính và biết ơn, những người dân địa phương đã lập đền thờ cách nơi ông bị xử trảm. Để tưởng nhớ đến ông, Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang đã cho xây dựng một tượng đài lớn trong công viên ngay cạnh sông Tiền, thuộc trung tâm thành phố Mỹ Tho. Và công viên này cũng chính thức mang tên ông./.

Related Figures

Lễ giỗ Tứ Kiệt

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 25/12 Âm lịch Lễ giỗ bốn vị anh hùng: Nguyễn Thanh Long, Trương Văn Rộng, Trần Công Thận, Ngô Tấn Đước, bị giặc Pháp xử chém vào ngày 14 tháng 2 năm 1871, nhằm ngày 25 tháng chạp năm Canh Ngọ. Lễ giỗ bốn vị anh hùng được tổ chức tại Lăng Tứ Kiệt (thị trấn Cai Lậy, Tiền Giang). Những năm chẵn, lễ giỗ được tổ chức qui mô và có các ban ngành ở trong tỉnh tham gia. Lăng Tứ Kiệt "Tứ Kiệt” hay “Bốn Ông” là một cách gọi tôn kính của nhân dân theo cách sắp xếp thứ tự ở trong quân thứ đối với bốn vị anh hùng lãnh đạo nghĩa quân chống Pháp ở vùng Cái Bè, thị trấn Cai Lậy. Đó là các ông: ông Long, ông Thận, ông Rộng, ông Đước. Ông Long có tên họ đầy đủ là Nguyễn Thanh Long, hay còn được gọi là ông Năm Long sinh ra vào năm Canh thìn (1820), ở tại nơi mà nay gọi là xóm Cầu Ván, ấp Cẩm Hòa, xã Cẩm Sơn, Cai Lậy. Khi ông Nguyễn Thanh Long ly khai gia đình đi kháng chiến, người chị cả của ông là bà Hai An đã bị tên Việt gian Trần Bá Lộc bắt giam nhục hình và đòn roi đến thối cả hậu môn. Em kế là ông Sáu Quang cũng đã bị chúng bắt tra khảo rất dã man, rồi đày đi Côn Đảo! Ông Năm Long kết hôn với bà Phạm Thị Lài, sinh được hai người con gái là Nguyễn Thị Sửu và Nguyễn Thị Ngọc. Trong thời gian bôn ba ở chiến trận, ông đã có thêm một bà vợ thứ ở Vĩnh Long và sinh được một người con trai. Ông thọ 52 tuổi. Nhân vật số 2 đó là ông Trần Quang Thận, tự là Phượng, nguyên quán ở tại xóm Đập, ấp Mỹ Phú, xã Mỹ Trang (nay là Nhị Mỹ, Cai Lậy). Ông có 8 người con là Trần Công Tú, Trần Thị Nhặt, Trần Quang Thanh, Trần Quang Nhi, Trần Văn Sanh, Trần Thị Lang và 2 người nữa thì không rõ tên. Hậu duệ của ông Trần Quang Thận hiện nay đã đến đời thứ 7, nhưng đều đi tứ tán khắp nơi nên không tìm biết được năm sinh của ông. Tuy nhiên người ta ước đoán rằng, tuổi ông và ông Long cũng tương đương nhau, lúc hy sinh thì người con thứ tư của ông là Trần Quang Thanh đã làm đến chức Quản đạo. Có thể khi bị bắt, ông đã dũng cảm khai nhận hết trách nhiệm về phần mình, nên bọn người Pháp đã nhầm lẫn ông là một người cầm đầu, gọi là Ngươn soái. Tài liệu của các tác giả Schreiner và P.Vial viết về 4 ông cũng đều ghi như vậy - Nguon soai Than. Còn hai nhân vật cuối, người ta chỉ biết được tên và họ là Trương Văn Rộng, người của xã Tân Hiệp, Bến Tranh (nay là Tân Hội Đông, Châu Thành), và Ngô Tấn Đước, gốc gác là ở Tân Hội, Cai Lậy. Đặc biệt, Tứ Kiệt đều to lớn khác thường, nước da thì màu đồng đen. Truyền rằng cả bốn ông đều có võ nghệ cao cường, tướng pháp lanh lẹ, râu rậm và tóc dài chấm gót. Các cố lão ở địa phương kể lại rằng, Tứ Kiệt đều có biệt tài là chạy rất nhanh và nhảy cũng rất cao. Có một lần gặp bất trắc, để thoát thân, một trong 4 ông đã cặp thêm ở bên nách một cháu nhỏ khoảng 10 tuổi và chạy vun vút như tên, tóc xổ ra phất phới như lá cờ. Cả 4 ông đều là lính đồn điền, thuộc cấp của Thiên hộ Võ Duy Dương và Phó tướng Đốc binh Nguyễn Tấn Kiều. Khi lực lượng nghĩa quân của Thiên hộ Võ Duy Dương tan rã, các ông Long, Thận, Rộng và Đước đã tiếp tục đứng ra lãnh đạo nghĩa quân, chọn vùng Cái Bè, huyện Cai Lậy làm địa bàn hoạt động. Tuy nghĩa binh của Tứ Kiệt chỉ được trang bị ban đầu toàn những vũ khí thô sơ, chủ yếu là giáo mác, là gậy gộc, nhưng nhờ biết áp dụng các chiến thuật dân gian, biết vận dụng nhiều những “mưu thần chước quỷ” để nâng lên thành chiến thuật và kỹ thuật trong chiến đấu theo kiểu “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, có nghĩa là về mục tiêu, nguyên tắc thì bất di bất dịch, còn về hình thức, biện pháp thì căn cứ vào tình hình thực tế để xử lý kịp thời những vấn đề đặt ra một cách linh hoạt và mềm dẻo như: Gây thương vong tại chỗ, lấy ít đánh nhiều, hoặc nếu không may mà bị vây, ví thì biết sáng tạo những hình thức “gói quân”, đồng thời thiết đặt chướng ngại theo kiểu “ma ma phần phật”, nhằm gây sự cản trở, hoặc làm cho giặc phải nghi sợ, tiêu diệt sinh lực địch, hoặc nhẹ lắm thì cũng làm tiêu mòn dần sức hung hăng mỗi khi chúng triển khai đội hình, ruồng bố. Những chiến thuật như gài ổ ong, làm hầm chông ở những nơi mà chúng hành quân, quen thói lục lạo và hôi của; cưa gần như đứt hẳn các chân cầu bắc ngang kinh rạch đã có phục kích hoặc cắm sẵn chông nhọn bên dưới rồi giật sập cầu lúc chúng đi qua; bày kế cho những gia đình nghĩa binh giả vờ tử tế, tạo điều kiện cho giặc vào ăn, vào ngủ rồi tùy cơ tiêu diệt, thậm chí nửa đêm tự đốt nhà sau khi đã khóa cột chặt cứng các cửa ra vào, không cho chúng có đường thoát thân và chúng phải bị nướng sống... Hiển hách nhất phải kể đến là trận quân của Tứ Kiệt tấn công thành Định Tường (ở địa phận 2 thôn Bình Biên và Điều Hòa ngày xưa) vang động cả khu vực. Ở trận này, trước khi đánh, đích thân Tứ Kiệt đã cải trang thành người đi làm mướn và len lỏi được vào nội thành, khi đã dò xét được cặn kẽ từng đường đi nước bước và quy luật sinh hoạt của quân địch, vào lúc 3 giờ khuya đêm ngày mùng 1 tháng 5 năm 1868, lợi dụng lúc trời tối đen như mực, bọn giặc đang ngủ say, 4 ông đã cho nghĩa binh trèo tường vào thành, giết chết tên trưởng kho, rồi phóng hỏa thiêu rụi kho lương của bọn giặc. Ngày 25 tháng 12 năm 1870, lợi dụng lúc phần lớn bọn binh lính Pháp kéo về Mỹ Tho để ăn lễ Noel và chỉ để lại 25 tên lính mã tà, nhưng thay vì cảnh giác canh giữ đồn bót, thì tên chỉ huy Đội Cơ lại tổ chức ăn uống nhậu nhẹt, nghĩa quân của Tứ Kiệt đã bất thần tấn công đồng Cai Lậy, chiếm chợ và bắt tên Việt gian Bếp Hữu, trị tội bằng cách “nướng trui”, đồng thời phóng hỏa thiêu trụi trại lính của chúng và tịch thu nhiều vũ khí, đạn dược rồi rút về căn cứ một cách an toàn. Do liên tiếp bị tấn công và tổn thất nặng nề nên thực dân Pháp đã huy động lên đến 1.200 quân, gom ở các vùng lân cận như Mỹ Tho, Tân An, Vĩnh Long và Gò Công, quyết triệt hạ bằng được các căn cứ của nghĩa quân ta. Chúng ruồng bố khắp nơi. Bởi quân của Tứ Kiệt hầu hết “đêm thì là lính, ngày lại là dân”, có mặt ở khắp mọi nơi nhưng lại không có mặt ở một nơi nào cụ thể, cho nên sự càn quét không mang lại kết quả như mong muốn. Tuy nhiên, vẫn còn có nhiều cuộc đụng độ nảy lửa diễn ra, nhưng cứ trầy trật và bất phân thắng bại. Cuối cùng, tên Việt gian Trần Bá Lộc đã hiến kế bắt giam và áp dụng những đòn tra khảo hiểm nghiệt đối với thân nhân gia đình của 4 ông và của 150 thường dân khác. Tuy không có ai khai báo hoặc cung cấp điều gì, nhưng 4 ông không nỡ để cho bà con mình cứ bị tra khảo đau đớn đến thối cả da thịt, nên 4 ông đã quyết định đánh đổi bằng cách tự nạp mình. Hôm ấy là ngày mùng 1 tháng 4 năm 1871. Tên Lộc nhân danh đại diện cho chánh phủ Pháp đem vinh hoa phú quý ra để dụ dỗ suốt 45 ngày nhưng không thành, giặc Pháp đã đem 4 ông ra chợ Cai Lậy chặt và bêu đầu ngày 14 tháng 2 năm 1871, tức ngày 25 tháng 12 năm Canh ngọ. Thân nhân gia đình chỉ được mang thân mình của các ông về quê nhà, gắn chiếc đầu giả làm bằng đất sét vào và chôn cất. Còn bốn thủ cấp của Tứ Kiệt thì 7 ngày sau đó chúng đem vùi dập ở mé rạch phía sau chợ. Cảm kích trước 4 vị anh hùng vì nước quên thân, vì dân diệt bạo, nhân dân địa phương đã ngấm ngầm chung đậu tiền của và lập miếu thờ ngay tại ấp Mỹ Cần, xã Mỹ Trang. Nhưng để che mắt bọn thực dân, đồng bào đã tôn trí tượng Quan Công ở phía trước (nhân vật tiêu biểu trung nghĩa), còn ở phía sau thì đồng bào làm một cái khám thờ “Tứ vị thần hồn” và giải thích đó là “Chùa Ông” (Quan Công) hoặc “Miếu cô hồn”. Nhưng sâu kín tận đáy lòng, không ai không biết đó chính là miếu thờ Tứ Kiệt. Quang cảnh lễ giỗ Tứ Kiệt Trận bão năm Thìn (năm 1904), cũng như toàn bộ nhà cửa, dinh thự trong vùng, “miếu cô hồn” đã bị sập, nên sau được dựng lại tại Hòa Sơn (trước đây là xã Thạnh Hòa), ngày nay là thị trấn Cai Lậy - dời về cạnh mộ, vì ngay sát đó chính quyền Pháp đã xây cất bệnh viện, nhân dân không ưng thuận (cho rằng gần nơi ô uế). Còn ngôi mộ (chôn bốn chủ cấp) thì từ năm 1871 vẫn đắp nấm đất; đến năm 1935 nhân dân đã đóng góp tiền bạc và làm riêng 4 ngôi mộ bằng xi măng, song song và gần sát kề nhau, xung quanh thì có hàng rào sắt kiên cố. Ở tại cổng “Lăng Tứ Kiệt” có chạm khắc hai câu đối: Tứ vị anh hùng vị quốc hy sinh vĩnh niệm, Kiệt nhân nghĩa cử tinh thần bất khuất lưu tồn. Như đã được nói ở trên, Tứ Kiệt hy sinh vào ngày 14 tháng 2 năm 1871, tức ngày 25 tháng chạp năm Canh ngọ, tính đến nay (2007) đã là 136 năm, nhưng tại sao hàng năm nhân dân vẫn làm lễ giỗ 4 ông vào các ngày rằm tháng giêng, rằm tháng bảy, rằm tháng tám và 25 tháng chạp? Xuất phát từ tấm lòng cảm mến và kính phục oai đức, nên ngay từ thời Pháp thuộc, nhân dân nơi đây đã lập đền thờ Bốn Ông và giải thích đó là miếu cô hồn để qua mắt chính quyền thực dân, thành ra không thể cúng đúng vào ngày các ông hy sinh được mà phải chọn ngày tốt và tốt nhất là ngày rằm cho được danh chánh ngôn thuận, bởi theo như truyền thống tín ngưỡng của nhân dân, vào những ngày này, đồng bào đi cúng bái ở chùa chiền là chuyện bình thường, chính quyền Pháp sẽ không dòm ngó. Thượng nguơn là ngày rằm tháng giêng, là ngày rằm gần nhất so với ngày các ông hy sinh. Còn Trung nguơn, ngày rằm tháng bảy là nhằm cầu siêu cho Tứ Kiệt, cũng phù hợp với tên miếu cô hồn. Riêng về lễ cúng vào tháng 8, là cúng ông Chủ Chợ, tuy được tổ chức tại miếu nhưng không dính dáng gì với Tứ Kiệt. Thành ra từ cả trăm năm nay, nhân dân buộc phải tổ chức ngày lễ giỗ trật ngày. Sau năm 1975 nhân dân vẫn giữ lệ cúng vào 2 ngày rằm ấy. Cho đến năm 1993, câu lạc bộ hưu trí của địa phương đã quyết định đứng ra tổ chức lễ giỗ đúng vào ngày mà các ông hy sinh là ngày 25 tháng chạp. Các vị lãnh đạo tại lăng mộ và bia tưởng niệm Bốn ông Tứ Kiệt Tứ Kiệt và các nghĩa dũng ở tỉnh Tiền Giang đã góp phần tạo dựng lên tầm cao của một dân tộc anh hùng, và cũng chính các vị đã góp phần điểm tô cho 4 chữ vàng “địa linh nhân kiệt” của Tiền Giang được mãi mãi ngời sáng./.

Lễ giỗ bốn vị anh hùng: Nguyễn Thanh Long, Trương Văn Rộng, Trần Công Thận, Ngô Tấn Đước, bị giặc Pháp xử chém vào ngày 14 tháng 2 năm 1871, nhằm ngày 25 tháng chạp năm Canh Ngọ. Lễ giỗ bốn vị anh hùng được tổ chức tại Lăng Tứ Kiệt (thị trấn Cai Lậy, Tiền Giang). Những năm chẵn, lễ giỗ được tổ chức qui mô và có các ban ngành ở trong tỉnh tham gia.

Lăng Tứ Kiệt "Tứ Kiệt” hay “Bốn Ông” là một cách gọi tôn kính của nhân dân theo cách sắp xếp thứ tự ở trong quân thứ đối với bốn vị anh hùng lãnh đạo nghĩa quân chống Pháp ở vùng Cái Bè, thị trấn Cai Lậy. Đó là các ông: ông Long, ông Thận, ông Rộng, ông Đước. Ông Long có tên họ đầy đủ là Nguyễn Thanh Long, hay còn được gọi là ông Năm Long sinh ra vào năm Canh thìn (1820), ở tại nơi mà nay gọi là xóm Cầu Ván, ấp Cẩm Hòa, xã Cẩm Sơn, Cai Lậy. Khi ông Nguyễn Thanh Long ly khai gia đình đi kháng chiến, người chị cả của ông là bà Hai An đã bị tên Việt gian Trần Bá Lộc bắt giam nhục hình và đòn roi đến thối cả hậu môn. Em kế là ông Sáu Quang cũng đã bị chúng bắt tra khảo rất dã man, rồi đày đi Côn Đảo! Ông Năm Long kết hôn với bà Phạm Thị Lài, sinh được hai người con gái là Nguyễn Thị Sửu và Nguyễn Thị Ngọc. Trong thời gian bôn ba ở chiến trận, ông đã có thêm một bà vợ thứ ở Vĩnh Long và sinh được một người con trai. Ông thọ 52 tuổi. Nhân vật số 2 đó là ông Trần Quang Thận, tự là Phượng, nguyên quán ở tại xóm Đập, ấp Mỹ Phú, xã Mỹ Trang (nay là Nhị Mỹ, Cai Lậy). Ông có 8 người con là Trần Công Tú, Trần Thị Nhặt, Trần Quang Thanh, Trần Quang Nhi, Trần Văn Sanh, Trần Thị Lang và 2 người nữa thì không rõ tên. Hậu duệ của ông Trần Quang Thận hiện nay đã đến đời thứ 7, nhưng đều đi tứ tán khắp nơi nên không tìm biết được năm sinh của ông. Tuy nhiên người ta ước đoán rằng, tuổi ông và ông Long cũng tương đương nhau, lúc hy sinh thì người con thứ tư của ông là Trần Quang Thanh đã làm đến chức Quản đạo. Có thể khi bị bắt, ông đã dũng cảm khai nhận hết trách nhiệm về phần mình, nên bọn người Pháp đã nhầm lẫn ông là một người cầm đầu, gọi là Ngươn soái. Tài liệu của các tác giả Schreiner và P.Vial viết về 4 ông cũng đều ghi như vậy - Nguon soai Than. Còn hai nhân vật cuối, người ta chỉ biết được tên và họ là Trương Văn Rộng, người của xã Tân Hiệp, Bến Tranh (nay là Tân Hội Đông, Châu Thành), và Ngô Tấn Đước, gốc gác là ở Tân Hội, Cai Lậy. Đặc biệt, Tứ Kiệt đều to lớn khác thường, nước da thì màu đồng đen. Truyền rằng cả bốn ông đều có võ nghệ cao cường, tướng pháp lanh lẹ, râu rậm và tóc dài chấm gót. Các cố lão ở địa phương kể lại rằng, Tứ Kiệt đều có biệt tài là chạy rất nhanh và nhảy cũng rất cao. Có một lần gặp bất trắc, để thoát thân, một trong 4 ông đã cặp thêm ở bên nách một cháu nhỏ khoảng 10 tuổi và chạy vun vút như tên, tóc xổ ra phất phới như lá cờ. Cả 4 ông đều là lính đồn điền, thuộc cấp của Thiên hộ Võ Duy Dương và Phó tướng Đốc binh Nguyễn Tấn Kiều. Khi lực lượng nghĩa quân của Thiên hộ Võ Duy Dương tan rã, các ông Long, Thận, Rộng và Đước đã tiếp tục đứng ra lãnh đạo nghĩa quân, chọn vùng Cái Bè, huyện Cai Lậy làm địa bàn hoạt động. Tuy nghĩa binh của Tứ Kiệt chỉ được trang bị ban đầu toàn những vũ khí thô sơ, chủ yếu là giáo mác, là gậy gộc, nhưng nhờ biết áp dụng các chiến thuật dân gian, biết vận dụng nhiều những “mưu thần chước quỷ” để nâng lên thành chiến thuật và kỹ thuật trong chiến đấu theo kiểu “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, có nghĩa là về mục tiêu, nguyên tắc thì bất di bất dịch, còn về hình thức, biện pháp thì căn cứ vào tình hình thực tế để xử lý kịp thời những vấn đề đặt ra một cách linh hoạt và mềm dẻo như: Gây thương vong tại chỗ, lấy ít đánh nhiều, hoặc nếu không may mà bị vây, ví thì biết sáng tạo những hình thức “gói quân”, đồng thời thiết đặt chướng ngại theo kiểu “ma ma phần phật”, nhằm gây sự cản trở, hoặc làm cho giặc phải nghi sợ, tiêu diệt sinh lực địch, hoặc nhẹ lắm thì cũng làm tiêu mòn dần sức hung hăng mỗi khi chúng triển khai đội hình, ruồng bố. Những chiến thuật như gài ổ ong, làm hầm chông ở những nơi mà chúng hành quân, quen thói lục lạo và hôi của; cưa gần như đứt hẳn các chân cầu bắc ngang kinh rạch đã có phục kích hoặc cắm sẵn chông nhọn bên dưới rồi giật sập cầu lúc chúng đi qua; bày kế cho những gia đình nghĩa binh giả vờ tử tế, tạo điều kiện cho giặc vào ăn, vào ngủ rồi tùy cơ tiêu diệt, thậm chí nửa đêm tự đốt nhà sau khi đã khóa cột chặt cứng các cửa ra vào, không cho chúng có đường thoát thân và chúng phải bị nướng sống... Hiển hách nhất phải kể đến là trận quân của Tứ Kiệt tấn công thành Định Tường (ở địa phận 2 thôn Bình Biên và Điều Hòa ngày xưa) vang động cả khu vực. Ở trận này, trước khi đánh, đích thân Tứ Kiệt đã cải trang thành người đi làm mướn và len lỏi được vào nội thành, khi đã dò xét được cặn kẽ từng đường đi nước bước và quy luật sinh hoạt của quân địch, vào lúc 3 giờ khuya đêm ngày mùng 1 tháng 5 năm 1868, lợi dụng lúc trời tối đen như mực, bọn giặc đang ngủ say, 4 ông đã cho nghĩa binh trèo tường vào thành, giết chết tên trưởng kho, rồi phóng hỏa thiêu rụi kho lương của bọn giặc. Ngày 25 tháng 12 năm 1870, lợi dụng lúc phần lớn bọn binh lính Pháp kéo về Mỹ Tho để ăn lễ Noel và chỉ để lại 25 tên lính mã tà, nhưng thay vì cảnh giác canh giữ đồn bót, thì tên chỉ huy Đội Cơ lại tổ chức ăn uống nhậu nhẹt, nghĩa quân của Tứ Kiệt đã bất thần tấn công đồng Cai Lậy, chiếm chợ và bắt tên Việt gian Bếp Hữu, trị tội bằng cách “nướng trui”, đồng thời phóng hỏa thiêu trụi trại lính của chúng và tịch thu nhiều vũ khí, đạn dược rồi rút về căn cứ một cách an toàn. Do liên tiếp bị tấn công và tổn thất nặng nề nên thực dân Pháp đã huy động lên đến 1.200 quân, gom ở các vùng lân cận như Mỹ Tho, Tân An, Vĩnh Long và Gò Công, quyết triệt hạ bằng được các căn cứ của nghĩa quân ta. Chúng ruồng bố khắp nơi. Bởi quân của Tứ Kiệt hầu hết “đêm thì là lính, ngày lại là dân”, có mặt ở khắp mọi nơi nhưng lại không có mặt ở một nơi nào cụ thể, cho nên sự càn quét không mang lại kết quả như mong muốn. Tuy nhiên, vẫn còn có nhiều cuộc đụng độ nảy lửa diễn ra, nhưng cứ trầy trật và bất phân thắng bại. Cuối cùng, tên Việt gian Trần Bá Lộc đã hiến kế bắt giam và áp dụng những đòn tra khảo hiểm nghiệt đối với thân nhân gia đình của 4 ông và của 150 thường dân khác. Tuy không có ai khai báo hoặc cung cấp điều gì, nhưng 4 ông không nỡ để cho bà con mình cứ bị tra khảo đau đớn đến thối cả da thịt, nên 4 ông đã quyết định đánh đổi bằng cách tự nạp mình. Hôm ấy là ngày mùng 1 tháng 4 năm 1871. Tên Lộc nhân danh đại diện cho chánh phủ Pháp đem vinh hoa phú quý ra để dụ dỗ suốt 45 ngày nhưng không thành, giặc Pháp đã đem 4 ông ra chợ Cai Lậy chặt và bêu đầu ngày 14 tháng 2 năm 1871, tức ngày 25 tháng 12 năm Canh ngọ. Thân nhân gia đình chỉ được mang thân mình của các ông về quê nhà, gắn chiếc đầu giả làm bằng đất sét vào và chôn cất. Còn bốn thủ cấp của Tứ Kiệt thì 7 ngày sau đó chúng đem vùi dập ở mé rạch phía sau chợ. Cảm kích trước 4 vị anh hùng vì nước quên thân, vì dân diệt bạo, nhân dân địa phương đã ngấm ngầm chung đậu tiền của và lập miếu thờ ngay tại ấp Mỹ Cần, xã Mỹ Trang. Nhưng để che mắt bọn thực dân, đồng bào đã tôn trí tượng Quan Công ở phía trước (nhân vật tiêu biểu trung nghĩa), còn ở phía sau thì đồng bào làm một cái khám thờ “Tứ vị thần hồn” và giải thích đó là “Chùa Ông” (Quan Công) hoặc “Miếu cô hồn”. Nhưng sâu kín tận đáy lòng, không ai không biết đó chính là miếu thờ Tứ Kiệt. Quang cảnh lễ giỗ Tứ Kiệt Trận bão năm Thìn (năm 1904), cũng như toàn bộ nhà cửa, dinh thự trong vùng, “miếu cô hồn” đã bị sập, nên sau được dựng lại tại Hòa Sơn (trước đây là xã Thạnh Hòa), ngày nay là thị trấn Cai Lậy - dời về cạnh mộ, vì ngay sát đó chính quyền Pháp đã xây cất bệnh viện, nhân dân không ưng thuận (cho rằng gần nơi ô uế). Còn ngôi mộ (chôn bốn chủ cấp) thì từ năm 1871 vẫn đắp nấm đất; đến năm 1935 nhân dân đã đóng góp tiền bạc và làm riêng 4 ngôi mộ bằng xi măng, song song và gần sát kề nhau, xung quanh thì có hàng rào sắt kiên cố. Ở tại cổng “Lăng Tứ Kiệt” có chạm khắc hai câu đối: Tứ vị anh hùng vị quốc hy sinh vĩnh niệm, Kiệt nhân nghĩa cử tinh thần bất khuất lưu tồn. Như đã được nói ở trên, Tứ Kiệt hy sinh vào ngày 14 tháng 2 năm 1871, tức ngày 25 tháng chạp năm Canh ngọ, tính đến nay (2007) đã là 136 năm, nhưng tại sao hàng năm nhân dân vẫn làm lễ giỗ 4 ông vào các ngày rằm tháng giêng, rằm tháng bảy, rằm tháng tám và 25 tháng chạp? Xuất phát từ tấm lòng cảm mến và kính phục oai đức, nên ngay từ thời Pháp thuộc, nhân dân nơi đây đã lập đền thờ Bốn Ông và giải thích đó là miếu cô hồn để qua mắt chính quyền thực dân, thành ra không thể cúng đúng vào ngày các ông hy sinh được mà phải chọn ngày tốt và tốt nhất là ngày rằm cho được danh chánh ngôn thuận, bởi theo như truyền thống tín ngưỡng của nhân dân, vào những ngày này, đồng bào đi cúng bái ở chùa chiền là chuyện bình thường, chính quyền Pháp sẽ không dòm ngó. Thượng nguơn là ngày rằm tháng giêng, là ngày rằm gần nhất so với ngày các ông hy sinh. Còn Trung nguơn, ngày rằm tháng bảy là nhằm cầu siêu cho Tứ Kiệt, cũng phù hợp với tên miếu cô hồn. Riêng về lễ cúng vào tháng 8, là cúng ông Chủ Chợ, tuy được tổ chức tại miếu nhưng không dính dáng gì với Tứ Kiệt. Thành ra từ cả trăm năm nay, nhân dân buộc phải tổ chức ngày lễ giỗ trật ngày. Sau năm 1975 nhân dân vẫn giữ lệ cúng vào 2 ngày rằm ấy. Cho đến năm 1993, câu lạc bộ hưu trí của địa phương đã quyết định đứng ra tổ chức lễ giỗ đúng vào ngày mà các ông hy sinh là ngày 25 tháng chạp. Các vị lãnh đạo tại lăng mộ và bia tưởng niệm Bốn ông Tứ Kiệt Tứ Kiệt và các nghĩa dũng ở tỉnh Tiền Giang đã góp phần tạo dựng lên tầm cao của một dân tộc anh hùng, và cũng chính các vị đã góp phần điểm tô cho 4 chữ vàng “địa linh nhân kiệt” của Tiền Giang được mãi mãi ngời sáng./.

Related Figures

Hội vật làng Sình

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/1 Âm lịch (lehoi.info)- Được tổ chức vào ngày mùng 10 tháng Giêng âm lịch hàng năm, Lễ hội đấu Vật làng Sình được tổ chức ngay tại khu vực đình làng Lại Ân (còn được gọi là làng Sình), xã Phú Mậu, Phú Vang, Thừa Thiên Huế. Hội Vật Làng Sình là một hoạt động văn hoá truyền thống, giàu tinh thần thượng võ của những người bản địa. Các đô vật sẽ thi đấu theo thể thức vòng tròn. Các đô vật thanh niên tranh tài trong Hội vật làng Sình Những người già ở làng Sình kể lại rằng, hội vật truyền thống của làng này đã có lịch sử hơn 200 năm, và phát triển liên tục cho đến ngày nay. Hội vật này khác hẳn so với hội vật ở một làng quê khác, bởi những người dân tổ chức hội vật như một hình thức giải trí đơn thuần sau những ngày tết chứ không phải vì mục đích tuyển chọn võ sĩ cho triều đình phong kiến lúc bấy giờ. “Lệ” làng cũng có quy định, các đô vật dự thi đấu không nhất thiết phải là người địa phương, và bất kỳ khán giả nào cũng có thể được lên sới đấu vật. Ngoài giải Cạn dành cho chức vô địch, thì làng còn dành riêng một khoản tiền để thưởng cho tất cả các đô tham gia hội vật. Có thể do điều kiện dự hội khá là đơn giản, nên thời xưa, cứ đến trước ngày dân làng mở hội vật, trai tráng khắp nơi lại theo nhau về làng Sình. Hội vật làng Sình về cơ bản thì cũng vẫn áp dụng theo nguyên tắc của luật thi đấu vật dân tộc, các đô vật nếu muốn vượt qua vòng đấu loại thì phải giành chiến thắng trước 3 đối thủ, để giành chiến thắng, các đô vật phải đánh bại đối thủ của mình với những đòn đánh làm cho đối phương "lấm lưng, trắng bụng" (nghĩa là một phần hoặc cả hai phần lưng của đối phương phải lấm đất, bụng phải ngửa lên trời). Nếu vượt qua được vòng đấu loại, các đô vật sẽ được bước vào vòng bán kết. Ở vòng bán kết, các đô vật phải vượt qua một đối thủ nữa mới lọt được vào vòng chung kết. Quang cảnh hội vật làng Sình Hội vật làng Sình rất chú trọng tinh thần thượng võ vì thế nên các đô vật không được ra các đòn đánh nguy hiểm đến tính mạng như khoá trái khớp, bẻ, vặn, tấn công bằng đầu, bấm các huyệt, tấn công vào hạ bộ, nắm tóc, yết hầu, mắt.... Một nét độc đáo ở lễ hội làng Sình là tinh thần đồng đội của các địa phương, một đô vật của làng nào bị thua sẽ có một đô vật khác lên tiếp sức. Nếu để thua một trận các đô vật phải chờ đến tận năm sau mới "phục hận" được, vì thế các đô vật thường rèn luyện suốt cả năm, tu dưỡng đạo đức để chờ đầu xuân tham dự và tranh tài. Rất đông khán giả theo dõi tại Hội vật làng Sình Hội vật Làng Sình ngoài những yếu tố tâm linh như mong cho dân khoẻ, làng yên, mùa màng tươi tốt và hạnh phúc đến với muôn người còn là một hoạt động vui, khoẻ đầy tinh thần thượng võ, kích thích việc rèn luyện sức khoẻ, lòng dũng cảm, sự tự tin và mưu trí đối với lớp trẻ ngày nay.

(lehoi.info)- Được tổ chức vào ngày mùng 10 tháng Giêng âm lịch hàng năm, Lễ hội đấu Vật làng Sình được tổ chức ngay tại khu vực đình làng Lại Ân (còn được gọi là làng Sình), xã Phú Mậu, Phú Vang, Thừa Thiên Huế. Hội Vật Làng Sình là một hoạt động văn hoá truyền thống, giàu tinh thần thượng võ của những người bản địa. Các đô vật sẽ thi đấu theo thể thức vòng tròn.

Các đô vật thanh niên tranh tài trong Hội vật làng Sình Những người già ở làng Sình kể lại rằng, hội vật truyền thống của làng này đã có lịch sử hơn 200 năm, và phát triển liên tục cho đến ngày nay. Hội vật này khác hẳn so với hội vật ở một làng quê khác, bởi những người dân tổ chức hội vật như một hình thức giải trí đơn thuần sau những ngày tết chứ không phải vì mục đích tuyển chọn võ sĩ cho triều đình phong kiến lúc bấy giờ. “Lệ” làng cũng có quy định, các đô vật dự thi đấu không nhất thiết phải là người địa phương, và bất kỳ khán giả nào cũng có thể được lên sới đấu vật. Ngoài giải Cạn dành cho chức vô địch, thì làng còn dành riêng một khoản tiền để thưởng cho tất cả các đô tham gia hội vật. Có thể do điều kiện dự hội khá là đơn giản, nên thời xưa, cứ đến trước ngày dân làng mở hội vật, trai tráng khắp nơi lại theo nhau về làng Sình. Hội vật làng Sình về cơ bản thì cũng vẫn áp dụng theo nguyên tắc của luật thi đấu vật dân tộc, các đô vật nếu muốn vượt qua vòng đấu loại thì phải giành chiến thắng trước 3 đối thủ, để giành chiến thắng, các đô vật phải đánh bại đối thủ của mình với những đòn đánh làm cho đối phương "lấm lưng, trắng bụng" (nghĩa là một phần hoặc cả hai phần lưng của đối phương phải lấm đất, bụng phải ngửa lên trời). Nếu vượt qua được vòng đấu loại, các đô vật sẽ được bước vào vòng bán kết. Ở vòng bán kết, các đô vật phải vượt qua một đối thủ nữa mới lọt được vào vòng chung kết. Quang cảnh hội vật làng Sình Hội vật làng Sình rất chú trọng tinh thần thượng võ vì thế nên các đô vật không được ra các đòn đánh nguy hiểm đến tính mạng như khoá trái khớp, bẻ, vặn, tấn công bằng đầu, bấm các huyệt, tấn công vào hạ bộ, nắm tóc, yết hầu, mắt.... Một nét độc đáo ở lễ hội làng Sình là tinh thần đồng đội của các địa phương, một đô vật của làng nào bị thua sẽ có một đô vật khác lên tiếp sức. Nếu để thua một trận các đô vật phải chờ đến tận năm sau mới "phục hận" được, vì thế các đô vật thường rèn luyện suốt cả năm, tu dưỡng đạo đức để chờ đầu xuân tham dự và tranh tài. Rất đông khán giả theo dõi tại Hội vật làng Sình Hội vật Làng Sình ngoài những yếu tố tâm linh như mong cho dân khoẻ, làng yên, mùa màng tươi tốt và hạnh phúc đến với muôn người còn là một hoạt động vui, khoẻ đầy tinh thần thượng võ, kích thích việc rèn luyện sức khoẻ, lòng dũng cảm, sự tự tin và mưu trí đối với lớp trẻ ngày nay.

Quang cảnh hội vật làng Sình

Related Figures

Lễ hội đua ghe truyền thống

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 2/9 Dương lịch Lễ hội đua ghe truyền thống tại tỉnh Thừa Thiên Huế là một ngày lễ hội mới được tổ chức sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam năm 1975. Lễ hội được tổ chức trong một ngày, nhằm ngày lễ Quốc Khánh mùng 2 tháng 9 (dương lịch). Địa điểm đua là bờ Sông Hương ngay trước trường Quốc Học. Hội nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các thanh niên nam nữ có cơ hội thi tài ở trên sông nước, qua đó rèn luyện tăng cường bảo vệ sức khỏe và tạo nên một không khí vui tươi lành mạnh cho nhân dân. Đây cũng là dịp để biểu lộ lòng vui mừng của nhân dân vào ngày Quốc Khánh. Quy mô của hội có tính chất rộng rãi liên phường xã và các huyện ở trong tỉnh. Hội được tổ chức theo định kỳ, mỗi năm một lần theo phong tục. Đặc sắc lễ hội đua ghe truyền thống Vào ngày lễ. Ban tổ chức sẽ tuyên bố thể lệ dự giải và chương trình đua bơi bao gồm có một độ cúng, bảy độ tiền và một độ phá (9 đội đua). Mỗi đội đua phải trải qua 3 vòng, 6 tráo, riêng độ 7 và 3 độ tiền của nữ là hai vòng và 4 tráo. Đội đua được bắt đầu bằng một lệnh trống (hay 1 hồi chiêng). Các ghe sẽ đua ba vè chính dọc Sông Hương, lộn vè rốn lúc xuất phát và vòng cuối lúc vào đích. Đây là một trong những tập tục truyền thống vốn được nhân dân mến chuộng từ các lễ hội cổ truyền. Đua ghê, đua trải luôn là một môn thể thao hấp dẫn, biểu thị sức khỏe và tài năng khéo léo của các thanh niên nam nữ. Quang cảnh lễ hội đua ghe truyền thống Đối tượng tham gia lễ chủ yếu là các thanh niên nam nữ các phường các xã thuộc các huyện và các thành phố cũng ra sức đua tài ở trên sông Hương. Những người lớn tuổi và trẻ em thì ra sức cổ vũ nên không khí của cuộc đua bao giờ cũng sôi nổi và đầy hào hứng. Lễ hội đua ghe truyền thống thu hút đông đảo người dân tham gia Nếu những cuộc đua ghe ở các làng mạc xa xưa có ý nghĩa và có mục đích để cầu mưa thuận gió hòa thì cuộc đua ghe truyền thống ngày nay không giữ lại mục đích đó, mà là một dịp để tỏ lòng hân hoan và thi tài thể lực nhân ngày Quốc Khánh. Lễ hội này vẫn còn được tổ chức, đem lại nguồn vui cho cả vận động viên lẫn những người dân trong tỉnh.

Lễ hội đua ghe truyền thống tại tỉnh Thừa Thiên Huế là một ngày lễ hội mới được tổ chức sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam năm 1975. Lễ hội được tổ chức trong một ngày, nhằm ngày lễ Quốc Khánh mùng 2 tháng 9 (dương lịch). Địa điểm đua là bờ Sông Hương ngay trước trường Quốc Học. Hội nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các thanh niên nam nữ có cơ hội thi tài ở trên sông nước, qua đó rèn luyện tăng cường bảo vệ sức khỏe và tạo nên một không khí vui tươi lành mạnh cho nhân dân. Đây cũng là dịp để biểu lộ lòng vui mừng của nhân dân vào ngày Quốc Khánh. Quy mô của hội có tính chất rộng rãi liên phường xã và các huyện ở trong tỉnh. Hội được tổ chức theo định kỳ, mỗi năm một lần theo phong tục.

Đặc sắc lễ hội đua ghe truyền thống Vào ngày lễ. Ban tổ chức sẽ tuyên bố thể lệ dự giải và chương trình đua bơi bao gồm có một độ cúng, bảy độ tiền và một độ phá (9 đội đua). Mỗi đội đua phải trải qua 3 vòng, 6 tráo, riêng độ 7 và 3 độ tiền của nữ là hai vòng và 4 tráo. Đội đua được bắt đầu bằng một lệnh trống (hay 1 hồi chiêng). Các ghe sẽ đua ba vè chính dọc Sông Hương, lộn vè rốn lúc xuất phát và vòng cuối lúc vào đích. Đây là một trong những tập tục truyền thống vốn được nhân dân mến chuộng từ các lễ hội cổ truyền. Đua ghê, đua trải luôn là một môn thể thao hấp dẫn, biểu thị sức khỏe và tài năng khéo léo của các thanh niên nam nữ. Quang cảnh lễ hội đua ghe truyền thống Đối tượng tham gia lễ chủ yếu là các thanh niên nam nữ các phường các xã thuộc các huyện và các thành phố cũng ra sức đua tài ở trên sông Hương. Những người lớn tuổi và trẻ em thì ra sức cổ vũ nên không khí của cuộc đua bao giờ cũng sôi nổi và đầy hào hứng. Lễ hội đua ghe truyền thống thu hút đông đảo người dân tham gia Nếu những cuộc đua ghe ở các làng mạc xa xưa có ý nghĩa và có mục đích để cầu mưa thuận gió hòa thì cuộc đua ghe truyền thống ngày nay không giữ lại mục đích đó, mà là một dịp để tỏ lòng hân hoan và thi tài thể lực nhân ngày Quốc Khánh. Lễ hội này vẫn còn được tổ chức, đem lại nguồn vui cho cả vận động viên lẫn những người dân trong tỉnh.

Related Figures

Lễ cầu mùa của dân tộc Tà Ôi

Thông tin thời kỳ

Hàng năm, lễ cầu mùa của người dân tộc Tà Ôi ở tỉnh Thừa Thiên-Huế được tổ chức ngay sau Tết âm lịch. Thường thì từ 3 đến 5 năm người ta mới tổ chức một lần vào các năm có những sự kiện quan trọng như: tạ ơn Yang (Trời) về việc liên tục được mùa hoặc cầu được mùa nếu mùa màng thất bát và cầu sức khoẻ... Nghi thức trong lễ cầu mùa của dân tộc Tà Ôi Lễ hội thường là tiến hành trên nhà rông và trong sân chung của làng. Chủ lễ phải là một già làng cùng với 7 già làng khác tham gia phụ lễ. Lễ vật dâng cúng gồm có: cây chuối có buồng quả, mía nguyên cả cây, rượu cần, dê, trâu, gà, chuột nướng trong ống tre, xôi, cốm, gạo, cá nướng bằng que... Vật dùng để làm lễ cúng gồm có axom (một chùm sợi xoăn được tước nhỏ từ một cành hóp dùng để vẩy rượu, vẩy nước cúng lên xà nhà) và asiêu (là một khúc gỗ tròn dài khoảng 15 cm, được bổ đôi thành hai mảnh, mặt phẳng của mỗi mảnh sẽ được vẽ bùa chú trang trí) dùng để xin keo (bói âm - dương), ngoài ra còn có kiếm, khiên và dải vải gièng để phủ lên đầu của con trâu trước khi đâm. Vào buổi sáng ngày thứ nhất của lễ hội, người ta làm lễ xin đất chôn nọc (nêu) để buộc trâu. Chủ lễ và những người phụ lễ sẽ cầm kiếm, khiên, khấn vái, sau đó người chủ lễ úp khiên xuống đất, chỗ xin nọc để buộc trâu. Đó là chỗ để dựng cây nêu chính. Khi dựng xong nọc buộc trâu, người ta tiếp tục dựng nọc buộc lợn và nọc buộc dê (cây nêu phụ), những con vật sẽ bị giết thịt để làm lễ vật cúng trời và cúng bên khô - bên nước. Các lễ vật cúng khác để cầu mùa bao gồm có: gùi lớn, gùi nhỏ (achói, até), khiên, kiếm, cồng, chiêng, ché, gạo... cùng với bánh nếp đã được bóc vỏ và cá nướng, mỗi thứ một ít. Sau những nghi thức cúng xin dựng nêu, người chủ lễ tay cầm ống tre ngắn (trong có đựng cám gạo và nước) có cắm axom vừa khấn, vừa đổ ống cám gạo xuống chân nọc buộc trâu trong tiếng tù và , cồng chiêng và tiếng hô hú. Tiếp đó, một nhóm sẽ được tách ra và đi đầu là phụ lễ tiến về phía núi, vừa đi vừa vung gạo lên trời và khấn mời các thần linh về dự hội với buôn làng. Khi trở lại sân chung, tất cả đoàn sẽ bắt đầu nhảy múa, di chuyển quanh sân theo chiều ngược với chiều kim đồng hồ, sau đó lên nhà sàn để bắt đầu làm nghi lễ Vung cơm trộn lá (tượng trưng cho sự cầu mùa được no đủ) và ném axom (thể hiện sự hiển linh chứng giám của đất trời). Những người khác sẽ đưa hai mâm cúng xuống sân và đặt trước mũi trâu. Chủ lễ và phụ lễ tiến hành vung cơm vào đầu con trâu rồi tất cả cùng nhau hô hú. Lễ Bahs - là lễ mời các Yang về chung vui - là nghi thức tiếp theo được cúng ở trên nhà sàn. Lễ vật cúng gồm có gà luộc, cá nướng, bánh nếp đã bóc vỏ và xôi... Dưới sân mọi người mổ lợn và làm lễ cúng xin phép thần vào ngày hôm sau làm cho lễ đâm dê, đâm trâu. Lễ cúng gồm có 3 mâm, trên có bày đầu lợn, đuôi lợn, một xâu gan lợn, một bát cơm có cắm 2 bánh nếp đã bóc vỏ sẵn và một bát nạp..., ngoài ra còn có một cây chuối nguyên cả buồng, một cây mía và một vò rượu cần đặt ở bên cạnh một bát nhựa cây đang cháy. Sau khi xin keo (bói thẻ gỗ) để được sự đồng ý của các thần linh, thầy cúng cho các mâm cúng lên nhà sàn để làm lễ xua đuổi điều dữ và đón điều tốt lành. Đặc sắc lễ cầu mùa của dân tộc Tà Ôi Sáng sớm ngày thứ hai, cả làng đã chuẩn bị nhảy múa (ađứt) để đón khách ở các làng bên sang dự lễ cầu mùa và dự lễ đâm trâu. Đoàn khách tới cùng nhảy múa quanh sân 3 vòng, theo chiều ngược chiều kim đồng hồ. Vừa múa, già làng vừa mời các bạn ăn bánh nếp ăn thịt, và uống rượu. Múa xong những già làng trong đoàn bạn cùng với những già làng chủ nhà lên nhà sàn để chủ lễ mời ăn uống và hội ý phân công ra người sẽ đâm trâu. Sau khi đã nhất trí, các mâm cúng được mang xuống và đặt trước nọc trâu. Các già làng bưng một đĩa gạo và một đĩa hành sống vãi vào con trâu. Một cô gái dỡ gùi lấy vải dâng cho chủ lễ. Chủ lễ đưa tấm vải cho phụ lễ làm phép trên đầu con trâu, rồi cho cất đi. Đến đây, hai già làng sẽ được quyền đâm trâu. Lễ cầu mùa của dân tộc Tà Ôi Trâu được mổ ngay tại chỗ. Dê thì được khiêng đi làm thịt. Sau đó người ta lấy đầu trâu, lấy chân trâu sống, đầu dê sống cùng với thủ, gà luộc, đuôi lợn luộc và các lễ vật khác, xếp vào bảy mâm, đem đặt xuống gốc nọc trâu để cho già làng cúng và đội múa của làng múa xung quanh. Sau đó người ta sẽ lấy một cây nêu nhỏ, ở giữa có treo một giỏ tre cắm vào trước cây nêu chính rồi sau đó chủ lễ và hai già làng vừa khấn vừa vẩy nước lên giỏ đựng vật cúng ở cây nêu nhỏ. Làm xong, các già làng sẽ cùng nhau ngồi trong lều vải để khấn tập thể. Sau khi khấn, xin keo, ném axom xong, các già làng chia thành hai nhóm cầm theo cây nêu nhỏ, một nhóm đi về phía bờ sông, một nhóm đi về phía núi để khấn với sự phụ hoạ của đội nhạc múa. Cúng xong họ lấy lộc chia nhau và ăn ngay tại chỗ rồi về sân nhà rông. Các vật cúng còn lại sẽ được chuyển lên nhà sàn. Lúc này đội múa bắt đầu hát Ca lơi, thổi tù và tiễn khách cùng với các già làng... và lễ cầu mùa kết thúc Theo dulichanoi.com

Hàng năm, lễ cầu mùa của người dân tộc Tà Ôi ở tỉnh Thừa Thiên-Huế được tổ chức ngay sau Tết âm lịch. Thường thì từ 3 đến 5 năm người ta mới tổ chức một lần vào các năm có những sự kiện quan trọng như: tạ ơn Yang (Trời) về việc liên tục được mùa hoặc cầu được mùa nếu mùa màng thất bát và cầu sức khoẻ...

Nghi thức trong lễ cầu mùa của dân tộc Tà Ôi Lễ hội thường là tiến hành trên nhà rông và trong sân chung của làng. Chủ lễ phải là một già làng cùng với 7 già làng khác tham gia phụ lễ. Lễ vật dâng cúng gồm có: cây chuối có buồng quả, mía nguyên cả cây, rượu cần, dê, trâu, gà, chuột nướng trong ống tre, xôi, cốm, gạo, cá nướng bằng que... Vật dùng để làm lễ cúng gồm có axom (một chùm sợi xoăn được tước nhỏ từ một cành hóp dùng để vẩy rượu, vẩy nước cúng lên xà nhà) và asiêu (là một khúc gỗ tròn dài khoảng 15 cm, được bổ đôi thành hai mảnh, mặt phẳng của mỗi mảnh sẽ được vẽ bùa chú trang trí) dùng để xin keo (bói âm - dương), ngoài ra còn có kiếm, khiên và dải vải gièng để phủ lên đầu của con trâu trước khi đâm. Vào buổi sáng ngày thứ nhất của lễ hội, người ta làm lễ xin đất chôn nọc (nêu) để buộc trâu. Chủ lễ và những người phụ lễ sẽ cầm kiếm, khiên, khấn vái, sau đó người chủ lễ úp khiên xuống đất, chỗ xin nọc để buộc trâu. Đó là chỗ để dựng cây nêu chính. Khi dựng xong nọc buộc trâu, người ta tiếp tục dựng nọc buộc lợn và nọc buộc dê (cây nêu phụ), những con vật sẽ bị giết thịt để làm lễ vật cúng trời và cúng bên khô - bên nước. Các lễ vật cúng khác để cầu mùa bao gồm có: gùi lớn, gùi nhỏ (achói, até), khiên, kiếm, cồng, chiêng, ché, gạo... cùng với bánh nếp đã được bóc vỏ và cá nướng, mỗi thứ một ít. Sau những nghi thức cúng xin dựng nêu, người chủ lễ tay cầm ống tre ngắn (trong có đựng cám gạo và nước) có cắm axom vừa khấn, vừa đổ ống cám gạo xuống chân nọc buộc trâu trong tiếng tù và , cồng chiêng và tiếng hô hú. Tiếp đó, một nhóm sẽ được tách ra và đi đầu là phụ lễ tiến về phía núi, vừa đi vừa vung gạo lên trời và khấn mời các thần linh về dự hội với buôn làng. Khi trở lại sân chung, tất cả đoàn sẽ bắt đầu nhảy múa, di chuyển quanh sân theo chiều ngược với chiều kim đồng hồ, sau đó lên nhà sàn để bắt đầu làm nghi lễ Vung cơm trộn lá (tượng trưng cho sự cầu mùa được no đủ) và ném axom (thể hiện sự hiển linh chứng giám của đất trời). Những người khác sẽ đưa hai mâm cúng xuống sân và đặt trước mũi trâu. Chủ lễ và phụ lễ tiến hành vung cơm vào đầu con trâu rồi tất cả cùng nhau hô hú. Lễ Bahs - là lễ mời các Yang về chung vui - là nghi thức tiếp theo được cúng ở trên nhà sàn. Lễ vật cúng gồm có gà luộc, cá nướng, bánh nếp đã bóc vỏ và xôi... Dưới sân mọi người mổ lợn và làm lễ cúng xin phép thần vào ngày hôm sau làm cho lễ đâm dê, đâm trâu. Lễ cúng gồm có 3 mâm, trên có bày đầu lợn, đuôi lợn, một xâu gan lợn, một bát cơm có cắm 2 bánh nếp đã bóc vỏ sẵn và một bát nạp..., ngoài ra còn có một cây chuối nguyên cả buồng, một cây mía và một vò rượu cần đặt ở bên cạnh một bát nhựa cây đang cháy. Sau khi xin keo (bói thẻ gỗ) để được sự đồng ý của các thần linh, thầy cúng cho các mâm cúng lên nhà sàn để làm lễ xua đuổi điều dữ và đón điều tốt lành. Đặc sắc lễ cầu mùa của dân tộc Tà Ôi Sáng sớm ngày thứ hai, cả làng đã chuẩn bị nhảy múa (ađứt) để đón khách ở các làng bên sang dự lễ cầu mùa và dự lễ đâm trâu. Đoàn khách tới cùng nhảy múa quanh sân 3 vòng, theo chiều ngược chiều kim đồng hồ. Vừa múa, già làng vừa mời các bạn ăn bánh nếp ăn thịt, và uống rượu. Múa xong những già làng trong đoàn bạn cùng với những già làng chủ nhà lên nhà sàn để chủ lễ mời ăn uống và hội ý phân công ra người sẽ đâm trâu. Sau khi đã nhất trí, các mâm cúng được mang xuống và đặt trước nọc trâu. Các già làng bưng một đĩa gạo và một đĩa hành sống vãi vào con trâu. Một cô gái dỡ gùi lấy vải dâng cho chủ lễ. Chủ lễ đưa tấm vải cho phụ lễ làm phép trên đầu con trâu, rồi cho cất đi. Đến đây, hai già làng sẽ được quyền đâm trâu. Lễ cầu mùa của dân tộc Tà Ôi Trâu được mổ ngay tại chỗ. Dê thì được khiêng đi làm thịt. Sau đó người ta lấy đầu trâu, lấy chân trâu sống, đầu dê sống cùng với thủ, gà luộc, đuôi lợn luộc và các lễ vật khác, xếp vào bảy mâm, đem đặt xuống gốc nọc trâu để cho già làng cúng và đội múa của làng múa xung quanh. Sau đó người ta sẽ lấy một cây nêu nhỏ, ở giữa có treo một giỏ tre cắm vào trước cây nêu chính rồi sau đó chủ lễ và hai già làng vừa khấn vừa vẩy nước lên giỏ đựng vật cúng ở cây nêu nhỏ. Làm xong, các già làng sẽ cùng nhau ngồi trong lều vải để khấn tập thể. Sau khi khấn, xin keo, ném axom xong, các già làng chia thành hai nhóm cầm theo cây nêu nhỏ, một nhóm đi về phía bờ sông, một nhóm đi về phía núi để khấn với sự phụ hoạ của đội nhạc múa. Cúng xong họ lấy lộc chia nhau và ăn ngay tại chỗ rồi về sân nhà rông. Các vật cúng còn lại sẽ được chuyển lên nhà sàn. Lúc này đội múa bắt đầu hát Ca lơi, thổi tù và tiễn khách cùng với các già làng... và lễ cầu mùa kết thúc Theo dulichanoi.com

Related Figures

Lễ Hội Cầu Ngư

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 12/1 Âm lịch Lễ Hội Cầu Ngư là hội của những người dân làng Thai Dương Hạ xã Hương Hải làng Thai Dương Hạ, thị trấn Thuận An, Phú Vang, Thừa Thiên Huế. Hội thường được tổ chức vào ngày 12 tháng Giêng âm lịch để tưởng nhớ đến vị thành hoàng của làng là Trương Quý Công biệt danh của Trương Thiều, người gốc ở miền Bắc, đã có công bày cho dân buôn bán ghe mành và nghề đánh cá. Nghi thức khai hội Cầu Ngư ở Thái Dương Hạ Từ buổi chiều hôm trước ngày khai mạc, 2 giáp Thượng và Hạ đã bắt đầu cúng đế. Đến đêm khuya, 1 buổi tế "cầu an, cầu ngư" lại được cử hành. Một vị cao tuổi ở trong làng thông thạo nghi lễ sẽ đọc bản văn tế. Tất cả các chủ thuyền phải ăn mặc chỉnh tề áo dài đen, quần trắng và đầu chít khăn đỏ lần lượt vào làm lễ. Phía nữ giới có một người đại diện. Nghi lễ rước thuyền đánh cá đã tại hội Cầu Ngư ở Thái Dương Hạ Hội này có lệ đặc biệt là cứ 3 năm tổ chức một lần các trò diễn tả những sinh hoạt nghề biển. Ở tại sân đình người ta làm "trò bủa lưới", diễn tả cách bủa lưới trên bờ. Ở mặt phía trước của đình cách khoảng 100m có trình diễn trò "quệu, giạ xúc ruốc", diễn tả cảnh dùng lưới đan trên 2 thanh tre chéo trước mũi thuyền đi xúc. Vào lễ, 1 ông chấp lệnh sau khi van vái cho dân làng được khỏe mạnh và làm ăn thịnh vượng, cầm khăn đỏ lót dùi trống đánh 3 hồi khai mạc buổi lễ. Ngoài sân đình, sẽ có 1 vị cao tuổi mặc lễ phục tiến vào, đi kèm có 2 chủ thuyền đầu bịt khăn đỏ, trang phục theo nghề nghiệp cùng vào lễ, nhưng 2 vị này vái lạy lung tung khắp mọi phía, làm đủ mọi điệu bộ khôi hài cốt để gây tiếng cười. Một hồi trống lệnh gióng lên, những vị hành lễ đứng về 1 phía. Trên bàn thờ tổ, 1 vị cao niên tung tiền và phẩm vật cúng xuống dưới sân đình cho các em tranh nhau vào nhặt. Cùng lúc đó, đám chủ thuyền khiêng 1 cái ghe mành cốt bằng tre, đan chắc chắn, phết giấy đỏ ở trên có 1 người ngồi, tiến vào phía sân đình chạy quanh đám trẻ. Lưới trên truyền được bủa vã vây lấy đám trẻ thành một vòng tròn, càng lúc càng bị thu hẹp, thuyền được khiêng chạy vòng tròn trong tiếng pháo nổ tưng bừng. Giai đoạn "bủa lưới nậu lưới" tiếp diễn rất sôi nổi. Những đứa trẻ tượng trưng cho đàn cá đang ăn mồi cố tìm cách để thoát ra khỏi lưới. Các chủ thuyền người thì hụ "cá", người thì ngoắc "cá" cố hết sức mình để giữ không cho "cá" thoát lưới. Khi vòng tròn đã được thu nhỏ lại, các chủ thuyền sẽ vào bắt một vài "con cá" để đem lên bàn cúng Thành Hoàng. Sau khi lễ xong, một số "cá" được gánh trong trạc đưa ra bờ biển để rửa nước muối, một số cá sẽ được đem bán. Những người mua "cá" (trước kia là do nam giới hóa trang mặc áo hai lớp, trong đỏ, ngoài lục và đeo bông tai) đến trả giá và mặc cả ồn ào giống như buổi bán cá thực sự. Đó là một nghi lễ làm trò ruỗi bộ (bán cá ở trên đường). Các chủ thuyền sau khi "bán cá" xong sẽ kéo nhau vào một địa điểm (có thể là sân chùa hoặc cũng có thể là trước một miếu thờ cạnh đình) để "chia tiền cá". Họ cũng bàn tán ồn ào. "Chia tiền bán cá " xong kể như lễ tất. Tất cả mọi người tụ tập ở bờ phá để xem để xem đua trải. Tục lệ bủa lưới trên bờ độc đáo Trò diễn "làm trò bủa lưới" là 1 hình thức "hèm" để tưởng nhớ đến sự nghiệp của vị Thành Hoàng của làng. Vì thế có thể cho đây là một trò diễn trình nghề mang đậm tính chất lễ nghi.

Lễ Hội Cầu Ngư là hội của những người dân làng Thai Dương Hạ xã Hương Hải làng Thai Dương Hạ, thị trấn Thuận An, Phú Vang, Thừa Thiên Huế. Hội thường được tổ chức vào ngày 12 tháng Giêng âm lịch để tưởng nhớ đến vị thành hoàng của làng là Trương Quý Công biệt danh của Trương Thiều, người gốc ở miền Bắc, đã có công bày cho dân buôn bán ghe mành và nghề đánh cá. Nghi thức khai hội Cầu Ngư ở Thái Dương Hạ Từ buổi chiều hôm trước ngày khai mạc, 2 giáp Thượng và Hạ đã bắt đầu cúng đế. Đến đêm khuya, 1 buổi tế "cầu an, cầu ngư" lại được cử hành. Một vị cao tuổi ở trong làng thông thạo nghi lễ sẽ đọc bản văn tế. Tất cả các chủ thuyền phải ăn mặc chỉnh tề áo dài đen, quần trắng và đầu chít khăn đỏ lần lượt vào làm lễ. Phía nữ giới có một người đại diện. Nghi lễ rước thuyền đánh cá đã tại hội Cầu Ngư ở Thái Dương Hạ Hội này có lệ đặc biệt là cứ 3 năm tổ chức một lần các trò diễn tả những sinh hoạt nghề biển. Ở tại sân đình người ta làm "trò bủa lưới", diễn tả cách bủa lưới trên bờ. Ở mặt phía trước của đình cách khoảng 100m có trình diễn trò "quệu, giạ xúc ruốc", diễn tả cảnh dùng lưới đan trên 2 thanh tre chéo trước mũi thuyền đi xúc. Vào lễ, 1 ông chấp lệnh sau khi van vái cho dân làng được khỏe mạnh và làm ăn thịnh vượng, cầm khăn đỏ lót dùi trống đánh 3 hồi khai mạc buổi lễ. Ngoài sân đình, sẽ có 1 vị cao tuổi mặc lễ phục tiến vào, đi kèm có 2 chủ thuyền đầu bịt khăn đỏ, trang phục theo nghề nghiệp cùng vào lễ, nhưng 2 vị này vái lạy lung tung khắp mọi phía, làm đủ mọi điệu bộ khôi hài cốt để gây tiếng cười. Một hồi trống lệnh gióng lên, những vị hành lễ đứng về 1 phía. Trên bàn thờ tổ, 1 vị cao niên tung tiền và phẩm vật cúng xuống dưới sân đình cho các em tranh nhau vào nhặt. Cùng lúc đó, đám chủ thuyền khiêng 1 cái ghe mành cốt bằng tre, đan chắc chắn, phết giấy đỏ ở trên có 1 người ngồi, tiến vào phía sân đình chạy quanh đám trẻ. Lưới trên truyền được bủa vã vây lấy đám trẻ thành một vòng tròn, càng lúc càng bị thu hẹp, thuyền được khiêng chạy vòng tròn trong tiếng pháo nổ tưng bừng. Giai đoạn "bủa lưới nậu lưới" tiếp diễn rất sôi nổi. Những đứa trẻ tượng trưng cho đàn cá đang ăn mồi cố tìm cách để thoát ra khỏi lưới. Các chủ thuyền người thì hụ "cá", người thì ngoắc "cá" cố hết sức mình để giữ không cho "cá" thoát lưới. Khi vòng tròn đã được thu nhỏ lại, các chủ thuyền sẽ vào bắt một vài "con cá" để đem lên bàn cúng Thành Hoàng. Sau khi lễ xong, một số "cá" được gánh trong trạc đưa ra bờ biển để rửa nước muối, một số cá sẽ được đem bán. Những người mua "cá" (trước kia là do nam giới hóa trang mặc áo hai lớp, trong đỏ, ngoài lục và đeo bông tai) đến trả giá và mặc cả ồn ào giống như buổi bán cá thực sự. Đó là một nghi lễ làm trò ruỗi bộ (bán cá ở trên đường). Các chủ thuyền sau khi "bán cá" xong sẽ kéo nhau vào một địa điểm (có thể là sân chùa hoặc cũng có thể là trước một miếu thờ cạnh đình) để "chia tiền cá". Họ cũng bàn tán ồn ào. "Chia tiền bán cá " xong kể như lễ tất. Tất cả mọi người tụ tập ở bờ phá để xem để xem đua trải. Tục lệ bủa lưới trên bờ độc đáo Trò diễn "làm trò bủa lưới" là 1 hình thức "hèm" để tưởng nhớ đến sự nghiệp của vị Thành Hoàng của làng. Vì thế có thể cho đây là một trò diễn trình nghề mang đậm tính chất lễ nghi.

Related Figures

Lễ Hội Điện Hòn Chén

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 2/3- 3/3 Âm lịch Hàng năm 2 lần vào dịp xuân tế (mùng 2, mùng 3 tháng 3) và thu tế tháng 7, Điện Hòn Chén tại làng Hải Cát, Hương Trà, Thừa Thiên- Huế lại tấp nập người người đến trẩy hội Thiên Y A Na Thánh mẫu. Một nghi thức trong Lễ Hội Điện Hòn Chén Nghi lễ được diễn ra rất long trọng. Dân làng tổ chức tế ở tại đình, trước ngày chánh tế có lễ nghinh thần để rước tất cả những vị thần ở trong làng về đình. Trong đó đám rước Thiên Y A Na Thánh Mẫu từ Huệ Nam đến đình làng Hải Cát được tổ chức trọng thể hơn cả. Quang cảnh tại Lễ Hội Điện Hòn Chén Lễ hội giống như 1 festival về văn hóa dân gian ở trên sông Hương, tấp nập những chiếc thuyền kết đôi với cờ phướn mà được người dân gọi là chiếc "bằng", hương án đủ các màu sắc, hành hương về điện Hòn Chén, là nơi thờ Thánh Mẫu. Ngay tại khu vực điện sẽ diễn ra Thánh Mẫu tuần du làng Hải Cát, lễ tế làng Hải Cát, lễ cung nghinh Thánh Mẫu hồi loan về điện, lễ phóng sanh và lễ phóng đăng... Đám rước được cử hành ở trên những chiếc bằng. Trên mỗi bằng sẽ có bàn thờ Thánh Mẫu cùng với long kiệu. Trên long kiệu sẽ có hòm sắc của vua ban Thánh Mẫu, liền kế đó là 1 bằng khác cũng có bàn thờ, kiệu và hòm sắc của nhị vị thượng Ngàn và Thuỷ Cung Thánh Mẫu. Sau đó là những chiếc bằng chở các tự khí và tàn tán cờ quạt. Lễ Hội Điện Hòn Chén thu hút đông đảo người dân tham gia Trải qua biết bao thăng trầm lịch sử, những năm gần đây lễ hội này đã được phục hồi theo các tập tục truyền thống mang đậm màu sắc văn hóa dân gian ở tại địa phương. Lễ hội điện Hòn Chén còn có tên gọi là Lễ Vía Mẹ, không chỉ là của các tín đồ Thiên Tiên Thanh Giáo, mà còn là của cả những người theo đạo thờ Mẹ, đạo hiếu và đạo làm người. Theo ý nghĩa đó, việc phục hồi lễ hội điện Hòn Chén còn còn có ý nghĩa phục hồi một giá trị văn hóa truyền thống của một vùng đất. Theo Lễ hội Miền Trung

Hàng năm 2 lần vào dịp xuân tế (mùng 2, mùng 3 tháng 3) và thu tế tháng 7, Điện Hòn Chén tại làng Hải Cát, Hương Trà, Thừa Thiên- Huế lại tấp nập người người đến trẩy hội Thiên Y A Na Thánh mẫu. Một nghi thức trong Lễ Hội Điện Hòn Chén Nghi lễ được diễn ra rất long trọng. Dân làng tổ chức tế ở tại đình, trước ngày chánh tế có lễ nghinh thần để rước tất cả những vị thần ở trong làng về đình. Trong đó đám rước Thiên Y A Na Thánh Mẫu từ Huệ Nam đến đình làng Hải Cát được tổ chức trọng thể hơn cả. Quang cảnh tại Lễ Hội Điện Hòn Chén Lễ hội giống như 1 festival về văn hóa dân gian ở trên sông Hương, tấp nập những chiếc thuyền kết đôi với cờ phướn mà được người dân gọi là chiếc "bằng", hương án đủ các màu sắc, hành hương về điện Hòn Chén, là nơi thờ Thánh Mẫu. Ngay tại khu vực điện sẽ diễn ra Thánh Mẫu tuần du làng Hải Cát, lễ tế làng Hải Cát, lễ cung nghinh Thánh Mẫu hồi loan về điện, lễ phóng sanh và lễ phóng đăng... Đám rước được cử hành ở trên những chiếc bằng. Trên mỗi bằng sẽ có bàn thờ Thánh Mẫu cùng với long kiệu. Trên long kiệu sẽ có hòm sắc của vua ban Thánh Mẫu, liền kế đó là 1 bằng khác cũng có bàn thờ, kiệu và hòm sắc của nhị vị thượng Ngàn và Thuỷ Cung Thánh Mẫu. Sau đó là những chiếc bằng chở các tự khí và tàn tán cờ quạt. Lễ Hội Điện Hòn Chén thu hút đông đảo người dân tham gia Trải qua biết bao thăng trầm lịch sử, những năm gần đây lễ hội này đã được phục hồi theo các tập tục truyền thống mang đậm màu sắc văn hóa dân gian ở tại địa phương. Lễ hội điện Hòn Chén còn có tên gọi là Lễ Vía Mẹ, không chỉ là của các tín đồ Thiên Tiên Thanh Giáo, mà còn là của cả những người theo đạo thờ Mẹ, đạo hiếu và đạo làm người. Theo ý nghĩa đó, việc phục hồi lễ hội điện Hòn Chén còn còn có ý nghĩa phục hồi một giá trị văn hóa truyền thống của một vùng đất. Theo Lễ hội Miền Trung

Quang cảnh tại Lễ Hội Điện Hòn Chén

Related Figures

Tết Cơm Mới ( Lễ Aza )

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/10- 30/10 Âm lịch (lehoi.info) - Tết Cơm Mới (lễ Aza) được tổ chức tại Huyện A Lưới, đánh dấu thời điểm kết thúc của 1 năm làm việc cũ và mở ra 1 năm làm việc mới. Thời gian tiến hành tết cơm mới(lễ Aza) của mỗi làng có khác nhau vì ngày tổ chức là do làng quyết định, tuy nhiên, Aza của tất cả các làng đều sẽ được tổ chức trong tháng 10 âm lịch. Nếu ngày đã chọn vẫn chưa tổ chức được lễ Aza thì làng sẽ tổ chức lễ sau đó 18 ngày. Đặc sắc Tết Cơm Mới ( Lễ Aza ) Trước ngày tổ chức lễ Aza, người dân Pacô lên nương hoặc ra những mảnh ruộng của mình để tuốt những gốc rạ còn sót lại. Đó chính là sự tri ân cây lúa bởi lẽ, cây lúa đã mang lại cái bụng no cho dân làng nơi đây với những chén cơm trắng, những cái bánh aquat thơm dẻo. Từ tối ngày mùng 5 đến sáng ngày mùng 6, người làng Đụt đã chuẩn bị sẵn những lễ vật để cúng Aza. Nào cơm trắng, bánh aquat, xôi, nào gà, vịt, heo, dê. Ngoài ra, lễ vật còn có một thứ hết sức linh thiêng và không thể thiếu để thực hiện một nghi lễ trong quá trình tổ chức Aza đó là tânghọt - một loại hoa được làm từ tre, và những tấm dzèng. Nhà nào cũng muốn mang tất cả những lễ vật quý nhất để cúng thần linh. Sau khi mọi gia đình đã chuẩn bị xong, thời gian cả làng bắt đầu tiến hành lễ Aza đã đến, 1 chức sắc của làng thừa lệnh của trưởng làng đánh lên những tiếng kẻng báo hiệu: thời khắc lễ Aza đã đến. Ngày xưa, người ta dùng trống da dê hoặc mõ tre để đánh báo hiệu, khi đó, người dân trong làng còn ít và họ luôn ở quanh nhà trưởng làng. Nhưng ngày nay thì người làng đã đông hơn và đến ở những chỗ xa hơn, vì vậy, phải dùng kẻng thì mới báo hiệu được. Sau tiếng kẻng ngân vang, người người nhà nhà trong làng thắp hương, đốt đèn và bắt đầu cúng thần linh. Các thần linh được cúng trong lễ Aza gồm có: Giàng Tro - giống như Thần Nông của người dân tộc Kinh, đại diện cho cây trồng; Giàng Panuôn - thần Buôn bán; Giàng Pơnanh - thần Chăn nuôi, đại diện cho gia súc; Giàng Sưtarinh - Thần Đất, đại diện thời tiết và đất đai. Bên cạnh đó, mỗi gia đình, mỗi dòng họ có giàng riêng của mình cũng được cúng trong dịp này. Khi cúng các giàng, đồng bào Pacô muốn tạ ơn các giàng đã ban phát phúc lành, tạo nên những mùa màng ấm no, đồng thời, cũng mong muốn các giàng giúp đỡ trong năm mới phát đạt cho gia đình, cho dòng họ và cho cây cỏ tốt tươi. Xung quanh không gian thực hiện lễ Aza, những tấm dzèng được treo tạo thành 1 gian hành lễ. Tuỳ vào mỗi một gia đình mà cách treo các tấm dzèng sẽ khác nhau. Treo xung quanh cũng có, bên trên cũng có. Lễ vật được bày la liệt. Nhà nào có điều kiện thì lễ vật nhiều hơn và quý hơn. Cũng giống như bánh chưng, bánh tét trong dịp Tết Nguyên Đán của đồng bào dưới xuôi, aquat - 1 loại bánh nếp không nhuỵ của bà con Pacô, là loại bánh không thể không có và được đặt trên bàn lễ rất trang trọng. Ở từng lễ vật, những cành hoa tre - tânghọt, màu trắng được cắm lên trên. Trong khi tạ ơn các giàng, tên các giàng được và những lời tri ân năm cũ, cầu mong năm mới được người trong nhà nói to và liên tục ba lần. Đến khi nào hết tất cả các giàng được cúng thì mới thôi. Không chỉ cúng các giàng, có nhà còn cúng cả con ma ngoài đường, ngoài rừng. Với họ, những con ma không còn là nỗi sợ hãi như thời xưa nữa mà nó cũng là một phần của đất trời. Vì vậy, khi cúng Aza thì cũng giành cho những con ma ấy những phần bánh, phần cơm hay miếng thịt, con gà … Những gì dành cúng con ma thì sẽ được đổ đi. Có nhà lại sợ linh hồn của người thân chưa về kịp với tết cơm mới nên ra trước sân nhà khấn cầu những người thân mau về ăn tết cơm mới. Khi đó, họ cũng xướng tên của người thân thật nhiều lần để người thân có thể nghe được. Một nghi lễ trong Tết Cơm Mới ( Lễ Aza ) tại Thừa Thiên Huế Sau khi tổ chức cúng giàng ở trong nhà xong, nhà nào cũng sẽ lấy 1 phần lễ vật mang đến nhà sinh hoạt cộng đồng để góp lễ chung vui với mọi người ở trong làng. Đồng thời cũng tổ chức cúng giàng chung của cả làng. Đó là các vị thần bảo hộ cho làng và cho những người thành lập làng. Điều này tương tự đồng bào dân tộc Kinh tổ chức lễ Thu tế để tưởng nhớ thành hoàng của làng vậy. Trước đây, khi chưa có nhà sinh hoạt cộng đồng, thì phần lễ vật giành cho làng sẽ được mang đến nhà của trưởng làng để cùng chung vui. Từ khi có nhà sinh hoạt cộng đồng, thì hoạt động này được tổ chức tại đây. Điều này cũng mang lại sự tiện lợi cho bà con ở trong làng. Đó là tránh được mưa và có một không gian rộng hơn để mọi người tham gia. Nhà nào cũng muốn giành những lễ vật ngon nhất. Tất cả đều được bày ra giữa nhà sinh hoạt cộng đồng. Nhà thì mang bánh aquat, nhà thì mang xôi, mang gà, nhà thì mang heo đến. Có một thứ không thể thiếu đó là hũ rượu cần. Sau khi các gia đình trong làng đã tề tựu đến nhà sinh hoạt cộng đồng đông đủ, trưởng làng báo hiệu, bà con trong làng bắt đầu khấn nguyện sự yên bình, hoà hợp và no ấm cho làng. Sau đó, cũng giống như ở mỗi nhà, ai cũng cầm hoa tre ném lên trần nhà sinh hoạt cộng đồng và vui cười. Điều này thể hiện Aza đã hoàn thành xong. Hình ảnh Tết Cơm Mới ( Lễ Aza ) trong nhà sinh hoạt cộng đồng Sau khi tổ chức cúng giàng chung của làng xong, trưởng làng đánh chiêng báo hiệu sự mừng vui của làng cho một mùa mới, một năm mới bắt đầu. Trưởng làng đánh chiêng trong sự hoà điệu và sự hoà nhịp bởi tiếng trống da dê của một thanh niên khác. Điều này thể hiện sự chuyển giao trời đất và sự tiếp nối qua thời gian các truyền thống của làng. Vừa dứt giai điệu chiêng - trống ngân vang ấy, những nam thanh nữ tú trong làng bắt đầu đi vòng quanh nơi cúng giàng của làng và múa điệu pơchiêngcoon. Đây là một điệu múa đầu tiên trong lễ Aza của đồng bào Pacô. Sau đó, để tái hiện lại công việc nương rẫy của mùa đã qua, các cô gái trong làng sẽ lại múa điệu tuốt lúa. Mặt khác điệu múa ấy cũng thể hiện mong muốn một mùa rẫy mới bội thu./. lehoi.info tổng hợp

(lehoi.info) - Tết Cơm Mới (lễ Aza) được tổ chức tại Huyện A Lưới, đánh dấu thời điểm kết thúc của 1 năm làm việc cũ và mở ra 1 năm làm việc mới. Thời gian tiến hành tết cơm mới(lễ Aza) của mỗi làng có khác nhau vì ngày tổ chức là do làng quyết định, tuy nhiên, Aza của tất cả các làng đều sẽ được tổ chức trong tháng 10 âm lịch. Nếu ngày đã chọn vẫn chưa tổ chức được lễ Aza thì làng sẽ tổ chức lễ sau đó 18 ngày. Đặc sắc Tết Cơm Mới ( Lễ Aza ) Trước ngày tổ chức lễ Aza, người dân Pacô lên nương hoặc ra những mảnh ruộng của mình để tuốt những gốc rạ còn sót lại. Đó chính là sự tri ân cây lúa bởi lẽ, cây lúa đã mang lại cái bụng no cho dân làng nơi đây với những chén cơm trắng, những cái bánh aquat thơm dẻo. Từ tối ngày mùng 5 đến sáng ngày mùng 6, người làng Đụt đã chuẩn bị sẵn những lễ vật để cúng Aza. Nào cơm trắng, bánh aquat, xôi, nào gà, vịt, heo, dê. Ngoài ra, lễ vật còn có một thứ hết sức linh thiêng và không thể thiếu để thực hiện một nghi lễ trong quá trình tổ chức Aza đó là tânghọt - một loại hoa được làm từ tre, và những tấm dzèng. Nhà nào cũng muốn mang tất cả những lễ vật quý nhất để cúng thần linh. Sau khi mọi gia đình đã chuẩn bị xong, thời gian cả làng bắt đầu tiến hành lễ Aza đã đến, 1 chức sắc của làng thừa lệnh của trưởng làng đánh lên những tiếng kẻng báo hiệu: thời khắc lễ Aza đã đến. Ngày xưa, người ta dùng trống da dê hoặc mõ tre để đánh báo hiệu, khi đó, người dân trong làng còn ít và họ luôn ở quanh nhà trưởng làng. Nhưng ngày nay thì người làng đã đông hơn và đến ở những chỗ xa hơn, vì vậy, phải dùng kẻng thì mới báo hiệu được. Sau tiếng kẻng ngân vang, người người nhà nhà trong làng thắp hương, đốt đèn và bắt đầu cúng thần linh. Các thần linh được cúng trong lễ Aza gồm có: Giàng Tro - giống như Thần Nông của người dân tộc Kinh, đại diện cho cây trồng; Giàng Panuôn - thần Buôn bán; Giàng Pơnanh - thần Chăn nuôi, đại diện cho gia súc; Giàng Sưtarinh - Thần Đất, đại diện thời tiết và đất đai. Bên cạnh đó, mỗi gia đình, mỗi dòng họ có giàng riêng của mình cũng được cúng trong dịp này. Khi cúng các giàng, đồng bào Pacô muốn tạ ơn các giàng đã ban phát phúc lành, tạo nên những mùa màng ấm no, đồng thời, cũng mong muốn các giàng giúp đỡ trong năm mới phát đạt cho gia đình, cho dòng họ và cho cây cỏ tốt tươi. Xung quanh không gian thực hiện lễ Aza, những tấm dzèng được treo tạo thành 1 gian hành lễ. Tuỳ vào mỗi một gia đình mà cách treo các tấm dzèng sẽ khác nhau. Treo xung quanh cũng có, bên trên cũng có. Lễ vật được bày la liệt. Nhà nào có điều kiện thì lễ vật nhiều hơn và quý hơn. Cũng giống như bánh chưng, bánh tét trong dịp Tết Nguyên Đán của đồng bào dưới xuôi, aquat - 1 loại bánh nếp không nhuỵ của bà con Pacô, là loại bánh không thể không có và được đặt trên bàn lễ rất trang trọng. Ở từng lễ vật, những cành hoa tre - tânghọt, màu trắng được cắm lên trên. Trong khi tạ ơn các giàng, tên các giàng được và những lời tri ân năm cũ, cầu mong năm mới được người trong nhà nói to và liên tục ba lần. Đến khi nào hết tất cả các giàng được cúng thì mới thôi. Không chỉ cúng các giàng, có nhà còn cúng cả con ma ngoài đường, ngoài rừng. Với họ, những con ma không còn là nỗi sợ hãi như thời xưa nữa mà nó cũng là một phần của đất trời. Vì vậy, khi cúng Aza thì cũng giành cho những con ma ấy những phần bánh, phần cơm hay miếng thịt, con gà … Những gì dành cúng con ma thì sẽ được đổ đi. Có nhà lại sợ linh hồn của người thân chưa về kịp với tết cơm mới nên ra trước sân nhà khấn cầu những người thân mau về ăn tết cơm mới. Khi đó, họ cũng xướng tên của người thân thật nhiều lần để người thân có thể nghe được. Một nghi lễ trong Tết Cơm Mới ( Lễ Aza ) tại Thừa Thiên Huế Sau khi tổ chức cúng giàng ở trong nhà xong, nhà nào cũng sẽ lấy 1 phần lễ vật mang đến nhà sinh hoạt cộng đồng để góp lễ chung vui với mọi người ở trong làng. Đồng thời cũng tổ chức cúng giàng chung của cả làng. Đó là các vị thần bảo hộ cho làng và cho những người thành lập làng. Điều này tương tự đồng bào dân tộc Kinh tổ chức lễ Thu tế để tưởng nhớ thành hoàng của làng vậy. Trước đây, khi chưa có nhà sinh hoạt cộng đồng, thì phần lễ vật giành cho làng sẽ được mang đến nhà của trưởng làng để cùng chung vui. Từ khi có nhà sinh hoạt cộng đồng, thì hoạt động này được tổ chức tại đây. Điều này cũng mang lại sự tiện lợi cho bà con ở trong làng. Đó là tránh được mưa và có một không gian rộng hơn để mọi người tham gia. Nhà nào cũng muốn giành những lễ vật ngon nhất. Tất cả đều được bày ra giữa nhà sinh hoạt cộng đồng. Nhà thì mang bánh aquat, nhà thì mang xôi, mang gà, nhà thì mang heo đến. Có một thứ không thể thiếu đó là hũ rượu cần. Sau khi các gia đình trong làng đã tề tựu đến nhà sinh hoạt cộng đồng đông đủ, trưởng làng báo hiệu, bà con trong làng bắt đầu khấn nguyện sự yên bình, hoà hợp và no ấm cho làng. Sau đó, cũng giống như ở mỗi nhà, ai cũng cầm hoa tre ném lên trần nhà sinh hoạt cộng đồng và vui cười. Điều này thể hiện Aza đã hoàn thành xong. Hình ảnh Tết Cơm Mới ( Lễ Aza ) trong nhà sinh hoạt cộng đồng Sau khi tổ chức cúng giàng chung của làng xong, trưởng làng đánh chiêng báo hiệu sự mừng vui của làng cho một mùa mới, một năm mới bắt đầu. Trưởng làng đánh chiêng trong sự hoà điệu và sự hoà nhịp bởi tiếng trống da dê của một thanh niên khác. Điều này thể hiện sự chuyển giao trời đất và sự tiếp nối qua thời gian các truyền thống của làng. Vừa dứt giai điệu chiêng - trống ngân vang ấy, những nam thanh nữ tú trong làng bắt đầu đi vòng quanh nơi cúng giàng của làng và múa điệu pơchiêngcoon. Đây là một điệu múa đầu tiên trong lễ Aza của đồng bào Pacô. Sau đó, để tái hiện lại công việc nương rẫy của mùa đã qua, các cô gái trong làng sẽ lại múa điệu tuốt lúa. Mặt khác điệu múa ấy cũng thể hiện mong muốn một mùa rẫy mới bội thu./. lehoi.info tổng hợp

Đặc sắc Tết Cơm Mới ( Lễ Aza )

Một nghi lễ trong Tết Cơm Mới ( Lễ Aza ) tại Thừa Thiên Huế

Hình ảnh Tết Cơm Mới ( Lễ Aza ) trong nhà sinh hoạt cộng đồng

Related Figures

Lễ Tịch Điền

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/5- 30/5 Âm lịch Lễ Tịch Điền thường được tổ chức vào tháng 5 âm lịch, gọi là tháng trọng xuân. Ngày, giờ cử hành được bộ Lễ xem xét rất cẩn thận và tâu lên vua chuẩn định ngay từ cuối tháng 4. Hình ảnh khai hội Tịch Điền Lễ Tịch Điền là lễ mà nhà vua đích thân cày ruộng nhằm khuyến khích dân chúng chăm lo cho việc cấy cày, phát triển nông nghiệp. Vua Minh Mạng đã từng xuống Dụ coi việc này “thực là chính sự quan trọng của đấng vương giả”. Xem xét nghi thức cử hành đại lễ này dưới triều đại Trần, triều đại Lê thuở trước, vua Minh Mạng cho rằng “nghi lễ phàn nhiều giản lược”, do đó vào năm 1828, nhà vua đã giao cho bộ Lễ soạn thảo chu đáo các điển lễ làm thành một luật lệ lâu dài. Ruộng Tịch Điền dưới thời vua Gia Long được đặt ở 2 phường Hòa Thái và Ngưỡng Trị trong Kinh thành, đến năm 1828 nhận thấy nơi đây là chổ đất thấp trũng, vua Minh Mạng đã ra lệnh chuyển về 2 phường An Trạch và phường Hậu Sinh. Trước ngày lễ 5 ngày, các nhân viên, kỳ lão nông phu, ca sinh…phải có mặt đầy đủ ở tại sở ruộng Tịch Điền dưới sự điều khiển của quan viên bộ Lễ. Trước đó 1 ngày, quan phủ Thừa Thiên sẽ phái thuộc hạ đến Võ Khố nhận roi, nhận cày cùng thóc, thúng và những vật dụng khác, sau đó cung nghinh tới án vàng trước thềm điện Cần Chánh, báo cáo cho bộ Hộ rõ để bộ này tâu “rước vua thân hành duyệt đồ cày”. Duyệt xong, toàn bộ các vật dụng sẽ được chuyển đến sở ruộng. Cũng như ngày hôm đó, nhà vua đến cung Khánh Ninh để chuẩn bị cho việc làm chủ lễ vào rạng sáng ngày hôm sau. Bộ lễ cùng với phủ Nội Vụ và Võ Khố phối hợp với nhau xắp xếp đồ thờ, bàn thờ, bố trí chổ vua nghỉ bên phía trái đàn Tiên Nông là nơi diễn ra nghi lễ chính. Chúc văn được đưa tới án thờ trong đàn sở, cùng lúc này các nhân viên cũng đều phải có mặt để diễn tập nghi tiết. Binh lính và voi hầu dàn chầu ở bên ngoài vòng tường bao quanh. Đêm hôm ấy, toàn bộ tế phẩm sẽ được xắp đặt đầy đủ; tám viên chánh, phó Vệ úy, Vệ Cẩm Y mang gươm, cầm đuốc túc trực ở tại bốn cửa của đàn sở. Canh 5, 3 hồi trống gióng giả vang động 1 góc trời. Trâu đen, trâu vàng, kỳ lão nông phu đồng trang phục cùng cày, bừa mỗi loại 6 chiếc có mặt tại vị trí đã định. Ca sinh gồm có 14 người cất lên bài ca về lúa, cùng với 8 nhạc sinh, 30 người cầm cờ ngũ sắc dàn hàng 2 bên sở ruộng Tịch Điền. Người dân náo nức tham gia lễ hội Tịch điền Tại cung Khánh Ninh, sau khi nghe tiếng quan viên bộ Lễ tâu “Bên ngoài đã xong”, vua đội mũ cửu long, mặc áo hoàng bào và thắt đai ngọc lên ngồi ở ngai vàng. Thị vệ đưa kiệu đến cửa cung, mời vua lên và rước vua tới đàn sở. 7 tiếng trống lệnh nổ vang khi đạo ngự rời khỏi cửa cung. Ở 2 bên đường ngự đạo đi qua, bá quan văn võ và dân chúng đều phải quỳ lạy đón tiễn. Ngự đạo dừng lại ở phía đông của đàn sở, nhà vua sẽ vào ngự tọa tại nơi nghỉ dành riêng, tiếp chậu nước rửa tay; xong lên đàn tế, ở phía đông, mặt quay về hướng tây và làm lễ dâng rượu 3 tuần. Lễ xong, đại nhạc và tiểu nhạc cử lên rước vua đến điện Cụ Phục là nơi để nhà vua thay mũ cửu long, thay áo hoàng bào và nghỉ ngơi một lúc. Tại sở ruộng, mọi việc sẽ được bố trí lại lần cuối, thật nghiêm cẩn. 4 kỳ lão nông phu đỡ cày và dắt trâu. 2 viên đường quan bộ Hộ lo dâng tiến cày và gieo giống đứng ở bên hữu sở ruộng, quay mặt về hướng đông. Phủ doãn phủ Thừa Thiên bưng roi, thúng lúa đứng ở bên tả và quay mặt về phía tây. Khi nghe tiếng “Xin vua làm lễ ruộng”, nhà vua sẽ rời khỏi điện Cụ Phục, để đến chỗ ruộng cày, mặt hướng về phía nam. Một viên đường quan bộ Hộ sẽ dâng cày, Phủ doãn phủ Thừa Thiên sẽ dâng roi. Nhà vua tay phải cầm cày và tay trái cầm roi bắt đầu cày ruộng; phụ giúp sẽ có 2 kỳ lão nông phu dắt trâu và có 2 người đỡ cày. Viên Phủ doãn phủ Thừa Thiên bưng một thúng thóc, một viên đường quan bộ Hộ đi bên cạnh để gieo giống. Nhà vua cày 3 lượt, giữa tiếng nhạc trầm vang. Xong việc, bộ Lễ sẽ tâu rước vua đến đài Quan canh. Tiếp theo là lễ cày của các hoàng tử, thân công, quan viên văn võ và nông phu ở tại xã Phú Xuân. Các hoàng tử và thân công cày 5 lần, còn các quan viên văn võ cày 9 lần. Khi lễ xong thì tới trước đài lạy 5 lạy. Sau khi nghe nhân viên bộ Lễ quỳ tâu “ Lễ thành” nhà vua sẽ rời đài Quan Canh về điện Cụ Phục thay áo, thay mão rồi lên xe và trở về cung Khánh Ninh. Về tới điện, khi nhà vua đã an tọa trên ngai vàng và bắn 5 tiếng trống lệnh. Bá quan bày hàng ở phía trước sân cung, khi nghe tiếng “Lễ cày ruộng tịch đã thành xin làm lễ mừng” thì đồng quỳ lạy năm lạy. Sau đó, phủ doãn phủ Thừa Thiên lĩnh vải thưởng cho các kỳ lão nông phu (hạng 1 (8 người) được 4 tấm vải mỗi người; hạng 2 (66 người) được 3 tấm vải 6mỗi người). Sau đó, toàn thể sẽ được nhà vua ban cho ăn yến một bữa. Tái hiện nghi thức vua đi cày tại lễ hội Sau lễ, các hạng trâu (đen và vàng) chuyển cho phủ Thừa Thiên tiếp nhận rồi giao cho nông phu ở xã Phú Xuân chăm nuôi. Còn roi, cày, thúng và thóc thì giao cho Võ Khố cất giữ. Lúa gieo ở ruộng Tịch Điền giao cho nông phu tại xã Phú Xuân chăm bón, đến mùa lúa chín thì thu hoạch dưới sự quản lý của quan phủ. Phủ Thừa Thiên phối hợp với bộ Hộ lựa chọn số lúa lúa này sẽ dùng làm giống gieo cho mùa cày năm sau, nếu còn thừa thì trữ lại đem xay để cúng tế trong lễ tế trời ở đàn Nam Giao và ở các miếu.

Lễ Tịch Điền thường được tổ chức vào tháng 5 âm lịch, gọi là tháng trọng xuân. Ngày, giờ cử hành được bộ Lễ xem xét rất cẩn thận và tâu lên vua chuẩn định ngay từ cuối tháng 4. Hình ảnh khai hội Tịch Điền Lễ Tịch Điền là lễ mà nhà vua đích thân cày ruộng nhằm khuyến khích dân chúng chăm lo cho việc cấy cày, phát triển nông nghiệp. Vua Minh Mạng đã từng xuống Dụ coi việc này “thực là chính sự quan trọng của đấng vương giả”. Xem xét nghi thức cử hành đại lễ này dưới triều đại Trần, triều đại Lê thuở trước, vua Minh Mạng cho rằng “nghi lễ phàn nhiều giản lược”, do đó vào năm 1828, nhà vua đã giao cho bộ Lễ soạn thảo chu đáo các điển lễ làm thành một luật lệ lâu dài. Ruộng Tịch Điền dưới thời vua Gia Long được đặt ở 2 phường Hòa Thái và Ngưỡng Trị trong Kinh thành, đến năm 1828 nhận thấy nơi đây là chổ đất thấp trũng, vua Minh Mạng đã ra lệnh chuyển về 2 phường An Trạch và phường Hậu Sinh. Trước ngày lễ 5 ngày, các nhân viên, kỳ lão nông phu, ca sinh…phải có mặt đầy đủ ở tại sở ruộng Tịch Điền dưới sự điều khiển của quan viên bộ Lễ. Trước đó 1 ngày, quan phủ Thừa Thiên sẽ phái thuộc hạ đến Võ Khố nhận roi, nhận cày cùng thóc, thúng và những vật dụng khác, sau đó cung nghinh tới án vàng trước thềm điện Cần Chánh, báo cáo cho bộ Hộ rõ để bộ này tâu “rước vua thân hành duyệt đồ cày”. Duyệt xong, toàn bộ các vật dụng sẽ được chuyển đến sở ruộng. Cũng như ngày hôm đó, nhà vua đến cung Khánh Ninh để chuẩn bị cho việc làm chủ lễ vào rạng sáng ngày hôm sau. Bộ lễ cùng với phủ Nội Vụ và Võ Khố phối hợp với nhau xắp xếp đồ thờ, bàn thờ, bố trí chổ vua nghỉ bên phía trái đàn Tiên Nông là nơi diễn ra nghi lễ chính. Chúc văn được đưa tới án thờ trong đàn sở, cùng lúc này các nhân viên cũng đều phải có mặt để diễn tập nghi tiết. Binh lính và voi hầu dàn chầu ở bên ngoài vòng tường bao quanh. Đêm hôm ấy, toàn bộ tế phẩm sẽ được xắp đặt đầy đủ; tám viên chánh, phó Vệ úy, Vệ Cẩm Y mang gươm, cầm đuốc túc trực ở tại bốn cửa của đàn sở. Canh 5, 3 hồi trống gióng giả vang động 1 góc trời. Trâu đen, trâu vàng, kỳ lão nông phu đồng trang phục cùng cày, bừa mỗi loại 6 chiếc có mặt tại vị trí đã định. Ca sinh gồm có 14 người cất lên bài ca về lúa, cùng với 8 nhạc sinh, 30 người cầm cờ ngũ sắc dàn hàng 2 bên sở ruộng Tịch Điền. Người dân náo nức tham gia lễ hội Tịch điền Tại cung Khánh Ninh, sau khi nghe tiếng quan viên bộ Lễ tâu “Bên ngoài đã xong”, vua đội mũ cửu long, mặc áo hoàng bào và thắt đai ngọc lên ngồi ở ngai vàng. Thị vệ đưa kiệu đến cửa cung, mời vua lên và rước vua tới đàn sở. 7 tiếng trống lệnh nổ vang khi đạo ngự rời khỏi cửa cung. Ở 2 bên đường ngự đạo đi qua, bá quan văn võ và dân chúng đều phải quỳ lạy đón tiễn. Ngự đạo dừng lại ở phía đông của đàn sở, nhà vua sẽ vào ngự tọa tại nơi nghỉ dành riêng, tiếp chậu nước rửa tay; xong lên đàn tế, ở phía đông, mặt quay về hướng tây và làm lễ dâng rượu 3 tuần. Lễ xong, đại nhạc và tiểu nhạc cử lên rước vua đến điện Cụ Phục là nơi để nhà vua thay mũ cửu long, thay áo hoàng bào và nghỉ ngơi một lúc. Tại sở ruộng, mọi việc sẽ được bố trí lại lần cuối, thật nghiêm cẩn. 4 kỳ lão nông phu đỡ cày và dắt trâu. 2 viên đường quan bộ Hộ lo dâng tiến cày và gieo giống đứng ở bên hữu sở ruộng, quay mặt về hướng đông. Phủ doãn phủ Thừa Thiên bưng roi, thúng lúa đứng ở bên tả và quay mặt về phía tây. Khi nghe tiếng “Xin vua làm lễ ruộng”, nhà vua sẽ rời khỏi điện Cụ Phục, để đến chỗ ruộng cày, mặt hướng về phía nam. Một viên đường quan bộ Hộ sẽ dâng cày, Phủ doãn phủ Thừa Thiên sẽ dâng roi. Nhà vua tay phải cầm cày và tay trái cầm roi bắt đầu cày ruộng; phụ giúp sẽ có 2 kỳ lão nông phu dắt trâu và có 2 người đỡ cày. Viên Phủ doãn phủ Thừa Thiên bưng một thúng thóc, một viên đường quan bộ Hộ đi bên cạnh để gieo giống. Nhà vua cày 3 lượt, giữa tiếng nhạc trầm vang. Xong việc, bộ Lễ sẽ tâu rước vua đến đài Quan canh. Tiếp theo là lễ cày của các hoàng tử, thân công, quan viên văn võ và nông phu ở tại xã Phú Xuân. Các hoàng tử và thân công cày 5 lần, còn các quan viên văn võ cày 9 lần. Khi lễ xong thì tới trước đài lạy 5 lạy. Sau khi nghe nhân viên bộ Lễ quỳ tâu “ Lễ thành” nhà vua sẽ rời đài Quan Canh về điện Cụ Phục thay áo, thay mão rồi lên xe và trở về cung Khánh Ninh. Về tới điện, khi nhà vua đã an tọa trên ngai vàng và bắn 5 tiếng trống lệnh. Bá quan bày hàng ở phía trước sân cung, khi nghe tiếng “Lễ cày ruộng tịch đã thành xin làm lễ mừng” thì đồng quỳ lạy năm lạy. Sau đó, phủ doãn phủ Thừa Thiên lĩnh vải thưởng cho các kỳ lão nông phu (hạng 1 (8 người) được 4 tấm vải mỗi người; hạng 2 (66 người) được 3 tấm vải 6mỗi người). Sau đó, toàn thể sẽ được nhà vua ban cho ăn yến một bữa. Tái hiện nghi thức vua đi cày tại lễ hội Sau lễ, các hạng trâu (đen và vàng) chuyển cho phủ Thừa Thiên tiếp nhận rồi giao cho nông phu ở xã Phú Xuân chăm nuôi. Còn roi, cày, thúng và thóc thì giao cho Võ Khố cất giữ. Lúa gieo ở ruộng Tịch Điền giao cho nông phu tại xã Phú Xuân chăm bón, đến mùa lúa chín thì thu hoạch dưới sự quản lý của quan phủ. Phủ Thừa Thiên phối hợp với bộ Hộ lựa chọn số lúa lúa này sẽ dùng làm giống gieo cho mùa cày năm sau, nếu còn thừa thì trữ lại đem xay để cúng tế trong lễ tế trời ở đàn Nam Giao và ở các miếu.

Related Figures

Lễ hội làng Chuồn

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/7- 17/7 Âm lịch (lehoi.info) - Lễ hội Làng Chuồn được tổ chức vào các ngày 15, ngày 16 và ngày 17 tháng 7 âm lịch, tại xã Phú An, Phú Vang, Thừa Thiên Huyế là một lễ hội còn giữ được rất nhiều nét văn hóa cổ truyền. Mái đình Làng Chuồn Theo như văn tế làng Chuồn , 3 họ tộc đầu tiên đã có công khai canh làng, sẽ được tôn làm Thành hoàng là họ Hồ, họ Nguyễn và họ Đoàn. Ngài Hồ Quảng Lãnh, được dân làng trọng vọng và gọi là Hồ Quý Công, sắc phong Nhật báo Trung Hưng Linh Phò Đoan Quốc Công tôn thần. 1 truyền thuyết khác liên hệ đến Thành hoàng làng: trong một buổi sấm sét, có 2 vị thiên thần, giáp trụ sáng loáng, mang gươm giáo từ trên trời bay xuống, cùng nhau đấu chiến trên nò, sáo, dân làng thấy vậy thì hoảng sợ nhưng chưa dám ra. Một lúc sau, cả 2 đều biến mất. Dân làng đã lập miếu thờ và tin rằng họ đã được hai vị thần bảo trợ. Lễ Thu Tế của làng được tổ chức trong vòng 3 ngày: ngày 15, ngày 16 và ngày 17 tháng 7 âm lịch. Ngày 17 tháng 7 là ngày chính tế. Ngày 15 tháng 7 làm lễ trần thiết và cúng rằm, sáng sớm ngày 16 tháng 7 làm lễ rước cung nghinh các bài vị Thành Hoàng về Tổ Đình, sau đó là lễ an vị kế hành túc yết. Ngày 17 tháng 7, vào đúng 2 giờ sáng làm lễ Chánh Tế; vào 5 giờ sáng làm lễ tiến cung nghinh, cúng bia bạc. Hàng năm các nghi lễ ấy vẫn được dân làng tiến hành một cách nghiêm túc và trang trọng. Lễ rước cung nghinh các bài vị Thành Hoàng về Tổ Ðình Lễ hội Làng Chuồn có những đặc điểm nổi bật so với các lễ Tế ở những nơi khác. Lễ rước cung nghinh 3 vị Thành Hoàng thờ ở Miễu giữa đồng (được gọi là đồng Miễu) được cử hành rất đẹp mắt và rất trọng thể. Đám rước có đủ cờ xí, lỗ bộ và kiệu lọng. Có tất cả ba kiệu rước, sắp đặt cách xa nhau và đều nhau, có cả âm nhạc véo von nhịp nhàng. Đặc sắc của đám rước này là mỗi năm dân làng lại thay đổi linh vật, hoặc vật thờ cúng được đan bện, trang hoàng kỳ công, khi thì 2 con chim hạc, khi thì cá hóa rồng, lại có lúc là cả một bộ tam sự gồm lư trầm và 2 độc bình. Những nghệ nhân tài giỏi trong làng xem công việc trang hoàng cho đám rước là bổn phận thiêng liêng để họ góp công sức, tài năng nghệ thuật của mình, cho nên các linh vật và lễ vật đã được kiến tạo rất tỉ mỉ và công phu. Lễ rước làng Chuồn Gần cuối đám rước, sau đồ lỗ bộ và kiệu là một đoàn hát Thài. Thài là một điệu hát chỉ dành riêng cho lễ cung nghinh. Đám hát Thài gồm có khoảng 20 người, mặc lễ phục dân tộc. Một vị bô lão sẽ xướng một câu thài có 4 chữ, đam thài đọc theo, câu này tiếp câu khác, giọng ngân nga, trầm bổng và trang nghiêm. Hát thài trong đám rước cung nghinh ở làng Chuồn là một lễ tục hiếm có còn sót lại trong các đám rước Thành Hoàng ở tỉnh Thừa Thiên Huế. Đám rước đầy màu sắc rực rỡ: màu của lễ phục cổ truyền, màu của cờ xí đủ cỡ, đủ loại, màu của kiệu lọng thắm tươi, màu của các loại áo lính vàng đỏ, phản chiếu trên mặt nước hai bên bờ đê khi trời vừa hừng sáng. Quãng đường đám rước di chuyển từ Đồng Miễu đến Đình làng xa hơn 1 km, đủ khoảng không gian thênh thang cho đám rước phô bày vẻ rộn ràng và đầy màu sắc. Đám rước đi thật chậm di chuyển từng bước qua các cổng chào của các thôn xóm ở trong làng. Trước mỗi cổng kết hoa là một bàn hương án nghi ngút khói hương trầm. Khi đám rước đến trước Đình, pháo nổ tưng bừng chào đón. Đoàn Tư văn cúi rạp người để làm lễ. Trong lễ Chánh tế, bộ phận nghi lễ thi hành đúng quy cách cổ truyền do Thượng thư Hồ Đắc Trung truyền dạy lại. Nghi thức nghiêm trang của Khổng giáo đã thâm nhập từ cung đình đến dân gian. Tên làng Chuồn là cách nói tiếng Nôm của làng An Truyền, là một ngôi làng cổ có lịch sử hơn 600 năm. Làng cách Huế khoảng 10 cây số theo hướng đông bắc, gần phá Tam Giang./. lehoi.info tổng hợp

(lehoi.info) - Lễ hội Làng Chuồn được tổ chức vào các ngày 15, ngày 16 và ngày 17 tháng 7 âm lịch, tại xã Phú An, Phú Vang, Thừa Thiên Huyế là một lễ hội còn giữ được rất nhiều nét văn hóa cổ truyền.

Mái đình Làng Chuồn Theo như văn tế làng Chuồn , 3 họ tộc đầu tiên đã có công khai canh làng, sẽ được tôn làm Thành hoàng là họ Hồ, họ Nguyễn và họ Đoàn. Ngài Hồ Quảng Lãnh, được dân làng trọng vọng và gọi là Hồ Quý Công, sắc phong Nhật báo Trung Hưng Linh Phò Đoan Quốc Công tôn thần. 1 truyền thuyết khác liên hệ đến Thành hoàng làng: trong một buổi sấm sét, có 2 vị thiên thần, giáp trụ sáng loáng, mang gươm giáo từ trên trời bay xuống, cùng nhau đấu chiến trên nò, sáo, dân làng thấy vậy thì hoảng sợ nhưng chưa dám ra. Một lúc sau, cả 2 đều biến mất. Dân làng đã lập miếu thờ và tin rằng họ đã được hai vị thần bảo trợ. Lễ Thu Tế của làng được tổ chức trong vòng 3 ngày: ngày 15, ngày 16 và ngày 17 tháng 7 âm lịch. Ngày 17 tháng 7 là ngày chính tế. Ngày 15 tháng 7 làm lễ trần thiết và cúng rằm, sáng sớm ngày 16 tháng 7 làm lễ rước cung nghinh các bài vị Thành Hoàng về Tổ Đình, sau đó là lễ an vị kế hành túc yết. Ngày 17 tháng 7, vào đúng 2 giờ sáng làm lễ Chánh Tế; vào 5 giờ sáng làm lễ tiến cung nghinh, cúng bia bạc. Hàng năm các nghi lễ ấy vẫn được dân làng tiến hành một cách nghiêm túc và trang trọng. Lễ rước cung nghinh các bài vị Thành Hoàng về Tổ Ðình Lễ hội Làng Chuồn có những đặc điểm nổi bật so với các lễ Tế ở những nơi khác. Lễ rước cung nghinh 3 vị Thành Hoàng thờ ở Miễu giữa đồng (được gọi là đồng Miễu) được cử hành rất đẹp mắt và rất trọng thể. Đám rước có đủ cờ xí, lỗ bộ và kiệu lọng. Có tất cả ba kiệu rước, sắp đặt cách xa nhau và đều nhau, có cả âm nhạc véo von nhịp nhàng. Đặc sắc của đám rước này là mỗi năm dân làng lại thay đổi linh vật, hoặc vật thờ cúng được đan bện, trang hoàng kỳ công, khi thì 2 con chim hạc, khi thì cá hóa rồng, lại có lúc là cả một bộ tam sự gồm lư trầm và 2 độc bình. Những nghệ nhân tài giỏi trong làng xem công việc trang hoàng cho đám rước là bổn phận thiêng liêng để họ góp công sức, tài năng nghệ thuật của mình, cho nên các linh vật và lễ vật đã được kiến tạo rất tỉ mỉ và công phu. Lễ rước làng Chuồn Gần cuối đám rước, sau đồ lỗ bộ và kiệu là một đoàn hát Thài. Thài là một điệu hát chỉ dành riêng cho lễ cung nghinh. Đám hát Thài gồm có khoảng 20 người, mặc lễ phục dân tộc. Một vị bô lão sẽ xướng một câu thài có 4 chữ, đam thài đọc theo, câu này tiếp câu khác, giọng ngân nga, trầm bổng và trang nghiêm. Hát thài trong đám rước cung nghinh ở làng Chuồn là một lễ tục hiếm có còn sót lại trong các đám rước Thành Hoàng ở tỉnh Thừa Thiên Huế. Đám rước đầy màu sắc rực rỡ: màu của lễ phục cổ truyền, màu của cờ xí đủ cỡ, đủ loại, màu của kiệu lọng thắm tươi, màu của các loại áo lính vàng đỏ, phản chiếu trên mặt nước hai bên bờ đê khi trời vừa hừng sáng. Quãng đường đám rước di chuyển từ Đồng Miễu đến Đình làng xa hơn 1 km, đủ khoảng không gian thênh thang cho đám rước phô bày vẻ rộn ràng và đầy màu sắc. Đám rước đi thật chậm di chuyển từng bước qua các cổng chào của các thôn xóm ở trong làng. Trước mỗi cổng kết hoa là một bàn hương án nghi ngút khói hương trầm. Khi đám rước đến trước Đình, pháo nổ tưng bừng chào đón. Đoàn Tư văn cúi rạp người để làm lễ. Trong lễ Chánh tế, bộ phận nghi lễ thi hành đúng quy cách cổ truyền do Thượng thư Hồ Đắc Trung truyền dạy lại. Nghi thức nghiêm trang của Khổng giáo đã thâm nhập từ cung đình đến dân gian. Tên làng Chuồn là cách nói tiếng Nôm của làng An Truyền, là một ngôi làng cổ có lịch sử hơn 600 năm. Làng cách Huế khoảng 10 cây số theo hướng đông bắc, gần phá Tam Giang./. lehoi.info tổng hợp

Related Figures

Lễ hội đền Huyền Trân

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 9/1 Âm lịch (lehoi.info) - Lễ hội đền Huyền Trân công chúa được tổ chức hàng năm vào ngày mùng 9 tháng 1 âm lịch, ở tại Trung tâm Văn hóa Huyền Trân, phường An Tây của thành phố Huế. Đây là 1 hoạt động thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta nhằm tri ân các bậc tiền nhân đã có công với dân, với nước trong việc mở mang bờ cõi. Khai hội đền Huyền Trân Công Chúa Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ 2 vào năm 1285, 2 vương triều Champa và Đại Việt đã kề vai sát cánh với nhau trên trận tuyến chống kẻ thù chung. Sự liên minh khắng khít đã làm cho thượng hoàng Trần Nhân Tông trong một chuyến vân du Chiêm Thành vào năm 1301 đã hứa gả công chúa út của mình cho vị vua ln bang trẻ tuổi có chí lớn. Lúc đó Huyền Trân khoảng 14 tuổi. 5 năm sau, khi Huyền Trân đã trưởng thành, sứ bộ đã đến kinh đô để xin định sính lễ. Triều đình Đại Việt phân vân, rốt cục vua Anh Tông đã quyết định thực hiện lời hứa của thượng hoàng, và công chúa Huyền Trân đã hy sinh tình riêng, vì dân tộc đã chấp nhận kết hôn cùng với Chế Mân. Sứ bộ đã dâng sính lễ trọng hậu đó là đất hai châu Ô, Lý (vùng đất Thuận Hóa - Phú xuân - Thừa Thiên Huế ngày nay) và rước công chúa Huyền Trân vu quy về Vijaya. vào tháng 7 năm 1306, đoàn hải thuyền vượt biển về Nam. Đến cửa Ô Long, đoàn thuyền đã ghé nghỉ. Xúc động vì sự xuất giá của em gái mình, vua Anh Tông đã cho đổi tên cửa biển này thành Tư Dung hải môn, để bày tỏ nỗi niềm của mình và nhắc nhở cho đời sau mãi mãi nhớ đến sự hi sinh vì nghĩa lớn của một nàng công chúa Việt Nam. Lễ hội đền Huyền Trân được tổ chức định kỳ hàng năm vào ngày mùng 9 tháng Giêng âm lịch - ngày giỗ của Công chúa Huyền Trân, với ý nghĩa tri ân công đức của Công chúa vì sự phát triển của nước Đại Việt. Đặc sắc lễ hội Đền Huyền Trân tại Thừa Thiên Huế Mở đầu cho chuỗi hoạt động của lễ hội này là Đại lễ cầu nguyện “Quốc thái dân an”, Ca múa nhạc Phật Giáo, Lễ Hội hoa đăng... Tiếp đến là lễ khai mạc với phần nghi lễ chính là dâng hương tại Điện Huyền Trân công chúa, đền thờ vua Trần Nhân Tông và vãng cảnh. Ngoài ra, trong khuôn khổ Lễ hội còn có tổ chức triển lãm, trưng bày và giới thiệu các mặt hàng thủ công mỹ nghệ của các làng nghề truyền thống ở Huế, như: đúc đồng Phường Đúc, gốm Phước Tích, chạm khắc Mỹ Xuyên, hương nhang Tự Đức, nón lá, mây tre đan Bao La, thổ cẩm A Lưới, đệm bàng Phò Trạch, sơn mài Huế và bánh kẹo Huế; các trò chơi dân gian và triển lãm thư pháp… Bên cạnh đó, còn có một số hoạt động dân gian như: cờ người, cờ tướng, võ thuật cổ truyền Vạn An, hò giã gạo, thư pháp, nghệ thuật ca múa, vẽ tranh thiếu nhi, vẽ chân dung, thi cắm hoa... cũng được tổ chức trong khuôn khổ của lễ hội. Lễ hội đền Huyền Trân Công Chúa Trung tâm Văn Hóa Huyền Trân là quần thể kiến trúc gồm có ngôi đền thờ Đức vua Trần Nhân Tông và ngôi đền thờ Huyền Trân Công Chúa rất nhiệm mầu tại thôn Ngũ Tây, phường An Tây, nằm cách đàn Nam Giao chừng khoảng 6 km về phía Tây nam của thành phố Huế. Tọa lạc trên đỉnh núi Ngũ Phong ở độ cao khoảng 108 mét là tháp chuông Hoà Bình với một quả chuông được đúc bằng đồng nguyên chất nặng 1,6 tấn và cao 2,16 mét. Giữa 4 bề mây núi giao hoà, tháp chuông Hòa Bình là nơi tịnh tâm của mọi du khách thập phương. Từ đây phóng tầm mắt xuống, du khách sẽ có được bức tranh toàn cảnh thiên nhiên như vẽ của thành phố Huế với sông Hương và núi Ngự. Năm mới du xuân cùng gióng một hồi chuông ngân xa, lan toả âm thanh tri giác vào thinh không vũ trụ để cầu nguyện cho thế giới được hoà bình và nhân loại được hạnh phúc. Lễ hội thu hút đông đảo người dân tham gia Việc mở hội Đền Huyền Trân ở Thừa Thiên Huế nhằm thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” tưởng nhớ, tôn vinh công chúa Huyền Trân và những bậc tiền nhân của dân tộc ta đã có công dựng nước và mở mang bờ cõi. Lễ hội thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân, bà con tăng ni phật tử, các chức sắc tôn giáo và mọi du khách gần xa về dự./. lehoi.info tổng hợp

(lehoi.info) - Lễ hội đền Huyền Trân công chúa được tổ chức hàng năm vào ngày mùng 9 tháng 1 âm lịch, ở tại Trung tâm Văn hóa Huyền Trân, phường An Tây của thành phố Huế. Đây là 1 hoạt động thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta nhằm tri ân các bậc tiền nhân đã có công với dân, với nước trong việc mở mang bờ cõi. Khai hội đền Huyền Trân Công Chúa Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ 2 vào năm 1285, 2 vương triều Champa và Đại Việt đã kề vai sát cánh với nhau trên trận tuyến chống kẻ thù chung. Sự liên minh khắng khít đã làm cho thượng hoàng Trần Nhân Tông trong một chuyến vân du Chiêm Thành vào năm 1301 đã hứa gả công chúa út của mình cho vị vua ln bang trẻ tuổi có chí lớn. Lúc đó Huyền Trân khoảng 14 tuổi. 5 năm sau, khi Huyền Trân đã trưởng thành, sứ bộ đã đến kinh đô để xin định sính lễ. Triều đình Đại Việt phân vân, rốt cục vua Anh Tông đã quyết định thực hiện lời hứa của thượng hoàng, và công chúa Huyền Trân đã hy sinh tình riêng, vì dân tộc đã chấp nhận kết hôn cùng với Chế Mân. Sứ bộ đã dâng sính lễ trọng hậu đó là đất hai châu Ô, Lý (vùng đất Thuận Hóa - Phú xuân - Thừa Thiên Huế ngày nay) và rước công chúa Huyền Trân vu quy về Vijaya. vào tháng 7 năm 1306, đoàn hải thuyền vượt biển về Nam. Đến cửa Ô Long, đoàn thuyền đã ghé nghỉ. Xúc động vì sự xuất giá của em gái mình, vua Anh Tông đã cho đổi tên cửa biển này thành Tư Dung hải môn, để bày tỏ nỗi niềm của mình và nhắc nhở cho đời sau mãi mãi nhớ đến sự hi sinh vì nghĩa lớn của một nàng công chúa Việt Nam. Lễ hội đền Huyền Trân được tổ chức định kỳ hàng năm vào ngày mùng 9 tháng Giêng âm lịch - ngày giỗ của Công chúa Huyền Trân, với ý nghĩa tri ân công đức của Công chúa vì sự phát triển của nước Đại Việt. Đặc sắc lễ hội Đền Huyền Trân tại Thừa Thiên Huế Mở đầu cho chuỗi hoạt động của lễ hội này là Đại lễ cầu nguyện “Quốc thái dân an”, Ca múa nhạc Phật Giáo, Lễ Hội hoa đăng... Tiếp đến là lễ khai mạc với phần nghi lễ chính là dâng hương tại Điện Huyền Trân công chúa, đền thờ vua Trần Nhân Tông và vãng cảnh. Ngoài ra, trong khuôn khổ Lễ hội còn có tổ chức triển lãm, trưng bày và giới thiệu các mặt hàng thủ công mỹ nghệ của các làng nghề truyền thống ở Huế, như: đúc đồng Phường Đúc, gốm Phước Tích, chạm khắc Mỹ Xuyên, hương nhang Tự Đức, nón lá, mây tre đan Bao La, thổ cẩm A Lưới, đệm bàng Phò Trạch, sơn mài Huế và bánh kẹo Huế; các trò chơi dân gian và triển lãm thư pháp… Bên cạnh đó, còn có một số hoạt động dân gian như: cờ người, cờ tướng, võ thuật cổ truyền Vạn An, hò giã gạo, thư pháp, nghệ thuật ca múa, vẽ tranh thiếu nhi, vẽ chân dung, thi cắm hoa... cũng được tổ chức trong khuôn khổ của lễ hội. Lễ hội đền Huyền Trân Công Chúa Trung tâm Văn Hóa Huyền Trân là quần thể kiến trúc gồm có ngôi đền thờ Đức vua Trần Nhân Tông và ngôi đền thờ Huyền Trân Công Chúa rất nhiệm mầu tại thôn Ngũ Tây, phường An Tây, nằm cách đàn Nam Giao chừng khoảng 6 km về phía Tây nam của thành phố Huế. Tọa lạc trên đỉnh núi Ngũ Phong ở độ cao khoảng 108 mét là tháp chuông Hoà Bình với một quả chuông được đúc bằng đồng nguyên chất nặng 1,6 tấn và cao 2,16 mét. Giữa 4 bề mây núi giao hoà, tháp chuông Hòa Bình là nơi tịnh tâm của mọi du khách thập phương. Từ đây phóng tầm mắt xuống, du khách sẽ có được bức tranh toàn cảnh thiên nhiên như vẽ của thành phố Huế với sông Hương và núi Ngự. Năm mới du xuân cùng gióng một hồi chuông ngân xa, lan toả âm thanh tri giác vào thinh không vũ trụ để cầu nguyện cho thế giới được hoà bình và nhân loại được hạnh phúc. Lễ hội thu hút đông đảo người dân tham gia Việc mở hội Đền Huyền Trân ở Thừa Thiên Huế nhằm thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” tưởng nhớ, tôn vinh công chúa Huyền Trân và những bậc tiền nhân của dân tộc ta đã có công dựng nước và mở mang bờ cõi. Lễ hội thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân, bà con tăng ni phật tử, các chức sắc tôn giáo và mọi du khách gần xa về dự./. lehoi.info tổng hợp

Related Figures

Lễ Rước Hến

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 24/6 Âm lịch (lehoi.info) - Lễ rước hến được tại Thừa Thiên Huế tổ chức hàng năm vào ngày 24 tháng 6 âm lịch, tại phường Vĩ Dạ, thành phố Huế. Lễ rước hến là một loại lễ hội theo phong tục, có tính chất hương lễ và chỉ có dân làng phường Giang Hến cử hành, tham dự. Phường Vỹ Dạ nơi diễn ra lễ Rước Hến Lễ rước hến là 1 tục lệ của làng Cồn Soi - phường Giang Hến (thuộc xã Phú Xuân cũ) ngày nay thuộc phường Vĩ Dạ, thành phố Huế. Cứ 3 năm một lần làm lễ lớn và kéo dài từ 2 đến 3 ngày, ngày chính của lễ là ngày 24 tháng 6 âm lịch. Năm thường thì chỉ làm tiền lễ (nghĩa là chỉ đi rước) và cây Phan giữa sông sẽ nhỏ hơn, không có điểm hội đồng giống như đại lễ. Tương truyền, Niên hiệu Thành Thái thứ 4 (Nhâm Thìn 1892) tại phường Giang Hến có bà Trần Thị Thẹp đi "tròng" (thuyền nhỏ) ra dũi hến ở tại vùng sông trước đình Hương Cần (huyện Hương Trà), đã bị hương lý xã kéo ra bắt và đưa "tròng" của bà Thẹp lên bờ đòi chịu nộp thuế phạt, với lý do "Hến về làng, thành hoàng về miếu". Dân phường Giang Hến hay tin, đã làm đơn kéo nhau đi kiện và được châu phê: "Thượng từ nguyên đầu, hạ chí hải khẩu" (Có nghĩa là: Từ đầu nguồn đến cuối sông biển, ao hồ chịu thuế, sông nước được dùng). Được thắng kiện, phường Giang Hến đã kết long đình trên thuyền, trang trí cờ lọng đi rước và châu phê xã Hương Cần phải thả bà Thẹp, đưa "tròng" của bà Thẹp xuống nước, dân phường Giang Hến rước về tận đình phường để làm lễ tạ. Dân phường cho rằng: sở dĩ làng được kiện là nhờ thần sông đã phù hộ, cho nên dân làng đã lấy ngày này làm ngày lễ tế hàng năm. Lễ Rước Hến tại Thừa Thiên Huế Tiến trình lễ hội được bắt đầu bằng việc kết thuyền trang trí long trọng, có án thờ giữa thuyền ở đầu cồn Hến (ở ngã ba sông Hương). Ở giữa sông thì cắm cây đại phan, gọi là "Hội đồng thần kỳ" do các bô lão túc trực. Một đoàn thuyền khác, mỗi thuyền đều được trang trí cờ lọng, án thờ kết hoa, có trống, có chiêng, phường nhạc bát âm, xuất phát từ "Hội đồng thần kỳ" trung tâm, toả đi 2 hướng thượng nguyên và hạ nguyên được gọi là cung nghinh thần kỳ sông nước các nơi. Khi đến mỗi địa điểm, chọn một nơi có điều kiện, bày hương hoa, quả phẩm, gạo muối để làm lễ nghinh rước và đủ 3 tuần rượu rồi cung nghinh về điểm xuất phát. Sau đó lên bờ và trở về nhà thờ họ Nguyễn (nhà thờ chung 12 họ khai canh ở xã Phú Xuân) để làm lễ rước thần khai canh cùng về đình hiệp tế. Tất cả những người tham dự hội lễ toàn là nam giới, gồm có các vị bô lão, trung niên và lớp thanh niên. Đám rước thần sông nước gồm có một số người mặc áo dài đen và thắt lưng bằng vải màu đỏ gánh án thờ chính ở điểm hội đồng. Phía trước cũng có một số người mặc áo dài đen, thắt lưng vải màu đỏ, cầm chèo thuyền phân làm hai hàng, vừa đi vừa làm động tác chèo thuyền và cất giọng hò mái đẩy, có kèn trống, giàn nhạc phụ hoạ thì gọi là chèo cạn. Đoạn cuối là những chức sắc trong phường cùng với dân làng, ăn mặc y phục cổ truyền và đi theo đám rước để hầu thần. Trước khi đám rước đi vào đình còn phải ghé vào nhà thờ họ Nguyễn để làm lễ rước thần về hợp tế. Thần khai canh phường Giang Hến là ông Huỳnh Tương, nguyên quán là người làng Diên Đại, huyện Phú Vang, tới Cồn Hến để lập nghiệp bằng nghề dũi hến. Khi vua Gia Long lên ngôi, vùng Cồn Hến được lấy tên là phường Giang Hến thuộc xã Phú Xuân. Cồn Hến Phường Vỹ Dạ Lễ tục do vậy mang 1 ý nghĩa cao đẹp của tập thể, những con người sống trên sông nước tại một vùng sông nổi tiếng ở Thừa Thiên Huế: Cồn Hến, nơi đặc biệt sản xuất ra những loại hến nhỏ và ngon ngọt để làm nên món cơm hến độc đáo và ngon lành của xứ Huế./.

(lehoi.info) - Lễ rước hến được tại Thừa Thiên Huế tổ chức hàng năm vào ngày 24 tháng 6 âm lịch, tại phường Vĩ Dạ, thành phố Huế. Lễ rước hến là một loại lễ hội theo phong tục, có tính chất hương lễ và chỉ có dân làng phường Giang Hến cử hành, tham dự.

Phường Vỹ Dạ nơi diễn ra lễ Rước Hến Lễ rước hến là 1 tục lệ của làng Cồn Soi - phường Giang Hến (thuộc xã Phú Xuân cũ) ngày nay thuộc phường Vĩ Dạ, thành phố Huế. Cứ 3 năm một lần làm lễ lớn và kéo dài từ 2 đến 3 ngày, ngày chính của lễ là ngày 24 tháng 6 âm lịch. Năm thường thì chỉ làm tiền lễ (nghĩa là chỉ đi rước) và cây Phan giữa sông sẽ nhỏ hơn, không có điểm hội đồng giống như đại lễ. Tương truyền, Niên hiệu Thành Thái thứ 4 (Nhâm Thìn 1892) tại phường Giang Hến có bà Trần Thị Thẹp đi "tròng" (thuyền nhỏ) ra dũi hến ở tại vùng sông trước đình Hương Cần (huyện Hương Trà), đã bị hương lý xã kéo ra bắt và đưa "tròng" của bà Thẹp lên bờ đòi chịu nộp thuế phạt, với lý do "Hến về làng, thành hoàng về miếu". Dân phường Giang Hến hay tin, đã làm đơn kéo nhau đi kiện và được châu phê: "Thượng từ nguyên đầu, hạ chí hải khẩu" (Có nghĩa là: Từ đầu nguồn đến cuối sông biển, ao hồ chịu thuế, sông nước được dùng). Được thắng kiện, phường Giang Hến đã kết long đình trên thuyền, trang trí cờ lọng đi rước và châu phê xã Hương Cần phải thả bà Thẹp, đưa "tròng" của bà Thẹp xuống nước, dân phường Giang Hến rước về tận đình phường để làm lễ tạ. Dân phường cho rằng: sở dĩ làng được kiện là nhờ thần sông đã phù hộ, cho nên dân làng đã lấy ngày này làm ngày lễ tế hàng năm. Lễ Rước Hến tại Thừa Thiên Huế Tiến trình lễ hội được bắt đầu bằng việc kết thuyền trang trí long trọng, có án thờ giữa thuyền ở đầu cồn Hến (ở ngã ba sông Hương). Ở giữa sông thì cắm cây đại phan, gọi là "Hội đồng thần kỳ" do các bô lão túc trực. Một đoàn thuyền khác, mỗi thuyền đều được trang trí cờ lọng, án thờ kết hoa, có trống, có chiêng, phường nhạc bát âm, xuất phát từ "Hội đồng thần kỳ" trung tâm, toả đi 2 hướng thượng nguyên và hạ nguyên được gọi là cung nghinh thần kỳ sông nước các nơi. Khi đến mỗi địa điểm, chọn một nơi có điều kiện, bày hương hoa, quả phẩm, gạo muối để làm lễ nghinh rước và đủ 3 tuần rượu rồi cung nghinh về điểm xuất phát. Sau đó lên bờ và trở về nhà thờ họ Nguyễn (nhà thờ chung 12 họ khai canh ở xã Phú Xuân) để làm lễ rước thần khai canh cùng về đình hiệp tế. Tất cả những người tham dự hội lễ toàn là nam giới, gồm có các vị bô lão, trung niên và lớp thanh niên. Đám rước thần sông nước gồm có một số người mặc áo dài đen và thắt lưng bằng vải màu đỏ gánh án thờ chính ở điểm hội đồng. Phía trước cũng có một số người mặc áo dài đen, thắt lưng vải màu đỏ, cầm chèo thuyền phân làm hai hàng, vừa đi vừa làm động tác chèo thuyền và cất giọng hò mái đẩy, có kèn trống, giàn nhạc phụ hoạ thì gọi là chèo cạn. Đoạn cuối là những chức sắc trong phường cùng với dân làng, ăn mặc y phục cổ truyền và đi theo đám rước để hầu thần. Trước khi đám rước đi vào đình còn phải ghé vào nhà thờ họ Nguyễn để làm lễ rước thần về hợp tế. Thần khai canh phường Giang Hến là ông Huỳnh Tương, nguyên quán là người làng Diên Đại, huyện Phú Vang, tới Cồn Hến để lập nghiệp bằng nghề dũi hến. Khi vua Gia Long lên ngôi, vùng Cồn Hến được lấy tên là phường Giang Hến thuộc xã Phú Xuân. Cồn Hến Phường Vỹ Dạ Lễ tục do vậy mang 1 ý nghĩa cao đẹp của tập thể, những con người sống trên sông nước tại một vùng sông nổi tiếng ở Thừa Thiên Huế: Cồn Hến, nơi đặc biệt sản xuất ra những loại hến nhỏ và ngon ngọt để làm nên món cơm hến độc đáo và ngon lành của xứ Huế./.

Related Figures

Lễ hội làng bún Phú Đô

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 22/1 Âm lịch (lehoi.info) - Lễ hội làng bún Phú Đô được tổ chức hàng năm vào ngày 22 tháng 1 âm lịch, tại Đền thờ Bà Bún, làng Vân Cù, Hương Trà, Thừa Thiên Huế. Lễ hội này được tổ chức để cầu 1 năm mới may mắn, sung túc và bình an cho dân làng và những người dân thập phương. Đặc sắc lễ hội làng bún Phú Đô Theo người dân ở đây truyền lại rằng nguồn gốc của lễ hội. Ngày xưa, có 1 người đàn bà rất đẹp, thuỳ mị và vô cùng khéo léo. Không ai rõ họ của bà là gì, chỉ biết tên của bà là My, từ Thanh Hoá đi vào tìm đất để lập nghiệp. Hành trang của bà chỉ có một cái cối xay để giã gạo làm bún. Khi đi đến làng Vân Cù, vì kiệt sức, nên bà đành dừng lại và định cư luôn ở đây. Bà lấy nghề bún làm kế sinh nhai và truyền dạy cho những người dân trong vùng làm theo. Một ngày kia, vào một buổi trưa, trong lúc bà đang làm bún, thì chẳng may hoả hoạn nổi lên thiêu rụi nhà bà và lan sang cả những nhà khác. Bà bị bắt tội và trói giữa sân đình cho đến chết. Kể từ đó, cứ vào mỗi độ huý nhật của bà, trong làng đều sẽ có nhà bị cháy. Dân làng cho rằng bà bị chết oan nên hiển linh về để báo oán. Những người được bà dạy nghề cho bèn lập miếu thờ cho bà và khấn vái xin giải oan cho bà và cũng là để cầu cho tai qua nạn khỏi. Kỳ diệu làm sao, kể từ đó, không còn thấy cảnh cháy nhà nữa. Dân làng lại ngày càng ăn nên làm ra và nghề bún phát triển cho đến tận ngày nay. Bún Vân Cù nổi tiếng không nơi đâu sánh được bởi nó có mùi vị đặc trưng riêng. Con bún khi ăn không chua mà mùi thơm tinh khiết của bột, con bún không bở mà cũng không dai quá lại có màu trắng tinh. Để tưởng nhớ công lao của bà, hàng năm cứ vào ngày 22 tháng 1 âm lịch là người dân Phú Đô lại tổ chức lễ hội. Quang cảnh lễ hội làng bún Phú Đô Lễ hội được chia làm 2 phần: phần lễ và phần hội. Phú Đô là một làng nghề làm bún truyền thống nên phần lễ là phần dâng cúng sản phẩm đặc trưng của làng. Những gánh bún trắng tinh được dâng lên trời đất cùng với các sản phẩm nông nghiệp khác như: gà, lợn, xôi… Phần hội là phần diễn ra vui vẻ náo nhiệt với lễ rước kiệu Đức Thánh Cả, Đức Ông và Hai Bà (dân làng nơi đây thờ Đức tổ nghề làm bún Hồ Nguyên Thơ, hai bà: Bà Phương và Bà An). Lễ rước được tiến hành từ đình làng xuống Quán của làng, Cầu Đôi và sau đó rước các ngài về Đình làng. Lễ rước trong lễ hội làng bún Phú Đô Hàng ngàn người dân tham gia rước kiệu, đâu đâu cũng thấy không khí náo nhiệt và rộn rã. Lễ rước được kết thúc vào 10 giờ trong ngày, vẫn còn đọng lại xúc cảm phấn khởi và hạnh phúc trong lòng người dân. Đây là một nét đẹp văn hoá đã được gìn giữ và duy trì qua nhiều thế kỷ…

(lehoi.info) - Lễ hội làng bún Phú Đô được tổ chức hàng năm vào ngày 22 tháng 1 âm lịch, tại Đền thờ Bà Bún, làng Vân Cù, Hương Trà, Thừa Thiên Huế. Lễ hội này được tổ chức để cầu 1 năm mới may mắn, sung túc và bình an cho dân làng và những người dân thập phương.

Đặc sắc lễ hội làng bún Phú Đô

Theo người dân ở đây truyền lại rằng nguồn gốc của lễ hội. Ngày xưa, có 1 người đàn bà rất đẹp, thuỳ mị và vô cùng khéo léo. Không ai rõ họ của bà là gì, chỉ biết tên của bà là My, từ Thanh Hoá đi vào tìm đất để lập nghiệp. Hành trang của bà chỉ có một cái cối xay để giã gạo làm bún. Khi đi đến làng Vân Cù, vì kiệt sức, nên bà đành dừng lại và định cư luôn ở đây. Bà lấy nghề bún làm kế sinh nhai và truyền dạy cho những người dân trong vùng làm theo. Một ngày kia, vào một buổi trưa, trong lúc bà đang làm bún, thì chẳng may hoả hoạn nổi lên thiêu rụi nhà bà và lan sang cả những nhà khác. Bà bị bắt tội và trói giữa sân đình cho đến chết. Kể từ đó, cứ vào mỗi độ huý nhật của bà, trong làng đều sẽ có nhà bị cháy. Dân làng cho rằng bà bị chết oan nên hiển linh về để báo oán. Những người được bà dạy nghề cho bèn lập miếu thờ cho bà và khấn vái xin giải oan cho bà và cũng là để cầu cho tai qua nạn khỏi. Kỳ diệu làm sao, kể từ đó, không còn thấy cảnh cháy nhà nữa. Dân làng lại ngày càng ăn nên làm ra và nghề bún phát triển cho đến tận ngày nay. Bún Vân Cù nổi tiếng không nơi đâu sánh được bởi nó có mùi vị đặc trưng riêng. Con bún khi ăn không chua mà mùi thơm tinh khiết của bột, con bún không bở mà cũng không dai quá lại có màu trắng tinh. Để tưởng nhớ công lao của bà, hàng năm cứ vào ngày 22 tháng 1 âm lịch là người dân Phú Đô lại tổ chức lễ hội. Quang cảnh lễ hội làng bún Phú Đô Lễ hội được chia làm 2 phần: phần lễ và phần hội. Phú Đô là một làng nghề làm bún truyền thống nên phần lễ là phần dâng cúng sản phẩm đặc trưng của làng. Những gánh bún trắng tinh được dâng lên trời đất cùng với các sản phẩm nông nghiệp khác như: gà, lợn, xôi… Phần hội là phần diễn ra vui vẻ náo nhiệt với lễ rước kiệu Đức Thánh Cả, Đức Ông và Hai Bà (dân làng nơi đây thờ Đức tổ nghề làm bún Hồ Nguyên Thơ, hai bà: Bà Phương và Bà An). Lễ rước được tiến hành từ đình làng xuống Quán của làng, Cầu Đôi và sau đó rước các ngài về Đình làng. Lễ rước trong lễ hội làng bún Phú Đô Hàng ngàn người dân tham gia rước kiệu, đâu đâu cũng thấy không khí náo nhiệt và rộn rã. Lễ rước được kết thúc vào 10 giờ trong ngày, vẫn còn đọng lại xúc cảm phấn khởi và hạnh phúc trong lòng người dân. Đây là một nét đẹp văn hoá đã được gìn giữ và duy trì qua nhiều thế kỷ…

Related Figures

Lễ hội Bà Triệu

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 20/2- 23/2 Âm lịch Lễ hội Bà Triệu được tổ chức hàng năm vào các ngày 20 - ngày 23 tháng 2 âm lịch tại xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc tỉnh Thanh hoá. Lễ hội này được tổ chức để tưởng nhớ tới vị anh hùng Triệu Thị Trinh - là người đã lãnh đạo nhân dân đứng lên chống lại ách đô hộ của nhà Ngô vào năm 248. Tưng bừng lễ hội Bà Triệu Lễ hội này được tổ chức với quy mô lớn trên một không gian rộng theo quy trình đền, lăng và đình. Các điểm di tích ấy đều diễn ra tế lễ với một nghi thức trang trọng vừa truyền thống và vừa kết hợp với lễ hội đương đại. Riêng ở đình làng Phú Điền có tổ chức nghi thức hội “ Ngô, Triệu “giao quân” Đoàn rước kiệu tại lễ hội đền Bà Triệu Ở tại đền Bà Triệu chủ yếu là tế lễ, như rước kiệu, tế nữ quan. Trong phần hội không có những trò diễn dân gian mà chỉ có Hội trận, khơi dậy và liên tưởng đến hào khí chống quân Ngô của bà..Tiếp sau là những đại lễ, rước kiệu…còn có hát chầu văn, là 1 hình thức âm nhạc truyền thống trong ngày lễ rất linh thiêng. Ngoài những nghi thức lễ trên còn có lễ Mộc dục. Đây là 1 nghi thức lễ được những người dân địa phương rất chú ý và thận trọng, chọn ngày tốt để hành lễ, thường là ngày 18, ngày 19 tháng 2 âm lịch ở cả 2 nơi đền và đình làng, do 1 ông từ cả và 3 ông từ phụ chịu trách nhiệm. Tiếp đó là tế Phụng Nghinh. Tế Phụng Nghinh là thủ tục mời vua Bà cùng với lục bộ triều đình, hội đồng các quan, các thánh tổ bách gia về trong ngày huý kỵ Vua Bà, là ngày rất trang nghiêm và rất linh thiêng, thời gian tế là nửa ngày. Việc rước bóng, trong ngày hội là một thể thức vô cùng quan trọng, người ta đặt bát hương Vua Bà lên kiệu cùng với một hộp tư trang và đĩa trầu cau. Có tám chàng trai được chọn lọc, đức độ, sạch sẽ và gia đình không có việc tang, không có việc xấu. Những chàng trai khênh kiệu (gồm có 8 đòn) mặc áo đỏ cộc tay, thắt lưng màu đỏ đầu chít khăn màu đỏ, quần trắng và chân đất. Người chủ tế đi ở phía dưới gầm kiệu. Tiếp theo có kiệu song loan, trên kiệu có áo chầu và các hộp sắc phong, có tám người khiêng. Nghi thức đi đầu có một hương án có hai người vác lọng che hương án, trên kiệu thì có bát hương, trầu cau và hoa quả. Sau hương án sẽ là phường bát âm cử nhạc lưu thuỷ, có trống, có chiêng và có 32 người thực hiện các nhiệm vụ vác gươm, vác bát bửu, vác dùi đồng. Cứ như thế các đoàn vác cờ hội, vác kiệu song loan, người đi cùng đoàn rước kiệu phải ăn mặc chỉnh tề khăn nhiễu, quần trắng và áo lương. Đạo hành từ đền chính đến Lăng rồi trở về Đình làng. Đến Lăng kiệu được đặt ở trên giá đỡ và làm thủ tục nghi thức khấn đức Bà, nhân ngày huý kỵ, với tấm lòng thành kính của các con các cháu thập phương nhớ tới công ơn của Bà. Đoàn cử hành về đình làng, kiệu, bát hương bóng Bà đặt ở giữa đình và tiếp tục tế lễ 1 ngày 1 đêm gồm các tế yên vị và tế tam sanh. Sau đó đòn rước tế theo lộ trình về Đình Chính để làm Vua Bà trong 2 ngày 22 và ngày 23 tháng 2 âm lịch. Ngày 23 tháng 2 là ngày thuộc vào các ngày chính kỵ, ngày này không tế mà chỉ làm lễ , có một số lễ vật như 100 quả dưa chuột, 100 trứng sống, 3 bát cơm gạo trắng, 3 quả trứng luộc, bánh gai, bánh dày, bánh trưng và bánh mật… Lễ hội đền Bà Triệu thu hút đông đảo người dân tham gia Lễ hội Bà Triệu thể hiện tinh thần uống nước nhớ nguồn, tôn vinh khí phách anh hùng của hậu thế đối với Bà Triệu - người nữ anh hùng của nhân dân tại Xứ Thanh.

Lễ hội Bà Triệu được tổ chức hàng năm vào các ngày 20 - ngày 23 tháng 2 âm lịch tại xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc tỉnh Thanh hoá. Lễ hội này được tổ chức để tưởng nhớ tới vị anh hùng Triệu Thị Trinh - là người đã lãnh đạo nhân dân đứng lên chống lại ách đô hộ của nhà Ngô vào năm 248. Tưng bừng lễ hội Bà Triệu Lễ hội này được tổ chức với quy mô lớn trên một không gian rộng theo quy trình đền, lăng và đình. Các điểm di tích ấy đều diễn ra tế lễ với một nghi thức trang trọng vừa truyền thống và vừa kết hợp với lễ hội đương đại. Riêng ở đình làng Phú Điền có tổ chức nghi thức hội “ Ngô, Triệu “giao quân” Đoàn rước kiệu tại lễ hội đền Bà Triệu Ở tại đền Bà Triệu chủ yếu là tế lễ, như rước kiệu, tế nữ quan. Trong phần hội không có những trò diễn dân gian mà chỉ có Hội trận, khơi dậy và liên tưởng đến hào khí chống quân Ngô của bà..Tiếp sau là những đại lễ, rước kiệu…còn có hát chầu văn, là 1 hình thức âm nhạc truyền thống trong ngày lễ rất linh thiêng. Ngoài những nghi thức lễ trên còn có lễ Mộc dục. Đây là 1 nghi thức lễ được những người dân địa phương rất chú ý và thận trọng, chọn ngày tốt để hành lễ, thường là ngày 18, ngày 19 tháng 2 âm lịch ở cả 2 nơi đền và đình làng, do 1 ông từ cả và 3 ông từ phụ chịu trách nhiệm. Tiếp đó là tế Phụng Nghinh. Tế Phụng Nghinh là thủ tục mời vua Bà cùng với lục bộ triều đình, hội đồng các quan, các thánh tổ bách gia về trong ngày huý kỵ Vua Bà, là ngày rất trang nghiêm và rất linh thiêng, thời gian tế là nửa ngày. Việc rước bóng, trong ngày hội là một thể thức vô cùng quan trọng, người ta đặt bát hương Vua Bà lên kiệu cùng với một hộp tư trang và đĩa trầu cau. Có tám chàng trai được chọn lọc, đức độ, sạch sẽ và gia đình không có việc tang, không có việc xấu. Những chàng trai khênh kiệu (gồm có 8 đòn) mặc áo đỏ cộc tay, thắt lưng màu đỏ đầu chít khăn màu đỏ, quần trắng và chân đất. Người chủ tế đi ở phía dưới gầm kiệu. Tiếp theo có kiệu song loan, trên kiệu có áo chầu và các hộp sắc phong, có tám người khiêng. Nghi thức đi đầu có một hương án có hai người vác lọng che hương án, trên kiệu thì có bát hương, trầu cau và hoa quả. Sau hương án sẽ là phường bát âm cử nhạc lưu thuỷ, có trống, có chiêng và có 32 người thực hiện các nhiệm vụ vác gươm, vác bát bửu, vác dùi đồng. Cứ như thế các đoàn vác cờ hội, vác kiệu song loan, người đi cùng đoàn rước kiệu phải ăn mặc chỉnh tề khăn nhiễu, quần trắng và áo lương. Đạo hành từ đền chính đến Lăng rồi trở về Đình làng. Đến Lăng kiệu được đặt ở trên giá đỡ và làm thủ tục nghi thức khấn đức Bà, nhân ngày huý kỵ, với tấm lòng thành kính của các con các cháu thập phương nhớ tới công ơn của Bà. Đoàn cử hành về đình làng, kiệu, bát hương bóng Bà đặt ở giữa đình và tiếp tục tế lễ 1 ngày 1 đêm gồm các tế yên vị và tế tam sanh. Sau đó đòn rước tế theo lộ trình về Đình Chính để làm Vua Bà trong 2 ngày 22 và ngày 23 tháng 2 âm lịch. Ngày 23 tháng 2 là ngày thuộc vào các ngày chính kỵ, ngày này không tế mà chỉ làm lễ , có một số lễ vật như 100 quả dưa chuột, 100 trứng sống, 3 bát cơm gạo trắng, 3 quả trứng luộc, bánh gai, bánh dày, bánh trưng và bánh mật… Lễ hội đền Bà Triệu thu hút đông đảo người dân tham gia Lễ hội Bà Triệu thể hiện tinh thần uống nước nhớ nguồn, tôn vinh khí phách anh hùng của hậu thế đối với Bà Triệu - người nữ anh hùng của nhân dân tại Xứ Thanh.

Đoàn rước kiệu tại lễ hội đền Bà Triệu

Related Figures

Lễ hội Lam Kinh

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 22/8 Âm lịch Lễ hội Lam Kinh được tổ chức vào ngày 22 tháng 8 âm lịch hàng năm (là ngày giỗ của vua Lê Thái Tổ) tại khu vực Lam Kinh thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá nơi an táng của vua Lê Thái Tổ. Nơi đây, thời trước, theo định lệ, cứ 3 năm một lần và vào ngày giỗ vua, các vua quan nhà Lê ở Đông Kinh (Thăng Long) lại về Lam Kinh để làm lễ. Còn nhân dân địa phương hàng năm vẫn mở hội để tưởng nhớ và tôn vinh người anh hùng dân tộc này. Đặc sắc lễ hội Lam Kinh tại Thanh Hóa Lễ hội Lam Kinh được tổ chức ngay sau khi vua Lê Thái Tổ băng hà vào ngày 22 tháng 8 (âm lịch) năm Quý Sửu (năm 1433) và thi hài được đưa về an táng ngay tại đất Lam Sơn. Vùng đất Lam Sơn này còn là nơi an táng của các vua, hoàng hậu triều Lê Sơ và trở thành sơn lăng của nhà Lê Sơ. Để thuận lợi cho việc cáo yết tại lăng miếu, các triều vua đã cho dựng điện và các tòa Thái miếu để thờ cúng. Vì vậy, Lam Sơn đã được gọi là Lam Kinh. Từ năm 1995 đến nay, lễ hội Lam Kinh được tổ chức thường xuyên hằng năm với quy mô rất hoành tráng. Phần lễ được thực hiện theo đúng như nghi thức cổ truyền, tái hiện được nhiều sự kiện trọng đại thời Lê như: Màn trống hội (biểu diễn đánh trống đồng và trống da các loại), rước kiệu cờ hội; đặc biệt là những nghi thức tế lễ từ thời vua Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông và Lê Thánh Tông truyền lại. Đoàn rước trong lễ hội Lam Kinh Phần hội sẽ là những chương trình nghệ thuật tái diễn các sự kiện như: Hội thề Lũng Nhai, giải phóng thành Đông Quan, Lê Lai cứu chúa, Phát huy hào khí Lam Sơn, Vua Lê Thái Tổ đăng quang… Trong những ngày diễn ra lễ hội còn có các trò chơi, trò diễn truyền thống của xứ Thanh như: trò Chiêng, trò Xuân Phả, trò Sanh Ngô, dân ca sông Mã, dân ca Đông Anh, thi đấu vật, đấu võ dân tộc; trưng bày các hiện vật, cổ vật thời Lê; trưng bày giới thiệu tiềm năng du lịch, hội trại các làng văn hoá và sản phẩm ẩm thực của địa phương và nhiều những hoạt động nghệ thuật khác như biểu diễn chèo, chiếu phim, chương trình ca nhạc tân cổ giao duyên… Màn biểu diễn trống đồng tại lễ hội Lam Kinh Lễ hội Lam Kinh mang đậm nét văn hóa dân gian truyền thống tạo nên dấu ấn của một vùng đất anh hùng đồng thời góp phần bảo tồn nền văn hoá của dân tộc ta.

Lễ hội Lam Kinh được tổ chức vào ngày 22 tháng 8 âm lịch hàng năm (là ngày giỗ của vua Lê Thái Tổ) tại khu vực Lam Kinh thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá nơi an táng của vua Lê Thái Tổ. Nơi đây, thời trước, theo định lệ, cứ 3 năm một lần và vào ngày giỗ vua, các vua quan nhà Lê ở Đông Kinh (Thăng Long) lại về Lam Kinh để làm lễ. Còn nhân dân địa phương hàng năm vẫn mở hội để tưởng nhớ và tôn vinh người anh hùng dân tộc này.

Đặc sắc lễ hội Lam Kinh tại Thanh Hóa Lễ hội Lam Kinh được tổ chức ngay sau khi vua Lê Thái Tổ băng hà vào ngày 22 tháng 8 (âm lịch) năm Quý Sửu (năm 1433) và thi hài được đưa về an táng ngay tại đất Lam Sơn. Vùng đất Lam Sơn này còn là nơi an táng của các vua, hoàng hậu triều Lê Sơ và trở thành sơn lăng của nhà Lê Sơ. Để thuận lợi cho việc cáo yết tại lăng miếu, các triều vua đã cho dựng điện và các tòa Thái miếu để thờ cúng. Vì vậy, Lam Sơn đã được gọi là Lam Kinh. Từ năm 1995 đến nay, lễ hội Lam Kinh được tổ chức thường xuyên hằng năm với quy mô rất hoành tráng. Phần lễ được thực hiện theo đúng như nghi thức cổ truyền, tái hiện được nhiều sự kiện trọng đại thời Lê như: Màn trống hội (biểu diễn đánh trống đồng và trống da các loại), rước kiệu cờ hội; đặc biệt là những nghi thức tế lễ từ thời vua Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông và Lê Thánh Tông truyền lại. Đoàn rước trong lễ hội Lam Kinh Phần hội sẽ là những chương trình nghệ thuật tái diễn các sự kiện như: Hội thề Lũng Nhai, giải phóng thành Đông Quan, Lê Lai cứu chúa, Phát huy hào khí Lam Sơn, Vua Lê Thái Tổ đăng quang… Trong những ngày diễn ra lễ hội còn có các trò chơi, trò diễn truyền thống của xứ Thanh như: trò Chiêng, trò Xuân Phả, trò Sanh Ngô, dân ca sông Mã, dân ca Đông Anh, thi đấu vật, đấu võ dân tộc; trưng bày các hiện vật, cổ vật thời Lê; trưng bày giới thiệu tiềm năng du lịch, hội trại các làng văn hoá và sản phẩm ẩm thực của địa phương và nhiều những hoạt động nghệ thuật khác như biểu diễn chèo, chiếu phim, chương trình ca nhạc tân cổ giao duyên… Màn biểu diễn trống đồng tại lễ hội Lam Kinh Lễ hội Lam Kinh mang đậm nét văn hóa dân gian truyền thống tạo nên dấu ấn của một vùng đất anh hùng đồng thời góp phần bảo tồn nền văn hoá của dân tộc ta.

Đoàn rước trong lễ hội Lam Kinh

Related Figures

Lễ Hội Mai An Tiêm

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 12/3- 14/3 Âm lịch (lehoi.info) - Lễ hội Mai An Tiêm diễn ra từ ngày 12 đến ngày 14 tháng 3 âm lịch hàng năm, tại Đền thờ Mai An Tiêm, Nga Sơn, Thanh Hoá. Chính quyền và nhân dân địa phương nơi đây tổ chức lễ hội để tưởng nhớ và tri ân Mai An Tiêm, người đã có công khai phá và mở mang bờ cõi, thủy tổ của nghề canh nông cho dân trong vùng. Hình ảnh khai mạc lễ Hội Mai An Tiêm tại Thanh Hóa Theo truyền thuyết kể rằng, Mai An Tiêm- một nhân vật huyền sử của nước Văn Lang ở vào cuối thời Hùng Vương, là người đã có công khai phá và xây dựng vùng đất ven biển Nga Sơn, cũng chính là người “khai sinh” ra quả dưa hấu đỏ. Mai An Tiêm vốn là một nô lệ bị tàu buôn phương Nam bắt làm tặng vật dâng lên Vua Hùng. Nhờ vào trí thông minh, nhã nhặn và yêu lao động ông đã được Vua Hùng quý mến tin dùng đặt cho cái tên là Mai An Tiêm và ban cho một người thiếp làm vợ, ông được bổ làm quan cai quản các nô lệ. Nhưng sau này ông bị các Lạc hầu Lạc tướng ghen ghét, gièm pha, xúc xiểm nên nhà vua nghi ông và khép ông vào tội phản nghịch, đày ra sống ở ngoài đảo xa. Tưng bừng lễ hội Mai An Tiêm Tương truyền, chính vào lúc ông cùng gia đình bị đày ra sống ở trên hòn đảo xa ngoài khơi (ngày nay thuộc vùng biển huyện Nga Sơn), nhờ một loài chim biển từ phương Tây bay tới đảo ăn trái nhả hạt mà Mai An Tiêm đã tìm ra được một giống dưa quý. Vào vụ thu hoạch, Mai An Tiêm lấy que vạch lên vỏ của quả dưa rồi đem thả xuống biển, với hy vọng những con sóng sẽ đẩy những quản dưa vào bờ. Cách “tiếp thị” độc đáo ấy của Mai An Tiêm đã được những người đất liền đón nhận, họ xem như đấy là tặng vật của Thượng đế. Nhờ có thông tin, sau đó ít lâu ông cùng với gia đình đã được Vua Hùng minh oan, đồng thời sai cả một đội thuyền ra đảo đón Mai An Tiêm về và phục chức. Để nhớ ơn Mai An Tiêm, người dân Lạc Việt đã tôn Mai An Tiêm là “Bố Cái Dưa Tây”. Hiện chỗ gia đình ông sống ở nơi đảo xa người ta vẫn còn gọi là bãi An Tiêm. Giống dưa quý ruột đỏ ấy được gọi là dưa đỏ, sau này thì gọi là dưa hấu. Hình ảnh Mai An Tiêm và sự tích về quả dưa hấu là sức sống mãnh liệt của dân tộc ta trong những buổi đầu dựng nước. Lễ hội Mai An Tiêm Phần Lễ gồm: Rước kiệu, dâng hương và lễ tế. Phần hội phong phú và hoành tráng, màn nghệ thuật sân khấu hóa, có ý nghĩa sâu sắc, tái hiện lại cảnh Mai An Tiêm bị khép tội phản nghịch cùng với gia đình bị đày ra ngoài đảo xa...; cảnh Mai An Tiêm gắn liền với sự tích quả dưa hấu, được vua minh oan, gia đình đoàn viên...; tri ân Mai An Tiêm - một người có công mở mang bờ cõi, thủy tổ nghề canh nông... Màn trình diễn nghệ thuật sân khấu hóa “Sự tích quả dưa hấu” tại lễ hội Lễ hội Mai An Tiêm - là một lễ hội văn hóa, lịch sử giàu truyền thống, tưởng nhớ công ơn của những bậc tiền bối đã có công gây dựng, bảo vệ và gìn giữ non sông đất nước. Lễ hội cũng là dịp để cho những thế hệ con cháu tri ân, đồng thời, tiếp nối truyền thống lịch sử vẻ vang của cha ông ta, tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết toàn dân tộc, khai thác mạnh mẽ tiềm năng, thế mạnh và góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước./.

(lehoi.info) - Lễ hội Mai An Tiêm diễn ra từ ngày 12 đến ngày 14 tháng 3 âm lịch hàng năm, tại Đền thờ Mai An Tiêm, Nga Sơn, Thanh Hoá. Chính quyền và nhân dân địa phương nơi đây tổ chức lễ hội để tưởng nhớ và tri ân Mai An Tiêm, người đã có công khai phá và mở mang bờ cõi, thủy tổ của nghề canh nông cho dân trong vùng.

Hình ảnh khai mạc lễ Hội Mai An Tiêm tại Thanh Hóa

Theo truyền thuyết kể rằng, Mai An Tiêm- một nhân vật huyền sử của nước Văn Lang ở vào cuối thời Hùng Vương, là người đã có công khai phá và xây dựng vùng đất ven biển Nga Sơn, cũng chính là người “khai sinh” ra quả dưa hấu đỏ. Mai An Tiêm vốn là một nô lệ bị tàu buôn phương Nam bắt làm tặng vật dâng lên Vua Hùng. Nhờ vào trí thông minh, nhã nhặn và yêu lao động ông đã được Vua Hùng quý mến tin dùng đặt cho cái tên là Mai An Tiêm và ban cho một người thiếp làm vợ, ông được bổ làm quan cai quản các nô lệ. Nhưng sau này ông bị các Lạc hầu Lạc tướng ghen ghét, gièm pha, xúc xiểm nên nhà vua nghi ông và khép ông vào tội phản nghịch, đày ra sống ở ngoài đảo xa. Tưng bừng lễ hội Mai An Tiêm Tương truyền, chính vào lúc ông cùng gia đình bị đày ra sống ở trên hòn đảo xa ngoài khơi (ngày nay thuộc vùng biển huyện Nga Sơn), nhờ một loài chim biển từ phương Tây bay tới đảo ăn trái nhả hạt mà Mai An Tiêm đã tìm ra được một giống dưa quý. Vào vụ thu hoạch, Mai An Tiêm lấy que vạch lên vỏ của quả dưa rồi đem thả xuống biển, với hy vọng những con sóng sẽ đẩy những quản dưa vào bờ. Cách “tiếp thị” độc đáo ấy của Mai An Tiêm đã được những người đất liền đón nhận, họ xem như đấy là tặng vật của Thượng đế. Nhờ có thông tin, sau đó ít lâu ông cùng với gia đình đã được Vua Hùng minh oan, đồng thời sai cả một đội thuyền ra đảo đón Mai An Tiêm về và phục chức. Để nhớ ơn Mai An Tiêm, người dân Lạc Việt đã tôn Mai An Tiêm là “Bố Cái Dưa Tây”. Hiện chỗ gia đình ông sống ở nơi đảo xa người ta vẫn còn gọi là bãi An Tiêm. Giống dưa quý ruột đỏ ấy được gọi là dưa đỏ, sau này thì gọi là dưa hấu. Hình ảnh Mai An Tiêm và sự tích về quả dưa hấu là sức sống mãnh liệt của dân tộc ta trong những buổi đầu dựng nước. Lễ hội Mai An Tiêm Phần Lễ gồm: Rước kiệu, dâng hương và lễ tế. Phần hội phong phú và hoành tráng, màn nghệ thuật sân khấu hóa, có ý nghĩa sâu sắc, tái hiện lại cảnh Mai An Tiêm bị khép tội phản nghịch cùng với gia đình bị đày ra ngoài đảo xa...; cảnh Mai An Tiêm gắn liền với sự tích quả dưa hấu, được vua minh oan, gia đình đoàn viên...; tri ân Mai An Tiêm - một người có công mở mang bờ cõi, thủy tổ nghề canh nông... Màn trình diễn nghệ thuật sân khấu hóa “Sự tích quả dưa hấu” tại lễ hội Lễ hội Mai An Tiêm - là một lễ hội văn hóa, lịch sử giàu truyền thống, tưởng nhớ công ơn của những bậc tiền bối đã có công gây dựng, bảo vệ và gìn giữ non sông đất nước. Lễ hội cũng là dịp để cho những thế hệ con cháu tri ân, đồng thời, tiếp nối truyền thống lịch sử vẻ vang của cha ông ta, tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết toàn dân tộc, khai thác mạnh mẽ tiềm năng, thế mạnh và góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước./.

Related Figures

Lễ hội bánh dày - bánh chưng

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 11/5- 13/5 Âm lịch (lehoi.info) - Lễ hội bánh dày - bánh chưng diễn ra từ ngày 11 đến ngày 13 tháng 5 âm lịch hàng năm, tại Sầm Sơn - Thanh Hoá. Đây là một lễ hội gắn với tục thờ tổ nghề dệt xúc và thờ thần Độc Cước của nhân dân địa phương, cầu cho mùa màng tươi tốt, mưa thuận, gió hoà, nhân khang, vật thịnh. Nghi thức tế lễ tại Lễ hội bánh chưng – bánh dày Sầm Sơn Mở màn của lễ hội này, là lễ rước kiệu diễu quanh các đường phố chính rồi về tề tựu tại ở khu vực sân Đền Độc Cước để chuẩn bị cho phần nghi lễ chính thức . Tiếp sau đó là phần lễ tế, đọc chúc văn tưởng nhớ tới công đức của tiền nhân, tiên tổ đã có công xây dựng và khai phá vùng đất Sầm Sơn, cầu cho mưa thuận gió hòa, sóng yên biển lặng, tôm cá đầy khoang. Sau phần nghi lễ, đông đảo bà con nhân dân và du khách thập phương đã được chứng kiến phần hội tưng bừng với màn thi kéo co, đi cà kheo… Tưng bừng lễ hội bánh chưng – bánh dày Sầm Sơn Phần đặc sắc nhất trong lễ hội này là cuộc thi làm bánh dày giữa bảy làng của thị xã Sầm Sơn. Những chiếc bánh dày đều có đường kính 30 cm, bánh chưng mỗi cạnh 40 cm được chuẩn bị công phu từ khâu chọn gạo, thịt, đậu, lá gói đến kỹ thuật chế biến, được đặt trang trọng trên những chiếc kiệu cùng người dân các làng đưa về tế lễ ở khu vực đền Độc Cước. Phần thi làm bánh dày trong lễ hội Sau nghi lễ những chiếc bánh dày - bánh chưng được các làng cùng nhau chấm giải để lựa chọn ra bánh làng nào là ngon nhất. Lễ hội kết thúc, bánh được mang về chia cho dân trong làng cùng hưởng lộc để trong năm gặp được nhiều may mắn./.

(lehoi.info) - Lễ hội bánh dày - bánh chưng diễn ra từ ngày 11 đến ngày 13 tháng 5 âm lịch hàng năm, tại Sầm Sơn - Thanh Hoá. Đây là một lễ hội gắn với tục thờ tổ nghề dệt xúc và thờ thần Độc Cước của nhân dân địa phương, cầu cho mùa màng tươi tốt, mưa thuận, gió hoà, nhân khang, vật thịnh.

Nghi thức tế lễ tại Lễ hội bánh chưng – bánh dày Sầm Sơn

Mở màn của lễ hội này, là lễ rước kiệu diễu quanh các đường phố chính rồi về tề tựu tại ở khu vực sân Đền Độc Cước để chuẩn bị cho phần nghi lễ chính thức . Tiếp sau đó là phần lễ tế, đọc chúc văn tưởng nhớ tới công đức của tiền nhân, tiên tổ đã có công xây dựng và khai phá vùng đất Sầm Sơn, cầu cho mưa thuận gió hòa, sóng yên biển lặng, tôm cá đầy khoang. Sau phần nghi lễ, đông đảo bà con nhân dân và du khách thập phương đã được chứng kiến phần hội tưng bừng với màn thi kéo co, đi cà kheo… Tưng bừng lễ hội bánh chưng – bánh dày Sầm Sơn Phần đặc sắc nhất trong lễ hội này là cuộc thi làm bánh dày giữa bảy làng của thị xã Sầm Sơn. Những chiếc bánh dày đều có đường kính 30 cm, bánh chưng mỗi cạnh 40 cm được chuẩn bị công phu từ khâu chọn gạo, thịt, đậu, lá gói đến kỹ thuật chế biến, được đặt trang trọng trên những chiếc kiệu cùng người dân các làng đưa về tế lễ ở khu vực đền Độc Cước. Phần thi làm bánh dày trong lễ hội Sau nghi lễ những chiếc bánh dày - bánh chưng được các làng cùng nhau chấm giải để lựa chọn ra bánh làng nào là ngon nhất. Lễ hội kết thúc, bánh được mang về chia cho dân trong làng cùng hưởng lộc để trong năm gặp được nhiều may mắn./.

Related Figures

Lễ hội “Rước nước”

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 27/2- 30/2 Âm lịch (lehoi.info)- Bồng Thượng là một trong những làng cổ của xã Vĩnh Hùng, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa. Làng Bồng Thượng có rất nhiều lễ hội lớn in đậm truyền thống văn hóa còn lưu giữ cho đến ngày nay. Trong đó có lễ hội “Rước nước” ở chùa Báo Ân diễn ra từ ngày 27 đến hết ngày 30 tháng 2 (âm lịch) hàng năm. Độc đáo lễ hội “Rước nước” ở làng Bồng Thượng Buổi tối ngày 27 tháng 2 (âm lịch) khi làng xóm đã lên đèn thì tại chùa Báo Ân và bến sông Mã (bến đò Hoành) thì mọi người đèn nến sáng trưng cả một vùng sông nước. Những chiếc thuyền (chiếc bè) đã tập kết ở trên sông. Sau lời tuyên bố của người già làng thuyền, bè, người được chở lướt trên mặt sông đến giữa dòng nước biếc được gọi là vụng Quần Tiên. Thuyền hạ cây nêu ở giữa dòng sông gió lộng đèn nến lung linh. Giữa vùng ở cạnh cây nêu đặt một cây đèn to sáng hắt lên sông. Đoàn người vừa chèo thuyền vòng quanh cây nêu vừa hát. Giữa đêm xuân tháng 2, gió mát nhè nhẹ đưa lên từng gương mặt mỗi con người, những giọng hát văn, trống quân và hát đối đáp ngân lên vang vọng một khúc sông: Những chiếc đèn hoa sen được thả bạt ngàn ở trên sông (đoạn sông thả đèn trong vụng Quần Tiên có nhiều đá ngầm nên nước ở đây xoáy nhẹ chạy quanh rồi mới theo dòng xuôi về biển. Đứng phía trên dòng sông nhìn những đèn hoa sen hàng hàng lung linh sáng lập lờ trên sông nước về xuôi thật là đẹp - Một cái đẹp thanh cao tao nhã và thơ mộng. Đó chính là hội “Hoa đăng” trong lễ hội. Từ vịnh thuyền (hoặc bè) trở về đến bến Báo Ân hát bài hát dâng trên bến cô Ba, lên bờ lên tháp Viên Quang, vào chùa, bái phật, tạ Mẫu). Sau hội “Hoa đăng” từ 22 giờ đêm đến 24 giờ đêm có lễ “Mục Dục” tại chùa (lễ tắm gọi là Mẫu). Lễ vật được đoàn mang theo khi đi rước nước Buổi sáng ngày 28 tháng 2 âm lịch là lễ chính ở chùa Báo Ân đó là lễ hội “Rước nước”. Đoàn người được phân công chuẩn bị, ăn mặc lễ hội “Kiệu Mẫu” qua ngõ Vạn, lên ngõ Chùa, qua Nghè Vẹt lên chân núi Báo qua nền Trời đất, sang khe Mang cá đến nền “Rước bóng” trở về chùa. Đoàn người rước kiệu Mẫu xong là sẽ đến phần “Rước nước”, ở trên bến Báo Ân đã tập kết 5 chiếc thuyền. Thuyền đi đầu là thuyền Rồng lớn được gọi là thuyền Phật lấy nước. Thuyền thứ 2 là thuyền Mẫu rất lớn. Thuyền Rồng thứ 3 là thuyền các cô, các cậu. Thuyền thứ 4 nhỏ hơn gọi là thuyền chỉ huy. Thuyền thứ 5 là thuyền giám sát việc đi lấy nước.Trên 3 thuyền rộng lớn mỗi một thuyền có từ 8 đến 10 thủy thủ chèo thuyền: chiếc thuyền đầu tiên trở lọng vàng, cờ quạt, 12 nữ mặc áo tứ thân; đi hài trắng, trâm cài, đầu đội các mâm hoa quả và bình sứ hình quả bầu dục để đựng nước. Thuyền thứ 2 được gọi là thuyền cô “ba Thoải” gồm có các nữ ăn mặc lễ hội hát múa. Trên thuyền có phường bát âm đánh nhạc làm nền cho giọng hát và điệu múa. Số người có trên 5 chiếc thuyền có khoảng 90 người đến 100 người. Hai bên bờ sông Mã người đứng tham quan lễ hội vô cùng đông đảo. Đoàn thuyền chèo ra giữa sông Mã, qua hòn đá Bàn, vượt hòn đá Ngốc, rẽ lái sang ngang. Sau 3 vòng lượn đến hòn đá ở giữa dòng sông thì cắm nêu dừng thuyền.Trong các ngày diễn ra lễ hội ngay tại khuôn viên chùa tổ chức nhiều trò chơi dân gian truyền thống như: So đẩy gậy, kéo co của chị em phụ nữ, cờ người, tổ tôm và bài đếm của các cụ cao niên. Đông đảo người dân tập trung hai bên bờ sông để theo dõi lễ nghi rước nước Ngoài lễ hoa đăng, rước nước tối ngày 29 tháng 2 âm lịch bước sang ngày mùng 1 tháng 3 âm lịch có lễ tế tạ (ngày hóa của Mẫu)... Lễ hội “Rước nước” ở chùa Báo Ân xã Vĩnh Hùng là một lễ hội mang đậm truyền thống văn hóa hàng nghìn năm thu hút du khách thập phương đến dự lễ hội rất đông. lehoi.info t

(lehoi.info)- Bồng Thượng là một trong những làng cổ của xã Vĩnh Hùng, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa. Làng Bồng Thượng có rất nhiều lễ hội lớn in đậm truyền thống văn hóa còn lưu giữ cho đến ngày nay. Trong đó có lễ hội “Rước nước” ở chùa Báo Ân diễn ra từ ngày 27 đến hết ngày 30 tháng 2 (âm lịch) hàng năm. Độc đáo lễ hội “Rước nước” ở làng Bồng Thượng Buổi tối ngày 27 tháng 2 (âm lịch) khi làng xóm đã lên đèn thì tại chùa Báo Ân và bến sông Mã (bến đò Hoành) thì mọi người đèn nến sáng trưng cả một vùng sông nước. Những chiếc thuyền (chiếc bè) đã tập kết ở trên sông. Sau lời tuyên bố của người già làng thuyền, bè, người được chở lướt trên mặt sông đến giữa dòng nước biếc được gọi là vụng Quần Tiên. Thuyền hạ cây nêu ở giữa dòng sông gió lộng đèn nến lung linh. Giữa vùng ở cạnh cây nêu đặt một cây đèn to sáng hắt lên sông. Đoàn người vừa chèo thuyền vòng quanh cây nêu vừa hát. Giữa đêm xuân tháng 2, gió mát nhè nhẹ đưa lên từng gương mặt mỗi con người, những giọng hát văn, trống quân và hát đối đáp ngân lên vang vọng một khúc sông: Những chiếc đèn hoa sen được thả bạt ngàn ở trên sông (đoạn sông thả đèn trong vụng Quần Tiên có nhiều đá ngầm nên nước ở đây xoáy nhẹ chạy quanh rồi mới theo dòng xuôi về biển. Đứng phía trên dòng sông nhìn những đèn hoa sen hàng hàng lung linh sáng lập lờ trên sông nước về xuôi thật là đẹp - Một cái đẹp thanh cao tao nhã và thơ mộng. Đó chính là hội “Hoa đăng” trong lễ hội. Từ vịnh thuyền (hoặc bè) trở về đến bến Báo Ân hát bài hát dâng trên bến cô Ba, lên bờ lên tháp Viên Quang, vào chùa, bái phật, tạ Mẫu). Sau hội “Hoa đăng” từ 22 giờ đêm đến 24 giờ đêm có lễ “Mục Dục” tại chùa (lễ tắm gọi là Mẫu). Lễ vật được đoàn mang theo khi đi rước nước Buổi sáng ngày 28 tháng 2 âm lịch là lễ chính ở chùa Báo Ân đó là lễ hội “Rước nước”. Đoàn người được phân công chuẩn bị, ăn mặc lễ hội “Kiệu Mẫu” qua ngõ Vạn, lên ngõ Chùa, qua Nghè Vẹt lên chân núi Báo qua nền Trời đất, sang khe Mang cá đến nền “Rước bóng” trở về chùa. Đoàn người rước kiệu Mẫu xong là sẽ đến phần “Rước nước”, ở trên bến Báo Ân đã tập kết 5 chiếc thuyền. Thuyền đi đầu là thuyền Rồng lớn được gọi là thuyền Phật lấy nước. Thuyền thứ 2 là thuyền Mẫu rất lớn. Thuyền Rồng thứ 3 là thuyền các cô, các cậu. Thuyền thứ 4 nhỏ hơn gọi là thuyền chỉ huy. Thuyền thứ 5 là thuyền giám sát việc đi lấy nước.Trên 3 thuyền rộng lớn mỗi một thuyền có từ 8 đến 10 thủy thủ chèo thuyền: chiếc thuyền đầu tiên trở lọng vàng, cờ quạt, 12 nữ mặc áo tứ thân; đi hài trắng, trâm cài, đầu đội các mâm hoa quả và bình sứ hình quả bầu dục để đựng nước. Thuyền thứ 2 được gọi là thuyền cô “ba Thoải” gồm có các nữ ăn mặc lễ hội hát múa. Trên thuyền có phường bát âm đánh nhạc làm nền cho giọng hát và điệu múa. Số người có trên 5 chiếc thuyền có khoảng 90 người đến 100 người. Hai bên bờ sông Mã người đứng tham quan lễ hội vô cùng đông đảo. Đoàn thuyền chèo ra giữa sông Mã, qua hòn đá Bàn, vượt hòn đá Ngốc, rẽ lái sang ngang. Sau 3 vòng lượn đến hòn đá ở giữa dòng sông thì cắm nêu dừng thuyền.Trong các ngày diễn ra lễ hội ngay tại khuôn viên chùa tổ chức nhiều trò chơi dân gian truyền thống như: So đẩy gậy, kéo co của chị em phụ nữ, cờ người, tổ tôm và bài đếm của các cụ cao niên. Đông đảo người dân tập trung hai bên bờ sông để theo dõi lễ nghi rước nước Ngoài lễ hoa đăng, rước nước tối ngày 29 tháng 2 âm lịch bước sang ngày mùng 1 tháng 3 âm lịch có lễ tế tạ (ngày hóa của Mẫu)... Lễ hội “Rước nước” ở chùa Báo Ân xã Vĩnh Hùng là một lễ hội mang đậm truyền thống văn hóa hàng nghìn năm thu hút du khách thập phương đến dự lễ hội rất đông. lehoi.info t

Related Figures

Lễ hội Đền Sòng

Thông tin thời kỳ

Đền Sòng Sơn thời xưa thuộc trang Cổ Đam, Phú Dương, Phủ Tống,Thanh Hoá, ngày nay thuộc Phường Bắc Sơn, Bỉm Sơn, Thanh Hoá, nơi đây là một trong những nơi thờ Mẫu Liễu Hạnh - một trong Tứ bất tử của người Việt Nam từ thời xa xưa. Lễ hội Đền Sòng thường diễn ra từ ngày mùng 10 đến ngày 26 tháng 2 âm lịch hàng năm, trong đó ngày 25 là ngày chính hội, đó chính là ngày Thánh Mẫu hạ giới. Đặc sắc lễ hội Đền Sòng tại Thanh Hóa Ngày chính hội sẽ diễn ra từ 5 giờ sáng và kết thúc vào khoảng 12 giờ trưa, nhưng tất cả mọi việc đều phải chuẩn bị từ trước đó một tháng. Lễ hội Đền Sòng gồm có 2 phần: phần lễ và phần hội. Phần lễ chính là phần rước Thánh Mẫu từ Đền Sòng đến Đền Chín Giếng và tế nữ quan. Thủ tục ở trong lễ hội không nhiều nhưng được cắt đặt rất chặt chẽ và theo một qui trình nhất định. Vật lễ gồm có hoa quả, bánh kẹo, xôi thịt, xôi gà. Một số địa phương quanh vùng còn làm nhiều thứ bánh khác như bánh chưng, bánh nếp, bánh lá răng bừa, bánh mật và bánh trôi đem tới dâng lễ. Việc cúng lễ, theo tài liệu từ thời xưa ghi lại là do phụ nữ đảm nhiệm và gọi là Bà Đồng. Bà Đồng thường phải là những người sống độc thân từ hồi còn trẻ, tự nguyện làm nghề đồng và coi giữ ngôi đền Thánh Mẫu, hầu Mẫu, hầu Thánh bằng nhiều hình thức như nhảy đồng, lên đồng... còn đàn ông thường thì chỉ đánh đàn và hát chầu văn. Trong suốt khoảng thời gian mở hội các bà đồng phải sống riêng biệt: phải ở ẩn và ăn chay để giữ cho lòng mình luôn thanh sạch. Lễ hội Đền Sòng Ngày nay việc cúng tế không còn chỉ do phụ nữ đảm nhiệm mà thuộc về các Bản hội. Có nhiều bản hội tới tế lễ như bản hội bà Sang, bản hội bà Toàn, bản hội ông Hào.v.v... Các bản hội thường tổ chức chuẩn bị và tập luyện trước kỳ khai hội khoảng 1 tháng. Ngoài ra còn có bản hội ở các tỉnh, các thành phố khác về hội lễ như Hải Phòng, Hà Nội, Nam Định... Trình tự của cuộc tế lễ như sau: Già làng Cổ Đạm sau khi thắp 1 tuần nhang cáo yết cầu Thánh ban cho dân làng 1 năm an khang vật thịnh... thì sẽ bắt đầu tổ chức rước Mẫu. Tượng Thánh Mẫu được ngự kiệu từ chính tẩm rước qua cung Đệ nhị, Đệ tam và rước quanh đền. Việc rước này theo như quan niệm của nhân dân là để cho Thánh Mẫu có thể quan sát lại cảnh vật, đất đai và sông núi xưa... Đi trước đoàn rước là trống, chiêng, rồi đến bàn thờ đặt những lễ vật và đồ tế khí (chỉ có bà đồng mới có được đặc ân gánh trên vai những thứ thiêng liêng ấy). Trên bàn thờ bày biện các đồ cúng tế, hòm đựng những đồ giấy màu vàng óng ánh và tô màu sắc tượng trưng cho quần áo, hoa khăn của Thánh Mẫu và tiếp theo sau đó là kiệu Thánh Mẫu. 16 cô gái đồng trinh trang phục quần áo sặc sỡ đi giật lùi trước kiệu của Đức Thánh Mẫu. Sau kiệu cũng có 16 cô gái đồng trinh giơ cao những lư hương, tung hoa và cầm tán che cho kiệu. Các cô gái được chọn tham gia tế lễ đều là những thiếu nữ có tuổi từ 14 đến 16 tuổi, nết na, xinh đẹp, gia đình hòa thuận và an khang. Sau khi rước Thánh Mẫu vào chính tẩm an vị, bắt đầu vào tế nữ quan và cuộc tế kéo dài tới nửa ngày. Phần hội là các trò chơi như võ công, đánh vật, thi hát đối chầu văn. Trước kia các trò chơi tương đối phong phú như đánh cờ, múa rồng, đánh vật, đánh đu, múa sư tử, leo dây. Ngày nay do thời gian buổi lễ đã bị rút ngắn lại nên các trò chơi theo đó cũng giảm dần, chỉ giữ lại một số những trò độc đáo. Tưng bừng lễ hội Đền Sòng tại Thanh Hóa Sau khi đền được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa, thắng cảnh Đền Sòng thuộc sự quản lí của Ban văn hóa thị xã Bỉm Sơn. Lễ hội Đền Sòng cũng được thị xã đứng ra tổ chức qui củ hơn nhằm giảm bớt chi phí không cần thiết mà vẫn đảm bảo được giá trị cổ xưa của nó. Theo cpv.org.vn

Related Figures

Lễ hội Cầu ngư

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 26/2- 30/2 Âm lịch Lễ hội cầu ngư là một lễ hội truyền thống của ngư dân địa phương có từ rất lâu đời, lễ hội được tổ chức hàng năm tại làng Diêm Phố, xã Ngư Lộc, Hậu Lộc, Thanh Hóa vào cuối tháng 2 âm lịch, lễ hội kéo dài trong vòng 4 ngày và thường được chuẩn bị trước hàng tháng trời với mục đích cầu mong cho trời yên biển lặng, thuận lợi cho mùa vụ đánh bắt cá trong năm. Đặc sắc lễ hội Cầu ngư tại Thanh Hóa Mở đầu lễ hội là Lễ rước thuyền Long Châu (1 lễ vật quan trọng nhất trong lễ hội cầu ngư) từ thôn Bắc Thọ vào sân vận động xã, được bà con tổ chức rất trang nghiêm bày tỏ tình đoàn kết giữa các vạn chài và mong thần linh chứng giám lòng thành của ngư dân ngoài biển. Tưng bừng lễ hội Cầu Ngư Trong suốt khoảng thời gian diễn ra lễ hội, những dòng họ trong xã đến trước thuyền Long Châu cầu khấn mong cho mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, cầu cho một mùa đánh bắt hải sản thắng lợi, đời sống của ngư dân được ấm no hạnh phúc. Tiếp theo là phần hội với nhiều những hoạt động văn hóa, thể dục thể thao sôi nổi và mang đậm nét văn hoá truyền thống vùng biển như: kéo lưới, thi câu mực, thi cờ tướng, biểu diễn nhạc lưu thuỷ, hát giao duyên... Trước khi kết thúc lễ , Ban tổ chức sẽ phải “hoá vàng” chiếc thuyền Long Châu, để gửi về biển cả, để các thần linh của biển chứng giám cho lòng thành của ngư dân và che chở cho ngư dân một năm “trời yên bể lặng”, tôm cá đầy thuyền. Lễ hội Cầu Ngư là lễ hội đặc sắc nhất của ngư dân vùng biển xứ Thanh, nhằm tôn vinh giá trị văn hóa truyền thống, đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng dân gian của ngư dân nơi đây. Lễ hội Cầu Ngư thu hút đông đảo người dân tham gia Từ năm 2005, lễ hội Cầu Ngư tại Thanh Hóa đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Lễ hội Văn hoá phi vật thể.

Lễ hội cầu ngư là một lễ hội truyền thống của ngư dân địa phương có từ rất lâu đời, lễ hội được tổ chức hàng năm tại làng Diêm Phố, xã Ngư Lộc, Hậu Lộc, Thanh Hóa vào cuối tháng 2 âm lịch, lễ hội kéo dài trong vòng 4 ngày và thường được chuẩn bị trước hàng tháng trời với mục đích cầu mong cho trời yên biển lặng, thuận lợi cho mùa vụ đánh bắt cá trong năm. Đặc sắc lễ hội Cầu ngư tại Thanh Hóa Mở đầu lễ hội là Lễ rước thuyền Long Châu (1 lễ vật quan trọng nhất trong lễ hội cầu ngư) từ thôn Bắc Thọ vào sân vận động xã, được bà con tổ chức rất trang nghiêm bày tỏ tình đoàn kết giữa các vạn chài và mong thần linh chứng giám lòng thành của ngư dân ngoài biển. Tưng bừng lễ hội Cầu Ngư Trong suốt khoảng thời gian diễn ra lễ hội, những dòng họ trong xã đến trước thuyền Long Châu cầu khấn mong cho mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, cầu cho một mùa đánh bắt hải sản thắng lợi, đời sống của ngư dân được ấm no hạnh phúc. Tiếp theo là phần hội với nhiều những hoạt động văn hóa, thể dục thể thao sôi nổi và mang đậm nét văn hoá truyền thống vùng biển như: kéo lưới, thi câu mực, thi cờ tướng, biểu diễn nhạc lưu thuỷ, hát giao duyên... Trước khi kết thúc lễ , Ban tổ chức sẽ phải “hoá vàng” chiếc thuyền Long Châu, để gửi về biển cả, để các thần linh của biển chứng giám cho lòng thành của ngư dân và che chở cho ngư dân một năm “trời yên bể lặng”, tôm cá đầy thuyền. Lễ hội Cầu Ngư là lễ hội đặc sắc nhất của ngư dân vùng biển xứ Thanh, nhằm tôn vinh giá trị văn hóa truyền thống, đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng dân gian của ngư dân nơi đây. Lễ hội Cầu Ngư thu hút đông đảo người dân tham gia Từ năm 2005, lễ hội Cầu Ngư tại Thanh Hóa đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Lễ hội Văn hoá phi vật thể.

Related Figures

Lễ hội đền Nưa

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 18/1- 20/1 Âm lịch (lehoi.info)- Lễ hội phủ Nưa diễn ra hàng năm từ ngày 18 đến 20 tháng Giêng âm lịch. Tại xã Tân Ninh,Triệu Sơn, Thanh Hóa. Trong ngày lễ hội diễn ra nhân dân các làng dâng mâm sơn trang để tế lễ và tưởng nhớ tới công đức của các vị tướng, vị thần đã có công khai phá và gìn giữ vùng đất này. Lễ hội đền Nưa tại Thanh Hóa Xã Tân Ninh, Triệu Sơn, Thanh Hóa được hình thành từ 1 làng quê với tên gọi là Kẻ Nứa. Sở dĩ có tên gọi là Kẻ Nứa vì địa phương có dãy núi Nưa, đây là một dãy núi cao trùng điệp được bắt nguồn từ dải Trường Sơn vươn về phía biển theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Đất đai trên núi rất phì nhiêu, màu mỡ, cây cối tươi tốt, đặc biệt trong rừng có cây nứa mọc ở khắp nơi. Vì vậy, những người dân địa phương quen gọi là núi Nứa. Trải qua suốt chiều dài lịch sử, vùng đất Kẻ Nứa đã đổi thành nhiều tên gọi khác như: Cổ Na, Cổ Định, Cổ Ninh, Ninh Hòa và xã Tân Ninh ngày nay. Lễ hội đền Nưa thường được bắt đầu từ ngay sau Tết Mậu Tý, nhưng phần chính của hội vẫn là từ ngày 18 đến ngày 20 tháng giêng. Trong những ngày lễ hội diễn ra, tại di tích Am Tiên đã khai hội và đón rất nhiều các du khách thập phương từ khắp nơi về đây vãn cảnh chùa, ngắm cảnh làng quê vùng sơn cước và thực hiện tín ngưỡng. Tưng bừng lễ hội Đền Nưa Hằng năm lễ hội được khai mạc rất trọng thể và rất trang nghiêm ở tại đền thờ Trần Khát Chân và kết thúc ở tại phủ Nưa. Lễ hội bao gồm 2 phần: Phần Lễ và Phần Hội Phần Lễ được diễn ra như sau: Mỗi năm đều có một làng tiêu biểu được chọn để dâng lễ vật chính, cỗ rước bằng kiệu bát cống (có 8 người khiêng), trong kiệu có đủ các loại hoa quả và bánh dầy- là một đặc sản của địa phương được làm bằng gạo nếp cái hoa vàng. Kiệu được tổ chức rước tại 2 địa điểm, đền Bà Triệu và đền Trần Khát Chân. Đi đầu của đoàn rước kiệu là một người ăn mặc trang phục võ quan, nhanh nhẹn, mắt sáng và tướng võ quan, tay cầm kiếm lệnh dẹp đường, chỉ huy đội quân rước kiệu. Phía sau sẽ là một số nam thanh, nữ tú, cùng với các chị em thôn nữ đội mâm sơn trang và các lễ vật tế thần. Sau là 1 đội quân ăn mặc chỉnh tề, tay cầm vũ khí, ô lọng và có 1 đội khiêng kiệu. Kiệu được rước từ đền Trần Khát Chân thì gọi là kiệu Ông; kiệu được rước từ đền Bà Triệu thì gọi là kiệu Bà. Người khiêng kiệu phải là con trai, con gái thanh tân. Kiệu Ông và kiệu Bà đều được rước về trung tâm sân vận động của địa phương để làm lễ tế thiên địa, thần linh và cầu cho quốc thái dân an, mùa màng tốt tươi, mưa thuận gió hòa... Phần Hội diễn ra như sau: Phần hội trước đây có các trò chơi như: đua thuyền, cờ người, bài điếm, hát ví, chọi gà. Ngày nay, phần hội còn tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể thao, cầu lông, bóng đá, bóng bàn, chọi gà, cờ tướng... Hàng ngàn du khách tham gia lễ hội Đền Nưa

(lehoi.info)- Lễ hội phủ Nưa diễn ra hàng năm từ ngày 18 đến 20 tháng Giêng âm lịch. Tại xã Tân Ninh,Triệu Sơn, Thanh Hóa. Trong ngày lễ hội diễn ra nhân dân các làng dâng mâm sơn trang để tế lễ và tưởng nhớ tới công đức của các vị tướng, vị thần đã có công khai phá và gìn giữ vùng đất này.

Lễ hội đền Nưa tại Thanh Hóa

Xã Tân Ninh, Triệu Sơn, Thanh Hóa được hình thành từ 1 làng quê với tên gọi là Kẻ Nứa. Sở dĩ có tên gọi là Kẻ Nứa vì địa phương có dãy núi Nưa, đây là một dãy núi cao trùng điệp được bắt nguồn từ dải Trường Sơn vươn về phía biển theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Đất đai trên núi rất phì nhiêu, màu mỡ, cây cối tươi tốt, đặc biệt trong rừng có cây nứa mọc ở khắp nơi. Vì vậy, những người dân địa phương quen gọi là núi Nứa. Trải qua suốt chiều dài lịch sử, vùng đất Kẻ Nứa đã đổi thành nhiều tên gọi khác như: Cổ Na, Cổ Định, Cổ Ninh, Ninh Hòa và xã Tân Ninh ngày nay. Lễ hội đền Nưa thường được bắt đầu từ ngay sau Tết Mậu Tý, nhưng phần chính của hội vẫn là từ ngày 18 đến ngày 20 tháng giêng. Trong những ngày lễ hội diễn ra, tại di tích Am Tiên đã khai hội và đón rất nhiều các du khách thập phương từ khắp nơi về đây vãn cảnh chùa, ngắm cảnh làng quê vùng sơn cước và thực hiện tín ngưỡng. Tưng bừng lễ hội Đền Nưa Hằng năm lễ hội được khai mạc rất trọng thể và rất trang nghiêm ở tại đền thờ Trần Khát Chân và kết thúc ở tại phủ Nưa. Lễ hội bao gồm 2 phần: Phần Lễ và Phần Hội Phần Lễ được diễn ra như sau: Mỗi năm đều có một làng tiêu biểu được chọn để dâng lễ vật chính, cỗ rước bằng kiệu bát cống (có 8 người khiêng), trong kiệu có đủ các loại hoa quả và bánh dầy- là một đặc sản của địa phương được làm bằng gạo nếp cái hoa vàng. Kiệu được tổ chức rước tại 2 địa điểm, đền Bà Triệu và đền Trần Khát Chân. Đi đầu của đoàn rước kiệu là một người ăn mặc trang phục võ quan, nhanh nhẹn, mắt sáng và tướng võ quan, tay cầm kiếm lệnh dẹp đường, chỉ huy đội quân rước kiệu. Phía sau sẽ là một số nam thanh, nữ tú, cùng với các chị em thôn nữ đội mâm sơn trang và các lễ vật tế thần. Sau là 1 đội quân ăn mặc chỉnh tề, tay cầm vũ khí, ô lọng và có 1 đội khiêng kiệu. Kiệu được rước từ đền Trần Khát Chân thì gọi là kiệu Ông; kiệu được rước từ đền Bà Triệu thì gọi là kiệu Bà. Người khiêng kiệu phải là con trai, con gái thanh tân. Kiệu Ông và kiệu Bà đều được rước về trung tâm sân vận động của địa phương để làm lễ tế thiên địa, thần linh và cầu cho quốc thái dân an, mùa màng tốt tươi, mưa thuận gió hòa... Phần Hội diễn ra như sau: Phần hội trước đây có các trò chơi như: đua thuyền, cờ người, bài điếm, hát ví, chọi gà. Ngày nay, phần hội còn tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể thao, cầu lông, bóng đá, bóng bàn, chọi gà, cờ tướng... Hàng ngàn du khách tham gia lễ hội Đền Nưa

Related Figures

Lễ hội cửa đặt

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/1- 1/3 Âm lịch (lehoi.info)- Lễ hội cửa đặt diễn ra từ đầu tháng Giêng đến tháng ba âm lịch, tại huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh hoá. Đây chính là lễ hội thờ danh nhân Cầm Bá Thước, kết hợp với tín ngưỡng thờ Bà Chúa thượng ngàn của người dân địa phương. Sử sách ghi lại rằng, anh hùng Cầm Bá Thước sinh ra ở huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa, là một trong những người lãnh đạo phong trào Cần Vương, ông hi sinh khi mới 37 tuổi. Còn truyền thuyết về Bà Chúa Thượng Ngàn, được sinh ra vào thời nhà Trần và có công cứu nạn dân chúng nên được phong thánh cai quản một vùng. Để tưởng nhớ công ơn của Danh nhân Cầm Bá Thước và Bà Chúa Thượng Ngàn, nhân dân trong vùng đã lập nên hai ngôi đền bên cạnh nhau để dân chúng trong vùng có thể thường xuyên hương khói, chính là chùa Cửa Đặt ngày nay. Đặc sắc lễ hội Cửa Đặt tại Thanh Hóa Lễ hội Cửa Đặt được diễn ra tại đền Cửa Đặt thuộc xã Vạn Xuân, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa Lễ hội Cửa Đặt là lễ hội của người dân huyện Thường Xuân nói riêng và của nhân dân Thanh Hoá nói chung tổ chức để tưởng nhớ tới Cầm Bá Thước - người đã giương cao ngọn cờ khởi nghĩa trong phong trào Cần Vương chống thực dân Pháp suốt 10 năm liền tại quê hương mình và Chúa Thượng Ngàn- Chúa của rừng xanh.. Đến với lễ hội Cửa Đặt du khách sẽ được tìm hiểu về tế lễ trong tín ngưỡng thờ thánh của người Thái xã Vạn Xuân, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa, được cùng tham gia vào các sinh hoạt văn hoá khác như lễ rước quan Cầm Bá Thước, các trò chơi trò diễn dân gian như múa sạp, tung còn, hát giao duyên, chơi đu, đánh khẳng... Quang cảnh lễ hội Cửa Đặt Hàng năm, hàng vạn người dân địa phương và du khách thập phương lại hành hương về Khu di tích Cửa Đạt để dâng hương cầu lộc, cầu tài… Hàng ngàn du khách thập phương về dự lễ hội Cửa Đặt

(lehoi.info)- Lễ hội cửa đặt diễn ra từ đầu tháng Giêng đến tháng ba âm lịch, tại huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh hoá. Đây chính là lễ hội thờ danh nhân Cầm Bá Thước, kết hợp với tín ngưỡng thờ Bà Chúa thượng ngàn của người dân địa phương.

Sử sách ghi lại rằng, anh hùng Cầm Bá Thước sinh ra ở huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa, là một trong những người lãnh đạo phong trào Cần Vương, ông hi sinh khi mới 37 tuổi. Còn truyền thuyết về Bà Chúa Thượng Ngàn, được sinh ra vào thời nhà Trần và có công cứu nạn dân chúng nên được phong thánh cai quản một vùng.

Để tưởng nhớ công ơn của Danh nhân Cầm Bá Thước và Bà Chúa Thượng Ngàn, nhân dân trong vùng đã lập nên hai ngôi đền bên cạnh nhau để dân chúng trong vùng có thể thường xuyên hương khói, chính là chùa Cửa Đặt ngày nay.

Đặc sắc lễ hội Cửa Đặt tại Thanh Hóa

Lễ hội Cửa Đặt được diễn ra tại đền Cửa Đặt thuộc xã Vạn Xuân, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa

Lễ hội Cửa Đặt là lễ hội của người dân huyện Thường Xuân nói riêng và của nhân dân Thanh Hoá nói chung tổ chức để tưởng nhớ tới Cầm Bá Thước - người đã giương cao ngọn cờ khởi nghĩa trong phong trào Cần Vương chống thực dân Pháp suốt 10 năm liền tại quê hương mình và Chúa Thượng Ngàn- Chúa của rừng xanh..

Đến với lễ hội Cửa Đặt du khách sẽ được tìm hiểu về tế lễ trong tín ngưỡng thờ thánh của người Thái xã Vạn Xuân, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa, được cùng tham gia vào các sinh hoạt văn hoá khác như lễ rước quan Cầm Bá Thước, các trò chơi trò diễn dân gian như múa sạp, tung còn, hát giao duyên, chơi đu, đánh khẳng...

Quang cảnh lễ hội Cửa Đặt

Hàng năm, hàng vạn người dân địa phương và du khách thập phương lại hành hương về Khu di tích Cửa Đạt để dâng hương cầu lộc, cầu tài… Hàng ngàn du khách thập phương về dự lễ hội Cửa Đặt

Related Figures

Hội Xuân Phả

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/2 Âm lịch (lehoi.info) - Hội Xuân Phả diễn ra hàng năm vào ngày mùng 10 tháng 2 âm lịch, tại xã Xuân Trường, Thọ Xuân, Thanh Hoá, nhằm suy tôn Đông Hải đại vương, âm phủ và Vua Đinh, Vua Lê. Hội Xuân Phả tại Thanh Hóa Vào thời xưa kia, lễ hội Xuân Phả thường huy động sự tham gia của dân chúng ở trong 5 thôn, mỗi thôn sẽ đảm trách một trò. Dân mỗi một thôn phải tự chuẩn bị cờ hiệu, cờ lệnh, trống chiêng, kiệu rước, lễ vật,... và tập luyện vũ điệu riêng của thôn mình. Khi đến ngày tổ chức lễ hội, các thôn sẽ rước lễ vật ra nghè. Đoàn rước phải có các vũ công trong trang phục “ngoại quốc”, cờ, kiệu, người hộ giá và trống chiêng vang động khắp làng. Vào sân nghè, các đoàn sẽ dâng lễ lên bàn thờ thành hoàng và trình diễn “hầu thánh” vũ điệu của thôn mình. Qua đó tỏ lòng tạ ơn vị thần bảo mệnh (Đại Hải Long Vương) vì đã có công phù trợ cho dân an, vật thịnh, mùa màng tốt tươi. Một tiết mục đặc sắc của trò Xuân Phả Trò Xuân Phả gồm có năm bộ trò tiêu biểu là: trò Hòa Lan, trò Chiêm Thành, trò Ai Lao, trò Ngô Quốc và trò Tú Huần, mô phỏng những hoạt động của quốc gia, tộc người láng giềng đến yết kiến, tiến cống nhà vua nước Việt. Hầu hết đạo cụ diễn trò Xuân Phả đều được chế tạo bằng những nguyên liệu sẵn có như tre, trúc, gỗ vông và rễ cây si. Các loại nhạc cụ gồm có trống, nhị, hồ, thanh la và não bát. Trống có đường kính mặt 60 cm - 65 cm nhưng phải có tiếng và có âm phù hợp với loại hình trò diễn. Mõ có hình dáng cong hình lưỡi liềm, dài khoảng 20 cm được chế tạo từ gốc tre già, mặt ngoài của mõ được làm nhẵn, bên trong thì đục rỗng để có độ cộng hưởng âm thanh. Theo như một số tài liệu của địa phương, trò Xuân Phả được ra đời vào thế kỷ XV (thời Hậu Lê). Nhưng có ý kiến cho rằng trò diễn này được ra đời từ thời nhà Đinh. Nhộn nhịp lễ hội Xuân Phả Trò Xuân Phả là một di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc nhất còn lưu giữ được tương đối nguyên vẹn ở Thanh Hóa sau hàng trăm năm qua cho đến tận ngày nay./.

(lehoi.info) - Hội Xuân Phả diễn ra hàng năm vào ngày mùng 10 tháng 2 âm lịch, tại xã Xuân Trường, Thọ Xuân, Thanh Hoá, nhằm suy tôn Đông Hải đại vương, âm phủ và Vua Đinh, Vua Lê.

Hội Xuân Phả tại Thanh Hóa

Vào thời xưa kia, lễ hội Xuân Phả thường huy động sự tham gia của dân chúng ở trong 5 thôn, mỗi thôn sẽ đảm trách một trò. Dân mỗi một thôn phải tự chuẩn bị cờ hiệu, cờ lệnh, trống chiêng, kiệu rước, lễ vật,... và tập luyện vũ điệu riêng của thôn mình. Khi đến ngày tổ chức lễ hội, các thôn sẽ rước lễ vật ra nghè. Đoàn rước phải có các vũ công trong trang phục “ngoại quốc”, cờ, kiệu, người hộ giá và trống chiêng vang động khắp làng. Vào sân nghè, các đoàn sẽ dâng lễ lên bàn thờ thành hoàng và trình diễn “hầu thánh” vũ điệu của thôn mình. Qua đó tỏ lòng tạ ơn vị thần bảo mệnh (Đại Hải Long Vương) vì đã có công phù trợ cho dân an, vật thịnh, mùa màng tốt tươi. Một tiết mục đặc sắc của trò Xuân Phả Trò Xuân Phả gồm có năm bộ trò tiêu biểu là: trò Hòa Lan, trò Chiêm Thành, trò Ai Lao, trò Ngô Quốc và trò Tú Huần, mô phỏng những hoạt động của quốc gia, tộc người láng giềng đến yết kiến, tiến cống nhà vua nước Việt. Hầu hết đạo cụ diễn trò Xuân Phả đều được chế tạo bằng những nguyên liệu sẵn có như tre, trúc, gỗ vông và rễ cây si. Các loại nhạc cụ gồm có trống, nhị, hồ, thanh la và não bát. Trống có đường kính mặt 60 cm - 65 cm nhưng phải có tiếng và có âm phù hợp với loại hình trò diễn. Mõ có hình dáng cong hình lưỡi liềm, dài khoảng 20 cm được chế tạo từ gốc tre già, mặt ngoài của mõ được làm nhẵn, bên trong thì đục rỗng để có độ cộng hưởng âm thanh. Theo như một số tài liệu của địa phương, trò Xuân Phả được ra đời vào thế kỷ XV (thời Hậu Lê). Nhưng có ý kiến cho rằng trò diễn này được ra đời từ thời nhà Đinh. Nhộn nhịp lễ hội Xuân Phả Trò Xuân Phả là một di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc nhất còn lưu giữ được tương đối nguyên vẹn ở Thanh Hóa sau hàng trăm năm qua cho đến tận ngày nay./.

Related Figures

Lễ hội rước thần cá

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 8/1 Âm lịch (lehoi.info) - Lễ hội rước thần cá diễn ra vào ngày mùng 8 tháng giêng hàng năm, tại bản Lương Ngọc, xã Cẩm Lương, Cẩm Thủy, Thanh Hoá - là nơi có suối cá thần kỳ thú và hấp dẫn. Lễ hội rước thần cá tại Thanh Hóa Lễ hội rước thần cá tại Thanh Hóa Lễ hội rước thần cá có từ thời xa xưa, được đồng bào người dân tộc Mường ở xã Cẩm Lương bảo tồn, lưu giữ khá nguyên vẹn cho đến tận ngày nay. Lễ hội được tổ chức rất trang trọng, hoành tráng với ước nguyện của mọi người dân địa phương là cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, mọi người khỏe mạnh. Phần mở đầu lễ hội là phần rước thần cá từ suối Ngọc - nằm phía dưới chân núi Trường Sinh - đưa về sân vận động của bản để làm lễ khai mạc, báo công với thành hoàng về một năm lao động sản xuất của đồng bào địa phương nơi đây và những ước nguyện của năm mới. Sau đó, thần cá sẽ tiếp tục được đưa ra đền thờ ngay chân núi Trường Sinh để cúng tế. Đặc sắc lễ hội rước Cá Thần Sau phần lễ là đến phần hội với những trò chơi dân gian của đồng bào người dân tộc Mường bản địa như chơi đu, ném còn, đẩy gậy, kéo co và nhiều những hoạt động văn hóa - văn nghệ, thể dục thể thao như thi đấu bóng chuyền, cầu lông, hát Xường, ru Mường. Suối cá thần Cẩm Lương là một hiện tượng thiên nhiên kỳ thú có từ hàng trăm năm nay bên chân núi Trường Sinh, thuộc bản Ngọc, xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thuỷ (cách trung tâm TP Thanh Hoá khoảng 100 km về phía Tây Bắc). Huyền thoại về suối cá thần Huyền thoại kể lại rằng: Ngày xửa, ngày xưa, nơi bản Ngọc từ thời khai thiên, lập địa, vào một năm nọ, thời tiết khắc nghiệt, hạn hán kéo dài quanh năm, người dân túng đói vô ngần. Một hôm, có hai vợ chồng trong bản hiếm muộn con đi làm đồng vô tình nhặt được một quả trứng có hình thù kỳ lạ. Người vợ đem quả trứng ra suối Ngọc và thả xuống nước, nhưng lạ thay, khi nhấc tay lên thì người ấy lại thấy quả trứng vẫn đang trên tay mình. Hai vợ chồng đã quyết định đem quả trứng lạ đặt vào ổ gà đang ấp và quả trứng nở ra một con rắn. Sợ quá, người chồng đã đem con rắn ra suối Ngọc thả, nhưng cứ tối đến là con rắn lại về ở với gia đình này. Sau đó họ đã để con rắn ở lại sinh sống với mọi người. Lạ thay, kể từ đó đồng ruộng của bản có đủ nước cày cấy, đồng bào sống trong no ấm và hạnh phúc. Chàng rắn ấy đã trở thành vị cứu tinh của bản nên được mọi người hết lòng tôn kính. Rồi vào một hôm định mệnh, trời nổi cơn giông, sấm chớp đùng đùng. Sau cơn giông, dân bản thấy xác của chàng rắn nằm bên chân núi Trường Sinh, đầu hướng về bản Ngọc. Thương tiếc chàng rắn, người dân bản chôn cất chàng bên chân núi và lập đền thờ gọi là Ngọc Từ. Trong một buổi tế lễ, đồng bào bản Ngọc được thần báo mộng rằng chàng rắn chết là do quyết chiến với thuỷ quái để bảo vệ người dân bản. Sau này chàng rắn được phong thần và được gọi là: Tứ Phủ Long Vương. Từ đó, ở suối Ngọc bên chân núi Trường Sinh xuất hiện một đàn cá thần hàng nghìn con luôn quây quần chầu trước đền Ngọc Từ để hầu hạ chàng rắn. Suối cá thần ở Cẩm Lương Bên cạnh suối cá thần, xã Cẩm Lương hiện vẫn còn giữ được nguyên vẹn hệ thống rừng nguyên sinh với các loài động vật, thực vật đặc trưng của vùng nhiệt đới, thuộc dãy núi đá vôi Pù Luông - Cúc Phương. Đồng bào dân tộc Mường nơi đây với những nếp sinh hoạt văn hoá truyền thống như: uống rượu cần, dệt thổ cẩm, múa Pồn Pông... sẽ là điểm nhấn để thu hút du khách thập phương. Đặc biệt, dọc dãy núi Trường Sinh hiện còn có nhiều hang động nguyên sơ vẫn chưa được khám phá./.

(lehoi.info) - Lễ hội rước thần cá diễn ra vào ngày mùng 8 tháng giêng hàng năm, tại bản Lương Ngọc, xã Cẩm Lương, Cẩm Thủy, Thanh Hoá - là nơi có suối cá thần kỳ thú và hấp dẫn.

Lễ hội rước thần cá tại Thanh Hóa

Lễ hội rước thần cá tại Thanh Hóa Lễ hội rước thần cá có từ thời xa xưa, được đồng bào người dân tộc Mường ở xã Cẩm Lương bảo tồn, lưu giữ khá nguyên vẹn cho đến tận ngày nay. Lễ hội được tổ chức rất trang trọng, hoành tráng với ước nguyện của mọi người dân địa phương là cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, mọi người khỏe mạnh. Phần mở đầu lễ hội là phần rước thần cá từ suối Ngọc - nằm phía dưới chân núi Trường Sinh - đưa về sân vận động của bản để làm lễ khai mạc, báo công với thành hoàng về một năm lao động sản xuất của đồng bào địa phương nơi đây và những ước nguyện của năm mới. Sau đó, thần cá sẽ tiếp tục được đưa ra đền thờ ngay chân núi Trường Sinh để cúng tế. Đặc sắc lễ hội rước Cá Thần Sau phần lễ là đến phần hội với những trò chơi dân gian của đồng bào người dân tộc Mường bản địa như chơi đu, ném còn, đẩy gậy, kéo co và nhiều những hoạt động văn hóa - văn nghệ, thể dục thể thao như thi đấu bóng chuyền, cầu lông, hát Xường, ru Mường. Suối cá thần Cẩm Lương là một hiện tượng thiên nhiên kỳ thú có từ hàng trăm năm nay bên chân núi Trường Sinh, thuộc bản Ngọc, xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thuỷ (cách trung tâm TP Thanh Hoá khoảng 100 km về phía Tây Bắc). Huyền thoại về suối cá thần Huyền thoại kể lại rằng: Ngày xửa, ngày xưa, nơi bản Ngọc từ thời khai thiên, lập địa, vào một năm nọ, thời tiết khắc nghiệt, hạn hán kéo dài quanh năm, người dân túng đói vô ngần. Một hôm, có hai vợ chồng trong bản hiếm muộn con đi làm đồng vô tình nhặt được một quả trứng có hình thù kỳ lạ. Người vợ đem quả trứng ra suối Ngọc và thả xuống nước, nhưng lạ thay, khi nhấc tay lên thì người ấy lại thấy quả trứng vẫn đang trên tay mình. Hai vợ chồng đã quyết định đem quả trứng lạ đặt vào ổ gà đang ấp và quả trứng nở ra một con rắn. Sợ quá, người chồng đã đem con rắn ra suối Ngọc thả, nhưng cứ tối đến là con rắn lại về ở với gia đình này. Sau đó họ đã để con rắn ở lại sinh sống với mọi người. Lạ thay, kể từ đó đồng ruộng của bản có đủ nước cày cấy, đồng bào sống trong no ấm và hạnh phúc. Chàng rắn ấy đã trở thành vị cứu tinh của bản nên được mọi người hết lòng tôn kính. Rồi vào một hôm định mệnh, trời nổi cơn giông, sấm chớp đùng đùng. Sau cơn giông, dân bản thấy xác của chàng rắn nằm bên chân núi Trường Sinh, đầu hướng về bản Ngọc. Thương tiếc chàng rắn, người dân bản chôn cất chàng bên chân núi và lập đền thờ gọi là Ngọc Từ. Trong một buổi tế lễ, đồng bào bản Ngọc được thần báo mộng rằng chàng rắn chết là do quyết chiến với thuỷ quái để bảo vệ người dân bản. Sau này chàng rắn được phong thần và được gọi là: Tứ Phủ Long Vương. Từ đó, ở suối Ngọc bên chân núi Trường Sinh xuất hiện một đàn cá thần hàng nghìn con luôn quây quần chầu trước đền Ngọc Từ để hầu hạ chàng rắn. Suối cá thần ở Cẩm Lương Bên cạnh suối cá thần, xã Cẩm Lương hiện vẫn còn giữ được nguyên vẹn hệ thống rừng nguyên sinh với các loài động vật, thực vật đặc trưng của vùng nhiệt đới, thuộc dãy núi đá vôi Pù Luông - Cúc Phương. Đồng bào dân tộc Mường nơi đây với những nếp sinh hoạt văn hoá truyền thống như: uống rượu cần, dệt thổ cẩm, múa Pồn Pông... sẽ là điểm nhấn để thu hút du khách thập phương. Đặc biệt, dọc dãy núi Trường Sinh hiện còn có nhiều hang động nguyên sơ vẫn chưa được khám phá./.

Related Figures

Lễ hội đền Giá

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 5/1- 6/1 Âm lịch (lehoi.info) - Khi nói đến hội Gióng, mọi người thường nhớ tới làng Phù Đổng, Gia Lâm (Hà Nội), nơi tương truyền chàng trai Phù Đổng đã đứng lên đánh giặc. Tuy nhiên, ngoài làng Phù Đổng, ở tại Việt Nam còn có 4 ngôi đền khác có liên quan đến truyền thuyết Thánh Gióng, trong đó có một ngôi đền ở tỉnh Thái Nguyên, đó là đền Giá, thuộc địa phận thôn Cẩm La, xã Đông Cao, Phổ Yên, Thái Nguyên. Lễ hội đền Giá tại Thái Nguyên Lễ hội đền Giá được tổ chức mỗi năm 2 lần. Lễ hội chính được tổ chức vào ngày mùng 5 và ngày mùng 6 tháng Giêng Âm lịch. Trong lễ chính, người dân địa phương có tục rước cành “dò” được làm bằng tre tươi, bào mỏng thành tua, nhuộm màu vàng, màu đỏ tượng trưng cho "roi sắt” của Thánh Gióng, sau đó là rước các lễ vật từ các làng, các xã đến làm lễ tại đền. Ngoài ra, còn tổ chức những trò chơi dân gian như: kéo co, chọi gà, đấu vật, thi cờ tướng, hát trống quân…Lễ hội lần thứ 2 thì được tổ chức vào ngày mùng 9 tháng 4 âm lịch. Những năm gần đây, mỗi năm khi vào dịp lễ hội, các đơn vị của huyện uỷ, UBND đều về Đền để thắp hương ghi nhớ công ơn của những người đã có công giúp nước. Đặc sắc lễ hội đền Giá tại Thái Nguyên Tương truyền, vào thời Hùng Vương thứ 6, nước ta bị giặc Ân xâm lược. Cậu bé ở làng Phù Đổng bỗng lớn vụt dậy và cầm quân đi đánh giặc. Một lần, khi đang đuổi giặc qua vùng đất thuộc địa phận huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, thì trời tối, rừng cây rậm rạp, không rõ lối đi mà cánh quân của Phù Đổng cũng đã thấm mệt. Lúc đó, có một người dân địa phương đi đến, chỉ đường rồi cùng với đoàn quân đi đánh giặc. Giặc tan, đất nước trở lại thanh bình và nhà vua phong cho chàng trai làng Phù Đổng là Phù đổng Thiên Vương (nhân dân vẫn gọi là Thánh Gióng), người dân địa phương có công giúp Phù Đổng đánh giặc được phong là “Mạnh Điền Quốc Vương” và cho người dân địa phương được thờ cúng. Từ đó, nhân dân địa phương dựng lên một ngôi miếu nhỏ làm bằng gỗ và lợp mái tranh để thờ cúng. Sang đến thời Lê, khi nền văn hoá dân tộc bước vào giai đoạn phát triển rực rỡ, thì đền Giá được xây dựng với quy mô to, đẹp hơn. Trải qua thăng trầm lịch sử, đền Giá đã được sửa chữa rất nhiều lần, nhưng vẫn còn lưu giữ được kiến trúc ban đầu. Ngôi đền không chỉ là nơi người dân địa phương cũng như du khách thập phương thể hiện đời sống tâm linh mà nó còn thể hiện được những tinh hoa trong kiến trúc của dân tộc. Khu đền có 2 toà nhà: Nhà tiền tế ở phía trước rộng 5 gian và hậu cung rộng 3 gian đều có các phần kiến trúc bằng gỗ chạm trổ tinh vi và phong phú với các kiến trúc cuối Lê đầu Nguyễn. Phần tường xây ở hậu cung, đốc nhà…có đắp nổi các hình hoa lá và long, li, quy, phượng. Người dân tham gia thi kéo co tại lễ hội đền Giá Đền Giá còn chính là nơi diễn ra một sự kiện lịch sử trọng đại của huyện Phổ Yên. Ngày 22 tháng 8 năm 1945, tại ngôi đền này đã diễn ra hội nghị cán bộ chủ chốt để thành lập nên chính quyền cách mạng lâm thời đầu tiên của huyện, góp phần vào công cuộc tổng khởi nghĩa cách mạng tháng Tám năm 1945 của tỉnh Thái Nguyên. Với giá trị kiến trúc và ý nghĩa lịch sử như vậy đền Giá đã được xếp hạng di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật./.

(lehoi.info) - Khi nói đến hội Gióng, mọi người thường nhớ tới làng Phù Đổng, Gia Lâm (Hà Nội), nơi tương truyền chàng trai Phù Đổng đã đứng lên đánh giặc. Tuy nhiên, ngoài làng Phù Đổng, ở tại Việt Nam còn có 4 ngôi đền khác có liên quan đến truyền thuyết Thánh Gióng, trong đó có một ngôi đền ở tỉnh Thái Nguyên, đó là đền Giá, thuộc địa phận thôn Cẩm La, xã Đông Cao, Phổ Yên, Thái Nguyên.

Lễ hội đền Giá tại Thái Nguyên

Lễ hội đền Giá được tổ chức mỗi năm 2 lần. Lễ hội chính được tổ chức vào ngày mùng 5 và ngày mùng 6 tháng Giêng Âm lịch. Trong lễ chính, người dân địa phương có tục rước cành “dò” được làm bằng tre tươi, bào mỏng thành tua, nhuộm màu vàng, màu đỏ tượng trưng cho "roi sắt” của Thánh Gióng, sau đó là rước các lễ vật từ các làng, các xã đến làm lễ tại đền. Ngoài ra, còn tổ chức những trò chơi dân gian như: kéo co, chọi gà, đấu vật, thi cờ tướng, hát trống quân…Lễ hội lần thứ 2 thì được tổ chức vào ngày mùng 9 tháng 4 âm lịch. Những năm gần đây, mỗi năm khi vào dịp lễ hội, các đơn vị của huyện uỷ, UBND đều về Đền để thắp hương ghi nhớ công ơn của những người đã có công giúp nước. Đặc sắc lễ hội đền Giá tại Thái Nguyên Tương truyền, vào thời Hùng Vương thứ 6, nước ta bị giặc Ân xâm lược. Cậu bé ở làng Phù Đổng bỗng lớn vụt dậy và cầm quân đi đánh giặc. Một lần, khi đang đuổi giặc qua vùng đất thuộc địa phận huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, thì trời tối, rừng cây rậm rạp, không rõ lối đi mà cánh quân của Phù Đổng cũng đã thấm mệt. Lúc đó, có một người dân địa phương đi đến, chỉ đường rồi cùng với đoàn quân đi đánh giặc. Giặc tan, đất nước trở lại thanh bình và nhà vua phong cho chàng trai làng Phù Đổng là Phù đổng Thiên Vương (nhân dân vẫn gọi là Thánh Gióng), người dân địa phương có công giúp Phù Đổng đánh giặc được phong là “Mạnh Điền Quốc Vương” và cho người dân địa phương được thờ cúng. Từ đó, nhân dân địa phương dựng lên một ngôi miếu nhỏ làm bằng gỗ và lợp mái tranh để thờ cúng. Sang đến thời Lê, khi nền văn hoá dân tộc bước vào giai đoạn phát triển rực rỡ, thì đền Giá được xây dựng với quy mô to, đẹp hơn. Trải qua thăng trầm lịch sử, đền Giá đã được sửa chữa rất nhiều lần, nhưng vẫn còn lưu giữ được kiến trúc ban đầu. Ngôi đền không chỉ là nơi người dân địa phương cũng như du khách thập phương thể hiện đời sống tâm linh mà nó còn thể hiện được những tinh hoa trong kiến trúc của dân tộc. Khu đền có 2 toà nhà: Nhà tiền tế ở phía trước rộng 5 gian và hậu cung rộng 3 gian đều có các phần kiến trúc bằng gỗ chạm trổ tinh vi và phong phú với các kiến trúc cuối Lê đầu Nguyễn. Phần tường xây ở hậu cung, đốc nhà…có đắp nổi các hình hoa lá và long, li, quy, phượng. Người dân tham gia thi kéo co tại lễ hội đền Giá Đền Giá còn chính là nơi diễn ra một sự kiện lịch sử trọng đại của huyện Phổ Yên. Ngày 22 tháng 8 năm 1945, tại ngôi đền này đã diễn ra hội nghị cán bộ chủ chốt để thành lập nên chính quyền cách mạng lâm thời đầu tiên của huyện, góp phần vào công cuộc tổng khởi nghĩa cách mạng tháng Tám năm 1945 của tỉnh Thái Nguyên. Với giá trị kiến trúc và ý nghĩa lịch sử như vậy đền Giá đã được xếp hạng di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật./.

Related Figures

Lễ hội đền Đuổm

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 6/1- 8/1 Âm lịch (lehoi.info)- Hàng năm từ ngày mùng 6 đến ngày mùng 8 tháng Giêng âm lịch, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên lại long trọng tổ chức lễ hội đền Đuổm để tưởng nhớ tới danh tướng Dương Tự Minh và cầu cho mùa màng tốt tươi, vạn vật sinh sôi nảy nở. Lễ hội này mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, thu hút được nhiều người dân trong tỉnh và du khách thập phương về tham dự lễ hội. Quang cảnh lễ hội đền Đuổm Lễ hội đền Đuổm gắn liền với đức độ của danh tướng Dương Tự Minh, người có công dẹp giặc Tống dưới thời Lý. Ông đã được vua Lý gả công chúa Thiều Dung, phong là "Phò mã lang" và "Cao Sơn Quý Minh". Cảnh nghi lễ trong lễ hội đền Đuổm Lễ hội đền Đuổm gồm 2 phần: Phần lễ và Phần hội Phần lễ là phần được bắt đầu bằng lễ dâng hương sáng ngày mùng 6. Đi đầu sẽ là đội múa Lân và tiếp sau là đội ngũ nam thanh, nữ tú với trang phục dân tộc Tày, trên tay bưng các sản vật của địa phương để mang ra đền thờ tiến hành lễ tế. Đồ lễ gồm có lễ mặn và lễ chay. 3 mâm lễ chay gồm có bánh Khảo, bánh Dày, bánh Mật và bánh Bỏng. Lễ mặn gồm có xôi, thịt lợn, thịt gà…Tất cả đều được bày tế lễ ngay trước cửa đền Trung, nơi thờ vị tướng Dương Tự Minh. Phần hội Đuổm được tổ chức với nhiều những trò chơi dân gian như: đẩy gậy, cờ tướng, đánh đu, đấu vật…cùng các môn thể thao như: Bóng đá, bóng chuyền…đã thu hút đông đảo các vận động viên tham gia đua tài. Những chương trình văn nghệ do các đội văn nghệ quần chúng biểu diễn cũng đã góp phần làm cho không khí lễ hội thật sự trở nên sôi động và náo nhiệt. Những trò chơi dân gian trong lễ hội đền Đuổm lehoi.info tổng hợp

(lehoi.info)- Hàng năm từ ngày mùng 6 đến ngày mùng 8 tháng Giêng âm lịch, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên lại long trọng tổ chức lễ hội đền Đuổm để tưởng nhớ tới danh tướng Dương Tự Minh và cầu cho mùa màng tốt tươi, vạn vật sinh sôi nảy nở. Lễ hội này mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, thu hút được nhiều người dân trong tỉnh và du khách thập phương về tham dự lễ hội.

Quang cảnh lễ hội đền Đuổm

Lễ hội đền Đuổm gắn liền với đức độ của danh tướng Dương Tự Minh, người có công dẹp giặc Tống dưới thời Lý. Ông đã được vua Lý gả công chúa Thiều Dung, phong là "Phò mã lang" và "Cao Sơn Quý Minh".

Cảnh nghi lễ trong lễ hội đền Đuổm

Lễ hội đền Đuổm gồm 2 phần: Phần lễ và Phần hội

Phần lễ là phần được bắt đầu bằng lễ dâng hương sáng ngày mùng 6. Đi đầu sẽ là đội múa Lân và tiếp sau là đội ngũ nam thanh, nữ tú với trang phục dân tộc Tày, trên tay bưng các sản vật của địa phương để mang ra đền thờ tiến hành lễ tế. Đồ lễ gồm có lễ mặn và lễ chay. 3 mâm lễ chay gồm có bánh Khảo, bánh Dày, bánh Mật và bánh Bỏng. Lễ mặn gồm có xôi, thịt lợn, thịt gà…Tất cả đều được bày tế lễ ngay trước cửa đền Trung, nơi thờ vị tướng Dương Tự Minh. Phần hội Đuổm được tổ chức với nhiều những trò chơi dân gian như: đẩy gậy, cờ tướng, đánh đu, đấu vật…cùng các môn thể thao như: Bóng đá, bóng chuyền…đã thu hút đông đảo các vận động viên tham gia đua tài. Những chương trình văn nghệ do các đội văn nghệ quần chúng biểu diễn cũng đã góp phần làm cho không khí lễ hội thật sự trở nên sôi động và náo nhiệt. Những trò chơi dân gian trong lễ hội đền Đuổm lehoi.info tổng hợp

Related Figures

Lễ hội Pôôn Pôông

Thông tin thời kỳ

(lehoi.info) - Lễ hội Pôôn Pôông của người dân Mường được tổ chức hằng năm vào những ngày rằm tháng Giêng, ngày rằm tháng Ba và ngày rằm tháng Bảy, hay mùa gặt được gọi là lễ hội mùa mừng cơm mới. Lễ hội Pôôn Pôông tại Thanh Hóa Lễ hội Pôồn Pôông theo quan niệm của những người dân Mường là lễ cầu chúc cho mối tình chung thủy của Nàng Ờm - Bồng Hương và cũng là dịp để về Mường vui vầy cùng các nam thanh, nữ tú. Hình thức nghệ thuật diễn xướng tinh tế này đã tạo nên nét riêng biệt của cộng đồng người dân tộc Mường, cuốn hút người xem hòa mình vào các trò chơi, các trò diễn dân gian. Chủ của lễ hội là Ậu Máy và những nhân vật như: Enh chàng - Bông danh, nàng Choóng long - Đồng thiếp và Nàng Quắc - cô nàng lắm lý lẽ, vẽ công, vẽ việc cùng tham gia diễn trò. Pôồn Pôông (tiếng dân tộc Mường là cuộc chơi hoa) xuất phát từ sử thi Đẻ đất đẻ nước của người dân Mường. Lễ hội và những trò diễn xướng đều xoay quanh cây bông, mô phỏng toàn bộ những phong tục, tập quán, những phương thức lao động sáng tạo, phản ánh đời sống tâm linh, văn hóa tinh thần của đồng bào người dân Mường. Lễ hội gồm có 48 trò đặc sắc, như: trò chia đất, chia nước, dựng nhà, săn đuổi thú dữ, trồng tỉa lương thực, chọi gà, chọi trâu, đấu vật, đánh cá, múa bông - bói bông, làm cơm mời Mường, mời bạn ăn cơm dam và uống rượu cần… Một gnhi thức trong lễ hội Pôôn Pôông Cây bông - là vật trung tâm trong lễ hội, là biểu tượng của vũ trụ bao la, nó hội tụ đầy đủ vạn vật mà tạo hóa đã ban cho con người từ thủa hồng hoang. Trên cây bông làm bằng tre, cao khoảng 3m, có treo 5 hoặc 7 tầng những chùm hoa bằng gỗ bấc nhuộm muôn sắc màu xanh, tím, đỏ, vàng rất bắt mắt; và những mô hình muông thú (cá, chim), nông cụ sản xuất (cuốc, cày), những thành quả chế tác của con người như: vò rượu, bánh chưng, cồng chiêng, quả còn, hòm vàng, hòm bạc tượng trưng cho sự ấm no, thịnh vượng. Cây bông này chỉ có bà Máy mới làm được và truyền nghề lại cho một vài người khéo tay trong làng, trong xã. Dưới gốc của cây bông, Enh chàng và nàng Chóng long ngồi đối xứng qua cây bông, trùm khăn xanh khăn đỏ, lúc múa hát, lúc lại soi gương chải đầu, lúc thổi sáo ôi! Nhạc cồng chiêng, tam pu nổi lên rộn rã, bà Máy vừa đi vừa nhảy múa và vừa hát Đang: “Em gái xinh xinh chóng long đồng thiếp ơi! Em ở đất mường trời cao cao Đêm nay, em xuống cùng anh. Chơi bông, chơi hoa em hỡi...”. Ấn tượng nhất là những điệu múa cùng với tiếng cười “hớ hớ hơ!... hớ hớ hơ! của bà Máy cứ vang lên lảnh lót như tiếng chim ca, giục giã, mời gọi, thổi bùng lên không khí lễ hội rộn rã. Bà Máy như thầy cúng, là người dẫn chuyện kể lại giai thoại sinh ra đất trời, lập nên bản Mường...; thông báo với thần linh vụ mùa năm nay thắng lợi, làng mở hội mừng cơm mới, thể hiện tấm lòng biết ơn đất trời đã cho mưa thuận gió hòa, bông lúa nhiều hạt và bắp ngô vừa to vừa mẩy. Bà kể bằng ngôn ngữ văn vần như trong lễ diễn xướng dân gian và bà vừa kể vừa nhảy múa. Mỗi khi kể đến giai thoại nào là các nam thanh nữ tú biểu diễn các trò mô phỏng lại hoạt động đó, như: cảnh dân làng đuổi hổ dữ, bắt cá, chọi trâu, chọi gà, trai gái vào hội bói hoa... Đặc Sắc lễ hội Pôôn Pôông Ở Thanh Hoá, vùng nào có người dân tộc Mường ở là ở đó có lễ hội Pôồn Pôông. Lễ hội có thể diễn ra từ sáng đến tối, từ tối đến sáng, cũng có khi kéo dài tới tận hai ngày ba đêm. Đã từng có một thời, lễ hội đặc sắc này bị mai một. Từ khi tỉnh Thanh Hóa liên tục 2 năm tổ chức một lần Liên hoan văn hóa các dân tộc miền núi Thanh Hóa (vào năm 1987), đã làm sống lại lễ hội dễ làm say đắm lòng người này. Ai đã từng đến với Lễ hội Pôồn Pôông của người Mường ở tỉnh Thanh Hóa cũng đều mê đắm những lời ca, điệu múa hòa trong tiếng cồng, tiếng chiêng giục giã, mời gọi, thôi thúc... lehoi.info tổng hợp

(lehoi.info) - Lễ hội Pôôn Pôông của người dân Mường được tổ chức hằng năm vào những ngày rằm tháng Giêng, ngày rằm tháng Ba và ngày rằm tháng Bảy, hay mùa gặt được gọi là lễ hội mùa mừng cơm mới.

Lễ hội Pôôn Pôông tại Thanh Hóa

Lễ hội Pôồn Pôông theo quan niệm của những người dân Mường là lễ cầu chúc cho mối tình chung thủy của Nàng Ờm - Bồng Hương và cũng là dịp để về Mường vui vầy cùng các nam thanh, nữ tú. Hình thức nghệ thuật diễn xướng tinh tế này đã tạo nên nét riêng biệt của cộng đồng người dân tộc Mường, cuốn hút người xem hòa mình vào các trò chơi, các trò diễn dân gian. Chủ của lễ hội là Ậu Máy và những nhân vật như: Enh chàng - Bông danh, nàng Choóng long - Đồng thiếp và Nàng Quắc - cô nàng lắm lý lẽ, vẽ công, vẽ việc cùng tham gia diễn trò. Pôồn Pôông (tiếng dân tộc Mường là cuộc chơi hoa) xuất phát từ sử thi Đẻ đất đẻ nước của người dân Mường. Lễ hội và những trò diễn xướng đều xoay quanh cây bông, mô phỏng toàn bộ những phong tục, tập quán, những phương thức lao động sáng tạo, phản ánh đời sống tâm linh, văn hóa tinh thần của đồng bào người dân Mường. Lễ hội gồm có 48 trò đặc sắc, như: trò chia đất, chia nước, dựng nhà, săn đuổi thú dữ, trồng tỉa lương thực, chọi gà, chọi trâu, đấu vật, đánh cá, múa bông - bói bông, làm cơm mời Mường, mời bạn ăn cơm dam và uống rượu cần… Một gnhi thức trong lễ hội Pôôn Pôông Cây bông - là vật trung tâm trong lễ hội, là biểu tượng của vũ trụ bao la, nó hội tụ đầy đủ vạn vật mà tạo hóa đã ban cho con người từ thủa hồng hoang. Trên cây bông làm bằng tre, cao khoảng 3m, có treo 5 hoặc 7 tầng những chùm hoa bằng gỗ bấc nhuộm muôn sắc màu xanh, tím, đỏ, vàng rất bắt mắt; và những mô hình muông thú (cá, chim), nông cụ sản xuất (cuốc, cày), những thành quả chế tác của con người như: vò rượu, bánh chưng, cồng chiêng, quả còn, hòm vàng, hòm bạc tượng trưng cho sự ấm no, thịnh vượng. Cây bông này chỉ có bà Máy mới làm được và truyền nghề lại cho một vài người khéo tay trong làng, trong xã. Dưới gốc của cây bông, Enh chàng và nàng Chóng long ngồi đối xứng qua cây bông, trùm khăn xanh khăn đỏ, lúc múa hát, lúc lại soi gương chải đầu, lúc thổi sáo ôi! Nhạc cồng chiêng, tam pu nổi lên rộn rã, bà Máy vừa đi vừa nhảy múa và vừa hát Đang: “Em gái xinh xinh chóng long đồng thiếp ơi! Em ở đất mường trời cao cao Đêm nay, em xuống cùng anh. Chơi bông, chơi hoa em hỡi...”. Ấn tượng nhất là những điệu múa cùng với tiếng cười “hớ hớ hơ!... hớ hớ hơ! của bà Máy cứ vang lên lảnh lót như tiếng chim ca, giục giã, mời gọi, thổi bùng lên không khí lễ hội rộn rã. Bà Máy như thầy cúng, là người dẫn chuyện kể lại giai thoại sinh ra đất trời, lập nên bản Mường...; thông báo với thần linh vụ mùa năm nay thắng lợi, làng mở hội mừng cơm mới, thể hiện tấm lòng biết ơn đất trời đã cho mưa thuận gió hòa, bông lúa nhiều hạt và bắp ngô vừa to vừa mẩy. Bà kể bằng ngôn ngữ văn vần như trong lễ diễn xướng dân gian và bà vừa kể vừa nhảy múa. Mỗi khi kể đến giai thoại nào là các nam thanh nữ tú biểu diễn các trò mô phỏng lại hoạt động đó, như: cảnh dân làng đuổi hổ dữ, bắt cá, chọi trâu, chọi gà, trai gái vào hội bói hoa... Đặc Sắc lễ hội Pôôn Pôông Ở Thanh Hoá, vùng nào có người dân tộc Mường ở là ở đó có lễ hội Pôồn Pôông. Lễ hội có thể diễn ra từ sáng đến tối, từ tối đến sáng, cũng có khi kéo dài tới tận hai ngày ba đêm. Đã từng có một thời, lễ hội đặc sắc này bị mai một. Từ khi tỉnh Thanh Hóa liên tục 2 năm tổ chức một lần Liên hoan văn hóa các dân tộc miền núi Thanh Hóa (vào năm 1987), đã làm sống lại lễ hội dễ làm say đắm lòng người này. Ai đã từng đến với Lễ hội Pôồn Pôông của người Mường ở tỉnh Thanh Hóa cũng đều mê đắm những lời ca, điệu múa hòa trong tiếng cồng, tiếng chiêng giục giã, mời gọi, thôi thúc... lehoi.info tổng hợp

Related Figures

Lễ hội Chùa Keo

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 13/9- 15/9 Âm lịch Chùa Keo (tên chữ: Thần Quang tự) là một ngôi chùa thuộc xã Duy Nhất, Vũ Thư, Thái Bình, chùa được xây dựng từ năm 1061 dưới thời Lý Thánh Tông ở hương Giao Thủy ven sông Hồng. Ban đầu, chùa có tên là Nghiêm Quang tự, đến năm 1167 mới đổi thành Trần Quang tự. Vì Giao Thủy có tên Nôm là Keo, nên ngôi chùa này cũng được gọi là chùa Keo. Một năm chùa Keo mở hội 2 lần, đó là Hội Xuân vào ngày mùng 4 tết Nguyên Đán và Hội chính mùa thu, từ ngày 13 đến ngày 15 tháng 9 âm lịch. Hội tháng 9 gắn liền với sự tích của Không Lộ Thiền Sư (ngày 13 tháng 9 là 100 ngày mất của ngài, còn ngày 14 tháng 9 là ngày sinh của ngài). Đặc sắc lễ hội Chùa Keo Vào ngày 13, mở đầu là cuộc rước kiệu kỷ niệm 100 ngày tịch của thiền sư Không Lộ. Buổi chiều có các cuộc đua trải. Buổi tối có cuộc thi kèn và thi trống. Sáng ngày 14, là ngày kỷ niệm ngày sinh của sư Không Lộ. Sau lễ dâng hương đến đám rước gồm có đôi ngựa hồng, đôi ngựa bạch có đủ yên cương và 4 bánh do người kéo. Tiếp đến là 8 lá cờ thần và 42 người vác bát bửu lỗ bộ... Chiều ngày 14, tại tòa Giá Roi diễn ra nghi lễ chầu thánh mang tính nghệ thuật , đó là điệu múa cổ hay còn gọi là "múa ếch vồ". vào ngày 15, mọi nghi lễ diễn ra giống như ngày 14 nhưng sẽ có thêm một số trò diễn sau khi rước kiệu hoàn cung. Lễ hội Chùa Keo Thái Bình Hội chùa Keo diễn ra đông vui tấp nập suốt ba ngày, ba đêm bằng nghi lễ tôn giáo và một số tập tục cổ truyền để tưởng nhớ tới vị thiền sư đã có công với nước và qua hình thức biểu diễn nghệ thuật dân gian đã phản ánh được lối sống của vùng dân cư ven sông mang màu sắc văn hoá nông nghiệp của đồng bằng Bắc Bộ. Lễ hội diễn ra trang trọng

Chùa Keo (tên chữ: Thần Quang tự) là một ngôi chùa thuộc xã Duy Nhất, Vũ Thư, Thái Bình, chùa được xây dựng từ năm 1061 dưới thời Lý Thánh Tông ở hương Giao Thủy ven sông Hồng. Ban đầu, chùa có tên là Nghiêm Quang tự, đến năm 1167 mới đổi thành Trần Quang tự. Vì Giao Thủy có tên Nôm là Keo, nên ngôi chùa này cũng được gọi là chùa Keo.

Một năm chùa Keo mở hội 2 lần, đó là Hội Xuân vào ngày mùng 4 tết Nguyên Đán và Hội chính mùa thu, từ ngày 13 đến ngày 15 tháng 9 âm lịch. Hội tháng 9 gắn liền với sự tích của Không Lộ Thiền Sư (ngày 13 tháng 9 là 100 ngày mất của ngài, còn ngày 14 tháng 9 là ngày sinh của ngài).

Đặc sắc lễ hội Chùa Keo

Vào ngày 13, mở đầu là cuộc rước kiệu kỷ niệm 100 ngày tịch của thiền sư Không Lộ. Buổi chiều có các cuộc đua trải. Buổi tối có cuộc thi kèn và thi trống. Sáng ngày 14, là ngày kỷ niệm ngày sinh của sư Không Lộ. Sau lễ dâng hương đến đám rước gồm có đôi ngựa hồng, đôi ngựa bạch có đủ yên cương và 4 bánh do người kéo. Tiếp đến là 8 lá cờ thần và 42 người vác bát bửu lỗ bộ... Chiều ngày 14, tại tòa Giá Roi diễn ra nghi lễ chầu thánh mang tính nghệ thuật , đó là điệu múa cổ hay còn gọi là "múa ếch vồ". vào ngày 15, mọi nghi lễ diễn ra giống như ngày 14 nhưng sẽ có thêm một số trò diễn sau khi rước kiệu hoàn cung. Lễ hội Chùa Keo Thái Bình Hội chùa Keo diễn ra đông vui tấp nập suốt ba ngày, ba đêm bằng nghi lễ tôn giáo và một số tập tục cổ truyền để tưởng nhớ tới vị thiền sư đã có công với nước và qua hình thức biểu diễn nghệ thuật dân gian đã phản ánh được lối sống của vùng dân cư ven sông mang màu sắc văn hoá nông nghiệp của đồng bằng Bắc Bộ. Lễ hội diễn ra trang trọng

Related Figures

Lễ hội xuân Chùa Hang - Định Hoá

Thông tin thời kỳ

(lehoi.info)-Lễ hội xuân Chùa Hang được diễn ra vào ngày 14 tháng Giêng tại xóm Đồng Chùa, thị trấn Chợ Chu, Định Hóa, Thái Nguyên. Đây là một lễ hội xuân độc đáo của đồng bào các dân tộc Định Hoá, lễ hội này từng được tổ chức từ những năm 1950 của thế kỷ trước nhưng do nhiều lý do khác nhau nên đã bị gián đoạn và mai một dần. Vào năm 2012, Lễ hội xuân Chùa Hang - Định Hoá đã được khôi phục lại với ý nghĩa tạ ơn trời đất, cầu cho mưa thuận gió hòa, bản làng hạnh phúc, ấm no, cây cối tươi tốt, đâm chồi nẩy lộc... Tiết mục múa lân đặc sắc khai mạc lễ hội xuân Chùa Hang - Định Hoá Lễ hội được mở đầu bằng bằng nghi lễ dâng hương, dâng hoa lên Chủ tịch Hồ Chí Minh, cùng với đó là một màn trống hội rộn rã và rước kiệu từ chùa Hang ra đình Quan đế. Trong phần Lễ, người dân địa phương nơi đây sẽ dâng lên những mâm lễ mặn để tạ ơn các vị thần đất, các vị thần sông, các vị thần suối... Phần Hội diễn ra với các trò chơi dân gian đặc sắc mang đậm bản sắc các dân tộc địa phương như: ném còn, đi khà kheo, chọi gà, bắt chạch trong chum, tung vòng cổ vịt, múa sạp... Ngoài ra, du khách thập phương còn có thể tham gia leo núi, khám phá hang sâu và chiêm ngưỡng nhiều thắng cảnh đẹp ở trong quần thể di tích. Đặc sắc lễ hội xuân Chùa Hang - Định Hoá Chùa Hang là một quần thể kiến trúc gồm có: Hang Trên, miếu Mẫu, nhà Tam quan và Hang Dưới. Trong hang có rất nhiều nhũ đá với những hình dáng đa dạng. Điểm độc đáo của hang là bên trong có nhiều những điểm nước chảy lâu ngày tạo nên những "ruộng cô tiên", có bàn thờ Phật và một tấm bia cổ thời Nguyễn và một quả chuông cổ. Di tích Chùa Hang còn là nơi gắn với sự kiện lịch sử, là nơi Bác Hồ từng ở và làm việc trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Cùng với Lễ hội lồng tồng lớn nhất tỉnh Thái Nguyên được tổ chức hàng năm, Lễ hội xuân Chùa Hang - Định Hoá cũng được khôi phục ngoài việc bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống, phát huy giá trị di tích lịch sử còn có ý nghĩa quan trọng trong việc thu hút khách du lịch đến với ‘Thủ đô gió ngàn” vào mỗi độ xuân về./. Lễ dâng hương Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Chùa Hang

(lehoi.info)-Lễ hội xuân Chùa Hang được diễn ra vào ngày 14 tháng Giêng tại xóm Đồng Chùa, thị trấn Chợ Chu, Định Hóa, Thái Nguyên. Đây là một lễ hội xuân độc đáo của đồng bào các dân tộc Định Hoá, lễ hội này từng được tổ chức từ những năm 1950 của thế kỷ trước nhưng do nhiều lý do khác nhau nên đã bị gián đoạn và mai một dần. Vào năm 2012, Lễ hội xuân Chùa Hang - Định Hoá đã được khôi phục lại với ý nghĩa tạ ơn trời đất, cầu cho mưa thuận gió hòa, bản làng hạnh phúc, ấm no, cây cối tươi tốt, đâm chồi nẩy lộc...

Tiết mục múa lân đặc sắc khai mạc lễ hội xuân Chùa Hang - Định Hoá

Lễ hội được mở đầu bằng bằng nghi lễ dâng hương, dâng hoa lên Chủ tịch Hồ Chí Minh, cùng với đó là một màn trống hội rộn rã và rước kiệu từ chùa Hang ra đình Quan đế. Trong phần Lễ, người dân địa phương nơi đây sẽ dâng lên những mâm lễ mặn để tạ ơn các vị thần đất, các vị thần sông, các vị thần suối... Phần Hội diễn ra với các trò chơi dân gian đặc sắc mang đậm bản sắc các dân tộc địa phương như: ném còn, đi khà kheo, chọi gà, bắt chạch trong chum, tung vòng cổ vịt, múa sạp... Ngoài ra, du khách thập phương còn có thể tham gia leo núi, khám phá hang sâu và chiêm ngưỡng nhiều thắng cảnh đẹp ở trong quần thể di tích. Đặc sắc lễ hội xuân Chùa Hang - Định Hoá Chùa Hang là một quần thể kiến trúc gồm có: Hang Trên, miếu Mẫu, nhà Tam quan và Hang Dưới. Trong hang có rất nhiều nhũ đá với những hình dáng đa dạng. Điểm độc đáo của hang là bên trong có nhiều những điểm nước chảy lâu ngày tạo nên những "ruộng cô tiên", có bàn thờ Phật và một tấm bia cổ thời Nguyễn và một quả chuông cổ. Di tích Chùa Hang còn là nơi gắn với sự kiện lịch sử, là nơi Bác Hồ từng ở và làm việc trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Cùng với Lễ hội lồng tồng lớn nhất tỉnh Thái Nguyên được tổ chức hàng năm, Lễ hội xuân Chùa Hang - Định Hoá cũng được khôi phục ngoài việc bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống, phát huy giá trị di tích lịch sử còn có ý nghĩa quan trọng trong việc thu hút khách du lịch đến với ‘Thủ đô gió ngàn” vào mỗi độ xuân về./. Lễ dâng hương Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Chùa Hang

Related Figures

Tết nhảy của người Dao

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/1- 2/1 Âm lịch Người dân tộc Dao ở Thái Nguyên từ thời xưa tổ chức Tết Nhảy vào vào dịp mồng 1 hoặc mồng 2 Tết theo lịch âm ở trước bàn thờ của nhà ông trưởng họ. Tục này được thực hiện theo chu kỳ 3 năm: Càng nhỏ vào năm thứ nhất, năm thứ hai, thì càng lớn vào năm thứ ba. Các thiếu nữ Dao Tết Nhảy của người dân tộc Dao (Thái Nguyên) cũng giống như nhiều những dân tộc thiểu số khác, người dân tộc Dao có những cái tết khá đặc biệt mang đậm nét văn hóa truyền thống. Một trong những cái tết độc đáo đó là Tết Nhảy. Mục đích chính của nghi lễ này đó là để cầu cúng tổ tiên và cầu khấn tổ tiên phù hộ sang năm mới mọi người trong gia tộc, trong dòng họ đều được mạnh khoẻ, mưa thuận gió hoà cho mùa màng bội thu, gia súc và gia cầm phát triển không bị dịch bệnh… Đây là nghi lễ của một dòng họ tổ chức để cúng tổ tiên dòng họ của mình, tất cả mọi công việc đều được tiến hành tại nhà của ông trưởng họ, nơi có để bàn thờ tổ tiên của cả dòng họ. Nếu vì lý do nào đấy mà không tổ chức được ở nhà của ông trưởng họ, thì mọi người trong dòng họ sẽ phải họp bàn và chọn trong dòng họ một người có uy tín và hiểu biết, để đứng ra lo cho công việc này. Trong việc tổ chức lễ Tết nhảy, nếu dòng họ nào làm, thì phải tổ chức nghi lễ này trong 3 năm liên tục, và ở trong một bản khi có một dòng họ tổ chức lễ tết nhảy thì các dòng họ khác đều không được làm, nếu dòng họ nào có nhu cầu tổ chức nghi lễ này thì phải đợi sau ba năm mới được làm. Các chàng trai, cô gái người Dao say mê trong điệu múa Chuông rộn rã Nghi thức được tiến hành như sau: Một tốp nam thanh niên “sài cỏ” theo sự hướng dẫn của ông thầy cả “chái peng pi” tổ chức nhảy 14 điệu diễn mở đường bắc cầu đưa đón tổ tiên và thần linh về dự tết. Các nam thanh niên sẽ diễn tả hình ảnh mở đường bằng những điệu nhảy. Sau khi đường đã được mở thì cũng là lúc tổ tiên về. Điệu chào bố mẹ và tổ tiên đã khuất là nhảy một chân, đầu cúi, ngón tay trỏ dơ cao; điệu nhảy cưỡi ngựa là điệu diễn tả việc tổ tiên cưỡi ngựa về ăn tết; điệu nhảy múa mời tiên nương, mời tiểu nữ giáng trần được diễn tả bằng điệu múa cưỡi “pe họ” mô phỏng các tiên nương cưỡi hạc bay về; điệu múa mời tổ sư thầy cả về dự tết diễn tả kiểu đi của hổ “mùng hú”… Mỗi điệu nhảy, điệu múa đều có tính hình tượng cao diễn tả cảnh các thiên thần tổ tiên về hạ giới dự tết cùng với con cháu. Kết thúc những điệu nhảy mở đường, đón chào tổ tiên và thần linh, cả dòng họ làm lễ rước tượng tổ tiên. Tượng tổ tiên cũng là những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc độc đáo của người dân tộc Dao. Tượng được trạm khắc đẹp với trang phục thời cổ xưa, dài từ 20cm đến 25 cm, đường kính thân là 5cm, bàn tay phải của các tượng đều có cầm thẻ bài. Ngày thường tượng được bọc kín bằng vải màu trắng. Ngày tết được con cháu rước xuống làm lễ tắm gội và thay khăn choàng mới. Nước tắm là một thứ nước thơm chế từ vỏ loại của cây “sum mụ”. Sau lễ tắm gội cho tượng, các con, các cháu lại tổ chức các điệu nhảy, dâng gà. Ông thầy cả và ba thanh niên tay cầm gà trống vàng, đỏ nhảy theo nhiều động tác dâng gà: có động tác rước gà ở trên đầu, có động tác “vác” gà qua hai vai và có động tác vừa múa vừa vặt đầu gà… Khi cúng tổ tiên xong thì các con các cháu phải tắm rửa cho sạch mình để cùng tổ tiên ăn tết. Màn tắm than chính là 1 điểm nhấn độc đáo. Con cháu nhảy múa quanh đống lửa và sau đó con cháu sẽ dùng tay hất tung than, gio trong đống lửa lên người. Có nơi là tắm nước nóng, thay bằng than, đồng bào sẽ dội nước khoảng 60 đến70 độ lên người. Độc đáo tết nhảy của người dân tộc Dao Kết thúc là đến điệu múa cờ. Tết Nhảy là một nghệ thuật tổng hợp các loại hình nghệ thuật dân gian: nghệ thuật âm nhạc, nghệ thuật nhảy múa, và nghệ thuật ngôn từ, kể về công lao tổ tiên đến nghệ thuật tạo hình với các loại tranh thờ, tranh cắt giấy và điêu khắc tượng gỗ. Theo BaoThaiNguyen

Người dân tộc Dao ở Thái Nguyên từ thời xưa tổ chức Tết Nhảy vào vào dịp mồng 1 hoặc mồng 2 Tết theo lịch âm ở trước bàn thờ của nhà ông trưởng họ. Tục này được thực hiện theo chu kỳ 3 năm: Càng nhỏ vào năm thứ nhất, năm thứ hai, thì càng lớn vào năm thứ ba.

Các thiếu nữ Dao

Tết Nhảy của người dân tộc Dao (Thái Nguyên) cũng giống như nhiều những dân tộc thiểu số khác, người dân tộc Dao có những cái tết khá đặc biệt mang đậm nét văn hóa truyền thống. Một trong những cái tết độc đáo đó là Tết Nhảy. Mục đích chính của nghi lễ này đó là để cầu cúng tổ tiên và cầu khấn tổ tiên phù hộ sang năm mới mọi người trong gia tộc, trong dòng họ đều được mạnh khoẻ, mưa thuận gió hoà cho mùa màng bội thu, gia súc và gia cầm phát triển không bị dịch bệnh… Đây là nghi lễ của một dòng họ tổ chức để cúng tổ tiên dòng họ của mình, tất cả mọi công việc đều được tiến hành tại nhà của ông trưởng họ, nơi có để bàn thờ tổ tiên của cả dòng họ. Nếu vì lý do nào đấy mà không tổ chức được ở nhà của ông trưởng họ, thì mọi người trong dòng họ sẽ phải họp bàn và chọn trong dòng họ một người có uy tín và hiểu biết, để đứng ra lo cho công việc này. Trong việc tổ chức lễ Tết nhảy, nếu dòng họ nào làm, thì phải tổ chức nghi lễ này trong 3 năm liên tục, và ở trong một bản khi có một dòng họ tổ chức lễ tết nhảy thì các dòng họ khác đều không được làm, nếu dòng họ nào có nhu cầu tổ chức nghi lễ này thì phải đợi sau ba năm mới được làm. Các chàng trai, cô gái người Dao say mê trong điệu múa Chuông rộn rã Nghi thức được tiến hành như sau: Một tốp nam thanh niên “sài cỏ” theo sự hướng dẫn của ông thầy cả “chái peng pi” tổ chức nhảy 14 điệu diễn mở đường bắc cầu đưa đón tổ tiên và thần linh về dự tết. Các nam thanh niên sẽ diễn tả hình ảnh mở đường bằng những điệu nhảy. Sau khi đường đã được mở thì cũng là lúc tổ tiên về. Điệu chào bố mẹ và tổ tiên đã khuất là nhảy một chân, đầu cúi, ngón tay trỏ dơ cao; điệu nhảy cưỡi ngựa là điệu diễn tả việc tổ tiên cưỡi ngựa về ăn tết; điệu nhảy múa mời tiên nương, mời tiểu nữ giáng trần được diễn tả bằng điệu múa cưỡi “pe họ” mô phỏng các tiên nương cưỡi hạc bay về; điệu múa mời tổ sư thầy cả về dự tết diễn tả kiểu đi của hổ “mùng hú”… Mỗi điệu nhảy, điệu múa đều có tính hình tượng cao diễn tả cảnh các thiên thần tổ tiên về hạ giới dự tết cùng với con cháu. Kết thúc những điệu nhảy mở đường, đón chào tổ tiên và thần linh, cả dòng họ làm lễ rước tượng tổ tiên. Tượng tổ tiên cũng là những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc độc đáo của người dân tộc Dao. Tượng được trạm khắc đẹp với trang phục thời cổ xưa, dài từ 20cm đến 25 cm, đường kính thân là 5cm, bàn tay phải của các tượng đều có cầm thẻ bài. Ngày thường tượng được bọc kín bằng vải màu trắng. Ngày tết được con cháu rước xuống làm lễ tắm gội và thay khăn choàng mới. Nước tắm là một thứ nước thơm chế từ vỏ loại của cây “sum mụ”. Sau lễ tắm gội cho tượng, các con, các cháu lại tổ chức các điệu nhảy, dâng gà. Ông thầy cả và ba thanh niên tay cầm gà trống vàng, đỏ nhảy theo nhiều động tác dâng gà: có động tác rước gà ở trên đầu, có động tác “vác” gà qua hai vai và có động tác vừa múa vừa vặt đầu gà… Khi cúng tổ tiên xong thì các con các cháu phải tắm rửa cho sạch mình để cùng tổ tiên ăn tết. Màn tắm than chính là 1 điểm nhấn độc đáo. Con cháu nhảy múa quanh đống lửa và sau đó con cháu sẽ dùng tay hất tung than, gio trong đống lửa lên người. Có nơi là tắm nước nóng, thay bằng than, đồng bào sẽ dội nước khoảng 60 đến70 độ lên người. Độc đáo tết nhảy của người dân tộc Dao Kết thúc là đến điệu múa cờ. Tết Nhảy là một nghệ thuật tổng hợp các loại hình nghệ thuật dân gian: nghệ thuật âm nhạc, nghệ thuật nhảy múa, và nghệ thuật ngôn từ, kể về công lao tổ tiên đến nghệ thuật tạo hình với các loại tranh thờ, tranh cắt giấy và điêu khắc tượng gỗ. Theo BaoThaiNguyen

Related Figures

Hội đền Đồng Bằng

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 20/8- 26/8 Âm lịch (lehoi.info) - Đã thành thông lệ, đền Đồng Bằng khai hội vào ngày 20 tháng 8 (âm lịch) hàng năm, tại Đền Đồng Bằng xã An Lễ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình là nơi thờ Đức Vua Cha Bát Hải Động Đình, người đã có công lớn trong việc bình thục giữ nước và chiêu dân lập ấp xây dựng giang sơn xã tắc từ những buổi sơ khai. Đền Đồng Bằng Đền có sắc phong là: Tam Kỳ Linh Ứng Vĩnh Công Đại Vương Thượng Đẳng Thần (vào đời Vua Hùng thứ 18). Đến thời Tiền Lê, đền được xây dựng mở rộng thành 5 cung và 4 ban thờ Công Đồng khang trang và được liệt vào “Tứ cố cảnh”. Từ cuối thế kỷ XIII, đền Đồng Bằng còn là nơi tưởng niệm Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn cùng với các danh tướng Hoàng thân Quốc thích nhà Trần trong 3 lần đại phá quân Nguyên Mông và lập nên 8 trang Đào Động thời xưa. Hội kéo dài từ ngày 20 đến ngày 26 tháng 8 âm lịch. Hội đền Đồng Bằng là một hội tứ phủ lớn ở trong vùng. Đây là dịp tập hợp lớn nhất của các ông đồng, bà cốt từ khắp mọi miền đất nước. Vào ngày 20 tháng 8, là ngày diễn ra các nghi lễ trong đền Đồng Bằng của hội tứ phủ. Tất nhiên, trong những ngày sau đó tại đây vẫn tiếp tục các nghi thức này, song vào ngày 20 tháng 8 sinh hoạt hội tứ phủ vương mẫu là ngày nhộn nhịp nhất. Buổi sáng ngày 21/8 dân làng tiến hành rước bài vị các thần ra đình bơi. Đám rước vô cùng long trọng, uy nghi và tôn kính. Khi bài vị của các thần đã dâng bày lên hương án, khói ngang nghi ngút, việc cúng lễ được bắt đầu. Người ta tin rằng như vậy đức vua cha cùng với các vị thần khác sẽ về ngự để xem làng đua thuyền. Qua ngày 22/8 người ta tổ chức bơi thăm thẻ. Hội bơi kéo dài suốt mấy ngày cho đến chiều ngày 25/8 làng tổ chức lễ cất trải và trao phần thưởng cho tích nào đã thắng cuộc. Ngoài tục bơi trải nổi tiếng lễ hội còn tổ chức những trò vui khác trước và sau cuộc bơi như hát chèo, múa lân, đánh cờ tướng, đấu vật. Ngày 26/8 giã hội sau 6 ngày vui náo nức. Hội chấm dứt bằng một cuộc rước thành kính và long trọng. Đó chính là cuộc rước bài vị của vua và các thần hoàn cung về đền Đồng Bằng. Ngày hội kết thúc trong niềm phấn khởi và hy vọng một năm làm ăn thịnh vượng của tất cả dân làng. Độc đáo lễ hội đền Đồng Bằng Trong lễ hội ngoài phần “lễ” là những nghi lễ tế thần, dâng hương và diễn lại tích xưa vua cha đi đánh giặc, còn phần “hội” cũng diễn ra khá sôi động với những trò chơi mang đậm tính dân gian như: kéo co, hát văn, bơi trải, cờ tướng, chọi gà... thu hút đông đảo người dân tham gia. Đến với lễ hội, du khách không chỉ bái vọng mà còn được tham quan và chiêm ngưỡng nhiều đồ tế khí có giá trị, cùng các bài vị từ thời Nguyễn, những công trình kiến trúc đồ gỗ độc đáo như: hoành phi, cuốn thư, đại tự, câu đối... từ thời Khải Định và Bảo Đại vẫn còn được lưu giữ nguyên vẹn./. Đua thuyền trong hội đền Đồng Bằng

(lehoi.info) - Đã thành thông lệ, đền Đồng Bằng khai hội vào ngày 20 tháng 8 (âm lịch) hàng năm, tại Đền Đồng Bằng xã An Lễ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình là nơi thờ Đức Vua Cha Bát Hải Động Đình, người đã có công lớn trong việc bình thục giữ nước và chiêu dân lập ấp xây dựng giang sơn xã tắc từ những buổi sơ khai.

Đền Đồng Bằng

Đền có sắc phong là: Tam Kỳ Linh Ứng Vĩnh Công Đại Vương Thượng Đẳng Thần (vào đời Vua Hùng thứ 18). Đến thời Tiền Lê, đền được xây dựng mở rộng thành 5 cung và 4 ban thờ Công Đồng khang trang và được liệt vào “Tứ cố cảnh”. Từ cuối thế kỷ XIII, đền Đồng Bằng còn là nơi tưởng niệm Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn cùng với các danh tướng Hoàng thân Quốc thích nhà Trần trong 3 lần đại phá quân Nguyên Mông và lập nên 8 trang Đào Động thời xưa. Hội kéo dài từ ngày 20 đến ngày 26 tháng 8 âm lịch. Hội đền Đồng Bằng là một hội tứ phủ lớn ở trong vùng. Đây là dịp tập hợp lớn nhất của các ông đồng, bà cốt từ khắp mọi miền đất nước. Vào ngày 20 tháng 8, là ngày diễn ra các nghi lễ trong đền Đồng Bằng của hội tứ phủ. Tất nhiên, trong những ngày sau đó tại đây vẫn tiếp tục các nghi thức này, song vào ngày 20 tháng 8 sinh hoạt hội tứ phủ vương mẫu là ngày nhộn nhịp nhất. Buổi sáng ngày 21/8 dân làng tiến hành rước bài vị các thần ra đình bơi. Đám rước vô cùng long trọng, uy nghi và tôn kính. Khi bài vị của các thần đã dâng bày lên hương án, khói ngang nghi ngút, việc cúng lễ được bắt đầu. Người ta tin rằng như vậy đức vua cha cùng với các vị thần khác sẽ về ngự để xem làng đua thuyền. Qua ngày 22/8 người ta tổ chức bơi thăm thẻ. Hội bơi kéo dài suốt mấy ngày cho đến chiều ngày 25/8 làng tổ chức lễ cất trải và trao phần thưởng cho tích nào đã thắng cuộc. Ngoài tục bơi trải nổi tiếng lễ hội còn tổ chức những trò vui khác trước và sau cuộc bơi như hát chèo, múa lân, đánh cờ tướng, đấu vật. Ngày 26/8 giã hội sau 6 ngày vui náo nức. Hội chấm dứt bằng một cuộc rước thành kính và long trọng. Đó chính là cuộc rước bài vị của vua và các thần hoàn cung về đền Đồng Bằng. Ngày hội kết thúc trong niềm phấn khởi và hy vọng một năm làm ăn thịnh vượng của tất cả dân làng. Độc đáo lễ hội đền Đồng Bằng Trong lễ hội ngoài phần “lễ” là những nghi lễ tế thần, dâng hương và diễn lại tích xưa vua cha đi đánh giặc, còn phần “hội” cũng diễn ra khá sôi động với những trò chơi mang đậm tính dân gian như: kéo co, hát văn, bơi trải, cờ tướng, chọi gà... thu hút đông đảo người dân tham gia. Đến với lễ hội, du khách không chỉ bái vọng mà còn được tham quan và chiêm ngưỡng nhiều đồ tế khí có giá trị, cùng các bài vị từ thời Nguyễn, những công trình kiến trúc đồ gỗ độc đáo như: hoành phi, cuốn thư, đại tự, câu đối... từ thời Khải Định và Bảo Đại vẫn còn được lưu giữ nguyên vẹn./. Đua thuyền trong hội đền Đồng Bằng

Related Figures

Lễ hội bơi trải trên sông Diêm

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 12/1 Âm lịch (lehoi.info) - Lễ hội bơi trải trên sông Diêm, được tổ chức vào ngày 12 tháng Giêng âm lịch hàng năm, tại Thị trấn Diêm Điền, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Đặc sắc lễ hội bơi trải trên sông Diêm Làng Diêm Điền trước đây (ngày nay thuộc thị trấn Diêm Điền) dài khoảng 1 cây số nhưng được bao bọc 3 phía bởi sông Cống Ngoại về phía tây, sông Cống Mới về phía đông đặc biệt ở phía nam là dòng Diêm Hộ chảy qua trước làng rồi mới đổ ra vịnh Bắc Bộ. Tục bơi chải của làng Diêm Điền gắn liền với nghề đi biển đánh bắt hải sản và vận tải đường biển nên thường liên quan tới các vị Thuỷ Thần. Theo các bậc tiền nhân trước đây kể lại rằng trước năm 1945 làng còn có chùa và đình, trước khi bơi phải đến tế Thuỷ Thần ở Đình Trung vào sáng ngày mùng 10 tháng giêng hàng năm. Người Diêm Điền hết sức tôn trọng phong tục lâu đời này vì nếu năm nào không tổ chức lễ hội bơi chải Thuỷ Thần sẽ tức giận và năm đó thần sẽ về bắt người. Dân Làng Diêm Điền vẫn còn nhớ có câu tục ngữ: ”Sóng Cửa Trà (cửa sông Trà Lý), ma cửa Hộ (cửa sông Diêm Hộ)”. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (năm 1945- năm1954), thời kỳ lập lại hòa bình năm 1955 đến năm 1975 vẫn chưa khôi phục… Từ ngày kinh tế đổi mới hội bơi chải của Làng Diêm Điền được khôi phục và đáp ứng lòng mong mỏi, sự ủng hộ đông đảo nhân dân trong toàn thị trấn và trong cả huyện. Đây là cuộc thi nối tiếp truyền thống lâu đời thuỷ quân đã từng xuất hiện cách đây hàng nghìn năm trong lịch sử oai hùng của người dân tỉnh Thái Bình nói chung và người dân làng Diêm Điền nói riêng, gắn liền từ vua Lý Bí (Lý Bôn) và tướng Phạm Ngũ Lão. Lễ hội bơi trải trên sông Diêm Lễ hội bơi chải truyền thống hàng năm vào ngày 12 âm lịch được coi là một hoạt động đón xuân chính tại địa phương và mang ý nghĩa lễ ra quân đầu năm. Số chải tham gia vào lễ hội là 5 chải đại diện cho các khu dân cư và các doanh nghiệp lớn trên địa bàn thị trấn. Số người ở trong mỗi chải cũng có sự thay đổi. Tham gia tế Thuỷ Thần gồm có 1 chủ tế, 4 bồi tế và 12 quan viên. Chủ tế phải mặc áo dài màu xanh, khăn xếp màu đen và hai bên tả, hữu là hai hàng quan viên (là những vị ở trong ban hương chức của làng) và có 2 ông tây xướng và ông nam xướng. Các bồi tế lần lượt dâng hương, dâng đăng, dâng trà (2 lần), dâng Thanh chước (rượu) 4 lần và ông chủ tế đọc bài chúc văn thành kính mời Thuỷ Thần về chứng giám các lễ vật do lòng thành của dân làng dâng cúng và cầu mong thần phù trợ đắc lực cho nhà nhà bình yên, người người no đủ, hạnh phúc, trời yên biển lặng, thuận buồm xuôi gió, … Các trải bơi đang nỗ lực, cố gắng trong vòng đua Sau khi tế xong các đội bơi sẽ đi xuống bến nơi có 5 thuyền chải có trang trí đầu rồng cách điệu ở phía mũi. Ở trên đình Thuận Nghĩa đốt vàng mã xong, thì ở dưới bến chuẩn bị phất cờ và đốt pháo phát lệnh là các đội bơi bắt đầu vào cuộc. Khi tiếng pháo thứ 3 vừa nổ xong thì các thuyền bơi dàn hàng ngang trên sông Diêm Hộ lao như tên trong tiếng trống cổ vũ vang dội của dân làng bên bờ. Các thuyền đua phải đi đúng 3 lượt mới được kết thúc. Đội về nhất sẽ được nhận một con cá vược và tiền thưởng. Các thành viên tham gia bơi được mời dự bữa cơm cúng Thành Hoàng đầu năm tại đền Thuận Nghĩa./.

(lehoi.info) - Lễ hội bơi trải trên sông Diêm, được tổ chức vào ngày 12 tháng Giêng âm lịch hàng năm, tại Thị trấn Diêm Điền, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.

Đặc sắc lễ hội bơi trải trên sông Diêm

Làng Diêm Điền trước đây (ngày nay thuộc thị trấn Diêm Điền) dài khoảng 1 cây số nhưng được bao bọc 3 phía bởi sông Cống Ngoại về phía tây, sông Cống Mới về phía đông đặc biệt ở phía nam là dòng Diêm Hộ chảy qua trước làng rồi mới đổ ra vịnh Bắc Bộ. Tục bơi chải của làng Diêm Điền gắn liền với nghề đi biển đánh bắt hải sản và vận tải đường biển nên thường liên quan tới các vị Thuỷ Thần. Theo các bậc tiền nhân trước đây kể lại rằng trước năm 1945 làng còn có chùa và đình, trước khi bơi phải đến tế Thuỷ Thần ở Đình Trung vào sáng ngày mùng 10 tháng giêng hàng năm. Người Diêm Điền hết sức tôn trọng phong tục lâu đời này vì nếu năm nào không tổ chức lễ hội bơi chải Thuỷ Thần sẽ tức giận và năm đó thần sẽ về bắt người. Dân Làng Diêm Điền vẫn còn nhớ có câu tục ngữ: ”Sóng Cửa Trà (cửa sông Trà Lý), ma cửa Hộ (cửa sông Diêm Hộ)”. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (năm 1945- năm1954), thời kỳ lập lại hòa bình năm 1955 đến năm 1975 vẫn chưa khôi phục… Từ ngày kinh tế đổi mới hội bơi chải của Làng Diêm Điền được khôi phục và đáp ứng lòng mong mỏi, sự ủng hộ đông đảo nhân dân trong toàn thị trấn và trong cả huyện. Đây là cuộc thi nối tiếp truyền thống lâu đời thuỷ quân đã từng xuất hiện cách đây hàng nghìn năm trong lịch sử oai hùng của người dân tỉnh Thái Bình nói chung và người dân làng Diêm Điền nói riêng, gắn liền từ vua Lý Bí (Lý Bôn) và tướng Phạm Ngũ Lão. Lễ hội bơi trải trên sông Diêm Lễ hội bơi chải truyền thống hàng năm vào ngày 12 âm lịch được coi là một hoạt động đón xuân chính tại địa phương và mang ý nghĩa lễ ra quân đầu năm. Số chải tham gia vào lễ hội là 5 chải đại diện cho các khu dân cư và các doanh nghiệp lớn trên địa bàn thị trấn. Số người ở trong mỗi chải cũng có sự thay đổi. Tham gia tế Thuỷ Thần gồm có 1 chủ tế, 4 bồi tế và 12 quan viên. Chủ tế phải mặc áo dài màu xanh, khăn xếp màu đen và hai bên tả, hữu là hai hàng quan viên (là những vị ở trong ban hương chức của làng) và có 2 ông tây xướng và ông nam xướng. Các bồi tế lần lượt dâng hương, dâng đăng, dâng trà (2 lần), dâng Thanh chước (rượu) 4 lần và ông chủ tế đọc bài chúc văn thành kính mời Thuỷ Thần về chứng giám các lễ vật do lòng thành của dân làng dâng cúng và cầu mong thần phù trợ đắc lực cho nhà nhà bình yên, người người no đủ, hạnh phúc, trời yên biển lặng, thuận buồm xuôi gió, … Các trải bơi đang nỗ lực, cố gắng trong vòng đua Sau khi tế xong các đội bơi sẽ đi xuống bến nơi có 5 thuyền chải có trang trí đầu rồng cách điệu ở phía mũi. Ở trên đình Thuận Nghĩa đốt vàng mã xong, thì ở dưới bến chuẩn bị phất cờ và đốt pháo phát lệnh là các đội bơi bắt đầu vào cuộc. Khi tiếng pháo thứ 3 vừa nổ xong thì các thuyền bơi dàn hàng ngang trên sông Diêm Hộ lao như tên trong tiếng trống cổ vũ vang dội của dân làng bên bờ. Các thuyền đua phải đi đúng 3 lượt mới được kết thúc. Đội về nhất sẽ được nhận một con cá vược và tiền thưởng. Các thành viên tham gia bơi được mời dự bữa cơm cúng Thành Hoàng đầu năm tại đền Thuận Nghĩa./.

Related Figures

Hội làng La Vân

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 20/3- 26/3 Âm lịch Làng La Vân là một thôn của xã Quỳnh Hồng, Quỳnh Phụ, Thái Bình- là nơi nổi tiếng ở Châu thổ Bắc Bộ với nghề ương bèo hoa dâu vào thập niên 1970 trở về trước. Tục truyền lại rằng Thành hoàng làng là Uy Minh đại vương Lý Nhật Quang, con Lý Hành, em vua Lý Anh Tôn và Thiên Đê đại vương- người có công "giáo dân dưỡng nghệ bình cầm" người dạy cho dân ươm gây bèo hoa dâu, làm cho "dân khang vật thịnh". Hàng năm làng mở hội hai lần vào ngày mùng 4 tháng giêng và từ ngày 20 đến 26 tháng 3 âm lịch. Đặc sắc hội làng La Vân Thái Bình Hội ngày mùng 4 tháng Giêng ở La Vân là hội "trình nghề" với các hình thức diễn xướng dân gian độc đáo như một bức tranh thu nhỏ phản ánh xã hội thời xưa với đầy đủ thành phần sĩ, nông, công, thương… Làng La Vân thời xưa có 7 giáp cùng chung lo tổ chức hội làng. Vào cuối tháng một và vào đầu tháng chạp, các giáp trong làng vừa tất bật lo chuẩn bị tết Nguyên Đán, lại vừa tất bật đưa bèo giống ra ương, lại vừa lo lực lượng, phương tiện đua tài trong hội; nhưng chuẩn bị công phu nhất vẫn là việc tuyển chọn người và phương tiện ra dự trò tứ dân "sĩ- nông- công - cổ" trong ngày hội làng- đây là một trò trình nghề xuyên suốt các hoạt động trong hội. Quang cảnh lễ hội làng La Vân Thái Bình Trước tết khoảng nửa tháng, làng bầu chọn ra ông chủ hội, còn các giáp bầu chọn ông chiềng cờ. Chiềng cờ là một người chịu trách nhiệm tổ chức cho các thành viên của giáp mình vào thi tài ở các lớp diễn. Sáng ngày mồng 4 tết, dân làng xem hội đứng chật cả sân đình, chính giữa sân đình là giành chỗ cho đội múa lân, múa cờ… Bắt đầu hội là một màn múa lân độc đáo và hấp dẫn giành được nhiều tình cảm của dân làng và dưới sự điều hành của ông chủ hội, 7 vị chiềng cờ của 7 giáp xuất hiện múa cờ một vòng quanh sân đình và đọc lời giới thiệu về giáp của mình. Các thành viên trong giáp theo ông chiềng cờ ra tập trung ở giữa sân đình. Sau lời giới thiệu của ông chiềng cờ, các lớp diễn trò được bắt đầu. Lớp trò "sĩ": ông thầy đồ sẽ mặc bộ quần áo trùng màu đen trông rất oai nghiêm, chân đi guốc mộc, một tay chống nách, còn tay kia cầm chiếc roi mây vừa đi vừa quất vào không khí nghe vun vút. Cậu học trò thì mặc bộ quần áo màu nâu với nhiều miếng vá chằng chịt, quần ống cao ống thấp, chân tay bê bết mực và nách cắp một chiếc tráp xộc xệch chạy theo thầy; trên đường đi tỉnh thoảng lại đánh rơi sách, rơi bút và bị thầy quát, thầy đánh đòn, vừa nhặt vừa chạy vừa xoa mông cho đỡ đau. Thầy ngồi khoanh chân lên chiếc chiếu trải sẵn ở góc sân đình, sách được để trên tráp, một tay thì mở sách, còn một tay thì quất roi; trò khép nép đứng bên. Thầy đọc trước, trò đọc theo sau; thầy đọc sai trò cãi, thầy đánh; thầy hỏi một đằng, trò trả lời một nẻo, những lúc như thế từng tràng cười giòn giã vang lên khuyến khích lớp diễn hấp dẫn. Ở góc sân đình bên cạnh là lớp trò "công" với vai ông thợ mộc. Bộ đồ nghề của ông thợ gồm có cưa, rìu, đục… Ông thợ cứ hì hục làm, khi thì đẽo một cái chày để giã cua, khi thì cưa tre để đóng một cái chuồng gà, lúc thì lại nhổ đinh, vừa làm vừa nghe tiếng đế theo của khán giả tạo ra một không khí vui nhộn. Ở tại một góc sân khác, lớp trò "cổ" (hay "thương") diễn ra tấp nập giữa kẻ bán và người mua. Kẻ bán quẩy đôi quang gánh trong đó có đủ thứ: rau củ, hoa quả, bánh trái, mắm, muối…đi rao, rao thế nào để gây tiếng cười và bán được càng nhiều hàng thì càng tốt. Tiếng người mua ngã giá, mặc cả, tiếng người bán chanh chua, ngoa ngoắt khi người mua trả giá quá rẻ… đan xen lẫn nhau tạo nên nhiều tràng cười vui vẻ. Náo nhiệt nhất vẫn là lớp trò "nông". Trên một góc của sân đình, một "mảnh ruộng" nhỏ đã được be bờ, tát nước và được thả sẵn bèo hoa dâu. Đàn ông hóa trang thành bà cấy, đầu chít khăn mỏ quạ, mặc yếm đào, độn ngực và váy cuốn cao như các cô thôn nữ đi làm đồng. Người nữ đóng ông thợ cày đầu chít khăn mỏ rìu, vác cày hoặc vác bừa làm bằng bẹ chuối và lá dọc dừa, quần xắn cao quá đầu gối, tay cầm roi tre và vừa đi vừa quát "trâu". Người đóng vai "trâu cày" là người khổ nhất, đi phải cúi khom lưng và thỉnh thoảng lại bị ông thợ cày quất cho một roi vào mông vì không cày thẳng hàng. Đầu "trâu" được làm bằng chiếc gầu giai phất giấy màu đen, thân "trâu" thì là chiếc bồ. Khi bị đánh "trâu" lồng lên té ướt cả bà cấy và những người xem, cũng có lúc "trâu" tỏ ra ngoan ngoãn, thong thả bước, có lúc còn trêu ghẹo "cắn" cả vào mông bà cấy, bà cấy giật mình chạy té ướt mọi người; mấy ông vạc bờ cuốc góc thỉnh thoảng lại ve vãn bà cấy gây cười, hoặc đối đáp hát ví von. Trước đây, các trò diễn có chấm giải, chủ yếu dựa vào sự chuẩn bị công phu và tính hài hước của từng trò mà đánh giá. Ngày nay trò diễn không chấm điểm, cũng không xếp hạng nhưng giáp nào cũng lo chuẩn bị công phu và độc đáo để còn nhận được tiếng thơm của dân làng và trò diễn luôn được thôn La Vân 1-2-3 duy trì đều đặn và nhận được sự cổ vũ nhiệt tình của những người dân. Hoạt động hội từ ngày 20 đến ngày 26 tháng 3 âm lịch đã trở thành sức sống mãnh liệt trong mỗi dịp làng mở hội. Trong hội có rất nhiều những nghi lễ cổ, những trò chơi, trò diễn dân gian hết sức phong phú như tục rước tế, tổ tôm điếm, chơi cờ người, chọi gà, đấu vật… thu hút sự tham gia đông đảo của dân làng và các du khách gần xa. Sau màn múa lân, múa rồng rộn rã, là lễ rước Thành hoàng làng về dự hội được tiến hành . Đám rước được bắt đầu từ hậu cung đình ra miếu và chùa cổng sau đó trở về đình để làm lễ. Đường đi của đám rước đi theo một vòng quanh làng. Đội múa lân đi trước dọn đường, kế sau là đội cờ, phường bát âm, đoàn người mang cờ, trống, đồ bát bảo, nhang án và võng lọng. Tiếp đến là kiệu Thánh (Nguyễn Minh Không), kiệu Thần, kiệu Quan, kiệu Phật, kiệu Mẫu, đoàn quân hội múa kéo chữ, đoàn hành lễ, đoàn đại biểu và dân chúng dự hội. Các vị trong đội tế chân đi hia, đầu đội mũ cánh chuồn và quần áo tế sặc sỡ, đủ màu sắc. Đám rước đi một đường và về một đường, đi trong tiếng chiêng, tiếng trống vang động, tiếng nhạc của phường bát âm rộn rã cùng tiếng những người dự hội tạo nên không khí sôi động và nhộn nhịp. Sau khi đi vòng quanh đường làng, qua những bờ ngô bãi mía xanh tươi, đám rước sẽ trở về đình. Trên sàn tế, ngay chính giữa đình nghi lễ được bắt đầu. Kiệu và tượng Thánh được đặt vào một vị trí trang trọng nhất tại đình. Kế theo là lễ dâng hương nghiêm cẩn để tế Thánh. Lễ vật tế Thánh ngoài hương, nến, trầu cau, rượu và mâm ngũ quả còn có một mâm xôi trắng và sỏ lợn. Ở trong đình làng khói hương nghi ngút, người dân trong làng, du khách thập phương ra vào lễ Thánh tấp nập cầu chúc năm mới nhiều may mắn, người khang, vật thịnh, mưa thuận gió hòa… còn ở ngoài sân đình các trò chơi, trò múa kéo chữ, trò diễn dân gian như chơi cờ người, đua thuyền, đấu vật, đánh đu, chọi gà… cũng đồng thời được tiếp diễn. Người ta đua nhau vui chơi, thi thố tài năng để giành giải thưởng và thử vận may. Chiều ngày 26 tháng 3, dân làng sẽ tổ chức rước kiệu Thánh từ đình về miếu và làm lễ yên vị, kết thúc một mùa hội tưng bừng, náo nhiệt trong sự cộng cảm, hào hứng của hàng ngàn người lao động trong vùng và những du khách thập phương. Đông đảo du khách thập phương và người dân trong vùng tới tham dự lễ hội Bao hàm những nội dung mang tính lịch sử và văn hóa truyền thống, hội làng La Vân tại Thái Bình đã và đang được phát huy tác dụng tích cực trong việc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ở một vùng quê lúa./.

Làng La Vân là một thôn của xã Quỳnh Hồng, Quỳnh Phụ, Thái Bình- là nơi nổi tiếng ở Châu thổ Bắc Bộ với nghề ương bèo hoa dâu vào thập niên 1970 trở về trước. Tục truyền lại rằng Thành hoàng làng là Uy Minh đại vương Lý Nhật Quang, con Lý Hành, em vua Lý Anh Tôn và Thiên Đê đại vương- người có công "giáo dân dưỡng nghệ bình cầm" người dạy cho dân ươm gây bèo hoa dâu, làm cho "dân khang vật thịnh". Hàng năm làng mở hội hai lần vào ngày mùng 4 tháng giêng và từ ngày 20 đến 26 tháng 3 âm lịch.

Đặc sắc hội làng La Vân Thái Bình

Hội ngày mùng 4 tháng Giêng ở La Vân là hội "trình nghề" với các hình thức diễn xướng dân gian độc đáo như một bức tranh thu nhỏ phản ánh xã hội thời xưa với đầy đủ thành phần sĩ, nông, công, thương… Làng La Vân thời xưa có 7 giáp cùng chung lo tổ chức hội làng. Vào cuối tháng một và vào đầu tháng chạp, các giáp trong làng vừa tất bật lo chuẩn bị tết Nguyên Đán, lại vừa tất bật đưa bèo giống ra ương, lại vừa lo lực lượng, phương tiện đua tài trong hội; nhưng chuẩn bị công phu nhất vẫn là việc tuyển chọn người và phương tiện ra dự trò tứ dân "sĩ- nông- công - cổ" trong ngày hội làng- đây là một trò trình nghề xuyên suốt các hoạt động trong hội. Quang cảnh lễ hội làng La Vân Thái Bình Trước tết khoảng nửa tháng, làng bầu chọn ra ông chủ hội, còn các giáp bầu chọn ông chiềng cờ. Chiềng cờ là một người chịu trách nhiệm tổ chức cho các thành viên của giáp mình vào thi tài ở các lớp diễn. Sáng ngày mồng 4 tết, dân làng xem hội đứng chật cả sân đình, chính giữa sân đình là giành chỗ cho đội múa lân, múa cờ… Bắt đầu hội là một màn múa lân độc đáo và hấp dẫn giành được nhiều tình cảm của dân làng và dưới sự điều hành của ông chủ hội, 7 vị chiềng cờ của 7 giáp xuất hiện múa cờ một vòng quanh sân đình và đọc lời giới thiệu về giáp của mình. Các thành viên trong giáp theo ông chiềng cờ ra tập trung ở giữa sân đình. Sau lời giới thiệu của ông chiềng cờ, các lớp diễn trò được bắt đầu. Lớp trò "sĩ": ông thầy đồ sẽ mặc bộ quần áo trùng màu đen trông rất oai nghiêm, chân đi guốc mộc, một tay chống nách, còn tay kia cầm chiếc roi mây vừa đi vừa quất vào không khí nghe vun vút. Cậu học trò thì mặc bộ quần áo màu nâu với nhiều miếng vá chằng chịt, quần ống cao ống thấp, chân tay bê bết mực và nách cắp một chiếc tráp xộc xệch chạy theo thầy; trên đường đi tỉnh thoảng lại đánh rơi sách, rơi bút và bị thầy quát, thầy đánh đòn, vừa nhặt vừa chạy vừa xoa mông cho đỡ đau. Thầy ngồi khoanh chân lên chiếc chiếu trải sẵn ở góc sân đình, sách được để trên tráp, một tay thì mở sách, còn một tay thì quất roi; trò khép nép đứng bên. Thầy đọc trước, trò đọc theo sau; thầy đọc sai trò cãi, thầy đánh; thầy hỏi một đằng, trò trả lời một nẻo, những lúc như thế từng tràng cười giòn giã vang lên khuyến khích lớp diễn hấp dẫn. Ở góc sân đình bên cạnh là lớp trò "công" với vai ông thợ mộc. Bộ đồ nghề của ông thợ gồm có cưa, rìu, đục… Ông thợ cứ hì hục làm, khi thì đẽo một cái chày để giã cua, khi thì cưa tre để đóng một cái chuồng gà, lúc thì lại nhổ đinh, vừa làm vừa nghe tiếng đế theo của khán giả tạo ra một không khí vui nhộn. Ở tại một góc sân khác, lớp trò "cổ" (hay "thương") diễn ra tấp nập giữa kẻ bán và người mua. Kẻ bán quẩy đôi quang gánh trong đó có đủ thứ: rau củ, hoa quả, bánh trái, mắm, muối…đi rao, rao thế nào để gây tiếng cười và bán được càng nhiều hàng thì càng tốt. Tiếng người mua ngã giá, mặc cả, tiếng người bán chanh chua, ngoa ngoắt khi người mua trả giá quá rẻ… đan xen lẫn nhau tạo nên nhiều tràng cười vui vẻ. Náo nhiệt nhất vẫn là lớp trò "nông". Trên một góc của sân đình, một "mảnh ruộng" nhỏ đã được be bờ, tát nước và được thả sẵn bèo hoa dâu. Đàn ông hóa trang thành bà cấy, đầu chít khăn mỏ quạ, mặc yếm đào, độn ngực và váy cuốn cao như các cô thôn nữ đi làm đồng. Người nữ đóng ông thợ cày đầu chít khăn mỏ rìu, vác cày hoặc vác bừa làm bằng bẹ chuối và lá dọc dừa, quần xắn cao quá đầu gối, tay cầm roi tre và vừa đi vừa quát "trâu". Người đóng vai "trâu cày" là người khổ nhất, đi phải cúi khom lưng và thỉnh thoảng lại bị ông thợ cày quất cho một roi vào mông vì không cày thẳng hàng. Đầu "trâu" được làm bằng chiếc gầu giai phất giấy màu đen, thân "trâu" thì là chiếc bồ. Khi bị đánh "trâu" lồng lên té ướt cả bà cấy và những người xem, cũng có lúc "trâu" tỏ ra ngoan ngoãn, thong thả bước, có lúc còn trêu ghẹo "cắn" cả vào mông bà cấy, bà cấy giật mình chạy té ướt mọi người; mấy ông vạc bờ cuốc góc thỉnh thoảng lại ve vãn bà cấy gây cười, hoặc đối đáp hát ví von. Trước đây, các trò diễn có chấm giải, chủ yếu dựa vào sự chuẩn bị công phu và tính hài hước của từng trò mà đánh giá. Ngày nay trò diễn không chấm điểm, cũng không xếp hạng nhưng giáp nào cũng lo chuẩn bị công phu và độc đáo để còn nhận được tiếng thơm của dân làng và trò diễn luôn được thôn La Vân 1-2-3 duy trì đều đặn và nhận được sự cổ vũ nhiệt tình của những người dân. Hoạt động hội từ ngày 20 đến ngày 26 tháng 3 âm lịch đã trở thành sức sống mãnh liệt trong mỗi dịp làng mở hội. Trong hội có rất nhiều những nghi lễ cổ, những trò chơi, trò diễn dân gian hết sức phong phú như tục rước tế, tổ tôm điếm, chơi cờ người, chọi gà, đấu vật… thu hút sự tham gia đông đảo của dân làng và các du khách gần xa. Sau màn múa lân, múa rồng rộn rã, là lễ rước Thành hoàng làng về dự hội được tiến hành . Đám rước được bắt đầu từ hậu cung đình ra miếu và chùa cổng sau đó trở về đình để làm lễ. Đường đi của đám rước đi theo một vòng quanh làng. Đội múa lân đi trước dọn đường, kế sau là đội cờ, phường bát âm, đoàn người mang cờ, trống, đồ bát bảo, nhang án và võng lọng. Tiếp đến là kiệu Thánh (Nguyễn Minh Không), kiệu Thần, kiệu Quan, kiệu Phật, kiệu Mẫu, đoàn quân hội múa kéo chữ, đoàn hành lễ, đoàn đại biểu và dân chúng dự hội. Các vị trong đội tế chân đi hia, đầu đội mũ cánh chuồn và quần áo tế sặc sỡ, đủ màu sắc. Đám rước đi một đường và về một đường, đi trong tiếng chiêng, tiếng trống vang động, tiếng nhạc của phường bát âm rộn rã cùng tiếng những người dự hội tạo nên không khí sôi động và nhộn nhịp. Sau khi đi vòng quanh đường làng, qua những bờ ngô bãi mía xanh tươi, đám rước sẽ trở về đình. Trên sàn tế, ngay chính giữa đình nghi lễ được bắt đầu. Kiệu và tượng Thánh được đặt vào một vị trí trang trọng nhất tại đình. Kế theo là lễ dâng hương nghiêm cẩn để tế Thánh. Lễ vật tế Thánh ngoài hương, nến, trầu cau, rượu và mâm ngũ quả còn có một mâm xôi trắng và sỏ lợn. Ở trong đình làng khói hương nghi ngút, người dân trong làng, du khách thập phương ra vào lễ Thánh tấp nập cầu chúc năm mới nhiều may mắn, người khang, vật thịnh, mưa thuận gió hòa… còn ở ngoài sân đình các trò chơi, trò múa kéo chữ, trò diễn dân gian như chơi cờ người, đua thuyền, đấu vật, đánh đu, chọi gà… cũng đồng thời được tiếp diễn. Người ta đua nhau vui chơi, thi thố tài năng để giành giải thưởng và thử vận may. Chiều ngày 26 tháng 3, dân làng sẽ tổ chức rước kiệu Thánh từ đình về miếu và làm lễ yên vị, kết thúc một mùa hội tưng bừng, náo nhiệt trong sự cộng cảm, hào hứng của hàng ngàn người lao động trong vùng và những du khách thập phương. Đông đảo du khách thập phương và người dân trong vùng tới tham dự lễ hội Bao hàm những nội dung mang tính lịch sử và văn hóa truyền thống, hội làng La Vân tại Thái Bình đã và đang được phát huy tác dụng tích cực trong việc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ở một vùng quê lúa./.

Related Figures

Lễ hội ông Đùng – bà Đà

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 14/4 Âm lịch (lehoi.info)- Lễ hội được tổ chức vào ngày 14 tháng 4 âm lịch hàng năm ở tại Đền thờ bà chúa Muối thuộc làng Quang Lang, xã Thụy Vân, Thái Thụy, Thái Bình. Lễ hội là nơi để gửi gắm những ước vọng của những người dân làng muối về sự sản sinh, sinh sôi và dồi dào. Nơi đó có sự giao hoà của con người cùng với sông nước đất trời làm lòng người thêm tươi trẻ, thóc lúa thêm nhiều, cây cối thêm xanh tươi, báo hiệu cho một mùa muối dồi dào, bội thu. Đền thờ bà Cháu Muối Bà chúa Muối, bà có tên thật là Nguyệt Ánh. Theo truyền thuyết kể lại rằng: Một hôm, khi đang chở muối trên một chuyến đò, Bà Nguyệt Ánh gặp thuyền của vua Trần Anh Tông trên sông Hồng. Mấy người chèo thuyền khát nước, nên liền gọi đò cô bán muối đến và xin nước uống. Nàng e lệ sượng sùng, khép nép, nước cầm tay và tà áo che mặt. Chợt nhìn thấy đôi bàn tay xinh xắn của nàng, vua đã đón nàng sang thuyền mình và sau đó lập làm vợ thứ ba. Sống ở trong cung điện nhưng nàng không nguôi nhớ về quê nhà, nhà vua đành phải đồng ý xuất lụa là, vàng bạc rồi cho quân lính đưa Nguyệt Ánh về quê nhà. Không lâu sau, bà lâm bệnh nặng, rồi qua đời vào ngày 14 tháng 4. Nhà vua được tin thương tiếc bà nên đã sắc phong cho bà làm Phúc thần, người dân làng Quang Lang biết ơn bà đã lập đền thờ để con cháu đời đời tưởng nhớ tới công lao của bà - đó chính là đền thờ bà chúa Muối ngày nay. Đặc sắc lễ hội ông Đùng bà Đà ở Thái Bình Lễ hội đặc sắc cùng với điệu múa ông Đùng, bà Đà mang đậm chất folklore - nhằm cầu mong sự sinh sôi và thịnh vượng. Hình ông Đùng, bà Đà được đan bằng tre mỏng và được đan theo kiểu mắt cáo. Thân hình cao tới 1,5 - 2m, hình chóp nón, đường kính ở phía dưới rộng, đủ để cho một người chui lọt vào. Sáng sớm ngày 14 tháng 4 âm lịch, các thôn ở trong làng mang các hình nộm ông Đùng, bà Đà vào Đền thờ bà chúa Muối để tiến hành các nghi thức tế lễ một cách nghiêm trang và thành kính. Tục chính của lễ hội này là múa Đùng được diễn ra vào lúc nhập nhoạng tối cùng ngày. Trong khi múa người ta sẽ xướng vang những câu tụng ca công đức của bà chúa Muối như: "Lạy chúa! Muối của chúa năm nay được mùa lắm! Lạy chúa, lạy chúa…". Lễ hội ông Đùng – bà Đà tại Thái Bình Trong lễ hội các hình nộm mang cả dáng dấp của ông Đùng và bà Đà. Khi múa lúc nghiêng ngả, lúc quay sang phải, lúc quay sang trái, để cho ông bà có cơ hội "bày tỏ" tình cảm vui mừng với nhau. Các vai ông Đùng và bà Đà phải phối hợp sao cho những lần giáp mặt, thân chập vào nhau. Người Quang Lang giải thích rằng đó là lúc ông bà đang "ăn nằm" với nhau. Sau đó, đoàn múa đi ra khỏi Đền và đi quanh làng, các Đùng con quấn quýt ở xung quanh Đùng bố mẹ. Dân làng đi theo nhộn nhịp, vừa đi vừa hát vừa múa. Lúc đám rước quay về tới Đền thì dân làng vội vã xô nhau vào để lấy cho được một nan nứa trên hình nộm của hai ông bà về cắm vào ruộng, vào vườn và cắm ở trên thuyền để lấy may.

Related Figures

Hội Sáo đền

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 20/3- 27/3 Âm lịch Những ai là người say mê với thú thả diều có thể ghé về vùng quê Thái Bình vào dịp cuối tháng Ba âm lịch để dự hội Sáo đền, lễ hội thả diều độc đáo được rất ít người biết đến. Hội thả diều Sáo đền diễn ra từ ngày 20 đến ngày 27 tháng 3 âm lịch hằng năm tại xã Song An, Vũ Thư, Thái Bình. Về với nơi đây người ta còn tìm về một trong những cái nôi của làn điệu chèo ngọt ngào nổi tiếng. Độc đáo hội Sáo đền Thái Bình Ngày nay Sáo đền được biết đến với trò chơi thả diều rất độc đáo. Cũng như những lễ hội khác ngoài phần lễ còn là phần hội. Phần hội với đủ những trò chơi như: cờ người, chọi gà, bắt vịt, bắn cung... và trò thi diều sáo. Đã có từ hàng trăm năm nay nên luật chơi không hề thay đổi. Người chủ diều chọn đúng hướng gió kéo dây diều. Ban tổ chức cắm 2 cây sào trên đầu có buộc 2 lưỡi mác rất bén cắm 2 cây sào đó ở 2 bên dây diều, khoảng cách của hai cây sào đó là 50cm. Việc đó đều được làm với tất cả cánh diều nào vào cuộc thi. Khi nghe một hồi trống lệnh nổi lên, các chủ diều chỉnh chuẩn diều kéo căng dây và đâm diều lên. Cánh diều nào không chuẩn bị đảo qua đảo lại, dây diều sẽ chạm phải 2 lưỡi mác ở trên hai ngọn sào là bị đứt dây. Như vậy cánh diều đó đã bị loại khỏi cuộc chơi, cứ thế diều nào đậu được đến ngày cuối cùng của hội thì chủ diều đó là người đoạt giải. Theo như các cụ già ở trong làng kể lại thì mỗi năm chỉ duy nhất có một người đoạt giải, cũng có năm không có ai đoạt được giải diều, như vào năm 2003 là một ví dụ. Thả diều là phải nhờ ở gió trời, do đó có năm vào ngày hội diễn ra mà không có gió trời hoặc gió không đủ mạnh để đâm diều sáo. Nhưng hội Sáo đền chưa có năm nào bị gián đoạn, theo như người dân nơi đây thì đó là nhờ “ gió thần”. Chuẩn bị diều cho cuộc thi đấu Diều đoạt được giải nhất ngoài việc đậu đến hết hội ở giữa 2 lưỡi mác thì sáo diều phải thật hay. Sáo hay là bộ sáo gồm có 2 sáo trở lên, tiếng sáo trong trẻo âm thanh giữa các sáo trong bộ sáo phải phối hợp cho nhau hài hoà, ngọt ngào và du dương ... Diều sáo được trưng bày, chấm điểm hình thức trước khi thi thả lehoi.info tổng hợp

Những ai là người say mê với thú thả diều có thể ghé về vùng quê Thái Bình vào dịp cuối tháng Ba âm lịch để dự hội Sáo đền, lễ hội thả diều độc đáo được rất ít người biết đến. Hội thả diều Sáo đền diễn ra từ ngày 20 đến ngày 27 tháng 3 âm lịch hằng năm tại xã Song An, Vũ Thư, Thái Bình. Về với nơi đây người ta còn tìm về một trong những cái nôi của làn điệu chèo ngọt ngào nổi tiếng.

Độc đáo hội Sáo đền Thái Bình

Ngày nay Sáo đền được biết đến với trò chơi thả diều rất độc đáo. Cũng như những lễ hội khác ngoài phần lễ còn là phần hội. Phần hội với đủ những trò chơi như: cờ người, chọi gà, bắt vịt, bắn cung... và trò thi diều sáo. Đã có từ hàng trăm năm nay nên luật chơi không hề thay đổi. Người chủ diều chọn đúng hướng gió kéo dây diều. Ban tổ chức cắm 2 cây sào trên đầu có buộc 2 lưỡi mác rất bén cắm 2 cây sào đó ở 2 bên dây diều, khoảng cách của hai cây sào đó là 50cm. Việc đó đều được làm với tất cả cánh diều nào vào cuộc thi. Khi nghe một hồi trống lệnh nổi lên, các chủ diều chỉnh chuẩn diều kéo căng dây và đâm diều lên. Cánh diều nào không chuẩn bị đảo qua đảo lại, dây diều sẽ chạm phải 2 lưỡi mác ở trên hai ngọn sào là bị đứt dây. Như vậy cánh diều đó đã bị loại khỏi cuộc chơi, cứ thế diều nào đậu được đến ngày cuối cùng của hội thì chủ diều đó là người đoạt giải. Theo như các cụ già ở trong làng kể lại thì mỗi năm chỉ duy nhất có một người đoạt giải, cũng có năm không có ai đoạt được giải diều, như vào năm 2003 là một ví dụ. Thả diều là phải nhờ ở gió trời, do đó có năm vào ngày hội diễn ra mà không có gió trời hoặc gió không đủ mạnh để đâm diều sáo. Nhưng hội Sáo đền chưa có năm nào bị gián đoạn, theo như người dân nơi đây thì đó là nhờ “ gió thần”. Chuẩn bị diều cho cuộc thi đấu Diều đoạt được giải nhất ngoài việc đậu đến hết hội ở giữa 2 lưỡi mác thì sáo diều phải thật hay. Sáo hay là bộ sáo gồm có 2 sáo trở lên, tiếng sáo trong trẻo âm thanh giữa các sáo trong bộ sáo phải phối hợp cho nhau hài hoà, ngọt ngào và du dương ... Diều sáo được trưng bày, chấm điểm hình thức trước khi thi thả lehoi.info tổng hợp

Related Figures

Lễ Vía Bà

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 4/5- 6/5 Âm lịch Núi Bà Đen ngày nay thuộc xã Thạnh Tân, huyện Hoà Thành, thị xã Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh và cách thị xã Tây Ninh khoảng 11km về phía đông bắc. Núi Bà Đen có nhiều truyền thuyết và tín ngưỡng dân gian, nơi đây hàng năm diễn ra những lễ hội lớn không chỉ của tỉnh Tây Ninh mà còn của cả một vùng đất Nam Bộ. Vị thần được thờ chính ở trên núi là Bà Đen hay còn gọi là Linh Sơn Thánh Mẫu. Bà được thờ ở Điện Bà khoảng lưng chừng núi. Những ngày hội lễ được xem là quan trọng nhất ở Núi Bà trong năm đó là lễ vía Bà tổ chức vào các ngày mùng 4, mùng 5 và mùng 6 tháng 5 âm lịch. Điện Bà Mọi công việc chuẩn bị cho lễ vía Bà được tổ chức từ nhiều ngày trước đó để kịp đến khuya ngày mùng 3 rạng sáng ngày mùng 4 sẽ làm lễ tắm Bà và thay áo cho Bà. Vào lúc này cửa điện phải được đóng kín, đèn nến thì được tắt gần hết chỉ còn lại 6 người phụ nữ trung niên trong đó có 3 ni cô của nhà chùa bắt tay vào nghi thức tắm tượng Bà, mọi người phải đến trước tượng Bà làm lễ thắp nhang, xin phép được tắm và thay áo cho Bà. Giữa tuần hương, dưới sự điều hành của một người phụ nữ lớn tuổi trong nhóm, mọi người cùng nhau bắt tay và cởi áo khoác trên tượng bà trong suốt năm qua, rồi chuyền tay nhau những gáo nước được nấu bằng lá thơm trong rừng (về sau có pha thêm nước hoa) dội lên tượng Bà và kỳ cọ sạch sẽ. Sau khi dội nước xong lần cuối, mọi người dùng những chiếc khăn khô, sạch lau khô tượng Bà và thay cho tượng một bộ áo mới. Người ta tin rằng nước tắm tượng Bà thải ra chính là một vị thần chữa được bá bệnh, và ngay cả khăn lau với bộ áo cũ của tượng Bà cũng là một thứ bùa ngải linh thiêng, nên không ít người mê tín đã đến xin hoặc mua nước tắm, khăn lau áo cũ tượng Bà để đem về chữa bệnh. Sau khi tắm và thay áo cho Bà xong, những người phụ nữ thắp một lần hương nửa, và thắp đèn nến trở lại cho sáng sủa rồi mở rộng tất cả các cửa điện để đón các thiện nam, tín nữ vào thắp hương cầu khấn Bà. Lễ hội núi Bà Đen Sáng ngày mồng 4 lễ hội Núi Bà được bắt đầu sau khi nghi thức tắm và thay áo cho Bà xong, các du khách tập phương chen chúc nhau vào chánh điện để chiêm bái thắp hương cầu khấn Bà. Trong suốt ngày mùng 4 tại điện Bà diễn ra các nghi thức lễ hội dân gian gồm: Hát bóng rối chầu mời, hát chặp bóng tuồng hài "Địa Nàng", múa dâng bông, dâng mâm ngũ sắc và múa đồ chơi (Múa lu, múa lục bình, múa bông huệ...). Ngày mồng 5 là ngày lễ vía chính thức của Bà và cũng chính là ngày lễ hội Núi Bà đông vui nhất. Những nghi lễ ở trong ngày mồng 5 quan trọng nhất đó là lễ "Trình thập cúng". Trong lễ này người ta dâng lên Bà 10 món gồm: Hương, đèn, hoa quả, trà bánh và rượu... Trong suốt ngày mồng 5, các vị sư thay nhau tụng kinh liên tục ở trước bàn thờ Bà. Ngày mồng 6 là ngày dành cho việc cúng các cô hồn, uổng tử và chẩn tế cho bá tánh. Ngày cúng này có sự tham dự của các sư sải, để đọc kinh sám hối siêu độ cho những oan hồn. Những du khách về tham dự, vào điện Bà tiếp tục cầu khấn và dâng hương. Buổi chiều ngay sau lễ cúng ngọ, là lễ thí thực cô muối. Ban đêm các nhà sư tiếp tục các chầu kinh siêu độ cho bá tánh... Những ngày sau đó du khách thập phương vẫn tiếp tục hành hương về thăm Núi Bà và hành lễ ở Điện Bà. Đông đảo du khách thập phương về tham dự lễ hội Những ngày hội Núi Bà trong năm có rất đông du khách ở trong và ngoài tỉnh về tham dự, cùng với các sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo, đông vui. Những nghi lễ trong lễ hội Núi Bà vừa mang tính chất của các hoạt động tín ngưỡng và của Phật giáo, thể hiện những mong ước của đại chúng về một cuộc sống an khang và thịnh vượng.

Núi Bà Đen ngày nay thuộc xã Thạnh Tân, huyện Hoà Thành, thị xã Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh và cách thị xã Tây Ninh khoảng 11km về phía đông bắc. Núi Bà Đen có nhiều truyền thuyết và tín ngưỡng dân gian, nơi đây hàng năm diễn ra những lễ hội lớn không chỉ của tỉnh Tây Ninh mà còn của cả một vùng đất Nam Bộ. Vị thần được thờ chính ở trên núi là Bà Đen hay còn gọi là Linh Sơn Thánh Mẫu. Bà được thờ ở Điện Bà khoảng lưng chừng núi. Những ngày hội lễ được xem là quan trọng nhất ở Núi Bà trong năm đó là lễ vía Bà tổ chức vào các ngày mùng 4, mùng 5 và mùng 6 tháng 5 âm lịch.

Điện Bà

Mọi công việc chuẩn bị cho lễ vía Bà được tổ chức từ nhiều ngày trước đó để kịp đến khuya ngày mùng 3 rạng sáng ngày mùng 4 sẽ làm lễ tắm Bà và thay áo cho Bà. Vào lúc này cửa điện phải được đóng kín, đèn nến thì được tắt gần hết chỉ còn lại 6 người phụ nữ trung niên trong đó có 3 ni cô của nhà chùa bắt tay vào nghi thức tắm tượng Bà, mọi người phải đến trước tượng Bà làm lễ thắp nhang, xin phép được tắm và thay áo cho Bà. Giữa tuần hương, dưới sự điều hành của một người phụ nữ lớn tuổi trong nhóm, mọi người cùng nhau bắt tay và cởi áo khoác trên tượng bà trong suốt năm qua, rồi chuyền tay nhau những gáo nước được nấu bằng lá thơm trong rừng (về sau có pha thêm nước hoa) dội lên tượng Bà và kỳ cọ sạch sẽ. Sau khi dội nước xong lần cuối, mọi người dùng những chiếc khăn khô, sạch lau khô tượng Bà và thay cho tượng một bộ áo mới. Người ta tin rằng nước tắm tượng Bà thải ra chính là một vị thần chữa được bá bệnh, và ngay cả khăn lau với bộ áo cũ của tượng Bà cũng là một thứ bùa ngải linh thiêng, nên không ít người mê tín đã đến xin hoặc mua nước tắm, khăn lau áo cũ tượng Bà để đem về chữa bệnh. Sau khi tắm và thay áo cho Bà xong, những người phụ nữ thắp một lần hương nửa, và thắp đèn nến trở lại cho sáng sủa rồi mở rộng tất cả các cửa điện để đón các thiện nam, tín nữ vào thắp hương cầu khấn Bà. Lễ hội núi Bà Đen Sáng ngày mồng 4 lễ hội Núi Bà được bắt đầu sau khi nghi thức tắm và thay áo cho Bà xong, các du khách tập phương chen chúc nhau vào chánh điện để chiêm bái thắp hương cầu khấn Bà. Trong suốt ngày mùng 4 tại điện Bà diễn ra các nghi thức lễ hội dân gian gồm: Hát bóng rối chầu mời, hát chặp bóng tuồng hài "Địa Nàng", múa dâng bông, dâng mâm ngũ sắc và múa đồ chơi (Múa lu, múa lục bình, múa bông huệ...). Ngày mồng 5 là ngày lễ vía chính thức của Bà và cũng chính là ngày lễ hội Núi Bà đông vui nhất. Những nghi lễ ở trong ngày mồng 5 quan trọng nhất đó là lễ "Trình thập cúng". Trong lễ này người ta dâng lên Bà 10 món gồm: Hương, đèn, hoa quả, trà bánh và rượu... Trong suốt ngày mồng 5, các vị sư thay nhau tụng kinh liên tục ở trước bàn thờ Bà. Ngày mồng 6 là ngày dành cho việc cúng các cô hồn, uổng tử và chẩn tế cho bá tánh. Ngày cúng này có sự tham dự của các sư sải, để đọc kinh sám hối siêu độ cho những oan hồn. Những du khách về tham dự, vào điện Bà tiếp tục cầu khấn và dâng hương. Buổi chiều ngay sau lễ cúng ngọ, là lễ thí thực cô muối. Ban đêm các nhà sư tiếp tục các chầu kinh siêu độ cho bá tánh... Những ngày sau đó du khách thập phương vẫn tiếp tục hành hương về thăm Núi Bà và hành lễ ở Điện Bà. Đông đảo du khách thập phương về tham dự lễ hội Những ngày hội Núi Bà trong năm có rất đông du khách ở trong và ngoài tỉnh về tham dự, cùng với các sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo, đông vui. Những nghi lễ trong lễ hội Núi Bà vừa mang tính chất của các hoạt động tín ngưỡng và của Phật giáo, thể hiện những mong ước của đại chúng về một cuộc sống an khang và thịnh vượng.

Related Figures

Hội làng Đồng Xâm

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/3- 1/4 Âm lịch (lehoi.info) - Hội làng Đồng Xâm theo định lệ hàng năm hội được tổ chức vào những ngày cuối tháng 3 âm lịch và khai hội vào ngày mùng 1 tháng 4 âm lịch, tại xã Hồng Thái, Kiến Xương, Thái Bình. Di tích đền Đồng Xâm Khi đến thăm quê lúa Thái Bình, bên cạnh những thắng cảnh như bãi biển Đồng Châu, cồn Vành, chùa Keo… du khách không nên bỏ qua một điểm du lịch văn hóa - lịch sử lý thú đó là đền Đồng Xâm. Đền Đồng Xâm ngày nay thuộc xã Hồng Thái, Kiến Xương, Thái Bình, đền thờ Triệu Đà tức Triệu Vũ Đế (207-136 trước Công Nguyên) nằm trong một quần thể di tích có quy mô rất rộng lớn. Trong đó, có đền thờ Trình Thị Hoàng hậu (vợ vua Triệu Vũ Đế) gắn với những huyền thoại về một làng chèo, một làng ca trù và đền thờ Nguyễn Kim Lâu (thế kỷ XV) vị tổ nghề chạm bạc gắn liền với một làng nghề. Đền Đồng Xâm nằm trong hệ thống đền chùa nằm kề bên sông Vông với tục đua thuyền diễn ra trong ngày hội. Lễ hội làng Đồng Xâm Hội đền Đồng Xâm thường có rất nhiều lễ thức, nhiều trò chơi, nhiều trò diễn trò đua tài, cuốn hút trai thanh, gái lịch trong vùng tham gia như: đấu vật, Đấu roi, đấu roi, hát chèo, hát ca trù... Đặc biệt, sôi nổi nhất đó là cuộc thi đua thuyền của thanh niên ở trên sông Vông. Trong thời gian diễn ra lễ hội, các sản phẩm chạm bạc của làng cũng được trưng bày và bán để làm đồ lưu niệm cho du khách thập phương, để giới thiệu và quảng bá thêm về nghề truyền thống này. Lễ hội làng Đồng Xâm thu hút đông đảo người dân tham gia Hội đền Đồng Xâm xưa và nay là một ngày hội lớn thu hút đông đảo du khách trong và ngoài tỉnh. Tính sầm uất của hội phần được lý giải bởi làng Đồng Xâm là làng chạm bạc không chỉ giàu có mà còn có nhiều khách vốn làm nghề kim hoàn ở tứ xứ về dự hội để tế tổ nghề. lehoi.info tổng hợp

(lehoi.info) - Hội làng Đồng Xâm theo định lệ hàng năm hội được tổ chức vào những ngày cuối tháng 3 âm lịch và khai hội vào ngày mùng 1 tháng 4 âm lịch, tại xã Hồng Thái, Kiến Xương, Thái Bình.

Di tích đền Đồng Xâm

Khi đến thăm quê lúa Thái Bình, bên cạnh những thắng cảnh như bãi biển Đồng Châu, cồn Vành, chùa Keo… du khách không nên bỏ qua một điểm du lịch văn hóa - lịch sử lý thú đó là đền Đồng Xâm.

Đền Đồng Xâm ngày nay thuộc xã Hồng Thái, Kiến Xương, Thái Bình, đền thờ Triệu Đà tức Triệu Vũ Đế (207-136 trước Công Nguyên) nằm trong một quần thể di tích có quy mô rất rộng lớn. Trong đó, có đền thờ Trình Thị Hoàng hậu (vợ vua Triệu Vũ Đế) gắn với những huyền thoại về một làng chèo, một làng ca trù và đền thờ Nguyễn Kim Lâu (thế kỷ XV) vị tổ nghề chạm bạc gắn liền với một làng nghề. Đền Đồng Xâm nằm trong hệ thống đền chùa nằm kề bên sông Vông với tục đua thuyền diễn ra trong ngày hội. Lễ hội làng Đồng Xâm Hội đền Đồng Xâm thường có rất nhiều lễ thức, nhiều trò chơi, nhiều trò diễn trò đua tài, cuốn hút trai thanh, gái lịch trong vùng tham gia như: đấu vật, Đấu roi, đấu roi, hát chèo, hát ca trù... Đặc biệt, sôi nổi nhất đó là cuộc thi đua thuyền của thanh niên ở trên sông Vông. Trong thời gian diễn ra lễ hội, các sản phẩm chạm bạc của làng cũng được trưng bày và bán để làm đồ lưu niệm cho du khách thập phương, để giới thiệu và quảng bá thêm về nghề truyền thống này. Lễ hội làng Đồng Xâm thu hút đông đảo người dân tham gia Hội đền Đồng Xâm xưa và nay là một ngày hội lớn thu hút đông đảo du khách trong và ngoài tỉnh. Tính sầm uất của hội phần được lý giải bởi làng Đồng Xâm là làng chạm bạc không chỉ giàu có mà còn có nhiều khách vốn làm nghề kim hoàn ở tứ xứ về dự hội để tế tổ nghề. lehoi.info tổng hợp

Related Figures

Lễ hội Xen Pang Ả dân tộc Kháng

Thông tin thời kỳ

Dân tộc Kháng là một trong những dân tộc thiểu số đã cư trú lâu đời ở miền Tây Bắc Việt Nam. Đến nay, đồng bào dân tộc Kháng vẫn còn duy trì được một số lễ nghi nông nghiệp như: lễ Xíp Xí và lễ mừng cơm mới. Tuy nhiên tiêu biểu nhất thì vẫn là Lễ hội Xen Pang ả, do Pa ả (thầy cúng) tổ chức. Lễ hội Xen Pang Ả được tổ chức với quy mô rất lớn, gồm nhiều bản, và cứ 2 năm hay 3 năm thì được tổ chức một lần vào khoảng từ tháng 10 đến tháng 12. Lễ hội được tổ chức với mục đích mời các "ma nhà", "ma bản" và "ma trời" về hưởng lễ vật và những người được Pa Ả chữa cho khỏi bệnh (được coi là con nuôi) đến để dâng lễ, tạ ơn, đồng thời để Pa Ả cầu chúc cho hồn vía các con nuôi lành mạnh, không hay đau ốm và làm ăn phát tài. Nét đẹp người thiếu nữ dân tộc Kháng Trong các bản của đồng bào người dân tộc Kháng thường có một Pa ả chuyên làm việc cúng lễ cho những người dân bản nơi đây. Pa ả là một người thông minh, thuộc nhiều bài cúng và biết cách chữa những bệnh thông thường, biết một số ảo thuật và biết nhiều điều mà những người khác không biết. Có thể gọi họ là những người trí thức dân gian, họ rất có uy tín, được người dân bản tin và làm theo. Trang phục cổ truyền của dân tộc Kháng ở Sơn La. Lễ hội Xen Pang Ả ngoài phần lễ cúng cầu xin, còn là nơi để nhân dân diễn lại các công việc nương rẫy, thu hái lâm sản ở trong đời sống thường nhật, thông qua những trò diễn; chơi những trò chơi dân gian; hát đối đáp giao duyên; múa ống và múa khăn. Lễ hội Xen Pang Ả dân tộc Kháng tại Sơn La Xen Pang Ả là một ngày hội lớn, vô cùng có ý nghĩa đối với những người đồng bào dân tộc Kháng. Đây còn là dịp để mọi người tạ ơn tổ tiên và tạ ơn các thế lực siêu nhiên đã giúp đỡ cho họ có sức khỏe, bản mường yên bình, no ấm. Đây cũng là dịp để cộng đồng người dân tộc Kháng vui chơi thư giãn, sau những tháng ngày lao động mệt nhọc vất vả, một nắng hai sương. Đặc biệt lễ hội còn là dịp để lớp thanh niên chưa vợ chưa chồng tìm hiểu, hẹn hò để nên vợ thành chồng, bởi vậy lễ hội Xen Pang Ả còn có ý nghĩa trong việc tái tạo cộng đồng dân tộc.

Related Figures

Lễ hội Mah Grợ của dân tộc Khơ Mú

Thông tin thời kỳ

Dân tộc Khơ Mú là dân tộc thuộc nhóm dân tộc thiểu số tại Sơn La, đồng bào cư trú chủ yếu ở các huyện Yên Châu, huyện Mai Sơn, huyện Thuận Châu, huyện Mường La, huyện Quỳnh Nhai và huyện Sông Mã. Những người dân tộc Khơ Mú xưa rất nghèo, chủ yếu là làm nghề nông trồng lúa cạn với nhưng lại có một đời sống văn hóa hết sức độc đáo. Lễ hội Mah grợ cùng với điệu múa Vêlr guông chính là một sản phẩm văn hóa tinh thần, tâm linh có nguồn gốc, cổ truyền từ thời xa xưa. Lễ hội được tổ chức vào tháng 8 và tháng 9 âm lịch hàng năm có ý nghĩa tổng kết một vụ mùa năm qua và khai mở một vụ mùa năm tới. Đặc sắc lễ hội Mah Grợ của dân tộc Khơ Mú Người dân tộc Khơ Mú bắt tay làm nương, phát cây và dẫy cỏ tháng giêng, tháng 2 đến tháng 3, tháng 4 âm lịch là đốt nương gieo trồng hạt xuống đất. Họ làm lễ PALR HMAL PHLƯA - Lễ xin lửa với hồn bếp. Tháng 3, tháng 4 thời tiết thất thường, có năm hạn hán làm cây lúa khó mọc, các cụ già ở trong bản thường xui trẻ em và bọn con trai, con gái làm trò cầu mưa Bước sang tháng 8, tháng 9 âm lịch, cây lúa đã trổ bông. Bà con chủ nương trong vai "Mẹ lúa" lên nương cắt những bông lúa xanh làm cốm, bông lúa vàng đem về luộc chín, khơi khô mới giã, làm gạo luộc thóc non, cốm và gạo non (thóc luộc) giành để làm lễ MAH QUAI: (Mah làm ăn, Quai là khoai) ý nghĩa là dâng cơm, dâng lúa non cho tổ tiên, cho ma nhà, nhà nào năm nào cũng đều phải làm lễ Mah Quai, nhưng trong bản không tổ chức ăn cùng ngày, các gia đình còn tránh ngày kiêng lửa. Tiếp đó, trong bản những gia đình kinh tế khấm khá hơn sẽ thay nhau làm lễ hội Mah grợ và chỉ có làm lễ mah grợ với múa Velr guông. Một điệ múa trong lễ hội Mah Grợ của dân tộc Khơ Mú Mah grợ chính là một lễ hội vui của bản. Tên gọi tuy mộc mạc, cổ xưa, ít dân tộc nào còn lưu giữ được, nhưng nó lại đúng với bản chất của tộc người sống bằng nghề nương rẫy lâu đời. Trong nghi thức phần lễ sẽ có mâm cúng tổ tiên là 3 con gà. Lúc cắt tiết, cắt mỏ con thứ nhất, tiết ở mỏ gà bôi vào đầu gối của những người ở trong nhà và nói khấn: "Do bò trèo đèo núi làm nương, đầu gối yếu mềm, nay sửa lại cho mạnh, cho cứng". Cắt tiết con thứ 2, quệt tiết gà vào bồ thóc, rổ khoai và nói khấn: "Thóc năm nay tốt sang năm khoai thóc tốt hơn". Cắt tiết con gà thứ 3 đem xuống dưới gầm sàn bôi vào đầu của con trâu, con trâu được phủ một miếng vải khuýt, vải trắng trên lưng và 2 sừng con trâu buộc hoa rừng vào. Ông chủ nói khấn: "Trâu ơi, trâu phải khỏe, đẻ nhiều con, tinh phải cứng, hổ phải sợ, sang năm trâu giúp ta làm nên cửa nhà, giàu có...". Mẹ lúa khoe bông lúa lúa đẹp với các cụ bà và cài lên đầu các cụ bà một vài bông hoa rừng. Mẹ lúa nói: "Đã có cơm gạo, các cụ vui khỏe, đẹp như hoa rừng, năm tới các cụ lại đến vui...". Bữa cơm nội gia của chủ nhà đã ăn xong, mẹ lúa và những người trong gia đình sẽ đem rổ khoai, rổ bí đỏ đã đồ chín nhừ ra giữa nhà để bắt đầu cuộc bôi khoai, bôi bí chín vào áo của mọi người. Ai bốc được thứ gì thì ăn một miếng còn lại bôi vào áo ông bà chủ nhà rồi áo khách, ai được bôi nhiều người đó sẽ gặp được nhiều may mắn. Sau cuộc bôi bí là đến cuộc uống rượu cần chum to, lần lượt các cụ ông, đến lượt các cụ bà rồi đến những vị khách quý, uống rượu cần hết lượt rồi mới bước vào cuộc vui nhảy múa. Cuộc uống rượu cần của người Khơ Mú trong lễ hội Mah Grợ Chiêng, trống, brinh họa (trống đuổi khỉ) nổi lên. Điệu múa Vêlr Guông được bắt đầu, bộ trống chiêng brinh họa đứng tại một chỗ, gõ dục tốp múa, rộn ràng. Tốp múa nam nữ đang ở đâu đó lẫn trong đám đông bước ra. Nam thì đeo chiếc "khoong khăn" vừa là nhạc khí, vừa là đạo cụ múa. Điệu múa nhún mềm mại và duyên dáng rộn ràng, thoảng hoặc diễn viên múa "lượn lưng eo" làm rung lòng người. Các diễn viên càng say xưa, người xem đứng lô nhô, vòng ngoài đắm chìm trong tiết tấu múa, nhịp điệu múa. Người múa tự khoe mình là chính, mất đi đội hình gò bó và vuông tròn... hòa vào khối quần chúng tạo nên cảnh người múa và người xem là một khi diễn. Đây chính là nét độc đáo của lễ hội Mah grợ và điệu múa Velr Guông của người dân tộc Khơ Mú.

Dân tộc Khơ Mú là dân tộc thuộc nhóm dân tộc thiểu số tại Sơn La, đồng bào cư trú chủ yếu ở các huyện Yên Châu, huyện Mai Sơn, huyện Thuận Châu, huyện Mường La, huyện Quỳnh Nhai và huyện Sông Mã. Những người dân tộc Khơ Mú xưa rất nghèo, chủ yếu là làm nghề nông trồng lúa cạn với nhưng lại có một đời sống văn hóa hết sức độc đáo. Lễ hội Mah grợ cùng với điệu múa Vêlr guông chính là một sản phẩm văn hóa tinh thần, tâm linh có nguồn gốc, cổ truyền từ thời xa xưa. Lễ hội được tổ chức vào tháng 8 và tháng 9 âm lịch hàng năm có ý nghĩa tổng kết một vụ mùa năm qua và khai mở một vụ mùa năm tới.

Đặc sắc lễ hội Mah Grợ của dân tộc Khơ Mú

Người dân tộc Khơ Mú bắt tay làm nương, phát cây và dẫy cỏ tháng giêng, tháng 2 đến tháng 3, tháng 4 âm lịch là đốt nương gieo trồng hạt xuống đất. Họ làm lễ PALR HMAL PHLƯA - Lễ xin lửa với hồn bếp. Tháng 3, tháng 4 thời tiết thất thường, có năm hạn hán làm cây lúa khó mọc, các cụ già ở trong bản thường xui trẻ em và bọn con trai, con gái làm trò cầu mưa Bước sang tháng 8, tháng 9 âm lịch, cây lúa đã trổ bông. Bà con chủ nương trong vai "Mẹ lúa" lên nương cắt những bông lúa xanh làm cốm, bông lúa vàng đem về luộc chín, khơi khô mới giã, làm gạo luộc thóc non, cốm và gạo non (thóc luộc) giành để làm lễ MAH QUAI: (Mah làm ăn, Quai là khoai) ý nghĩa là dâng cơm, dâng lúa non cho tổ tiên, cho ma nhà, nhà nào năm nào cũng đều phải làm lễ Mah Quai, nhưng trong bản không tổ chức ăn cùng ngày, các gia đình còn tránh ngày kiêng lửa. Tiếp đó, trong bản những gia đình kinh tế khấm khá hơn sẽ thay nhau làm lễ hội Mah grợ và chỉ có làm lễ mah grợ với múa Velr guông. Một điệ múa trong lễ hội Mah Grợ của dân tộc Khơ Mú Mah grợ chính là một lễ hội vui của bản. Tên gọi tuy mộc mạc, cổ xưa, ít dân tộc nào còn lưu giữ được, nhưng nó lại đúng với bản chất của tộc người sống bằng nghề nương rẫy lâu đời. Trong nghi thức phần lễ sẽ có mâm cúng tổ tiên là 3 con gà. Lúc cắt tiết, cắt mỏ con thứ nhất, tiết ở mỏ gà bôi vào đầu gối của những người ở trong nhà và nói khấn: "Do bò trèo đèo núi làm nương, đầu gối yếu mềm, nay sửa lại cho mạnh, cho cứng". Cắt tiết con thứ 2, quệt tiết gà vào bồ thóc, rổ khoai và nói khấn: "Thóc năm nay tốt sang năm khoai thóc tốt hơn". Cắt tiết con gà thứ 3 đem xuống dưới gầm sàn bôi vào đầu của con trâu, con trâu được phủ một miếng vải khuýt, vải trắng trên lưng và 2 sừng con trâu buộc hoa rừng vào. Ông chủ nói khấn: "Trâu ơi, trâu phải khỏe, đẻ nhiều con, tinh phải cứng, hổ phải sợ, sang năm trâu giúp ta làm nên cửa nhà, giàu có...". Mẹ lúa khoe bông lúa lúa đẹp với các cụ bà và cài lên đầu các cụ bà một vài bông hoa rừng. Mẹ lúa nói: "Đã có cơm gạo, các cụ vui khỏe, đẹp như hoa rừng, năm tới các cụ lại đến vui...". Bữa cơm nội gia của chủ nhà đã ăn xong, mẹ lúa và những người trong gia đình sẽ đem rổ khoai, rổ bí đỏ đã đồ chín nhừ ra giữa nhà để bắt đầu cuộc bôi khoai, bôi bí chín vào áo của mọi người. Ai bốc được thứ gì thì ăn một miếng còn lại bôi vào áo ông bà chủ nhà rồi áo khách, ai được bôi nhiều người đó sẽ gặp được nhiều may mắn. Sau cuộc bôi bí là đến cuộc uống rượu cần chum to, lần lượt các cụ ông, đến lượt các cụ bà rồi đến những vị khách quý, uống rượu cần hết lượt rồi mới bước vào cuộc vui nhảy múa. Cuộc uống rượu cần của người Khơ Mú trong lễ hội Mah Grợ Chiêng, trống, brinh họa (trống đuổi khỉ) nổi lên. Điệu múa Vêlr Guông được bắt đầu, bộ trống chiêng brinh họa đứng tại một chỗ, gõ dục tốp múa, rộn ràng. Tốp múa nam nữ đang ở đâu đó lẫn trong đám đông bước ra. Nam thì đeo chiếc "khoong khăn" vừa là nhạc khí, vừa là đạo cụ múa. Điệu múa nhún mềm mại và duyên dáng rộn ràng, thoảng hoặc diễn viên múa "lượn lưng eo" làm rung lòng người. Các diễn viên càng say xưa, người xem đứng lô nhô, vòng ngoài đắm chìm trong tiết tấu múa, nhịp điệu múa. Người múa tự khoe mình là chính, mất đi đội hình gò bó và vuông tròn... hòa vào khối quần chúng tạo nên cảnh người múa và người xem là một khi diễn. Đây chính là nét độc đáo của lễ hội Mah grợ và điệu múa Velr Guông của người dân tộc Khơ Mú.

Related Figures

Lễ hội cầu mưa của người Thái

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 13/3- 15/3 Âm lịch Những người dân tộc Thái có mặt từ rất sớm ở Thị xã Sơn La. Người dân tộc Thái canh tác nông nghiệp chủ yếu dựa vào thiên nhiên, với quan niệm vạn vật hữu linh và tin rằng tất cả mọi hoạt động trong đời sống hàng ngày đều do một lực lượng siêu nhiên chi phối đó chính là các vị thần linh. Một trong những vị thần đó là vị thần mưa. Lề hội cầu mưa của người dân tộc Thái ở thị xã Sơn La được tổ chức trong phạm vị một bản vào khoảng từ ngày 13 đến ngày 15 tháng 3 âm lịch. Lễ hội cầu mưa của người Thái ở Yên Bái Cách thức để tổ chức lễ hội cầu mưa rất đơn giản như sau: Tối ngày 13 tháng 3 âm lịch, trai gái ở trong bản tập hợp nhau lại sau đó chọn ra một thanh niên tháo vát, khoẻ mạnh và hiền lành điều khiển. Đạo cụ được dùng trong lễ hội là một chiếc bung lớn (hoặc một chiếc sọt) những thanh niên còn lại thì cầm trên tay một chiếc mẹt và một thanh tre (hoặc là một thanh gỗ) chiếc sọt được một nam, một nữ khiêng đi trước đám đông đoàn người vừa đi, vừa gõ mẹt. Người dân tộc Thái sử dụng mẹt và thanh gỗ trong lễ hội như một biểu tượng của âm dương, tiếng gõ mẹt kêu chính là tượng trưng cho tiếng sấm trời sắp mưa. Những thành viên trong gia đình thì ở tại nhà và chờ đoàn người đi qua nhà mình. Đoàn người đi đến từng nhà ở trong bản, đến mỗi nhà thì dừng lại ở chân cầu thang và đồng thanh hát gọi mưa, nội dung của bài hát gọi mưa như sau: " Cầu trời hãy rủ lòng thương dân bản để có nước trồng ngô lúa, cho con người và súc vật có nước ăn, nước uống, cây cối dưới này đang chết khô, trời hãy nổi sấm lên, cho mưa mau xuống... " Khi bài hát gọi mưa chấm dứt thì bà chủ nhà bước ra sân phơi cầm ống bương đựng nước té xuống đoàn người và hát một bài hát thay trời cảm ơn lời cầu xin: "Trời đã nghe thấu lời cầu xin của các người, trời sẽ đổ mưa xuống để vạ, vật sinh sôi nảy nở, con người, súc vật có nước uống, cây cối được xanh tươi, trời cũng phù hộ cho bản mường lo đủ.... " Tiếp sau đó chủ nhà vãi lên đầu mọi người ở dưới chân cầu thang những nắm hạt bông với ý nghĩa tượng trưng là hạt mưa rơi. Đoàn cầu mưa hứng lấy những hạt bông một cách hào hứng. Chủ nhà cầm vài nắm xôi hoặc vài năm hạt bông, tro bếp đi xuống cầu thang bỏ vào bung của người cầu mưa. Cứ như vậy, đoàn cầu mưa sẽ đi hết các hộ gia đình này đến các hộ gia đình khác. Sau khi đã đi đến các nhà dân ở trong bản, đoàn cầu mưa sẽ đi đến một con suối của bản để tắm, họ té nước vào nhau và đồng thanh hô thật to " Phôn, phôn…” (nghĩa là mưa, mưa). Cảnh này càng ầm ĩ càng sôi động càng náo nhiệt bao nhiêu thì họ cho rằng trời sẽ mưa to nhiều bấy nhiêu. Tiếp theo họ lấy những gói hạt bông, tro bếp ở trong bung ra thả xuống dòng suối, xôi thì người ta đem về ủ thành rượu nếp, rượu cần. Quang cảnh lễ hội cầu mưa Sau ba ngày, ba đêm diễn ra các lễ nghi như vậy, lễ hội kết thúc trong niềm hân hoan của mọi người dân ở trong bản. Vào đêm ngày 30 tháng 3 âm lịch, phần hội của lễ cầu mưa mới được tổ chức. Phần ẩm thực của đêm hội là rượu cần được làm từ các nhà trong bản biếu đoàn người đi cầu mưa. Ngoài rượu cần, những người dân trong bản còn đem góp những thứ mà họ kiếm được trong rừng, dưới suối như cá, thú, rau và măng... để tổ chức bữa ăn chung cho cả bản và chia cho những gia đình khó khăn ở trong bản. Ngoài phần ẩm thực, người dân nơi đây còn tổ chức ca hát nhảy múa, đây là dịp tốt để nam, nữ trong bản trổ tài thi hát đối đáp và hát giao duyên. Các lễ vật trong lễ cầu mưa Lễ hội cầu mưa của người dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La là nét sinh hoạt văn hoá dân gian có tính cộng đồng lành mạnh rất cần được gìn giữ và phát huy.

Related Figures

Lễ hội Mợi dân tộc Mường huyện Phù Yên

Thông tin thời kỳ

Lễ hội Mơi là lễ hội được tổ chức vào dịp đầu xuân, khi tất cả mọi việc đồng áng đã kết thúc (vào khoảng mồng 5 tết). Ý nghĩa là cầu cho mọi người khỏe mạnh, bản mường no ấm, mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, đoàn kết vượt qua khó khăn, giúp nhau xây dựng một cuộc sống ngày càng tốt hơn. Lễ hội Mợi chính là dịp để người dân được giao lưu, học hỏi, trao đổi kinh nghiệm sản xuất, làm giàu chính đáng, nuôi dạy con cái trưởng thành và động viên nhau xây dựng bản mường ngày một tốt đẹp hơn. Những người con nuôi cám ơn thầy Mợi đã chữa bệnh cứu người mang lại hạnh phúc cho mọi nhà bằng những cây thuốc nam gia truyền. Một bản của người Mường Lễ hội Mợi gồm có 2 phần: Phần lễ và phần hội được tổ chức đan xen với nhau. Phần lễ là phần do thầy Mợi và các con hầu đảm nhiệm. Phần hội có sự hướng dẫn của thầy Mợi và sự tham gia của các con nuôi và của bà con dân bản. Lễ hội Mợi được diễn ra trong thời gian một ngày. Ngay từ sáng sớm, thầy Mợi và các con hầu đã chuẩn bị các mâm lễ cúng. Vào lễ, ông thầy Mợi dùng lời hát đang, hát ví truyền thống của người Mường để mời tổ tiên Mợi từ trên trời xuống trần gian, sau đó mời tổ tiên bên nội, tổ tiên bên ngoại, thần thổ địa, thần sông và thần núi cùng với tổ mợi về hưởng lễ, hương hoa, phù hộ cho con cháu, bản mường khỏe mạnh và làm ăn phát đạt. Sau khi cúng xong Tổ Mợi, Những con nuôi mang những mâm lễ đến dâng lên để tạ ơn thầy Mợi, thầy Mợi tiếp tục làm lễ cầu cho các con nuôi của mình khỏe mạnh, gia đình hạnh phúc và ăn nên làm ra. Cúng mời tổ mợi và cầu phúc cho các con nuôi xong, thầy Mợi và các con hầu sẽ chuyển sang múa mợi. Những điệu múa được thể hiện trong lễ hội Mợi bao gồm: Múa xòe, múa trầu, múa khăn, múa trồng bông dệt vải, múa kiếm …Những điệu múa này vừa thể hiện tập quán truyền thống, vừa thể hiện các lễ nghi nông nghiệp. Các con hầu dỗ các ống tre xuống và gõ vào nhau, thổi khèn bè tạo một nền nhạc rộn ràng cho các điệu múa. Vừa múa, bà Mợi vừa đi vòng quanh các con nuôi và những người bà con dân bản, bà dùng khăn quàng vào cổ của mọi người để mời bà con dân bản vào cùng múa với thầy mợi và các con hầu. Điệu múa Mợi của người dân tộc Mường vừa uyển chuyển, nhịp nhàng, vừa mạnh mẽ, vừa say sưa. Càng về trưa thì số lượng người tham gia múa càng đông, tiếng nhạc càng rộn ràng. Sau khoảng thời gian nghỉ ăn trưa, đến buổi chiều các điệu múa lại được tiếp tục. Bên cạnh điệu múa còn là các trò chơi được diễn ra như: bói hoa, kéo co, ném còn, đánh chó, đánh quay, đánh chuyền, nhảy lò cò, đánh quay, chơi bi, chơi ô ăn quan, đánh yến, nhảy dây…Các trò chơi dân gian diễn ra rất hào hứng, vui vẻ và thu hút được mọi lứa tuổi cùng tham dự. Đặc săc lễ hội Mợi dân tộc Mường huyện Phù Yên Sau một ngày, lễ hội được kết thúc bằng một điệu múa trầu tiễn tổ tiên thầy Mợi về trời. Điệu múa phải thể hiện thật khéo, thật dẻo để mong đến ngày nay sang năm còn mời tổ mợi xuống trần gian dạy con cháu tập múa, làm nương và làm ruộng. Sau đó, thầy Mợi tổ chức một bữa cơm đoàn kết mời các con hầu, các con nuôi và những người bà con dân bản. Những trò chơ dân gian trong lễ hội Mợi dân tộc Mường Lễ hội Mợi của người dân tộc Mường tuy có qui mô nhỏ những lại mang tính nhân văn và cộng đồng rất lớn. Thông qua lễ hội đáp ứng được nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần, văn hóa tâm linh lành mạnh của nhân dân, đồng thời giúp cho nhân dân bảo tồn những giá trị văn hóa tốt đẹp, loại bỏ những phong tục tập quán lạc hậu không còn phù hợp. Sưu tầm, nghiên cứu và giới thiệu lễ hội Mợi của dân tộc Mường, huyện Phù Yên nhằm bảo tồn, phát huy và bổ sung vào kho tàng di sản văn hóa Việt Nam. Theo : Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Sơn La

Related Figures

Lễ hội dâng hoa măng của dân tộc La Ha

Thông tin thời kỳ

La Ha là một dân tộc ít người, dân tộc này định cư nhiều ở Sơn La, Lai Châu..Lễ hội dâng hoa măng (Pang A Nụn Ban) của người dân tộc La Ha có từ rất lâu đời, nhằm cảm tạ những người thầy lang đã chữa khỏi bệnh. Đây cũng là một sinh hoạt văn hóa cộng đồng lớn nhất hàng năm của người dân tộc La Ha bởi số lượng người tham gia lễ hội lên tới hàng trăm người với quy mô không phải một xã, một bản mà có thể tới các xã khác, sang cả các huyện khác. Họ đến đây để gặp nhau, để giao lưu văn hóa - văn nghệ, để trao đổi về tình hình bệnh tật và kinh nghiệm chữa chạy. Lễ hội này được tổ chức vào trước ngày rằm hàng tháng trong mùa xuân. Lễ hội dâng hoa măng của dân tộc La Ha Mùa xuân chính là mùa măng đắng khi cây tre lên măng. Ở vùng Tây Bắc thường ít mưa, nên khi măng đội đất lên thì ăn sẽ rất đắng. Sau khi gặp những cơn mưa đầu mùa thì loại măng này chuyển dần sang ngọt. Măng đắng là món ăn đặc sản của người dân tộc La Ha và là loại thuốc gia truyền của các thầy lang. Trùng với mùa măng đắng mọc còn có hoa Mạ Rệ nở trong rừng. Đây là họ một loại cây cổ thụ, to cao, lá to dài và hoa thành từng chùm màu vàng đỏ. Loại hoa này ăn được và có mùi thơm như mùi nước hoa. Đây cũng là một vị thuốc trong bài thuốc của các thầy lang nên khi tổ chức lễ hội dâng hoa măng thì cần phải có măng đắng và hoa Mạ Rệ. Màn múa phồn thực độc đáo trong lễ hội dâng hoa măng Lễ hội gồm có hai phần: Phần lễ và phần hội. Phần lễ là phần cảm tạ đất trời tổ tiên, sông núi đã phù hộ cho dân tộc La Ha được mạnh khoẻ, ít ốm đau và mách bảo cho dân tộc La Ha có các loại thuốc lá để chữa bệnh. Nghi thức cúng trong lễ hội Phần hội là phần sôi động và vui vẻ, khẳng định được tính sáng tạo. Các điệu múa xuất phát từ lao động, những công việc hàng ngày rất gần gũi với những con người dân tộc La Ha, đồng thời khẳng định dân tộc La Ha luôn cầu cho cây cối tốt tươi, mưa thuận gió hoà, bản làng ít bệnh tật, dòng tộc phát triển hạnh phúc. Thiếu nữ La Ha trong điệu múa khăn truyền thống Lễ hội Dâng hoa măng là một di sản văn hoá phi vật thể cần được nghiên cứu, lưu giữ và giới thiệu trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Related Figures

Lễ hội lộc hoa của người Xinh Mun

Thông tin thời kỳ

Trên dải đất biên giới Việt - Lào ở tỉnh Sơn La, ngoài những dân tộc Thái, Kinh và Khơ Mú sinh sống, còn có khoảng ba bốn vạn bà con dân tộc Xinh Mun định cư lâu đời. Hàng năm, cứ mỗi độ xuân sang, vào sau dịp tết Nguyên Đán, khi hoa đào đã vãn, hoa ban đã nở trắng sườn non và măng đắng đã mọc ngoài rừng, cũng là dịp bà con dân tộc Xinh Mun, từng nhà từng nhà tưng bừng tổ chức lễ hội Ksai Sa Típ, nghĩa là Lễ hội Lộc hoa, cầu lộc, cầu mùa, cầu phúc, cho con người mạnh khoẻ và mùa màng tươi tốt. Lễ hội lộc hoa của người Xinh Mun Lễ hội lần lượt tổ chức từng nhà một, mỗi bản có bao nhiêu nhà thì có bấy nhiêu ngày hội, lễ hội tuy kéo dài, nhưng không bao giờ diễn ra khi hoa ban đã tàn, măng đắng đã mọc cao, vì khi ấy mùa làm nương (đầu tháng 4 dương lịch) đã bắt đầu, để không ảnh hưởng đến công việc sản xuất. Tuy lễ hội được tổ chức trong từng nhà, nhưng đây lại là dịp hội tụ dân bản vì ai cũng tự giác tham gia và ai làm trái với lệ thì dễ bị chê cười, ghét bỏ, thậm chí có thể còn bị loại ra khỏi cộng đồng. Gọi là lễ hội nhưng không tốn kém vì được tổ chức rất đơn giản. Mâm lễ hội, ngoài 2 con gà luộc, một "ếp" xôi gạo mới, 1 đĩa trầu cau và ba chum rượu cần, là 2 bát canh nấu từ hoa ban và măng đắng - một món cúng thần linh và tổ tiên có tính bắt buộc. Độc đáo lễ hội lộc hoa của người Xinh Mun Một cây nêu cao 4 đến 5m dựng ở giữa nhà, được trang trí bằng những lá xanh và những cành hoa ban trắng ngần buộc gài kín cây nêu, ngoài ra bà con còn gài thêm những bông lúa nếp vàng được giữ nguyên sau khi gặt vụ mùa năm trước, xung quanh cây nêu có 3 vò rượu cần, đặc biệt là có từ 3 đến 5 "bàn sang" - 1 loại nhạc cụ được "chế tạo" từ các chum và vò con, bên trong được làm bằng một mảnh đồng mỏng, hình tròn đục thủng một lỗ ở cạnh mép nắp, để xỏ dây vào khi gõ một tay cầm dây nâng lên, hạ xuống trên miệng chum, tay bên kia thì cầm 1 que tre gõ nhịp nhàng lên nắp chum, tạo nên một âm hưởng mang đậm bản sắc dân tộc quện vào tiếng trống, tiếng chiêng lúc trầm, lúc bổng, lúc dịu dàng, khi bùng lên sôi nổi thúc giục tất cả mọi người vào hội xoè quanh cây nêu. Lễ hội sẽ được bắt đầu khi chủ nhà (chủ lễ) ngồi nghiêm chỉnh ở bên cạnh mâm lễ khấn: Hỡi người trông coi ở tầng dưới hãy lên để trông coi cho ta hôm nay làm Lễ Ksai Sai Típ, thần linh hãy bảo vệ, hãy ăn hoa thay cơm, uống rượu thay măng, ăn hương thay hương thơm, ăn hương nếp thay cơm, ăn rồi hãy bảo vệ cho cuộc vui lành mạnh, cho hết ốm đau, cho vui trọn vẹn. Người lớn bảo nhau, trẻ em nghe lời người lớn, được vậy thì ước gì cũng có, sống lâu muôn tuổi, hỡi thần linh hãy bảo vệ hãy ngồi mâm đây ăn thịt, ăn hoa, ăn hương thơm, hãy phù hộ cho con cháu khoẻ như con gấu trong rừng, chạy nhanh như con hoẵng ngoài núi. Rời mâm cỗ cúng ở góc nhà sàn, chủ lễ bước đến cạnh cây nêu ở giữa nhà, vít cần rượu nói lời mời tổ tiên uống trước bằng những lời trân trọng và thiết tha: "Hỡi tổ tiên, hôm nay ngày lành tháng tốt, ngày sản xuất đã được nhìn thấy kết quả, con cháu làm lễ hội Ksai Sa típ, tổ tiên hãy đến bảo vệ cho con cháu ăn uống vui vẻ, vui chơi thoả mái, nhưng xin hãy đừng để cho ai uống say làm náo loạn bản mường, cãi cọ nhau làm xấu hổ mọi người, năm nay vui, năm mới vui tiếp, như thế mới vui bản yên mường, ai cũng sống lâu muôn tuổi, gìn giữ cuộc sống, chống lại thú rừng, người xấu quấy phá". Chủ lễ lại tiếp tục mời thần linh uống rượu: "Hỡi thần linh, bảo vệ ta, hãy bảo vệ ta đến cùng, xin mời thần linh uống rượu cùng ta". Sau khi mời tổ tiên và thần linh uống rượu xong, chủ lễ trân trọng mời 3 "già bản" có uy tín trong dòng họ, trong bản mường, sau đó mời đến các con các cháu, và toàn thể những người dân bản đến dự lễ hội uống rượu. Cùng lúc tiệc rượu được bắt đầu là tiếng chiêng, tiếng trống, tiếng nhạc từ nhạc cụ "bàn sang" nổi lên rộn rã, mọi người nắm tay bắt đầu múa xoè xung quanh cây nêu ở giữa nhà. Khác với xoè Thái êm dịu, nhẹ nhàng, xoè quanh cây nêu lễ hội Lộc hoa rộn ràng, mạnh mẽ và có phần quyết liệt hơn, ồn ã hơn nhiều, xoè múa say sưa, lúc cầm tay nhau, lúc xoè khan, lúc dùng khăn nối vào nhau, tạo thành điệu xoè kéo co (xoè Thái không đâu có). Xoè khoảng 1h, khi tiếng trống tiếng nhạc trầm dần, họ lại mời nhau uống rượu cần, rồi lại tiếp tục xoè, hết đợt này đến đợt khác, kéo dài đến lúc phương đông hửng sáng thì mới kết thúc, mọi người hoan hỉ xuồng cầu thang để về nhà, để đến buổi tối hôm sau lại đến dự Lễ hội ở nhà người trong họ hoặc cùng mường cho đến khi hoa ban đã tàn, măng đắng mọc cao. Hoàn toàn khác với lễ hội của các dân tộc anh em, lễ hội Ksai sa típ của người Xinh Mun Tây bắc tuy kéo dài nhiều ngày nhưng lại không ăn uống linh đình, chỉ múa không có hát, vừa giản dị lại vừa vui, thường được tổ chức từng gia đình, vào một buổi tối ấm cúng nên rất vui, thể hiện được bản sắc văn hoá của một dân tộc sống ở nơi biên giới Việt - Lào xa xôi.

Trên dải đất biên giới Việt - Lào ở tỉnh Sơn La, ngoài những dân tộc Thái, Kinh và Khơ Mú sinh sống, còn có khoảng ba bốn vạn bà con dân tộc Xinh Mun định cư lâu đời. Hàng năm, cứ mỗi độ xuân sang, vào sau dịp tết Nguyên Đán, khi hoa đào đã vãn, hoa ban đã nở trắng sườn non và măng đắng đã mọc ngoài rừng, cũng là dịp bà con dân tộc Xinh Mun, từng nhà từng nhà tưng bừng tổ chức lễ hội Ksai Sa Típ, nghĩa là Lễ hội Lộc hoa, cầu lộc, cầu mùa, cầu phúc, cho con người mạnh khoẻ và mùa màng tươi tốt.

Lễ hội lộc hoa của người Xinh Mun

Lễ hội lần lượt tổ chức từng nhà một, mỗi bản có bao nhiêu nhà thì có bấy nhiêu ngày hội, lễ hội tuy kéo dài, nhưng không bao giờ diễn ra khi hoa ban đã tàn, măng đắng đã mọc cao, vì khi ấy mùa làm nương (đầu tháng 4 dương lịch) đã bắt đầu, để không ảnh hưởng đến công việc sản xuất. Tuy lễ hội được tổ chức trong từng nhà, nhưng đây lại là dịp hội tụ dân bản vì ai cũng tự giác tham gia và ai làm trái với lệ thì dễ bị chê cười, ghét bỏ, thậm chí có thể còn bị loại ra khỏi cộng đồng. Gọi là lễ hội nhưng không tốn kém vì được tổ chức rất đơn giản. Mâm lễ hội, ngoài 2 con gà luộc, một "ếp" xôi gạo mới, 1 đĩa trầu cau và ba chum rượu cần, là 2 bát canh nấu từ hoa ban và măng đắng - một món cúng thần linh và tổ tiên có tính bắt buộc. Độc đáo lễ hội lộc hoa của người Xinh Mun Một cây nêu cao 4 đến 5m dựng ở giữa nhà, được trang trí bằng những lá xanh và những cành hoa ban trắng ngần buộc gài kín cây nêu, ngoài ra bà con còn gài thêm những bông lúa nếp vàng được giữ nguyên sau khi gặt vụ mùa năm trước, xung quanh cây nêu có 3 vò rượu cần, đặc biệt là có từ 3 đến 5 "bàn sang" - 1 loại nhạc cụ được "chế tạo" từ các chum và vò con, bên trong được làm bằng một mảnh đồng mỏng, hình tròn đục thủng một lỗ ở cạnh mép nắp, để xỏ dây vào khi gõ một tay cầm dây nâng lên, hạ xuống trên miệng chum, tay bên kia thì cầm 1 que tre gõ nhịp nhàng lên nắp chum, tạo nên một âm hưởng mang đậm bản sắc dân tộc quện vào tiếng trống, tiếng chiêng lúc trầm, lúc bổng, lúc dịu dàng, khi bùng lên sôi nổi thúc giục tất cả mọi người vào hội xoè quanh cây nêu. Lễ hội sẽ được bắt đầu khi chủ nhà (chủ lễ) ngồi nghiêm chỉnh ở bên cạnh mâm lễ khấn: Hỡi người trông coi ở tầng dưới hãy lên để trông coi cho ta hôm nay làm Lễ Ksai Sai Típ, thần linh hãy bảo vệ, hãy ăn hoa thay cơm, uống rượu thay măng, ăn hương thay hương thơm, ăn hương nếp thay cơm, ăn rồi hãy bảo vệ cho cuộc vui lành mạnh, cho hết ốm đau, cho vui trọn vẹn. Người lớn bảo nhau, trẻ em nghe lời người lớn, được vậy thì ước gì cũng có, sống lâu muôn tuổi, hỡi thần linh hãy bảo vệ hãy ngồi mâm đây ăn thịt, ăn hoa, ăn hương thơm, hãy phù hộ cho con cháu khoẻ như con gấu trong rừng, chạy nhanh như con hoẵng ngoài núi. Rời mâm cỗ cúng ở góc nhà sàn, chủ lễ bước đến cạnh cây nêu ở giữa nhà, vít cần rượu nói lời mời tổ tiên uống trước bằng những lời trân trọng và thiết tha: "Hỡi tổ tiên, hôm nay ngày lành tháng tốt, ngày sản xuất đã được nhìn thấy kết quả, con cháu làm lễ hội Ksai Sa típ, tổ tiên hãy đến bảo vệ cho con cháu ăn uống vui vẻ, vui chơi thoả mái, nhưng xin hãy đừng để cho ai uống say làm náo loạn bản mường, cãi cọ nhau làm xấu hổ mọi người, năm nay vui, năm mới vui tiếp, như thế mới vui bản yên mường, ai cũng sống lâu muôn tuổi, gìn giữ cuộc sống, chống lại thú rừng, người xấu quấy phá". Chủ lễ lại tiếp tục mời thần linh uống rượu: "Hỡi thần linh, bảo vệ ta, hãy bảo vệ ta đến cùng, xin mời thần linh uống rượu cùng ta". Sau khi mời tổ tiên và thần linh uống rượu xong, chủ lễ trân trọng mời 3 "già bản" có uy tín trong dòng họ, trong bản mường, sau đó mời đến các con các cháu, và toàn thể những người dân bản đến dự lễ hội uống rượu. Cùng lúc tiệc rượu được bắt đầu là tiếng chiêng, tiếng trống, tiếng nhạc từ nhạc cụ "bàn sang" nổi lên rộn rã, mọi người nắm tay bắt đầu múa xoè xung quanh cây nêu ở giữa nhà. Khác với xoè Thái êm dịu, nhẹ nhàng, xoè quanh cây nêu lễ hội Lộc hoa rộn ràng, mạnh mẽ và có phần quyết liệt hơn, ồn ã hơn nhiều, xoè múa say sưa, lúc cầm tay nhau, lúc xoè khan, lúc dùng khăn nối vào nhau, tạo thành điệu xoè kéo co (xoè Thái không đâu có). Xoè khoảng 1h, khi tiếng trống tiếng nhạc trầm dần, họ lại mời nhau uống rượu cần, rồi lại tiếp tục xoè, hết đợt này đến đợt khác, kéo dài đến lúc phương đông hửng sáng thì mới kết thúc, mọi người hoan hỉ xuồng cầu thang để về nhà, để đến buổi tối hôm sau lại đến dự Lễ hội ở nhà người trong họ hoặc cùng mường cho đến khi hoa ban đã tàn, măng đắng mọc cao. Hoàn toàn khác với lễ hội của các dân tộc anh em, lễ hội Ksai sa típ của người Xinh Mun Tây bắc tuy kéo dài nhiều ngày nhưng lại không ăn uống linh đình, chỉ múa không có hát, vừa giản dị lại vừa vui, thường được tổ chức từng gia đình, vào một buổi tối ấm cúng nên rất vui, thể hiện được bản sắc văn hoá của một dân tộc sống ở nơi biên giới Việt - Lào xa xôi.

Related Figures

Lễ hội cầu an

Thông tin thời kỳ

(lehoi.info)- Lễ hội cầu an thường được tổ chức hàng năm vào cuối tháng giêng, đầu tháng 2 âm lịch (vào dịp tết Nguyên Đán), tại Thuận Châu, Mộc Châu, Sơn La gắn với tục giết trâu hiến sinh cầu và tạ thần linh. Thuận Châu nơi diễn ra lễ hội cầu an Lễ hội cầu an cho bản mường (xên bản, xên mường) của người dân tộc Thái, đặc biệt là người Thái ở Mai Châu, Thuận Châu, Mộc Châu và người Mường... là một sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng rất quan trọng đối với cộng đồng người dân ở vùng Tây Bắc. Lễ hội có liên quan đến đời sống vật chất, tinh thần và tâm linh của cả bản mường, đến mùa màng, đến sức khỏe và đến sự làm ăn của cộng đồng năm ấy, nên được tổ chức rất trọng thể, vui vẻ và thu hút sự tham gia của đồng bào ở địa vực lớn (bản, mường). Lễ hội nhận được sự tham gia đóng góp của các bản, các mường là bởi, trước hết nó gắn với nghi lễ hiến sinh thờ thần nước, thờ nguồn nước - một vị thần gắn bó chặt chẽ với đời sống tâm linh của cộng đồng. Thứ nữa, theo quan niệm lâu đời của những người dân bản mường, nếu không tổ chức lễ cúng trong toàn bản, toàn mường, không hiến lễ vật (trâu, cặp trâu) cho tổ tiên và cho các vị thần linh thì cuộc sống vật chất và tâm linh của những con người ở trong cộng đồng sẽ gặp những trắc trở, không thuận lợi, thần linh không phù hộ cho được nhân khang, vật thịnh và cộng đồng bình an. Chính vì thế mà để được bình yên, cộng đồng người Thái, người Mường... ở vùng Tây Bắc xa xôi này đã sử dụng một thế ứng xử rất quen thuộc của các cư dân Việt và cư dân các tộc ít người trên đất Việt, là hiến tế lễ vật (trâu, bò, gà, heo...) cho thần linh, mà ở đây là thủy thần, thần nước và thần nguồn nước... dưới dạng con thuồng luồng, con giải và con giao long... Thường thì người ta sẽ tổ chức lễ cầu an cho mường trước, sau đó lần lượt làm lễ hội để cầu an cho bản hoặc liên bản. Chính vì thế, ngày nay, qui mô lễ hội (to hay nhỏ, kéo dài hay thu gọn... ) một phần lớn là tùy thuộc vào thời tiết liên quan đến sự được mất của mùa màng năm tới, nhưng còn phụ thuộc vào sự được mất, nhiều ít của mùa màng năm vừa rồi, sau khi thu hoạch. Lễ hội này thường được tiến hành ở đầu nguồn nước thuộc một bản đã được chọn (thường là bản Mòn). Đây là một nguồn nước thiêng, gần rừng thiêng, là nơi cư trú của thần thuồng luồng đầy uy lực. Ở người dân tộc Thái Mai Châu, thì lễ hội lại được tổ chức ở một bãi rộng gần đình như các lễ hội ở châu thổ, ở đồng bằng. Có nơi, thì người ta lại tổ chức lễ ở các miếu thờ thổ công, thổ địa của bản, của gia đình, ở vườn và ở đầu ruộng. Thường thì ngay từ dịp tết Nguyên Đán, mọi thứ dùng cho lễ hội đã được chuẩn bị xong. Lễ hội thường kéo dài trong vòng 3 ngày (cũng có nơi 2 ngày 1 đêm và có nơi 1 ngày 1 đêm). Nghi lễ cúng viếng về cơ bản là hiến sinh trâu (có nơi là một cặp trâu đực to, trắng - đen, nơi thì 1 con, có nhiều nơi cúng cả gà, lợn). Ở Mộc Châu, trong lễ xên bản, xên mường, người ta hiến tế một cặp trâu đen - trắng cỡ từ 10 tuổi trở lên. Hai trâu, nhưng con trâu trắng mới thực sự mang năng lượng thiêng để thành lễ vật tế thần (ở đây là thủy quái thuồng luồng, là con ma to nhất dưới nước mà bà con thường gọi là phi ngược). Có lẽ nghi thức thờ, hiến sinh hai trâu là nghi thức mới hơn nghi thức hiến sinh một trâu mộng rất phổ biến. Bởi theo bà con cho biết, thì trước kia, dân ở một mường khác phải đem trâu trắng và các đồ cúng lên cúng ở tại bản Mòn này. Từ đó đã nảy sinh lễ cúng liên mường (xên liên mường) mà đồ cúng và trâu hiến sinh đã tăng thêm về số lượng. Suy tưởng này, thực ra mới chỉ là một giả thiết. Người chịu trách nhiệm chính ở trong tổ chức lễ hội cầu an bản mường là a nha, nhưng người trực tiếp điều hành buổi lễ thì lại chính là ông thầy cúng (mo mường). Dân chúng trong mường, ngoài bản, bất kể gái trai già trẻ đều có nghĩa vụ tham gia, đóng góp tùy sức mình và được quyền tham dự vào lễ hội của mường. Lễ hội cầu an Nghi lễ giết trâu ở đây vô cùng đơn giản, không quan trọng và hệ thống như nghi lễ đâm trâu, ăn trâu ở Tây Nguyên. Trước ngày hội chính thức, tức là khoảng 2 đến 3 giờ chiều của ngày hôm trước, người ta đã làm lễ giết trâu. Trước khi thịt trâu, ông mo mường và ông mò phăn (tức ông thầy chém, được người dân mường chọn ra) làm lễ vái thần linh, vái tổ tiên rồi cầm dao nhọn làm động tác chém dữ (mang tính nghi lễ) vào cổ của các con trâu dùng để tế lễ, miệng thì thầm những câu như thần chú (thực ra, nhiều người cho rằng các ông chỉ nói lời kính báo với thần linh, với tổ tiên: trâu tế thần đã sẵn, dân bản, dân mường đã thịt trâu dâng các vị rồi đây nhé, xin các vị về mà nhận lấy). Sau đó, các ông sẽ lui ra, dành chỗ cho những thanh niên khỏe mạnh vào chém trâu và thịt trâu... Khi bắt đầu ngày hội, người ta làm rất nhiều mâm cỗ cúng (mỗi mâm cỗ là tượng trưng cho một bản lớn, xưa, có tạo bản đứng đầu, các bản nhỏ sẽ không được tượng trưng bằng mâm cỗ) đặt cạnh nguồn nước thiêng của mường. Đặc biệt, mâm cỗ của ông a nha, đặt ở giữa, dùng để cúng tổ tiên (là mâm cúng chính thức) phải có đầy đủ các bộ phận của con trâu hiến tế (đầu, đùi, thân, móng và đuôị..) cùng với tất cả các bộ phận của một con lợn. Những mâm còn lại của các bản, ngoài thịt trâu và cơm rượu... còn phải có vịt gà, đặt ở 2 bên mâm cúng chính, dành để cúng những vị thần khác. Khi buổi lễ bắt đầu, mo mường sẽ quì trước các mâm cỗ, phía sau là a nha, tạo bản và dân mường quì lễ. Trong không khí trang nghiêm và linh thiêng, ông mo trang trọng, xuất thần đọc bài cúng đã thông thuộc, mời tổ tiên (ông cha bà cố nội ngoại tiếng Thái nghĩa là Pao pu pang cải), mời thần đất (Chau đỉn), mời chủ nguồn nước (Chau nặm bo), mời thổ công thổ địa... về nhận lễ vật, dùng cỗ và vui vẻ với cộng đồng dân cư bản mường; đồng thời cầu mong tổ tiên và thần linh ban phúc, phù trợ cho bản mường bình yên, hạnh phúc, làm ăn suôn sẻ, con người khỏe mạnh, ngô lúa sinh sôi, gia súc gia cầm đàn đàn, lớp lớp. Khấn xong, mo mường và các vị chức sắc cùng với dân bản mường vái lạy tổ tiên và vái lạy các vị thần. Trong lúc đó, mo mường ném 2 quả trứng (một trắng, một đỏ) và 1 nắm cơm nhỏ xuống nguồn nước. Cuộc lễ kết thúc, mọi người bắt đầu vào cuộc ăn uống cộng cảm và vui chơi thể thao, văn nghệ... Cuộc ăn uống cộng cảm diễn ra hết sức vui vẻ nhưng cũng đúng lễ nghi. Các ông mo mường, a nha và tạo bản... chỉ ăn làm phép ở mâm cỗ chính, rồi đi từng mâm; ở mỗi mâm các ông ăn 1 miếng thịt, uống 1 hớp rượu. Kế đó, cả bản mường ăn uống vui vẻ cho bằng hết các mâm, không được bỏ thừa hay đem về. Một nghi thức tại lễ hội cầu an Để chuẩn bị cho việc diễn ra những trò bách hý ở trong hội lễ, ngay từ sáng sớm tinh mơ của ngày đầu tiên, bên cạnh vị trí cúng lễ (mặt bằng, có thể là một bàn đá cạnh nguồn nước), người dân bản đã sửa sang và dọn dẹp một mặt bằng rộng, cách nơi hành lễ khoảng trên dưới 100m. Mọi hoạt động hội hè, trò chơi, văn nghệ, thể thao... đều được diễn ra tại nơi đây. Trời về chiều, trong tiếng trống, tiếng chiêng dìu dặt lúc khoan lúc nhặt, dân làng tổ chức xòe vòng, xòe đôi và xòe đơn thật hào hứng. Bên mâm rượu tập thể, những nam thanh nữ tú hát giỏi múa hay, biết nhiều và nhanh nhẹn trong ứng đối vừa ăn uống, vừa chọc ghẹo, vừa hát đối đáp giao duyên. Họ hát giới thiệu, khen ngợi nhau, bày tỏ chí hướng và tỏ lòng với nhau... trong men rượu, men tình... Bên cạnh đó, dăm bảy đôi nam nữ (thường là những đôi đã ngầm kết nhau, tổ chức múa sạp, thi bắn nỏ và bắn súng hỏa mai. Nhiều nơi còn có tục đi săn tập thể vào ngày lễ hội kết thúc. Dưới sự chỉ huy của một người thợ săn giỏi nhất mường, được dân bản bầu lên, mọi người lao mình vào cuộc săn một cách hào hứng. Thú rừng săn được sẽ chia đều cho mọi người cũng như lũ chó tham gia vào cuộc săn... Cứ như thế cuộc vui kéo dài trong 2, 3 ngày. Sau đó, bản nàolại về bản ấy. Bản nào giàu có, nhiều khả năng vật chất thì mời mo mường và a nha về bản mình, tiếp tục mổ lợn, giết gà tiệc tùng vui vẻ, hoặc tổ chức cầu an cho bản (xên bản). Như vậy những nghi lễ chính trong lễ hội cầu an bản mường vừa bộc lộ được tín ngưỡng thờ phụng thủy thần (thần nước, thần nguồn nước, thần sấm báo mưa) vừa thể hiện được tín ngưỡng gắn với thời săn bắn và hái lượm thời nguyên thủy. Tuy nhiên, bằng vào tục hiến sinh trâu, có thể thấy nghi lễ chính là cầu thần nước và cầu tổ tiên cho làng bản bình an, hạnh phúc, làm ăn phát đạt, người vật phát triển. Tục đi săn, nhiều khi, là hệ quả kéo theo, ngày càng mang tính hội hè nhiều hơn. Vết tích nghi lễ tín ngưỡng qua tục săn bắn tỏ ra rất mờ nhạt. Dù sao, đó cũng là sự kéo theo hay xếp lớp văn hóa, thường gặp trong văn hóa dân gian. Như vậy, ngoài sự khác biệt đôi chút ở nghi lễ hiến tế, thì hầu như các hoạt động của lễ hội cầu an bản mường đều giống nhau ở chỗ đây là dịp để mọi người tụ họp, gặp gỡ với tổ tiên, với thần linh, gặp gỡ với nhau trong cả sinh hoạt vật chất lẫn hành động tâm linh; vừa bộc lộ được niềm thành kính, ngưỡng vọng thánh thần, vừa thể hiện được sức mạnh của con người; vừa cầu phúc cho một cuộc sống an bình, hạnh phúc, vừa bộc lộ khả năng vui chơi, khả năng thi tài... Có thể nói, lễ hội cầu an bản mường là một hoạt động văn hóa tín ngưỡng đặc sắc của các tộc Thái và Mường... một sinh hoạt văn hóa dân gian tổng thể; một nguồn vui không thể thiếu của cư dân ít người nơi rẻo cao Tây Bắc xa xôi, mỗi khi vào mùa hoa ban trắng nở.

(lehoi.info)- Lễ hội cầu an thường được tổ chức hàng năm vào cuối tháng giêng, đầu tháng 2 âm lịch (vào dịp tết Nguyên Đán), tại Thuận Châu, Mộc Châu, Sơn La gắn với tục giết trâu hiến sinh cầu và tạ thần linh.

Thuận Châu nơi diễn ra lễ hội cầu an

Lễ hội cầu an cho bản mường (xên bản, xên mường) của người dân tộc Thái, đặc biệt là người Thái ở Mai Châu, Thuận Châu, Mộc Châu và người Mường... là một sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng rất quan trọng đối với cộng đồng người dân ở vùng Tây Bắc. Lễ hội có liên quan đến đời sống vật chất, tinh thần và tâm linh của cả bản mường, đến mùa màng, đến sức khỏe và đến sự làm ăn của cộng đồng năm ấy, nên được tổ chức rất trọng thể, vui vẻ và thu hút sự tham gia của đồng bào ở địa vực lớn (bản, mường). Lễ hội nhận được sự tham gia đóng góp của các bản, các mường là bởi, trước hết nó gắn với nghi lễ hiến sinh thờ thần nước, thờ nguồn nước - một vị thần gắn bó chặt chẽ với đời sống tâm linh của cộng đồng. Thứ nữa, theo quan niệm lâu đời của những người dân bản mường, nếu không tổ chức lễ cúng trong toàn bản, toàn mường, không hiến lễ vật (trâu, cặp trâu) cho tổ tiên và cho các vị thần linh thì cuộc sống vật chất và tâm linh của những con người ở trong cộng đồng sẽ gặp những trắc trở, không thuận lợi, thần linh không phù hộ cho được nhân khang, vật thịnh và cộng đồng bình an. Chính vì thế mà để được bình yên, cộng đồng người Thái, người Mường... ở vùng Tây Bắc xa xôi này đã sử dụng một thế ứng xử rất quen thuộc của các cư dân Việt và cư dân các tộc ít người trên đất Việt, là hiến tế lễ vật (trâu, bò, gà, heo...) cho thần linh, mà ở đây là thủy thần, thần nước và thần nguồn nước... dưới dạng con thuồng luồng, con giải và con giao long... Thường thì người ta sẽ tổ chức lễ cầu an cho mường trước, sau đó lần lượt làm lễ hội để cầu an cho bản hoặc liên bản. Chính vì thế, ngày nay, qui mô lễ hội (to hay nhỏ, kéo dài hay thu gọn... ) một phần lớn là tùy thuộc vào thời tiết liên quan đến sự được mất của mùa màng năm tới, nhưng còn phụ thuộc vào sự được mất, nhiều ít của mùa màng năm vừa rồi, sau khi thu hoạch. Lễ hội này thường được tiến hành ở đầu nguồn nước thuộc một bản đã được chọn (thường là bản Mòn). Đây là một nguồn nước thiêng, gần rừng thiêng, là nơi cư trú của thần thuồng luồng đầy uy lực. Ở người dân tộc Thái Mai Châu, thì lễ hội lại được tổ chức ở một bãi rộng gần đình như các lễ hội ở châu thổ, ở đồng bằng. Có nơi, thì người ta lại tổ chức lễ ở các miếu thờ thổ công, thổ địa của bản, của gia đình, ở vườn và ở đầu ruộng. Thường thì ngay từ dịp tết Nguyên Đán, mọi thứ dùng cho lễ hội đã được chuẩn bị xong. Lễ hội thường kéo dài trong vòng 3 ngày (cũng có nơi 2 ngày 1 đêm và có nơi 1 ngày 1 đêm). Nghi lễ cúng viếng về cơ bản là hiến sinh trâu (có nơi là một cặp trâu đực to, trắng - đen, nơi thì 1 con, có nhiều nơi cúng cả gà, lợn). Ở Mộc Châu, trong lễ xên bản, xên mường, người ta hiến tế một cặp trâu đen - trắng cỡ từ 10 tuổi trở lên. Hai trâu, nhưng con trâu trắng mới thực sự mang năng lượng thiêng để thành lễ vật tế thần (ở đây là thủy quái thuồng luồng, là con ma to nhất dưới nước mà bà con thường gọi là phi ngược). Có lẽ nghi thức thờ, hiến sinh hai trâu là nghi thức mới hơn nghi thức hiến sinh một trâu mộng rất phổ biến. Bởi theo bà con cho biết, thì trước kia, dân ở một mường khác phải đem trâu trắng và các đồ cúng lên cúng ở tại bản Mòn này. Từ đó đã nảy sinh lễ cúng liên mường (xên liên mường) mà đồ cúng và trâu hiến sinh đã tăng thêm về số lượng. Suy tưởng này, thực ra mới chỉ là một giả thiết. Người chịu trách nhiệm chính ở trong tổ chức lễ hội cầu an bản mường là a nha, nhưng người trực tiếp điều hành buổi lễ thì lại chính là ông thầy cúng (mo mường). Dân chúng trong mường, ngoài bản, bất kể gái trai già trẻ đều có nghĩa vụ tham gia, đóng góp tùy sức mình và được quyền tham dự vào lễ hội của mường. Lễ hội cầu an Nghi lễ giết trâu ở đây vô cùng đơn giản, không quan trọng và hệ thống như nghi lễ đâm trâu, ăn trâu ở Tây Nguyên. Trước ngày hội chính thức, tức là khoảng 2 đến 3 giờ chiều của ngày hôm trước, người ta đã làm lễ giết trâu. Trước khi thịt trâu, ông mo mường và ông mò phăn (tức ông thầy chém, được người dân mường chọn ra) làm lễ vái thần linh, vái tổ tiên rồi cầm dao nhọn làm động tác chém dữ (mang tính nghi lễ) vào cổ của các con trâu dùng để tế lễ, miệng thì thầm những câu như thần chú (thực ra, nhiều người cho rằng các ông chỉ nói lời kính báo với thần linh, với tổ tiên: trâu tế thần đã sẵn, dân bản, dân mường đã thịt trâu dâng các vị rồi đây nhé, xin các vị về mà nhận lấy). Sau đó, các ông sẽ lui ra, dành chỗ cho những thanh niên khỏe mạnh vào chém trâu và thịt trâu... Khi bắt đầu ngày hội, người ta làm rất nhiều mâm cỗ cúng (mỗi mâm cỗ là tượng trưng cho một bản lớn, xưa, có tạo bản đứng đầu, các bản nhỏ sẽ không được tượng trưng bằng mâm cỗ) đặt cạnh nguồn nước thiêng của mường. Đặc biệt, mâm cỗ của ông a nha, đặt ở giữa, dùng để cúng tổ tiên (là mâm cúng chính thức) phải có đầy đủ các bộ phận của con trâu hiến tế (đầu, đùi, thân, móng và đuôị..) cùng với tất cả các bộ phận của một con lợn. Những mâm còn lại của các bản, ngoài thịt trâu và cơm rượu... còn phải có vịt gà, đặt ở 2 bên mâm cúng chính, dành để cúng những vị thần khác. Khi buổi lễ bắt đầu, mo mường sẽ quì trước các mâm cỗ, phía sau là a nha, tạo bản và dân mường quì lễ. Trong không khí trang nghiêm và linh thiêng, ông mo trang trọng, xuất thần đọc bài cúng đã thông thuộc, mời tổ tiên (ông cha bà cố nội ngoại tiếng Thái nghĩa là Pao pu pang cải), mời thần đất (Chau đỉn), mời chủ nguồn nước (Chau nặm bo), mời thổ công thổ địa... về nhận lễ vật, dùng cỗ và vui vẻ với cộng đồng dân cư bản mường; đồng thời cầu mong tổ tiên và thần linh ban phúc, phù trợ cho bản mường bình yên, hạnh phúc, làm ăn suôn sẻ, con người khỏe mạnh, ngô lúa sinh sôi, gia súc gia cầm đàn đàn, lớp lớp. Khấn xong, mo mường và các vị chức sắc cùng với dân bản mường vái lạy tổ tiên và vái lạy các vị thần. Trong lúc đó, mo mường ném 2 quả trứng (một trắng, một đỏ) và 1 nắm cơm nhỏ xuống nguồn nước. Cuộc lễ kết thúc, mọi người bắt đầu vào cuộc ăn uống cộng cảm và vui chơi thể thao, văn nghệ... Cuộc ăn uống cộng cảm diễn ra hết sức vui vẻ nhưng cũng đúng lễ nghi. Các ông mo mường, a nha và tạo bản... chỉ ăn làm phép ở mâm cỗ chính, rồi đi từng mâm; ở mỗi mâm các ông ăn 1 miếng thịt, uống 1 hớp rượu. Kế đó, cả bản mường ăn uống vui vẻ cho bằng hết các mâm, không được bỏ thừa hay đem về. Một nghi thức tại lễ hội cầu an Để chuẩn bị cho việc diễn ra những trò bách hý ở trong hội lễ, ngay từ sáng sớm tinh mơ của ngày đầu tiên, bên cạnh vị trí cúng lễ (mặt bằng, có thể là một bàn đá cạnh nguồn nước), người dân bản đã sửa sang và dọn dẹp một mặt bằng rộng, cách nơi hành lễ khoảng trên dưới 100m. Mọi hoạt động hội hè, trò chơi, văn nghệ, thể thao... đều được diễn ra tại nơi đây. Trời về chiều, trong tiếng trống, tiếng chiêng dìu dặt lúc khoan lúc nhặt, dân làng tổ chức xòe vòng, xòe đôi và xòe đơn thật hào hứng. Bên mâm rượu tập thể, những nam thanh nữ tú hát giỏi múa hay, biết nhiều và nhanh nhẹn trong ứng đối vừa ăn uống, vừa chọc ghẹo, vừa hát đối đáp giao duyên. Họ hát giới thiệu, khen ngợi nhau, bày tỏ chí hướng và tỏ lòng với nhau... trong men rượu, men tình... Bên cạnh đó, dăm bảy đôi nam nữ (thường là những đôi đã ngầm kết nhau, tổ chức múa sạp, thi bắn nỏ và bắn súng hỏa mai. Nhiều nơi còn có tục đi săn tập thể vào ngày lễ hội kết thúc. Dưới sự chỉ huy của một người thợ săn giỏi nhất mường, được dân bản bầu lên, mọi người lao mình vào cuộc săn một cách hào hứng. Thú rừng săn được sẽ chia đều cho mọi người cũng như lũ chó tham gia vào cuộc săn... Cứ như thế cuộc vui kéo dài trong 2, 3 ngày. Sau đó, bản nàolại về bản ấy. Bản nào giàu có, nhiều khả năng vật chất thì mời mo mường và a nha về bản mình, tiếp tục mổ lợn, giết gà tiệc tùng vui vẻ, hoặc tổ chức cầu an cho bản (xên bản). Như vậy những nghi lễ chính trong lễ hội cầu an bản mường vừa bộc lộ được tín ngưỡng thờ phụng thủy thần (thần nước, thần nguồn nước, thần sấm báo mưa) vừa thể hiện được tín ngưỡng gắn với thời săn bắn và hái lượm thời nguyên thủy. Tuy nhiên, bằng vào tục hiến sinh trâu, có thể thấy nghi lễ chính là cầu thần nước và cầu tổ tiên cho làng bản bình an, hạnh phúc, làm ăn phát đạt, người vật phát triển. Tục đi săn, nhiều khi, là hệ quả kéo theo, ngày càng mang tính hội hè nhiều hơn. Vết tích nghi lễ tín ngưỡng qua tục săn bắn tỏ ra rất mờ nhạt. Dù sao, đó cũng là sự kéo theo hay xếp lớp văn hóa, thường gặp trong văn hóa dân gian. Như vậy, ngoài sự khác biệt đôi chút ở nghi lễ hiến tế, thì hầu như các hoạt động của lễ hội cầu an bản mường đều giống nhau ở chỗ đây là dịp để mọi người tụ họp, gặp gỡ với tổ tiên, với thần linh, gặp gỡ với nhau trong cả sinh hoạt vật chất lẫn hành động tâm linh; vừa bộc lộ được niềm thành kính, ngưỡng vọng thánh thần, vừa thể hiện được sức mạnh của con người; vừa cầu phúc cho một cuộc sống an bình, hạnh phúc, vừa bộc lộ khả năng vui chơi, khả năng thi tài... Có thể nói, lễ hội cầu an bản mường là một hoạt động văn hóa tín ngưỡng đặc sắc của các tộc Thái và Mường... một sinh hoạt văn hóa dân gian tổng thể; một nguồn vui không thể thiếu của cư dân ít người nơi rẻo cao Tây Bắc xa xôi, mỗi khi vào mùa hoa ban trắng nở.

Related Figures

Lễ hội “Xên Mường” dân tộc Thái Đen

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 31/12 Dương lịch (lehoi.info) - Lễ hội “Xên Mường” hay còn được gọi là Lễ hội Hoa Ban tại “Đông xên” bản Mé, xã Chiềng Cơi, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La được tổ chức vào ngày 31 tháng 12. Đặc săc lễ hội “Xên Mường” dân tộc Thái Đen Trước đây cứ 2 năm tổ chức 1 lần vào dịp năm hết, Tết đến và mùa màng thu hoạch xong, với quan niệm của những người đồng bào dân tộc vùng Tây Bắc là cầu cho vạn vật bảo vệ con người, mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, bản mường đoàn kết vượt khó khăn và giúp nhau xây dựng một cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn. Một nghi thức trong lễ hội “Xên Mường” dân tộc Thái Đen Địa điểm chọn lễ cúng mường thường là ở tại một cánh rừng già được gọi là “Đông Xên”. Lễ vật gồm mổ lợn, mổ gà, mổ trâu, sản vật, thóc gạo, hoa quả... Lễ hội gồm có các nghi lễ sau: Lễ rước Nàng Tánh về dự hội, bà Một cúng cầu may, lễ đi qua cầu Mường và lễ té nước cầu phúc. Phần lễ trong lễ hội Xên Mường (cúng bản mường) gồm ông mo và bà “một” (là người khấn vái chính) gọi “mời” các vị thần linh như thần sông, thần núi, thần thổ địa, thần cai quản ruộng nương, vùng miền và các linh hồn người có công xây dựng nên bản mường, đất nước và những linh hồn của những người trong bản mường đã mất về dự, “ăn”, nhận các lễ vật do bản mường, do con cháu dâng lễ. Phần hội là phần được diễn ra ngay sau phần cúng lễ kết thúc, gồm những trò chơi dân gian như: kéo co, ném còn, tó má lẹ (một trò chơi dân gian), bắn nỏ, trò chơi đánh chân đánh đầu, múa xoè bên đống lửa, tổ chức dân ca dân vũ, thăm hỏi và chúc tụng nhau. Tổ chức giao lưu văn hóa - văn nghệ, thi đấu những trò chơi dân gian giữa các xã, các phường, thưởng thức ẩm thực các món ăn dân tộc. Những trò chơi dân gian trong lễ hội Lễ hội Xên Mường đã thực sự cuốn hút được đông đảo quần chúng nhân dân bởi nhiều tiết mục ca-múa-nhạc đặc sắc mang đậm nét văn hóa truyền thống được các đội văn nghệ không chuyên đem đến giao lưu và biểu diễn. Kết thúc đêm hội, mọi người được hòa chung vòng xòe đoàn kết và uống rượu cần trong tiếng trống, tiếng chiêng rộn ràng./.

(lehoi.info) - Lễ hội “Xên Mường” hay còn được gọi là Lễ hội Hoa Ban tại “Đông xên” bản Mé, xã Chiềng Cơi, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La được tổ chức vào ngày 31 tháng 12.

Đặc săc lễ hội “Xên Mường” dân tộc Thái Đen

Trước đây cứ 2 năm tổ chức 1 lần vào dịp năm hết, Tết đến và mùa màng thu hoạch xong, với quan niệm của những người đồng bào dân tộc vùng Tây Bắc là cầu cho vạn vật bảo vệ con người, mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, bản mường đoàn kết vượt khó khăn và giúp nhau xây dựng một cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn. Một nghi thức trong lễ hội “Xên Mường” dân tộc Thái Đen Địa điểm chọn lễ cúng mường thường là ở tại một cánh rừng già được gọi là “Đông Xên”. Lễ vật gồm mổ lợn, mổ gà, mổ trâu, sản vật, thóc gạo, hoa quả... Lễ hội gồm có các nghi lễ sau: Lễ rước Nàng Tánh về dự hội, bà Một cúng cầu may, lễ đi qua cầu Mường và lễ té nước cầu phúc. Phần lễ trong lễ hội Xên Mường (cúng bản mường) gồm ông mo và bà “một” (là người khấn vái chính) gọi “mời” các vị thần linh như thần sông, thần núi, thần thổ địa, thần cai quản ruộng nương, vùng miền và các linh hồn người có công xây dựng nên bản mường, đất nước và những linh hồn của những người trong bản mường đã mất về dự, “ăn”, nhận các lễ vật do bản mường, do con cháu dâng lễ. Phần hội là phần được diễn ra ngay sau phần cúng lễ kết thúc, gồm những trò chơi dân gian như: kéo co, ném còn, tó má lẹ (một trò chơi dân gian), bắn nỏ, trò chơi đánh chân đánh đầu, múa xoè bên đống lửa, tổ chức dân ca dân vũ, thăm hỏi và chúc tụng nhau. Tổ chức giao lưu văn hóa - văn nghệ, thi đấu những trò chơi dân gian giữa các xã, các phường, thưởng thức ẩm thực các món ăn dân tộc. Những trò chơi dân gian trong lễ hội Lễ hội Xên Mường đã thực sự cuốn hút được đông đảo quần chúng nhân dân bởi nhiều tiết mục ca-múa-nhạc đặc sắc mang đậm nét văn hóa truyền thống được các đội văn nghệ không chuyên đem đến giao lưu và biểu diễn. Kết thúc đêm hội, mọi người được hòa chung vòng xòe đoàn kết và uống rượu cần trong tiếng trống, tiếng chiêng rộn ràng./.

Related Figures

Lên non chơi tết độc lập người Mông

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/12- 30/12 Âm lịch (lehoi.info) - Ngày Tết là dịp để người Mông thể hiện sâu đậm nhất truyền thống đoàn kết, bản sắc văn hóa và đời sống tâm linh. Trong số các dân tộc anh em thì người dân tộc Mông ở Mộc Châu (Sơn La), là dân tộc đón Tết độc lập to hơn cả. Trong ngày Tết này thường diễn ra hàng loạt các hoạt động vui chơi, giải trí. Đây được xem là cái tết to thứ hai sau tết truyền thống của người dân tộc Mông. Săc màu ngày tết độc lập của những người dân tộc Mông Tết này thường được diễn ra suốt tháng chạp hàng năm, vào những ngày này bản làng của người dân tộc mông trở nên náo nhiệt khác thường bởi sự góp mặt của hàng trăm trẻ em, thanh thiếu niên quần áo mới toanh, ô xòe khoác vai nhau dạo chơi, chạy nhảy và nô đùa. Thổi khèn, nhảy múa trong ngày Tết Độc Lập Dọc đường đi, du khách sẽ không khỏi xao xuyến khi bắt gặp những tốp các bà mẹ đưa con đi chơi hội, những cặp đôi phóng xe máy vun vút trên đường. Đám trẻ con thì hồn nhiên nhí nhảnh, cánh phụ nữ thì tụm năm tụm ba xòe ô che nắng ngồi chuyện trò trên những đống đá ở ven đường... Tất cả đều khăn áo xúng xính, rực lên sắc tím hồng chủ đạo. Hình ảnh những người Mông đi chơi lễ hội Và lẫn giữa những váy áo rực rỡ đất trời của người dân tộc Mông, thật dễ dàng để bắt gặp một vài gương mặt khách du lịch dưới xuôi, kẻ ngỡ ngàng, phấn khởi, người tất bật 2 tay 2 chiếc máy ảnh chụp hình một cách mê say. “Dân đi” gặp nhau, chia sẻ niềm vui qua nụ cười, qua vài câu thăm hỏi rồi mỗi người mỗi cung đường, nhưng ấn tượng về một ngày Tết độc lập ở Mộc Châu trong họ nhất định sẽ có chung một mẫu số đó là: rực rỡ và hồn nhiên. Một điệu múa của người Mông trong lễ hội tết độc lập Trên kia, từ trên núi cao, những ngọn gió Hua Tát như thể đang hát, đang nguyện cầu cho cuộc sống của người Mông ngày càng ấm êm, no đủ hơn... Các hoạt động văn nghệ dịp Tết độc lập tại Mộc Châu diễn ra vô cùng sôi nổi Tết của cộng đồng người dân tộc Mông ở Mộc Châu đã phô diễn một cuộc sống văn hóa hết sức phong phú, làm giàu thêm sự đa dạng về bản sắc văn hóa của các dân tộc Việt Nam. Các sinh hoạt trong ngày Tết của người dân tộc Mông mở ra hướng khai thác du lịch văn hóa hấp dẫn cho vùng đất Mộc Châu, Sơn La./.

(lehoi.info) - Ngày Tết là dịp để người Mông thể hiện sâu đậm nhất truyền thống đoàn kết, bản sắc văn hóa và đời sống tâm linh. Trong số các dân tộc anh em thì người dân tộc Mông ở Mộc Châu (Sơn La), là dân tộc đón Tết độc lập to hơn cả. Trong ngày Tết này thường diễn ra hàng loạt các hoạt động vui chơi, giải trí. Đây được xem là cái tết to thứ hai sau tết truyền thống của người dân tộc Mông.

Săc màu ngày tết độc lập của những người dân tộc Mông

Tết này thường được diễn ra suốt tháng chạp hàng năm, vào những ngày này bản làng của người dân tộc mông trở nên náo nhiệt khác thường bởi sự góp mặt của hàng trăm trẻ em, thanh thiếu niên quần áo mới toanh, ô xòe khoác vai nhau dạo chơi, chạy nhảy và nô đùa. Thổi khèn, nhảy múa trong ngày Tết Độc Lập Dọc đường đi, du khách sẽ không khỏi xao xuyến khi bắt gặp những tốp các bà mẹ đưa con đi chơi hội, những cặp đôi phóng xe máy vun vút trên đường. Đám trẻ con thì hồn nhiên nhí nhảnh, cánh phụ nữ thì tụm năm tụm ba xòe ô che nắng ngồi chuyện trò trên những đống đá ở ven đường... Tất cả đều khăn áo xúng xính, rực lên sắc tím hồng chủ đạo. Hình ảnh những người Mông đi chơi lễ hội Và lẫn giữa những váy áo rực rỡ đất trời của người dân tộc Mông, thật dễ dàng để bắt gặp một vài gương mặt khách du lịch dưới xuôi, kẻ ngỡ ngàng, phấn khởi, người tất bật 2 tay 2 chiếc máy ảnh chụp hình một cách mê say. “Dân đi” gặp nhau, chia sẻ niềm vui qua nụ cười, qua vài câu thăm hỏi rồi mỗi người mỗi cung đường, nhưng ấn tượng về một ngày Tết độc lập ở Mộc Châu trong họ nhất định sẽ có chung một mẫu số đó là: rực rỡ và hồn nhiên. Một điệu múa của người Mông trong lễ hội tết độc lập Trên kia, từ trên núi cao, những ngọn gió Hua Tát như thể đang hát, đang nguyện cầu cho cuộc sống của người Mông ngày càng ấm êm, no đủ hơn... Các hoạt động văn nghệ dịp Tết độc lập tại Mộc Châu diễn ra vô cùng sôi nổi Tết của cộng đồng người dân tộc Mông ở Mộc Châu đã phô diễn một cuộc sống văn hóa hết sức phong phú, làm giàu thêm sự đa dạng về bản sắc văn hóa của các dân tộc Việt Nam. Các sinh hoạt trong ngày Tết của người dân tộc Mông mở ra hướng khai thác du lịch văn hóa hấp dẫn cho vùng đất Mộc Châu, Sơn La./.

Related Figures

Lễ hội Mương A Ma dân tộc Xinh Mun

Thông tin thời kỳ

Ở tỉnh Sơn La, đồng bào dân tộc Xinh Mun thường cư trú ở vùng rẻo giữa và rẻo cao, kinh tế của người Xinh Mun chủ yếu dựa vào việc canh tác nương rẫy và chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm. Cũng giống như nhiều dân tộc khác, đồng bào dân tộc Xinh Mun theo quan niệm vạn vật hữu linh, họ tin rằng, các cánh rừng, các con suối… đều có thần linh cai quản. Do vậy, họ có rất nhiều nghi lễ nông nghiệp, trong đó nổi bật chính là lễ hội Mương A Ma (lễ hội cầu mùa). Lễ hội Mương A Ma thường từ 3 đến 5 năm mới tổ chức một lần, lễ hội diễn ra trong 2 ngày vào khoảng thời gian từ tháng 12 đến tháng 2 âm lịch, khi đã thu hoạch xong mùa màng và năm đó được mùa, lúa ngô đầy nhà và nuôi được nhiều gà, nhiều lợn... Trang phục của người Xinh Mun Người đứng ra tổ chức lễ hội và chủ trì lễ hội là những người làm thầy mo ở trong bản. Lễ hội Mương A Ma thường được tổ chức trong phạm vi gia đình, nhưng lực lượng tham gia vào làm công việc chuẩn bị lễ vật, cỗ bàn và đặc biệt là lực lượng tham gia vào phần hội thì bao gồm cả bản, từ các ông già, các bà già, thanh niên nam nữ và cả trẻ nhỏ, tất cả mọi người đều tham dự lễ hội với tinh thần tự giác, hăng say và nhiệt tình. Lễ hội Mương A Ma dân tộc Xinh Mun tại Sơn La Lễ hội Mương A Ma cũng có 2 phần: phần lễ và phần hội. Phần lễ là phần trang nghiêm và thành kính, ông thầy mo thay mặt cho dân bản cúng tế các vị thần linh phù hộ cho mưa thuận gió hòa, để lúa sai bông, để ngô mẩy hạt, để gà lợn trâu bò không bị dịch bệnh, sinh sôi đầy chuồng, để con người luôn khỏe mạnh không bị ốm đau và để bản mường mãi mãi hưng thịnh. Khác với không khí trang nghiêm của phần lễ, thì ở phần hội, trong tiếng trống, tiếng chiêng rộn ràng, trong sự nồng say của men rượu cần, tinh thần của những người dân được thăng hoa, mọi lo toan thường nhật phút chốc tan biến, mọi người thả mình theo những điệu múa, những trò chơi dân gian rất vui vẻ, diễn tả hiện thực cuộc sống của cộng đồng người dân tộc Xinh Mun, mang tính nghệ thuật và giáo dục cao như múa Tăng bu, To luồng và múa kéo thuyền… chơi "giắc klsù" (bắt tổ ong), chơi "to miếng" (đấu võ) v.v. Các cuộc vui của người Xinh Mun đều gõ chiêng Lễ hội Mương A Ma là một nét văn hóa tiêu biểu nhất và đặc sắc nhất của đồng bào dân tộc Xinh Mun, là 1 hình thức sinh hoạt văn hóa tập thể lành mạnh, góp phần tích cực vào việc vun đắp tình đoàn kết cộng đồng, giáo dục truyền thống uống nước nhớ nguồn, tạo ra bầu không khí vui tươi phấn khởi, hướng người dân theo những điều thiện và xa rời cái xấu.

Related Figures

Lễ hội Nghinh ông

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 22/3 Âm lịch (lehoi.info) - Lễ hội Nghinh ông được tổ chức hàng năm vào ngày 22 tháng 3 âm lịch, tại xã Trung Bình, Long Phú, Sóc Trăng với ý nguyện và với lòng thành kính cầu xin cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hoà, tai qua nạn khỏi và khai thác được nhiều thủy hải sản. Lễ hội Nghinh ông tại Sóc Trăng Lễ hội Nghinh Ông cúng biển tại Kinh Ba đã có từ năm 1950, theo các cụ già ở vùng biển này kể lại thì vào thời đó, tại rạch Mù U, thuộc xã An Thạnh III ( huyện Long Phú, Sóc Trăng), dân đi biển đã phát hiện một xác cá ông to lớn trôi dạt tại bờ kênh này. Dân địa phương đã vớt xác cá ông vào bờ và lập miếu thờ cúng cá ông bằng tre lá đơn sơ. Sau năm 1982, ngư dân ở làng này làm ăn phát đạt nhanh chóng, mới dời hài cốt “Ông” cá ở An Thạnh III và cùng nhau vận động quyên góp vốn sang một khu đất rộng 2000 m2 để xây miếu thờ cúng khang trang ở Kinh Ba như hiện nay. Dân làng nơi đây đặt tên là Lăng Ông Nam Hải, thành lập ban Quản trị và ông trưởng vạn, có nhiệm vụ chăm sóc, bảo quản di tích Lăng Ông, thắp hương khói và thờ cúng hàng đêm. Lễ hội Nghinh Ông được tổ chức như sau: Mở đầu lễ hội này là lễ rước kiệu ông ra biển, tàu đánh bắt thủy sản được trang bị cờ hoa rực rỡ lộng lẫy cùng với những thức cúng như heo quay, trái cây và nhang đèn …tập trung ra cửa biển khiêng kiệu hài cốt của Ông đưa xuống tàu và chạy thẳng về hướng biển Đông để cầu khẩn “xin Keo” với những ý nguyện tốt đẹp. Tham gia vào đoàn rước kiệu ông có đến hàng trăm con tàu, dẫn đầu đoàn tàu là “thuyền rồng” rước Kiệu Ông, các thuyền ghe tàu khác cũng nhắm hướng tàu dẫn đầu mà lướt theo. Ở trên thuyền rồng, các đào mặc đồ võ tướng, đánh trống, thao quyền và múa quyền rất nhộn nhịp ở mũi thuyền. Còn các vị hương thân, các vị bô lão thì khấn vái ông phù hộ cho một mùa biển mới sung túc, an bình. Khi gặp cá ông và tiến hành việc cúng tế ở trên biển xong, đoàn ghe quay về để rước kiệu ông vào đình và tiến hành các nghi lễ cúng ông tiếp theo. Quang cảnh lễ hội Nghinh ông Phần hội là phần có các trò chơi dân gian, vui chơi giải trí, thể dục thể thao và ca hát những tích tuồng cổ, nhằm tạo thêm sinh khí vui tươi, phấn khởi cho mọi ngư dân quên đi những ngày lao động, làm việc cực nhọc và an tâm chuẩn bị cho chuyến ra khơi đánh bắt tôm, cá đầy tàu. Lễ hội kết thúc với việc đưa tàu thuyền ra biển khơi trong niềm hân hoan, tin tưởng của tất cả mọi người. Hàng trăm tàu đánh bắt thủy sản trong và ngoài tỉnh tham dự lễ hội Vào ngày lễ hội có khoảng hàng nghìn ngư dân trong khu vực với hàng trăm tàu đánh bắt thủy sản của tỉnh Sóc Trăng và các tỉnh lân cận như tỉnh Bến Tre, Kiên Giang, Trà Vinh, Bạc Liêu … đến dự tạo nên một lễ hội đậm nét văn hóa dân gian của những ngư dân vùng biển. Lễ hội Nghinh Ông được xem là một trong những ngày lễ mang đậm tính truyền thống của các ngư dân vùng biển. Theo tín ngưỡng từ lâu đời, tục thờ cá Ông là 1 nét đặc sắc trong đời sống tâm linh vì cá Ông là một vị thần luôn giúp ngư dân vượt qua những phong ba bão táp và mang lại mùa thu hoạch hải sản bội thu./.

(lehoi.info) - Lễ hội Nghinh ông được tổ chức hàng năm vào ngày 22 tháng 3 âm lịch, tại xã Trung Bình, Long Phú, Sóc Trăng với ý nguyện và với lòng thành kính cầu xin cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hoà, tai qua nạn khỏi và khai thác được nhiều thủy hải sản.

Lễ hội Nghinh ông tại Sóc Trăng

Lễ hội Nghinh Ông cúng biển tại Kinh Ba đã có từ năm 1950, theo các cụ già ở vùng biển này kể lại thì vào thời đó, tại rạch Mù U, thuộc xã An Thạnh III ( huyện Long Phú, Sóc Trăng), dân đi biển đã phát hiện một xác cá ông to lớn trôi dạt tại bờ kênh này. Dân địa phương đã vớt xác cá ông vào bờ và lập miếu thờ cúng cá ông bằng tre lá đơn sơ. Sau năm 1982, ngư dân ở làng này làm ăn phát đạt nhanh chóng, mới dời hài cốt “Ông” cá ở An Thạnh III và cùng nhau vận động quyên góp vốn sang một khu đất rộng 2000 m2 để xây miếu thờ cúng khang trang ở Kinh Ba như hiện nay. Dân làng nơi đây đặt tên là Lăng Ông Nam Hải, thành lập ban Quản trị và ông trưởng vạn, có nhiệm vụ chăm sóc, bảo quản di tích Lăng Ông, thắp hương khói và thờ cúng hàng đêm. Lễ hội Nghinh Ông được tổ chức như sau: Mở đầu lễ hội này là lễ rước kiệu ông ra biển, tàu đánh bắt thủy sản được trang bị cờ hoa rực rỡ lộng lẫy cùng với những thức cúng như heo quay, trái cây và nhang đèn …tập trung ra cửa biển khiêng kiệu hài cốt của Ông đưa xuống tàu và chạy thẳng về hướng biển Đông để cầu khẩn “xin Keo” với những ý nguyện tốt đẹp. Tham gia vào đoàn rước kiệu ông có đến hàng trăm con tàu, dẫn đầu đoàn tàu là “thuyền rồng” rước Kiệu Ông, các thuyền ghe tàu khác cũng nhắm hướng tàu dẫn đầu mà lướt theo. Ở trên thuyền rồng, các đào mặc đồ võ tướng, đánh trống, thao quyền và múa quyền rất nhộn nhịp ở mũi thuyền. Còn các vị hương thân, các vị bô lão thì khấn vái ông phù hộ cho một mùa biển mới sung túc, an bình. Khi gặp cá ông và tiến hành việc cúng tế ở trên biển xong, đoàn ghe quay về để rước kiệu ông vào đình và tiến hành các nghi lễ cúng ông tiếp theo. Quang cảnh lễ hội Nghinh ông Phần hội là phần có các trò chơi dân gian, vui chơi giải trí, thể dục thể thao và ca hát những tích tuồng cổ, nhằm tạo thêm sinh khí vui tươi, phấn khởi cho mọi ngư dân quên đi những ngày lao động, làm việc cực nhọc và an tâm chuẩn bị cho chuyến ra khơi đánh bắt tôm, cá đầy tàu. Lễ hội kết thúc với việc đưa tàu thuyền ra biển khơi trong niềm hân hoan, tin tưởng của tất cả mọi người. Hàng trăm tàu đánh bắt thủy sản trong và ngoài tỉnh tham dự lễ hội Vào ngày lễ hội có khoảng hàng nghìn ngư dân trong khu vực với hàng trăm tàu đánh bắt thủy sản của tỉnh Sóc Trăng và các tỉnh lân cận như tỉnh Bến Tre, Kiên Giang, Trà Vinh, Bạc Liêu … đến dự tạo nên một lễ hội đậm nét văn hóa dân gian của những ngư dân vùng biển. Lễ hội Nghinh Ông được xem là một trong những ngày lễ mang đậm tính truyền thống của các ngư dân vùng biển. Theo tín ngưỡng từ lâu đời, tục thờ cá Ông là 1 nét đặc sắc trong đời sống tâm linh vì cá Ông là một vị thần luôn giúp ngư dân vượt qua những phong ba bão táp và mang lại mùa thu hoạch hải sản bội thu./.

Related Figures

Hội Thắc Côn (Lễ cúng Dừa)

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/3 Âm lịch Lễ hội Thác Côn hay còn được dân gian gọi là lễ hội Cúng Dừa, vì thức cúng chủ yếu trong lễ hội này là hàng nghìn trái dừa tươi. Lễ hội diễn ra được tính theo Phật lịch của người dân Khmer, nhưng thường tương ứng với ngày rằm tháng Ba âm lịch. Lễ hội được tổ chức tại An Trạch, thị trấn Châu Thành, Sóc Trăng. Lễ hội Thác Côn đã tồn tại gần trăm năm nay, gắn liền với truyền thuyết về chiếc Cồng Vàng của vùng An Trạch thời xưa. Truyền thuyết ấy kể lại rằng: ngày xưa ở tại An Trạch tự nhiên nổi lên một cái gò hình dạng giống như chiếc cồng. Chân người dẫm lên phát ra âm vang giống như tiếng cồng. Được ít lâu, tiếng cồng trong gò đất nhỏ dần rồi biến mất hẳn. Hội Thác Côn Nhân gian bèn lập 1 ngôi miếu thờ. Hàng năm, những người dân làng An Trạch lại cùng nhau tổ chức lễ hội cầu an ở tại miếu này và gọi đó là lễ hội Thác Côn. Trong tiếng dân tộc Khmer, Thác Côn có nghĩa là đạp cồng, gợi lại sự tích về tiếng cồng chiêng vang lên từ đất. Lễ hội Thác Côn có lệ cúng những chiếc bình bông được làm bằng trái dừa. Nét độc đáo của vật cúng khiến cho người ta còn gọi lễ này bằng một cái tên khác là lễ Cúng Dừa. Rộn ràng lễ hội Cúng Dừa Lễ hội Thác Côn cũng giống như lễ Cầu an, Cầu phước của đồng bào người Khmer nên tính chất nông nghiệp của nó được thể hiện ngay trong các lễ vật dâng cúng là những thứ hoa trái giàu sắc thái bản địa của cộng đồng các dân tộc ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long như trầu cau, hoa sen và trái dừa. Các thứ hoa trái tượng trưng cho sự thanh khiết và thiêng liêng ấy tập trung trên 1 vật cúng hết sức đặc biệt mà đồng bào người Khmer gọi là Slathođôn - bình bông được làm bằng trái dừa. Phần cây bông được tạo thành từ những lá trầu xanh và những bông hoa. Miếng trầu, lễ vật không thể thiếu trong các nghi thức đám cưới, đám giỗ cúng tổ tiên của các dân tộc ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long được cụm thành chiếc lá để trang trí cho Slathođôn. Hoa sen với một ý nghĩa cao khiết và thánh thiện đã trở thành phổ biến trong văn hóa dân gian, chiếm một vị trí chủ đạo để làm nên hình tượng cây bông. Ngoài ra, người ta đôi khi cũng trang hoàng thêm những bông huệ, bông cúc vạn thọ nhằm mục đích phối hợp màu sắc nhưng vẫn thống nhất về ý nghĩa Cúng Dừa. Phần đế cắm hoa được làm bằng trái dừa, loại quả có nước tinh khiết và ngọt lành chẳng những chiếm vị trí quan trọng trong văn hóa ẩm thực của người dân Nam bộ, mà còn hiện diện trong hầu hết các lễ lộc, mang ý nghĩa cầu phước và cầu an. Trên cái đế cắm độc đáo bày hoa lá, nhang đèn, được sắp xếp gọn ghẽ. Bình hoa Slathođôn giản dị, tiết kiệm và khá đẹp mang tính tượng trưng rất cao là lễ vật chủ yếu ở trong lễ cúng. Hai bên đường tràn ngập người bán bình bông làm bằng trái dừa Có đến hàng chục giống dừa to nhỏ và màu sắc khác nhau thì cũng có đến hàng trăm kiểu phối hợp để tạo nên vô số Slathođôn đủ màu, đủ cỡ. Vào dịp lễ hội này, người dân làng An Trạch, nhất là các thanh niên nam nữ thu xếp việc nhà, sắm sửa trang phục để trẩy hội cầu phước và đây cũng là dịp để gặp gỡ bè bạn và những người thân. Theo lệ, người dân phải tự sửa soạn Slathođôn cho mình. Nhưng những du khách phương xa mỗi năm một đông nên nhiều gia đình khéo tay đã trở thành đầu mối cung ứng những vật cúng cho các thiện nam, tín nữ. Tính ra vào mỗi kỳ lễ hội, An Trạch phải nhập đến hàng vạn trái dừa. Những người dự hội thường cầu phước cho cả gia đình mình nên cũng sắm sửa luôn hương hoa, dầu gió và chỉ đỏ để lấy may, lấy phước về nhà. Dân gian quan niệm, đi lễ hội, viếng danh lam thắng cảnh là đem cái phước, cái lành về nhà mình. Người ta dâng cúng các vật phẩm như dầu gió, chỉ đỏ và cả hạt giống lúa, bắp, rồi mang về phòng khi trở trời trái gió có phương dược để khui phong; khi cưới xin có chỉ hồng buộc tay cho con cháu để lấy hên; khi vào vụ thì có hạt giống lành gieo trồng để cầu cho mùa màng sung túc... Nghi thức cúng dừa tại lễ hội Nghi thức cúng dừa làm cho lễ hội Thác Côn mang nét đặc trưng riêng với cảnh tượng ngoạn mục hiếm thấy ở bất kỳ một lễ hội nào. Tuy nhiên, nhìn từ sự tích đến thời điểm tổ chức, từ lễ vật đến nghi thức cúng bái, thì Thác Côn là hình ảnh của một lễ cầu an, làm phước theo truyền thống văn hóa của đồng bào dân tộc Khmer ở vùng Nam bộ trong bối cảnh giao lưu về tập tục, tín ngưỡng của các dân tộc anh em ở trong khu vực. Trong mỗi một kỳ lễ hội, vùng An Trạch đón hàng vạn lượt du khách từ khắp các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long về để dự lễ. Họ đến đây vừa là để trẩy hội vừa là để thành kính dâng hương khấn Phật cầu mong cho cuộc sống được bình an, hạnh phúc. Du khách từ phương xa có đến lễ Cúng Dừa vào buổi tối thì cũng chẳng ngại lỡ độ đường, bởi đêm lễ hội Thác Côn diễn ra là đêm thức trắng. Các hoạt động văn hóa, văn nghệ và vui chơi, giải trí diễn ra náo nhiệt, quán ăn, quán nước phục vụ đến tận sáng. Nam thanh, nữ tú của 3 dân tộc có dịp giao lưu và kết bạn, vùng An Trạch chan hòa không khí nô nức của đêm hội trăng rằm. Lễ Cúng Dừa kéo dài trong 3 ngày, vào buổi chiều ngày thứ 3 lễ hội kết thúc, nhưng dư âm vẫn còn đọng lại ở trên những trái dừa chất đống cao như núi trong sân miếu Thác Côn. Đó cũng chính là lúc dân làng An Trạch thực hiện nghi lễ cuối cùng, một nghi lễ đậm tính chất nông nghiệp, bắt nguồn từ tín ngưỡng cổ xưa mà những du khách ở phương xa ít có dịp được chứng kiến. Nghi lễ do các bà lão và do các thiếu nữ ở trong làng tiến hành. Họ lấy những hạt giống ngũ cốc đã được đặt ở trên bệ thờ suốt những ngày lễ hội, trước những lời cầu mong chứa chan ước vọng của du khách thập phương. Họ lấy 1 ít tro, nhang từ các lư hương đầy ắp, cả những chân nhang cháy dở ở trong ngôi miếu thiêng, đặt vào cái mâm bạc chuyên dùng đựng các vật cúng của đồng bào dân tộc Khmer. Những người phụ nữ ở An Trạch nối nhau đi ra đồng, đem những vật phẩm từ miếu Thác Côn để dâng cúng đất đai, dâng cúng hồn lúa, dâng cúng những vị thần bảo hộ cho ruộng vườn, làng mạc và tỏ lòng biết ơn mưa thuận, gió hòa đã đem lại một cuộc sống sung túc cho nhà nông. Với niềm tin mộc mạc và thuần phác, những người phụ nữ làng An Trạch làm đúng những nghi lễ mà các bậc tổ mẫu thời xưa đã thực hiện. Họ rải những hạt giống được lấy từ miếu Thác Côn lên các cánh đồng, rắc tro, nhang lên bờ ruộng để cầu mong những hạt giống ấy, những tro, nhang ấy trả về một mùa màng bội thu, cho cái chu kỳ bất tận của trời đất, nắng mưa luôn mang tới hạnh phúc, no ấm cho mọi người, cho mọi gia đình. Lễ hội Cúng Dừa thu hút đông đảo người dân tham gia Lễ hội Thác Côn của đồng bào dân tộc Khmer ở tỉnh Sóc Trăng thể hiện được ước vọng về sự an lành, hạnh phúc, cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, người người có được một cuộc sống an lành, giúp người ta nhớ về cội nguồn, tổ tiên, ông bà để sống chan hòa và yêu thương nhau hơn./. Theo BĐT Cần Thơ

Lễ hội Thác Côn hay còn được dân gian gọi là lễ hội Cúng Dừa, vì thức cúng chủ yếu trong lễ hội này là hàng nghìn trái dừa tươi. Lễ hội diễn ra được tính theo Phật lịch của người dân Khmer, nhưng thường tương ứng với ngày rằm tháng Ba âm lịch. Lễ hội được tổ chức tại An Trạch, thị trấn Châu Thành, Sóc Trăng.

Lễ hội Thác Côn đã tồn tại gần trăm năm nay, gắn liền với truyền thuyết về chiếc Cồng Vàng của vùng An Trạch thời xưa. Truyền thuyết ấy kể lại rằng: ngày xưa ở tại An Trạch tự nhiên nổi lên một cái gò hình dạng giống như chiếc cồng. Chân người dẫm lên phát ra âm vang giống như tiếng cồng. Được ít lâu, tiếng cồng trong gò đất nhỏ dần rồi biến mất hẳn. Hội Thác Côn Nhân gian bèn lập 1 ngôi miếu thờ. Hàng năm, những người dân làng An Trạch lại cùng nhau tổ chức lễ hội cầu an ở tại miếu này và gọi đó là lễ hội Thác Côn. Trong tiếng dân tộc Khmer, Thác Côn có nghĩa là đạp cồng, gợi lại sự tích về tiếng cồng chiêng vang lên từ đất. Lễ hội Thác Côn có lệ cúng những chiếc bình bông được làm bằng trái dừa. Nét độc đáo của vật cúng khiến cho người ta còn gọi lễ này bằng một cái tên khác là lễ Cúng Dừa. Rộn ràng lễ hội Cúng Dừa Lễ hội Thác Côn cũng giống như lễ Cầu an, Cầu phước của đồng bào người Khmer nên tính chất nông nghiệp của nó được thể hiện ngay trong các lễ vật dâng cúng là những thứ hoa trái giàu sắc thái bản địa của cộng đồng các dân tộc ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long như trầu cau, hoa sen và trái dừa. Các thứ hoa trái tượng trưng cho sự thanh khiết và thiêng liêng ấy tập trung trên 1 vật cúng hết sức đặc biệt mà đồng bào người Khmer gọi là Slathođôn - bình bông được làm bằng trái dừa. Phần cây bông được tạo thành từ những lá trầu xanh và những bông hoa. Miếng trầu, lễ vật không thể thiếu trong các nghi thức đám cưới, đám giỗ cúng tổ tiên của các dân tộc ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long được cụm thành chiếc lá để trang trí cho Slathođôn. Hoa sen với một ý nghĩa cao khiết và thánh thiện đã trở thành phổ biến trong văn hóa dân gian, chiếm một vị trí chủ đạo để làm nên hình tượng cây bông. Ngoài ra, người ta đôi khi cũng trang hoàng thêm những bông huệ, bông cúc vạn thọ nhằm mục đích phối hợp màu sắc nhưng vẫn thống nhất về ý nghĩa Cúng Dừa. Phần đế cắm hoa được làm bằng trái dừa, loại quả có nước tinh khiết và ngọt lành chẳng những chiếm vị trí quan trọng trong văn hóa ẩm thực của người dân Nam bộ, mà còn hiện diện trong hầu hết các lễ lộc, mang ý nghĩa cầu phước và cầu an. Trên cái đế cắm độc đáo bày hoa lá, nhang đèn, được sắp xếp gọn ghẽ. Bình hoa Slathođôn giản dị, tiết kiệm và khá đẹp mang tính tượng trưng rất cao là lễ vật chủ yếu ở trong lễ cúng. Hai bên đường tràn ngập người bán bình bông làm bằng trái dừa Có đến hàng chục giống dừa to nhỏ và màu sắc khác nhau thì cũng có đến hàng trăm kiểu phối hợp để tạo nên vô số Slathođôn đủ màu, đủ cỡ. Vào dịp lễ hội này, người dân làng An Trạch, nhất là các thanh niên nam nữ thu xếp việc nhà, sắm sửa trang phục để trẩy hội cầu phước và đây cũng là dịp để gặp gỡ bè bạn và những người thân. Theo lệ, người dân phải tự sửa soạn Slathođôn cho mình. Nhưng những du khách phương xa mỗi năm một đông nên nhiều gia đình khéo tay đã trở thành đầu mối cung ứng những vật cúng cho các thiện nam, tín nữ. Tính ra vào mỗi kỳ lễ hội, An Trạch phải nhập đến hàng vạn trái dừa. Những người dự hội thường cầu phước cho cả gia đình mình nên cũng sắm sửa luôn hương hoa, dầu gió và chỉ đỏ để lấy may, lấy phước về nhà. Dân gian quan niệm, đi lễ hội, viếng danh lam thắng cảnh là đem cái phước, cái lành về nhà mình. Người ta dâng cúng các vật phẩm như dầu gió, chỉ đỏ và cả hạt giống lúa, bắp, rồi mang về phòng khi trở trời trái gió có phương dược để khui phong; khi cưới xin có chỉ hồng buộc tay cho con cháu để lấy hên; khi vào vụ thì có hạt giống lành gieo trồng để cầu cho mùa màng sung túc... Nghi thức cúng dừa tại lễ hội Nghi thức cúng dừa làm cho lễ hội Thác Côn mang nét đặc trưng riêng với cảnh tượng ngoạn mục hiếm thấy ở bất kỳ một lễ hội nào. Tuy nhiên, nhìn từ sự tích đến thời điểm tổ chức, từ lễ vật đến nghi thức cúng bái, thì Thác Côn là hình ảnh của một lễ cầu an, làm phước theo truyền thống văn hóa của đồng bào dân tộc Khmer ở vùng Nam bộ trong bối cảnh giao lưu về tập tục, tín ngưỡng của các dân tộc anh em ở trong khu vực. Trong mỗi một kỳ lễ hội, vùng An Trạch đón hàng vạn lượt du khách từ khắp các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long về để dự lễ. Họ đến đây vừa là để trẩy hội vừa là để thành kính dâng hương khấn Phật cầu mong cho cuộc sống được bình an, hạnh phúc. Du khách từ phương xa có đến lễ Cúng Dừa vào buổi tối thì cũng chẳng ngại lỡ độ đường, bởi đêm lễ hội Thác Côn diễn ra là đêm thức trắng. Các hoạt động văn hóa, văn nghệ và vui chơi, giải trí diễn ra náo nhiệt, quán ăn, quán nước phục vụ đến tận sáng. Nam thanh, nữ tú của 3 dân tộc có dịp giao lưu và kết bạn, vùng An Trạch chan hòa không khí nô nức của đêm hội trăng rằm. Lễ Cúng Dừa kéo dài trong 3 ngày, vào buổi chiều ngày thứ 3 lễ hội kết thúc, nhưng dư âm vẫn còn đọng lại ở trên những trái dừa chất đống cao như núi trong sân miếu Thác Côn. Đó cũng chính là lúc dân làng An Trạch thực hiện nghi lễ cuối cùng, một nghi lễ đậm tính chất nông nghiệp, bắt nguồn từ tín ngưỡng cổ xưa mà những du khách ở phương xa ít có dịp được chứng kiến. Nghi lễ do các bà lão và do các thiếu nữ ở trong làng tiến hành. Họ lấy những hạt giống ngũ cốc đã được đặt ở trên bệ thờ suốt những ngày lễ hội, trước những lời cầu mong chứa chan ước vọng của du khách thập phương. Họ lấy 1 ít tro, nhang từ các lư hương đầy ắp, cả những chân nhang cháy dở ở trong ngôi miếu thiêng, đặt vào cái mâm bạc chuyên dùng đựng các vật cúng của đồng bào dân tộc Khmer. Những người phụ nữ ở An Trạch nối nhau đi ra đồng, đem những vật phẩm từ miếu Thác Côn để dâng cúng đất đai, dâng cúng hồn lúa, dâng cúng những vị thần bảo hộ cho ruộng vườn, làng mạc và tỏ lòng biết ơn mưa thuận, gió hòa đã đem lại một cuộc sống sung túc cho nhà nông. Với niềm tin mộc mạc và thuần phác, những người phụ nữ làng An Trạch làm đúng những nghi lễ mà các bậc tổ mẫu thời xưa đã thực hiện. Họ rải những hạt giống được lấy từ miếu Thác Côn lên các cánh đồng, rắc tro, nhang lên bờ ruộng để cầu mong những hạt giống ấy, những tro, nhang ấy trả về một mùa màng bội thu, cho cái chu kỳ bất tận của trời đất, nắng mưa luôn mang tới hạnh phúc, no ấm cho mọi người, cho mọi gia đình. Lễ hội Cúng Dừa thu hút đông đảo người dân tham gia Lễ hội Thác Côn của đồng bào dân tộc Khmer ở tỉnh Sóc Trăng thể hiện được ước vọng về sự an lành, hạnh phúc, cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, người người có được một cuộc sống an lành, giúp người ta nhớ về cội nguồn, tổ tiên, ông bà để sống chan hòa và yêu thương nhau hơn./. Theo BĐT Cần Thơ

Related Figures

Lễ hội cúng phước biển

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 14/2- 15/2 Âm lịch (lehoi.info) - Lễ hội cúng phước biển hay còn được gọi là lễ hội Chrorumchec, diễn ra trong 2 ngày 14 và ngày 15 tháng 2 âm lịch hàng năm, tại ấp Đôn Chếch, xã Vĩnh Châu, Vĩnh Châu, Sóc Trăng. Lễ cúng phước biển của người Khmer Ban đầu lễ hội này chỉ diễn ra tự phát với quy mô nhỏ, hình thành từ ý tưởng của một nhà sư người Khmer có tên là Tà Hu. Lúc đầu, ông dựng một ngôi tháp ở trên giồng cát, gần với chùa Cà Săng, thuộc địa điểm tổ chức lễ hội ngày nay để đồng bào phật tử đến thắp hương và thành tâm chiêm bái. Ông đã chọn ngày rằm tháng 2 âm lịch (tức ngày rằm tháng 11 của người Khmer) để lập đàn làm phước, vì đây chính là thời điểm trời yên, biển lặng, ngư dân nào đi biển về thuyền cũng đầy ắp tôm cá. Dần dần buổi làm phước này được rất nhiều người quan tâm và nhiệt tình hưởng hứng vì nó đáp ứng được tâm nguyện của họ. Từ đó lễ cúng phước biển được hình thành và trở thành một lễ hội truyền thống không chỉ riêng của người Khmer mà còn của cả những người Việt và người Hoa sống ở quanh vùng này. Lễ cúng phước biển được bắt đầu bằng lễ cầu siêu, tưởng nhớ tới công ơn tổ tiên, tạ ơn biển cả và cầu mong những điều tốt lành nhất sẽ đến với dân làng. Sau đó, người ta sẽ rước tượng phật từ chùa Cà Săng đến khu vực hành lễ, nơi có dựng sẵn một cái rạp với chiều dài khoảng 8m, chiều ngang 18m. Đây chính là nơi diễn ra các nghi lễ cầu nguyện tam bảo, cầu quốc thái dân an và chư tăng thuyết pháp. Sau những nghi lễ mang đậm màu sắc tôn giáo là đến những hoạt động hội hè, giải trí. Nhiều những trò chơi thể thao, văn hóa văn nghệ giàu tính truyền thống của dân tộc đã được tổ chức. Đặc biệt, những trò chơi này phần lớn là tái hiện lại các nghề chủ yếu mà cư dân nơi đây dùng để mưu sinh trong cuộc sống hàng ngày của mình. Trên khu đất trống người ta đắp lên những đống cát và cắm nhang cầu nguyện Trên khu đất trống tổ chức lễ hội, người ta sẽ đắp lên những đống cát và cắm nhang lên đó để cầu nguyện. Trước đây, phần mở màn cho lễ hội là hoạt cảnh tái hiện lại cuộc sống vất vả và cực nhọc của những người nông dân trong buổi đầu khai hoang lập nghiệp. Đó là hình ảnh của hàng trăm cô thôn nữ đeo những thùng tưới trên vai mình. Mặc dù thùng nước nè nặng đôi vai nhưng họ vẫn luôn tươi cười và trò chuyện cùng với nhau như cố xua đi bao nỗi mệt nhọc của mình cùng với hàng trăm chàng trai lực lưỡng, ai nấy cũng gồng vác trên vai bộ đồ nghề đẩy xiệp và chuẩn bị bì bõm lặn lội kiếm sống qua ngày. Trong phần hội, phần sôi nổi và cuồng nhiệt nhất có lẽ là cuộc đua bò kéo xe. Những chiếc xe bò chở đầy người, người điều khiển xe bò tay vừa vút roi miệng vừa la hét cố hết sức mình để cho xe của mình thắng cuộc. Trong cuộc đua này, thắng hay thua không phải là chuyện quan trọng, ý nghĩa chính của công việc đua xe bò này là nhằm nhắc nhở cho mọi người nhớ về buổi đầu của cuộc sống nông nghiệp, khi chưa có những máy móc hiện đại, con bò ở trên vùng đất Vĩnh Châu này đã đóng góp một phần không nhỏ công sức mình cho công cuộc khai hoang mở đất và cho con người có được những hạt gạo, hạt nếp dẻo thơm. Nhưng có lẽ độc đáo nhất đó là cuộc đua ghe ngo... trên cạn! Cuộc đua này chỉ diễn ra vào những năm liên tiếp bị hạn hán, bị mất mùa, tất cả các kênh rạch đều khô hạn, nên phải đua ghe ở trên đất cho "động trời" để trời làm mưa cho mùa màng tươi tốt, con người vừa có nước xài lại vừa có nước tưới tiêu. Chiếc ghe ở trong cuộc đua này được tượng trưng bằng một cái vòng bẹ chuối dài khoảng 2 m. Cứ 2 người một ghe. Họ dùng dây gióng ghe lên cổ, 1 người khác thì cầm 1 cây dầm bằng cọng tàu lá chuối, vừa chạy khắp các thửa ruộng theo 1 lộ trình tùy hứng, vừa múa vừa hát vừa nói những lời cầu khẩn theo kiểu bắt vần hết câu nọ đến câu kia. Nội dung của những câu đó là cầu mong ông trời ban cho mưa xuống để có nước gieo sạ, ruộng đồng được xanh tốt. Ngày hội cũng có các chương trình biểu diễn văn nghệ với những điệu múa uyển chuyển, điêu luyện của các cô gái người dân tộc Khmer. Có cả những vũ điệu cổ truyền như múa khỉ, múa gà của những nghệ nhân Khmer. Không khí hội hè hết sức tưng bừngvà náo nhiệt, rộn ràng với lời ca, tiếng hát, tiếng nhạc, tiếng trống của nền nghệ thuật truyền thống đặc sắc của đồng bào dân tộc Khmer ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Các nghệ nhân múa trống Khmer đem đến sự hưng phấn và hào hứng cho khán giả với nhịp trống của điệu múa Chhayam. Chiếc trống đeo ở trước ngực của họ vừa là nhạc cụ đệm, vừa là đạo cụ múa được họ sử dụng rất nhuần nhuyễn và điêu luyện. Họ vừa vỗ trống vừa múa. Khi thì nhún nhảy toàn thân, lúc lại nâng cao, xoay chuyển nhanh nhẹn, trông thật hấp dẫn và rất ngoạn mục. Chỉ diễn ra trong 2 ngày, nhưng hội cúng phước biển ở Vĩnh Châu còn có nhiều hoạt động rất sinh động khác như thi lượm củ hành, thi đua tưới rẫy, đẩy xiệp, tranh tài thể dục thể thao, chiếu phim truyện Khmer... Vài năm gần đây, một số trò chơi đã được thay đổi, không có thi lượm củ hành và thi đẩy xiệp... mà chỉ có kéo co, bóng chuyền, bi sắt, thả diều... Còn phần văn nghệ thì lúc nào cũng có. Người dân tham gia hội Lễ cúng phước biển Vĩnh Châu đã tồn tại từ hàng trăm năm trước cho đến nay. Ý nghĩa của lễ này là cầu quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa và mùa màng bội thu. Và cũng là để tưởng nhớ đến những bậc tiền nhân đã có công khai hoang mở cõi, tạo lập nên vùng đất, tạ ơn trời đất thánh thần đã cho họ có được một cuộc sống ấm no, tạ ơn biển cả đã cho họ nhiều cá tôm, tạ ơn bãi bồi đã cho họ những cánh đồng xanh, hạt vàng nặng trĩu./. lehoi.info tổng hợp

(lehoi.info) - Lễ hội cúng phước biển hay còn được gọi là lễ hội Chrorumchec, diễn ra trong 2 ngày 14 và ngày 15 tháng 2 âm lịch hàng năm, tại ấp Đôn Chếch, xã Vĩnh Châu, Vĩnh Châu, Sóc Trăng.

Lễ cúng phước biển của người Khmer

Ban đầu lễ hội này chỉ diễn ra tự phát với quy mô nhỏ, hình thành từ ý tưởng của một nhà sư người Khmer có tên là Tà Hu. Lúc đầu, ông dựng một ngôi tháp ở trên giồng cát, gần với chùa Cà Săng, thuộc địa điểm tổ chức lễ hội ngày nay để đồng bào phật tử đến thắp hương và thành tâm chiêm bái. Ông đã chọn ngày rằm tháng 2 âm lịch (tức ngày rằm tháng 11 của người Khmer) để lập đàn làm phước, vì đây chính là thời điểm trời yên, biển lặng, ngư dân nào đi biển về thuyền cũng đầy ắp tôm cá. Dần dần buổi làm phước này được rất nhiều người quan tâm và nhiệt tình hưởng hứng vì nó đáp ứng được tâm nguyện của họ. Từ đó lễ cúng phước biển được hình thành và trở thành một lễ hội truyền thống không chỉ riêng của người Khmer mà còn của cả những người Việt và người Hoa sống ở quanh vùng này. Lễ cúng phước biển được bắt đầu bằng lễ cầu siêu, tưởng nhớ tới công ơn tổ tiên, tạ ơn biển cả và cầu mong những điều tốt lành nhất sẽ đến với dân làng. Sau đó, người ta sẽ rước tượng phật từ chùa Cà Săng đến khu vực hành lễ, nơi có dựng sẵn một cái rạp với chiều dài khoảng 8m, chiều ngang 18m. Đây chính là nơi diễn ra các nghi lễ cầu nguyện tam bảo, cầu quốc thái dân an và chư tăng thuyết pháp. Sau những nghi lễ mang đậm màu sắc tôn giáo là đến những hoạt động hội hè, giải trí. Nhiều những trò chơi thể thao, văn hóa văn nghệ giàu tính truyền thống của dân tộc đã được tổ chức. Đặc biệt, những trò chơi này phần lớn là tái hiện lại các nghề chủ yếu mà cư dân nơi đây dùng để mưu sinh trong cuộc sống hàng ngày của mình. Trên khu đất trống người ta đắp lên những đống cát và cắm nhang cầu nguyện Trên khu đất trống tổ chức lễ hội, người ta sẽ đắp lên những đống cát và cắm nhang lên đó để cầu nguyện. Trước đây, phần mở màn cho lễ hội là hoạt cảnh tái hiện lại cuộc sống vất vả và cực nhọc của những người nông dân trong buổi đầu khai hoang lập nghiệp. Đó là hình ảnh của hàng trăm cô thôn nữ đeo những thùng tưới trên vai mình. Mặc dù thùng nước nè nặng đôi vai nhưng họ vẫn luôn tươi cười và trò chuyện cùng với nhau như cố xua đi bao nỗi mệt nhọc của mình cùng với hàng trăm chàng trai lực lưỡng, ai nấy cũng gồng vác trên vai bộ đồ nghề đẩy xiệp và chuẩn bị bì bõm lặn lội kiếm sống qua ngày. Trong phần hội, phần sôi nổi và cuồng nhiệt nhất có lẽ là cuộc đua bò kéo xe. Những chiếc xe bò chở đầy người, người điều khiển xe bò tay vừa vút roi miệng vừa la hét cố hết sức mình để cho xe của mình thắng cuộc. Trong cuộc đua này, thắng hay thua không phải là chuyện quan trọng, ý nghĩa chính của công việc đua xe bò này là nhằm nhắc nhở cho mọi người nhớ về buổi đầu của cuộc sống nông nghiệp, khi chưa có những máy móc hiện đại, con bò ở trên vùng đất Vĩnh Châu này đã đóng góp một phần không nhỏ công sức mình cho công cuộc khai hoang mở đất và cho con người có được những hạt gạo, hạt nếp dẻo thơm. Nhưng có lẽ độc đáo nhất đó là cuộc đua ghe ngo... trên cạn! Cuộc đua này chỉ diễn ra vào những năm liên tiếp bị hạn hán, bị mất mùa, tất cả các kênh rạch đều khô hạn, nên phải đua ghe ở trên đất cho "động trời" để trời làm mưa cho mùa màng tươi tốt, con người vừa có nước xài lại vừa có nước tưới tiêu. Chiếc ghe ở trong cuộc đua này được tượng trưng bằng một cái vòng bẹ chuối dài khoảng 2 m. Cứ 2 người một ghe. Họ dùng dây gióng ghe lên cổ, 1 người khác thì cầm 1 cây dầm bằng cọng tàu lá chuối, vừa chạy khắp các thửa ruộng theo 1 lộ trình tùy hứng, vừa múa vừa hát vừa nói những lời cầu khẩn theo kiểu bắt vần hết câu nọ đến câu kia. Nội dung của những câu đó là cầu mong ông trời ban cho mưa xuống để có nước gieo sạ, ruộng đồng được xanh tốt. Ngày hội cũng có các chương trình biểu diễn văn nghệ với những điệu múa uyển chuyển, điêu luyện của các cô gái người dân tộc Khmer. Có cả những vũ điệu cổ truyền như múa khỉ, múa gà của những nghệ nhân Khmer. Không khí hội hè hết sức tưng bừngvà náo nhiệt, rộn ràng với lời ca, tiếng hát, tiếng nhạc, tiếng trống của nền nghệ thuật truyền thống đặc sắc của đồng bào dân tộc Khmer ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Các nghệ nhân múa trống Khmer đem đến sự hưng phấn và hào hứng cho khán giả với nhịp trống của điệu múa Chhayam. Chiếc trống đeo ở trước ngực của họ vừa là nhạc cụ đệm, vừa là đạo cụ múa được họ sử dụng rất nhuần nhuyễn và điêu luyện. Họ vừa vỗ trống vừa múa. Khi thì nhún nhảy toàn thân, lúc lại nâng cao, xoay chuyển nhanh nhẹn, trông thật hấp dẫn và rất ngoạn mục. Chỉ diễn ra trong 2 ngày, nhưng hội cúng phước biển ở Vĩnh Châu còn có nhiều hoạt động rất sinh động khác như thi lượm củ hành, thi đua tưới rẫy, đẩy xiệp, tranh tài thể dục thể thao, chiếu phim truyện Khmer... Vài năm gần đây, một số trò chơi đã được thay đổi, không có thi lượm củ hành và thi đẩy xiệp... mà chỉ có kéo co, bóng chuyền, bi sắt, thả diều... Còn phần văn nghệ thì lúc nào cũng có. Người dân tham gia hội Lễ cúng phước biển Vĩnh Châu đã tồn tại từ hàng trăm năm trước cho đến nay. Ý nghĩa của lễ này là cầu quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa và mùa màng bội thu. Và cũng là để tưởng nhớ đến những bậc tiền nhân đã có công khai hoang mở cõi, tạo lập nên vùng đất, tạ ơn trời đất thánh thần đã cho họ có được một cuộc sống ấm no, tạ ơn biển cả đã cho họ nhiều cá tôm, tạ ơn bãi bồi đã cho họ những cánh đồng xanh, hạt vàng nặng trĩu./. lehoi.info tổng hợp

Related Figures

Lễ Kathina của đồng bào Khmer

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/9- 15/10 Âm lịch (lehoi.info) - Lễ Kathina hay còn được gọi là Lễ dâng bông, dâng y cà sa của đồng bào dân tộc Khmer Nam bộ được tổ chức hằng năm và tổ chức trong vòng 1 tháng sau ngày mãn hạ (bắt đầu từ ngày 15 tháng 9 đến ngày 15 tháng 10 Âm lịch, trước lễ hội Ok-om-bok). Đồng bào dân tộc Khmer tổ chức lễ Kathina nhằm cầu cho mưa thuận gió hòa, cầu cho phum sóc yên vui và hạnh phúc. Lễ Kathina của đồng bào Khmer tại Sóc Trăng Lễ này thường diễn ra trong vòng 2 ngày. Ngày đầu tiên diễn ra ở tại chùa, các sư sãi sẽ đọc kinh cầu nguyện để phum sóc được an lành, cầu phúc cho mọi người gặp được nhiều may mắn. Ngày thứ hai, đồng bào Phật tử ở trong phum sóc sẽ tổ chức một đám rước quanh phum sóc và xung quanh chánh điện như để minh chứng cho lòng thành thành của họ trước khi làm lễ dâng bông và dâng áo cà sa lên các sư sãi. Vào ban đêm, ở tại các chùa làm lễ luôn có các hoạt động văn nghệ để phục vụ phật tử trong phum sóc đến vui chơi và giải trí. Quang cảnh lễ Kathina của đồng bào Khmer Đồng bào dân tộc Khmer ở tỉnh Sóc Trăng chiếm gần 30% dân số của toàn tỉnh, đây cũng là tỉnh có đồng bào dân tộc Khmer đông nhất khu vực Nam Bộ với trên 90 ngôi chùa. Trong vài năm trở lại đây, lễ dâng bông và dâng y cà sa của đồng bào dân tộc Khmer Sóc Trăng càng được tổ chức chỉn chu và lớn hơn do đời sống kinh tế của bà con ngày càng khấm khá. Đám rước dâng bông trước đây đã lớn này lại thêm phần long trọng do kết hợp thêm các loại hình nghệ thuật truyền thống vào lễ rước như Rô băm và dù kê./. Độc đáo lễ Kathina của đồng bào Khmer Kathina, một lễ truyền thống góp phần tạo nên sự đa dạng trong văn hóa Khmer, là nét chính thể hiện tâm thức của người Khmer đối với văn hóa dân tộc, sự sùng kính từ trái tim họ với chùa chiền.

(lehoi.info) - Lễ Kathina hay còn được gọi là Lễ dâng bông, dâng y cà sa của đồng bào dân tộc Khmer Nam bộ được tổ chức hằng năm và tổ chức trong vòng 1 tháng sau ngày mãn hạ (bắt đầu từ ngày 15 tháng 9 đến ngày 15 tháng 10 Âm lịch, trước lễ hội Ok-om-bok). Đồng bào dân tộc Khmer tổ chức lễ Kathina nhằm cầu cho mưa thuận gió hòa, cầu cho phum sóc yên vui và hạnh phúc.

Lễ Kathina của đồng bào Khmer tại Sóc Trăng

Lễ này thường diễn ra trong vòng 2 ngày. Ngày đầu tiên diễn ra ở tại chùa, các sư sãi sẽ đọc kinh cầu nguyện để phum sóc được an lành, cầu phúc cho mọi người gặp được nhiều may mắn. Ngày thứ hai, đồng bào Phật tử ở trong phum sóc sẽ tổ chức một đám rước quanh phum sóc và xung quanh chánh điện như để minh chứng cho lòng thành thành của họ trước khi làm lễ dâng bông và dâng áo cà sa lên các sư sãi. Vào ban đêm, ở tại các chùa làm lễ luôn có các hoạt động văn nghệ để phục vụ phật tử trong phum sóc đến vui chơi và giải trí. Quang cảnh lễ Kathina của đồng bào Khmer Đồng bào dân tộc Khmer ở tỉnh Sóc Trăng chiếm gần 30% dân số của toàn tỉnh, đây cũng là tỉnh có đồng bào dân tộc Khmer đông nhất khu vực Nam Bộ với trên 90 ngôi chùa. Trong vài năm trở lại đây, lễ dâng bông và dâng y cà sa của đồng bào dân tộc Khmer Sóc Trăng càng được tổ chức chỉn chu và lớn hơn do đời sống kinh tế của bà con ngày càng khấm khá. Đám rước dâng bông trước đây đã lớn này lại thêm phần long trọng do kết hợp thêm các loại hình nghệ thuật truyền thống vào lễ rước như Rô băm và dù kê./. Độc đáo lễ Kathina của đồng bào Khmer Kathina, một lễ truyền thống góp phần tạo nên sự đa dạng trong văn hóa Khmer, là nét chính thể hiện tâm thức của người Khmer đối với văn hóa dân tộc, sự sùng kính từ trái tim họ với chùa chiền.

Related Figures

Hội cướp cù

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 4/1 Âm lịch (lehoi.info) - Hội cướp cù được tổ vào ngày mùng 4 tháng 1 âm lịch hàng năm, tại đình An Mỹ, Cẩm Phổ, Gio Mỹ, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị. Đây là một trò chơi dân gian mang tính truyền thống của cha ông từ khi mới lập làng truyền lại. Hội cướp cù tại Quảng Trị Trước khi đưa cù vào sân để thi đấu, bô lão lớn tuổi nhất của làng phải tiến hành làm lễ tế trời tế đất và tuyên tố khai Hội. 3 quả cù, mỗi quả nặng khoảng 1,5kg, được làm bằng gốc cây chuối và gọt tròn tạo thành cù, tượng trưng cho Thiên - Địa - Nhân đã được các vị cao niên kính cẩn đặt lên bàn thờ. Lễ cúng cù, cầu mưa thuận gió hòa, vụ mùa tươi tốt, con cháu học hành đỗ đạt, người đi làm ăn xa sức khỏe và bình an… Ngay sau phần lễ, tế cầu an là trò cướp cù. Nét độc đáo của lễ hội này là bên nào huy động được càng nhiều người tham gia thì càng dễ thắng cuộc. Người tham gia không kể trai, gái, già, trẻ. Cướp cù - một lễ hội dân gian mang nét đẹp văn hóa đặc sắc ở Quảng Trị Quả cù được một vị trưởng làng tung lên trời và tất cả các thành viên trong làng trở thành các vận động viên tranh cù, chia thành hai phe, tìm cách ném cù vào chiếc rọ tre được treo ở trên cao. Địa điểm chơi Hội cướp cù được chọn là một đồi cát vàng lớn nhất của làng. Mỗi trận đấu thường kéo dài 3 hiệp, một hiệp kéo dài khoảng 30 phút đến 1 giờ. Mỗi đội chơi đại diện cho một xóm, hoặc một thôn ở trong xã. Đội nào đưa được cù vào rọ, đặt trên ngọn một cây tre cao chừng hơn 3m thì đội đó chiến thắng. Ban tổ chức sẽ có trách nhiệm ghi vào sử làng đội thắng cuộc. Từ xưa đến nay, ít khi có đội thắng vì rất hiếm khi cù được ném vào đúng rọ. Theo truyền thống của làng, Hội thi cướp cù dù thua hay thắng các đội đều có được một phần thưởng là những cái bắt tay thật chặt, vui vẻ, rồi chung những chén rượu nồng lấy lộc đầu năm… Hàng trăm trai tráng tranh nhau cướp cù cầu may Hội cướp cù với một ý nghĩa cầu cho mưa thuận gió hòa và cầu cho mùa màng được tốt tươi. Con cháu học hành đỗ đạt, đi làm ăn trong Nam, ngoài Bắc được thuận lợi. Ngư dân ra khơi thì thuận buồm xuôi gió, đánh bắt được nhiều tôm cá. Hội được tổ chức trong hai ngày./.

(lehoi.info) - Hội cướp cù được tổ vào ngày mùng 4 tháng 1 âm lịch hàng năm, tại đình An Mỹ, Cẩm Phổ, Gio Mỹ, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị. Đây là một trò chơi dân gian mang tính truyền thống của cha ông từ khi mới lập làng truyền lại.

Hội cướp cù tại Quảng Trị

Trước khi đưa cù vào sân để thi đấu, bô lão lớn tuổi nhất của làng phải tiến hành làm lễ tế trời tế đất và tuyên tố khai Hội. 3 quả cù, mỗi quả nặng khoảng 1,5kg, được làm bằng gốc cây chuối và gọt tròn tạo thành cù, tượng trưng cho Thiên - Địa - Nhân đã được các vị cao niên kính cẩn đặt lên bàn thờ. Lễ cúng cù, cầu mưa thuận gió hòa, vụ mùa tươi tốt, con cháu học hành đỗ đạt, người đi làm ăn xa sức khỏe và bình an… Ngay sau phần lễ, tế cầu an là trò cướp cù. Nét độc đáo của lễ hội này là bên nào huy động được càng nhiều người tham gia thì càng dễ thắng cuộc. Người tham gia không kể trai, gái, già, trẻ. Cướp cù - một lễ hội dân gian mang nét đẹp văn hóa đặc sắc ở Quảng Trị Quả cù được một vị trưởng làng tung lên trời và tất cả các thành viên trong làng trở thành các vận động viên tranh cù, chia thành hai phe, tìm cách ném cù vào chiếc rọ tre được treo ở trên cao. Địa điểm chơi Hội cướp cù được chọn là một đồi cát vàng lớn nhất của làng. Mỗi trận đấu thường kéo dài 3 hiệp, một hiệp kéo dài khoảng 30 phút đến 1 giờ. Mỗi đội chơi đại diện cho một xóm, hoặc một thôn ở trong xã. Đội nào đưa được cù vào rọ, đặt trên ngọn một cây tre cao chừng hơn 3m thì đội đó chiến thắng. Ban tổ chức sẽ có trách nhiệm ghi vào sử làng đội thắng cuộc. Từ xưa đến nay, ít khi có đội thắng vì rất hiếm khi cù được ném vào đúng rọ. Theo truyền thống của làng, Hội thi cướp cù dù thua hay thắng các đội đều có được một phần thưởng là những cái bắt tay thật chặt, vui vẻ, rồi chung những chén rượu nồng lấy lộc đầu năm… Hàng trăm trai tráng tranh nhau cướp cù cầu may Hội cướp cù với một ý nghĩa cầu cho mưa thuận gió hòa và cầu cho mùa màng được tốt tươi. Con cháu học hành đỗ đạt, đi làm ăn trong Nam, ngoài Bắc được thuận lợi. Ngư dân ra khơi thì thuận buồm xuôi gió, đánh bắt được nhiều tôm cá. Hội được tổ chức trong hai ngày./.

Related Figures

Lễ hội Trường Sơn huyền thoại

Thông tin thời kỳ

Lễ hội là một hoạt động tưởng niệm tới các anh hùng liệt sỹ đang yên nghỉ trên Nghĩa trang quốc gia Trường Sơn và Nghĩa trang quốc gia Đường 9 và các nghĩa trang khác ở tỉnh Quảng Trị. Lễ hội này gắn với hoạt động kỷ niệm ngày Thương binh liệt sỹ 27 tháng 7, thể hiện trách nhiệm và tình cảm của những người còn sống với các anh hùng liệt sỹ đã hi sinh và vì đạo lý uống nước nhớ nguồn của nhân dân ta. Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn Lễ hội này gồm có 2 phần: Phần lễ và Phần hội Phần lễ: Là phần gồm Lễ cáo kết hợp với lễ viếng nghĩa trang được tổ chức trước ngày giỗ chính. Lễ giỗ tại đền thờ nghĩa trang dành cho các đoàn hành hương tổ chức trong cả hai ngày 26 và ngày 27 tháng 7. Lễ giỗ chính do lãnh đạo tỉnh chủ trì tổ chức tại Đài tưởng niệm nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn chiều ngày 27 tháng 7. Cùng ngày, tất cả các nghĩa trang liệt sỹ trong toàn tỉnh đều tiến hành lễ viếng và lễ dâng hương. Đêm Trường Sơn hội tụ tại NTLS quốc gia Trường Sơn Quảng Trị Phần hội: là phần gồm có các hoạt động tổ chức hành hương cắm trại tại nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn. Tuỳ theo điều kiện của từng lễ hội để tổ chức các hoạt động giao lưu nghệ thuật và tôn vinh chiến công của quân và dân ta trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Cuối ngày dâng nến trên tất cả các phần mộ ở 2 nghĩa trang liệt sỹ quốc gia. Lễ hội Trường Sơn huyền thoại sẽ được tổ chức ở 2 nghĩa trang liệt sỹ quốc gia nhưng phần Hội được tập trung ở nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn. Đại giỗ sẽ được tổ chức định kỳ 3 năm một lần. Tuổi trẻ Quảng Trị thắp nến, dâng hương tri ân các anh hùng liệt sĩ

Lễ hội là một hoạt động tưởng niệm tới các anh hùng liệt sỹ đang yên nghỉ trên Nghĩa trang quốc gia Trường Sơn và Nghĩa trang quốc gia Đường 9 và các nghĩa trang khác ở tỉnh Quảng Trị.

Lễ hội này gắn với hoạt động kỷ niệm ngày Thương binh liệt sỹ 27 tháng 7, thể hiện trách nhiệm và tình cảm của những người còn sống với các anh hùng liệt sỹ đã hi sinh và vì đạo lý uống nước nhớ nguồn của nhân dân ta. Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn Lễ hội này gồm có 2 phần: Phần lễ và Phần hội Phần lễ: Là phần gồm Lễ cáo kết hợp với lễ viếng nghĩa trang được tổ chức trước ngày giỗ chính. Lễ giỗ tại đền thờ nghĩa trang dành cho các đoàn hành hương tổ chức trong cả hai ngày 26 và ngày 27 tháng 7. Lễ giỗ chính do lãnh đạo tỉnh chủ trì tổ chức tại Đài tưởng niệm nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn chiều ngày 27 tháng 7. Cùng ngày, tất cả các nghĩa trang liệt sỹ trong toàn tỉnh đều tiến hành lễ viếng và lễ dâng hương. Đêm Trường Sơn hội tụ tại NTLS quốc gia Trường Sơn Quảng Trị Phần hội: là phần gồm có các hoạt động tổ chức hành hương cắm trại tại nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn. Tuỳ theo điều kiện của từng lễ hội để tổ chức các hoạt động giao lưu nghệ thuật và tôn vinh chiến công của quân và dân ta trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Cuối ngày dâng nến trên tất cả các phần mộ ở 2 nghĩa trang liệt sỹ quốc gia. Lễ hội Trường Sơn huyền thoại sẽ được tổ chức ở 2 nghĩa trang liệt sỹ quốc gia nhưng phần Hội được tập trung ở nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn. Đại giỗ sẽ được tổ chức định kỳ 3 năm một lần. Tuổi trẻ Quảng Trị thắp nến, dâng hương tri ân các anh hùng liệt sĩ

Related Figures

Lễ hội đêm Thành Cổ

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/5 Âm lịch Thành cổ Quảng Trị nằm ở trung tâm thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị, cách quốc lộ 1A 2km về phía Bắc, cách dòng sông Thạch Hãn 500m về phía đông. Thành Cổ Quảng Trị ngày nay Lễ hội đêm Thành Cổ thường được tổ chức vào ngày và đêm mùng 1 tháng 5 tại thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị. Và lễ được tổ chức định kỳ 5 năm một lần vào dịp năm chẵn, năm tròn ngày giải phóng tỉnh Quảng Trị. Lễ hội này gắn với khu di tích Thành Cổ Quảng Trị nhằm tưởng niệm những người con nước Việt đã ngã xuống trên mảnh đất Thành Cổ. Tôn vinh chiến công hiển hách của quân và dân cả nước trong cuộc chiến 81 ngày đêm chống phản kích và tái chiếm của địch. Đồng thời giới thiệu cho du khách thập phương những nét văn hoá tiêu biểu của Thành Cổ, một trung tâm chính trị văn hoá, thời Nguyễn ở tại tỉnh Quảng Trị… Thành Cổ Quảng Trị Lễ hội gồm có 2 phần: Phần lễ và phần hội Phần lễ: -Lễ tưởng niệm ở tại tượng đài Thành Cổ, kết hợp với kỷ niệm ngày giải phóng thị xã Quảng Trị. -Thả hoa đèn ở trên sông Thạch Hãn. -Lễ dâng hương tại các hương án. -Lễ cầu siêu chung cho các vong linh đã khuất. Phần hội: Các hoạt động giao lưu, toạ đàm dành cho các cựu chiến binh Thành Cổ. Các hoạt động văn hoá thể thao, du lịch tôn vinh và quảng bá văn hoá truyền thống. Lễ hội đêm Thành Cổ Quảng Trị Cứ 5 năm 1 lần, tại thị xã Quảng Trị, Lễ hội đêm Thành Cổ lại được tổ chức. Lễ hội này như là một điểm nhấn của du lịch văn hóa Quảng Trị. Rất nhiều khách du lịch đã tìm về đây để vừa khám phá kiến trúc Thành Cổ vừa để thắp nén nhang thơm tri ân đến những người đã ngã xuống.

Thành Cổ Quảng Trị ngày nay

Lễ hội đêm Thành Cổ thường được tổ chức vào ngày và đêm mùng 1 tháng 5 tại thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị. Và lễ được tổ chức định kỳ 5 năm một lần vào dịp năm chẵn, năm tròn ngày giải phóng tỉnh Quảng Trị. Lễ hội này gắn với khu di tích Thành Cổ Quảng Trị nhằm tưởng niệm những người con nước Việt đã ngã xuống trên mảnh đất Thành Cổ. Tôn vinh chiến công hiển hách của quân và dân cả nước trong cuộc chiến 81 ngày đêm chống phản kích và tái chiếm của địch. Đồng thời giới thiệu cho du khách thập phương những nét văn hoá tiêu biểu của Thành Cổ, một trung tâm chính trị văn hoá, thời Nguyễn ở tại tỉnh Quảng Trị…

Thành Cổ Quảng Trị

Lễ hội gồm có 2 phần: Phần lễ và phần hội Phần lễ: -Lễ tưởng niệm ở tại tượng đài Thành Cổ, kết hợp với kỷ niệm ngày giải phóng thị xã Quảng Trị. -Thả hoa đèn ở trên sông Thạch Hãn. -Lễ dâng hương tại các hương án. -Lễ cầu siêu chung cho các vong linh đã khuất. Phần hội: Các hoạt động giao lưu, toạ đàm dành cho các cựu chiến binh Thành Cổ. Các hoạt động văn hoá thể thao, du lịch tôn vinh và quảng bá văn hoá truyền thống. Lễ hội đêm Thành Cổ Quảng Trị Cứ 5 năm 1 lần, tại thị xã Quảng Trị, Lễ hội đêm Thành Cổ lại được tổ chức. Lễ hội này như là một điểm nhấn của du lịch văn hóa Quảng Trị. Rất nhiều khách du lịch đã tìm về đây để vừa khám phá kiến trúc Thành Cổ vừa để thắp nén nhang thơm tri ân đến những người đã ngã xuống.

Related Figures

Lễ hội Yên Tử

Thông tin thời kỳ

Lễ hội Yên Tử được tổ chức hàng năm từ ngày mùng 10 tháng Giêng âm lịch và lễ hội kéo dài trong 3 tháng mùa xuân ở tại vùng núi Yên Tử thuộc xã Thượng Yên Công, Thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Yên Tử là một trung tâm Phật giáo của nước Đại Việt thuở trước, là nơi phát tích của Thiền Viện Trúc Lâm. Du khách đến với lễ hội chùa Yên Tử để tách mình khỏi thế giới trần tục, thực hiện cuộc hành hương tôn giáo giữa thiên nhiên hùng vĩ. Lễ hội Yên Tử ở Quảng Ninh Sau phần nghi lễ long trọng được chính quyền địa phương nơi đây tổ chức ở dưới chân núi Yên Tử là cuộc hành hương của hàng vạn người đến với đỉnh cao nhất của Yên Tử-chùa Đông. Đường lên đỉnh Yên Tử uốn lượn, gập ghềnh, luồn dưới những bóng cây đại thụ, xuyên qua những vạt rừng thông, rừng trúc... Với thời gian trung bình khoảng 3 giờ leo núi vất vả mới có thể đến được với chùa Đông, đường lên đỉnh Yên Tử là 1 cuộc thử thách đức tinh, kiểm chứng lòng thành với Phật. Đến được với chùa Đồng, những tín đồ của Phật có cảm giác mãn nguyện như đến được cội nguồn của cõi Phật. Dường như nơi đây là một chốn đào viên để Tiên, Phật đánh cờ, luận đàm kinh kệ và truyền cho các bậc hiền triết của trần gian. Rải đều trên các cung bậc của hành trình Hội xuân Yên Tử là những cụm kiến trúc chùa, bia, am và tháp...Lúc náu mình trong rừng cổ nguyên sinh, khi thì phô bày giữa không gian thoáng đãng, nhiều lúc ẩn hiện ở trong mây, huyền ảo giống như trong chuyện cổ tích, vừa quyến rũ du khách, lại vừa khích lệ tinh thần chinh phục. Đến được đỉnh Yên Tử du khách sẽ có cảm giác như lên tới cổng trời cưỡi mây nhìn xuống hạ giới. Phóng tầm mắt nhìn ra phía đông là Vịnh Hạ Long mênh mông với hàng ngàn đảo đá nhấp nhô như chuỗi ngọc. Nhìn về phía nam là thành phố Hải Phòng với dòng sông Đá Bạch, Bạch Đằng lững lờ như 1 dải sa tanh lấp lánh. Trông về phía Tây là đồng bằng trù phú Hải Dương, Bắc Ninh, còn về phía Bắc điệp trùng núi rừng...Tất cả gợi lên niềm phấn khích tự hào, lâng lâng trong niềm vui chiến thắng và chinh phục. Đặc sắc lễ hội Yên Tử tại Quảng Ninh Vào dịp lễ hội, trong dòng người thập phương đổ về với Yên Tử, có rất nhiều người hành hương tìm đến cõi Phật để thể hiện đức tin, cầu lộc và cầu tài. Có những người đến với Yên Tử để ngưỡng cảm ý chí thông tuệ và đức độ thanh cao của các bậc cha ông. Có người thì về với Yên Tử để du xuân, vãn cảnh và thưởng ngoạn bầu không khí thanh bình. Nam nữ thanh niên đi Yên Tử để khám phá và chinh phục. Nhiều Việt kiều về nước tìm đến Yên Tử đắm mình trong những giá trị nhân văn, những tinh hoa của dân tộc. Rất nhiều du khách nước ngoài đã biết đến Yên Tử như 1 điểm hấp dẫn du lịch tôn giáo, lịch sự, văn hóa và sinh thái. Đông đảo người dân và du khách tới tham dự lễ hội Yên Tử Bất kỳ ai đến với lễ hội Yên Tử, nhất là đến được với chùa Đồng đều cảm thấy choáng ngợp bởi sự kỳ vĩ của thiên nhiên. Những giá trị tinh thần, văn hoá của tổ tiên; sự dâng hiến tinh khiết, trong hoa lá...Đâu phải vô tình mà Yên Tử trở thành nơi hành đạo. Theo Du lịch Việt Nam

Lễ hội Yên Tử được tổ chức hàng năm từ ngày mùng 10 tháng Giêng âm lịch và lễ hội kéo dài trong 3 tháng mùa xuân ở tại vùng núi Yên Tử thuộc xã Thượng Yên Công, Thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Yên Tử là một trung tâm Phật giáo của nước Đại Việt thuở trước, là nơi phát tích của Thiền Viện Trúc Lâm. Du khách đến với lễ hội chùa Yên Tử để tách mình khỏi thế giới trần tục, thực hiện cuộc hành hương tôn giáo giữa thiên nhiên hùng vĩ.

Lễ hội Yên Tử ở Quảng Ninh

Sau phần nghi lễ long trọng được chính quyền địa phương nơi đây tổ chức ở dưới chân núi Yên Tử là cuộc hành hương của hàng vạn người đến với đỉnh cao nhất của Yên Tử-chùa Đông. Đường lên đỉnh Yên Tử uốn lượn, gập ghềnh, luồn dưới những bóng cây đại thụ, xuyên qua những vạt rừng thông, rừng trúc... Với thời gian trung bình khoảng 3 giờ leo núi vất vả mới có thể đến được với chùa Đông, đường lên đỉnh Yên Tử là 1 cuộc thử thách đức tinh, kiểm chứng lòng thành với Phật. Đến được với chùa Đồng, những tín đồ của Phật có cảm giác mãn nguyện như đến được cội nguồn của cõi Phật. Dường như nơi đây là một chốn đào viên để Tiên, Phật đánh cờ, luận đàm kinh kệ và truyền cho các bậc hiền triết của trần gian. Rải đều trên các cung bậc của hành trình Hội xuân Yên Tử là những cụm kiến trúc chùa, bia, am và tháp...Lúc náu mình trong rừng cổ nguyên sinh, khi thì phô bày giữa không gian thoáng đãng, nhiều lúc ẩn hiện ở trong mây, huyền ảo giống như trong chuyện cổ tích, vừa quyến rũ du khách, lại vừa khích lệ tinh thần chinh phục. Đến được đỉnh Yên Tử du khách sẽ có cảm giác như lên tới cổng trời cưỡi mây nhìn xuống hạ giới. Phóng tầm mắt nhìn ra phía đông là Vịnh Hạ Long mênh mông với hàng ngàn đảo đá nhấp nhô như chuỗi ngọc. Nhìn về phía nam là thành phố Hải Phòng với dòng sông Đá Bạch, Bạch Đằng lững lờ như 1 dải sa tanh lấp lánh. Trông về phía Tây là đồng bằng trù phú Hải Dương, Bắc Ninh, còn về phía Bắc điệp trùng núi rừng...Tất cả gợi lên niềm phấn khích tự hào, lâng lâng trong niềm vui chiến thắng và chinh phục. Đặc sắc lễ hội Yên Tử tại Quảng Ninh Vào dịp lễ hội, trong dòng người thập phương đổ về với Yên Tử, có rất nhiều người hành hương tìm đến cõi Phật để thể hiện đức tin, cầu lộc và cầu tài. Có những người đến với Yên Tử để ngưỡng cảm ý chí thông tuệ và đức độ thanh cao của các bậc cha ông. Có người thì về với Yên Tử để du xuân, vãn cảnh và thưởng ngoạn bầu không khí thanh bình. Nam nữ thanh niên đi Yên Tử để khám phá và chinh phục. Nhiều Việt kiều về nước tìm đến Yên Tử đắm mình trong những giá trị nhân văn, những tinh hoa của dân tộc. Rất nhiều du khách nước ngoài đã biết đến Yên Tử như 1 điểm hấp dẫn du lịch tôn giáo, lịch sự, văn hóa và sinh thái. Đông đảo người dân và du khách tới tham dự lễ hội Yên Tử Bất kỳ ai đến với lễ hội Yên Tử, nhất là đến được với chùa Đồng đều cảm thấy choáng ngợp bởi sự kỳ vĩ của thiên nhiên. Những giá trị tinh thần, văn hoá của tổ tiên; sự dâng hiến tinh khiết, trong hoa lá...Đâu phải vô tình mà Yên Tử trở thành nơi hành đạo. Theo Du lịch Việt Nam

Đặc sắc lễ hội Yên Tử tại Quảng Ninh

Related Figures

Lễ hội cầu ngư truyền thống Vĩnh Thạch

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/5 Âm lịch (lehoi.info) - Lễ hội cầu ngư truyền thống Vĩnh Thạch diễn ra vào ngày Rằm tháng 5 hàng năm, tại thôn Vịnh Mốc, xã Vĩnh Thạch, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, lễ hội diễn ra nhằm cầu cho quốc thái - dân an, ngư dân ra khơi thuận buồm - xuôi gió đánh bắt được nhiều cá tôm… Quang cảnh Vịnh Mốc trong ngày lễ hội Xã Vĩnh Thạch gồm có 10 thôn, nhưng chỉ có thôn Vịnh Mốc là thôn có người dân đi biển đánh cá. Cả thôn Vịnh Mốc có 120 thuyền với tổng công suất trên 1.200CV, đây là phương tiện sản xuất chủ yếu giúp cho trên 350 hộ dân của thôn Vịnh Mốc nâng cao thu nhập hàng năm. Ngoài phần lễ, thì phần hội cũng được xã tổ chức với nhiều nội dung như: hội thi đan lưới, hò chèo cạn cầu mùa … Hội thi đan lưới trong lễ hội cầu ngư truyền thống Vĩnh Thạch Đặc biệt, hội thi đua thuyền truyền thống, nhằm tái dựng lại cuộc sống thường ngày của ngư dân làng chài ở thôn Vịnh Mốc, phát huy tinh thần anh dũng, kiên cường của những lão ngư Vịnh Mốc trong những năm chiến đấu chống Mỹ cứu nước đã không quản ngại hy sinh, gian khổ ngày đêm tiếp tế cho các cán bộ, chiến sĩ đảo Cồn Cỏ, các đội đua gồm những trai tráng ở trong thôn Vịnh Mốc đã cống hiến hết mình đưa thuyền về đích trong sự cổ vũ của đông đảo người đến xem. Hội thi đua thuyền truyền thống trong lễ hội Lễ hội cầu ngư truyền thống được xã Vĩnh Thạch tổ chức hàng năm có ý nghĩa rất quan trọng nhằm động viên các ngư dân của xã đoàn kết, ngày ngày ra khơi bám biển góp phần nâng cao đời sống và giữ vững chủ quyền an ninh biên giới tuyến biển của Tổ quốc./.

(lehoi.info) - Lễ hội cầu ngư truyền thống Vĩnh Thạch diễn ra vào ngày Rằm tháng 5 hàng năm, tại thôn Vịnh Mốc, xã Vĩnh Thạch, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, lễ hội diễn ra nhằm cầu cho quốc thái - dân an, ngư dân ra khơi thuận buồm - xuôi gió đánh bắt được nhiều cá tôm…

Quang cảnh Vịnh Mốc trong ngày lễ hội

Xã Vĩnh Thạch gồm có 10 thôn, nhưng chỉ có thôn Vịnh Mốc là thôn có người dân đi biển đánh cá. Cả thôn Vịnh Mốc có 120 thuyền với tổng công suất trên 1.200CV, đây là phương tiện sản xuất chủ yếu giúp cho trên 350 hộ dân của thôn Vịnh Mốc nâng cao thu nhập hàng năm. Ngoài phần lễ, thì phần hội cũng được xã tổ chức với nhiều nội dung như: hội thi đan lưới, hò chèo cạn cầu mùa … Hội thi đan lưới trong lễ hội cầu ngư truyền thống Vĩnh Thạch Đặc biệt, hội thi đua thuyền truyền thống, nhằm tái dựng lại cuộc sống thường ngày của ngư dân làng chài ở thôn Vịnh Mốc, phát huy tinh thần anh dũng, kiên cường của những lão ngư Vịnh Mốc trong những năm chiến đấu chống Mỹ cứu nước đã không quản ngại hy sinh, gian khổ ngày đêm tiếp tế cho các cán bộ, chiến sĩ đảo Cồn Cỏ, các đội đua gồm những trai tráng ở trong thôn Vịnh Mốc đã cống hiến hết mình đưa thuyền về đích trong sự cổ vũ của đông đảo người đến xem. Hội thi đua thuyền truyền thống trong lễ hội Lễ hội cầu ngư truyền thống được xã Vĩnh Thạch tổ chức hàng năm có ý nghĩa rất quan trọng nhằm động viên các ngư dân của xã đoàn kết, ngày ngày ra khơi bám biển góp phần nâng cao đời sống và giữ vững chủ quyền an ninh biên giới tuyến biển của Tổ quốc./.

Related Figures

Lễ hội Ariêuping của dân tộc Pa Cô

Thông tin thời kỳ

(lehoi.info) - Lễ hội Ariêuping (hay lễ nhà mồ) truyền thống của đồng bào dân tộc Pa Cô, được diễn ra ở tại huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị. Không ấn định thời gian lễ hội cụ thể, có khi 5 năm, có khi 10 năm hay lâu hơn bởi nó còn phụ thuộc vào điều kiện và thời gian thuận tiện người dân Pa Cô mới tổ chức lễ Ariêuping một lần. Lễ đâm trâu cúng trời đất trong lễ hội Đây là một lễ hội có từ ngàn đời nay và quan trọng bậc nhất mang đậm nét văn hóa truyền thống của người dân tộc Pa Cô. Lễ hội Ariêuping mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, nhằm tỏ lòng tôn kính và tưởng nhớ đến những người đã khuất của những người đồng bào dân tộc Pa Cô. Nội dung của lễ hội Ariêuping là tổ chức cất bốc những ngôi mộ người thân trong gia đình của tất cả các dòng họ ở trong làng đã chết trước đó được an táng rải rác ở các nơi và cải táng quy tập về 1 khu vực để tiện thăm viếng, chăm sóc và tiện hương khói. Thời gian diễn ra lễ là trong vòng 3 ngày với các nghi lễ như: tổ chức cất bốc và an táng hài cốt, lễ cúng ma, hội đâm trâu, múa cồng chiêng... Khi cây nêu mọc lên, cũng là lúc không khí của lễ hội thực sự rộn ràng. Cây nêu chính là nơi ở của các vị thần cháu con mời về dự lễ. Đứng trước cây nêu, 1 người có uy tín nhất ở trong bản sẽ đọc lời thề: "Hỡi anh em các dân tộc 3 miền, chúng ta hãy nguyện đời đời đoàn kết đùm bọc lẫn nhau như anh em một nhà". Kết thúc lời thề, tất cả các loại nhạc như tù và, cồng, chiêng, nổi lên và nhân dân trong vùng nhảy múa suốt đêm để hầu các vị thần về chung vui và phù hộ cho cháu con. Lễ vật để cúng thần linh thì rất nhiều nhưng trong đó có một số lễ vật không thể thiếu đó là 1 con trâu, trầm, trà, hương, rượu và 1 số thực phẩm sống. Quan niệm của người dân tộc Pa Cô, khi cúng các vị thần thường cúng những thực phẩm sống để các vị thần linh, những người đã khuất thích gì thì chế biến nấy. Lễ hội Ariêuping của dân tộc Pa Cô tại Quảng Trị Cùng với việc dựng nêu, bà con dân bản còn tiến hành dựng nhà mồ theo lối kiến trúc dân gian gồm có 4 cột chịu lực, mái trước cao, mái sau thấp, liên kết chân và đầu cột bằng các tấm ván có trang trí họa tiết hình mặt người như trang trí ở trên đầu cột. Hình thức lợp mái nhà mồ rất độc đáo đó là bằng các ống tre chẻ đôi sắp úp ngữa, nắng không thể vào và mưa cũng không thể dột. Việc đặt nhà mồ cũng phải theo thứ tự, nhà mồ của người chủ làng được đặt ở ví trí đầu tiên, kế theo sẽ là các dòng họ của làng. Địa điểm đặt nhà mồ là đặt ở gần các con suối có nước chảy quanh năm. Theo quan niệm của người dân tộc Pa Cô, việc đặt nhà mồ ở đó để những người đã khuất luôn được mát mẽ và thuận lợi trong việc làm ăn ở thế giới bên kia. Nhà mồ là nơi đặt các hài cốt tập thể, không phân biệt gái, trai hay ai chết sau đặt trước, ai chết trước đặt sau (tức là đặt ở bên trên), hướng đầu quay về phía núi cao thoáng và rộng. Phía trước của nhà mồ được trang trí bằng các hình người nam, nữ khỏa thân được đẽo bằng cây rừng tượng trưng cho hạnh phúc và sự sinh sôi nảy nở như vòng đời bất tận. Trước khi cất bốc hài cốt về nhà mồ ba ngày, các gia đình và các dòng họ làm lễ cúng Giàng và cúng người đã khuất cáo mời về dự lễ Ariêuping. Khi công tác chuẩn bị lễ hội đã xong, đại diện của các họ tiến hành cốt bốc người quá cố tại rừng ma về. Theo luật tục, khi bốc các hài cốt còn mới, các gia đình phải đặt câu hỏi "bốc hết chưa", người giúp cất bốc chỉ cần lấy một vài bộ phận nào đó tượng trưng mà trả lời là "hết rồi" thì xem như hài cốt của người quá cố đã được lấy hết và đưa vào tiểu sành mang về như những người khác. Còn đối với những người không tìm thấy xác thì được cất bốc với hình thức cầu hồn (A Liêm), tức là bỏ 1 ít thức ăn vào 1 mảnh vải rồi khấn tên tuổi của người quá cố, sau đó bất kể loài côn trùng nào như kiến, châu chấu... vào tấm vải thì gói lại buộc thỉnh về xem đó là thể xác của người mất đã về. Trong quá trình di chuyển hài cốt từ rừng ma về, không được đi ngang qua làng mà phải đi ở ngoài rìa làng về nơi đặt nhà mồ. Khi các nghi lễ phục vụ cất bốc hài cốt diễn ra thì cũng là lúc các loại nhạc như trống, khèn, trống, thanh la, chiêng, a ben, tù và... nổi lên. Tưng bừng lễ hội Ariêuping của đồng bào Pa Cô Tục lệ này được gọi là "đánh trống- chiêng nuôi người đã khuất". Những người đến dự lễ nhảy múa quanh rạp quàn hài cốt cho đến khi lễ hội kết thúc với bài hát "Anh em dân tộc ba miền. Cùng nhau xiết chặt nối liền vòng tay. Truyền thống tốt đẹp xưa nay. Một lòng đoàn kết nồng say chan hòa./. lehoi.info tổng hợp.

(lehoi.info) - Lễ hội Ariêuping (hay lễ nhà mồ) truyền thống của đồng bào dân tộc Pa Cô, được diễn ra ở tại huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị. Không ấn định thời gian lễ hội cụ thể, có khi 5 năm, có khi 10 năm hay lâu hơn bởi nó còn phụ thuộc vào điều kiện và thời gian thuận tiện người dân Pa Cô mới tổ chức lễ Ariêuping một lần.

Lễ đâm trâu cúng trời đất trong lễ hội

Đây là một lễ hội có từ ngàn đời nay và quan trọng bậc nhất mang đậm nét văn hóa truyền thống của người dân tộc Pa Cô. Lễ hội Ariêuping mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, nhằm tỏ lòng tôn kính và tưởng nhớ đến những người đã khuất của những người đồng bào dân tộc Pa Cô. Nội dung của lễ hội Ariêuping là tổ chức cất bốc những ngôi mộ người thân trong gia đình của tất cả các dòng họ ở trong làng đã chết trước đó được an táng rải rác ở các nơi và cải táng quy tập về 1 khu vực để tiện thăm viếng, chăm sóc và tiện hương khói. Thời gian diễn ra lễ là trong vòng 3 ngày với các nghi lễ như: tổ chức cất bốc và an táng hài cốt, lễ cúng ma, hội đâm trâu, múa cồng chiêng... Khi cây nêu mọc lên, cũng là lúc không khí của lễ hội thực sự rộn ràng. Cây nêu chính là nơi ở của các vị thần cháu con mời về dự lễ. Đứng trước cây nêu, 1 người có uy tín nhất ở trong bản sẽ đọc lời thề: "Hỡi anh em các dân tộc 3 miền, chúng ta hãy nguyện đời đời đoàn kết đùm bọc lẫn nhau như anh em một nhà". Kết thúc lời thề, tất cả các loại nhạc như tù và, cồng, chiêng, nổi lên và nhân dân trong vùng nhảy múa suốt đêm để hầu các vị thần về chung vui và phù hộ cho cháu con. Lễ vật để cúng thần linh thì rất nhiều nhưng trong đó có một số lễ vật không thể thiếu đó là 1 con trâu, trầm, trà, hương, rượu và 1 số thực phẩm sống. Quan niệm của người dân tộc Pa Cô, khi cúng các vị thần thường cúng những thực phẩm sống để các vị thần linh, những người đã khuất thích gì thì chế biến nấy. Lễ hội Ariêuping của dân tộc Pa Cô tại Quảng Trị Cùng với việc dựng nêu, bà con dân bản còn tiến hành dựng nhà mồ theo lối kiến trúc dân gian gồm có 4 cột chịu lực, mái trước cao, mái sau thấp, liên kết chân và đầu cột bằng các tấm ván có trang trí họa tiết hình mặt người như trang trí ở trên đầu cột. Hình thức lợp mái nhà mồ rất độc đáo đó là bằng các ống tre chẻ đôi sắp úp ngữa, nắng không thể vào và mưa cũng không thể dột. Việc đặt nhà mồ cũng phải theo thứ tự, nhà mồ của người chủ làng được đặt ở ví trí đầu tiên, kế theo sẽ là các dòng họ của làng. Địa điểm đặt nhà mồ là đặt ở gần các con suối có nước chảy quanh năm. Theo quan niệm của người dân tộc Pa Cô, việc đặt nhà mồ ở đó để những người đã khuất luôn được mát mẽ và thuận lợi trong việc làm ăn ở thế giới bên kia. Nhà mồ là nơi đặt các hài cốt tập thể, không phân biệt gái, trai hay ai chết sau đặt trước, ai chết trước đặt sau (tức là đặt ở bên trên), hướng đầu quay về phía núi cao thoáng và rộng. Phía trước của nhà mồ được trang trí bằng các hình người nam, nữ khỏa thân được đẽo bằng cây rừng tượng trưng cho hạnh phúc và sự sinh sôi nảy nở như vòng đời bất tận. Trước khi cất bốc hài cốt về nhà mồ ba ngày, các gia đình và các dòng họ làm lễ cúng Giàng và cúng người đã khuất cáo mời về dự lễ Ariêuping. Khi công tác chuẩn bị lễ hội đã xong, đại diện của các họ tiến hành cốt bốc người quá cố tại rừng ma về. Theo luật tục, khi bốc các hài cốt còn mới, các gia đình phải đặt câu hỏi "bốc hết chưa", người giúp cất bốc chỉ cần lấy một vài bộ phận nào đó tượng trưng mà trả lời là "hết rồi" thì xem như hài cốt của người quá cố đã được lấy hết và đưa vào tiểu sành mang về như những người khác. Còn đối với những người không tìm thấy xác thì được cất bốc với hình thức cầu hồn (A Liêm), tức là bỏ 1 ít thức ăn vào 1 mảnh vải rồi khấn tên tuổi của người quá cố, sau đó bất kể loài côn trùng nào như kiến, châu chấu... vào tấm vải thì gói lại buộc thỉnh về xem đó là thể xác của người mất đã về. Trong quá trình di chuyển hài cốt từ rừng ma về, không được đi ngang qua làng mà phải đi ở ngoài rìa làng về nơi đặt nhà mồ. Khi các nghi lễ phục vụ cất bốc hài cốt diễn ra thì cũng là lúc các loại nhạc như trống, khèn, trống, thanh la, chiêng, a ben, tù và... nổi lên. Tưng bừng lễ hội Ariêuping của đồng bào Pa Cô Tục lệ này được gọi là "đánh trống- chiêng nuôi người đã khuất". Những người đến dự lễ nhảy múa quanh rạp quàn hài cốt cho đến khi lễ hội kết thúc với bài hát "Anh em dân tộc ba miền. Cùng nhau xiết chặt nối liền vòng tay. Truyền thống tốt đẹp xưa nay. Một lòng đoàn kết nồng say chan hòa./. lehoi.info tổng hợp.

Tưng bừng lễ hội Ariêuping của đồng bào Pa Cô

Related Figures

Lễ hội Thập Cửu Tiên Công

Thông tin thời kỳ

Lễ hội Thập Cửu Tiên Công diễn ra ở tại đền Thập Cửu Tiên Công, thuộc xã Cẩm La, đảo Hà Nam, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Trị, vào ngày mùng 7 tháng giêng âm lịch hàng năm. Đền Thập Cửu Tiên Công (hay còn gọi là miếu Tiên Công) thờ 19 vị Tiên Công - những người đã có công đầu tiên quai đê lấn biển lập nên khu đảo Hà Nam trù phú, làng xóm đông vui như ngày nay. Lễ hội được tổ chức để tưởng nhớ tới công lao của các vị Tiên Công. Quang cảnh lễ hội Thập Cửu Tiên Công Truyền thuyết kể lại rằng ngày mở hội chính là ngày mà các vị Tiên Công tìm ra mạch nước ngọt trên đảo cách đây khoảng trên 500 năm. Tại đền Tiên Công các vị chức sắc làm lễ cáo yết Tiên Công và bình chọn bốn cụ thượng thọ khoẻ mạnh, gia đình hoà thuận và con cái chăm ngoan để làm lễ động thổ. Ngày mùng 7, các cụ thượng thọ từ 70 tuổi trở lên cùng với con cháu ra đền để lễ Tiên Công. Con cháu đội những mâm lễ vật đi trước. Mâm lễ gồm có trầu cau, xôi, gà, rượu hoặc thủ lợn, đặc biệt là các hương án trên có con long mã được kết bằng hoa quả. Các cụ thượng thọ đi sau. Các cụ nào già yếu thì được con cháu khiêng bằng võng, bằng che bằng lọng. Mỗi gia đình, mỗi dòng họ tạo thành một đám rước. Các đám rước nhập lại khi đến gần đền tạo nên một không khí tưng bừng náo nhiệt nhưng rất trang trọng và thiêng liêng. Các cụ vào đền dâng lễ vật và tế Tiên Công, đến giữa trưa thì phần lễ kết thúc. Sau lễ tế là đến lễ động thổ: 4 cụ đã được chọn bẻ 4 hòn đất đắp đê tượng trưng trước hương án Tiên Công và diễn trò đánh vật, nhằm biểu thị tinh thần đấu tranh với thiên nhiên và tiếp tục sự nghiệp của các Tiên Công quai đê lấn biển, bảo vệ xóm làng. Lễ hội Thập Cửu Tiên Công là dịp người dân trong làng họp gặp gỡ giao lưu Sau lễ động thổ, dân làng và dân các nơi khác đến bắt đầu vào cuộc hội náo nhiệt với những trò chơi như chọi gà, chọi trâu, chơi đu, đánh cờ người, trai gái còn hát đám, hát chèo đường suốt cả ngày hôm đó. Theo quangninh.gov.vn

Lễ hội Thập Cửu Tiên Công diễn ra ở tại đền Thập Cửu Tiên Công, thuộc xã Cẩm La, đảo Hà Nam, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Trị, vào ngày mùng 7 tháng giêng âm lịch hàng năm. Đền Thập Cửu Tiên Công (hay còn gọi là miếu Tiên Công) thờ 19 vị Tiên Công - những người đã có công đầu tiên quai đê lấn biển lập nên khu đảo Hà Nam trù phú, làng xóm đông vui như ngày nay. Lễ hội được tổ chức để tưởng nhớ tới công lao của các vị Tiên Công.

Quang cảnh lễ hội Thập Cửu Tiên Công Truyền thuyết kể lại rằng ngày mở hội chính là ngày mà các vị Tiên Công tìm ra mạch nước ngọt trên đảo cách đây khoảng trên 500 năm. Tại đền Tiên Công các vị chức sắc làm lễ cáo yết Tiên Công và bình chọn bốn cụ thượng thọ khoẻ mạnh, gia đình hoà thuận và con cái chăm ngoan để làm lễ động thổ. Ngày mùng 7, các cụ thượng thọ từ 70 tuổi trở lên cùng với con cháu ra đền để lễ Tiên Công. Con cháu đội những mâm lễ vật đi trước. Mâm lễ gồm có trầu cau, xôi, gà, rượu hoặc thủ lợn, đặc biệt là các hương án trên có con long mã được kết bằng hoa quả. Các cụ thượng thọ đi sau. Các cụ nào già yếu thì được con cháu khiêng bằng võng, bằng che bằng lọng. Mỗi gia đình, mỗi dòng họ tạo thành một đám rước. Các đám rước nhập lại khi đến gần đền tạo nên một không khí tưng bừng náo nhiệt nhưng rất trang trọng và thiêng liêng. Các cụ vào đền dâng lễ vật và tế Tiên Công, đến giữa trưa thì phần lễ kết thúc. Sau lễ tế là đến lễ động thổ: 4 cụ đã được chọn bẻ 4 hòn đất đắp đê tượng trưng trước hương án Tiên Công và diễn trò đánh vật, nhằm biểu thị tinh thần đấu tranh với thiên nhiên và tiếp tục sự nghiệp của các Tiên Công quai đê lấn biển, bảo vệ xóm làng. Lễ hội Thập Cửu Tiên Công là dịp người dân trong làng họp gặp gỡ giao lưu Sau lễ động thổ, dân làng và dân các nơi khác đến bắt đầu vào cuộc hội náo nhiệt với những trò chơi như chọi gà, chọi trâu, chơi đu, đánh cờ người, trai gái còn hát đám, hát chèo đường suốt cả ngày hôm đó. Theo quangninh.gov.vn

Related Figures

Hội làng Trà Cổ

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 30/5- 6/6 Âm lịch Móng Cái, vùng đất địa đầu Tổ quốc này được biết đến không chỉ là nơi đặt nét vẽ đầu tiên trên bản đồ Việt Nam, là nơi có bãi biển Trà Cổ “trữ tình nhất Việt Nam” v.v.. mà còn là nơi lưu giữ nhiều nét văn hoá truyền thống độc đáo của cư dân miền biển; trong đó, hội làng Trà Cổ, với tục thi ông Voi, thực sự khiến chúng tôi đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác... Hội làng Trà Cổ diễn ra từ ngày 30 tháng 5 đến ngày 6 tháng 6 âm lịch hàng năm, tại làng Trà Cổ thuộc Thị xã Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Lễ hội nhằm tưởng nhớ đến công ơn của Thành Hoàng làng và Nguyễn Hữu Cầu, một vị lãnh tụ nông dân thời Lê đồng thời cầu mong trời đất, cầu mong thần linh mang lại những điều tốt lành cho dân làng. Lễ hội làng Trà Cổ Ngày mồng 1 tháng 6, bắt đầu vào lễ hội là lễ rước Vua ra bể (hay còn gọi là rước vua ra miếu), với nghi thức 1 đội quân cầm vũ khí, cờ thần, phường bát âm, bát bửu, tiếp đến là một người cầm cờ và phải là một người cường tráng trẻ đẹp và có đạo đức được dân làng bầu chọn từ cuối hội năm trước cùng với những người khiêng kiệu. Hành trình lễ rước trong hội làng Trà Cổ Sau lễ rước là đến cuộc thi các sản phẩm chăn nuôi và trồng trọt mà biểu thị chủ yếu là thi các chú lợn mà được người ta gọi là các Ông Voi. Các Ông Voi được các cai đám và dân làng chăm sóc rất chu đáo từ nhiều tháng trước khi vào hội. Đình Trà Cổ ngày lễ hội Nét độc đáo của lễ hội Trà Cổ là có hội thi làm cỗ, hội thi nấu ăn, ai là người nấu ăn giỏi thì đều được cả làng biết đến. Ngày mồng 6 là ngày két thúc lễ hội có múa bông. Trong ngày múa bông, người ta cầu mong trời đất cầu mong thần linh phù trợ cho đánh bắt được nhiều tôm cá, buôn bán phát đạt, chăn nuôi, trồng cây tươi tốt, cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Có thể nói, hội làng Trà Cổ và tục “Ông Voi” là một nét văn hoá độc đáo mà người dân địa phương còn truyền giữ được đến ngày nay.

Móng Cái, vùng đất địa đầu Tổ quốc này được biết đến không chỉ là nơi đặt nét vẽ đầu tiên trên bản đồ Việt Nam, là nơi có bãi biển Trà Cổ “trữ tình nhất Việt Nam” v.v.. mà còn là nơi lưu giữ nhiều nét văn hoá truyền thống độc đáo của cư dân miền biển; trong đó, hội làng Trà Cổ, với tục thi ông Voi, thực sự khiến chúng tôi đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác...

Hội làng Trà Cổ diễn ra từ ngày 30 tháng 5 đến ngày 6 tháng 6 âm lịch hàng năm, tại làng Trà Cổ thuộc Thị xã Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Lễ hội nhằm tưởng nhớ đến công ơn của Thành Hoàng làng và Nguyễn Hữu Cầu, một vị lãnh tụ nông dân thời Lê đồng thời cầu mong trời đất, cầu mong thần linh mang lại những điều tốt lành cho dân làng.

Lễ hội làng Trà Cổ

Ngày mồng 1 tháng 6, bắt đầu vào lễ hội là lễ rước Vua ra bể (hay còn gọi là rước vua ra miếu), với nghi thức 1 đội quân cầm vũ khí, cờ thần, phường bát âm, bát bửu, tiếp đến là một người cầm cờ và phải là một người cường tráng trẻ đẹp và có đạo đức được dân làng bầu chọn từ cuối hội năm trước cùng với những người khiêng kiệu. Hành trình lễ rước trong hội làng Trà Cổ Sau lễ rước là đến cuộc thi các sản phẩm chăn nuôi và trồng trọt mà biểu thị chủ yếu là thi các chú lợn mà được người ta gọi là các Ông Voi. Các Ông Voi được các cai đám và dân làng chăm sóc rất chu đáo từ nhiều tháng trước khi vào hội. Đình Trà Cổ ngày lễ hội Nét độc đáo của lễ hội Trà Cổ là có hội thi làm cỗ, hội thi nấu ăn, ai là người nấu ăn giỏi thì đều được cả làng biết đến. Ngày mồng 6 là ngày két thúc lễ hội có múa bông. Trong ngày múa bông, người ta cầu mong trời đất cầu mong thần linh phù trợ cho đánh bắt được nhiều tôm cá, buôn bán phát đạt, chăn nuôi, trồng cây tươi tốt, cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Có thể nói, hội làng Trà Cổ và tục “Ông Voi” là một nét văn hoá độc đáo mà người dân địa phương còn truyền giữ được đến ngày nay.

Related Figures

Hội đền Cửa Ông

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 2/1- 30/3 Âm lịch Đền Cửa Ông nay thuộc Phường Cửa Ông, thị xã Cẩm Phả, Quảng Ninh. Hội đền Cửa Ông hay còn gọi là Hội đền Cửa Suốt được tổ chức 2 năm một lần vào các năm chẵn nhằm tôn vinh công đức của Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng, là con trai thứ 3 của Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và nhiều tướng lĩnh nhà Trần đã có công đánh giặc và trấn ải vùng đông bắc. Lễ hội được bắt đầu từ ngày 2 tháng 1 và kéo dài hết tháng 3. Ngày mùng 2 tháng 3 là chinh hội. Hội đền Cửa Ông tại Quảng Ninh Ngày chính hội diễn ra rất trang trọng với lễ dâng hương và rước bài vị của Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng. Hội đền Cửa Ông nổi bật với lễ rước kiệu từ đền Cửa Ông ra miếu ở xã Trác Chân và quay trở về đền tượng trưng cho cuộc tuần du của Đức Ông và nhiều những hoạt động thể thao, văn hoá như: biểu diễn múa rồng và thi đấu cờ người, thi đua thuyền, hát quan họ, bịt mắt đánh trống, bịt mắt đập niêu. Bên cạnh đó còn có một số hội thi như: thi đấu cờ bỏi, thi tiếng hát khu dân cư, thi nấu cơm, thi têm trầu, thi soạn lễ, thi đẩy gậy...Lễ hội đền Cửa Ông là 1 trong những lễ hội lớn thu hút hàng vạn lượt du khách tới tham quan, nhưng thông thường ngay từ đêm ngày 30 và sáng ngày mồng 1 Tết Nguyên Đán đã có rất nhiều người dân trong vùng và du khách thập phương đến lễ Đền. Kiệu rước Ông về đền Lễ hội đền Cửa Ông là dịp để nhân dân ôn lại truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm của ông cha ta, đồng thời gìn giữ và phát huy những nét đẹp về bản sắc văn hoá của dân tộc. Hội đền Cửa Ông thu hút đông đảo người dân tham gia

Đền Cửa Ông nay thuộc Phường Cửa Ông, thị xã Cẩm Phả, Quảng Ninh. Hội đền Cửa Ông hay còn gọi là Hội đền Cửa Suốt được tổ chức 2 năm một lần vào các năm chẵn nhằm tôn vinh công đức của Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng, là con trai thứ 3 của Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và nhiều tướng lĩnh nhà Trần đã có công đánh giặc và trấn ải vùng đông bắc. Lễ hội được bắt đầu từ ngày 2 tháng 1 và kéo dài hết tháng 3. Ngày mùng 2 tháng 3 là chinh hội.

Hội đền Cửa Ông tại Quảng Ninh

Ngày chính hội diễn ra rất trang trọng với lễ dâng hương và rước bài vị của Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng. Hội đền Cửa Ông nổi bật với lễ rước kiệu từ đền Cửa Ông ra miếu ở xã Trác Chân và quay trở về đền tượng trưng cho cuộc tuần du của Đức Ông và nhiều những hoạt động thể thao, văn hoá như: biểu diễn múa rồng và thi đấu cờ người, thi đua thuyền, hát quan họ, bịt mắt đánh trống, bịt mắt đập niêu. Bên cạnh đó còn có một số hội thi như: thi đấu cờ bỏi, thi tiếng hát khu dân cư, thi nấu cơm, thi têm trầu, thi soạn lễ, thi đẩy gậy...Lễ hội đền Cửa Ông là 1 trong những lễ hội lớn thu hút hàng vạn lượt du khách tới tham quan, nhưng thông thường ngay từ đêm ngày 30 và sáng ngày mồng 1 Tết Nguyên Đán đã có rất nhiều người dân trong vùng và du khách thập phương đến lễ Đền. Kiệu rước Ông về đền Lễ hội đền Cửa Ông là dịp để nhân dân ôn lại truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm của ông cha ta, đồng thời gìn giữ và phát huy những nét đẹp về bản sắc văn hoá của dân tộc. Hội đền Cửa Ông thu hút đông đảo người dân tham gia

Related Figures

Lễ hội đền Bà Men – Lễ hội của tình đoàn kết

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 18/1- 19/1 Âm lịch (Cinet)- Lễ hội đền Bà Men, tỉnh Quảng Ninh là một lễ hội độc đáo, mang đậm tín ngưỡng và văn hóa đặc trưng của làng chài trên Vịnh Hạ Long, lễ hội được tổ chức thường niên vào ngày 18 và ngày 19 tháng Giêng âm lịch. Lễ hội đền Bà Men tại Quảng Ninh Như đã đi vào tiềm thức, mấy chục năm qua cứ tới ngày 18, ngày 19 tháng Giêng âm lịch là tất cả ngư dân của các làng chài ở trên Vịnh Hạ Long và Cát Bà lại tụ về với đền Bà Men để tổ chức lễ hội. Đền Bà Men nằm trên một bãi cát tương đối rộng ở ven đảo đá và cách hồ Ba Hầm khoảng 500 m theo đường chim bay, cách đất liền khoảng hơn 30 km và là nơi giáp ranh giữa di sản Vịnh Hạ Long với bên kia là huyện Cát Bà (Hải Phòng). Cũng có lẽ vì địa thế nằm ở vùng giáp ranh giữa 2 tỉnh mà lễ hội đền Bà Men độc đáo hơn các lễ hội khác. Lễ hội này không có ban tổ chức đại diện đoàn thể, cũng không có chính quyền mà chỉ có 1 người đó là ông chủ nhang của đền. Dân làng chài kính trọng và tuân theo sự điều hành của ông Nguyên Văn Miên, ngư dân làng chài Cao Minh, Cát Bà. Đã 20 năm nay ông nhận trách nhiệm nhang khói và chăm sóc cho ngôi đền toàn tâm, toàn ý mà không một chút vụ lợi nào. Ngư dân ở nơi đây truyền tai nhau về sự linh ứng của đền Bà Men. Những tàu bè qua lại nơi đây đều ghế lên đền thắp hương và gọi đây là Cửa Bà. Ngày nay, ngôi đền đã được tôn tạo lại đã có kè đã vững chắc để chống chọi với sóng gió của biển khơi. Hình ảnh đua thuyền chải trong lễ hội đền Bà Men Lễ hội Bà Men cũng có 2 phần: phần lễ và phần hội. Phần lễ diễn ra từ 18 tháng Giêng cho tới trưa 19 tháng Giêng. Ngay từ buổi sáng sớm, tàu bè của các ngư dân Hạ Long và Cát Bà đã neo đậu trật tự ngay ở trước cửa đền. Các ngư dân, hội Phật tử và những du khách thập phương dâng hương hoa lễ vật lên đền. Có lẽ vì là làng chài nên thay cho các hình nộm voi, ngựa và xe như người ở trên bờ, ngư dân dâng lễ vật là hình nộm con tàu, con thuyền, với mong ước một năm đi biển gặp được mọi sự thuận hoà và bình yên. Phần hội diễn ra từ trưa 19 tháng Giêng thu hút đông đảo bà con nhân dân tham gia với cuộc thi đua chải diễn ra giữa các làng chài. Theo thông lệ hàng năm, tham gia vào cuộc thi gồm có 4 đội chải đó là Cống Đầm - Vung Viêng, Cửa Vạn, Hà Nam (hồ Ba Hầm) và Cao Minh (Cát Bà). Mỗi chải gồm có 14 tay chèo và 1 người cầm lái. Đường đua dài khoảng 500m, điểm xuất phát là từ trước cửa đền. Các chải sẽ đua 2 vòng, chải nào về đích trước thì chải đó sẽ thắng. Ở hai bên đường đua, các cổ động viên hò reo cuồng nhiệt. Đội nào cũng cố gắng hết sức để giành được chiến thằng bởi theo quan niệm của ngư dân ở các làng chài, làng nào giành chiến thắng trong cuộc đua chải thì năm ấy người dân ở trong làng đi biển gặp được nhiều may mắn. Lễ hội đền Bà Men thu hút đông đảo ngư dân Quảng Ninh và Hải Phòng tham gia Vùng đất Quảng Ninh có rất nhiều lễ hội nhưng có lẽ chỉ có lễ hội đền Bà Men mới có những nét độc đáo khác lạ và thú vị nhất có lẽ là sự gắn kết chặt chẽ của ngư dân 2 tỉnh Hạ Long và Hải Phòng. Trải qua hàng chục năm, lễ hội đền Bà Men vẫn tồn tại và phát triển thể hiện nét đẹp của tình đoàn kết keo sơn găn bó một nhà giữa những người con làng chài đất Việt. Theo lehoi.info tổng hợp

(Cinet)- Lễ hội đền Bà Men, tỉnh Quảng Ninh là một lễ hội độc đáo, mang đậm tín ngưỡng và văn hóa đặc trưng của làng chài trên Vịnh Hạ Long, lễ hội được tổ chức thường niên vào ngày 18 và ngày 19 tháng Giêng âm lịch.

Lễ hội đền Bà Men tại Quảng Ninh

Như đã đi vào tiềm thức, mấy chục năm qua cứ tới ngày 18, ngày 19 tháng Giêng âm lịch là tất cả ngư dân của các làng chài ở trên Vịnh Hạ Long và Cát Bà lại tụ về với đền Bà Men để tổ chức lễ hội. Đền Bà Men nằm trên một bãi cát tương đối rộng ở ven đảo đá và cách hồ Ba Hầm khoảng 500 m theo đường chim bay, cách đất liền khoảng hơn 30 km và là nơi giáp ranh giữa di sản Vịnh Hạ Long với bên kia là huyện Cát Bà (Hải Phòng). Cũng có lẽ vì địa thế nằm ở vùng giáp ranh giữa 2 tỉnh mà lễ hội đền Bà Men độc đáo hơn các lễ hội khác. Lễ hội này không có ban tổ chức đại diện đoàn thể, cũng không có chính quyền mà chỉ có 1 người đó là ông chủ nhang của đền. Dân làng chài kính trọng và tuân theo sự điều hành của ông Nguyên Văn Miên, ngư dân làng chài Cao Minh, Cát Bà. Đã 20 năm nay ông nhận trách nhiệm nhang khói và chăm sóc cho ngôi đền toàn tâm, toàn ý mà không một chút vụ lợi nào.

Ngư dân ở nơi đây truyền tai nhau về sự linh ứng của đền Bà Men. Những tàu bè qua lại nơi đây đều ghế lên đền thắp hương và gọi đây là Cửa Bà. Ngày nay, ngôi đền đã được tôn tạo lại đã có kè đã vững chắc để chống chọi với sóng gió của biển khơi. Hình ảnh đua thuyền chải trong lễ hội đền Bà Men Lễ hội Bà Men cũng có 2 phần: phần lễ và phần hội. Phần lễ diễn ra từ 18 tháng Giêng cho tới trưa 19 tháng Giêng. Ngay từ buổi sáng sớm, tàu bè của các ngư dân Hạ Long và Cát Bà đã neo đậu trật tự ngay ở trước cửa đền. Các ngư dân, hội Phật tử và những du khách thập phương dâng hương hoa lễ vật lên đền. Có lẽ vì là làng chài nên thay cho các hình nộm voi, ngựa và xe như người ở trên bờ, ngư dân dâng lễ vật là hình nộm con tàu, con thuyền, với mong ước một năm đi biển gặp được mọi sự thuận hoà và bình yên. Phần hội diễn ra từ trưa 19 tháng Giêng thu hút đông đảo bà con nhân dân tham gia với cuộc thi đua chải diễn ra giữa các làng chài. Theo thông lệ hàng năm, tham gia vào cuộc thi gồm có 4 đội chải đó là Cống Đầm - Vung Viêng, Cửa Vạn, Hà Nam (hồ Ba Hầm) và Cao Minh (Cát Bà). Mỗi chải gồm có 14 tay chèo và 1 người cầm lái. Đường đua dài khoảng 500m, điểm xuất phát là từ trước cửa đền. Các chải sẽ đua 2 vòng, chải nào về đích trước thì chải đó sẽ thắng. Ở hai bên đường đua, các cổ động viên hò reo cuồng nhiệt. Đội nào cũng cố gắng hết sức để giành được chiến thằng bởi theo quan niệm của ngư dân ở các làng chài, làng nào giành chiến thắng trong cuộc đua chải thì năm ấy người dân ở trong làng đi biển gặp được nhiều may mắn. Lễ hội đền Bà Men thu hút đông đảo ngư dân Quảng Ninh và Hải Phòng tham gia Vùng đất Quảng Ninh có rất nhiều lễ hội nhưng có lẽ chỉ có lễ hội đền Bà Men mới có những nét độc đáo khác lạ và thú vị nhất có lẽ là sự gắn kết chặt chẽ của ngư dân 2 tỉnh Hạ Long và Hải Phòng. Trải qua hàng chục năm, lễ hội đền Bà Men vẫn tồn tại và phát triển thể hiện nét đẹp của tình đoàn kết keo sơn găn bó một nhà giữa những người con làng chài đất Việt. Theo lehoi.info tổng hợp

Related Figures

Lễ hội đình Cẩm Hải

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 29/5- 2/6 Âm lịch Lễ hội đình Cẩm Hải được tổ chức từ ngày 29 tháng 5 đến ngày mùng 2 tháng 6 âm lịch hàng năm, ở tại xã Cẩm Hải (thị xã Cẩm Phả). Cùng với những nghi lễ rước kiệu, tại lễ hội còn diễn ra cuộc đua thuyền của các thôn ở trong xã. Lễ hội đình làng Cẩm Hải cũng thể hiện mong muốn của những người dân trong xã về một năm mưa thuận gió hòa, cuộc sống bình yên, no ấm và hạnh phúc. Lễ hội đình Cẩm Hải tại Quảng Ninh Đình làng là do những người dân Trà Cổ (Móng Cái) di cư về xã Cẩm Hải xây dựng từ năm 1980 và lễ hội được tổ chức hàng năm nhằm tôn vinh và tưởng nhớ tới công lao của 6 vị thành hoàng là những người đã có công khai sinh ra vùng đất Trà Cổ (thành phố Móng Cái). Tương truyền, có mười hai vị Tiên công từ Đồ Sơn (thành phố Hải Phòng) giong thuyền về phương Bắc để lập nghiệp. Khi đến vùng biển Móng Cái, họ gặp phải một cơn bão lớn, thuyền của họ trôi dạt vào vùng đất hoang vu không có một bóng người. Cuộc sống ở vùng đất mới khổ sở quá, 6 người ở trong đoàn người đã quyết định quay về Đồ Sơn. Còn 6 người ở lại đã quyết định làm nghề chài lưới đánh cá và đã hình thành nên làng chài Trà Cổ. Sau này, dân làng đã tôn 6 vị Tiên công là thành hoàng và thờ tại đình Trà Cổ. Năm 1979, người dân ở hai thôn Tràng Lộ và thôn Tràng Vĩ của Trà Cổ di cư về thôn Cái Thấp (xã Văn Châu, Vân Đồn - nay là xã Cẩm Hải, thị xã Cẩm Phả) thành lập làng mới và góp tiền, góp công xây dựng đình làng Cẩm Hải năm 1980. Cũng từ đó, lễ hội đình Cẩm Hải được tổ chức hàng năm, trở thành truyền thống, thành một hoạt động văn hóa đầy ý nghĩa của những người dân địa phương. Lễ rước kiệu 6 vị đại vương trong lễ hội đình làng Cẩm Hải Ở lễ hội đình, người dân xã Cẩm Hải tôn kính rước kiệu của 6 vị đại vương với những nghi thức rất trang trọng. Đội khiêng kiệu được lựa chọn rất cẩn thận từ những thanh niên trai tráng trong làng. Đi cùng là đội cầm vũ khí, cầm cờ thần, phường bát âm, bát bửu... và nhân dân trong xã cùng những du khách thập phương. Lễ rước kiệu rất rộn ràng, đã thu hút sự tham gia của hàng ngàn người. Hình ảnh về lễ hội Ngoài ra, lễ hội đình Cẩm Hải còn một nghi lễ nữa rất độc đáo đó là lễ rước các “Ông Voi”. Đây là một cách gọi kính trọng của những người dân địa phương về lễ rước 6 chú lợn. 6 chú lợn này được làng lựa chọn và giao cho 6 người đàn ông ở trong làng chăm sóc. Việc chọn lợn và chọn người nuôi cũng phải theo một quy định rất nghiêm ngặt. “Ông Voi” phải là loại lợn đực Móng Cái, lông có màu trắng. Người được chọn nuôi “Ông Voi” là người đàn ông một vợ (trường hợp đã bỏ vợ, hay vợ đã chết lấy vợ khác cũng bị loại). Người đàn ông này trong năm đó không được ăn chung bát đũa với bất kỳ ai. Khi có việc phải đi xa làng thì phải mang theo cơm nắm nước uống chứ không được vào ăn hàng ăn quán, không được ăn thịt chó, hay nội tạng của động vật. Thậm chí có thời gian người nuôi “Ông Voi” cũng không được cắt tóc, vì khi cắt tóc là đã bị người khác nắm đầu, hoặc xoa đầu dẫn đến mất thiêng... Còn về phần “Ông Voi”, cũng phải ăn bằng chậu riêng và được chăm sóc rất đặc biệt. Trong 6 tháng đầu, các “Ông Voi” được ăn uống bình thường, nhưng 6 tháng sau các “ông” được ăn cơm nắm và đút tận miệng, hoặc ăn phở, ăn cháo tuỳ theo ý thích của từng “ông”. Chính vì thế các “Ông Voi” khi được kiệu ra đình, đều có trọng lượng từ 2,2 đến 3 tạ. Hình ảnh các “Ông Voi” trong lễ hội Tham gia lễ rước các “Ông Voi” là gần chục thanh niên khoẻ mạnh mà vẫn phải đỗ nghỉ rất nhiều lần. Sau lễ hội, các “Ông Voi” sẽ được mổ thịt, ưu tiên cho người dân ở trong làng mua trước, khi mua không hết thì mới bán ra ngoài. Tương truyền, những người ăn thịt “Ông Voi” sẽ gặp được nhiều may mắn, có sức khoẻ và có một năm làm ăn bội thu./.

Lễ hội đình Cẩm Hải được tổ chức từ ngày 29 tháng 5 đến ngày mùng 2 tháng 6 âm lịch hàng năm, ở tại xã Cẩm Hải (thị xã Cẩm Phả). Cùng với những nghi lễ rước kiệu, tại lễ hội còn diễn ra cuộc đua thuyền của các thôn ở trong xã. Lễ hội đình làng Cẩm Hải cũng thể hiện mong muốn của những người dân trong xã về một năm mưa thuận gió hòa, cuộc sống bình yên, no ấm và hạnh phúc.

Lễ hội đình Cẩm Hải tại Quảng Ninh

Đình làng là do những người dân Trà Cổ (Móng Cái) di cư về xã Cẩm Hải xây dựng từ năm 1980 và lễ hội được tổ chức hàng năm nhằm tôn vinh và tưởng nhớ tới công lao của 6 vị thành hoàng là những người đã có công khai sinh ra vùng đất Trà Cổ (thành phố Móng Cái). Tương truyền, có mười hai vị Tiên công từ Đồ Sơn (thành phố Hải Phòng) giong thuyền về phương Bắc để lập nghiệp. Khi đến vùng biển Móng Cái, họ gặp phải một cơn bão lớn, thuyền của họ trôi dạt vào vùng đất hoang vu không có một bóng người. Cuộc sống ở vùng đất mới khổ sở quá, 6 người ở trong đoàn người đã quyết định quay về Đồ Sơn. Còn 6 người ở lại đã quyết định làm nghề chài lưới đánh cá và đã hình thành nên làng chài Trà Cổ. Sau này, dân làng đã tôn 6 vị Tiên công là thành hoàng và thờ tại đình Trà Cổ. Năm 1979, người dân ở hai thôn Tràng Lộ và thôn Tràng Vĩ của Trà Cổ di cư về thôn Cái Thấp (xã Văn Châu, Vân Đồn - nay là xã Cẩm Hải, thị xã Cẩm Phả) thành lập làng mới và góp tiền, góp công xây dựng đình làng Cẩm Hải năm 1980. Cũng từ đó, lễ hội đình Cẩm Hải được tổ chức hàng năm, trở thành truyền thống, thành một hoạt động văn hóa đầy ý nghĩa của những người dân địa phương. Lễ rước kiệu 6 vị đại vương trong lễ hội đình làng Cẩm Hải Ở lễ hội đình, người dân xã Cẩm Hải tôn kính rước kiệu của 6 vị đại vương với những nghi thức rất trang trọng. Đội khiêng kiệu được lựa chọn rất cẩn thận từ những thanh niên trai tráng trong làng. Đi cùng là đội cầm vũ khí, cầm cờ thần, phường bát âm, bát bửu... và nhân dân trong xã cùng những du khách thập phương. Lễ rước kiệu rất rộn ràng, đã thu hút sự tham gia của hàng ngàn người. Hình ảnh về lễ hội Ngoài ra, lễ hội đình Cẩm Hải còn một nghi lễ nữa rất độc đáo đó là lễ rước các “Ông Voi”. Đây là một cách gọi kính trọng của những người dân địa phương về lễ rước 6 chú lợn. 6 chú lợn này được làng lựa chọn và giao cho 6 người đàn ông ở trong làng chăm sóc. Việc chọn lợn và chọn người nuôi cũng phải theo một quy định rất nghiêm ngặt. “Ông Voi” phải là loại lợn đực Móng Cái, lông có màu trắng. Người được chọn nuôi “Ông Voi” là người đàn ông một vợ (trường hợp đã bỏ vợ, hay vợ đã chết lấy vợ khác cũng bị loại). Người đàn ông này trong năm đó không được ăn chung bát đũa với bất kỳ ai. Khi có việc phải đi xa làng thì phải mang theo cơm nắm nước uống chứ không được vào ăn hàng ăn quán, không được ăn thịt chó, hay nội tạng của động vật. Thậm chí có thời gian người nuôi “Ông Voi” cũng không được cắt tóc, vì khi cắt tóc là đã bị người khác nắm đầu, hoặc xoa đầu dẫn đến mất thiêng... Còn về phần “Ông Voi”, cũng phải ăn bằng chậu riêng và được chăm sóc rất đặc biệt. Trong 6 tháng đầu, các “Ông Voi” được ăn uống bình thường, nhưng 6 tháng sau các “ông” được ăn cơm nắm và đút tận miệng, hoặc ăn phở, ăn cháo tuỳ theo ý thích của từng “ông”. Chính vì thế các “Ông Voi” khi được kiệu ra đình, đều có trọng lượng từ 2,2 đến 3 tạ. Hình ảnh các “Ông Voi” trong lễ hội Tham gia lễ rước các “Ông Voi” là gần chục thanh niên khoẻ mạnh mà vẫn phải đỗ nghỉ rất nhiều lần. Sau lễ hội, các “Ông Voi” sẽ được mổ thịt, ưu tiên cho người dân ở trong làng mua trước, khi mua không hết thì mới bán ra ngoài. Tương truyền, những người ăn thịt “Ông Voi” sẽ gặp được nhiều may mắn, có sức khoẻ và có một năm làm ăn bội thu./.

Related Figures

Lễ hội đình Vạn Ninh

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/1- 11/1 Âm lịch (lehoi.info)- Lễ hội đình Vạn Ninh được tổ chức hàng năm vào ngày mùng 10 và ngày 11 tháng Giêng âm lịch, tại thôn Trung, xã Vạn Ninh, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Lễ hội đình Vạn Ninh Cùng với hệ thống các di tích của thành phố Móng Cái như: Đền Xã Tắc, đình Tràng Vỹ, đình Trà Cổ, đền Thánh Mẫu, chùa Xuân Lan, chùa Nam Thọ, đình làng Bầu..., đình Vạn Ninh là biểu trưng cho văn hoá truyền thống của dân tộc, là “cột mốc văn hoá” khẳng định chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam nơi địa đầu của Tổ quốc.Từ xưa đến nay, đình Vạn Ninh luôn có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống tâm linh cộng đồng làng xã của xã Vạn Ninh nói riêng và của nhân dân châu Vạn Ninh (Móng Cái ngày nay) nói chung. Đất Vạn Ninh thời xưa là nơi Lý Thường Kiệt tập kết thủy quân trong trận chiến đấu chống quân Tống xâm lược. Sau này, để tưởng nhớ tới công lao của ông, nhân dân xã Vạn Ninh và nhân dân châu Vạn Ninh đã xây dựng đình Vạn Ninh, tôn Lý Thường Kiệt làm thành hoàng làng và phối thờ cùng với các vị thành hoàng khác ở trong đình. Đình Vạn Ninh thờ 8 vị thần và thành hoàng là Lý Thường Kiệt, Giác Hải thiền sư, Không Lộ thiền sư, Trần Thánh Tông, Trần Hưng Đạo, Phạm Ngũ Lão, Lê Lợi, Yết Kiêu. Ngày nay, đình vẫn còn lưu giữ được các sắc phong từ thời vua Tự Đức cho Lý Thường Kiệt, Không Lộ thiền sư và Giác Hải thiền sư, Trần Hưng Đạo. Số còn lại thì được lưu giữ tại Viện Hán Nôm. Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau mà trong một thời gian dài, đình Vạn Ninh đã bị hư hỏng nặng, mãi đến năm 2006, năm 2007 đình mới được phục dựng lại như nguyên mẫu và được công nhận là một di tích lịch sử, văn hóa của tỉnh vào năm 2011. Lễ hội đình Vạn Ninh cũng do đó mà mai một dần, cho đến năm 2008 mới được phục dựng và tổ chức với quy mô lớn như trước kia. Hàng năm, vào ngày mùng 10, ngày 11 tháng Giêng, những người dân Vạn Ninh lại tưng bừng tổ chức Lễ hội đình Vạn Ninh để tỏ lòng biết ơn Thần, Thành hoàng và tổ tiên đã phù hộ, độ trì cho dân làng trong năm qua, cầu xin phước lành cho năm tới và giáo dục cho con cháu về truyền thống uống nước nhớ nguồn của dân tộc ta. Đông đảo những người dân ở trong vùng và ở những vùng lân cân tới tham dự lễ hội. Phần lễ diễn ra rất trang nghiêm với các nghi lễ như: Lễ cáo yết; Lễ rước Thần - Thành hoàng; Lễ nghênh Thần - Thành Hoàng; Lễ an vị; Lễ nhập tịch; Lễ cúng Thần - Thành hoàng; Lễ tế và Lễ tống (tiễn). Nghi thức rước thần trong lễ hội Phần hội diễn ra sôi nổi ở trong suốt 2 ngày diễn ra lễ hội. Lễ hội đình Vạn Ninh nổi tiếng với “đặc sản” hát ca trù (hay hát cửa đình), những người dân Vạn Ninh thường gọi là hát Nhà tơ, hát chầu thần hay hát chúc thần. Hát Nhà tơ ở lễ hội đình Vạn Ninh là 1 loại hình hát nghi lễ đặc sắc và mang đậm bản sắc vùng miền. Vạn Ninh cũng được xem là 1 trong những cái nôi của nghệ thuật hát nhà tơ, hát cửa đình ở tỉnh Quảng Ninh ngày nay. Ngoài phần hát Nhà tơ, còn những trò hát dân gian như: hát đối, hát ví, hát cưới, hát múa; những trò chơi truyền thống như: chơi cờ người, chơi cờ tướng, kéo co…; và những hoạt động giao lưu văn nghệ, bình thơ,… đã thu hút đông đảo du khách thập phương và nhân dân trong và ngoài thành phố đến tham dự. Lễ hội đình Vạn Ninh thu hút đông đảo người dân tham gia Lễ hội đình Vạn Ninh là một lễ hội dân gian, mang ý nghĩa tâm linh độc đáo và có giá trị tinh thần to lớn đối với mỗi người dân Vạn Ninh cũng như những người dân thành phố Móng Cái. Việc phục dựng, tổ chức lễ hội Vạn Ninh không đơn thuần là việc gìn giữ những nét đẹp văn hóa dân gian mà cha ông ta để lại cho hậu thế mà còn có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển du lịch tâm linh của thành phố Móng Cái nói riêng và của tỉnh Quảng Ninh nói chung. lehoi.info tổng hợp

(lehoi.info)- Lễ hội đình Vạn Ninh được tổ chức hàng năm vào ngày mùng 10 và ngày 11 tháng Giêng âm lịch, tại thôn Trung, xã Vạn Ninh, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.

Lễ hội đình Vạn Ninh

Cùng với hệ thống các di tích của thành phố Móng Cái như: Đền Xã Tắc, đình Tràng Vỹ, đình Trà Cổ, đền Thánh Mẫu, chùa Xuân Lan, chùa Nam Thọ, đình làng Bầu..., đình Vạn Ninh là biểu trưng cho văn hoá truyền thống của dân tộc, là “cột mốc văn hoá” khẳng định chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam nơi địa đầu của Tổ quốc.Từ xưa đến nay, đình Vạn Ninh luôn có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống tâm linh cộng đồng làng xã của xã Vạn Ninh nói riêng và của nhân dân châu Vạn Ninh (Móng Cái ngày nay) nói chung. Đất Vạn Ninh thời xưa là nơi Lý Thường Kiệt tập kết thủy quân trong trận chiến đấu chống quân Tống xâm lược. Sau này, để tưởng nhớ tới công lao của ông, nhân dân xã Vạn Ninh và nhân dân châu Vạn Ninh đã xây dựng đình Vạn Ninh, tôn Lý Thường Kiệt làm thành hoàng làng và phối thờ cùng với các vị thành hoàng khác ở trong đình. Đình Vạn Ninh thờ 8 vị thần và thành hoàng là Lý Thường Kiệt, Giác Hải thiền sư, Không Lộ thiền sư, Trần Thánh Tông, Trần Hưng Đạo, Phạm Ngũ Lão, Lê Lợi, Yết Kiêu. Ngày nay, đình vẫn còn lưu giữ được các sắc phong từ thời vua Tự Đức cho Lý Thường Kiệt, Không Lộ thiền sư và Giác Hải thiền sư, Trần Hưng Đạo. Số còn lại thì được lưu giữ tại Viện Hán Nôm. Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau mà trong một thời gian dài, đình Vạn Ninh đã bị hư hỏng nặng, mãi đến năm 2006, năm 2007 đình mới được phục dựng lại như nguyên mẫu và được công nhận là một di tích lịch sử, văn hóa của tỉnh vào năm 2011. Lễ hội đình Vạn Ninh cũng do đó mà mai một dần, cho đến năm 2008 mới được phục dựng và tổ chức với quy mô lớn như trước kia. Hàng năm, vào ngày mùng 10, ngày 11 tháng Giêng, những người dân Vạn Ninh lại tưng bừng tổ chức Lễ hội đình Vạn Ninh để tỏ lòng biết ơn Thần, Thành hoàng và tổ tiên đã phù hộ, độ trì cho dân làng trong năm qua, cầu xin phước lành cho năm tới và giáo dục cho con cháu về truyền thống uống nước nhớ nguồn của dân tộc ta. Đông đảo những người dân ở trong vùng và ở những vùng lân cân tới tham dự lễ hội. Phần lễ diễn ra rất trang nghiêm với các nghi lễ như: Lễ cáo yết; Lễ rước Thần - Thành hoàng; Lễ nghênh Thần - Thành Hoàng; Lễ an vị; Lễ nhập tịch; Lễ cúng Thần - Thành hoàng; Lễ tế và Lễ tống (tiễn). Nghi thức rước thần trong lễ hội Phần hội diễn ra sôi nổi ở trong suốt 2 ngày diễn ra lễ hội. Lễ hội đình Vạn Ninh nổi tiếng với “đặc sản” hát ca trù (hay hát cửa đình), những người dân Vạn Ninh thường gọi là hát Nhà tơ, hát chầu thần hay hát chúc thần. Hát Nhà tơ ở lễ hội đình Vạn Ninh là 1 loại hình hát nghi lễ đặc sắc và mang đậm bản sắc vùng miền. Vạn Ninh cũng được xem là 1 trong những cái nôi của nghệ thuật hát nhà tơ, hát cửa đình ở tỉnh Quảng Ninh ngày nay. Ngoài phần hát Nhà tơ, còn những trò hát dân gian như: hát đối, hát ví, hát cưới, hát múa; những trò chơi truyền thống như: chơi cờ người, chơi cờ tướng, kéo co…; và những hoạt động giao lưu văn nghệ, bình thơ,… đã thu hút đông đảo du khách thập phương và nhân dân trong và ngoài thành phố đến tham dự. Lễ hội đình Vạn Ninh thu hút đông đảo người dân tham gia Lễ hội đình Vạn Ninh là một lễ hội dân gian, mang ý nghĩa tâm linh độc đáo và có giá trị tinh thần to lớn đối với mỗi người dân Vạn Ninh cũng như những người dân thành phố Móng Cái. Việc phục dựng, tổ chức lễ hội Vạn Ninh không đơn thuần là việc gìn giữ những nét đẹp văn hóa dân gian mà cha ông ta để lại cho hậu thế mà còn có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển du lịch tâm linh của thành phố Móng Cái nói riêng và của tỉnh Quảng Ninh nói chung. lehoi.info tổng hợp

Related Figures

Lễ hội đình Lạc Thanh

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 14/3- 15/3 Âm lịch (lehoi.info)- Lễ hội đình Lạc Thanh, là lễ hội cổ xưa của những người dân phường Yên Thanh, Uông Bí, Quảng Ninh, lễ hội thường được tổ chức vào ngày 14, ngày 15 tháng 3 Âm lịch để tri ân với tổ tiên và cầu mong sự ấm no và may mắn. Lế rước Thành hoàng Đình Lạc Thanh thời xưa được xây dựng vào nửa cuối thế kỷ XVII ở xứ đồng Cổ Bồng để thờ Nghè Cả (Thành hoàng làng). Vào năm 1898, đình được xây dựng lại ở vị trí ngày nay. Trong một khoảng thời gian dài, đình đã bị bỏ hoang phế. Mãi cho đến năm 1995, đình mới được nhân dân tu sửa lại và đưa bát hương vào để thờ cúng thành hoàng. Năm 2000, nhà sư Thích Minh Trí đã quyên góp công đức xây dựng chùa ở trong khu đất của đình, vào năm 2004 thì trùng tu lại đình và hình thành 1 quần thể di tích đình, chùa trang nghiêm như ngày nay trong khuôn viên rộng hơn 2000 ha. Cùng với những thăng trầm của đình Lạc Thanh, lễ hội đình Lạc Thanh cũng bị mai một từ đó mãi tới năm 2011 thì mới được phục dựng lại và trở thành một trong những lễ hội độc đáo của tỉnh Quảng Ninh. Lễ hội không chỉ khơi dậy ý thức bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá của những người xưa để lại mà còn góp phần tích cực vào phát triển du lịch văn hoá tâm linh của Uông Bí nói riêng và của tỉnh Quảng Ninh nói chung. Đình Lạc Thanh thờ mười hai vị thành hoàng, trong đó có hai vị nhân thần và mười vị thiên thần. Ngoài thờ chung ở đình, thì các vị thành hoàng còn được thờ ở 10 xứ là nơi mà các vị được giao cai quản và trấn giữ gọi là nghè. Lễ hội được tổ chức chính ở đình, chùa Lạc Thanh, 5 ngôi nghè còn nguyên vẹn cho đến ngày nay và 1 vài điểm khác nữa. Việc chuẩn bị cho lễ hội diễn ra rất công phu từ trước đó cả năm trời. Làng sẽ cử ra các cai đám để trong coi các nghè trong vòng 1 năm và chuẩn bị sẵn các lễ vật để tế lễ lên Thành hoàng làng. Các lễ vật gồm có: 1 con gà trống to, 1 con lợn, gạo tẻ, gạo nếp, rượu trắng ngon… Lễ vật sau khi được cúng tế xong, một phần để lại nấu cho các vị cao niên, chức sắc và những người phục dịch ăn uống ngay tại đình, còn lại một phần được dùng làm quà biếu. Lộc Thánh rất thiêng nên việc ăn uống tại công đình được xem là niềm vinh hạnh lớn của mọi người dân ở trong làng. Lễ hội đình Lạc Thanh tại Quảng Ninh Phần lễ của lễ hội đình Lạc Thanh được tổ chức rất trang trọng trong suốt 2 ngày diễn ra lễ hội với các nghi lễ truyền thống như: Nghi lễ thỉnh mời các vị Thành hoàng về đình an vị, lễ cáo yếu, nghi lễ rước, nhập tịch, an vị và lễ tế Thành hoàng tại đình... buổi sáng ngày khai hội, các đoàn rước trong trang phục chỉnh tề, cờ, lọng, kiệu, ngai và đồ tế khí xếp thành hàng theo thứ tự đã quy định ở sân nghè. Sau khi ông cai đám vào nghè thắp hương làm lễ mời và dâng bài vị Thành hoàng lên ngai kiệu, các đoàn rước bắt đầu rước Thành hoàng về đình để dự hội. Khi đoàn rước về đến đình, sau các thủ tục cúng nhập tịch và an vị, lễ tế Thành hoàng sẽ diễn ra rất trang nghiêm. Sau phần tế lễ là nghi thức giao điệt (đập đất và đắp đê) nhằm nhắc nhở dân chúng nhớ về việc khai canh trị thuỷ và mở mang làng xã của cha ông ta để lại, đồng thời thực hiện nghi thức đấu vật - biểu trưng cho sức khoẻ của những người quai đê lấn biển, mở đất, dựng làng, lập nên làng xã Lạc Thanh. Nghi thức này sẽ do 2 người cao tuổi mẫu mực đại diện cho cả làng thực hiện. Lễ rước Thành hoàng làng từ các Nghè về đình Lạc Thanh Phần hội diễn ra sôi nổi với nhiều các trò chơi dân gian phong phú như: múa lân, cờ người, cờ tướng, đánh đu, tổ tôm điếm, chọi gà và đấu vật; tham gia biểu diễn văn nghệ của câu lạc bộ hát dân ca phường. lehoi.info tổng hợp

(lehoi.info)- Lễ hội đình Lạc Thanh, là lễ hội cổ xưa của những người dân phường Yên Thanh, Uông Bí, Quảng Ninh, lễ hội thường được tổ chức vào ngày 14, ngày 15 tháng 3 Âm lịch để tri ân với tổ tiên và cầu mong sự ấm no và may mắn.

Lế rước Thành hoàng

Đình Lạc Thanh thời xưa được xây dựng vào nửa cuối thế kỷ XVII ở xứ đồng Cổ Bồng để thờ Nghè Cả (Thành hoàng làng). Vào năm 1898, đình được xây dựng lại ở vị trí ngày nay. Trong một khoảng thời gian dài, đình đã bị bỏ hoang phế. Mãi cho đến năm 1995, đình mới được nhân dân tu sửa lại và đưa bát hương vào để thờ cúng thành hoàng. Năm 2000, nhà sư Thích Minh Trí đã quyên góp công đức xây dựng chùa ở trong khu đất của đình, vào năm 2004 thì trùng tu lại đình và hình thành 1 quần thể di tích đình, chùa trang nghiêm như ngày nay trong khuôn viên rộng hơn 2000 ha. Cùng với những thăng trầm của đình Lạc Thanh, lễ hội đình Lạc Thanh cũng bị mai một từ đó mãi tới năm 2011 thì mới được phục dựng lại và trở thành một trong những lễ hội độc đáo của tỉnh Quảng Ninh. Lễ hội không chỉ khơi dậy ý thức bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá của những người xưa để lại mà còn góp phần tích cực vào phát triển du lịch văn hoá tâm linh của Uông Bí nói riêng và của tỉnh Quảng Ninh nói chung. Đình Lạc Thanh thờ mười hai vị thành hoàng, trong đó có hai vị nhân thần và mười vị thiên thần. Ngoài thờ chung ở đình, thì các vị thành hoàng còn được thờ ở 10 xứ là nơi mà các vị được giao cai quản và trấn giữ gọi là nghè. Lễ hội được tổ chức chính ở đình, chùa Lạc Thanh, 5 ngôi nghè còn nguyên vẹn cho đến ngày nay và 1 vài điểm khác nữa. Việc chuẩn bị cho lễ hội diễn ra rất công phu từ trước đó cả năm trời. Làng sẽ cử ra các cai đám để trong coi các nghè trong vòng 1 năm và chuẩn bị sẵn các lễ vật để tế lễ lên Thành hoàng làng. Các lễ vật gồm có: 1 con gà trống to, 1 con lợn, gạo tẻ, gạo nếp, rượu trắng ngon… Lễ vật sau khi được cúng tế xong, một phần để lại nấu cho các vị cao niên, chức sắc và những người phục dịch ăn uống ngay tại đình, còn lại một phần được dùng làm quà biếu. Lộc Thánh rất thiêng nên việc ăn uống tại công đình được xem là niềm vinh hạnh lớn của mọi người dân ở trong làng. Lễ hội đình Lạc Thanh tại Quảng Ninh Phần lễ của lễ hội đình Lạc Thanh được tổ chức rất trang trọng trong suốt 2 ngày diễn ra lễ hội với các nghi lễ truyền thống như: Nghi lễ thỉnh mời các vị Thành hoàng về đình an vị, lễ cáo yếu, nghi lễ rước, nhập tịch, an vị và lễ tế Thành hoàng tại đình... buổi sáng ngày khai hội, các đoàn rước trong trang phục chỉnh tề, cờ, lọng, kiệu, ngai và đồ tế khí xếp thành hàng theo thứ tự đã quy định ở sân nghè. Sau khi ông cai đám vào nghè thắp hương làm lễ mời và dâng bài vị Thành hoàng lên ngai kiệu, các đoàn rước bắt đầu rước Thành hoàng về đình để dự hội. Khi đoàn rước về đến đình, sau các thủ tục cúng nhập tịch và an vị, lễ tế Thành hoàng sẽ diễn ra rất trang nghiêm. Sau phần tế lễ là nghi thức giao điệt (đập đất và đắp đê) nhằm nhắc nhở dân chúng nhớ về việc khai canh trị thuỷ và mở mang làng xã của cha ông ta để lại, đồng thời thực hiện nghi thức đấu vật - biểu trưng cho sức khoẻ của những người quai đê lấn biển, mở đất, dựng làng, lập nên làng xã Lạc Thanh. Nghi thức này sẽ do 2 người cao tuổi mẫu mực đại diện cho cả làng thực hiện. Lễ rước Thành hoàng làng từ các Nghè về đình Lạc Thanh Phần hội diễn ra sôi nổi với nhiều các trò chơi dân gian phong phú như: múa lân, cờ người, cờ tướng, đánh đu, tổ tôm điếm, chọi gà và đấu vật; tham gia biểu diễn văn nghệ của câu lạc bộ hát dân ca phường. lehoi.info tổng hợp

Related Figures

Hội làng Bằng Cả

Thông tin thời kỳ

(lehoi.info)- Xã Bằng Cả, Hoành Bổ, Quảng Ninh chính là nơi đồng bào dân tộc những người Dao Thanh Y sinh sống. Đã từ rất nhiều đời nay, ở xã Bằng Cả có 1 sinh hoạt văn hoá mang tính truyền thống và tính cộng đồng cao, đó là “ Hội làng Bằng cả”. Hội làng Bằng Cả được diễn ra vào năm ngày ở trong năm đó là những ngày: ngày 1 tháng, ngày mùng 1 tháng 4; ngày mùng 1 tháng 7; ngày mùng 1 tháng 10 và ngày 20 tháng chạp là ngày diễn ra lễ tổng kết năm.... Trong đó, ngày Lễ chính đầu năm mới (mùng 1 tháng 2 âm lịch) được tổ chức lớn nhất. Quang cảnh hội làng Bằng Cả Trước kia hội làng có nhiều các quy định rất nghiêm ngặt, người đến tham dự hội làng trước đây chủ yếu là nam giới, chủ hộ gia đình và trên nguyên tắc tự nguyện. Ngày nay, những nguyên tắc khắt khe ấy cũng dần được bỏ qua. Ngày nay vào ngày hội, con cháu các dòng họ người dân tộc Dao Thanh Y trong làng dù đi đâu xa cũng quy tụ về chung vui hội làng. Đây là Lễ hội truyền thống của đồng bào người dân tộc Dao Thanh Y tại Bằng Cả, với ý nghĩa cầu trời, cầu thổ địa, thổ công, cầu thành hoàng làng phù hộ cho dân bản một năm mới mưa thuận, gió hoà, làm ăn phát đạt, mùa màng tốt tươi; Cầu chúc cho các dòng họ, dân bản hạnh phúc, mạnh khỏe, đoàn kết và sống vui vẻ thuận hoà… Nghi lễ cầu an tại hội làng Bằng Cả Đên ngày hội mỗi hộ gia đình sẽ đóng góp một số vật phẩm như gạo nếp, gà, rượu chua…cho người thầy mo (người trưởng tộc) của các dòng họ người Dao Thanh Y. Ông thầy mo phải là người cha truyền, con nối và nối dõi tông đường. Nếu ông thầy mo qua đời người nối tiếp phải được những người dân bản bầu chọn lại. Ông trưởng tộc phải có đầy đủ điều kiện, đã theo học học nghề thầy mo biết các bài khấn ở trong hội làng, đồng thời cũng phải là người có đủ uy tín, được các dòng họ tín nhiệm ... để giúp ông thầy mo trong hội làng. Việc đóng góp vật phẩm được làm rất công minh: Làng sẽ bầu ra 1 thủ quỹ để cân đo, ghi chép lại những vật phẩm do làng đóng góp và 1 ông kế toán quyết toán sau hội làng, nếu phần đóng thừa thì sẽ được lấy ra, nếu phần đóng thiếu thì sẽ phải nộp thêm vào, phải công khai tài chính với tất cả dân làng sau khi kết thúc hội làng. Các vật phẩm sau khi được mọi nhà đóng góp, thịt lợn, thịt gà được đem luộc, gạo thì đem nấu xôi, làm bánh và trứng cũng được luộc. Sau khi soạn ra hai mâm để ông thầy mo cả và ông thầy mo hai làm lễ cầu khấn. Trong mâm lễ của ông thầy mo cả có đủ trứng luộc, gà luộc, thịt luộc, gạo sống, tiền, xôi, bát và vàng hương; 1 bát to của các dòng họ trong bản, 1 bát to của gia tiên nhà ông thầy mo, cả 2 bát đều được thắp hương, khi mọi việc chuẩn bị xong ông thầy mo cả, ông thầy mo hai đều quần áo chỉnh tề bắt đầu vào nghi thức cầu khấn. Riêng ông trưởng tộc sẽ cầm kiếm thiên đình làm phép thuật. Lễ cầu thứ nhất: cầu trời, cầu thổ địa, thổ công, cầu thành hoàng làng phù hộ cho dân bản năm mới mưa thuận gió hòa làm ăn phát đạt mùa màng tươi tốt. Lễ cầu thứ 2: Cầu cho các dòng họ, dân bản luôn hạnh phúc, mạnh khỏe, đoàn kết và sống vui vẻ thuận hoà. Lễ cầu thứ 3: Cầu cho mùa màng tốt tươi và tăng gia sản xuất chăn nuôi phát triển. Sau mỗi một lần cầu khấn, ông trưởng tộc lại dùng thanh gươm thiên đình múa để trị tà, và xin âm dương rồi hoá vàng mã. Khi mọi hành lễ làm xong, mọi người sẽ quây quần ngồi ăn bốc, cùng uống rượu chua- 1 thứ rượu mà chỉ ở Bằng Cả mới có. Thi đẩy gậy trong Hội làng Bằng Cả Sau các nghi thức cầu khấn và ăn uống vui vẻ, họ lại cùng nhau tụ tập vui chơi với những trò chơi dân gian như: Đánh cờ dân gian, kéo co, ném còn, bắn nỏ hay đẩy gậy...rồi họ lại cùng nhau hát đối giao duyên... lehoi.info

(lehoi.info)- Xã Bằng Cả, Hoành Bổ, Quảng Ninh chính là nơi đồng bào dân tộc những người Dao Thanh Y sinh sống. Đã từ rất nhiều đời nay, ở xã Bằng Cả có 1 sinh hoạt văn hoá mang tính truyền thống và tính cộng đồng cao, đó là “ Hội làng Bằng cả”. Hội làng Bằng Cả được diễn ra vào năm ngày ở trong năm đó là những ngày: ngày 1 tháng, ngày mùng 1 tháng 4; ngày mùng 1 tháng 7; ngày mùng 1 tháng 10 và ngày 20 tháng chạp là ngày diễn ra lễ tổng kết năm.... Trong đó, ngày Lễ chính đầu năm mới (mùng 1 tháng 2 âm lịch) được tổ chức lớn nhất.

Quang cảnh hội làng Bằng Cả

Trước kia hội làng có nhiều các quy định rất nghiêm ngặt, người đến tham dự hội làng trước đây chủ yếu là nam giới, chủ hộ gia đình và trên nguyên tắc tự nguyện. Ngày nay, những nguyên tắc khắt khe ấy cũng dần được bỏ qua. Ngày nay vào ngày hội, con cháu các dòng họ người dân tộc Dao Thanh Y trong làng dù đi đâu xa cũng quy tụ về chung vui hội làng. Đây là Lễ hội truyền thống của đồng bào người dân tộc Dao Thanh Y tại Bằng Cả, với ý nghĩa cầu trời, cầu thổ địa, thổ công, cầu thành hoàng làng phù hộ cho dân bản một năm mới mưa thuận, gió hoà, làm ăn phát đạt, mùa màng tốt tươi; Cầu chúc cho các dòng họ, dân bản hạnh phúc, mạnh khỏe, đoàn kết và sống vui vẻ thuận hoà… Nghi lễ cầu an tại hội làng Bằng Cả Đên ngày hội mỗi hộ gia đình sẽ đóng góp một số vật phẩm như gạo nếp, gà, rượu chua…cho người thầy mo (người trưởng tộc) của các dòng họ người Dao Thanh Y. Ông thầy mo phải là người cha truyền, con nối và nối dõi tông đường. Nếu ông thầy mo qua đời người nối tiếp phải được những người dân bản bầu chọn lại. Ông trưởng tộc phải có đầy đủ điều kiện, đã theo học học nghề thầy mo biết các bài khấn ở trong hội làng, đồng thời cũng phải là người có đủ uy tín, được các dòng họ tín nhiệm ... để giúp ông thầy mo trong hội làng. Việc đóng góp vật phẩm được làm rất công minh: Làng sẽ bầu ra 1 thủ quỹ để cân đo, ghi chép lại những vật phẩm do làng đóng góp và 1 ông kế toán quyết toán sau hội làng, nếu phần đóng thừa thì sẽ được lấy ra, nếu phần đóng thiếu thì sẽ phải nộp thêm vào, phải công khai tài chính với tất cả dân làng sau khi kết thúc hội làng. Các vật phẩm sau khi được mọi nhà đóng góp, thịt lợn, thịt gà được đem luộc, gạo thì đem nấu xôi, làm bánh và trứng cũng được luộc. Sau khi soạn ra hai mâm để ông thầy mo cả và ông thầy mo hai làm lễ cầu khấn. Trong mâm lễ của ông thầy mo cả có đủ trứng luộc, gà luộc, thịt luộc, gạo sống, tiền, xôi, bát và vàng hương; 1 bát to của các dòng họ trong bản, 1 bát to của gia tiên nhà ông thầy mo, cả 2 bát đều được thắp hương, khi mọi việc chuẩn bị xong ông thầy mo cả, ông thầy mo hai đều quần áo chỉnh tề bắt đầu vào nghi thức cầu khấn. Riêng ông trưởng tộc sẽ cầm kiếm thiên đình làm phép thuật. Lễ cầu thứ nhất: cầu trời, cầu thổ địa, thổ công, cầu thành hoàng làng phù hộ cho dân bản năm mới mưa thuận gió hòa làm ăn phát đạt mùa màng tươi tốt. Lễ cầu thứ 2: Cầu cho các dòng họ, dân bản luôn hạnh phúc, mạnh khỏe, đoàn kết và sống vui vẻ thuận hoà. Lễ cầu thứ 3: Cầu cho mùa màng tốt tươi và tăng gia sản xuất chăn nuôi phát triển. Sau mỗi một lần cầu khấn, ông trưởng tộc lại dùng thanh gươm thiên đình múa để trị tà, và xin âm dương rồi hoá vàng mã. Khi mọi hành lễ làm xong, mọi người sẽ quây quần ngồi ăn bốc, cùng uống rượu chua- 1 thứ rượu mà chỉ ở Bằng Cả mới có. Thi đẩy gậy trong Hội làng Bằng Cả Sau các nghi thức cầu khấn và ăn uống vui vẻ, họ lại cùng nhau tụ tập vui chơi với những trò chơi dân gian như: Đánh cờ dân gian, kéo co, ném còn, bắn nỏ hay đẩy gậy...rồi họ lại cùng nhau hát đối giao duyên... lehoi.info

Related Figures

Lễ hội Cầu Ngư

Thông tin thời kỳ

Lễ hội Cầu ngư là một lễ hội dân gian truyền thống của các ngư dân (hay còn gọi là “Lễ ra quân đánh bắt thủy sản", hoặc "Lễ ra quân nghề cá") lễ hội thường được tổ chức vào dịp đầu năm mới với ý nghĩa cầu mong cho mùa màng bội thu, yên bình trong cả năm lênh đênh trên biển cả. Đây là lễ thức có khi chỉ riêng của cá nhân, của gia đình, và cũng có khi là của cả cộng đồng. Tiêu biểu cho lễ cầu ngư của cư dân ven biển tỉnh Quảng Ngãi là lễ cầu ngư Sa Huỳnh được tổ chức vào ngày mồng 3 Tết Nguyên đán hàng năm. Linh thiêng lễ hội Cầu Ngư tại Quảng Ngãi Trình thức lễ hội cầu ngư Sa Huỳnh bao gồm các lễ thức như: Tế cáo thần linh khai lạch, lễ ra nghề, và các trò diễn. Lễ tế cáo: Là lễ thức mà tất cả những ban tế tự của làng và đại diện những chủ thuyền tế cáo ở lăng Ông, miếu Bà (Thiên Y, Thủy Long), miếu Thổ thần, Nghĩa tự và gia tiên để khai lạch ra khơi. Lễ tế cáo chỉ đơn giản là trầm trà hoa quả và diễn ra trong buổi chiều ngày mồng 2 Tết hoặc sáng sớm ngày mồng 3 Tết. Lễ ra nghề: Vào buổi sáng sớm ngày mồng 3 Tết, tất cả các thuyền trong các vạn, đặc biệt là vạn Thạch Bi, tập trung tại cửa biển, chong đèn kết hoa rực rỡvà bày bàn soạn lễ vật trên thuyền, các loại ngư cụ... Sau khi đại diện chính quyền, hội nghề cá khai mạc và tổng kết nghề đánh bắt hải sản 1 năm cũng như các kế hoạch thực hiện trong năm mới, ông chủ vạn gióng tiếng trống báo hiệu lễ ra nghề được bắt đầu. Chiếc thuyền đầu tiên ra khơi là một chiếc thuyền được ban vạn bầu chọn (không gặp bất trắc gì trong năm cũ, gia đình hòa thuận và chủ thuyền có uy tín...), và sau đó là hàng trăm chiếc thuyền nối tiếp ra khơi. Ra đến cách bờ chừng vài hải lý, các thuyền lại tiếp tục thực hiện nghi thức tế cáo thần linh, và đánh mẻ lưới làm phép đầu tiên. Sau khi vớt mẻ lưới lên thì các thuyền quay lại vào bờ. Các nghệ nhân cùng diễn viên làng chài hát bả trạo cầu mong năm mới vụ mùa đánh bắt thủy sản bội thu Các trò diễn: Khi tất cả các thuyền đã quay lại vào bờ, các trò diễn, như đua thuyền, thi đánh bóng chuyền, thi lắc thúng... mới bắt đầu diễn ra. Có năm trong dịp làm lễ cầu ngư, người dân Sa Huỳnh còn tổ chức hát bội vài ba ngày. Vài ba năm trở lại đây, trong lễ hội cầu ngư Sa Huỳnh, người dân địa phương nơi đây còn tổ chức múa hát bả trạo và hát sắc bùa. Từng đoàn tàu của ngư dân Sa Huỳnh nối đuôi rẽ sóng ra khơi Lễ hội cầu ngư của cư dân các làng chài duyên hải miền Trung nói chung và của cư dân Sa Huỳnh nói riêng, ngoài ý nghĩa cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa biển bội thu, cá mực đầy khoang, đem lại cuộc sống ngày càng no đủ hơn, thì còn thể hiện đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", tưởng nhớ công đức của các vị tiền hiền, đã có công lập làng, dựng nghề.

Lễ hội Cầu ngư là một lễ hội dân gian truyền thống của các ngư dân (hay còn gọi là “Lễ ra quân đánh bắt thủy sản", hoặc "Lễ ra quân nghề cá") lễ hội thường được tổ chức vào dịp đầu năm mới với ý nghĩa cầu mong cho mùa màng bội thu, yên bình trong cả năm lênh đênh trên biển cả. Đây là lễ thức có khi chỉ riêng của cá nhân, của gia đình, và cũng có khi là của cả cộng đồng. Tiêu biểu cho lễ cầu ngư của cư dân ven biển tỉnh Quảng Ngãi là lễ cầu ngư Sa Huỳnh được tổ chức vào ngày mồng 3 Tết Nguyên đán hàng năm.

Linh thiêng lễ hội Cầu Ngư tại Quảng Ngãi

Trình thức lễ hội cầu ngư Sa Huỳnh bao gồm các lễ thức như: Tế cáo thần linh khai lạch, lễ ra nghề, và các trò diễn. Lễ tế cáo: Là lễ thức mà tất cả những ban tế tự của làng và đại diện những chủ thuyền tế cáo ở lăng Ông, miếu Bà (Thiên Y, Thủy Long), miếu Thổ thần, Nghĩa tự và gia tiên để khai lạch ra khơi. Lễ tế cáo chỉ đơn giản là trầm trà hoa quả và diễn ra trong buổi chiều ngày mồng 2 Tết hoặc sáng sớm ngày mồng 3 Tết. Lễ ra nghề: Vào buổi sáng sớm ngày mồng 3 Tết, tất cả các thuyền trong các vạn, đặc biệt là vạn Thạch Bi, tập trung tại cửa biển, chong đèn kết hoa rực rỡvà bày bàn soạn lễ vật trên thuyền, các loại ngư cụ... Sau khi đại diện chính quyền, hội nghề cá khai mạc và tổng kết nghề đánh bắt hải sản 1 năm cũng như các kế hoạch thực hiện trong năm mới, ông chủ vạn gióng tiếng trống báo hiệu lễ ra nghề được bắt đầu. Chiếc thuyền đầu tiên ra khơi là một chiếc thuyền được ban vạn bầu chọn (không gặp bất trắc gì trong năm cũ, gia đình hòa thuận và chủ thuyền có uy tín...), và sau đó là hàng trăm chiếc thuyền nối tiếp ra khơi. Ra đến cách bờ chừng vài hải lý, các thuyền lại tiếp tục thực hiện nghi thức tế cáo thần linh, và đánh mẻ lưới làm phép đầu tiên. Sau khi vớt mẻ lưới lên thì các thuyền quay lại vào bờ. Các nghệ nhân cùng diễn viên làng chài hát bả trạo cầu mong năm mới vụ mùa đánh bắt thủy sản bội thu Các trò diễn: Khi tất cả các thuyền đã quay lại vào bờ, các trò diễn, như đua thuyền, thi đánh bóng chuyền, thi lắc thúng... mới bắt đầu diễn ra. Có năm trong dịp làm lễ cầu ngư, người dân Sa Huỳnh còn tổ chức hát bội vài ba ngày. Vài ba năm trở lại đây, trong lễ hội cầu ngư Sa Huỳnh, người dân địa phương nơi đây còn tổ chức múa hát bả trạo và hát sắc bùa. Từng đoàn tàu của ngư dân Sa Huỳnh nối đuôi rẽ sóng ra khơi Lễ hội cầu ngư của cư dân các làng chài duyên hải miền Trung nói chung và của cư dân Sa Huỳnh nói riêng, ngoài ý nghĩa cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa biển bội thu, cá mực đầy khoang, đem lại cuộc sống ngày càng no đủ hơn, thì còn thể hiện đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", tưởng nhớ công đức của các vị tiền hiền, đã có công lập làng, dựng nghề.

Related Figures

Lễ hội làng An Hải

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/1- 7/1 Âm lịch (lehoi.info) - Hằng năm Hội làng An Hải được tổ chức ở tại đình làng, xã Bình Châu, Bình Sơn, Quảng Ngãi từ ngày mùng 1 đến ngày mùng 7 tháng Giêng âm lịch. Hội làng An Hải được chia thành 2 phần khá rõ rệt: từ ngày mùng 1 đến ngày mùng 3 tháng Giêng (âm lịch) diễn ra các tế lễ tại đình; từ ngày mùng 4 đến ngày mùng 7 tháng Giêng vừa diễn ra lễ và vừa diễn hội. Đình làng An Hải ngày lễ hội diên ra Trong hội làng An Hải đầu xuân phần Lễ là nghi thức rất quan trọng gắn liền với các hoạt động diễn ra ở tại đình làng, bao gồm có các lễ như: lễ động thổ, lễ tế thần, lễ tỉnh sinh, lễ khai hạ, lễ ra trò… với những nghi thức dâng lễ tế thần trong và ngoài sân đình hết sức trang trọng, thể hiện lòng tri ân của con người nơi đây với thần thánh và phản ảnh tâm thức cầu mong các lực lượng siêu nhiên phù hộ độ trì cho họ có một năm mới no đủ và bình an. Nghi thức tế thần được tổ chức từ ngày mùng 1 đến ngày mùng 7 tháng Giêng trong đình, với sự tham gia của các chức sắc ở trong làng, các vị trưởng tộc của 7 tộc tiền hiền và các vị chủ lân của các xóm ở trong làng do ông Cả làng làm chủ tế. Một nghi thức trong lễ hội làng An Hải Mỗi cuộc tế thường có từ 25 người đến 30 người tham gia thực hiện nghi thức tế lễ, bao gồm: chủ tế, bồi tế, học trò gia lễ (hai người dâng đèn và hai người dâng rượu) và đội nhạc lễ…Mỗi cuộc tế được thực hiện theo 3 bước đó là: sơ hiến lễ, á hiến lễ và chung hiến lễ. Trong lễ tế chính, người chủ tế mặc áo thụng màu đỏ; còn bồi tế, phụ tế thì mặc áo thụng màu đen hoặc màu xanh, đầu đội khăn đóng. Bắt đầu vào buổi tế, những hồi trống, hồi chiêng được gióng lên liên hồi và trong quá trình tế lễ thì đều có nhạc lễ phụ hoạ, đội nhạc lễ gồm có: phách, tiêu, kèn, trống con, xập xoã, bì và đờn nhị ngân lên những âm thanh réo rắt, tạo nên không khí thiêng liêng và trang nghiêm cho buổi lễ. Trong tiếng chiêng tiếng trống trầm hùng và mùi hương trầm lan tỏa khắp trong không gian lễ, dưới ánh đèn mờ ảo ở trong mái đình cổ kính, tạo nên một không khí uy nghi và trang nghiêm của buổi lễ tế, sau ba tuần rượu (sơ hiến, á hiến và chung hiến) là đến tuần trà và mục đọc văn tế (xướng văn). Sau các nghi thức "chúc vị" (chuẩn bị), "chuyển chúc" (tức là chuyển chúc văn đến vị trí đọc) và "đọc chúc", văn tế được người đọc xướng lên với những âm điệu du dương, bay bỗng và dễ đi vào lòng người. Buổi tế lễ chính thức cũng được tiến hành tuần tự qua 3 bước (sơ hiến, á hiến và chung hiến) và được kết thúc khi các chức sắc ở trong làng, đại diện cho các tộc tiền hiền, hậu hiền, dân làng tới dự lễ thay nhau vào bái kiến trước các ban thờ để tỏ lòng thành kính thần linh và cầu mong sự bình an cho cuộc sống của làng của xã, của gia đình và cho chính bản thân mình. Cứ như thế nghi thức tế lễ tại đình làng được tổ chức hằng ngày, từ ngày mùng 1 đến ngày mùng 7 tháng Giêng. Sự nghiêm túc lúc làm lễ tại lễ hội làng An Hải Theo như qui định, khi làng chưa làm lễ động thổ đầu năm thì mọi hoạt động liên quan đến cày xới đất đai đều sẽ bị cấm và tránh những va chạm mạnh vào mặt đất, kể cả khi tế lễ tại các dinh miếu ở trong làng cũng chỉ được sử dụng loại trống nhỏ để đánh, không được sử dụng loại trống chầu, vì sợ vang động đến Thổ thần. Thông thường lễ động thổ sẽ được tổ chức vào tối ngày mùng 3 tết Nguyên đán. Buổi lễ được tổ chức bắt đầu ở tại đình làng. Tại đình làng người ta tổ chức lễ tế thần linh bằng những nghi thức cúng tế hết sức long trọng với sự có mặt của tất cả các chức sắc ở trong làng, do ông Cả làng làm chủ tế kết hợp với sự thực hiện nghi lễ động thổ của pháp sư (thầy pháp/thầy phù thuỷ). Sau khi tổ chức lễ tế thần trong đình xong, là tổ chức lễ động thổ ở ngoài sân đình. Để chuẩn bị cho lễ động thổ, ở ngoài sân đình người ta sẽ cắm bốn góc sân đình bốn cây đuốc đang cháy và bày ba bàn lễ vật để tế cáo thần linh theo sự hướng dẫn của pháp sư. Tế ngoài sân là do một vị pháp sư của làng thực hiện - Cả làng và chức vị ở trong làng chỉ chứng kiến buổi lễ. Sau khi các nghi thức tế lễ kết thúc, theo hướng dẫn của người thầy pháp, ông Cả làng sẽ đến hướng đại cát - hướng tốt, xúc một xẻng đất và đem đến hướng xấu trong năm (đại hung) để đổ. Kết thúc nghi thức lễ động thổ ở tại Đình làng, ông Cả làng sẽ gióng ba hồi trống đầu năm để các lăng miếu ở trong làng biết, sau đó các lăng miếu ở trong xóm sẽ tiếp tục làm lễ động thổ. Để làm lễ động thổ tại những dinh miếu của các xóm, ông chủ xóm sẽ dùng đuốc mang ngọn lửa từ đình làng về dinh xóm để tổ chức làm lễ động thổ. Sau khi xong lễ, chủ xóm sẽ đánh ba hồi trống chầu (trống lớn) để báo hiệu cho các Lân trong xóm biết để tiếp tục làm lễ động thổ và sau đó đánh trống báo hiệu cho dân làng biết lễ động thổ đã được làng và xóm thực hiện. Sau khi làng và xóm làm lễ động thổ xong thì kể từ giờ, ngày đó người dân trong làng mới được ra đồng cuốc xới đất đai. Ngoài ra, trong Lễ hội đầu năm tại đình làng An Hải còn tổ chức rất nhiều lễ khác trước khi tổ chức hội, như: lễ tỉnh sinh (giết vật hiến tế), lễ ra trò (xin phép thần tổ chức hội hè), và lễ khai hạ (lễ hạ nêu và kết thúc lễ hội). Cùng với các lễ thức dân gian được tổ chức mang tính tín ngưỡng tâm linh là những trò diễn dân gian cũng hết sức phong phú và hấp dẫn tạo nên 1 Hội làng đầu năm tại đình làng An Hải mang đậm sắc thái văn hóa truyền thống của người Việt như hội đua thuyền tứ linh, những trò diễn dân gian như: Dồi bòng, đu quay, đô vật, trong đó tiêu biểu mang thu hút nhiều người dân trong xã đến tham dự và cổ vũ đó là Hội đua thuyền tứ linh. Hội đua thuyền tứ linh là lễ hội lớn nhất trong năm của nhân dân làng An Hải được tổ chức từ ngày mồng 4 đến ngày mồng 7 tháng Giêng./. lehoi.info tổng hợp

(lehoi.info) - Hằng năm Hội làng An Hải được tổ chức ở tại đình làng, xã Bình Châu, Bình Sơn, Quảng Ngãi từ ngày mùng 1 đến ngày mùng 7 tháng Giêng âm lịch. Hội làng An Hải được chia thành 2 phần khá rõ rệt: từ ngày mùng 1 đến ngày mùng 3 tháng Giêng (âm lịch) diễn ra các tế lễ tại đình; từ ngày mùng 4 đến ngày mùng 7 tháng Giêng vừa diễn ra lễ và vừa diễn hội.

Đình làng An Hải ngày lễ hội diên ra

Trong hội làng An Hải đầu xuân phần Lễ là nghi thức rất quan trọng gắn liền với các hoạt động diễn ra ở tại đình làng, bao gồm có các lễ như: lễ động thổ, lễ tế thần, lễ tỉnh sinh, lễ khai hạ, lễ ra trò… với những nghi thức dâng lễ tế thần trong và ngoài sân đình hết sức trang trọng, thể hiện lòng tri ân của con người nơi đây với thần thánh và phản ảnh tâm thức cầu mong các lực lượng siêu nhiên phù hộ độ trì cho họ có một năm mới no đủ và bình an. Nghi thức tế thần được tổ chức từ ngày mùng 1 đến ngày mùng 7 tháng Giêng trong đình, với sự tham gia của các chức sắc ở trong làng, các vị trưởng tộc của 7 tộc tiền hiền và các vị chủ lân của các xóm ở trong làng do ông Cả làng làm chủ tế. Một nghi thức trong lễ hội làng An Hải Mỗi cuộc tế thường có từ 25 người đến 30 người tham gia thực hiện nghi thức tế lễ, bao gồm: chủ tế, bồi tế, học trò gia lễ (hai người dâng đèn và hai người dâng rượu) và đội nhạc lễ…Mỗi cuộc tế được thực hiện theo 3 bước đó là: sơ hiến lễ, á hiến lễ và chung hiến lễ. Trong lễ tế chính, người chủ tế mặc áo thụng màu đỏ; còn bồi tế, phụ tế thì mặc áo thụng màu đen hoặc màu xanh, đầu đội khăn đóng. Bắt đầu vào buổi tế, những hồi trống, hồi chiêng được gióng lên liên hồi và trong quá trình tế lễ thì đều có nhạc lễ phụ hoạ, đội nhạc lễ gồm có: phách, tiêu, kèn, trống con, xập xoã, bì và đờn nhị ngân lên những âm thanh réo rắt, tạo nên không khí thiêng liêng và trang nghiêm cho buổi lễ. Trong tiếng chiêng tiếng trống trầm hùng và mùi hương trầm lan tỏa khắp trong không gian lễ, dưới ánh đèn mờ ảo ở trong mái đình cổ kính, tạo nên một không khí uy nghi và trang nghiêm của buổi lễ tế, sau ba tuần rượu (sơ hiến, á hiến và chung hiến) là đến tuần trà và mục đọc văn tế (xướng văn). Sau các nghi thức "chúc vị" (chuẩn bị), "chuyển chúc" (tức là chuyển chúc văn đến vị trí đọc) và "đọc chúc", văn tế được người đọc xướng lên với những âm điệu du dương, bay bỗng và dễ đi vào lòng người. Buổi tế lễ chính thức cũng được tiến hành tuần tự qua 3 bước (sơ hiến, á hiến và chung hiến) và được kết thúc khi các chức sắc ở trong làng, đại diện cho các tộc tiền hiền, hậu hiền, dân làng tới dự lễ thay nhau vào bái kiến trước các ban thờ để tỏ lòng thành kính thần linh và cầu mong sự bình an cho cuộc sống của làng của xã, của gia đình và cho chính bản thân mình. Cứ như thế nghi thức tế lễ tại đình làng được tổ chức hằng ngày, từ ngày mùng 1 đến ngày mùng 7 tháng Giêng. Sự nghiêm túc lúc làm lễ tại lễ hội làng An Hải Theo như qui định, khi làng chưa làm lễ động thổ đầu năm thì mọi hoạt động liên quan đến cày xới đất đai đều sẽ bị cấm và tránh những va chạm mạnh vào mặt đất, kể cả khi tế lễ tại các dinh miếu ở trong làng cũng chỉ được sử dụng loại trống nhỏ để đánh, không được sử dụng loại trống chầu, vì sợ vang động đến Thổ thần. Thông thường lễ động thổ sẽ được tổ chức vào tối ngày mùng 3 tết Nguyên đán. Buổi lễ được tổ chức bắt đầu ở tại đình làng. Tại đình làng người ta tổ chức lễ tế thần linh bằng những nghi thức cúng tế hết sức long trọng với sự có mặt của tất cả các chức sắc ở trong làng, do ông Cả làng làm chủ tế kết hợp với sự thực hiện nghi lễ động thổ của pháp sư (thầy pháp/thầy phù thuỷ). Sau khi tổ chức lễ tế thần trong đình xong, là tổ chức lễ động thổ ở ngoài sân đình. Để chuẩn bị cho lễ động thổ, ở ngoài sân đình người ta sẽ cắm bốn góc sân đình bốn cây đuốc đang cháy và bày ba bàn lễ vật để tế cáo thần linh theo sự hướng dẫn của pháp sư. Tế ngoài sân là do một vị pháp sư của làng thực hiện - Cả làng và chức vị ở trong làng chỉ chứng kiến buổi lễ. Sau khi các nghi thức tế lễ kết thúc, theo hướng dẫn của người thầy pháp, ông Cả làng sẽ đến hướng đại cát - hướng tốt, xúc một xẻng đất và đem đến hướng xấu trong năm (đại hung) để đổ. Kết thúc nghi thức lễ động thổ ở tại Đình làng, ông Cả làng sẽ gióng ba hồi trống đầu năm để các lăng miếu ở trong làng biết, sau đó các lăng miếu ở trong xóm sẽ tiếp tục làm lễ động thổ. Để làm lễ động thổ tại những dinh miếu của các xóm, ông chủ xóm sẽ dùng đuốc mang ngọn lửa từ đình làng về dinh xóm để tổ chức làm lễ động thổ. Sau khi xong lễ, chủ xóm sẽ đánh ba hồi trống chầu (trống lớn) để báo hiệu cho các Lân trong xóm biết để tiếp tục làm lễ động thổ và sau đó đánh trống báo hiệu cho dân làng biết lễ động thổ đã được làng và xóm thực hiện. Sau khi làng và xóm làm lễ động thổ xong thì kể từ giờ, ngày đó người dân trong làng mới được ra đồng cuốc xới đất đai. Ngoài ra, trong Lễ hội đầu năm tại đình làng An Hải còn tổ chức rất nhiều lễ khác trước khi tổ chức hội, như: lễ tỉnh sinh (giết vật hiến tế), lễ ra trò (xin phép thần tổ chức hội hè), và lễ khai hạ (lễ hạ nêu và kết thúc lễ hội). Cùng với các lễ thức dân gian được tổ chức mang tính tín ngưỡng tâm linh là những trò diễn dân gian cũng hết sức phong phú và hấp dẫn tạo nên 1 Hội làng đầu năm tại đình làng An Hải mang đậm sắc thái văn hóa truyền thống của người Việt như hội đua thuyền tứ linh, những trò diễn dân gian như: Dồi bòng, đu quay, đô vật, trong đó tiêu biểu mang thu hút nhiều người dân trong xã đến tham dự và cổ vũ đó là Hội đua thuyền tứ linh. Hội đua thuyền tứ linh là lễ hội lớn nhất trong năm của nhân dân làng An Hải được tổ chức từ ngày mồng 4 đến ngày mồng 7 tháng Giêng./. lehoi.info tổng hợp

Related Figures

Lễ hội đua thuyền Lý Sơn

Thông tin thời kỳ

Lễ hội đua thuyền truyền thống tại đảo Lý Sơn có nhiều nét tương đồng nhưng đồng thời cũng có nhiều nét dị biệt so với lễ hội đua thuyền tại Tịnh Long. Lễ hội đua thuyền tại Lý Sơn có thể xuất hiện sau lễ hội người Tịnh Long, cũng không thể thu hút được nhiều người ở vùng khác đến tham dự như Tịnh Long, vì Lý Sơn chỉ là một đảo nhỏ, cách đất liền khoảng 25 km, nhưng chắc chắn là việc đua thuyền ở đây có quy mô và qui củ hơn nhiều. Lễ hội được tổ chức từ ngày mùng 4 đến ngày mùng 8 tháng giêng âm lịch hàng năm, ngoài ra vào ngày rằm tháng Bảy, cúng tế các vị tiền hiền, người ta cũng tổ chức đua thuyền. Đặc sắc lễ hội đua thuyền Lý Sơn Lý Sơn có hai đơn vị hành chính ngang nhau là hai xã trước kia là Bình Vĩnh và Bình Yến, sau lập huyện thì đổi lại là Lý Vĩnh và Lý Hải, mỗi xã đều hình thành bốn thuyền, đủ bộ "tứ linh" (long, ly, qui, phụng). Các thuyền cũng được đặt ở nơi am miếu để thờ cúng: ở xã Lý Vĩnh, thuyền long được thờ tại miếu Hoà Lân, thuyền phụng thờ tại lăng Cồn, thuyền ly thờ tại Dinh Chàm, thuyền qui thờ ở lăng Nghĩa Tự. Ở xã Lý Hải, thuyền long được thờ ở lăng Cồn, thuyền ly được đặt ở Trung Hoà, thuyền qui được đặt ở Trung Yên, thuyền phụng được đặt ở dinh Tam Toà. Cũng như ở Tịnh Long, thuyền đua ở Lý Sơn cũng có dáng thon dài, ngang nơi rộng nhất là 1,4 mét, dài là 9,5 mét; trước kia thuyền được làm bằng khung gỗ và mê tre (tất nhiên là có trát đầu rái); sau này mê tre được thay thế bằng mê nhôm hoặc đuya-ra, vừa bảo quản được lâu, lại vừa đỡ được sức cản của nước hơn. Trên thuyền các phần được trang trí công phu hơn ở sự chạm khắc (chứ không phải chỉ vẽ như ở Tịnh Long). Khi ghe được đưa đi hạ thuỷ, thì người ta cũng tổ chức cầu cúng vào đêm trước, sáng sớm trước và sau khi đua, để tạ ơn tổ tiên và tạ ơn các vị thần linh. Mỗi thuyền đua có khoảng từ 18 đến 20 người, trong đó có người Đập then (còn được gọn là lái nhịp) và người Tổng lái (đội trưởng). Cũng như ở Tịnh Long, mỗi thuyền đua ở Lý Sơn cũng đều có một đồng phục riêng tùy thích, nhưng bao giờ các vận động viên cũng chít khăn đỏ ở trên đầu. Cách tính điểm đua cũng tương tự giống như ở Tịnh Long, tuy nhiên trường đua ở đây lại dài hơn (từ 800 m đến 1000 mét) và cũng kéo dài ngày gấp đôi ở Tịnh Long. Tất nhiên, sự thắng hay bại trong cuộc đua là tùy thuộc ở toàn đội, ở sự khoẻ mạnh, dẻo dai của các thành viên ở trong đội; nhưng ở đây không thể không kể đến người lái nhịp và người tổng lái. Người lái nhịp là người đứng ở giữa thuyền và giữ một trọng trách lớn, là phải dùng then (thanh tre) đánh nhịp rõ to để cho các thuyền viên bơi đúng theo nhịp. Nhiệm vụ của người đạp then nặng nề ở chỗ, là phải đứng ở giữa thuyền, giữ được thăng bằng và phải bằng sức vóc mà liên tục đánh nhịp. Nhịp đánh thưa quá thì thuyền sẽ đi chậm, nhặt quá thì có thể làm các thuyền viên đuối sức, còn nhịp không đều thì dẫn đến chuệch choạc. Một khi nhịp đã vừa mà lại có thuyền viên không theo đúng nhịp, gây lực cản thì phải kịp thời phát hiện để thay bằng một người khác. Tổng lái là người đứng ở cuối thuyền quan sát đều khắp và đồng thời đảm đương nhiệm vụ lái thuyền. Thuyền đua ở biển có đặc điểm là thủy truờng sẽ không êm như ở sông, bởi vậy, tổng lái vừa phải nhắm thẳng đến cột tiêu, đồng thời vừa phải lượn tránh sóng. Đến giáp cọc tiêu rồi thì phải bẻ lái thế nào đó để không phải mất công vòng rộng, lại không quá gấp làm thuyền dễ bị chòng chành và nhọc công sức của các thuyền viên. Cách quyên góp để tổ chức hội đua thuyền cũng tương tự như ở Tịnh Long, nhưng việc tập dượt để chuẩn bị đua thì lại hoàn toàn khác. Nếu như để bước vào được cuộc đua chính thức, thì các thuyền viên ở Tịnh Long phải bỏ ra rất nhiều ngày tập dượt, thì ở đây lại chỉ cần vài ba ngày. Khi cả đội tập luyện, đội trưởng sẽ xem xét mực ghe để có thể thay thuyền viên cho vừa, khi mực ghe vừa rồi thì tập cho nhịp nhàng và quen tay. Sở dĩ chỉ cần ít ngày tập luyện bởi vì những người tham gia đua thuyền đều là những người hàng ngày đánh bắt cá ở trên biển, rất thông thạo với nghề đi biển. Lễ hội đua thuyền Lý Sơn Tuy không thu hút được người dân ở nhiều địa phương khác đến, nhưng để đổi lại, những ngày đua thuyền thật sự là những ngày hội của những người dân toàn đảo. Cùng với tiếng trống giục, tiếng cờ phất là tiếng reo hò vang dậy suốt dọc bờ biển trong những ngày đầu Xuân khiến không khí ắng lặng hàng ngày đã hoàn toàn được xua tan, thay vào đó là niềm vui tươi và phấn chấn. Người ta tin rằng những thuyền đua thắng cuộc thì việc làm ăn trong năm sẽ được khấm khá, phát đạt và gặp được nhiều may mắn. Lớp tín ngưỡng từ thời xa xưa của lễ hội đua thuyền có thể là tín ngưỡng thờ mặt trăng, nếu cần tìm ở một tầng sâu hơn thì sẽ là tín ngưỡng thờ thần biển, nhưng hiện tại, lớp tín ngưỡng ấy đã nhạt nhoà. Vì vậy, trên lát cắt đồng đại, lễ hội đua thuyền chỉ còn lắng đọng niềm tin tín ngưỡng của những người dân. Hàng ngàn người dân dự xem lễ hội đua thuyền Lễ hội đua thuyền hàng năm ở Tịnh Long và Lý Sơn, ngoài những ý nghĩa như đã nói trên, thì còn là nơi tập luyện và thử thách sự dẻo dai, rèn luyện ý chí, kích thích con người phấn đấu vươn lên làm ăn và xây dựng quê hương giàu đẹp.

Lễ hội đua thuyền truyền thống tại đảo Lý Sơn có nhiều nét tương đồng nhưng đồng thời cũng có nhiều nét dị biệt so với lễ hội đua thuyền tại Tịnh Long. Lễ hội đua thuyền tại Lý Sơn có thể xuất hiện sau lễ hội người Tịnh Long, cũng không thể thu hút được nhiều người ở vùng khác đến tham dự như Tịnh Long, vì Lý Sơn chỉ là một đảo nhỏ, cách đất liền khoảng 25 km, nhưng chắc chắn là việc đua thuyền ở đây có quy mô và qui củ hơn nhiều. Lễ hội được tổ chức từ ngày mùng 4 đến ngày mùng 8 tháng giêng âm lịch hàng năm, ngoài ra vào ngày rằm tháng Bảy, cúng tế các vị tiền hiền, người ta cũng tổ chức đua thuyền.

Đặc sắc lễ hội đua thuyền Lý Sơn

Lý Sơn có hai đơn vị hành chính ngang nhau là hai xã trước kia là Bình Vĩnh và Bình Yến, sau lập huyện thì đổi lại là Lý Vĩnh và Lý Hải, mỗi xã đều hình thành bốn thuyền, đủ bộ "tứ linh" (long, ly, qui, phụng). Các thuyền cũng được đặt ở nơi am miếu để thờ cúng: ở xã Lý Vĩnh, thuyền long được thờ tại miếu Hoà Lân, thuyền phụng thờ tại lăng Cồn, thuyền ly thờ tại Dinh Chàm, thuyền qui thờ ở lăng Nghĩa Tự. Ở xã Lý Hải, thuyền long được thờ ở lăng Cồn, thuyền ly được đặt ở Trung Hoà, thuyền qui được đặt ở Trung Yên, thuyền phụng được đặt ở dinh Tam Toà. Cũng như ở Tịnh Long, thuyền đua ở Lý Sơn cũng có dáng thon dài, ngang nơi rộng nhất là 1,4 mét, dài là 9,5 mét; trước kia thuyền được làm bằng khung gỗ và mê tre (tất nhiên là có trát đầu rái); sau này mê tre được thay thế bằng mê nhôm hoặc đuya-ra, vừa bảo quản được lâu, lại vừa đỡ được sức cản của nước hơn. Trên thuyền các phần được trang trí công phu hơn ở sự chạm khắc (chứ không phải chỉ vẽ như ở Tịnh Long). Khi ghe được đưa đi hạ thuỷ, thì người ta cũng tổ chức cầu cúng vào đêm trước, sáng sớm trước và sau khi đua, để tạ ơn tổ tiên và tạ ơn các vị thần linh. Mỗi thuyền đua có khoảng từ 18 đến 20 người, trong đó có người Đập then (còn được gọn là lái nhịp) và người Tổng lái (đội trưởng). Cũng như ở Tịnh Long, mỗi thuyền đua ở Lý Sơn cũng đều có một đồng phục riêng tùy thích, nhưng bao giờ các vận động viên cũng chít khăn đỏ ở trên đầu. Cách tính điểm đua cũng tương tự giống như ở Tịnh Long, tuy nhiên trường đua ở đây lại dài hơn (từ 800 m đến 1000 mét) và cũng kéo dài ngày gấp đôi ở Tịnh Long. Tất nhiên, sự thắng hay bại trong cuộc đua là tùy thuộc ở toàn đội, ở sự khoẻ mạnh, dẻo dai của các thành viên ở trong đội; nhưng ở đây không thể không kể đến người lái nhịp và người tổng lái. Người lái nhịp là người đứng ở giữa thuyền và giữ một trọng trách lớn, là phải dùng then (thanh tre) đánh nhịp rõ to để cho các thuyền viên bơi đúng theo nhịp. Nhiệm vụ của người đạp then nặng nề ở chỗ, là phải đứng ở giữa thuyền, giữ được thăng bằng và phải bằng sức vóc mà liên tục đánh nhịp. Nhịp đánh thưa quá thì thuyền sẽ đi chậm, nhặt quá thì có thể làm các thuyền viên đuối sức, còn nhịp không đều thì dẫn đến chuệch choạc. Một khi nhịp đã vừa mà lại có thuyền viên không theo đúng nhịp, gây lực cản thì phải kịp thời phát hiện để thay bằng một người khác. Tổng lái là người đứng ở cuối thuyền quan sát đều khắp và đồng thời đảm đương nhiệm vụ lái thuyền. Thuyền đua ở biển có đặc điểm là thủy truờng sẽ không êm như ở sông, bởi vậy, tổng lái vừa phải nhắm thẳng đến cột tiêu, đồng thời vừa phải lượn tránh sóng. Đến giáp cọc tiêu rồi thì phải bẻ lái thế nào đó để không phải mất công vòng rộng, lại không quá gấp làm thuyền dễ bị chòng chành và nhọc công sức của các thuyền viên. Cách quyên góp để tổ chức hội đua thuyền cũng tương tự như ở Tịnh Long, nhưng việc tập dượt để chuẩn bị đua thì lại hoàn toàn khác. Nếu như để bước vào được cuộc đua chính thức, thì các thuyền viên ở Tịnh Long phải bỏ ra rất nhiều ngày tập dượt, thì ở đây lại chỉ cần vài ba ngày. Khi cả đội tập luyện, đội trưởng sẽ xem xét mực ghe để có thể thay thuyền viên cho vừa, khi mực ghe vừa rồi thì tập cho nhịp nhàng và quen tay. Sở dĩ chỉ cần ít ngày tập luyện bởi vì những người tham gia đua thuyền đều là những người hàng ngày đánh bắt cá ở trên biển, rất thông thạo với nghề đi biển. Lễ hội đua thuyền Lý Sơn Tuy không thu hút được người dân ở nhiều địa phương khác đến, nhưng để đổi lại, những ngày đua thuyền thật sự là những ngày hội của những người dân toàn đảo. Cùng với tiếng trống giục, tiếng cờ phất là tiếng reo hò vang dậy suốt dọc bờ biển trong những ngày đầu Xuân khiến không khí ắng lặng hàng ngày đã hoàn toàn được xua tan, thay vào đó là niềm vui tươi và phấn chấn. Người ta tin rằng những thuyền đua thắng cuộc thì việc làm ăn trong năm sẽ được khấm khá, phát đạt và gặp được nhiều may mắn. Lớp tín ngưỡng từ thời xa xưa của lễ hội đua thuyền có thể là tín ngưỡng thờ mặt trăng, nếu cần tìm ở một tầng sâu hơn thì sẽ là tín ngưỡng thờ thần biển, nhưng hiện tại, lớp tín ngưỡng ấy đã nhạt nhoà. Vì vậy, trên lát cắt đồng đại, lễ hội đua thuyền chỉ còn lắng đọng niềm tin tín ngưỡng của những người dân. Hàng ngàn người dân dự xem lễ hội đua thuyền Lễ hội đua thuyền hàng năm ở Tịnh Long và Lý Sơn, ngoài những ý nghĩa như đã nói trên, thì còn là nơi tập luyện và thử thách sự dẻo dai, rèn luyện ý chí, kích thích con người phấn đấu vươn lên làm ăn và xây dựng quê hương giàu đẹp.

Lễ hội đua thuyền Lý Sơn

Related Figures

Lễ hội đua thuyền

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 4/1- 5/1 Âm lịch Tịnh Long là 1 xã ở đông nam của huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, xã Tịnh Long nằm ở tả ngạn sông Trà Khúc, gần sát với cửa Đại Cổ Luỹ xưa vốn là 1 thương cảng chính, khá sầm uất của Quảng Ngãi. Bởi vậy, bên cạnh nghề nông với ruộng vườn xanh tốt, cư dân Tịnh Long còn làm nghề trên sông, trên biển. Đó chính là lý do sinh ra hội đua thuyền có từ nhiều thế kỷ trước. Lễ hội đua thuyền được tổ chức hàng năm vào ngày mùng 4, mùng 5 tháng Giêng Âm lịch, với sự tham gia hưởng ứng nhiệt tình của người dân địa phương và dân cư các vùng lân cận. Sôi động lễ hội đua thuyền đầu năm ở xã Tịnh Long Từ khoảng giữa tháng Chạp, trong khi còn đang bận rộn chuẩn bị việc đón Tết Nguyên Đán, thì người Tịnh Long đồng thời cũng sửa soạn quyên góp tiền bạc, chọn vận động viên và tập dượt để chuẩn bị cho lễ hội đua thuyền dịp đầu Xuân. Tịnh Long gồm có 4 thôn (An Lộc, An Đạo, Gia Hoà và Tăng Long), mỗi thôn sẽ hình thành một đội đua gồm trai tráng ở cỡ tuổi 18 đến 35, mỗi đội đua sẽ có 22 đà công, thuỷ thủ, được nuôi ăn tập và phải chấp hành đúng nội quy cũng như những điều cấm kỵ khác. Các thành viên của đội đua dốc toàn bộ sức lực cho pha về đích Thuyền đua là một loại thuyền đặc biệt, không giống như thuyền thường, với dáng thon và dài để hạn chế được tối đa lực cản của nước. Khi đóng thuyền, người ta cũng phải chọn ngày lành tháng tốt. Thuyền đóng xong, được trang trí rất đẹp, từ đầu đến đuôi và trang trí theo hình con vật trong tứ linh. Bốn thôn trong xã mỗi thôn sẽ có một thuyền đua và được trang trí theo hình Long (rồng), Ly (lân), Qui (rùa), Phụng (phượng). Hiển nhiên, thuyền đua sẽ gắn với tín ngưỡng của nhân dân và sẽ được thờ ở am miếu của thôn, hàng năm, khi đến kỳ đua mới được làm lễ hạ thủy, có cờ, có trống rộn ràng và khi đua xong thì lại đưa về am miếu cùng với thủ tục như vậy. Trường đua có tổng diện tích khoảng 60.000 m2 với chiều dài 500 mét, chiều rộng 120 mét (chia thành 4 ô, mỗi ô rộng 30 mét) cho 4 thuyền đua. Sau khi bốc thăm, đội trưởng của đội đua thuyền về cọc tiêu qui định để chuẩn bị sẵn sàng khi có lệnh xuất phát. Trong mỗi thuyền đua sẽ có 15 đà công, thuỷ thủ, mặc đồng phục và ở tất cả các thuyền đều chít khăn màu đỏ. Khi có lệnh xuất phát, thì các thuyền lập tức lao lên. Tiếng trống giục liên hồi, tiếng reo hò vang dậy ở 2 bên bờ sông, những chiếc nón huơ lên cao cổ vũ, tạo nên một không khí tưng bừng và náo nức. Mỗi lần đua gồm 8 vòng với 4 km va chia thành 2 đợt đua, khoảng giữa 2 đợt đua là thời gian nghỉ giải lao để đà công và thuỷ thủ lấy lại sức. Cách tính điểm là thuyền về nhất thì được 10 điểm, thuyền về thứ nhì thì được 8 điểm, thuyền về ba là 6 điểm và thuyền về cuối cùng là 4 điểm. Tổng cộng cả 2 ngày đua tài, thuyền nào có số điểm cao nhất sẽ giành được phần thắng và các thuyền khác cũng tuỳ theo số điểm đạt được mà xếp hạng nhì, ba hay tư. Ngày hội đua thuyền ở xã Tịnh Long thật sự là một hội vui Xuân lành mạnh và tưng bừng náo nức của cư dân cả một vùng đất. Hàng nghìn khán giả đứng trên bờ cổ vũ cho hội đua thuyền

Tịnh Long là 1 xã ở đông nam của huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, xã Tịnh Long nằm ở tả ngạn sông Trà Khúc, gần sát với cửa Đại Cổ Luỹ xưa vốn là 1 thương cảng chính, khá sầm uất của Quảng Ngãi. Bởi vậy, bên cạnh nghề nông với ruộng vườn xanh tốt, cư dân Tịnh Long còn làm nghề trên sông, trên biển. Đó chính là lý do sinh ra hội đua thuyền có từ nhiều thế kỷ trước. Lễ hội đua thuyền được tổ chức hàng năm vào ngày mùng 4, mùng 5 tháng Giêng Âm lịch, với sự tham gia hưởng ứng nhiệt tình của người dân địa phương và dân cư các vùng lân cận.

Sôi động lễ hội đua thuyền đầu năm ở xã Tịnh Long

Từ khoảng giữa tháng Chạp, trong khi còn đang bận rộn chuẩn bị việc đón Tết Nguyên Đán, thì người Tịnh Long đồng thời cũng sửa soạn quyên góp tiền bạc, chọn vận động viên và tập dượt để chuẩn bị cho lễ hội đua thuyền dịp đầu Xuân. Tịnh Long gồm có 4 thôn (An Lộc, An Đạo, Gia Hoà và Tăng Long), mỗi thôn sẽ hình thành một đội đua gồm trai tráng ở cỡ tuổi 18 đến 35, mỗi đội đua sẽ có 22 đà công, thuỷ thủ, được nuôi ăn tập và phải chấp hành đúng nội quy cũng như những điều cấm kỵ khác. Các thành viên của đội đua dốc toàn bộ sức lực cho pha về đích Thuyền đua là một loại thuyền đặc biệt, không giống như thuyền thường, với dáng thon và dài để hạn chế được tối đa lực cản của nước. Khi đóng thuyền, người ta cũng phải chọn ngày lành tháng tốt. Thuyền đóng xong, được trang trí rất đẹp, từ đầu đến đuôi và trang trí theo hình con vật trong tứ linh. Bốn thôn trong xã mỗi thôn sẽ có một thuyền đua và được trang trí theo hình Long (rồng), Ly (lân), Qui (rùa), Phụng (phượng). Hiển nhiên, thuyền đua sẽ gắn với tín ngưỡng của nhân dân và sẽ được thờ ở am miếu của thôn, hàng năm, khi đến kỳ đua mới được làm lễ hạ thủy, có cờ, có trống rộn ràng và khi đua xong thì lại đưa về am miếu cùng với thủ tục như vậy. Trường đua có tổng diện tích khoảng 60.000 m2 với chiều dài 500 mét, chiều rộng 120 mét (chia thành 4 ô, mỗi ô rộng 30 mét) cho 4 thuyền đua. Sau khi bốc thăm, đội trưởng của đội đua thuyền về cọc tiêu qui định để chuẩn bị sẵn sàng khi có lệnh xuất phát. Trong mỗi thuyền đua sẽ có 15 đà công, thuỷ thủ, mặc đồng phục và ở tất cả các thuyền đều chít khăn màu đỏ. Khi có lệnh xuất phát, thì các thuyền lập tức lao lên. Tiếng trống giục liên hồi, tiếng reo hò vang dậy ở 2 bên bờ sông, những chiếc nón huơ lên cao cổ vũ, tạo nên một không khí tưng bừng và náo nức. Mỗi lần đua gồm 8 vòng với 4 km va chia thành 2 đợt đua, khoảng giữa 2 đợt đua là thời gian nghỉ giải lao để đà công và thuỷ thủ lấy lại sức. Cách tính điểm là thuyền về nhất thì được 10 điểm, thuyền về thứ nhì thì được 8 điểm, thuyền về ba là 6 điểm và thuyền về cuối cùng là 4 điểm. Tổng cộng cả 2 ngày đua tài, thuyền nào có số điểm cao nhất sẽ giành được phần thắng và các thuyền khác cũng tuỳ theo số điểm đạt được mà xếp hạng nhì, ba hay tư. Ngày hội đua thuyền ở xã Tịnh Long thật sự là một hội vui Xuân lành mạnh và tưng bừng náo nức của cư dân cả một vùng đất. Hàng nghìn khán giả đứng trên bờ cổ vũ cho hội đua thuyền

Related Figures

Lễ hội cúng cá Ông

Thông tin thời kỳ

Lễ hội tế Cá Ông (cá Voi) được ngư dân tỉnh Quảng Ngãi tổ chức 2 lần vào mùa xuân và vào mùa thu hàng năm, được gọi là "xuân thu nhị kỳ". Kỳ xuân là vào tháng Giêng hoặc tháng 2, kỳ thu là vào tháng 7 hoặc tháng 8 âm lịch. Thông thường vào dịp tế thu, ngư dân sẽ làm lễ tế lớn hơn kỳ xuân, vì đây là dịp để họ đền ơn Đức Ngư Ông đã phù hộ cho họ sau 1 mùa lênh đênh trên biển, có đông đảo các thành viên trong làng, trong vạn và các vạn chài lân cận cùng tham gia. Lễ hội cúng cá Ông Trình thức một lễ hội cúng Cá Ông thông thường ở ven biển tỉnh Quảng Ngãi (được miêu tả chủ yếu qua lễ hội lăng vạn Đông Yên, lăng Cù Lao và lăng Thạch Bi) bao gồm các nghi lễ sau: Lễ túc yết, lễ nghinh Ông, chánh lễ và các trò diễn. Lễ túc yết (hay còn gọi tắt là lễ yết) là lễ hiến cáo, được tiến hành vào chiều tối ngày chánh tế, gồm các bước từ sơ hiến, á hiến đến chung hiến. Thường là lễ cúng chay, nhằm cầu siêu tế độ cho những người bị rủi ro chết trên sông trên biển, cung thỉnh thần Nam Hải và các vị thủy thần, thành hoàng, thổ thần, các vị tiền hiền, hậu hiền, tiền vãng và hậu vãng về dự lễ. Lễ nghinh Ông thường diễn ra vào khoảng 3 giờ đến 4 giờ sáng của ngày chánh tế, là lễ rước thần Nam Hải và các vị thần về dự lễ hội. Đoàn thuyền nghinh Ông thường có 3 chiếc thuyền được trang trí cờ hoa rực rỡ, có bày hương án, bài vị và lễ vật... Những người tham gia lễ nghinh Ông gồm có chánh tế, các bồi tế, tư văn, hành nghi, học trò gia lễ, các thầy chùa và ban nhạc lễ. Có nơi còn có cả đội chèo bả trạo và đội gươm theo hầu (như ở vạn Cù Lao - Mỹ Tân, Bình Chánh, và vạn Đông Yên, Bình Dương, Bình Sơn). Đoàn thuyền nghinh Ông thường ra cách bờ chừng 2km - 3km rồi thực hành những nghi lễ thỉnh Ông và các vị thần. Sau khi thực hành nghi lễ, đoàn thuyền rước vong Ông sẽ về chánh điện để làm lễ chánh tế. Chánh tế là buổi lễ thường diễn ra vào khoảng 5 giờ đến 6 giờ sáng. Lễ vật dùng hiến tế trong lễ chánh tế thường phải là tam sanh, trong đó có 1 đến 2 con heo sống (đã cạo sạch lông nhưng chưa được xẻ thịt) được đặt quay đầu về chánh điện. Thành viên ban tế tự giống như những thành viên tham gia lễ nghinh Ông. Lễ chánh tế cũng diễn ra các bước sau: sơ hiến, á hiến và chung hiến như lễ yết, nhưng lễ chánh tế còn có múa gươm và có hát bả trạo. Đội gươm múa thì hầu thần theo các bước hiến tế, còn đội bả trạo thì múa sau khi các bước hiến tế đã kết thúc, vừa có ý nghĩa hầu thần lại vừa phục vụ nhu cầu vui chơi giải trí cho nhân dân trong làng, trong vạn. Làm lễ cúng bái ngoài bờ biển Trước năm 1945, vào dịp tổ chức lễ hội tế Cá Ông, trong làng, trong vạn còn tổ chức các hình thức vui chơi giả trí như lắc thúng, đua thuyền, kéo co, hát đối đáp, hát bội, đấu vật, đua cà kheo…, nhưng ngày nay thì các trò diễn này đã thiếu vắng, thi thoảng mới có một số trò diễn như lắc thúng, đua thuyền, hát bội... Ngoài những hình thức phổ biến vào những dịp lễ xuân thu nhị kỳ, còn có những nghi lễ liên quan đến việc cúng tế Cá Ông, tuy không thường xuyên nhưng cũng hết sức thiêng liêng của cư dân vùng sông nước, như lễ tang Cá Ông và lễ Thượng ngọc cốt. Cá voi chết được ngư dân gọi là Ông bị "lụy", hoặc "đi tu". Khi xác cá voi trôi dạt vào bờ biển của làng, của vạn nào thì làng, vạn phải lo làm lễ tang cho Ông. Họ rất vui mừng khi được Ông "lụy" vào bờ biển của làng, cảu vạn mình, vì cho rằng đó chính là phúc lớn của làng, nên lễ tang cho Cá Ông cũng được tiến hành hết sức thiêng liêng và trang trọng. Người nào trông thấy Ông luỵ đầu tiên sẽ làm trưởng nam, chịu tang Ông trong 3 năm, như đối với chính cha mẹ mình. Sau khi làm lễ tế Ông tại lăng, thì dân làng sẽ làm lễ tế Ông tại bờ biển - nơi Ông lụy. Lễ tang của Cá Ông cũng diễn ra các bước giống như lễ tang của người chết. Có nơi cũng có đội bả trạo hát chèo hầu nhằm kể công ơn Cá Ông đã cứu mạng những ngư dân không may gặp nạn ở trên biển do phong ba, bão tố. Ngoài ban tế tự và nhân dân trong làng, trong vạn còn có đại diện các vạn chài khác đến tham gia lễ tang và phúng điếu. Sau 3 năm, kể từ khi làm lễ tang Cá Ông, ngư dân làm lễ Thượng ngọc cốt. Lễ Thượng ngọc cốt là lễ rước cốt Ông đưa vào trong lăng để thờ. Họ rửa sạch từng bộ phận của xương Cá Ông bằng nước, rượu và nước ngũ vị trước khi đưa vào trong điện thờ. Có những nơi còn có cả nghĩa địa cá voi như ở Thạch Bi, Lệ Thủy... Một nghi thức trong lễ hội Hiện nay, nhiều nơi trong tỉnh hàng năm còn tổ chức cả lễ hội cúng Cá Ông, nhưng tiêu biểu nhất là lễ hội cúng Cá Ông của các vạn chài: Đông Yên (Bình Sơn), Cù Lao - Mỹ Tân, Thạch Bi (Sa Huỳnh, Đức Phổ), lăng Chánh, lăng Thứ và lăng Tân... (Lý Sơn), lăng Cổ Luỹ Nam (Nghĩa Phú, Tư Nghĩa).

Lễ hội tế Cá Ông (cá Voi) được ngư dân tỉnh Quảng Ngãi tổ chức 2 lần vào mùa xuân và vào mùa thu hàng năm, được gọi là "xuân thu nhị kỳ". Kỳ xuân là vào tháng Giêng hoặc tháng 2, kỳ thu là vào tháng 7 hoặc tháng 8 âm lịch. Thông thường vào dịp tế thu, ngư dân sẽ làm lễ tế lớn hơn kỳ xuân, vì đây là dịp để họ đền ơn Đức Ngư Ông đã phù hộ cho họ sau 1 mùa lênh đênh trên biển, có đông đảo các thành viên trong làng, trong vạn và các vạn chài lân cận cùng tham gia.

Lễ hội cúng cá Ông

Trình thức một lễ hội cúng Cá Ông thông thường ở ven biển tỉnh Quảng Ngãi (được miêu tả chủ yếu qua lễ hội lăng vạn Đông Yên, lăng Cù Lao và lăng Thạch Bi) bao gồm các nghi lễ sau: Lễ túc yết, lễ nghinh Ông, chánh lễ và các trò diễn. Lễ túc yết (hay còn gọi tắt là lễ yết) là lễ hiến cáo, được tiến hành vào chiều tối ngày chánh tế, gồm các bước từ sơ hiến, á hiến đến chung hiến. Thường là lễ cúng chay, nhằm cầu siêu tế độ cho những người bị rủi ro chết trên sông trên biển, cung thỉnh thần Nam Hải và các vị thủy thần, thành hoàng, thổ thần, các vị tiền hiền, hậu hiền, tiền vãng và hậu vãng về dự lễ. Lễ nghinh Ông thường diễn ra vào khoảng 3 giờ đến 4 giờ sáng của ngày chánh tế, là lễ rước thần Nam Hải và các vị thần về dự lễ hội. Đoàn thuyền nghinh Ông thường có 3 chiếc thuyền được trang trí cờ hoa rực rỡ, có bày hương án, bài vị và lễ vật... Những người tham gia lễ nghinh Ông gồm có chánh tế, các bồi tế, tư văn, hành nghi, học trò gia lễ, các thầy chùa và ban nhạc lễ. Có nơi còn có cả đội chèo bả trạo và đội gươm theo hầu (như ở vạn Cù Lao - Mỹ Tân, Bình Chánh, và vạn Đông Yên, Bình Dương, Bình Sơn). Đoàn thuyền nghinh Ông thường ra cách bờ chừng 2km - 3km rồi thực hành những nghi lễ thỉnh Ông và các vị thần. Sau khi thực hành nghi lễ, đoàn thuyền rước vong Ông sẽ về chánh điện để làm lễ chánh tế. Chánh tế là buổi lễ thường diễn ra vào khoảng 5 giờ đến 6 giờ sáng. Lễ vật dùng hiến tế trong lễ chánh tế thường phải là tam sanh, trong đó có 1 đến 2 con heo sống (đã cạo sạch lông nhưng chưa được xẻ thịt) được đặt quay đầu về chánh điện. Thành viên ban tế tự giống như những thành viên tham gia lễ nghinh Ông. Lễ chánh tế cũng diễn ra các bước sau: sơ hiến, á hiến và chung hiến như lễ yết, nhưng lễ chánh tế còn có múa gươm và có hát bả trạo. Đội gươm múa thì hầu thần theo các bước hiến tế, còn đội bả trạo thì múa sau khi các bước hiến tế đã kết thúc, vừa có ý nghĩa hầu thần lại vừa phục vụ nhu cầu vui chơi giải trí cho nhân dân trong làng, trong vạn. Làm lễ cúng bái ngoài bờ biển Trước năm 1945, vào dịp tổ chức lễ hội tế Cá Ông, trong làng, trong vạn còn tổ chức các hình thức vui chơi giả trí như lắc thúng, đua thuyền, kéo co, hát đối đáp, hát bội, đấu vật, đua cà kheo…, nhưng ngày nay thì các trò diễn này đã thiếu vắng, thi thoảng mới có một số trò diễn như lắc thúng, đua thuyền, hát bội... Ngoài những hình thức phổ biến vào những dịp lễ xuân thu nhị kỳ, còn có những nghi lễ liên quan đến việc cúng tế Cá Ông, tuy không thường xuyên nhưng cũng hết sức thiêng liêng của cư dân vùng sông nước, như lễ tang Cá Ông và lễ Thượng ngọc cốt. Cá voi chết được ngư dân gọi là Ông bị "lụy", hoặc "đi tu". Khi xác cá voi trôi dạt vào bờ biển của làng, của vạn nào thì làng, vạn phải lo làm lễ tang cho Ông. Họ rất vui mừng khi được Ông "lụy" vào bờ biển của làng, cảu vạn mình, vì cho rằng đó chính là phúc lớn của làng, nên lễ tang cho Cá Ông cũng được tiến hành hết sức thiêng liêng và trang trọng. Người nào trông thấy Ông luỵ đầu tiên sẽ làm trưởng nam, chịu tang Ông trong 3 năm, như đối với chính cha mẹ mình. Sau khi làm lễ tế Ông tại lăng, thì dân làng sẽ làm lễ tế Ông tại bờ biển - nơi Ông lụy. Lễ tang của Cá Ông cũng diễn ra các bước giống như lễ tang của người chết. Có nơi cũng có đội bả trạo hát chèo hầu nhằm kể công ơn Cá Ông đã cứu mạng những ngư dân không may gặp nạn ở trên biển do phong ba, bão tố. Ngoài ban tế tự và nhân dân trong làng, trong vạn còn có đại diện các vạn chài khác đến tham gia lễ tang và phúng điếu. Sau 3 năm, kể từ khi làm lễ tang Cá Ông, ngư dân làm lễ Thượng ngọc cốt. Lễ Thượng ngọc cốt là lễ rước cốt Ông đưa vào trong lăng để thờ. Họ rửa sạch từng bộ phận của xương Cá Ông bằng nước, rượu và nước ngũ vị trước khi đưa vào trong điện thờ. Có những nơi còn có cả nghĩa địa cá voi như ở Thạch Bi, Lệ Thủy... Một nghi thức trong lễ hội Hiện nay, nhiều nơi trong tỉnh hàng năm còn tổ chức cả lễ hội cúng Cá Ông, nhưng tiêu biểu nhất là lễ hội cúng Cá Ông của các vạn chài: Đông Yên (Bình Sơn), Cù Lao - Mỹ Tân, Thạch Bi (Sa Huỳnh, Đức Phổ), lăng Chánh, lăng Thứ và lăng Tân... (Lý Sơn), lăng Cổ Luỹ Nam (Nghĩa Phú, Tư Nghĩa).

Related Figures

Hội Dồi Bòng

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 7/1 Âm lịch (lehoi.info) - Hội Dồi Bòng được tổ chức hàng năm vào ngày mùng 7 tháng Giêng, tại xã An Hải, huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Lễ dồi bòng là một trò diễn dân gian tiêu biểu trong Lễ hội đình làng An Hải. Trong tâm thức của người dân làng An Hải, vẫn luôn nhớ về ngày hội qua một câu ca “Mùng bốn có hội đua ghe / Cho đến mùng bảy bắt phe dồi bòng”, thể hiện nhu cầu sinh hoạt văn hoá tâm linh không thể thiếu được trong những ngày tết đầu năm. Cảnh đẹp hút hồn ở đảo Lý Sơn Hội dồi bòng của người dân làng An Hải có từ thời xa xưa, thông qua hình thức sinh hoạt lễ hội có thể thấy đây là một trong những loại hình sinh hoạt văn hoá của cư dân nông nghiệp ở vùng đồng bằng Bắc bộ, đã theo chân người Việt trong quá trình di cư vào tỉnh Quảng Ngãi, ra đảo Lý Sơn (đầu thế kỷ XVII) và được nhân dân làng An Hải tổ chức vào ngày mồng 7 tháng Giêng hằng năm sau khi hội đua thuyền truyền thống đầu năm của làng kết thúc. Hội dồi bòng kết thúc cũng đồng nghĩa với việc kết thúc những lễ hội mùa xuân được tổ chức tại đình để nhân dân bắt tay vào 1 năm mới với những niềm tin mới và hy vọng mới sau khi giành được thắng lợi tại hội dồi bòng. Không gian diễn ra lễ hội là ở sân đình, tại đây người ta xây một lễ đài để làm lễ được gọi là “nhà trò”, trước nhà trò trên bãi biển rộng, ở hai đầu bãi dựng hai cây tre có ngọn, cao chừng 4 mét và trên mỗi cây tre có treo một giỏ tre, trong khi diễn ra cuộc chơi thì hai phe cử hai người giữ hai cột tre của nhau, để mỗi khi quả bòng được dồi vào thì cố lắc thật mạnh để quả bòng khó lọt được vào giỏ tre, nếu người phe nào giành được quả bòng và ném lọt được vào giỏ tre của phe mình thì xem như là thắng cuộc. Quả bòng để tổ chức hội dồi bòng được làng mua từ trong đất liền và trong những ngày cuối tháng Chạp, đến ngày “trồng đu lên phướn” (ngày 24 tháng chạp) làng sẽ tổ chức lễ để mở cửa đình chuẩn bị cho các hoạt động sinh hoạt lễ hội của làng và đưa quả bòng vào đặt tại “long đình” - nơi ngự trị của thần linh trong các ngày diễn ra lễ hội đầu năm ở tại đình làng. Vì vậy quả bòng trong hội dồi bòng không chỉ đơn thuần là loại quả để tổ chức hội mà còn là “quả thiêng” của thần linh, để sau này trong hội dồi bòng ai là người giành được, theo quan niệm của người dân, sẽ mang lại nhiều yếu tố may mắn cho bản thân, cho gia đình và cho xóm làng. Đình làng An Hải Để tổ chức lễ hội người ta chia làm hai phe (mỗi phe gồm hai xóm liền kề nhau), xã An Hải gồm có 4 xóm: xóm Tây và xóm Trung Yên làm thành một phe; xóm Trung Hoà, xóm Đông làm thành một phe, mỗi phe sẽ cử ra 1 đại diện gọi là “trùm phe” để tham gia vào cuộc chơi giành quả bòng. “Trùm phe” được trang phục giống như trang phục vận động viên thuyền đua và để phân biệt được xóm này với xóm khác người ta làm dấu chữ thập màu trắng và màu đỏ trên tráng của các Trùm phe. Trùm phe là người được tham gia lễ tế thần lần thứ hai tại “nhà trò” trước khi tổ chức hội dồi bòng. Trước khi bước vào hội, trong ngày mồng 7 tháng giêng ông Cả làng làm chủ tế lễ thần linh tại đình làng theo nghi thức rất trang trọng với sự có mặt đầy đủ của các chức sắc trong xã và đại diện thất tộc tiền hiền để tế cáo thành hoàng bổn xứ, những vị thần được thờ cúng trong xã và xin phép làm lễ “ra trò” (tổ chức trò diễn). Sau khi tế xong ở trong đình, hương án và long đình được rước ra “nhà trò” trước sân đình để tiếp tục làm lễ tế lần thứ 2 - lễ tế này mang tính chất an vị thần linh khi di chuyển thần từ đình ra “nhà trò”. Sau khi kết thúc lễ tế và kết thúc cuộc đua thuyền trong ngày mùng 7, ông Cả làng sẽ đến trước long đình cúi lạy 3 lạy và tiến đến lấy trái bòng được thờ trong long đình bước lui ra sát sân chơi để ném trái bòng. Sau 3 hồi trống hiệu, ông Cả làng giơ cao quả bòng qua đầu, mặt nhìn vào long đình và ném ngược quả bòng ra sân để các phe tranh nhau. Trong tiếng trống giục liên hồi và tiếng reo hò cổ vũ của hàng ngàn người xem hội, cuộc giành bòng diễn ra rất quyết liệt giữa các “trùm phe” để cố giành cho được trái bòng, có khi do sự tranh nhau còn làm cho quả bòng bị vỡ, nên sẽ chẳng có đội nào giành được quả bòng trong hội năm đó. Nếu người nào giành được trái bòng thì ngay lập tức phải ném trái bòng về đội mình để giữ lấy. Khi bòng được “trùm phe” ném ra, một cuộc tranh giành nữa cũng rất quyết liệt giữa những thành viên trong phe đã được phân chia theo xóm để cố giành và cố giữ cho được quả bòng và ngay lập tức thành viên phe nào bắt được quả bòng sẽ nhanh chóng mang quả bòng chạy về hướng xóm mình trong sự truy cản quyết liệt của đối phương, trong lúc đó người “trùm phe” cũng chạy đuổi theo để nhận lại quả bòng từ tay thành viên của phe mình và đem ném vào giỏ tre treo trên cột tre thuộc đội mình. Nếu phe nào giành và ném được quả bòng vào giỏ tre của phe mình là xem như phe đó đã thắng cuộc và được làng ban thưởng. Hội Dồi Bòng tại Quảng Ngãi Quả bòng được người dân nơi đây gọi là quả “sanh yên” - đầu năm ăn quả sanh yên/thanh yên, với mong muốn đem lại điều yên bình trong cuộc sống, cầu cho mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu và dân an vật thịnh, đó cũng là khát vọng muôn thuở của cư dân nông nghiệp quanh năm vất vả với ruộng đồng nhưng luôn “trông trời mưa nắng phải thì” để có cuộc sống được yên bình, no ấm hơn./.

(lehoi.info) - Hội Dồi Bòng được tổ chức hàng năm vào ngày mùng 7 tháng Giêng, tại xã An Hải, huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Lễ dồi bòng là một trò diễn dân gian tiêu biểu trong Lễ hội đình làng An Hải.

Trong tâm thức của người dân làng An Hải, vẫn luôn nhớ về ngày hội qua một câu ca “Mùng bốn có hội đua ghe / Cho đến mùng bảy bắt phe dồi bòng”, thể hiện nhu cầu sinh hoạt văn hoá tâm linh không thể thiếu được trong những ngày tết đầu năm. Cảnh đẹp hút hồn ở đảo Lý Sơn Hội dồi bòng của người dân làng An Hải có từ thời xa xưa, thông qua hình thức sinh hoạt lễ hội có thể thấy đây là một trong những loại hình sinh hoạt văn hoá của cư dân nông nghiệp ở vùng đồng bằng Bắc bộ, đã theo chân người Việt trong quá trình di cư vào tỉnh Quảng Ngãi, ra đảo Lý Sơn (đầu thế kỷ XVII) và được nhân dân làng An Hải tổ chức vào ngày mồng 7 tháng Giêng hằng năm sau khi hội đua thuyền truyền thống đầu năm của làng kết thúc. Hội dồi bòng kết thúc cũng đồng nghĩa với việc kết thúc những lễ hội mùa xuân được tổ chức tại đình để nhân dân bắt tay vào 1 năm mới với những niềm tin mới và hy vọng mới sau khi giành được thắng lợi tại hội dồi bòng. Không gian diễn ra lễ hội là ở sân đình, tại đây người ta xây một lễ đài để làm lễ được gọi là “nhà trò”, trước nhà trò trên bãi biển rộng, ở hai đầu bãi dựng hai cây tre có ngọn, cao chừng 4 mét và trên mỗi cây tre có treo một giỏ tre, trong khi diễn ra cuộc chơi thì hai phe cử hai người giữ hai cột tre của nhau, để mỗi khi quả bòng được dồi vào thì cố lắc thật mạnh để quả bòng khó lọt được vào giỏ tre, nếu người phe nào giành được quả bòng và ném lọt được vào giỏ tre của phe mình thì xem như là thắng cuộc. Quả bòng để tổ chức hội dồi bòng được làng mua từ trong đất liền và trong những ngày cuối tháng Chạp, đến ngày “trồng đu lên phướn” (ngày 24 tháng chạp) làng sẽ tổ chức lễ để mở cửa đình chuẩn bị cho các hoạt động sinh hoạt lễ hội của làng và đưa quả bòng vào đặt tại “long đình” - nơi ngự trị của thần linh trong các ngày diễn ra lễ hội đầu năm ở tại đình làng. Vì vậy quả bòng trong hội dồi bòng không chỉ đơn thuần là loại quả để tổ chức hội mà còn là “quả thiêng” của thần linh, để sau này trong hội dồi bòng ai là người giành được, theo quan niệm của người dân, sẽ mang lại nhiều yếu tố may mắn cho bản thân, cho gia đình và cho xóm làng. Đình làng An Hải Để tổ chức lễ hội người ta chia làm hai phe (mỗi phe gồm hai xóm liền kề nhau), xã An Hải gồm có 4 xóm: xóm Tây và xóm Trung Yên làm thành một phe; xóm Trung Hoà, xóm Đông làm thành một phe, mỗi phe sẽ cử ra 1 đại diện gọi là “trùm phe” để tham gia vào cuộc chơi giành quả bòng. “Trùm phe” được trang phục giống như trang phục vận động viên thuyền đua và để phân biệt được xóm này với xóm khác người ta làm dấu chữ thập màu trắng và màu đỏ trên tráng của các Trùm phe. Trùm phe là người được tham gia lễ tế thần lần thứ hai tại “nhà trò” trước khi tổ chức hội dồi bòng. Trước khi bước vào hội, trong ngày mồng 7 tháng giêng ông Cả làng làm chủ tế lễ thần linh tại đình làng theo nghi thức rất trang trọng với sự có mặt đầy đủ của các chức sắc trong xã và đại diện thất tộc tiền hiền để tế cáo thành hoàng bổn xứ, những vị thần được thờ cúng trong xã và xin phép làm lễ “ra trò” (tổ chức trò diễn). Sau khi tế xong ở trong đình, hương án và long đình được rước ra “nhà trò” trước sân đình để tiếp tục làm lễ tế lần thứ 2 - lễ tế này mang tính chất an vị thần linh khi di chuyển thần từ đình ra “nhà trò”. Sau khi kết thúc lễ tế và kết thúc cuộc đua thuyền trong ngày mùng 7, ông Cả làng sẽ đến trước long đình cúi lạy 3 lạy và tiến đến lấy trái bòng được thờ trong long đình bước lui ra sát sân chơi để ném trái bòng. Sau 3 hồi trống hiệu, ông Cả làng giơ cao quả bòng qua đầu, mặt nhìn vào long đình và ném ngược quả bòng ra sân để các phe tranh nhau. Trong tiếng trống giục liên hồi và tiếng reo hò cổ vũ của hàng ngàn người xem hội, cuộc giành bòng diễn ra rất quyết liệt giữa các “trùm phe” để cố giành cho được trái bòng, có khi do sự tranh nhau còn làm cho quả bòng bị vỡ, nên sẽ chẳng có đội nào giành được quả bòng trong hội năm đó. Nếu người nào giành được trái bòng thì ngay lập tức phải ném trái bòng về đội mình để giữ lấy. Khi bòng được “trùm phe” ném ra, một cuộc tranh giành nữa cũng rất quyết liệt giữa những thành viên trong phe đã được phân chia theo xóm để cố giành và cố giữ cho được quả bòng và ngay lập tức thành viên phe nào bắt được quả bòng sẽ nhanh chóng mang quả bòng chạy về hướng xóm mình trong sự truy cản quyết liệt của đối phương, trong lúc đó người “trùm phe” cũng chạy đuổi theo để nhận lại quả bòng từ tay thành viên của phe mình và đem ném vào giỏ tre treo trên cột tre thuộc đội mình. Nếu phe nào giành và ném được quả bòng vào giỏ tre của phe mình là xem như phe đó đã thắng cuộc và được làng ban thưởng. Hội Dồi Bòng tại Quảng Ngãi Quả bòng được người dân nơi đây gọi là quả “sanh yên” - đầu năm ăn quả sanh yên/thanh yên, với mong muốn đem lại điều yên bình trong cuộc sống, cầu cho mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu và dân an vật thịnh, đó cũng là khát vọng muôn thuở của cư dân nông nghiệp quanh năm vất vả với ruộng đồng nhưng luôn “trông trời mưa nắng phải thì” để có cuộc sống được yên bình, no ấm hơn./.

Related Figures

Lễ rước cộ Bà chợ Được

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/1- 11/1 Âm lịch Lễ hội Cộ Bà Chợ Được là một nét văn hoá đặc trưng mang đậm yếu tố tâm linh, tín ngưỡng của những người dân xứ Quảng. Lễ hội được diễn ra vào 2 ngày mùng 10 và 11 tháng giêng âm lịch hằng năm tại Lăng Bà (Thôn Phước Ấm- Chợ Được- xã Bình Triều, Thăng Bình, Quảng Nam). Lễ rước cộ Bà chợ Được Lễ hội gồm có các lễ cầu an, truy niệm Đức Bà, rước Cộ Bà và 1 số trò diễn xướng dân gian. Theo truyền thuyết kể lại rằng, vào năm 1852 (năm Tự Đức thứ 5) một lần Bà vân du qua thôn Phước Toản (Phước Ấm) thấy ở nơi đây có cỏ cây rậm rạp, thôn cư hẻo lánh, trông ra bóng nắng trên cát chói loà nhưng phong cảnh nơi đây lại hữu tình nên Bà muốn quy tụ thành chợ. Sau này dân chúng gọi nơi đây là Chợ Được (”Được” hiểu theo nghĩa “đắc thị”). Để tri ân việc Bà đã dựng chợ và phù trợ cho dân chúng làm ăn phát đạt, thịnh vượng người đã lập lăng để thờ Bà. Theo Thần phả ghi lại: vào năm Thành Thái thứ 6 Bà được triều đình sắc phong “Trai thục dực bảo trung hưng trung đẳng thần”. Từ sắc phong đó nên lễ rước Cộ Bà đã ra đời. Lễ rước Cộ Bà vừa mang ý nghĩa phụng tự lại vừa mang ý nghĩa sinh hoạt diễu hành tín ngưỡng dân gian. Đoàn rước cộ và phong sắc Bà Chợ Được Hội cộ chỉ diễn ra vào ban đêm, sau khi các vị cao niên ở trong làng tiến hành xong phần lễ diễn ra ở lăng thờ Bà, các món cúng ở đây đều là các món chay, sắc phong do 6 người khiêng sẽ dẫn đầu đoàn cộ (được đặt trên các xe bò đẩy đi), có phường bát âm, trung đại cổ cùng cờ phướn và tàn lọng, người dân 2 bên đường bày hương án đốt cung kính nghinh đón, lệ đó đến nay vẫn còn. Nghệ nhân ở làng cộ có tài chọn trích đoạn diễn Cộ như Thánh Gióng đuổi giặc Ân và Hai Bà Trưng đánh Tô Định… để từ quan chí dân, từ trẻ đến già ai nhìn vào cũng đều biết. Kiệu Bà là 1 ngai được sơn son thiếp vàng trên phủ lễ phục bằng nhung gấm màu đỏ, Kiệu được cung nghinh từ chính điện của lăng đưa ra sân với 6 người khiêng phục trang áo nẹp, nón chóp và phụng tống 2 bên là các bô lão, nhân sĩ và các chức sắc địa phương. Đi đầu đoàn rước Cộ Bà là các cộ hoa được trang trí rực rỡ bằng hoa lá, bằng giấy ngũ sắc và bằng vải lụa đủ màu phục hiện các tuồng tích xưa trong lịch sử dân tộc. Hàng ngàn người dân địa phương và các vùng xung quanh tham dự lễ rước Bà Sau lễ rước Cộ Bà mới đến phần hội thực sự gồm: đua thuyền, múa lân, hát bội và các hoạt động thể dục, thể thao….đặc biệt là hội đua thuyền trên sông Trường Giang.Đã thành lệ, hội đua thuyền mỗi năm không thiếu các ghe đua đến từ khắp các nơi như Duy Xuyên, Hội An, Núi Thành, Đại Lộc… Đó là 1 cuộc so tài, đọ sức, đấu trí quyết liệt góp phần làm cho lễ hội càng thêm sôi động. Hội đua thuyền trên sông Trường Giang Lễ hội thu hút đông đảo cư dân địa phương và các địa phương lân cận đến để tham gia. Xuquang.com

Lễ hội Cộ Bà Chợ Được là một nét văn hoá đặc trưng mang đậm yếu tố tâm linh, tín ngưỡng của những người dân xứ Quảng. Lễ hội được diễn ra vào 2 ngày mùng 10 và 11 tháng giêng âm lịch hằng năm tại Lăng Bà (Thôn Phước Ấm- Chợ Được- xã Bình Triều, Thăng Bình, Quảng Nam).

Lễ rước cộ Bà chợ Được

Lễ hội gồm có các lễ cầu an, truy niệm Đức Bà, rước Cộ Bà và 1 số trò diễn xướng dân gian. Theo truyền thuyết kể lại rằng, vào năm 1852 (năm Tự Đức thứ 5) một lần Bà vân du qua thôn Phước Toản (Phước Ấm) thấy ở nơi đây có cỏ cây rậm rạp, thôn cư hẻo lánh, trông ra bóng nắng trên cát chói loà nhưng phong cảnh nơi đây lại hữu tình nên Bà muốn quy tụ thành chợ. Sau này dân chúng gọi nơi đây là Chợ Được (”Được” hiểu theo nghĩa “đắc thị”). Để tri ân việc Bà đã dựng chợ và phù trợ cho dân chúng làm ăn phát đạt, thịnh vượng người đã lập lăng để thờ Bà. Theo Thần phả ghi lại: vào năm Thành Thái thứ 6 Bà được triều đình sắc phong “Trai thục dực bảo trung hưng trung đẳng thần”. Từ sắc phong đó nên lễ rước Cộ Bà đã ra đời. Lễ rước Cộ Bà vừa mang ý nghĩa phụng tự lại vừa mang ý nghĩa sinh hoạt diễu hành tín ngưỡng dân gian. Đoàn rước cộ và phong sắc Bà Chợ Được Hội cộ chỉ diễn ra vào ban đêm, sau khi các vị cao niên ở trong làng tiến hành xong phần lễ diễn ra ở lăng thờ Bà, các món cúng ở đây đều là các món chay, sắc phong do 6 người khiêng sẽ dẫn đầu đoàn cộ (được đặt trên các xe bò đẩy đi), có phường bát âm, trung đại cổ cùng cờ phướn và tàn lọng, người dân 2 bên đường bày hương án đốt cung kính nghinh đón, lệ đó đến nay vẫn còn. Nghệ nhân ở làng cộ có tài chọn trích đoạn diễn Cộ như Thánh Gióng đuổi giặc Ân và Hai Bà Trưng đánh Tô Định… để từ quan chí dân, từ trẻ đến già ai nhìn vào cũng đều biết. Kiệu Bà là 1 ngai được sơn son thiếp vàng trên phủ lễ phục bằng nhung gấm màu đỏ, Kiệu được cung nghinh từ chính điện của lăng đưa ra sân với 6 người khiêng phục trang áo nẹp, nón chóp và phụng tống 2 bên là các bô lão, nhân sĩ và các chức sắc địa phương. Đi đầu đoàn rước Cộ Bà là các cộ hoa được trang trí rực rỡ bằng hoa lá, bằng giấy ngũ sắc và bằng vải lụa đủ màu phục hiện các tuồng tích xưa trong lịch sử dân tộc. Hàng ngàn người dân địa phương và các vùng xung quanh tham dự lễ rước Bà Sau lễ rước Cộ Bà mới đến phần hội thực sự gồm: đua thuyền, múa lân, hát bội và các hoạt động thể dục, thể thao….đặc biệt là hội đua thuyền trên sông Trường Giang.Đã thành lệ, hội đua thuyền mỗi năm không thiếu các ghe đua đến từ khắp các nơi như Duy Xuyên, Hội An, Núi Thành, Đại Lộc… Đó là 1 cuộc so tài, đọ sức, đấu trí quyết liệt góp phần làm cho lễ hội càng thêm sôi động. Hội đua thuyền trên sông Trường Giang Lễ hội thu hút đông đảo cư dân địa phương và các địa phương lân cận đến để tham gia. Xuquang.com

Đoàn rước cộ và phong sắc Bà Chợ Được

Related Figures

Lễ hội điện Trường Bà

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/4- 17/4 Âm lịch (lehoi.info)- Lễ hội điện Trường Bà được tổ chức trong vòng 3 ngày từ ngày 15 đến ngày 17 tháng 4 âm lịch. Quang cảnh Lễ hội Điện Trường Bà Lễ hội điện Trường Bà là một lễ hội dân gian mang tính đặc trưng độc đáo có sự tích hợp và giao thoa văn hóa của nhiều dân tộc khác nhau. Theo nhiều di tích và nhiều văn bản để lại, vào khoảng thế kỷ 14, thế kỷ 15, người dân tộc Chăm đã đến sinh sống ở tại thị trấn Trà Xuân, Trà Bồng và xây dựng điện Trường Bà để thờ phụng, để thể hiện lòng biết ơn sâu sắc đối với thánh mẫu trong việc giúp dân tộc Chăm đi khai hoang, mở đất và có cuộc sống no đủ. Tuy nhiên, điều khác biệt của điện Trường Bà ở Trà Bồng so với những điện thờ Thánh Mẫu Thiên Yana trên địa bàn trong tỉnh và ngoài tỉnh là, ngoài việc thờ phụng thiên thần Yana, thì người dân địa phương còn thờ phụng 2 vị nhân thần có thật khác ở trong lịch sử. Một nghi thức trong lễ chánh tế của lễ hội điện Trường Bà Lễ hội điện Trường Bà diễn ra rất nhiều hoạt động đặc sắc thể hiện lòng thờ kính và biết ơn đối với Thánh mẫu Thiên Yana và các vị thần khác được nhân dân địa phương thờ phụng từ hàng trăm năm nay. Trong đó, các hoạt động chính của lễ hội điện Trường Bà được tổ chức vào ngày mùng 6 tháng 5. Đây được gọi là Lễ Lệ xuân Trường Bà- 1 trong 2 lễ hội được tổ chức tại điện Trường Bà hằng năm. Lễ hội được tổ chức thành nhiều phần khác nhau như: Lễ Mộc Dục, Lễ hội hiến trâu, lễ Tế ngoại đàn, lễ cồng chiêng, lễ chánh tế và phần hội với nhiều những hoạt động dân gian mang tính đặc trưng riêng như: Thi đấu cờ người, múa lân, hát bộ và thi đấu bóng chuyền. Trong các hoạt động lễ hội tại điện Trường Bà còn thể hiện sự giao thoa văn hóa đậm nét giữa các dân tộc anh em mà điển hình đó là văn hóa của các dân tộc Chăm, Hoa, Cor và Việt… được thể hiện qua từng phần lễ và phần hội. Nếu như Lễ tế ngoại đàn, chánh tế thể hiện văn hóa của người dân Việt, thì cũng tại lễ hội điện Trường Bà, lễ hiến trâu, múa cồng chiêng… mang nét đặc trưng của đồng bào dân tộc Cor địa phương. Lễ hội đã thể hiện thông điệp đầu tiên có nội dung gắn tình đoàn kết giữa các dân tộc trong công cuộc mở mang bờ cõi, phát triển đất nước. Không chỉ vậy, phần nghi thức được thực thi ở trong lễ hội và các vật phẩm cống lễ cũng mang âm hưởng văn hóa của một số dân tộc anh em khác ở trong vùng… Do đó, đồng bào các dân tộc Chăm ở Châu Đốc, An Giang, người gốc Hoa ở Hội An và nhiều những du khách thập phương khác cũng tề tựu đông đủ tại lễ hội lần này. Cứ vào thời điểm rằm tháng 4 và tháng 8 âm lịch hàng năm, bà con người dân tộc Cor lại tụ tập về điện Trường Bà để làm lễ cầu an và thể hiện lòng biết ơn đến các vị thần linh. Mỗi dịp như vậy, người dân nơi đây lại dâng các vật phẩm của rừng, làm lễ đâm trâu, múa Cadháu và chơi cồng chiêng… Đồng bào Cor múa hát vui trong Lễ hội Đồng bào dân tộc Cor từ xưa vẫn coi lễ hội Trường Bà là một lễ hội chung, mang ý nghĩa đoàn kết của nhân dân miền xuôi và nhân dân miền ngược. Việc tổ chức long trọng lễ hội nhằm giúp cho người dân hiểu biết rõ ý nghĩa gắn bó đoàn kết, giữa các dân tộc là truyền thống có từ rất lâu đời trong dân gian. Bên cạnh đó, lễ hội cũng đã thể hiện tốt chức năng trong việc thu hút các khách du lịch, góp phần phát triển thương mại- dịch vụ ở tại địa phương. Lễ hội điện Trường Bà đã mang lại rất nhiều ý nghĩa cùng giá trị nhân văn và giáo dục sâu sắc. Đây như là một di tích sống khẳng định tinh thần đoàn kết giữa đồng bào miền xuôi và đồng bào miền ngược. Với tinh thần đó, di tích lịch sử văn hóa điện Trường Bà và lễ hội hằng năm tại đây xứng đáng được bảo tồn, gìn giữ cho đến muôn đời sau./. lehoi.info tổng hợp

(lehoi.info)- Lễ hội điện Trường Bà được tổ chức trong vòng 3 ngày từ ngày 15 đến ngày 17 tháng 4 âm lịch.

Quang cảnh Lễ hội Điện Trường Bà

Lễ hội điện Trường Bà là một lễ hội dân gian mang tính đặc trưng độc đáo có sự tích hợp và giao thoa văn hóa của nhiều dân tộc khác nhau. Theo nhiều di tích và nhiều văn bản để lại, vào khoảng thế kỷ 14, thế kỷ 15, người dân tộc Chăm đã đến sinh sống ở tại thị trấn Trà Xuân, Trà Bồng và xây dựng điện Trường Bà để thờ phụng, để thể hiện lòng biết ơn sâu sắc đối với thánh mẫu trong việc giúp dân tộc Chăm đi khai hoang, mở đất và có cuộc sống no đủ. Tuy nhiên, điều khác biệt của điện Trường Bà ở Trà Bồng so với những điện thờ Thánh Mẫu Thiên Yana trên địa bàn trong tỉnh và ngoài tỉnh là, ngoài việc thờ phụng thiên thần Yana, thì người dân địa phương còn thờ phụng 2 vị nhân thần có thật khác ở trong lịch sử.

Một nghi thức trong lễ chánh tế của lễ hội điện Trường Bà

Lễ hội điện Trường Bà diễn ra rất nhiều hoạt động đặc sắc thể hiện lòng thờ kính và biết ơn đối với Thánh mẫu Thiên Yana và các vị thần khác được nhân dân địa phương thờ phụng từ hàng trăm năm nay. Trong đó, các hoạt động chính của lễ hội điện Trường Bà được tổ chức vào ngày mùng 6 tháng 5. Đây được gọi là Lễ Lệ xuân Trường Bà- 1 trong 2 lễ hội được tổ chức tại điện Trường Bà hằng năm. Lễ hội được tổ chức thành nhiều phần khác nhau như: Lễ Mộc Dục, Lễ hội hiến trâu, lễ Tế ngoại đàn, lễ cồng chiêng, lễ chánh tế và phần hội với nhiều những hoạt động dân gian mang tính đặc trưng riêng như: Thi đấu cờ người, múa lân, hát bộ và thi đấu bóng chuyền. Trong các hoạt động lễ hội tại điện Trường Bà còn thể hiện sự giao thoa văn hóa đậm nét giữa các dân tộc anh em mà điển hình đó là văn hóa của các dân tộc Chăm, Hoa, Cor và Việt… được thể hiện qua từng phần lễ và phần hội. Nếu như Lễ tế ngoại đàn, chánh tế thể hiện văn hóa của người dân Việt, thì cũng tại lễ hội điện Trường Bà, lễ hiến trâu, múa cồng chiêng… mang nét đặc trưng của đồng bào dân tộc Cor địa phương. Lễ hội đã thể hiện thông điệp đầu tiên có nội dung gắn tình đoàn kết giữa các dân tộc trong công cuộc mở mang bờ cõi, phát triển đất nước. Không chỉ vậy, phần nghi thức được thực thi ở trong lễ hội và các vật phẩm cống lễ cũng mang âm hưởng văn hóa của một số dân tộc anh em khác ở trong vùng… Do đó, đồng bào các dân tộc Chăm ở Châu Đốc, An Giang, người gốc Hoa ở Hội An và nhiều những du khách thập phương khác cũng tề tựu đông đủ tại lễ hội lần này. Cứ vào thời điểm rằm tháng 4 và tháng 8 âm lịch hàng năm, bà con người dân tộc Cor lại tụ tập về điện Trường Bà để làm lễ cầu an và thể hiện lòng biết ơn đến các vị thần linh. Mỗi dịp như vậy, người dân nơi đây lại dâng các vật phẩm của rừng, làm lễ đâm trâu, múa Cadháu và chơi cồng chiêng…

Đồng bào Cor múa hát vui trong Lễ hội

Đồng bào dân tộc Cor từ xưa vẫn coi lễ hội Trường Bà là một lễ hội chung, mang ý nghĩa đoàn kết của nhân dân miền xuôi và nhân dân miền ngược. Việc tổ chức long trọng lễ hội nhằm giúp cho người dân hiểu biết rõ ý nghĩa gắn bó đoàn kết, giữa các dân tộc là truyền thống có từ rất lâu đời trong dân gian. Bên cạnh đó, lễ hội cũng đã thể hiện tốt chức năng trong việc thu hút các khách du lịch, góp phần phát triển thương mại- dịch vụ ở tại địa phương. Lễ hội điện Trường Bà đã mang lại rất nhiều ý nghĩa cùng giá trị nhân văn và giáo dục sâu sắc. Đây như là một di tích sống khẳng định tinh thần đoàn kết giữa đồng bào miền xuôi và đồng bào miền ngược. Với tinh thần đó, di tích lịch sử văn hóa điện Trường Bà và lễ hội hằng năm tại đây xứng đáng được bảo tồn, gìn giữ cho đến muôn đời sau./. lehoi.info tổng hợp

Related Figures

Lễ hội Ká-pêê-nau của người Cadong

Thông tin thời kỳ

Cứ vào những năm mưa thuận gió hòa, cây lúa trên nương cho nhiều hạt, thì người dân tộc Cadong ở Trà My - Quảng Nam lại vui mừng và sung sướng vì một năm đã cho họ được một vụ mùa no đủ. Đó cũng là lúc gia đình bàn chuyện với các bô lão (Hội đồng già làng) xin ngày để mở hội Ká-pêê-nau (hội ăn mừng lúa mới). Lễ hội thường được diễn ra vào tháng 9 và tháng 10 âm lịch trước mùa thu hoạch khi đám lúa trên nương, trên dãy đã chín vàng. Lễ hội Ká-pêê-nau của người Cadong tại Quảng Nam Với người dân tộc Cadong, từ bao đời nay, Thần lúa (Mó-pế), luôn được tôn kính và giữ một vị trí rất quan trọng, thân thiết trong đời sống của mỗi gia đình. Ước muốn no đủ, an lành, hạnh phúc và thịnh vượng... lễ cầu mùa và lễ hội Ká-pêê-nau (Lễ ăn mừng lúa mới) của người dân tộc Cadong là một tín ngưỡng mang đậm nét của các cư dân vùng núi tôn vinh vị Thần lúa của mình. Độc đáo lễ hội Ká-pêê-nau của người Cadong Thông thường, cứ đến khoảng tháng 9, tháng 10 âm lịch, khi những đám lúa trên nương, trên rẫy đã chín vàng, gia đình sẽ suốt tượng trưng một số lúa vừa đủ một gùi mang về rồi trình báo với Hội đồng già làng xin phép ngày để tổ chức lễ hội Ká-pêê-nau. Cứ thế hết nhà này lại đến nhà khác, lễ hội Ká-pêê-nau diễn ra rất tưng bừng. Để cho hội Ká-pêê-nau thêm tưng bừng, họ chọn một loại nếp đặc chủng, nấu thành xôi và làm men ủ rượu, để làm rượu cần. Nếu không có gạo nếp, thì dùng sắn để làm rượu cần và lo gà, heo và một số thực phẩm khác... Đặc biệt, lúa mới vừa được suốt về dùng để nấu xôi và làm bánh. Một nghi thức trong lễ hội Ká-pêê-nau của người Cadong Trong ngày hội, các con cháu ở trong họ dù có đi làm ăn xa hay có chồng ở rể đều được quy tụ về. Khách mời khi đến tham dự hội Ká-pêê-nau thường mang thêm một ít rượu, cơm nếp, thịt và cá khô... để chung vui cùng gia chủ. Sáng sớm, khi mặt trời vừa hé lộ, gia chủ dọn một mâm cúng gồm có: một gói bánh bằng lá dong, một ché rượu, bốn bát cơm mới, một ống xôi nướng trong ống tre, một con chuột, một con cá nướng, một con sóc nướng, một con gà luộc chín, một đĩa trầu cau và đặt mâm cúng trong nhà không theo hướng nào cả. Người cúng mặc đồ trong trang phục truyền thống của người dân tộc Cadong. Họ khấn vái và mới các Yàng, ông bà cùng tổ tiên về dự. Họ tin rằng vị thần này đã giúp đỡ, chở che và đùm bọc họ vượt qua mọi hiểm nguy, hoạn nạn, nghèo đói và bệnh tật. Cúng xong, dân làng sẽ cùng nhau ăn uống, mời rượu no say, hỏi thăm sức khỏe, công việc, nương rẫy... trong sự đùm bọc và thương yêu của tát cả mọi người.

Related Figures

Hội mừng lúa mới của đồng bào Cơ Tu

Thông tin thời kỳ

Hàng năm, cứ vào tháng 7 âm lịch, khi những cánh đồng lúa đã chín vàng rực rỡ, đồng bào người dân tộc Cơ Tu miền tây tỉnh Quảng Nam lại hân hoan mở lễ hội mừng lúa mới. Lễ hội được diễn ra vào lúc thu hoạch mùa lúa mới, để cúng Giàng (Trời) và các đấng thần linh đã phù hộ cho dân làng có một mùa bội thu và cuộc sống luôn bình yên, mưa thuận gió hòa. Đồng bào Cơ Tu vào hội mừng lúa mới Lễ hội mừng lúa mới là dịp để mọi người dân trong làng giao lưu và gặp gỡ với nhau, không khí trong làng vì thế cũng luôn rộn ràng, náo nức. Các nghệ nhân thử lại cồng, chiêng cùng các loại nhạc cụ để đảm bảo đúng âm và đúng điệu. Đặc biệt, người có uy tín ở trong làng được cử đi mời khách tới tham dự lễ hội của làng mình. Nam thanh niên thì lo quét dọn nhà cửa, đắp sửa lại đường đi, sân làng, sắp xếp và trang trí Gươl (nhà cộng đồng) thật khang trang để đón các vị khách quý. Những dụng cụ sản xuất được đưa vào Gươl để “báo cáo” với thần linh, giàng về kết quả công việc sản xuất suốt một vụ mùa vừa qua. Các mẹ, các chị chuẩn bị những trang phục truyền thống, các loại gùi…để sớm mai lên rẫy tuốt những gùi lúa chín vàng về cho làng. Mọi người trong làng ai ai cũng hăng hái góp sức để có được một lễ mừng lúa mới thật thành công. Một nghi thức trong hội mừng lúa mới của đồng bào Cơ Tu Trong lễ hội mừng lúa mới, đồng bào còn tổ chức cả lễ hội đâm trâu để cúng Giàng, cúng thần linh. Sau khi trâu chết, già làng sẽ cắt một miếng đuôi trâu, cùng với một con gà sống tẩm máu trâu rồi ném lên cái ổ ở trên cột nêu. Nếu như lễ vật đó rơi đúng vào ổ, xem như Giàng và thần linh đã chấp nhận lễ hội mừng lúa mới. Những tấm dồ và tấm tút sặc sỡ được phủ lên mình con trâu với hàm ý chia của cải cho nó, gạo nếp và rượu được đổ vào miệng của con trâu với ý nghĩa cho trâu được ăn no, và chiêng trống lại nổi lên để đưa tiễn linh hồn trâu trở về với thần linh. Xong phần lễ, cả làng sẽ tổ chức đến phần hội. Thịt trâu được xẻ ra, một phần được dành cho già làng để tiếp khách quý ngay tại Gươl, phần còn lại được chia đều cho cả làng. Rượu cần, xôi nếp, thịt lợn, gà và trái cây... được mang ra, cả làng quây quần ăn uống, tâm tình và bàn chuyện làm ăn. Mọi người cũng không quên múa hát những làn điệu dân ca vui vẻ. Phần múa Tung tung zá zá làm cho lễ hội mừng lúa mới càng thêm tưng bừng và hấp dẫn. Cả làng cùng hòa mình trong không khí phấn khởi và mừng cho một vụ mùa thắng lợi. Đâm trâu - nghi thức thiêng liêng nhất của lễ hội mừng lúa mới Lễ hội mừng lúa mới của đồng bào người dân tộc Cơ Tu còn giữ được nhiều phong tục tập quán từ thời xa xưa, đó là một nét đẹp của văn hóa truyền thống cần được giữ gìn và bảo vệ. Theo: TTXVN

Hàng năm, cứ vào tháng 7 âm lịch, khi những cánh đồng lúa đã chín vàng rực rỡ, đồng bào người dân tộc Cơ Tu miền tây tỉnh Quảng Nam lại hân hoan mở lễ hội mừng lúa mới. Lễ hội được diễn ra vào lúc thu hoạch mùa lúa mới, để cúng Giàng (Trời) và các đấng thần linh đã phù hộ cho dân làng có một mùa bội thu và cuộc sống luôn bình yên, mưa thuận gió hòa.

Đồng bào Cơ Tu vào hội mừng lúa mới

Lễ hội mừng lúa mới là dịp để mọi người dân trong làng giao lưu và gặp gỡ với nhau, không khí trong làng vì thế cũng luôn rộn ràng, náo nức. Các nghệ nhân thử lại cồng, chiêng cùng các loại nhạc cụ để đảm bảo đúng âm và đúng điệu. Đặc biệt, người có uy tín ở trong làng được cử đi mời khách tới tham dự lễ hội của làng mình. Nam thanh niên thì lo quét dọn nhà cửa, đắp sửa lại đường đi, sân làng, sắp xếp và trang trí Gươl (nhà cộng đồng) thật khang trang để đón các vị khách quý. Những dụng cụ sản xuất được đưa vào Gươl để “báo cáo” với thần linh, giàng về kết quả công việc sản xuất suốt một vụ mùa vừa qua. Các mẹ, các chị chuẩn bị những trang phục truyền thống, các loại gùi…để sớm mai lên rẫy tuốt những gùi lúa chín vàng về cho làng. Mọi người trong làng ai ai cũng hăng hái góp sức để có được một lễ mừng lúa mới thật thành công. Một nghi thức trong hội mừng lúa mới của đồng bào Cơ Tu Trong lễ hội mừng lúa mới, đồng bào còn tổ chức cả lễ hội đâm trâu để cúng Giàng, cúng thần linh. Sau khi trâu chết, già làng sẽ cắt một miếng đuôi trâu, cùng với một con gà sống tẩm máu trâu rồi ném lên cái ổ ở trên cột nêu. Nếu như lễ vật đó rơi đúng vào ổ, xem như Giàng và thần linh đã chấp nhận lễ hội mừng lúa mới. Những tấm dồ và tấm tút sặc sỡ được phủ lên mình con trâu với hàm ý chia của cải cho nó, gạo nếp và rượu được đổ vào miệng của con trâu với ý nghĩa cho trâu được ăn no, và chiêng trống lại nổi lên để đưa tiễn linh hồn trâu trở về với thần linh. Xong phần lễ, cả làng sẽ tổ chức đến phần hội. Thịt trâu được xẻ ra, một phần được dành cho già làng để tiếp khách quý ngay tại Gươl, phần còn lại được chia đều cho cả làng. Rượu cần, xôi nếp, thịt lợn, gà và trái cây... được mang ra, cả làng quây quần ăn uống, tâm tình và bàn chuyện làm ăn. Mọi người cũng không quên múa hát những làn điệu dân ca vui vẻ. Phần múa Tung tung zá zá làm cho lễ hội mừng lúa mới càng thêm tưng bừng và hấp dẫn. Cả làng cùng hòa mình trong không khí phấn khởi và mừng cho một vụ mùa thắng lợi. Đâm trâu - nghi thức thiêng liêng nhất của lễ hội mừng lúa mới Lễ hội mừng lúa mới của đồng bào người dân tộc Cơ Tu còn giữ được nhiều phong tục tập quán từ thời xa xưa, đó là một nét đẹp của văn hóa truyền thống cần được giữ gìn và bảo vệ. Theo: TTXVN

Related Figures

Lễ hội Bà Thu Bồn

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 12/2 Âm lịch Lễ hội Bà Thu Bồn là một trong những lễ hội dân gian của cư dân vùng ven sông Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam.Lễ hội được tổ chức vào ngày 12 tháng 2 âm lịch hàng năm. Lễ hội là dịp để những người dân nơi đây tỏ lòng thành kính biết ơn sự che chở của bà cho dân làng sống ở trên bờ cũng như ở trên sông nước được bình an, ấm no. Đây là một lễ hội lớn mang màu sắc tín ngưỡng dân gian có từ bao đời thể hiện tinh thần đoàn kết các dân tộc Chăm, dân tộc Cơ Tu và dân tộc Kinh sinh sống vùng thượng lưu sông Thu Bồn, Vu Gia (tỉnh Quảng Nam). Lễ hội Bà Thu Bồn Sự tích về “Bà Thu Bồn” có rất nhiều truyền thuyết. Nhưng thuyết phục hơn cả là một câu chuyện được lưu truyền trong dân gian ở làng Thu Bồn như sau: Bà Thu Bồn hay còn được gọi là bà Bô Bô - một vị nữ tướng của nhà Lê bị giặc truy đuổi đến làng Thu Bồn thì bị ngã ngựa do tóc của bà bị quấn vào chân ngựa, sau đó bà đã bị giặc giết. Bà đã được các vua ở triều Nguyễn sắc phong là Bô Bô phu nhân, là thượng đẳng thần. Có lẽ chính vì vậy mà những người dân ở nơi đây đã truyền tụng những truyền thuyết về bà mẹ xứ sở mang sắc màu thần bí nhưng luôn là biểu tượng của cái đẹp, của khát vọng thái bình. Lễ rước linh vị Bà Thu Bồn về lăng Phần nghi lễ của lễ hội Bà Thu Bồn gồm có lễ rước nước thiêng ở trên sông Thu Bồn, rước "Ngũ hành tiên nương" (5 vị nữ tướng dưới quyền, theo hầu Bà Thu Bồn trong cuộc chinh chiến) về lăng Bà để cúng tế, lễ cầu quốc thái dân an, cầu mưa thuận gió hòa... Lễ vật cúng bao giờ cũng có 1 con trâu và 1 mâm xôi lớn. Trâu tế sau khi bị giết, không xẻ thịt hay nấu chín mà để nguyên cả con, dùng huyết của nó bôi lên cúng. Lễ đua thuyền tại lễ hội Bà Thu Bồn Cùng với các hoạt động tế lễ, phần hội còn có các hoạt động văn hóa - thể thao hấp dẫn như hô hát bài chòi, hát tuồng, hát hò khoan đối đáp và hội hoa đăng trên sông Thu Bồn; thi đấu bóng đá, bóng chuyền, thi kéo co quan trọng nhất là hội đua thuyền Lệ Bà (Nam-Nữ), hội thả hoa đăng và đốt lửa thiêng trên những bãi bồi của dòng Thu Bồn. Từ năm 2005 đến nay, lễ hội Bà Thu Bồn được tỉnh Quảng Nam đưa vào chương trình lễ hội "Quảng Nam - hành trình di sản".

Lễ hội Bà Thu Bồn là một trong những lễ hội dân gian của cư dân vùng ven sông Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam.Lễ hội được tổ chức vào ngày 12 tháng 2 âm lịch hàng năm. Lễ hội là dịp để những người dân nơi đây tỏ lòng thành kính biết ơn sự che chở của bà cho dân làng sống ở trên bờ cũng như ở trên sông nước được bình an, ấm no. Đây là một lễ hội lớn mang màu sắc tín ngưỡng dân gian có từ bao đời thể hiện tinh thần đoàn kết các dân tộc Chăm, dân tộc Cơ Tu và dân tộc Kinh sinh sống vùng thượng lưu sông Thu Bồn, Vu Gia (tỉnh Quảng Nam).

Lễ hội Bà Thu Bồn

Sự tích về “Bà Thu Bồn” có rất nhiều truyền thuyết. Nhưng thuyết phục hơn cả là một câu chuyện được lưu truyền trong dân gian ở làng Thu Bồn như sau: Bà Thu Bồn hay còn được gọi là bà Bô Bô - một vị nữ tướng của nhà Lê bị giặc truy đuổi đến làng Thu Bồn thì bị ngã ngựa do tóc của bà bị quấn vào chân ngựa, sau đó bà đã bị giặc giết. Bà đã được các vua ở triều Nguyễn sắc phong là Bô Bô phu nhân, là thượng đẳng thần. Có lẽ chính vì vậy mà những người dân ở nơi đây đã truyền tụng những truyền thuyết về bà mẹ xứ sở mang sắc màu thần bí nhưng luôn là biểu tượng của cái đẹp, của khát vọng thái bình. Lễ rước linh vị Bà Thu Bồn về lăng Phần nghi lễ của lễ hội Bà Thu Bồn gồm có lễ rước nước thiêng ở trên sông Thu Bồn, rước "Ngũ hành tiên nương" (5 vị nữ tướng dưới quyền, theo hầu Bà Thu Bồn trong cuộc chinh chiến) về lăng Bà để cúng tế, lễ cầu quốc thái dân an, cầu mưa thuận gió hòa... Lễ vật cúng bao giờ cũng có 1 con trâu và 1 mâm xôi lớn. Trâu tế sau khi bị giết, không xẻ thịt hay nấu chín mà để nguyên cả con, dùng huyết của nó bôi lên cúng. Lễ đua thuyền tại lễ hội Bà Thu Bồn Cùng với các hoạt động tế lễ, phần hội còn có các hoạt động văn hóa - thể thao hấp dẫn như hô hát bài chòi, hát tuồng, hát hò khoan đối đáp và hội hoa đăng trên sông Thu Bồn; thi đấu bóng đá, bóng chuyền, thi kéo co quan trọng nhất là hội đua thuyền Lệ Bà (Nam-Nữ), hội thả hoa đăng và đốt lửa thiêng trên những bãi bồi của dòng Thu Bồn. Từ năm 2005 đến nay, lễ hội Bà Thu Bồn được tỉnh Quảng Nam đưa vào chương trình lễ hội "Quảng Nam - hành trình di sản".

Related Figures

Lễ hội Cầu bông

Thông tin thời kỳ

Lễ hội Cầu Bông được tổ chức hàng năm vào mùng 7 tháng Giêng âm lịch ở tại làng Trà Quế, thuộc xã Cẩm Hà, thành phố Hội An, Quảng Nam. Lễ hội Cầu Bông có ý nghĩa giống như một nghi lễ mở mùa cho một năm mới. Hàng trăm gia đình lo sắm sửa lễ vật dâng cúng và cầu mong một năm mới mưa thuận, gió hoà, mùa rau bội thu, nhà nhà được no ấm. Đặc sắc lễ hội Cầu bông Trước hết là lễ Nghinh thần (lễ rước thần), từ sáng sớm những người dân ở 2 làng đã tụ hội về đình làng, về nhà thờ Tiền hiền để nghinh thần. Cờ phướng dâng cao, kiệu hoa quả tươi, lư hương và án thờ được 4 chàng trai trong làng vận lễ phục khiêng đi. Trước đoàn rước là 2 hàng cờ, biển, theo sau kiệu thần là trống chiêng, đồ gia lễ, đội nhạc cổ và các nghệ nhân, các bô lão trong sắc phục áo dài, khăn đóng diễu qua các ngõ làng, các thôn xóm. Lễ nghinh thần của làng rau ở Trà Quế bao giờ cũng có thêm đoàn phụ nữ mặc áo dài, trên tay bưng một mâm ngũ quả. Một nghi thức trong lễ hội Cầu bông Làng Trà Quế từ lâu đời đã nổi tiếng với nghề trồng rau. Năm nào làng rau phát đạt thì năm đó lễ Cầu Bông được tổ chức quy mô. Ngoài phần lễ còn có phần hoạt động hội hè, vui chơi để bà con nhân dân giải trí và chuẩn bị bước vào năm mới với hy vọng nhiều tài lộc. Khi đoàn rước vừa đến đình, các vị bô lão sẽ tiến hành ngay lễ cúng đất và cúng âm linh theo nghi thức truyền thống. Bàn thờ cúng đất được đặt trước và đối diện với bàn cúng chính, trên bàn cúng có bày hoa quả, gạo, muối, thịt gạo, áo giấy và vật tế âm linh. Sau một năm làm ăn vất vả, đến lúc rãnh rỗi, nghỉ ngơi, nông dân luôn ngưỡng vọng về ân đức cô bác, âm linh, đồng thời bày tỏ lòng thành và niềm thương cảm. Tiếp theo đó mọi người sẽ bước vào phần tế chính thức với bàn thờ đầy ắp bánh trái và hương hoa, đặc biệt là có cả một con gà giò. Theo người dân nơi đây, gà giò dùng để cúng phải là gà trống nuôi vừa mới lớn, có màu lông đẹp, đem luộc hết sức cẩn thận, da và gân phải còn nguyên vẹn. Văn tế có nội dung tôn vinh, ngưỡng vọng công đức tổ tiên và những bậc tiền hiền đã có công khai hoang lập nên làng rau truyền thống hơn 500 năm qua, Sau khi tế lễ xong, các cụ cao niên sẽ tập trung lại để xem giò gà, nếu giữa bàn chân gà đầy đặn thì xóm làng bình an, khá giả và hoa trái tốt tươi. Không chỉ tập trung cúng đình, cả làng nhà nào cũng sắm 1 mâm lễ vật để Cầu Bông. Lễ vật nhất thiết phải có 1 con gà trống thiến miệng ngậm hoa, trên lưng thì cắm 1 con dao làm bằng tre, 5 dĩa xôi hồng cắm 5 cái bông rực rỡ và 1 ly rượu trắng. Ngày nay, mọi người đều cảm thấy mình được xác nhận là một thành viên quan trọng không thể thiếu ở trong làng. Chính vì thế mà tất cả dân làng Trà Quế cũng như dân làng lân cận đều tụ họp về để tham gia phần hội hè sống động và vui vẻ này. Hội thi cuốc đất trồng rau trong lễ hội Cầu bông Năm nào cũng vậy, hội làng Trà Quế đều mở màn bằng hội thi cuốc đất trồng rau. Xóm nào đạt được giải thì sẽ được bà con đãi đằng và mở tiệc linh đình. Hội Cầu Bông ở Trà Quế còn có thêm một hội thi làm món tôm, là một món đặc trưng của làng dùng trong các lễ cúng, hội hè và đãi khách. Đó cũng chính là tình bằng hữu của những con người dân quê này. Có lẽ vì thế mà có nhiều người gọi là tôm hữu. Nhiều năm qua, bí quyết tạo nên một loại rau Trà Quế ngon nổi tiếng cả xứ Quảng không chỉ do đất đai màu mỡ, mà còn do ở đây có một loại rong trên sông Cổ Cò. Ngoài phân, thì nông dân đều bón lót bằng loại phân này. Vì thế, hội thi vớt rong, bón gốc cũng diễn ra trong một không khí rộn rã tiếng cười. Nhiều năm, lễ hội Cầu Bông còn có phần hội đua ghe ngang qua cửa 2 làng Đông - Tây và nhiều làng ven sông khác ở Hội An ngay trên sông Cổ Cò chảy qua làng Lễ hội Cầu Bông của nông dân làng Trà Quế đã trở thành một nét độc đáo về văn hoá làng nghề, thu hút đông người tham dự. Cũng từ lễ hội này, mọi người trong làng gần gũi, thân thiết với nhau hơn… Theo vannghedanang.org

Lễ hội Cầu Bông được tổ chức hàng năm vào mùng 7 tháng Giêng âm lịch ở tại làng Trà Quế, thuộc xã Cẩm Hà, thành phố Hội An, Quảng Nam. Lễ hội Cầu Bông có ý nghĩa giống như một nghi lễ mở mùa cho một năm mới. Hàng trăm gia đình lo sắm sửa lễ vật dâng cúng và cầu mong một năm mới mưa thuận, gió hoà, mùa rau bội thu, nhà nhà được no ấm.

Đặc sắc lễ hội Cầu bông

Trước hết là lễ Nghinh thần (lễ rước thần), từ sáng sớm những người dân ở 2 làng đã tụ hội về đình làng, về nhà thờ Tiền hiền để nghinh thần. Cờ phướng dâng cao, kiệu hoa quả tươi, lư hương và án thờ được 4 chàng trai trong làng vận lễ phục khiêng đi. Trước đoàn rước là 2 hàng cờ, biển, theo sau kiệu thần là trống chiêng, đồ gia lễ, đội nhạc cổ và các nghệ nhân, các bô lão trong sắc phục áo dài, khăn đóng diễu qua các ngõ làng, các thôn xóm. Lễ nghinh thần của làng rau ở Trà Quế bao giờ cũng có thêm đoàn phụ nữ mặc áo dài, trên tay bưng một mâm ngũ quả. Một nghi thức trong lễ hội Cầu bông Làng Trà Quế từ lâu đời đã nổi tiếng với nghề trồng rau. Năm nào làng rau phát đạt thì năm đó lễ Cầu Bông được tổ chức quy mô. Ngoài phần lễ còn có phần hoạt động hội hè, vui chơi để bà con nhân dân giải trí và chuẩn bị bước vào năm mới với hy vọng nhiều tài lộc. Khi đoàn rước vừa đến đình, các vị bô lão sẽ tiến hành ngay lễ cúng đất và cúng âm linh theo nghi thức truyền thống. Bàn thờ cúng đất được đặt trước và đối diện với bàn cúng chính, trên bàn cúng có bày hoa quả, gạo, muối, thịt gạo, áo giấy và vật tế âm linh. Sau một năm làm ăn vất vả, đến lúc rãnh rỗi, nghỉ ngơi, nông dân luôn ngưỡng vọng về ân đức cô bác, âm linh, đồng thời bày tỏ lòng thành và niềm thương cảm. Tiếp theo đó mọi người sẽ bước vào phần tế chính thức với bàn thờ đầy ắp bánh trái và hương hoa, đặc biệt là có cả một con gà giò. Theo người dân nơi đây, gà giò dùng để cúng phải là gà trống nuôi vừa mới lớn, có màu lông đẹp, đem luộc hết sức cẩn thận, da và gân phải còn nguyên vẹn. Văn tế có nội dung tôn vinh, ngưỡng vọng công đức tổ tiên và những bậc tiền hiền đã có công khai hoang lập nên làng rau truyền thống hơn 500 năm qua, Sau khi tế lễ xong, các cụ cao niên sẽ tập trung lại để xem giò gà, nếu giữa bàn chân gà đầy đặn thì xóm làng bình an, khá giả và hoa trái tốt tươi. Không chỉ tập trung cúng đình, cả làng nhà nào cũng sắm 1 mâm lễ vật để Cầu Bông. Lễ vật nhất thiết phải có 1 con gà trống thiến miệng ngậm hoa, trên lưng thì cắm 1 con dao làm bằng tre, 5 dĩa xôi hồng cắm 5 cái bông rực rỡ và 1 ly rượu trắng. Ngày nay, mọi người đều cảm thấy mình được xác nhận là một thành viên quan trọng không thể thiếu ở trong làng. Chính vì thế mà tất cả dân làng Trà Quế cũng như dân làng lân cận đều tụ họp về để tham gia phần hội hè sống động và vui vẻ này. Hội thi cuốc đất trồng rau trong lễ hội Cầu bông Năm nào cũng vậy, hội làng Trà Quế đều mở màn bằng hội thi cuốc đất trồng rau. Xóm nào đạt được giải thì sẽ được bà con đãi đằng và mở tiệc linh đình. Hội Cầu Bông ở Trà Quế còn có thêm một hội thi làm món tôm, là một món đặc trưng của làng dùng trong các lễ cúng, hội hè và đãi khách. Đó cũng chính là tình bằng hữu của những con người dân quê này. Có lẽ vì thế mà có nhiều người gọi là tôm hữu. Nhiều năm qua, bí quyết tạo nên một loại rau Trà Quế ngon nổi tiếng cả xứ Quảng không chỉ do đất đai màu mỡ, mà còn do ở đây có một loại rong trên sông Cổ Cò. Ngoài phân, thì nông dân đều bón lót bằng loại phân này. Vì thế, hội thi vớt rong, bón gốc cũng diễn ra trong một không khí rộn rã tiếng cười. Nhiều năm, lễ hội Cầu Bông còn có phần hội đua ghe ngang qua cửa 2 làng Đông - Tây và nhiều làng ven sông khác ở Hội An ngay trên sông Cổ Cò chảy qua làng Lễ hội Cầu Bông của nông dân làng Trà Quế đã trở thành một nét độc đáo về văn hoá làng nghề, thu hút đông người tham dự. Cũng từ lễ hội này, mọi người trong làng gần gũi, thân thiết với nhau hơn… Theo vannghedanang.org

Related Figures

Lễ hội Dinh Bà làng Chiêm Sơn

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/1- 12/1 Âm lịch (lehoi.info) - Lễ hội Dinh Bà làng Chiêm Sơn được tổ chức vào ngày mùng 10 đến ngày 12 tháng Giêng âm lịch, tại Dinh bà Chiêm Sơn, làng Chiêm Sơn, xã Duy Trinh, Duy Xuyên, Quảng Nam. Lễ hội là dịp để bày tỏ niềm tôn kính với người đã khai sinh ra nghề ươm tằm dệt lụa cho người dân địa phương. Người tham gia lễ hội có cơ hội thưởng thức các món ăn đặc trưng của người dân Quảng Nam. Lễ hội còn là dịp để tham gia vào các trò. Dinh Bà Chiêm Sơn Tương truyền, ngày xưa, ở trong một khu rừng nhỏ, dân làng Mậu Hòa đã phát hiện ra một pho tượng đá. Tất cả dân làng đã hối hả đến để chuyển pho tượng về thờ. Pho tượng càng ngày càng trở nên nặng một cách rất kỳ lạ. Sức trai làng không ai có thể bê nổi. Vào 1 đêm trăng sáng, có 8 mục đồng ở làng Chiêm Sơn mang theo dây thừng và những cây tre chắc dẻo đã chuyển pho tượng nhẹ nhàng như không. Khiêng được một đoạn đường, thì các dây thừng đột nhiên bị đứt. Những vị cao niên của làng Chiêm Sơn đã quyết định thờ “Ngài” chung với các vị thần Cao Tác của làng. Một lần nữa, pho tượng lại ngày càng nặng hơn không thể nào nhích lên nổi. Từ đó mọi người mới quyết định lập Dinh để thỉnh Bà vào thờ ngay tại vị trí mà bà đã có ý chọn chỉ thờ cho riêng Bà. Dân làng Chiêm Sơn từ đó trở nên yên bình hơn. Mọi tai ương, hạn hán và dịch bệnh đều có Bà Chiêm Sơn che chở. Tương truyền rằng, 1 vị vua triều Nguyễn có lần kinh lý Quảng Nam đến viếng lăng mộ Hiếu Văn Hoàng hậu và Hiếu Chiêu Hoàng hậu phải đi ngang qua đường lộ trước Dinh Bà. Khi đi ngang qua, ngựa bỗng nhiên lồng lên rồi vùng chạy. Khi được biết sự linh thiêng của ngôi Dinh và uy lực siêu nhiên của Bà Đá đem đến bình an cho dân làng Chiêm Sơn, ngày mùng 8 tháng 6 năm thứ 5 niên hiệu Duy Tân, Bà đã được vua ban sắc phong Thái Dương Phu nhân. Tiếp đến ngày 25 tháng 7 niên hiệu Khải Định thứ 9, một lần nữa Bà lại được tôn vinh Trinh Uyển Dực Bảo Trung Hưng Thái Dương Phu nhân tôn thần. Sắc phong có đoạn: “Ngài được ghi rõ tặng thêm thần hiệu Trai Tịnh Trung Đẳng thần. Đặc biệt phê chuẩn để phụng thờ Ngài và ghi vào hàng Quốc khánh để kính dâng lễ mục cúng kính Ngài theo nghi điển”. Lễ hội được dân làng gìn giữ như một báu vật truyền thống đời đời Trải qua bao nhiêu thăng trầm, Dinh Bà Chiêm Sơn và truyền thuyết về Bà vẫn được những người dân làng Chiêm Sơn gìn giữ như một bảo vật truyền thống đời đời. Tháng giêng, sau ba ngày tết, bảy ngày xuân thảnh thơi, dân làng tại Chiêm Sơn lại cùng nguyện cầu bình an viếng Dinh Bà Đá. Hằng năm nhân dân tại làng Chiêm Sơn và vùng lân cận tổ chức lệ Bà. Múa sư tử trong phần hội Phần lễ: Lễ tế Dinh Bà được chính thức bắt đầu vào lúc 0h sáng của ngày 12 tháng Giêng. Mâm lễ tế Bà do dân làng sắm sửa gồm có cơm, thịt heo và trái cây. Ngoài các lễ vật ấy còn bắt buộc phải có 1 con cua đồng, 1 nhánh tỏi có cả lá và rễ, 1 cây cải, 1 con chồn quay, 1 con cá lóc nấu om. Còn những người dân nào có lòng thành thì dâng cúng 1 đũa xôi và 1 con gà luộc. Sau buổi tế lễ toàn bộ các lễ vật được cúng tế đều được trả lại cho dân làng và bắt buộc phải dùng hết ở trong ngày. Những người dâng lễ hầu hết là các bô lão ở trong làng Chiêm Sơn, số lượng ban tế lễ từ 20 người đến 30 người, được chọn từ các vị cao niên và có uy tín ở trong làng. Vào đúng 7 giờ sáng là lễ rước sắc phong xuất phát từ bến Giá Ngự về Dinh Bà. Phần hội: Hội của làng có rất nhiều những hoạt động, những trò chơi dân gian như hát tuồng, đá gà, bài chòi, thi cờ tướng,…Những đứa trẻ mục đồng thì có 1 buổi sinh hoạt dưới chân núi, những chú nghé con được cậu bé mục đồng đội cho vương miện bằng hoa mua tím chuẩn bị cho hội thi nghé duyên dáng, khỏe đẹp và giỏi đường cày./.

(lehoi.info) - Lễ hội Dinh Bà làng Chiêm Sơn được tổ chức vào ngày mùng 10 đến ngày 12 tháng Giêng âm lịch, tại Dinh bà Chiêm Sơn, làng Chiêm Sơn, xã Duy Trinh, Duy Xuyên, Quảng Nam. Lễ hội là dịp để bày tỏ niềm tôn kính với người đã khai sinh ra nghề ươm tằm dệt lụa cho người dân địa phương. Người tham gia lễ hội có cơ hội thưởng thức các món ăn đặc trưng của người dân Quảng Nam. Lễ hội còn là dịp để tham gia vào các trò.

Dinh Bà Chiêm Sơn

Tương truyền, ngày xưa, ở trong một khu rừng nhỏ, dân làng Mậu Hòa đã phát hiện ra một pho tượng đá. Tất cả dân làng đã hối hả đến để chuyển pho tượng về thờ. Pho tượng càng ngày càng trở nên nặng một cách rất kỳ lạ. Sức trai làng không ai có thể bê nổi. Vào 1 đêm trăng sáng, có 8 mục đồng ở làng Chiêm Sơn mang theo dây thừng và những cây tre chắc dẻo đã chuyển pho tượng nhẹ nhàng như không. Khiêng được một đoạn đường, thì các dây thừng đột nhiên bị đứt. Những vị cao niên của làng Chiêm Sơn đã quyết định thờ “Ngài” chung với các vị thần Cao Tác của làng. Một lần nữa, pho tượng lại ngày càng nặng hơn không thể nào nhích lên nổi. Từ đó mọi người mới quyết định lập Dinh để thỉnh Bà vào thờ ngay tại vị trí mà bà đã có ý chọn chỉ thờ cho riêng Bà. Dân làng Chiêm Sơn từ đó trở nên yên bình hơn. Mọi tai ương, hạn hán và dịch bệnh đều có Bà Chiêm Sơn che chở. Tương truyền rằng, 1 vị vua triều Nguyễn có lần kinh lý Quảng Nam đến viếng lăng mộ Hiếu Văn Hoàng hậu và Hiếu Chiêu Hoàng hậu phải đi ngang qua đường lộ trước Dinh Bà. Khi đi ngang qua, ngựa bỗng nhiên lồng lên rồi vùng chạy. Khi được biết sự linh thiêng của ngôi Dinh và uy lực siêu nhiên của Bà Đá đem đến bình an cho dân làng Chiêm Sơn, ngày mùng 8 tháng 6 năm thứ 5 niên hiệu Duy Tân, Bà đã được vua ban sắc phong Thái Dương Phu nhân. Tiếp đến ngày 25 tháng 7 niên hiệu Khải Định thứ 9, một lần nữa Bà lại được tôn vinh Trinh Uyển Dực Bảo Trung Hưng Thái Dương Phu nhân tôn thần. Sắc phong có đoạn: “Ngài được ghi rõ tặng thêm thần hiệu Trai Tịnh Trung Đẳng thần. Đặc biệt phê chuẩn để phụng thờ Ngài và ghi vào hàng Quốc khánh để kính dâng lễ mục cúng kính Ngài theo nghi điển”. Lễ hội được dân làng gìn giữ như một báu vật truyền thống đời đời Trải qua bao nhiêu thăng trầm, Dinh Bà Chiêm Sơn và truyền thuyết về Bà vẫn được những người dân làng Chiêm Sơn gìn giữ như một bảo vật truyền thống đời đời. Tháng giêng, sau ba ngày tết, bảy ngày xuân thảnh thơi, dân làng tại Chiêm Sơn lại cùng nguyện cầu bình an viếng Dinh Bà Đá. Hằng năm nhân dân tại làng Chiêm Sơn và vùng lân cận tổ chức lệ Bà. Múa sư tử trong phần hội Phần lễ: Lễ tế Dinh Bà được chính thức bắt đầu vào lúc 0h sáng của ngày 12 tháng Giêng. Mâm lễ tế Bà do dân làng sắm sửa gồm có cơm, thịt heo và trái cây. Ngoài các lễ vật ấy còn bắt buộc phải có 1 con cua đồng, 1 nhánh tỏi có cả lá và rễ, 1 cây cải, 1 con chồn quay, 1 con cá lóc nấu om. Còn những người dân nào có lòng thành thì dâng cúng 1 đũa xôi và 1 con gà luộc. Sau buổi tế lễ toàn bộ các lễ vật được cúng tế đều được trả lại cho dân làng và bắt buộc phải dùng hết ở trong ngày. Những người dâng lễ hầu hết là các bô lão ở trong làng Chiêm Sơn, số lượng ban tế lễ từ 20 người đến 30 người, được chọn từ các vị cao niên và có uy tín ở trong làng. Vào đúng 7 giờ sáng là lễ rước sắc phong xuất phát từ bến Giá Ngự về Dinh Bà. Phần hội: Hội của làng có rất nhiều những hoạt động, những trò chơi dân gian như hát tuồng, đá gà, bài chòi, thi cờ tướng,…Những đứa trẻ mục đồng thì có 1 buổi sinh hoạt dưới chân núi, những chú nghé con được cậu bé mục đồng đội cho vương miện bằng hoa mua tím chuẩn bị cho hội thi nghé duyên dáng, khỏe đẹp và giỏi đường cày./.

Related Figures

Lễ rước Thần Nông

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/3 Âm lịch Lễ rước Thần Nông được tổ chức hàng năm vào ngày mùng 1 tháng 3 Âm lịch, tại thành phố Hội An, Quảng Nam. Đây được coi là Hội của những trẻ chăn trâu, lễ rước và cầu Thần Nông cầu cho mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt. Những mục đồng vui đùa trên các cánh đồng trên đường đi rước Thần Nông Lễ Thần Nông tức là lễ tế vua Thần Nông để cầu mong được mùa và nghề nông phát đạt. Trên các quyển lịch cổ hàng năm, người ta thường vẽ 1 mục đồng dắt 1 con trâu. Mục đồng tức là vua Thần Nông, còn con trâu là tượng trưng cho nghề nông. Hình mục đồng cũng như hình con trâu được thay đổi hàng năm tùy theo sự ước đoán của Khâm thiên giám về mùa màng năm đó sẽ xấu hay tốt. Năm nào được coi là năm được mùa, Thần Nông sẽ có giày dép chỉnh tề, còn năm nào mùa màng bị coi là kém, Thần Nông có vẻ như vội vàng hấp tấp nên chỉ đi giày 1 chân. Con trâu được đổi màu tùy theo hành của mỗi năm, nó có thể có một trong 5 màu đen, trắng, vàng, xanh, đỏ đúng với các hành Thổ, Thủy, Kim, Mộc và Hỏa. Lễ rước Mục Đồng - lễ hội dành cho trẻ chăn trâu - thời xưa được tổ chức tại làng Phong Lệ, Hòa Châu, Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Ngày trước, theo lệ cứ đến các năm Tý, năm Ngọ, năm Mẹo và năm Dậu, nghĩa là cứ cách 3 năm, làng lại tổ chức lễ rước Mục đồng 1 lần. Sau dãn dần ra 6 năm, rồi cuối cùng là 12 năm mới tổ chức 1 lần. Lần cuối cùng được ghi nhận là vào năm Bảo Đại thứ 11 (1936). Lễ rước Mục đồng - lễ rước vinh danh trẻ chăn trâu Chuyện kể rằng, ở làng Phong lệ xưa có 1 cồn cỏ. Ngày nọ, có một người xua đàn vịt lên cồn, chân vịt bỗng bị dính chặt xuống đất như có bàn tay ai đó níu lại. Cho là có thần linh giáng hạ nên chẳng một ai dám bén mảng đến cồn. Từ đó cồn có tên gọi là cồn Thần. Một hôm, có một đàn trâu trong làng chạy lạc đến cồn, đám trẻ chăn trâu đến đó tìm nhưng không hề hấn gì cả. Từ đó có tiếng đồn là cồn Thần chỉ cho những trẻ chăn trâu đến gần mà thôi. Xóm Cồn về sau được gọi là xóm Đồng, làm nơi tụ tập của các mục đồng ở trong làng. Câu chuyện lạ lùng ấy, sau nhiều thế hệ dần dần hình thành nên một lễ hội dành riêng cho các trẻ chăn trâu, được gọi là lễ rước Mục đồng. Từ hạ tuần tháng 3 âm lịch, khi vụ mùa đã hoàn tất là lúc các công việc sắp đặt cho lễ hội được bắt đầu. Để phục vụ cho lễ rước, ngoài việc cắt cử các chức sắc để lo việc tế lễ, dân làng Phong Lệ còn phải chuẩn bị cho một cổ kiệu hai đòn khiêng có giăng hoa và kết trái tươm tất và phân công cho 4 mục đồng khỏe mạnh khăn đóng, áo dài giữ phần khiêng kiệu. Ngoài cờ nhỏ của mục đồng, còn có cờ lớn của 13 tộc họ ngày đó. Cờ lớn cán làm bằng tre dài khoảng 5 mét, có khoan lỗ đút cây ngang qua để treo các con giống, nào là tứ kinh (long, lân, quy, phụng), nào là tứ nghệ (sĩ, nông, công, thương). Nhưng nhiều nhất vẫn là các dụng cụ sản xuất nông nghiệp như cuốc, xẻng, cày, bừa, dần, nia... Chuẩn bị đâu vào đó, chiều ngày 29 tháng 3 âm lịch làm lễ dạo đồng. Đây là lúc các con cháu sinh sống ở những nơi xa kéo về đông đủ. Mục đồng cầm cờ và dạo quanh các cánh đồng tỏ ý cầu cho được mùa. Buổi sáng ngày 30, chính thức diễn ra lễ rước. Lễ bắt đầu vào sáng sớm tinh mơ ngay giữa đình thần. Sau khi hương khói, khấn lễ và Trùm Mục (người cai quản các mục đồng) lễ phục tươm tất trịnh trọng tiến vào hậu tẩm khấn vái, cung kính thỉnh bài vị thần nông nâng cao ngang mày rồi quỳ xuống đặt vào trong kiệu. Kiệu rước cũng được bài trí như kiệu rước thần, cỡ 80 cm x 100 cm, nóc kiệu thì có 4 mái, rèm kiệu được giăng hoa kết đèn rực rỡ và do 4 mục đồng khiêng. Đoàn người cờ xí xếp hàng đâu vào đấy, chiêng trống lại gióng giã vang lên; tất cả các mục đồng hướng vào chánh điện đồng loạt chắp tay xá 3 cái rồi đám rước dài lượt thượt đi qua đường làng, hướng về Cồn Thần, trong tiếng nhạc rộn rã của phường bát âm và cờ xí rợp trời. Đến Cồn Thần, kiệu thần được hạ xuống. Trùm Mục quỳ trên chiếc chiếu hoa, ngửa mặt lên trời lầm rầm khấn giữa hai hàng đuốc chập chờn hư ảo. Sau một hồi lâu khấn vái, Trùm Mục gieo hai đồng tiền xu vào cái đĩa con trước mặt: 1 sấp, 1 ngữa. Thế là thần đã giáng! Một hồi sênh nổi lên, tiếp đó là 3 hồi chiêng trống. Rồi, trống cơm và phường bát âm cũng cùng tấu những âm điệu rộn rã chào mừng. Sau ba tiếng sênh làm hiệu, Trùm Mục dõng dạc xướng: “Chúng Mục Đồng Phong Lệ tạ! Xin cho tốt lúa, tốt gieo, vũ thuận, phong điều! Đồng reo một tiếng'... Đoàn Mục Đồng đồng thanh reo vang trời và cầm cờ nối đuôi theo vị Trùm Mục chạy tới, chạy lui, quanh đi, quẫn lại chung quanh tảng đá trắng ở giữa cồn thần. Một lúc sau, đám rước rồng rắn quay trở lại đình thần trong tâm niệm tôn kính là ở trên kiệu đã có vị thần thiêng liêng của mình. Trời vừa sáng, đám rước cũng về đến đình làng. Sau đó sẽ là lễ đặt bài vị và lễ dâng vật cúng của dân làng. Trong lễ, tất cả mọi người ai ai cũng giữ sự cung kính trước đám mục đồng. Lễ vật xôi, gà được bày trên chiếu hoa trải khắp 3 gian đình, ai nấy đều hoan hỉ vì họ tin rằng lòng thành của mình đã được thần mục chứng giám; và ngày mai, đồng ruộng sẽ tươi tốt. Thời phong kiến, hàng năm đều có tục tế và rước Thần Nông tại triều đình cũng như ở tại các địa phương./. Đặc sắc lễ rước Thần Nông tại Quảng Nam

Lễ rước Thần Nông được tổ chức hàng năm vào ngày mùng 1 tháng 3 Âm lịch, tại thành phố Hội An, Quảng Nam. Đây được coi là Hội của những trẻ chăn trâu, lễ rước và cầu Thần Nông cầu cho mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt.

Những mục đồng vui đùa trên các cánh đồng trên đường đi rước Thần Nông

Lễ Thần Nông tức là lễ tế vua Thần Nông để cầu mong được mùa và nghề nông phát đạt. Trên các quyển lịch cổ hàng năm, người ta thường vẽ 1 mục đồng dắt 1 con trâu. Mục đồng tức là vua Thần Nông, còn con trâu là tượng trưng cho nghề nông. Hình mục đồng cũng như hình con trâu được thay đổi hàng năm tùy theo sự ước đoán của Khâm thiên giám về mùa màng năm đó sẽ xấu hay tốt. Năm nào được coi là năm được mùa, Thần Nông sẽ có giày dép chỉnh tề, còn năm nào mùa màng bị coi là kém, Thần Nông có vẻ như vội vàng hấp tấp nên chỉ đi giày 1 chân. Con trâu được đổi màu tùy theo hành của mỗi năm, nó có thể có một trong 5 màu đen, trắng, vàng, xanh, đỏ đúng với các hành Thổ, Thủy, Kim, Mộc và Hỏa. Lễ rước Mục Đồng - lễ hội dành cho trẻ chăn trâu - thời xưa được tổ chức tại làng Phong Lệ, Hòa Châu, Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Ngày trước, theo lệ cứ đến các năm Tý, năm Ngọ, năm Mẹo và năm Dậu, nghĩa là cứ cách 3 năm, làng lại tổ chức lễ rước Mục đồng 1 lần. Sau dãn dần ra 6 năm, rồi cuối cùng là 12 năm mới tổ chức 1 lần. Lần cuối cùng được ghi nhận là vào năm Bảo Đại thứ 11 (1936). Lễ rước Mục đồng - lễ rước vinh danh trẻ chăn trâu Chuyện kể rằng, ở làng Phong lệ xưa có 1 cồn cỏ. Ngày nọ, có một người xua đàn vịt lên cồn, chân vịt bỗng bị dính chặt xuống đất như có bàn tay ai đó níu lại. Cho là có thần linh giáng hạ nên chẳng một ai dám bén mảng đến cồn. Từ đó cồn có tên gọi là cồn Thần. Một hôm, có một đàn trâu trong làng chạy lạc đến cồn, đám trẻ chăn trâu đến đó tìm nhưng không hề hấn gì cả. Từ đó có tiếng đồn là cồn Thần chỉ cho những trẻ chăn trâu đến gần mà thôi. Xóm Cồn về sau được gọi là xóm Đồng, làm nơi tụ tập của các mục đồng ở trong làng. Câu chuyện lạ lùng ấy, sau nhiều thế hệ dần dần hình thành nên một lễ hội dành riêng cho các trẻ chăn trâu, được gọi là lễ rước Mục đồng. Từ hạ tuần tháng 3 âm lịch, khi vụ mùa đã hoàn tất là lúc các công việc sắp đặt cho lễ hội được bắt đầu. Để phục vụ cho lễ rước, ngoài việc cắt cử các chức sắc để lo việc tế lễ, dân làng Phong Lệ còn phải chuẩn bị cho một cổ kiệu hai đòn khiêng có giăng hoa và kết trái tươm tất và phân công cho 4 mục đồng khỏe mạnh khăn đóng, áo dài giữ phần khiêng kiệu. Ngoài cờ nhỏ của mục đồng, còn có cờ lớn của 13 tộc họ ngày đó. Cờ lớn cán làm bằng tre dài khoảng 5 mét, có khoan lỗ đút cây ngang qua để treo các con giống, nào là tứ kinh (long, lân, quy, phụng), nào là tứ nghệ (sĩ, nông, công, thương). Nhưng nhiều nhất vẫn là các dụng cụ sản xuất nông nghiệp như cuốc, xẻng, cày, bừa, dần, nia... Chuẩn bị đâu vào đó, chiều ngày 29 tháng 3 âm lịch làm lễ dạo đồng. Đây là lúc các con cháu sinh sống ở những nơi xa kéo về đông đủ. Mục đồng cầm cờ và dạo quanh các cánh đồng tỏ ý cầu cho được mùa. Buổi sáng ngày 30, chính thức diễn ra lễ rước. Lễ bắt đầu vào sáng sớm tinh mơ ngay giữa đình thần. Sau khi hương khói, khấn lễ và Trùm Mục (người cai quản các mục đồng) lễ phục tươm tất trịnh trọng tiến vào hậu tẩm khấn vái, cung kính thỉnh bài vị thần nông nâng cao ngang mày rồi quỳ xuống đặt vào trong kiệu. Kiệu rước cũng được bài trí như kiệu rước thần, cỡ 80 cm x 100 cm, nóc kiệu thì có 4 mái, rèm kiệu được giăng hoa kết đèn rực rỡ và do 4 mục đồng khiêng. Đoàn người cờ xí xếp hàng đâu vào đấy, chiêng trống lại gióng giã vang lên; tất cả các mục đồng hướng vào chánh điện đồng loạt chắp tay xá 3 cái rồi đám rước dài lượt thượt đi qua đường làng, hướng về Cồn Thần, trong tiếng nhạc rộn rã của phường bát âm và cờ xí rợp trời. Đến Cồn Thần, kiệu thần được hạ xuống. Trùm Mục quỳ trên chiếc chiếu hoa, ngửa mặt lên trời lầm rầm khấn giữa hai hàng đuốc chập chờn hư ảo. Sau một hồi lâu khấn vái, Trùm Mục gieo hai đồng tiền xu vào cái đĩa con trước mặt: 1 sấp, 1 ngữa. Thế là thần đã giáng! Một hồi sênh nổi lên, tiếp đó là 3 hồi chiêng trống. Rồi, trống cơm và phường bát âm cũng cùng tấu những âm điệu rộn rã chào mừng. Sau ba tiếng sênh làm hiệu, Trùm Mục dõng dạc xướng: “Chúng Mục Đồng Phong Lệ tạ! Xin cho tốt lúa, tốt gieo, vũ thuận, phong điều! Đồng reo một tiếng'... Đoàn Mục Đồng đồng thanh reo vang trời và cầm cờ nối đuôi theo vị Trùm Mục chạy tới, chạy lui, quanh đi, quẫn lại chung quanh tảng đá trắng ở giữa cồn thần. Một lúc sau, đám rước rồng rắn quay trở lại đình thần trong tâm niệm tôn kính là ở trên kiệu đã có vị thần thiêng liêng của mình. Trời vừa sáng, đám rước cũng về đến đình làng. Sau đó sẽ là lễ đặt bài vị và lễ dâng vật cúng của dân làng. Trong lễ, tất cả mọi người ai ai cũng giữ sự cung kính trước đám mục đồng. Lễ vật xôi, gà được bày trên chiếu hoa trải khắp 3 gian đình, ai nấy đều hoan hỉ vì họ tin rằng lòng thành của mình đã được thần mục chứng giám; và ngày mai, đồng ruộng sẽ tươi tốt. Thời phong kiến, hàng năm đều có tục tế và rước Thần Nông tại triều đình cũng như ở tại các địa phương./. Đặc sắc lễ rước Thần Nông tại Quảng Nam

Related Figures

Lễ hội Long Chu

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/7 Âm lịch (lehoi.info) - Lễ hội Long Chu được tổ chức hàng năm vào ngày 15 tháng 7 Âm lịch, ở tại các làng biển thuộc thị xã Hội An. Lễ hội thường được tổ chức ở đình làng hoặc ở nơi hội họp của thôn, của ấp. Lễ hội Long Chu tại Quảng Nam Rằm tháng giêng (Thượng nguyên) và rằm tháng bảy (Trung nguyên) là 2 thời điểm chuyển tiếp giữa mùa khô và mùa mưa. Cuộc sống lạc hậu, thiếu vệ sinh ở vùng thôn quê xưa cộng với tác động của thiên nhiên sau khô hanh và lũ lụt thường có dịch bệnh hoành hành, lây lan ra cả vùng. Vì vậy tất cả các cư dân trong cộng đồng đều phải có trách nhiệm tham gia cúng Long Chu. Các chức sắc trong làng và các tộc trưởng cử ra 1 ban chánh tế và mời thầy phù thủy làm chủ trì. Họ quyên góp trong dân và xuất quĩ thuê thợ mã làm Long Chu, số khác che rạp và bày hương án tại đình làng, ấp. Không khí náo nức và vui vẻ, tất cả mọi lứa tuổi tham gia quét tước trong nhà ngoài ngõ đúng nghĩa “chộn rộn chàng ràng như làng vào đám”. Trước lễ chính 1 ngày, mọi việc chuẩn bị phải xong, bảy thày phù thủy thuộc loại cao tay ấn, do thầy Cả dẫn đầu cùng các học trò lễ (người phụ tá) đi làm phép “trấn đạo lộ” (trấn yểm). Họ mang theo những mảnh bùa đã được vẽ sẵn dán trên mảnh gỗ, tre, vừa đi vừa giật khăn ấn, vừa bắt quyết, vừa phún hỏa (phun dầu hỏa) dựng bùa vào ngã ba ngã tư đường làng hoặc nơi nghi ngờ có quỉ, có ôn tụ tập. Những nơi này đều có 1 bàn thờ nhỏ và thấp, trên có một lư hương. Nơi có đựng bùa hoặc đường dự kiến cho các phù thuỷ cùng đám người đi trấn yểm, trừ tà ma quỉ quái đều được dọn dẹp phong quang và thoáng đãng. Trên đường, đoàn trấn yểm kéo dài như một đoàn rồng rắn. Phía trước là những người đánh trống, thanh la và các thày pháp vừa đi vừa ái phà, vừa hú hét. Phía sau là cả một đoàn dài những người tò mò đi xem. Từng tốp trai thanh gái lịch đứng ở vườn này, vườn kia cất giọng thách hát đối, khi thấy những tốp nam nữ ở ấp khác đi qua. Những điệu hát huê tình, hát đúc và hát kiến tại cứ bay bổng hàng giờ. Khi cuộc hát kết thúc, đám đông sẽ nhập vào đoàn trấn yểm và như vậy, cuộc trấn yểm bỗng trở thành cái cớ để cho người tứ xứ gặp nhau. Hết những nơi đã định sẵn, các thầy pháp lại trở về đình dán bốn lá bùa vào bốn cây cột góc và 1 lá ở cửa chính. Tại đây, nhiều người thuộc các xóm ấp nhỏ ở trong làng, những nhà vườn lâu nay để xin thầy vẽ bùa vào để về yểm. Chánh bái cùng thầy Cả và 1 số tráng đinh khỏe mạnh kèm ban nhạc, cờ xí đi trước về tại sân đình. Đầu Long Chu xoay vào trong trước mặt có hương án, trên đựng đồ ăn bằng chuối cắt ra gồm xôi thịt, bánh trái, cháo chè, gạo muối, thuốc,củi, nước… mỗi thứ một ít. Thầy Cả làm phép khai quang điểm nhãn, lấy mực và son vẽ 2 con mắt cho Long Chu rồi làm lễ vô khoa (lễ cúng tổ phù thủy) để làm khởi đầu cho các lễ sau. Độc đáo lễ hội Long Chu Đầu tiên là lễ cáo thần (lễ túc yết) vào giờ tý (12 giờ đến 2 giờ đêm) lễ vật rất đơn sơ, hương đăng trà quả. Đến giờ mão (6 giờ đến 8 giờ sáng) là làm lễ tế thần. Lễ này cúng mặn, có gà, heo để bày tỏ lòng thành của dân làng với thần, lính cai quản làng nên hết sức trang nghiêm và trọng thể như lễ đình ở mọi nơi, có văn tế và nhạc đã được coi là lệ nên không thể bỏ. Xong thủ tục, đến giờ thìn (8 giờ đến 10 giờ sáng) lễ cúng Long Chu chính thức được bắt đầu. Thầy Cả mặc áo Thái Thượng Lão Quân có in hình bát quái, thắt lưng màu đỏ, vai vắt khăn ấn vàng hoặc đỏ, chân đi hia, đầu đội mũ tì lư, một tay cầm cái vãng cắm hương hoặc cái kỵ lịnh (chuông lắc), còn một tay bắt quyết. Phụ tá cho thầy Cả còn có các thày con và các học trò lễ cùng dàn nhạc. Thầy bắt quyết cho quay đầu Long Chu ra phía cổng, thầy đọc những bài chú riêng, mỗi đoạn chuyển lại gõ lệnh bài vào hương án, trong khi các thầy con điểm nhạc, đọc kinh hòa theo và dâng những thứ cần cho thầy Cả. Thầy Cả vừa đọc những bài chú đầy bí ẩn vừa đọc văn triệu 32 tướng chỉ huy, văn triệu âm binh, văn phát lương và văn phát ngoại binh. Các bản văn cho thấy đội ngũ binh tướng được triệu đến để trừ tà diệt quỉ là cả 1 lực lượng khổng lồ. Trên hết là những vị tổ sư: Thượng Thanh Tiên Cảnh - Linh Bảo Thiên Tôn, Thái Thanh Chân Cảnh - Đạo Đức Thiên Tôn và Ngọc Thanh Thánh Cảnh- Nguyên Thỉ Thiên Tôn. Phía dưới là 32 chức vị thần tướng Đông Tây Nam Bắc, ba cung trung đạo và “vạn vật âm binh” tràn ngập trong “thế thiên la địa võng”. Lực lượng này được phát lương no đủ (gạo muối) để “ra tay bắt kẻ tà ma làm lệnh”, “xây lũy đào hào bủa lưới giăng” và “sát quỉ trừ tà hộ bổn chủ”. Quỉ ma cũng được đãi đằng rất tử tế, cả những lời vỗ về hoặc lời lên án nghiêm khắc buộc phải tuân thủ dưới sự thâu tóm của âm binh lên Long Chu đi đày ở miền khác. Số nào mà có quá nhiều tội lỗi thì phải chịu trừ khử. ở đoạn này, thầy Cả đọc văn khao ôn và văn tống quái. Nếu thày Cả đã già yếu, thì thày phụ trẻ sẽ đọc văn thay, vừa đọc văn vừa có những động tác múa võ và múa nhập đàn. Phạm vi hoạt động của các thày pháp là cả sân đình rộng. Thầy ra vào tới lui tấp nập như một cuộc đấu quyết liệt có thật với lực lượng vô hình, người xem cứ ngày càng phấn kích hể hả ra mặt nhất là khi thày có những động thái dữ dội với một tên ma quỉ ngoan cố và ngạo mạn, khi thì thầy lại trầm trầm trách cứ với một kẻ đã quen mặt, đã nhiều lần được tha mà nay lại bị âm binh bắt về. Trường hợp lâu nay có chuyện hỏa tai, có cây cột hiển linh gây đau ốm trong nhà hoặc nửa đêm thốt nhiên có đất đá quẳng rào rào trên mái nhà, thì sẽ do chủ nhân đề nghị trước, thầy sẽ cúng thêm và đọc những bài văn “tống hỏa tai”, “văn cúng tên bắn đất” và “văn cúng mộc trụ”. Nghỉ 1 lát, vào giờ dậu là đợt cúng cuối cùng sau bài “phát lương”, thầy đọc tiếp các bản “văn khao Nương Nương”, “văn khao thổ ôn thổ quỉ”, “văn khao thủy giới” và “văn lễ Hà Bá” được xướng lên. Cuối cùng là bài “văn khao ôn” trong đó có đoạn “tạ Ôn Vương” được đọc đi đọc lại nhiều lần. Các thầy phù thủy thay nhau đọc, sau đó thầy Cả sẽ vẽ bùa bắt ấn vào Long Chu xướng lớn “yểm ghe đi không được ngó lại”, “yểm Lục Giáp, Lục ất, hung thần đi cho mau, Lục Bính, Lục Đinh quỉ mị phải đi gấp, Lục Mậu Lục Kỵ lánh đi cho mau, Lục Oanh, Lục Tân, tà ma hóa ra bụi bặm, Lục Nhâm, Lục Quỉ hung nương lánh mặt đi cho xa”. Thầy Cả gõ lệnh bài chan chát vào hương án, các thầy phụ cùng bắt ấn hướng vào Long Chu để giết ma quỉ. Đến đây lễ tế tại đình đã kết thúc và chuyển sang phần rước Long Chu. Theo hiệu của thầy chấp lệnh, 4 thanh niên khiêng Long Chu có thầy Cả ngồi trên hai thanh gươm tuốt trần bắt chéo hình chữ X: 2 bên các thầy phụ đi kèm, phía sau có ông chánh bái và ban lễ đại diện cho làng, phía trước có một số thanh niên mang đuốc chạy soi đường. Người đánh trống chầu thúc ngũ liên, Long Chu chạy lúp xúp tới những nơi đã trấn yểm từ hôm trước, các thầy phụ đọc kinh, đọc chú, giật khăn trấn yểm. Hết nơi này lại đến nơi khác. Trên đường rước Long Chu sẽ có nhiều trạm dừng chân để thay người khiêng. Dưới ánh trăng rằm mới lên, mọi người trong làng dùng roi quất khắp mọi nơi rồi tràn ra đường, xông khói lửa đuốc sáng rực ngõ xóm chờ Long Chu đến. Họ đốt pháo, quẳng roi vào Long Chu và giật bùa của thầy về dán ở ngõ. Tất cả đều hào hứng, âm thanh náo loạn. Người lớn, trẻ con chờ xem rồi nhập vào đám rước. Người già trẻ con ai ai cũng thích. Long Chu đi hết các nơi phải đi thì cũng đã đến giờ Hợi. Đám rước đến một nơi vắng thì dừng lại và nổi lửa đốt Long Chu. Nơi gần sông thì họ sẽ thả xuống sông, trên Long Chu có những chén dầu lạc làm đèn cháy sáng và trôi dần ra biển. Ở đình Cẩm Phô, ngoài các hình thức như nhiều nơi còn có thêm tục “xô cộ” (cổ). Cộ là một dàn tre hình chóp nhiều tầng cao chừng khoảng 2m. Mỗi tầng có đặt xôi thịt, bánh trái và tiền… Phía trên là một khung pháo cây. Khi cúng đình xong, pháo nổ mọi người xô vào cướp, ai được nhiều thì xem như có được nhiều lộc. Một nghi thức trong lễ hội Long Chu Người Hoa ở các bang thường làm Long Chu lớn hơn và công phu hơn. Có khi toàn bộ Long Chu được làm bằng vải, dài cỡ 5m, phải luồn tre xuống dưới bụng để cho 4 cặp người khiêng (8 người) cúng ở chùa Âm Bổn, Ngũ Bang hay chùa Ông. Cộ cũng làm lớn, có khi để được cả con heo quay trên đó. Khi có lệnh xô cộ, tất cả mọi người tranh nhau vào lấy lộc, có người thật nhanh đã dành được cả con heo quay để chót vót trên đỉnh giàn mà chạy. Long Chu của người Hoa thì thường được thả xuống sông, trên đó có thêm rượu, khèn, “sáp ong”, heo quay nguyên con và cả gà trống còn sống. Như vậy, lễ hội Long Chu phần cúng lễ kéo dài 2 ngày 2 đêm, nặng phần phù thủy. Long Chu thể hiện nhân sinh quan, thế giới quan của những người dân xưa, khi chưa cắt nghĩa và có hành động giải quyết được những hiện tượng lạ quanh mình nên để thực hiện phải nhờ đến thế lực phù thủy với các nghi lễ ma thuật huyền bí. Bản chất đích thực tốt đẹp ban đầu bị chìm lấp, tính chủ động và sáng tạo bị kìm hãm nên ý nghĩa của hội cũng bị chìm sâu, không nổi trội. Bóng dáng của các cuộc hát đối đáp hiện lên mờ nhạt. Trước năm 1945 Long Chu được mọi làng, mọi ấp làm; làng thì làm lớn, ấp thi làm nhỏ thường kết hợp với đình nên bị hiểu lầm là hoạt động phụ của tổ chức cúng tế lớn thường kỳ hàng năm. Long Chu chính là từ chỉ chiếc thuyền làm theo hình con rồng. Đây là phương tiện sang trọng dành riêng cho vua chúa ngự lãm hoặc tuần du ở thời xưa. Với dân gian xưa, ôn hoàng, dịch lệ là lực lượng siêu nhiên gây hại cho con người, đáng ghét đáng sợ nhưng cũng cần phải kính nể. Vì vậy, làm Long Chu là dựa theo loại thuyền của vua để chở thần, tướng, âm binh áp tải, tống quái, tống ôn và xú uế đi, mong hưởng những cái tốt lành cho nơi cư trú của con người. Long Chu có bộ sườn được đóng bằng tre, ngoài phết giấy vẽ phẩm xanh đỏ, giữa mình là thuyền, đầu đuôi hình rồng có đủ sừng, râu, kỳ và vẩy… Hông trái buộc 1 dầm lái, trước buộc 1 dầm mũi, 4 góc trước và sau thuyền có 4 hình nhân cầm dầm, 1 hình nhân nữa ngồi ở lái. Trên Long Chu cắm bốn cờ, bốn cán cờ xuyên thẳng qua thuyền thành bốn chân, giữa có lọng che và 1 phướn, hông thuyền cột dọc hai đoạn tre cho bốn người khiêng, trong lòng có trang bị đầy đủ đồ dùng cho 1 bậc quyền uy, có điều tất cả đều bằng tre và bằng giấy màu. Long Chu làm đẹp, xấu, lớn, nhỏ, hiền hay dữ là tùy thuộc vào tài năng của thợ mã và yêu cầu đã được dân làng thỏa thuận trước. Lễ hội Long Chu, thực chất là 1 cuộc tổng tấn công trừ khử tà ma dịch bệnh và cũng là công cụ để chuyển tải, bày tỏ sâu sắc văn hóa của cộng đồng các cư dân nông nghiệp./.

(lehoi.info) - Lễ hội Long Chu được tổ chức hàng năm vào ngày 15 tháng 7 Âm lịch, ở tại các làng biển thuộc thị xã Hội An. Lễ hội thường được tổ chức ở đình làng hoặc ở nơi hội họp của thôn, của ấp.

Lễ hội Long Chu tại Quảng Nam

Rằm tháng giêng (Thượng nguyên) và rằm tháng bảy (Trung nguyên) là 2 thời điểm chuyển tiếp giữa mùa khô và mùa mưa. Cuộc sống lạc hậu, thiếu vệ sinh ở vùng thôn quê xưa cộng với tác động của thiên nhiên sau khô hanh và lũ lụt thường có dịch bệnh hoành hành, lây lan ra cả vùng. Vì vậy tất cả các cư dân trong cộng đồng đều phải có trách nhiệm tham gia cúng Long Chu. Các chức sắc trong làng và các tộc trưởng cử ra 1 ban chánh tế và mời thầy phù thủy làm chủ trì. Họ quyên góp trong dân và xuất quĩ thuê thợ mã làm Long Chu, số khác che rạp và bày hương án tại đình làng, ấp. Không khí náo nức và vui vẻ, tất cả mọi lứa tuổi tham gia quét tước trong nhà ngoài ngõ đúng nghĩa “chộn rộn chàng ràng như làng vào đám”. Trước lễ chính 1 ngày, mọi việc chuẩn bị phải xong, bảy thày phù thủy thuộc loại cao tay ấn, do thầy Cả dẫn đầu cùng các học trò lễ (người phụ tá) đi làm phép “trấn đạo lộ” (trấn yểm). Họ mang theo những mảnh bùa đã được vẽ sẵn dán trên mảnh gỗ, tre, vừa đi vừa giật khăn ấn, vừa bắt quyết, vừa phún hỏa (phun dầu hỏa) dựng bùa vào ngã ba ngã tư đường làng hoặc nơi nghi ngờ có quỉ, có ôn tụ tập. Những nơi này đều có 1 bàn thờ nhỏ và thấp, trên có một lư hương. Nơi có đựng bùa hoặc đường dự kiến cho các phù thuỷ cùng đám người đi trấn yểm, trừ tà ma quỉ quái đều được dọn dẹp phong quang và thoáng đãng. Trên đường, đoàn trấn yểm kéo dài như một đoàn rồng rắn. Phía trước là những người đánh trống, thanh la và các thày pháp vừa đi vừa ái phà, vừa hú hét. Phía sau là cả một đoàn dài những người tò mò đi xem. Từng tốp trai thanh gái lịch đứng ở vườn này, vườn kia cất giọng thách hát đối, khi thấy những tốp nam nữ ở ấp khác đi qua. Những điệu hát huê tình, hát đúc và hát kiến tại cứ bay bổng hàng giờ. Khi cuộc hát kết thúc, đám đông sẽ nhập vào đoàn trấn yểm và như vậy, cuộc trấn yểm bỗng trở thành cái cớ để cho người tứ xứ gặp nhau. Hết những nơi đã định sẵn, các thầy pháp lại trở về đình dán bốn lá bùa vào bốn cây cột góc và 1 lá ở cửa chính. Tại đây, nhiều người thuộc các xóm ấp nhỏ ở trong làng, những nhà vườn lâu nay để xin thầy vẽ bùa vào để về yểm. Chánh bái cùng thầy Cả và 1 số tráng đinh khỏe mạnh kèm ban nhạc, cờ xí đi trước về tại sân đình. Đầu Long Chu xoay vào trong trước mặt có hương án, trên đựng đồ ăn bằng chuối cắt ra gồm xôi thịt, bánh trái, cháo chè, gạo muối, thuốc,củi, nước… mỗi thứ một ít. Thầy Cả làm phép khai quang điểm nhãn, lấy mực và son vẽ 2 con mắt cho Long Chu rồi làm lễ vô khoa (lễ cúng tổ phù thủy) để làm khởi đầu cho các lễ sau. Độc đáo lễ hội Long Chu Đầu tiên là lễ cáo thần (lễ túc yết) vào giờ tý (12 giờ đến 2 giờ đêm) lễ vật rất đơn sơ, hương đăng trà quả. Đến giờ mão (6 giờ đến 8 giờ sáng) là làm lễ tế thần. Lễ này cúng mặn, có gà, heo để bày tỏ lòng thành của dân làng với thần, lính cai quản làng nên hết sức trang nghiêm và trọng thể như lễ đình ở mọi nơi, có văn tế và nhạc đã được coi là lệ nên không thể bỏ. Xong thủ tục, đến giờ thìn (8 giờ đến 10 giờ sáng) lễ cúng Long Chu chính thức được bắt đầu. Thầy Cả mặc áo Thái Thượng Lão Quân có in hình bát quái, thắt lưng màu đỏ, vai vắt khăn ấn vàng hoặc đỏ, chân đi hia, đầu đội mũ tì lư, một tay cầm cái vãng cắm hương hoặc cái kỵ lịnh (chuông lắc), còn một tay bắt quyết. Phụ tá cho thầy Cả còn có các thày con và các học trò lễ cùng dàn nhạc. Thầy bắt quyết cho quay đầu Long Chu ra phía cổng, thầy đọc những bài chú riêng, mỗi đoạn chuyển lại gõ lệnh bài vào hương án, trong khi các thầy con điểm nhạc, đọc kinh hòa theo và dâng những thứ cần cho thầy Cả. Thầy Cả vừa đọc những bài chú đầy bí ẩn vừa đọc văn triệu 32 tướng chỉ huy, văn triệu âm binh, văn phát lương và văn phát ngoại binh. Các bản văn cho thấy đội ngũ binh tướng được triệu đến để trừ tà diệt quỉ là cả 1 lực lượng khổng lồ. Trên hết là những vị tổ sư: Thượng Thanh Tiên Cảnh - Linh Bảo Thiên Tôn, Thái Thanh Chân Cảnh - Đạo Đức Thiên Tôn và Ngọc Thanh Thánh Cảnh- Nguyên Thỉ Thiên Tôn. Phía dưới là 32 chức vị thần tướng Đông Tây Nam Bắc, ba cung trung đạo và “vạn vật âm binh” tràn ngập trong “thế thiên la địa võng”. Lực lượng này được phát lương no đủ (gạo muối) để “ra tay bắt kẻ tà ma làm lệnh”, “xây lũy đào hào bủa lưới giăng” và “sát quỉ trừ tà hộ bổn chủ”. Quỉ ma cũng được đãi đằng rất tử tế, cả những lời vỗ về hoặc lời lên án nghiêm khắc buộc phải tuân thủ dưới sự thâu tóm của âm binh lên Long Chu đi đày ở miền khác. Số nào mà có quá nhiều tội lỗi thì phải chịu trừ khử. ở đoạn này, thầy Cả đọc văn khao ôn và văn tống quái. Nếu thày Cả đã già yếu, thì thày phụ trẻ sẽ đọc văn thay, vừa đọc văn vừa có những động tác múa võ và múa nhập đàn. Phạm vi hoạt động của các thày pháp là cả sân đình rộng. Thầy ra vào tới lui tấp nập như một cuộc đấu quyết liệt có thật với lực lượng vô hình, người xem cứ ngày càng phấn kích hể hả ra mặt nhất là khi thày có những động thái dữ dội với một tên ma quỉ ngoan cố và ngạo mạn, khi thì thầy lại trầm trầm trách cứ với một kẻ đã quen mặt, đã nhiều lần được tha mà nay lại bị âm binh bắt về. Trường hợp lâu nay có chuyện hỏa tai, có cây cột hiển linh gây đau ốm trong nhà hoặc nửa đêm thốt nhiên có đất đá quẳng rào rào trên mái nhà, thì sẽ do chủ nhân đề nghị trước, thầy sẽ cúng thêm và đọc những bài văn “tống hỏa tai”, “văn cúng tên bắn đất” và “văn cúng mộc trụ”. Nghỉ 1 lát, vào giờ dậu là đợt cúng cuối cùng sau bài “phát lương”, thầy đọc tiếp các bản “văn khao Nương Nương”, “văn khao thổ ôn thổ quỉ”, “văn khao thủy giới” và “văn lễ Hà Bá” được xướng lên. Cuối cùng là bài “văn khao ôn” trong đó có đoạn “tạ Ôn Vương” được đọc đi đọc lại nhiều lần. Các thầy phù thủy thay nhau đọc, sau đó thầy Cả sẽ vẽ bùa bắt ấn vào Long Chu xướng lớn “yểm ghe đi không được ngó lại”, “yểm Lục Giáp, Lục ất, hung thần đi cho mau, Lục Bính, Lục Đinh quỉ mị phải đi gấp, Lục Mậu Lục Kỵ lánh đi cho mau, Lục Oanh, Lục Tân, tà ma hóa ra bụi bặm, Lục Nhâm, Lục Quỉ hung nương lánh mặt đi cho xa”. Thầy Cả gõ lệnh bài chan chát vào hương án, các thầy phụ cùng bắt ấn hướng vào Long Chu để giết ma quỉ. Đến đây lễ tế tại đình đã kết thúc và chuyển sang phần rước Long Chu. Theo hiệu của thầy chấp lệnh, 4 thanh niên khiêng Long Chu có thầy Cả ngồi trên hai thanh gươm tuốt trần bắt chéo hình chữ X: 2 bên các thầy phụ đi kèm, phía sau có ông chánh bái và ban lễ đại diện cho làng, phía trước có một số thanh niên mang đuốc chạy soi đường. Người đánh trống chầu thúc ngũ liên, Long Chu chạy lúp xúp tới những nơi đã trấn yểm từ hôm trước, các thầy phụ đọc kinh, đọc chú, giật khăn trấn yểm. Hết nơi này lại đến nơi khác. Trên đường rước Long Chu sẽ có nhiều trạm dừng chân để thay người khiêng. Dưới ánh trăng rằm mới lên, mọi người trong làng dùng roi quất khắp mọi nơi rồi tràn ra đường, xông khói lửa đuốc sáng rực ngõ xóm chờ Long Chu đến. Họ đốt pháo, quẳng roi vào Long Chu và giật bùa của thầy về dán ở ngõ. Tất cả đều hào hứng, âm thanh náo loạn. Người lớn, trẻ con chờ xem rồi nhập vào đám rước. Người già trẻ con ai ai cũng thích. Long Chu đi hết các nơi phải đi thì cũng đã đến giờ Hợi. Đám rước đến một nơi vắng thì dừng lại và nổi lửa đốt Long Chu. Nơi gần sông thì họ sẽ thả xuống sông, trên Long Chu có những chén dầu lạc làm đèn cháy sáng và trôi dần ra biển. Ở đình Cẩm Phô, ngoài các hình thức như nhiều nơi còn có thêm tục “xô cộ” (cổ). Cộ là một dàn tre hình chóp nhiều tầng cao chừng khoảng 2m. Mỗi tầng có đặt xôi thịt, bánh trái và tiền… Phía trên là một khung pháo cây. Khi cúng đình xong, pháo nổ mọi người xô vào cướp, ai được nhiều thì xem như có được nhiều lộc. Một nghi thức trong lễ hội Long Chu Người Hoa ở các bang thường làm Long Chu lớn hơn và công phu hơn. Có khi toàn bộ Long Chu được làm bằng vải, dài cỡ 5m, phải luồn tre xuống dưới bụng để cho 4 cặp người khiêng (8 người) cúng ở chùa Âm Bổn, Ngũ Bang hay chùa Ông. Cộ cũng làm lớn, có khi để được cả con heo quay trên đó. Khi có lệnh xô cộ, tất cả mọi người tranh nhau vào lấy lộc, có người thật nhanh đã dành được cả con heo quay để chót vót trên đỉnh giàn mà chạy. Long Chu của người Hoa thì thường được thả xuống sông, trên đó có thêm rượu, khèn, “sáp ong”, heo quay nguyên con và cả gà trống còn sống. Như vậy, lễ hội Long Chu phần cúng lễ kéo dài 2 ngày 2 đêm, nặng phần phù thủy. Long Chu thể hiện nhân sinh quan, thế giới quan của những người dân xưa, khi chưa cắt nghĩa và có hành động giải quyết được những hiện tượng lạ quanh mình nên để thực hiện phải nhờ đến thế lực phù thủy với các nghi lễ ma thuật huyền bí. Bản chất đích thực tốt đẹp ban đầu bị chìm lấp, tính chủ động và sáng tạo bị kìm hãm nên ý nghĩa của hội cũng bị chìm sâu, không nổi trội. Bóng dáng của các cuộc hát đối đáp hiện lên mờ nhạt. Trước năm 1945 Long Chu được mọi làng, mọi ấp làm; làng thì làm lớn, ấp thi làm nhỏ thường kết hợp với đình nên bị hiểu lầm là hoạt động phụ của tổ chức cúng tế lớn thường kỳ hàng năm. Long Chu chính là từ chỉ chiếc thuyền làm theo hình con rồng. Đây là phương tiện sang trọng dành riêng cho vua chúa ngự lãm hoặc tuần du ở thời xưa. Với dân gian xưa, ôn hoàng, dịch lệ là lực lượng siêu nhiên gây hại cho con người, đáng ghét đáng sợ nhưng cũng cần phải kính nể. Vì vậy, làm Long Chu là dựa theo loại thuyền của vua để chở thần, tướng, âm binh áp tải, tống quái, tống ôn và xú uế đi, mong hưởng những cái tốt lành cho nơi cư trú của con người. Long Chu có bộ sườn được đóng bằng tre, ngoài phết giấy vẽ phẩm xanh đỏ, giữa mình là thuyền, đầu đuôi hình rồng có đủ sừng, râu, kỳ và vẩy… Hông trái buộc 1 dầm lái, trước buộc 1 dầm mũi, 4 góc trước và sau thuyền có 4 hình nhân cầm dầm, 1 hình nhân nữa ngồi ở lái. Trên Long Chu cắm bốn cờ, bốn cán cờ xuyên thẳng qua thuyền thành bốn chân, giữa có lọng che và 1 phướn, hông thuyền cột dọc hai đoạn tre cho bốn người khiêng, trong lòng có trang bị đầy đủ đồ dùng cho 1 bậc quyền uy, có điều tất cả đều bằng tre và bằng giấy màu. Long Chu làm đẹp, xấu, lớn, nhỏ, hiền hay dữ là tùy thuộc vào tài năng của thợ mã và yêu cầu đã được dân làng thỏa thuận trước. Lễ hội Long Chu, thực chất là 1 cuộc tổng tấn công trừ khử tà ma dịch bệnh và cũng là công cụ để chuyển tải, bày tỏ sâu sắc văn hóa của cộng đồng các cư dân nông nghiệp./.

Related Figures

Lễ cúng lúa trăm của người Bhnong

Thông tin thời kỳ

(lehoi.info) - Theo quan niệm của những người dân Bhnong ở xã Phước Lộc, huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam, khi những mùa rẫy liên tục được mùa, lúa thóc đầy kho, thì họ sẽ tổ chức cúng lúa trăm. Đây được coi là 1 trong 3 lễ cúng quan trọng, thể hiện sự biết ơn thần lúa và cầu mong cho mùa màng bội thu… Lễ cúng lúa trăm của người Bhnong ở Quảng Nam Lễ cũng lúa trăm thường được tổ chức ở trong từng gia đình. Theo phong tục của người dân Bhnong, trước khi cầm đũa gắp thức ăn, thì mọi người phải rửa tay sạch sẽ và bốc 1 nắm cơm, thêm một ít hạt muối sống giã với ớt rừng... Lễ cúng được gia đình thực hiện rất chu đáo, lễ vật chuẩn bị gồm có: 125kg gạo, 1 con heo đen, 5 ống nứa đựng cá niêng đã muối chua, 5 đốc rượu cần và 10 con gà... Ngày đầu tiên, nghi thức cúng diễn ra ở tại kho lúa, vật dụng cúng gồm có 1 con gà, 3 lá trầu và 1 hũ rượu cần ngon nhất, với những lời cảm ơn và khấn cầu thần lúa và thần rẫy, phù hộ cho gia đình, dân làng sang năm làm được nhiều lúa, nhiều gạo, cái chân đi nương, đi rẫy chắc hơn, cái bụng no hơn. Sau nghi thức cúng ở tại kho lúa, gia đình sẽ nấu 7 gùi cơm, 3 gùi thịt, 3 ống cá chua và 7 canh rượu cần để mang đến nhà làng cho người dân cùng ăn uống chia vui... Trong bữa tiệc, vừa ăn uống, mọi người vừa chúc mừng nhau sang năm mùa màng bội thu. Lễ cúng là dịp để cảm ơn thần lúa đã phù hộ cho dân làng thịnh vượng vừa để chia sẻ sự no đủ với bà con dân làng. Nghi thức cúng lúa trăm của người Bhnong Cùng với lễ mừng lúa mới, cúng mùng 5, thì cúng lúa trăm cũng rất quan trọng trong đời sống tâm linh của đồng bào dân tộc Bhnong. Lễ cúng lúa trăm không chỉ cầu mong cho mùa màng bội thu mà còn là dịp để cảm ơn thần lúa đã phù hộ cho dân làng thịnh vượng vừa để chia sẻ sự no đủ với bà con dân làng, vừa thắt chặt tình đoàn kết trong bản làng, khơi dậy nét đẹp văn hóa truyền thống của tộc người Bhnong. Cùng với lễ mừng lúa mới, cúng mùng năm, thì cúng lúa trăm cũng rất quan trọng trong đời sống tâm linh của đồng bào dân tộc Bhnong./. Khám phá lễ cúng trăm của người dân tộc Bhnong lehoi.info

(lehoi.info) - Theo quan niệm của những người dân Bhnong ở xã Phước Lộc, huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam, khi những mùa rẫy liên tục được mùa, lúa thóc đầy kho, thì họ sẽ tổ chức cúng lúa trăm. Đây được coi là 1 trong 3 lễ cúng quan trọng, thể hiện sự biết ơn thần lúa và cầu mong cho mùa màng bội thu…

Lễ cúng lúa trăm của người Bhnong ở Quảng Nam

Lễ cũng lúa trăm thường được tổ chức ở trong từng gia đình. Theo phong tục của người dân Bhnong, trước khi cầm đũa gắp thức ăn, thì mọi người phải rửa tay sạch sẽ và bốc 1 nắm cơm, thêm một ít hạt muối sống giã với ớt rừng... Lễ cúng được gia đình thực hiện rất chu đáo, lễ vật chuẩn bị gồm có: 125kg gạo, 1 con heo đen, 5 ống nứa đựng cá niêng đã muối chua, 5 đốc rượu cần và 10 con gà... Ngày đầu tiên, nghi thức cúng diễn ra ở tại kho lúa, vật dụng cúng gồm có 1 con gà, 3 lá trầu và 1 hũ rượu cần ngon nhất, với những lời cảm ơn và khấn cầu thần lúa và thần rẫy, phù hộ cho gia đình, dân làng sang năm làm được nhiều lúa, nhiều gạo, cái chân đi nương, đi rẫy chắc hơn, cái bụng no hơn. Sau nghi thức cúng ở tại kho lúa, gia đình sẽ nấu 7 gùi cơm, 3 gùi thịt, 3 ống cá chua và 7 canh rượu cần để mang đến nhà làng cho người dân cùng ăn uống chia vui... Trong bữa tiệc, vừa ăn uống, mọi người vừa chúc mừng nhau sang năm mùa màng bội thu. Lễ cúng là dịp để cảm ơn thần lúa đã phù hộ cho dân làng thịnh vượng vừa để chia sẻ sự no đủ với bà con dân làng.

Nghi thức cúng lúa trăm của người Bhnong

Cùng với lễ mừng lúa mới, cúng mùng 5, thì cúng lúa trăm cũng rất quan trọng trong đời sống tâm linh của đồng bào dân tộc Bhnong. Lễ cúng lúa trăm không chỉ cầu mong cho mùa màng bội thu mà còn là dịp để cảm ơn thần lúa đã phù hộ cho dân làng thịnh vượng vừa để chia sẻ sự no đủ với bà con dân làng, vừa thắt chặt tình đoàn kết trong bản làng, khơi dậy nét đẹp văn hóa truyền thống của tộc người Bhnong. Cùng với lễ mừng lúa mới, cúng mùng năm, thì cúng lúa trăm cũng rất quan trọng trong đời sống tâm linh của đồng bào dân tộc Bhnong./.

Khám phá lễ cúng trăm của người dân tộc Bhnong

lehoi.info

Related Figures

Lễ hội làng Gốm Thanh Hà

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/1 Âm lịch (lehoi.info) - Hàng năm cứ vào ngày mùng 10 tháng giêng âm lịch, hàng trăm hộ dân làng gốm ở Thanh Hà, Hội An đều tập trung về miếu Nam Diêu thành kính giỗ tổ trong sự chứng kiến của đông đảo đại biểu Thành phố và những khách du lịch thập phương. Dân làng rước long chu ra thả sông cho trôi về cửa Đại Theo lịch sử, cư dân vùng Thanh Hà có nguồn gốc chủ yếu ở vùng Thanh Hóa, Nam Định và Hải Dương vào định cư từ khoảng cuối thế kỉ 15. Trong những buổi sơ khai, khi đồ dùng của đại bộ phận dân cư chủ yếu là đồ gốm sứ và đất nung thì cư dân ở đây đã tiếp tục truyền thống của cha ông, khai thác địa thế thuận lợi của vùng đất mới để tiếp tục phát triển nghề gốm. Theo cách nhớ của những người làng Thanh Hà thì vào năm 1516, nghề gốm bắt đầu sản xuất ở tại làng Thanh Chiêm ( nay là khối phố 6 phường Thanh Hà ), sau đó do không hợp phong thủy nên đã dời lên Nam Diêu ( tức khối phố 5 phường Thanh Hà ), Nam Diêu có nghĩa là lò gốm phía Nam Một nghi thức trong lễ hội làng Gốm Thanh Hà Hiện nay ở tại Nam Diêu vẫn còn miếu Tổ nghề của làng. Hằng năm, người dân làng gốm tổ chức lễ tế Xuân vào ngày mùng 10 tháng Giêng nhằm cúng tổ tiên, mong cho chư thần, tổ nghề và các bậc tiền nhân ban cho năm mới bình an, làng nghề ngày càng phát triển. Nhiều thế kỉ qua, nghề làm gốm và gạch ngói ở Thanh Hà nổi tiếng không chỉ ở riêng xứ Quảng mà ở cả trong nước và cả nước ngoài.Trong sách Phủ Biên Tạp Lục học giả Lê Quí Đôn có đề cập đến gốm ” Cochi”, ” Cauchi” ( Giao Chỉ) mà người nước ngoài ưa chuộng trong đó có cả gốm Thanh Hà xứ Quảng. Và kể từ thế kỉ thứ 17 trở lui, do việc tái tạo thành phố Hội An mà sinh ra ngành gạch ngói rất thịnh hành ở tại Thanh Hà. Không chỉ phục vụ cho nhu cầu địa phương, cho các vùng lân cận mà còn trở thành 1 mặt hàng trao đổi mua bán cho cả xứ Đàng Trong. Khi nhà Nguyễn chọn Phú Xuân làm kinh đô, nhiều nghệ nhân đã được gọi ra Huế xung vào đội thợ xây dựng cố cung. Có người còn được vua phong đến hàm Bát phẩm, đó là những Chánh Ca, Lễ hội làng Gốm, là một hoạt động văn hóa tinh thần của cộng đồng cư dân Thanh Hà - Hội An luôn diễn ra sôi nổi, đậm tính dân gian với nhiều những nghi thức cổ truyền được chính các nghệ nhân và bà con nhân dân ở trong làng thực hiện. Ngay từ sáng sớm, phần lễ chính tế Tổ với đoàn rước thần chủ đã được diễn hành qua khắp các ngã đường. Đội hình lân, sư, dàn bát âm, nghi trượng, kiệu thần chủ và kiệu lư hương gốm cùng hơn 100 nam phụ lão ấu đi từ miếu Nam Diêu về đình Thanh Chiếm tế lễ. Đây chính là nơi được cư dân thờ tự, tôn vinh và ngưỡng vọng về công đức của các vị tổ nghề. Trong văn tế của Ban cổ lễ do các bô lão chủ trì điều hành theo một nghi thức truyền thống, nài tâm niệm cầu mong quốc thái dân an, nhà nhà an lành, mùa màng bội thu và tri ân công đức Tổ nghề. Lời tiếng của người hậu thế cũng đã gợi tưởng niềm tự hào mà bao thế hệ người làng Nam Diêu, Thanh Chiếm và làng Bộc Thuỷ…hoài vọng. Phần Lễ Tế trong lễ hội Ngay sau khi phần lễ tế chấm dứt, những người làng Thanh Hà đa phần “mặc áo vải, khăn hoa” cùng mời du khách vui hội với nhiều những trò chơi dân gian đặc sắc như: lái buôn xuất sắc,cõng nàng về dinh, thi chuốt gốm, nấu cơm bằng nồi đất, làm con thổi đất nung, thi đập nồi, bịt mắt đánh trống,... Sôi nổi nhất đó là hội đua thuyền, hô hát bài chòi, hát bội diễn ra liên tục từ đêm hôm trước đến tận tàn ngày hội. Làng gốm Thanh Hà ngày nay đã là điểm đến không thể thiếu đối với du khách khi tham quan đô thị cổ Hội An - di sản văn hóa thế giới./.

(lehoi.info) - Hàng năm cứ vào ngày mùng 10 tháng giêng âm lịch, hàng trăm hộ dân làng gốm ở Thanh Hà, Hội An đều tập trung về miếu Nam Diêu thành kính giỗ tổ trong sự chứng kiến của đông đảo đại biểu Thành phố và những khách du lịch thập phương.

Dân làng rước long chu ra thả sông cho trôi về cửa Đại

Theo lịch sử, cư dân vùng Thanh Hà có nguồn gốc chủ yếu ở vùng Thanh Hóa, Nam Định và Hải Dương vào định cư từ khoảng cuối thế kỉ 15. Trong những buổi sơ khai, khi đồ dùng của đại bộ phận dân cư chủ yếu là đồ gốm sứ và đất nung thì cư dân ở đây đã tiếp tục truyền thống của cha ông, khai thác địa thế thuận lợi của vùng đất mới để tiếp tục phát triển nghề gốm. Theo cách nhớ của những người làng Thanh Hà thì vào năm 1516, nghề gốm bắt đầu sản xuất ở tại làng Thanh Chiêm ( nay là khối phố 6 phường Thanh Hà ), sau đó do không hợp phong thủy nên đã dời lên Nam Diêu ( tức khối phố 5 phường Thanh Hà ), Nam Diêu có nghĩa là lò gốm phía Nam Một nghi thức trong lễ hội làng Gốm Thanh Hà Hiện nay ở tại Nam Diêu vẫn còn miếu Tổ nghề của làng. Hằng năm, người dân làng gốm tổ chức lễ tế Xuân vào ngày mùng 10 tháng Giêng nhằm cúng tổ tiên, mong cho chư thần, tổ nghề và các bậc tiền nhân ban cho năm mới bình an, làng nghề ngày càng phát triển. Nhiều thế kỉ qua, nghề làm gốm và gạch ngói ở Thanh Hà nổi tiếng không chỉ ở riêng xứ Quảng mà ở cả trong nước và cả nước ngoài.Trong sách Phủ Biên Tạp Lục học giả Lê Quí Đôn có đề cập đến gốm ” Cochi”, ” Cauchi” ( Giao Chỉ) mà người nước ngoài ưa chuộng trong đó có cả gốm Thanh Hà xứ Quảng. Và kể từ thế kỉ thứ 17 trở lui, do việc tái tạo thành phố Hội An mà sinh ra ngành gạch ngói rất thịnh hành ở tại Thanh Hà. Không chỉ phục vụ cho nhu cầu địa phương, cho các vùng lân cận mà còn trở thành 1 mặt hàng trao đổi mua bán cho cả xứ Đàng Trong. Khi nhà Nguyễn chọn Phú Xuân làm kinh đô, nhiều nghệ nhân đã được gọi ra Huế xung vào đội thợ xây dựng cố cung. Có người còn được vua phong đến hàm Bát phẩm, đó là những Chánh Ca, Lễ hội làng Gốm, là một hoạt động văn hóa tinh thần của cộng đồng cư dân Thanh Hà - Hội An luôn diễn ra sôi nổi, đậm tính dân gian với nhiều những nghi thức cổ truyền được chính các nghệ nhân và bà con nhân dân ở trong làng thực hiện. Ngay từ sáng sớm, phần lễ chính tế Tổ với đoàn rước thần chủ đã được diễn hành qua khắp các ngã đường. Đội hình lân, sư, dàn bát âm, nghi trượng, kiệu thần chủ và kiệu lư hương gốm cùng hơn 100 nam phụ lão ấu đi từ miếu Nam Diêu về đình Thanh Chiếm tế lễ. Đây chính là nơi được cư dân thờ tự, tôn vinh và ngưỡng vọng về công đức của các vị tổ nghề. Trong văn tế của Ban cổ lễ do các bô lão chủ trì điều hành theo một nghi thức truyền thống, nài tâm niệm cầu mong quốc thái dân an, nhà nhà an lành, mùa màng bội thu và tri ân công đức Tổ nghề. Lời tiếng của người hậu thế cũng đã gợi tưởng niềm tự hào mà bao thế hệ người làng Nam Diêu, Thanh Chiếm và làng Bộc Thuỷ…hoài vọng. Phần Lễ Tế trong lễ hội Ngay sau khi phần lễ tế chấm dứt, những người làng Thanh Hà đa phần “mặc áo vải, khăn hoa” cùng mời du khách vui hội với nhiều những trò chơi dân gian đặc sắc như: lái buôn xuất sắc,cõng nàng về dinh, thi chuốt gốm, nấu cơm bằng nồi đất, làm con thổi đất nung, thi đập nồi, bịt mắt đánh trống,... Sôi nổi nhất đó là hội đua thuyền, hô hát bài chòi, hát bội diễn ra liên tục từ đêm hôm trước đến tận tàn ngày hội. Làng gốm Thanh Hà ngày nay đã là điểm đến không thể thiếu đối với du khách khi tham quan đô thị cổ Hội An - di sản văn hóa thế giới./.

Related Figures

Lễ giỗ tổ Nghề Yến

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 9/3- 10/3 Âm lịch (lehoi.info) - Hàng năm cứ vào ngày mùng 9 và ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch tại xã đảo Tân Hiệp- Cù Lao Chàm người dân nơi đây lại tổ chức lễ tế nhằm cầu mong biển trời phù hộ và tưởng niệm tri ân tới các bậc tiền bối đã có công trạng đối với nghề khai thác Yến sào. Miếu Tổ nghề Yến nơi tổ chức ngày Giỗ Tổ nghề Yến hằng năm Lễ giỗ tổ nghề yến là một lệ định kỳ đã có từ hơn 150 năm qua nhằm tưởng niệm và tri ân các bậc tiền nhân đã có công khai sinh và phát triển nghề khai thác yến sào ở tại vùng biển Cù Lao Chàm. Vào những năm gần đây, giỗ tổ nghề yến cũng là một lễ cầu an đầu năm của những người dân làng Bãi Hương cầu mong cho mưa thuận gió hòa, trời yên biển lặng, cuộc sống ấm no và sung túc; đồng thời nâng cao niềm tự hào và nâng cao ý thức bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên quý hiếm của vùng biển đảo. Thành kính dâng hương lên tổ nghề yến Theo gia phả để lại, thì đình làng Thạch Tân được xây dựng từ thế kỷ XI, đã qua 3 lần di chuyển và rất nhiều lần trùng tu, tôn tạo nhưng vẫn giữ được dáng dấp, kiến trúc từ khi mới xây dựng. Đây cũng chính là nơi thờ tự các bậc tiền hiền đã có công khai cơ lập ấp, thủy tổ của các dòng họ, của các vị nhân sĩ trí thức. Đình làng gắn liền với truyền thống cách mạng của quê xã Tam Thăng. Cùng với địa đạo Kỳ Anh, đình làng Thạch Tân được công nhận là Di tích lịch sử cấp quốc gia vào năm 1997. Ngày tế lễ diễn ra giống như ngày hội với nhiều hoạt động phong phú như: Tế Tổ nghề Yến, Vui hội làng chài ( đua ghe ngang, hội Bài chòi, kéo co bằng thuyền trên biển, trò chơi bịt mắt đập nồi), đêm hội Cù lao (biểu diễn nghệ thuật cổ truyền và giao lưu văn nghệ đất liền- hải đảo- du khách) và Chợ ẩm thực món ngon Cù Lao Chàm (các đặc sản biển, rau rừng, bánh ít, tổ yến khô, yến chưng hột sen, rượu yến, rượu hải sâm- bào ngư...), tour tham quan thắng cảnh biển đảo- các khu du lịch Cù Lao Chàm, làng chài Bãi Hương, xem san hô và các loài hải sản dưới biển bằng thuyền đáy kính và thúng đáy kính khu vực Bãi Nần. Nghi thức tế lễ Tham gia lễ hội du khách còn có cơ hội tham gia 1 tour tham quan tại hang Tò Vò. Du khách được đi thuyền đến hang xem nơi cư trú của loài chim yến, tìm hiểu những công việc cực nhọc của công nhân Đội khai thác yến Hội An. Bên cạnh đó còn có thể được uống một loại rượu ngâm từ trứng yến cùng các sản vật vô giá của biển đảo như rượu hải sâm, rượu bào ngư, tôm, cua, cua đá, cá, ốc, mực, vú sao, vú nàng và rau rừng...

(lehoi.info) - Hàng năm cứ vào ngày mùng 9 và ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch tại xã đảo Tân Hiệp- Cù Lao Chàm người dân nơi đây lại tổ chức lễ tế nhằm cầu mong biển trời phù hộ và tưởng niệm tri ân tới các bậc tiền bối đã có công trạng đối với nghề khai thác Yến sào.

Miếu Tổ nghề Yến nơi tổ chức ngày Giỗ Tổ nghề Yến hằng năm

Lễ giỗ tổ nghề yến là một lệ định kỳ đã có từ hơn 150 năm qua nhằm tưởng niệm và tri ân các bậc tiền nhân đã có công khai sinh và phát triển nghề khai thác yến sào ở tại vùng biển Cù Lao Chàm. Vào những năm gần đây, giỗ tổ nghề yến cũng là một lễ cầu an đầu năm của những người dân làng Bãi Hương cầu mong cho mưa thuận gió hòa, trời yên biển lặng, cuộc sống ấm no và sung túc; đồng thời nâng cao niềm tự hào và nâng cao ý thức bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên quý hiếm của vùng biển đảo. Thành kính dâng hương lên tổ nghề yến Theo gia phả để lại, thì đình làng Thạch Tân được xây dựng từ thế kỷ XI, đã qua 3 lần di chuyển và rất nhiều lần trùng tu, tôn tạo nhưng vẫn giữ được dáng dấp, kiến trúc từ khi mới xây dựng. Đây cũng chính là nơi thờ tự các bậc tiền hiền đã có công khai cơ lập ấp, thủy tổ của các dòng họ, của các vị nhân sĩ trí thức. Đình làng gắn liền với truyền thống cách mạng của quê xã Tam Thăng. Cùng với địa đạo Kỳ Anh, đình làng Thạch Tân được công nhận là Di tích lịch sử cấp quốc gia vào năm 1997. Ngày tế lễ diễn ra giống như ngày hội với nhiều hoạt động phong phú như: Tế Tổ nghề Yến, Vui hội làng chài ( đua ghe ngang, hội Bài chòi, kéo co bằng thuyền trên biển, trò chơi bịt mắt đập nồi), đêm hội Cù lao (biểu diễn nghệ thuật cổ truyền và giao lưu văn nghệ đất liền- hải đảo- du khách) và Chợ ẩm thực món ngon Cù Lao Chàm (các đặc sản biển, rau rừng, bánh ít, tổ yến khô, yến chưng hột sen, rượu yến, rượu hải sâm- bào ngư...), tour tham quan thắng cảnh biển đảo- các khu du lịch Cù Lao Chàm, làng chài Bãi Hương, xem san hô và các loài hải sản dưới biển bằng thuyền đáy kính và thúng đáy kính khu vực Bãi Nần. Nghi thức tế lễ Tham gia lễ hội du khách còn có cơ hội tham gia 1 tour tham quan tại hang Tò Vò. Du khách được đi thuyền đến hang xem nơi cư trú của loài chim yến, tìm hiểu những công việc cực nhọc của công nhân Đội khai thác yến Hội An. Bên cạnh đó còn có thể được uống một loại rượu ngâm từ trứng yến cùng các sản vật vô giá của biển đảo như rượu hải sâm, rượu bào ngư, tôm, cua, cua đá, cá, ốc, mực, vú sao, vú nàng và rau rừng...

Related Figures

Lễ hội đâm trâu hoa Làng Ông Tía

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 13/3 Âm lịch (lehoi.info) - Lễ hội đâm trâu hoa Làng Ông Tía được tổ chức vào ngày 13 tháng 3, tại nhà Rông thôn 6, xã Phước Trà, hiệp Đức, Quảng Nam. Đây là một hoạt động văn hóa, tín ngưỡng của đồng bào vùng cao ở tỉnh Quảng Nam đồng thời cũng là dịp để đồng bào giao lưu và học hỏi những kinh nghiệm vốn sống, vốn văn hóa giữa các bản làng nhằm tăng thêm mối đoàn kết giữa các thôn. Độc đáo lễ hội đam trâu hoa Làng Ông Tía Lễ hội đâm trâu hoa Làng Ông Tía được tổ chức hàng năm là nhằm kỷ niệm ngày khởi nghĩa vũ trang của làng (13/3/1960). Để chuẩn bị cho lễ hội, từ nhiều tháng trước, buôn làng sẽ cử người đi tìm chọn mua trâu đực, là loại trâu cực kỳ khỏe mạnh và sung sức, để đưa về chăm bẵm và chọn ngày làm lễ. Sáng ngày 12 tháng 3, một cây nêu dài 9m có trang trí hoa văn đẹp mắt đã được dựng lên ở ngay trung tâm sân nhà rông của thôn 6 Phước Trà sau khi cúng thần nước và thần đất, cúng đường nơi con trâu đã đi qua. nghi thức đâm trâu trong lễ hội Sau phần làm lễ kỷ niệm là đến màn múa hát, đánh cồng chiêng để chuẩn bị đâm trâu. Gần 100 người bao gồm cả già trẻ, gái trai trong làng với trang phục dân tộc Cadoong xếp thành vòng tròn quanh cây nêu đã cột con trâu làm lễ. Với sự cổ vũ nhiệt tình của bà con ở bên ngoài, đội cồng chiêng, ca vũ nhảy múa xoay vần quanh cây nêu khoảng 1 giờ đồng hồ với vẻ mặt vui tươi. Để tiếp thêm sức mạnh, có 2 người đàn ông chạy trong vòng tròn và thỉnh thoảng đưa đến tận miệng những người tham gia nhảy múa 1 chén rượu bất kẻ già trẻ hay gái trai. Sau phần nhảy múa và đánh cồng chiêng sẽ là phần đâm trâu. Đây là nghi thức quan trọng và linh thiêng nhất. Người được chọn đứng ra đâm trâu phải là 1 người thanh niên chưa vợ, khỏe mạnh và có uy tín với dân làng. Với một cây giáo tự chế trong tay, chàng trai người dân tộc Cadoong đã hạ gục được chú trâu bằng 2 nhát đâm vào phía sau chân trước của con trâu. Trước khi con trâu gục hẳn, những trai tráng khỏe mạnh đã cố sức “lái” cho đầu của con trâu nằm phục xuống và hướng về phía cây nêu trong tiếng vỗ tay, la ó và reo hò vang dội của đông đảo buôn làng. Lễ hội đâm trâu hoa Làng Ông Tía tại Quảng Nam Sau khi con trâu đã chết hẳn, trai tráng thì có nhiệm vụ xẻ thịt trâu và còn phần chia thịt cho dân làng là do các già làng đứng ra phân xử để đảm bảo nhà nào cũng có phần thịt trâu trong lễ hội./.

(lehoi.info) - Lễ hội đâm trâu hoa Làng Ông Tía được tổ chức vào ngày 13 tháng 3, tại nhà Rông thôn 6, xã Phước Trà, hiệp Đức, Quảng Nam. Đây là một hoạt động văn hóa, tín ngưỡng của đồng bào vùng cao ở tỉnh Quảng Nam đồng thời cũng là dịp để đồng bào giao lưu và học hỏi những kinh nghiệm vốn sống, vốn văn hóa giữa các bản làng nhằm tăng thêm mối đoàn kết giữa các thôn.

Độc đáo lễ hội đam trâu hoa Làng Ông Tía

Lễ hội đâm trâu hoa Làng Ông Tía được tổ chức hàng năm là nhằm kỷ niệm ngày khởi nghĩa vũ trang của làng (13/3/1960). Để chuẩn bị cho lễ hội, từ nhiều tháng trước, buôn làng sẽ cử người đi tìm chọn mua trâu đực, là loại trâu cực kỳ khỏe mạnh và sung sức, để đưa về chăm bẵm và chọn ngày làm lễ. Sáng ngày 12 tháng 3, một cây nêu dài 9m có trang trí hoa văn đẹp mắt đã được dựng lên ở ngay trung tâm sân nhà rông của thôn 6 Phước Trà sau khi cúng thần nước và thần đất, cúng đường nơi con trâu đã đi qua. nghi thức đâm trâu trong lễ hội Sau phần làm lễ kỷ niệm là đến màn múa hát, đánh cồng chiêng để chuẩn bị đâm trâu. Gần 100 người bao gồm cả già trẻ, gái trai trong làng với trang phục dân tộc Cadoong xếp thành vòng tròn quanh cây nêu đã cột con trâu làm lễ. Với sự cổ vũ nhiệt tình của bà con ở bên ngoài, đội cồng chiêng, ca vũ nhảy múa xoay vần quanh cây nêu khoảng 1 giờ đồng hồ với vẻ mặt vui tươi. Để tiếp thêm sức mạnh, có 2 người đàn ông chạy trong vòng tròn và thỉnh thoảng đưa đến tận miệng những người tham gia nhảy múa 1 chén rượu bất kẻ già trẻ hay gái trai. Sau phần nhảy múa và đánh cồng chiêng sẽ là phần đâm trâu. Đây là nghi thức quan trọng và linh thiêng nhất. Người được chọn đứng ra đâm trâu phải là 1 người thanh niên chưa vợ, khỏe mạnh và có uy tín với dân làng. Với một cây giáo tự chế trong tay, chàng trai người dân tộc Cadoong đã hạ gục được chú trâu bằng 2 nhát đâm vào phía sau chân trước của con trâu. Trước khi con trâu gục hẳn, những trai tráng khỏe mạnh đã cố sức “lái” cho đầu của con trâu nằm phục xuống và hướng về phía cây nêu trong tiếng vỗ tay, la ó và reo hò vang dội của đông đảo buôn làng. Lễ hội đâm trâu hoa Làng Ông Tía tại Quảng Nam Sau khi con trâu đã chết hẳn, trai tráng thì có nhiệm vụ xẻ thịt trâu và còn phần chia thịt cho dân làng là do các già làng đứng ra phân xử để đảm bảo nhà nào cũng có phần thịt trâu trong lễ hội./.

Related Figures

Lèn Vịnh Tiên Lệ và Lễ hội đền thờ Phù Đổng Thiên Vương

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 8/4 Âm lịch Lèn Vịnh là tên gọi từ thời xa xưa một hòn núi ở xã Quảng Tiên, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Từ thuở khai thiên lập địa, Lèn Vịnh mọc lên ở giữa làng Tiên Lệ như 1 tấm bình phong lớn cao sừng sững. Những khi mây xuống thấp tưởng như chạm đến đỉnh trời. Nơi đó đã trở thành chốn thâm nghiêm và đầy sự uy linh. Hàng năm cứ vào dịp sau giỗ Tổ Vua Hùng ngày mùng 10 tháng 3 một tháng, đúng ngày mùng 8 tháng 4 thì nhân dân tại làng Tiên Lệ lại cùng nhau tổ chức lễ hội đền Phù Đổng Thiên Vương. Lèn Vịnh Tiên Lệ và Lễ hội đền thờ Phù Đổng Thiên Vương tại Quảng Bình Người dân làng Tiên Lệ kể lại rằng: Trước đây rất lâu người dân Tiên Lệ có đời sống rất khổ cực. Cảnh mất mùa đói kém thường xuyên xảy ra. Quanh năm chỉ lấy nghề rừng rú làm nguồn sống chính cho cuộc sống. Từ người già cho đến trẻ con ngày ngày lên rừng hái các loại trái cây như thị, mít nài, hạt muồng, hạt sót và hạt dẻ... chạy về Trung Thôn, Biểu Lệ bán buôn ở phiên chợ Sải hoặc xuống tận Minh Lệ dự phiên chợ Mới, xa hơn thì phiên chợ Ba Đồn rồi mua khoai mua gạo đem về cho gia đình đắp đổi sống qua ngày. Không hiểu nhờ trời phật phù hộ thế nào mà liên tiếp mấy năm tự nhiên làng Tiên Lệ lại được mùa to, trồng trọt cây gì cũng cho thu hoạch khá, từ đó đời sống người dân hết cảnh hắt hiu. Một cụ già cao niên nhất ở trong làng nhân một buổi hội đình, cụ đã đem chuyện giấc mơ cụ gặp được con Thần, con Thánh về hộ sức cho làng kể lại cho mọi người nghe. Cụ kể rằng: Vị Thần về giúp làng đầu đội mũ kim ô ngồi trên một con ngựa sắt, tay cầm roi sắt rượt đuổi bọn giặc lân bang từ phương Nam đến quậy phá. Sau khi đuổi được giặc chạy xa rồi thì vị Thần này quay về trên đường đi ngang qua vùng Tiên Lệ thấy cảnh đẹp sinh tình nên đã ghé lại cùng binh sĩ nghỉ sức 1 đêm. Khi biết dân Tiên Lệ còn nhiều khổ cực, vị thần đã xin Nhà Trời ở lại dạy dân cày cấy và trồng trọt. Một thời gian sau khi mọi công việc cấy hái của người dân đã được thuần thục thì 1 mình Thần cưỡi lên mình ngựa bỏ lại các binh lính rồi bay ra phía bắc đến đậu xuống vùng Nghĩa Lĩnh. Nhưng Thần cũng chỉ ở đấy một thời gian rồi lại bay tít lên trời và không quay trở lại nữa. Sau khi nghe ông cụ kể lại về giấc mơ đẹp, vị Tiên chỉ làng liền bàn với các chức sắc trong làng một kế hoạch rồi cử 1 đoàn đinh tráng 20 người khoẻ mạnh khuân theo gạo, nếp, lợn và bò trồng nuôi trên đất Tiên Lệ đi bộ gần 1 tháng ra tận Đền Hùng để xin làm lễ tế. Sau đó lại đến đền thờ Thánh Gióng để tổ chức lễ tạ ơn và xin đất, xin lập lư hương rước về làng thờ. Chỉ trong một thời gian rất ngắn huy động người có công, người có của, làng đã xây lên ngay giữa Lèn Vịnh một ngôi đền to đẹp nhất vùng và rất trang nghiêm. Đền xây xong làng tổ chức hội đền kéo dài 3 ngày đêm đèn đuốc thắp sáng trưng cả 1 góc núi. Người ở mọi vùng nườm nượp kéo về cầu yên, cầu bổn mạng. Nhìn bức phong chính giữa đền tạc hình Phù Đổng Thiên Vương ngồi trên con ngựa sắt tay cầm roi sắt 2 bên có 2 vị tướng hộ tống ngước mắt nhìn Thần bay lên trời làm cho người người đến đây đều tỏ lòng kính cẩn. Một nghi thức trong lễ hội Từ đó cứ hàng năm đến ngày tế lễ dân 2 giáp: Giáp Đông và Giáp Đoài được các chức sắc làng phân công trực tiếp làm cỗ cúng thi. Các loại xôi, các loại bánh phải lấy hạt gạo, hạt nếp tự làm ra ở trên đồng làng mà chế biến mâm cỗ cúng. Để có được các loại xôi bánh tốt, khi mùa lúa chín sắp được gặt làng sẽ bắt những thanh niên ra ruộng chọn những bông lúa tốt nhiều hạt chắc lảy đem về cột chùm phơi riêng rồi cất lên sàn nhà cả bồng chẹn. Khi nào sắp lễ mới đem bồng chẹn xuống đạp ra lấy hạt lúa và xay giã thành gạo. Khi thành gạo rồi, làng lại tuyển các cô gái giỏi giang một lần nữa chọn ra những hạt gạo cật, trắng còn nguyên vẹn không vỡ mới đem đồ xôi. Sau khi nếp ngâm được vớt ra rồi, cách hông cũng rất công kỹ. Khi hông xôi thì phải trải qua 3 bước, bước 1 hông hạt nếp đều hơi thì đổ ra nong quây mỏng cho nguội, khi hết hơi thì cho đổ vào hông lần 2 lại làm giống như lần 1, rồi lại hông tiếp lần 3 thì xôi mới đạt yêu cầu. Khi xôi được rồi thì 1 nửa cho đơm vào mâm, còn 1 nửa bỏ vào cối giã, đầu chày giã phải bọc bằng lụa mo cau. Cứ mỗi một lần giã lại có 3 thanh niên cầm chày nện nhíp ba, đến khi nào mệt thì thay kíp. Khi nếp đã nhuyễn thành bánh rồi thì thôi giã, lấy tiếp 1 người khoẻ dùng tay vắt cả nhả bánh đã nhuyễn ném mạnh vào lòng cối, ném cho đến khi nào bánh không còn dính cối nữa thì mới đạt yêu cầu. Bánh đạt yêu cầu phải có 3 tiêu chuẩn trắng, dẻo và mượt. Đó là nhìn bằng mắt còn sau khi cúng xong bưng mâm bánh xuống đem ra cho các chức sắc chứng giám bằng cách 1 người cầm 1 con dao thật bén cắt đôi chiếc bánh ra. Mâm giáp nào mặt bánh lì không có những lỗ hơi rỗng ở phía trong mới là giáp thắng cuộc và giáp đó được nhận phần thưởng của làng. Có những năm, tháng 4 trời đại hạn, lúa đồng khô kiệt nước, cây cối rũ héo, thì lễ tế đền thờ Phù Đổng Thiên Vương còn kết hợp với lễ cầu đảo để cầu cho mưa xuống. Lễ thường kéo dài 3 đến 4 ngày. Nhiều năm cứ sau lễ cầu đảo là trời lại đổ mưa xuống ầm ầm thể hiện sự linh nghiệm, làm cho dân làng vui sướng và lại càng tin vào sự thiêng liêng của đền thờ. Ngày trước, Tiên Lệ thượng xã nhập 7 xã lại gọi là Lệ Trạch. Đó là: Quảng Trung, Quảng Sơn, Quảng Tân, Quảng Thuỷ, Quảng Hoà Quảng Minh. Việc cúng lễ hàng năm thường là 2 giáp Đông, giáp Đoài Tiên Lệ và ba mươi sáu phường ở vùng Tuyên Hoá đảm trách. Đền thờ Phù Đổng Thiên Vương Lèn Vịnh là 1 di tích hiếm thấy ở tỉnh Quảng Bình. Việc ngày trước các hương quan ở làng Tiên Lệ ra tận đền thờ Thánh Gióng làm lễ tạ và xin đất lập lư hương cho đền thờ làng là chứng tỏ cộng đồng dân cư ở nơi đây có mối quan hệ với các bộ tộc người Việt từ rất sớm. Cách thức hông xôi và cách thức làm bánh dày cúng lễ cũng mang dấu tích các món ẩm thực quen thuộc của người Việt từ lâu đời. Giấc mơ của lão làng với những chi tiết thánh thần dạy dân trồng trọt cũng là điều chứng tỏ những người dân nơi đây đã biết sớm gieo trồng lúa nước. Hình ảnh vị Thần cưỡi ngựa sắt, tay cầm roi sắt cũng chứng tỏ rằng phương thức canh tác của người Tiên Lệ đã từ rất sớm hoà nhập với cộng đồng người Việt cổ để được phát triển cùng tiến trình lịch sử chung cả nước. Dù sống gần núi nhưng là nhóm người tiếp cận sớm với văn minh phù hợp với nhận định chung: ’’Người Việt Quảng Bình chiếm khoảng 98% dân số toàn tỉnh. Họ sinh sống trên hầu khắp các địa bàn của tỉnh, từ đồng bằng ven sông ven biển đến vùng gò đồi trung du. Từ vùng thị xã, thị trấn đến các vùng núi cao... Dân cư các làng xã ở Quảng Bình có nguồn từ nhiều địa phương khác nhau ở phía Bắc di cư đến lập nghiệp. Các lớp dân cư của làng cũng diễn ra hết sức phức tạp trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, kể từ nửa thế kỷ XI cho đến nửa đầu thế kỷ XIX". Mỗi một vùng quê Quảng Bình đều có lễ hội riêng của vùng quê mình mà lễ hội đền Phù Đổng Thiên Vương ở Lèn Vịnh Tiên Lệ từ lâu nay chưa hề được nhắc tới trong sách vở nào đang cần sự quan tâm của các nhà nghiên cứu ở trong và ngoài tỉnh. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trước đây, Lèn Vịnh chính là nơi vùng Việt Minh và du kích hoạt động, nơi bảo toàn lực lượng kháng chiến. Giặc Pháp đã bao phen tổ chức những trận càn quét và về đóng đồn Tiên Lệ để phong toả vùng du kích cũng như để ngăn lực lượng Việt Minh tràn về. Nhưng rồi chúng buộc phải rút lui sớm vì luôn bị lực lượng kháng chiến từ Lèn Vịnh đêm ngày quấy rối và đốt cháy đồn. Nhân dân và du khách thắp nén hương thơm tại miếu Lãi Lèn Đền Thờ Phù Đổng Thiên Vương nơi Lèn Vịnh từ đó đã bị hư hại và đến nay không còn vẹn nguyên, chỉ lưu lại các khuôn nền cũng như các bậc cấp lên xuống đền mà thôi. Những bậc cao niên của làng Tiên Lệ khi nhắc đến đền thờ Phù Đổng Thiên Vương thường tấm tắc và vô cùng nuối tiếc 1 di tích lịch sử văn hoá hiếm của quê làng mà lại chỉ còn trong chuyện kể.

Related Figures

Lễ rước thần

Thông tin thời kỳ

Vào dịp đầu xuân, các làng các xóm thường có lễ Xuân Thủ ở tại đình làng. Trong lễ thường có buổi rước thần. Theo truyền tụng thì rước thần ở đây có mục đích chính là mời các vị thần, trong đó, vị thần chính là thần Thành Hoàng Bổn Thổ đi ngự xem giang sơn phong thổ và dân tình 1 năm qua có gì thay đổi không. Rước thần hay còn gọi là nghinh thần. Lễ rước thần ở đình làng tại Quảng Bình Đi đầu đoàn rước thần là 2 hàng người cầm cờ và người cầm loa truyền lệnh dọn đường. Tiếp theo, đội trống cà rừng và 1 số nhạc công như nhị, kèn, sáo và bạt, hợp tấu với trống cà rừng. Không ai hiểu vì sao đội trống kèn này lại có cái tên là “cà rừng”, nhưng khi nghe tiếng trống thì quả là âm thanh của nó gần đúng như tên gọi của nó. Một đội trống cà rừng gồm từ 3 đến 6 người, mỗi người mang 1 chiếc trống trước ngực, mặt trống ngửa lên, người nhạc công phải gõ trống bằng cả 2 tay theo chiều thẳng đứng trên mặt trống (khác với cách đánh trống điểm ở trống đại). Đội trống cà rừng bao gồm cả bộ phận trống đại điểm cho trống cà rừng. Tóm lại, toàn đội trống cà rừng bao gồm có: -3 hoặc 4, 5, 6 chiếc trống cà rừng. - Một chiếc trống đại có 2 người khiêng và 1 người đánh. - Vài ba nhạc công kèn, nhị và bạt v.v. . Loại trống cà rừng chỉ được sử dụng riêng trong các lễ rước thần. Nó không được dùng ở trong các đám rước khác. Cho nên, trong làng trong xã, nếu nghe tiếng trống cà rừng đâu đó thì người ta biết chắc ở đó có rước thần. Trống cà rừng bắt buộc nhạc công phải đeo ở trước ngực. Trống có 2 mặt, được bịt bằng da bò thuộc mỏng, đường kính của mỗi mặt trống khoảng 30cm, chiều cao chang trống chừng khoảng 28cm được làm bằng gỗ mít, cũng có khi là cả thân cây mít đục rỗng. Trống có hình trụ, giữa lưng chang trống rộng hơn 2 đầu mặt trống. Chu vi giữa chang trống, chỗ rộng nhất là 1m14. Nếu tính đường kính, có thể sẽ là 36cm, rộng hơn hai mặt 5 cm. Người nhạc công đánh trống bằng 2 cái dùi bằng gỗ táu và tiện tròn, đầu lớn đầu nhỏ; đầu lớn có đường kính 3cm, đầu nhỏ là 1,5cm, chiều dài dùi trống là 40 cm. Như ở trên đã nói, trống cà rừng luôn có bộ phận trống đại kèm theo để điểm đệm cho cà rừng. Tuy nhiên, trống đại ở đây không phải là một loại trống đại đi đôi với chuông trong bộ “chung cổ”. Nó khác ở chỗ kích thước của nó nhỏ hơn đôi tí đã đành nhưng nó còn khác nhất là ở chỗ âm thanh giữa nó với trống đại chung cổ. Rước thần là một loại rước có bước diễu hành rất chậm, rất khoan thai, thư thả, dịu dàng và cũng rất tôn nghiêm, kính cẩn khác với lối diễu binh, bước quân hành hùng dũng, mạnh mẽ, nhanh gấp và dứt khoát. Thần ngự khác với quân đi, mặc dầu ở trong rước thần cũng có quân lính (tượng trưng) theo hầu. Cho nên trống cà rừng tuy cũng là loại trống diễu hành, cũng thúc giục rộn ràng và cuốn hút nhưng thư thái, hình như khuyến khích người tham gia đám rước chỉ cần nhích lên từng bước, ung dung tuần tự mà đi, chớ đi vội vàng. . . Tiếng trống nghe xao xuyến, giục giã mà lại từ tốn; oai nghiêm, ngân vang mà cũng dịu dàng và lắng động… là phần nhiều nhờ ở tiếng trống đại điểm nhịp. Cái tinh tế của tiếng trống đại trong đội trống cà rừng là ở chỗ: Khi đám rước đang ở trên đường đi, bước diễu hành đang đều đều và chầm chậm, tiếng trống cà rừng dù chỉ 1 thanh “rừng” hay 2 thanh thành đôi “rưng, rừng” thì âm thanh của nó cũng chỉ gần bằng nhịp “hai - bốn” trong tân nhạc, tiếng trống đại điểm cho nó cũng chỉ bằng 1 thanh độc nhất, nhưng lại ngân dài và lan tỏa rộng hơn cả những tiếng trống cà rừng… Tiếng trống đại điểm nhịp lúc này giống như trong hành văn, nhà ngôn ngữ học sử dụng chấm lửng cuối câu sau những chặng ngắt ý bằng dấu phẩy… Khi đám rước dừng lại ở một điểm nào đó, (thường là dừng lại ở trước đền miếu thờ các vị thần ngoài vị Thành Hoàng Bổn Thổ) và khi đám rước về trở lại ngôi đình đã xuất phát, thì tiếng trống cà rừng lúc này rất dồn dập, giục giã, gấp gáp và cáp bách đến kỳ lạ, ngược hẳn với lúc đang đi diễu hành. Lúc này, những thanh âm “rưng… rừng… rừng rừng… và tiếng trống đại điểm thùng” đều ngắn, tròn trặn, dứt khoát, như một dấu chấm than (!) ở trong một câu văn Thiêng liêng lễ rước thần ở đình làng Ở diễu hành rước thần, thì trống cà rừng thư thái khi đang đi và thúc giục, dồn dập khi dừng lại. Còn ở diễu binh, trống nhạc giục giã khi đang đi và dịu dàng êm ả khi dừng lại…Do đó, tiếng trống đại điểm nhịp cho cà rừng phần nhiều là 1 tiếng, rất ít khi tiếng đôi liên tục (chỉ trừ khi chấm dứt hẳn, nhưng lúc này thì hạ dần và gần như không còn nữa). Nhưng, cũng 1 tiếng trống đại điểm nhịp đó mà khi điểm nhịp trên đường dài của đám rước thì âm thanh cũng kéo dài và khi đám rước dừng lại thì âm thanh của nó lại ngắn gọn và tròn trịa một cách gọn gàng. Người rành nghe hay quen thuộc với nhiều đám rước khác nhau sẽ phân biệt được và sẽ biết được cái tinh túy của nó… Trong 1 đám rước thần, tiếng trống cà rừng cộng hưởng với rất nhiều thứ âm thanh khác như những bản tấu nhạc của đội nhạc ngũ âm, tiếng trống cơm với tiếng kẻng và tiếng loa “lộ bố”, (ban bố lệnh trên đường đi của thần) cho âm linh, cho oan hồn tránh đường; và tiếng chuông tiếng trống lớn chầu hàu cộng thêm hàng ngũ lọng tàn, cờ quạt cùng mùi hương trầm mà thêm tôn nghiêm và oai vệ... Đi sau đội trống cà rừng là đội nhạc ngũ âm, gồm đủ trống kèn, sáo, nhị và bạt… Tiếp đến là trống đại và chuông lớn, cứ 3 tiếng chuông là tiếp theo 3 tiếng trống, nhịp chậm… Sau hàng trống và nhạc là hương án có đầy đủ đèn lư bằng đồng, bình hoa và quả nải… Hương án thay cho bàn thờ ở trong đám rước, trên đặt các hộp sắc bằng vua phong cho các vị thần thánh từ các miếu, các đền rước về làng, xem như các vị thần đang ngồi ở trên hương án để đi về đình làng. Đi phía sau hương án là đội binh bảo vệ ngai vàng. Đội binh được trang phục đúng như binh lính thật của nhà vua nhưng được trang bị bằng binh khí gỗ mà hình dáng giống như thực… Sau đội binh là Ngai Thần, được sơn son thếp vàng giống như ngai vua thật, chỉ khác là ở trên ngai không có vua và người ngồi. Ngai Thần cũng được một đội binh có 4 người khiêng và có 4 lọng vàng che. Trước bệ ngai còn có 1 chiếc lư trầm bằng đồng lớn, đốt trầm hương mà không có đèn nhang như ở hương án. Tiếp Ngai Thần là vị chánh tế chủ bái của làng đi theo hầu. Vi này cũng được che 2 hay 1 lọng xanh, tùy theo chức tước của vị đó. Cuối đám rước là 1 đoàn người cầm cờ giống như đội cờ đi đầu. Đoàn rước thần đi khắp các nẻo đường chính ở trong làng. Những nhà ở 2 bên đường mà đám rước sẽ đi qua đều tự nguyện dọn bàn thờ, lương án và hương đèn nghi ngút chờ đón đám rước đi qua, chủ nhà mang áo rộng màu xanh, chít khăn đóng đen vái lạy chào mừng, giống như nghênh giá đức vua . Sau lúc đám rước thần trờ về đình làng, làng sẽ làm lễ tế. Nhân dân, tùy khả năng, lòng thành, bưng lễ vật của mình đến tế thần, bên cạnh lễ vật của làng. Việc tế lễ ở đình làng, nói chung, thì nơi nào cũng giống nhau… Nếu muốn đi tìm những nét đẹp riêng trong việc thờ cúng và tế lễ ở các tỉnh trong nước ta, thì chúng tôi thử nêu lên 1 tục lệ nói là lạ lùng cũng được, mà nói là văn minh cũng được, vì nếu như chúng ta đi ngược thời gian một chút, quay về với thời phong kiến triều Nguyễn trước Cách mạng Tháng 8 năm 1945, chắc chắn sẽ thấy tục lệ này là văn minh, là đẹp. Ngày xưa chế độ đình trung ở làng ở xã, không một nơi nào chấp nhận cho phụ nữ đến cúng bái, kể cả việc nấu ăn và sửa soạn lễ vật dâng thần. Nếu có một trường hợp nào, mà có một cô gái nhà ai đó phải bưng mâm giỗ thần cho cha, anh đến đình làng thì khi đến gần cửa tam quan, cũng giao lại cho một ai đó là nam giới bưng vào đình hộ, rồi quay trở về. Đã là phụ nữ thì sẽ không được tới đình làng, trừ trường hợp, người nữ đó là người bị tội mà làng cho áp giải tới để trừng phạt. Đoàn rước lễ nghênh kiệu đưa thần khắp các nẻo đường ngõ xóm Thế mà, ở Thuận Bài (nay thuộc xã Quảng Thuận, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình) lại có lệ: trong những ngày lễ tế Thành Hoàng Bổn Thổ như lễ Xuân Thủ, Kỳ Yên hàng năm, làng có tổ chức 1 cuộc thi “Cỗ Bánh dân thần” dành riêng cho những người phụ nữ. Các cô gái ở trong làng cũng được phép tự bưng cỗ bánh do mình chế biến đến đình làng để dự thi tài gia chánh. Cỗ bánh nào được làng chọn làm giải thưởng thì chủ nhân của nó cũng được bê đặt lên bàn thờ dâng thần ngự lãm, và dĩ nhiên là cô gái đó cũng được dự lễ tế thần. Có lẽ đây chính là 1 tục lệ hiếm thấy và cũng là ngoại lệ, nếu không dám nói là có 1 không 2 dưới thời phong kiến. Với phong tục này ở Thuận Bài mà nhìn rộng ra thì trong việc tín ngưỡng đa thần, người mình còn thờ khá nhiều các nữ thần. Ví dụ: Các làng biển làng nào cũng thờ Đại Càn tứ vị thánh nương, các làng vùng gò đồi thì thờ Liễu Hạnh công chúa và nhiều nơi còn thờ Nữ thần Thiên Y-A-Na, thờ Trưng Nữ Vương, thờ Bà Hỏa, Bà Thủy, Bà Thổ, Bà Ngư, có làng thì thờ cả nữ Thành Hoàng Khai Canh. Trong gia đình thì nhân dân đều thờ Bà Bếp, Bà Mụ, Bà Cô, Bà Tổ Cô và Bà Thần Tài, trong tôn giáo thì thờ Quan Âm Thị Kính,thờ Phật Bà Quan Âm...

Vào dịp đầu xuân, các làng các xóm thường có lễ Xuân Thủ ở tại đình làng. Trong lễ thường có buổi rước thần. Theo truyền tụng thì rước thần ở đây có mục đích chính là mời các vị thần, trong đó, vị thần chính là thần Thành Hoàng Bổn Thổ đi ngự xem giang sơn phong thổ và dân tình 1 năm qua có gì thay đổi không. Rước thần hay còn gọi là nghinh thần.

Lễ rước thần ở đình làng tại Quảng Bình

Đi đầu đoàn rước thần là 2 hàng người cầm cờ và người cầm loa truyền lệnh dọn đường. Tiếp theo, đội trống cà rừng và 1 số nhạc công như nhị, kèn, sáo và bạt, hợp tấu với trống cà rừng. Không ai hiểu vì sao đội trống kèn này lại có cái tên là “cà rừng”, nhưng khi nghe tiếng trống thì quả là âm thanh của nó gần đúng như tên gọi của nó. Một đội trống cà rừng gồm từ 3 đến 6 người, mỗi người mang 1 chiếc trống trước ngực, mặt trống ngửa lên, người nhạc công phải gõ trống bằng cả 2 tay theo chiều thẳng đứng trên mặt trống (khác với cách đánh trống điểm ở trống đại). Đội trống cà rừng bao gồm cả bộ phận trống đại điểm cho trống cà rừng. Tóm lại, toàn đội trống cà rừng bao gồm có: -3 hoặc 4, 5, 6 chiếc trống cà rừng. - Một chiếc trống đại có 2 người khiêng và 1 người đánh. - Vài ba nhạc công kèn, nhị và bạt v.v. . Loại trống cà rừng chỉ được sử dụng riêng trong các lễ rước thần. Nó không được dùng ở trong các đám rước khác. Cho nên, trong làng trong xã, nếu nghe tiếng trống cà rừng đâu đó thì người ta biết chắc ở đó có rước thần. Trống cà rừng bắt buộc nhạc công phải đeo ở trước ngực. Trống có 2 mặt, được bịt bằng da bò thuộc mỏng, đường kính của mỗi mặt trống khoảng 30cm, chiều cao chang trống chừng khoảng 28cm được làm bằng gỗ mít, cũng có khi là cả thân cây mít đục rỗng. Trống có hình trụ, giữa lưng chang trống rộng hơn 2 đầu mặt trống. Chu vi giữa chang trống, chỗ rộng nhất là 1m14. Nếu tính đường kính, có thể sẽ là 36cm, rộng hơn hai mặt 5 cm. Người nhạc công đánh trống bằng 2 cái dùi bằng gỗ táu và tiện tròn, đầu lớn đầu nhỏ; đầu lớn có đường kính 3cm, đầu nhỏ là 1,5cm, chiều dài dùi trống là 40 cm. Như ở trên đã nói, trống cà rừng luôn có bộ phận trống đại kèm theo để điểm đệm cho cà rừng. Tuy nhiên, trống đại ở đây không phải là một loại trống đại đi đôi với chuông trong bộ “chung cổ”. Nó khác ở chỗ kích thước của nó nhỏ hơn đôi tí đã đành nhưng nó còn khác nhất là ở chỗ âm thanh giữa nó với trống đại chung cổ. Rước thần là một loại rước có bước diễu hành rất chậm, rất khoan thai, thư thả, dịu dàng và cũng rất tôn nghiêm, kính cẩn khác với lối diễu binh, bước quân hành hùng dũng, mạnh mẽ, nhanh gấp và dứt khoát. Thần ngự khác với quân đi, mặc dầu ở trong rước thần cũng có quân lính (tượng trưng) theo hầu. Cho nên trống cà rừng tuy cũng là loại trống diễu hành, cũng thúc giục rộn ràng và cuốn hút nhưng thư thái, hình như khuyến khích người tham gia đám rước chỉ cần nhích lên từng bước, ung dung tuần tự mà đi, chớ đi vội vàng. . . Tiếng trống nghe xao xuyến, giục giã mà lại từ tốn; oai nghiêm, ngân vang mà cũng dịu dàng và lắng động… là phần nhiều nhờ ở tiếng trống đại điểm nhịp. Cái tinh tế của tiếng trống đại trong đội trống cà rừng là ở chỗ: Khi đám rước đang ở trên đường đi, bước diễu hành đang đều đều và chầm chậm, tiếng trống cà rừng dù chỉ 1 thanh “rừng” hay 2 thanh thành đôi “rưng, rừng” thì âm thanh của nó cũng chỉ gần bằng nhịp “hai - bốn” trong tân nhạc, tiếng trống đại điểm cho nó cũng chỉ bằng 1 thanh độc nhất, nhưng lại ngân dài và lan tỏa rộng hơn cả những tiếng trống cà rừng… Tiếng trống đại điểm nhịp lúc này giống như trong hành văn, nhà ngôn ngữ học sử dụng chấm lửng cuối câu sau những chặng ngắt ý bằng dấu phẩy… Khi đám rước dừng lại ở một điểm nào đó, (thường là dừng lại ở trước đền miếu thờ các vị thần ngoài vị Thành Hoàng Bổn Thổ) và khi đám rước về trở lại ngôi đình đã xuất phát, thì tiếng trống cà rừng lúc này rất dồn dập, giục giã, gấp gáp và cáp bách đến kỳ lạ, ngược hẳn với lúc đang đi diễu hành. Lúc này, những thanh âm “rưng… rừng… rừng rừng… và tiếng trống đại điểm thùng” đều ngắn, tròn trặn, dứt khoát, như một dấu chấm than (!) ở trong một câu văn Thiêng liêng lễ rước thần ở đình làng Ở diễu hành rước thần, thì trống cà rừng thư thái khi đang đi và thúc giục, dồn dập khi dừng lại. Còn ở diễu binh, trống nhạc giục giã khi đang đi và dịu dàng êm ả khi dừng lại…Do đó, tiếng trống đại điểm nhịp cho cà rừng phần nhiều là 1 tiếng, rất ít khi tiếng đôi liên tục (chỉ trừ khi chấm dứt hẳn, nhưng lúc này thì hạ dần và gần như không còn nữa). Nhưng, cũng 1 tiếng trống đại điểm nhịp đó mà khi điểm nhịp trên đường dài của đám rước thì âm thanh cũng kéo dài và khi đám rước dừng lại thì âm thanh của nó lại ngắn gọn và tròn trịa một cách gọn gàng. Người rành nghe hay quen thuộc với nhiều đám rước khác nhau sẽ phân biệt được và sẽ biết được cái tinh túy của nó… Trong 1 đám rước thần, tiếng trống cà rừng cộng hưởng với rất nhiều thứ âm thanh khác như những bản tấu nhạc của đội nhạc ngũ âm, tiếng trống cơm với tiếng kẻng và tiếng loa “lộ bố”, (ban bố lệnh trên đường đi của thần) cho âm linh, cho oan hồn tránh đường; và tiếng chuông tiếng trống lớn chầu hàu cộng thêm hàng ngũ lọng tàn, cờ quạt cùng mùi hương trầm mà thêm tôn nghiêm và oai vệ... Đi sau đội trống cà rừng là đội nhạc ngũ âm, gồm đủ trống kèn, sáo, nhị và bạt… Tiếp đến là trống đại và chuông lớn, cứ 3 tiếng chuông là tiếp theo 3 tiếng trống, nhịp chậm… Sau hàng trống và nhạc là hương án có đầy đủ đèn lư bằng đồng, bình hoa và quả nải… Hương án thay cho bàn thờ ở trong đám rước, trên đặt các hộp sắc bằng vua phong cho các vị thần thánh từ các miếu, các đền rước về làng, xem như các vị thần đang ngồi ở trên hương án để đi về đình làng. Đi phía sau hương án là đội binh bảo vệ ngai vàng. Đội binh được trang phục đúng như binh lính thật của nhà vua nhưng được trang bị bằng binh khí gỗ mà hình dáng giống như thực… Sau đội binh là Ngai Thần, được sơn son thếp vàng giống như ngai vua thật, chỉ khác là ở trên ngai không có vua và người ngồi. Ngai Thần cũng được một đội binh có 4 người khiêng và có 4 lọng vàng che. Trước bệ ngai còn có 1 chiếc lư trầm bằng đồng lớn, đốt trầm hương mà không có đèn nhang như ở hương án. Tiếp Ngai Thần là vị chánh tế chủ bái của làng đi theo hầu. Vi này cũng được che 2 hay 1 lọng xanh, tùy theo chức tước của vị đó. Cuối đám rước là 1 đoàn người cầm cờ giống như đội cờ đi đầu. Đoàn rước thần đi khắp các nẻo đường chính ở trong làng. Những nhà ở 2 bên đường mà đám rước sẽ đi qua đều tự nguyện dọn bàn thờ, lương án và hương đèn nghi ngút chờ đón đám rước đi qua, chủ nhà mang áo rộng màu xanh, chít khăn đóng đen vái lạy chào mừng, giống như nghênh giá đức vua . Sau lúc đám rước thần trờ về đình làng, làng sẽ làm lễ tế. Nhân dân, tùy khả năng, lòng thành, bưng lễ vật của mình đến tế thần, bên cạnh lễ vật của làng. Việc tế lễ ở đình làng, nói chung, thì nơi nào cũng giống nhau… Nếu muốn đi tìm những nét đẹp riêng trong việc thờ cúng và tế lễ ở các tỉnh trong nước ta, thì chúng tôi thử nêu lên 1 tục lệ nói là lạ lùng cũng được, mà nói là văn minh cũng được, vì nếu như chúng ta đi ngược thời gian một chút, quay về với thời phong kiến triều Nguyễn trước Cách mạng Tháng 8 năm 1945, chắc chắn sẽ thấy tục lệ này là văn minh, là đẹp. Ngày xưa chế độ đình trung ở làng ở xã, không một nơi nào chấp nhận cho phụ nữ đến cúng bái, kể cả việc nấu ăn và sửa soạn lễ vật dâng thần. Nếu có một trường hợp nào, mà có một cô gái nhà ai đó phải bưng mâm giỗ thần cho cha, anh đến đình làng thì khi đến gần cửa tam quan, cũng giao lại cho một ai đó là nam giới bưng vào đình hộ, rồi quay trở về. Đã là phụ nữ thì sẽ không được tới đình làng, trừ trường hợp, người nữ đó là người bị tội mà làng cho áp giải tới để trừng phạt. Đoàn rước lễ nghênh kiệu đưa thần khắp các nẻo đường ngõ xóm Thế mà, ở Thuận Bài (nay thuộc xã Quảng Thuận, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình) lại có lệ: trong những ngày lễ tế Thành Hoàng Bổn Thổ như lễ Xuân Thủ, Kỳ Yên hàng năm, làng có tổ chức 1 cuộc thi “Cỗ Bánh dân thần” dành riêng cho những người phụ nữ. Các cô gái ở trong làng cũng được phép tự bưng cỗ bánh do mình chế biến đến đình làng để dự thi tài gia chánh. Cỗ bánh nào được làng chọn làm giải thưởng thì chủ nhân của nó cũng được bê đặt lên bàn thờ dâng thần ngự lãm, và dĩ nhiên là cô gái đó cũng được dự lễ tế thần. Có lẽ đây chính là 1 tục lệ hiếm thấy và cũng là ngoại lệ, nếu không dám nói là có 1 không 2 dưới thời phong kiến. Với phong tục này ở Thuận Bài mà nhìn rộng ra thì trong việc tín ngưỡng đa thần, người mình còn thờ khá nhiều các nữ thần. Ví dụ: Các làng biển làng nào cũng thờ Đại Càn tứ vị thánh nương, các làng vùng gò đồi thì thờ Liễu Hạnh công chúa và nhiều nơi còn thờ Nữ thần Thiên Y-A-Na, thờ Trưng Nữ Vương, thờ Bà Hỏa, Bà Thủy, Bà Thổ, Bà Ngư, có làng thì thờ cả nữ Thành Hoàng Khai Canh. Trong gia đình thì nhân dân đều thờ Bà Bếp, Bà Mụ, Bà Cô, Bà Tổ Cô và Bà Thần Tài, trong tôn giáo thì thờ Quan Âm Thị Kính,thờ Phật Bà Quan Âm...

Related Figures

Lễ hội đập trống của người Ma Coong

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 16/1 Âm lịch Đập Trống là một trong những lễ hội lớn của người Ma Coong mỗi năm lễ hội được tổ chức 1 lần vào ngày 16 tháng giêng âm lịch để mừng mùa trăng mới. Lễ hội được tổ chức ở tại bản Cà Roòng, xã Thượng Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình. Rộn ràng lễ hội đập trống của người Ma Coong Theo truyền thuyết kể rằng: Ngày xưa vùng đất của những người dân Ma Coong đang ở xuất hiện 1 con khỉ ác mầu vàng, hằng đêm con khỉ thường vào rẫy của bà con dân bản ăn ngô, ăn lúa. Khi con khỉ ác xuất hiện, người dân Ma Coong liên tục bị mất mùa và đau ốm. Đời sống người dân Ma Coong vì thế nên triền miên đói khổ. Dân làng đã quyết tâm phải đuổi con khỉ ác này đi. Và 1 hôm khỉ ác tìm đến bản, bà con nhân dân đã khua trống đánh chiêng đuổi khỉ, tiếng trống tiếng chiêng của cộng đồng người dân Ma Coong cùng với sự giúp đỡ của Giàng mà con khỉ ác đã phải rời xa vùng đất này và từ đó người dân làm ăn được mùa, con cháu không còn ốm đau, bệnh tật nữa. Để nhớ công lao của vị Già bản tiên tổ người Ma Coong và cầu cho quanh 4 mùa làm ăn thuận lợi, hàng năm họ tổ chức việc cúng tế linh đình để dâng lên Thần linh những của ngon vật lạ đã sinh lợi được trên vùng đất họ ở. Hoạt động ấy dần dần trở thành một lễ hội lớn của người dân tộc Ma Coong ở đây. Lễ hội đập trống của người dân tộc Ma Coong có từ khi đó. Suốt cả ngày 16 tháng Giêng, dân bản Cà Roòng ai ai cũng bận rộn vì tối này là trung tâm của lễ hội đập trống. Những người đàn ông thì lo phần chuẩn bị hội, còn những người đàn bà thì chuẩn bị thức ăn để tiếp đón bà con từ các bản khác đến. Trước ngày diễn ra lễ hội, người dân ai có gì thì đóng góp nấy cho làng, nhưng không thể không đóng góp gạo nếp để làng nấu rượu hiêng - một thứ rượu được nấu bằng nếp nương cùng với men lá, có màu trắng như sữa, chỉ được dùng cúng và mời các vị khách quý. Còn làng không thể thiếu xôi, gà để làm lễ cúng. Bộ phận chủ lễ thường sẽ có 5 người, họ là những người đứng đầu 5 dòng họ trong vùng, được coi là những dòng họ có công khai phá ra vùng đất mà người dân tộc Ma Coong đang sinh sống hiện nay. Họ được quyền cha truyền con nối để làm chủ lễ hằng năm. Khi mặt trời khuất bà con ở 18 bản men theo những con đường mòn về đây để dâng lễ, già làng Đinh Cửu bước vào lễ tế cúng đất trời, cúng Giàng mặt trời mọc và cúng Giàng mặt trời lặn mong sao năm nay mưa thuận gió hoà, ngô lúa tốt tươi và tất cả mọi người đều được khoẻ mạnh, không đau ốm. Một nghi thức trong lễ hội đập trống của người Ma Coong Lễ thức của Lễ hội đập trống được diễn ra theo những quy định của dân bản rất nghiêm ngặt và chặt chẽ. Bản trao quyền cho người Già bản già nhất tức là người đã tìm ra miền đất đang ở (trước đây người dân tộc này di trú 3 năm 1 lần do vị Già bản đi tìm đất đẹp, yên ổn và thuận lợi). Theo nghi thức, Lễ hội đập trống được tiến hành theo 2 phần là Phần Lễ và phần Hội. Phần Lễ : Trên một khoảnh sân rộng nhất của bản, dưới tán của cây cổ thụ, người làng sẽ dựng 1 dãy nhà tranh nhỏ. Trong căn nhà chính làm nơi hành lễ, treo trang trọng một chiếc trống. Đến đêm, khi công việc chuẩn bị đã xong, mọi người sẽ cùng chờ trăng lên.Khi trăng nhú lên trên rặng núi sau lưng bản, thì đồ vật cúng được mang ra sắp đặt. Mâm cỗ cúng Giàng gồm có thịt gà nấu với chồi cây mây non, rượu hiêng, xôi, cá, ngọn cây mây, khúc thân cây đoác và 1 ít lúa gạo... Mỗi bản sẽ có 1 mâm và trong lễ cúng thì phải có 18 mâm cỗ như thế. Trách nhiệm làm mâm cỗ phải là người nhà của các già bản. Cá dùng để cúng Giàng được lấy từ khúc suối cấm, đây là khúc ngăn của con suối Aky. Vào khoảng tháng 5 người dân bản sẽ ngăn con suối Aky từ bản Rào Bụt đến bản Nồm và được quản lý rất nghiêm ngặt nếu ai vào đó đánh cá thì sẽ bị phạt rất nặng, khúc suối này chỉ được đánh bắt cá tự do sau khi lễ hội đập trống đã diễn ra. Vào 3 giờ sáng ngày 16, Đinh Xon được người dân bản tín nhiệm sẽ là người thả lưới lấy cá cúng Giàng tại khúc suối cấm Aky. Khi trăng đã lên ngửa đầu cũng là lúc vào giờ khai lễ. Già làng đọc lời khấn cầu trời đất phù hộ cho những dân bản sống yên lành, làm ăn no đủ và mùa màng bội thu... Xong phần hành lễ, lúa gạo sẽ được ném ra tứ phía, cầu mong thóc lúa về đầy bồ, đầy nương. Mâm lễ được bày biện để chuẩn bị cho việc cúng tế Mâm cỗ để cúng Giàng gồm có rượu cần, gà, cá, xôi, ngọn cây mây và khúc thân cây đoác. Mỗi bản có 1 mâm và trong lễ cúng thì phải có 18 mâm cỗ như thế. Trách nhiệm làm mâm cỗ phải là những người nhà của các già bản.Sau vài lượt cúng khấn, già làng phát lệnh và lễ hội đập trống được bắt đầu. Dân bản ùa vào, những khách tham dự cũng ùa vào. Ai ai cũng cố tranh lấy cái dùi để đập trống. Phần hội: Khi phần lễ kết thúc, cũng là lúc tiếng trống hội mở màn vang lên. Mọi người bắt đầu xúm lại với những ché rượu cần, ché rượu hiên.Những thanh niên khỏe mạnh giành nhau dùi trống và trổ tài đánh trống nhanh, đánh trống mạnh. Những người không tham gia đánh trống thì cầm tay nhau nhảy múa quanh đống lửa đang cháy sáng rực. Trống hội được làm từ buổi sáng, tang trống thì được làm bằng thân cây gỗ lồi, da dùng để bịt mặt trống được lấy từ da bò, bịt trống bằng những cây mây già và chêm mặt trống cho căng là những thân tre già. Thanh niên thường là người khỏe mạnh nhất đánh trống. Trống phải được đánh cho kỳ thủng trước khi trời sáng mới thôi, trời đất mới chứng giám cho lòng thành của tất cả mọi người và trong năm mới mới được mùa màng. Vừa đánh trống, lũ thanh niên vừa la vang rừng: “Roa lữ Giàng ơi!” (sướng quá, vui quá trời ơi).Trống thủng càng sớm, thì thanh niên càng mau được dắt tay bạn tình vào rừng tình tự. Ai cũng cố đập cho trống nhanh vỡ để... tự tình Đêm hội này còn được gọi là đêm “thả cửa”. Nghĩa là tất cả mọi người, không kể lạ quen, người bản này bản kia, tất cả đều được dắt tay nhau vào rừng trò chuyện, tình tự. Khi mặt trống đã bị đánh vỡ, hàng chục thanh niên nam nữ, không chỉ có những người Ma Coong ở Thượng Trạch, mà còn cả những người nước bạn Lào ở các bản lân cận biên giới Việt - Lào cũng dắt tay nhau lẩn vào rừng để tình tự. Chỉ còn những người già, trung niên và trẻ con vui chơi bên bếp lửa, hay nhâm nhi bên ché rượu cần. Mỗi năm chỉ có 1 ngày, ngày của núi rừng, của những câu chuyện tình yêu.Một đêm không có những ghen tuông , những giận hờn, mà chỉ có yêu thương nồng nàn của đam mê, của men nồng đôi lứa…cho đến buổi sáng mai, khi con gà đã thức dậy gáy vang rừng thì họ mới bịn rịn rời nhau trở về. Những người trẻ hơn thì cùng nhau ước hẹn, chọn ngày để mời bố mẹ, già làng đến nhà cô gái đặt lễ trầu cau... Khi đống lửa dần tàn, mặt trời dần nhô lên bên kia ngọn núi, thì cũng là lúc lễ hội Đập Trống của người dân tộc Ma Coong kết thúc. lehoi.info tổng hợp

Đập Trống là một trong những lễ hội lớn của người Ma Coong mỗi năm lễ hội được tổ chức 1 lần vào ngày 16 tháng giêng âm lịch để mừng mùa trăng mới. Lễ hội được tổ chức ở tại bản Cà Roòng, xã Thượng Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình.

Rộn ràng lễ hội đập trống của người Ma Coong

Theo truyền thuyết kể rằng: Ngày xưa vùng đất của những người dân Ma Coong đang ở xuất hiện 1 con khỉ ác mầu vàng, hằng đêm con khỉ thường vào rẫy của bà con dân bản ăn ngô, ăn lúa. Khi con khỉ ác xuất hiện, người dân Ma Coong liên tục bị mất mùa và đau ốm. Đời sống người dân Ma Coong vì thế nên triền miên đói khổ. Dân làng đã quyết tâm phải đuổi con khỉ ác này đi. Và 1 hôm khỉ ác tìm đến bản, bà con nhân dân đã khua trống đánh chiêng đuổi khỉ, tiếng trống tiếng chiêng của cộng đồng người dân Ma Coong cùng với sự giúp đỡ của Giàng mà con khỉ ác đã phải rời xa vùng đất này và từ đó người dân làm ăn được mùa, con cháu không còn ốm đau, bệnh tật nữa. Để nhớ công lao của vị Già bản tiên tổ người Ma Coong và cầu cho quanh 4 mùa làm ăn thuận lợi, hàng năm họ tổ chức việc cúng tế linh đình để dâng lên Thần linh những của ngon vật lạ đã sinh lợi được trên vùng đất họ ở. Hoạt động ấy dần dần trở thành một lễ hội lớn của người dân tộc Ma Coong ở đây. Lễ hội đập trống của người dân tộc Ma Coong có từ khi đó. Suốt cả ngày 16 tháng Giêng, dân bản Cà Roòng ai ai cũng bận rộn vì tối này là trung tâm của lễ hội đập trống. Những người đàn ông thì lo phần chuẩn bị hội, còn những người đàn bà thì chuẩn bị thức ăn để tiếp đón bà con từ các bản khác đến. Trước ngày diễn ra lễ hội, người dân ai có gì thì đóng góp nấy cho làng, nhưng không thể không đóng góp gạo nếp để làng nấu rượu hiêng - một thứ rượu được nấu bằng nếp nương cùng với men lá, có màu trắng như sữa, chỉ được dùng cúng và mời các vị khách quý. Còn làng không thể thiếu xôi, gà để làm lễ cúng. Bộ phận chủ lễ thường sẽ có 5 người, họ là những người đứng đầu 5 dòng họ trong vùng, được coi là những dòng họ có công khai phá ra vùng đất mà người dân tộc Ma Coong đang sinh sống hiện nay. Họ được quyền cha truyền con nối để làm chủ lễ hằng năm. Khi mặt trời khuất bà con ở 18 bản men theo những con đường mòn về đây để dâng lễ, già làng Đinh Cửu bước vào lễ tế cúng đất trời, cúng Giàng mặt trời mọc và cúng Giàng mặt trời lặn mong sao năm nay mưa thuận gió hoà, ngô lúa tốt tươi và tất cả mọi người đều được khoẻ mạnh, không đau ốm. Một nghi thức trong lễ hội đập trống của người Ma Coong Lễ thức của Lễ hội đập trống được diễn ra theo những quy định của dân bản rất nghiêm ngặt và chặt chẽ. Bản trao quyền cho người Già bản già nhất tức là người đã tìm ra miền đất đang ở (trước đây người dân tộc này di trú 3 năm 1 lần do vị Già bản đi tìm đất đẹp, yên ổn và thuận lợi). Theo nghi thức, Lễ hội đập trống được tiến hành theo 2 phần là Phần Lễ và phần Hội. Phần Lễ : Trên một khoảnh sân rộng nhất của bản, dưới tán của cây cổ thụ, người làng sẽ dựng 1 dãy nhà tranh nhỏ. Trong căn nhà chính làm nơi hành lễ, treo trang trọng một chiếc trống. Đến đêm, khi công việc chuẩn bị đã xong, mọi người sẽ cùng chờ trăng lên.Khi trăng nhú lên trên rặng núi sau lưng bản, thì đồ vật cúng được mang ra sắp đặt. Mâm cỗ cúng Giàng gồm có thịt gà nấu với chồi cây mây non, rượu hiêng, xôi, cá, ngọn cây mây, khúc thân cây đoác và 1 ít lúa gạo... Mỗi bản sẽ có 1 mâm và trong lễ cúng thì phải có 18 mâm cỗ như thế. Trách nhiệm làm mâm cỗ phải là người nhà của các già bản. Cá dùng để cúng Giàng được lấy từ khúc suối cấm, đây là khúc ngăn của con suối Aky. Vào khoảng tháng 5 người dân bản sẽ ngăn con suối Aky từ bản Rào Bụt đến bản Nồm và được quản lý rất nghiêm ngặt nếu ai vào đó đánh cá thì sẽ bị phạt rất nặng, khúc suối này chỉ được đánh bắt cá tự do sau khi lễ hội đập trống đã diễn ra. Vào 3 giờ sáng ngày 16, Đinh Xon được người dân bản tín nhiệm sẽ là người thả lưới lấy cá cúng Giàng tại khúc suối cấm Aky. Khi trăng đã lên ngửa đầu cũng là lúc vào giờ khai lễ. Già làng đọc lời khấn cầu trời đất phù hộ cho những dân bản sống yên lành, làm ăn no đủ và mùa màng bội thu... Xong phần hành lễ, lúa gạo sẽ được ném ra tứ phía, cầu mong thóc lúa về đầy bồ, đầy nương. Mâm lễ được bày biện để chuẩn bị cho việc cúng tế Mâm cỗ để cúng Giàng gồm có rượu cần, gà, cá, xôi, ngọn cây mây và khúc thân cây đoác. Mỗi bản có 1 mâm và trong lễ cúng thì phải có 18 mâm cỗ như thế. Trách nhiệm làm mâm cỗ phải là những người nhà của các già bản.Sau vài lượt cúng khấn, già làng phát lệnh và lễ hội đập trống được bắt đầu. Dân bản ùa vào, những khách tham dự cũng ùa vào. Ai ai cũng cố tranh lấy cái dùi để đập trống. Phần hội: Khi phần lễ kết thúc, cũng là lúc tiếng trống hội mở màn vang lên. Mọi người bắt đầu xúm lại với những ché rượu cần, ché rượu hiên.Những thanh niên khỏe mạnh giành nhau dùi trống và trổ tài đánh trống nhanh, đánh trống mạnh. Những người không tham gia đánh trống thì cầm tay nhau nhảy múa quanh đống lửa đang cháy sáng rực. Trống hội được làm từ buổi sáng, tang trống thì được làm bằng thân cây gỗ lồi, da dùng để bịt mặt trống được lấy từ da bò, bịt trống bằng những cây mây già và chêm mặt trống cho căng là những thân tre già. Thanh niên thường là người khỏe mạnh nhất đánh trống. Trống phải được đánh cho kỳ thủng trước khi trời sáng mới thôi, trời đất mới chứng giám cho lòng thành của tất cả mọi người và trong năm mới mới được mùa màng. Vừa đánh trống, lũ thanh niên vừa la vang rừng: “Roa lữ Giàng ơi!” (sướng quá, vui quá trời ơi).Trống thủng càng sớm, thì thanh niên càng mau được dắt tay bạn tình vào rừng tình tự. Ai cũng cố đập cho trống nhanh vỡ để... tự tình Đêm hội này còn được gọi là đêm “thả cửa”. Nghĩa là tất cả mọi người, không kể lạ quen, người bản này bản kia, tất cả đều được dắt tay nhau vào rừng trò chuyện, tình tự. Khi mặt trống đã bị đánh vỡ, hàng chục thanh niên nam nữ, không chỉ có những người Ma Coong ở Thượng Trạch, mà còn cả những người nước bạn Lào ở các bản lân cận biên giới Việt - Lào cũng dắt tay nhau lẩn vào rừng để tình tự. Chỉ còn những người già, trung niên và trẻ con vui chơi bên bếp lửa, hay nhâm nhi bên ché rượu cần. Mỗi năm chỉ có 1 ngày, ngày của núi rừng, của những câu chuyện tình yêu.Một đêm không có những ghen tuông , những giận hờn, mà chỉ có yêu thương nồng nàn của đam mê, của men nồng đôi lứa…cho đến buổi sáng mai, khi con gà đã thức dậy gáy vang rừng thì họ mới bịn rịn rời nhau trở về. Những người trẻ hơn thì cùng nhau ước hẹn, chọn ngày để mời bố mẹ, già làng đến nhà cô gái đặt lễ trầu cau... Khi đống lửa dần tàn, mặt trời dần nhô lên bên kia ngọn núi, thì cũng là lúc lễ hội Đập Trống của người dân tộc Ma Coong kết thúc. lehoi.info tổng hợp

Related Figures

Lễ hội cầu ngư

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/4 Âm lịch (lehoi.info) - Lễ hội cầu ngư được tổ chức vào dịp rằm tháng 4 hàng năm, tại xã Bảo Ninh, Đồng Hới, Quảng Bình. Đây là một trong những lễ hội truyền thống nhằm cầu tài, cầu an, cầu mưa thuận gió hòa cho nhân dân. Đọc văn cầu tài, cầu an và cầu trời yên biển lặng Lễ cầu ngư là một lễ hội truyền thống của người dân xã Bảo Ninh - là một xã cù lao nằm dọc bờ biển Nhật Lệ, có phần lớn người dân làm nghề cá. Đây là một lễ hội thể hiện văn hóa tín ngưỡng của người dân miền biển, đồng thời mang đậm chất nghi lễ dân gian của những người dân sống ở vùng đồng bằng duyên hải miền Trung. Theo truyền thuyết truyền miệng ở tại xã Bảo Ninh, từ thời xa xưa có một lần xác “ngài” (cá voi, được người dân miền biển gọi tôn kính là “ngài”) chết dạt vào gần cửa biển đoạn qua thôn Sa Động. Người dân nơi đây đã ra kéo xác “ngài” vào để chôn cất nhưng kéo mãi mà không được. Chỉ sau khi tổ chức lễ cầu, thì “ngài” mới chịu vào bờ.\ Một nghi thức trong lễ hội cầu ngư Trước lễ chính, chính quyền và những người dân xã Bảo Ninh đã tổ chức các nghi lễ Rước văn và Vớt bạc, thu hút được sự tham gia của đông đảo người dân. Các lễ Rước văn và Vớt bạc được tổ chức nhằm mời những linh hồn của những người đã khuất về dự lễ cầu ngư. Lễ hội cầu ngư đồng hới Lễ Cầu ngư là lễ hội văn hóa truyền thống có từ rất lâu đời của bà con ngư dân xã Bảo Ninh nói riêng và các địa phương vùng biển nói chung. Lễ Cầu ngư thể hiện sự tôn vinh nghề nghiệp cũng như khát vọng bình yên trong lao động sản xuất và trong đời sống của bà con ngư dân. lehoi.info tổng hợp

(lehoi.info) - Lễ hội cầu ngư được tổ chức vào dịp rằm tháng 4 hàng năm, tại xã Bảo Ninh, Đồng Hới, Quảng Bình. Đây là một trong những lễ hội truyền thống nhằm cầu tài, cầu an, cầu mưa thuận gió hòa cho nhân dân.

Đọc văn cầu tài, cầu an và cầu trời yên biển lặng

Lễ cầu ngư là một lễ hội truyền thống của người dân xã Bảo Ninh - là một xã cù lao nằm dọc bờ biển Nhật Lệ, có phần lớn người dân làm nghề cá. Đây là một lễ hội thể hiện văn hóa tín ngưỡng của người dân miền biển, đồng thời mang đậm chất nghi lễ dân gian của những người dân sống ở vùng đồng bằng duyên hải miền Trung. Theo truyền thuyết truyền miệng ở tại xã Bảo Ninh, từ thời xa xưa có một lần xác “ngài” (cá voi, được người dân miền biển gọi tôn kính là “ngài”) chết dạt vào gần cửa biển đoạn qua thôn Sa Động. Người dân nơi đây đã ra kéo xác “ngài” vào để chôn cất nhưng kéo mãi mà không được. Chỉ sau khi tổ chức lễ cầu, thì “ngài” mới chịu vào bờ.\ Một nghi thức trong lễ hội cầu ngư Trước lễ chính, chính quyền và những người dân xã Bảo Ninh đã tổ chức các nghi lễ Rước văn và Vớt bạc, thu hút được sự tham gia của đông đảo người dân. Các lễ Rước văn và Vớt bạc được tổ chức nhằm mời những linh hồn của những người đã khuất về dự lễ cầu ngư. Lễ hội cầu ngư đồng hới Lễ Cầu ngư là lễ hội văn hóa truyền thống có từ rất lâu đời của bà con ngư dân xã Bảo Ninh nói riêng và các địa phương vùng biển nói chung. Lễ Cầu ngư thể hiện sự tôn vinh nghề nghiệp cũng như khát vọng bình yên trong lao động sản xuất và trong đời sống của bà con ngư dân. lehoi.info tổng hợp

Related Figures

Lễ hội chèo cạn, múa bông

Thông tin thời kỳ

(lehoi.info) - Lễ hội chèo cạn, múa bông là lễ hội thường được tổ chức trong các dịp lễ kỷ niệm lớn của dân tộc. Đặc biệt, đây cũng chính là một phần không thể thiếu trong Lễ hội Cầu ngư hàng năm của những người dân Bảo Ninh. Đặc sắc lễ hội chèo cạn, múa bông Lễ hội chèo cạn, múa bông là một hoạt động văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc của người dân vùng biển Nhật Lệ nhằm cầu cho trời yên biển lặng, mưa thuận gió hòa và mùa màng bội thu. Những câu hò xưa cùng với các điệu múa bông và chèo cạn, thể hiện lòng biết ơn đến các vị thần linh ở vùng sông nước, đồng thời tạo không khí thi đua sôi nổi trong lao động sản xuất và hưởng thụ nét văn hóa của cha ông ta từ xa xưa để lại. Sau phần lễ với những nghi thức cúng thần linh là đến phần hội, các đội múa đã thể hiện các động tác chèo cạn, múa bông nhịp nhàng, mang đậm bản sắc văn hóa lâu đời của các địa phương vùng biển. Cảnh Múa bông Chèo cạn diễn ra trong lễ hội Đội chèo cạn do 24 cô gái chưa chồng và 2 người 1 nam, 1 nữ cái hò (hát chính). 2 người cái hò này mặc quần áo dài, thắt lưng điều, nữ thì chít khăn màu nguyệt bạch, chân đất; nam thì mặc áo lụa đỏ dài, đầu chít khăn hồng mỏ diều và chân đi đôi guốc mộc. Các cô gái chèo cạn mặc áo dài màu hoa lý hoặc màu mỡ gà, quần màu trắng, đầu búi tóc cài trâm đồng có đính bông hoa nhài, tay cầm 1 cây chèo gỗ sơn màu xanh đỏ dài 1,5m, động tác chèo nhịp nhàng và nhẹ êm theo nhịp hò khoan. Có 1 đội nhạc sinh nhị, đàn nguyệt, sáo, kèn bầu và trống đại phụ họa cho hò khoan. Làn điệu hò khoan chèo cạn gồm có 5 mái hò: hò mái dài, hò mái ba, hò mái nện, hò kéo lưới và hát khoan. Ở giữa các câu hò, những cô gái chèo cạn đệm hò con gồm các câu: "a xố đi xố...hà" hoặc "ớ là...hố". Nội dung các câu hò thường là cầu trời đất và cầu thần linh phù hộ cho trời yên biển lặng cho những người dân đánh bắt hải sản được mùa. Đội ngũ múa bông (múa đèn) gồm có 20 thanh niên chưa vợ, sức vóc cường tráng, cân đối đồng đều nhau và do 1 người điều khiển. Các đội viên mặc đồng phục, quần màu trắng, áo năm thân màu đỏ hoặc màu hồng, chân quấn xà cạp, đầu chít khăn mỏ quạ màu trắng, hay tay cầm đôi đèn lồng hình chậu tứ giác, trong có đèn nến thắp sáng. Người điều khiển thì mặc võ phục, áo chẽn đỏ thắt lưng xanh, đội mũ võ tướng, giữa có thắt hoa hồng vải đỏ và tay cầm đôi đèn lồng hình chậu lục giác. Đội múa bông uy nghi tiến vào sân lăng. Đội trưởng vừa múa đôi đèn vừa đi dẫn đội biểu diễn các đội hình biến hóa rất đẹp như một chiếc thuyền sáng rực ở trên sông, rồng bay phượng múa. Trong khi đó, tiếng trống thúc giục kèm theo tiếng nhạc réo rắt và du dương./. Màn trình diễn múa bông chèo cạn trong lễ hội

(lehoi.info) - Lễ hội chèo cạn, múa bông là lễ hội thường được tổ chức trong các dịp lễ kỷ niệm lớn của dân tộc. Đặc biệt, đây cũng chính là một phần không thể thiếu trong Lễ hội Cầu ngư hàng năm của những người dân Bảo Ninh.

Đặc sắc lễ hội chèo cạn, múa bông

Lễ hội chèo cạn, múa bông là một hoạt động văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc của người dân vùng biển Nhật Lệ nhằm cầu cho trời yên biển lặng, mưa thuận gió hòa và mùa màng bội thu. Những câu hò xưa cùng với các điệu múa bông và chèo cạn, thể hiện lòng biết ơn đến các vị thần linh ở vùng sông nước, đồng thời tạo không khí thi đua sôi nổi trong lao động sản xuất và hưởng thụ nét văn hóa của cha ông ta từ xa xưa để lại. Sau phần lễ với những nghi thức cúng thần linh là đến phần hội, các đội múa đã thể hiện các động tác chèo cạn, múa bông nhịp nhàng, mang đậm bản sắc văn hóa lâu đời của các địa phương vùng biển. Cảnh Múa bông Chèo cạn diễn ra trong lễ hội Đội chèo cạn do 24 cô gái chưa chồng và 2 người 1 nam, 1 nữ cái hò (hát chính). 2 người cái hò này mặc quần áo dài, thắt lưng điều, nữ thì chít khăn màu nguyệt bạch, chân đất; nam thì mặc áo lụa đỏ dài, đầu chít khăn hồng mỏ diều và chân đi đôi guốc mộc. Các cô gái chèo cạn mặc áo dài màu hoa lý hoặc màu mỡ gà, quần màu trắng, đầu búi tóc cài trâm đồng có đính bông hoa nhài, tay cầm 1 cây chèo gỗ sơn màu xanh đỏ dài 1,5m, động tác chèo nhịp nhàng và nhẹ êm theo nhịp hò khoan. Có 1 đội nhạc sinh nhị, đàn nguyệt, sáo, kèn bầu và trống đại phụ họa cho hò khoan. Làn điệu hò khoan chèo cạn gồm có 5 mái hò: hò mái dài, hò mái ba, hò mái nện, hò kéo lưới và hát khoan. Ở giữa các câu hò, những cô gái chèo cạn đệm hò con gồm các câu: "a xố đi xố...hà" hoặc "ớ là...hố". Nội dung các câu hò thường là cầu trời đất và cầu thần linh phù hộ cho trời yên biển lặng cho những người dân đánh bắt hải sản được mùa. Đội ngũ múa bông (múa đèn) gồm có 20 thanh niên chưa vợ, sức vóc cường tráng, cân đối đồng đều nhau và do 1 người điều khiển. Các đội viên mặc đồng phục, quần màu trắng, áo năm thân màu đỏ hoặc màu hồng, chân quấn xà cạp, đầu chít khăn mỏ quạ màu trắng, hay tay cầm đôi đèn lồng hình chậu tứ giác, trong có đèn nến thắp sáng. Người điều khiển thì mặc võ phục, áo chẽn đỏ thắt lưng xanh, đội mũ võ tướng, giữa có thắt hoa hồng vải đỏ và tay cầm đôi đèn lồng hình chậu lục giác. Đội múa bông uy nghi tiến vào sân lăng. Đội trưởng vừa múa đôi đèn vừa đi dẫn đội biểu diễn các đội hình biến hóa rất đẹp như một chiếc thuyền sáng rực ở trên sông, rồng bay phượng múa. Trong khi đó, tiếng trống thúc giục kèm theo tiếng nhạc réo rắt và du dương./. Màn trình diễn múa bông chèo cạn trong lễ hội

Related Figures

Lễ hội Cầu Mùa Bảo Ninh

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 14/4- 16/4 Âm lịch (lehoi.info) - Lễ hội Cầu Mùa Bảo Ninh được tổ chức hàng năm vào ngày 14 đến ngày 16 tháng 4 Âm lịch tại làng biển Bảo Ninh - TP Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Đây là một lễ hội tiêu biểu của người dân vùng ven biển tỉnh Quảng Bình. Vùng biển Bảo Ninh Đình làng Bảo Ninh thờ Nhân thần (2 cha con người đánh cá) và thờ Cá Ông (cá Voi đã cứu dân làng khỏi bị đắm thuyền trong các trận bão). Trong truyền thuyết ở xã Bảo Ninh thời xưa, có rất nhiều chuyện cá voi đã giúp ngư dân và giúp quân lính nhà Nguyễn thoát khỏi phong ba bão táp rất kỳ lạ, càng làm cho ngư dân kính phục, vô cùng tôn trọng và biết ơn cá voi như 1 linh thần, được gọi là Cá Ông. Cách đây khoảng gần 100 năm, 1 con cá voi lớn do bị bão nên đã trôi dạt vào cửa Nhật Lệ và bị chết. Ngư dân nơi đây đã đưa cá Ông vào bờ ở địa phận giữa làng Sa Động và làng Trung Bính an táng. Lễ táng cá Ông được tiến hành rất long trọng, ngư dân ở các làng lân cận nghe tin cũng đến cúng viếng. Vì cá Ông rất lớn nên phải táng ở bờ sông. Nhân dân đã phải sang Phú Hải chở đất thịt về đắp lên cá để chôn. Mấy năm sau người ta đã cất bốc hài cốt cá Ông và cất giữ ở lăng của làng trong 1 hậu tẩm nửa chìm nửa nổi ở sau lăng thờ cá Ông. Bộ xương của cá Ông cũng rất lớn. 2 cái ngà dài hơn 3m, các xương sườn thì như những cái đòn gánh. Dân làng gọi cá này là Cố và đến dịp rằm tháng 4 âm lịch hàng năm thì tổ chức lễ hội Cầu ngư để ra quân đánh vụ cá nam. Lễ hội cầu mùa Bảo Ninh Lễ hội Cầu mùa Bảo Ninh gồm có 2 phần: Phần lễ mở đầu có tục rước cốt cá Ông từ làng về đình, có diễn “hò khoan, chèo cạn và múa bông”. Tiếp theo là ngày hội xuống biển, làm lễ cầu khấn của 1 làng nghề đánh cá với những Trong phần lễ tế Thần cá Ông có 2 cụ già "lên đồng" và phán những lời linh thiêng. Sau phần lễ là đến phần hội múa bông - chèo cạn ở sân lăng. Đội chèo cạn do các cô gái chưa chồng và 2 người "cái hò" 1 nam 1 nữ hò cái. 2 người cái hò này mặc áo quần dài, thắt lưng điều, nữ thì chít khăn màu nguyệt bạch và chân đất; nam thì mặc áo lụa đỏ dài, đầu chít khăn hồng mỏ diều và chân đi đôi guốc mộc. Các cô gái chèo cạn thì mặc áo dài màu mỡ gà hoặc màu hoa lý, quần màu trắng, đầu búi tóc cài trâm đồng và có đính bông hoa nhài, tay cầm một cây chèo gỗ sơn màu xanh đỏ dài 1,5m, động tác chèo nhịp nhàng, nhẹ êm theo nhịp hò khoan. Có 1 đội nhạc sinh nhị, đàn nguyệt, sáo, kèn bầu và trống đại phụ họa cho hò khoan. Làn điệu hò khoan chèo cạn gồm có 5 mái hò: hò mái dài, hò mái ba, hò mái nện, hò kéo lưới và hát khoan. Ở giữa các câu hò, các cô gái chèo cạn đệm hò con gồm các câu: "a xố đi xố...hà" hoặc "ớ là...hố". Nội dung các câu hò thường là cầu trời đất, cầu thần linh phù hộ cho trời yên biển lặng cho dân đánh bắt hải sản được mùa. Đội ngũ múa bông (múa đèn) gồm có các thanh niên chưa vợ, sức vóc cường tráng, cân đối đồng đều nhau và do 1 người điều khiển. Các đội viên mặc đồng phục, quần trắng, áo năm thân màu đỏ hoặc màu hồng, chân thì quấn xà cạp, đầu chít khăn mỏ quạ màu trắng, hay tay cầm đôi đèn lồng hình chậu tứ giác, trong có đèn nến thắp sáng. Người điều khiển mặc võ phục, áo chẽn màu đỏ thắt lưng màu xanh, đội mũ võ tướng, giữa có thắt hoa hồng vải đỏ và tay cầm đôi đèn lồng hình chậu lục giác. Đội múa bông uy nghi tiến vào sân lăng. Đội trưởng vừa múa đôi đèn vừa đi dẫn đội biểu diễn các đội hình biến hóa rất đẹp như một chiếc thuyền sáng rực ở trên sông, đội hình như rồng bay phượng múa. Trong khi đó, tiếng trống thúc giục kèm theo tiếng nhạc réo rắt và du dương. Nghi lễ múa bông tại lễ hội cầu mùa Bảo Ninh Lễ hội cầu mùa là lễ hội phản ánh đời sống văn hoá tinh thần phong phú và những tín ngưỡng mang màu sắc huyền bí trên sông nước được tổ chức hàng năm nhằm cầu cho mưa thuận gió hòa, trời yên biển lặng và được mùa tôm cá cho những chuyến biển bình yên, cầu cho cuộc sống người dân được no đủ và quốc thái dân an.

(lehoi.info) - Lễ hội Cầu Mùa Bảo Ninh được tổ chức hàng năm vào ngày 14 đến ngày 16 tháng 4 Âm lịch tại làng biển Bảo Ninh - TP Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Đây là một lễ hội tiêu biểu của người dân vùng ven biển tỉnh Quảng Bình.

Vùng biển Bảo Ninh

Đình làng Bảo Ninh thờ Nhân thần (2 cha con người đánh cá) và thờ Cá Ông (cá Voi đã cứu dân làng khỏi bị đắm thuyền trong các trận bão). Trong truyền thuyết ở xã Bảo Ninh thời xưa, có rất nhiều chuyện cá voi đã giúp ngư dân và giúp quân lính nhà Nguyễn thoát khỏi phong ba bão táp rất kỳ lạ, càng làm cho ngư dân kính phục, vô cùng tôn trọng và biết ơn cá voi như 1 linh thần, được gọi là Cá Ông. Cách đây khoảng gần 100 năm, 1 con cá voi lớn do bị bão nên đã trôi dạt vào cửa Nhật Lệ và bị chết. Ngư dân nơi đây đã đưa cá Ông vào bờ ở địa phận giữa làng Sa Động và làng Trung Bính an táng. Lễ táng cá Ông được tiến hành rất long trọng, ngư dân ở các làng lân cận nghe tin cũng đến cúng viếng. Vì cá Ông rất lớn nên phải táng ở bờ sông. Nhân dân đã phải sang Phú Hải chở đất thịt về đắp lên cá để chôn. Mấy năm sau người ta đã cất bốc hài cốt cá Ông và cất giữ ở lăng của làng trong 1 hậu tẩm nửa chìm nửa nổi ở sau lăng thờ cá Ông. Bộ xương của cá Ông cũng rất lớn. 2 cái ngà dài hơn 3m, các xương sườn thì như những cái đòn gánh. Dân làng gọi cá này là Cố và đến dịp rằm tháng 4 âm lịch hàng năm thì tổ chức lễ hội Cầu ngư để ra quân đánh vụ cá nam. Lễ hội cầu mùa Bảo Ninh Lễ hội Cầu mùa Bảo Ninh gồm có 2 phần: Phần lễ mở đầu có tục rước cốt cá Ông từ làng về đình, có diễn “hò khoan, chèo cạn và múa bông”. Tiếp theo là ngày hội xuống biển, làm lễ cầu khấn của 1 làng nghề đánh cá với những Trong phần lễ tế Thần cá Ông có 2 cụ già "lên đồng" và phán những lời linh thiêng. Sau phần lễ là đến phần hội múa bông - chèo cạn ở sân lăng. Đội chèo cạn do các cô gái chưa chồng và 2 người "cái hò" 1 nam 1 nữ hò cái. 2 người cái hò này mặc áo quần dài, thắt lưng điều, nữ thì chít khăn màu nguyệt bạch và chân đất; nam thì mặc áo lụa đỏ dài, đầu chít khăn hồng mỏ diều và chân đi đôi guốc mộc. Các cô gái chèo cạn thì mặc áo dài màu mỡ gà hoặc màu hoa lý, quần màu trắng, đầu búi tóc cài trâm đồng và có đính bông hoa nhài, tay cầm một cây chèo gỗ sơn màu xanh đỏ dài 1,5m, động tác chèo nhịp nhàng, nhẹ êm theo nhịp hò khoan. Có 1 đội nhạc sinh nhị, đàn nguyệt, sáo, kèn bầu và trống đại phụ họa cho hò khoan. Làn điệu hò khoan chèo cạn gồm có 5 mái hò: hò mái dài, hò mái ba, hò mái nện, hò kéo lưới và hát khoan. Ở giữa các câu hò, các cô gái chèo cạn đệm hò con gồm các câu: "a xố đi xố...hà" hoặc "ớ là...hố". Nội dung các câu hò thường là cầu trời đất, cầu thần linh phù hộ cho trời yên biển lặng cho dân đánh bắt hải sản được mùa. Đội ngũ múa bông (múa đèn) gồm có các thanh niên chưa vợ, sức vóc cường tráng, cân đối đồng đều nhau và do 1 người điều khiển. Các đội viên mặc đồng phục, quần trắng, áo năm thân màu đỏ hoặc màu hồng, chân thì quấn xà cạp, đầu chít khăn mỏ quạ màu trắng, hay tay cầm đôi đèn lồng hình chậu tứ giác, trong có đèn nến thắp sáng. Người điều khiển mặc võ phục, áo chẽn màu đỏ thắt lưng màu xanh, đội mũ võ tướng, giữa có thắt hoa hồng vải đỏ và tay cầm đôi đèn lồng hình chậu lục giác. Đội múa bông uy nghi tiến vào sân lăng. Đội trưởng vừa múa đôi đèn vừa đi dẫn đội biểu diễn các đội hình biến hóa rất đẹp như một chiếc thuyền sáng rực ở trên sông, đội hình như rồng bay phượng múa. Trong khi đó, tiếng trống thúc giục kèm theo tiếng nhạc réo rắt và du dương. Nghi lễ múa bông tại lễ hội cầu mùa Bảo Ninh Lễ hội cầu mùa là lễ hội phản ánh đời sống văn hoá tinh thần phong phú và những tín ngưỡng mang màu sắc huyền bí trên sông nước được tổ chức hàng năm nhằm cầu cho mưa thuận gió hòa, trời yên biển lặng và được mùa tôm cá cho những chuyến biển bình yên, cầu cho cuộc sống người dân được no đủ và quốc thái dân an.

Related Figures

Hội rằm tháng ba Minh Hoá

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/3 Âm lịch Hàng năm cứ vào ngày rằm tháng 3 âm lịch , những người dân ở huyện miền núi rẻo cao Minh Hóa lại vào hội rằm tháng 3. Lễ cúng Bụt trước khi mở hội rằm tháng ba Minh Hóa Từ thời xa xưa, những người dân Minh Hóa đã dặn lòng với nhau rằng: “Thà ốm mà nằm, ai mà bỏ chợ rằm tháng ba...”. Ai đã từng đến dự lễ hội rằm tháng 3 ở Minh Hóa, dẫu chỉ là 1 lần thôi nhưng cũng sẽ không bao giờ quên được những ấn tượng đặc biệt của nó. Đó là vẻ huyền ảo của ánh trăng rằm miền sơn cước quyện trong tiếng hát đúm (một điệu hát giao duyên của người Nguồn) bày tỏ tình yêu lứa đôi... Từ sáng sớm tinh sương của ngày rằm, các đoàn đại diện cho các làng, các xã đã cùng nhau đến với vùng thác Bụt ở Dốc Cáng, xã Yên Hóa. Tại đây họ đã dâng hương cúng Bụt (như ông Bụt trong truyện cổ tích). Cũng chính từ nơi đây đã xuất hiện lễ hội rằm tháng 3 Minh Hóa. Người già còn kể lại rằng: ngày xưa có 3 anh em nhà nọ lên lèn ông Ngoi tìm mật ong. Họ bị đi lạc vào 1 hang động. Trong đó có cơ man nào là tượng Bụt bằng đá... 3 anh em họ mỗi người vác 1 tượng về. Đến thác Bụt họ đã xuống suối tắm. Nhưng khi vác tượng lên lại để trở về nhà thì họ không tài nào vác được nữa. Mãi sau họ mới vác được 1 tượng về đến Hói Chàm và đặt tượng ở đó. Từ đó đến nay dòng thác mà 3 anh em nhà kia đã tắm và để tượng Bụt lại, được gọi là thác Bụt. Vậy là mỗi năm, cứ đến lễ hội rằm tháng 3 mọi người lại đến đây cúng Bụt cầu tự, cầu tài và cầu lộc để chuẩn bị cho một lễ hội rằm mới. Những người già ở Minh Hóa cho biết ngày xưa, lễ hội rằm tháng 3 của đồng bào người Nguồn ở Cơ Sa, Kim Linh gồm ăn tết rằm tháng 3, hội chợ rằm tháng 3 vào ngày 6 (tức là ngày 16 tháng 3 âm lịch). Ngày rằm đó, tất cả mọi nhà của người Nguồn đều làm cỗ bàn, xôi thịt để cúng ông bà tổ tiên. Dân làng ở tổng Cơ Sa đem xôi oản lên chùa cúng Bụt cầu tự, cầu tài và cầu lộc cho mọi nhà yên vui, thịnh vượng. Còn những người dân làng ở tổng Kim Linh thì làm lễ cầu đảo, cầu cho mưa thuận gió hòa, xóm làng bình yên. Người từ 4 phương ở trong tỉnh, ngoài tỉnh và trong vùng Cơ Sa, kinh Linh đổ về dự chợ Sạt-hội chợ rằm-với đủ các loại hàng hóa lâm thổ sản. Đặc biệt là những thức ăn truyền thống đặc trưng của người dân Minh Hóa như ốc suối luộc, bồi ngô chấm mật ong rừng và khoai môn... Thi nấu bồi ngô ở hội rằm tháng ba Minh Hóa Đối tượng được ưu tiên đi dự hội chợ rằm tháng 3 của người Nguồn là trẻ em và những nam thanh nữ tú. Thanh niên đến dự hội chợ rằm là dịp để gặp gỡ và tìm hiểu nhau. Họ mặc những bộ áo quần đẹp nhất, chiếc ô đủ sắc màu thổ cẩm... Nhiều những cặp nam nữ dù ở cách xa nhau hàng ngày đường núi, nhưng qua hội chợ rằm tháng 3 đã nên vợ thành chồng. Dưới ánh trăng rằm, nam nữ quây quần bên nhau hát đúm. Đến ngày Hội, hàng ngàn người ở khắp mọi nơi về đây xem văn nghệ do các đội văn nghệ của các làng, các xã biểu diễn bằng các tiết mục truyền thống như hát đúm, hò kéo nôốc (thuyền), hò thuốc, hát nhà trò, hát sắc bùa, múa tiên, múa lăm tơi (điệu múa của người Lào). Các làng, các xã thi nấu cơm, giã hạt ngô làm bồi và chế biến các món ăn truyền thống từ sản vật của địa phương... trong không khí náo nhiệt. Nhộn nhịp trong lễ hội Rằm tháng ba Minh Hoá Mấy năm gần đây, huyện Minh Hóa còn tổ chức cả hội thi thể dục thể thao dân tộc như ném xoay, bắn nỏ, đi cà kheo... cho lễ hội thêm phần tấp nập./.

Hàng năm cứ vào ngày rằm tháng 3 âm lịch , những người dân ở huyện miền núi rẻo cao Minh Hóa lại vào hội rằm tháng 3.

Lễ cúng Bụt trước khi mở hội rằm tháng ba Minh Hóa

Từ thời xa xưa, những người dân Minh Hóa đã dặn lòng với nhau rằng: “Thà ốm mà nằm, ai mà bỏ chợ rằm tháng ba...”. Ai đã từng đến dự lễ hội rằm tháng 3 ở Minh Hóa, dẫu chỉ là 1 lần thôi nhưng cũng sẽ không bao giờ quên được những ấn tượng đặc biệt của nó. Đó là vẻ huyền ảo của ánh trăng rằm miền sơn cước quyện trong tiếng hát đúm (một điệu hát giao duyên của người Nguồn) bày tỏ tình yêu lứa đôi... Từ sáng sớm tinh sương của ngày rằm, các đoàn đại diện cho các làng, các xã đã cùng nhau đến với vùng thác Bụt ở Dốc Cáng, xã Yên Hóa. Tại đây họ đã dâng hương cúng Bụt (như ông Bụt trong truyện cổ tích). Cũng chính từ nơi đây đã xuất hiện lễ hội rằm tháng 3 Minh Hóa. Người già còn kể lại rằng: ngày xưa có 3 anh em nhà nọ lên lèn ông Ngoi tìm mật ong. Họ bị đi lạc vào 1 hang động. Trong đó có cơ man nào là tượng Bụt bằng đá... 3 anh em họ mỗi người vác 1 tượng về. Đến thác Bụt họ đã xuống suối tắm. Nhưng khi vác tượng lên lại để trở về nhà thì họ không tài nào vác được nữa. Mãi sau họ mới vác được 1 tượng về đến Hói Chàm và đặt tượng ở đó. Từ đó đến nay dòng thác mà 3 anh em nhà kia đã tắm và để tượng Bụt lại, được gọi là thác Bụt. Vậy là mỗi năm, cứ đến lễ hội rằm tháng 3 mọi người lại đến đây cúng Bụt cầu tự, cầu tài và cầu lộc để chuẩn bị cho một lễ hội rằm mới. Những người già ở Minh Hóa cho biết ngày xưa, lễ hội rằm tháng 3 của đồng bào người Nguồn ở Cơ Sa, Kim Linh gồm ăn tết rằm tháng 3, hội chợ rằm tháng 3 vào ngày 6 (tức là ngày 16 tháng 3 âm lịch). Ngày rằm đó, tất cả mọi nhà của người Nguồn đều làm cỗ bàn, xôi thịt để cúng ông bà tổ tiên. Dân làng ở tổng Cơ Sa đem xôi oản lên chùa cúng Bụt cầu tự, cầu tài và cầu lộc cho mọi nhà yên vui, thịnh vượng. Còn những người dân làng ở tổng Kim Linh thì làm lễ cầu đảo, cầu cho mưa thuận gió hòa, xóm làng bình yên. Người từ 4 phương ở trong tỉnh, ngoài tỉnh và trong vùng Cơ Sa, kinh Linh đổ về dự chợ Sạt-hội chợ rằm-với đủ các loại hàng hóa lâm thổ sản. Đặc biệt là những thức ăn truyền thống đặc trưng của người dân Minh Hóa như ốc suối luộc, bồi ngô chấm mật ong rừng và khoai môn... Thi nấu bồi ngô ở hội rằm tháng ba Minh Hóa Đối tượng được ưu tiên đi dự hội chợ rằm tháng 3 của người Nguồn là trẻ em và những nam thanh nữ tú. Thanh niên đến dự hội chợ rằm là dịp để gặp gỡ và tìm hiểu nhau. Họ mặc những bộ áo quần đẹp nhất, chiếc ô đủ sắc màu thổ cẩm... Nhiều những cặp nam nữ dù ở cách xa nhau hàng ngày đường núi, nhưng qua hội chợ rằm tháng 3 đã nên vợ thành chồng. Dưới ánh trăng rằm, nam nữ quây quần bên nhau hát đúm. Đến ngày Hội, hàng ngàn người ở khắp mọi nơi về đây xem văn nghệ do các đội văn nghệ của các làng, các xã biểu diễn bằng các tiết mục truyền thống như hát đúm, hò kéo nôốc (thuyền), hò thuốc, hát nhà trò, hát sắc bùa, múa tiên, múa lăm tơi (điệu múa của người Lào). Các làng, các xã thi nấu cơm, giã hạt ngô làm bồi và chế biến các món ăn truyền thống từ sản vật của địa phương... trong không khí náo nhiệt. Nhộn nhịp trong lễ hội Rằm tháng ba Minh Hoá Mấy năm gần đây, huyện Minh Hóa còn tổ chức cả hội thi thể dục thể thao dân tộc như ném xoay, bắn nỏ, đi cà kheo... cho lễ hội thêm phần tấp nập./.

Related Figures

Lễ hội cầu trâu

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 2/1 Âm lịch (lehoi.info)- Làng Hương Nha nằm ở huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ, cách Đền Hùng chưa đến 10km về phía tây nam. Lễ cầu trâu được tổ chức hàng năm vào ngày mùng 2 tháng giêng âm lịch để tưởng nhớ tới công đức tướng Xuân Nương dưới thời Hai Bà Trưng. Sinh thời bà là một người tài sắc vẹn toàn, thùy mị, nết na, tinh thông võ nghệ, viết chữ và tính toán đều giỏi, lại có đức độ. Cha mẹ mất sớm, anh trai thì bị Tô Định sát hại, trong lòng căm giận, nàng nguyện báo thù nhà. Bà cắt tóc giả làm ni cô đi đến các phủ, các huyện để chiêu tập binh hùng tướng mạnh. Hai Bà Trưng nghe tiếng Xuân Nương bèn truyền hịch nghênh đón về, lại cho nàng thống lĩnh quân Nội thị nữ tốt bên tả. Đặc sắc lễ hội cầu trâu ở Hương Nha Lễ cầu trâu để tưởng nhớ câu chuyện xưa nhân dân đã dâng trâu để Bà khao quân tướng khi thắng trận trở về. Người dân ra bến xem trâu đi tắm Từ ngày 20 tháng Chạp, dân làng đã họp bàn để chọn mua trâu. Trâu phải là loại trâu đực béo khỏe. Người được nhận nuôi trâu thì gọi là "chứa lềnh", nhất thiết phải ăn chay từ khi rước trâu về. Lán của trâu phải được làm bằng các vật liệu mới, vào mỗi buổi chiều, "chứa lềnh" phải đem trâu ra bến tắm và sau đó tắm cho mình. Rước trâu đi tắm về Đến 7 giờ tối ngày mùng 2 tháng Giêng, nhà "chứa lềnh" phải làm 1 cỗ gà và 1 cỗ chay gồm có: củ mài, mía ngọt, chè lam, chè kho, hoa quả và một hũ rượu mộng. Tối đến, dân làng đến nhà "chứa lềnh" để rước trâu ra đền Hạ (hay còn gọi là Miếu Ông) nơi thờ thập bộ thần quan là những tướng sĩ khi nghe tin bà mất đã nhảy xuống hồ trẫm mình để chứng tỏ lòng trung nghĩa. Trước khi làm lễ cầu trâu, người ta sẽ đốt bên cạnh cột buộc trâu 2 bó đuốc bằng nứa khô. Sau đó, nhà sát trói trâu vào cọc bằng dây tre, rồi làm lễ mật khẩn để xin âm dương. Khi trâu ngã gục và chết, người dân sẽ đem lột da và chôn 4 cọc rồi căng da trâu làm "nồi da nấu thịt", tái hiện lại cảnh mổ trâu khao quân của nữ tướng Xuân Nương khi xưa. Người ta còn cắt 12 miếng thịt ngon ở bắp để làm 12 quả đài xinh để tế thần. Người dân làm lễ mật khẩn xin âm dương Sáng ngày mùng 3 âm lịch, người dân tổ chức lễ "chạy chài". Lễ gồm có thịt trâu và lòng trâu đặt trên mâm tre. Sau đó nhà sát đội ra bến Giếnh, trên đường về người dân thi nhau tranh cướp lễ vật. Ai cướp được lễ vật thì năm đó làm ăn phát đạt, con cháu thuận hòa và gặp được nhiều may mắn. lehoi.info tổng hợp

(lehoi.info)- Làng Hương Nha nằm ở huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ, cách Đền Hùng chưa đến 10km về phía tây nam. Lễ cầu trâu được tổ chức hàng năm vào ngày mùng 2 tháng giêng âm lịch để tưởng nhớ tới công đức tướng Xuân Nương dưới thời Hai Bà Trưng. Sinh thời bà là một người tài sắc vẹn toàn, thùy mị, nết na, tinh thông võ nghệ, viết chữ và tính toán đều giỏi, lại có đức độ. Cha mẹ mất sớm, anh trai thì bị Tô Định sát hại, trong lòng căm giận, nàng nguyện báo thù nhà. Bà cắt tóc giả làm ni cô đi đến các phủ, các huyện để chiêu tập binh hùng tướng mạnh. Hai Bà Trưng nghe tiếng Xuân Nương bèn truyền hịch nghênh đón về, lại cho nàng thống lĩnh quân Nội thị nữ tốt bên tả. Đặc sắc lễ hội cầu trâu ở Hương Nha Lễ cầu trâu để tưởng nhớ câu chuyện xưa nhân dân đã dâng trâu để Bà khao quân tướng khi thắng trận trở về. Người dân ra bến xem trâu đi tắm Từ ngày 20 tháng Chạp, dân làng đã họp bàn để chọn mua trâu. Trâu phải là loại trâu đực béo khỏe. Người được nhận nuôi trâu thì gọi là "chứa lềnh", nhất thiết phải ăn chay từ khi rước trâu về. Lán của trâu phải được làm bằng các vật liệu mới, vào mỗi buổi chiều, "chứa lềnh" phải đem trâu ra bến tắm và sau đó tắm cho mình. Rước trâu đi tắm về Đến 7 giờ tối ngày mùng 2 tháng Giêng, nhà "chứa lềnh" phải làm 1 cỗ gà và 1 cỗ chay gồm có: củ mài, mía ngọt, chè lam, chè kho, hoa quả và một hũ rượu mộng. Tối đến, dân làng đến nhà "chứa lềnh" để rước trâu ra đền Hạ (hay còn gọi là Miếu Ông) nơi thờ thập bộ thần quan là những tướng sĩ khi nghe tin bà mất đã nhảy xuống hồ trẫm mình để chứng tỏ lòng trung nghĩa. Trước khi làm lễ cầu trâu, người ta sẽ đốt bên cạnh cột buộc trâu 2 bó đuốc bằng nứa khô. Sau đó, nhà sát trói trâu vào cọc bằng dây tre, rồi làm lễ mật khẩn để xin âm dương. Khi trâu ngã gục và chết, người dân sẽ đem lột da và chôn 4 cọc rồi căng da trâu làm "nồi da nấu thịt", tái hiện lại cảnh mổ trâu khao quân của nữ tướng Xuân Nương khi xưa. Người ta còn cắt 12 miếng thịt ngon ở bắp để làm 12 quả đài xinh để tế thần. Người dân làm lễ mật khẩn xin âm dương Sáng ngày mùng 3 âm lịch, người dân tổ chức lễ "chạy chài". Lễ gồm có thịt trâu và lòng trâu đặt trên mâm tre. Sau đó nhà sát đội ra bến Giếnh, trên đường về người dân thi nhau tranh cướp lễ vật. Ai cướp được lễ vật thì năm đó làm ăn phát đạt, con cháu thuận hòa và gặp được nhiều may mắn. lehoi.info tổng hợp

Related Figures

Hội đền Du Yến

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/1 Âm lịch (lehoi.info)- Đền Du Yến xã Chí Tiên, Thanh Ba, Phú Thọ được công nhận là di tích lịch sử cấp Quốc Gia vào năm 1993. Đền thờ nữ tướng Hạnh Nương- một nữ tướng giỏi thời Hai Bà Trưng. Đền được xây dựng ở tại địa điểm bà mở yến tiệc khao quân và ban thưởng cho dân làng khi về thăm quê, ngày khao quân đúng vào ngày rằm tháng giêng. Cũng từ đó cứ dịp vào ngày rằng tháng giêng là dân làng mở hội cầu tế để nhớ ơn công đức của bà cầu cho mưa thuận gió hòa, cầu cho nhà nhà được mọi điều tốt lành. Đặc sắc lễ hội đền Du Yến Hội đền Du Yến được mở với các phần lễ và phần hội rất long trọng. Những đồ thờ dâng lên Mẫu chủ yếu là những loại bánh chay và hoa quả... được chia thành sáu giáp, mỗi giáp hai mâm và được hai thanh niên khiêng vào đặt lên ban thờ để các cụ cầu tế. Trong lúc cầu tế có xen lẫn những điệu múa tiên và múa sinh tiền. Một nghi thức trong lễ hội đền Du Yến Tương truyền rằng vào ngày Mẫu ra đời ở ngoài bãi dâu Thao Giang có tiên sa giáng trần múa hát như ngày hội nên vào ngày tế Mẫu bắt buộc phải có đội múa tiên bao gồm bốn cô gái dưới 16 tuổi và chưa có chồng múa những điệu múa bay bổng đẹp như tiên để phục vụ tế lễ. Sau đó là đến phần rước kiệu, đi đầu là đội cờ, tiếp đến là phường bát âm, sau đến đội bát biểu, múa sư tử và tiếp đến là múa tiên rồi đến kiệu. Điệu múa tiên trong lễ hội Đền Du Yến Phần tế lễ hội đền Du Yến kéo dài đến hết ngày rằm. Tuy vậy du khách hành hương từ khắp mọi nơi về viếng đền quanh năm nhưng đông nhất vẫn là dịp từ Tết Nguyên đán đến hết tháng 3. Có thể thấy lễ hội đền Du Yến là một trong những lễ hội đặc sắc nhất được tổ chức trong năm tại đền Du Yến. Đây cũng là một lễ hội mang đậm nét truyền thống của văn hóa nơi đây. Ai đã từng một lần được xem lễ hội đền Du Yến sẽ không thể nào quên được cái không khí náo nức, rộn rã mà trang nghiêm.

(lehoi.info)- Đền Du Yến xã Chí Tiên, Thanh Ba, Phú Thọ được công nhận là di tích lịch sử cấp Quốc Gia vào năm 1993. Đền thờ nữ tướng Hạnh Nương- một nữ tướng giỏi thời Hai Bà Trưng. Đền được xây dựng ở tại địa điểm bà mở yến tiệc khao quân và ban thưởng cho dân làng khi về thăm quê, ngày khao quân đúng vào ngày rằm tháng giêng. Cũng từ đó cứ dịp vào ngày rằng tháng giêng là dân làng mở hội cầu tế để nhớ ơn công đức của bà cầu cho mưa thuận gió hòa, cầu cho nhà nhà được mọi điều tốt lành. Đặc sắc lễ hội đền Du Yến Hội đền Du Yến được mở với các phần lễ và phần hội rất long trọng. Những đồ thờ dâng lên Mẫu chủ yếu là những loại bánh chay và hoa quả... được chia thành sáu giáp, mỗi giáp hai mâm và được hai thanh niên khiêng vào đặt lên ban thờ để các cụ cầu tế. Trong lúc cầu tế có xen lẫn những điệu múa tiên và múa sinh tiền. Một nghi thức trong lễ hội đền Du Yến Tương truyền rằng vào ngày Mẫu ra đời ở ngoài bãi dâu Thao Giang có tiên sa giáng trần múa hát như ngày hội nên vào ngày tế Mẫu bắt buộc phải có đội múa tiên bao gồm bốn cô gái dưới 16 tuổi và chưa có chồng múa những điệu múa bay bổng đẹp như tiên để phục vụ tế lễ. Sau đó là đến phần rước kiệu, đi đầu là đội cờ, tiếp đến là phường bát âm, sau đến đội bát biểu, múa sư tử và tiếp đến là múa tiên rồi đến kiệu. Điệu múa tiên trong lễ hội Đền Du Yến Phần tế lễ hội đền Du Yến kéo dài đến hết ngày rằm. Tuy vậy du khách hành hương từ khắp mọi nơi về viếng đền quanh năm nhưng đông nhất vẫn là dịp từ Tết Nguyên đán đến hết tháng 3. Có thể thấy lễ hội đền Du Yến là một trong những lễ hội đặc sắc nhất được tổ chức trong năm tại đền Du Yến. Đây cũng là một lễ hội mang đậm nét truyền thống của văn hóa nơi đây. Ai đã từng một lần được xem lễ hội đền Du Yến sẽ không thể nào quên được cái không khí náo nức, rộn rã mà trang nghiêm.

Related Figures

Lễ hội vật trâu giằng búa.

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 2/1 Âm lịch Lễ hội vật trâu giằng búa diễn ra vào buổi sáng ngày mùng 2 tết hàng năm ở thôn Bến Bây, xã Chí Chủ xưa (ngày nay là xã Chí Tiên) Thanh Ba, Phú Thọ. Làng Chí Chủ trước đây gồm có 3 thôn, mỗi thôn thờ 1 ông thành hoàng, đều có sắc phong của các triều đại phong kiến xưa. Hiện nay, đình làng đã không còn nữa, chỉ còn lại 7 sắc phong của triều Nguyễn và sắc phong vị thành hoàng Đào tướng quân của vua Minh Mạng (năm 1820 - năm 1840). Lễ hội giằng búa là để tưởng nhớ lại tục lệ luyện và khao quân của Đào tướng quân thuở xưa. Đặc sắc lễ hội vật trâu giằng búa Tương truyền, Đào tướng quân là một vị tướng to cao lẫm liệt, sức khỏe phi thường, đa mưu, nhiều kế, vào trận tả xung hữu đột và trí dũng thông minh, phi thường. Sau các trận đánh thắng, tướng quân thường khao quân, cho quân lính giằng búa đê đập đầu trâu rồi giết mổ, đồng thời sẽ ban thưởng cho ai giằng được búa. Nhân dân thôn Bến Bây tâm niệm: Đào tướng quân là một vị thần rất linh thiêng. Để có được ngày hội này, cả dân làng phải chuẩn bị rất công phu cùng với những quy định rất chặt chẽ, trước hết, đó là việc đi tậu trâu và chăm sóc trâu. Khi ấy, Thôn Bến Bây sẽ chia làm 4 dâu, người cao tuổi nhất ở trong thôn sẽ được đứng dâu nhất. Dâu nhất năm ấy được đăng cai cho mọi việc lễ hội ở trong năm, từ việc mua giữ trâu cho đến việc mua sắm mọi lễ vật tính từ rằm tháng chạp năm trước đến sáng ngày mùng 2 tết Nguyên Đán là ngày cầu chính. Trâu được tậu về nhà ông "đăng cai" đúng vào ngày rằm tháng chạp. Gia đình ông "đăng cai" làm ván lễ, để lễ thành hoàng và cầu mong cùng gia đình trông nom, gìn giữ trâu thờ được mạnh khỏe và béo tốt. Cúng lễ xong, ông đăng cai nổi chiêng, nổi trống báo cho dân làng đến chiêm ngưỡng trâu thờ. Hàng ngày, theo thứ tự đã được định trước, các gia đình lần lượt cắt cỏ, lấy rơm sạch, nước uống và tắm rửa cho trâu bóng nhẫy, ngày này qua ngày khác cho đến sáng ngày mùng 2 tết. Dắt trâu ra đình thờ để làm lễ cúng thành hoàng gồm có 8 người trai tráng tuổi từ 18 đến 30, gia đình không có tang ma, bản thân không có khuyết tật và có đạo đức phẩm chất tốt. Họ không chỉ là trai trẻ, khoẻ mạnh mà hình thể còn phải nở nang, cân đối, trông giống như một dũng sĩ. Họ phải được kiêng kỵ sạch sẽ từ nhiều những ngày trước, không được nói năng khiếm nhã và tròng ghẹo phụ nữ. Sáng ngày mùng 2 tết, mặc dù có những năm vào ngày mưa rét lạnh, nhưng 8 trai tráng này vẫn phải tắm rửa sạch sẽ ở tại giếng của làng. Những trai này phải cởi trần, mặc quần dài trắng sắn ống thật cao và chân đất, đầu đội khăn xanh bỏ mối - sau gáy lưng thắt bao xanh có mối bỏ bên phải. Để chống rét, họ phải xoa các bắp thịt cho nhau, vỗ ngực và làm những động tác cho người hồng hào, có người còn phải uống nước mắm để chống rét. Họ tập trung ở nhà ông đăng cai để ăn bánh lọc. Ông đăng cai đã chuẩn bị 2 mâm sà có sơn son thiếp vàng. 1 mâm để ván thờ gồm có xôi nếp trắng, 1 con gà thiến chín, 1 mâm rượu, 1 bát nước, đĩa trầu cau và hương nhang, đèn nến, có người cầm tàn che. 1 mâm đựng trầu cau do các gia đình trong thôn góp lại và cũng có người cầm tàn che. Mọi việc chuẩn bị xong, thì ông chủ tế mặc áo thụng xanh, quần dài trắng chỉnh tề vào xin đem trâu ra đình để làm lễ. hình ảnh chọn trâu chuẩn bị cho lễ hội Từ nhà đăng cai, đoàn người dắt trâu ra đình, người đi đầu tiên là một người đứng tuổi, cao đẹp thuộc dâu nhất, cầm đóm bằng những cây cỏng (cây chít) được chẻ làm đôi, bỏ ruột, bóc bẹ nhẵn nhụi và đã được chuẩn bị từ trước. Người thứ 2 thuộc dâu hai cầm gươm. Người thứ 3 thuộc dâu ba cầm búa thờ - búa có cán dài khoảng 70cm, người đi thứ 4 thuộc dâu tư cầm trống khẩu - trống có hai mặt làm bằng da, đường kính mặt trống khoảng 30cm, tang trống được làm bằng gỗ mít, sơn son vẽ rồng, tất cả những người này đều ăn mặc thống nhất - khăn đội đầu bằng vải đen bỏ mối phía sau, áo the mặc ngoài áo dài trắng, ngoài cùng là áo nỉ đỏ có rồng chầu, hổ phục, thắt lưng xanh bỏ mối phía phải, quần trắng và chân đất. Tiếp theo sẽ là vị chủ tế, rồi đến ông đăng cai, tiếp theo nữa là người đội các mâm cỗ thờ và các quan viên mặc quần áo chỉnh tề và cuối cùng đó là 8 người dắt trâu chia thành 2 bên, mỗi bên là 4 thanh niên đối diện nhau. Đi đầu cầm chạc trâu là 2 thanh niên dâu tử. Khi ra khỏi nhà đăng cai, tất cả hàng ngũ được chấn chỉnh lại thành 1 hàng dọc thẳng tắp với quần áo đủ các mầu. Đến cửa giữa đại bát, người cầm đóm đạp mạnh vào cửa đình, cửa mở toang ra, các cửa khác được trai tráng trực sẵn nhấc ra và xếp gọn gàng vào 1 chỗ. Người cầm đóm đi tiếp vào hậu cung, cửa cung đình được mở hết, các mâm thờ được đặt lên sập thờ. Các công việc chuẩn bị cho lễ cầu đã xong, các quan viên vào chiếu tế. Đoàn dắt trâu đứng nghiêm trang ngay giữa sân đình, dân làng vây quanh, đông chật hai bên tả mạc. Tất cả chờ tế xong sẽ dắt trâu ra bãi vật. Một nghi thức trong lễ hội Cuộc tế lễ bắt đầu, ông chủ tế vào tế, các quan viên cũng lễ theo, sau đó lần lượt 4 người cầm đóm, gươm, búa và trống vào lễ, cuối cùng là 8 trai tráng dắt trâu thay nhau vào lễ. Sau khi lễ xong, ông chủ tế cầm bát rượu từ trong hậu cung ra, dừng bước trước đầu trâu khấn vái rồi đổ rượu vào đầu con trâu. 8 người được lệnh dắt trâu ra bãi vật. Người ta dùng 2 thòng lọng to cho trâu bước vào tròng rồi cùng nhau hô to vật đổ trâu. Có 1 tráng sĩ ở trong số 8 người này được cử vào lĩnh búa thờ tại cung đình. Khi lễ tạ thành hoàng xong, ông chủ tế trao búa thờ, người lĩnh búa chạy 1 mạch ra bãi vật. Ra giữa bãi vật, búa được tung lên cao, thế là hội giằng búa được bắt đầu. Một cuộc giằng co, dượt đuổi, trèo kéo, tiếng trống, cùng với tiếng hò reo cổ vũ của người dân vang lên từng hồi. Sau một hồi lâu giằng búa, ban tổ chức nổi chiêng để chấm dứt cuộc chơi này và cho mổ trâu để sắm cỗ thờ vào sáng ngày mùng 3 tết. Theo: vanhoavietnam.vn

Lễ hội vật trâu giằng búa diễn ra vào buổi sáng ngày mùng 2 tết hàng năm ở thôn Bến Bây, xã Chí Chủ xưa (ngày nay là xã Chí Tiên) Thanh Ba, Phú Thọ. Làng Chí Chủ trước đây gồm có 3 thôn, mỗi thôn thờ 1 ông thành hoàng, đều có sắc phong của các triều đại phong kiến xưa. Hiện nay, đình làng đã không còn nữa, chỉ còn lại 7 sắc phong của triều Nguyễn và sắc phong vị thành hoàng Đào tướng quân của vua Minh Mạng (năm 1820 - năm 1840). Lễ hội giằng búa là để tưởng nhớ lại tục lệ luyện và khao quân của Đào tướng quân thuở xưa.

Đặc sắc lễ hội vật trâu giằng búa

Tương truyền, Đào tướng quân là một vị tướng to cao lẫm liệt, sức khỏe phi thường, đa mưu, nhiều kế, vào trận tả xung hữu đột và trí dũng thông minh, phi thường. Sau các trận đánh thắng, tướng quân thường khao quân, cho quân lính giằng búa đê đập đầu trâu rồi giết mổ, đồng thời sẽ ban thưởng cho ai giằng được búa. Nhân dân thôn Bến Bây tâm niệm: Đào tướng quân là một vị thần rất linh thiêng. Để có được ngày hội này, cả dân làng phải chuẩn bị rất công phu cùng với những quy định rất chặt chẽ, trước hết, đó là việc đi tậu trâu và chăm sóc trâu. Khi ấy, Thôn Bến Bây sẽ chia làm 4 dâu, người cao tuổi nhất ở trong thôn sẽ được đứng dâu nhất. Dâu nhất năm ấy được đăng cai cho mọi việc lễ hội ở trong năm, từ việc mua giữ trâu cho đến việc mua sắm mọi lễ vật tính từ rằm tháng chạp năm trước đến sáng ngày mùng 2 tết Nguyên Đán là ngày cầu chính. Trâu được tậu về nhà ông "đăng cai" đúng vào ngày rằm tháng chạp. Gia đình ông "đăng cai" làm ván lễ, để lễ thành hoàng và cầu mong cùng gia đình trông nom, gìn giữ trâu thờ được mạnh khỏe và béo tốt. Cúng lễ xong, ông đăng cai nổi chiêng, nổi trống báo cho dân làng đến chiêm ngưỡng trâu thờ. Hàng ngày, theo thứ tự đã được định trước, các gia đình lần lượt cắt cỏ, lấy rơm sạch, nước uống và tắm rửa cho trâu bóng nhẫy, ngày này qua ngày khác cho đến sáng ngày mùng 2 tết. Dắt trâu ra đình thờ để làm lễ cúng thành hoàng gồm có 8 người trai tráng tuổi từ 18 đến 30, gia đình không có tang ma, bản thân không có khuyết tật và có đạo đức phẩm chất tốt. Họ không chỉ là trai trẻ, khoẻ mạnh mà hình thể còn phải nở nang, cân đối, trông giống như một dũng sĩ. Họ phải được kiêng kỵ sạch sẽ từ nhiều những ngày trước, không được nói năng khiếm nhã và tròng ghẹo phụ nữ. Sáng ngày mùng 2 tết, mặc dù có những năm vào ngày mưa rét lạnh, nhưng 8 trai tráng này vẫn phải tắm rửa sạch sẽ ở tại giếng của làng. Những trai này phải cởi trần, mặc quần dài trắng sắn ống thật cao và chân đất, đầu đội khăn xanh bỏ mối - sau gáy lưng thắt bao xanh có mối bỏ bên phải. Để chống rét, họ phải xoa các bắp thịt cho nhau, vỗ ngực và làm những động tác cho người hồng hào, có người còn phải uống nước mắm để chống rét. Họ tập trung ở nhà ông đăng cai để ăn bánh lọc. Ông đăng cai đã chuẩn bị 2 mâm sà có sơn son thiếp vàng. 1 mâm để ván thờ gồm có xôi nếp trắng, 1 con gà thiến chín, 1 mâm rượu, 1 bát nước, đĩa trầu cau và hương nhang, đèn nến, có người cầm tàn che. 1 mâm đựng trầu cau do các gia đình trong thôn góp lại và cũng có người cầm tàn che. Mọi việc chuẩn bị xong, thì ông chủ tế mặc áo thụng xanh, quần dài trắng chỉnh tề vào xin đem trâu ra đình để làm lễ. hình ảnh chọn trâu chuẩn bị cho lễ hội Từ nhà đăng cai, đoàn người dắt trâu ra đình, người đi đầu tiên là một người đứng tuổi, cao đẹp thuộc dâu nhất, cầm đóm bằng những cây cỏng (cây chít) được chẻ làm đôi, bỏ ruột, bóc bẹ nhẵn nhụi và đã được chuẩn bị từ trước. Người thứ 2 thuộc dâu hai cầm gươm. Người thứ 3 thuộc dâu ba cầm búa thờ - búa có cán dài khoảng 70cm, người đi thứ 4 thuộc dâu tư cầm trống khẩu - trống có hai mặt làm bằng da, đường kính mặt trống khoảng 30cm, tang trống được làm bằng gỗ mít, sơn son vẽ rồng, tất cả những người này đều ăn mặc thống nhất - khăn đội đầu bằng vải đen bỏ mối phía sau, áo the mặc ngoài áo dài trắng, ngoài cùng là áo nỉ đỏ có rồng chầu, hổ phục, thắt lưng xanh bỏ mối phía phải, quần trắng và chân đất. Tiếp theo sẽ là vị chủ tế, rồi đến ông đăng cai, tiếp theo nữa là người đội các mâm cỗ thờ và các quan viên mặc quần áo chỉnh tề và cuối cùng đó là 8 người dắt trâu chia thành 2 bên, mỗi bên là 4 thanh niên đối diện nhau. Đi đầu cầm chạc trâu là 2 thanh niên dâu tử. Khi ra khỏi nhà đăng cai, tất cả hàng ngũ được chấn chỉnh lại thành 1 hàng dọc thẳng tắp với quần áo đủ các mầu. Đến cửa giữa đại bát, người cầm đóm đạp mạnh vào cửa đình, cửa mở toang ra, các cửa khác được trai tráng trực sẵn nhấc ra và xếp gọn gàng vào 1 chỗ. Người cầm đóm đi tiếp vào hậu cung, cửa cung đình được mở hết, các mâm thờ được đặt lên sập thờ. Các công việc chuẩn bị cho lễ cầu đã xong, các quan viên vào chiếu tế. Đoàn dắt trâu đứng nghiêm trang ngay giữa sân đình, dân làng vây quanh, đông chật hai bên tả mạc. Tất cả chờ tế xong sẽ dắt trâu ra bãi vật. Một nghi thức trong lễ hội Cuộc tế lễ bắt đầu, ông chủ tế vào tế, các quan viên cũng lễ theo, sau đó lần lượt 4 người cầm đóm, gươm, búa và trống vào lễ, cuối cùng là 8 trai tráng dắt trâu thay nhau vào lễ. Sau khi lễ xong, ông chủ tế cầm bát rượu từ trong hậu cung ra, dừng bước trước đầu trâu khấn vái rồi đổ rượu vào đầu con trâu. 8 người được lệnh dắt trâu ra bãi vật. Người ta dùng 2 thòng lọng to cho trâu bước vào tròng rồi cùng nhau hô to vật đổ trâu. Có 1 tráng sĩ ở trong số 8 người này được cử vào lĩnh búa thờ tại cung đình. Khi lễ tạ thành hoàng xong, ông chủ tế trao búa thờ, người lĩnh búa chạy 1 mạch ra bãi vật. Ra giữa bãi vật, búa được tung lên cao, thế là hội giằng búa được bắt đầu. Một cuộc giằng co, dượt đuổi, trèo kéo, tiếng trống, cùng với tiếng hò reo cổ vũ của người dân vang lên từng hồi. Sau một hồi lâu giằng búa, ban tổ chức nổi chiêng để chấm dứt cuộc chơi này và cho mổ trâu để sắm cỗ thờ vào sáng ngày mùng 3 tết. Theo: vanhoavietnam.vn

Related Figures

Lễ Hội đền Hùng

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 8/3- 11/3 Âm lịch Lễ hội Đền Hùng là một trong những lễ hội lớn mang tính quốc gia để tưởng nhớ tới các vua Hùng đã có công dựng nước. Phong tục giỗ tổ Hùng Vương đã trở thành truyền thống văn hoá từ rất lâu đời ở nước ta. Đó là một ngày hội toàn quốc, toàn dân và trong tâm thức dân gian Việt Nam nó mang tính thiêng liêng nhất và cao cả nhất. Vì thế mà lễ hội này được tổ chức long trọng hàng năm với nghi thức đại lễ quốc gia, với sự hành hương “trở về cội nguồn dân tộc” của hàng chục hàng vạn người từ khắp các nơi trong nước và những kiều bào sống ở nước ngoài.. Hội đền Hùng kéo dài từ ngày mùng 8 đến ngày 11 tháng 3 âm lịch, trong đó ngày mùng 10 là ngày chính hội. Lễ hội được diễn ra tại đền Hùng, Phú Thọ. Lễ Hội đền Hùng Cũng như những lễ hội khác ở đồng bằng Bắc Bộ, ở lễ hội đền Hùng cũng gồm có 2 phần : Phần lễ và phần hội. Phần tế lễ được cử hành rất trọng thể và mang tính quốc lễ. Lễ vật dâng cúng là “lễ tam sinh" (có 1 lợn, 1 dê và 1 bò), bánh dày, bánh chưng và xôi nhiều màu, nhạc khí ở đây là trống đồng cổ. Sau khi 1 hồi trống đồng vang lên, các vị chức sắc vào tế lễ dưới sự điều khiển của vị chủ lễ. Tiếp theo đến các cụ bô lão của làng của xã sở tại quanh đền Hùng vào tế lễ. Sau cùng là nhân dân và những du khách hành hương vào tế lễ trong các đền thờ, tưởng niệm các vua Hùng. Rước kiệu ở lễ Hội đền Hùng Sau phần lễ sẽ là đến phần hội. Ở lễ hội đền Hùng năm nào cũng tổ chức cuộc thi kiệu của các làng xung quanh. Với sự xuất hiện của các đám rước linh đình mà không khí lễ hội trở nên tưng bừng và náo nhiệt hơn. Các cỗ kiệu của các làng phải tập trung trước vài ngày thì mới kịp cho cuộc thi. Nếu như cỗ kiệu nào đoạt được giải nhất của kỳ thi năm nay, thì đến kỳ hội sang năm được thay mặt các cỗ kiệu còn lại, rước lên đền Thượng để triều đình cử hành quốc lễ. Vì vậy, cỗ kiệu nào đoạt được giải nhất thì đó là niềm tự hào và vinh dự lớn lao của những người dân làng ấy. Bởi họ cho rằng, đã được các vua Hùng cùng với các vị thần linh phù hộ cho nhiều may mắn, nhân khang, vật thịnh... Tuy nhiên, để có được đám rước các cỗ kiệu đẹp lộng lẫy thì phải chuẩn bị rất công phu và chu đáo từ trước. Những khó khăn vất vả của dân làng đã thôi thúc họ vượt qua được để đến với cái linh thiêng cao thượng và hướng về Tổ tiên hướng về giống nòi. Đó chính là đời sống tâm linh của dân chúng, được biểu hiện rõ nét qua 1 hình thức sinh hoạt văn hóa và tín ngưỡng dân gian cổ truyền mang tính cộng cảm với cộng mệnh sâu sắc. Sinh hoạt văn hóa dân gian này đã thành nhu cầu không thể thiếu được đối với các cộng đồng, các làng xã cư trú ở quanh đền Hùng. Người dân tập trung rất đông tại lễ Hội đền Hùng Mỗi một đám rước kiệu sẽ có 3 cỗ kiệu đi liền nhau. Chúng đều được sơn son thiếp vàng và chạm trổ rất tinh xảo. Sự bày biện trang trí ở trên cỗ kiệu cũng rất khéo léo và đẹp mắt. Cỗ kiệu đi đầu sẽ bày hương hoa, đèn nhang, trầu cau, chóe nước và bầu rượu. Cỗ kiệu thứ 2 có đặt hương án, bài vị của Thánh, có lọng và quạt cho với nhiều sắc màu trang hoàng và tôn nghiêm. Cỗ kiệu thứ 3 rước bánh dày và bánh chưng và 1 cái thủ lợn luộc để nguyên, đi sau 3 cỗ kiệu này là các vị quan chức và các bô lão trong làng. Các vị chức sắc thì mặc áo thụng theo kiểu giống như các bá quan triều đình, còn các cụ bô lão cũng mặc áo thụng màu đỏ, hoặc mặc quần màu trắng, áo the và đầu đội khăn xếp. Trong lễ hội đền Hùng, nhân ngày giỗ Tổ có tiến hành nghi lễ hát thờ (tục gọi là hát Xoan). Đây là một lễ thức rất quan trọng và rất độc đáo. Dân gian truyền rằng hát Xoan xưa kia được gọi là hát Xuân và điệu múa hát Xoan có từ thời Hùng Vương và được lưu truyền rộng rãi trong dân cư của các làng các xã quanh vùng. Điệu múa hát Xoan này được rất nhiều người ưa thích, đặc biệt là bà Lan Xuân, vợ của vua Lý Thần Tông. Bà đã cảm nhận được âm hưởng dân ca đặc biệt và độc đáo của nó, nên bà đã cho sưu tầm và cải biên thành điệu hát thờ tại một số đền và một số đình làng thờ các vua Hùng. Các nữ quan bắt đầu vào buổi lễ dâng hương Tổ Mẫu Âu Cơ Mở đầu, ông trùm phường Xoan Kim Đức - phường nổi tiếng - cùng với chủ tế đứng trước hương án hát chúc bằng một bài khấn nguyện. Sau đó là một kép trẻ đeo trống nhỏ trước ngực ra làm trò giáo trống và giáo pháo. Tiếp theo, 4 cô đao ra hát thơ nhang và dâng hương bằng giọng hát lề lối. Rồi tiếp đến những bài ca ngợi thánh thần kết thúc phần nghi lễ của Xoan. Ở đền Hạ thì có hát ca trù (được gọi là hát nhà tơ, hát ả đào) Đây cũng là một loại hát thờ trước cửa đinh, mừng dâng thành trong dịp hội làng và do phường hát Do Nghĩa trình diễn. Ngoài sân đền Hạ, ở nơi thoáng đãng có đu tiên. Mỗi bàn đu sẽ có 2 cô tiên (là cô gái Mường trẻ mặc đẹp) ngồi. Đu quay được là do các cô luân phiên lấy chân đạp đất. Đu tiên là trò chơi đẹp mắt, nhịp nhàng của những người phụ nữ. Xung quanh khu vực dưới chân núi Hùng là các trò diễn và các trò chơi dân gian cổ truyền, diễn ra rất sôi động và được rất nhiều người tham dự như chơi đu, chơi ném côn, đầu vật, chọi gà,... Những trò đánh cờ người và tổ tôm điếm được các cụ cao niên rất tâm đắc. Còn các đám trai gái tụm năm, tụm ba trên các đồi đó trổ tài hát trống quân, hát ví hoặc hát đối đáp giao duyên…Tối đến thì có tổ chức hát chèo, hát tuồng ở các bãi rộng ngay cửa đền Hạ hoặc đền Giếng… Lễ hội Đền Hùng là một phong tục đẹp trong truyền thống của những người dân đất Việt. Và từ rất lâu đời trong tâm thức dân gian, vùng đất Tổ đã trở thành "Thánh địa linh thiêng” của cả nước, nơi phát nguyên nguồn gốc dân tộc. Trải qua bao thời đại lịch sử tuy có lúc thịnh, lúc suy nhưng lễ hội đền Hùng vẫn được tổ chức. Điều này đã thể hiện rõ bản lĩnh phi thường và nền văn hiến rực rỡ, đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam. Những người dân hành hương về đất Tổ không hề có sự phân biệt tôn giáo, chỉ cần là con người Việt Nam thì trong tâm khảm họ đều có quyền tự hào là con cháu muôn đời của vua Hùng. Bởi vậy, hễ ai là người Việt Nam nếu có sẵn tâm thành và lòng ham muốn hành hương về đất Tổ thì tự mình có thể thực hiện ước nguyện chính đáng đó một cách dễ dàng và thuận tiện. Hội đền Hùng hay còn gọi là giỗ tổ Hùng Vương là ngày hội quần tụ, ca ngợi sự hưng thịnh của nòi giống, là biểu tượng của tinh thần cộng đồng. Người đến hội mang theo lòng ngưỡng mộ sâu đậm về quê cha đất tổ, một tín ngưỡng đã ăn sâu vào tâm thức con người Việt Nam cho dù họ đang sinh sống ở bất cứ phương trời nào.

Lễ hội Đền Hùng là một trong những lễ hội lớn mang tính quốc gia để tưởng nhớ tới các vua Hùng đã có công dựng nước. Phong tục giỗ tổ Hùng Vương đã trở thành truyền thống văn hoá từ rất lâu đời ở nước ta. Đó là một ngày hội toàn quốc, toàn dân và trong tâm thức dân gian Việt Nam nó mang tính thiêng liêng nhất và cao cả nhất. Vì thế mà lễ hội này được tổ chức long trọng hàng năm với nghi thức đại lễ quốc gia, với sự hành hương “trở về cội nguồn dân tộc” của hàng chục hàng vạn người từ khắp các nơi trong nước và những kiều bào sống ở nước ngoài.. Hội đền Hùng kéo dài từ ngày mùng 8 đến ngày 11 tháng 3 âm lịch, trong đó ngày mùng 10 là ngày chính hội. Lễ hội được diễn ra tại đền Hùng, Phú Thọ.

Lễ Hội đền Hùng

Cũng như những lễ hội khác ở đồng bằng Bắc Bộ, ở lễ hội đền Hùng cũng gồm có 2 phần : Phần lễ và phần hội. Phần tế lễ được cử hành rất trọng thể và mang tính quốc lễ. Lễ vật dâng cúng là “lễ tam sinh" (có 1 lợn, 1 dê và 1 bò), bánh dày, bánh chưng và xôi nhiều màu, nhạc khí ở đây là trống đồng cổ. Sau khi 1 hồi trống đồng vang lên, các vị chức sắc vào tế lễ dưới sự điều khiển của vị chủ lễ. Tiếp theo đến các cụ bô lão của làng của xã sở tại quanh đền Hùng vào tế lễ. Sau cùng là nhân dân và những du khách hành hương vào tế lễ trong các đền thờ, tưởng niệm các vua Hùng. Rước kiệu ở lễ Hội đền Hùng Sau phần lễ sẽ là đến phần hội. Ở lễ hội đền Hùng năm nào cũng tổ chức cuộc thi kiệu của các làng xung quanh. Với sự xuất hiện của các đám rước linh đình mà không khí lễ hội trở nên tưng bừng và náo nhiệt hơn. Các cỗ kiệu của các làng phải tập trung trước vài ngày thì mới kịp cho cuộc thi. Nếu như cỗ kiệu nào đoạt được giải nhất của kỳ thi năm nay, thì đến kỳ hội sang năm được thay mặt các cỗ kiệu còn lại, rước lên đền Thượng để triều đình cử hành quốc lễ. Vì vậy, cỗ kiệu nào đoạt được giải nhất thì đó là niềm tự hào và vinh dự lớn lao của những người dân làng ấy. Bởi họ cho rằng, đã được các vua Hùng cùng với các vị thần linh phù hộ cho nhiều may mắn, nhân khang, vật thịnh... Tuy nhiên, để có được đám rước các cỗ kiệu đẹp lộng lẫy thì phải chuẩn bị rất công phu và chu đáo từ trước. Những khó khăn vất vả của dân làng đã thôi thúc họ vượt qua được để đến với cái linh thiêng cao thượng và hướng về Tổ tiên hướng về giống nòi. Đó chính là đời sống tâm linh của dân chúng, được biểu hiện rõ nét qua 1 hình thức sinh hoạt văn hóa và tín ngưỡng dân gian cổ truyền mang tính cộng cảm với cộng mệnh sâu sắc. Sinh hoạt văn hóa dân gian này đã thành nhu cầu không thể thiếu được đối với các cộng đồng, các làng xã cư trú ở quanh đền Hùng. Người dân tập trung rất đông tại lễ Hội đền Hùng Mỗi một đám rước kiệu sẽ có 3 cỗ kiệu đi liền nhau. Chúng đều được sơn son thiếp vàng và chạm trổ rất tinh xảo. Sự bày biện trang trí ở trên cỗ kiệu cũng rất khéo léo và đẹp mắt. Cỗ kiệu đi đầu sẽ bày hương hoa, đèn nhang, trầu cau, chóe nước và bầu rượu. Cỗ kiệu thứ 2 có đặt hương án, bài vị của Thánh, có lọng và quạt cho với nhiều sắc màu trang hoàng và tôn nghiêm. Cỗ kiệu thứ 3 rước bánh dày và bánh chưng và 1 cái thủ lợn luộc để nguyên, đi sau 3 cỗ kiệu này là các vị quan chức và các bô lão trong làng. Các vị chức sắc thì mặc áo thụng theo kiểu giống như các bá quan triều đình, còn các cụ bô lão cũng mặc áo thụng màu đỏ, hoặc mặc quần màu trắng, áo the và đầu đội khăn xếp. Trong lễ hội đền Hùng, nhân ngày giỗ Tổ có tiến hành nghi lễ hát thờ (tục gọi là hát Xoan). Đây là một lễ thức rất quan trọng và rất độc đáo. Dân gian truyền rằng hát Xoan xưa kia được gọi là hát Xuân và điệu múa hát Xoan có từ thời Hùng Vương và được lưu truyền rộng rãi trong dân cư của các làng các xã quanh vùng. Điệu múa hát Xoan này được rất nhiều người ưa thích, đặc biệt là bà Lan Xuân, vợ của vua Lý Thần Tông. Bà đã cảm nhận được âm hưởng dân ca đặc biệt và độc đáo của nó, nên bà đã cho sưu tầm và cải biên thành điệu hát thờ tại một số đền và một số đình làng thờ các vua Hùng. Các nữ quan bắt đầu vào buổi lễ dâng hương Tổ Mẫu Âu Cơ Mở đầu, ông trùm phường Xoan Kim Đức - phường nổi tiếng - cùng với chủ tế đứng trước hương án hát chúc bằng một bài khấn nguyện. Sau đó là một kép trẻ đeo trống nhỏ trước ngực ra làm trò giáo trống và giáo pháo. Tiếp theo, 4 cô đao ra hát thơ nhang và dâng hương bằng giọng hát lề lối. Rồi tiếp đến những bài ca ngợi thánh thần kết thúc phần nghi lễ của Xoan. Ở đền Hạ thì có hát ca trù (được gọi là hát nhà tơ, hát ả đào) Đây cũng là một loại hát thờ trước cửa đinh, mừng dâng thành trong dịp hội làng và do phường hát Do Nghĩa trình diễn. Ngoài sân đền Hạ, ở nơi thoáng đãng có đu tiên. Mỗi bàn đu sẽ có 2 cô tiên (là cô gái Mường trẻ mặc đẹp) ngồi. Đu quay được là do các cô luân phiên lấy chân đạp đất. Đu tiên là trò chơi đẹp mắt, nhịp nhàng của những người phụ nữ. Xung quanh khu vực dưới chân núi Hùng là các trò diễn và các trò chơi dân gian cổ truyền, diễn ra rất sôi động và được rất nhiều người tham dự như chơi đu, chơi ném côn, đầu vật, chọi gà,... Những trò đánh cờ người và tổ tôm điếm được các cụ cao niên rất tâm đắc. Còn các đám trai gái tụm năm, tụm ba trên các đồi đó trổ tài hát trống quân, hát ví hoặc hát đối đáp giao duyên…Tối đến thì có tổ chức hát chèo, hát tuồng ở các bãi rộng ngay cửa đền Hạ hoặc đền Giếng… Lễ hội Đền Hùng là một phong tục đẹp trong truyền thống của những người dân đất Việt. Và từ rất lâu đời trong tâm thức dân gian, vùng đất Tổ đã trở thành "Thánh địa linh thiêng” của cả nước, nơi phát nguyên nguồn gốc dân tộc. Trải qua bao thời đại lịch sử tuy có lúc thịnh, lúc suy nhưng lễ hội đền Hùng vẫn được tổ chức. Điều này đã thể hiện rõ bản lĩnh phi thường và nền văn hiến rực rỡ, đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam. Những người dân hành hương về đất Tổ không hề có sự phân biệt tôn giáo, chỉ cần là con người Việt Nam thì trong tâm khảm họ đều có quyền tự hào là con cháu muôn đời của vua Hùng. Bởi vậy, hễ ai là người Việt Nam nếu có sẵn tâm thành và lòng ham muốn hành hương về đất Tổ thì tự mình có thể thực hiện ước nguyện chính đáng đó một cách dễ dàng và thuận tiện. Hội đền Hùng hay còn gọi là giỗ tổ Hùng Vương là ngày hội quần tụ, ca ngợi sự hưng thịnh của nòi giống, là biểu tượng của tinh thần cộng đồng. Người đến hội mang theo lòng ngưỡng mộ sâu đậm về quê cha đất tổ, một tín ngưỡng đã ăn sâu vào tâm thức con người Việt Nam cho dù họ đang sinh sống ở bất cứ phương trời nào.

Related Figures

Hội chọi trâu Phù Ninh

Thông tin thời kỳ

Hội chọi trâu Phù Ninh được tổ chức ở tại huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. Tương truyền rằng khi các tướng của vua Hùng đi săn qua chợ Hàm Rồng, thấy có hai con hổ đang đánh nhau những người đi săn liền lấy giáo mác đâm chết hai con hổ rồi đem mổ thịt ăn ngay tại chỗ. Để tưởng nhớ tới những người đi săn thời các vua Hùng, mỗi năm vào 2 ngày chợ phiên (mùng 5 tháng 5 và mùng 10 tháng 10 âm lịch) là người dân trong xã và ở các làng lân cận lại đem các thứ hàng hóa, sản vật đến kẻ bán, người mua rất nhộn nhịp, nhưng không phải chỉ có họp chợ mà còn cả dự tế lễ và chọi trâu. Hội chọi trâu Phù Ninh Để chuẩn bị cho lễ chọi trâu 4 làng là: Cão, Ngọc Trù, Phú Mãn và Ngọc Khôi mỗi làng sẽ phải chọn mua 1 con trâu cà (trâu phải đen tuyền), khi mua thì phải xin âm dương, nếu thánh ứng mới mua. Trâu mua rồi mỗi làng phải cử người làm mo nuôi trâu để đến ngày chợ cho chúng chọi nhau và mổ thịt để tế thần. Đến ngày chợ phiên dân làng tắm rửa cho con trâu thật sạch sẽ, trước khi bước vào trận đấu người ta cho trâu uống nửa lít rượu. Phiên chợ ngày mùng 5 tháng 5 cho chọi cả 4 con trâu, 2 cặp trâu chọi con nào thua thì bị mổ thịt, còn 2 con thắng cuộc sẽ được giữ lại cho chọi trận chung kết vào phiên chợ ngày mùng 10 tháng 10. Khi mổ trâu để làm lễ tế thần, người dân phải chuẩn bị những thứ để đựng thịt trâu (không được bầy vào bát đĩa), đó là những cái rế được tết bằng dây thừng, đan dầy và nông, ở trên lòng rế có lót lá chuối. Thịt được bày vào những cái rế ấy và đem đặt lên một mô đất vuông bằng phẳng ở ngay giữa chợ để làm lễ cúng thần, trên cái nền này có bày hương án. Khi cúng lễ xong mọi người tập trung ăn uống ngay ở ngay tại chợ. Trên đường vào xới chọi Lễ hội chọi trâu ở xã phù Ninh là một trong những lễ hội cổ xưa nhất mang đậm nét văn hóa dân gian của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước với tín ngưỡng gắn biểu tượng con trâu và tục sát sinh vật thiêng để hiến tế thần linh cầu cho “mưa thuận, gió hòa”, cây cối tốt tươi và mùa màng bội thu. Lễ hội chọi trâu Phù Ninh rất đông khán giả Theo baophutho

Hội chọi trâu Phù Ninh được tổ chức ở tại huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. Tương truyền rằng khi các tướng của vua Hùng đi săn qua chợ Hàm Rồng, thấy có hai con hổ đang đánh nhau những người đi săn liền lấy giáo mác đâm chết hai con hổ rồi đem mổ thịt ăn ngay tại chỗ. Để tưởng nhớ tới những người đi săn thời các vua Hùng, mỗi năm vào 2 ngày chợ phiên (mùng 5 tháng 5 và mùng 10 tháng 10 âm lịch) là người dân trong xã và ở các làng lân cận lại đem các thứ hàng hóa, sản vật đến kẻ bán, người mua rất nhộn nhịp, nhưng không phải chỉ có họp chợ mà còn cả dự tế lễ và chọi trâu.

Hội chọi trâu Phù Ninh

Để chuẩn bị cho lễ chọi trâu 4 làng là: Cão, Ngọc Trù, Phú Mãn và Ngọc Khôi mỗi làng sẽ phải chọn mua 1 con trâu cà (trâu phải đen tuyền), khi mua thì phải xin âm dương, nếu thánh ứng mới mua. Trâu mua rồi mỗi làng phải cử người làm mo nuôi trâu để đến ngày chợ cho chúng chọi nhau và mổ thịt để tế thần. Đến ngày chợ phiên dân làng tắm rửa cho con trâu thật sạch sẽ, trước khi bước vào trận đấu người ta cho trâu uống nửa lít rượu. Phiên chợ ngày mùng 5 tháng 5 cho chọi cả 4 con trâu, 2 cặp trâu chọi con nào thua thì bị mổ thịt, còn 2 con thắng cuộc sẽ được giữ lại cho chọi trận chung kết vào phiên chợ ngày mùng 10 tháng 10. Khi mổ trâu để làm lễ tế thần, người dân phải chuẩn bị những thứ để đựng thịt trâu (không được bầy vào bát đĩa), đó là những cái rế được tết bằng dây thừng, đan dầy và nông, ở trên lòng rế có lót lá chuối. Thịt được bày vào những cái rế ấy và đem đặt lên một mô đất vuông bằng phẳng ở ngay giữa chợ để làm lễ cúng thần, trên cái nền này có bày hương án. Khi cúng lễ xong mọi người tập trung ăn uống ngay ở ngay tại chợ. Trên đường vào xới chọi Lễ hội chọi trâu ở xã phù Ninh là một trong những lễ hội cổ xưa nhất mang đậm nét văn hóa dân gian của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước với tín ngưỡng gắn biểu tượng con trâu và tục sát sinh vật thiêng để hiến tế thần linh cầu cho “mưa thuận, gió hòa”, cây cối tốt tươi và mùa màng bội thu. Lễ hội chọi trâu Phù Ninh rất đông khán giả Theo baophutho

Related Figures

Lễ hội Đình Thạch Khoán

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 24/1- 25/1 Âm lịch (lehoi.info)- Định cư trên khắp các vùng miền đất cổ Thanh Sơn từ rất sớm, nhưng cộng đồng người dân tộc Mường chỉ để lại duy nhất ở xã Thạch Khoán một ngôi đình cổ với kiến trúc độc đáo, kết hợp hài hòa giữa hai nền văn hóa Kinh-Mường. Ngôi đình cổ đó chính là đình Thạch Khoán. Lễ hội Đình Thạch Khoán là lễ hội của những người dân tộc Mường ở huyện miền núi Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Lễ hội gắn với ngôi đình cổ duy nhất của người dân tộc Mường ở trên đất Phú Thọ nơi thờ thờ đức thánh Tản Viên Sơn thời Hùng Vương, 3 vị công chúa con gái của Vua Hùng và 4 vị thổ tù họ Đinh người dân tộc Mường xã Thạch Khoán - người đã có công giúp vua Lê Thái Tổ đánh đuổi giặc Minh vào thế kỷ 15. Lễ hội đình được tổ chức vào ngày 24 và ngày 25 tháng Giêng. Lễ hội Đình Thạch Khoán Trước ngày lễ hội ban tổ chức chọn ra 22 người già phúc hậu, con cháu thảo hiền và gia đình đoàn kết để xếp vào hàng các quan viên cúng tế. Việc viết văn tế là một công việc rất quan trọng. Nội dung văn tế là cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, mọi người luôn hạnh phúc. Tế xong đem hóa bài văn tế và năm sau viết lại. Trong ngày hội mở diễn ra nhiều những trò chơi dân gian đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Trong đó, trò chơi ném còn (ném dúm) thu hút được đông đảo người dân tham gia, là dịp để mở rộng giao lưu, giao duyên và kết bạn. Nghi thức tế lễ truyền thống đình Thạch Khoán Đã trở thành một truyền thống đẹp, nhiều người đi làm ăn xa những năm nào cũng tranh thủ về để dự hội đình. Người thuộc các dân tộc khác ở trong huyện, trong tỉnh cũng tới để giao lưu văn hóa, thắt chặt mối đoàn kết giữa các dân tộc anh em cùng chung sống trên vùng đất quê hương Phú Thọ. Nghi thức rước kiệu, tế lễ truyền thống tại đình Thạch Khoán

(lehoi.info)- Định cư trên khắp các vùng miền đất cổ Thanh Sơn từ rất sớm, nhưng cộng đồng người dân tộc Mường chỉ để lại duy nhất ở xã Thạch Khoán một ngôi đình cổ với kiến trúc độc đáo, kết hợp hài hòa giữa hai nền văn hóa Kinh-Mường. Ngôi đình cổ đó chính là đình Thạch Khoán.

Lễ hội Đình Thạch Khoán là lễ hội của những người dân tộc Mường ở huyện miền núi Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Lễ hội gắn với ngôi đình cổ duy nhất của người dân tộc Mường ở trên đất Phú Thọ nơi thờ thờ đức thánh Tản Viên Sơn thời Hùng Vương, 3 vị công chúa con gái của Vua Hùng và 4 vị thổ tù họ Đinh người dân tộc Mường xã Thạch Khoán - người đã có công giúp vua Lê Thái Tổ đánh đuổi giặc Minh vào thế kỷ 15. Lễ hội đình được tổ chức vào ngày 24 và ngày 25 tháng Giêng.

Lễ hội Đình Thạch Khoán

Trước ngày lễ hội ban tổ chức chọn ra 22 người già phúc hậu, con cháu thảo hiền và gia đình đoàn kết để xếp vào hàng các quan viên cúng tế. Việc viết văn tế là một công việc rất quan trọng. Nội dung văn tế là cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, mọi người luôn hạnh phúc. Tế xong đem hóa bài văn tế và năm sau viết lại. Trong ngày hội mở diễn ra nhiều những trò chơi dân gian đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Trong đó, trò chơi ném còn (ném dúm) thu hút được đông đảo người dân tham gia, là dịp để mở rộng giao lưu, giao duyên và kết bạn. Nghi thức tế lễ truyền thống đình Thạch Khoán Đã trở thành một truyền thống đẹp, nhiều người đi làm ăn xa những năm nào cũng tranh thủ về để dự hội đình. Người thuộc các dân tộc khác ở trong huyện, trong tỉnh cũng tới để giao lưu văn hóa, thắt chặt mối đoàn kết giữa các dân tộc anh em cùng chung sống trên vùng đất quê hương Phú Thọ. Nghi thức rước kiệu, tế lễ truyền thống tại đình Thạch Khoán

Related Figures

Hội Trò Trám

Thông tin thời kỳ

(lehoi.info)- Hội Trám có lẽ là một lễ hội duy nhất mang đậm màu sắc phồn thực và đề cao tính dục của những người dân vùng đồng bằng Bắc bộ, là nơi vốn mang đậm tín ngưỡng của nền văn hóa lúa nước, với những lễ đầu xuân cầu cho mùa màng tươi tốt, mưa thuận gió hòa…Hội Trám được người dân ở xã Tứ Xã, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ bảo tồn từ bao đời nay với đặc trưng riêng của mình. Trước kia, hội Trám hay trò Trám đã có lúc bị gián đoạn vì chiến tranh nhưng đến năm 1993 hội Trám đã được phục dựng lại. Miếu Trò – Nơi diễn ra lễ hội Trò Trám Mở đầu lễ hội là lễ mật, còn được gọi là lễ “linh tinh tình phộc”. Sau lễ tế (thường được bắt đầu vào lúc 23 giờ kém ngày 11 tháng giêng) do 13 bô lão ở trong làng thực hiện, đúng giờ Tý (0h) cụ từ miếu Trò thắp hương và rước nõ, rước nường - 2 vật biểu thị cho 2 giới tính nữ và nam (được làm bằng gỗ mít và sơn son đỏ) thờ trên ban Thượng miếu Trò xuống và trao cho 1 đôi nam nữ đã được chọn từ trước. Linh tinh tình phộc – thời điểm quan trọng nhất của lễ hội Trò Trám Nam thì đóng khố, cởi trần, đầu chít khăn đỏ và cầm nõ; còn nữ thì mặc yếm, váy ngắn thâm, đầu vấn khăn và cầm nường. Sau khi làm lễ khấn thần miếu xong, cụ từ xin âm dương rồi hô khẩu lệnh: Linh tinh tình phộc! (hô 3 lần). Lúc này, tất cả đèn, nến ở trong và ngoài miếu đều phải tắt hết. Sau mỗi một câu khẩu lệnh: “Linh tinh tình phộc”, đôi nam nữ cầm “nõ, nường” làm các thao tác hoạt động tính giao. Mỗi lần 2 vật âm dương chạm vào nhau, chiêng trống lại nổi lên, dân làng đứng xung quanh miếu lại reo hò vui vẻ - không khí tĩnh mịch giữa đêm khuya được sống dậy tưng bừng. Sau lễ “Linh tinh tình phộc”, còn có trò “Rước lúa thần” được tổ chức hết sức long trọng vào sáng ngày 12 tháng giêng. Lúa thần là những bông lúa thật to và thật mẩy, lá lúa thì được tượng trưng bằng lá mía được đặt trên hương án kiệu, giữa có cắm một gióng mía to, đã róc vỏ. Trò “Rước lúa”, ngoài mục đích cầu mong cho mùa màng tươi tốt còn là sự ngợi ca lòng biết ơn của dân làng đối với các vị vua Hùng - những người đã truyền dạy cho người dân nghề trồng lúa nước. Hội trình nghề "tứ dân chi nghiệp" Phần sau cùng của Trò Trám đó là hội trình nghề “tứ dân chi nghiệp” (sĩ, nông, công, thương) hay còn được gọi là trò “Bách nghệ khôi hài”. Nói là “tứ dân” nhưng thực ra thì có rất nhiều nghề. Họ diễn trò ở tại sân miếu rồi kéo ra các đường làng. Ở Trò Trám không có những trò đề cao tài trí và đề cao tinh thần thượng võ... mà chỉ có những trò (và những lời ca) vui nhộn và thậm chí rất tục, mang tính hài hước, mua vui, nhưng rất gần gũi với sinh hoạt đời thường (bởi vậy những trò này còn được gọi là trò “nhây nhả”). Truyền thuyết cho rằng “tứ dân chi nghiệp” đã xuất hiện từ lâu nhằm tiến cúng tổ Hùng Vương và thần Tản Viên đã có công lao dạy cho người dân Lạc Việt các nghề nông và thủ công từ thuở dựng nước. Để tỏ lòng biết ơn, hằng năm, người dân mở hội trình với thần linh các nghề nghiệp của làng, cầu mong được phù hộ. Dần dần, có sự phân biệt giữa các giới và các ngành; trò trình 4 nghề nghiệp chính: Sĩ, nông, công, thương. Trong ngày hội “bách nghệ khôi hài”, các nhân vật công diễn các vai thợ cấy, thợ cày, thợ gặt, thợ mạ, thợ mộc, người chăn tằm, người dệt vải, thầy thuốc, thầy đồ, thầy cúng, người đi buôn, đi câu, đi bắt cá,… với những động tác và ngôn ngữ gây cười cho dân làng. “Bách nghệ khôi hài” là một ngày hội tự do, chỉ tuân thủ các nghi thức cần thiết khi hành lễ, còn các trò chơi đều do quần chúng tham gia tự phát. Do đó, nó có những màn hoạt cảnh, mang nhiều các yếu tố của sân khấu dân gian. Bổ sung cho các động tác là những lời ca, những lời ca ngoa dụ, phong phú, đầy ẩn ý, vừa được nâng cao về mặt nghệ thuật, lại vừa giữ tính chất hài hước; luôn gợi mở sự liên tưởng, tục nhưng thanh… Diễn xướng trong lễ hội Trò Trám Trước kia do định kiến cho rằng màn “linh tinh tình phộc” tục tĩu nên suốt 1 thời gian dài mấy chục năm sau cách mạng tháng 8 nó đã bị cấm cửa, không được diễn mặc cho mỗi độ tiết mưa phùn đầu xuân, dân Tứ Xã lại tha thiết nhớ về hội vui thủa nào. Đến năm 2001, khi miếu Trò được xây dựng lại, thì những người xóm Trám thật vô cùng hãnh diện. Miếu Trò, nơi diễn ra trò Trò, từ đó hằng năm đã trở thành trung tâm lễ hội của người Tứ Xã, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ; trở thành một nét đẹp riêng có của lễ hội vùng đất Tổ. lehoi.info tổng hợp

(lehoi.info)- Hội Trám có lẽ là một lễ hội duy nhất mang đậm màu sắc phồn thực và đề cao tính dục của những người dân vùng đồng bằng Bắc bộ, là nơi vốn mang đậm tín ngưỡng của nền văn hóa lúa nước, với những lễ đầu xuân cầu cho mùa màng tươi tốt, mưa thuận gió hòa…Hội Trám được người dân ở xã Tứ Xã, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ bảo tồn từ bao đời nay với đặc trưng riêng của mình. Trước kia, hội Trám hay trò Trám đã có lúc bị gián đoạn vì chiến tranh nhưng đến năm 1993 hội Trám đã được phục dựng lại.

Miếu Trò – Nơi diễn ra lễ hội Trò Trám

Mở đầu lễ hội là lễ mật, còn được gọi là lễ “linh tinh tình phộc”. Sau lễ tế (thường được bắt đầu vào lúc 23 giờ kém ngày 11 tháng giêng) do 13 bô lão ở trong làng thực hiện, đúng giờ Tý (0h) cụ từ miếu Trò thắp hương và rước nõ, rước nường - 2 vật biểu thị cho 2 giới tính nữ và nam (được làm bằng gỗ mít và sơn son đỏ) thờ trên ban Thượng miếu Trò xuống và trao cho 1 đôi nam nữ đã được chọn từ trước. Linh tinh tình phộc – thời điểm quan trọng nhất của lễ hội Trò Trám Nam thì đóng khố, cởi trần, đầu chít khăn đỏ và cầm nõ; còn nữ thì mặc yếm, váy ngắn thâm, đầu vấn khăn và cầm nường. Sau khi làm lễ khấn thần miếu xong, cụ từ xin âm dương rồi hô khẩu lệnh: Linh tinh tình phộc! (hô 3 lần). Lúc này, tất cả đèn, nến ở trong và ngoài miếu đều phải tắt hết. Sau mỗi một câu khẩu lệnh: “Linh tinh tình phộc”, đôi nam nữ cầm “nõ, nường” làm các thao tác hoạt động tính giao. Mỗi lần 2 vật âm dương chạm vào nhau, chiêng trống lại nổi lên, dân làng đứng xung quanh miếu lại reo hò vui vẻ - không khí tĩnh mịch giữa đêm khuya được sống dậy tưng bừng. Sau lễ “Linh tinh tình phộc”, còn có trò “Rước lúa thần” được tổ chức hết sức long trọng vào sáng ngày 12 tháng giêng. Lúa thần là những bông lúa thật to và thật mẩy, lá lúa thì được tượng trưng bằng lá mía được đặt trên hương án kiệu, giữa có cắm một gióng mía to, đã róc vỏ. Trò “Rước lúa”, ngoài mục đích cầu mong cho mùa màng tươi tốt còn là sự ngợi ca lòng biết ơn của dân làng đối với các vị vua Hùng - những người đã truyền dạy cho người dân nghề trồng lúa nước. Hội trình nghề "tứ dân chi nghiệp" Phần sau cùng của Trò Trám đó là hội trình nghề “tứ dân chi nghiệp” (sĩ, nông, công, thương) hay còn được gọi là trò “Bách nghệ khôi hài”. Nói là “tứ dân” nhưng thực ra thì có rất nhiều nghề. Họ diễn trò ở tại sân miếu rồi kéo ra các đường làng. Ở Trò Trám không có những trò đề cao tài trí và đề cao tinh thần thượng võ... mà chỉ có những trò (và những lời ca) vui nhộn và thậm chí rất tục, mang tính hài hước, mua vui, nhưng rất gần gũi với sinh hoạt đời thường (bởi vậy những trò này còn được gọi là trò “nhây nhả”). Truyền thuyết cho rằng “tứ dân chi nghiệp” đã xuất hiện từ lâu nhằm tiến cúng tổ Hùng Vương và thần Tản Viên đã có công lao dạy cho người dân Lạc Việt các nghề nông và thủ công từ thuở dựng nước. Để tỏ lòng biết ơn, hằng năm, người dân mở hội trình với thần linh các nghề nghiệp của làng, cầu mong được phù hộ. Dần dần, có sự phân biệt giữa các giới và các ngành; trò trình 4 nghề nghiệp chính: Sĩ, nông, công, thương. Trong ngày hội “bách nghệ khôi hài”, các nhân vật công diễn các vai thợ cấy, thợ cày, thợ gặt, thợ mạ, thợ mộc, người chăn tằm, người dệt vải, thầy thuốc, thầy đồ, thầy cúng, người đi buôn, đi câu, đi bắt cá,… với những động tác và ngôn ngữ gây cười cho dân làng. “Bách nghệ khôi hài” là một ngày hội tự do, chỉ tuân thủ các nghi thức cần thiết khi hành lễ, còn các trò chơi đều do quần chúng tham gia tự phát. Do đó, nó có những màn hoạt cảnh, mang nhiều các yếu tố của sân khấu dân gian. Bổ sung cho các động tác là những lời ca, những lời ca ngoa dụ, phong phú, đầy ẩn ý, vừa được nâng cao về mặt nghệ thuật, lại vừa giữ tính chất hài hước; luôn gợi mở sự liên tưởng, tục nhưng thanh… Diễn xướng trong lễ hội Trò Trám Trước kia do định kiến cho rằng màn “linh tinh tình phộc” tục tĩu nên suốt 1 thời gian dài mấy chục năm sau cách mạng tháng 8 nó đã bị cấm cửa, không được diễn mặc cho mỗi độ tiết mưa phùn đầu xuân, dân Tứ Xã lại tha thiết nhớ về hội vui thủa nào. Đến năm 2001, khi miếu Trò được xây dựng lại, thì những người xóm Trám thật vô cùng hãnh diện. Miếu Trò, nơi diễn ra trò Trò, từ đó hằng năm đã trở thành trung tâm lễ hội của người Tứ Xã, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ; trở thành một nét đẹp riêng có của lễ hội vùng đất Tổ. lehoi.info tổng hợp

Related Figures

Hội Phết Hiền Quan

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 12/1- 13/1 Âm lịch (lehoi.info)- Hội Phết Hiền Quan là một lễ hội dân gian được tổ chức vào ngày 12 và ngày 13 tháng Giêng âm lịch, tại xã Hiền Quan, Tam Nông, Phú Thọ, Lễ hội này được tổ chức để tưởng nhớ và tôn vinh công lao của nữ tướng Thiều Hoa công chúa - Đức Thánh Mẫu Đại Vương, người đã giúp Hai Bà Trưng đánh giặc cứu nước.. Hội Phết Hiền Quan Tương truyền vào năm 16 tuổi Thiều Hoa đến tu tại chùa Phúc Thánh- Hiền Quan. Nghe tin Trưng Trắc dấy binh khởi nghĩa, Thiều hoa đã tập hợp được đội quân 500 người, hàng ngày luyện tập võ nghệ, chơi trò đánh phết, phóng lao, rồi về Hát Môn tụ nghĩa. đứng dưới cờ của Hai Bà Trưng và được Trưng Trắc phong làm “Đông cung tướng quân” lĩnh ấn tiên phong về Luy Lâu đánh Tô Định. Bình xong giặc, vua Trưng phong thưởng các tướng, Thiều Hoa không nhận quân chức ở triều và xin được về bản xã. Trưng Vương đã ban cho xã Song Quan (Hiền Quan ngày nay) làm thực ấp. Một năm sau thì Thiều Hoa mất, nhân dân đã lập miếu thờ và Trưng Vương ban cho sắc phong là “Phụ quốc công chúa”. Ngày 12 và ngày 13 tháng giêng, nhân dân trong vùng lại tổ chức Hội Phết để tưởng nhớ tới công đức của bà. Hình ảnh chuẩn bị cho lễ hội cướp Phết Lễ Hội phết Hiền Quan gồm có 4 phần đó là: Rước kiệu, tế lễ, kéo quân và đánh Phết. Lễ rước kiệu được tiến hành từ buổi chiều ngày 12 tháng giêng. Trên kiệu là các sắc phong, bài vị, quả Phết và quả Chúi được cất giữ trong cung cấm của Đình làng từ ngày mùng 10 tháng 10 âm lịch. Kiệu được khiêng từ Đình ra Đền do các binh sĩ mình mặc áo giáp hộ tống. Sau lễ rước kiệu là đến phần tế lễ. Tham gia tế lễ là một ông Tiên Chỉ và các bậc trưởng lão ở trong làng. Người đọc văn tế là ông bàn thượng, nội dung các bản văn tế được viết trong các sắc phong. Lễ “Khẩn tấu” do ông Tiên Chỉ đọc mong cuộc sống an bình cho tất cả mọi người sau đó là lễ dâng xôi, dâng gà và dâng bánh chưng, bánh dày lên các bậc Thánh hiền. Sau 3 tuần rượu tế là đến lễ kéo quân. Trước lễ kéo quân, đoàn binh sĩ cùng chầu trước cửa Đền để nghe chỉ dụ sau đó làm chia 2 ngả miệng hô vang cả 1 góc trời. Lễ kéo quân được chia làm 2 đoàn, mỗi đoàn có từ 100 người đến 200 người tham gia. Đi đầu mỗi đoàn là một ông trưởng lão râu tóc bạc phơ, mình quấn khố vàng và đầu chít khăn đỏ tay cầm cờ nheo miệng hô vang, biểu thị sự oai phong của đoàn quân, tiếp đó là đội trống cái, đội trống con gõ theo nhịp phách. Đoàn binh sĩ nam có, nữ có mình mặc áo giáp vàng, đầu đội nón lá và chân quấn xà cạp đeo dày mũi hài tay cầm long đao cờ xuý. Khi đoàn quân gặp nhau thì các binh sĩ tha hồ tranh cướp cờ, tranh cướp long đao. Đoàn nào cướp được nhiều thì coi như đoàn đó thắng rồi lại trở về chầu ở trước sân đền để nhận chỉ. Cứ như vậy, lễ kéo quân được diễn đi diễn lại 3 vòng rồi lại tề tựu giữa sân Đền cùng hò reo vui mừng chiến thắng. Khi lễ kéo quân kết thúc thì cũng là lúc bắt đầu lễ ném Phết. 6 quả Phết được bày tại đền thờ Thiều Hoa Công Chúa Lễ ném Phết hay còn được gọi là hò Phết diễn ra ở tại một địa điểm đã được quy định trước. Trong lúc 2 đoàn làm lễ kéo quân thì ở tại đền thờ vẫn diễn ra các tuần cúng bái. Các lão bàn thượng khẩn dụ khi nào đủ 3 tuần rượu thì cũng là lúc 2 cánh quân kéo về tới sân Đền. Không gian lễ hội sôi động và huyên náo hẳn lên. Ông Tiên Chỉ “con cả vua” thay mặt cho muôn dân đọc bài hò Phết sau đó ra bãi ném Phết cho muôn dân tranh cướp. Mỗi Hội Phết thường chỉ ném 3 quả Chúi và 6 quả Phết. Tục truyền rằng, nếu chẳng may ai đó bị quả Phết hay quả Chúi rơi vào đầu thì chỉ cần đưa vào cung cấm của Đền để cầu cúng là tai qua nạn khỏi, còn ai đó mà may mắn cướp được quả Phết, quả Chúi thì năm đó họ và gia đình cùng thôn xóm gặp được nhiều may mắn. Chính bởi điều thần bí này mà mỗi khi ông Tiên Chỉ mang quả Phết và quả Chúi ra là có hàng trăm, hàng ngàn người xô vào tranh cướp, đến lúc quả phết được một ai đó cướp được chạy ra khỏi bãi ném Phết mà không có một ai đuổi theo thì Quả Phết tiếp theo sẽ lại được ném ra. Nói về quả Phết và quả Chúi: Quả Phết và quả Chúi thường được làm bằng gốc tre già hoặc gỗ thành ngạnh khô. Quả Chúi nhỏ hơn, đường kính từ 4cm đến 5cm, quả Phết có đường kính từ 6cm đến 7cm. Hàng năm để chuẩn bị cho Hội Phết, Ban bàn thượng phân công cho 1 xóm phải lo đủ 3 quả Chúi và 6 quả Phết. Quả Phết, quả Chúi được đẽo tròn và sơn son thiếp vàng chờ đến ngày mồng 10 tháng 10 âm lịch thắp hương tại bàn thờ tổ tiên sau đó đem ra Đình giao cho làng. Ban bàn thượng làm lễ cúng tế sau đó cất giữ ở tại Hậu cung Đình làng chờ đến ngày 11 tháng giêng thì rước ra Đền để cầu cúng rồi giao cho ông Tiên Chỉ ( là người được tôn là con trưởng bà Thiệu Hoa) Cảnh thanh niên trong làng đua nhau cướp Phết Ngoài phần cướp Phết, lễ hội còn tổ chức các cuộc thi dân gian như làm bánh dầy, nấu cơm, nhưng phần cướp phết là phần vui và cũng quyết liệt nhất Việc tổ chức lễ hội Phết Hiền Quan hàng năm là để nhân dân ôn lại truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc và thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của các dân tộc Việt Nam.

(lehoi.info)- Hội Phết Hiền Quan là một lễ hội dân gian được tổ chức vào ngày 12 và ngày 13 tháng Giêng âm lịch, tại xã Hiền Quan, Tam Nông, Phú Thọ,

Lễ hội này được tổ chức để tưởng nhớ và tôn vinh công lao của nữ tướng Thiều Hoa công chúa - Đức Thánh Mẫu Đại Vương, người đã giúp Hai Bà Trưng đánh giặc cứu nước..

Hội Phết Hiền Quan

Tương truyền vào năm 16 tuổi Thiều Hoa đến tu tại chùa Phúc Thánh- Hiền Quan. Nghe tin Trưng Trắc dấy binh khởi nghĩa, Thiều hoa đã tập hợp được đội quân 500 người, hàng ngày luyện tập võ nghệ, chơi trò đánh phết, phóng lao, rồi về Hát Môn tụ nghĩa. đứng dưới cờ của Hai Bà Trưng và được Trưng Trắc phong làm “Đông cung tướng quân” lĩnh ấn tiên phong về Luy Lâu đánh Tô Định. Bình xong giặc, vua Trưng phong thưởng các tướng, Thiều Hoa không nhận quân chức ở triều và xin được về bản xã. Trưng Vương đã ban cho xã Song Quan (Hiền Quan ngày nay) làm thực ấp. Một năm sau thì Thiều Hoa mất, nhân dân đã lập miếu thờ và Trưng Vương ban cho sắc phong là “Phụ quốc công chúa”. Ngày 12 và ngày 13 tháng giêng, nhân dân trong vùng lại tổ chức Hội Phết để tưởng nhớ tới công đức của bà. Hình ảnh chuẩn bị cho lễ hội cướp Phết Lễ Hội phết Hiền Quan gồm có 4 phần đó là: Rước kiệu, tế lễ, kéo quân và đánh Phết. Lễ rước kiệu được tiến hành từ buổi chiều ngày 12 tháng giêng. Trên kiệu là các sắc phong, bài vị, quả Phết và quả Chúi được cất giữ trong cung cấm của Đình làng từ ngày mùng 10 tháng 10 âm lịch. Kiệu được khiêng từ Đình ra Đền do các binh sĩ mình mặc áo giáp hộ tống. Sau lễ rước kiệu là đến phần tế lễ. Tham gia tế lễ là một ông Tiên Chỉ và các bậc trưởng lão ở trong làng. Người đọc văn tế là ông bàn thượng, nội dung các bản văn tế được viết trong các sắc phong. Lễ “Khẩn tấu” do ông Tiên Chỉ đọc mong cuộc sống an bình cho tất cả mọi người sau đó là lễ dâng xôi, dâng gà và dâng bánh chưng, bánh dày lên các bậc Thánh hiền. Sau 3 tuần rượu tế là đến lễ kéo quân. Trước lễ kéo quân, đoàn binh sĩ cùng chầu trước cửa Đền để nghe chỉ dụ sau đó làm chia 2 ngả miệng hô vang cả 1 góc trời. Lễ kéo quân được chia làm 2 đoàn, mỗi đoàn có từ 100 người đến 200 người tham gia. Đi đầu mỗi đoàn là một ông trưởng lão râu tóc bạc phơ, mình quấn khố vàng và đầu chít khăn đỏ tay cầm cờ nheo miệng hô vang, biểu thị sự oai phong của đoàn quân, tiếp đó là đội trống cái, đội trống con gõ theo nhịp phách. Đoàn binh sĩ nam có, nữ có mình mặc áo giáp vàng, đầu đội nón lá và chân quấn xà cạp đeo dày mũi hài tay cầm long đao cờ xuý. Khi đoàn quân gặp nhau thì các binh sĩ tha hồ tranh cướp cờ, tranh cướp long đao. Đoàn nào cướp được nhiều thì coi như đoàn đó thắng rồi lại trở về chầu ở trước sân đền để nhận chỉ. Cứ như vậy, lễ kéo quân được diễn đi diễn lại 3 vòng rồi lại tề tựu giữa sân Đền cùng hò reo vui mừng chiến thắng. Khi lễ kéo quân kết thúc thì cũng là lúc bắt đầu lễ ném Phết. 6 quả Phết được bày tại đền thờ Thiều Hoa Công Chúa Lễ ném Phết hay còn được gọi là hò Phết diễn ra ở tại một địa điểm đã được quy định trước. Trong lúc 2 đoàn làm lễ kéo quân thì ở tại đền thờ vẫn diễn ra các tuần cúng bái. Các lão bàn thượng khẩn dụ khi nào đủ 3 tuần rượu thì cũng là lúc 2 cánh quân kéo về tới sân Đền. Không gian lễ hội sôi động và huyên náo hẳn lên. Ông Tiên Chỉ “con cả vua” thay mặt cho muôn dân đọc bài hò Phết sau đó ra bãi ném Phết cho muôn dân tranh cướp. Mỗi Hội Phết thường chỉ ném 3 quả Chúi và 6 quả Phết. Tục truyền rằng, nếu chẳng may ai đó bị quả Phết hay quả Chúi rơi vào đầu thì chỉ cần đưa vào cung cấm của Đền để cầu cúng là tai qua nạn khỏi, còn ai đó mà may mắn cướp được quả Phết, quả Chúi thì năm đó họ và gia đình cùng thôn xóm gặp được nhiều may mắn. Chính bởi điều thần bí này mà mỗi khi ông Tiên Chỉ mang quả Phết và quả Chúi ra là có hàng trăm, hàng ngàn người xô vào tranh cướp, đến lúc quả phết được một ai đó cướp được chạy ra khỏi bãi ném Phết mà không có một ai đuổi theo thì Quả Phết tiếp theo sẽ lại được ném ra. Nói về quả Phết và quả Chúi: Quả Phết và quả Chúi thường được làm bằng gốc tre già hoặc gỗ thành ngạnh khô. Quả Chúi nhỏ hơn, đường kính từ 4cm đến 5cm, quả Phết có đường kính từ 6cm đến 7cm. Hàng năm để chuẩn bị cho Hội Phết, Ban bàn thượng phân công cho 1 xóm phải lo đủ 3 quả Chúi và 6 quả Phết. Quả Phết, quả Chúi được đẽo tròn và sơn son thiếp vàng chờ đến ngày mồng 10 tháng 10 âm lịch thắp hương tại bàn thờ tổ tiên sau đó đem ra Đình giao cho làng. Ban bàn thượng làm lễ cúng tế sau đó cất giữ ở tại Hậu cung Đình làng chờ đến ngày 11 tháng giêng thì rước ra Đền để cầu cúng rồi giao cho ông Tiên Chỉ ( là người được tôn là con trưởng bà Thiệu Hoa) Cảnh thanh niên trong làng đua nhau cướp Phết Ngoài phần cướp Phết, lễ hội còn tổ chức các cuộc thi dân gian như làm bánh dầy, nấu cơm, nhưng phần cướp phết là phần vui và cũng quyết liệt nhất Việc tổ chức lễ hội Phết Hiền Quan hàng năm là để nhân dân ôn lại truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc và thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của các dân tộc Việt Nam.

Related Figures

Hội làng Dị Nậu

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 4/1- 6/1 Âm lịch (lehoi.info) -Dị Nậu là một xã nằm ở phía Đông Nam của huyện Tam Nông. Mảnh đất rộng 13,6km2 này giáp ranh với thị trấn Hưng Hoá của huyện Tam Nông, với xã Đào Xá của huyện Thanh Thuỷ. Hưng Hoá và Đào Xá đều là vùng đất có nhiều di sản văn hoá dân gian đặc sắc, nhưng Dị Nậu với những giá trị văn hoá truyền thống riêng mình vẫn đem lại được sự thú vị đến bất ngờ cho tất cả những ai đến mảnh đất đó. Hội làng Dị Nậu được tổ chức từ ngày mùng 4 tháng 1 đến ngày mùng 6 tháng 1 Âm lịch tại xã Dị Nậu có tên tục là Kẻ Núc, thuộc huyện Tam Thanh, tỉnh Phú Thọ, ngày nay là xã Dị Nậu, Tam Nông, Phú Thọ. Hội tổ chức nhằm suy tôn Tản Viên, Cao Sơn và Quí Minh. Hội làng Dị Nậu Trong phần lễ hội có trò đánh quân đấu gậy tượng trưng chia thành 2 cánh quân làng Trong và làng Ngoài chỉ giả vờ đánh nhau và không gây xô xát. Bên cạnh đó cũng có diễn các trò trình nghề gồm có các vai: giáo đầu, bừa, cày, cô thợ gặt, thợ cấy,....và trong lễ hội này còn có tục cướp kén mang tính chất phồn thực. Trước ngày vào tiệc, làng cho chôn 2 cây tre ở 2 bên sân đình. Trên mỗi cây tre treo 30 bộ kén, mỗi bộ kén gồm có 1 chiếc mo cau rạch thủng ở giữa và xỏ vào đó một chày ngấn bằng gỗ vuông, tước xơ 1 đầu. Sáng sớm, cụ Từ ra mở cửa đình và thắp hương cáo thánh để các giáp mang cỗ tế ra đình. Một nghi thức trong hội làng Dị Nậu Đến giờ Ngọ khoảng 12 giờ trưa khi mọi người đã đông đủ và lễ tế đã xong, ông chủ tế đọc to về sự tích thần thánh và lời giáo đầu của tục lễ. Sau hồi chiêng trống, mọi người ùa vào chen lấn nhau cướp kén, để cầu mong cho một năm an khang thịnh vượng./. Những trò chơi tại đình làng Dị Nậu

(lehoi.info) -Dị Nậu là một xã nằm ở phía Đông Nam của huyện Tam Nông. Mảnh đất rộng 13,6km2 này giáp ranh với thị trấn Hưng Hoá của huyện Tam Nông, với xã Đào Xá của huyện Thanh Thuỷ. Hưng Hoá và Đào Xá đều là vùng đất có nhiều di sản văn hoá dân gian đặc sắc, nhưng Dị Nậu với những giá trị văn hoá truyền thống riêng mình vẫn đem lại được sự thú vị đến bất ngờ cho tất cả những ai đến mảnh đất đó.

Hội làng Dị Nậu được tổ chức từ ngày mùng 4 tháng 1 đến ngày mùng 6 tháng 1 Âm lịch tại xã Dị Nậu có tên tục là Kẻ Núc, thuộc huyện Tam Thanh, tỉnh Phú Thọ, ngày nay là xã Dị Nậu, Tam Nông, Phú Thọ. Hội tổ chức nhằm suy tôn Tản Viên, Cao Sơn và Quí Minh.

Hội làng Dị Nậu

Trong phần lễ hội có trò đánh quân đấu gậy tượng trưng chia thành 2 cánh quân làng Trong và làng Ngoài chỉ giả vờ đánh nhau và không gây xô xát. Bên cạnh đó cũng có diễn các trò trình nghề gồm có các vai: giáo đầu, bừa, cày, cô thợ gặt, thợ cấy,....và trong lễ hội này còn có tục cướp kén mang tính chất phồn thực. Trước ngày vào tiệc, làng cho chôn 2 cây tre ở 2 bên sân đình. Trên mỗi cây tre treo 30 bộ kén, mỗi bộ kén gồm có 1 chiếc mo cau rạch thủng ở giữa và xỏ vào đó một chày ngấn bằng gỗ vuông, tước xơ 1 đầu. Sáng sớm, cụ Từ ra mở cửa đình và thắp hương cáo thánh để các giáp mang cỗ tế ra đình. Một nghi thức trong hội làng Dị Nậu Đến giờ Ngọ khoảng 12 giờ trưa khi mọi người đã đông đủ và lễ tế đã xong, ông chủ tế đọc to về sự tích thần thánh và lời giáo đầu của tục lễ. Sau hồi chiêng trống, mọi người ùa vào chen lấn nhau cướp kén, để cầu mong cho một năm an khang thịnh vượng./. Những trò chơi tại đình làng Dị Nậu

Related Figures

Lễ hội đền mẫu Âu Cơ

Thông tin thời kỳ

Đền mẫu Âu Cơ là nơi để thờ Mẹ Âu Cơ, đền được xây dựng từ thời Hậu Lê, nằm trên địa phận xã Hiền Lương, Hạ Hoà, Phú Thọ ngày nay. Hàng năm, không chỉ những người dân trong vùng mà cả du khách thập phương từ rất nhiều nơi khác cùng hội tụ về đây vui đón Lễ hội Đền mẫu Âu Cơ vào những ngày mùng 7 tháng Giêng là ngày “Tiên giáng”, ngày 11 và ngày 12 tháng 2, ngày 12 tháng 3, ngày 13 tháng 8, và ngày “Tiên thăng” ngày 25 tháng Chạp. Đặc biệt, ngày mùng 7 tháng Giêng là ngày lễ chính và do trùng vào dịp đầu năm vừa đón Tết Nguyên Đán nên rất đông vui và nhộn nhịp. Lễ hội đền mẫu Âu Cơ Vừa vui đón Tết Nguyên Đán chưa hết thì không khí chuẩn bị vào hội đền Mẫu Âu Cơ đã đến. Cả làng sôi động, tập tế nam, tập tế nữ và tập rước kiệu làm bánh ngọt truyền thống…Bánh được làm từ bột gạo nếp thơm và mật ngọt, nhào kỹ lăn thành hình tròn dài, sau đó cắt thành từng đoạn giống như đốt tre và đem đồ chín giống như đồ xôi. Một trăm chiếc bánh ngọt sẽ được coi là lễ vật của một trăm người con dâng lên Mẹ Âu Cơ. Từ sáng sớm ngày mùng 7 tháng Giêng, trên sân đình tại xã Hiền Lương cờ xí phấp phới, trống chiêng rộn rã, tất cả dân làng đều đã có mặt với những bộ quần áo đẹp và rực rỡ sắc màu. Mở đầu lễ hội là lễ tế Thành Hoàng ở đình, với đội hình tham gia toàn là nam giới, sau đó là rước kiệu từ đình vào đền. Trong tiếng trống, tiếng chiêng và tiếng bát âm sáo nhị… ta sẽ thấy một cỗ kiệu bát cống sơn son thếp vàng do 8 cô gái mặc đồng phục khiêng nhẹ nhàng và uyển chuyển theo nhịp trống. Đi đầu đám rước là những lá cờ thần, sau kiệu là những vị chức sắc bô lão mặc áo thụng màu xanh, áo dài khăn xếp và cuối cùng là dòng người dân làng và cả những du khách thập phương cười nói vui vẻ đi trảy hội. Lễ rước kiệu trong lễ hội Đền Mẫu Âu Cơ Đúng giờ thìn ( từ 7 giờ đến 8 giờ ) thì đám rước vào đến sân đền. Phường bát âm gồm có đàn, sáo, nhị, trống, phách và sinh tiền…vang lên trong không khí trang nghiêm, đèn nến các loại sáng rực và khói hương nghi ngút. Sau lễ dâng hương và lễ vật gồm 100 cái bánh ngọt, 100 phẩm oản và hoa quả , thì đến đội tế nữ. Đội tế nữ gồm có 12 cô gái thanh tân, có nhan sắc và có học vấn. Các cô đều mặc áo dài với các màu hồng, vàng, tím, xanh…rực rỡ, đầu đội khăn kim tuyến, chân đi hài thêu và thắt lưng lụa, trở thành tâm điểm thu hút sự chú ý của tất cả mọi người. Trong đội tế nữ, riêng chủ tế sẽ bận trang phục toàn màu đỏ. Lễ hội diễn ra trong vòng 3 ngày liên tục từ ngày mùng 7 đến ngày mùng 9 tháng Giêng. Sau khi tế nữ xong, những người dân địa phương và du khách thập phương nô nức đến với lễ Mẫu Âu Cơ, dâng hương, dâng sớ, cầu sức khỏe, cầu tài lộc và cầu may mắn…Đồng thời, ngoài đền diễn ra nhiều những trò chơi dân tộc như cờ người, đu tiên, chọi gà, tổ tôm… đều có treo giải thưởng của Ban Tổ chức lễ hội. Tế lễ Mẫu Âu Cơ Ngày thứ 3, sau khi tế nữ xong là đến lễ rước kiệu từ đền trở về đình để kết thúc lẽ hội chào mừng “ Tiên giáng “. Đối với các ngày lễ khác trong năm tuy không sôi động và nhộn nhịp bằng 3 ngày lễ hội đầu tháng Giêng ở trên đây nhưng vẫn diễn ra rất trang trọng, thiêng liêng và được nhân dân địa phương cùng đông đảo những du khách thập phương từ mọi miền đất nước và cả Việt kiều ở nước ngoài hành hương về lễ tổ Mẫu. Đền Mẫu Âu Cơ là một di tích lịch sử văn hoá từ lâu đời, là một di sản quý báu của cả nước, có ý nghĩa giáo dục truyền thống lịch sử và truyền thống văn hoá dân tộc cho lớp lớp con cháu muôn đời. Chính vì thế, vào dịp các ngày lễ hội, đặc biệt là vào những ngày đầu năm, từ ngày mùng 7 đến ngày mùng 9 tháng Giêng, đến với Tổ Mẫu Âu Cơ đã trở thành tập quán, nét đẹp văn hóa của các thế hệ con người Việt Nam. Đến với Tổ Mẫu Âu Cơ vào dịp này cũng như đến với các vị vua Hùng vào dịp giỗ Tổ ngày mùng 10 tháng 3 hàng năm chính là sự biết ơn tổ tiên, hướng về cội nguồn dân tộc, là tình cảm, đạo lý “ Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây “. Đó cũng là nguồn sức mạnh để dòng giống Lạc Hồng quyết tâm đoàn kết bảo vệ giang sơn của tổ tiên để lại, xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp và văn minh hiện đại hơn, nhưng vẫn bảo tồn và tiếp tục phát huy hơn nữa những nét đẹp đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc. ( Theo: Huyện ủy, HĐND, UBND huyện Hạ Hòa: “ Di tích lịch sử văn hóa Đền Mẫu Âu Cơ”, Phú Thọ, tháng 5/2005 )

Đền mẫu Âu Cơ là nơi để thờ Mẹ Âu Cơ, đền được xây dựng từ thời Hậu Lê, nằm trên địa phận xã Hiền Lương, Hạ Hoà, Phú Thọ ngày nay. Hàng năm, không chỉ những người dân trong vùng mà cả du khách thập phương từ rất nhiều nơi khác cùng hội tụ về đây vui đón Lễ hội Đền mẫu Âu Cơ vào những ngày mùng 7 tháng Giêng là ngày “Tiên giáng”, ngày 11 và ngày 12 tháng 2, ngày 12 tháng 3, ngày 13 tháng 8, và ngày “Tiên thăng” ngày 25 tháng Chạp. Đặc biệt, ngày mùng 7 tháng Giêng là ngày lễ chính và do trùng vào dịp đầu năm vừa đón Tết Nguyên Đán nên rất đông vui và nhộn nhịp.

Lễ hội đền mẫu Âu Cơ

Vừa vui đón Tết Nguyên Đán chưa hết thì không khí chuẩn bị vào hội đền Mẫu Âu Cơ đã đến. Cả làng sôi động, tập tế nam, tập tế nữ và tập rước kiệu làm bánh ngọt truyền thống…Bánh được làm từ bột gạo nếp thơm và mật ngọt, nhào kỹ lăn thành hình tròn dài, sau đó cắt thành từng đoạn giống như đốt tre và đem đồ chín giống như đồ xôi. Một trăm chiếc bánh ngọt sẽ được coi là lễ vật của một trăm người con dâng lên Mẹ Âu Cơ. Từ sáng sớm ngày mùng 7 tháng Giêng, trên sân đình tại xã Hiền Lương cờ xí phấp phới, trống chiêng rộn rã, tất cả dân làng đều đã có mặt với những bộ quần áo đẹp và rực rỡ sắc màu. Mở đầu lễ hội là lễ tế Thành Hoàng ở đình, với đội hình tham gia toàn là nam giới, sau đó là rước kiệu từ đình vào đền. Trong tiếng trống, tiếng chiêng và tiếng bát âm sáo nhị… ta sẽ thấy một cỗ kiệu bát cống sơn son thếp vàng do 8 cô gái mặc đồng phục khiêng nhẹ nhàng và uyển chuyển theo nhịp trống. Đi đầu đám rước là những lá cờ thần, sau kiệu là những vị chức sắc bô lão mặc áo thụng màu xanh, áo dài khăn xếp và cuối cùng là dòng người dân làng và cả những du khách thập phương cười nói vui vẻ đi trảy hội. Lễ rước kiệu trong lễ hội Đền Mẫu Âu Cơ Đúng giờ thìn ( từ 7 giờ đến 8 giờ ) thì đám rước vào đến sân đền. Phường bát âm gồm có đàn, sáo, nhị, trống, phách và sinh tiền…vang lên trong không khí trang nghiêm, đèn nến các loại sáng rực và khói hương nghi ngút. Sau lễ dâng hương và lễ vật gồm 100 cái bánh ngọt, 100 phẩm oản và hoa quả , thì đến đội tế nữ. Đội tế nữ gồm có 12 cô gái thanh tân, có nhan sắc và có học vấn. Các cô đều mặc áo dài với các màu hồng, vàng, tím, xanh…rực rỡ, đầu đội khăn kim tuyến, chân đi hài thêu và thắt lưng lụa, trở thành tâm điểm thu hút sự chú ý của tất cả mọi người. Trong đội tế nữ, riêng chủ tế sẽ bận trang phục toàn màu đỏ. Lễ hội diễn ra trong vòng 3 ngày liên tục từ ngày mùng 7 đến ngày mùng 9 tháng Giêng. Sau khi tế nữ xong, những người dân địa phương và du khách thập phương nô nức đến với lễ Mẫu Âu Cơ, dâng hương, dâng sớ, cầu sức khỏe, cầu tài lộc và cầu may mắn…Đồng thời, ngoài đền diễn ra nhiều những trò chơi dân tộc như cờ người, đu tiên, chọi gà, tổ tôm… đều có treo giải thưởng của Ban Tổ chức lễ hội. Tế lễ Mẫu Âu Cơ Ngày thứ 3, sau khi tế nữ xong là đến lễ rước kiệu từ đền trở về đình để kết thúc lẽ hội chào mừng “ Tiên giáng “. Đối với các ngày lễ khác trong năm tuy không sôi động và nhộn nhịp bằng 3 ngày lễ hội đầu tháng Giêng ở trên đây nhưng vẫn diễn ra rất trang trọng, thiêng liêng và được nhân dân địa phương cùng đông đảo những du khách thập phương từ mọi miền đất nước và cả Việt kiều ở nước ngoài hành hương về lễ tổ Mẫu. Đền Mẫu Âu Cơ là một di tích lịch sử văn hoá từ lâu đời, là một di sản quý báu của cả nước, có ý nghĩa giáo dục truyền thống lịch sử và truyền thống văn hoá dân tộc cho lớp lớp con cháu muôn đời. Chính vì thế, vào dịp các ngày lễ hội, đặc biệt là vào những ngày đầu năm, từ ngày mùng 7 đến ngày mùng 9 tháng Giêng, đến với Tổ Mẫu Âu Cơ đã trở thành tập quán, nét đẹp văn hóa của các thế hệ con người Việt Nam. Đến với Tổ Mẫu Âu Cơ vào dịp này cũng như đến với các vị vua Hùng vào dịp giỗ Tổ ngày mùng 10 tháng 3 hàng năm chính là sự biết ơn tổ tiên, hướng về cội nguồn dân tộc, là tình cảm, đạo lý “ Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây “. Đó cũng là nguồn sức mạnh để dòng giống Lạc Hồng quyết tâm đoàn kết bảo vệ giang sơn của tổ tiên để lại, xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp và văn minh hiện đại hơn, nhưng vẫn bảo tồn và tiếp tục phát huy hơn nữa những nét đẹp đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc. ( Theo: Huyện ủy, HĐND, UBND huyện Hạ Hòa: “ Di tích lịch sử văn hóa Đền Mẫu Âu Cơ”, Phú Thọ, tháng 5/2005 )

Related Figures

Hội Bạch Hạc

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/3- 13/3 Âm lịch (lehoi.info)- Làng Bạch Hạc xưa kia là Phong Châu, kinh đô của nước Văn lang đời Hùng Vương, ngày nay là Phường Bạch Hạc thuộc Thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Phường Bạch Hạc hàng năm mở 2 kỳ hội Xuân, kỳ đầu là từ ngày mồng 3 đến hết ngày mồng 5 tháng giêng, kỳ sau là từ ngày mồng 10 đến ngày 13 tháng 3. Đình làng Bạch Hạc 2 kỳ hội Bạch Hạc cũng có các nghi lễ và các trò chơi giống như những ngày hội Xuân, Thu khác ở miền Bắc, nhưng đáng chú ý nhất, ở đây có cuộc thi thuyền trên sông Lô và có tục cướp cầu. Tục cướp cầu diễn ra trong thời kỳ hội mùng 3 tháng giêng. Đây là 1 thú vui đặc biệt của dân làng và hàng năm, trong ngày hội, dân chúng ở các xã lân cận đã kéo nhau tới đây rất đông để xem và đôi khi cũng là để tham dự cuộc cướp cầu. Cuộc thi cướp cầu sôi nổi Mỗi năm dân làng sẽ cử 1 người may bộ cầu để tung cho dân làng cướp trong dịp hội. Người được cử may bộ cầu là một điều rất vinh dự trong dân xã, thường là hương chức ở trong làng. Bộ cầu gồm có: 1 quả cầu mẹ và 8 quả cầu con. Mỗi quả cầu gồm có 1 nắm bông bọc trong vải ngũ sắc và có thêu chỉ mầu sặc sỡ. 1 sợi chỉ được đính vào quả cầu, 1 đầu chỉ được buộc vào một ngành tre. Mỗi quả cầu đều có dải buông thõng, dải hoặc là khâu bằng lụa màu, hoặc là kết bằng chỉ sặc sỡ. Sáng ngày mùng 3 Tết, dân làng sẽ tới nhà vị Hương chức được chỉ định may cầu để rước bộ cầu ra đình. Đám rước rất long trọng có cụ Tiên chỉ trong làng cầm hương, các nam nữ thanh niên đi theo và có cả phường bát âm cử nhạc điểm theo tiếng chiêng tiếng trống rất oai nghiêm. Chín mẹ con quả cầu bầy trên long đình do 4 người thanh niên khiêng. Khi rước tới đình, cả bộ cầu được kính cẩn đặt lên trên bàn thờ thay cho bộ cầu của năm trước. Kế đó là đến lễ tế cầu. Tế cầu xong là cuộc tung cầu để cho dân làng và cả dân thiên hạ cùng chen nhau cướp. Cầu tung từng 3 quả một, mỗi một lần tung đều do một vị hương chức hoặc do một vị bô lão đảm nhiệm. Đầu tiên là ông Tiên Chỉ, vào thời Pháp thuộc khi không có ông Tiên Chỉ, thì sẽ do ông niên trưởng trong làng, - tung quả cầu Mẹ và 2 quả cầu Con. Vị này trước hết phải đọc một bài văn chúc, đại khái là ca tụng phong cảnh của làng, dân phong và nhất là sự linh thiêng của Đức Thành Hoàng đã che chở cho dân được thịnh vượng và làng xã được yên bình. Sau bài văn chúc 3 cành tre được giơ cao theo nhịp trống thờ. Khi tiếng trống dứt, thì dân làng hò reo ầm ĩ. Dứt hồi hò reo, vị Tiên Chỉ lại đọc tiếp một bài văn chúc thứ 2 cầu cho dân chúng ở trong xã gặp được mọi sự tốt lành. Tiếp theo bài văn chúc thứ 2 lại là 1 hồi trống và 1 loạt hò reo ầm ĩ. Sau đó vị Tiên Chỉ hoặc niên trưởng sẽ tháo 3 quả cầu buộc ở ngành tre ra và buộc lại với nhau làm một rồi tung lên để cho dân chúng xô nhau cướp cho đến khi có một người nắm chặt được bộ cầu thì mới dừng. Sáu quả cầu sau đó do 2 vị chức sắc hoặc bô lão khác mỗi người tung 3 quả, nhưng lần này, không còn hai bài văn chúc nữa, mà chỉ có trống đánh nhịp và mọi người hò reo để cướp cầu. Họ tin rằng cướp được quả cầu sẽ gặp được nhiều may mắn. Cướp được cầu, dù là một quả hay bộ ba quả, đều có thể đem về nhà làm kỷ niệm, hoặc để lại thờ tại đình. Thường thường người dân làng Bạch Hạc, cướp được cầu, họ vẫn mang tới đình để thờ cho tới năm sau. Tục cướp cầu, tuy chỉ là 1 cổ tục cử hành hàng năm theo những nghi thức cổ truyền, nhưng đây lại chính là một cổ tục đề cao tinh thần thượng võ, chứng tỏ rằng người dân Việt Nam luôn luôn sẵn sàng bất khuất nó đã khiến dân tộc Việt Nam được tự chủ với bốn nghìn năm lịch sử. Cuộc thi thuyền hàng năm tại làng Bạch Hạc được tổ chức vào ngày rã đám trong kỳ hội từ ngày mùng 10 đến ngày 13 tháng 3, tổ chức trên dòng sông Lô để những người dân xã và khách trẩy hội từ thập phương tới có thể đứng ở hai bên bờ sông để dự xem. Thi đua thuyền trong lễ hội Bạch Hạc Làng có 4 giáp: Bộ Đầu, Tiểu Hạc, Đông Nam và Thần Chúc. Mỗi một giáp có một chiếc trải dài bằng gỗ chò, dài khoảng hơn hai chục thước, rộng khoảng chừng thước rưỡi, được đóng bằng nguyên cả cây gỗ theo chiều dài. Chiếc trải có năm chục bơi chèo ở 2 bên; đầu trải uốn thành rồng và đuôi trải cũng lượn khúc giống như đuôi rồng. Để tham dự cuộc bơi trải các giáp đều kén những dân đinh khoẻ mạnh sung vào những tay bơi và mỗi giáp năm chục người cho chiếc trải, nhưng giáp nào cũng kén một số người dự khuyết. Ngoài những tay bơi, mỗi giáp còn phải kén 3 người, 3 người này thường là các bậc đàn anh ở trong giáp, 1 người đứng đầu thuyền cầm cờ hiệu, 1 người đứng giữa gõ một chiếc trống khẩu để giữ nhịp cho những tay chèo, và ở cuối thuyền, 1 người ngồi cầm lái. Mỗi bên mạn thuyền là 25 tay chèo, đây đều là những tay trai lực lưỡng đã được hàng giáp lựa chọn, và đã có luyện tập cùng với 3 vị đàn anh điều khiển chiếc trải. Trong lúc bơi, họ vừa chèo vừa reo hò. Để có thể kết hợp nhịp nhàng họ phải tập luyện trước cả tháng. Lúc cuộc thi bắt đầu, 4 chiếc trải xếp hàng đều nhau ở trước cửa đình làng. thật là 1 cảnh nhộn nhịp cho người xem và cả cho những người dự cuộc. Người dân giáp nào cũng hồi hộp như chính những tay bơi. Những chiếc trải khởi hành ở trước cửa đình làng và bơi cho tới ngã ba sông nhánh chảy vào sông lô. Theo lời truyền tụng thì đây là dân làng diễn lại tích đức Thổ Lệnh đại vương, tiễn đức tản viên khi xưa, lúc đức Tản Viên tới thăm ngài ra về. Chiếc trải về tới đình trước nhất sẽ có được giải thưởng và được làm lễ đốt mừng bánh pháo. Gặp những năm dân làng làm ăn thịnh vượng, mùa màng bội thu, nhân dịp hội tháng 3, dân làng sẽ tổ chức cờ người thay cho cờ bỏi, cờ người cũng chơi giống như cờ bỏi chỉ khác quân cờ thay vì những biển cờ có khắc chữ, thì là những nam nữ thanh niên mặc quần áo có thêu chữ mang tên những quân cờ, chữ thêu ở trước ngực và ở sau lưng người đóng quân cờ. Cũng có những nơi, quân cờ mặc quần áo như thường, nhưng có thêm chiếc biển khắc hoặc viết chữ theo bộ cờ, như vậy mỗi nước đi, nếu quân cờ di chuyển thì phải mang theo chiếc biển của mình. Tại mỗi vị trí của bàn cờ đều có một chiếc ghế để cho quân cờ ngồi. Tại những xã lớn thịnh đạt, những nam nữ đóng quân cờ còn mang theo cả khí giới, và khi quân bên nọ ăn quân bên kia, quân cờ ăn sẽ múa 1 thế võ như hạ quân cờ bị ăn, giống y như trong một màn hát bội. Ngoài những cổ tục trên, hội còn có nhiều những trò vui khác như tổ tôm điếm, đáo đĩa v.. v..

(lehoi.info)- Làng Bạch Hạc xưa kia là Phong Châu, kinh đô của nước Văn lang đời Hùng Vương, ngày nay là Phường Bạch Hạc thuộc Thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Phường Bạch Hạc hàng năm mở 2 kỳ hội Xuân, kỳ đầu là từ ngày mồng 3 đến hết ngày mồng 5 tháng giêng, kỳ sau là từ ngày mồng 10 đến ngày 13 tháng 3.

Đình làng Bạch Hạc

2 kỳ hội Bạch Hạc cũng có các nghi lễ và các trò chơi giống như những ngày hội Xuân, Thu khác ở miền Bắc, nhưng đáng chú ý nhất, ở đây có cuộc thi thuyền trên sông Lô và có tục cướp cầu. Tục cướp cầu diễn ra trong thời kỳ hội mùng 3 tháng giêng. Đây là 1 thú vui đặc biệt của dân làng và hàng năm, trong ngày hội, dân chúng ở các xã lân cận đã kéo nhau tới đây rất đông để xem và đôi khi cũng là để tham dự cuộc cướp cầu. Cuộc thi cướp cầu sôi nổi Mỗi năm dân làng sẽ cử 1 người may bộ cầu để tung cho dân làng cướp trong dịp hội. Người được cử may bộ cầu là một điều rất vinh dự trong dân xã, thường là hương chức ở trong làng. Bộ cầu gồm có: 1 quả cầu mẹ và 8 quả cầu con. Mỗi quả cầu gồm có 1 nắm bông bọc trong vải ngũ sắc và có thêu chỉ mầu sặc sỡ. 1 sợi chỉ được đính vào quả cầu, 1 đầu chỉ được buộc vào một ngành tre. Mỗi quả cầu đều có dải buông thõng, dải hoặc là khâu bằng lụa màu, hoặc là kết bằng chỉ sặc sỡ. Sáng ngày mùng 3 Tết, dân làng sẽ tới nhà vị Hương chức được chỉ định may cầu để rước bộ cầu ra đình. Đám rước rất long trọng có cụ Tiên chỉ trong làng cầm hương, các nam nữ thanh niên đi theo và có cả phường bát âm cử nhạc điểm theo tiếng chiêng tiếng trống rất oai nghiêm. Chín mẹ con quả cầu bầy trên long đình do 4 người thanh niên khiêng. Khi rước tới đình, cả bộ cầu được kính cẩn đặt lên trên bàn thờ thay cho bộ cầu của năm trước. Kế đó là đến lễ tế cầu. Tế cầu xong là cuộc tung cầu để cho dân làng và cả dân thiên hạ cùng chen nhau cướp. Cầu tung từng 3 quả một, mỗi một lần tung đều do một vị hương chức hoặc do một vị bô lão đảm nhiệm. Đầu tiên là ông Tiên Chỉ, vào thời Pháp thuộc khi không có ông Tiên Chỉ, thì sẽ do ông niên trưởng trong làng, - tung quả cầu Mẹ và 2 quả cầu Con. Vị này trước hết phải đọc một bài văn chúc, đại khái là ca tụng phong cảnh của làng, dân phong và nhất là sự linh thiêng của Đức Thành Hoàng đã che chở cho dân được thịnh vượng và làng xã được yên bình. Sau bài văn chúc 3 cành tre được giơ cao theo nhịp trống thờ. Khi tiếng trống dứt, thì dân làng hò reo ầm ĩ. Dứt hồi hò reo, vị Tiên Chỉ lại đọc tiếp một bài văn chúc thứ 2 cầu cho dân chúng ở trong xã gặp được mọi sự tốt lành. Tiếp theo bài văn chúc thứ 2 lại là 1 hồi trống và 1 loạt hò reo ầm ĩ. Sau đó vị Tiên Chỉ hoặc niên trưởng sẽ tháo 3 quả cầu buộc ở ngành tre ra và buộc lại với nhau làm một rồi tung lên để cho dân chúng xô nhau cướp cho đến khi có một người nắm chặt được bộ cầu thì mới dừng. Sáu quả cầu sau đó do 2 vị chức sắc hoặc bô lão khác mỗi người tung 3 quả, nhưng lần này, không còn hai bài văn chúc nữa, mà chỉ có trống đánh nhịp và mọi người hò reo để cướp cầu. Họ tin rằng cướp được quả cầu sẽ gặp được nhiều may mắn. Cướp được cầu, dù là một quả hay bộ ba quả, đều có thể đem về nhà làm kỷ niệm, hoặc để lại thờ tại đình. Thường thường người dân làng Bạch Hạc, cướp được cầu, họ vẫn mang tới đình để thờ cho tới năm sau. Tục cướp cầu, tuy chỉ là 1 cổ tục cử hành hàng năm theo những nghi thức cổ truyền, nhưng đây lại chính là một cổ tục đề cao tinh thần thượng võ, chứng tỏ rằng người dân Việt Nam luôn luôn sẵn sàng bất khuất nó đã khiến dân tộc Việt Nam được tự chủ với bốn nghìn năm lịch sử. Cuộc thi thuyền hàng năm tại làng Bạch Hạc được tổ chức vào ngày rã đám trong kỳ hội từ ngày mùng 10 đến ngày 13 tháng 3, tổ chức trên dòng sông Lô để những người dân xã và khách trẩy hội từ thập phương tới có thể đứng ở hai bên bờ sông để dự xem. Thi đua thuyền trong lễ hội Bạch Hạc Làng có 4 giáp: Bộ Đầu, Tiểu Hạc, Đông Nam và Thần Chúc. Mỗi một giáp có một chiếc trải dài bằng gỗ chò, dài khoảng hơn hai chục thước, rộng khoảng chừng thước rưỡi, được đóng bằng nguyên cả cây gỗ theo chiều dài. Chiếc trải có năm chục bơi chèo ở 2 bên; đầu trải uốn thành rồng và đuôi trải cũng lượn khúc giống như đuôi rồng. Để tham dự cuộc bơi trải các giáp đều kén những dân đinh khoẻ mạnh sung vào những tay bơi và mỗi giáp năm chục người cho chiếc trải, nhưng giáp nào cũng kén một số người dự khuyết. Ngoài những tay bơi, mỗi giáp còn phải kén 3 người, 3 người này thường là các bậc đàn anh ở trong giáp, 1 người đứng đầu thuyền cầm cờ hiệu, 1 người đứng giữa gõ một chiếc trống khẩu để giữ nhịp cho những tay chèo, và ở cuối thuyền, 1 người ngồi cầm lái. Mỗi bên mạn thuyền là 25 tay chèo, đây đều là những tay trai lực lưỡng đã được hàng giáp lựa chọn, và đã có luyện tập cùng với 3 vị đàn anh điều khiển chiếc trải. Trong lúc bơi, họ vừa chèo vừa reo hò. Để có thể kết hợp nhịp nhàng họ phải tập luyện trước cả tháng. Lúc cuộc thi bắt đầu, 4 chiếc trải xếp hàng đều nhau ở trước cửa đình làng. thật là 1 cảnh nhộn nhịp cho người xem và cả cho những người dự cuộc. Người dân giáp nào cũng hồi hộp như chính những tay bơi. Những chiếc trải khởi hành ở trước cửa đình làng và bơi cho tới ngã ba sông nhánh chảy vào sông lô. Theo lời truyền tụng thì đây là dân làng diễn lại tích đức Thổ Lệnh đại vương, tiễn đức tản viên khi xưa, lúc đức Tản Viên tới thăm ngài ra về. Chiếc trải về tới đình trước nhất sẽ có được giải thưởng và được làm lễ đốt mừng bánh pháo. Gặp những năm dân làng làm ăn thịnh vượng, mùa màng bội thu, nhân dịp hội tháng 3, dân làng sẽ tổ chức cờ người thay cho cờ bỏi, cờ người cũng chơi giống như cờ bỏi chỉ khác quân cờ thay vì những biển cờ có khắc chữ, thì là những nam nữ thanh niên mặc quần áo có thêu chữ mang tên những quân cờ, chữ thêu ở trước ngực và ở sau lưng người đóng quân cờ. Cũng có những nơi, quân cờ mặc quần áo như thường, nhưng có thêm chiếc biển khắc hoặc viết chữ theo bộ cờ, như vậy mỗi nước đi, nếu quân cờ di chuyển thì phải mang theo chiếc biển của mình. Tại mỗi vị trí của bàn cờ đều có một chiếc ghế để cho quân cờ ngồi. Tại những xã lớn thịnh đạt, những nam nữ đóng quân cờ còn mang theo cả khí giới, và khi quân bên nọ ăn quân bên kia, quân cờ ăn sẽ múa 1 thế võ như hạ quân cờ bị ăn, giống y như trong một màn hát bội. Ngoài những cổ tục trên, hội còn có nhiều những trò vui khác như tổ tôm điếm, đáo đĩa v.. v..

Related Figures

Lễ hội Rước Chúa Gái

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 7/1- 8/1 Âm lịch (lehoi.info) - Lễ hội rước chúa gái thường được tổ chức vào ngày mùng 7 và ngày mùng 8 tháng giêng, ở tại thị trấn Hùng Sơn, Lâm Thao, Phú Thọ. Rước chúa gái là 1 lễ hội được mọi người rất tôn trọng và sùng bái. Lễ hội Rước Chúa Gái Chuyện kể rằng, do mang lễ vật đến trước Thủy Tinh, Sơn Tinh đã được đón Ngọc Hoa về làm vợ. Lễ rước dâu được tổ chức theo phong tục dân tộc và nghi lễ rất trọng thể, từ nhà cô dâu ra đến Đình Cả để dân làng làm lễ tạ. Tạ xong thì cô dâu được đưa lên kiệu rước qua làng Triệu Phú để đưa về núi Tản theo đường sông Hồng. Đến cây hương đầu làng, vì thương cha nhớ mẹ cô dâu đã không đi nữa, dân làng phải làm lễ tế Thành hoàng ở tại cây hương. Tế xong họ làm trò diễn theo các tích: Lấy tiếng hú, tế lợn và chạy địch, tế sóc và trình voi ngựa, chạy tùng dí, lễ hạ điền và các trò bách nghệ khôi hài… để vui lòng nàng công chúa và để nàng ưng thuận tiếp tục đi về nhà chồng. Thời phong kiến tự chủ, ngoài những nghi lễ cầu tế hàng năm ở các Đền trên núi Nghĩa Lĩnh và ở trong ngôi đình Cả, nhân dân hai làng Vi - Trẹo còn tổ chức lễ Rước Chúa Gái và diễn trình theo các tích xưa. Thường cứ đến ngày 25 tháng chạp hàng năm, cả 2 thôn đều cử ông Từ lên làm lễ để mở cửa Đền nhưng thôn nào có đền thì thôn ấy cúng. Sau khi làm lễ ở trên núi xong, cả hai thôn về đình Cả bàn nhau ngày cầu cúng và bàn nhau mở hội Rước Chúa Gái. Kiệu rước Chúa gái trong Lễ hội Nếu nhất trí là năm đó rước Chúa Gái thì cả 2 thôn sẽ cùng về dự kiến chọn Chúa Gái và sau đó tiến hành chọn cử Chúa Gái. Tiêu chuẩn rất đơn giản nhưng phải chọn lựa thật kỹ càng, đó phải là người con gái xinh đẹp, chưa có chồng và tuổi từ 18 đến 25, gia đình phong quang (không có tang chế), là con nhà có chức sắc. Gia đình có con là Chúa Gái thì phải xếp dọn nhà cửa thành nơi thờ kính, may sắm quần áo đẹp và đồ nữ trang cho con. Trước ngày rước 1 tuần, nhà chúa Gái được dân làng trang trí, treo đèn, kết hoa, lập bàn thờ và chăng vải đỏ tựa như nhà lầu của công chúa Ngọc Hoa - Tiên Dung thờ ở Đền Giếng. Chúa Gái từ chiều 30 tháng chạp đến ngày mùng 7 tháng giêng không được đi ra ngoài, mọi nhu cầu ăn uống và sinh hoạt đều do các nữ tỳ - cũng là những cô gái chưa chồng, xinh đẹp, nhà không có tang - phục vụ. Nghi lễ Rước Chúa gái được thực hiện trang nghiêm, thành kính Ngày rước Chúa Gái cũng chính là ngày hội làng He. Chúa Gái đi có cờ dong trống mở và cùng rước kiệu với chúa gái có kiệu văn rước sắc và kiệu bát cống rước cổ vật. Nghi trượng là nghi thức rước trọng thể, có đủ các loại cờ, trống, chiêng, tàn, tán, lọng, bát biểu, voi gỗ, ngựa gỗ, kiếm gươm và giáo mác… Trong đám rước có phường Đồng văn hóa trang làm nhiều trò như: Câu cá, trình nghề và múa. Khi kiệu Chúa Gái đến gần Đình Cả thì có thêm 2 voi và 4 ngựa (đều được làm bằng giấy phát; xương bằng tre nứa; có đủ yên cương và to như voi, ngựa thật) chờ sẵn cùng đi. Đông đảo người dân tới tham dự lễ rước Chúa Gái Sau khi tế lễ Thành hoàng, dân làng diễn nhiều trò vui như: Săn lợn, chạy tùng dí, chạy địch và diễn trò bách nghệ khôi hài…để công chúa không buồn bã nữa mà vui lòng lên kiệu về với chồng trên núi Tản sông Đà. Lễ hội với không khí vui tươi, không chỉ thu hút nhân dân 2 làng Vi - Trẹo mà còn thu hút đông đảo du khách thập phương trong và ngoài huyện tới tham dự hội. Chính vì vậy mới có câu rằng: “Vui nhất là hội Chùa Thầy Vui thì vui thật, không tầy hội He”

(lehoi.info) - Lễ hội rước chúa gái thường được tổ chức vào ngày mùng 7 và ngày mùng 8 tháng giêng, ở tại thị trấn Hùng Sơn, Lâm Thao, Phú Thọ. Rước chúa gái là 1 lễ hội được mọi người rất tôn trọng và sùng bái.

Lễ hội Rước Chúa Gái

Chuyện kể rằng, do mang lễ vật đến trước Thủy Tinh, Sơn Tinh đã được đón Ngọc Hoa về làm vợ. Lễ rước dâu được tổ chức theo phong tục dân tộc và nghi lễ rất trọng thể, từ nhà cô dâu ra đến Đình Cả để dân làng làm lễ tạ. Tạ xong thì cô dâu được đưa lên kiệu rước qua làng Triệu Phú để đưa về núi Tản theo đường sông Hồng. Đến cây hương đầu làng, vì thương cha nhớ mẹ cô dâu đã không đi nữa, dân làng phải làm lễ tế Thành hoàng ở tại cây hương. Tế xong họ làm trò diễn theo các tích: Lấy tiếng hú, tế lợn và chạy địch, tế sóc và trình voi ngựa, chạy tùng dí, lễ hạ điền và các trò bách nghệ khôi hài… để vui lòng nàng công chúa và để nàng ưng thuận tiếp tục đi về nhà chồng. Thời phong kiến tự chủ, ngoài những nghi lễ cầu tế hàng năm ở các Đền trên núi Nghĩa Lĩnh và ở trong ngôi đình Cả, nhân dân hai làng Vi - Trẹo còn tổ chức lễ Rước Chúa Gái và diễn trình theo các tích xưa. Thường cứ đến ngày 25 tháng chạp hàng năm, cả 2 thôn đều cử ông Từ lên làm lễ để mở cửa Đền nhưng thôn nào có đền thì thôn ấy cúng. Sau khi làm lễ ở trên núi xong, cả hai thôn về đình Cả bàn nhau ngày cầu cúng và bàn nhau mở hội Rước Chúa Gái. Kiệu rước Chúa gái trong Lễ hội Nếu nhất trí là năm đó rước Chúa Gái thì cả 2 thôn sẽ cùng về dự kiến chọn Chúa Gái và sau đó tiến hành chọn cử Chúa Gái. Tiêu chuẩn rất đơn giản nhưng phải chọn lựa thật kỹ càng, đó phải là người con gái xinh đẹp, chưa có chồng và tuổi từ 18 đến 25, gia đình phong quang (không có tang chế), là con nhà có chức sắc. Gia đình có con là Chúa Gái thì phải xếp dọn nhà cửa thành nơi thờ kính, may sắm quần áo đẹp và đồ nữ trang cho con. Trước ngày rước 1 tuần, nhà chúa Gái được dân làng trang trí, treo đèn, kết hoa, lập bàn thờ và chăng vải đỏ tựa như nhà lầu của công chúa Ngọc Hoa - Tiên Dung thờ ở Đền Giếng. Chúa Gái từ chiều 30 tháng chạp đến ngày mùng 7 tháng giêng không được đi ra ngoài, mọi nhu cầu ăn uống và sinh hoạt đều do các nữ tỳ - cũng là những cô gái chưa chồng, xinh đẹp, nhà không có tang - phục vụ. Nghi lễ Rước Chúa gái được thực hiện trang nghiêm, thành kính Ngày rước Chúa Gái cũng chính là ngày hội làng He. Chúa Gái đi có cờ dong trống mở và cùng rước kiệu với chúa gái có kiệu văn rước sắc và kiệu bát cống rước cổ vật. Nghi trượng là nghi thức rước trọng thể, có đủ các loại cờ, trống, chiêng, tàn, tán, lọng, bát biểu, voi gỗ, ngựa gỗ, kiếm gươm và giáo mác… Trong đám rước có phường Đồng văn hóa trang làm nhiều trò như: Câu cá, trình nghề và múa. Khi kiệu Chúa Gái đến gần Đình Cả thì có thêm 2 voi và 4 ngựa (đều được làm bằng giấy phát; xương bằng tre nứa; có đủ yên cương và to như voi, ngựa thật) chờ sẵn cùng đi. Đông đảo người dân tới tham dự lễ rước Chúa Gái Sau khi tế lễ Thành hoàng, dân làng diễn nhiều trò vui như: Săn lợn, chạy tùng dí, chạy địch và diễn trò bách nghệ khôi hài…để công chúa không buồn bã nữa mà vui lòng lên kiệu về với chồng trên núi Tản sông Đà. Lễ hội với không khí vui tươi, không chỉ thu hút nhân dân 2 làng Vi - Trẹo mà còn thu hút đông đảo du khách thập phương trong và ngoài huyện tới tham dự hội. Chính vì vậy mới có câu rằng: “Vui nhất là hội Chùa Thầy Vui thì vui thật, không tầy hội He”

Related Figures

Lễ hội đền La

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 13/1- 15/1 Âm lịch Lễ hội đền La ở thôn La Phù, xã Yên Thành, Yên Mô, Ninh Bình, nhằm tưởng nhớ hai vị Vua thời Hậu Trần là Giản Định Đế và Trùng Quang Đế, lễ hội được diễn ra từ ngày 13 đến ngày 15 tháng giêng âm lịch. Vùng quê xã Yên Thành Lễ hội gồm có 2 phần: Phần lễ và phần hội. Phần lễ có rước kiệu quanh đền, sau đó là lễ dâng hương và đọc văn tế. Lễ hội đền La tại Ninh Bình Phần hôi có nhiều các trò vui chơi như kéo chữ, đánh đu, đánh cờ và múa hát. Hội còn có tục lệ dâng “Xôi Vựng”. Loại xôi này phải chọn gạo nếp thật trắng và thật thơm, các làng dự thi xôi và làm cỗ cúng. Gạo nếp được vo ở nước giếng đặc biệt của thôn Thượng Phường được gọi là giếng Me, các thôn khác phải cử người về giếng Me của thôn Thượng Phường từ ngày hôm trước để xin nước về ngâm gạo. Người dân nơi đây cho rằng nước giếng Me trong suốt và tinh khiết, nấu xôi rất dẻo và thơm để tế thánh thể hiện tấm lòng thành kính của những người dân nơi đây. Trò chơi đánh đu

Related Figures

Lễ hội báo bản Nộn Khê

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 14/1 Âm lịch (lehoi.info)- Làng Nộn Khê thuộc xã Yên Từ, Yên Mô, Ninh Bình. Theo tục lệ cổ truyền, cứ vào ngày 14 tháng giêng âm lịch hàng, làng lại tổ chức lễ hội báo bản. Hội báo bản có nghĩa là hội báo đáp lại nguồn gốc và công ơn của tiền nhân. Bởi vậy, cứ đến ngày hội con cháu của làng dù ở đâu xa cũng cố gắng để về dự hội. Làng quê Nộn Khê Phần lễ ngoài việc tổ chức tế và dâng hương tôn vinh công đức của các vị tiền bối lập ra làng xã, còn dâng hương để tưởng nhớ và tỏ lòng biết ơn các liệt sỹ là con em của làng. Một nét độc đáo của lễ hội Báo bản là kính báo lên Thành Hoàng và các bậc tiên tổ về sự thành đạt, hiếu học của con em dân làng và những thành tích của làng đã đạt được ở trong năm cũ. Phần hội sôi động với những tiết mục: múa lân, múa rồng, võ vật, đánh cờ, tổ tôm và các hoạt động thể dục thể thao …. Lễ hội báo bản Nộn Khê còn gắn kết nét sinh hoạt văn hoá hết sức độc đáo và đây cũng là dịp để trình diễn các tiết mục thơ ca do chính những người dân ở trong làng sáng tác. Những con em quê hương đi xa không về được, thì có thể gửi thơ về và cũng được ban tổ chức bố trí người ngâm hoặc chuyển thể thành các làn điệu dân ca để hát. Đêm thơ này thường được tổ chức vào đêm ngày 13 tháng giêng được gọi là “Dạ hội văn nghệ” Lễ hội báo bản Nộn Khê Một nét đặc sắc mà lễ hội Báo Bản ở Nộn Khê còn giữ được đó là 2 phiên chợ đêm vào tối ngày 12 và ngày 13 tháng Giêng thu hút hàng nghìn người về dự với nhiều món ăn dân dã và mang đậm hương vị quê hương như : bánh gai, bánh đúc, bánh quấn, bún ốc, bún riêu... Lễ hội Báo Bản được tiến hành vừa nghiêm cẩn, vừa linh thiêng và vừa rộn ràng, ấm áp. Sau những ngày lễ hội, những người dân Nộn Khê lại phấn chấn bước vào 1 mùa làm ăn mới với niềm mong ước “nhân khang vật thịnh” hơn năm trước Đặc sắc Lễ hội báo bản làng Nộn Khê

(lehoi.info)- Làng Nộn Khê thuộc xã Yên Từ, Yên Mô, Ninh Bình. Theo tục lệ cổ truyền, cứ vào ngày 14 tháng giêng âm lịch hàng, làng lại tổ chức lễ hội báo bản. Hội báo bản có nghĩa là hội báo đáp lại nguồn gốc và công ơn của tiền nhân. Bởi vậy, cứ đến ngày hội con cháu của làng dù ở đâu xa cũng cố gắng để về dự hội.

Làng quê Nộn Khê

Phần lễ ngoài việc tổ chức tế và dâng hương tôn vinh công đức của các vị tiền bối lập ra làng xã, còn dâng hương để tưởng nhớ và tỏ lòng biết ơn các liệt sỹ là con em của làng. Một nét độc đáo của lễ hội Báo bản là kính báo lên Thành Hoàng và các bậc tiên tổ về sự thành đạt, hiếu học của con em dân làng và những thành tích của làng đã đạt được ở trong năm cũ. Phần hội sôi động với những tiết mục: múa lân, múa rồng, võ vật, đánh cờ, tổ tôm và các hoạt động thể dục thể thao …. Lễ hội báo bản Nộn Khê còn gắn kết nét sinh hoạt văn hoá hết sức độc đáo và đây cũng là dịp để trình diễn các tiết mục thơ ca do chính những người dân ở trong làng sáng tác. Những con em quê hương đi xa không về được, thì có thể gửi thơ về và cũng được ban tổ chức bố trí người ngâm hoặc chuyển thể thành các làn điệu dân ca để hát. Đêm thơ này thường được tổ chức vào đêm ngày 13 tháng giêng được gọi là “Dạ hội văn nghệ” Lễ hội báo bản Nộn Khê Một nét đặc sắc mà lễ hội Báo Bản ở Nộn Khê còn giữ được đó là 2 phiên chợ đêm vào tối ngày 12 và ngày 13 tháng Giêng thu hút hàng nghìn người về dự với nhiều món ăn dân dã và mang đậm hương vị quê hương như : bánh gai, bánh đúc, bánh quấn, bún ốc, bún riêu... Lễ hội Báo Bản được tiến hành vừa nghiêm cẩn, vừa linh thiêng và vừa rộn ràng, ấm áp. Sau những ngày lễ hội, những người dân Nộn Khê lại phấn chấn bước vào 1 mùa làm ăn mới với niềm mong ước “nhân khang vật thịnh” hơn năm trước Đặc sắc Lễ hội báo bản làng Nộn Khê

Related Figures

Lễ hội đền Nguyễn Công Trứ

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 14/11- 16/11 Âm lịch Lễ hội đền Nguyễn Công Trứ là một trong những lễ hội lớn nhất của cư dân huyện mới ven biển Kim Sơn thuộc tỉnh Ninh Bình để ghi nhớ tới công ơn của Doanh điền Nguyễn Công Trứ - người đã chiêu dân khai hoang lấn biển lập ra huyện Kim Sơn (núi vàng) của tỉnh Ninh Bình và Tiền Hải (biển bạc) của tỉnh Thái Bình. Lễ hội diễn ra từ ngày 14 tháng 11 đến ngày 16 tháng 11 âm lịch hàng năm để tưởng niệm ngày mất của ông. Đền Nguyễn Công Trứ - tỉnh Ninh Bình Hằng năm cứ đến ngày 14 tháng 11 âm lịch (ngày Ông mất), nhân dân huyện Kim Sơn đều tổ chức tế lễ Nguyễn Công Trứ ở Truy Tư Từ trong 3 ngày: Ngày 13 tế Yết Cáo, ngày 14 tế Chính Kỵ và ngày 15 tế Tạ. Đền thờ Nguyễn Công Trứ nằm bên quốc lộ 10, cách thị trấn Phát Diệm 2km, thuộc xã Quang Thiện, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. Đền thờ Nguyễn Công Trứ ở tỉnh Ninh Bình, Thái Bình và Hà Tĩnh đều có điểm chung đó là đều được nhân dân xây dựng từ khi ông còn sống nhưng mãi tới những năm đầu của thế kỷ 21 thì tượng ông mới được hoàn thành và rước về 3 đền. Tất cả 3 ngôi đền này đều được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia. Lễ hội đền Nguyễn Công Trứ Lễ hội đền Nguyễn Công Trứ cũng gồm có 2 phần: Phần lễ và phần hội Phần lễ: Dâng hương tại đền thờ Nguyễn Công Trứ xã Quang Thiện, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. Thường sẽ có sự tham gia của rất nhiều làng trong huyện Kim Sơn. Điều độc đáo là lễ hội có sự tham gia của cả người lương và người giáo với những nghi thức khác nhau. Phần hội: là phần tổ chức trò chơi đua thuyền trên nhánh sông Vạc, 1 đặc trưng của lễ hội cư dân vùng đồng bằng ven biển. Phần hội còn có cả phần thi hát ca trù, loại hình dân ca liên quan rất nhiều đến Nguyễn Công Trứ. Trò chơi đua thuyền trên nhánh sông Vạc trong lễ hội

Lễ hội đền Nguyễn Công Trứ là một trong những lễ hội lớn nhất của cư dân huyện mới ven biển Kim Sơn thuộc tỉnh Ninh Bình để ghi nhớ tới công ơn của Doanh điền Nguyễn Công Trứ - người đã chiêu dân khai hoang lấn biển lập ra huyện Kim Sơn (núi vàng) của tỉnh Ninh Bình và Tiền Hải (biển bạc) của tỉnh Thái Bình. Lễ hội diễn ra từ ngày 14 tháng 11 đến ngày 16 tháng 11 âm lịch hàng năm để tưởng niệm ngày mất của ông.

Đền Nguyễn Công Trứ - tỉnh Ninh Bình

Hằng năm cứ đến ngày 14 tháng 11 âm lịch (ngày Ông mất), nhân dân huyện Kim Sơn đều tổ chức tế lễ Nguyễn Công Trứ ở Truy Tư Từ trong 3 ngày: Ngày 13 tế Yết Cáo, ngày 14 tế Chính Kỵ và ngày 15 tế Tạ.

Đền thờ Nguyễn Công Trứ nằm bên quốc lộ 10, cách thị trấn Phát Diệm 2km, thuộc xã Quang Thiện, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. Đền thờ Nguyễn Công Trứ ở tỉnh Ninh Bình, Thái Bình và Hà Tĩnh đều có điểm chung đó là đều được nhân dân xây dựng từ khi ông còn sống nhưng mãi tới những năm đầu của thế kỷ 21 thì tượng ông mới được hoàn thành và rước về 3 đền. Tất cả 3 ngôi đền này đều được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia. Lễ hội đền Nguyễn Công Trứ Lễ hội đền Nguyễn Công Trứ cũng gồm có 2 phần: Phần lễ và phần hội Phần lễ: Dâng hương tại đền thờ Nguyễn Công Trứ xã Quang Thiện, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. Thường sẽ có sự tham gia của rất nhiều làng trong huyện Kim Sơn. Điều độc đáo là lễ hội có sự tham gia của cả người lương và người giáo với những nghi thức khác nhau. Phần hội: là phần tổ chức trò chơi đua thuyền trên nhánh sông Vạc, 1 đặc trưng của lễ hội cư dân vùng đồng bằng ven biển. Phần hội còn có cả phần thi hát ca trù, loại hình dân ca liên quan rất nhiều đến Nguyễn Công Trứ. Trò chơi đua thuyền trên nhánh sông Vạc trong lễ hội

Related Figures

Lễ hội Thánh Quý Minh đại vương

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 18/3 Âm lịch (lehoi.info)- Lễ hội Thánh Quý Minh đại vương được tổ chức vào 18/3 âm lịch, tại Tràng An, Bái Đính, Ninh Bình. Lễ hội này được tổ chức hàng năm để tưởng nhớ tới đức Thánh Quý Minh đại vương và phu nhân, người đã có công trong sự nghiệp gìn giữ nước nhà của dân tộc ta, cảm tạ ân đức của Ngài đã phù trợ, đã giúp người dân mưa thuận, gió hoà, cuộc sống ấm no và hạnh phúc. Lễ hội Thánh Quý Minh đại vương Thánh Quý Minh đại vương là 1 trong số những vị thần được người dân thờ phụng theo tín ngưỡng dân gian ở tại đền Trần, là một trong những tứ trấn của kinh đô Hoa Lư thời xưa, ngày nay thuộc khu du lịch tâm linh Tràng. Theo truyền thuyết dân gian, Ngài là 1 trong 3 anh em, 3 vị tướng đã được phong Thánh gồm đức Thánh Tản Viên, đức Thánh Cao Sơn và đức Thánh Quý Minh, có công trấn ải Sơn Nam, bảo vệ đất nước vào thời vua Hùng Duệ Vương (tức Hùng Vương thứ 18). Ngài là 1 "thượng đẳng thần," được các triều vua ban chiếu sắc phong, được nhân dân tôn là Thành hoàng làng ở rất nhiều nơi và Ngài nổi tiếng là vị thần linh ứng khi dân gian cầu đảo. Riêng ở tại tỉnh Ninh Bình có 66 đền thờ đức Thánh Quý Minh đại vương như ở đình làng Sinh Dược (xã Gia Sinh, Gia Viễn), núi Cánh Diều (thành phố Ninh Bình), núi Thiện Dưỡng và đền Kê Thượng (xã Ninh Vân, Hoa Lư)... Hàng nghìn thuyền rước trong lễ hội Đức Thánh Quý Minh Đại Vương Gần 1.000 chiếc thuyền đã đưa du khách đi vào 1 vùng non nước chứa đựng biết bao huyền thoại với những thung nước trong xanh và hệ thống hang động với lớp lớp nhũ đá lung linh kỳ ảo. Ở phía xa, núi non tứ bề hùng vĩ soi bóng xuống mặt nước phẳng lặng, thấp thoáng những đền đài, miếu mạo rêu phong, cổ kính, nơi đã từng là chỗ tích trữ lương thảo, nơi tập luyện của binh sĩ triều đại nhà Đinh (thế kỷ thứ X), in đậm dấu ấn 1 thời của kinh đô Hoa Lư lịch sử. Trong suốt cuộc hành trình rước kiệu, tiến về đền Trần để tham dự lễ hội, du khách sẽ được thả mình vào không gian thiên nhiên để chiêm ngưỡng cảnh vật trữ tình và nên thơ với những thung nước trong xanh, những hang động với lớp lớp nhũ đá lung linh kỳ ảo, những núi non bốn bề hùng vĩ soi bóng xuống làn nước phẳng lặng, những đền đài, những miếu mạo rêu phong, cổ kính, những vết tích một thời từng là nơi tích trữ lương thảo và tập rèn binh sĩ của triều Đinh. Các tiết mục nghệ thuật của đoàn chèo tỉnh Ninh Bình như: Hát chèo, hát xẩm, đánh trống,…đã mang lại cho du khách những món ăn tinh thần đặc sắc và sảng khoái trước khi xuống thuyền. Đặc sắc lễ hội Đức Thánh Quý Minh Đại Vương Đến khu vực đền Trình, đoàn thuyền quy tụ lại để tiến hành làm nghi lễ rước nước, phóng sinh, và biểu tượng rồng cuộn 3 vòng giữa dòng sông. Những nghi lễ này nhằm để cầu mưa thuận gió hòa đem lại cuộc sống ấm no hạnh phúc cho dân sinh. Những chùm bóng đủ các màu sắc rực rỡ cũng được thả bay lơ lửng giữa khung cảnh trời - non - nước. Vẻ đẹp của địa thế Tràng An “núi là thành, sông là đường, hang động là cung điện”, bỗng được tôn lên thật trang trọng và thật lộng lẫy. Lễ hội truyền thống Đức Thánh Quý Minh Đại Vương với quy mô và tầm vóc mới góp phần tạo cho Tràng An một vẻ đẹp tâm linh kỳ ảo hấp dẫn du khách thập phương./.

(lehoi.info)- Lễ hội Thánh Quý Minh đại vương được tổ chức vào 18/3 âm lịch, tại Tràng An, Bái Đính, Ninh Bình. Lễ hội này được tổ chức hàng năm để tưởng nhớ tới đức Thánh Quý Minh đại vương và phu nhân, người đã có công trong sự nghiệp gìn giữ nước nhà của dân tộc ta, cảm tạ ân đức của Ngài đã phù trợ, đã giúp người dân mưa thuận, gió hoà, cuộc sống ấm no và hạnh phúc.

Lễ hội Thánh Quý Minh đại vương

Thánh Quý Minh đại vương là 1 trong số những vị thần được người dân thờ phụng theo tín ngưỡng dân gian ở tại đền Trần, là một trong những tứ trấn của kinh đô Hoa Lư thời xưa, ngày nay thuộc khu du lịch tâm linh Tràng. Theo truyền thuyết dân gian, Ngài là 1 trong 3 anh em, 3 vị tướng đã được phong Thánh gồm đức Thánh Tản Viên, đức Thánh Cao Sơn và đức Thánh Quý Minh, có công trấn ải Sơn Nam, bảo vệ đất nước vào thời vua Hùng Duệ Vương (tức Hùng Vương thứ 18). Ngài là 1 "thượng đẳng thần," được các triều vua ban chiếu sắc phong, được nhân dân tôn là Thành hoàng làng ở rất nhiều nơi và Ngài nổi tiếng là vị thần linh ứng khi dân gian cầu đảo. Riêng ở tại tỉnh Ninh Bình có 66 đền thờ đức Thánh Quý Minh đại vương như ở đình làng Sinh Dược (xã Gia Sinh, Gia Viễn), núi Cánh Diều (thành phố Ninh Bình), núi Thiện Dưỡng và đền Kê Thượng (xã Ninh Vân, Hoa Lư)... Hàng nghìn thuyền rước trong lễ hội Đức Thánh Quý Minh Đại Vương Gần 1.000 chiếc thuyền đã đưa du khách đi vào 1 vùng non nước chứa đựng biết bao huyền thoại với những thung nước trong xanh và hệ thống hang động với lớp lớp nhũ đá lung linh kỳ ảo. Ở phía xa, núi non tứ bề hùng vĩ soi bóng xuống mặt nước phẳng lặng, thấp thoáng những đền đài, miếu mạo rêu phong, cổ kính, nơi đã từng là chỗ tích trữ lương thảo, nơi tập luyện của binh sĩ triều đại nhà Đinh (thế kỷ thứ X), in đậm dấu ấn 1 thời của kinh đô Hoa Lư lịch sử. Trong suốt cuộc hành trình rước kiệu, tiến về đền Trần để tham dự lễ hội, du khách sẽ được thả mình vào không gian thiên nhiên để chiêm ngưỡng cảnh vật trữ tình và nên thơ với những thung nước trong xanh, những hang động với lớp lớp nhũ đá lung linh kỳ ảo, những núi non bốn bề hùng vĩ soi bóng xuống làn nước phẳng lặng, những đền đài, những miếu mạo rêu phong, cổ kính, những vết tích một thời từng là nơi tích trữ lương thảo và tập rèn binh sĩ của triều Đinh. Các tiết mục nghệ thuật của đoàn chèo tỉnh Ninh Bình như: Hát chèo, hát xẩm, đánh trống,…đã mang lại cho du khách những món ăn tinh thần đặc sắc và sảng khoái trước khi xuống thuyền. Đặc sắc lễ hội Đức Thánh Quý Minh Đại Vương Đến khu vực đền Trình, đoàn thuyền quy tụ lại để tiến hành làm nghi lễ rước nước, phóng sinh, và biểu tượng rồng cuộn 3 vòng giữa dòng sông. Những nghi lễ này nhằm để cầu mưa thuận gió hòa đem lại cuộc sống ấm no hạnh phúc cho dân sinh. Những chùm bóng đủ các màu sắc rực rỡ cũng được thả bay lơ lửng giữa khung cảnh trời - non - nước. Vẻ đẹp của địa thế Tràng An “núi là thành, sông là đường, hang động là cung điện”, bỗng được tôn lên thật trang trọng và thật lộng lẫy. Lễ hội truyền thống Đức Thánh Quý Minh Đại Vương với quy mô và tầm vóc mới góp phần tạo cho Tràng An một vẻ đẹp tâm linh kỳ ảo hấp dẫn du khách thập phương./.

Related Figures

Lễ cúng Hà Bá

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/3- 30/3 Âm lịch (lehoi.info) - Lễ cúng thần sông hà bá diễn ra hàng năm vào tháng 3 Ấm lịch, tại địa điểm khúc sông Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình đã trở thành 1 tập tục độc đáo có từ ngàn đời nay. Độc đáo lễ cúng hà bá trên 'Hạ Long cạn' tại Ninh Bình Lễ cúng thần sông hà bá được tổ chức là để cầu cho 1 năm mưa thuận gió hoà. Đây là một phong tục đặc trưng của nhiều vùng gắn bó với đời sống sông nước của vùng Đồng bằng Bắc Bộ. Chiếc thuyền chở ông chủ tế và 2 trinh nữ đang làm nghi thức bên cạnh cây tre trồng trên mặt sông Buổi lễ được diễn ra rất long trọng, dẫn đầu là chiếc thuyển chở ông chủ tế và 2 trinh nữ. Nối đuôi là hàng trăm chiếc thuyền chở đoàn tế lễ mặc sắc phục truyền thống đến địa điểm khúc sông Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình để tiến hành làm nghi thức bên cạnh cây tre trồng trên mặt sông. Hai trinh nữ tham gia lễ tế có nhiệm vụ lấy nước sông bằng một chiếc gáo dừa, cho vào chiếc bình gốm để đoàn rước đưa nước lên Đền Thờ Đức Thành Trần dựng trong một thung lũng cách đó khoảng chừng 5km. Sau khi buổi lễ cúng thần sông được tiến hành xong, đoàn thuyền sẽ đi dọc khúc sông dài chừng 5km để tiến đến đền thờ Đức Thành Trần, ngôi đền thờ cổ hàng trăm năm tuổi được dựng bằng đá nguyên khối ở trong 1 thung lũng. Hàng ngàn người hàng trăm thuyền có mặt trên khúc sông tiến hành buổi tế Hệ thống sông nước chảy theo chiều Bắc - Nam gắn liền với quần thể núi non và hang động đã tạo cho “Hạ Long cạn” Ninh Bình một đặc trưng riêng biệt mà không vùng nào có. Cùng với cố đô của triều đại phong kiến hưng thịnh 1 thời, những địa danh tâm linh ở nơi đây đã thu hút hàng ngàn người đổ về tham dự. Lễ cúng thần sông hà bá được tổ chức trên sông Trường Yên, Hoa Lư, Ninh Bình là một trong nhiều hoạt động của lễ hội truyền thống Thánh Quý Minh Đại Vương của những người dân bản địa. Hàng ngàn người dân trong vùng và ở khắp cả nước đã có mặt để tận mắt chứng kiến lễ hội tưng bừng đẫm sắc màu văn hoá của vùng văn vật./.

(lehoi.info) - Lễ cúng thần sông hà bá diễn ra hàng năm vào tháng 3 Ấm lịch, tại địa điểm khúc sông Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình đã trở thành 1 tập tục độc đáo có từ ngàn đời nay.

Độc đáo lễ cúng hà bá trên 'Hạ Long cạn' tại Ninh Bình

Lễ cúng thần sông hà bá được tổ chức là để cầu cho 1 năm mưa thuận gió hoà. Đây là một phong tục đặc trưng của nhiều vùng gắn bó với đời sống sông nước của vùng Đồng bằng Bắc Bộ. Chiếc thuyền chở ông chủ tế và 2 trinh nữ đang làm nghi thức bên cạnh cây tre trồng trên mặt sông Buổi lễ được diễn ra rất long trọng, dẫn đầu là chiếc thuyển chở ông chủ tế và 2 trinh nữ. Nối đuôi là hàng trăm chiếc thuyền chở đoàn tế lễ mặc sắc phục truyền thống đến địa điểm khúc sông Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình để tiến hành làm nghi thức bên cạnh cây tre trồng trên mặt sông. Hai trinh nữ tham gia lễ tế có nhiệm vụ lấy nước sông bằng một chiếc gáo dừa, cho vào chiếc bình gốm để đoàn rước đưa nước lên Đền Thờ Đức Thành Trần dựng trong một thung lũng cách đó khoảng chừng 5km. Sau khi buổi lễ cúng thần sông được tiến hành xong, đoàn thuyền sẽ đi dọc khúc sông dài chừng 5km để tiến đến đền thờ Đức Thành Trần, ngôi đền thờ cổ hàng trăm năm tuổi được dựng bằng đá nguyên khối ở trong 1 thung lũng. Hàng ngàn người hàng trăm thuyền có mặt trên khúc sông tiến hành buổi tế Hệ thống sông nước chảy theo chiều Bắc - Nam gắn liền với quần thể núi non và hang động đã tạo cho “Hạ Long cạn” Ninh Bình một đặc trưng riêng biệt mà không vùng nào có. Cùng với cố đô của triều đại phong kiến hưng thịnh 1 thời, những địa danh tâm linh ở nơi đây đã thu hút hàng ngàn người đổ về tham dự. Lễ cúng thần sông hà bá được tổ chức trên sông Trường Yên, Hoa Lư, Ninh Bình là một trong nhiều hoạt động của lễ hội truyền thống Thánh Quý Minh Đại Vương của những người dân bản địa. Hàng ngàn người dân trong vùng và ở khắp cả nước đã có mặt để tận mắt chứng kiến lễ hội tưng bừng đẫm sắc màu văn hoá của vùng văn vật./.

Related Figures

Lễ hội Trường Yên

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 9/3- 11/3 Âm lịch (lehoi.info) - Lễ hội Trường Yên diễn ra từ ngày mùng 9 đến ngày 11 tháng 3 âm lịch hàng năm, tại Xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Lễ hội này nhằm suy tôn công đức của Vua Đinh Tiên Hoàng và vua Lê Đại Hành. Lễ hội Trường Yên Tương truyền, ngày mùng 10 tháng 3 là ngày vua Đinh lên ngôi Hoàng đế. Vì vậy ngày Hội chính là ngày mùng 10 tháng 3 gồm hai nghi lễ trang nghiêm đó là lễ rước nước và lễ tế. Vào giờ phút thiêng liêng trong ngày mùng 10 tháng 3, đoàn rước nước sẽ khởi hành từ đền vua Đinh Tiên Hoàng, đi đầu là cờ ngũ hành và cờ hành thuỷ (màu đen) đi giữa, sau là đến đoàn múa rồng biểu hiện cho ý thức cầu nước và là biểu tượng vật thiêng (rồng vàng) từng cứu Đinh Tiên Hoàng thuở hàn vi; rồi tới phường bát âm đi hàng đôi, tiếp theo đến kiệu long đình do 4 chàng trai khiêng, trên có đặt một cái choé để đựng nước Thánh và đoàn rước tiến về phía sông Hoàng Long. Khi đoàn rước đến sông Hoàng Long và xuống thuyền. Đoàn rước có một thuyền rồng (thuyền chính) chèo ra giữa sông để làm lễ, sau đó thả đồ vàng mã và thả đồ lễ xuống sông để tạ ơn Hà Bá. Tiếp đó người chủ tế sẽ thả một chiếc vòng tròn vải đỏ xuống dòng sông, nước được múc từ trong vòng tròn này và đổ vào choé qua một lớp vải đỏ trên miệng. Nước trong vòng tròn vải đỏ là được lọc qua lớp vải sẽ càng tinh khiết hơn. Khi nước đã đầy choé, các thuyền tản ra và quay mũi về bến, riêng thuyền rước choé nước còn phải quay sang bên trái rồi mới trở lại bến cũ và tiếp tục cuộc rước nước về đền. Lễ rước nước – nét đẹp văn hóa của Lễ hội truyền thống Trường Yên Lễ tế được diễn ra vào ban đêm cùng lúc ở 2 đền vua Đinh và vua Lê. Bài văn tế được chia thành chín đoạn (cửu khúc). Sau khi chủ tế xướng xong một đoạn thì có hai người phường nhà trò (một nam - đàn; một nữ - hát) diễn giải lại nội dung đoạn văn tế bằng một điệu ca trù. Kết thúc lễ tế, những du khách hành hương trảy hội vào điện thờ ở hai đền dâng hương làm lễ và chiêm bái di tích. Những du khách trảy hội có thể tham dự các trò vui, các cuộc đấu như: vật, võ, đu bay, đua thuyền, bình thơ, hát chầu văn, thi thơ, trò kéo chữ, múa rồng, múa gậy, múa lân hoặc chơi cờ người... Thi đấu cờ người tại Lễ hội Trường Yên Độc đáo nhất của hội Trường Yên đó là trò "Cờ lau tập trận", diễn lại sự tích quãng đời chăn trâu thuở nhỏ của Đinh Bộ Lĩnh trên vùng đất Trường Yên./.

(lehoi.info) - Lễ hội Trường Yên diễn ra từ ngày mùng 9 đến ngày 11 tháng 3 âm lịch hàng năm, tại Xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Lễ hội này nhằm suy tôn công đức của Vua Đinh Tiên Hoàng và vua Lê Đại Hành.

Lễ hội Trường Yên

Tương truyền, ngày mùng 10 tháng 3 là ngày vua Đinh lên ngôi Hoàng đế. Vì vậy ngày Hội chính là ngày mùng 10 tháng 3 gồm hai nghi lễ trang nghiêm đó là lễ rước nước và lễ tế. Vào giờ phút thiêng liêng trong ngày mùng 10 tháng 3, đoàn rước nước sẽ khởi hành từ đền vua Đinh Tiên Hoàng, đi đầu là cờ ngũ hành và cờ hành thuỷ (màu đen) đi giữa, sau là đến đoàn múa rồng biểu hiện cho ý thức cầu nước và là biểu tượng vật thiêng (rồng vàng) từng cứu Đinh Tiên Hoàng thuở hàn vi; rồi tới phường bát âm đi hàng đôi, tiếp theo đến kiệu long đình do 4 chàng trai khiêng, trên có đặt một cái choé để đựng nước Thánh và đoàn rước tiến về phía sông Hoàng Long. Khi đoàn rước đến sông Hoàng Long và xuống thuyền. Đoàn rước có một thuyền rồng (thuyền chính) chèo ra giữa sông để làm lễ, sau đó thả đồ vàng mã và thả đồ lễ xuống sông để tạ ơn Hà Bá. Tiếp đó người chủ tế sẽ thả một chiếc vòng tròn vải đỏ xuống dòng sông, nước được múc từ trong vòng tròn này và đổ vào choé qua một lớp vải đỏ trên miệng. Nước trong vòng tròn vải đỏ là được lọc qua lớp vải sẽ càng tinh khiết hơn. Khi nước đã đầy choé, các thuyền tản ra và quay mũi về bến, riêng thuyền rước choé nước còn phải quay sang bên trái rồi mới trở lại bến cũ và tiếp tục cuộc rước nước về đền. Lễ rước nước – nét đẹp văn hóa của Lễ hội truyền thống Trường Yên Lễ tế được diễn ra vào ban đêm cùng lúc ở 2 đền vua Đinh và vua Lê. Bài văn tế được chia thành chín đoạn (cửu khúc). Sau khi chủ tế xướng xong một đoạn thì có hai người phường nhà trò (một nam - đàn; một nữ - hát) diễn giải lại nội dung đoạn văn tế bằng một điệu ca trù. Kết thúc lễ tế, những du khách hành hương trảy hội vào điện thờ ở hai đền dâng hương làm lễ và chiêm bái di tích. Những du khách trảy hội có thể tham dự các trò vui, các cuộc đấu như: vật, võ, đu bay, đua thuyền, bình thơ, hát chầu văn, thi thơ, trò kéo chữ, múa rồng, múa gậy, múa lân hoặc chơi cờ người... Thi đấu cờ người tại Lễ hội Trường Yên Độc đáo nhất của hội Trường Yên đó là trò "Cờ lau tập trận", diễn lại sự tích quãng đời chăn trâu thuở nhỏ của Đinh Bộ Lĩnh trên vùng đất Trường Yên./.

Related Figures

Lễ hội đình Voi đá ngựa đá

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 12/10 Âm lịch (lehoi.info) - Lễ hội đình Voi đá ngựa đá được tổ chức vào ngày 12 tháng 10 hàng năm, tại làng Cam Giá thuộc xã Ninh Khánh, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Ngoài ý nghĩa “báo bản” còn có cả ý nghĩa phồn thực, đó là tục lễ độc đáo: Lễ xôi đâm, làm xôi đâm, thi xôi đâm và thưởng thức xôi đâm. Đặc sắc lễ hội đình Voi đá ngựa đá tại Ninh Bình Làng Cam Giá thuộc xã Ninh Khánh, Hoa Lư ở sát phía Bắc thị xã Ninh Bình. Ở nơi đây có đình voi đá ngựa đá cổ kính. Đình có từ đời Trần, cách đây khoảng năm trăm năm, đình được xây dựng lại quy mô lớn ở thời Hậu Lê, đến nay đã trên ba trăm năm. Trước cửa đình có cây lộc vừng trường tồn đã hơn ba trăm năm tuổi, có bia đá rêu phong ghi công đức của các vị thần Hoàng làng, có 4 voi đá và ngựa đá, mỗi con nặng hàng tấn. Trước cửa đình còn có một hồ sen hình bán nguyệt, đường kính dài tới 60m, mới được dân làng góp tiền công tới 70 triệu đồng để tôn tạo và xây tường hoa bao quanh bờ hồ, ở giữa dựng một quả non bộ “Ngũ hoành sơn” cao hơn 4m… Tất cả đều ở ngay bên lề đường tại Km số 3 quốc lộ 1A đường Ninh Bình-Hà Nội. Ngoài những cảnh quan, những hiện vật mang đậm dấu tích văn hóa lịch sử bằng vật thể kể trên, thì ở đây còn có một di sản văn hóa phi vật thể đáng quý đó là lễ hội đình voi đá ngựa đá của làng Cam Giá. Một nghi thức trong lễ hội Lễ hội này được tổ chức vào ngày 12 tháng 10 âm lịch hàng năm. Các cụ cao tuổi ở nơi đây cho biết: Lễ hội này nặng về phần lễ và từ xưa đến nay chưa bỏ lễ năm nào. Lễ hội là nhằm nhắc nhở con cháu nhớ về cội nguồn nhớ về tổ tiên, biết ơn những người đã có nhiều công đức đối với làng. Đó là các thần hoàng đã được phong sắc. Sắc phong sớm nhất đề ngày 21 tháng 5 Cảnh Thịnh thứ 4 (1796) cho phép lành tôn thờ Lã Gia là “Thượng đẳng tối linh đại vương” đã có công đức “Bảo dân quốc hùng lược an dân”. Tiếp sau là 2 vị sắc phong thần Hoàng làng đó là Hồng Đức Thái sư Câu mang, người đã có công khai phá đất Cam Giá, giáo dân và truyền dạy chữ nghĩa. Vị thần Hoàng làng thou ba được tôn thờ đó là Quận công Lê Trung Nghĩa. Trong sắc phong ở thời Nguyễn (Tự Đức) có đoạn: “Quận công Lê húy Trung Nghĩa sĩ Lê triều phụ quốc thượng tướng quân tá đô đốc hữu tự mãn Lê triều Cảnh Hưng Cảnh Thịnh”. Quận công Lê Trung Nghĩa (có họ là Nguyễn được đổi lấy họ vua) vừa là quan lớn của triều đình Lê, lại vừa là rể làng nên làng Cam Giá được ông tặng cho một số ruộng tốt (khoảng 14 mẫu) để lấy hoa lợi gây công quỹ chi phí cho lễ hội hàng năng của làng. Lễ hội của làng được tổ chức vào ngày 12 tháng 10, nhưng mọi việc chuẩn bị đã diễn ra hàng tuần trước. Chiều ngày 11 và cả đêm hôm đó ở đình đã có cờ quạt, trống phách và tế lễ linh đình. Ở 8 giáp của làng (nay là 5 xóm) hối hả làm đồ cúng lễ nhộn nhịp suốt cả đêm và sáng sớm hôm sau, ngày 12, có 2 đội múa lân của làng, xuất phát từ đình, cờ rong trống mở đi về trụ sở của các giáp (nay thì là các xóm) để rước lễ về đình. Mỗi giáp chuẩn bị 1 kiệu đẹp sơn vàng son, có đặt lễ bên trong và có 4 thanh niên nam nữ mặc quần áo chỉnh tề khiêng kiệu cùng với dân xóm rước kiệu, cờ quạt ra đình để dự lễ. Sau rước lễ là đến phần lễ chính thức. Chủ tế sẽ đọc lại các sắc phong và nêu tiểu sử công đức của các vị tiền bối… Sau đó là tế lễ và dâng hương của nam quan, nữ quan (Ngày xưa thì không có nữ quan). Tiếp theo sau là các giáp sẽ vào tế lễ theo nghi thức cổ truyền. Sau phần lễ là đến phần hội, có diễn trò và các trò chơi dân gian như chọi gà, chơi cờ, cờ người và múa kiếm… Bản thân những công việc chuẩn bị, lễ nghi cũng đã có cả nội dung phần hội. Các mâm xôi đâm dự thi của các làng Tất cả 8 giáp ở trong làng đều có phần ruộng công để thu hoa lợi dùng vào việc mua đồ tế lễ hàng năm mà chủ yếu ở đây là mua gạo nếp hương hoa vàng thơm ngon để làm món xôi đâm. Làm xôi đâm khá là công phu. Người ta phải chọn gạo nếp còn mới, hạt trắng bóng, mẩy đều, tinh khiết thơm ngon được ngâm và vo kỹ rồi đem đồ chín đúng độ. Xôi được bỏ vào các thúng tre mới có lót mo cau đã được rửa sạch. Người ta dùng chày đứng dài khoảng 1,5m được làm bằng những khúc tre đực tươi rắn chắc, cứ thế mà đâm, mà thúc, mà lèn thật mạnh vào thúng xôi. Bao giờ hạt xôi dính nhuyễn vào với nhau mà không bứt ra đựơc thì mới dừng. Những người đứng làm công việc này không chỉ khỏe mạnh mà quần áo phải mặc đẹp, gọn gàng và chỉnh tề. Sau khi làm xong, người ta sẽ úp trọn vẹn thúng xôi lên các mâm tròn, rồi dùng kim nhọn để khêu hết các hạt xôi bị đen vàng ra, còn lại mâm xôi đầy đặn, trắng tinh và rất đẹp mắt. Trên mỗi mâm xôi có đặt một thủ lợn hoặc một khổ thịt lợn luộc vuông vắn rồi mới đem lên tế lễ. Sau tế lễ, Ban tổ chức sẽ đi “khám” xôi (chấm giải). Xôi đâm của giáp nào vừa đẹp lại vừa ngon sẽ được thưởng bằng tiền. Sau đó các giáp dùng dao lớn sắt các mâm xôi đâm ra từng phần và từng xuất nhỏ để phân phát về cho các gia đình theo xuất đinh (xưa) và theo hộ gia đình (nay). Mỗi lát xôi đâm trắng mịn, thơm ngon trông giống như những miếng giò lụa, chỉ cần tay sạch, cầm ăn trực tiếp rất đơn giản mà rất ngon lành! Bản thân những công việc đồ xôi, đâm xôi, đơm lễ, khám xôi (chấm thi) và chia phần bận rộn tíu tít suốt buổi chiều ngày hôm trước đến quá trưa ngày hôm sau đã là sự phô diễn những vẻ đẹp hồn hậu, trong sáng và điêu luyện của cả dân làng góp nên sự hân hoan nồng nhiệt của lễ hội đình Voi đá ngựa đá làng Cam Giá./.

(lehoi.info) - Lễ hội đình Voi đá ngựa đá được tổ chức vào ngày 12 tháng 10 hàng năm, tại làng Cam Giá thuộc xã Ninh Khánh, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Ngoài ý nghĩa “báo bản” còn có cả ý nghĩa phồn thực, đó là tục lễ độc đáo: Lễ xôi đâm, làm xôi đâm, thi xôi đâm và thưởng thức xôi đâm.

Đặc sắc lễ hội đình Voi đá ngựa đá tại Ninh Bình

Làng Cam Giá thuộc xã Ninh Khánh, Hoa Lư ở sát phía Bắc thị xã Ninh Bình. Ở nơi đây có đình voi đá ngựa đá cổ kính. Đình có từ đời Trần, cách đây khoảng năm trăm năm, đình được xây dựng lại quy mô lớn ở thời Hậu Lê, đến nay đã trên ba trăm năm. Trước cửa đình có cây lộc vừng trường tồn đã hơn ba trăm năm tuổi, có bia đá rêu phong ghi công đức của các vị thần Hoàng làng, có 4 voi đá và ngựa đá, mỗi con nặng hàng tấn. Trước cửa đình còn có một hồ sen hình bán nguyệt, đường kính dài tới 60m, mới được dân làng góp tiền công tới 70 triệu đồng để tôn tạo và xây tường hoa bao quanh bờ hồ, ở giữa dựng một quả non bộ “Ngũ hoành sơn” cao hơn 4m… Tất cả đều ở ngay bên lề đường tại Km số 3 quốc lộ 1A đường Ninh Bình-Hà Nội. Ngoài những cảnh quan, những hiện vật mang đậm dấu tích văn hóa lịch sử bằng vật thể kể trên, thì ở đây còn có một di sản văn hóa phi vật thể đáng quý đó là lễ hội đình voi đá ngựa đá của làng Cam Giá. Một nghi thức trong lễ hội Lễ hội này được tổ chức vào ngày 12 tháng 10 âm lịch hàng năm. Các cụ cao tuổi ở nơi đây cho biết: Lễ hội này nặng về phần lễ và từ xưa đến nay chưa bỏ lễ năm nào. Lễ hội là nhằm nhắc nhở con cháu nhớ về cội nguồn nhớ về tổ tiên, biết ơn những người đã có nhiều công đức đối với làng. Đó là các thần hoàng đã được phong sắc. Sắc phong sớm nhất đề ngày 21 tháng 5 Cảnh Thịnh thứ 4 (1796) cho phép lành tôn thờ Lã Gia là “Thượng đẳng tối linh đại vương” đã có công đức “Bảo dân quốc hùng lược an dân”. Tiếp sau là 2 vị sắc phong thần Hoàng làng đó là Hồng Đức Thái sư Câu mang, người đã có công khai phá đất Cam Giá, giáo dân và truyền dạy chữ nghĩa. Vị thần Hoàng làng thou ba được tôn thờ đó là Quận công Lê Trung Nghĩa. Trong sắc phong ở thời Nguyễn (Tự Đức) có đoạn: “Quận công Lê húy Trung Nghĩa sĩ Lê triều phụ quốc thượng tướng quân tá đô đốc hữu tự mãn Lê triều Cảnh Hưng Cảnh Thịnh”. Quận công Lê Trung Nghĩa (có họ là Nguyễn được đổi lấy họ vua) vừa là quan lớn của triều đình Lê, lại vừa là rể làng nên làng Cam Giá được ông tặng cho một số ruộng tốt (khoảng 14 mẫu) để lấy hoa lợi gây công quỹ chi phí cho lễ hội hàng năng của làng. Lễ hội của làng được tổ chức vào ngày 12 tháng 10, nhưng mọi việc chuẩn bị đã diễn ra hàng tuần trước. Chiều ngày 11 và cả đêm hôm đó ở đình đã có cờ quạt, trống phách và tế lễ linh đình. Ở 8 giáp của làng (nay là 5 xóm) hối hả làm đồ cúng lễ nhộn nhịp suốt cả đêm và sáng sớm hôm sau, ngày 12, có 2 đội múa lân của làng, xuất phát từ đình, cờ rong trống mở đi về trụ sở của các giáp (nay thì là các xóm) để rước lễ về đình. Mỗi giáp chuẩn bị 1 kiệu đẹp sơn vàng son, có đặt lễ bên trong và có 4 thanh niên nam nữ mặc quần áo chỉnh tề khiêng kiệu cùng với dân xóm rước kiệu, cờ quạt ra đình để dự lễ. Sau rước lễ là đến phần lễ chính thức. Chủ tế sẽ đọc lại các sắc phong và nêu tiểu sử công đức của các vị tiền bối… Sau đó là tế lễ và dâng hương của nam quan, nữ quan (Ngày xưa thì không có nữ quan). Tiếp theo sau là các giáp sẽ vào tế lễ theo nghi thức cổ truyền. Sau phần lễ là đến phần hội, có diễn trò và các trò chơi dân gian như chọi gà, chơi cờ, cờ người và múa kiếm… Bản thân những công việc chuẩn bị, lễ nghi cũng đã có cả nội dung phần hội. Các mâm xôi đâm dự thi của các làng Tất cả 8 giáp ở trong làng đều có phần ruộng công để thu hoa lợi dùng vào việc mua đồ tế lễ hàng năm mà chủ yếu ở đây là mua gạo nếp hương hoa vàng thơm ngon để làm món xôi đâm. Làm xôi đâm khá là công phu. Người ta phải chọn gạo nếp còn mới, hạt trắng bóng, mẩy đều, tinh khiết thơm ngon được ngâm và vo kỹ rồi đem đồ chín đúng độ. Xôi được bỏ vào các thúng tre mới có lót mo cau đã được rửa sạch. Người ta dùng chày đứng dài khoảng 1,5m được làm bằng những khúc tre đực tươi rắn chắc, cứ thế mà đâm, mà thúc, mà lèn thật mạnh vào thúng xôi. Bao giờ hạt xôi dính nhuyễn vào với nhau mà không bứt ra đựơc thì mới dừng. Những người đứng làm công việc này không chỉ khỏe mạnh mà quần áo phải mặc đẹp, gọn gàng và chỉnh tề. Sau khi làm xong, người ta sẽ úp trọn vẹn thúng xôi lên các mâm tròn, rồi dùng kim nhọn để khêu hết các hạt xôi bị đen vàng ra, còn lại mâm xôi đầy đặn, trắng tinh và rất đẹp mắt. Trên mỗi mâm xôi có đặt một thủ lợn hoặc một khổ thịt lợn luộc vuông vắn rồi mới đem lên tế lễ. Sau tế lễ, Ban tổ chức sẽ đi “khám” xôi (chấm giải). Xôi đâm của giáp nào vừa đẹp lại vừa ngon sẽ được thưởng bằng tiền. Sau đó các giáp dùng dao lớn sắt các mâm xôi đâm ra từng phần và từng xuất nhỏ để phân phát về cho các gia đình theo xuất đinh (xưa) và theo hộ gia đình (nay). Mỗi lát xôi đâm trắng mịn, thơm ngon trông giống như những miếng giò lụa, chỉ cần tay sạch, cầm ăn trực tiếp rất đơn giản mà rất ngon lành! Bản thân những công việc đồ xôi, đâm xôi, đơm lễ, khám xôi (chấm thi) và chia phần bận rộn tíu tít suốt buổi chiều ngày hôm trước đến quá trưa ngày hôm sau đã là sự phô diễn những vẻ đẹp hồn hậu, trong sáng và điêu luyện của cả dân làng góp nên sự hân hoan nồng nhiệt của lễ hội đình Voi đá ngựa đá làng Cam Giá./.

Related Figures

Lễ hội Vua Mai Thúc Loan

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 13/1- 16/1 Âm lịch (lehoi.info)- Lễ hội được diễn ra trong vòng 3 ngày từ ngày 13 đến ngày 16 tháng giêng hàng năm tổ chức ở khu mộ vua (xóm Hà Long, xã Vân Diên, Nam Đàn, Nghệ An) để tưởng nhớ tới công tích của Mai Thúc Loan - Vị vua đã có công lãnh đạo nhân dân nổi dậy chống lại ách thống trị hà khắc của nhà Đường và lập nên nhà nước Vạn An độc lập, tự chủ ở thế kỷ VIII (722-726). Tưng bừng lễ hội Vua Mai Thúc Loan Lễ hội Vua Mai là một lễ hội vùng của tỉnh Nghệ An, lễ hội được tổ chức theo quy mô vừa nhưng nó vẫn mang những nghi thức chung như nhiều nơi trong tỉnh và trong cả nước: lễ tế, rước kiệu, đua thuyền và hội vật… Phần lễ được diễn ra trong 3 ngày. • Ngày 13 tháng 1: Lễ khai quang tại mộ, đền thờ và mộ thân mẫu Vua Mai. • Ngày 14 tháng 1: Lễ yết cáo tại khu mộ, đền thờ và mộ thân mẫu Vua Mai. • Ngày 15 tháng 1: Đại tế. Vào buổi sáng: Các làng ở trong vùng rước kiệu về Đền Vua Mai để hội tế theo nghi lễ của Triều đình. Lễ hội Vua Mai Thúc Loan Vào buổi chiều: Lễ dâng hương tại mộ và lễ tạ tại đền. Phần hội: Diễn ra trong 3 ngày ngày 14, ngày 15 và ngày 16 tháng 1 âm lịch. Những trò chơi dân gian trong lễ hội Các trò chơi dân gian xưa như: Đua thuyền, đấu vật, hát văn, hát ví, hát đối, đánh đu, đi cà kheo, leo cột mỡ, cướp cờ và đánh cờ….trong đó đua thuyền là vui vẻ và độc đáo nhất còn các trò chơi như hát đối, đấu vật, đánh đu là kéo dài ngày nhất. Hiện nay, ngoài những trò chơi dân gian còn có các hoạt động văn hoá, văn nghệ - thể thao khác như: múa, hát, chiếu phim và triển lãm các chuyên đề lưu động, bóng chuyền, bóng đá; tổ chức tham quan các di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh ở quanh khu vực lễ hội như Di tích tưởng niệm cụ Phan Bội Châu, di tích Kim Liên, mộ đồng chí Lê Hồng Phong, Khe Bò Đái, Bến Sa Nam… Hội đua thuyền trong lễ hội Vua Mai Thúc Loan Thông qua lễ hội, các tầng lớp nhân dân, nhất là những thanh thiếu niên sẽ hiểu rõ được cội nguồn của dân tộc, công lao đức độ của Vua Mai cùng với các tướng lĩnh của ông. Các giá trị truyền thống như yêu nước, đoàn kết cộng đồng và hiếu học đã được nhắc lại và trao quyền cho các thế hệ trẻ. Mặt khác lễ hội còn góp phần giúp cho mọi người tìm hiểu, thưởng ngoạn các giá trị văn hóa thông qua các di tích đền thờ, lễ hội Vua Mai, phát huy văn hóa truyền thống và phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc ta.

(lehoi.info)- Lễ hội được diễn ra trong vòng 3 ngày từ ngày 13 đến ngày 16 tháng giêng hàng năm tổ chức ở khu mộ vua (xóm Hà Long, xã Vân Diên, Nam Đàn, Nghệ An) để tưởng nhớ tới công tích của Mai Thúc Loan - Vị vua đã có công lãnh đạo nhân dân nổi dậy chống lại ách thống trị hà khắc của nhà Đường và lập nên nhà nước Vạn An độc lập, tự chủ ở thế kỷ VIII (722-726).

Tưng bừng lễ hội Vua Mai Thúc Loan

Lễ hội Vua Mai là một lễ hội vùng của tỉnh Nghệ An, lễ hội được tổ chức theo quy mô vừa nhưng nó vẫn mang những nghi thức chung như nhiều nơi trong tỉnh và trong cả nước: lễ tế, rước kiệu, đua thuyền và hội vật… Phần lễ được diễn ra trong 3 ngày. • Ngày 13 tháng 1: Lễ khai quang tại mộ, đền thờ và mộ thân mẫu Vua Mai. • Ngày 14 tháng 1: Lễ yết cáo tại khu mộ, đền thờ và mộ thân mẫu Vua Mai. • Ngày 15 tháng 1: Đại tế. Vào buổi sáng: Các làng ở trong vùng rước kiệu về Đền Vua Mai để hội tế theo nghi lễ của Triều đình. Lễ hội Vua Mai Thúc Loan Vào buổi chiều: Lễ dâng hương tại mộ và lễ tạ tại đền. Phần hội: Diễn ra trong 3 ngày ngày 14, ngày 15 và ngày 16 tháng 1 âm lịch. Những trò chơi dân gian trong lễ hội Các trò chơi dân gian xưa như: Đua thuyền, đấu vật, hát văn, hát ví, hát đối, đánh đu, đi cà kheo, leo cột mỡ, cướp cờ và đánh cờ….trong đó đua thuyền là vui vẻ và độc đáo nhất còn các trò chơi như hát đối, đấu vật, đánh đu là kéo dài ngày nhất. Hiện nay, ngoài những trò chơi dân gian còn có các hoạt động văn hoá, văn nghệ - thể thao khác như: múa, hát, chiếu phim và triển lãm các chuyên đề lưu động, bóng chuyền, bóng đá; tổ chức tham quan các di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh ở quanh khu vực lễ hội như Di tích tưởng niệm cụ Phan Bội Châu, di tích Kim Liên, mộ đồng chí Lê Hồng Phong, Khe Bò Đái, Bến Sa Nam… Hội đua thuyền trong lễ hội Vua Mai Thúc Loan Thông qua lễ hội, các tầng lớp nhân dân, nhất là những thanh thiếu niên sẽ hiểu rõ được cội nguồn của dân tộc, công lao đức độ của Vua Mai cùng với các tướng lĩnh của ông. Các giá trị truyền thống như yêu nước, đoàn kết cộng đồng và hiếu học đã được nhắc lại và trao quyền cho các thế hệ trẻ. Mặt khác lễ hội còn góp phần giúp cho mọi người tìm hiểu, thưởng ngoạn các giá trị văn hóa thông qua các di tích đền thờ, lễ hội Vua Mai, phát huy văn hóa truyền thống và phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc ta.

Những trò chơi dân gian trong lễ hội

Related Figures

Lễ hội đền Cuông

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 12/2- 16/2 Âm lịch Nối tiếp lễ hội Cổ Loa được diễn ra tại Đông Anh - Hà Nội, là lễ hội Đền Cuông được tổ chức long trọng từ ngày 12 đến ngày 16 tháng 2 âm lịch, trong đó ngày chính lễ là ngày 14 và ngày 15 tháng 2 tại xã Diễn An, Diễn Châu, Nghệ An. Theo truyền thuyết,lễ hội đền Cuông (hay đền Công) không chỉ là dịp để cầu phúc cầu tài mà còn là dịp để lòng người ghi dấu đoạn kết của câu chuyện Loa Thành: An Dương Vương đem công chúa Mỵ Châu chạy trốn kẻ thù và tới Diễn Châu thì dừng lại. Lễ hội Đền Cuông được chính thức ra đời từ năm 1993, còn trước đó nó chỉ tồn tại dưới hình thức là lễ tế thần. Lễ hội đền Cuông Phần lễ của lễ hội đền Cuông bao gồm 5 lễ: lễ khai quang, lễ yết, lễ cáo trung thiên, lễ đại và lễ tạ. Ngoài ra, còn có thêm lễ túc trực. Khi tham gia lễ, các vị trong ban hành lễ sẽ phải mặc lễ phục theo quy định. Lễ khai quang là lễ diễn ra đầu tiên trong lễ hội đền Cuông. Lễ được tổ chức vào ngày 12/2 âm lịch hàng năm. Nội dung của phần lễ này là dâng hương xin các vị về trời để nhân dân làm công tác don dẹp đền chuẩn bị cho lễ hội sắp tới. Lễ cáo trung thiên được tổ chức ngay sau khi kết thúc công việc dọn dẹp. Lễ diễn ra rất đơn giản và nhanh chóng. Nội dung của lễ là báo cáo với các vị công việc dọn dẹp đền đã được hoàn thành, mời các vị về đền để tham dự lễ hội và lắng nghe những nguyện vọng, mong ước và chứng giám cho lòng thành kính của nhân dân. Lễ yết là lễ thứ 3 trong phần lễ và cũng là lễ có tính chất mở đầu lễ hội đền Cuông. Lễ được diễn ra vào buổi chiều tối ngày 14 tháng 2 âm lịch.Theo đúng thông lệ, lễ phải được diễn ra vào tối khuya khoảng 22 giờ trở đi nhưng do yêu cầu hành lễ của bà con nên lễ đã được tiến hành sớm hơn, vào khoảng 17h chiều ngày 14 tháng 2 âm lịch. Lễ yết gồm 6 bước được tiến hành qua 35 lần xướng trong đó chỉ có 1 lần xướng ở mỗi bước. Nội dung của lễ yết là xin phép các vị cho mở lễ và mời các ngài về để dự lễ. Lễ rước kiệu trong lễ hội đền Cuông Lễ rước kiệu bao gồm 3 phần: Lễ rước vua và công chúa vi hành, lễ rước kiệu từ nhà thờ họ Cao và đình Xuân Ái về đền Cuông và lễ rước kiệu về nhà thờ họ Cao( nơi thờ tướng quân Cao Lỗ, một vị tướng tài ba trong thời đại An Dương Vương đã có công chế tạo ra nỏ thần). Lễ rước vua và công chúa vi hành là bước đầu tiên trong quá trình diễn ra lễ rước kiệu. Lễ được diễn ra khoảng vào 11 giờ tối ngày 14 tháng 2 âm lịch. Việc đầu tiên trong quá trình diễn ra lễ đó là phải làm lễ xin vua và công chúa cho phép nhân dân được mang linh vị lên kiệu để đưa về đình Xuân Ái phục vụ cho buổi lễ rước kiệu ngày mai. Sau đó rước vua và công chúa về đình Xuân Ái cách đền khoảng 2 cây số. Tương truyền, đình Xuân Ái được nhân dân xây dựng để tưởng nhớ tới công ơn của vua An Dương Vương và đình được xây dựng trước đền vì theo quan niệm dân gian thì đền chỉ là nơi ngài ngự còn đình mới là nơi để ngài về với dân. Cũng do quan niệm đó nên khi diễn ra lễ hội phải rước ngài từ đình ra đền để làm lễ và cho nhân dân cầu nguyện. Lễ rước kiệu từ nhà thờ họ Cao và đình Xuân Ái về đền Cuông được bắt đầu từ sáng sớm ngày 15 tháng 2. Đi đầu đám rước là cờ lễ của cả đình và cả nhà thờ, ban âm nhạc, tiếp đến là kiệu của vua, sau đó là đến kiệu của công chúa Mỵ Châu, và tiếp theo nữa là kiệu của tướng Cao Lỗ. Khi kiệu về đến đền, cửa chính của tam quan sẽ được mở ra để cho đoàn rước kiệu đi vào. Kiệu được đặt ở sân trước bái đường để chuẩn bị cho việc làm lễ. Một nghi thức trong lễ hội đèn Cuông Đại lễ tại đền là lễ chính trong phần lễ của lễ hội đền Cuông, đây là lễ lớn nhất, kéo dài nhất và cũng đông người tham gia nhất. Lễ đại được diễn ra vào sáng ngày 15 tháng 2 âm lịch. Buổi lễ là sự phối hợp nhịp nhàng giữa ông đông xướng, ông tây xướng, những nhạc công, và những người hành lễ. Kết thúc phần hành lễ của ban hành lễ, cũng như trong lễ yết là đến phần dâng hương. Đầu tiên, đại diện của các ban ngành mỗi người sẽ cầm một que hương lên thắp. Sau đó cửa tam quan sẽ được mở để cho nhân dân lên dâng hương.Sau khi làm xong lễ, kiệu của vua và của công chúa được vào tả vu. Lễ tất diễn ra vào ngày 16 tháng 2 âm lịch. Lễ tất được tiến hành vô cùng đơn giản. Nội dung của lễ đó là cảm ơn các vị đã về dự lễ. Sau lễ kết thúc, tất cả lễ vật ở trên bàn thờ sẽ được hạ xuống để mọi người hưởng lộc vua ban. Sau lễ tất, phần lễ của lễ hội coi như đã kết thúc nhưng phần hội thì còn kéo dài cho đền hết ngày 16 mới kết thúc Phần hội chính là phần đặc sắc nhất của lễ hội đền Cuông. Hội được diễn ra từ ngày 14 đến hết ngày 16 tháng 2 âm lịch. Hội bao gồm rất nhiều những trò chơi dân gian, nhiều hoạt động văn hóa, thể thao và nhiều hoạt động giải trí…. Không gian của hội chính là ở khoảng đất trống đối diện đền. Hội thu hút không chỉ trẻ em, thanh niên mà thu hút tất cả nhân dân ở mọi lứa tuổi. Những trò chơi dân gian trong lễ hội Lễ hội đền Cuông năm nào cũng có trò chơi chọi gà. Đến lễ hội, mọi người sẽ được chiêm ngưỡng những con gà nòi đẹp nhất và khỏe nhất mà nhân dân khắp nơi đưa về. Hết lễ hội, con gà thắng cuộc cuối cùng sẽ được vinh danh và chủ nhân của nó cũng sẽ được thưởng. Không chỉ thế, hầu như năm nào trong lễ hội đền Cuông cũng có trò chơi cờ người. Các cuộc thi không phải chỉ là giữa những xã với nhau như những trò chơi thể thao khác mà là cuộc thi giữa một số huyện ở trong tỉnh có đoàn về tham gia trò chơi này trong lễ hội. Bên cạnh những trò chơi truyền thống lễ hội đền Cuông còn sôi nổi cùng các phong trào thể thao như: bóng chuyền, bóng đá, kéo co…Các hoạt động văn nghệ biểu diễn nghệ thuật, chiếu phim, thi nét đẹp đền Cuông và hát chầu văn … Lễ hội đền Cuông thực sự trở thành một hoạt động văn hóa tâm linh không thể thiếu được của những người dân Diễn Châu nói riêng và của các du khách thập phương nói chung, là sự tri ân của thế hệ hôm nay với những người đã có công với đất nước, là đạo lý uống nước nhớ nguồn ngàn đời của dân tộc ta, để các thế hệ nối tiếp nhau phát huy truyền thống hào hùng của dân tộc. lehoi.info tổng hợp

Nối tiếp lễ hội Cổ Loa được diễn ra tại Đông Anh - Hà Nội, là lễ hội Đền Cuông được tổ chức long trọng từ ngày 12 đến ngày 16 tháng 2 âm lịch, trong đó ngày chính lễ là ngày 14 và ngày 15 tháng 2 tại xã Diễn An, Diễn Châu, Nghệ An. Theo truyền thuyết,lễ hội đền Cuông (hay đền Công) không chỉ là dịp để cầu phúc cầu tài mà còn là dịp để lòng người ghi dấu đoạn kết của câu chuyện Loa Thành: An Dương Vương đem công chúa Mỵ Châu chạy trốn kẻ thù và tới Diễn Châu thì dừng lại. Lễ hội Đền Cuông được chính thức ra đời từ năm 1993, còn trước đó nó chỉ tồn tại dưới hình thức là lễ tế thần.

Lễ hội đền Cuông

Phần lễ của lễ hội đền Cuông bao gồm 5 lễ: lễ khai quang, lễ yết, lễ cáo trung thiên, lễ đại và lễ tạ. Ngoài ra, còn có thêm lễ túc trực. Khi tham gia lễ, các vị trong ban hành lễ sẽ phải mặc lễ phục theo quy định. Lễ khai quang là lễ diễn ra đầu tiên trong lễ hội đền Cuông. Lễ được tổ chức vào ngày 12/2 âm lịch hàng năm. Nội dung của phần lễ này là dâng hương xin các vị về trời để nhân dân làm công tác don dẹp đền chuẩn bị cho lễ hội sắp tới. Lễ cáo trung thiên được tổ chức ngay sau khi kết thúc công việc dọn dẹp. Lễ diễn ra rất đơn giản và nhanh chóng. Nội dung của lễ là báo cáo với các vị công việc dọn dẹp đền đã được hoàn thành, mời các vị về đền để tham dự lễ hội và lắng nghe những nguyện vọng, mong ước và chứng giám cho lòng thành kính của nhân dân. Lễ yết là lễ thứ 3 trong phần lễ và cũng là lễ có tính chất mở đầu lễ hội đền Cuông. Lễ được diễn ra vào buổi chiều tối ngày 14 tháng 2 âm lịch.Theo đúng thông lệ, lễ phải được diễn ra vào tối khuya khoảng 22 giờ trở đi nhưng do yêu cầu hành lễ của bà con nên lễ đã được tiến hành sớm hơn, vào khoảng 17h chiều ngày 14 tháng 2 âm lịch. Lễ yết gồm 6 bước được tiến hành qua 35 lần xướng trong đó chỉ có 1 lần xướng ở mỗi bước. Nội dung của lễ yết là xin phép các vị cho mở lễ và mời các ngài về để dự lễ. Lễ rước kiệu trong lễ hội đền Cuông Lễ rước kiệu bao gồm 3 phần: Lễ rước vua và công chúa vi hành, lễ rước kiệu từ nhà thờ họ Cao và đình Xuân Ái về đền Cuông và lễ rước kiệu về nhà thờ họ Cao( nơi thờ tướng quân Cao Lỗ, một vị tướng tài ba trong thời đại An Dương Vương đã có công chế tạo ra nỏ thần). Lễ rước vua và công chúa vi hành là bước đầu tiên trong quá trình diễn ra lễ rước kiệu. Lễ được diễn ra khoảng vào 11 giờ tối ngày 14 tháng 2 âm lịch. Việc đầu tiên trong quá trình diễn ra lễ đó là phải làm lễ xin vua và công chúa cho phép nhân dân được mang linh vị lên kiệu để đưa về đình Xuân Ái phục vụ cho buổi lễ rước kiệu ngày mai. Sau đó rước vua và công chúa về đình Xuân Ái cách đền khoảng 2 cây số. Tương truyền, đình Xuân Ái được nhân dân xây dựng để tưởng nhớ tới công ơn của vua An Dương Vương và đình được xây dựng trước đền vì theo quan niệm dân gian thì đền chỉ là nơi ngài ngự còn đình mới là nơi để ngài về với dân. Cũng do quan niệm đó nên khi diễn ra lễ hội phải rước ngài từ đình ra đền để làm lễ và cho nhân dân cầu nguyện. Lễ rước kiệu từ nhà thờ họ Cao và đình Xuân Ái về đền Cuông được bắt đầu từ sáng sớm ngày 15 tháng 2. Đi đầu đám rước là cờ lễ của cả đình và cả nhà thờ, ban âm nhạc, tiếp đến là kiệu của vua, sau đó là đến kiệu của công chúa Mỵ Châu, và tiếp theo nữa là kiệu của tướng Cao Lỗ. Khi kiệu về đến đền, cửa chính của tam quan sẽ được mở ra để cho đoàn rước kiệu đi vào. Kiệu được đặt ở sân trước bái đường để chuẩn bị cho việc làm lễ. Một nghi thức trong lễ hội đèn Cuông Đại lễ tại đền là lễ chính trong phần lễ của lễ hội đền Cuông, đây là lễ lớn nhất, kéo dài nhất và cũng đông người tham gia nhất. Lễ đại được diễn ra vào sáng ngày 15 tháng 2 âm lịch. Buổi lễ là sự phối hợp nhịp nhàng giữa ông đông xướng, ông tây xướng, những nhạc công, và những người hành lễ. Kết thúc phần hành lễ của ban hành lễ, cũng như trong lễ yết là đến phần dâng hương. Đầu tiên, đại diện của các ban ngành mỗi người sẽ cầm một que hương lên thắp. Sau đó cửa tam quan sẽ được mở để cho nhân dân lên dâng hương.Sau khi làm xong lễ, kiệu của vua và của công chúa được vào tả vu. Lễ tất diễn ra vào ngày 16 tháng 2 âm lịch. Lễ tất được tiến hành vô cùng đơn giản. Nội dung của lễ đó là cảm ơn các vị đã về dự lễ. Sau lễ kết thúc, tất cả lễ vật ở trên bàn thờ sẽ được hạ xuống để mọi người hưởng lộc vua ban. Sau lễ tất, phần lễ của lễ hội coi như đã kết thúc nhưng phần hội thì còn kéo dài cho đền hết ngày 16 mới kết thúc Phần hội chính là phần đặc sắc nhất của lễ hội đền Cuông. Hội được diễn ra từ ngày 14 đến hết ngày 16 tháng 2 âm lịch. Hội bao gồm rất nhiều những trò chơi dân gian, nhiều hoạt động văn hóa, thể thao và nhiều hoạt động giải trí…. Không gian của hội chính là ở khoảng đất trống đối diện đền. Hội thu hút không chỉ trẻ em, thanh niên mà thu hút tất cả nhân dân ở mọi lứa tuổi. Những trò chơi dân gian trong lễ hội Lễ hội đền Cuông năm nào cũng có trò chơi chọi gà. Đến lễ hội, mọi người sẽ được chiêm ngưỡng những con gà nòi đẹp nhất và khỏe nhất mà nhân dân khắp nơi đưa về. Hết lễ hội, con gà thắng cuộc cuối cùng sẽ được vinh danh và chủ nhân của nó cũng sẽ được thưởng. Không chỉ thế, hầu như năm nào trong lễ hội đền Cuông cũng có trò chơi cờ người. Các cuộc thi không phải chỉ là giữa những xã với nhau như những trò chơi thể thao khác mà là cuộc thi giữa một số huyện ở trong tỉnh có đoàn về tham gia trò chơi này trong lễ hội. Bên cạnh những trò chơi truyền thống lễ hội đền Cuông còn sôi nổi cùng các phong trào thể thao như: bóng chuyền, bóng đá, kéo co…Các hoạt động văn nghệ biểu diễn nghệ thuật, chiếu phim, thi nét đẹp đền Cuông và hát chầu văn … Lễ hội đền Cuông thực sự trở thành một hoạt động văn hóa tâm linh không thể thiếu được của những người dân Diễn Châu nói riêng và của các du khách thập phương nói chung, là sự tri ân của thế hệ hôm nay với những người đã có công với đất nước, là đạo lý uống nước nhớ nguồn ngàn đời của dân tộc ta, để các thế hệ nối tiếp nhau phát huy truyền thống hào hùng của dân tộc. lehoi.info tổng hợp

Related Figures

Lễ hội Du lịch Cửa Lò

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 30/4- 1/5 Dương lịch Lễ hội được diễn ra vào 2 ngày 30 tháng 4 và ngày mùng 1 tháng 5 hàng năm. Ngành văn hoá du lịch Nghệ An phối hợp cùng với các cấp các ngành ở Thị xã Cửa Lò tổ chức lễ hội Du lịch Cửa Lò kết hợp với lễ hội sông nước truyền thống trên cơ sở lễ hội đền Vạn Lộc, tạo ra một nét văn hoá độc đáo kết hợp giữa truyền thống và hiện đại mở đầu cho mùa du lịch tại vùng biển Cửa Lò Nghệ An. Lễ hội Du lịch Cửa Lò Phần lễ nó cũng bao gồm có các phần lễ từ lễ khai quang, lễ yết cáo… đến khi xong thì có lễ tạ, tất cả đều được diễn ra ở tại đền Vạn Lộc. Riêng lễ rước kiệu thì xuất phát từ đền Vạn Lộc rước về Quảng trường Bình Minh - Trung tâm của thị xã Cửa Lò đã thu hút được hàng vạn người xem. Cấu trúc của đoàn rước cũng không có gì thay đổi so với cấu trúc đoàn rước ở lễ hội đền Vạn Lộc, nhưng thời gian tiến hành lễ rước là từ buổi chiều đi quanh Thị xã qua các trục đường chính đóng trên địa bàn với đoàn rước có đến hàng nghìn người tham gia, với đầy đủ trống chiêng, đội múa lân và kiệu rước được trang trí lộng lẫy, cờ hoa rợp trời, áo quần sặc sỡ,… Đoàn rước thu hút đông đảo sự tham gia của du khách tạo nên một không gian văn hoá đa chiều để lại nhiều ấn tượng trong suốt mùa lễ hội. Chương trình văn nghệ chào mừng lễ hội du lịch Cửa Lò Phần hội được tổ chức rất sôi nổi với nhiều những hoạt động văn nghệ, thể thao như: Chương trình văn nghệ “ Nối vòng tay biển” do các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp biểu diễn, đốt pháo bông; kéo co, bóng chuyền bãi biển, cầu lông, chọi gà, Tennít, cờ người, trưng bày ảnh các Di tích lịch sử, thắng cảnh của Cửa Lò và Nghệ An trong quá trình chiến đấu và xây dựng quê hương …trước khi diễn ra lễ hội thì giữa các khách sạn còn tổ chức hội thi văn hoá ẩm thực, thi đầu bếp, thi lễ tân giỏi… và còn một hoạt động đặc biệt không thể thiếu trong lễ hội du lịch Cửa Lò hàng năm đó chính là hội đua thuyền truyền thống thu hút hàng vạn người xem và cổ vũ vô cùng náo nhiệt. Hội đua có sự hội tụ của các tay chèo từ phường, từ xã có nghề biển, có năm còn mời cả huyện bạn như Diễn Châu, Hưng Nguyên, tỉnh bạn như Thừa Thiên, Huế cũng tham gia. Mỗi thuyền thường sẽ có 20 tay chèo và 1 người cầm chịch thường thổi còi hoặc gõ trống để làm hiệu lệnh. Khu vực đua thuyền là bãi biển phía trước Quảng trường Bình Minh với đường đua dài 1000m, có tàu Hải quân trực bảo vệ và cứu hộ. Cuộc đua không những làm sống lại một nét đẹp văn hoá truyền thống của những người dân biển mà còn trở thành một hoạt động văn hoá du lịch đặc sắc ở trên bãi biển Cửa Lò.’ Đông đảo du khách cùng tham dự lễ hội du lịch Cửa Lò

Lễ hội được diễn ra vào 2 ngày 30 tháng 4 và ngày mùng 1 tháng 5 hàng năm. Ngành văn hoá du lịch Nghệ An phối hợp cùng với các cấp các ngành ở Thị xã Cửa Lò tổ chức lễ hội Du lịch Cửa Lò kết hợp với lễ hội sông nước truyền thống trên cơ sở lễ hội đền Vạn Lộc, tạo ra một nét văn hoá độc đáo kết hợp giữa truyền thống và hiện đại mở đầu cho mùa du lịch tại vùng biển Cửa Lò Nghệ An.

Lễ hội Du lịch Cửa Lò

Phần lễ nó cũng bao gồm có các phần lễ từ lễ khai quang, lễ yết cáo… đến khi xong thì có lễ tạ, tất cả đều được diễn ra ở tại đền Vạn Lộc. Riêng lễ rước kiệu thì xuất phát từ đền Vạn Lộc rước về Quảng trường Bình Minh - Trung tâm của thị xã Cửa Lò đã thu hút được hàng vạn người xem. Cấu trúc của đoàn rước cũng không có gì thay đổi so với cấu trúc đoàn rước ở lễ hội đền Vạn Lộc, nhưng thời gian tiến hành lễ rước là từ buổi chiều đi quanh Thị xã qua các trục đường chính đóng trên địa bàn với đoàn rước có đến hàng nghìn người tham gia, với đầy đủ trống chiêng, đội múa lân và kiệu rước được trang trí lộng lẫy, cờ hoa rợp trời, áo quần sặc sỡ,… Đoàn rước thu hút đông đảo sự tham gia của du khách tạo nên một không gian văn hoá đa chiều để lại nhiều ấn tượng trong suốt mùa lễ hội. Chương trình văn nghệ chào mừng lễ hội du lịch Cửa Lò Phần hội được tổ chức rất sôi nổi với nhiều những hoạt động văn nghệ, thể thao như: Chương trình văn nghệ “ Nối vòng tay biển” do các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp biểu diễn, đốt pháo bông; kéo co, bóng chuyền bãi biển, cầu lông, chọi gà, Tennít, cờ người, trưng bày ảnh các Di tích lịch sử, thắng cảnh của Cửa Lò và Nghệ An trong quá trình chiến đấu và xây dựng quê hương …trước khi diễn ra lễ hội thì giữa các khách sạn còn tổ chức hội thi văn hoá ẩm thực, thi đầu bếp, thi lễ tân giỏi… và còn một hoạt động đặc biệt không thể thiếu trong lễ hội du lịch Cửa Lò hàng năm đó chính là hội đua thuyền truyền thống thu hút hàng vạn người xem và cổ vũ vô cùng náo nhiệt. Hội đua có sự hội tụ của các tay chèo từ phường, từ xã có nghề biển, có năm còn mời cả huyện bạn như Diễn Châu, Hưng Nguyên, tỉnh bạn như Thừa Thiên, Huế cũng tham gia. Mỗi thuyền thường sẽ có 20 tay chèo và 1 người cầm chịch thường thổi còi hoặc gõ trống để làm hiệu lệnh. Khu vực đua thuyền là bãi biển phía trước Quảng trường Bình Minh với đường đua dài 1000m, có tàu Hải quân trực bảo vệ và cứu hộ. Cuộc đua không những làm sống lại một nét đẹp văn hoá truyền thống của những người dân biển mà còn trở thành một hoạt động văn hoá du lịch đặc sắc ở trên bãi biển Cửa Lò.’ Đông đảo du khách cùng tham dự lễ hội du lịch Cửa Lò

Related Figures

Lễ hội Đền thờ Cương Quốc Công Nguyễn Xí

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 30/1- 1/2 Âm lịch (lehoi.info) - Lễ hội Thái sư Cương quốc công Nguyễn Xí được con cháu của ông từ khắp mọi miền tổ quốc cùng với các cấp các ngành liên quan ở địa phương tổ chức hàng năm trong 2 ngày 30 tháng giêng và ngày mùng 1 tháng 2 âm lịch. Địa điểm tổ chức lễ hội ở tại đền thờ Thái sư Cương Quốc công Nguyễn Xí thuộc xã Nghi Hợp, Nghi Lộc, Nghệ An. Lễ hội Đền thờ Cương Quốc Công Nguyễn Xí Lễ hội đền Nguyễn Xí là một lễ hội dòng họ gắn liền với quần thể di tích. Đây là một trong những lễ hội truyền thống lớn ở tỉnh Nghệ An. Lễ hội này thể hiện rất rõ sự gắn kết giữa văn hoá dòng họ và văn hoá làng xã. Phần Lễ: được tổ chức vào ngày 30/1 và ngày mùng 1/2 âm lịch hàng năm. + Ngày 30/1, tổ chức lễ yết và dâng hương tại bái đường. + Đêm 30/1, tổ chức đốt pháo bông và hát chầu văn, thi văn nghệ quần chúng. + Sáng ngày mùng 1/2, tổ chức đám rước kiệu gồm: Kiệu sắc phong của Nguyễn Xí, kiệu rước bằng di tích lịch sử văn hoá Quốc gia. Một nghi thức trong lễ hội Đền thờ Cương Quốc Công Nguyễn Xí Phần hội: Các trò chơi dân gian truyền thống như: Chọi gà, cờ người, đu tiêu, cờ thẻ, kéo co đấu vật.... Những trò chơi dân gian trong lễ hội + Tham quan các di tích thắng cảnh như: Đền thờ, lăng mộ Nguyễn Sư Hồi, bãi biển Cửa Lò, núi Cờ, núi Voi, núi Kiếm. Trong Lễ hội có hàng vạn con cháu họ Nguyễn Đình khắp bốn phương về để tụ họp và du khách thập phương về dâng hương cầu tài, cầu lộc và cầu may mắn. Di tích lịch sử đền Nguyễn Xí được phát huy trong cụm di tích danh thắng ở tại thị xã Cửa Lò và vùng phụ cận tạo thành một tour du lịch văn hoá tâm linh đặc sắc và hấp dẫn du khách cả trong và ngoài nước

(lehoi.info) - Lễ hội Thái sư Cương quốc công Nguyễn Xí được con cháu của ông từ khắp mọi miền tổ quốc cùng với các cấp các ngành liên quan ở địa phương tổ chức hàng năm trong 2 ngày 30 tháng giêng và ngày mùng 1 tháng 2 âm lịch. Địa điểm tổ chức lễ hội ở tại đền thờ Thái sư Cương Quốc công Nguyễn Xí thuộc xã Nghi Hợp, Nghi Lộc, Nghệ An.

Lễ hội Đền thờ Cương Quốc Công Nguyễn Xí

Lễ hội đền Nguyễn Xí là một lễ hội dòng họ gắn liền với quần thể di tích. Đây là một trong những lễ hội truyền thống lớn ở tỉnh Nghệ An. Lễ hội này thể hiện rất rõ sự gắn kết giữa văn hoá dòng họ và văn hoá làng xã. Phần Lễ: được tổ chức vào ngày 30/1 và ngày mùng 1/2 âm lịch hàng năm. + Ngày 30/1, tổ chức lễ yết và dâng hương tại bái đường. + Đêm 30/1, tổ chức đốt pháo bông và hát chầu văn, thi văn nghệ quần chúng. + Sáng ngày mùng 1/2, tổ chức đám rước kiệu gồm: Kiệu sắc phong của Nguyễn Xí, kiệu rước bằng di tích lịch sử văn hoá Quốc gia. Một nghi thức trong lễ hội Đền thờ Cương Quốc Công Nguyễn Xí Phần hội: Các trò chơi dân gian truyền thống như: Chọi gà, cờ người, đu tiêu, cờ thẻ, kéo co đấu vật.... Những trò chơi dân gian trong lễ hội + Tham quan các di tích thắng cảnh như: Đền thờ, lăng mộ Nguyễn Sư Hồi, bãi biển Cửa Lò, núi Cờ, núi Voi, núi Kiếm. Trong Lễ hội có hàng vạn con cháu họ Nguyễn Đình khắp bốn phương về để tụ họp và du khách thập phương về dâng hương cầu tài, cầu lộc và cầu may mắn. Di tích lịch sử đền Nguyễn Xí được phát huy trong cụm di tích danh thắng ở tại thị xã Cửa Lò và vùng phụ cận tạo thành một tour du lịch văn hoá tâm linh đặc sắc và hấp dẫn du khách cả trong và ngoài nước

Related Figures

Lễ hội Đền Vạn Lộc

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/1- 16/1 Âm lịch Lễ hội Đền Vạn Lộc diễn ra vào ngày 15 và ngày 16 tháng Giêng Âm lịch hàng năm, nhưng lễ chính thì thường diễn ra 3 năm một lần vào các năm (Tí, Ngọ, Mão, Dậu ) gọi là “ lễ cầu phúc” hay còn được gọi là “ lễ cầu yên “, để tưởng nhớ tới công ơn Thái uý Quận công Nguyễn Sư Hồi (Con trai của Thái sư Cương quốc công Nguyễn Xí) - người đã có công giúp dân khai hoang lập nên làng Vạn Lộc xưa, Cửa Lò nay và cầu cho sóng yên, biển lặng, cư dân ra khơi đánh bắt được nhiều cá tôm, mùa màng bội thu góp phần xây dựng cuộc sống ấm no và hạnh phúc. Màn đánh trống khai hội tại lễ hội Đền Vạn Lộc Lễ hội đền thờ Vạn Lộc gồm 2 phần: Phần lễ và phần hội: Phần lễ bao gồm: Lễ khai quang, lễ xuất thần, lễ yết cáo, lễ khai hội, lễ đại tế (lễ kỳ phúc, lễ kỳ yên ), lễ yên vị và lễ tạ. Nhìn chung trình tự phần lễ cũng được diễn ra như ở các di tích khác: lau chùi và tẩy uế các hiện vật, đồ tế khí trong đền. Báo cáo với các thần linh xin pháp được mở hội, kính mời các thần linh về dự lễ hội để ban phước lành cho sóng yên, biển lặng, dân khang, vật thịnh, những người ngư dân ra khơi vào lộng được an toàn… sau khi tiến hành xong các phần lễ thì sẽ tổ chức làm lễ yên vị và lễ tạ. Riêng phần lễ rước ở lễ hội đền Vạn Lộc cũng có phần khác so với các lễ hội khác. Buổi sáng ngày 16 tháng giêng, vào khoảng lúc 3 giờ sáng sẽ tiến hành làm lễ xuất thần với nội dung: Xin các vị thần nghênh giá tiến hành lễ diễu hành ra tại sân đền để tham gia khai mạc lễ hội. Sau khi tham dự xong lễ khai hội thì tiến hành lễ rước và tổ chức các đoàn rước như sau: Tốp 1: Đội múa lân và trống nhạc. Tốp 2: Đội cờ: cờ hội và cờ tổ quốc. Tốp 3: Kiệu ảnh Bác. Tốp 4: Kiệu bằng Di tích Lịch sử Văn hoá. Tốp 5: Đội bát bửu - ngựa - hạc. Tốp 6: Kiệu rồng có ngai thờ Thái uý Quận Công Nguyễn Sư Hồi (có Tàn lọng) Tốp 7: Chiêng trống đại. Tốp 8: Cờ thượng đẳng thần, cờ anh linh vạn cổ và hương án bày lễ vật, bát hương. Tốp 9: Mâm ngũ quả. Tốp 10: Đại biểu, nhân dân và những du khách… Lễ rước trong lễ hội Đền Vạn Lộc Đặc điểm riêng ở trong lễ rước là các dòng họ có nhà thờ ở dọc đường đoàn rước đi qua (ở phường Nghi Tân có 71 dòng họ) và các gia đình hai bên đường đều mang bát hương, một ít vàng mã và hoa quả,... trước cổng nhà mình để cầu lộc và cầu may. Đường đi của đoàn rước: Xuất phát từ đền Vạn Lộc, đoàn rước đi lên khối 6, rẽ qua UBND phường Nghi Tân - quay về khối 4 - sau đó trở về đền . Mỗi khi đến gần một hương án dòng họ, đoàn rước lại đi chậm lại để đại diện dòng họ dâng hương, bái vọng và đội sư tử lại múa trò, còn đội trống thì biểu diễn múa, đánh tróng và đoàn rước tiếp tục đi. Sau khi đoàn rước về đến đền thì ban nghi lễ và ban tổ chức sẽ vào làm lễ xin vào đền xong khi đó đoàn rước mới được vào và sau đó là cử hành lễ yên vị. Tiếp đến là lễ đại tế (lễ cầu yên và cầu phúc) đây là lễ chính được tiến hành từ khoảng 19 giờ đến hết các thủ tục tế trong đêm. Ban hành lễ gồm có: một đại bái, hai bồi tụng và chấp sự mỗi bên năm người; hai đội trống chiêng, bát âm; hai vị thông xướng (đông xướng, tây xướng ) để hô hiệu lệnh. Các bước hành tế được tiến hành theo đúng như nghi thức truyền thống . Trong nội dung lễ có phần quan trọng đó là đọc chúc văn của đền và đọc văn thúc ước của làng. Trong khi tế, lúc đọc chúc văn, cũng như dâng hương và dâng rượu thì đều có nhạc bát âm, chiêng trống đệm vào làm cho không khí rất trang nghiêm và rất linh thiêng. Tưng bừng lễ hội Đền Vạn Lộc Phần hội: Trong lễ hội đền Vạn Lộc có tổ chức nhiều các trò chơi mang tính truyền thống cũng như hiện đại như: Chọi gà, bóng chuyền, bóng bàn, bóng đá, đánh cờ người, cắm trại và thi văn nghệ… nhưng có lẽ trò chơi sôi nổi và cuốn hút nhiều người tham gia cũng như người xem nhất đó chính là: đua thuyền truyền thống. Dưới sông thuyền đậu dọc đường đua, cờ hội, cờ đỏ, phấp phới. Trên bờ cả dãy dài những người xem chật cứng, tiếng hò reo, cổ vũ vang động cả một quãng sông. Các làng trong phường Nghi Tân chuẩn bị cho lễ hội đua thuyền từ trước đó một tháng; mỗi làng sẽ chuẩn bị một thuyền đua, một đội đua với những tay chèo khoẻ mạnh và có nhiều kinh nghiệm. Lễ hội đua thuyền trở thành hoạt động văn hoá tinh thần lôi cuốn tất cả các thành viên trong phường tham gia. Đua thuyền truyền thống tại lễ hội

Lễ hội Đền Vạn Lộc diễn ra vào ngày 15 và ngày 16 tháng Giêng Âm lịch hàng năm, nhưng lễ chính thì thường diễn ra 3 năm một lần vào các năm (Tí, Ngọ, Mão, Dậu ) gọi là “ lễ cầu phúc” hay còn được gọi là “ lễ cầu yên “, để tưởng nhớ tới công ơn Thái uý Quận công Nguyễn Sư Hồi (Con trai của Thái sư Cương quốc công Nguyễn Xí) - người đã có công giúp dân khai hoang lập nên làng Vạn Lộc xưa, Cửa Lò nay và cầu cho sóng yên, biển lặng, cư dân ra khơi đánh bắt được nhiều cá tôm, mùa màng bội thu góp phần xây dựng cuộc sống ấm no và hạnh phúc.

Màn đánh trống khai hội tại lễ hội Đền Vạn Lộc

Lễ hội đền thờ Vạn Lộc gồm 2 phần: Phần lễ và phần hội: Phần lễ bao gồm: Lễ khai quang, lễ xuất thần, lễ yết cáo, lễ khai hội, lễ đại tế (lễ kỳ phúc, lễ kỳ yên ), lễ yên vị và lễ tạ. Nhìn chung trình tự phần lễ cũng được diễn ra như ở các di tích khác: lau chùi và tẩy uế các hiện vật, đồ tế khí trong đền. Báo cáo với các thần linh xin pháp được mở hội, kính mời các thần linh về dự lễ hội để ban phước lành cho sóng yên, biển lặng, dân khang, vật thịnh, những người ngư dân ra khơi vào lộng được an toàn… sau khi tiến hành xong các phần lễ thì sẽ tổ chức làm lễ yên vị và lễ tạ. Riêng phần lễ rước ở lễ hội đền Vạn Lộc cũng có phần khác so với các lễ hội khác. Buổi sáng ngày 16 tháng giêng, vào khoảng lúc 3 giờ sáng sẽ tiến hành làm lễ xuất thần với nội dung: Xin các vị thần nghênh giá tiến hành lễ diễu hành ra tại sân đền để tham gia khai mạc lễ hội. Sau khi tham dự xong lễ khai hội thì tiến hành lễ rước và tổ chức các đoàn rước như sau: Tốp 1: Đội múa lân và trống nhạc. Tốp 2: Đội cờ: cờ hội và cờ tổ quốc. Tốp 3: Kiệu ảnh Bác. Tốp 4: Kiệu bằng Di tích Lịch sử Văn hoá. Tốp 5: Đội bát bửu - ngựa - hạc. Tốp 6: Kiệu rồng có ngai thờ Thái uý Quận Công Nguyễn Sư Hồi (có Tàn lọng) Tốp 7: Chiêng trống đại. Tốp 8: Cờ thượng đẳng thần, cờ anh linh vạn cổ và hương án bày lễ vật, bát hương. Tốp 9: Mâm ngũ quả. Tốp 10: Đại biểu, nhân dân và những du khách… Lễ rước trong lễ hội Đền Vạn Lộc Đặc điểm riêng ở trong lễ rước là các dòng họ có nhà thờ ở dọc đường đoàn rước đi qua (ở phường Nghi Tân có 71 dòng họ) và các gia đình hai bên đường đều mang bát hương, một ít vàng mã và hoa quả,... trước cổng nhà mình để cầu lộc và cầu may. Đường đi của đoàn rước: Xuất phát từ đền Vạn Lộc, đoàn rước đi lên khối 6, rẽ qua UBND phường Nghi Tân - quay về khối 4 - sau đó trở về đền . Mỗi khi đến gần một hương án dòng họ, đoàn rước lại đi chậm lại để đại diện dòng họ dâng hương, bái vọng và đội sư tử lại múa trò, còn đội trống thì biểu diễn múa, đánh tróng và đoàn rước tiếp tục đi. Sau khi đoàn rước về đến đền thì ban nghi lễ và ban tổ chức sẽ vào làm lễ xin vào đền xong khi đó đoàn rước mới được vào và sau đó là cử hành lễ yên vị. Tiếp đến là lễ đại tế (lễ cầu yên và cầu phúc) đây là lễ chính được tiến hành từ khoảng 19 giờ đến hết các thủ tục tế trong đêm. Ban hành lễ gồm có: một đại bái, hai bồi tụng và chấp sự mỗi bên năm người; hai đội trống chiêng, bát âm; hai vị thông xướng (đông xướng, tây xướng ) để hô hiệu lệnh. Các bước hành tế được tiến hành theo đúng như nghi thức truyền thống . Trong nội dung lễ có phần quan trọng đó là đọc chúc văn của đền và đọc văn thúc ước của làng. Trong khi tế, lúc đọc chúc văn, cũng như dâng hương và dâng rượu thì đều có nhạc bát âm, chiêng trống đệm vào làm cho không khí rất trang nghiêm và rất linh thiêng. Tưng bừng lễ hội Đền Vạn Lộc Phần hội: Trong lễ hội đền Vạn Lộc có tổ chức nhiều các trò chơi mang tính truyền thống cũng như hiện đại như: Chọi gà, bóng chuyền, bóng bàn, bóng đá, đánh cờ người, cắm trại và thi văn nghệ… nhưng có lẽ trò chơi sôi nổi và cuốn hút nhiều người tham gia cũng như người xem nhất đó chính là: đua thuyền truyền thống. Dưới sông thuyền đậu dọc đường đua, cờ hội, cờ đỏ, phấp phới. Trên bờ cả dãy dài những người xem chật cứng, tiếng hò reo, cổ vũ vang động cả một quãng sông. Các làng trong phường Nghi Tân chuẩn bị cho lễ hội đua thuyền từ trước đó một tháng; mỗi làng sẽ chuẩn bị một thuyền đua, một đội đua với những tay chèo khoẻ mạnh và có nhiều kinh nghiệm. Lễ hội đua thuyền trở thành hoạt động văn hoá tinh thần lôi cuốn tất cả các thành viên trong phường tham gia. Đua thuyền truyền thống tại lễ hội

Related Figures

Hội Vật Cù

Thông tin thời kỳ

Tương truyền hội vật cù ở nơi đây có từ khoảng đầu thế kỷ 15. Bắt nguồn từ việc chọn những lực sĩ khỏe mạnh và nhanh nhẹn để sung vào đội quân của tướng Phan Đàn - là một võ tướng của vua Lê Thái Tổ, coi việc quân ở vùng này, dần dà hội vật cù trở thành một sinh hoạt mang tính hội lễ đậm nét dân gian được mọi người ưa thích và rất phổ biến, đi vào đời sống văn hóa tinh thần của đồng bào những người dân vùng Thanh Chương, Đô Lương và Nam Đàn, mà sôi nổi, náo nhiệt hơn cả là ở những vùng dọc hai bên bờ sông Găng (một nhánh của sông Lam) - Thanh Chương, nơi đây được xem là xuất xứ của trò chơi này.Người ta tổ chức thi vật cù giữa các làng các xã, thời gian của mỗi cuộc chơi không qui định cụ thể, số người tham gia mỗi bên cũng không hạn chế. Có khi hội vật cù lên đến đỉnh điểm, đàn ông trai tráng ở trong làng đều hăng hái vào cuộc không kể tuổi tác, lúc ấy thường là vào dịp Tết Nguyên đán Hội Vật Cù ở Thanh Chương Trước ngày vào hội, người ta sẽ lựa tìm những gốc chuối, đặc biệt thích hợp ở đây là gốc chuối hột loại lớn, đào lên để lấy củ. Dùng dao sắc đẽo củ chuối thành hình tròn có đường kính cữ khoảng 30cm, trọng lượng 5kg đến 7kg là đã có quả cù đảm bảo yêu cầu. Quả cù phải sạch nhựa và phải có độ dẻo cần thiết, bởi nó thường xuyên bị giành giật và quăng ném mạnh dễ vỡ trong khi chơi. Vì vậy, quả cù sau khi lược đẽo xong, được luộc qua với nước sôi và vớt ra phơi nắng khá kỹ. Lúc này quả cù có màu sẫm, rất dẻo và sẽ không bị nứt vỡ khi chơi. Sân chơi cù thường là những sân cát ở bên bờ sông hay ở trong làng, chiều dài độ 50m, chiều ngang độ 25m. Có 3 hình thức chơi củ đó là: cù gôn, cù đẩy và củ nước. Cả 3 lối chơi này đều có chung một hình thức tính điểm và bố trí giống nhau, ở 2 đầu sân của mỗi bên là 2 chiếc sọt được đan bằng nan tre, nứa cao chừng 1,5m, đường kính 50cm (cù gôn, củ nước), hay đào một hố sâu rộng 50 x 50cm (cù đẩy). Bên nào giành và đưa được cù vào trong sọt (hay vào hố) của đối phương thì được một điềm. Để đưa được quả cù vào đích cũng không phải là dễ dàng gì bởi phải giành giật và tranh cướp rất quyết liệt, bên nào cũng tìm đủ mọi cách nhằm cản phá đối phương đưa cù vào sọt (hố) của mình. Hội vật cù vì thế rất sôi nổi, hào hứng và cuốn hút mọi người dự khán. Cuộc tranh cướp Cù trong lễ hội Ở cù gôn, khi vào cuộc 2 bên dàn đội hình ở ngay giữa sân, quả cù được đặt dưới đất; khi có hiệu lệnh của người cầm trịch (trọng tài) , thì 2 bên bắt đầu vào cuộc tranh cướp, giành giật chuyền nhau . . . Ở cù đẩy, quả cù được chôn sâu dưới cát ở giữa sân, khi có hiệu lệnh 2 bên sẽ tranh nhau đào moi lấy cù bằng tay không. Lúc một trong hai bên đã có cù, các cầu thủ của 2 đội đứng sau đội trưởng - người cầm cù - và bắt đầu dùng sức đẩy thông qua quả cù . Bên nào qua lần đẩy này tỏ ra mạnh hơn và làm cho bên đối phương phải lùi sẽ giành được quyền ôm cù, ngay sau đó rất nhanh và khéo léo chạy chuyền cù cho nhau để đưa cù vào tới đích. Đặc sắc hội Vật Cù ở Thanh Chương Đặc biệt vui và hào hứng là lối chơi cù nước. Sân chơi cù nước là 1 bãi cát ngập nước sâu độ 30cm đến 40cm ven sông, quả cù được chôn sâu ở dưới cát ngập nước; khai cuộc cả 2 đội dầm mình trong nước tranh nhau moi quả cù sau đó vừa chạy vừa lội với quả cù to nặng, vừa phải luồn lách qua đối phương đang tìm đủ mọi cách để giành giật quả cù. Người tham gia vật cù đều cởi trần và đóng khố. Đề phân biệt được người của hai đội, ban tổ chức sẽ qui định rnàu sắc của khố hay dải khăn màu vấn trên đầu. Tuy từ thời xưa không có một điều luật nào cụ thể, nhưng trong hội vật cù không hề có lối chơi thô bạo và ác ý. Rất quyết liệt nhưng cũng rất trong sáng. Kết thúc cuộc chơi, đội nào có số lần đưa cù vào đích của đối phương nhiều hơn là đội thắng cuộc. Giải thưởng chỉ mang tính tượng trưng và danh dự. Ở hội cù, người dân các làng xem và cổ vũ rất đông, hò reo, đánh trống chiêng cuồng nhiệt cổ vũ cho đội nhà và tán thưởng những đường chạy cù ngoạn mục... Ai đã một lần được xem hôi vật cù ở Thanh Chương hẳn sẽ cảm thấy vô cùng thích thú. Nguồn tin: Du lịch Việt Nam

Tương truyền hội vật cù ở nơi đây có từ khoảng đầu thế kỷ 15. Bắt nguồn từ việc chọn những lực sĩ khỏe mạnh và nhanh nhẹn để sung vào đội quân của tướng Phan Đàn - là một võ tướng của vua Lê Thái Tổ, coi việc quân ở vùng này, dần dà hội vật cù trở thành một sinh hoạt mang tính hội lễ đậm nét dân gian được mọi người ưa thích và rất phổ biến, đi vào đời sống văn hóa tinh thần của đồng bào những người dân vùng Thanh Chương, Đô Lương và Nam Đàn, mà sôi nổi, náo nhiệt hơn cả là ở những vùng dọc hai bên bờ sông Găng (một nhánh của sông Lam) - Thanh Chương, nơi đây được xem là xuất xứ của trò chơi này.Người ta tổ chức thi vật cù giữa các làng các xã, thời gian của mỗi cuộc chơi không qui định cụ thể, số người tham gia mỗi bên cũng không hạn chế. Có khi hội vật cù lên đến đỉnh điểm, đàn ông trai tráng ở trong làng đều hăng hái vào cuộc không kể tuổi tác, lúc ấy thường là vào dịp Tết Nguyên đán

Hội Vật Cù ở Thanh Chương

Trước ngày vào hội, người ta sẽ lựa tìm những gốc chuối, đặc biệt thích hợp ở đây là gốc chuối hột loại lớn, đào lên để lấy củ. Dùng dao sắc đẽo củ chuối thành hình tròn có đường kính cữ khoảng 30cm, trọng lượng 5kg đến 7kg là đã có quả cù đảm bảo yêu cầu. Quả cù phải sạch nhựa và phải có độ dẻo cần thiết, bởi nó thường xuyên bị giành giật và quăng ném mạnh dễ vỡ trong khi chơi. Vì vậy, quả cù sau khi lược đẽo xong, được luộc qua với nước sôi và vớt ra phơi nắng khá kỹ. Lúc này quả cù có màu sẫm, rất dẻo và sẽ không bị nứt vỡ khi chơi. Sân chơi cù thường là những sân cát ở bên bờ sông hay ở trong làng, chiều dài độ 50m, chiều ngang độ 25m. Có 3 hình thức chơi củ đó là: cù gôn, cù đẩy và củ nước. Cả 3 lối chơi này đều có chung một hình thức tính điểm và bố trí giống nhau, ở 2 đầu sân của mỗi bên là 2 chiếc sọt được đan bằng nan tre, nứa cao chừng 1,5m, đường kính 50cm (cù gôn, củ nước), hay đào một hố sâu rộng 50 x 50cm (cù đẩy). Bên nào giành và đưa được cù vào trong sọt (hay vào hố) của đối phương thì được một điềm. Để đưa được quả cù vào đích cũng không phải là dễ dàng gì bởi phải giành giật và tranh cướp rất quyết liệt, bên nào cũng tìm đủ mọi cách nhằm cản phá đối phương đưa cù vào sọt (hố) của mình. Hội vật cù vì thế rất sôi nổi, hào hứng và cuốn hút mọi người dự khán. Cuộc tranh cướp Cù trong lễ hội Ở cù gôn, khi vào cuộc 2 bên dàn đội hình ở ngay giữa sân, quả cù được đặt dưới đất; khi có hiệu lệnh của người cầm trịch (trọng tài) , thì 2 bên bắt đầu vào cuộc tranh cướp, giành giật chuyền nhau . . . Ở cù đẩy, quả cù được chôn sâu dưới cát ở giữa sân, khi có hiệu lệnh 2 bên sẽ tranh nhau đào moi lấy cù bằng tay không. Lúc một trong hai bên đã có cù, các cầu thủ của 2 đội đứng sau đội trưởng - người cầm cù - và bắt đầu dùng sức đẩy thông qua quả cù . Bên nào qua lần đẩy này tỏ ra mạnh hơn và làm cho bên đối phương phải lùi sẽ giành được quyền ôm cù, ngay sau đó rất nhanh và khéo léo chạy chuyền cù cho nhau để đưa cù vào tới đích. Đặc sắc hội Vật Cù ở Thanh Chương Đặc biệt vui và hào hứng là lối chơi cù nước. Sân chơi cù nước là 1 bãi cát ngập nước sâu độ 30cm đến 40cm ven sông, quả cù được chôn sâu ở dưới cát ngập nước; khai cuộc cả 2 đội dầm mình trong nước tranh nhau moi quả cù sau đó vừa chạy vừa lội với quả cù to nặng, vừa phải luồn lách qua đối phương đang tìm đủ mọi cách để giành giật quả cù. Người tham gia vật cù đều cởi trần và đóng khố. Đề phân biệt được người của hai đội, ban tổ chức sẽ qui định rnàu sắc của khố hay dải khăn màu vấn trên đầu. Tuy từ thời xưa không có một điều luật nào cụ thể, nhưng trong hội vật cù không hề có lối chơi thô bạo và ác ý. Rất quyết liệt nhưng cũng rất trong sáng. Kết thúc cuộc chơi, đội nào có số lần đưa cù vào đích của đối phương nhiều hơn là đội thắng cuộc. Giải thưởng chỉ mang tính tượng trưng và danh dự. Ở hội cù, người dân các làng xem và cổ vũ rất đông, hò reo, đánh trống chiêng cuồng nhiệt cổ vũ cho đội nhà và tán thưởng những đường chạy cù ngoạn mục... Ai đã một lần được xem hôi vật cù ở Thanh Chương hẳn sẽ cảm thấy vô cùng thích thú. Nguồn tin: Du lịch Việt Nam

Related Figures

Lễ Pasưm của người Khơ Mú

Thông tin thời kỳ

Người dân tộc Khơ Mú ở tỉnh Nghệ An thường làm lễ Pa Sưm trước lúc tra hạt trên nương rẫy. Đây là lễ cầu khấn trời đất, cầu khấn tổ tiên và các thần linh cho nương rẫy được bội thu. Lễ Pasưm của người Khơ Mú Chủ lễ là một người phụ nữ ở trong nhà. Bà sẽ đóng vai Mẹ lúa, tượng trưng cho sự sinh sôi và nảy nở. Trước tiên, Mẹ lúa phải dọn một khoảnh đất khoảng 2m2, đủ để đặt mâm làm lễ cúng ở một chỗ tương đối bằng phẳng ở trên rẫy, được gọi là Mắt rúc. Mẹ lúa đặt mâm cúng vào giữa Mắt rúc, trong mâm ngoài xôi, rượu và muối thì nhất thiết phải có 1 con gà luộc và con gà này phải là con gà trống lông đen. Mẹ lúa trong trang phục cổ truyền chỉnh tề, trước mâm lễ đọc bài cúng, nội dung cầu khấn Hrôi Yvang (Thần Ông trời) làm cho mưa thuận gió hòa, Hrôi Ptê (Thần Đất), Hrôi Hrê (Thần Nương rẫy) làm cho hạt giống mau nẩy mầm, lên xanh tốt, bông to, hạt mẩy và không bị muông thú phá hoại. Lễ Pasưm của người Khơ Mú tại Nghệ An Sau khi Mẹ lúa làm lễ xong, mọi người sẽ bắt tay vào tra hạt. Tra hạt xong thì Mẹ lúa làm lễ tưới nước và kết thúc lễ Pa Sưm. Vào buổi chiều tối ngày tra hạt xong, Mẹ lúa sẽ bảo mọi người lấy nước rửa tay, rửa gậy chọc lỗ cho sạch và đứng trước chòi lúa. Sau đó, Mẹ lúa cầm ống nước và đi vòng quanh chòi lúa, tưới nước ra xung quanh, vừa làm vừa khấn: "Tưới cho cây lúa mọc, cho cây lúa nẩy mầm, cho hạt chắc bông dài, gốc lúa bằng gốc lau, bông lúa dài bằng quả núc nác…". Mẹ lúa khấn xong mọi người vào chòi ăn cơm, uống rượu và kết thúc công việc tra hạt. Lễ Pa Sưm là một lễ trong hệ thống các lễ tục nông nghiệp của người dân tộc Khơ Mú. Nó phản ánh niềm tin của đồng bào vào thiên nhiên (trời, đất, nương rẫy…) có linh hồn, phản ánh ước muốn của họ về một mùa màng bội thu và cuộc sống đầy đủ. Hình ảnh Mẹ lúa trong lễ Pasưm của người Khơ Mú

Người dân tộc Khơ Mú ở tỉnh Nghệ An thường làm lễ Pa Sưm trước lúc tra hạt trên nương rẫy. Đây là lễ cầu khấn trời đất, cầu khấn tổ tiên và các thần linh cho nương rẫy được bội thu.

Lễ Pasưm của người Khơ Mú

Chủ lễ là một người phụ nữ ở trong nhà. Bà sẽ đóng vai Mẹ lúa, tượng trưng cho sự sinh sôi và nảy nở. Trước tiên, Mẹ lúa phải dọn một khoảnh đất khoảng 2m2, đủ để đặt mâm làm lễ cúng ở một chỗ tương đối bằng phẳng ở trên rẫy, được gọi là Mắt rúc. Mẹ lúa đặt mâm cúng vào giữa Mắt rúc, trong mâm ngoài xôi, rượu và muối thì nhất thiết phải có 1 con gà luộc và con gà này phải là con gà trống lông đen. Mẹ lúa trong trang phục cổ truyền chỉnh tề, trước mâm lễ đọc bài cúng, nội dung cầu khấn Hrôi Yvang (Thần Ông trời) làm cho mưa thuận gió hòa, Hrôi Ptê (Thần Đất), Hrôi Hrê (Thần Nương rẫy) làm cho hạt giống mau nẩy mầm, lên xanh tốt, bông to, hạt mẩy và không bị muông thú phá hoại. Lễ Pasưm của người Khơ Mú tại Nghệ An Sau khi Mẹ lúa làm lễ xong, mọi người sẽ bắt tay vào tra hạt. Tra hạt xong thì Mẹ lúa làm lễ tưới nước và kết thúc lễ Pa Sưm. Vào buổi chiều tối ngày tra hạt xong, Mẹ lúa sẽ bảo mọi người lấy nước rửa tay, rửa gậy chọc lỗ cho sạch và đứng trước chòi lúa. Sau đó, Mẹ lúa cầm ống nước và đi vòng quanh chòi lúa, tưới nước ra xung quanh, vừa làm vừa khấn: "Tưới cho cây lúa mọc, cho cây lúa nẩy mầm, cho hạt chắc bông dài, gốc lúa bằng gốc lau, bông lúa dài bằng quả núc nác…". Mẹ lúa khấn xong mọi người vào chòi ăn cơm, uống rượu và kết thúc công việc tra hạt. Lễ Pa Sưm là một lễ trong hệ thống các lễ tục nông nghiệp của người dân tộc Khơ Mú. Nó phản ánh niềm tin của đồng bào vào thiên nhiên (trời, đất, nương rẫy…) có linh hồn, phản ánh ước muốn của họ về một mùa màng bội thu và cuộc sống đầy đủ. Hình ảnh Mẹ lúa trong lễ Pasưm của người Khơ Mú

Related Figures

Lễ hội Hang Bua

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 17/1- 19/1 Âm lịch Sau ngày rằm tháng giêng, hàng nghìn người dân lại đổ về trẩy hội Hang Bua (thuộc bản Na Nhàng, xã Châu Tiến, Quỳ Hợp, Nghệ An). Lễ hội Hang Bua bắt nguồn từ tục thờ mẹ nước của người dân Thái cổ. Ngày nay, nó đã trở thành nơi giao lưu văn hóa với nhiều những loại hình nghệ thuật dân gian phong phú. Lễ hội Hang Bua được tổ chức từ ngày 17 đến ngày 19 tháng giêng âm lịch, luôn thu hút được đông đảo người tham gia. Đặc sắc lễ hội Hang Bua Lễ hội Hang Bua chính là câu chuyện tâm linh gắn liền với đời sống sinh hoạt của đồng bào người Thái cổ. Cách Hang Bua 500 m có một vùng đất cổ được gọi là Pò Nậm (nước). Từ khe đá đến núi cao, có một dòng nước mát lạnh từ nguồn chảy xuống hai giếng nguyên sinh ở trong vùng. Từ một vùng đất hoang người dân Thái cổ đã lập nên bản Búa (Bản Bua, ngày nay là bản Na Nhàng) và quần cư tại đây. Để nhớ ơn "mẹ nước" từ thời xa xưa, người dân Thái cổ đã chọn một vùng đất (đẹp đẽ, cao ráo và thoáng đãng để thờ cúng. Sau vụ thu hoạch dân bản lại quây quần ở bên Hang Bua để thờ cúng thần nước và để nhảy múa ăn mừng. Từ năm 1997, Hang Bua được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là di tích thắng cảnh tầm cỡ quốc gia, Sở Văn hóa - Thông tin Nghệ An và huyện Quỳ Hợp đã phối hợp tổ chức để lễ hội Hang Bua thực sự mang đậm bản sắc dân tộc. Một số hoạt động văn hóa dân gian tại lễ hội Lễ hội Hang Búa thiên về phần hội, còn phần lễ rất đơn giản gồm: Diễn văn khai mạc lễ hội và lễ cũng thần linh tại hang Bua. Nhân dân khi về tham dự lễ hội không mang theo hành trang của những người hành hương mà luôn mong mỏi được trao đổi giao lưu văn hóa, được thưởng thức cái đẹp những truyền thống văn hóa dân tộc thể hiện qua nhiều hình thức sinh động khác nhau, đặc biệt là qua các loại hình nghệ thuật dân gian cũng như hiện đại. Dàn cồng chiêng của các chàng trai, các cô gái Thái vang lên rộn rã, những trò diễn, những điệu múa rộn ràng, tiếng réo rắt của sáo, tiêu, khèn bè và bay bổng những làn điệu dân ca nhuôn, xuối, lăm và khắp... Cả núi rừng đều như bước vào hội xuân. Hội thi văn hóa ẩm thực Ở Hang Bua hàng năm vẫn diễn ra những trò chơi dân gian độc đáo như bắn nỏ, ném còn, đẩy sào... Đặc biệt "hội thi người đẹp Hang Bua" thu hút được rất nhiều người tới xem. Đến Hang Bua vào mùa lễ hội, ta còn được thưởng thức các món ăn đặc sản của người dân tộc Thái như: chẻo môn, thịt thú rừng nướng, cơm lam... Nghệ An có rất nhiều lễ hội như lễ hội sông nước Cửa Lò, lễ hội đền Cồn, lễ hội uống nước nhớ nguồn..., nhưng lễ hội Hang Bua vẫn là lễ hội thu hút được nhiều người hơn cả. Đó là những giá trị tốt đẹp của văn hóa dân gian cần được gìn giữ và phát triển. lehoi.info tổng hợp

Sau ngày rằm tháng giêng, hàng nghìn người dân lại đổ về trẩy hội Hang Bua (thuộc bản Na Nhàng, xã Châu Tiến, Quỳ Hợp, Nghệ An). Lễ hội Hang Bua bắt nguồn từ tục thờ mẹ nước của người dân Thái cổ. Ngày nay, nó đã trở thành nơi giao lưu văn hóa với nhiều những loại hình nghệ thuật dân gian phong phú. Lễ hội Hang Bua được tổ chức từ ngày 17 đến ngày 19 tháng giêng âm lịch, luôn thu hút được đông đảo người tham gia.

Đặc sắc lễ hội Hang Bua

Lễ hội Hang Bua chính là câu chuyện tâm linh gắn liền với đời sống sinh hoạt của đồng bào người Thái cổ. Cách Hang Bua 500 m có một vùng đất cổ được gọi là Pò Nậm (nước). Từ khe đá đến núi cao, có một dòng nước mát lạnh từ nguồn chảy xuống hai giếng nguyên sinh ở trong vùng. Từ một vùng đất hoang người dân Thái cổ đã lập nên bản Búa (Bản Bua, ngày nay là bản Na Nhàng) và quần cư tại đây. Để nhớ ơn "mẹ nước" từ thời xa xưa, người dân Thái cổ đã chọn một vùng đất (đẹp đẽ, cao ráo và thoáng đãng để thờ cúng. Sau vụ thu hoạch dân bản lại quây quần ở bên Hang Bua để thờ cúng thần nước và để nhảy múa ăn mừng. Từ năm 1997, Hang Bua được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là di tích thắng cảnh tầm cỡ quốc gia, Sở Văn hóa - Thông tin Nghệ An và huyện Quỳ Hợp đã phối hợp tổ chức để lễ hội Hang Bua thực sự mang đậm bản sắc dân tộc. Một số hoạt động văn hóa dân gian tại lễ hội Lễ hội Hang Búa thiên về phần hội, còn phần lễ rất đơn giản gồm: Diễn văn khai mạc lễ hội và lễ cũng thần linh tại hang Bua. Nhân dân khi về tham dự lễ hội không mang theo hành trang của những người hành hương mà luôn mong mỏi được trao đổi giao lưu văn hóa, được thưởng thức cái đẹp những truyền thống văn hóa dân tộc thể hiện qua nhiều hình thức sinh động khác nhau, đặc biệt là qua các loại hình nghệ thuật dân gian cũng như hiện đại. Dàn cồng chiêng của các chàng trai, các cô gái Thái vang lên rộn rã, những trò diễn, những điệu múa rộn ràng, tiếng réo rắt của sáo, tiêu, khèn bè và bay bổng những làn điệu dân ca nhuôn, xuối, lăm và khắp... Cả núi rừng đều như bước vào hội xuân. Hội thi văn hóa ẩm thực Ở Hang Bua hàng năm vẫn diễn ra những trò chơi dân gian độc đáo như bắn nỏ, ném còn, đẩy sào... Đặc biệt "hội thi người đẹp Hang Bua" thu hút được rất nhiều người tới xem. Đến Hang Bua vào mùa lễ hội, ta còn được thưởng thức các món ăn đặc sản của người dân tộc Thái như: chẻo môn, thịt thú rừng nướng, cơm lam... Nghệ An có rất nhiều lễ hội như lễ hội sông nước Cửa Lò, lễ hội đền Cồn, lễ hội uống nước nhớ nguồn..., nhưng lễ hội Hang Bua vẫn là lễ hội thu hút được nhiều người hơn cả. Đó là những giá trị tốt đẹp của văn hóa dân gian cần được gìn giữ và phát triển. lehoi.info tổng hợp

Related Figures

Hội đền Quả Sơn

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 19/1- 21/1 Âm lịch (lehoi.info)- Lễ hội đền Quả Sơn là một lễ hội vùng lớn vào loại bậc nhất ở tỉnh Nghệ An. Lễ hội được diễn ra trong vòng 3 ngày 19, ngày 20 và ngày 21 tháng giêng âm lịch hàng năm để tưởng nhớ công đức của Uy Minh Vương Lý Nhật Quang - vị danh tướng, danh thần của vương triều Lý đã có công lớn trong việc bảo quốc an dân, củng cố nền độc lập và thông nhất đất nước ở thế ký XI . Linh thiêng lễ hội đền Quả Sơn Lễ hội gồm có 2 phần lễ và phần hội. Phần Lễ: Ngày 19 là ngày làm lễ yết cáo. Ngày 20 là ngày chính hội, buổi sáng thì làm lễ rước thần từ đền quả đến đền Bà Bụt, đến buổi chiều có lễ tạ ơn Bà Bụt. Ngày 21, buổi sáng làm lễ rước xuôi từ chùa bà Bụt về đền, còn buổi chiều thì có lễ yên vị. Phần Hội: Diễn ra từ buổi sáng ngày 20 đến buổi chiều ngày 21 tháng giêng âm lịch. Các trò chơi dân gian như: Đáng đu tiên, cờ thẻ, chọi gà, cờ người, múa võ, đấu vật, đặc sắc nhất là đua thuyền bơi chải xuôi ngược dòng Lam, hát chầu văn, ca trù và diễn các tích chèo, tuồng cổ… Lễ rước thần tại lễ hội đền Quả Sơn Ngày nay, ngoài những trò chơi dân gian và nghệ thuật dân tộc, còn có tổ chức các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục và thể thao như : Biểu diễn nghệ thuật, cắm trại, chiếu phim, triển lãm và trưng bày bán các loại ấn phẩm văn hoá, tổ chức thi đấu bóng đá, bóng chuyền và đi tham quan các di tích danh thắng trong vùng. Lễ hội đền Quả Sơn thu hút đông đảo người dân tham gia Đây là một lễ hội dân gian đặc sắc, hấp dẫn và mang nhiều ý nghĩa nhân văn, thể hiện tinh thần đạo lý truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, làm sống động tinh thần thượng võ cùng những thuần phong mỹ tục của nền văn hoá dân gian Việt Nam. lehoi.info tổng hợp

(lehoi.info)- Lễ hội đền Quả Sơn là một lễ hội vùng lớn vào loại bậc nhất ở tỉnh Nghệ An. Lễ hội được diễn ra trong vòng 3 ngày 19, ngày 20 và ngày 21 tháng giêng âm lịch hàng năm để tưởng nhớ công đức của Uy Minh Vương Lý Nhật Quang - vị danh tướng, danh thần của vương triều Lý đã có công lớn trong việc bảo quốc an dân, củng cố nền độc lập và thông nhất đất nước ở thế ký XI .

Linh thiêng lễ hội đền Quả Sơn

Lễ hội gồm có 2 phần lễ và phần hội. Phần Lễ: Ngày 19 là ngày làm lễ yết cáo. Ngày 20 là ngày chính hội, buổi sáng thì làm lễ rước thần từ đền quả đến đền Bà Bụt, đến buổi chiều có lễ tạ ơn Bà Bụt. Ngày 21, buổi sáng làm lễ rước xuôi từ chùa bà Bụt về đền, còn buổi chiều thì có lễ yên vị. Phần Hội: Diễn ra từ buổi sáng ngày 20 đến buổi chiều ngày 21 tháng giêng âm lịch. Các trò chơi dân gian như: Đáng đu tiên, cờ thẻ, chọi gà, cờ người, múa võ, đấu vật, đặc sắc nhất là đua thuyền bơi chải xuôi ngược dòng Lam, hát chầu văn, ca trù và diễn các tích chèo, tuồng cổ… Lễ rước thần tại lễ hội đền Quả Sơn Ngày nay, ngoài những trò chơi dân gian và nghệ thuật dân tộc, còn có tổ chức các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục và thể thao như : Biểu diễn nghệ thuật, cắm trại, chiếu phim, triển lãm và trưng bày bán các loại ấn phẩm văn hoá, tổ chức thi đấu bóng đá, bóng chuyền và đi tham quan các di tích danh thắng trong vùng. Lễ hội đền Quả Sơn thu hút đông đảo người dân tham gia Đây là một lễ hội dân gian đặc sắc, hấp dẫn và mang nhiều ý nghĩa nhân văn, thể hiện tinh thần đạo lý truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, làm sống động tinh thần thượng võ cùng những thuần phong mỹ tục của nền văn hoá dân gian Việt Nam. lehoi.info tổng hợp

Related Figures

Lễ hội đền Cờn

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 21/1 Âm lịch (lehoi.info) - Đền Cờn thuộc xã Quỳnh Phương, Quỳnh Lưu, Nghệ An. Hội đền trước đây thường được tổ chức vào ngày 15 tháng chạp đến hết tháng giêng âm lịch hàng năm, để tưởng nhớ tới đức Thánh Mẫu, tứ vị Thánh Nương - nữ thần bảo vệ và phù hộ cho nhân dân làm ăn thịnh vượng và vượt qua hiểm nguy, đã rất nhiều lần giúp đỡ cho đội quân nhà Trần, nhà Lê vượt biển bình an. Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, lễ hội đền Cờn đã không còn được duy trì, mãi cho đến năm 1998 mới được khôi phục lại, đây là một trong những lễ hội tuyền thống văn hoá lớn của vùng đất xứ Nghệ. Ngày nay lễ hội Đền Cờn được tổ chức vào ngày 21 tháng giêng âm lịch hàng năm. Linh thiêng lễ hội đền Cờn Lễ hội đền Cờn chính thức là được tổ chức vào ngày 21 tháng giêng, nhưng được bắt đầu từ mồng 1 tết Nguyên đán hàng năm, lễ hội mở màn bằng những đoàn thuyền du xuân trang trí cờ hoa cùng với tiếng chiêng tiếng trống ầm vang. Đến ngày hội chính thức sẽ diễn ra một trận thuỷ chiến giả có quân xanh, quân đỏ giao chiến ở trên một giải núi non hiểm trở kéo dài 10 km từ làng ói về đền Cờn. Những trai đinh khoẻ mạnh, đóng khố và đầu chít khăn thủ rìu khác nhau để phân biệt là người của đội nào. Khi lâm trận họ phải mang theo vũ khí là đòn khiêng và dây chạc… trận giả này cứ 3 năm diễn ra một lần gắn liền với truyền thuyết dựng đền. Đây chính là một nét riêng nghi lễ và tín ngưỡng văn hoá đền Cờn. Trong trò chơi trận giả còn có trò chơi “ Chạy ói “. Đám rước chạy ói gồm có 4 kiệu, 4 ngai, 4 tàn và 4 quạt khởi hành từ đêm. Sáng ra lại đi tiếp 4 kiệu, 2 voi và 2 ngựa, cùng đi theo đoàn rước có đoàn cờ, đoàn nhạc Bát âm, đoàn cầm đồ Bát bửu nghi trượng và đội nữ quan, nữ tướng. Chỉ huy đám rước là một người đứng đầu 4 giáp và 1 vị thủ chỉ. Ngoài đám rước, trên bọ còn có đoàn thuyền 16 chiếc xếp thành chữ Nhất xuất phát từ bến đền đi theo sông ra biển men theo bờ tiến về đền Quy Lĩnh ở Quỳnh Lương. 2 đoàn rước liên lạc với nhau để khi qua Quỳnh Liên, Quỳnh Bảng và cùng lúc tới Quỳnh Lương. Khi đám rước xuống Phú Lương, đến Quy Lĩnh, người dân ở hai làng Phú Lương - Phương Cần gây xô xát và cùng nhau hô “ Xô bề cá ông về với bà “. Sau đó làng Phú Lương làm lễ khuất lưu, còn làng Phương Cần làm lễ Phụng Nghinh. Xong lễ, đoàn rước khứ hồi lại đền Cờn. Lễ vật hiến tế lớn: 5 trâu, 5 bò, 5 lợn, 5 dê, xôi, gà, rượu vào ngày mùng 6 tháng giêng. Sáng ngày mùng 7 tế bánh. Toàn bộ dân đình Phương Cần góp 1 đinh và 2 chiếc bánh chưng, từ ngày 17 đến ngày 22 đại tế tam sinh như ngày mùng 6. Người dân nơi đây tin rằng năm nào Giáp Tam (đội 3) thắng trò chơi chạy ói thì năm đó biển lặng sóng yên, sản xuất mùa màng tốt tươi, thuyền chài kéo được nhiều cá tôm và đời sống người dân no đủ. Trong quá trình tổ chức lễ hội ở tại đền, các khu vực ngoài đền, sân đình, chùa, đền, bến sông có tổ chức các trò chơi dân gian như: đấu vật, đua thuyền, kéo co, đánh cờ người,cờ thẻ, bài điểm, chọi gà, chơi đu, biểu diễn tuồng, hội hát ca trù… Đánh cờ trong lễ hội đền Cờn Sau nghi lễ và những trò chơi hội là đến lễ cúng tế mang đậm nét dân gian, thể hiện tín ngưỡng của những người dân địa phương như: lễ cầu yên, cầu lộc, cầu tài, lễ tạ ơn, bốc xăm, xem quẻ… Lễ hội đền Cờn được xem là một lễ hội truyền thống ở vùng đất xứ Nghệ, nó đã có rất lâu đời từ thời Trần đến thời Nguyễn đều tổ chức lễ hội này, nó không chỉ còn là lễ hội của xã mà nó trở thành lễ hội của vùng, của tỉnh và của cả nước. Đua thuyền tại Lễ hội Đền Cờn

(lehoi.info) - Đền Cờn thuộc xã Quỳnh Phương, Quỳnh Lưu, Nghệ An. Hội đền trước đây thường được tổ chức vào ngày 15 tháng chạp đến hết tháng giêng âm lịch hàng năm, để tưởng nhớ tới đức Thánh Mẫu, tứ vị Thánh Nương - nữ thần bảo vệ và phù hộ cho nhân dân làm ăn thịnh vượng và vượt qua hiểm nguy, đã rất nhiều lần giúp đỡ cho đội quân nhà Trần, nhà Lê vượt biển bình an. Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, lễ hội đền Cờn đã không còn được duy trì, mãi cho đến năm 1998 mới được khôi phục lại, đây là một trong những lễ hội tuyền thống văn hoá lớn của vùng đất xứ Nghệ. Ngày nay lễ hội Đền Cờn được tổ chức vào ngày 21 tháng giêng âm lịch hàng năm.

Linh thiêng lễ hội đền Cờn

Lễ hội đền Cờn chính thức là được tổ chức vào ngày 21 tháng giêng, nhưng được bắt đầu từ mồng 1 tết Nguyên đán hàng năm, lễ hội mở màn bằng những đoàn thuyền du xuân trang trí cờ hoa cùng với tiếng chiêng tiếng trống ầm vang. Đến ngày hội chính thức sẽ diễn ra một trận thuỷ chiến giả có quân xanh, quân đỏ giao chiến ở trên một giải núi non hiểm trở kéo dài 10 km từ làng ói về đền Cờn. Những trai đinh khoẻ mạnh, đóng khố và đầu chít khăn thủ rìu khác nhau để phân biệt là người của đội nào. Khi lâm trận họ phải mang theo vũ khí là đòn khiêng và dây chạc… trận giả này cứ 3 năm diễn ra một lần gắn liền với truyền thuyết dựng đền. Đây chính là một nét riêng nghi lễ và tín ngưỡng văn hoá đền Cờn. Trong trò chơi trận giả còn có trò chơi “ Chạy ói “. Đám rước chạy ói gồm có 4 kiệu, 4 ngai, 4 tàn và 4 quạt khởi hành từ đêm. Sáng ra lại đi tiếp 4 kiệu, 2 voi và 2 ngựa, cùng đi theo đoàn rước có đoàn cờ, đoàn nhạc Bát âm, đoàn cầm đồ Bát bửu nghi trượng và đội nữ quan, nữ tướng. Chỉ huy đám rước là một người đứng đầu 4 giáp và 1 vị thủ chỉ. Ngoài đám rước, trên bọ còn có đoàn thuyền 16 chiếc xếp thành chữ Nhất xuất phát từ bến đền đi theo sông ra biển men theo bờ tiến về đền Quy Lĩnh ở Quỳnh Lương. 2 đoàn rước liên lạc với nhau để khi qua Quỳnh Liên, Quỳnh Bảng và cùng lúc tới Quỳnh Lương. Khi đám rước xuống Phú Lương, đến Quy Lĩnh, người dân ở hai làng Phú Lương - Phương Cần gây xô xát và cùng nhau hô “ Xô bề cá ông về với bà “. Sau đó làng Phú Lương làm lễ khuất lưu, còn làng Phương Cần làm lễ Phụng Nghinh. Xong lễ, đoàn rước khứ hồi lại đền Cờn. Lễ vật hiến tế lớn: 5 trâu, 5 bò, 5 lợn, 5 dê, xôi, gà, rượu vào ngày mùng 6 tháng giêng. Sáng ngày mùng 7 tế bánh. Toàn bộ dân đình Phương Cần góp 1 đinh và 2 chiếc bánh chưng, từ ngày 17 đến ngày 22 đại tế tam sinh như ngày mùng 6. Người dân nơi đây tin rằng năm nào Giáp Tam (đội 3) thắng trò chơi chạy ói thì năm đó biển lặng sóng yên, sản xuất mùa màng tốt tươi, thuyền chài kéo được nhiều cá tôm và đời sống người dân no đủ. Trong quá trình tổ chức lễ hội ở tại đền, các khu vực ngoài đền, sân đình, chùa, đền, bến sông có tổ chức các trò chơi dân gian như: đấu vật, đua thuyền, kéo co, đánh cờ người,cờ thẻ, bài điểm, chọi gà, chơi đu, biểu diễn tuồng, hội hát ca trù… Đánh cờ trong lễ hội đền Cờn Sau nghi lễ và những trò chơi hội là đến lễ cúng tế mang đậm nét dân gian, thể hiện tín ngưỡng của những người dân địa phương như: lễ cầu yên, cầu lộc, cầu tài, lễ tạ ơn, bốc xăm, xem quẻ… Lễ hội đền Cờn được xem là một lễ hội truyền thống ở vùng đất xứ Nghệ, nó đã có rất lâu đời từ thời Trần đến thời Nguyễn đều tổ chức lễ hội này, nó không chỉ còn là lễ hội của xã mà nó trở thành lễ hội của vùng, của tỉnh và của cả nước. Đua thuyền tại Lễ hội Đền Cờn

Related Figures

Lễ hội Cầu Ngư Sơn Hải

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 12/1- 13/1 Âm lịch (lehoi.info) - Lễ hội Cầu Ngư được tổ chức vào ngày 12 và ngày 13 tháng Giêng âm lịch, tại xã Sơn Hải, Quỳnh Lưu, Nghệ An. Đây là một lễ hội truyền thống thể hiện bản sắc văn hóa tâm linh đang được ngư dân vùng biển tại Quỳnh Lưu bảo tồn, giữ gìn và phát huy. Tưng bừng lễ hội Cầu Ngư Sơn Hải Theo phong tục, lễ hội cầu ngư trước đây được tổ chức vào 2 ngày mùng 6 và mùng 7 tháng Giêng âm lịch. Nhưng do điều kiện thực tế hiện nay, nên thời gian tổ chức lễ hội không còn bắt buộc và cố định về ngày giờ nữa. Căn cứ vào con nước lên xuống, nên cứ trúng vào ngày nào con nước lên to nhất, tàu thuyền có thể ra khơi xa được trong tháng Giêng thì ngày đó ngư dân nơ đây sẽ tổ chức lễ hội cầu ngư. Đây là một lễ hội có truyền thống từ thời xa xưa, nguồn gốc ra đời được rất ít người biết đến, người dân ở Sơn Hải chỉ nghe các cụ kể lại rằng: Thời xưa đây là một lễ hội có tính chất và quy mô hoành tráng nhất nhì so với những địa phương xung quanh, nhưng lễ hội này đã có một thời gian khoảng gần 50 năm bị thất truyền. Vì vậy, ngày nay để khôi phục tổ chức lại lễ hội này, cán bộ và những người dân xã Sơn Hải đã phải bỏ ra rất nhiều công sức để nghiên cứu, điều tra và sưu tầm ở một số lễ hội khác. Từ đó dần dần đã nâng cấp và hoàn thiện, tạo cho nó một dấu ấn và đặc trưng riêng. Một nghi thức trong lễ hội Cầu Ngư Sơn Hải Lễ hội gồm có 2 phần chính đó là phần lễ và phần hội. Phần lễ bao gồm lễ yết cáo, lễ khai quang, lễ cầu ngư, lễ đại tế và lễ tạ tại các điểm rước kiệu qua như đình Trung, đền Thơi, Đài tưởng niệm và Chùa Thanh Sơn. Phần hội bao gồm những hoạt động văn hoá văn nghệ và 2 đoàn rước kiệu. Trong đó một đoàn sẽ đi theo đường thuỷ gồm 7 thuyền lớn được trang trí lộng lẫy đi từ Đình Trung đến Đền Thơi, còn một đoàn thì rước theo đường bộ sẽ rước kiệu từ Đình Trung xuống Đền Thơi. Sau đó, 2 đoàn sẽ tập trung làm lễ tại chùa Thanh Sơn và quay trở lại Đình Trung. Các đoàn thể khi tham gia sẽ mặc trang phục thể hiện đặc trưng riêng của đoàn thể mình. Lễ hội Cầu Ngư hàng năm thu hút rất đông sự tham gia của người dân Lễ hội Cầu Ngư của những người dân Sơn Hải, thể hiện ước muốn được mùa màng bội thu, khai thác đánh bắt hải sản thuận lợi và thu được nhiều lợi nhuận…./.

(lehoi.info) - Lễ hội Cầu Ngư được tổ chức vào ngày 12 và ngày 13 tháng Giêng âm lịch, tại xã Sơn Hải, Quỳnh Lưu, Nghệ An. Đây là một lễ hội truyền thống thể hiện bản sắc văn hóa tâm linh đang được ngư dân vùng biển tại Quỳnh Lưu bảo tồn, giữ gìn và phát huy.

Tưng bừng lễ hội Cầu Ngư Sơn Hải

Theo phong tục, lễ hội cầu ngư trước đây được tổ chức vào 2 ngày mùng 6 và mùng 7 tháng Giêng âm lịch. Nhưng do điều kiện thực tế hiện nay, nên thời gian tổ chức lễ hội không còn bắt buộc và cố định về ngày giờ nữa. Căn cứ vào con nước lên xuống, nên cứ trúng vào ngày nào con nước lên to nhất, tàu thuyền có thể ra khơi xa được trong tháng Giêng thì ngày đó ngư dân nơ đây sẽ tổ chức lễ hội cầu ngư. Đây là một lễ hội có truyền thống từ thời xa xưa, nguồn gốc ra đời được rất ít người biết đến, người dân ở Sơn Hải chỉ nghe các cụ kể lại rằng: Thời xưa đây là một lễ hội có tính chất và quy mô hoành tráng nhất nhì so với những địa phương xung quanh, nhưng lễ hội này đã có một thời gian khoảng gần 50 năm bị thất truyền. Vì vậy, ngày nay để khôi phục tổ chức lại lễ hội này, cán bộ và những người dân xã Sơn Hải đã phải bỏ ra rất nhiều công sức để nghiên cứu, điều tra và sưu tầm ở một số lễ hội khác. Từ đó dần dần đã nâng cấp và hoàn thiện, tạo cho nó một dấu ấn và đặc trưng riêng. Một nghi thức trong lễ hội Cầu Ngư Sơn Hải Lễ hội gồm có 2 phần chính đó là phần lễ và phần hội. Phần lễ bao gồm lễ yết cáo, lễ khai quang, lễ cầu ngư, lễ đại tế và lễ tạ tại các điểm rước kiệu qua như đình Trung, đền Thơi, Đài tưởng niệm và Chùa Thanh Sơn. Phần hội bao gồm những hoạt động văn hoá văn nghệ và 2 đoàn rước kiệu. Trong đó một đoàn sẽ đi theo đường thuỷ gồm 7 thuyền lớn được trang trí lộng lẫy đi từ Đình Trung đến Đền Thơi, còn một đoàn thì rước theo đường bộ sẽ rước kiệu từ Đình Trung xuống Đền Thơi. Sau đó, 2 đoàn sẽ tập trung làm lễ tại chùa Thanh Sơn và quay trở lại Đình Trung. Các đoàn thể khi tham gia sẽ mặc trang phục thể hiện đặc trưng riêng của đoàn thể mình. Lễ hội Cầu Ngư hàng năm thu hút rất đông sự tham gia của người dân Lễ hội Cầu Ngư của những người dân Sơn Hải, thể hiện ước muốn được mùa màng bội thu, khai thác đánh bắt hải sản thuận lợi và thu được nhiều lợi nhuận…./.

Related Figures

Tục rước dâu đêm của người Thái

Thông tin thời kỳ

Người dân tộc Thái ở Con Cuông (Nghệ An) có phong tục rước dâu cũng hết sức đặc biệt, đó là họ kiêng rước dâu vào ban ngày. Người ta có thể đi đến nhà gái vào ban ngày nhưng lại phải rước dâu về nhà trai vào ban đêm. Độc đáo tục rước dâu lúc nửa đêm ở Nghệ An Đồng bào dân tộc Thái quan niệm, nếu rước dâu về nhà vào ban ngà thì sẽ không mang lại hạnh phúc cho đôi tân lang tân nương. Khi rước dâu về, người dẫn đầu đoàn rước cầm theo một cái chiêng, cứ đi được một đoạn lại gõ 3 tiếng, vừa là để thông báo cho dân bản biết là đoàn rước đang về để họ chuẩn bị đón và vừa mang lại không khí vui vẻ cho đám cưới. Khi đón dâu về, lúc bước chân lên cầu thang, mẹ chồng phải rửa chân cho con dâu bằng nước suối được đựng ở trong chậu đồng. Ngâm trong chậu còn có một đồng xu bằng bạc. Sau đó cô dâu sẽ được tặng vòng bạc để cầu may, rồi chị chồng hay em chồng mới đưa cô lên buồng để làm lễ ăn cơm, uống rượu chung với chồng và để trao tặng vòng bạc cho nhau. 2 người thề hẹn sẽ thuỷ chung đến trọn đời. Cô dâu được búi tóc và trình tổ tiên. Từ giờ trở đi, cô là cô gái đã có chồng. Sau bữa cơm đầu tiên của đôi vợ chồng trẻ, bữa tiệc cưới mới chính thức được bắt đầu. Trong bữa cỗ cũng là cuộc vui hát đối đáp giữa nhà trai và nhà gái, giữa nam và nữ nhằm chúc mừng cho gia chủ và họ cùng chúc tụng cho đôi vợ chồng trẻ sống hạnh phúc trọn đời bên nhau. Bữa cơm đầu tiên của cô dâu và chú rể trong ngày cưới của người Thái Trong đám cưới của người dân tộc Thái còn nhiều nghi lễ và phong tục độc đáo khác. Chẳng hạn, khi nhà trai đến nhà gái rước dâu bao giờ cũng gặp phải một số khó khăn, khi tới cổng, nhà gái sẽ đóng cổng lại và đứng chắn ở ngoài. Họ ra bài hát đố, ví như: “Cổng nhà tôi then nào cũng dài/đố anh biết cái này gỗ chắc?”. Và lúc này nhà trai cũng phải khôn khéo, nếu nói thẳng sẽ bị vặn nên họ cũng phải kể ra được sự khéo tay của gia chủ trong việc đục đẽo, chọn gỗ nhằm làm đẹp lòng họ: “Gỗ làm cổng nhà em không phải gỗ đóng bè/Không phải cây gỗ làm cọc rào/Em phải tìm nó trên lưng chừng núi caoTrên ngọn Pu Luông bản mường vẫn ngóng”... Hai bên đối đáp cho đến khi nào nhà gái chấp nhận tài ăn nói của nhà trai thì mới chịu mở cổng. Khi chú rể đi vào cổng thì sẽ bị thím hay mợ của cô dâu té nước. Đây cũng là một phong tục không thể thiếu trong đám cưới của họ, mục đích chính là để thử thách lòng kiên nhẫn cũng như biết được tính cách của chú rể, ngoài ra nó còn là biểu tượng cho việc mang lại sự may mắn cho chú rể trong ngày hôn lễ của mình. Chú rể càng khốn khổ vì bị ướt bao nhiêu thì đám cưới lại càng vui bấy nhiêu. Sau đó khi nhà trai đã lên nhà, để cuộc vui thêm trọn vẹn thì lại có màn "mời ngồi". Họ nhà gái trải chiếu ra rồi hát mời nhà trai. Nếu nhà gái gặp phải người khéo lời thì sẽ đến lượt nhà trai "trả đũa". Họ sẽ không ngồi ngay mà họ sẽ đưa ra lí lẽ bằng lời hát, chê nhà gái trải chiếu xiên xẹo hoặc bảo chiếu nhà ông mới thế này ngồi ngại lắm. Nhà gái lại phải hát đáp lại. Họ đưa ra lí lẽ của mình để thuyết phục khách ngồi vào. Hình ảnh đoàn rước dâu lúc nửa đêm của người Thái Khi khách đã chịu ngồi, nhà gái sẽ tiếp tục màn “mời trầu”. Cơi trầu được nhà gái đặt ra mâm, họ hát kể về sự khổ công khi để có được cơi trầu mời khách này. Họ nói về việc đi hái dây trầu trong rừng như thế nào, trồng rồi chăm bón nó ra làm sao. Sau đi kể chuyện đi đập đá và đào lò nung vôi rồi mới có vôi têm trầu. Mục đích của sự vòng vo đó là muốn mời khách ăn trầu và khoe tài ăn nói của mình. Lúc này, nhà trai cũng lại chối khéo. Họ bảo, lỡ ở trong lá trầu có con sâu thì sao? Sau khi nhà gái bảo cứ yên lòng đi vì chúng tôi xem kỹ rồi. Nhà trai lại bảo lỡ trong khi chăm bón các ông bón phân không tốt ăn vào đau bụng thì chết. Nhà gái lại kể về những thứ phân bón mà họ dùng. Tất nhiên đó chỉ là bịa vào cho cuộc rượu thêm vui… Đó chỉ là một vài trong rất nhiều phong tục cưới hỏi của đồng bào nơi đây, nếu có dịp, bạn hãy thử một lần dự đám cưới còn mang đậm bản sắc của dân tộc này./. Theo BáoĐấtViệt

Người dân tộc Thái ở Con Cuông (Nghệ An) có phong tục rước dâu cũng hết sức đặc biệt, đó là họ kiêng rước dâu vào ban ngày. Người ta có thể đi đến nhà gái vào ban ngày nhưng lại phải rước dâu về nhà trai vào ban đêm.

Độc đáo tục rước dâu lúc nửa đêm ở Nghệ An

Đồng bào dân tộc Thái quan niệm, nếu rước dâu về nhà vào ban ngà thì sẽ không mang lại hạnh phúc cho đôi tân lang tân nương. Khi rước dâu về, người dẫn đầu đoàn rước cầm theo một cái chiêng, cứ đi được một đoạn lại gõ 3 tiếng, vừa là để thông báo cho dân bản biết là đoàn rước đang về để họ chuẩn bị đón và vừa mang lại không khí vui vẻ cho đám cưới. Khi đón dâu về, lúc bước chân lên cầu thang, mẹ chồng phải rửa chân cho con dâu bằng nước suối được đựng ở trong chậu đồng. Ngâm trong chậu còn có một đồng xu bằng bạc. Sau đó cô dâu sẽ được tặng vòng bạc để cầu may, rồi chị chồng hay em chồng mới đưa cô lên buồng để làm lễ ăn cơm, uống rượu chung với chồng và để trao tặng vòng bạc cho nhau. 2 người thề hẹn sẽ thuỷ chung đến trọn đời. Cô dâu được búi tóc và trình tổ tiên. Từ giờ trở đi, cô là cô gái đã có chồng. Sau bữa cơm đầu tiên của đôi vợ chồng trẻ, bữa tiệc cưới mới chính thức được bắt đầu. Trong bữa cỗ cũng là cuộc vui hát đối đáp giữa nhà trai và nhà gái, giữa nam và nữ nhằm chúc mừng cho gia chủ và họ cùng chúc tụng cho đôi vợ chồng trẻ sống hạnh phúc trọn đời bên nhau. Bữa cơm đầu tiên của cô dâu và chú rể trong ngày cưới của người Thái Trong đám cưới của người dân tộc Thái còn nhiều nghi lễ và phong tục độc đáo khác. Chẳng hạn, khi nhà trai đến nhà gái rước dâu bao giờ cũng gặp phải một số khó khăn, khi tới cổng, nhà gái sẽ đóng cổng lại và đứng chắn ở ngoài. Họ ra bài hát đố, ví như: “Cổng nhà tôi then nào cũng dài/đố anh biết cái này gỗ chắc?”. Và lúc này nhà trai cũng phải khôn khéo, nếu nói thẳng sẽ bị vặn nên họ cũng phải kể ra được sự khéo tay của gia chủ trong việc đục đẽo, chọn gỗ nhằm làm đẹp lòng họ: “Gỗ làm cổng nhà em không phải gỗ đóng bè/Không phải cây gỗ làm cọc rào/Em phải tìm nó trên lưng chừng núi caoTrên ngọn Pu Luông bản mường vẫn ngóng”... Hai bên đối đáp cho đến khi nào nhà gái chấp nhận tài ăn nói của nhà trai thì mới chịu mở cổng. Khi chú rể đi vào cổng thì sẽ bị thím hay mợ của cô dâu té nước. Đây cũng là một phong tục không thể thiếu trong đám cưới của họ, mục đích chính là để thử thách lòng kiên nhẫn cũng như biết được tính cách của chú rể, ngoài ra nó còn là biểu tượng cho việc mang lại sự may mắn cho chú rể trong ngày hôn lễ của mình. Chú rể càng khốn khổ vì bị ướt bao nhiêu thì đám cưới lại càng vui bấy nhiêu. Sau đó khi nhà trai đã lên nhà, để cuộc vui thêm trọn vẹn thì lại có màn "mời ngồi". Họ nhà gái trải chiếu ra rồi hát mời nhà trai. Nếu nhà gái gặp phải người khéo lời thì sẽ đến lượt nhà trai "trả đũa". Họ sẽ không ngồi ngay mà họ sẽ đưa ra lí lẽ bằng lời hát, chê nhà gái trải chiếu xiên xẹo hoặc bảo chiếu nhà ông mới thế này ngồi ngại lắm. Nhà gái lại phải hát đáp lại. Họ đưa ra lí lẽ của mình để thuyết phục khách ngồi vào. Hình ảnh đoàn rước dâu lúc nửa đêm của người Thái Khi khách đã chịu ngồi, nhà gái sẽ tiếp tục màn “mời trầu”. Cơi trầu được nhà gái đặt ra mâm, họ hát kể về sự khổ công khi để có được cơi trầu mời khách này. Họ nói về việc đi hái dây trầu trong rừng như thế nào, trồng rồi chăm bón nó ra làm sao. Sau đi kể chuyện đi đập đá và đào lò nung vôi rồi mới có vôi têm trầu. Mục đích của sự vòng vo đó là muốn mời khách ăn trầu và khoe tài ăn nói của mình. Lúc này, nhà trai cũng lại chối khéo. Họ bảo, lỡ ở trong lá trầu có con sâu thì sao? Sau khi nhà gái bảo cứ yên lòng đi vì chúng tôi xem kỹ rồi. Nhà trai lại bảo lỡ trong khi chăm bón các ông bón phân không tốt ăn vào đau bụng thì chết. Nhà gái lại kể về những thứ phân bón mà họ dùng. Tất nhiên đó chỉ là bịa vào cho cuộc rượu thêm vui… Đó chỉ là một vài trong rất nhiều phong tục cưới hỏi của đồng bào nơi đây, nếu có dịp, bạn hãy thử một lần dự đám cưới còn mang đậm bản sắc của dân tộc này./. Theo BáoĐấtViệt

Related Figures

Hội Thanh Đàm

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/2- 18/2 Âm lịch Hội Thanh Đàm được tổ chức từ ngày 15 đến ngày 18 tháng 2 âm lịch hàng năm, tại làng Thanh Đàm, xã Nam Tân, Nam Đàn, Nghệ An. Hội này được tổ chức nhằm suy tôn Thủy thần với phần Rước và thả hến rất độc đáo. Vùng quê Nam Tân nơi diễn ra hội Thanh Đàm Đình Thanh Đàm cách thành phố Vinh khoảng 30 km về phía Tây Nam. Ngôi làng này gần với dòng sông Lam. Đình được xây dựng vào năm 1899 (mùa đông năm Kỷ Hợi) và hoàn thành vào cuối năm 1900. Đình ngoảnh mặt về hướng Đông - Nam, theo các cụ cao tuổi ở trong làng cho biết, đó là hướng càn tốn. Đình Thanh Đàm là ngôi đình thờ Đức Ông sông nước. Di tích nằm ở trong khuôn viên rộng 1 ha, phía trước có hai cây cổ thụ cành lá xum xuê. Cổng đình có 2 cột quyết, trên có 2 con nghê chầu lại, phía trong có 2 con voi và 2 ông tướng, có bức nghi môn, được đắp nổi hình hổ phù. Đình Thanh Đàm gồm có 5 gian, dài 21m, rộng 5m, 21 cột gỗ lim ròng, trong đó có 12 cột cao 4,5m và cột thấp 3,2m. Trên nóc đình đắp nổi hình hương long triều nguyệt, 4 mái cong vút, tạo cho ngôi đình thêm uy nghi. Đình lợp bằng ngói múi hài, phía trong mỗi cột gỗ có kê 1 chân đá tảng (đá xanh) được đẽo tạc rất công phu. Thợ làm đình là thợ mộc Thái Yên (2 tốp thợ). Nghệ thuật kiến trúc đình khá đẹp, trong đình có 10 kẻ, ở 2 đầu hồi được khắc hình hoa lá và chim thú; 4 đầu rồng ở 2 vì giữa, hai vì phía nam thì có hình rồng ngậm ngọc, hai vì phía bắc rồng dương vi dữ tợn. Các cụ kể lại rằng 4 con rồng, do 2 tốp thợ bí mật làm. Quang cảnh đình Thanh Đàm. Ba hôm sau họ dựng lên các vì kèo, thì tốp thợ có chạm hình rồng ngậm ngọc thắng cuộc, được hội đồng bô lão thưởng cho 10 quan tiền đồng. Thầy Hiệu, người Diễn Châu được làng mời về lập đàn làm chay, cầu cho quốc thái dân an và làng xóm trù phú, yên vui. Thầy có một bài thơ ca ngợi cảnh đẹp của ngôi Đình. “Làng ta nay khí giời ôn đúc Mạch đất vững vàng, hai mươi mẫu dân cư người đông cổ thịnh Đình Kỳ Phúc năm gian chính chiện Toạ đàn hương tốn chữ tràng sinh, trông thấy rõ ràng Áng Minh đường quanh trước Sông Lam Sóng bạc phau phau hơi gió thổi lặng tăm kình ngạc Ngôi huyền vũ dựng sau núi Đụn Mạo vàng choi chói bóng trăng soi tất khởi sài lang Phong cảnh ấy giời còn tô vẽ Gái lịch trai thanh nhiều người tuấn tú Văn thang võ chức đủ cách giàu sang Bậc kỳ anh da bọc tóc mồi Chen vai cõi thọ nền xuân Bộ quắc thước trông chừng cứng cỏi”./. Hội Thanh Đàm

Hội Thanh Đàm được tổ chức từ ngày 15 đến ngày 18 tháng 2 âm lịch hàng năm, tại làng Thanh Đàm, xã Nam Tân, Nam Đàn, Nghệ An. Hội này được tổ chức nhằm suy tôn Thủy thần với phần Rước và thả hến rất độc đáo.

Vùng quê Nam Tân nơi diễn ra hội Thanh Đàm

Đình Thanh Đàm cách thành phố Vinh khoảng 30 km về phía Tây Nam. Ngôi làng này gần với dòng sông Lam. Đình được xây dựng vào năm 1899 (mùa đông năm Kỷ Hợi) và hoàn thành vào cuối năm 1900. Đình ngoảnh mặt về hướng Đông - Nam, theo các cụ cao tuổi ở trong làng cho biết, đó là hướng càn tốn. Đình Thanh Đàm là ngôi đình thờ Đức Ông sông nước. Di tích nằm ở trong khuôn viên rộng 1 ha, phía trước có hai cây cổ thụ cành lá xum xuê. Cổng đình có 2 cột quyết, trên có 2 con nghê chầu lại, phía trong có 2 con voi và 2 ông tướng, có bức nghi môn, được đắp nổi hình hổ phù. Đình Thanh Đàm gồm có 5 gian, dài 21m, rộng 5m, 21 cột gỗ lim ròng, trong đó có 12 cột cao 4,5m và cột thấp 3,2m. Trên nóc đình đắp nổi hình hương long triều nguyệt, 4 mái cong vút, tạo cho ngôi đình thêm uy nghi. Đình lợp bằng ngói múi hài, phía trong mỗi cột gỗ có kê 1 chân đá tảng (đá xanh) được đẽo tạc rất công phu. Thợ làm đình là thợ mộc Thái Yên (2 tốp thợ). Nghệ thuật kiến trúc đình khá đẹp, trong đình có 10 kẻ, ở 2 đầu hồi được khắc hình hoa lá và chim thú; 4 đầu rồng ở 2 vì giữa, hai vì phía nam thì có hình rồng ngậm ngọc, hai vì phía bắc rồng dương vi dữ tợn. Các cụ kể lại rằng 4 con rồng, do 2 tốp thợ bí mật làm. Quang cảnh đình Thanh Đàm. Ba hôm sau họ dựng lên các vì kèo, thì tốp thợ có chạm hình rồng ngậm ngọc thắng cuộc, được hội đồng bô lão thưởng cho 10 quan tiền đồng. Thầy Hiệu, người Diễn Châu được làng mời về lập đàn làm chay, cầu cho quốc thái dân an và làng xóm trù phú, yên vui. Thầy có một bài thơ ca ngợi cảnh đẹp của ngôi Đình. “Làng ta nay khí giời ôn đúc Mạch đất vững vàng, hai mươi mẫu dân cư người đông cổ thịnh Đình Kỳ Phúc năm gian chính chiện Toạ đàn hương tốn chữ tràng sinh, trông thấy rõ ràng Áng Minh đường quanh trước Sông Lam Sóng bạc phau phau hơi gió thổi lặng tăm kình ngạc Ngôi huyền vũ dựng sau núi Đụn Mạo vàng choi chói bóng trăng soi tất khởi sài lang Phong cảnh ấy giời còn tô vẽ Gái lịch trai thanh nhiều người tuấn tú Văn thang võ chức đủ cách giàu sang Bậc kỳ anh da bọc tóc mồi Chen vai cõi thọ nền xuân Bộ quắc thước trông chừng cứng cỏi”./. Hội Thanh Đàm

Related Figures

Lễ hội Đền Chín gian

Thông tin thời kỳ

(lehoi.info) - Lễ hội Đền chín gian, hàng năm có 2 kỳ tế lễ, vào dịp tháng 2 đầu năm âm lịch và tháng 8 vào dịp Pò Hàu Cắm. Trong các kỳ tế lễ, những nghi lễ tâm linh được tổ chức hết sức trang nghiêm. Mở đầu luôn là lễ chém trâu (Phắn quái) - 1 nghi lễ quan trọng được tổ chức vào buổi sáng sớm ngày đầu tiên của lễ hội và ở ngay trước sân đền. Lễ hội Đền Chín Gian Truyền thuyết kể lại rằng, 1 năm, vào ngày mở hội tế trời, khi đang chuẩn bị hành lễ hiến trâu, thì bỗng có một con rồng bay đến cuốn đi con trâu trắng của Mường Tôn. Thấy điềm xấu, Tạo Mường liền cho giết trâu để làm lễ tế, khấn xin trời phật và tổ tiên để chuyển dời đền đi nơi khác. Tương truyền rằng, có một con quạ cổ khoang trắng đến gắp miếng xương trâu ở nơi đền cũ bay đi và thả miếng xương xuống một ngọn đồi nhỏ phía nam Mường Tôn, còn được gọi là Pú Căm (Núi vàng), tục gọi là Pú quái (núi trâu). Trong kho tàng truyện cổ dân gian người dân tộc Thái nơi đây vẫn còn lưu lại truyền thuyết lập bản dựng mường hết sức đẹp đẽ. Truyền thuyết xưa kể lại rằng, Tạo Mường ở Luông Pha Băng (cố đô Luôngphrabăng - Lào) sinh được 2 người con trai, người anh là Ló Ỳ, người em là Ló Ai. Cả 2 anh em đều rất thông minh và khoẻ mạnh hơn người nhưng người em lại là người vốn tham lam và đố kỵ, thấy cha có ý định nhường ngôi cho anh nên đã giết chết người anh rồi vứt xác xuống dòng sông Mã (thuộc tỉnh Thanh Hóa bây giờ). Xác Ló Ỳ cứ trôi theo dòng nước và bị mắc kẹt ở một khúc sông hẹp. Nhưng rất may, đã có một con quạ cặp một lọ thuốc tiên đến đổ vào miệng và bỗng thấy Ló Ỳ tỉnh lại và đi đứng bình thường. Nhân dân thấy Ló Ỳ khoẻ mạnh, lại có nguồn gốc trong dòng dõi một quý tộc nên đã tôn Ló Ỳ làm Tạo và tên Tạo Ló Ỳ cũng xuất phát luôn từ đó. Để nhớ ơn con quạ đã cứu sống mình, Ló Ỳ cùng với nhân dân tại đây đặt tên cho Mường của mình là Mường Cả Giả (gọi là mường Quạ Cứu - nay thuộc xã Hội Xuân, huyện Quan Hoá, tỉnh Thanh Hoá). Vì quá thương cha mẹ già, nên Tạo Ló Ỳ đã trao quyền cho người khác để trở về với quê cũ. Trên đường về quê cũ, băng rừng vượt suối, Tạo Ló Ỳ không biết đường nên đã lạc vào một vùng đất của người dân tộc Thái. Thể theo yêu cầu của mọi người, Ló Ỳ đã ở lại giúp dân lập bản dựng mường và trở thành vị chúa đất đầu tiên ở nơi đây. Đền Chín Gian được xây dựng từ đầu thế kỷ XIV tại Pú Chò Nhàng gọi là Tến Pỏm (đền ở trên núi) ở bản Khoẳng, Châu Kim, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An. Trong tâm thức của đồng bào người dân tộc Thái ở vùng Phủ Quỳ, đây là nơi hướng về trong tín ngưỡng tâm linh đối với Thẻn Phà (trời), Náng Xỉ Đả (Con gái trời) và Tạo Ló Ỳ (người đã có công xây bản lập mường). Đền có tên là "Tến Xớ Quái" (đền hiến trâu), nhưng vì có 9 gian nên bà con thường gọi là "Tến Cau Hoong" (có nghĩa là đền chín gian). Vùng đất đầu tiên do Tạo Ló Ỳ cai quản thì được gọi là Mường Tôn (Mường chủ, Mường gốc) bao gồm các bản Piếng Chào, Bản Giang (Châu Kim), Bản Đô, Bản Đỏn Cớn (Mường Nọc), Bản Pỏi, mường Chò Lè (Tri Lễ) và Bản Đỉn Đảnh (Châu Thôn). Và có 8 Mường được lập sau là Mường Chừn, Mường Quáng, Mường Pắn, Mường Ha Quèn, Mường Puộc, Mường Miểng, Mường Chón và Mường Chòng thuộc 11 xã của 3 huyện Quế Phong, Quỳ Châu và huyện Quỳ Hợp. Sau khi lập Mường xong với tài đức cai quản của Tạo Ló Ỳ, cuộc sống của nhân dân đã khá lên. Tuy nhiên, ông trời vẫn thường gây nên thiên tai lũ lụt, bởi vậy, nhân dân các mường đã xin Tạo cho dựng một ngôi đền ở Mường Tôn, để lấy chỗ cúng trâu cho Trời và cầu xin mưa thuận gió hoà, mùa màng no ấm. Tiếng địa phương thì gọi đền là Tến Xớ Quái (đền Hiến Trâu), nhưng vì đền có chín gian nên đã đổi thành Tến Cau Hong (Đền Chín Gian). Vì vậy, trong lễ hội Đền Chín gian lễ vật đầu tiên không thể thiếu mà người dân Mường Tôn dâng lên trong dịp lễ tế trời và Tạo Ló Ỳ đó là một con trâu cái trắng (là lễ vật cúng tế linh thiêng nhất). Mường Quáng và Mường Puộc cũng hiến 2 con trâu trắng nhưng là trâu đực; 6 Mường còn lại thì cúng 6 con trâu đen và phải là những con trâu thật mạnh khỏe. Đoàn người rước trâu hiến tế lên đền chính Bắt đầu buổi lễ, người chủ lễ (mo cả) mặc trang phục lễ (Xựa tẩy) làm lễ tắm trâu ngay tại bến nước dưới chân núi Pù Quái trước sự chứng kiến của tất cả mọi người. Nghi lễ chém trâu tại lễ hội Đền Chín Gian Sau khi tắm xong, con trâu hiến tế được đưa lên sân đền với một lễ rước rất trang nghiêm. Chủ lế đi 3 vòng quanh con trâu đã được buộc chặt vào một chiếc cọc gỗ, vừa đi vừa đọc bài xến bằng tiếng dân tộc Thái mang nội dung cầu cho “Chín mường mười bản” luôn yên lành. Theo sau sẽ là những người có chức vị trong xã hội ở các mường. Tiếp đến, vị chủ lễ sẽ dùng chiếc rìu sắc bổ thẳng vào đốt xương cổ nơi tiếp giáp với xương sọ của con trâu. Khi con trâu ngã xuống thì mới chọc tiết. Thịt trâu làm xong, nấu chín trong những chiếc vạc lớn và chia đều thành chín phần để làm lễ tế tại chín gian trong đền cùng 9 chum rượu cần được tiếp bằng nước sông múc từ bến Tà Tạo chân núi Pù Quái và đưa lên bằng ống nứa. Lễ chém trâu sẽ được tiến hành trong tiếng reo hò của những người bà con về dự lễ. Thịt trâu sẽ được đặt lên bậc sạp cao nhất của gian đền. Ông thầy mo làm lễ nạp trâu suốt 3 ngày đêm, rồi đem chia ra, nấu lên cho tất cả mọi người cùng ăn. Sau khi lễ tế trâu xong, mọi nghi thức tế lễ khác mới được bắt đầu. Mọi người quan niệm rằng, con trâu mộng được hiến tế nếu gục xuống chỉ sau một nhát bổ, thì năm đó xem như mọi việc đều tốt lành, vạn vật sinh sôi, mùa màng no đủ và người người khoẻ mạnh... Quang cảnh khu hội trại và gian hàng tại Lễ hội đền Chín Gian Lễ hội Đền Chín gian và nghi lễ chém trâu đã góp phần khơi dậy truyền thống tốt đẹp "uống nước nhớ nguồn" biết ơn những người đã có công dựng bản, lập mường; đồng thời góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống của đồng bào các dân tộc Thái ở vùng Tây Bắc Nghệ An./.

(lehoi.info) - Lễ hội Đền chín gian, hàng năm có 2 kỳ tế lễ, vào dịp tháng 2 đầu năm âm lịch và tháng 8 vào dịp Pò Hàu Cắm. Trong các kỳ tế lễ, những nghi lễ tâm linh được tổ chức hết sức trang nghiêm.

Mở đầu luôn là lễ chém trâu (Phắn quái) - 1 nghi lễ quan trọng được tổ chức vào buổi sáng sớm ngày đầu tiên của lễ hội và ở ngay trước sân đền. Lễ hội Đền Chín Gian Truyền thuyết kể lại rằng, 1 năm, vào ngày mở hội tế trời, khi đang chuẩn bị hành lễ hiến trâu, thì bỗng có một con rồng bay đến cuốn đi con trâu trắng của Mường Tôn. Thấy điềm xấu, Tạo Mường liền cho giết trâu để làm lễ tế, khấn xin trời phật và tổ tiên để chuyển dời đền đi nơi khác. Tương truyền rằng, có một con quạ cổ khoang trắng đến gắp miếng xương trâu ở nơi đền cũ bay đi và thả miếng xương xuống một ngọn đồi nhỏ phía nam Mường Tôn, còn được gọi là Pú Căm (Núi vàng), tục gọi là Pú quái (núi trâu). Trong kho tàng truyện cổ dân gian người dân tộc Thái nơi đây vẫn còn lưu lại truyền thuyết lập bản dựng mường hết sức đẹp đẽ. Truyền thuyết xưa kể lại rằng, Tạo Mường ở Luông Pha Băng (cố đô Luôngphrabăng - Lào) sinh được 2 người con trai, người anh là Ló Ỳ, người em là Ló Ai. Cả 2 anh em đều rất thông minh và khoẻ mạnh hơn người nhưng người em lại là người vốn tham lam và đố kỵ, thấy cha có ý định nhường ngôi cho anh nên đã giết chết người anh rồi vứt xác xuống dòng sông Mã (thuộc tỉnh Thanh Hóa bây giờ). Xác Ló Ỳ cứ trôi theo dòng nước và bị mắc kẹt ở một khúc sông hẹp. Nhưng rất may, đã có một con quạ cặp một lọ thuốc tiên đến đổ vào miệng và bỗng thấy Ló Ỳ tỉnh lại và đi đứng bình thường. Nhân dân thấy Ló Ỳ khoẻ mạnh, lại có nguồn gốc trong dòng dõi một quý tộc nên đã tôn Ló Ỳ làm Tạo và tên Tạo Ló Ỳ cũng xuất phát luôn từ đó. Để nhớ ơn con quạ đã cứu sống mình, Ló Ỳ cùng với nhân dân tại đây đặt tên cho Mường của mình là Mường Cả Giả (gọi là mường Quạ Cứu - nay thuộc xã Hội Xuân, huyện Quan Hoá, tỉnh Thanh Hoá). Vì quá thương cha mẹ già, nên Tạo Ló Ỳ đã trao quyền cho người khác để trở về với quê cũ. Trên đường về quê cũ, băng rừng vượt suối, Tạo Ló Ỳ không biết đường nên đã lạc vào một vùng đất của người dân tộc Thái. Thể theo yêu cầu của mọi người, Ló Ỳ đã ở lại giúp dân lập bản dựng mường và trở thành vị chúa đất đầu tiên ở nơi đây. Đền Chín Gian được xây dựng từ đầu thế kỷ XIV tại Pú Chò Nhàng gọi là Tến Pỏm (đền ở trên núi) ở bản Khoẳng, Châu Kim, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An. Trong tâm thức của đồng bào người dân tộc Thái ở vùng Phủ Quỳ, đây là nơi hướng về trong tín ngưỡng tâm linh đối với Thẻn Phà (trời), Náng Xỉ Đả (Con gái trời) và Tạo Ló Ỳ (người đã có công xây bản lập mường). Đền có tên là "Tến Xớ Quái" (đền hiến trâu), nhưng vì có 9 gian nên bà con thường gọi là "Tến Cau Hoong" (có nghĩa là đền chín gian). Vùng đất đầu tiên do Tạo Ló Ỳ cai quản thì được gọi là Mường Tôn (Mường chủ, Mường gốc) bao gồm các bản Piếng Chào, Bản Giang (Châu Kim), Bản Đô, Bản Đỏn Cớn (Mường Nọc), Bản Pỏi, mường Chò Lè (Tri Lễ) và Bản Đỉn Đảnh (Châu Thôn). Và có 8 Mường được lập sau là Mường Chừn, Mường Quáng, Mường Pắn, Mường Ha Quèn, Mường Puộc, Mường Miểng, Mường Chón và Mường Chòng thuộc 11 xã của 3 huyện Quế Phong, Quỳ Châu và huyện Quỳ Hợp. Sau khi lập Mường xong với tài đức cai quản của Tạo Ló Ỳ, cuộc sống của nhân dân đã khá lên. Tuy nhiên, ông trời vẫn thường gây nên thiên tai lũ lụt, bởi vậy, nhân dân các mường đã xin Tạo cho dựng một ngôi đền ở Mường Tôn, để lấy chỗ cúng trâu cho Trời và cầu xin mưa thuận gió hoà, mùa màng no ấm. Tiếng địa phương thì gọi đền là Tến Xớ Quái (đền Hiến Trâu), nhưng vì đền có chín gian nên đã đổi thành Tến Cau Hong (Đền Chín Gian). Vì vậy, trong lễ hội Đền Chín gian lễ vật đầu tiên không thể thiếu mà người dân Mường Tôn dâng lên trong dịp lễ tế trời và Tạo Ló Ỳ đó là một con trâu cái trắng (là lễ vật cúng tế linh thiêng nhất). Mường Quáng và Mường Puộc cũng hiến 2 con trâu trắng nhưng là trâu đực; 6 Mường còn lại thì cúng 6 con trâu đen và phải là những con trâu thật mạnh khỏe. Đoàn người rước trâu hiến tế lên đền chính Bắt đầu buổi lễ, người chủ lễ (mo cả) mặc trang phục lễ (Xựa tẩy) làm lễ tắm trâu ngay tại bến nước dưới chân núi Pù Quái trước sự chứng kiến của tất cả mọi người. Nghi lễ chém trâu tại lễ hội Đền Chín Gian Sau khi tắm xong, con trâu hiến tế được đưa lên sân đền với một lễ rước rất trang nghiêm. Chủ lế đi 3 vòng quanh con trâu đã được buộc chặt vào một chiếc cọc gỗ, vừa đi vừa đọc bài xến bằng tiếng dân tộc Thái mang nội dung cầu cho “Chín mường mười bản” luôn yên lành. Theo sau sẽ là những người có chức vị trong xã hội ở các mường. Tiếp đến, vị chủ lễ sẽ dùng chiếc rìu sắc bổ thẳng vào đốt xương cổ nơi tiếp giáp với xương sọ của con trâu. Khi con trâu ngã xuống thì mới chọc tiết. Thịt trâu làm xong, nấu chín trong những chiếc vạc lớn và chia đều thành chín phần để làm lễ tế tại chín gian trong đền cùng 9 chum rượu cần được tiếp bằng nước sông múc từ bến Tà Tạo chân núi Pù Quái và đưa lên bằng ống nứa. Lễ chém trâu sẽ được tiến hành trong tiếng reo hò của những người bà con về dự lễ. Thịt trâu sẽ được đặt lên bậc sạp cao nhất của gian đền. Ông thầy mo làm lễ nạp trâu suốt 3 ngày đêm, rồi đem chia ra, nấu lên cho tất cả mọi người cùng ăn. Sau khi lễ tế trâu xong, mọi nghi thức tế lễ khác mới được bắt đầu. Mọi người quan niệm rằng, con trâu mộng được hiến tế nếu gục xuống chỉ sau một nhát bổ, thì năm đó xem như mọi việc đều tốt lành, vạn vật sinh sôi, mùa màng no đủ và người người khoẻ mạnh... Quang cảnh khu hội trại và gian hàng tại Lễ hội đền Chín Gian Lễ hội Đền Chín gian và nghi lễ chém trâu đã góp phần khơi dậy truyền thống tốt đẹp "uống nước nhớ nguồn" biết ơn những người đã có công dựng bản, lập mường; đồng thời góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống của đồng bào các dân tộc Thái ở vùng Tây Bắc Nghệ An./.

Related Figures

Lễ hội Đền Bạch Mã

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 9/2- 10/2 Âm lịch (lehoi.info) - Lễ hội Đền Bạch Mã được tổ chức từ ngày mùng 9 đến ngày mùng 10 tháng 2 âm lịch hàng năm, tại huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Đền Bạch Mã là 1 trong 4 ngôi đền linh thiêng nhất vùng xứ Nghệ. Đền Bạch Mã - Thanh Chương - một ngôi đền nức tiếng linh thiêng xứ Nghệ Đền Bạch Mã thờ vị anh hùng Phan Đà, là người thôn Chí Linh, xã Võ Liệt. Phan Đàn xuất thân trong một gia đình làm nghề chài lưới ở ven dòng sông Lam. Ông sớm mồ côi cả cha lẫn mẹ, tuổi trẻ Ông là một người thông minh nhanh nhẹn được bạn bè mến phục. Đất nước gặp họa ngoại xâm, năm 1424 Ông đã gia nhập nghĩa quân Lê Lợi chịu trách nhiệm trong việc móc nối, dò la tin tức và chặn đánh các mũi tiến công của địch, Ông lập nhiều chiến công lớn được Bình Định vương Lê Lợi khen là kỳ đồng (tuổi trẻ có tài kỳ lạ). Trong 1 lần đi dò la tin tức của địch, ông đã bị phát hiện và bị đánh trọng thương, khi về đến căn cứ thì Ông đã trút hơi thở cuối cùng. Theo sử cũ, Phan Đà đã nhiều lần linh ứng để cứu giúp nhân dân tai qua nạn khỏi, dịch bệnh và phù trợ cho các triều đại phong kiến đánh thắng được kẻ thù. Để tưởng nhớ vị tướng trẻ tài ba và dũng mãnh, sau thắng lợi kháng chiến chống quân Minh, Lê Lợi đã cho xây dựng đền đài để làm nơi thờ cúng và phong sắc Đô Thiên Đại Đế Bạch Mã Thượng Đẳng Phúc Thần và cúng tế hàng năm. Rước kiệu tại Lễ hội đền Bạch Mã Từ năm 2001 đến nay, lễ hội Đền Bạch mã được khôi phục và được tổ chức long trọng vào 2 ngày mùng 9 và mùng 10 tháng 2 âm lịch. Hoạt động của lễ hội đã thu hút được đông đảo nhân dân và du khách hập phương thăm viếng, thưởng ngoạn. Lễ hội gồm có 2 phần: Phần Lễ bao gồm: Lễ Dâng hương tại phần mộ Phan Đà, tại Phủ Ngoại; Lễ rước từ Đền Bạch Mã; Lễ yết cáo; Lễ tế thần và Lễ tạ. Vật cù - môn thể thao dân gian tại lễ hội Đền Bạch Mã Phần Hội: Tổ chức các hoạt động văn nghệ, sinh hoạt thơ, bình thơ; tổ chức thi văn nghệ quần chúng và thi người đẹp. Ngoài ra tổ chức các giải thể thao và trò chơi dân gian như: bóng chuyền thanh niên khối THPT, cờ thẻ, vật cù, kéo co nữ và chọi gà…

(lehoi.info) - Lễ hội Đền Bạch Mã được tổ chức từ ngày mùng 9 đến ngày mùng 10 tháng 2 âm lịch hàng năm, tại huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Đền Bạch Mã là 1 trong 4 ngôi đền linh thiêng nhất vùng xứ Nghệ.

Đền Bạch Mã - Thanh Chương - một ngôi đền nức tiếng linh thiêng xứ Nghệ

Đền Bạch Mã thờ vị anh hùng Phan Đà, là người thôn Chí Linh, xã Võ Liệt. Phan Đàn xuất thân trong một gia đình làm nghề chài lưới ở ven dòng sông Lam. Ông sớm mồ côi cả cha lẫn mẹ, tuổi trẻ Ông là một người thông minh nhanh nhẹn được bạn bè mến phục. Đất nước gặp họa ngoại xâm, năm 1424 Ông đã gia nhập nghĩa quân Lê Lợi chịu trách nhiệm trong việc móc nối, dò la tin tức và chặn đánh các mũi tiến công của địch, Ông lập nhiều chiến công lớn được Bình Định vương Lê Lợi khen là kỳ đồng (tuổi trẻ có tài kỳ lạ). Trong 1 lần đi dò la tin tức của địch, ông đã bị phát hiện và bị đánh trọng thương, khi về đến căn cứ thì Ông đã trút hơi thở cuối cùng. Theo sử cũ, Phan Đà đã nhiều lần linh ứng để cứu giúp nhân dân tai qua nạn khỏi, dịch bệnh và phù trợ cho các triều đại phong kiến đánh thắng được kẻ thù. Để tưởng nhớ vị tướng trẻ tài ba và dũng mãnh, sau thắng lợi kháng chiến chống quân Minh, Lê Lợi đã cho xây dựng đền đài để làm nơi thờ cúng và phong sắc Đô Thiên Đại Đế Bạch Mã Thượng Đẳng Phúc Thần và cúng tế hàng năm. Rước kiệu tại Lễ hội đền Bạch Mã Từ năm 2001 đến nay, lễ hội Đền Bạch mã được khôi phục và được tổ chức long trọng vào 2 ngày mùng 9 và mùng 10 tháng 2 âm lịch. Hoạt động của lễ hội đã thu hút được đông đảo nhân dân và du khách hập phương thăm viếng, thưởng ngoạn. Lễ hội gồm có 2 phần: Phần Lễ bao gồm: Lễ Dâng hương tại phần mộ Phan Đà, tại Phủ Ngoại; Lễ rước từ Đền Bạch Mã; Lễ yết cáo; Lễ tế thần và Lễ tạ. Vật cù - môn thể thao dân gian tại lễ hội Đền Bạch Mã Phần Hội: Tổ chức các hoạt động văn nghệ, sinh hoạt thơ, bình thơ; tổ chức thi văn nghệ quần chúng và thi người đẹp. Ngoài ra tổ chức các giải thể thao và trò chơi dân gian như: bóng chuyền thanh niên khối THPT, cờ thẻ, vật cù, kéo co nữ và chọi gà…

Related Figures

Lễ hội đền Đức Hoàng

Thông tin thời kỳ

(lehoi.info) - Lễ hội đền Đức Hoàng được tổ chức vào ngày 30 tháng 1 và ngày mùng 1 tháng 2 âm lịch hàng năm, tại xã Phúc Thành, Yên Thành, Nghệ An để tưởng nhớ tới công lao của Hoàng Tá Thốn. Linh thiêng lễ hội đền Đức Hoàng Theo các sử liệu, Hoàng Tá Thốn không những có tài thao lược mà còn có công lớn trong việc chiêu dân, mở đất và lập làng... nên được nhân dân ở nhiều địa phương tôn làm Thành hoàng. Văn bia và phả tộc họ Hoàng (ở Vạn Tràng) ghi chép: Sát Hải Đại Vương Hoàng Tá Thốn sinh năm Giáp Dần (1254) vào đời vua Trần Thái Tông và ở làng Vạn Phần, phủ Diễn Châu, Nghệ An. Lịch sử ghi lại rằng, đời vua Trần Nhân Tông, năm Mậu Tý (1288), tướng nhà Nguyên - Mông là Thoát Hoan và Ô Mã Nhi đem quân sang xâm lược nước ta. Tướng quân Hoàng Tá Thốn được cấp ấn phù và thống lĩnh hàng vạn quân cùng tàu thuyền phục kích ở tại sông Bạch Đằng để đại phá quân giặc.... Dưới tài tổng chỉ huy của Trần Hưng Đạo, trận đánh diễn ra ác liệt và quân ta đại thắng, Ô Mã Nhi đã bị bắt sống. Vua Trần Nhân Tông đã phong cho Hoàng Tá Thốn là “Sát Hải Chàng Lại Đại Tướng Quân”. Là vị tướng có dũng khí, có trí thông minh và có nhiều mưu lược, có công với dân với nước nên sau khi ông mất, triều đình đã cho lập đền thờ ở rất nhiều nơi, trong đó có đền Đức Hoàng, xã Phúc Thành huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. vào năm 2000, Đền Đức Hoàng đã được Nhà nước công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia. Lễ rước tại lễ hội đền Đức Hoàng Lễ hội đền Đức Hoàng gồm có hai phần: Phần lễ được tổ chức với các nội dung như sau: lễ khai quang, lễ yết cáo, lễ rước, lễ tế thần, lễ tạ và lễ hoa đăng (lễ cáo từ). Phần hội nhiều những hoạt động phong phú gồm: thi đấu bóng chuyền nam, nữ, biểu diễn văn nghệ quần chúng, thi đấu vật tự do toàn huyện và thi người đẹp đền Hoàng; các trò chơi dân gian như đánh đu, kéo co, chọi gà, nấu cơm, đua thuyền, bắt cá; các trò chơi hiện đại như điện tử, mô tô bay, xe điện dụng, xe tàu điện, nhà hơi siêu nhân cùng nhiều những hoạt động khác. Lễ hội Đền Đức Hoàng hàng năm thu hút đông nhân dân và du khách Lễ hội là dịp để bà con nhân dân địa phương và những du khách gần xa tưởng nhớ tới công đức của Sát Hải Đại Vương Hoàng Tá Thốn - người đã có công đánh đuổi giặc Nguyên - Mông, đem lại thái bình cho đất nước./.

(lehoi.info) - Lễ hội đền Đức Hoàng được tổ chức vào ngày 30 tháng 1 và ngày mùng 1 tháng 2 âm lịch hàng năm, tại xã Phúc Thành, Yên Thành, Nghệ An để tưởng nhớ tới công lao của Hoàng Tá Thốn.

Linh thiêng lễ hội đền Đức Hoàng

Theo các sử liệu, Hoàng Tá Thốn không những có tài thao lược mà còn có công lớn trong việc chiêu dân, mở đất và lập làng... nên được nhân dân ở nhiều địa phương tôn làm Thành hoàng. Văn bia và phả tộc họ Hoàng (ở Vạn Tràng) ghi chép: Sát Hải Đại Vương Hoàng Tá Thốn sinh năm Giáp Dần (1254) vào đời vua Trần Thái Tông và ở làng Vạn Phần, phủ Diễn Châu, Nghệ An. Lịch sử ghi lại rằng, đời vua Trần Nhân Tông, năm Mậu Tý (1288), tướng nhà Nguyên - Mông là Thoát Hoan và Ô Mã Nhi đem quân sang xâm lược nước ta. Tướng quân Hoàng Tá Thốn được cấp ấn phù và thống lĩnh hàng vạn quân cùng tàu thuyền phục kích ở tại sông Bạch Đằng để đại phá quân giặc.... Dưới tài tổng chỉ huy của Trần Hưng Đạo, trận đánh diễn ra ác liệt và quân ta đại thắng, Ô Mã Nhi đã bị bắt sống. Vua Trần Nhân Tông đã phong cho Hoàng Tá Thốn là “Sát Hải Chàng Lại Đại Tướng Quân”. Là vị tướng có dũng khí, có trí thông minh và có nhiều mưu lược, có công với dân với nước nên sau khi ông mất, triều đình đã cho lập đền thờ ở rất nhiều nơi, trong đó có đền Đức Hoàng, xã Phúc Thành huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. vào năm 2000, Đền Đức Hoàng đã được Nhà nước công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia. Lễ rước tại lễ hội đền Đức Hoàng Lễ hội đền Đức Hoàng gồm có hai phần: Phần lễ được tổ chức với các nội dung như sau: lễ khai quang, lễ yết cáo, lễ rước, lễ tế thần, lễ tạ và lễ hoa đăng (lễ cáo từ). Phần hội nhiều những hoạt động phong phú gồm: thi đấu bóng chuyền nam, nữ, biểu diễn văn nghệ quần chúng, thi đấu vật tự do toàn huyện và thi người đẹp đền Hoàng; các trò chơi dân gian như đánh đu, kéo co, chọi gà, nấu cơm, đua thuyền, bắt cá; các trò chơi hiện đại như điện tử, mô tô bay, xe điện dụng, xe tàu điện, nhà hơi siêu nhân cùng nhiều những hoạt động khác. Lễ hội Đền Đức Hoàng hàng năm thu hút đông nhân dân và du khách Lễ hội là dịp để bà con nhân dân địa phương và những du khách gần xa tưởng nhớ tới công đức của Sát Hải Đại Vương Hoàng Tá Thốn - người đã có công đánh đuổi giặc Nguyên - Mông, đem lại thái bình cho đất nước./.

Related Figures

Lễ hội chùa Keo Hành Thiện

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/9 Âm lịch (lehoi.info) - Lễ hội chùa Keo Hành Thiện được tổ chức hàng năm vào ngày rằm tháng 9 âm lịch, tại làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, Xuân Trường, Nam Định. Lễ hội gồm: Lễ dâng hương, cầu cúng, tụng kinh, múa rồng và đua thuyền trên sông Hồng. Đối tượng suy tôn là: Đức Phật và thiền sư Không Lộ một người giỏi chữa bệnh lại giỏi cả thơ văn, ông tổ nghề đúc đồng và là nhà kiến trúc tài giỏi có công phò vua giúp nước. Hàng năm, tại chùa có 2 lần mở hội. Đó là Hội xuân vào dịp tết Nguyên Đán và hội tháng 9 mở vào các ngày 13, ngày 14 và ngày15 để kỷ niệm ngày sinh của thánh tổ Không Lộ. Tưng bừng lễ hội chùa Keo Hành Thiện Hội xuân gồm có các trò chơi thi ném pháo, bắt vịt, thi nấu cơm và nhiều những hình thức văn nghệ dân gian khác. Hội tháng 9 được tổ chức rất trọng thể, ngoài những nghi thức lễ tiết mang tính tôn giáo, hội tháng 9 còn là nơi hội tụ của những sinh hoạt văn hoá tinh thần của các cư dân nông nghiệp. Chính vì vậy, vào ngày hội nhân dân không những chỉ ở trong vùng mà cả trong Nam và ngoài Bắc đều nô nức kéo nhau về tụ hội: Dù cho cha đánh mẹ treo Em không bỏ hội chùa keo hôm rằm. Đặt biệt là ở đây thường tổ chức từ ngày mùng 10 tháng 9 đến hết hội. Hình ảnh các chàng trai đóng khố, mặc áo nẹp ngắn, không tay và đầu chít khăn đồng màu khoẻ mạnh, trên hàng chục chiếc chải lao vun vút, giữa dòng sông trong tiếng dồn dập, tiếng reo hò cổ vũ của hàng vạn người, đã ghi in trong tâm hồn những người tới dự hội Keo. Ngoài việc thờ Phật, chùa còn thờ Dương Không Lộ, một nhà thơ thời Lý - Trần, một nhà thơ có học vấn sâu sắc về Phật học, là biểu tượng của con người sáng tạo văn hoá. Sau những lễ nghi trang trọng, tiết mục chèo tải được tất cả mọi người đón nhận nồng nhiệt nhất. Độc đáo nhất ở trong lễ hội đó là môn đua thuyền trải: có 15 xóm trong làng tham gia đua thuyền hay còn gọi là bơi trải, có tất cả 10 người ở trên thuyền trong đó có 1 người lái thuyền. Bơi trải ở Chùa Keo Hành Thiện Nam Định khác với các nơi khác, họ không ngồi bơi mà cả 10 người đểu đứng để chèo. Bắt đầu xuất ở trong sông con là sông làng khoảng 5 đến 6km rồi bắt đầu ra đến sông Ninh Cơ nhánh của sông Hồng, bơi 3.5 Vòng sông rồi quay về bắt Têu trong sông con nếu đội nào về đầu thì sẽ dành được giải nhất. Trung bình mỗi cuộc thi bơi trải diễn ra từ 3.5 đến 4 h đồng hồ). Đây là một môn thi đấu cổ truyền rất tuyệt vời đáng được ghi nhớ cũng như lưu trong sử sách của Dân tộc ta. Một nghi thức trong lễ hội Chùa Keo Hành Thiện từ lâu đã nổi tiếng bởi cảnh quan đẹp và không gian yên tĩnh. Chùa tọa lạc trên một khu đất rộng và bằng phẳng gần sông Hồng, sông Ninh Cơ. Phía trước Tam quan có hồ bán nguyệt và có hòn non bộ theo thế tam sơn, long chầu hổ phục; trên bờ có đôi voi đá khổng lồ, xung quanh chùa là hàng cây cổ thụ có tuổi đời hàng trăm năm. Gác chuông ở trước cửa chùa là kiến trúc tam quan nội 5 gian, làm theo kiểu chồng diêm cao 7,5m gồm có 8 cột đại trụ và 16 cột quân được đặt trên đá tảng có chạm khắc hoa văn, cảnh hoa sen mang đậm phong cách nghệ thuật ở thời Hậu Lê. Sau gác chuông là cụm kiến trúc trung tâm gồm tiền đường 5 gian, tòa đệ nhị 3 gian, tòa đệ nhất 3 gian thờ Phật và Thiền sư Không Lộ. Các nghệ nhân xây dựng chùa đã dồn toàn bộ trí lực tài hoa để tạo dựng và thể hiện những đường nét chạm khắc tinh vi trên các mảng đố, xà, bảy và kẻ của từng tòa nhà. Ở 3 bộ cửa ô tiền đường chùa Phật, mỗi cánh cửa được chạm gỗ với nhiều đề tài khác nhau. Kỹ thuật chạm gỗ bong kênh ở mặt tiền 2 gian tòa tiền đường đã đạt tới trình độ cao với đề tài vô cùng phong phú: Long cuốn thủy, ly ngậm ngọc, phượng ngậm cành hoa, tứ linh và nghê đội nóc đao… Đặc biệt hình rồng được thể hiện lúc ẩn, lúc hiện ở các trạng thái khác nhau với những đường nét khắc họa rất tinh vi, sắc sảo, sống động và mềm mại theo phong cách dân gian ở vùng châu thổ sông Hồng. Sau thờ Phật là đền Thánh thờ Thiền sư Không Lộ với 3 tòa quy mô được cấu trúc theo kiểu "Thượng bò cuốn hạ kẻ bẩy và kẻ nội đấu truyền" với trạm khắc hoa văn rất công phu và rất tỷ mỷ. Cuối cùng là 10 gian nhà Tổ và nhà oàn, nhà ký đồ với kiến trúc 3 gian và 2 bên chùa là dãy hành lang gồm 80 gian khép kín càng tạo nên vẻ trang nghiêm và bề thế của tổng thể kiến trúc. Ngoài vẻ đẹp kiến trúc, trong chùa còn lưu giữ và bảo tồn những di vật có giá trị của thời Hậu Lê như sập thờ, án thư, tượng pháp, khánh, hoành phi, văn bia cổ, câu đối và cửa hãn… Đua thuyền trải Nơi đây hàng năm đã đón rất nhiều đoàn khách và nhân dân ở khắp mọi nơi về thăm quan, văn cảnh, đồng thời thăm nhà lưu niệm đồng chí Trường Chinh, nhà cách mạng suất sắc, người con ưu tú của quê hương Hành Thiện./. lehoi.info tổng hợp

(lehoi.info) - Lễ hội chùa Keo Hành Thiện được tổ chức hàng năm vào ngày rằm tháng 9 âm lịch, tại làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, Xuân Trường, Nam Định. Lễ hội gồm: Lễ dâng hương, cầu cúng, tụng kinh, múa rồng và đua thuyền trên sông Hồng. Đối tượng suy tôn là: Đức Phật và thiền sư Không Lộ một người giỏi chữa bệnh lại giỏi cả thơ văn, ông tổ nghề đúc đồng và là nhà kiến trúc tài giỏi có công phò vua giúp nước.

Hàng năm, tại chùa có 2 lần mở hội. Đó là Hội xuân vào dịp tết Nguyên Đán và hội tháng 9 mở vào các ngày 13, ngày 14 và ngày15 để kỷ niệm ngày sinh của thánh tổ Không Lộ. Tưng bừng lễ hội chùa Keo Hành Thiện Hội xuân gồm có các trò chơi thi ném pháo, bắt vịt, thi nấu cơm và nhiều những hình thức văn nghệ dân gian khác. Hội tháng 9 được tổ chức rất trọng thể, ngoài những nghi thức lễ tiết mang tính tôn giáo, hội tháng 9 còn là nơi hội tụ của những sinh hoạt văn hoá tinh thần của các cư dân nông nghiệp. Chính vì vậy, vào ngày hội nhân dân không những chỉ ở trong vùng mà cả trong Nam và ngoài Bắc đều nô nức kéo nhau về tụ hội: Dù cho cha đánh mẹ treo Em không bỏ hội chùa keo hôm rằm. Đặt biệt là ở đây thường tổ chức từ ngày mùng 10 tháng 9 đến hết hội. Hình ảnh các chàng trai đóng khố, mặc áo nẹp ngắn, không tay và đầu chít khăn đồng màu khoẻ mạnh, trên hàng chục chiếc chải lao vun vút, giữa dòng sông trong tiếng dồn dập, tiếng reo hò cổ vũ của hàng vạn người, đã ghi in trong tâm hồn những người tới dự hội Keo. Ngoài việc thờ Phật, chùa còn thờ Dương Không Lộ, một nhà thơ thời Lý - Trần, một nhà thơ có học vấn sâu sắc về Phật học, là biểu tượng của con người sáng tạo văn hoá. Sau những lễ nghi trang trọng, tiết mục chèo tải được tất cả mọi người đón nhận nồng nhiệt nhất. Độc đáo nhất ở trong lễ hội đó là môn đua thuyền trải: có 15 xóm trong làng tham gia đua thuyền hay còn gọi là bơi trải, có tất cả 10 người ở trên thuyền trong đó có 1 người lái thuyền. Bơi trải ở Chùa Keo Hành Thiện Nam Định khác với các nơi khác, họ không ngồi bơi mà cả 10 người đểu đứng để chèo. Bắt đầu xuất ở trong sông con là sông làng khoảng 5 đến 6km rồi bắt đầu ra đến sông Ninh Cơ nhánh của sông Hồng, bơi 3.5 Vòng sông rồi quay về bắt Têu trong sông con nếu đội nào về đầu thì sẽ dành được giải nhất. Trung bình mỗi cuộc thi bơi trải diễn ra từ 3.5 đến 4 h đồng hồ). Đây là một môn thi đấu cổ truyền rất tuyệt vời đáng được ghi nhớ cũng như lưu trong sử sách của Dân tộc ta. Một nghi thức trong lễ hội Chùa Keo Hành Thiện từ lâu đã nổi tiếng bởi cảnh quan đẹp và không gian yên tĩnh. Chùa tọa lạc trên một khu đất rộng và bằng phẳng gần sông Hồng, sông Ninh Cơ. Phía trước Tam quan có hồ bán nguyệt và có hòn non bộ theo thế tam sơn, long chầu hổ phục; trên bờ có đôi voi đá khổng lồ, xung quanh chùa là hàng cây cổ thụ có tuổi đời hàng trăm năm. Gác chuông ở trước cửa chùa là kiến trúc tam quan nội 5 gian, làm theo kiểu chồng diêm cao 7,5m gồm có 8 cột đại trụ và 16 cột quân được đặt trên đá tảng có chạm khắc hoa văn, cảnh hoa sen mang đậm phong cách nghệ thuật ở thời Hậu Lê. Sau gác chuông là cụm kiến trúc trung tâm gồm tiền đường 5 gian, tòa đệ nhị 3 gian, tòa đệ nhất 3 gian thờ Phật và Thiền sư Không Lộ. Các nghệ nhân xây dựng chùa đã dồn toàn bộ trí lực tài hoa để tạo dựng và thể hiện những đường nét chạm khắc tinh vi trên các mảng đố, xà, bảy và kẻ của từng tòa nhà. Ở 3 bộ cửa ô tiền đường chùa Phật, mỗi cánh cửa được chạm gỗ với nhiều đề tài khác nhau. Kỹ thuật chạm gỗ bong kênh ở mặt tiền 2 gian tòa tiền đường đã đạt tới trình độ cao với đề tài vô cùng phong phú: Long cuốn thủy, ly ngậm ngọc, phượng ngậm cành hoa, tứ linh và nghê đội nóc đao… Đặc biệt hình rồng được thể hiện lúc ẩn, lúc hiện ở các trạng thái khác nhau với những đường nét khắc họa rất tinh vi, sắc sảo, sống động và mềm mại theo phong cách dân gian ở vùng châu thổ sông Hồng. Sau thờ Phật là đền Thánh thờ Thiền sư Không Lộ với 3 tòa quy mô được cấu trúc theo kiểu "Thượng bò cuốn hạ kẻ bẩy và kẻ nội đấu truyền" với trạm khắc hoa văn rất công phu và rất tỷ mỷ. Cuối cùng là 10 gian nhà Tổ và nhà oàn, nhà ký đồ với kiến trúc 3 gian và 2 bên chùa là dãy hành lang gồm 80 gian khép kín càng tạo nên vẻ trang nghiêm và bề thế của tổng thể kiến trúc. Ngoài vẻ đẹp kiến trúc, trong chùa còn lưu giữ và bảo tồn những di vật có giá trị của thời Hậu Lê như sập thờ, án thư, tượng pháp, khánh, hoành phi, văn bia cổ, câu đối và cửa hãn… Đua thuyền trải Nơi đây hàng năm đã đón rất nhiều đoàn khách và nhân dân ở khắp mọi nơi về thăm quan, văn cảnh, đồng thời thăm nhà lưu niệm đồng chí Trường Chinh, nhà cách mạng suất sắc, người con ưu tú của quê hương Hành Thiện./. lehoi.info tổng hợp

Related Figures

Hội chợ Viềng

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 8/1 Âm lịch (lehoi.info) - Trải qua những thăng trầm của lịch sử, chợ Viềng ngày nay đã trở thành mootj điểm giao lưu văn hóa cộng đồng, hội tụ tinh hoa sản vật và cũng là nơi đón chuyến xuất hành đầu xuân của những du khách thập phương về “mua may bán rủi”. Hội chợ Viềng diễn ra hàng năm vào ngày mùng 8 tháng giêng âm lịch, tại Xã Kim Thái, Vụ Bản, Nam Định và thị trấn Nam Giang, Nam Trực, Nam Định. Lễ hội Chợ Viềng Nam Định Chợ Viềng họp cả ngày vào ngày mùng 8 tháng Giêng âm lịch hàng năm, nhưng người ở xa thường về từ rất sớm, rậm rịch họp chợ từ 11, 12 giờ đêm ngày hôm trước, cho đến sáng và hết cả ngày hôm sau. Khách đến từ khắp nơi, trong Nam và ngoài Bắc nhưng đông nhất vẫn là người nội tỉnh sau là đến khách các tỉnh Nghệ An và Thanh Hoá đổ ra. Khác các tỉnh từ Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Nội và Thái Bình đổ về đông nườm nượp. Du khách thập phương về với hội chợ phần lớn là do nghe danh tiếng của chợ Viềng mà về, nhưng phần đông vẫn là những người có gốc gác hoặc quê quán ở tại tỉnh Nam đi làm ăn xa nay nhớ đất Tổ, nhớ đất quê mà tìm về. Nên dù có xa mấy, tận bên kia Đại Dương hay tận Sài Gòn lục tỉnh... cũng nhớ ngày về để dự hội. Tiếng là "hội chợ" nhưng chợ Viềng lại không bán mua những sản phẩm ngoại lai cao cấp và hào nhoáng đắt tiền như ở các hội chợ tỉnh lớn, thành phố lớn. Sản phẩm được đem ra mua bán ở đây chủ yếu là các loại cây trồng, vật nuôi: từ cây trồng để lấy gỗ, cây hoa cây cảnh, các loại cây ăn quả và thậm chí cả cây cà, cây chanh, cây ớt. Và sau nữa là đến các vật dụng sản xuất nhỏ của nhà nông. Người ta có thể tìm mua ở đây từ cái cuốc cái cày đến các vận dụng nhỏ như cái đòn gánh, đôi quang thúng hay những thực phẩm cần thiết cho cuộc sống của con người như thịt, gạo, giày dép, quần áo…du khách còn có thể tìm thấy ở đây những bộ tế khí, những chiếc lư hương bằng đồng, cùng hàng trăm ngàn thứ vật dụng linh tinh khác. Mọi người mua lộc ở chợ Viềng Ngoài ra, còn có một thứ thực phẩm được người bán kẻ mua rất tưng bừng náo nhiệt. Đó chính là thịt bò non. Nói đúng ra nó là thịt bê được thui vàng ươm nguyên cả con, bán rất nhiều ở dọc các ngả đường đi vào chợ. Có thể nói không ngoa rằng "Trên là trời, dưới là thịt bò bê". khách mua ai thích phần nào có thể tuỳ chọn, mà giá cả lại rất phải chăng, hợp với túi tiền của "người nhà quê". Ở chợ phiên này có tục người bán thì không hề nói thách và người mua cũng không hề mặc cả - Một nét đẹp đáng yêu chỉ ở phiên chợ này mới có. Hình như "sự bán và sự mua" ở đây mang nặng một ý thức tâm linh nào đó - rằng người ta chỉ cần bán hoặc mua được một vật gì đó dù là rất nhỏ thì người bán kẻ mua đều gặp được nhiều may mắn tốt lành, và cả đôi bên đều cùng vui vẻ hỉ hả ra về đi lễ chùa cầu may cầu lộc. Hội chợ Viềng, khu hội chợ chính nằm ở trong thôn Trung Thành nhưng bao xung quanh nó là cả một quần thể di tích, như đình chùa, đền phủ và lăng tẩm, rất đẹp như đền Vua, lăng Mẫu, chùa Cao, chùa Long Vân, Phủ Tiên Hương, đình ông Khổng, phủ Vân Cát... đã được xây dựng từ thứ kỷ 19 cách đây hàng trăm năm. Các di tích này được Bộ Văn hóa xếp hạng là "di tích lịch sử văn hoá". Cụm di tích này chủ yếu để thờ bà chúa Liễu Hạnh - một nhân vật văn hoá dân gian vừa giống như có thật, vừa như truyền thuyết, Bà được dân gian phong Thánh, vừa được sắc phong như Thần và vừa được coi như bà Chúa, cô Tiên... Điều quan trọng hơn cả là sự tích và hình tượng bà Chúa Liễu đã đi vào tâm thức và trở nên bất tử trong lòng của tất cả mọi người dân trong vùng. Cho nên dù là người bản địa hay là du khách thập phương về đây không chỉ để đi dự hội chợ Viềng mà còn để đi lễ chùa, đền phủ Bà Chúa để cầu may cầu lộc đầu xuân. Người ta có thể dến dự hội trước sau đi lễ Đền hoặc đi đền cầu may rồi mới đi hội chợ./.

(lehoi.info) - Trải qua những thăng trầm của lịch sử, chợ Viềng ngày nay đã trở thành mootj điểm giao lưu văn hóa cộng đồng, hội tụ tinh hoa sản vật và cũng là nơi đón chuyến xuất hành đầu xuân của những du khách thập phương về “mua may bán rủi”. Hội chợ Viềng diễn ra hàng năm vào ngày mùng 8 tháng giêng âm lịch, tại Xã Kim Thái, Vụ Bản, Nam Định và thị trấn Nam Giang, Nam Trực, Nam Định.

Lễ hội Chợ Viềng Nam Định

Chợ Viềng họp cả ngày vào ngày mùng 8 tháng Giêng âm lịch hàng năm, nhưng người ở xa thường về từ rất sớm, rậm rịch họp chợ từ 11, 12 giờ đêm ngày hôm trước, cho đến sáng và hết cả ngày hôm sau. Khách đến từ khắp nơi, trong Nam và ngoài Bắc nhưng đông nhất vẫn là người nội tỉnh sau là đến khách các tỉnh Nghệ An và Thanh Hoá đổ ra. Khác các tỉnh từ Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Nội và Thái Bình đổ về đông nườm nượp. Du khách thập phương về với hội chợ phần lớn là do nghe danh tiếng của chợ Viềng mà về, nhưng phần đông vẫn là những người có gốc gác hoặc quê quán ở tại tỉnh Nam đi làm ăn xa nay nhớ đất Tổ, nhớ đất quê mà tìm về. Nên dù có xa mấy, tận bên kia Đại Dương hay tận Sài Gòn lục tỉnh... cũng nhớ ngày về để dự hội. Tiếng là "hội chợ" nhưng chợ Viềng lại không bán mua những sản phẩm ngoại lai cao cấp và hào nhoáng đắt tiền như ở các hội chợ tỉnh lớn, thành phố lớn. Sản phẩm được đem ra mua bán ở đây chủ yếu là các loại cây trồng, vật nuôi: từ cây trồng để lấy gỗ, cây hoa cây cảnh, các loại cây ăn quả và thậm chí cả cây cà, cây chanh, cây ớt. Và sau nữa là đến các vật dụng sản xuất nhỏ của nhà nông. Người ta có thể tìm mua ở đây từ cái cuốc cái cày đến các vận dụng nhỏ như cái đòn gánh, đôi quang thúng hay những thực phẩm cần thiết cho cuộc sống của con người như thịt, gạo, giày dép, quần áo…du khách còn có thể tìm thấy ở đây những bộ tế khí, những chiếc lư hương bằng đồng, cùng hàng trăm ngàn thứ vật dụng linh tinh khác. Mọi người mua lộc ở chợ Viềng Ngoài ra, còn có một thứ thực phẩm được người bán kẻ mua rất tưng bừng náo nhiệt. Đó chính là thịt bò non. Nói đúng ra nó là thịt bê được thui vàng ươm nguyên cả con, bán rất nhiều ở dọc các ngả đường đi vào chợ. Có thể nói không ngoa rằng "Trên là trời, dưới là thịt bò bê". khách mua ai thích phần nào có thể tuỳ chọn, mà giá cả lại rất phải chăng, hợp với túi tiền của "người nhà quê". Ở chợ phiên này có tục người bán thì không hề nói thách và người mua cũng không hề mặc cả - Một nét đẹp đáng yêu chỉ ở phiên chợ này mới có. Hình như "sự bán và sự mua" ở đây mang nặng một ý thức tâm linh nào đó - rằng người ta chỉ cần bán hoặc mua được một vật gì đó dù là rất nhỏ thì người bán kẻ mua đều gặp được nhiều may mắn tốt lành, và cả đôi bên đều cùng vui vẻ hỉ hả ra về đi lễ chùa cầu may cầu lộc.

Hội chợ Viềng, khu hội chợ chính nằm ở trong thôn Trung Thành nhưng bao xung quanh nó là cả một quần thể di tích, như đình chùa, đền phủ và lăng tẩm, rất đẹp như đền Vua, lăng Mẫu, chùa Cao, chùa Long Vân, Phủ Tiên Hương, đình ông Khổng, phủ Vân Cát... đã được xây dựng từ thứ kỷ 19 cách đây hàng trăm năm. Các di tích này được Bộ Văn hóa xếp hạng là "di tích lịch sử văn hoá". Cụm di tích này chủ yếu để thờ bà chúa Liễu Hạnh - một nhân vật văn hoá dân gian vừa giống như có thật, vừa như truyền thuyết, Bà được dân gian phong Thánh, vừa được sắc phong như Thần và vừa được coi như bà Chúa, cô Tiên... Điều quan trọng hơn cả là sự tích và hình tượng bà Chúa Liễu đã đi vào tâm thức và trở nên bất tử trong lòng của tất cả mọi người dân trong vùng. Cho nên dù là người bản địa hay là du khách thập phương về đây không chỉ để đi dự hội chợ Viềng mà còn để đi lễ chùa, đền phủ Bà Chúa để cầu may cầu lộc đầu xuân. Người ta có thể dến dự hội trước sau đi lễ Đền hoặc đi đền cầu may rồi mới đi hội chợ./.

Related Figures

Lễ khai ấn đền Trần

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 14/1- 15/1 Âm lịch (lehoi.info) - Lễ khai ấn đền Trần diễn ra vào giữa đêm ngày 14 và mở đầu cho ngày 15 tháng Giêng âm lịch, tại Khu di tích đền Trần phường Lộc Vương, thành phố Nam Định. Đây là sự hồi ảnh của một tập tục cổ, sau những ngày nghỉ tết bắt đầu từ rằm tháng giêng thì triều đình trở lại làm việc bình thường. Lễ khai ấn đền Trần Lễ khai ấn là một tập tục ra đời từ thế kỷ XIII, chính xác là vào năm 1239 của triều đại nhà Trần thực hiện nghi lễ tế tiên tổ. Tại phủ Thiên Trường, vua Trần mở tiệc chiêu đãi và phong chức cho các quan quân có công. Những năm kháng chiến chống Nguyên- Mông sau đó, Lễ khai ấn đã bị gián đoạn cho tới năm 1262 và được Thượng hoàng Trần Thánh Tông cho mở lại. Thiên Trường không phải là Kinh đô nước Việt nhưng gắn liền với việc khai ấn là bởi trong kháng chiến chống quân Nguyên - Mông, Thăng Long đã thực hiện vườn không nhà trống, rút lui chiến lược thì nơi đây là căn cứ địa dễ tiến thoái như một "Thủ đô kháng chiến" theo như cách gọi hiện đại để tận dụng địa thế và huy động sức người sức của cả một vùng trấn Sơn Nam, phủ Thiên Trường... Vậy nên danh sĩ Phạm Sư Mạnh mới gọi nơi đây là "Hùng thắng Đông kinh hộ ấn vàng...". Trải qua bao thế kỷ, ấn cũ đã không còn. Vào năm 1822, vua Minh Mạng qua Ninh Bình có ghé lại đây và cho khắc lại. Ấn cũ được khắc là "Trần triều chi bảo", ấn mới được khắc là "Trần triều điển cố" để nhắc lại tích cũ. Dưới đó có thêm câu "Tích phúc vô cương". Và từ đây, Lễ khai ấn vào giờ Tý ngày rằm tháng Giêng (từ 11 giờ đêm ngày 14 đến 1 giờ sáng ngày 15 tháng Giêng) là một tập tục văn hóa mang tính nhân văn để nhà vua tế lễ Trời, Đất và Tiên tổ để thể hiện lòng thành kính biết ơn non sông, cha ông. Và cũng là "tín hiệu nhắc nhở" chấm dứt những ngày Tết và thực sự bắt tay vào công việc. Nghi thức lấy ấn Đền Trần Ở tại đền Cố Trạch các bô lão tề tựu đông đủ để lễ đức Thánh Trần, sau đó là tham dự buổi lễ khai ấn đầu năm. Hòm ấn được đặt trang trọng ở trên ban thờ, trong hòm có 2 con dấu. Quả nhỏ trên mặt có khắc hai chữ “ Trần Miếu”, quả lớn có khắc những chữ: “ Trần Triều Tự Điển, Tứ phúc vô cương” theo kiểu chữ triện. Đúng giờ tý (12 giờ đêm) thì buổi lễ bắt đầu một cụ cao niên nhất đứng ra thay mặt dân làng để làm lễ. Tiếp đó người rước hòm ấn đi theo nhịp trống, nhịp chiêng cùng ánh đèn, nến, tiến sang đền Thiên Trường và tiếp tục làm lễ, cuối cùng là tổ chức đóng dấu son đỏ trên các tờ giấy vàng chia phát cho những người tham gia dự tại buổi lễ, chia về treo tại nhà để cầu phúc, cầu may và tránh mọi hoạn nạn rủi ro trong năm. Lễ khai ấn tại đền Cố Trạch và Thiên Trường hàng năm vẫn được dân làng Tức Mạc duy trì cho đến ngày nay, xong về hình thức nghi lễ này có đơn giản hơn trước đây. Sau lễ khai ấn đầu năm ở tại đền Cố Trạch và Thiên Trường còn có lễ hội lớn được mở vào dịp từ ngày 15 đến ngày 20 tháng 8 âm lịch hàng năm. Cũng giống như những lễ hội khác nó bao gồm các nghi lễ và sinh hoạt văn hoá dân gian từ thời xa xưa nghi lễ ở đây diễn ra với các lễ rước từ khác đền chùa xung quanh về làm lễ dâng hương và tế tự ở đền Thiên Trường nơi thờ 14 vị vua Trần và đền Cố Trạch nơi thờ Trần Hưng Đạo. Các đám rước gồm có: bát kiệu, cờ, kiệu long đình và đội trống nhạc lễ cùng đông đủ các bô lão và người dân các làng xung quanh đến tham dự. Khi đám rước về đến đền thi nghi lễ được diễn ra. Trước đây chỉ có lễ chứ không có hội, nhưng những năm gần đây do nhận thức được tầm quan trọng của các di tích, các cơ quan văn hoá, kết hợp với các cấp cơ quan chính quyền ở địa phương với chỉ đạo nghi lễ, với sinh hoạt văn hoá tổ chức thành lễ hội lớn lễ hội đền Trần và lễ hội Trần Hưng Đạo. Lễ dâng hương với nghi thức 14 cô gái đồng trinh đội 14 mâm hoa sau khi làm lễ ở ngoài sân theo tiếng nhạc lễ đi thẳng vào trong đền dâng lên trước ngai thờ của 14 vị vua sau lễ dâng hương và lễ đại tế của các bô lão trong làng nhằm diễn tả lại những nghi thức của triều đình phong kiến thời xưa, sau lễ tế ở đền Thiên Trường là đến lễ tế ở đền Cố Trạch. Màn múa Sư tử trong lễ khai ân Sau phần lễ là đến phần hội với các sinh hoạt văn hoá khá phong phú và độc đáo như hội diễn võ củ ba thế hệ (ông, cha và con) ở tại sân đền Thiên Trường còn diễn ra cuộc đấu vật, múa sư tử, múa rồng…hội chọi gà, chơi đu, ném vòng cổ chai, chơi cờ thẻ… Đặc biệt múa bài Bông một điệu múa mừng chiến thắng của quân dân ở thời Trần. Tương truyền do thái sư Trần Quang Khải sáng tác và dạy cho các ca vũ ở cung đình. Sau này những người dân Phường Bông (Mỹ Trung) vốn thời xưa là phương múa hát phục vụ cung đình, tập luyện các điệu múa này và trình diễn trong các dịp lễ hội đền Trần. Ngoài lễ hội lớn tháng 8 âm lịch hàng năm đúng vào ngày kỵ Trần Hưng Đạo tại đền Cố Trạch còn có những ngày kỵ giỗ khác như ngày giỗ của thân Phụ Vương Mẫu và các con các lão tướng Trần Hưng Đạo. Màn múa lân trong lễ khai ấn Đền Trần Tất cả các nghi lễ ở tại di tích đền Trần từ lâu đã lưu giữ được các phong tục cổ truyền của dân tộc ta và phần nào tái hiện được một thời kỳ lịch sử hào hùng của dân tộc, nội dung lịch sử được thể hiện sống động và sâu sắc nó nuôi dưỡng bồi đắp tinh thần yêu nước, ý chí bất khuất chống ngoại xâm, tâm thức uống nước nhớ nguồn của mỗi con người Việt Nam./.

(lehoi.info) - Lễ khai ấn đền Trần diễn ra vào giữa đêm ngày 14 và mở đầu cho ngày 15 tháng Giêng âm lịch, tại Khu di tích đền Trần phường Lộc Vương, thành phố Nam Định. Đây là sự hồi ảnh của một tập tục cổ, sau những ngày nghỉ tết bắt đầu từ rằm tháng giêng thì triều đình trở lại làm việc bình thường.

Lễ khai ấn đền Trần

Lễ khai ấn là một tập tục ra đời từ thế kỷ XIII, chính xác là vào năm 1239 của triều đại nhà Trần thực hiện nghi lễ tế tiên tổ. Tại phủ Thiên Trường, vua Trần mở tiệc chiêu đãi và phong chức cho các quan quân có công. Những năm kháng chiến chống Nguyên- Mông sau đó, Lễ khai ấn đã bị gián đoạn cho tới năm 1262 và được Thượng hoàng Trần Thánh Tông cho mở lại. Thiên Trường không phải là Kinh đô nước Việt nhưng gắn liền với việc khai ấn là bởi trong kháng chiến chống quân Nguyên - Mông, Thăng Long đã thực hiện vườn không nhà trống, rút lui chiến lược thì nơi đây là căn cứ địa dễ tiến thoái như một "Thủ đô kháng chiến" theo như cách gọi hiện đại để tận dụng địa thế và huy động sức người sức của cả một vùng trấn Sơn Nam, phủ Thiên Trường... Vậy nên danh sĩ Phạm Sư Mạnh mới gọi nơi đây là "Hùng thắng Đông kinh hộ ấn vàng...". Trải qua bao thế kỷ, ấn cũ đã không còn. Vào năm 1822, vua Minh Mạng qua Ninh Bình có ghé lại đây và cho khắc lại. Ấn cũ được khắc là "Trần triều chi bảo", ấn mới được khắc là "Trần triều điển cố" để nhắc lại tích cũ. Dưới đó có thêm câu "Tích phúc vô cương". Và từ đây, Lễ khai ấn vào giờ Tý ngày rằm tháng Giêng (từ 11 giờ đêm ngày 14 đến 1 giờ sáng ngày 15 tháng Giêng) là một tập tục văn hóa mang tính nhân văn để nhà vua tế lễ Trời, Đất và Tiên tổ để thể hiện lòng thành kính biết ơn non sông, cha ông. Và cũng là "tín hiệu nhắc nhở" chấm dứt những ngày Tết và thực sự bắt tay vào công việc. Nghi thức lấy ấn Đền Trần Ở tại đền Cố Trạch các bô lão tề tựu đông đủ để lễ đức Thánh Trần, sau đó là tham dự buổi lễ khai ấn đầu năm. Hòm ấn được đặt trang trọng ở trên ban thờ, trong hòm có 2 con dấu. Quả nhỏ trên mặt có khắc hai chữ “ Trần Miếu”, quả lớn có khắc những chữ: “ Trần Triều Tự Điển, Tứ phúc vô cương” theo kiểu chữ triện. Đúng giờ tý (12 giờ đêm) thì buổi lễ bắt đầu một cụ cao niên nhất đứng ra thay mặt dân làng để làm lễ. Tiếp đó người rước hòm ấn đi theo nhịp trống, nhịp chiêng cùng ánh đèn, nến, tiến sang đền Thiên Trường và tiếp tục làm lễ, cuối cùng là tổ chức đóng dấu son đỏ trên các tờ giấy vàng chia phát cho những người tham gia dự tại buổi lễ, chia về treo tại nhà để cầu phúc, cầu may và tránh mọi hoạn nạn rủi ro trong năm. Lễ khai ấn tại đền Cố Trạch và Thiên Trường hàng năm vẫn được dân làng Tức Mạc duy trì cho đến ngày nay, xong về hình thức nghi lễ này có đơn giản hơn trước đây. Sau lễ khai ấn đầu năm ở tại đền Cố Trạch và Thiên Trường còn có lễ hội lớn được mở vào dịp từ ngày 15 đến ngày 20 tháng 8 âm lịch hàng năm. Cũng giống như những lễ hội khác nó bao gồm các nghi lễ và sinh hoạt văn hoá dân gian từ thời xa xưa nghi lễ ở đây diễn ra với các lễ rước từ khác đền chùa xung quanh về làm lễ dâng hương và tế tự ở đền Thiên Trường nơi thờ 14 vị vua Trần và đền Cố Trạch nơi thờ Trần Hưng Đạo. Các đám rước gồm có: bát kiệu, cờ, kiệu long đình và đội trống nhạc lễ cùng đông đủ các bô lão và người dân các làng xung quanh đến tham dự. Khi đám rước về đến đền thi nghi lễ được diễn ra. Trước đây chỉ có lễ chứ không có hội, nhưng những năm gần đây do nhận thức được tầm quan trọng của các di tích, các cơ quan văn hoá, kết hợp với các cấp cơ quan chính quyền ở địa phương với chỉ đạo nghi lễ, với sinh hoạt văn hoá tổ chức thành lễ hội lớn lễ hội đền Trần và lễ hội Trần Hưng Đạo. Lễ dâng hương với nghi thức 14 cô gái đồng trinh đội 14 mâm hoa sau khi làm lễ ở ngoài sân theo tiếng nhạc lễ đi thẳng vào trong đền dâng lên trước ngai thờ của 14 vị vua sau lễ dâng hương và lễ đại tế của các bô lão trong làng nhằm diễn tả lại những nghi thức của triều đình phong kiến thời xưa, sau lễ tế ở đền Thiên Trường là đến lễ tế ở đền Cố Trạch. Màn múa Sư tử trong lễ khai ân Sau phần lễ là đến phần hội với các sinh hoạt văn hoá khá phong phú và độc đáo như hội diễn võ củ ba thế hệ (ông, cha và con) ở tại sân đền Thiên Trường còn diễn ra cuộc đấu vật, múa sư tử, múa rồng…hội chọi gà, chơi đu, ném vòng cổ chai, chơi cờ thẻ… Đặc biệt múa bài Bông một điệu múa mừng chiến thắng của quân dân ở thời Trần. Tương truyền do thái sư Trần Quang Khải sáng tác và dạy cho các ca vũ ở cung đình. Sau này những người dân Phường Bông (Mỹ Trung) vốn thời xưa là phương múa hát phục vụ cung đình, tập luyện các điệu múa này và trình diễn trong các dịp lễ hội đền Trần. Ngoài lễ hội lớn tháng 8 âm lịch hàng năm đúng vào ngày kỵ Trần Hưng Đạo tại đền Cố Trạch còn có những ngày kỵ giỗ khác như ngày giỗ của thân Phụ Vương Mẫu và các con các lão tướng Trần Hưng Đạo. Màn múa lân trong lễ khai ấn Đền Trần Tất cả các nghi lễ ở tại di tích đền Trần từ lâu đã lưu giữ được các phong tục cổ truyền của dân tộc ta và phần nào tái hiện được một thời kỳ lịch sử hào hùng của dân tộc, nội dung lịch sử được thể hiện sống động và sâu sắc nó nuôi dưỡng bồi đắp tinh thần yêu nước, ý chí bất khuất chống ngoại xâm, tâm thức uống nước nhớ nguồn của mỗi con người Việt Nam./.

Related Figures

Lễ hội truyền thống hoa- cây cảnh Vị Khê

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 12/1- 16/1 Âm lịch (lehoi.info) - Đã thành thông lệ, cứ từ ngày 12 đến ngày 16 tháng Giêng hằng năm, tại ngôi đình thờ thành hoàng và ông tổ làng nghề Vị Khê, xã Điền Xá, Nam Trực, Nam Định lại tổ chức Lễ hội hoa - cây cảnh. Lễ hội truyền thống hoa- cây cảnh Vị Khê Làng Vị Khê, xã Điền Xá, Nam Trực, Nam Định nằm ven đê sông Hồng, cách thành phố Nam Định 5 km và được coi là vùng đất tổ của nghề trồng hoa cây cảnh. Theo ngọc phả đình Vị Khê, nghề trồng hoa cây cảnh làng Vị Khê có từ thế kỷ XIII (1211) do Thái uý Tô Trung Tự truyền dạy. Gần 800 năm trôi qua với biết bao biến cố nhưng làng hoa cây cảnh Vị Khê vẫn tồn tại và phát triển đến ngày nay. Hàng năm làng tổ chức Lễ hội truyền thống hoa - cây cảnh, để tưởng nhớ và tôn vinh công lao của ông tổ nghề Tô Trung Tự - người đã truyền dạy nghề trồng hoa cây cảnh cho những người dân địa phương làm kế sinh nghiệp lâu dài. Đặc sắc lễ hội truyền thống hoa - cây cảnh Vị Khê Lễ hội gồm có hai phần: Phần lễ gồm có các nghi lễ: tế nam quan, tế nữ quan, rước hoa - cây cảnh tiêu biểu về đình làng và dâng hương ông tổ làng nghề. Phần hội gồm có các hoạt động như: trưng bày những loài hoa quý và những cây cảnh độc đáo, biểu diễn văn nghệ cùng những trò chơi dân gian như: cờ tướng, cờ người, tổ tôm điếm, kéo co, họi gà… Lễ hội còn hấp dẫn và sôi động với cuộc thi tay nghề tạo thế cây cảnh và thi hoa cây cảnh nhằm bình chọn ra những tác phẩm đẹp nhất để trao giải thưởng. Lễ hội thu hút hàng nghìn du khách trong và ngoài tỉnh Lễ hội truyền thống hoa cây cảnh Vị Khê có ý nghĩa rất sâu sắc, khơi dậy những nét đẹp văn hoá truyền thống của quê hương, tri ân công đức Tổ làng nghề. Đồng thời là cơ hội để học hỏi và trao đổi kinh nghiệm trồng hoa cây cảnh của các nghệ nhân, nó còn là cơ hội đối với những ai yêu thích nghệ thuật cây cảnh đem tác phẩm của mình giới thiệu với những du khách ở trong và ngoài nước, để các doanh nghiệp, doanh nhân hợp tác kinh doanh. Lễ hội truyền thống hoa cây cảnh Vị Khê cũng góp phần tôn vinh sản phẩm làng nghề./.

(lehoi.info) - Đã thành thông lệ, cứ từ ngày 12 đến ngày 16 tháng Giêng hằng năm, tại ngôi đình thờ thành hoàng và ông tổ làng nghề Vị Khê, xã Điền Xá, Nam Trực, Nam Định lại tổ chức Lễ hội hoa - cây cảnh.

Lễ hội truyền thống hoa- cây cảnh Vị Khê

Làng Vị Khê, xã Điền Xá, Nam Trực, Nam Định nằm ven đê sông Hồng, cách thành phố Nam Định 5 km và được coi là vùng đất tổ của nghề trồng hoa cây cảnh. Theo ngọc phả đình Vị Khê, nghề trồng hoa cây cảnh làng Vị Khê có từ thế kỷ XIII (1211) do Thái uý Tô Trung Tự truyền dạy. Gần 800 năm trôi qua với biết bao biến cố nhưng làng hoa cây cảnh Vị Khê vẫn tồn tại và phát triển đến ngày nay. Hàng năm làng tổ chức Lễ hội truyền thống hoa - cây cảnh, để tưởng nhớ và tôn vinh công lao của ông tổ nghề Tô Trung Tự - người đã truyền dạy nghề trồng hoa cây cảnh cho những người dân địa phương làm kế sinh nghiệp lâu dài. Đặc sắc lễ hội truyền thống hoa - cây cảnh Vị Khê Lễ hội gồm có hai phần: Phần lễ gồm có các nghi lễ: tế nam quan, tế nữ quan, rước hoa - cây cảnh tiêu biểu về đình làng và dâng hương ông tổ làng nghề. Phần hội gồm có các hoạt động như: trưng bày những loài hoa quý và những cây cảnh độc đáo, biểu diễn văn nghệ cùng những trò chơi dân gian như: cờ tướng, cờ người, tổ tôm điếm, kéo co, họi gà… Lễ hội còn hấp dẫn và sôi động với cuộc thi tay nghề tạo thế cây cảnh và thi hoa cây cảnh nhằm bình chọn ra những tác phẩm đẹp nhất để trao giải thưởng. Lễ hội thu hút hàng nghìn du khách trong và ngoài tỉnh Lễ hội truyền thống hoa cây cảnh Vị Khê có ý nghĩa rất sâu sắc, khơi dậy những nét đẹp văn hoá truyền thống của quê hương, tri ân công đức Tổ làng nghề. Đồng thời là cơ hội để học hỏi và trao đổi kinh nghiệm trồng hoa cây cảnh của các nghệ nhân, nó còn là cơ hội đối với những ai yêu thích nghệ thuật cây cảnh đem tác phẩm của mình giới thiệu với những du khách ở trong và ngoài nước, để các doanh nghiệp, doanh nhân hợp tác kinh doanh. Lễ hội truyền thống hoa cây cảnh Vị Khê cũng góp phần tôn vinh sản phẩm làng nghề./.

Related Figures

Lễ hội đền Din

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 8/12- 10/12 Âm lịch Hàng năm lễ hội đền Din được mở từ ngày mùng 8 đến ngày mùng 10 tháng Chạp. Lễ hội được tổ chức trên địa bàn của 2 xã Bình Minh và xã Nam Dương (4 thôn xã trước kia). Lễ hội đền Din có các lễ như sau: Lễ rước nước, xin nước nhà thánh, lễ rước bát nhang nhà quan và lễ cáo... đặc biệt là nghi lễ rước cá trắm và tục thi cỗ ở trong lễ hội. Lễ rước cá trắm trong lễ hội đền Din Cá Trắm đen là một lễ vật không thể không có trong lễ hội đền Din, đặc biệt là lễ rước ngày chính kỵ ngày mùng 10 tháng Chạp, mà nhân dân trong vùng vẫn thường gọi là lễ rước cá. Những con cá trắm được chọn phải là con cá trắm to ít nhất cũng phải được từ 4 vồ trở lên ( vồ ở đây được tính bằng chiều ngang của 4 đầu ngón tay của người đã trưởng thành sau khoanh tròn lên cổ cá). Nếu con cá nào đạt từ 4 vồ trở lên thì là những con cá đạt yêu cầu. Xã nào chọn được 3 con cá đều, to là một điều rất khó. Song đây cũng chính là niềm tự hào kiêu hãnh của nhân dân xã, nhân dân xã đó đã chứng tỏ những tâm tư nguyện vọng của mình khi dâng lên đức thánh Long Kiều một sản vật linh thiêng và mong ước điều lành sẽ đến với họ trong năm đó. Sáng ngày mùng 10 tháng Chạp, 3 con cá trắm sống sẽ được đưa lên kiệu, đi đầu đám rước đó là đội múa rồng, rồi đến người cầm cờ hội, 2 hàng cờ ngũ sắc, tiếp đến là chiêng, trống, bát biểu và phường bát âm đến đội múa sanh tiền và đến kiệu cá, sau kiệu là đoàn kỳ hào và nhân dân. Hai bên đường các gia đình bày hương án và lễ vật ở cửa nhà để lễ vọng các thần. Đoàn rước kéo dài theo thứ tự: bái Dương, Trang Trữ, Hiệp Luật và Cổ Lũng. Những âm thanh của chiêng, của trống hòa với nhạc kèn và tiếng hô, gọi của người chỉ huy khiêng kiệu khiến cho không khí ngày hội thêm tưng bừng và náo nhiệt cả một vùng. Đoàn rước đến sân đình các làng cử những trai tráng của làng mình bế cá vào tế thánh (cá được bọc lấy bụng bằng các bao mới đầu quay lên phía trên). Cứ điểm trống tế thì lại vuốt đuôi cá một lần. Tế xong, con to nhất thì phần cho người hành tế, con thứ nhì thì phần cho kỳ hào, con thứ ba phần cho người làm cỗ. Ngày nay 4 xã xưa đã hình thành 19 xóm vào ngày hội thì cả 19 xóm đều tham gia rước kiệu lên đền tế Thành Hoàng, các nghi thức vẫn còn được giữ nguyên bản. Lễ tế Cá Tục thi cỗ ở lễ hội đền Din không chỉ dừng lại ở một loại cỗ mà thi rất nhiều thể loại như: " Cỗ các", " Cỗ ngọc", " cỗ đồ đường", " giò chả"," bánh dầy", " bánh chưng"... nếu chúng ta đến chiêm ngưỡng các loại cỗ trong lễ hội đền Din thật kỹ, một cách nghiêm túc thì mới có thể thấy hết được giá trị tinh thần và vật chất của những lễ vật ở trong lễ hội này. Người dân ở nơi đây rất coi trọng quy trình làm cỗ và làm bánh để dâng thánh. Từ khi trồng lúa đến khi thu hoạch, xay lúa, giã gạo, chọn gạo, gói bánh, luộc bánh đều phải do bàn tay khéo léo của những người đàn ông nơi đây theo quy đinh của làng thì những người phụ nữ không được tham gia, thậm chí kể cả củi đun và lá dong lá chuối cũng có khu vực riêng, nước được sử dụng cho việc làm bánh cũng phải dùng từ giếng nước của đền Thánh, nơi nào, địa phương nào vi phạm thì coi như vi phạm luật của làng và sẽ không được tham gia vào lễ hội dâng thánh. Cỗ đồ đường ở lễ hội đền Din được làm rất công phu. Cỗ Đồ đường gồm có năm loại bánh: bánh nếp, bánh khoai, bánh giáo, bánh ngũ sắc và bánh gai. Năm loại bánh này có nhiều loại phải làm hết sức công phu và thời gian làm bánh kéo dài suốt 4 đến 5 tháng. Sau đó đóng 5 loại bánh trên vào một cái khuôn hình vuông. Các loại bánh được bày trên một mâm cùng với 5 bát chè và 1 đĩa sôi vò là đã được một mâm cỗ đồ đường đạt chất lượng cao, đây là một trong các loại cỗ dâng thánh để tỏ lòng thành kính với đức thánh Long Kiều, đồng thời cũng là niềm kiêu hãnh của nhân dân địa phương. Lễ rước kiệu Cỗ Kiều, đồng thời là niềm kiêu hãnh của những người dân địa phương. Cỗ mặn trong ngày hội đền Din từ xưa đến nay có rất nhiều món ngon nhưng không thể thiếu được tám loại giò đó là: Giò thủ, giò chân, giò lá lật, giò chả hoa, giò lựu, giò lòng, giò lụa và giò lây. Phương thức làm giò không chỉ dừng ở những thao tác đơn thuần mà nó đã được người dân nâng lên thành nghệ thuật, thành những bí quyết nhà nghề chỉ truyền cho những người được tín nhiệm của hàng tổng và hàng xã. Các loại giò ở đây đều được làm bằng tay, giã bằng cối đá và chày gỗ chứ không được dùng máy để xay thịt. Tám loại giò này đều mang những đặc trưng khác nhau, có chất lượng cao và đều mang tính nghệ thuật từ bàn tay khối óc sáng tạo của những người dân tổng Bái Dương. Cỗ giò Lễ hội đền Din- Nam Dương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định có rất nhiều nội dung với những trò vui và nhiều môn thi hấp dẫn, song tục rước cá Trắm và tục thi cố là những lễ tục rất độc đáo và đặc sắn. Những tục rước cá và thi cỗ sẽ mãi mãi duy trì, phát triển và trở thành một phong tục đẹp của văn hóa truyền thống, văn hóa ẩm thực của cuộc sống hiện đại hôm nay./.

Hàng năm lễ hội đền Din được mở từ ngày mùng 8 đến ngày mùng 10 tháng Chạp. Lễ hội được tổ chức trên địa bàn của 2 xã Bình Minh và xã Nam Dương (4 thôn xã trước kia). Lễ hội đền Din có các lễ như sau: Lễ rước nước, xin nước nhà thánh, lễ rước bát nhang nhà quan và lễ cáo... đặc biệt là nghi lễ rước cá trắm và tục thi cỗ ở trong lễ hội.

Lễ rước cá trắm trong lễ hội đền Din

Cá Trắm đen là một lễ vật không thể không có trong lễ hội đền Din, đặc biệt là lễ rước ngày chính kỵ ngày mùng 10 tháng Chạp, mà nhân dân trong vùng vẫn thường gọi là lễ rước cá. Những con cá trắm được chọn phải là con cá trắm to ít nhất cũng phải được từ 4 vồ trở lên ( vồ ở đây được tính bằng chiều ngang của 4 đầu ngón tay của người đã trưởng thành sau khoanh tròn lên cổ cá). Nếu con cá nào đạt từ 4 vồ trở lên thì là những con cá đạt yêu cầu. Xã nào chọn được 3 con cá đều, to là một điều rất khó. Song đây cũng chính là niềm tự hào kiêu hãnh của nhân dân xã, nhân dân xã đó đã chứng tỏ những tâm tư nguyện vọng của mình khi dâng lên đức thánh Long Kiều một sản vật linh thiêng và mong ước điều lành sẽ đến với họ trong năm đó. Sáng ngày mùng 10 tháng Chạp, 3 con cá trắm sống sẽ được đưa lên kiệu, đi đầu đám rước đó là đội múa rồng, rồi đến người cầm cờ hội, 2 hàng cờ ngũ sắc, tiếp đến là chiêng, trống, bát biểu và phường bát âm đến đội múa sanh tiền và đến kiệu cá, sau kiệu là đoàn kỳ hào và nhân dân. Hai bên đường các gia đình bày hương án và lễ vật ở cửa nhà để lễ vọng các thần. Đoàn rước kéo dài theo thứ tự: bái Dương, Trang Trữ, Hiệp Luật và Cổ Lũng. Những âm thanh của chiêng, của trống hòa với nhạc kèn và tiếng hô, gọi của người chỉ huy khiêng kiệu khiến cho không khí ngày hội thêm tưng bừng và náo nhiệt cả một vùng. Đoàn rước đến sân đình các làng cử những trai tráng của làng mình bế cá vào tế thánh (cá được bọc lấy bụng bằng các bao mới đầu quay lên phía trên). Cứ điểm trống tế thì lại vuốt đuôi cá một lần. Tế xong, con to nhất thì phần cho người hành tế, con thứ nhì thì phần cho kỳ hào, con thứ ba phần cho người làm cỗ. Ngày nay 4 xã xưa đã hình thành 19 xóm vào ngày hội thì cả 19 xóm đều tham gia rước kiệu lên đền tế Thành Hoàng, các nghi thức vẫn còn được giữ nguyên bản. Lễ tế Cá Tục thi cỗ ở lễ hội đền Din không chỉ dừng lại ở một loại cỗ mà thi rất nhiều thể loại như: " Cỗ các", " Cỗ ngọc", " cỗ đồ đường", " giò chả"," bánh dầy", " bánh chưng"... nếu chúng ta đến chiêm ngưỡng các loại cỗ trong lễ hội đền Din thật kỹ, một cách nghiêm túc thì mới có thể thấy hết được giá trị tinh thần và vật chất của những lễ vật ở trong lễ hội này. Người dân ở nơi đây rất coi trọng quy trình làm cỗ và làm bánh để dâng thánh. Từ khi trồng lúa đến khi thu hoạch, xay lúa, giã gạo, chọn gạo, gói bánh, luộc bánh đều phải do bàn tay khéo léo của những người đàn ông nơi đây theo quy đinh của làng thì những người phụ nữ không được tham gia, thậm chí kể cả củi đun và lá dong lá chuối cũng có khu vực riêng, nước được sử dụng cho việc làm bánh cũng phải dùng từ giếng nước của đền Thánh, nơi nào, địa phương nào vi phạm thì coi như vi phạm luật của làng và sẽ không được tham gia vào lễ hội dâng thánh. Cỗ đồ đường ở lễ hội đền Din được làm rất công phu. Cỗ Đồ đường gồm có năm loại bánh: bánh nếp, bánh khoai, bánh giáo, bánh ngũ sắc và bánh gai. Năm loại bánh này có nhiều loại phải làm hết sức công phu và thời gian làm bánh kéo dài suốt 4 đến 5 tháng. Sau đó đóng 5 loại bánh trên vào một cái khuôn hình vuông. Các loại bánh được bày trên một mâm cùng với 5 bát chè và 1 đĩa sôi vò là đã được một mâm cỗ đồ đường đạt chất lượng cao, đây là một trong các loại cỗ dâng thánh để tỏ lòng thành kính với đức thánh Long Kiều, đồng thời cũng là niềm kiêu hãnh của nhân dân địa phương.

Lễ rước kiệu Cỗ

Kiều, đồng thời là niềm kiêu hãnh của những người dân địa phương. Cỗ mặn trong ngày hội đền Din từ xưa đến nay có rất nhiều món ngon nhưng không thể thiếu được tám loại giò đó là: Giò thủ, giò chân, giò lá lật, giò chả hoa, giò lựu, giò lòng, giò lụa và giò lây. Phương thức làm giò không chỉ dừng ở những thao tác đơn thuần mà nó đã được người dân nâng lên thành nghệ thuật, thành những bí quyết nhà nghề chỉ truyền cho những người được tín nhiệm của hàng tổng và hàng xã. Các loại giò ở đây đều được làm bằng tay, giã bằng cối đá và chày gỗ chứ không được dùng máy để xay thịt. Tám loại giò này đều mang những đặc trưng khác nhau, có chất lượng cao và đều mang tính nghệ thuật từ bàn tay khối óc sáng tạo của những người dân tổng Bái Dương. Cỗ giò Lễ hội đền Din- Nam Dương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định có rất nhiều nội dung với những trò vui và nhiều môn thi hấp dẫn, song tục rước cá Trắm và tục thi cố là những lễ tục rất độc đáo và đặc sắn. Những tục rước cá và thi cỗ sẽ mãi mãi duy trì, phát triển và trở thành một phong tục đẹp của văn hóa truyền thống, văn hóa ẩm thực của cuộc sống hiện đại hôm nay./.

Related Figures

Lễ hội Làm Chay

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 16/1 Âm lịch (lehoi.info )- Lễ hội được tổ chức vào trung tuần tháng Giêng âm lịch (16/1) hàng năm tại thị trấn Tầm Vu, Châu Thành, Long An. Đây là ngày lễ hội dân gian cổ truyền mang bản sắc riêng của những người dân địa phương nơi đây. Mục đích chính của lễ hội là khôi phục các giá trị truyền thống của dân gian, cầu mong mưa thuận gió hòa, nhân dân sống trong cảnh thái bình và an tâm lao động sản xuất đạt vụ mùa bội thu. Đặc sắc lễ hội Làm Chay ở Tầm Vu Lễ hội Làm chay do những người dân thị trấn tự đứng ra tổ chức lễ hội. Gần đến ngày hội một Ban tổ chức lễ hội làm chay được thành lập gồm có 10 thành viên. Nguồn tài chính là do các thành viên vận động bà con xa gần đóng góp. Các thành viên không một ai nhận thù lao, tham gia lễ hội chủ yếu là để duy trì tập tục và tạo điều kiện cho nhân dân địa phương vui chơi. Hình ảnh tại Lễ hội làm Chay Năm 2016 tại Tầm Vu – Long An Khu hành chính lễ chính ở tại đình Tân Xuân. Trước đó các thanh niên trai tráng trong vùng đã dựng sân khấu lễ hộ. Ông Tiêu diện đại sĩ - biểu hiện cho một vụ mùa bội thu được thiết kế trước khoảng một tuần. Trước khi lễ diễn ra, một đoàn người thỉnh Ông Tiêu từ Linh Phước tự về chùa Ông để một đêm sau đó rước về đài Chiến sĩ. Tại Giàn Ông Tiêu (Giàn thí thực) 1 con heo quay (lớn nhỏ tùy theo năm đó vụ mùa có bội thu) được bày ra cùng với bánh trái và nhang đèn. Bên ngoài sân lễ, các hoạt động khác diễn ra rất sôi nổi. Dưới nước ghe đăng được trang trí rất lộng lẫy đi rước vong linh bá tánh ở sông Tầm Vu. Trên bộ thì đoàn Tam Tạng đi thỉnh kinh, đánh động yêu quái trừ tà ma và bệnh tật cho dân lành... Sau đó tất cả các đoàn sẽ tập trung về khu hành lễ chính. Đúng 24 giờ đêm ngày 16 tháng 1 là xô giàn Ông Tiêu. Người đi lễ tranh nhau giành đồ cúng mong tìm được một chút lộc đầu năm. Ai là người tranh được cái lưỡi của Ông Tiêu là năm đó làm ăn phát tài nên mọi người chen nhau tìm. Sau 24 giờ, mọi nghi lễ đã xong xem như bá tánh cũng đã chứng cho tấm lòng của những người dân thị trấn Tầm Vu, một tàu tống gió sẽ đưa ra sông cho mọi thứ trở về chốn cũ. Nghi thức Chiêu U tại Lễ hội Làm chay Tầm Vu Theo tín ngưỡng của những người dân địa phương, tháng Giêng là tháng hội hè, vụ mùa gặt hái đã xong bà con có của ăn của để nên tổ chức cúng tế cho vong linh bá tánh. Ngày hội làm chay đã trở thành một tập tục lâu đời để con em người dân Tầm Vu có dịp hội tụ cùng với nhau. lehoi.info tổng hợp

(lehoi.info )- Lễ hội được tổ chức vào trung tuần tháng Giêng âm lịch (16/1) hàng năm tại thị trấn Tầm Vu, Châu Thành, Long An. Đây là ngày lễ hội dân gian cổ truyền mang bản sắc riêng của những người dân địa phương nơi đây. Mục đích chính của lễ hội là khôi phục các giá trị truyền thống của dân gian, cầu mong mưa thuận gió hòa, nhân dân sống trong cảnh thái bình và an tâm lao động sản xuất đạt vụ mùa bội thu.

Đặc sắc lễ hội Làm Chay ở Tầm Vu

Lễ hội Làm chay do những người dân thị trấn tự đứng ra tổ chức lễ hội. Gần đến ngày hội một Ban tổ chức lễ hội làm chay được thành lập gồm có 10 thành viên. Nguồn tài chính là do các thành viên vận động bà con xa gần đóng góp. Các thành viên không một ai nhận thù lao, tham gia lễ hội chủ yếu là để duy trì tập tục và tạo điều kiện cho nhân dân địa phương vui chơi. Hình ảnh tại Lễ hội làm Chay Năm 2016 tại Tầm Vu – Long An Khu hành chính lễ chính ở tại đình Tân Xuân. Trước đó các thanh niên trai tráng trong vùng đã dựng sân khấu lễ hộ. Ông Tiêu diện đại sĩ - biểu hiện cho một vụ mùa bội thu được thiết kế trước khoảng một tuần. Trước khi lễ diễn ra, một đoàn người thỉnh Ông Tiêu từ Linh Phước tự về chùa Ông để một đêm sau đó rước về đài Chiến sĩ. Tại Giàn Ông Tiêu (Giàn thí thực) 1 con heo quay (lớn nhỏ tùy theo năm đó vụ mùa có bội thu) được bày ra cùng với bánh trái và nhang đèn. Bên ngoài sân lễ, các hoạt động khác diễn ra rất sôi nổi. Dưới nước ghe đăng được trang trí rất lộng lẫy đi rước vong linh bá tánh ở sông Tầm Vu. Trên bộ thì đoàn Tam Tạng đi thỉnh kinh, đánh động yêu quái trừ tà ma và bệnh tật cho dân lành... Sau đó tất cả các đoàn sẽ tập trung về khu hành lễ chính. Đúng 24 giờ đêm ngày 16 tháng 1 là xô giàn Ông Tiêu. Người đi lễ tranh nhau giành đồ cúng mong tìm được một chút lộc đầu năm. Ai là người tranh được cái lưỡi của Ông Tiêu là năm đó làm ăn phát tài nên mọi người chen nhau tìm. Sau 24 giờ, mọi nghi lễ đã xong xem như bá tánh cũng đã chứng cho tấm lòng của những người dân thị trấn Tầm Vu, một tàu tống gió sẽ đưa ra sông cho mọi thứ trở về chốn cũ. Nghi thức Chiêu U tại Lễ hội Làm chay Tầm Vu Theo tín ngưỡng của những người dân địa phương, tháng Giêng là tháng hội hè, vụ mùa gặt hái đã xong bà con có của ăn của để nên tổ chức cúng tế cho vong linh bá tánh. Ngày hội làm chay đã trở thành một tập tục lâu đời để con em người dân Tầm Vu có dịp hội tụ cùng với nhau. lehoi.info tổng hợp

Related Figures

Lễ hội đền Độc Bộ

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 11/8- 15/8 Âm lịch (lehoi.info) - Lễ hội đền Độc Bộ được tổ chức từ ngày 11 đến ngày 15 tháng 8 âm lịch hàng năm, tại xã Yên Nhân, Ý Yên, Nam Định. Lễ hội là dịp để nhân dân trong vùng tưởng nhớ tới ngày hiển linh của đức thánh Triệu Việt Vương. Múa sư tử trong lễ hội truyền thống ở đền Độc Bộ Đền Độc Bộ thờ đức thánh Triệu Việt Vương người đã có công trong việc xây làng, lập ấp từ thủa nơi này vẫn còn hoang vu. Ông đã đến đây chiêu mộ những người dân phiêu bạt dạy cho họ khai khẩn đất đai. Ngoài nghề trồng cấy, người dân còn biết dệt chiếu, dệt vải, Ông đã tổ chức cho dân đắp đê từ Bố Hải qua miền biển Giao Thuỷ, Đại An tiến về phía nam, chạy thẳng đến Mai Giang thuộc đất Nghệ An để ngăn nước mặn, cải tạo đất. Cũng chính nơi đây đã chứng kiến Triệu Việt Vương anh dũng chống giặc ngoại xâm và ông đã trẫm mình xuống cửa biển này, quyết không để bị giặc bắt. Cảm phục và muốn ghi công, tôn vinh người anh hùng có công mở mang bờ cõi, hy sinh thân mình cho dân cho nước, người dân nơi đây đã xây cất đền để phụng thờ ông. Lễ hội thường được diễn ra trong vòng 5 ngày: Bắt đầu từ ngày 11 tháng 8, dân chúng ở khắp vùng dâng lễ về tham gia tiến hành nghi thức khai hội. Ngày 13 tháng 8, tổ chức nghi thức rước của hàng tổng. Vào ngày này, các thôn như: Phạm Xá, Dương Phạm, Đoài, Đống Cao... sẽ tổ chức rước kiệu từ làng mình về đền Độc Bộ. Đi đầu đoàn rước là đội cờ ngũ sắc và đội cờ thần. Tiếp đến là đội phụng nghinh các cỗ kiệu bát cống do các trai đinh đảm nhận với trang phục màu đỏ, chân quấn xà cạp, thắt lưng đỏ và đầu vấn khăn màu đỏ. Tiếp sau là đến phường bát âm với các loại nhạc cụ cổ truyền. Theo sau là đoàn rước có đội phụng nghinh bát bửu, chấp kích, xênh tiền và 2 đội tế nam - nữ quan. Kế tiếp là đoàn rước của các cụ cao niên trong làng, chức sắc địa phương và nhân dân trong vùng tới tham dự. Hai bên đường đoàn rước đi qua, người dân náo nức, trang trọng bày các mâm lễ của gia đình mình để bái vọng Thánh. Thời gian tổ chức lễ rước được tiến hành trong buổi sáng. Nét đặc sắc nhất và nổi bật nhất của lễ hội này đó là sau khi các đoàn rước tập kết về sân đền Độc Bộ, tất cả các kiệu yên vị tại sân và hướng ra ngã ba sông. Các phụng nghinh đưa bát nhang vào đền để làm lễ nhập tịch. Đúng giờ Ngọ ngày 13, tại đền Độc Bộ tiến hành nghi thức tế Tam Kỳ giang ở ngay giữa ngã ba sông. Các xã thuộc hàng tổng như: Dương Phạm, Phạm Xá, Đoài thôn, Đống Cao và Độc Bộ cùng nhau rước kiệu lên thuyền và chèo ra điểm giữa ngã ba sông để làm lễ. Vị trí cử hành nghi lễ tại điểm giao 3 dòng nước và cách đền Độc Bộ khoảng 1km. Đặc sắc lễ hội đền Độc Bộ Sau khoảng 2 giờ tế lễ ở trên sông, các đội tế Tam Kỳ giang lần lượt nối nhau quay về đền để thực hiện các nghi thức tế lễ khác. Sau đó, các đội kiệu của Dương Phạm, An Đường rước kiệu Mẫu, Ngọc Hoàng và Thổ Thần hồi miếu (trở lại làng/thôn mình). Bên cạnh các nghi thức tế lễ trang trọng được thực hiện, vào các buổi tối của những ngày hội, dân làng còn tổ chức thi hát chèo, thi ca trù giữa các phường hát trong khu vực về dự hội, góp phần tạo nên một bầu không khí vui mừng và náo nhiệt. Ngoài phần lễ chính, phần hội ở lễ hội đền Độc Bộ cũng diễn ra khá sôi động ở xung quang khu điện thờ. Các trò chơi dân gian cũng được mở tại đây như múa sư tử, múa rồng, đánh cờ người, tổ tôm điếm, vật, kéo co, … Rước nước trong nghi thức Lễ hội Đền Độc Bộ Ngày nay, những tập tục rước kiệu từ các nơi về tham dự lễ hội vẫn được diễn ra, tuy nhiên để phù hợp với điều kiện xã hội và Quy chế tổ chức lễ hội truyền thống, thời gian hành hội đã co lại trong vòng từ 2 đến 3 ngày, một số các nghi thức rườm rà đã được rút gọn. Trong đó, điểm nhấn tạo nên nét độc đáo và thu hút của lễ hội Độc Bộ đó là: lễ tế Tam Kỳ giang; hội thi ca hát; hội đua thuyền; hội thi cỗ và các trò chơi dân gian vẫn được tô đậm thêm tạo nên một không gian văn hóa lễ hội rất đặc sắc. Vào mùa lễ hội, rất nhiều làng thuộc địa phận hành chính huyện Ý Yên, huyện Nghĩa Hưng (Nam Định) và huyện Yên Khánh (Ninh Bình)… đến để dâng lễ và xin rước chân nhang thờ đức thánh Triệu Việt Vương về thờ vọng tại các khu thờ tự của làng mình. lehoi.info tổng hợp

(lehoi.info) - Lễ hội đền Độc Bộ được tổ chức từ ngày 11 đến ngày 15 tháng 8 âm lịch hàng năm, tại xã Yên Nhân, Ý Yên, Nam Định. Lễ hội là dịp để nhân dân trong vùng tưởng nhớ tới ngày hiển linh của đức thánh Triệu Việt Vương.

Múa sư tử trong lễ hội truyền thống ở đền Độc Bộ

Đền Độc Bộ thờ đức thánh Triệu Việt Vương người đã có công trong việc xây làng, lập ấp từ thủa nơi này vẫn còn hoang vu. Ông đã đến đây chiêu mộ những người dân phiêu bạt dạy cho họ khai khẩn đất đai. Ngoài nghề trồng cấy, người dân còn biết dệt chiếu, dệt vải, Ông đã tổ chức cho dân đắp đê từ Bố Hải qua miền biển Giao Thuỷ, Đại An tiến về phía nam, chạy thẳng đến Mai Giang thuộc đất Nghệ An để ngăn nước mặn, cải tạo đất. Cũng chính nơi đây đã chứng kiến Triệu Việt Vương anh dũng chống giặc ngoại xâm và ông đã trẫm mình xuống cửa biển này, quyết không để bị giặc bắt. Cảm phục và muốn ghi công, tôn vinh người anh hùng có công mở mang bờ cõi, hy sinh thân mình cho dân cho nước, người dân nơi đây đã xây cất đền để phụng thờ ông. Lễ hội thường được diễn ra trong vòng 5 ngày: Bắt đầu từ ngày 11 tháng 8, dân chúng ở khắp vùng dâng lễ về tham gia tiến hành nghi thức khai hội. Ngày 13 tháng 8, tổ chức nghi thức rước của hàng tổng. Vào ngày này, các thôn như: Phạm Xá, Dương Phạm, Đoài, Đống Cao... sẽ tổ chức rước kiệu từ làng mình về đền Độc Bộ. Đi đầu đoàn rước là đội cờ ngũ sắc và đội cờ thần. Tiếp đến là đội phụng nghinh các cỗ kiệu bát cống do các trai đinh đảm nhận với trang phục màu đỏ, chân quấn xà cạp, thắt lưng đỏ và đầu vấn khăn màu đỏ. Tiếp sau là đến phường bát âm với các loại nhạc cụ cổ truyền. Theo sau là đoàn rước có đội phụng nghinh bát bửu, chấp kích, xênh tiền và 2 đội tế nam - nữ quan. Kế tiếp là đoàn rước của các cụ cao niên trong làng, chức sắc địa phương và nhân dân trong vùng tới tham dự. Hai bên đường đoàn rước đi qua, người dân náo nức, trang trọng bày các mâm lễ của gia đình mình để bái vọng Thánh. Thời gian tổ chức lễ rước được tiến hành trong buổi sáng. Nét đặc sắc nhất và nổi bật nhất của lễ hội này đó là sau khi các đoàn rước tập kết về sân đền Độc Bộ, tất cả các kiệu yên vị tại sân và hướng ra ngã ba sông. Các phụng nghinh đưa bát nhang vào đền để làm lễ nhập tịch. Đúng giờ Ngọ ngày 13, tại đền Độc Bộ tiến hành nghi thức tế Tam Kỳ giang ở ngay giữa ngã ba sông. Các xã thuộc hàng tổng như: Dương Phạm, Phạm Xá, Đoài thôn, Đống Cao và Độc Bộ cùng nhau rước kiệu lên thuyền và chèo ra điểm giữa ngã ba sông để làm lễ. Vị trí cử hành nghi lễ tại điểm giao 3 dòng nước và cách đền Độc Bộ khoảng 1km. Đặc sắc lễ hội đền Độc Bộ Sau khoảng 2 giờ tế lễ ở trên sông, các đội tế Tam Kỳ giang lần lượt nối nhau quay về đền để thực hiện các nghi thức tế lễ khác. Sau đó, các đội kiệu của Dương Phạm, An Đường rước kiệu Mẫu, Ngọc Hoàng và Thổ Thần hồi miếu (trở lại làng/thôn mình). Bên cạnh các nghi thức tế lễ trang trọng được thực hiện, vào các buổi tối của những ngày hội, dân làng còn tổ chức thi hát chèo, thi ca trù giữa các phường hát trong khu vực về dự hội, góp phần tạo nên một bầu không khí vui mừng và náo nhiệt. Ngoài phần lễ chính, phần hội ở lễ hội đền Độc Bộ cũng diễn ra khá sôi động ở xung quang khu điện thờ. Các trò chơi dân gian cũng được mở tại đây như múa sư tử, múa rồng, đánh cờ người, tổ tôm điếm, vật, kéo co, … Rước nước trong nghi thức Lễ hội Đền Độc Bộ Ngày nay, những tập tục rước kiệu từ các nơi về tham dự lễ hội vẫn được diễn ra, tuy nhiên để phù hợp với điều kiện xã hội và Quy chế tổ chức lễ hội truyền thống, thời gian hành hội đã co lại trong vòng từ 2 đến 3 ngày, một số các nghi thức rườm rà đã được rút gọn. Trong đó, điểm nhấn tạo nên nét độc đáo và thu hút của lễ hội Độc Bộ đó là: lễ tế Tam Kỳ giang; hội thi ca hát; hội đua thuyền; hội thi cỗ và các trò chơi dân gian vẫn được tô đậm thêm tạo nên một không gian văn hóa lễ hội rất đặc sắc. Vào mùa lễ hội, rất nhiều làng thuộc địa phận hành chính huyện Ý Yên, huyện Nghĩa Hưng (Nam Định) và huyện Yên Khánh (Ninh Bình)… đến để dâng lễ và xin rước chân nhang thờ đức thánh Triệu Việt Vương về thờ vọng tại các khu thờ tự của làng mình. lehoi.info tổng hợp

Related Figures

Lễ hội Lập tịch của người Dao Họ

Thông tin thời kỳ

Người Dao Họ (thuộc bản Khe Mụ, xã Sơn Hà, Bảo Thắng, Lào Cai) là một cộng đồng nhỏ so với các cư dân trong xã. Trong văn hoá của người dân tộc Dao Họ thì lễ lập tịch đóng một vai trò rất quan trọng trong cuộc đời một con người. Lễ lập tịch (hay còn được gọi là cấp sắc) của người dân tộc Dao Họ giống như lễ thành đinh của các dân tộc ở nước ta và ở trên thế giới. Đó là nghi lễ đánh dấu một giai đoạn của cuộc đời con người, giai đoạn từ tuổi thiếu niên lên đến tuổi trưởng thành, được cộng đồng công nhận có vị trí trong đời sống và trong sinh hoạt của người Dao Họ. Hơn thế nữa, đó không chỉ là một sự công nhận chính của cộng đồng, mà đó còn là sự chấp nhận của thần linh cho chàng trai đó có đầy đủ mọi tiêu chuẩn của một thành viên chính thức của cộng đồng. Người Dao họ ở Lào Cai. Để làm được một lễ lập tịch là điều mong ước của tất cả mọi gia đình nhưng không phải ai cũng có điều kiên để làm vì chi phí khá tốn kém về mặt kinh tế. khi chưa làm lễ này thì người đàn ông cho đến khi chết vẫn chỉ là một người thường, không có vai trò gì ở trong cộng đồng. Đến những nơi thiêng liêng anh ta sẽ không được quyền vào và không được coi trọng trong các buổi hội hè, ăn uống, mà chỉ được coi là một người phục vụ bình thường. Gia đình định nào làm lễ lập tịch cho con thì cần phải chuẩn bị gạo, thịt và tiền để làm cỗ cúng thần, mời các thầy cúng và mời bà con dân làng. tuy rằng tất cả mọi người đến đều có quà mừng, nhưng phần chủ yếu vẫn là do gia đình tự lo. Làm lễ lập tịch gồm có 2 loại Tam Thanh và tam nguyên. Tam Thanh thì đơn giản hơn Tam Nguyên, nhưng người làm Tam Nguyên xong thì sẽ ở thứ bậc cao hơn so với Tam Thanh. Làm Tam Thanh hay làm Tam Nguyên là do truyền thống của từng gia đình. Nếu trước kia trong gia đình ông bố làm Tam Thanh thì nay cũng chỉ được làm Tam Thanh cho con. Nếu bố trước kia đã làm Tam Nguyên thì nay con cũng phải làm Tam Nguyên. Tam Nguyên đòi hỏi tốn kém và các nghi lễ rất phức tạp, do vậy mà chỉ những người có điều kiện thì mới làm được. Con trai từ 13 tuổi trở lên là làm được nếu gia đình đó có điều kiện. Khi gia đình đã quyết định làm lễ lập tịch cho con, phải lựa chọn ngày tốt đến gặp ông thầy để em tuổi có được ngày, được tháng, được năm hay không. Sau đó về nhà, 20 ngày sau tiếp tục xem chân giò, nếu chân giò đẹp, tức là làm được - thần linh đã đồng ý. Gia đình sẽ lấy một tờ giấy, viết tên tuổi của chàng trai, tên tuổi của thầy và ngày tháng gia đình sẽ làm và mời thầy đến. Việc mời thầy phải trước ít nhất bảy ngày để thầy chuẩn bị tìm những người giúp việc và xem sách dạy các bước làm, sắm sửa những đồ trang trí để đến ngày đó mang tới gia đình. Điều này rất quan trọng bởi vì đối với người dân tộc Dao Họ, mỗi một bước làm trong mọi nghi lễ đều có sách quy định. Vả lại việc trang trí trong một buổi lễ rất công phu, nào là viết sớ, dán tranh thờ, trang trí bàn thờ, đồ thờ và các vật hành lễ. Do đó cần phải có sự chuẩn bị trước hết sức tỉ mỉ. Về phía gia đình một mặt tiếp tục chuẩn bị lễ vật, mời anh em họ hàng gần xa, mặt khác nhờ bà con anh em ở gần đến để dựng lán thờ. Lán thờ đó là nơi sẽ tiến hành các nghi thức chính thức cho lễ lập tịch. Lán được xây dựng trên một khoảng đất ở bên cạnh hoặc ở ngoài xa nhà ở một chút, theo đúng kiểu một ngôi nhà thu nhỏ. Đặc biệt là một bên mái sẽ được khoét trống ở giữa nhưng thẳng từ vách lên chứ không phải là ở giữa mái. Nơi đó sẽ dựng một bàn thờ ở ngoài trời. bàn thờ được dựng trên 4 cọc. Toàn bộ lán thờ sẽ được thưng kín bằng vách xung quanh, chỉ để một cửa để ra vào. Trên khắp 4 vách được dán kín bởi rất nhiều tranh thờ, giấy màu, các tờ sớ và những hình cắt dán rất công phu. Theo chiều dọc của lán thờ có dựng 4 khối cọc thẳng nhau theo nóc lán, xung quanh bốn khối cọc (mỗi khối gồm nhiều cọc tre nhỏ bó lại) được dán kín bằng giấy màu và sớ .v.v ... Theo suy nghĩ của người dân tộc Dao họ, đó là nơi để nhốt các ma để chúng không quấy phá con người trong ngày lễ. Có thể nói hầu hết những nghi lễ quan trọng đều được tiến hành tại đây và nó là trung tâm của những ngày lễ. Việc dựng lán thờ là 1 việc làm hết sức công phu, nên gia chủ cần phải báo trước để thầy cúng chuẩn bị. Đến ngày ông thầy sẽ đến trang trí lán thờ, mọi việc ông đều dựa trên luật tục đã quy định mà bàn bạc, chứ không bao giờ độc đoán bắt gia chủ phải nhất nhất tuân theo ý của mình. Đây cũng là một nét văn hoá đáng chú ý. Làm lán thờ xong, nhà chủ sẽ chọn lấy vài người thân cận đi lấy dây để đan võng. Đó là một tấm lưới được đan bằng những cây leo ở trong rừng để đỡ chàng trai sau khi đã hoàn thành các nghi lễ Tam Nguyên từ trên trời trở lại với cộng đồng. Người đi lấy dây làm võng thì không cần phải lựa chọn kỹ, nhưng loại dây leo để làm võng thì phải được lựa chọn rất kỹ. Đó là loại dây leo dài, dẻo và chỉ chọn những cây leo vắt qua ngòi nước hoặc suối và phải thật xoắn. Loại cây leo đó được gọi là tay thảy mảy, đã được truyền từ đời nọ qua đời kia và được dùng để bện võng. Thường thường những người đi tìm dây leo là những người đã rất thông thạo và biết ở chỗ nào có nhiều loại dây đó. Người ta đến lấy và cuộn thành bó khiêng về bóc hết vỏ, chỉ lấy ruột rồi tước ra để thành đống sẵn đó. Làm bàn địa cũng là một việc rất quan trọng. Bàn địa chính là nơi thực hành những nghi lễ cuối cùng của người lập tịch Tam Nguyên. Tại đây, sau khi đã làm xong tất cả các nghi lễ, người thụ lễ sẽ buông mình rơi xuống tấm lưới võng do mọi người cầm đỡ ở dưới, biểu tượng cho một cuộc thử thách dài, qua hết các đoạn đường và từ trên trời trở về với cộng đồng. Nơi đặt bàn địa là một vị trí cao ráo và thoáng ở đầu bản. Tại đó người ta dựng 4 chiếc cọc bằng 4 đoạn gỗ to, khoẻ và chắc chắn. Trên đầu 4 cọc ấy được đặt một chiếc bàn hướng về phía đông, đó cũng chính là nơi người làm lễ lập tịch phải rơi xuống. Bàn gỗ được cột chặt vào 4 góc ở độ cao từ 2,5 đến 3 m. Một chiếc thang dài 3m được đặt phía tây gắn vào mép bàn. Thang gồm có 12 bậc, tượng trưng cho đường đi lên trời. Trước khi làm bàn địa, người ta sắm một mâm lễ vật gồm có hương, gạo, trứng và rượu. Ông thầy cúng đặt mâm lễ ấy trên chỗ đất sẽ làm bàn địa. Trên mâm lễ còn có 1 con dao găm. Sau khi thầy cúng khấn vái xong liền cầm con dao găm ấy vạch ra mấy vạch ở chỗ sẽ chôn cọc, tựa như thần linh đã mách bảo chỗ phải đặt bàn địa. Sau đó, thầy cúng cầm một chiếc rìu, sẽ dùng để chặt cây làm cọc, dâng lên trước mâm lễ và khấn, rồi cầm rìu ra chặt vào các cây đã để sẵn ở cạnh đó. Thầy cúng tiếp tục khấn một vài lời nữa và lấy con dao găm trên mâm ra để đo độ dài của cọc để lấy kích thước. lấy xong ông thầy khấn tiếp vài lời nữa rồi mọi người sẽ bắt tay vào việc. Điều đáng chú ý ở đây là việc thực hành nghi lễ cúng này có 2 người. 1 ông thầy thì đứng ở trước mâm lễ đọc tất cả những lời khấn, còn 1 ông khác sẽ ngồi đối diện sát mâm thực hiện những bước đã kể trên theo lời khấn của ông thầy đứng ở trước mâm. Khi xong các nghi thức, những người đàn ông, mỗi người sẽ góp một tay để làm bàn địa, người thì đào hố, người thì chặt cây, người thì buộc thang... Chẳng mấy chốc mà chiếc bàn địa đã được dựng xong. Các thầy cúng sẽ kiểm tra lại độ chắc chắn của thang, của bàn rồi mọi người dùng lá chuối để phủ lên. Việc làm bàn địa kết thúc. Trong lúc ở dưới đầu bản làm bàn địa thì ở trên nhà gia chủ, người ta sẽ gây mối để đan võng. mối gây giống như một chiếc chôn quang, xung quanh chiếc võng tròn kiểu chôn quang này, cách đều từng đoạn, người ta sẽ buộc sẵn các sợi dây dài ra các phía, để sau này cứ theo các đoạn dây ấy mà đan tiếp vào để làm thành một tấm lưới võng. Gây mối xong, người ta sẽ dồn tất cả đống dây leo đã tước sẵn ấy thành một đống, buộc gọn lại, đợi đến lúc đem ra chỗ bàn địa để đan võng. Trong lúc mọi người gây mối để đan võng, có nhạc của chiêng và trống kèm theo. Lễ lập tịch của người dân tộc Dao Họ ở Khe Mụ kéo dài tới 3 ngày và có thể còn kéo dài hơn nữa. Nhiều nghi lễ và sinh hoạt tín ngưỡng được tiến hành trong thời gian đó. Người ta thường kết hợp làm cả lập tịch cho Tam Thanh, Tam Nguyên và làm chay (hay còn được gọi là làm ma khô) vào cùng một lần. Người ta sẽ quy định rõ cho từng ngày trong thời gian diễn ra lễ lập tịch phải làm những gì. Lễ trình trước bàn thờ tổ tiên. Các nghi lễ ở trong lán thờ. Các nghi lễ ở ngoài bàn địa. Trong số này, dài nhất và phức tạp nhất đó là các nghi lễ diễn ra ở trong lán thờ. Đây là nơi hành lễ chính thức và gồm rất nhiều lễ như lễ cúng cầu, lễ cân lợn, lễ múa gà, làm bùa, lễ dẫn đường cho Tam Thanh và Tam Nguyên .v.v... Về thời gian, trong 3 ngày thì ngày đầu tiên là thực hiện những nghi lễ mở đầu cho lễ lập tịch, cúng tổ tiên, cúng thần linh để báo cho họ biết và mời họ về dự và giúp đỡ đuổi tà ma; đón khách đến thăm hỏi dự lễ và chuẩn bị lán thờ. Ngày thứ 2 là ngày tiếp tục trang trí lán thờ, dán tranh, viết sớ, yểm bùa trừ tà ma, làm bàn địa, đan võng và cúng lễ trong lán thờ đến hết đêm. Sang ngày thứ 3 thì từ lúc trời chưa sáng đã tiến hành múa gà, cân lợn và kết thúc các nghi lễ trong lán thờ để sau đó thực hiện các nghi lễ cuối cùng đó là nghi lễ nhảy võng từ trên bàn địa. Sau nhảy võng là lễ lập tịch kết thúc. Nếu gia đình nào mà kết hợp làm chay thì sau lễ nhảy võng một lúc người ta sẽ tiến hành làm chay. Nhảy võng là nghi lễ mà người con trai làm Tam Nguyên phải tiến hành ở giai đoạn cuối của lễ lập tịch. Đó là khi anh ta buông mình rơi từ trên bàn địa xuống một tấm lưới to do nhiều người đàn ông khác từ dưới căng ra và đỡ. Võng ở đây chính là một tấm lưới to được đan bằng một loại cây leo, đã được trình bày ở trên. Người dân tộc Dao Họ quan niệm rằng việc họ hứng tấm lưới ấy ra chờ đón người con của cộng đồng, sau khi đã trải qua mọi thử thách, đã được thần đất, thần gió, được tổ tiên và các vị thần linh khác che chở, nay đã chính thức được làm một người con của gia đình, của dòng họ, một thành viên của cộng đồng với đầy đủ phẩm chất của nó. Lễ hội Lập tịch của người Dao Họ tại Lào Cai Vào sáng ngày thứ 3, sau khi những nghi lễ đã kết thúc, tại lán thờ lúc này, người ta choàng cho người làm Tam Nguyên một chiếc áo dài màu đỏ và một chiếc khăn thêu trùm lên đầu. Hầu hết tất cả các thầy cúng đều có mặt tại đây để tiến hành nghi lễ. 7 ông thầy, một người cầm dao, còn một số tay không, đi xung quanh Tam nguyên, vừa vỗ tay và vừa tung dao chém vào khoảng không. Sau đó, họ sẽ cầm mỗi người một ngọn nến đi vòng quanh Tam Nguyên. Hết vòng, tất cả cùng chụm tay vào trán của Tam Nguyên, lầm rầm đọc thần chú, rồi cùng áp tay vào bụng và vào chân Tam Nguyên đọc thần chú. Một ông thầy đứng ở bên ngoài đọc to các lời khấn. Tiếp đến tất cả các ông thầy cúng cùng nhau ngồi xuống trước bàn thờ để đọc lời khấn. Đọc xong, một ông thầy mặc trang phục giống như Tam Nguyên, đầu đội mũ có đuôi và trán có đeo một bức tranh vẽ một vị thần, nối với Tam Nguyên bằng một tấm vải ở trước bụng và dắt tam nguyên đi vòng quanh chiếc cột ở giữa lán thờ. Các thầy có mặt sẽ cùng nhau đọc những lời khấn viết sẵn trên giấy và chuẩn bị đi xuống bàn địa. Đoàn người dẫn tam nguyên xuống bàn địa gồm có: Người đi đầu tiên cầm 2 kiếm, vừa đi vừa múa. Theo sau sẽ là 1 người cầm thước, 1 người cầm kiếm và 1 người đeo mặt nạ. Rồi tiếp đến 2 người với những chiếc tua vải ở tay vừa đi vừa múa. Kế đến là 1 ông thầy dẫn Tam nguyên đi. Ông này đi giật lùi, mặt đối mặt với Tam Nguyên để dẫn đường. Lần lượt theo sau là 1 ông thầy đội mũ, mặc áo đỏ và tay ôm sách; 1 người cầm hương, 1 người đọc lời khấn trong lúc đi. 2 người khiêng võng cùng dàn nhạc và mọi người đi theo. Đến bàn địa, tất cả đi quanh bàn địa thuận theo chiều kim đồng hồ. Phía trước mặt bàn địa, về hướng đông, có đặt 1 chiếc bàn hương và 1 bức tranh thánh, phía đối diện bàn này ở hướng tây, sau chân thang lên bàn địa, cũng có đặt 1 bàn hương như thế. sau khi 3 vòng đi quanh thang kết thúc, nến được thắp và cắm dọc ở hai bên của 12 bậc thang lên bàn địa. Tam Nguyên cùng với ông thầy dẫn đường bước lên bậc đó. Các ông thầy cúng khác ngồi hết lên các bậc thang còn lại ở phía trên. Sau đó tất cả các ông thầy ở trên đó từ từ đi xuống, 1 ông thầy khác từ dưới đất bước lên thang vừa đi vừa khấn, vừa xua tay và gạt hết những cành lá chuối che ở trên đó xuống. 1 ông thầy thì đứng trước chân thang đọc lời khấn. 1 ông khác tiếp tục trèo lên thang. Khi lên tới bàn, ông ta sẽ đứng dậy làm những động tác thần chú và múa ở trên đó. 1 tay ông cầm tua vải, còn tay kia cầm 1 chiếc gậy bằng gỗ, 1 đầu được vót nhọn, còn 1 đầu là con dao. Sau khi múa xong, ông ta không đi xuống theo bậc thang, mà ông ta nhảy xuống. Lúc đó ông thầy đang đứng đọc khấn ở trước chân thang tiếp tục lên. Tay ông cầm một con dao có đeo một vòng tiền xu ở cán, khi lên tới bàn ông lấy tay vạch trên mặt bàn và thì thầm đọc lời niệm chú. Kết thúc ông ta cũng nhảy xuống. Một điều đáng lưu ý là cả 2 ông này mỗi khi nhảy xuống đều xoa hoặc vỗ tay vào cột ở bàn địa rồi mới nhảy. Mặt bàn khá cao so với mặt đất nên các ông đều trèo thả chân rồi mới nhảy chứ không nhảy thẳng từ trên mặt xuống. Khi ông thầy cầm con dao có một vòng tiền kết thúc nghi lễ của mình thì ông thầy dẫn Tam Nguyên bắt đầu lên. 2 thầy trò sẽ cùng lên cầu thang song song với nhau, mỗi người một bên. Vừa đi vừa cúi xuống dùng tua vải xua xua ở 2 bên như để dẹp đường. Đến cạnh bàn, ông thầy cũng niệm chú rồi đỡ Tam Nguyên lên mặt bàn. Ông ta lấy ra những mảnh vải đen và trăng (do ông chủ nhà sắm sẵn và đưa lúc ông thầy còn đứng dưới chân cầu thang bắt đầu kẹp vào ba khe ngón tay giữa của Tam Nguyên, mỗi khe 3 cặp. Những tấm vải dùng quấn ở bụng của cả thầy lẫn trò được cởi ra và luồn xuống khe thang. Ông thầy nhảy xuống khỏi thang vào bàn địa bị chặt đứt và thang sẽ được đem đi. Trên bàn lúc này chỉ còn lại Tam Nguyên ngồi xuống và quay lưng về hướng đông (nơi sẽ rơi xuống, mắt nhìn về hướng tây nơi mà ông thầy sẽ chủ huy cuộc nhảy võng. Ông thầy cầm con dao khi nãy bây giờ ngồi cách bàn địa khoảng 5m, bắt đầu hành lễ. Ông ta hô lên hai tiếng ê, ê báo cho tam nguyên biết cuộc lễ được bắt đầu. Sau đó, ông ta hô tiếp một lần và đồng thời nhổm người lên một ít, hô lần thứ hai thì đứng khom và hô lần thứ ba thì đứng thẳng người lên. Xong việc này, ông dang tay phải sang phải và cũng hô 3 lần, mỗi một lần hô là một lần nâng dần lên, đến câu thứ 3 thì giơ thẳng lên đầu. Hết bên phải lại chuyển sang bên tay trái. Cứ mỗi lần hô và làm động tác này thì Tam Nguyên ở trên bàn cũng nhìn mà làm theo, và xong một bên tay thì Tam Nguyên thả một cặp 2 miếng vải trắng đen ở một kẽ tay. Cứ như vậy sau 6 lần thì số mảnh vải kẹp ở tay cũng hết. Xong việc thả các mảnh vải, theo lời hô của ông thầy, Tam Nguyên đứng thẳng và ngồi xuống, 2 tay bó vào gối. Lại 3 lần hô, Tam Nguyên theo đó mà chụm chân và xoay dần ra mép bàn phía đông. trong lúc đó, mọi người ở dưới sẽ cùng nhau trải võng cho căng ra. Trên mặt võng có trải 12 cái chăn đan chéo nhau, đồng thời lấy gạo vãi khắp mặt võng. Số chăn phải xếp sao cho để lúc người Tam Nguyên nhảy xuống thì tất cả các đầu chăn phải chụm lại phủ kín toàn bộ lên người nhảy võng. Tam Nguyên cứ nhích dần, nhích dần. Đến lần hô thứ 3 thì buông mình rơi xuống võng theo đằng lưng xuống trước. khi xuống tới nơi, tất cả các chăn sẽ phủ kín Tam Nguyên. Anh ta không được động đậy mà vẫn phải giữ nguyên tư thế ngồi bó gối. Chỉ đến khi các thầy xông vào và lấy tay đập vào đầu gối, lúc ấy Tam Nguyên mới được bỏ tay ra và duỗi thẳng người và duỗi thẳng chân. các thầy sẽ cởi áo của mình ra đắp cho Tam Nguyên. Người ta sẽ bắt đầu đọc những lời thần chú. Sau đó người ta nâng Tam Nguyên ngồi dậy, các thầy lần lượt vào dùng dấu bùa đóng (tượng trưng) và niệm chú cho Tam Nguyên, bón trứng và cơm cho Tam Nguyên. Người ta đem đến một cuộn vải và chiếc ống nứa để dốc tiền vào lòng Tam Nguyên để kiểm tra âm dương rồi xé cho Tam Nguyên 2 đoạn vải. Mọi thủ tục như vậy là đã xong. Giờ đây chàng trai ấy sẽ coi như đã được cấp sắc là Tam Nguyên. Và anh ta cũng đã trở thành một ông thầy Tam Nguyên mới và hoà vào dòng các thầy múa 3 vòng xung quanh bàn địa. trong lúc vừa múa các thầy cùng nhau chặt võng ra nhiều mảnh và đem vứt ra 4 phía. Lễ kết thúc, mọi người lại nhảy múa trở về nhà trong tiếng nhạc rộn rã. Những người ngày hôm qua dựng bàn địa thì nay lại tự tay phá nó ra, ngoài những người đó thì không ai được làm. Lán thờ được dỡ và đem ra khỏi khu vực nhà ở để đốt đi. Bản Khe Mụ nơi diễn ra lễ Lập Tịch Lễ lập tịch của người Dao Họ là một lễ hội vừa phong phú lại vừa phức tạp, trong đó chứa đựng rất nhiều các phong tục, các tín ngưỡng của dân tộc Dao Họ. Nó là một hiện tượng văn hoá tổng hợp gồm nhiều loại hình múa, nhạc, lễ và đặc biệt là số lượng lớn những bài cúng do các thầy cúng đọc từ các sách đã được quy định từ rất lâu đời, có ý nghĩa rất quan trọng đến đời sống vật chất vào tâm linh của tộc người này. Theo: hanoi.vnn.vn

Related Figures

Lễ hội rước Đất, rước Nước của người Tày

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/1 Âm lịch Lễ hội rước Đất, rước Nước của người dân tộc Tày - Bắc Hà, Lào Cai được diễn ra vào ngày rằm tháng giêng hàng năm để cầu xin Mẹ Đất, Mẹ Nước phù hộ cho đất luôn màu mỡ, cầu cho nguồn nước không bao giờ bị cạn, giúp cho dân bản có cuộc sống no đủ quanh năm. Lễ hội rước Đất, rước Nước của người Tày ở Bắc Hà Từ buổi sáng sớm, dân làng đã cử một đoàn người gồm có: thầy cúng, đội trống, chiêng, khèn và các cô, các chị (là những người chăm chỉ làm ăn, có cuộc sống gia đình yên bình và khoẻ mạnh)… đi lên ngọn núi Pản Phố - nơi có nguồn nước trong nhất bản - rước hồn Đất, hồn Nước về để dự hội. Đi đầu đoàn rước là ông thầy cúng. Thầy là một người giữ vai trò làm sứ giả để giao tiếp với các vị thần linh. Trong tay thầy có cầm cây nêu - biểu tượng của sự sinh sôi và nảy nở - rước đến địa điểm diễn ra lễ hội.Tiếp theo là kiệu rước Nước cùng các mâm lễ. Nước được đựng ở trong 2 ống bương to, tượng trưng cho ống bố và ống mẹ. Tiếp đến là kiệu rước Đất - hồn mẹ Đất được lấy từ trên đỉnh núi cao thiêng liêng. Sau đó là đến các mâm lễ để dâng lên các vị thần linh. Lễ vật gồm có 1 mâm quả còn, bên trong các quả còn có đựng các loại hạt giống do các cô và các chị kỳ công làm ra, các mâm xôi ngũ sắc, gà luộc và hoa quả… đều là những sản vật tinh tuý của mùa màng - thành quả sản xuất của người dân bản trong năm. Đội chiêng trống đi 2 bên thầy cúng nổi chiêng trống để thầy giao linh với các vị thần. Một nghi thức trong lễ hội rước Đất, rước Nước của người Tày Địa điểm tổ chức lễ hội là ở cánh đồng rộng của bản. Khi các đoàn rước tới nơi, 3 hồi kèn trống được nổi lên vang động đất trời, thấu đến chín tầng cao xanh như báo hiệu cho Trời - Đất biết: Ngày hôm nay dân làng sẽ mở hội. Thầy cúng thực hiện nghi lễ cầu khấn. Tiếp đó, thầy cúng phun nước để làm phép để xua các điều xấu, xua quỷ dữ không cho về quấy phá người dân bản. Rồi thầy tung lộc (ngô, lúa) của thần linh cho người dân bản, những người tới dự hội ai cũng cố gắng nhận cho được vài hạt thóc, vài hạt ngô đem về nhà làm khước may mắn để nhà mình vụ sau ngô thì sai hạt, lúa thì sai bông. Lễ hội rước Đất, rước Nước thu hút cả những người dân tộc khác trong vùng tới tham dự Sau phần lễ nghi trên, tất cả mọi người bước vào phần hội với những màn xoè điệu nghệ của các cô gái, các chàng trai. Khi các màn xoè kết thúc là các trò chơi dân gian như đẩy gậy, kéo co, chọi gà, chọi trâu (bằng bắp bi chuối và măng) và ném còn…bắt đầu Dù là ngày hội của người dân tộc Tày nhưng các dân tộc khác trong vùng cũng đến tham dự rất đông vui. Laocai.gov.vn

Lễ hội rước Đất, rước Nước của người dân tộc Tày - Bắc Hà, Lào Cai được diễn ra vào ngày rằm tháng giêng hàng năm để cầu xin Mẹ Đất, Mẹ Nước phù hộ cho đất luôn màu mỡ, cầu cho nguồn nước không bao giờ bị cạn, giúp cho dân bản có cuộc sống no đủ quanh năm.

Lễ hội rước Đất, rước Nước của người Tày ở Bắc Hà

Từ buổi sáng sớm, dân làng đã cử một đoàn người gồm có: thầy cúng, đội trống, chiêng, khèn và các cô, các chị (là những người chăm chỉ làm ăn, có cuộc sống gia đình yên bình và khoẻ mạnh)… đi lên ngọn núi Pản Phố - nơi có nguồn nước trong nhất bản - rước hồn Đất, hồn Nước về để dự hội. Đi đầu đoàn rước là ông thầy cúng. Thầy là một người giữ vai trò làm sứ giả để giao tiếp với các vị thần linh. Trong tay thầy có cầm cây nêu - biểu tượng của sự sinh sôi và nảy nở - rước đến địa điểm diễn ra lễ hội.Tiếp theo là kiệu rước Nước cùng các mâm lễ. Nước được đựng ở trong 2 ống bương to, tượng trưng cho ống bố và ống mẹ. Tiếp đến là kiệu rước Đất - hồn mẹ Đất được lấy từ trên đỉnh núi cao thiêng liêng. Sau đó là đến các mâm lễ để dâng lên các vị thần linh. Lễ vật gồm có 1 mâm quả còn, bên trong các quả còn có đựng các loại hạt giống do các cô và các chị kỳ công làm ra, các mâm xôi ngũ sắc, gà luộc và hoa quả… đều là những sản vật tinh tuý của mùa màng - thành quả sản xuất của người dân bản trong năm. Đội chiêng trống đi 2 bên thầy cúng nổi chiêng trống để thầy giao linh với các vị thần. Một nghi thức trong lễ hội rước Đất, rước Nước của người Tày Địa điểm tổ chức lễ hội là ở cánh đồng rộng của bản. Khi các đoàn rước tới nơi, 3 hồi kèn trống được nổi lên vang động đất trời, thấu đến chín tầng cao xanh như báo hiệu cho Trời - Đất biết: Ngày hôm nay dân làng sẽ mở hội. Thầy cúng thực hiện nghi lễ cầu khấn. Tiếp đó, thầy cúng phun nước để làm phép để xua các điều xấu, xua quỷ dữ không cho về quấy phá người dân bản. Rồi thầy tung lộc (ngô, lúa) của thần linh cho người dân bản, những người tới dự hội ai cũng cố gắng nhận cho được vài hạt thóc, vài hạt ngô đem về nhà làm khước may mắn để nhà mình vụ sau ngô thì sai hạt, lúa thì sai bông. Lễ hội rước Đất, rước Nước thu hút cả những người dân tộc khác trong vùng tới tham dự Sau phần lễ nghi trên, tất cả mọi người bước vào phần hội với những màn xoè điệu nghệ của các cô gái, các chàng trai. Khi các màn xoè kết thúc là các trò chơi dân gian như đẩy gậy, kéo co, chọi gà, chọi trâu (bằng bắp bi chuối và măng) và ném còn…bắt đầu Dù là ngày hội của người dân tộc Tày nhưng các dân tộc khác trong vùng cũng đến tham dự rất đông vui. Laocai.gov.vn

Related Figures

Lễ hội “Nhặn Sồng” & “Nào Sồng”

Thông tin thời kỳ

Đây là Lễ hội của người dân tộc Dao đỏ ở làng Giàng Tả Chải (Tả Van - Sa Pa). Trước đây, hàng năm cứ vào những ngày tốt của tháng đầu năm, người dân tộc Dao ở Giàng Tả Chải thường tổ chức lễ “Nhặn Sồng” ở tại khu rừng cấm của làng. Từ đầu thập kỷ 50, do sự gia tăng về dân số, nạn phá rừng làm nương rẫy cũng ngày càng phát triển, nên chỉ năm nào rừng bị phá nhiều, trâu ngựa thả rông phá vườn tược hoa mầu, thì người dân tộc Dao mới tổ chức lễ “Nhặn Sồng”. Đồ cúng lễ là 1 con lợn (to hay nhỏ là tuỳ thuộc vào số người đến dự nhiều hay ít). Con lợn này luân phiên hàng năm từng hộ gia đình ở trong làng nuôi dưỡng. Lợn dâng cúng phải là lợn có lông màu đen tuyền, khoẻ mạnh và béo tốt. Khung cảnh lễ hội “Nhặn Sồng” & “Nào Sồng” Ngày làm lễ, mỗi hội gia đình sẽ cử từ một hay hai người nam giới đi dự. Người đi dự lễ đều phải mặc quần áo đẹp và mang theo nửa lít rượu cùng một bát gạo, nét mặt hồ hởi tiến vào khu rừng hay bị phá nhất. Địa điểm họp có khi cũng chọn ngôi nhà ở gần khu rừng bị phá (vì theo quan niệm của đồng bào, thì nhà ở gần rừng hay thả rông gia súc và hay phá rừng nhiều hơn). Khi mọi người đã đến đông đủ, dân làng sẽ bầu ra một người làm gốc, “Chẩu chiếu” - người đứng đầu trông coi rừng ở trong năm. Người “Chẩu chiếu” phải là một người có sức khoẻ, giỏi lý lẽ và hiểu biết lệ tục. Sau khi được bầu “Chẩu chiếu” làm lễ cúng thần thổ địa “Thủ Ti” - Vị thần cai quản cộng đồng làng. Sau đó ông ta sẽ trịnh trọng đọc quy ước của làng. Lễ hội “Nhặn Sồng” & “Nào Sồng” tại lào Cai Sau khi “Chẩu chiếu” đọc xong một điều quy định, thì đại diện các gia đình thảo luận. Cuối cùng, “Chẩu chiếu” tổng hợp tất cả các ý kiến thành một quy ước riêng của làng về bảo vệ rừng, mọi người dân ở trong làng Giàng Tả Chải đều phải có trách nhiệm thực hiện. Quy ước của làng đã được “Thiêng” hoá vì có sự chứng kiến và công nhận của thần thổ địa. Quy ước của làng là nguyện vọng của cả làng, đã trở thành “luật lệ” của làng, mọi dân làng đều phải tự giác tuân theo. Trong niềm vui thống nhất được quy ước, mọi người đều ăn chung 1 bữa ăn cộng đồng. Thịt và cơm bầy ra lá rừng, rượu thì uống bằng ống bương nhưng mọi người đều hân hoan trong niềm vui chung của cả làng. Người dân tộc Mông ở Séo Mí Tỷ, ở Dền Thàng Tả Van cũng như ở Lao Chải, Hầu Thào, trước đây họ đều tổ chức lễ ăn ước tương tự như lễ “Nhặn Sồng” của người dân tộc Dao. Nhưng ngày cúng thì thường là ngày Thìn của tháng giêng (với ý niệm cầu mong cho mưa thuận gió hoà). Hình ảnh người dân nhảy múa trong lễ hội Địa điểm cúng thường được tổ chức ở khu rừng cấm của cả làng - nơi thờ thần thổ địa, thần thường ngự ở một gốc cây to hoặc một hòn đá lớn ở trong rừng cấm. Sau khi ông “Chứ lồng” - người chủ lễ dâng cúng thần, đọc lời quy ước. Người dân đến dự đều có quyền tự do thảo luận và bàn bạc. Nội dung quy ước của lễ “Nào Sồng” tại các làng người dân tộc H’Mông có sự mở rộng phạm vi điều chỉnh hơn làng người dân tộc Dao. Bên cạnh việc bảo vệ rừng và chống thả rông gia súc, quy ước còn đề cập đến các vấn đề phòng chống trộm cắp, bảo vệ mùa màng và tương trợ giúp đỡ lẫn nhau...

Đây là Lễ hội của người dân tộc Dao đỏ ở làng Giàng Tả Chải (Tả Van - Sa Pa). Trước đây, hàng năm cứ vào những ngày tốt của tháng đầu năm, người dân tộc Dao ở Giàng Tả Chải thường tổ chức lễ “Nhặn Sồng” ở tại khu rừng cấm của làng. Từ đầu thập kỷ 50, do sự gia tăng về dân số, nạn phá rừng làm nương rẫy cũng ngày càng phát triển, nên chỉ năm nào rừng bị phá nhiều, trâu ngựa thả rông phá vườn tược hoa mầu, thì người dân tộc Dao mới tổ chức lễ “Nhặn Sồng”. Đồ cúng lễ là 1 con lợn (to hay nhỏ là tuỳ thuộc vào số người đến dự nhiều hay ít). Con lợn này luân phiên hàng năm từng hộ gia đình ở trong làng nuôi dưỡng. Lợn dâng cúng phải là lợn có lông màu đen tuyền, khoẻ mạnh và béo tốt. Khung cảnh lễ hội “Nhặn Sồng” & “Nào Sồng” Ngày làm lễ, mỗi hội gia đình sẽ cử từ một hay hai người nam giới đi dự. Người đi dự lễ đều phải mặc quần áo đẹp và mang theo nửa lít rượu cùng một bát gạo, nét mặt hồ hởi tiến vào khu rừng hay bị phá nhất. Địa điểm họp có khi cũng chọn ngôi nhà ở gần khu rừng bị phá (vì theo quan niệm của đồng bào, thì nhà ở gần rừng hay thả rông gia súc và hay phá rừng nhiều hơn). Khi mọi người đã đến đông đủ, dân làng sẽ bầu ra một người làm gốc, “Chẩu chiếu” - người đứng đầu trông coi rừng ở trong năm. Người “Chẩu chiếu” phải là một người có sức khoẻ, giỏi lý lẽ và hiểu biết lệ tục. Sau khi được bầu “Chẩu chiếu” làm lễ cúng thần thổ địa “Thủ Ti” - Vị thần cai quản cộng đồng làng. Sau đó ông ta sẽ trịnh trọng đọc quy ước của làng. Lễ hội “Nhặn Sồng” & “Nào Sồng” tại lào Cai Sau khi “Chẩu chiếu” đọc xong một điều quy định, thì đại diện các gia đình thảo luận. Cuối cùng, “Chẩu chiếu” tổng hợp tất cả các ý kiến thành một quy ước riêng của làng về bảo vệ rừng, mọi người dân ở trong làng Giàng Tả Chải đều phải có trách nhiệm thực hiện. Quy ước của làng đã được “Thiêng” hoá vì có sự chứng kiến và công nhận của thần thổ địa. Quy ước của làng là nguyện vọng của cả làng, đã trở thành “luật lệ” của làng, mọi dân làng đều phải tự giác tuân theo. Trong niềm vui thống nhất được quy ước, mọi người đều ăn chung 1 bữa ăn cộng đồng. Thịt và cơm bầy ra lá rừng, rượu thì uống bằng ống bương nhưng mọi người đều hân hoan trong niềm vui chung của cả làng. Người dân tộc Mông ở Séo Mí Tỷ, ở Dền Thàng Tả Van cũng như ở Lao Chải, Hầu Thào, trước đây họ đều tổ chức lễ ăn ước tương tự như lễ “Nhặn Sồng” của người dân tộc Dao. Nhưng ngày cúng thì thường là ngày Thìn của tháng giêng (với ý niệm cầu mong cho mưa thuận gió hoà). Hình ảnh người dân nhảy múa trong lễ hội Địa điểm cúng thường được tổ chức ở khu rừng cấm của cả làng - nơi thờ thần thổ địa, thần thường ngự ở một gốc cây to hoặc một hòn đá lớn ở trong rừng cấm. Sau khi ông “Chứ lồng” - người chủ lễ dâng cúng thần, đọc lời quy ước. Người dân đến dự đều có quyền tự do thảo luận và bàn bạc. Nội dung quy ước của lễ “Nào Sồng” tại các làng người dân tộc H’Mông có sự mở rộng phạm vi điều chỉnh hơn làng người dân tộc Dao. Bên cạnh việc bảo vệ rừng và chống thả rông gia súc, quy ước còn đề cập đến các vấn đề phòng chống trộm cắp, bảo vệ mùa màng và tương trợ giúp đỡ lẫn nhau...

Related Figures

Lễ hội “Nào Cống”

Thông tin thời kỳ

Từ thập kỷ 50 trở về trước, Tả Van có một ngôi miếu thờ ba gian. Ngôi miếu được dựng ở ngay đầu cầu treo sang làng Tả Van Giáy. Ngôi miếu đã trở thành địa điểm tổ chức lễ “Nào Cống” của cả vùng thung lũng Mường Hoa.Hàng năm cứ vào ngày Thìn, tháng 6 âm lịch, các làng người dân tộc Mông, người dân tộc Dao và người dân tộc Giáy ở Mường Hoa đều tập trung về miếu thờ để làm lễ “Nào Cống”. Mỗi gia đình sẽ cử một người đại diện (có thể là chồng hoặc vợ), không phân biệt nam, nữ, già hay trẻ. Làng Tả Van Giáy nơi diễn ra lễ hội Nào Cống Lễ “Nào Cống” gồm có 3 phần: Phần nghi lễ cúng thần, phần công bố quy ước chung cả vùng và phần ăn uống. Ngôi miếu thờ được người dân tộc Mông gọi là “Chế đáng” (Tsêr đăngz). Miếu thờ có 3 gian, gian giữa là gian thờ hai viên quan họ Đào, họ Nguyễn đã có công an dân và xây dựng nên Mường Hoa. Một gian bên trái là gian thờ thần núi (Sơn thần), thần Suối Hoa (Long Vương), người dân tộc Giáy gọi là “Sía po”, “Sía ta”, người dân tộc Mông gọi là “Thủ Ti”, “Lùng Vàng”. Một gian bên phải thì thờ các bà nàng vợ hai ông quan họ Đào, họ Nguyễn. Lễ Vật dân cúng là con trâu đen, con lợn đen và vịt gà do các làng đóng góp mua. Làng Tả Van Giáy còn có trách nhiệm chuẩn bị vàng hương và bát đĩa dâng cúng. Người dân tộc Giáy ở làng Tả Van Trước đây, người chủ lễ phải mời ông thầy mo người dân tộc Tày của Mường Bo (4). Từ thập kỷ 40 - 50 của thế kỷ này, chủ lễ là ông thầy mo của người dân tộc Giáy ở Tả Van. Ông thầy mo ăn mặc áo dài, quần thụng (kiêng đội mũ và khăn) trịnh trọng đọc lời cúng các thần kinh. Nội dung của bài cúng là mời các thần về dự lễ, cầu mong các thần phù hộ cho người yên vật thịnh, được mùa. Sau lễ cúng, chức dịch Mường Hoa sẽ lên đọc quy ước chung của cả Mường... Nội dung bản quy ước đề cập đến 4 vấn đề sau: - Thứ nhất là vấn đề trị an của các làng: không được trộm cắp, có biện pháp phòng ngừa kẻ xấu ở nơi khác đến trộm cắp. - Thứ 2 là vấn đề bảo vệ rừng: Các làng người dân tộc Mông, người dân tộc Dao và người dân tộc Giáy, phải chú ý làm rẫy, cấm lấy củi hái măng ở khu rừng cấm thờ thổ thần và khu rừng chung đầu nguồn nước của làng... - Thứ 3 là vấn đề chăn dắt gia súc : Quy ước có quy định cụ thể về thời gian cấm thả rông gia súc. Hàng năm từ ngày 15 tháng chuột (tức tháng 10 âm lịch) đến này Thìn tháng giêng (tức ngày mở hội xuống đồng) người dân mới được thả gia súc. Ngoài những khoảng thời gian trên, cấm mọi người không được thả rông gia súc để tránh bị phá hoại mùa màng. - Thứ 4 là vấn đề ứng xử xã hội: Các quy ước của cả vùng đó là đều đề cập đến quan hệ tương trợ giúp đỡ lẫn nhau, giúp đỡ gia đình có tang... đồng thời phê phán những mối quan hệ nam nữ không lành mạnh, “Cấm kéo đàn bà, con gái vào trong núi”... Kết thúc phần đọc các quy ước, người chức dịch còn nhấn mạnh rằng “Hôm nay, tôi nói cho mọi người biết như thế, từ đây mọi người trở về nhà phải tuân theo những lý lối này và kể cho cả nhà được biết để tuân theo”. Lễ hội “Nào Cống” tại Lào Cai Khác với lễ “Nhặn sồng”, “Nào sồng”, lễ “Nào Cống” không tổ chức bàn bạc thảo luận quy ước, mà mọi người đến dự chỉ có trách nhiệm tuân theo quy ước do chức dịch đã phổ biến. Kết thúc phần phổ biến quy ước, tất cả mọi người dự lễ “Nào cống” đều vui vẻ ngồi vào mâm ăn uống cộng cảm. Dân làng nào thì tự nấu lấy thức ăn cho làng ấy và cùng ăn với nhau ở ngoài miếu. Trong miếu, thì chỉ có các chức dịch (lý trưởng, pthì người khác sẽ dành phần thức ăn mang về. Theo Website Tổng cục Du lịch

Từ thập kỷ 50 trở về trước, Tả Van có một ngôi miếu thờ ba gian. Ngôi miếu được dựng ở ngay đầu cầu treo sang làng Tả Van Giáy. Ngôi miếu đã trở thành địa điểm tổ chức lễ “Nào Cống” của cả vùng thung lũng Mường Hoa.Hàng năm cứ vào ngày Thìn, tháng 6 âm lịch, các làng người dân tộc Mông, người dân tộc Dao và người dân tộc Giáy ở Mường Hoa đều tập trung về miếu thờ để làm lễ “Nào Cống”. Mỗi gia đình sẽ cử một người đại diện (có thể là chồng hoặc vợ), không phân biệt nam, nữ, già hay trẻ.

Làng Tả Van Giáy nơi diễn ra lễ hội Nào Cống

Lễ “Nào Cống” gồm có 3 phần: Phần nghi lễ cúng thần, phần công bố quy ước chung cả vùng và phần ăn uống. Ngôi miếu thờ được người dân tộc Mông gọi là “Chế đáng” (Tsêr đăngz). Miếu thờ có 3 gian, gian giữa là gian thờ hai viên quan họ Đào, họ Nguyễn đã có công an dân và xây dựng nên Mường Hoa. Một gian bên trái là gian thờ thần núi (Sơn thần), thần Suối Hoa (Long Vương), người dân tộc Giáy gọi là “Sía po”, “Sía ta”, người dân tộc Mông gọi là “Thủ Ti”, “Lùng Vàng”. Một gian bên phải thì thờ các bà nàng vợ hai ông quan họ Đào, họ Nguyễn. Lễ Vật dân cúng là con trâu đen, con lợn đen và vịt gà do các làng đóng góp mua. Làng Tả Van Giáy còn có trách nhiệm chuẩn bị vàng hương và bát đĩa dâng cúng. Người dân tộc Giáy ở làng Tả Van Trước đây, người chủ lễ phải mời ông thầy mo người dân tộc Tày của Mường Bo (4). Từ thập kỷ 40 - 50 của thế kỷ này, chủ lễ là ông thầy mo của người dân tộc Giáy ở Tả Van. Ông thầy mo ăn mặc áo dài, quần thụng (kiêng đội mũ và khăn) trịnh trọng đọc lời cúng các thần kinh. Nội dung của bài cúng là mời các thần về dự lễ, cầu mong các thần phù hộ cho người yên vật thịnh, được mùa. Sau lễ cúng, chức dịch Mường Hoa sẽ lên đọc quy ước chung của cả Mường... Nội dung bản quy ước đề cập đến 4 vấn đề sau: - Thứ nhất là vấn đề trị an của các làng: không được trộm cắp, có biện pháp phòng ngừa kẻ xấu ở nơi khác đến trộm cắp. - Thứ 2 là vấn đề bảo vệ rừng: Các làng người dân tộc Mông, người dân tộc Dao và người dân tộc Giáy, phải chú ý làm rẫy, cấm lấy củi hái măng ở khu rừng cấm thờ thổ thần và khu rừng chung đầu nguồn nước của làng... - Thứ 3 là vấn đề chăn dắt gia súc : Quy ước có quy định cụ thể về thời gian cấm thả rông gia súc. Hàng năm từ ngày 15 tháng chuột (tức tháng 10 âm lịch) đến này Thìn tháng giêng (tức ngày mở hội xuống đồng) người dân mới được thả gia súc. Ngoài những khoảng thời gian trên, cấm mọi người không được thả rông gia súc để tránh bị phá hoại mùa màng. - Thứ 4 là vấn đề ứng xử xã hội: Các quy ước của cả vùng đó là đều đề cập đến quan hệ tương trợ giúp đỡ lẫn nhau, giúp đỡ gia đình có tang... đồng thời phê phán những mối quan hệ nam nữ không lành mạnh, “Cấm kéo đàn bà, con gái vào trong núi”... Kết thúc phần đọc các quy ước, người chức dịch còn nhấn mạnh rằng “Hôm nay, tôi nói cho mọi người biết như thế, từ đây mọi người trở về nhà phải tuân theo những lý lối này và kể cho cả nhà được biết để tuân theo”. Lễ hội “Nào Cống” tại Lào Cai Khác với lễ “Nhặn sồng”, “Nào sồng”, lễ “Nào Cống” không tổ chức bàn bạc thảo luận quy ước, mà mọi người đến dự chỉ có trách nhiệm tuân theo quy ước do chức dịch đã phổ biến. Kết thúc phần phổ biến quy ước, tất cả mọi người dự lễ “Nào cống” đều vui vẻ ngồi vào mâm ăn uống cộng cảm. Dân làng nào thì tự nấu lấy thức ăn cho làng ấy và cùng ăn với nhau ở ngoài miếu. Trong miếu, thì chỉ có các chức dịch (lý trưởng, pthì người khác sẽ dành phần thức ăn mang về. Theo Website Tổng cục Du lịch

Related Figures

Lễ hội Trầu Sun

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 5/1 Âm lịch (lehoi.info) - Hàng năm cứ đến ngày Hợi tháng giêng (mồng 5 Tết), người dân tộc Dao Đỏ ở Làng Chành, xã Xuân Giao, Bảo Thắng, Lào Cai lại rộn ràng mở hội “Trầu Sun”.Trầu sun là một trong những nghi lễ cầu mùa rất đặc trưng của người dân tộc Dao đỏ được các làng các bản tổ chức thường xuyên hàng năm hoặc vài ba năm một lần vào các dịp đầu xuân để cầu cho mưa thuận gió hoà, cây cối phát triển, mùa màng tốt tươi, không xảy ra dịch bệnh, gia đình ấm no và hạnh phúc. Đặc sắc lễ hội "Trầu Sun" tại lào Cai Lễ cúng diễn ra trên 1 khu đất đai bằng phẳng, ở một khu ruộng hoặc ở trên một quả đồi, nơi có không gian thoáng đãng và thuận lợi cho việc tổ chức. Ngày lễ chính, các gia đình ở trong làng đóng góp tiền mua sắn lễ vật gồm có: xôi, lợn, gà, giấy tiền và vàng hương để cầu mong các vị thần tiên ở trên trời, ở dưới đất phù hộ cho dân làng có được cuộc sống yên ổn, ấm no và thịnh vượng. Mâm lễ cúng thần trong lễ hội Một mâm cúng chính được đặt ở giữ gồm có 1 con lợn, xôi (xôi có 4 màu), gà (phải là gà trống), 5 chiếc chén, 1 chai rượu, 1 bát gạo và 2 đồng bạc trắng để cúng sư phụ của người thầy, 1 bát nước để các vị thần về dự rửa tay. Một mâm cúng phụ được đặt bên cạnh đặt các giống như: lúa, ngô, sắn, hạt mướp, hạt cải avf hạt đậu tương…của các gia đình mang đến để nhờ thầy cúng gọi hồn lúa về nhập vào các loại hạt giống này. Tiếp đó 2 mâm cúng khác cũng được đặt 2 bên, trong đó có một mâm cúng gọi hồn lúa “chịu bèo guần” gồm có: 5 chiếc chén, 1 chai rượu, 1 ống hương, 1 bát nước,1 bát bánh trôi, 9 quả trứng gà và giấy tiền. Bánh trôi “dùa chíu” gồm có 4 hoặc 5 được bỏ vào bát sau đó họ sẽ bỏ 7 hoặc 9 quả trứng gà vào bên trong, rồi úp con gà lên trên tựa như con gà đang ấp trứng vì theo quan niệm của người dân tộc Dao đỏ nó mang một ý nghĩa tượng trưng cho bồn thóc bồn lúa của gia đình lúc nào cũng nhiều, cũng đầy và luôn sinh sôi nảy nở. Mâm cúng thứ 3 là giành riêng cho ma đói, ma khát, ma đường, ma chợ không có người thờ tự, ma rừng, ma suối. Sau khi lễ vật đã được chuẩn bị xong, thầy cúng sẽ thay mặt cho dân làng thắp hương khấn báo thần làng, trời đất phù hộ cho dân làng mở hội cầu mùa, cầu phúc và cầu tài cầu cho con trai làng trên, con gái làng dưới, thuận duyên, bén lứa nên vợ, nên chồng, nhà nhà ấm no và hạnh phúc… Quang cảnh lễ hội "Trầu Sun" Bảo Thắng Sau khi kết thúc phần lễ, thì diễn ra cuộc thi văn hoá - văn nghệ, thi đấu các môn thể thao truyền thống, như kéo co, đẩy gậy, đánh quay, bắn nỏ. Đội văn nghệ các xã thì tổ chức thi múa, hát, trích đoạn nghi lễ cấp sắc người dân tộc Dao… Các trò chơi, trò diễn càng sôi nổi hấp dẫn bởi sự góp mặt của cộng đồng các dân tộc ở 7 xã và thị trấn cùng đông đảo đồng bào các dân tộc từ khắp các địa phương lân cận đến để xem và cổ vũ cho các tiết mục biểu diễn văn nghệ và thi đấu thể thao.

(lehoi.info) - Hàng năm cứ đến ngày Hợi tháng giêng (mồng 5 Tết), người dân tộc Dao Đỏ ở Làng Chành, xã Xuân Giao, Bảo Thắng, Lào Cai lại rộn ràng mở hội “Trầu Sun”.Trầu sun là một trong những nghi lễ cầu mùa rất đặc trưng của người dân tộc Dao đỏ được các làng các bản tổ chức thường xuyên hàng năm hoặc vài ba năm một lần vào các dịp đầu xuân để cầu cho mưa thuận gió hoà, cây cối phát triển, mùa màng tốt tươi, không xảy ra dịch bệnh, gia đình ấm no và hạnh phúc.

Đặc sắc lễ hội "Trầu Sun" tại lào Cai

Lễ cúng diễn ra trên 1 khu đất đai bằng phẳng, ở một khu ruộng hoặc ở trên một quả đồi, nơi có không gian thoáng đãng và thuận lợi cho việc tổ chức. Ngày lễ chính, các gia đình ở trong làng đóng góp tiền mua sắn lễ vật gồm có: xôi, lợn, gà, giấy tiền và vàng hương để cầu mong các vị thần tiên ở trên trời, ở dưới đất phù hộ cho dân làng có được cuộc sống yên ổn, ấm no và thịnh vượng. Mâm lễ cúng thần trong lễ hội Một mâm cúng chính được đặt ở giữ gồm có 1 con lợn, xôi (xôi có 4 màu), gà (phải là gà trống), 5 chiếc chén, 1 chai rượu, 1 bát gạo và 2 đồng bạc trắng để cúng sư phụ của người thầy, 1 bát nước để các vị thần về dự rửa tay. Một mâm cúng phụ được đặt bên cạnh đặt các giống như: lúa, ngô, sắn, hạt mướp, hạt cải avf hạt đậu tương…của các gia đình mang đến để nhờ thầy cúng gọi hồn lúa về nhập vào các loại hạt giống này. Tiếp đó 2 mâm cúng khác cũng được đặt 2 bên, trong đó có một mâm cúng gọi hồn lúa “chịu bèo guần” gồm có: 5 chiếc chén, 1 chai rượu, 1 ống hương, 1 bát nước,1 bát bánh trôi, 9 quả trứng gà và giấy tiền. Bánh trôi “dùa chíu” gồm có 4 hoặc 5 được bỏ vào bát sau đó họ sẽ bỏ 7 hoặc 9 quả trứng gà vào bên trong, rồi úp con gà lên trên tựa như con gà đang ấp trứng vì theo quan niệm của người dân tộc Dao đỏ nó mang một ý nghĩa tượng trưng cho bồn thóc bồn lúa của gia đình lúc nào cũng nhiều, cũng đầy và luôn sinh sôi nảy nở. Mâm cúng thứ 3 là giành riêng cho ma đói, ma khát, ma đường, ma chợ không có người thờ tự, ma rừng, ma suối. Sau khi lễ vật đã được chuẩn bị xong, thầy cúng sẽ thay mặt cho dân làng thắp hương khấn báo thần làng, trời đất phù hộ cho dân làng mở hội cầu mùa, cầu phúc và cầu tài cầu cho con trai làng trên, con gái làng dưới, thuận duyên, bén lứa nên vợ, nên chồng, nhà nhà ấm no và hạnh phúc… Quang cảnh lễ hội "Trầu Sun" Bảo Thắng Sau khi kết thúc phần lễ, thì diễn ra cuộc thi văn hoá - văn nghệ, thi đấu các môn thể thao truyền thống, như kéo co, đẩy gậy, đánh quay, bắn nỏ. Đội văn nghệ các xã thì tổ chức thi múa, hát, trích đoạn nghi lễ cấp sắc người dân tộc Dao… Các trò chơi, trò diễn càng sôi nổi hấp dẫn bởi sự góp mặt của cộng đồng các dân tộc ở 7 xã và thị trấn cùng đông đảo đồng bào các dân tộc từ khắp các địa phương lân cận đến để xem và cổ vũ cho các tiết mục biểu diễn văn nghệ và thi đấu thể thao.

Related Figures

Lễ hội Roòng Poọc của người Giáy

Thông tin thời kỳ

Hàng năm cứ vào ngày Thìn tháng Giêng âm lịch người dân tộc Giáy ở Tả Van (huyện Sa Pa - Lào Cai) lại mở hội Roòng Poọc để cầu cho mùa màng bội thu, người yên vật thịnh, cầu cho mưa thuận, gió hoà. Tuy vốn là một lễ hội dân tộc truyền thống của người Giáy ở Tả Van, nhưng nhiều năm nay đã lan rộng và trở thành lễ hội chung của cả một vùng thung lũng Mường Hoa. Đặc sắc lễ hội Roòng Poọc của người Giáy ở Tả Van Tại lễ hội, lễ vật trên bàn cúng bao gồm có: Đĩa bánh kẹo, hoa quả, 5 bát xôi màu đỏ, màu xanh, màu tím, phỏng gạo 4 bát, 2 nắm xôi trắng nắm ý nghĩa là vị thần mang theo trên đường đi. Bên cạnh có một bát nước bên trong có đồng xu tượng trưng cho sự sung túc về tiền bạc. Cạnh bát hương là 5 chén nước chè, 9 chén rượu và 9 quả trứng màu xanh, màu đỏ, màu trắng tượng trưng cho màu trang phục của 9 nàng theo hầu vị thần. Ngoài ra còn có trang sức dành cho các nàng hầu như vòng đeo tay, khuyên tai, vòng đeo cổ. Bên cạnh bát nước là một quả Còn để ném vòng nhật nguyệt. Một con lợn con, một con gà và con vịt sống để gầm bàn lễ khi nào già bản khấn cúng xong thì dâng lên vị thần (hiến tế) với ý nghĩa cảm ơn vị thần đã cho người dân bản được nhiều gia súc. Trên ghế của vị thần ngồi bên trái có gánh củi, ý nghĩa là trên đường đi vị thần và người hầu có củi để nấu ăn và để sưởi. Bên phải có gánh cỏ, ý nghĩa là để trên đường đi ngựa của vị thần có cỏ để ăn. Trên ghế ngồi của vị thần có trải chăn màu đỏ vì theo người dân tộc Giáy màu đỏ là màu may mắn. Một nghi thức trong lễ hội Roòng Poọc của người Giáy ở Tả Van Sau khi chuẩn bị các lễ vật xong thì thầy cúng khấn cúng, đọc tên các lễ vật và xin vị thần bản phù hộ cho dân bản một mùa bội thu, gia súc đầy chuồng và làm được của ăn của để. Lễ cúng xong thì thầy cúng sẽ đưa quả Còn cho những người già uy tín ở trong bản ném vòng Nhật Nguyệt được treo ở độ cao 30m. Trong ngày làm lễ cúng phải ném thủng vòng Nhật Nguyệt, vì người dân tộc Giáy quan niệm rằng nếu vòng Nhật Nguyệt không được ném thủng thì cả năm đó bản sẽ gặp phải đen đủi. Khi vòng Nhật Nguyệt được ném thủng thì từng gia đình đến bàn thờ chính để thắp hương vái lạy thần linh, cầu may mắn cho gia đình và cho làng bản. Lễ vật cho buổi lễ Tham gia lễ hội là tất cả già trẻ, lớn bé ở trong bản. Người dân tộc Giáy cũng rất cởi mở khi đón tiếp bạn bè các dân tộc anh em đến xem và đến chia vui. Sau phần lễ (cúng tế) sẽ đến phần hội. Nhiều những trò chơi dân gian diễn ra rất vui, trong đó đặc biệt là có cuộc thi tài cày ruộng của những chàng trai. Mở đầu đó là trò chơi ném còn. Những người cao tuổi (nam một bên và nữ một bên) lấy 6 quả còn cùng ném tượng trưng cho 3 lần khai mạc, rồi sau đó tất cả mọi người vào cuộc chơi. Những quả còn tua đỏ xanh vun vút lao lên phông còn.Tiếng xuýt xoa, tiếng hò reo cổ vũ rền vang. Phông còn bị ném thủng là báo hiệu cho một năm mùa màng tốt tươi. Cùng với ném còn là trò chơi kéo co. Tốp nam đứng ở phía đông cầm phần gốc dây song (dây kéo co).Tốp nữ đứng ở phía tây cầm phần ngọn. Hồi trống kèn nổi nên thúc giục.Bên nam (đằng đông tượng trưng cho dương, mặt trời) luôn kéo thắng. Bên nữ (tượng trưng cho âm) giả vờ thua. Và như vậy, năm đó cả làng sẽ được mùa. Trò chơi dân gian trong lễ hội Lễ hội Roòng Poọc (xuống đồng) của người dân tộc Giáy là sự giao hoà giữa thiên nhiên và con người, làm mỗi con người trong cộng đồng nơi đây biết trân trọng giá trị của lịch sử (ghi nhớ công lao của người mở đất lập bản), biết trân trọng thiên nhiên (tâm linh tôn trọng các thế lực siêu nhiên, biết yêu thương cỏ cây, tài nguyên đất và nước), biết yêu thương con người (giao lưu, đồng cảm và đoàn kết). Vì vậy, lễ hội này vừa có nét đẹp văn hoá cổ truyền, lại vừa phù hợp với điều kiện cuộc sống hiện đại mà ta vẫn kỳ vọng là sự phát triển bền vững. Ngoài ra, lễ hội còn thu hút rất nhiều những du khách trong và ngoài nước, là nguồn tài nguyên nhân văn để tiếp tục phát triển kinh tế du lịch nơi vùng đất huyền thoại Mường Hoa-Sa Pa. Theo Laodong.com.vn

Hàng năm cứ vào ngày Thìn tháng Giêng âm lịch người dân tộc Giáy ở Tả Van (huyện Sa Pa - Lào Cai) lại mở hội Roòng Poọc để cầu cho mùa màng bội thu, người yên vật thịnh, cầu cho mưa thuận, gió hoà. Tuy vốn là một lễ hội dân tộc truyền thống của người Giáy ở Tả Van, nhưng nhiều năm nay đã lan rộng và trở thành lễ hội chung của cả một vùng thung lũng Mường Hoa.

Đặc sắc lễ hội Roòng Poọc của người Giáy ở Tả Van

Tại lễ hội, lễ vật trên bàn cúng bao gồm có: Đĩa bánh kẹo, hoa quả, 5 bát xôi màu đỏ, màu xanh, màu tím, phỏng gạo 4 bát, 2 nắm xôi trắng nắm ý nghĩa là vị thần mang theo trên đường đi. Bên cạnh có một bát nước bên trong có đồng xu tượng trưng cho sự sung túc về tiền bạc. Cạnh bát hương là 5 chén nước chè, 9 chén rượu và 9 quả trứng màu xanh, màu đỏ, màu trắng tượng trưng cho màu trang phục của 9 nàng theo hầu vị thần. Ngoài ra còn có trang sức dành cho các nàng hầu như vòng đeo tay, khuyên tai, vòng đeo cổ. Bên cạnh bát nước là một quả Còn để ném vòng nhật nguyệt. Một con lợn con, một con gà và con vịt sống để gầm bàn lễ khi nào già bản khấn cúng xong thì dâng lên vị thần (hiến tế) với ý nghĩa cảm ơn vị thần đã cho người dân bản được nhiều gia súc. Trên ghế của vị thần ngồi bên trái có gánh củi, ý nghĩa là trên đường đi vị thần và người hầu có củi để nấu ăn và để sưởi. Bên phải có gánh cỏ, ý nghĩa là để trên đường đi ngựa của vị thần có cỏ để ăn. Trên ghế ngồi của vị thần có trải chăn màu đỏ vì theo người dân tộc Giáy màu đỏ là màu may mắn. Một nghi thức trong lễ hội Roòng Poọc của người Giáy ở Tả Van Sau khi chuẩn bị các lễ vật xong thì thầy cúng khấn cúng, đọc tên các lễ vật và xin vị thần bản phù hộ cho dân bản một mùa bội thu, gia súc đầy chuồng và làm được của ăn của để. Lễ cúng xong thì thầy cúng sẽ đưa quả Còn cho những người già uy tín ở trong bản ném vòng Nhật Nguyệt được treo ở độ cao 30m. Trong ngày làm lễ cúng phải ném thủng vòng Nhật Nguyệt, vì người dân tộc Giáy quan niệm rằng nếu vòng Nhật Nguyệt không được ném thủng thì cả năm đó bản sẽ gặp phải đen đủi. Khi vòng Nhật Nguyệt được ném thủng thì từng gia đình đến bàn thờ chính để thắp hương vái lạy thần linh, cầu may mắn cho gia đình và cho làng bản. Lễ vật cho buổi lễ Tham gia lễ hội là tất cả già trẻ, lớn bé ở trong bản. Người dân tộc Giáy cũng rất cởi mở khi đón tiếp bạn bè các dân tộc anh em đến xem và đến chia vui. Sau phần lễ (cúng tế) sẽ đến phần hội. Nhiều những trò chơi dân gian diễn ra rất vui, trong đó đặc biệt là có cuộc thi tài cày ruộng của những chàng trai. Mở đầu đó là trò chơi ném còn. Những người cao tuổi (nam một bên và nữ một bên) lấy 6 quả còn cùng ném tượng trưng cho 3 lần khai mạc, rồi sau đó tất cả mọi người vào cuộc chơi. Những quả còn tua đỏ xanh vun vút lao lên phông còn.Tiếng xuýt xoa, tiếng hò reo cổ vũ rền vang. Phông còn bị ném thủng là báo hiệu cho một năm mùa màng tốt tươi. Cùng với ném còn là trò chơi kéo co. Tốp nam đứng ở phía đông cầm phần gốc dây song (dây kéo co).Tốp nữ đứng ở phía tây cầm phần ngọn. Hồi trống kèn nổi nên thúc giục.Bên nam (đằng đông tượng trưng cho dương, mặt trời) luôn kéo thắng. Bên nữ (tượng trưng cho âm) giả vờ thua. Và như vậy, năm đó cả làng sẽ được mùa. Trò chơi dân gian trong lễ hội Lễ hội Roòng Poọc (xuống đồng) của người dân tộc Giáy là sự giao hoà giữa thiên nhiên và con người, làm mỗi con người trong cộng đồng nơi đây biết trân trọng giá trị của lịch sử (ghi nhớ công lao của người mở đất lập bản), biết trân trọng thiên nhiên (tâm linh tôn trọng các thế lực siêu nhiên, biết yêu thương cỏ cây, tài nguyên đất và nước), biết yêu thương con người (giao lưu, đồng cảm và đoàn kết). Vì vậy, lễ hội này vừa có nét đẹp văn hoá cổ truyền, lại vừa phù hợp với điều kiện cuộc sống hiện đại mà ta vẫn kỳ vọng là sự phát triển bền vững. Ngoài ra, lễ hội còn thu hút rất nhiều những du khách trong và ngoài nước, là nguồn tài nguyên nhân văn để tiếp tục phát triển kinh tế du lịch nơi vùng đất huyền thoại Mường Hoa-Sa Pa. Theo Laodong.com.vn

Sau khi chuẩn bị các lễ vật xong thì thầy cúng khấn cúng, đọc tên các lễ vật và xin vị thần bản phù hộ cho dân bản một mùa bội thu, gia súc đầy chuồng và làm được của ăn của để.

Related Figures

Lễ hội đền Thượng

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/1 Âm lịch (lehoi.info)-Đền Thượng đó là nơi thờ Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo - vị tướng, người anh hùng dân tộc đã có công lao to lớn, lãnh đạo toàn dân và toàn quân Đại Việt 3 lần đánh thắng quân Mông Nguyên xâm luợc hồi thế kỷ XIII. Nhiều năm qua cứ “ đến hẹn lại lên” vào ngày rằm tháng Giêng hàng năm, đồng bào các dân tộc ở Lào Cai và trên cả nước lại nô nức hành hương về với thành phố Lào Cai - nơi đất thiêng ải Bắc để hoà mình vào bầu không khí sôi động của Lễ hội đền Thượng. Quang cảnh lễ hội Đền Thượng Phần lễ được cử hành rất trang nghiêm trong các đền chùa trên đồi Hoả Hiệu bao gồm có khai hội, rước kiệu vong linh, đọc văn tế và dâng hương. Nghi thức dâng hương của các đoàn đại biểu Trung ương, lãnh đạo tỉnh Lào Cai và lãnh đạo tỉnh bạn Vân Nam - Trung Quốc… được tổ chức long trọng ở tại đền Thượng. Đồng bào các dân tộc ở Lào Cai cũng như từ rất nhiều nơi khác đến với Lễ hội Đền Thượng dâng lễ đều có tâm nguyện cầu mong Đức Quốc Công Tiết Chế Trần Hưng Đạo cùng Tổ tiên Đại Việt… chứng giám cho tấm lòng thành của mình, phù hộ cho con cháu được khoẻ mạnh, hạnh phúc và thành đạt. Lễ hội Đền Thượng tại Lào Cai Phần hội diễn ra tưng bừng náo nhiệt với nhiều những trò chơi dân gian đặc sắc, vui nhộn như: múa rồng, múa lân, ném còn, kéo co, vật dân tộc, bắn nỏ, đẩy gậy, chọi gà, đu, cờ người… Lễ hội Đền Thượng thu hút đông đảo người dân tham dự Lễ hội Đền Thượng là một nét đẹp văn hóa của các dân tộc ở Lào Cai đã và đang được bảo lưu và phát triển. Khách đến không những được tỏ lòng thành kính với người anh hùng dân tộc, thăm quan vãn cảnh đền và cầu chúc cho năm mới may mắn tốt lành, mà còn được thưởng thức không khí vui tươi và nhộn nhịp của các hoạt động lễ hội. Hội xuân Đền Thượng chắc chắn sẽ tạo nên một ấn tượng tốt đẹp, góp phần quảng bá cho hình ảnh của du lịch Lào Cai là điểm đến của những du khách trong thiên niên kỷ mới.

(lehoi.info)-Đền Thượng đó là nơi thờ Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo - vị tướng, người anh hùng dân tộc đã có công lao to lớn, lãnh đạo toàn dân và toàn quân Đại Việt 3 lần đánh thắng quân Mông Nguyên xâm luợc hồi thế kỷ XIII. Nhiều năm qua cứ “ đến hẹn lại lên” vào ngày rằm tháng Giêng hàng năm, đồng bào các dân tộc ở Lào Cai và trên cả nước lại nô nức hành hương về với thành phố Lào Cai - nơi đất thiêng ải Bắc để hoà mình vào bầu không khí sôi động của Lễ hội đền Thượng.

Quang cảnh lễ hội Đền Thượng

Phần lễ được cử hành rất trang nghiêm trong các đền chùa trên đồi Hoả Hiệu bao gồm có khai hội, rước kiệu vong linh, đọc văn tế và dâng hương. Nghi thức dâng hương của các đoàn đại biểu Trung ương, lãnh đạo tỉnh Lào Cai và lãnh đạo tỉnh bạn Vân Nam - Trung Quốc… được tổ chức long trọng ở tại đền Thượng. Đồng bào các dân tộc ở Lào Cai cũng như từ rất nhiều nơi khác đến với Lễ hội Đền Thượng dâng lễ đều có tâm nguyện cầu mong Đức Quốc Công Tiết Chế Trần Hưng Đạo cùng Tổ tiên Đại Việt… chứng giám cho tấm lòng thành của mình, phù hộ cho con cháu được khoẻ mạnh, hạnh phúc và thành đạt. Lễ hội Đền Thượng tại Lào Cai Phần hội diễn ra tưng bừng náo nhiệt với nhiều những trò chơi dân gian đặc sắc, vui nhộn như: múa rồng, múa lân, ném còn, kéo co, vật dân tộc, bắn nỏ, đẩy gậy, chọi gà, đu, cờ người… Lễ hội Đền Thượng thu hút đông đảo người dân tham dự Lễ hội Đền Thượng là một nét đẹp văn hóa của các dân tộc ở Lào Cai đã và đang được bảo lưu và phát triển. Khách đến không những được tỏ lòng thành kính với người anh hùng dân tộc, thăm quan vãn cảnh đền và cầu chúc cho năm mới may mắn tốt lành, mà còn được thưởng thức không khí vui tươi và nhộn nhịp của các hoạt động lễ hội. Hội xuân Đền Thượng chắc chắn sẽ tạo nên một ấn tượng tốt đẹp, góp phần quảng bá cho hình ảnh của du lịch Lào Cai là điểm đến của những du khách trong thiên niên kỷ mới.

Related Figures

Lễ hội xuống đồng Bản Hồ

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 8/1 Âm lịch Lễ hội xuống đồng đầu xuân của đồng bào người dân tộc Tày, dân tộc Dao xã Bản Hồ- Sa Pa khai hội vào sáng ngày mùng 8 Tết đã thu hút được rất đông nhân dân địa phương và các du khách thập phương, có rất nhiều khách du lịch nước ngoài cũng đã đến dự vui và khám phá nét văn hoá đặc sắc của đồng bào vùng núi cao phía bắc. Lễ hội xuống đồng Bản Hồ tại lào Cai Phần lễ được bắt đầu từ tục rước đất và rước nước. Đoàn rước bao giờ cũng đi từ rất sớm, đi từ khi trời còn chưa rõ mặt người. Trong đoàn gồm có: thầy cúng, đội trống, đội khèn và 2 đôi nam nữ chưa vợ chưa chồng khiêng kiệu rước. Kiệu rước được trang trí rất sặc sỡ và có nhiều mầu theo biểu tượng âm dương ngũ hành. Đi đầu đoàn rước là ông thầy cúng, người được dân bản giao trách nhiệm là sứ giả để giao tiếp với thần linh, trên tay thầy có cầm cây nêu biểu tượng của sự sinh sôi và nảy nở. Đi sau là kiệu rước nước, nước được đựng ở trong 2 ống bương to 1 ống bố và 1 ống mẹ. Tiếp đến là kiệu rước đất, đất thiêng được lấy từ trên núi cao được gọi là đất mẹ. Sau đó là các mâm lễ để dâng lên các vị thần linh. Lễ vật gồm có 1 mâm quả còn (ở bên trong các quả còn có đựng các hạt giống), mâm xôi 7 màu, bánh dày ngũ sắc và thủ lợn, gà luộc và hoa quả... Đội chiêng đội trống đi 2 bên thầy cúng nổi chiêng trống để thầy cúng giao linh với thần linh. Khi đoàn rước về đến địa điểm làm lễ, ông thầy cúng sẽ ra hiệu cho đội nhạc lễ tấu lên 3 hồi kèn trống vang vọng cả núi rừng, trời đất, tiếp đó thầy cúng sẽ thực hiện nghi lề cúng. Thầy khấn và phun nước làm phép để xua đuổi ma quỉ và xua đuổi điều không may, rồi thầy tung lộc (là các hạt giống) của thần linh cho những người dân bản. Đặc sắc lễ hội xuống đồng Bản Hồ Phần hội được bắt đầu bằng những điệu múa và những tiết mục văn nghệ dân gian đặc sắc của người dân tộc Tày, người dân tộc Dao. Nhưng nổi bật nhất, vui nhất và nhiều người tham gia nhất là những màn xoè, khi tiếng kèn trống vang lên các cô gái người Tày mở đầu màn xoè với những động tác xoè rất duyên dáng, điệu nghệ để mời mọi người tham gia, vòng xoè cứ rộng mãi đi đều trong tiếng kèn, tiếng trống dập dìu. Điệu múa xòa trong lễ hội Khi các màn xoè kết thúc thì mọi người lại đổ tới khu chơi trò chơi. Các trò chơi ở đây đa số là những trò chơi dân gian. Đầu tiên đó là trò chơi ném còn, 2 đôi nam thanh nữ tú được vinh dự ném quả còn đầu tiên, sau đó tất cả mọi người sẽ đều được tham gia. Trò chơi ném còn được tiếp tục cho đến khi quả còn được một ai đó ném qua vòng. Tiếp theo là các trò chơi như kéo co, đẩy gậy, đánh bóng, đánh quay, bịt mắt bắt dê và leo cột mỡ... Trò chơi trong lễ hội Hội xuống đồng Bản Hồ- Sa Pa tiếp thêm sinh lực mới cho người dân trong sản xuất và trong xây dựng, gìn giữ bản sắc văn hoá. Theo lukhach24h

Lễ hội xuống đồng đầu xuân của đồng bào người dân tộc Tày, dân tộc Dao xã Bản Hồ- Sa Pa khai hội vào sáng ngày mùng 8 Tết đã thu hút được rất đông nhân dân địa phương và các du khách thập phương, có rất nhiều khách du lịch nước ngoài cũng đã đến dự vui và khám phá nét văn hoá đặc sắc của đồng bào vùng núi cao phía bắc.

Lễ hội xuống đồng Bản Hồ tại lào Cai

Phần lễ được bắt đầu từ tục rước đất và rước nước. Đoàn rước bao giờ cũng đi từ rất sớm, đi từ khi trời còn chưa rõ mặt người. Trong đoàn gồm có: thầy cúng, đội trống, đội khèn và 2 đôi nam nữ chưa vợ chưa chồng khiêng kiệu rước. Kiệu rước được trang trí rất sặc sỡ và có nhiều mầu theo biểu tượng âm dương ngũ hành. Đi đầu đoàn rước là ông thầy cúng, người được dân bản giao trách nhiệm là sứ giả để giao tiếp với thần linh, trên tay thầy có cầm cây nêu biểu tượng của sự sinh sôi và nảy nở. Đi sau là kiệu rước nước, nước được đựng ở trong 2 ống bương to 1 ống bố và 1 ống mẹ. Tiếp đến là kiệu rước đất, đất thiêng được lấy từ trên núi cao được gọi là đất mẹ. Sau đó là các mâm lễ để dâng lên các vị thần linh. Lễ vật gồm có 1 mâm quả còn (ở bên trong các quả còn có đựng các hạt giống), mâm xôi 7 màu, bánh dày ngũ sắc và thủ lợn, gà luộc và hoa quả... Đội chiêng đội trống đi 2 bên thầy cúng nổi chiêng trống để thầy cúng giao linh với thần linh. Khi đoàn rước về đến địa điểm làm lễ, ông thầy cúng sẽ ra hiệu cho đội nhạc lễ tấu lên 3 hồi kèn trống vang vọng cả núi rừng, trời đất, tiếp đó thầy cúng sẽ thực hiện nghi lề cúng. Thầy khấn và phun nước làm phép để xua đuổi ma quỉ và xua đuổi điều không may, rồi thầy tung lộc (là các hạt giống) của thần linh cho những người dân bản. Đặc sắc lễ hội xuống đồng Bản Hồ Phần hội được bắt đầu bằng những điệu múa và những tiết mục văn nghệ dân gian đặc sắc của người dân tộc Tày, người dân tộc Dao. Nhưng nổi bật nhất, vui nhất và nhiều người tham gia nhất là những màn xoè, khi tiếng kèn trống vang lên các cô gái người Tày mở đầu màn xoè với những động tác xoè rất duyên dáng, điệu nghệ để mời mọi người tham gia, vòng xoè cứ rộng mãi đi đều trong tiếng kèn, tiếng trống dập dìu. Điệu múa xòa trong lễ hội Khi các màn xoè kết thúc thì mọi người lại đổ tới khu chơi trò chơi. Các trò chơi ở đây đa số là những trò chơi dân gian. Đầu tiên đó là trò chơi ném còn, 2 đôi nam thanh nữ tú được vinh dự ném quả còn đầu tiên, sau đó tất cả mọi người sẽ đều được tham gia. Trò chơi ném còn được tiếp tục cho đến khi quả còn được một ai đó ném qua vòng. Tiếp theo là các trò chơi như kéo co, đẩy gậy, đánh bóng, đánh quay, bịt mắt bắt dê và leo cột mỡ... Trò chơi trong lễ hội Hội xuống đồng Bản Hồ- Sa Pa tiếp thêm sinh lực mới cho người dân trong sản xuất và trong xây dựng, gìn giữ bản sắc văn hoá. Theo lukhach24h

Related Figures

Lễ hội Gầu tào

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/1- 15/1 Âm lịch (lehoi.info) - Gầu tào là một lễ hội rất quan trọng của người dân tộc Hmông. Lễ hội mở ra nhằm một trong hai mục đích đó là cầu phúc hoặc cầu mệnh. Một gia chủ nào đó không có con, thưa con hoặc sinh con một bề, thì sẽ làm lễ để nhờ thày cúng bói xin cho mở hội Gầu tào nhằm cầu mong có con - đó là hội cầu phúc. Một gia chủ khác bị ốm đau bệnh tật, con cái yếu ớt, thậm chí có con bị chết, mùa màng, vật nuôi lụi dần, thì cũng nhờ thầy cúng bói xin mở hội Gầu tào - đó là hội cầu mệnh. Thời gian mở hội thường trong khoảng từ ngày mùng 1 đến ngày 15 tháng giêng. Nếu hội được tổ chức 3 năm liền thì mỗi năm tổ chức 3 ngày liền, còn nếu hội làm gộp một năm thì sẽ tổ chức 9 ngày. Lễ hội Gầu tào Ngay từ cuối tháng chạp, khi đã được thầy cúng bói xin mở hội, gia đình mở hội cầu phúc phải nhờ anh trai, chị dâu (những người đã có con cả trai, cả gái) chặt một cây mai cao to, không bị cụt ngọn và ngọn dài có lá về để dựng nêu. Riêng gia chủ cầu mệnh, mong mọi người trong gia đình đều được khỏe mạnh xin đuổi hết bệnh tật ốm đau, làm ăn tấn tới thì phải cử 2 người thanh niên khỏe mạnh ở trong dòng họ chặt cây mai về để dựng nêu. Lễ dựng nêu sẽ được tổ chức từ ngày 26 đến ngày 29 tết. Địa điểm trồng cây nêu (cũng là địa điểm mở hội) là một quả đồi gần đường đi và tương đối bằng phẳng, đánh bớt gốc cây, dọn sạch các bụi cây lúp xúp. Cây nêu được chôn ở ngay trên đỉnh đồi. Nếu lễ hội được chia làm 3 năm (tổ chức suốt 3 năm liền) thì mỗi một năm chỉ dựng một cây nêu bằng cây mai. Nhưng nếu lễ hội chỉ tổ chức gộp 1 lần thì phải chôn dựng 3 cây nêu theo hình tam giác cân ở giữa đỉnh đồi. Trên gần ngọn nêu treo 3 miếng vải lanh màu trắng, đen và đỏ khác nhau. Ở Pha Long (Mường Khương) chỉ treo 1 miếng vải đỏ và 1 dải vải đen. Ở Sa Pa lại chỉ treo 1 dải vải đỏ. Phía dưới sợi vải, treo lủng lẳng 1 bầu rượu ngon và một dây tiền giấy làm bằng giấy bản. Khi dựng xong cây nêu, gia chủ còn làm lễ cúng ở ngay chân cột nêu mời tổ tiên và các thần phù hộ cho có con, mọi thành viên đều khỏe mạnh, bằng an kế tục việc làm ăn, làm mặc theo dòng họ. Khi cây nêu được dựng lên, thì các làng gần, làng xa biết rằng tết năm nay sẽ mở hội Gầu tào. Mọi người nô nức chuẩn bị để dự hội. Đặc sắc lễ hội Gầu tào Ở Sa Pa, sáng ngày mùng 1 tết làm lễ mở hội. ở Mường Khương thì mở hội vào ngày mùng 3 tết. Sau phần cúng khai hội của thầy cúng, mọi người cùng tham gia các cuộc thi các trò chơi. Sáng sớm của ngày khai hội, mọi người sẽ tụ tập đến bãi mở hội. Khắp bãi đã dựng thêm rất nhiều lều lợp lá cây cho người già ăn uống và chúc tụng. Bãi bằng nhất được dọn ra để cho trẻ em đánh quay. Những dây ống hát được chăng lên khắp triền đồi. Nơi bắn nỏ, bắn cung, sân múa khèn, đường đua ngựa cũng được qui định và bài trí khá đơn giản. Mỗi sân bãi đều đã cắt cử một người quán xử (chủ sự). Gia chủ chính là người có quyền tối cao thống lĩnh toàn hội. Bên cạnh gia chủ, sẽ có 2 đến 3 trung niên hay ông già thạo đường ăn nói sẽ thay mặt cho gia chủ giải quyết mọi sự. Nếu gia chủ là người ít nói năng, chậm chạp thì có thể nhờ và ủy quyền cho một người khác thay mặt mình. Ngoài ra cần phải có xừ quan (quản lý) chăm lo việc ăn uống, có hấu pầu tờ (quản củi đuốc), hấu pầu giê (trông nom xay giã dần sàng) cùng với xừ quan. Tại đây khi làm những thủ tục lễ bái, hầu hết là đều dùng những từ hoa mỹ (pàng lỳ) thanh cao, những câu ví mỹ miều và những câu tục ngữ (lù txà) khoa trương. Ngày nay rất ít người biết hết những câu, từ, bài được sử dụng trong hội. Khách ngoài họ và khách đường xa đến, người thì ống gạo, người thì thồ ngô, người thì hũ rượu, người lại xách đôi gà, ai mang đến đều phải vào làm lễ cầu chúc cho mọi người yên vui khang đường, tiếp nữa là cầu chúc cho mùa màng bội thu, lợn gà đầy chuồng, đầy sân. Chủ nhà sẽ nói lời cảm tạ và biết ơn ghi sâu lòng hiếu thảo hào phóng của khách. Phần hội sôi nổi với rất nhiều các trò chơi như : Thi bắn cung nỏ, đu quay, đánh quay, đánh yến, nhảy ngựa, đánh cầu, hát gầu plềnh, múa khèn, hát tình ca… mỗi một trò tổ chức theo từng khu riêng, khách gần khách xa, người già, người trẻ ai thích chơi trò gì thì làm đến sân ấy. Đám hội nào cũng nườm nượp. Đêm đến, khách xa và người cao tuổi được mời về nhà gia chủ. Tại bãi hội, những đống lửa được đốt lên và mọi người tiếp tục cuộc vui. Ngày đầu tiên, sau khi làm lễ khai hội, nếu nhà thày mo ở gần thì mọi người sẽ kéo vào nhà thày làm lễ nhảy (đha thàng). Đám nhảy đồng thời cũng sẽ tiếp diễn cho đến khi hết hội. Những năm không có hội, mọi người vẫn kéo đến nhà thày mo để cùng nhảy đồng (nhảy tập thể tốp nam hoặc tốp nữ). Lễ hội Gầu tào thu hút đông đảo người dân tham gia Hết thời hạn hội, gia chủ sẽ làm lễ kết thúc và cây nêu được hạ xuống. Thày mo đốt thẻ giấy và hốt than cho vào gáo nước, vừa đi vừa cầu khấn. Sau mỗi đoạn khấn vái, thày lại hấp một ngụm nước để phun ra xung quanh. Gia chủ cầm bầu rượu hạ từ trên cây nêu đi theo sau thày mo và cũng hẩy rượu ra khắp nơi. Mảnh vải đỏ thì mang về treo ở trong nhà cầu mong hồng phúc đời đời. Trường hợp nếu là hội cầu phúc, ông chủ hội sẽ chọn một đôi trai gái, một đôi nam nữ đứng tuổi đông con và họ hàng rước nêu về gia chủ gác ở đằng sau nhà hoặc làm giát giường mong cho sớm có con. Nếu mở hội cầu mệnh thì sẽ rước cây nêu đến gác ở chỗ vách đá khô ráo.

(lehoi.info) - Gầu tào là một lễ hội rất quan trọng của người dân tộc Hmông. Lễ hội mở ra nhằm một trong hai mục đích đó là cầu phúc hoặc cầu mệnh. Một gia chủ nào đó không có con, thưa con hoặc sinh con một bề, thì sẽ làm lễ để nhờ thày cúng bói xin cho mở hội Gầu tào nhằm cầu mong có con - đó là hội cầu phúc. Một gia chủ khác bị ốm đau bệnh tật, con cái yếu ớt, thậm chí có con bị chết, mùa màng, vật nuôi lụi dần, thì cũng nhờ thầy cúng bói xin mở hội Gầu tào - đó là hội cầu mệnh. Thời gian mở hội thường trong khoảng từ ngày mùng 1 đến ngày 15 tháng giêng. Nếu hội được tổ chức 3 năm liền thì mỗi năm tổ chức 3 ngày liền, còn nếu hội làm gộp một năm thì sẽ tổ chức 9 ngày.

Lễ hội Gầu tào

Ngay từ cuối tháng chạp, khi đã được thầy cúng bói xin mở hội, gia đình mở hội cầu phúc phải nhờ anh trai, chị dâu (những người đã có con cả trai, cả gái) chặt một cây mai cao to, không bị cụt ngọn và ngọn dài có lá về để dựng nêu. Riêng gia chủ cầu mệnh, mong mọi người trong gia đình đều được khỏe mạnh xin đuổi hết bệnh tật ốm đau, làm ăn tấn tới thì phải cử 2 người thanh niên khỏe mạnh ở trong dòng họ chặt cây mai về để dựng nêu. Lễ dựng nêu sẽ được tổ chức từ ngày 26 đến ngày 29 tết. Địa điểm trồng cây nêu (cũng là địa điểm mở hội) là một quả đồi gần đường đi và tương đối bằng phẳng, đánh bớt gốc cây, dọn sạch các bụi cây lúp xúp. Cây nêu được chôn ở ngay trên đỉnh đồi. Nếu lễ hội được chia làm 3 năm (tổ chức suốt 3 năm liền) thì mỗi một năm chỉ dựng một cây nêu bằng cây mai. Nhưng nếu lễ hội chỉ tổ chức gộp 1 lần thì phải chôn dựng 3 cây nêu theo hình tam giác cân ở giữa đỉnh đồi. Trên gần ngọn nêu treo 3 miếng vải lanh màu trắng, đen và đỏ khác nhau. Ở Pha Long (Mường Khương) chỉ treo 1 miếng vải đỏ và 1 dải vải đen. Ở Sa Pa lại chỉ treo 1 dải vải đỏ. Phía dưới sợi vải, treo lủng lẳng 1 bầu rượu ngon và một dây tiền giấy làm bằng giấy bản. Khi dựng xong cây nêu, gia chủ còn làm lễ cúng ở ngay chân cột nêu mời tổ tiên và các thần phù hộ cho có con, mọi thành viên đều khỏe mạnh, bằng an kế tục việc làm ăn, làm mặc theo dòng họ. Khi cây nêu được dựng lên, thì các làng gần, làng xa biết rằng tết năm nay sẽ mở hội Gầu tào. Mọi người nô nức chuẩn bị để dự hội. Đặc sắc lễ hội Gầu tào Ở Sa Pa, sáng ngày mùng 1 tết làm lễ mở hội. ở Mường Khương thì mở hội vào ngày mùng 3 tết. Sau phần cúng khai hội của thầy cúng, mọi người cùng tham gia các cuộc thi các trò chơi. Sáng sớm của ngày khai hội, mọi người sẽ tụ tập đến bãi mở hội. Khắp bãi đã dựng thêm rất nhiều lều lợp lá cây cho người già ăn uống và chúc tụng. Bãi bằng nhất được dọn ra để cho trẻ em đánh quay. Những dây ống hát được chăng lên khắp triền đồi. Nơi bắn nỏ, bắn cung, sân múa khèn, đường đua ngựa cũng được qui định và bài trí khá đơn giản. Mỗi sân bãi đều đã cắt cử một người quán xử (chủ sự). Gia chủ chính là người có quyền tối cao thống lĩnh toàn hội. Bên cạnh gia chủ, sẽ có 2 đến 3 trung niên hay ông già thạo đường ăn nói sẽ thay mặt cho gia chủ giải quyết mọi sự. Nếu gia chủ là người ít nói năng, chậm chạp thì có thể nhờ và ủy quyền cho một người khác thay mặt mình. Ngoài ra cần phải có xừ quan (quản lý) chăm lo việc ăn uống, có hấu pầu tờ (quản củi đuốc), hấu pầu giê (trông nom xay giã dần sàng) cùng với xừ quan. Tại đây khi làm những thủ tục lễ bái, hầu hết là đều dùng những từ hoa mỹ (pàng lỳ) thanh cao, những câu ví mỹ miều và những câu tục ngữ (lù txà) khoa trương. Ngày nay rất ít người biết hết những câu, từ, bài được sử dụng trong hội. Khách ngoài họ và khách đường xa đến, người thì ống gạo, người thì thồ ngô, người thì hũ rượu, người lại xách đôi gà, ai mang đến đều phải vào làm lễ cầu chúc cho mọi người yên vui khang đường, tiếp nữa là cầu chúc cho mùa màng bội thu, lợn gà đầy chuồng, đầy sân. Chủ nhà sẽ nói lời cảm tạ và biết ơn ghi sâu lòng hiếu thảo hào phóng của khách. Phần hội sôi nổi với rất nhiều các trò chơi như : Thi bắn cung nỏ, đu quay, đánh quay, đánh yến, nhảy ngựa, đánh cầu, hát gầu plềnh, múa khèn, hát tình ca… mỗi một trò tổ chức theo từng khu riêng, khách gần khách xa, người già, người trẻ ai thích chơi trò gì thì làm đến sân ấy. Đám hội nào cũng nườm nượp. Đêm đến, khách xa và người cao tuổi được mời về nhà gia chủ. Tại bãi hội, những đống lửa được đốt lên và mọi người tiếp tục cuộc vui. Ngày đầu tiên, sau khi làm lễ khai hội, nếu nhà thày mo ở gần thì mọi người sẽ kéo vào nhà thày làm lễ nhảy (đha thàng). Đám nhảy đồng thời cũng sẽ tiếp diễn cho đến khi hết hội. Những năm không có hội, mọi người vẫn kéo đến nhà thày mo để cùng nhảy đồng (nhảy tập thể tốp nam hoặc tốp nữ). Lễ hội Gầu tào thu hút đông đảo người dân tham gia Hết thời hạn hội, gia chủ sẽ làm lễ kết thúc và cây nêu được hạ xuống. Thày mo đốt thẻ giấy và hốt than cho vào gáo nước, vừa đi vừa cầu khấn. Sau mỗi đoạn khấn vái, thày lại hấp một ngụm nước để phun ra xung quanh. Gia chủ cầm bầu rượu hạ từ trên cây nêu đi theo sau thày mo và cũng hẩy rượu ra khắp nơi. Mảnh vải đỏ thì mang về treo ở trong nhà cầu mong hồng phúc đời đời. Trường hợp nếu là hội cầu phúc, ông chủ hội sẽ chọn một đôi trai gái, một đôi nam nữ đứng tuổi đông con và họ hàng rước nêu về gia chủ gác ở đằng sau nhà hoặc làm giát giường mong cho sớm có con. Nếu mở hội cầu mệnh thì sẽ rước cây nêu đến gác ở chỗ vách đá khô ráo.

Related Figures

Lễ Tết nhảy

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/1- 2/1 Âm lịch Tết nhảy là một lễ hội quan trọng và được chuẩn bị khá công phu của người dân tộc Dao ở Tả Van. Khoảng cuối giờ Thìn, đầu giờ Tỵ ngày mùng 1 và ngày mùng 2 Tết âm lịch hằng năm, lễ hội Tết nhảy - một hình thức sinh hoạt văn hóa độc đáo của người dân tộc Dao đỏ - sẽ được tổ chức duy nhất ở tại nhà ông trưởng họ bản Tà Phìn, Sapa, Lào Cai. Lễ Tết nhảy của người Dao đỏ Ban đầu, một tốp nam thanh niên "sài cỏ" theo sự hướng dẫn của ông thầy cả "chái peng pi" tổ chức 14 điệu nhảy dẫn đường, bắc cầu đưa đón tổ tiên và thần linh về "ăn" Tết. Để chào bố mẹ và tổ tiên đã khuất, điệu nhảy chỉ được thực hiện bằng một chân, đầu cúi và ngón tay trỏ giơ cao; Để mời tiên nương, mời tiểu nữ giáng trần, điệu nhảy được diễn tả bằng múa cò "pẹ họ", mô phỏng cảnh chim cò sải cánh bay xa, rồi dáo dác tìm chỗ để đậu lại; Điệu nhảy mời thần linh "ăn" Tết được diễn tả bằng nhịp bước khoan thai và uy lực của loài hổ... Các điệu múa mang tính hình tượng cao và rất độc đáo. Không biết có từ bao giờ, nhưng đêm của những vũ điệu vẫn được người dân tộc Dao đỏ ở Tà Phìn lưu giữ cho tới ngày nay, và coi đó như một sinh hoạt văn hóa không thể thiếu trong những ngày đất trời vào xuân. Tốp nam thanh niên Dao Đỏ nhảy theo sự hướng dẫn của thầy cả Kết thúc các điệu nhảy mở đường, đón chào tổ tiên, đón chào thần linh, cả dòng họ sẽ tiến hành điệu nhảy rước tượng tổ tiên. Tượng tổ tiên được làm bằng gỗ tốt, là tác phẩm điêu khắc độc đáo của người dân tộc Dao đỏ. Tượng được chạm khắc rất đẹp với nét hoa văn trang phục thời cổ xưa, dài khoảng 25 cm, đường kính thân khoảng 5 cm, bàn tay phải của tượng có cầm thẻ bài ghi rõ tên của ông tổ. Ngày thường trong cả năm, tượng được bọc kín bằng vải màu trắng. Đến ngày Tết, con cháu rước tượng xuống để làm lễ tắm gội và thay khăn choàng mới. Nước tắm cho tượng cũng được làm từ lá thơm qua một quy trình chưng cất nghiêm ngặt, thể hiện đậm nét văn hóa tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của con người Việt Nam. Sau lễ tắm gội cho tượng tổ tiên, con cháu tổ chức các điệu nhảy dâng gà, dâng xôi và dâng lễ vật. Thầy cả và 3 thanh niên tay cầm một con gà trống sống, nhảy theo điệu dâng gà, có động tác rước gà lên đầu, có cả động tác vác gà qua hai vai, rồi vừa nhảy múa vừa vặt đầu gà để làm thịt... Kết thúc là điệu nhảy múa cờ. Độc đáo lễ Tết nhảy tại Lào Cai Tết nhảy của người dân tộc Dao đỏ ở Tà Phìn diễn ra từ cuối giờ Thìn đến giờ Dậu (khoảng 5 tiếng đồng hồ) và mang tính tổng hợp khá đầy đủ các loại hình nghệ thuật dân gian khác của dân tộc Dao đỏ, như nghệ thuật nhảy múa, âm nhạc và ngôn ngữ ... Trong Tết nhảy, người dân tộc Dao đỏ còn hát các điệu hát nói về công lao của đấng tổ tiên, sự tích dòng họ, các sinh hoạt cấy trồng, dệt vải và săn bắn...

Tết nhảy là một lễ hội quan trọng và được chuẩn bị khá công phu của người dân tộc Dao ở Tả Van. Khoảng cuối giờ Thìn, đầu giờ Tỵ ngày mùng 1 và ngày mùng 2 Tết âm lịch hằng năm, lễ hội Tết nhảy - một hình thức sinh hoạt văn hóa độc đáo của người dân tộc Dao đỏ - sẽ được tổ chức duy nhất ở tại nhà ông trưởng họ bản Tà Phìn, Sapa, Lào Cai.

Lễ Tết nhảy của người Dao đỏ

Ban đầu, một tốp nam thanh niên "sài cỏ" theo sự hướng dẫn của ông thầy cả "chái peng pi" tổ chức 14 điệu nhảy dẫn đường, bắc cầu đưa đón tổ tiên và thần linh về "ăn" Tết. Để chào bố mẹ và tổ tiên đã khuất, điệu nhảy chỉ được thực hiện bằng một chân, đầu cúi và ngón tay trỏ giơ cao; Để mời tiên nương, mời tiểu nữ giáng trần, điệu nhảy được diễn tả bằng múa cò "pẹ họ", mô phỏng cảnh chim cò sải cánh bay xa, rồi dáo dác tìm chỗ để đậu lại; Điệu nhảy mời thần linh "ăn" Tết được diễn tả bằng nhịp bước khoan thai và uy lực của loài hổ... Các điệu múa mang tính hình tượng cao và rất độc đáo. Không biết có từ bao giờ, nhưng đêm của những vũ điệu vẫn được người dân tộc Dao đỏ ở Tà Phìn lưu giữ cho tới ngày nay, và coi đó như một sinh hoạt văn hóa không thể thiếu trong những ngày đất trời vào xuân. Tốp nam thanh niên Dao Đỏ nhảy theo sự hướng dẫn của thầy cả Kết thúc các điệu nhảy mở đường, đón chào tổ tiên, đón chào thần linh, cả dòng họ sẽ tiến hành điệu nhảy rước tượng tổ tiên. Tượng tổ tiên được làm bằng gỗ tốt, là tác phẩm điêu khắc độc đáo của người dân tộc Dao đỏ. Tượng được chạm khắc rất đẹp với nét hoa văn trang phục thời cổ xưa, dài khoảng 25 cm, đường kính thân khoảng 5 cm, bàn tay phải của tượng có cầm thẻ bài ghi rõ tên của ông tổ. Ngày thường trong cả năm, tượng được bọc kín bằng vải màu trắng. Đến ngày Tết, con cháu rước tượng xuống để làm lễ tắm gội và thay khăn choàng mới. Nước tắm cho tượng cũng được làm từ lá thơm qua một quy trình chưng cất nghiêm ngặt, thể hiện đậm nét văn hóa tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của con người Việt Nam. Sau lễ tắm gội cho tượng tổ tiên, con cháu tổ chức các điệu nhảy dâng gà, dâng xôi và dâng lễ vật. Thầy cả và 3 thanh niên tay cầm một con gà trống sống, nhảy theo điệu dâng gà, có động tác rước gà lên đầu, có cả động tác vác gà qua hai vai, rồi vừa nhảy múa vừa vặt đầu gà để làm thịt... Kết thúc là điệu nhảy múa cờ. Độc đáo lễ Tết nhảy tại Lào Cai Tết nhảy của người dân tộc Dao đỏ ở Tà Phìn diễn ra từ cuối giờ Thìn đến giờ Dậu (khoảng 5 tiếng đồng hồ) và mang tính tổng hợp khá đầy đủ các loại hình nghệ thuật dân gian khác của dân tộc Dao đỏ, như nghệ thuật nhảy múa, âm nhạc và ngôn ngữ ... Trong Tết nhảy, người dân tộc Dao đỏ còn hát các điệu hát nói về công lao của đấng tổ tiên, sự tích dòng họ, các sinh hoạt cấy trồng, dệt vải và săn bắn...

Related Figures

Lễ hội trùm chăn của người Hà Nhì

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/6- 30/6 Âm lịch Lễ hội trùm chăn là một lễ hội đặc sắc của người dân Hà Nhì, Bát Xát, Lào Cai. Đó là lễ hội cúng thần gió, cúng thần đất, hay còn gọi là K'Hô Igià Igià. Lễ hội được tổ chức vào tháng 6 âm lịch hàng năm trong vòng 3 ngày, ngày Thìn là ngày khai hội. Lễ hội trùm chăn của người Hà Nhì ở Lào Cai Lễ hội này được người dân Hà Nhì đen tổ chức tại 2 địa điểm: Địa điểm thứ nhất: lễ hội sẽ được tổ chức ở nhà và gia chủ sẽ phải chuẩn bị đồ cúng, bao gồm có: năm cái bánh dày, một bát thịt trâu luộc, một bát nước gừng pha nước và bốn cái bát con úp xuống đất trước bàn thờ (theo phong tục ở đây, các món đồ cúng sẽ do gia chủ - do người vợ chế biến; nếu người vợ đi vắng thì phải do con gái cả làm và dù con gái cả đã đi lấy chồng rồi cũng vẫn phải về để giúp đỡ cho gia đình lúc này); sau khi đồ cúng đã được chuẩn bị xong, gia chủ sẽ cúng đầu tiên, tiếp đó là tới các con - lần lượt từ người con trai út cho đến người con trai cả vào lễ. Kết thúc lễ tạ, chủ nhà sẽ lấy bát nước gừng chia cho mỗi người trong gia đình uống một ngụm, ăn một ít thịt trâu luộc để hưởng lộc; bánh dày và gừng rượu được dành cho ông Táo và được đặt ở bếp. Địa điểm thứ 2: lễ hội được tổ chức ở tại rừng cấm - nằm tại trung tâm bản mà ngày thường không ai được phép vào. Ở trong khu rừng này có rất nhiều cây gỗ quí lâu năm được mọi người cùng nhau gìn giữ và có một ngôi nhà nhỏ bằng gỗ quý, mái lợp gianh, rộng hơn chục m² do dân bản dựng để cho người già và cho con trẻ ngồi khi tham dự lễ hội. Lễ cúng được tiến hành vào ban đêm (vì làm như thế, các thần gió và thần đất sẽ được nghỉ ngơi yên tĩnh). Thầy cúng không nhất thiết phải là một người chuyên nghiệp, chỉ cần là người 50 tuổi trở lên và không gặp phải điều rủi nào trong năm là được. Sau khi cúng, tất cả mọi người đều được mời ăn các lễ vật cúng và phải ăn cho hết, không được mang về. Đặc sắc lễ hội trùm chăn của người Hà Nhì Ngày hôm sau thì không khí lễ hội tưng bừng hơn: trai, gái trong bản rủ nhau vào rừng, mỗi người sẽ lấy 6 cành củi nhỏ về nộp cho lễ hội. Đến ngày thứ 3, tất cả dân bản tập trung lại để già làng - người cao tuổi nhất, cắt da trâu để chia cho từng gia đình. Nếu số da trâu chia đủ cho mỗi gia đình 2 chiếc thì năm đó làm ăn sẽ không thuận, còn số da trâu đã chia hết mà lại còn lẻ một, thì tức là năm đó dân bản được mùa. Tại điểm trung tâm của lễ hội, già làng sẽ đánh đàn hoóttờơ, bà già nhảy múa còn các thanh niên nam nữ hát đối nhau. Cùng với những điệu múa, trong ngày hội còn có một số những trò chơi như: trò đu dây, đu quay và hát giao duyên... đây là dịp để trai gái trong bản gặp gỡ nhau và tìm hiểu nhau. Bên cạnh các nghi thức tín ngưỡng và những trò chơi dân gian phổ biến, lễ hội còn có một phong tục rất lạ mắt và hết sức độc đáo, đó là tục trùm chăn. Trước khi đi hội “Khô già già”, bao giờ các chàng trai chưa vợ cũng phải đem theo 1 cái chăn chiên mới. Gần tới nơi, họ giấu cái chăn ấy ở một hốc đá, bụi cây hoặc có khi là ở... trong áo. Tại lễ hội, các chàng trai tham gia một cách hào hứng, chủ động, đặc biệt với các trò chơi đòi hỏi phải thể hiện hết năng lực và bản lĩnh người đàn ông. Mục đích của họ là nhằm thu hút sự chú ý của “phái đẹp”. Qua ánh mắt của các cô gái, sự nhạy cảm của tuổi đang yêu sẽ “mách” cho các chàng trai biết rằng cô gái nào có cảm tình với mình và cảm tình ở mức nào. Vào một thời điểm thích hợp, chàng trai lặng lẽ tách khỏi cuộc chơi chung và tìm cách tiếp cận người đẹp. Những lời hỏi han, mời mọc, bông đùa và dĩ nhiên cả lời ướm thử, được các chàng trai thực hiện với mục đích thăm dò và xem phản ứng của “đối tác” ra sao. Khi “cá đã cắn câu”, chàng trai tiến thêm một bước táo bạo hơn, đó là nắm lấy tay cô gái và... lôi đi. Dĩ nhiên là cô gái sẽ chống cự, nhưng là sự chống cự cho “phải phép”; tay có vẻ nhùng nhằng nhưng miệng thì cười quyến rũ và chân thì lại... bước theo người ta. Chàng trai lập tức lấy cái chăn mà mình đã giấu sẵn, trùm lên đầu của cô gái, rồi dẫn cô gái ra bìa rừng, bờ suối hoặc chỗ nào đó và 2 người ngồi bên nhau tâm sự. Qua tâm sự, nếu họ cảm thấy không thể tiếp tục tình yêu được, thì họ sẽ chia tay và không bao giờ lặp lại chuyện trùm chăn nữa. Trường hợp cả 2 bên đều hài lòng về nhau, thì đợi tới lúc gần sáng chàng trai sẽ vác cô gái về và “giấu” ở nhà mình. Sau đó ít ngày, nhà trai sẽ cử người sang nhà gái mối mai, xin với nhà gái cho đôi trẻ được tự do tìm hiểu trên quan điểm đi đến hôn nhân. Trùm chăn, thực ra là bước đầu tiên của tục “cướp vợ”, tương tự như tục “cướp vợ” của người dân tộc Mông. Song chính động tác trùm chăn đã tạo nên sự khác biệt, độc đáo, phản ánh một nét văn hoá hôn nhân của người dân tộc Hà Nhì, so với các dân tộc anh em nói chung và dân tộc Mông nói riêng. Quang cảnh lễ hội trùm chăn của người Hà Nhì Hiện nay ở nhiều vùng người dân tộc Hà Nhì, tục trùm chăn vẫn còn duy trì ở trong cuộc sống đời thường, đặc biệt tại các lễ hội hoặc liên hoan văn hoá các dân tộc ít người. Đó là một nét văn hoá truyền thống mang bản sắc Hà Nhì, rất chung mà lại rất riêng...

Lễ hội trùm chăn là một lễ hội đặc sắc của người dân Hà Nhì, Bát Xát, Lào Cai. Đó là lễ hội cúng thần gió, cúng thần đất, hay còn gọi là K'Hô Igià Igià. Lễ hội được tổ chức vào tháng 6 âm lịch hàng năm trong vòng 3 ngày, ngày Thìn là ngày khai hội.

Lễ hội trùm chăn của người Hà Nhì ở Lào Cai

Lễ hội này được người dân Hà Nhì đen tổ chức tại 2 địa điểm: Địa điểm thứ nhất: lễ hội sẽ được tổ chức ở nhà và gia chủ sẽ phải chuẩn bị đồ cúng, bao gồm có: năm cái bánh dày, một bát thịt trâu luộc, một bát nước gừng pha nước và bốn cái bát con úp xuống đất trước bàn thờ (theo phong tục ở đây, các món đồ cúng sẽ do gia chủ - do người vợ chế biến; nếu người vợ đi vắng thì phải do con gái cả làm và dù con gái cả đã đi lấy chồng rồi cũng vẫn phải về để giúp đỡ cho gia đình lúc này); sau khi đồ cúng đã được chuẩn bị xong, gia chủ sẽ cúng đầu tiên, tiếp đó là tới các con - lần lượt từ người con trai út cho đến người con trai cả vào lễ. Kết thúc lễ tạ, chủ nhà sẽ lấy bát nước gừng chia cho mỗi người trong gia đình uống một ngụm, ăn một ít thịt trâu luộc để hưởng lộc; bánh dày và gừng rượu được dành cho ông Táo và được đặt ở bếp. Địa điểm thứ 2: lễ hội được tổ chức ở tại rừng cấm - nằm tại trung tâm bản mà ngày thường không ai được phép vào. Ở trong khu rừng này có rất nhiều cây gỗ quí lâu năm được mọi người cùng nhau gìn giữ và có một ngôi nhà nhỏ bằng gỗ quý, mái lợp gianh, rộng hơn chục m² do dân bản dựng để cho người già và cho con trẻ ngồi khi tham dự lễ hội. Lễ cúng được tiến hành vào ban đêm (vì làm như thế, các thần gió và thần đất sẽ được nghỉ ngơi yên tĩnh). Thầy cúng không nhất thiết phải là một người chuyên nghiệp, chỉ cần là người 50 tuổi trở lên và không gặp phải điều rủi nào trong năm là được. Sau khi cúng, tất cả mọi người đều được mời ăn các lễ vật cúng và phải ăn cho hết, không được mang về. Đặc sắc lễ hội trùm chăn của người Hà Nhì Ngày hôm sau thì không khí lễ hội tưng bừng hơn: trai, gái trong bản rủ nhau vào rừng, mỗi người sẽ lấy 6 cành củi nhỏ về nộp cho lễ hội. Đến ngày thứ 3, tất cả dân bản tập trung lại để già làng - người cao tuổi nhất, cắt da trâu để chia cho từng gia đình. Nếu số da trâu chia đủ cho mỗi gia đình 2 chiếc thì năm đó làm ăn sẽ không thuận, còn số da trâu đã chia hết mà lại còn lẻ một, thì tức là năm đó dân bản được mùa. Tại điểm trung tâm của lễ hội, già làng sẽ đánh đàn hoóttờơ, bà già nhảy múa còn các thanh niên nam nữ hát đối nhau. Cùng với những điệu múa, trong ngày hội còn có một số những trò chơi như: trò đu dây, đu quay và hát giao duyên... đây là dịp để trai gái trong bản gặp gỡ nhau và tìm hiểu nhau. Bên cạnh các nghi thức tín ngưỡng và những trò chơi dân gian phổ biến, lễ hội còn có một phong tục rất lạ mắt và hết sức độc đáo, đó là tục trùm chăn. Trước khi đi hội “Khô già già”, bao giờ các chàng trai chưa vợ cũng phải đem theo 1 cái chăn chiên mới. Gần tới nơi, họ giấu cái chăn ấy ở một hốc đá, bụi cây hoặc có khi là ở... trong áo. Tại lễ hội, các chàng trai tham gia một cách hào hứng, chủ động, đặc biệt với các trò chơi đòi hỏi phải thể hiện hết năng lực và bản lĩnh người đàn ông. Mục đích của họ là nhằm thu hút sự chú ý của “phái đẹp”. Qua ánh mắt của các cô gái, sự nhạy cảm của tuổi đang yêu sẽ “mách” cho các chàng trai biết rằng cô gái nào có cảm tình với mình và cảm tình ở mức nào. Vào một thời điểm thích hợp, chàng trai lặng lẽ tách khỏi cuộc chơi chung và tìm cách tiếp cận người đẹp. Những lời hỏi han, mời mọc, bông đùa và dĩ nhiên cả lời ướm thử, được các chàng trai thực hiện với mục đích thăm dò và xem phản ứng của “đối tác” ra sao. Khi “cá đã cắn câu”, chàng trai tiến thêm một bước táo bạo hơn, đó là nắm lấy tay cô gái và... lôi đi. Dĩ nhiên là cô gái sẽ chống cự, nhưng là sự chống cự cho “phải phép”; tay có vẻ nhùng nhằng nhưng miệng thì cười quyến rũ và chân thì lại... bước theo người ta. Chàng trai lập tức lấy cái chăn mà mình đã giấu sẵn, trùm lên đầu của cô gái, rồi dẫn cô gái ra bìa rừng, bờ suối hoặc chỗ nào đó và 2 người ngồi bên nhau tâm sự. Qua tâm sự, nếu họ cảm thấy không thể tiếp tục tình yêu được, thì họ sẽ chia tay và không bao giờ lặp lại chuyện trùm chăn nữa. Trường hợp cả 2 bên đều hài lòng về nhau, thì đợi tới lúc gần sáng chàng trai sẽ vác cô gái về và “giấu” ở nhà mình. Sau đó ít ngày, nhà trai sẽ cử người sang nhà gái mối mai, xin với nhà gái cho đôi trẻ được tự do tìm hiểu trên quan điểm đi đến hôn nhân. Trùm chăn, thực ra là bước đầu tiên của tục “cướp vợ”, tương tự như tục “cướp vợ” của người dân tộc Mông. Song chính động tác trùm chăn đã tạo nên sự khác biệt, độc đáo, phản ánh một nét văn hoá hôn nhân của người dân tộc Hà Nhì, so với các dân tộc anh em nói chung và dân tộc Mông nói riêng. Quang cảnh lễ hội trùm chăn của người Hà Nhì Hiện nay ở nhiều vùng người dân tộc Hà Nhì, tục trùm chăn vẫn còn duy trì ở trong cuộc sống đời thường, đặc biệt tại các lễ hội hoặc liên hoan văn hoá các dân tộc ít người. Đó là một nét văn hoá truyền thống mang bản sắc Hà Nhì, rất chung mà lại rất riêng...

Related Figures

Lễ hội đền Bắc Hà

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 7/7 Âm lịch (lehoi.info) - Lễ hội đền Bắc Hà được tổ chức vào ngày mùng 7 tháng 7 âm lịch hàng năm, tại đền Bắc Hà, thị trấn Bắc Hà, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai nhằm tưởng nhớ tới ngày mất Gia quốc công Vũ Văn Mật, người đã có công dẹp loạn, an dân, hùng cứ vùng Tây Bắc thế kỷ 16, thế kỷ 17. Tưng bừng lễ hội đền Bắc Hà Phần Lễ gồm: lễ dâng hương, khoá tế nam, khoá kế nữ và rước kiệu. Lễ rước kiệu trong lễ hội Đền Bắc Hà Trong thời gian diễn ra lễ hội, ngoài những tiết mục văn nghệ chào mừng mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc của địa phương như múa xòe thì sẽ có nhiều những hoạt động thể thao đặc sắc như: chọi gà, đẩy gậy, kéo co và cờ tướng… Đền Bắc Hà được xây dựng từ cuối thế kỷ 19, thờ phụng 2 anh em Vũ Văn Mật và Vũ Văn Uyên, người gốc ở Gia Lộc, Hải Dương, lên động Ngọc Uyển (vùng Bắc Hà ngày nay) để xây dựng căn cứ quân sự, ổn định đời sống dân cư cả một vùng biên giới rộng lớn. Sách sử có ghi rằng: “Đời vua Tự Đức năm thứ 7 (1855) sắc phong các chúa Bầu (anh em Vũ Văn Uyên và Vũ Văn Mật) làm quốc công, hùng cứ Bắc Hà, làm cho vùng đất này trở thành trù phú và dân cư đông đúc”. Sử nhà Nguyễn chép: “Uy thế nhà Lê nổi là nhờ sức của anh em họ Vũ đã có công đánh giặc, bờ cõi được yên và nhân dân được an lạc”. Nhà Nguyễn cũng sắc phong anh linh các chúa Bầu để làm tổng binh trấn thủ Tuyên Quang. Năm Gia Long thứ nhất, xét công bách thần cả nước, quốc công Vũ Văn Mật được liệt vào hàng công thần đời Lê Trung Hưng. Lễ hội Đền Bắc Hà thu hút đông đảo người dân tham gia Ngày 29 tháng 10 năm 2003, đền Bắc Hà đã được nhà nước xếp hạng di tích lịch sử văn hoá, ngày chính lễ hàng năm là ngày mùng 7 tháng 7 âm lịch. Từ đó cho đến nay, ngôi đền là nơi để nhân dân trong vùng và các khách du lịch thập phương ngưỡng vọng người có công với dân với nước. Lễ hội cũng đóng góp vào sản phẩm du lịch ở trên cao nguyên hoa mận trắng tại Bắc Hà./. lehoi.info tổng hợp

(lehoi.info) - Lễ hội đền Bắc Hà được tổ chức vào ngày mùng 7 tháng 7 âm lịch hàng năm, tại đền Bắc Hà, thị trấn Bắc Hà, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai nhằm tưởng nhớ tới ngày mất Gia quốc công Vũ Văn Mật, người đã có công dẹp loạn, an dân, hùng cứ vùng Tây Bắc thế kỷ 16, thế kỷ 17.

Tưng bừng lễ hội đền Bắc Hà

Phần Lễ gồm: lễ dâng hương, khoá tế nam, khoá kế nữ và rước kiệu.

Lễ rước kiệu trong lễ hội Đền Bắc Hà

Trong thời gian diễn ra lễ hội, ngoài những tiết mục văn nghệ chào mừng mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc của địa phương như múa xòe thì sẽ có nhiều những hoạt động thể thao đặc sắc như: chọi gà, đẩy gậy, kéo co và cờ tướng…

Đền Bắc Hà được xây dựng từ cuối thế kỷ 19, thờ phụng 2 anh em Vũ Văn Mật và Vũ Văn Uyên, người gốc ở Gia Lộc, Hải Dương, lên động Ngọc Uyển (vùng Bắc Hà ngày nay) để xây dựng căn cứ quân sự, ổn định đời sống dân cư cả một vùng biên giới rộng lớn.

Sách sử có ghi rằng: “Đời vua Tự Đức năm thứ 7 (1855) sắc phong các chúa Bầu (anh em Vũ Văn Uyên và Vũ Văn Mật) làm quốc công, hùng cứ Bắc Hà, làm cho vùng đất này trở thành trù phú và dân cư đông đúc”. Sử nhà Nguyễn chép: “Uy thế nhà Lê nổi là nhờ sức của anh em họ Vũ đã có công đánh giặc, bờ cõi được yên và nhân dân được an lạc”.

Nhà Nguyễn cũng sắc phong anh linh các chúa Bầu để làm tổng binh trấn thủ Tuyên Quang. Năm Gia Long thứ nhất, xét công bách thần cả nước, quốc công Vũ Văn Mật được liệt vào hàng công thần đời Lê Trung Hưng.

Lễ hội Đền Bắc Hà thu hút đông đảo người dân tham gia

Ngày 29 tháng 10 năm 2003, đền Bắc Hà đã được nhà nước xếp hạng di tích lịch sử văn hoá, ngày chính lễ hàng năm là ngày mùng 7 tháng 7 âm lịch. Từ đó cho đến nay, ngôi đền là nơi để nhân dân trong vùng và các khách du lịch thập phương ngưỡng vọng người có công với dân với nước. Lễ hội cũng đóng góp vào sản phẩm du lịch ở trên cao nguyên hoa mận trắng tại Bắc Hà./.

lehoi.info tổng hợp

Related Figures

Lễ cấp sắc của người Dao đỏ

Thông tin thời kỳ

Lễ cấp sắc của người dân tộc Dao đỏ ở Bắc Hà, thường được tổ chức vào tháng 11 và tháng 12 âm lịch hoặc tháng 1 năm sau. Lễ cấp sắc của người Dao đỏ Người dân tộc Dao đỏ ở Bắc Hà sinh sống tập trung chủ yếu ở các xã Nậm Khánh, Nậm Đét, Bản Liền và xã Cốc Lầu với nhiều những phong tục truyền thống tốt đẹp, song có lẽ Lễ cấp sắc vẫn là một trong những nghi lễ chính có giá trị nhân văn và mang đậm bản sắc văn hóa truyền thống riêng. Theo truyền thống, người đàn ông dân tộc Dao phải được giáo dục và rèn luyện về nhiều mặt để làm người trụ cột của gia đình, của dòng họ và của cộng đồng. Phẩm chất của họ sẽ được kiểm nghiệm thông qua lễ cấp sắc. Đàn ông người dân tộc Dao sau thụ lễ cấp sắc mới được coi là một người trưởng thành. Người đã qua lễ cấp sắc thì cho dù là trẻ con cũng vẫn được coi là người lớn, được ngồi với già làng, được tham gia vào việc cúng bái hoặc giúp việc cho những thầy cúng trong các cuộc cúng lễ của gia đình cũng như của cộng đồng. Họ quan niệm rằng, người đã trải qua lễ cấp sắc mới có tâm và có đức để phân biệt phải trái, mới được công nhận là con cháu của Bàn Vương. Nghi thức cấp sắc của dân tộc Dao đỏ Lễ cấp sắc thường được tổ chức vào tháng 11 và tháng 12 âm lịch hoặc tháng 1 năm sau. Đó là một khoảng thời gian nông nhàn. Ngày lễ cấp sắc được chọn rất kỹ, chẳng hạn họ Triệu thì chọn các ngày Dần, Mão, còn họ Đặng thì chọn ngày Dần. Lễ cấp sắc ở mỗi một bậc cấp đều có những khác biệt nhất định trong trình tự hành lễ. Tuy nhiên, có 2 phần lễ chính là lễ quá tăng (qua đèn) gồm các phần: Trình diện, cấp đèn, hạ đèn, đặt pháp danh và qua cầu. Phần lễ tẩu Slai (lễ thăng cấp) gồm: lễ lên đèn, ban mũ, lễ trình diện Ngọc Hoàng, lễ tơ hồng và lễ thăm thiên đình. Lễ cấp sắc của người dân tộc Dao có giá trị nhân văn, được thể hiện ở các điều giáo huấn ghi trong sắc cấp cho người thụ lễ tuyệt đối kỵ làm việc ác và làm điều xấu. Trong ngày lễ cấp sắc, có nhiều điệu múa cổ truyền dân gian được trình diễn với sự tham gia của đông đảo của người dân trong bản. Những điệu múa của người dân tộc Dao thể hiện sự tự do hòa nhịp với các nhạc cụ thanh la, não bạt, trống và chuông lắc... Với nhiều chủ đề khác nhau về lịch sử và cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, được hình tượng hóa bằng các động tác nhảy múa kết hợp với ca hát để Bàn Vương và tổ tiên dòng họ xem như diễn tả về việc làm nương, tra hạt và làm nhà... Các điệu múa có thể kéo dài hàng giờ, được cả làng đến xem đông vui giống như ngày hội. Trong lễ cấp sắc của người dân tộc Dao đỏ tại xã Nậm Đét - một nghi lễ quan trọng là thầy cấp sắc chuẩn bị đầy đủ như: ghế, quần áo, các thầy nhờ sư phụ, tổ tiên, ủng hộ lễ cấp sắc thắp đèn cho trò, các thầy dùng sách cúng, trống chiêng vừa cúng, vừa quay vòng quanh các trò từ 9 đến 11 vòng với mục đích là để ủng hộ cho các trò, để đèn cấp sắc lúc nào cũng sáng soi cho các trò, cầu cho các trò luôn được khỏe mạnh. Sau đó thì hạ chén khung đèn, các thầy làm lễ truyền lại phép cho trò, các trò nhận được hưởng phép của thầy và sau này người được cấp sắc đi giúp người khác duy trì phong tục, tập quán bản sắc của dân tộc và truyền lại lý lễ phép cho đời sau. Độc đáo lễ cấp sắc người Dao đỏ Kết thúc lễ cấp sắc, thầy sẽ làm lễ để tạ ơn tổ tiên, sư phụ đã ủng hộ các thầy làm lễ cấp sắc đạt được kết quả tốt, đồng thời lấy bánh trong buổi lễ cấp sắc cho tất cả mọi người cùng ăn, thưởng thức và chia vui cùng với người được cấp sắc. Từ đây, chàng trai thụ lễ cấp sắc đã được coi như một người đàn ông trưởng thành hoàn toàn về thể chất cũng như về tâm linh. Cấp sắc là một trong những nghi lễ quan trọng của đồng bào người dân tộc Dao, góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trên vùng cao Bắc Hà./.

Lễ cấp sắc của người dân tộc Dao đỏ ở Bắc Hà, thường được tổ chức vào tháng 11 và tháng 12 âm lịch hoặc tháng 1 năm sau.

Lễ cấp sắc của người Dao đỏ

Người dân tộc Dao đỏ ở Bắc Hà sinh sống tập trung chủ yếu ở các xã Nậm Khánh, Nậm Đét, Bản Liền và xã Cốc Lầu với nhiều những phong tục truyền thống tốt đẹp, song có lẽ Lễ cấp sắc vẫn là một trong những nghi lễ chính có giá trị nhân văn và mang đậm bản sắc văn hóa truyền thống riêng. Theo truyền thống, người đàn ông dân tộc Dao phải được giáo dục và rèn luyện về nhiều mặt để làm người trụ cột của gia đình, của dòng họ và của cộng đồng. Phẩm chất của họ sẽ được kiểm nghiệm thông qua lễ cấp sắc. Đàn ông người dân tộc Dao sau thụ lễ cấp sắc mới được coi là một người trưởng thành. Người đã qua lễ cấp sắc thì cho dù là trẻ con cũng vẫn được coi là người lớn, được ngồi với già làng, được tham gia vào việc cúng bái hoặc giúp việc cho những thầy cúng trong các cuộc cúng lễ của gia đình cũng như của cộng đồng. Họ quan niệm rằng, người đã trải qua lễ cấp sắc mới có tâm và có đức để phân biệt phải trái, mới được công nhận là con cháu của Bàn Vương. Nghi thức cấp sắc của dân tộc Dao đỏ Lễ cấp sắc thường được tổ chức vào tháng 11 và tháng 12 âm lịch hoặc tháng 1 năm sau. Đó là một khoảng thời gian nông nhàn. Ngày lễ cấp sắc được chọn rất kỹ, chẳng hạn họ Triệu thì chọn các ngày Dần, Mão, còn họ Đặng thì chọn ngày Dần. Lễ cấp sắc ở mỗi một bậc cấp đều có những khác biệt nhất định trong trình tự hành lễ. Tuy nhiên, có 2 phần lễ chính là lễ quá tăng (qua đèn) gồm các phần: Trình diện, cấp đèn, hạ đèn, đặt pháp danh và qua cầu. Phần lễ tẩu Slai (lễ thăng cấp) gồm: lễ lên đèn, ban mũ, lễ trình diện Ngọc Hoàng, lễ tơ hồng và lễ thăm thiên đình. Lễ cấp sắc của người dân tộc Dao có giá trị nhân văn, được thể hiện ở các điều giáo huấn ghi trong sắc cấp cho người thụ lễ tuyệt đối kỵ làm việc ác và làm điều xấu. Trong ngày lễ cấp sắc, có nhiều điệu múa cổ truyền dân gian được trình diễn với sự tham gia của đông đảo của người dân trong bản. Những điệu múa của người dân tộc Dao thể hiện sự tự do hòa nhịp với các nhạc cụ thanh la, não bạt, trống và chuông lắc... Với nhiều chủ đề khác nhau về lịch sử và cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, được hình tượng hóa bằng các động tác nhảy múa kết hợp với ca hát để Bàn Vương và tổ tiên dòng họ xem như diễn tả về việc làm nương, tra hạt và làm nhà... Các điệu múa có thể kéo dài hàng giờ, được cả làng đến xem đông vui giống như ngày hội. Trong lễ cấp sắc của người dân tộc Dao đỏ tại xã Nậm Đét - một nghi lễ quan trọng là thầy cấp sắc chuẩn bị đầy đủ như: ghế, quần áo, các thầy nhờ sư phụ, tổ tiên, ủng hộ lễ cấp sắc thắp đèn cho trò, các thầy dùng sách cúng, trống chiêng vừa cúng, vừa quay vòng quanh các trò từ 9 đến 11 vòng với mục đích là để ủng hộ cho các trò, để đèn cấp sắc lúc nào cũng sáng soi cho các trò, cầu cho các trò luôn được khỏe mạnh. Sau đó thì hạ chén khung đèn, các thầy làm lễ truyền lại phép cho trò, các trò nhận được hưởng phép của thầy và sau này người được cấp sắc đi giúp người khác duy trì phong tục, tập quán bản sắc của dân tộc và truyền lại lý lễ phép cho đời sau. Độc đáo lễ cấp sắc người Dao đỏ Kết thúc lễ cấp sắc, thầy sẽ làm lễ để tạ ơn tổ tiên, sư phụ đã ủng hộ các thầy làm lễ cấp sắc đạt được kết quả tốt, đồng thời lấy bánh trong buổi lễ cấp sắc cho tất cả mọi người cùng ăn, thưởng thức và chia vui cùng với người được cấp sắc. Từ đây, chàng trai thụ lễ cấp sắc đã được coi như một người đàn ông trưởng thành hoàn toàn về thể chất cũng như về tâm linh. Cấp sắc là một trong những nghi lễ quan trọng của đồng bào người dân tộc Dao, góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trên vùng cao Bắc Hà./.

Related Figures

Lễ hội Bủng Kham

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 4/1 Âm lịch Thường được tổ chức hàng năm vào ngày mùng 4 tháng giêng âm lịch. Lễ hội được hình thành bởi quan niệm Bủng Kham (thôn Nà Phái, xã Đại Đồng, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn). Tương truyền rằng, Bủng Kham chính là nơi vui chơi giải trí của thần tiên. Những người dân địa phương và những du khách thập phương thường đến đây thắp hương để cầu mong được các nàng tiên phù hộ làm ăn phát đạt, cuộc sống bình yên và gia đình ấm no hành phúc. Thậm chí, có nhiều gia đình khó nuôi con đã đem bát tự của con đến ký thác vào mỏm đá để mong thần tiên nuôi dưỡng. Quang cảnh lễ hội Bủng Kham Lạng Sơn Lễ hội Bủng Kham được tổ chức ở tại 2 khu vực gần nhau, bên gò đá phía tây Bùng Kham và miếng đất thoai thoải trước mặt là nơi tổ chức hành lễ và hát dân ca. Nơi thờ các thiên thần được chia làm 3 bậc. Bậc trên cùng là nơi để 3 bàn thờ và đồ tế thiên thần, bậc thứ 2 đựng mâm lễ của 24 thôn, bậc thứ 3 phần bên trái là lán của ông thầy mo, phần bên phải là nơi năm già làng và các đoàn đến làm lễ. Sau khi dâng rượu trà, thầy mo khấn xin phép mở hội bằng cách thả xuống đất một đồng xu hoặc 2 mẩu gỗ để xin âm dương. Sau khi các chàng trai, các cô gái đại diện cho 24 thôn xã lần lượt bưng lễ đến và hát giới thiệu về mâm cỗ của làng mình, ông thầy mo sẽ tiến hành khấn. Nội dung của bài khấn xoay quanh mong muốn cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, chăn nuôi phát đạt, làng bản yên vui và mọi nhà đều được ấm no hạnh phúc. Tiếp đến, các cụ già đến thắp hương ở ba bàn thờ thần tiên: thần nông, thần hoàng trùng (Vua sâu bọ) và nàng tiên cá với nội dung giống như thầy mo đã khấn. Đặc Sắc lễ hội Bủng Khang Trọng tâm của lễ hội Bùng Kham là trò gieo lộc và thụ lộc vô cùng độc đáo. Trò chơi được diễn ra vào buổi chiều, biểu tượng của thần lộc ở đây đó là bỏng thóc nếp. Đến giờ đã định, ông thầy mo đóng vai thần nông sẽ đem thúng lộc ra chòi, từ trên cao, cầm từng nắm bỏng xung tay vãi đều trong tiếng trống thanh la, não bạt giục liên hồi cùng tiếng reo hò náo nhiệt của những người dân tham gia lễ hội. Lộc vãi xuống, bà con và du khách trẩy hội thi nhau nhặt vì họ cho rằng ai nhặt được nhiều lộc thánh thì năm đó làm ăn sẽ rất phát đạt, gia đình sẽ ấm no và hạnh phúc. Buổi chiều tối, mọi người tập trung ở tại nơi hành lễ để thắp hương và làm thủ tục cuối cùng, kết thúc lễ hội, mọi người ra về trong tâm trạng hân hoan, sảng khoái và mong cho đến mùa hội năm sau. lễ hội Bủng Kham Lạng Sơn

Thường được tổ chức hàng năm vào ngày mùng 4 tháng giêng âm lịch. Lễ hội được hình thành bởi quan niệm Bủng Kham (thôn Nà Phái, xã Đại Đồng, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn). Tương truyền rằng, Bủng Kham chính là nơi vui chơi giải trí của thần tiên. Những người dân địa phương và những du khách thập phương thường đến đây thắp hương để cầu mong được các nàng tiên phù hộ làm ăn phát đạt, cuộc sống bình yên và gia đình ấm no hành phúc. Thậm chí, có nhiều gia đình khó nuôi con đã đem bát tự của con đến ký thác vào mỏm đá để mong thần tiên nuôi dưỡng. Quang cảnh lễ hội Bủng Kham Lạng Sơn Lễ hội Bủng Kham được tổ chức ở tại 2 khu vực gần nhau, bên gò đá phía tây Bùng Kham và miếng đất thoai thoải trước mặt là nơi tổ chức hành lễ và hát dân ca. Nơi thờ các thiên thần được chia làm 3 bậc. Bậc trên cùng là nơi để 3 bàn thờ và đồ tế thiên thần, bậc thứ 2 đựng mâm lễ của 24 thôn, bậc thứ 3 phần bên trái là lán của ông thầy mo, phần bên phải là nơi năm già làng và các đoàn đến làm lễ. Sau khi dâng rượu trà, thầy mo khấn xin phép mở hội bằng cách thả xuống đất một đồng xu hoặc 2 mẩu gỗ để xin âm dương. Sau khi các chàng trai, các cô gái đại diện cho 24 thôn xã lần lượt bưng lễ đến và hát giới thiệu về mâm cỗ của làng mình, ông thầy mo sẽ tiến hành khấn. Nội dung của bài khấn xoay quanh mong muốn cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, chăn nuôi phát đạt, làng bản yên vui và mọi nhà đều được ấm no hạnh phúc. Tiếp đến, các cụ già đến thắp hương ở ba bàn thờ thần tiên: thần nông, thần hoàng trùng (Vua sâu bọ) và nàng tiên cá với nội dung giống như thầy mo đã khấn. Đặc Sắc lễ hội Bủng Khang Trọng tâm của lễ hội Bùng Kham là trò gieo lộc và thụ lộc vô cùng độc đáo. Trò chơi được diễn ra vào buổi chiều, biểu tượng của thần lộc ở đây đó là bỏng thóc nếp. Đến giờ đã định, ông thầy mo đóng vai thần nông sẽ đem thúng lộc ra chòi, từ trên cao, cầm từng nắm bỏng xung tay vãi đều trong tiếng trống thanh la, não bạt giục liên hồi cùng tiếng reo hò náo nhiệt của những người dân tham gia lễ hội. Lộc vãi xuống, bà con và du khách trẩy hội thi nhau nhặt vì họ cho rằng ai nhặt được nhiều lộc thánh thì năm đó làm ăn sẽ rất phát đạt, gia đình sẽ ấm no và hạnh phúc. Buổi chiều tối, mọi người tập trung ở tại nơi hành lễ để thắp hương và làm thủ tục cuối cùng, kết thúc lễ hội, mọi người ra về trong tâm trạng hân hoan, sảng khoái và mong cho đến mùa hội năm sau. lễ hội Bủng Kham Lạng Sơn

Related Figures

Hội hoa chuối của người Xa Phó

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 9/9 Âm lịch (lehoi.info) - Cứ vào ngày mùng 9 tháng 9 âm lịch hàng năm, người dân Xa Phó ở tỉnh Lào Cai lại tổ chức Hội hoa chuối, một lễ hội đậm đà bản sắc dân tộc. Trong ngày này, nhiều những hoạt động được diễn ra nhằm cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, gia súc, gia cầm phát triển, nhà nhà ấm no và hạnh phúc. Đặc sắc lễ hội hoa chuối của người Xá Phó Theo phong tục, Hội hoa chuối được tổ chức ở tại một gia đình, một nhóm gia đình, hay ở cả thôn bản, là nơi tụ họp vui chơi, cầu chúc và múa hát, thể hiện tinh thần đoàn kết, nhớ ơn tổ tiên và cùng phấn đấu vươn lên trong cuộc sống, trong lao động của những người dân tộc Xa Phó (Văn Bàn). Để chuẩn bị cho ngày hội, trước đó các gia đình tham dự hội sẽ mang lễ vật gồm có: Gạo, gà, rượu, 3 con chim nướng, mắm cá ủ chua và muối ớt… đến để góp cho gia đình chủ hội. Những lễ vật này sẽ được chế biến ở tại nhà chủ hội để làm đồ cũng lễ. Khi các món ăn đã được chế biến xong, chủ nhà bày tất cả lên 1 chiếc mâm được đan bằng mây và đem đặt thành từng dãy theo thứ tự ở trên khu đất đầu làng nơi sẽ tổ chức hội. Trước khi chủ hội hành lễ, các gia đình sẽ thắp hương tại mâm lễ của mình và khấn chứng kiến tấm lòng của gia chủ với thần linh và với những người đã khuất. Khi hương tàn, chủ hội sẽ vái lạy rồi xin phép hóa vàng và ra hiệu cho các gia đình hạ lễ. Các món ăn được chia ra làm 2 mâm, mâm dành riêng cho đàn ông, những người họ hàng, khách mời là đàn ông và một mâm dành cho phụ nữ. Khi đã ăn uống no say, chủ hội và một số nam thanh niên thực hiện nghi lễ trồng cây chuối ở trong khu vực hành lễ. Người ta sẽ dựng một cây chuối rừng, sau đó cắm vào xung quanh cây chuối đó các loại hoa rừng, có cả hoa chuối đỏ để biểu thị cho sự may mắn. Khi nghi lễ trồng cây chuối đã được hoàn tất, mọi người trong bản, già, trẻ hay từng đôi thanh niên nam, nữ thực hiện các nghi lễ múa để cầu mùa, diễn tả lại động tác cấy, hái, cày, bừa, gặt lúa và săn bắn… dâng cúng cơm mới và các đặc sản như: Cá suối sấy khô, thịt chim rừng, thịt chuột sấy khô, khoai sọ... Một điệu múa truyền thống trong Hội hoa chuối Có rất nhiều hoạt động vui nhộn diễn ra ở trong ngày Hội hoa chuối, nhưng độc đáo nhất đó là các điệu múa truyền thống diễn tả khung cảnh tăng gia sản xuất và đời sống sinh hoạt hằng ngày được bà con mang đến lễ hội. Điệu múa truyền thống đó không chỉ làm tăng thêm không khí vui tươi cho ngày hội mà còn diễn tả được mong muốn có được một cuộc sống an vui, no ấm, nhà nhà hạnh phúc. Nét đẹp người con gái Xa Phó trong lễ hội hoa chuối Đặc biệt hơn, trong ngày hội hoa chuối, các gia đình dân tộc Xa Phó kiêng không cho ai mang bất cứ thứ gì ra khỏi nhà. Những gia đình ở làng khác chưa tổ chức Hội hoa chuối sẽ không được mời đến tham dự./. lehoi.info tổng hợp

(lehoi.info) - Cứ vào ngày mùng 9 tháng 9 âm lịch hàng năm, người dân Xa Phó ở tỉnh Lào Cai lại tổ chức Hội hoa chuối, một lễ hội đậm đà bản sắc dân tộc. Trong ngày này, nhiều những hoạt động được diễn ra nhằm cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, gia súc, gia cầm phát triển, nhà nhà ấm no và hạnh phúc.

Đặc sắc lễ hội hoa chuối của người Xá Phó

Theo phong tục, Hội hoa chuối được tổ chức ở tại một gia đình, một nhóm gia đình, hay ở cả thôn bản, là nơi tụ họp vui chơi, cầu chúc và múa hát, thể hiện tinh thần đoàn kết, nhớ ơn tổ tiên và cùng phấn đấu vươn lên trong cuộc sống, trong lao động của những người dân tộc Xa Phó (Văn Bàn). Để chuẩn bị cho ngày hội, trước đó các gia đình tham dự hội sẽ mang lễ vật gồm có: Gạo, gà, rượu, 3 con chim nướng, mắm cá ủ chua và muối ớt… đến để góp cho gia đình chủ hội. Những lễ vật này sẽ được chế biến ở tại nhà chủ hội để làm đồ cũng lễ. Khi các món ăn đã được chế biến xong, chủ nhà bày tất cả lên 1 chiếc mâm được đan bằng mây và đem đặt thành từng dãy theo thứ tự ở trên khu đất đầu làng nơi sẽ tổ chức hội. Trước khi chủ hội hành lễ, các gia đình sẽ thắp hương tại mâm lễ của mình và khấn chứng kiến tấm lòng của gia chủ với thần linh và với những người đã khuất. Khi hương tàn, chủ hội sẽ vái lạy rồi xin phép hóa vàng và ra hiệu cho các gia đình hạ lễ. Các món ăn được chia ra làm 2 mâm, mâm dành riêng cho đàn ông, những người họ hàng, khách mời là đàn ông và một mâm dành cho phụ nữ. Khi đã ăn uống no say, chủ hội và một số nam thanh niên thực hiện nghi lễ trồng cây chuối ở trong khu vực hành lễ. Người ta sẽ dựng một cây chuối rừng, sau đó cắm vào xung quanh cây chuối đó các loại hoa rừng, có cả hoa chuối đỏ để biểu thị cho sự may mắn. Khi nghi lễ trồng cây chuối đã được hoàn tất, mọi người trong bản, già, trẻ hay từng đôi thanh niên nam, nữ thực hiện các nghi lễ múa để cầu mùa, diễn tả lại động tác cấy, hái, cày, bừa, gặt lúa và săn bắn… dâng cúng cơm mới và các đặc sản như: Cá suối sấy khô, thịt chim rừng, thịt chuột sấy khô, khoai sọ... Một điệu múa truyền thống trong Hội hoa chuối Có rất nhiều hoạt động vui nhộn diễn ra ở trong ngày Hội hoa chuối, nhưng độc đáo nhất đó là các điệu múa truyền thống diễn tả khung cảnh tăng gia sản xuất và đời sống sinh hoạt hằng ngày được bà con mang đến lễ hội. Điệu múa truyền thống đó không chỉ làm tăng thêm không khí vui tươi cho ngày hội mà còn diễn tả được mong muốn có được một cuộc sống an vui, no ấm, nhà nhà hạnh phúc. Nét đẹp người con gái Xa Phó trong lễ hội hoa chuối Đặc biệt hơn, trong ngày hội hoa chuối, các gia đình dân tộc Xa Phó kiêng không cho ai mang bất cứ thứ gì ra khỏi nhà. Những gia đình ở làng khác chưa tổ chức Hội hoa chuối sẽ không được mời đến tham dự./. lehoi.info tổng hợp

Related Figures

Lễ cúng rừng của người Dao Tuyển

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 8/1 Âm lịch (lehoi.info) - Lễ cúng rừng của người dân tộc Dao Tuyển bản Mạ, xã Trì Quang, huyện Bảo Thắng, tỉnh lào Cai được tổ chức hàng năm vào ngày mùng 8 Tết. Đây là một lễ hội bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng, kết hợp với lễ cúng rừng đầu xuân theo phong tục cổ truyền. Những mâm sản vật dâng cúng rừng của người Dao Tuyển bản Mạ Từ nhiều đời nay người dân tộc Dao Tuyển bản Mạ có phong tục cúng rừng đầu xuân mới vào 1 ngày tháng Giêng và cúng vào 3 ngày chính khác ở trong năm gồm lễ Thanh Minh (ngày mùng 3 tháng 3 Âm lịch), lễ Thần Nông (ngày mùng 6 tháng 6 Âm lịch) và lễ Cơm mới (ngày mùng 9 tháng 9 Âm lịch). Trong đó, lễ Cúng rừng đầu xuân là lễ lớn nhất vì được cúng vào đầu năm mới và có rất nhiều người tham gia dự hội mở rừng và trồng cây gây rừng theo phong tục người dân tộc Dao Tuyển. Để chuẩn bị cho lễ cúng rừng, các hộ gia đình đồng bào người Dao Tuyển dậy từ rất sớm để dọn dẹp nhà cửa, sửa soạn bàn thờ tổ tiên và chọn ra những bộ trang phục truyền thống đẹp nhất để tham dự lễ hội. Bắt đầu làm lễ, ông thầy cúng (người có uy tín ở trong thôn) đi trước với bộ quần áo dài màu vàng, trên áo có thêu những nét hoa văn truyền thống độc đáo của người dân tộc Dao Tuyển để không bị nhầm lẫn với những người dân trong làng. Thầy cúng đội trên đầu một chiếc mũ có vẽ hình con hổ (biểu tượng này thường thay đổi theo từng năm), đi sau đó là các sản vật của dân làng: mâm xôi, thủ lợn, gà, rượu, hương và bánh mật... đã được chuẩn bị sẵn từ ngày hôm trước ở nhà của trưởng thôn. Tiếp sau đó là lãnh đạo huyện, khách mời cùng với các già làng trưởng thôn bản, nhân dân trong xã, đặc biệt lực lượng không thể thiếu của buổi lễ cúng rừng đó là kiểm lâm. Lễ vật được rước đến dưới cây mí đại cổ thụ hàng trăm năm tuổi ở một khu rừng cấm của làng, ông thầy cúng đỡ những mâm cỗ trên đầu những nam thanh, nữ tú rồi đặt vào miếu trước cây. Bên trên mâm cỗ có treo 5 đôi câu đối được viết bằng chữ của người dân tộc Dao Tuyển với các nội dung như: rừng che chở cho con người và cho mùa màng; tất cả mọi người phải bảo vệ rừng; nhà nhà phải bảo vệ rừng; người người phải trồng và bảo vệ rừng. Thay mặt cho bà con dân làng, thầy cúng cầu mong thần rừng che chở, mong cho một năm mưa thuận gió hoà, cuộc sống bình yên, ấm no và hạnh phúc. Lễ cúng rừng người dân tộc Dao Tuyển bản Mạ Sau nghi lễ cúng rừng, tất cả mọi người sẽ tập trung ra một khu đồi trống ở gần đó để nghe các cán bộ kỹ thuật kiểm lâm hướng dẫn phương pháp và kỹ thuật trồng cây gây rừng. Bà con trong xã sẽ cùng nhau trồng nhiều cây xanh để cảm tạ thần rừng và giữ màu xanh cho làng bản. Tiếp đó, trưởng thôn sẽ đọc cam kết bảo vệ rừng, đồng thời đại diện cho toàn thể nhân dân ở trong thôn tiến hành ký cam kết bảo vệ rừng với lực lượng kiểm lâm. Tất cả mọi người đều phải tuân thủ theo cam kết đã đề ra như: không chặt phá rừng và khai thác rừng trái phép, vận động bà con trong thôn cùng tham gia thực hiện nghiêm chỉnh “Quy ước bảo vệ và phát triển rừng” do thôn bản đã đề ra, tích cực tham gia vào việc trồng rừng... Trong năm, không một ai được phép xâm phạm đến khu rừng cấm, nếu ai vi phạm sẽ bị phạt theo quy ước. Những trò chơi dân gian trong lễ cúng rừng Sau phần lễ cúng rừng, đến phần hội thi đấu một số môn thể thao dân tộc như ném còn, kéo co, đẩy gậy, đánh quay… luôn thu hút hàng ngàn người dân ở trong vùng cùng tham gia thi đấu và dự cổ vũ./.

(lehoi.info) - Lễ cúng rừng của người dân tộc Dao Tuyển bản Mạ, xã Trì Quang, huyện Bảo Thắng, tỉnh lào Cai được tổ chức hàng năm vào ngày mùng 8 Tết. Đây là một lễ hội bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng, kết hợp với lễ cúng rừng đầu xuân theo phong tục cổ truyền.

Những mâm sản vật dâng cúng rừng của người Dao Tuyển bản Mạ

Từ nhiều đời nay người dân tộc Dao Tuyển bản Mạ có phong tục cúng rừng đầu xuân mới vào 1 ngày tháng Giêng và cúng vào 3 ngày chính khác ở trong năm gồm lễ Thanh Minh (ngày mùng 3 tháng 3 Âm lịch), lễ Thần Nông (ngày mùng 6 tháng 6 Âm lịch) và lễ Cơm mới (ngày mùng 9 tháng 9 Âm lịch). Trong đó, lễ Cúng rừng đầu xuân là lễ lớn nhất vì được cúng vào đầu năm mới và có rất nhiều người tham gia dự hội mở rừng và trồng cây gây rừng theo phong tục người dân tộc Dao Tuyển. Để chuẩn bị cho lễ cúng rừng, các hộ gia đình đồng bào người Dao Tuyển dậy từ rất sớm để dọn dẹp nhà cửa, sửa soạn bàn thờ tổ tiên và chọn ra những bộ trang phục truyền thống đẹp nhất để tham dự lễ hội. Bắt đầu làm lễ, ông thầy cúng (người có uy tín ở trong thôn) đi trước với bộ quần áo dài màu vàng, trên áo có thêu những nét hoa văn truyền thống độc đáo của người dân tộc Dao Tuyển để không bị nhầm lẫn với những người dân trong làng. Thầy cúng đội trên đầu một chiếc mũ có vẽ hình con hổ (biểu tượng này thường thay đổi theo từng năm), đi sau đó là các sản vật của dân làng: mâm xôi, thủ lợn, gà, rượu, hương và bánh mật... đã được chuẩn bị sẵn từ ngày hôm trước ở nhà của trưởng thôn. Tiếp sau đó là lãnh đạo huyện, khách mời cùng với các già làng trưởng thôn bản, nhân dân trong xã, đặc biệt lực lượng không thể thiếu của buổi lễ cúng rừng đó là kiểm lâm. Lễ vật được rước đến dưới cây mí đại cổ thụ hàng trăm năm tuổi ở một khu rừng cấm của làng, ông thầy cúng đỡ những mâm cỗ trên đầu những nam thanh, nữ tú rồi đặt vào miếu trước cây. Bên trên mâm cỗ có treo 5 đôi câu đối được viết bằng chữ của người dân tộc Dao Tuyển với các nội dung như: rừng che chở cho con người và cho mùa màng; tất cả mọi người phải bảo vệ rừng; nhà nhà phải bảo vệ rừng; người người phải trồng và bảo vệ rừng. Thay mặt cho bà con dân làng, thầy cúng cầu mong thần rừng che chở, mong cho một năm mưa thuận gió hoà, cuộc sống bình yên, ấm no và hạnh phúc. Lễ cúng rừng người dân tộc Dao Tuyển bản Mạ Sau nghi lễ cúng rừng, tất cả mọi người sẽ tập trung ra một khu đồi trống ở gần đó để nghe các cán bộ kỹ thuật kiểm lâm hướng dẫn phương pháp và kỹ thuật trồng cây gây rừng. Bà con trong xã sẽ cùng nhau trồng nhiều cây xanh để cảm tạ thần rừng và giữ màu xanh cho làng bản. Tiếp đó, trưởng thôn sẽ đọc cam kết bảo vệ rừng, đồng thời đại diện cho toàn thể nhân dân ở trong thôn tiến hành ký cam kết bảo vệ rừng với lực lượng kiểm lâm. Tất cả mọi người đều phải tuân thủ theo cam kết đã đề ra như: không chặt phá rừng và khai thác rừng trái phép, vận động bà con trong thôn cùng tham gia thực hiện nghiêm chỉnh “Quy ước bảo vệ và phát triển rừng” do thôn bản đã đề ra, tích cực tham gia vào việc trồng rừng... Trong năm, không một ai được phép xâm phạm đến khu rừng cấm, nếu ai vi phạm sẽ bị phạt theo quy ước. Những trò chơi dân gian trong lễ cúng rừng Sau phần lễ cúng rừng, đến phần hội thi đấu một số môn thể thao dân tộc như ném còn, kéo co, đẩy gậy, đánh quay… luôn thu hút hàng ngàn người dân ở trong vùng cùng tham gia thi đấu và dự cổ vũ./.

Related Figures

Lễ hội chùa Tam Thanh

Thông tin thời kỳ

Chùa Tam Thanh nằm ở trong động Tam Thanh - di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng của vùng quê Xứ Lạng. Theo như các nhà nghiên cứu khoa học, di tích này nguyên là nơi thờ tự của Đạo giáo. Sau này, do ảnh hưởng của nhiều yếu tố, Đạo giáo đã mờ nhạt trong tâm thức những người dân địa phương. Những người dân địa phương đã đưa các yếu tố thờ tự của Phật giáo vào di tích này để thờ tự. Hội chùa được mở hàng năm vào ngày 15 tháng giêng. Di tích chùa Tam Thanh Buổi sáng ngày 15, các cụ già tập hợp ở trước Tam bảo để tụng kinh, gõ mõ, cầu đức Phật phù hộ cho dân chúng một năm mới bình an và mạnh khỏe,... Lúc này, các đội sư tử sẽ lên chùa múa lễ, mọi người dân đi theo sau để thắp hương lễ Phật, lễ thánh và lễ Mẫu trong chùa. Quy trình tế lễ gồm các tuần hương, hoa, trà, tửu, đọc chúc văn và hóa vàng,... trình tự tế giống như tế ở các đình các đền chùa khác. Về phần hội, bao gồm có: những hoạt động phong phú như đấu cờ người, ném còn, thi múa võ,... và các làn điệu sli, lượn, then, quan họ, chèo hòa theo cùng với tiếng đàn then, tiếng đàn nhị,... tạo nên một không khí ngày hội sôi động và hào hứng. Lễ hội chùa Tam Thanh Ngoài ra, chùa Tam Thanh còn gắn liền với danh thắng tượng đá nàng Tô Thị đã đi vào ca dao của dân tộc. Tượng đá nàng Tô Thị đứng chếch trên sườn núi trước mặt chùa giống như một biểu tượng của lòng chung thủy sắt son của người phụ nữ. Đông đảo người dân và du khách tới tham dự lễ hội chùa Tam Thanh Theo Langson.gov.vn

Chùa Tam Thanh nằm ở trong động Tam Thanh - di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng của vùng quê Xứ Lạng. Theo như các nhà nghiên cứu khoa học, di tích này nguyên là nơi thờ tự của Đạo giáo. Sau này, do ảnh hưởng của nhiều yếu tố, Đạo giáo đã mờ nhạt trong tâm thức những người dân địa phương. Những người dân địa phương đã đưa các yếu tố thờ tự của Phật giáo vào di tích này để thờ tự. Hội chùa được mở hàng năm vào ngày 15 tháng giêng.

Di tích chùa Tam Thanh

Buổi sáng ngày 15, các cụ già tập hợp ở trước Tam bảo để tụng kinh, gõ mõ, cầu đức Phật phù hộ cho dân chúng một năm mới bình an và mạnh khỏe,... Lúc này, các đội sư tử sẽ lên chùa múa lễ, mọi người dân đi theo sau để thắp hương lễ Phật, lễ thánh và lễ Mẫu trong chùa. Quy trình tế lễ gồm các tuần hương, hoa, trà, tửu, đọc chúc văn và hóa vàng,... trình tự tế giống như tế ở các đình các đền chùa khác. Về phần hội, bao gồm có: những hoạt động phong phú như đấu cờ người, ném còn, thi múa võ,... và các làn điệu sli, lượn, then, quan họ, chèo hòa theo cùng với tiếng đàn then, tiếng đàn nhị,... tạo nên một không khí ngày hội sôi động và hào hứng. Lễ hội chùa Tam Thanh Ngoài ra, chùa Tam Thanh còn gắn liền với danh thắng tượng đá nàng Tô Thị đã đi vào ca dao của dân tộc. Tượng đá nàng Tô Thị đứng chếch trên sườn núi trước mặt chùa giống như một biểu tượng của lòng chung thủy sắt son của người phụ nữ. Đông đảo người dân và du khách tới tham dự lễ hội chùa Tam Thanh Theo Langson.gov.vn

Related Figures

Lễ hội đầu pháo Kỳ Lừa

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 22/1- 27/1 Âm lịch Được tổ chức từ ngày 22 đến ngày 27 tháng Giêng âm lịch ở tại đền Tả Phủ, chợ Kỳ Lừa, xã Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Trong lễ hội này, một dây pháo dài khoảng 8 tấc, to khoảng 1,5 phân, đầu pháo có vòng đồng đính, sẽ được làm lễ đốt vào sau ngày khai hạ. Người nào cướp được vòng đồng ở đầu pháo sẽ được thưởng 1 con gà, 1 cân xôi, 1 cân rượu và quan trọng hơn cả là năm ấy, họ sẽ được mạnh khỏe và phát tài. Lễ hội đầu pháo Kỳ Lừa Lễ hội đầu pháo chợ Kỳ Lừa sẽ được tổ chức từ ngày 22 đến ngày 27 tháng Giêng. Nhưng thực ra, không khí của ngày hội đã có thể nhận thấy ngay từ sau ngày rằm tháng giêng. Từ ngày 16 trở đi, ở trong đền Tả Phủ, đèn nến đã được thắp sáng trưng, khói hương nghi ngút suốt cả ngày đêm. Trong những ngày này, những người dân nơi đây tổ chức đón rước thổ công, thần thánh ở các đền miếu lân cận về để dự hội. Từ ngày 16 đến ngày 21, những gia đình có "đầu pháo" lấy được từ năm trước trả lại đền, kèm theo món lễ tạ và những tràng pháo để thông báo cho hàng phố biết. Sáng ngày 22, sau khi khai mạc lễ hội, một đoàn kiệu rước trang hoàng lộng lẫy, có thanh niên trai tráng, trong trang phục chỉnh tề gọi là "đồng nam" khiêng kiệu và một tốp thiếu niên gọi là "đồng tử" khiêng đình hoàng trầm cùng đội sư tử Kỳ Lừa múa một vòng quanh sân đền rồi hướng thẳng xuống đền Kỳ Cùng để rước thần sông Kỳ Cùng về để dự hội. Sau khi làm lễ đón rước, đúng giờ Ngọ, đoàn kiệu rước thần sông Kỳ Cùng quay về đền Tả Phủ. Trên quãng đường đoàn kiệu rước qua, các gia đình bày biện mâm lễ, cúng xôi, gà và hoa quả để cầu may, cầu tào lộc và đốt pháo chào mừng. Ngày 23, ngày 24, tổ chức lễ tế và chuẩn bị đầu pháo. Ngày 25, ngày 26 tổ chức đốt đầu pháo, đây là đỉnh điểm của lễ hội, lôi cuốn được mọi người tham gia. Quyền châm lửa đốt pháo thuộc về người năm trước đoạt được giải, giây phút quyết định sẽ đến khi quả pháo đại nổ hất tung vòng thép đỏ (đầu pháo) lên không trung, rơi xuống và mọi người sẽ vào để nhặt lấy. Đặc sắc lễ hội đầu pháo Kỳ Lừa ở Lạng Sơn Ngày 27, vào đúng giờ ngọ đoàn kiệu lại rước, trả thần sông về đền Kỳ Cùng và đưa thổ công, thần thánh về các miếu lân cận và lễ hội kết thúc. Từ khi Chính phủ cấm đốt pháo nổ, tên gọi "Hội đầu pháo" đã được đổi thành "Lễ hội xuân đền tả Phủ". Hiện nay, còn có một lễ hội gắn liền với lễ hội đền Tả Phủ, đó chính là lễ hội đền Kỳ Cùng. Đông đảo người dân tới tham dự lễ hội

Được tổ chức từ ngày 22 đến ngày 27 tháng Giêng âm lịch ở tại đền Tả Phủ, chợ Kỳ Lừa, xã Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Trong lễ hội này, một dây pháo dài khoảng 8 tấc, to khoảng 1,5 phân, đầu pháo có vòng đồng đính, sẽ được làm lễ đốt vào sau ngày khai hạ. Người nào cướp được vòng đồng ở đầu pháo sẽ được thưởng 1 con gà, 1 cân xôi, 1 cân rượu và quan trọng hơn cả là năm ấy, họ sẽ được mạnh khỏe và phát tài.

Lễ hội đầu pháo Kỳ Lừa

Lễ hội đầu pháo chợ Kỳ Lừa sẽ được tổ chức từ ngày 22 đến ngày 27 tháng Giêng. Nhưng thực ra, không khí của ngày hội đã có thể nhận thấy ngay từ sau ngày rằm tháng giêng. Từ ngày 16 trở đi, ở trong đền Tả Phủ, đèn nến đã được thắp sáng trưng, khói hương nghi ngút suốt cả ngày đêm. Trong những ngày này, những người dân nơi đây tổ chức đón rước thổ công, thần thánh ở các đền miếu lân cận về để dự hội. Từ ngày 16 đến ngày 21, những gia đình có "đầu pháo" lấy được từ năm trước trả lại đền, kèm theo món lễ tạ và những tràng pháo để thông báo cho hàng phố biết. Sáng ngày 22, sau khi khai mạc lễ hội, một đoàn kiệu rước trang hoàng lộng lẫy, có thanh niên trai tráng, trong trang phục chỉnh tề gọi là "đồng nam" khiêng kiệu và một tốp thiếu niên gọi là "đồng tử" khiêng đình hoàng trầm cùng đội sư tử Kỳ Lừa múa một vòng quanh sân đền rồi hướng thẳng xuống đền Kỳ Cùng để rước thần sông Kỳ Cùng về để dự hội. Sau khi làm lễ đón rước, đúng giờ Ngọ, đoàn kiệu rước thần sông Kỳ Cùng quay về đền Tả Phủ. Trên quãng đường đoàn kiệu rước qua, các gia đình bày biện mâm lễ, cúng xôi, gà và hoa quả để cầu may, cầu tào lộc và đốt pháo chào mừng. Ngày 23, ngày 24, tổ chức lễ tế và chuẩn bị đầu pháo. Ngày 25, ngày 26 tổ chức đốt đầu pháo, đây là đỉnh điểm của lễ hội, lôi cuốn được mọi người tham gia. Quyền châm lửa đốt pháo thuộc về người năm trước đoạt được giải, giây phút quyết định sẽ đến khi quả pháo đại nổ hất tung vòng thép đỏ (đầu pháo) lên không trung, rơi xuống và mọi người sẽ vào để nhặt lấy. Đặc sắc lễ hội đầu pháo Kỳ Lừa ở Lạng Sơn Ngày 27, vào đúng giờ ngọ đoàn kiệu lại rước, trả thần sông về đền Kỳ Cùng và đưa thổ công, thần thánh về các miếu lân cận và lễ hội kết thúc. Từ khi Chính phủ cấm đốt pháo nổ, tên gọi "Hội đầu pháo" đã được đổi thành "Lễ hội xuân đền tả Phủ". Hiện nay, còn có một lễ hội gắn liền với lễ hội đền Tả Phủ, đó chính là lễ hội đền Kỳ Cùng. Đông đảo người dân tới tham dự lễ hội

Related Figures

Lễ hội Nàng Hai

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 4/2 Âm lịch Thường được tổ chức vào ngày mùng 4 tháng 2 âm lịch hàng năm ở tại bản Nà Cạo, xã Chí Minh để cầu khấn các nàng tiên phù hộ cho một năm mưa thuận gió hòa, cầu cho mùa màng tươi tốt bội thu và cuộc sống yên vui, ấm no, hạnh phúc. Tưng bừng Lễ hội Nàng Hai Có rất nhiều truyền thuyết về lễ hội Nàng Hai, nhưng truyền thuyết sau đây được đánh giá là tiêu biểu hơn cả. Chuyện kể lại rằng: "Xưa kia vùng núi Nà Cạo hạn hán, ngô lúa mất mùa, cây cối khô cằn, bà con dân bản đã rủ nhau làm lễ cầu trời để giúp cho nhân dân thoát khỏi đại hạn. Trước tình hình đó, trời đã cho 7 nàng tiên ở mặt trăng làm phép cho mưa thuận gió hòa, dạy cho dân làng cách xẻ ruộng trồng lúa nước, trồng bông để lấy sợi dệt vải, trồng dâu nuôi tằm kéo tơ dệt lụa,... Ngoài ra, các nàng tiên còn dạy các chàng trai, các cô gái hát các lời lượn tâm giao. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, 7 nàng tiên chia tay về mặt trăng, dân làng lưu luyến tiễn đưa. Vì thế, đến ngày mùng 4 tháng 2 âm lịch hàng năm, dân làng lại tổ chức đón nàng Tiên (còn được gọi là Nàng Hai - nàng Tiên Trăng), ngày 18 tháng 3 âm lịch là ngày làm lễ tiễn nàng về trời". Nàng hai giấu mặt e ấp trong chiếc quạt về lễ hội Lễ đón Nàng Hai được tổ chức ở tại miếu thờ thổ công ở làng Nà Cạo. Trong 6 cô gái được tuyển chọn để đóng vai các nàng tiên, thì có 2 người làm mẹ Nhất, mẹ Nhì và 4 người còn lại chuyên hát những lời lượn. Ngoài ra, dân làng cũng chọn ra 4 chàng trai gọi là Hai Pò để hát đối với 4 Nàng Hai ở tại nhà sàn ở cạnh làng, đây cũng là nơi để các bà Nhất, bà Nhì đến thắp hương hàng ngày và là nơi để bà Then đến dạy các Nàng Hai hát lượn. Lễ tiễn Nàng Hai được tổ chức rất trang trọng với nghi lễ thành kính, các gia đình trong làng đều soạn mâm lễ gồm có xôi cẩm đen, gà luộc và các loại bánh nhuộm đủ màu sắc được gắn kết tượng trưng cho mặt trời, cho mặt trăng và cho các sao. Bà Then cùng với bà Nhất, bà Nhì và các Nàng Hai đi chấm cỗ, những mâm nào thiếu lễ thì các Nàng Hai sẽ hát lời tạ, giải hạn với trời. Sau đó, các Nàng Hai vừa đi, vừa vãi những nắm hạt bông, nắm thóc, phát cành dâu,... và cùng ra bến sông hát lời thả thuyền trên sông. Kết thúc, bà Then làm lễ trả hồn cho các Nàng Hai về trời, gọi hồn cho các bà, các chị đóng vai Nàng Hai trở về. Toàn bộ diễn biến của lễ hội được gắn liền với giai điệu mượt mà của các bài hát lượn. Lễ hội Nàng Hai tại Lạng Sơn Lễ hội Nàng Hai thu hút đông đảo nhân dân quanh vùng tới dự. Họ đến để nghe những lời hát lượn ngọt ngào, để thả hồn theo lời lượn về cõi thần tiên và lượn qua 4 mùa xuân, hạ, thu, đông,... Theo langson.gov.vn

Thường được tổ chức vào ngày mùng 4 tháng 2 âm lịch hàng năm ở tại bản Nà Cạo, xã Chí Minh để cầu khấn các nàng tiên phù hộ cho một năm mưa thuận gió hòa, cầu cho mùa màng tươi tốt bội thu và cuộc sống yên vui, ấm no, hạnh phúc. Tưng bừng Lễ hội Nàng Hai Có rất nhiều truyền thuyết về lễ hội Nàng Hai, nhưng truyền thuyết sau đây được đánh giá là tiêu biểu hơn cả. Chuyện kể lại rằng: "Xưa kia vùng núi Nà Cạo hạn hán, ngô lúa mất mùa, cây cối khô cằn, bà con dân bản đã rủ nhau làm lễ cầu trời để giúp cho nhân dân thoát khỏi đại hạn. Trước tình hình đó, trời đã cho 7 nàng tiên ở mặt trăng làm phép cho mưa thuận gió hòa, dạy cho dân làng cách xẻ ruộng trồng lúa nước, trồng bông để lấy sợi dệt vải, trồng dâu nuôi tằm kéo tơ dệt lụa,... Ngoài ra, các nàng tiên còn dạy các chàng trai, các cô gái hát các lời lượn tâm giao. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, 7 nàng tiên chia tay về mặt trăng, dân làng lưu luyến tiễn đưa. Vì thế, đến ngày mùng 4 tháng 2 âm lịch hàng năm, dân làng lại tổ chức đón nàng Tiên (còn được gọi là Nàng Hai - nàng Tiên Trăng), ngày 18 tháng 3 âm lịch là ngày làm lễ tiễn nàng về trời". Nàng hai giấu mặt e ấp trong chiếc quạt về lễ hội Lễ đón Nàng Hai được tổ chức ở tại miếu thờ thổ công ở làng Nà Cạo. Trong 6 cô gái được tuyển chọn để đóng vai các nàng tiên, thì có 2 người làm mẹ Nhất, mẹ Nhì và 4 người còn lại chuyên hát những lời lượn. Ngoài ra, dân làng cũng chọn ra 4 chàng trai gọi là Hai Pò để hát đối với 4 Nàng Hai ở tại nhà sàn ở cạnh làng, đây cũng là nơi để các bà Nhất, bà Nhì đến thắp hương hàng ngày và là nơi để bà Then đến dạy các Nàng Hai hát lượn. Lễ tiễn Nàng Hai được tổ chức rất trang trọng với nghi lễ thành kính, các gia đình trong làng đều soạn mâm lễ gồm có xôi cẩm đen, gà luộc và các loại bánh nhuộm đủ màu sắc được gắn kết tượng trưng cho mặt trời, cho mặt trăng và cho các sao. Bà Then cùng với bà Nhất, bà Nhì và các Nàng Hai đi chấm cỗ, những mâm nào thiếu lễ thì các Nàng Hai sẽ hát lời tạ, giải hạn với trời. Sau đó, các Nàng Hai vừa đi, vừa vãi những nắm hạt bông, nắm thóc, phát cành dâu,... và cùng ra bến sông hát lời thả thuyền trên sông. Kết thúc, bà Then làm lễ trả hồn cho các Nàng Hai về trời, gọi hồn cho các bà, các chị đóng vai Nàng Hai trở về. Toàn bộ diễn biến của lễ hội được gắn liền với giai điệu mượt mà của các bài hát lượn. Lễ hội Nàng Hai tại Lạng Sơn Lễ hội Nàng Hai thu hút đông đảo nhân dân quanh vùng tới dự. Họ đến để nghe những lời hát lượn ngọt ngào, để thả hồn theo lời lượn về cõi thần tiên và lượn qua 4 mùa xuân, hạ, thu, đông,... Theo langson.gov.vn

Related Figures

Lễ hội Lồng Tồng

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 4/1 Âm lịch Lễ hội được tổ chức hàng năm vào ngày mùng 4 tháng giêng âm lịch, là một trong những lễ hội lớn nhất vùng với nghi lễ tín ngưỡng cầu thành hoàng và cầu thần nông. Qua khảo sát sơ bộ của ngành văn hoá - thông tin tỉnh Lạng Sơn, toàn tỉnh có khoảng hơn 200 lễ hội Lồng Tồng với quy mô tổ chức theo một thôn, bản, một xã, một khu vực hay vài xã. Dù bất cứ ở đâu lễ hội này có cùng đặc điểm cơ bản về nghi lễ cúng thần nông, những trò dân gian và hát các làn điệu sli, lượn,... Lễ hội Lồng Tồng Lạng Sơn Mở đầu cho phần hội đó là nghi lễ cúng thần nông, khởi thủy từ tín ngưỡng coi thần nông là một vị thần cai quản ruộng vườn, đất đai, có thể hô gió và gọi mưa cho mùa màng, cây cối tươi tốt, cho cuộc sống của dân bản một năm mới bình an, vụ mùa bội thu. Từ đó, bà con các dân tộc có tục cúng thần Nông vào ngày đâu xuân năm mới để cầu thần phù hộ cho hoạt động sản xuất nông nghiệp. Một nghi thức trong lễ hội Lồng Tồng Mở đầu hội, Pú Mo sẽ làm lễ cúng thần linh, cúng thành hoàng ở ngoài đình làng hoặc miếu, thần nông được cúng ở một khu ruộng rộng hoặc ở trên một ngọn đồi cao. Đồ lễ cúng, bao gồm có: gà thiến luộc, các loại bánh trái, hoa quả và rượu trắng. Sau lễ cúng, mọi người sẽ cùng nhau ăn cỗ và uống rượu tại lễ hội. Tiếp theo, nghi lễ cầu cúng là những trò chơi dân gian như bắn nỏ, đánh đu, tung còn. Thậm chí, dân làng còn mời đội múa sư tử ở làng bên về để tham gia lễ hội với quan niệm ngày Tết có sư tử đến chúc mừng là dịp may mắn cho gia đình, báo hiệu một năm mới làm ăn phát đạt và sức khoẻ dồi dào. Đông đảo người dân tới tham dự lễ hội Lồng Tồng

Lễ hội được tổ chức hàng năm vào ngày mùng 4 tháng giêng âm lịch, là một trong những lễ hội lớn nhất vùng với nghi lễ tín ngưỡng cầu thành hoàng và cầu thần nông. Qua khảo sát sơ bộ của ngành văn hoá - thông tin tỉnh Lạng Sơn, toàn tỉnh có khoảng hơn 200 lễ hội Lồng Tồng với quy mô tổ chức theo một thôn, bản, một xã, một khu vực hay vài xã. Dù bất cứ ở đâu lễ hội này có cùng đặc điểm cơ bản về nghi lễ cúng thần nông, những trò dân gian và hát các làn điệu sli, lượn,...

Lễ hội Lồng Tồng Lạng Sơn

Mở đầu cho phần hội đó là nghi lễ cúng thần nông, khởi thủy từ tín ngưỡng coi thần nông là một vị thần cai quản ruộng vườn, đất đai, có thể hô gió và gọi mưa cho mùa màng, cây cối tươi tốt, cho cuộc sống của dân bản một năm mới bình an, vụ mùa bội thu. Từ đó, bà con các dân tộc có tục cúng thần Nông vào ngày đâu xuân năm mới để cầu thần phù hộ cho hoạt động sản xuất nông nghiệp. Một nghi thức trong lễ hội Lồng Tồng Mở đầu hội, Pú Mo sẽ làm lễ cúng thần linh, cúng thành hoàng ở ngoài đình làng hoặc miếu, thần nông được cúng ở một khu ruộng rộng hoặc ở trên một ngọn đồi cao. Đồ lễ cúng, bao gồm có: gà thiến luộc, các loại bánh trái, hoa quả và rượu trắng. Sau lễ cúng, mọi người sẽ cùng nhau ăn cỗ và uống rượu tại lễ hội. Tiếp theo, nghi lễ cầu cúng là những trò chơi dân gian như bắn nỏ, đánh đu, tung còn. Thậm chí, dân làng còn mời đội múa sư tử ở làng bên về để tham gia lễ hội với quan niệm ngày Tết có sư tử đến chúc mừng là dịp may mắn cho gia đình, báo hiệu một năm mới làm ăn phát đạt và sức khoẻ dồi dào. Đông đảo người dân tới tham dự lễ hội Lồng Tồng

Related Figures

Lễ hội Đình Đông Quất

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 7/1 Âm lịch (lehoi.info) - Lễ hội Đình Đông Quất thường được tổ chức ngày mùng 7 tháng Giêng âm lịch, tại xã Cường Lợi, huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn. Lễ hội đã thu hút được đông đảo các tầng lớp nhân dân ở trong vùng và khu vực lân cận, du khách gần xa đến vui hội, vui xuân, cầu tài, cầu lộc và cầu phúc; tri ân các thế hệ tiền nhân, ôn lại truyền thống lịch sử hào hùng của đất và người ở nơi đây. Tấp nập nhân dân và du khách vui hội Đình Đông Quất Theo như tài liệu ghi chép và các cụ cao niên của địa phương, trong suốt chiều dài những năm tháng đất nước bị chiến tranh và loạn lạc, việc cúng lễ thần của Đình Đông Quất, để cầu mong sự phù hộ vẫn được duy trì, cho dù đang phải sơ tán ở trong rừng. Ngược dòng lịch sử thì chúng ta sẽ càng hiểu rõ và trân trọng hơn về ý nghĩa của lễ hội này. Chính tại Đình Đông Quất, vào những năm đầu của thập kỷ 40 thế kỷ trước, các cụ cao tuổi của làng và các cụ cao tuổi của làng lân cận đã họp nhau lại, tổ chức lễ uống máu ăn thề và lập bản Qui ước thành lập “Hội bảo an”. Trong ngày làm lễ ấy, ông thầy mo, trực tiếp cầm một con gà trống vừa khấn vừa bái vào bàn thờ Thần thánh rồi mang ra ngoài trời khấn, bái 4 phương và sau đó cùng nhau uống mỗi người một ít. Trong bản Qui ước có đoạn nêu: Quốc loạn tiểu nhân cường, loạn lạc giặc nổi lên cướp của giết người, tính mạng, tài sản dân lành bị đe doạ, nay nhờ Thần thánh thiêng chiếu cám việc lập hàng hội bảo an đoàn kết cùng nhau chống giặc, không ai được “Thông nội chí ngoại”, ai phản bội, Thần thánh chiếu cám trừng phạt sẽ bị chết như con gà… Thi bắn nỏ - nét mới trong phần vui hội Lễ hội Đình Đông Quất là một lễ hội dân gian lịch sử truyền thống. Cứ vào mỗi độ Tết đến, Xuân về là bà con nhân dân trong làng lại rất vui mừng chào đón và tổ chức lễ hội vào ngày mùng 7 tháng Giêng . Đây chính là dịp để tri ân các thế hệ tiền nhân đã không tiếc xương máu của mình để bảo vệ quê hương trong những ngày nguy nan, quyết tâm giữ đất, giữ làng và bảo vệ sự bình yên cuộc sống của nhân dân trước sự hung tợn của bọn giặc cướp… Đồng thời cũng là dịp để, mỗi người dân bày tỏ tấm lòng thành kính và sự ước vọng của mình đối với vị thần thiêng liêng cao cả ngự ở tại Đình Đông Quất - vị thần cao cả, quyền năng được dân gian truyền rằng đã bao bọc che chở cho nhân dân thoát khỏi mũi tên, hòn đạn của bọn giặc cướp trong những ngày nguy khó. Mỗi người con của quê hương Cường Lợi dù đi đâu, ở đâu nhưng đến ngày làng mở hội thì đều tìm về với tất cả tình cảm chân thành nhất, thiết tha nhất và sâu lắng nhất. Trò chơi đẩy gậy trong lễ hội Qua vui hội, vui xuân và khấn thần,… mỗi con người đã bày tỏ được sự thành kính của mình đối với các vị thần thánh, các vị tiền nhân của dân làng và gửi gắm những ước vọng, niềm tin của mình trong năm mới sẽ được thần linh phù hộ cho nhiều sức khỏe, may mắn, làm ăn phát đạt, cuộc sống, bình an, hạnh phúc và ấm no, “nhân khang, vật thịnh”… Sau khi Hội bảo an được lập ở tại Đình Đông Quất, nhiều toán giặc cướp đến để cướp phá của cải của dân làng đều bị đánh bại. Tiếng tăm của Hội bảo an đã vang dội khắp mọi nơi. Nhiều nơi đã đến để xin gia nhập Hội bảo an như: Ba Chẽ, Bình Liêu, Lộc Bình, An Châu… Về sau đó, hoà chung với khí thế cách mạng tháng 8, Hội bảo an đã được chuyển hoá thành lực lượng cách mạng và lực lượng dân quân du kích. Trước thần thánh thiêng liêng, lực lượng quân dân du kích cũng đã từng tuyên thệ nguyện đoàn kết, trung thành với Đảng, với Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà… Đánh cừ - trò chơi đậm chất dân gian Có thể thấy, Lễ hội Đình Đông Quất trong mấy năm trở lại đây đã và đang dần được các cấp, các ngành của địa phương quan tâm khôi phục và tổ chức trở lại. Trong ngày hội, ngoài phần tế lễ, ôn lại những truyền thống lịch sử của quê hương, lịch sử của lễ hội, những kỳ tích hào hùng của cha anh; nhiều những trò chơi, trò diễn dân gian cũng được tổ chức kết hợp với ngày hội thể dục thể thao thể hiện tinh thần lạc quan, tinh thần thượng võ, tinh thần đoàn kết và ý chí kiên cường, anh hùng, quật khởi của đất và người nơi đây trong quá khứ và trong hiện tại. Tiêu biểu là các môn như: Kéo co, đẩy gậy, đánh cầu, đá bóng, đánh quay… Tất cả đã tạo ra một khí thế phấn khởi, đoàn kết, thi đua trong những ngày đầu xuân năm mới. Dễ dàng để nhận thấy, có rất nhiều cặp nam thanh nữ tú đi lễ hội. Theo dân gian truyền lại, từ những thập kỷ trước, tại lễ hội này, nhiều đôi trai gái đã gặp nhau, tỏ tình, hẹn ước và sau này đã nên duyên chồng vợ./. Theo Báo Lạng Sơn

(lehoi.info) - Lễ hội Đình Đông Quất thường được tổ chức ngày mùng 7 tháng Giêng âm lịch, tại xã Cường Lợi, huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn. Lễ hội đã thu hút được đông đảo các tầng lớp nhân dân ở trong vùng và khu vực lân cận, du khách gần xa đến vui hội, vui xuân, cầu tài, cầu lộc và cầu phúc; tri ân các thế hệ tiền nhân, ôn lại truyền thống lịch sử hào hùng của đất và người ở nơi đây.

Tấp nập nhân dân và du khách vui hội Đình Đông Quất

Theo như tài liệu ghi chép và các cụ cao niên của địa phương, trong suốt chiều dài những năm tháng đất nước bị chiến tranh và loạn lạc, việc cúng lễ thần của Đình Đông Quất, để cầu mong sự phù hộ vẫn được duy trì, cho dù đang phải sơ tán ở trong rừng. Ngược dòng lịch sử thì chúng ta sẽ càng hiểu rõ và trân trọng hơn về ý nghĩa của lễ hội này. Chính tại Đình Đông Quất, vào những năm đầu của thập kỷ 40 thế kỷ trước, các cụ cao tuổi của làng và các cụ cao tuổi của làng lân cận đã họp nhau lại, tổ chức lễ uống máu ăn thề và lập bản Qui ước thành lập “Hội bảo an”. Trong ngày làm lễ ấy, ông thầy mo, trực tiếp cầm một con gà trống vừa khấn vừa bái vào bàn thờ Thần thánh rồi mang ra ngoài trời khấn, bái 4 phương và sau đó cùng nhau uống mỗi người một ít. Trong bản Qui ước có đoạn nêu: Quốc loạn tiểu nhân cường, loạn lạc giặc nổi lên cướp của giết người, tính mạng, tài sản dân lành bị đe doạ, nay nhờ Thần thánh thiêng chiếu cám việc lập hàng hội bảo an đoàn kết cùng nhau chống giặc, không ai được “Thông nội chí ngoại”, ai phản bội, Thần thánh chiếu cám trừng phạt sẽ bị chết như con gà… Thi bắn nỏ - nét mới trong phần vui hội Lễ hội Đình Đông Quất là một lễ hội dân gian lịch sử truyền thống. Cứ vào mỗi độ Tết đến, Xuân về là bà con nhân dân trong làng lại rất vui mừng chào đón và tổ chức lễ hội vào ngày mùng 7 tháng Giêng . Đây chính là dịp để tri ân các thế hệ tiền nhân đã không tiếc xương máu của mình để bảo vệ quê hương trong những ngày nguy nan, quyết tâm giữ đất, giữ làng và bảo vệ sự bình yên cuộc sống của nhân dân trước sự hung tợn của bọn giặc cướp… Đồng thời cũng là dịp để, mỗi người dân bày tỏ tấm lòng thành kính và sự ước vọng của mình đối với vị thần thiêng liêng cao cả ngự ở tại Đình Đông Quất - vị thần cao cả, quyền năng được dân gian truyền rằng đã bao bọc che chở cho nhân dân thoát khỏi mũi tên, hòn đạn của bọn giặc cướp trong những ngày nguy khó. Mỗi người con của quê hương Cường Lợi dù đi đâu, ở đâu nhưng đến ngày làng mở hội thì đều tìm về với tất cả tình cảm chân thành nhất, thiết tha nhất và sâu lắng nhất. Trò chơi đẩy gậy trong lễ hội Qua vui hội, vui xuân và khấn thần,… mỗi con người đã bày tỏ được sự thành kính của mình đối với các vị thần thánh, các vị tiền nhân của dân làng và gửi gắm những ước vọng, niềm tin của mình trong năm mới sẽ được thần linh phù hộ cho nhiều sức khỏe, may mắn, làm ăn phát đạt, cuộc sống, bình an, hạnh phúc và ấm no, “nhân khang, vật thịnh”… Sau khi Hội bảo an được lập ở tại Đình Đông Quất, nhiều toán giặc cướp đến để cướp phá của cải của dân làng đều bị đánh bại. Tiếng tăm của Hội bảo an đã vang dội khắp mọi nơi. Nhiều nơi đã đến để xin gia nhập Hội bảo an như: Ba Chẽ, Bình Liêu, Lộc Bình, An Châu… Về sau đó, hoà chung với khí thế cách mạng tháng 8, Hội bảo an đã được chuyển hoá thành lực lượng cách mạng và lực lượng dân quân du kích. Trước thần thánh thiêng liêng, lực lượng quân dân du kích cũng đã từng tuyên thệ nguyện đoàn kết, trung thành với Đảng, với Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà… Đánh cừ - trò chơi đậm chất dân gian Có thể thấy, Lễ hội Đình Đông Quất trong mấy năm trở lại đây đã và đang dần được các cấp, các ngành của địa phương quan tâm khôi phục và tổ chức trở lại. Trong ngày hội, ngoài phần tế lễ, ôn lại những truyền thống lịch sử của quê hương, lịch sử của lễ hội, những kỳ tích hào hùng của cha anh; nhiều những trò chơi, trò diễn dân gian cũng được tổ chức kết hợp với ngày hội thể dục thể thao thể hiện tinh thần lạc quan, tinh thần thượng võ, tinh thần đoàn kết và ý chí kiên cường, anh hùng, quật khởi của đất và người nơi đây trong quá khứ và trong hiện tại. Tiêu biểu là các môn như: Kéo co, đẩy gậy, đánh cầu, đá bóng, đánh quay… Tất cả đã tạo ra một khí thế phấn khởi, đoàn kết, thi đua trong những ngày đầu xuân năm mới. Dễ dàng để nhận thấy, có rất nhiều cặp nam thanh nữ tú đi lễ hội. Theo dân gian truyền lại, từ những thập kỷ trước, tại lễ hội này, nhiều đôi trai gái đã gặp nhau, tỏ tình, hẹn ước và sau này đã nên duyên chồng vợ./. Theo Báo Lạng Sơn

Related Figures

Hội chùa Bắc Nga

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/1 Âm lịch (lehoi.info)-Chùa Bắc Nga có tên chữ là “Tiên nga phật tự” hay còn được gọi là Chùa Tiên Nga ( hay Tiên Nga Tự). Chùa thuộc địa phận thôn Bắc Nga, Xã Gia Cát, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn. Chùa Bắc Nga nằm trên sườn đồi rộng thoai thoải, dưới tán một cây đa cổ thụ, lưng tựa núi, mặt hướng ra dòng sông Kỳ Cùng uốn lượn. Chùa hiện nay đã được tu bổ lại để thờ Phật và thờ Tiên. Tuy không thật sự bề thế và hoành tráng như nhiều các ngôi chùa khác nhưng chùa Bắc Nga từ lâu đã nổi tiếng linh thiêng. Người đến hội Bắc Nga thì không thể thiếu việc vào chùa thắp đôi nén hương hay cúng bái Thần Phật. Hội chùa Bắc Nga Lễ hội chùa Bắc Nga được tổ chức vào ngày rằm tháng Giêng hàng năm (trùng với hội chùa Tam Thanh). Đây là lễ hội để cầu tài cầu lộc, du xuân và để nam nữ rủ nhau lên đồi cao hát giao duyên với các làn điệu sli, lượn, được coi là nét đặc trưng cho hát trong lễ hội ở tại Lạng Sơn. Phần lễ có các nghi thức cúng tế trong chùa mời Tiên mời Phật về phù hộ cho dân chúng được bình an và hạnh phúc. Múa sư tử trong Lễ hội Chùa Bắc Nga Phần hội bao gồm múa sư tử,hát sli và hát lượn. Hàng năm du khách thập phương đến với hội rất đông, xe cộ cờ hoa chật kín cả con đường thôn Bắc Nga. Nét độc đáo của hội chùa này là hầu hết du khách đã đến đây thì đều tổ chức mua thịt lợn quay và các đồ ăn dân dã khác, rồi tập trung thành từng nhóm trên các sườn đồi, bãi sông để vừa ngắm cảnh hội vừa thưởng thức các đặc sản ẩm thực ở vùng quê Xứ Lạng trong tiết xuân ấm áp. Đây cũng là thú vui dã ngoại đầu xuân của du khách và rất phù hợp với các bạn trẻ Hội chùa Bắc Nga thu hút đông đảo người dân tới tham dự

(lehoi.info)-Chùa Bắc Nga có tên chữ là “Tiên nga phật tự” hay còn được gọi là Chùa Tiên Nga ( hay Tiên Nga Tự). Chùa thuộc địa phận thôn Bắc Nga, Xã Gia Cát, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.

Chùa Bắc Nga nằm trên sườn đồi rộng thoai thoải, dưới tán một cây đa cổ thụ, lưng tựa núi, mặt hướng ra dòng sông Kỳ Cùng uốn lượn. Chùa hiện nay đã được tu bổ lại để thờ Phật và thờ Tiên. Tuy không thật sự bề thế và hoành tráng như nhiều các ngôi chùa khác nhưng chùa Bắc Nga từ lâu đã nổi tiếng linh thiêng. Người đến hội Bắc Nga thì không thể thiếu việc vào chùa thắp đôi nén hương hay cúng bái Thần Phật.

Hội chùa Bắc Nga

Lễ hội chùa Bắc Nga được tổ chức vào ngày rằm tháng Giêng hàng năm (trùng với hội chùa Tam Thanh). Đây là lễ hội để cầu tài cầu lộc, du xuân và để nam nữ rủ nhau lên đồi cao hát giao duyên với các làn điệu sli, lượn, được coi là nét đặc trưng cho hát trong lễ hội ở tại Lạng Sơn.

Phần lễ có các nghi thức cúng tế trong chùa mời Tiên mời Phật về phù hộ cho dân chúng được bình an và hạnh phúc. Múa sư tử trong Lễ hội Chùa Bắc Nga Phần hội bao gồm múa sư tử,hát sli và hát lượn. Hàng năm du khách thập phương đến với hội rất đông, xe cộ cờ hoa chật kín cả con đường thôn Bắc Nga. Nét độc đáo của hội chùa này là hầu hết du khách đã đến đây thì đều tổ chức mua thịt lợn quay và các đồ ăn dân dã khác, rồi tập trung thành từng nhóm trên các sườn đồi, bãi sông để vừa ngắm cảnh hội vừa thưởng thức các đặc sản ẩm thực ở vùng quê Xứ Lạng trong tiết xuân ấm áp. Đây cũng là thú vui dã ngoại đầu xuân của du khách và rất phù hợp với các bạn trẻ Hội chùa Bắc Nga thu hút đông đảo người dân tới tham dự

Related Figures

Lễ hội đền Bắc Lệ

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 18/9- 20/9 Âm lịch Đền thuộc xã Tân Thành, Hữu Lũng, Lạng Sơn, Đền thờ bà chúa Thượng Ngàn - một trong ba vị Mẫu vẫn được thờ phụng trong tín ngưỡng thờ Mẫu ở nước Việt Nam. Lễ hội đền Bắc Lê được tổ chức hàng năm trong vòng 3 ngày từ ngày 18 đến ngày 20 tháng 9 âm lịch. Di tích đền Bắc Lệ Lễ hội gồm có các phần lễ chính như lễ tắm ngai, lễ chính tiệc và lễ rước. Lễ tắm ngai sẽ được diễn ra trước lễ rước. Trong đó, người dân lấy nước suối ở đền Bắc Lệ về để lau tượng Mẫu đệ nhất Thượng ngàn và ngai đức vua cha Ngọc Hoàng. Lễ chính tiệc bao giờ cũng có cỗ tam sinh dùng làm vật hiến tế (lợn, gà và cá), ngoài ra còn có rất nhiều đồ lễ khác như ngựa, voi, thuyền, mũ, hình nhân,... làm bằng giấy. Cỗ tam sinh cho ban Công đồng, ban Ngũ vị tôn ông, cỗ chay (có khi cả mặn) ban cho Mẫu,... Sau đó, lễ rước Mẫu đi xem hội trong tiếng chiêng, tiếng trống rộn ràng. Đoàn rước đến đền Đèo Kẻng (một di tích liên quan đến đền Bắc Lệ) để làm lễ đại tế. Tế xong người dân sẽ quay về đền Bắc Lệ để làm lễ đại tế. Lễ hội đền Bắc Lệ Trong ý thức của những người dân địa phương, lễ hội đền Bắc Lệ là một cái tết lớn trong năm. Trước đây, trong 3 ngày diễn ra lễ hội, nhà đền tổ chức ăn uống ở tại đền. Đến nay, người dân chỉ tổ chức vào buổi chiều ngày 20, mọi người sẽ cùng tập trung dùng đại tiệc với quan niệm "một miếng lộc thánh bằng một gánh lộc trần". Qua hàng trăm năm, đền Bắc Lệ đã trở thành điểm sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của nhân dân địa phương, điểm đến của những người dân Việt Nam trên mọi miền Tổ quốc với niềm tin chân thành, trong sáng vào Tiên Thánh, vào Mẫu - người Mẹ linh thiêng của dân tộc. Đông đảo người dân và du khách tới tham dự lễ hội đền Bắc Lệ

Đền thuộc xã Tân Thành, Hữu Lũng, Lạng Sơn, Đền thờ bà chúa Thượng Ngàn - một trong ba vị Mẫu vẫn được thờ phụng trong tín ngưỡng thờ Mẫu ở nước Việt Nam. Lễ hội đền Bắc Lê được tổ chức hàng năm trong vòng 3 ngày từ ngày 18 đến ngày 20 tháng 9 âm lịch.

Di tích đền Bắc Lệ

Lễ hội gồm có các phần lễ chính như lễ tắm ngai, lễ chính tiệc và lễ rước. Lễ tắm ngai sẽ được diễn ra trước lễ rước. Trong đó, người dân lấy nước suối ở đền Bắc Lệ về để lau tượng Mẫu đệ nhất Thượng ngàn và ngai đức vua cha Ngọc Hoàng. Lễ chính tiệc bao giờ cũng có cỗ tam sinh dùng làm vật hiến tế (lợn, gà và cá), ngoài ra còn có rất nhiều đồ lễ khác như ngựa, voi, thuyền, mũ, hình nhân,... làm bằng giấy. Cỗ tam sinh cho ban Công đồng, ban Ngũ vị tôn ông, cỗ chay (có khi cả mặn) ban cho Mẫu,... Sau đó, lễ rước Mẫu đi xem hội trong tiếng chiêng, tiếng trống rộn ràng. Đoàn rước đến đền Đèo Kẻng (một di tích liên quan đến đền Bắc Lệ) để làm lễ đại tế. Tế xong người dân sẽ quay về đền Bắc Lệ để làm lễ đại tế. Lễ hội đền Bắc Lệ Trong ý thức của những người dân địa phương, lễ hội đền Bắc Lệ là một cái tết lớn trong năm. Trước đây, trong 3 ngày diễn ra lễ hội, nhà đền tổ chức ăn uống ở tại đền. Đến nay, người dân chỉ tổ chức vào buổi chiều ngày 20, mọi người sẽ cùng tập trung dùng đại tiệc với quan niệm "một miếng lộc thánh bằng một gánh lộc trần". Qua hàng trăm năm, đền Bắc Lệ đã trở thành điểm sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của nhân dân địa phương, điểm đến của những người dân Việt Nam trên mọi miền Tổ quốc với niềm tin chân thành, trong sáng vào Tiên Thánh, vào Mẫu - người Mẹ linh thiêng của dân tộc. Đông đảo người dân và du khách tới tham dự lễ hội đền Bắc Lệ

Related Figures

Lễ hội Chùa Tiên

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 18/1 Âm lịch Chùa Tiên nằm trong lòng núi Đại Tượng, thuộc địa phận phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Lễ hội Chùa Tiên xuất phát từ tín ngưỡng thờ đá và thờ nguồn nước của những cư dân nông nghiệp. Đây là một trong những mô típ hình thành lễ hội rất phổ biến ở tại Việt Nam. Trong dịp đầu năm mới, lễ hội Chùa Tiên là một ngày hội văn hóa truyền thống đặc sắc được tổ chức rất đông vui, nhộn nhịp và điển hình nhất ở tỉnh Lạng Sơn. Lễ hội được diễn ra vào ngày 18 tháng giêng âm lịch. Lễ hội Chùa Tiên Lạng Sơn Có rất nhiều truyền thuyết liên quan đến nguồn gốc của lễ hội Chùa Tiên, song phổ biển nhất đó là truyền thuyết Giếng Tiên. Chuyện kể lại rằng: "Ngày xưa, vào năm trời hạn hán đến nỗi sông Kỳ Cùng cũng cạn nước, đất đai nứt nẻ, cỏ cây héo khô và ruộng đồng xơ xác, dân làng Phia Luông không có nước để dùng. Bữa nọ, một bầy trẻ chăn trâu trong làng đã gặp một cụ già ăn mặc xềnh xoàng, dáng thiểu não đến gặp chúng để xin ăn, lũ trẻ đã vui vẻ chia phần cơm của chúng cho ông cụ và thành thực nói rằng: chúng cháu chỉ có cơm cho cụ ăn nhưng chẳng biết lấy gì mời cụ uống vì lâu nay làng chúng cháu đã không có nước. Cảm kích trước tấm lòng hiếu thảo của lũ trẻ, vừa nhận cơm xong, cụ già liền lấy gót chân giẫm xuống một tảng đá, lập tức có một dòng nước ngọt trong vắt phun lên. Từ đó, dân làng Phia Luông đã có đủ nước dùng. Sau này, những người dân địa phương cho rằng: cụ già đó chính là một ông Tiên đã ra tay cứu giúp làng qua cơn hoạn nạn, nên đã gọi nguồn nước đó là Giếng Tiên. Say này, người dân địa phương đã lập miếu thờ Tiên ở ngay cạnh giếng bên sườn đồi Đèo Giang - Văn Vỉ. Đặc sắc lễ hội Chùa Tiên Lạng Sơn Phần lễ, bao gồm: các lễ hội thờ Phật, với nghi thức khai hội và phần nghi lễ tế. Điều đặc biệt ở lễ hội Chùa Tiên, đó là các đồ lễ vật để đặt lên các bàn thờ không được dâng lợn quay - vật lễ thường được dâng cúng ở các lễ hội khác. Hội Chùa Tiên ngày nay mang tính chất là ngày hội cầu tài, cầu lộc và du xuân vãn cảnh. Chính vì vậy, lễ hội đã vượt khỏi khuôn khổ của lễ hội làng. Nhiều du khách ở các vùng lân cận và các tỉnh miền xuôi đã nô nức đến trẩy hội. Không chỉ thế, Chùa Tiên còn là một danh lam thắng cảnh vào bậc nhất của thành phố Lạng Sơn. Đông đảo du khách tới tham dự lễ hội Chùa Tiên Trong cuộc sống hiện đại đầy những lo toan và bộn bề, trở về với không khí lễ hội, du khách như đã bỏ lại đằng sau những tháng ngày mệt mỏi, cùng hoà mình vào không khí tưng bừng của lễ hội, sôi nổi, tham gia vào các trò chơi dân gian giản dị và thú vị hay trở lại những quan niệm tâm linh từ thời xưa. Tất cả những cảm giác đó như mãi là lời mời gọi du khách đến với Lạng Sơn để cùng tham dự một lễ hội truyền thống đầy chất huyền thoại.

Chùa Tiên nằm trong lòng núi Đại Tượng, thuộc địa phận phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Lễ hội Chùa Tiên xuất phát từ tín ngưỡng thờ đá và thờ nguồn nước của những cư dân nông nghiệp. Đây là một trong những mô típ hình thành lễ hội rất phổ biến ở tại Việt Nam. Trong dịp đầu năm mới, lễ hội Chùa Tiên là một ngày hội văn hóa truyền thống đặc sắc được tổ chức rất đông vui, nhộn nhịp và điển hình nhất ở tỉnh Lạng Sơn. Lễ hội được diễn ra vào ngày 18 tháng giêng âm lịch.

Lễ hội Chùa Tiên Lạng Sơn

Có rất nhiều truyền thuyết liên quan đến nguồn gốc của lễ hội Chùa Tiên, song phổ biển nhất đó là truyền thuyết Giếng Tiên. Chuyện kể lại rằng: "Ngày xưa, vào năm trời hạn hán đến nỗi sông Kỳ Cùng cũng cạn nước, đất đai nứt nẻ, cỏ cây héo khô và ruộng đồng xơ xác, dân làng Phia Luông không có nước để dùng. Bữa nọ, một bầy trẻ chăn trâu trong làng đã gặp một cụ già ăn mặc xềnh xoàng, dáng thiểu não đến gặp chúng để xin ăn, lũ trẻ đã vui vẻ chia phần cơm của chúng cho ông cụ và thành thực nói rằng: chúng cháu chỉ có cơm cho cụ ăn nhưng chẳng biết lấy gì mời cụ uống vì lâu nay làng chúng cháu đã không có nước. Cảm kích trước tấm lòng hiếu thảo của lũ trẻ, vừa nhận cơm xong, cụ già liền lấy gót chân giẫm xuống một tảng đá, lập tức có một dòng nước ngọt trong vắt phun lên. Từ đó, dân làng Phia Luông đã có đủ nước dùng. Sau này, những người dân địa phương cho rằng: cụ già đó chính là một ông Tiên đã ra tay cứu giúp làng qua cơn hoạn nạn, nên đã gọi nguồn nước đó là Giếng Tiên. Say này, người dân địa phương đã lập miếu thờ Tiên ở ngay cạnh giếng bên sườn đồi Đèo Giang - Văn Vỉ. Đặc sắc lễ hội Chùa Tiên Lạng Sơn Phần lễ, bao gồm: các lễ hội thờ Phật, với nghi thức khai hội và phần nghi lễ tế. Điều đặc biệt ở lễ hội Chùa Tiên, đó là các đồ lễ vật để đặt lên các bàn thờ không được dâng lợn quay - vật lễ thường được dâng cúng ở các lễ hội khác. Hội Chùa Tiên ngày nay mang tính chất là ngày hội cầu tài, cầu lộc và du xuân vãn cảnh. Chính vì vậy, lễ hội đã vượt khỏi khuôn khổ của lễ hội làng. Nhiều du khách ở các vùng lân cận và các tỉnh miền xuôi đã nô nức đến trẩy hội. Không chỉ thế, Chùa Tiên còn là một danh lam thắng cảnh vào bậc nhất của thành phố Lạng Sơn. Đông đảo du khách tới tham dự lễ hội Chùa Tiên Trong cuộc sống hiện đại đầy những lo toan và bộn bề, trở về với không khí lễ hội, du khách như đã bỏ lại đằng sau những tháng ngày mệt mỏi, cùng hoà mình vào không khí tưng bừng của lễ hội, sôi nổi, tham gia vào các trò chơi dân gian giản dị và thú vị hay trở lại những quan niệm tâm linh từ thời xưa. Tất cả những cảm giác đó như mãi là lời mời gọi du khách đến với Lạng Sơn để cùng tham dự một lễ hội truyền thống đầy chất huyền thoại.

Related Figures

Lễ hội Quỳnh Sơn

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 12/1- 13/1 Âm lịch (lehoi.info) - Lễ hội Quỳnh Sơn được tổ chức trong 2 ngày đó là ngày 12 và ngày 13 tháng giêng âm lịch hàng năm, tại xã Quỳnh Sơn huyện Bắc Sơn, tỉnh lạng Sơn. Nổi bật trong lễ hội đó là những bộ trang phục của người dân tộc Tày Nùng với những diệu hát then, hát lượm, hát ví… đã tô thêm nét văn hóa đặc sắc cho nơi đây. Đặc sắc lễ hội Quỳnh Sơn Trong lễ hội diễn ra lễ rước kiệu ông Dương Tự Minh là người dân tộc Tày làng Quan Triều, tỉnh Thái Nguyên ông là thủ lĩnh của Phủ Phú Lương. Đời nhà Lý Ông là một người có công trong cuộc chinh chiến chống quân xâm lược nhà Tống, giữ vững vùng biên cương phía Bắc của nước Đại Việt vào đầu thế kỷ thứ XII. Sau khi dẹp giặc xong, núi rừng bình an, Quốc Thái dân an cùng với việc xây dựng một vùng đất phồn thịnh. Ông luôn quan tâm đến đời sống của những người dân tộc nông thôn nghèo khó. Cuối đời ông đã trở về Điểm Sơn và mất ở tại đấy- ngày nay là núi Đuổm, ông đã được nhà Lý phong sắc “Uy viên đôn kính cao sơn quảng độ chi thần” các đời sau đều ghi nhận ông là Cao Sơn Quý Minh. Khi được biết tin ông mất để tưởng nhớ ơn công đức của Dương Tự Minh những người dân tổng Quỳnh Sơn đã lập đền thờ tại Đẳng Rử Thôn ở bên sườn núi đá nước nguồn. Phía sau có giếng tiên thuộc Quỳnh Sơn. Trải qua nhiều năm phát triển dân số của Quỳnh Sơn ngày càng đông địa điểm chật hẹp, dân làng đã cùng nhau chuyển Đền đến một địa điểm mới cách địa điểm cũ 400m về phía Đông ở giữa thôn Thâm Pác, thôn Nà Riềng 1 và thôn Nà Riềng 2. Đây là nơi để nhân dân thờ cúng và sinh hoạt văn hóa tâm linh hướng nguyện cầu sự giúp đỡ của thánh thần nhằm có được cuộc sống ấm no hạnh phúc, qua đó gắn kết tinh thần cộng đồng và giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Lễ hội Quỳnh Sơn Bên cạnh phần lễ, phần hội với nhiều những trò chơi, trò diễn dân gian vui nhộn, thể hiện được những ý nghĩa triết lý nhân văn sâu sắc về một lễ hội cầu mùa, cầu mưa, cầu cho mưa thuận gió hòa, cây cối tươi tốt, mùa màng bội thu, người người, nhà nhà no ấm và hạnh phúc. Tiêu biểu đó là trò đánh cờ tiên, đánh đu, giã gạo, ném còn, gói bánh chưng đen… Theo tín ngưỡng dân gian thì, nhiều những trò chơi, trò diễn trong lễ hội cầu mùa còn là biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực - cầu mong cho vạn vật sinh sôi, nảy nở nhiều; thể hiện sự giao hòa của âm - dương, của trời - đất; mối quan hệ hữu cơ của các yếu tố "Thiên thời - Địa lợi - Nhân hòa"… Trò đanh đu trong lễ hội Lễ hội không chỉ là điểm đến của các du khách trong tỉnh mà ngày càng thu hút du khách thập phương, thật sự trở thành một điểm đến trong hành trình du lịch tâm linh nơi cửa ngõ phía Bắc nước ta mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc ở vùng đất Lạng Sơn./.

(lehoi.info) - Lễ hội Quỳnh Sơn được tổ chức trong 2 ngày đó là ngày 12 và ngày 13 tháng giêng âm lịch hàng năm, tại xã Quỳnh Sơn huyện Bắc Sơn, tỉnh lạng Sơn. Nổi bật trong lễ hội đó là những bộ trang phục của người dân tộc Tày Nùng với những diệu hát then, hát lượm, hát ví… đã tô thêm nét văn hóa đặc sắc cho nơi đây.

Đặc sắc lễ hội Quỳnh Sơn

Trong lễ hội diễn ra lễ rước kiệu ông Dương Tự Minh là người dân tộc Tày làng Quan Triều, tỉnh Thái Nguyên ông là thủ lĩnh của Phủ Phú Lương. Đời nhà Lý Ông là một người có công trong cuộc chinh chiến chống quân xâm lược nhà Tống, giữ vững vùng biên cương phía Bắc của nước Đại Việt vào đầu thế kỷ thứ XII. Sau khi dẹp giặc xong, núi rừng bình an, Quốc Thái dân an cùng với việc xây dựng một vùng đất phồn thịnh. Ông luôn quan tâm đến đời sống của những người dân tộc nông thôn nghèo khó. Cuối đời ông đã trở về Điểm Sơn và mất ở tại đấy- ngày nay là núi Đuổm, ông đã được nhà Lý phong sắc “Uy viên đôn kính cao sơn quảng độ chi thần” các đời sau đều ghi nhận ông là Cao Sơn Quý Minh. Khi được biết tin ông mất để tưởng nhớ ơn công đức của Dương Tự Minh những người dân tổng Quỳnh Sơn đã lập đền thờ tại Đẳng Rử Thôn ở bên sườn núi đá nước nguồn. Phía sau có giếng tiên thuộc Quỳnh Sơn. Trải qua nhiều năm phát triển dân số của Quỳnh Sơn ngày càng đông địa điểm chật hẹp, dân làng đã cùng nhau chuyển Đền đến một địa điểm mới cách địa điểm cũ 400m về phía Đông ở giữa thôn Thâm Pác, thôn Nà Riềng 1 và thôn Nà Riềng 2. Đây là nơi để nhân dân thờ cúng và sinh hoạt văn hóa tâm linh hướng nguyện cầu sự giúp đỡ của thánh thần nhằm có được cuộc sống ấm no hạnh phúc, qua đó gắn kết tinh thần cộng đồng và giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Lễ hội Quỳnh Sơn Bên cạnh phần lễ, phần hội với nhiều những trò chơi, trò diễn dân gian vui nhộn, thể hiện được những ý nghĩa triết lý nhân văn sâu sắc về một lễ hội cầu mùa, cầu mưa, cầu cho mưa thuận gió hòa, cây cối tươi tốt, mùa màng bội thu, người người, nhà nhà no ấm và hạnh phúc. Tiêu biểu đó là trò đánh cờ tiên, đánh đu, giã gạo, ném còn, gói bánh chưng đen… Theo tín ngưỡng dân gian thì, nhiều những trò chơi, trò diễn trong lễ hội cầu mùa còn là biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực - cầu mong cho vạn vật sinh sôi, nảy nở nhiều; thể hiện sự giao hòa của âm - dương, của trời - đất; mối quan hệ hữu cơ của các yếu tố "Thiên thời - Địa lợi - Nhân hòa"… Trò đanh đu trong lễ hội Lễ hội không chỉ là điểm đến của các du khách trong tỉnh mà ngày càng thu hút du khách thập phương, thật sự trở thành một điểm đến trong hành trình du lịch tâm linh nơi cửa ngõ phía Bắc nước ta mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc ở vùng đất Lạng Sơn./.

Related Figures

Lễ hội đền vua Lê

Thông tin thời kỳ

(lehoi.info) - Lễ hội đền vua Lê diễn ra hàng năm vào ngày 23 tháng giêng, thuộc xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn, đây là một lễ hội truyền thống mang ý nghĩa lịch sử sâu sắc. Lễ hội đền vua Lê Nhắc đến cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, chúng ta lại nhớ tới kế sách, chiến lược “vây thành, diệt viện”, của vua Lê Thái Tổ - Lê Lợi, nhớ tới những thắng lợi của chính nghĩa, của tinh thần yêu nước, của sức mạnh đoàn kết dân tộc. Để tưởng nhớ về những trang sử đầy tự hào của dân tộc ta, nhớ đến các vị anh hùng dân tộc trong suốt dặm dài công cuộc dựng nước và giữ nước, trong đó có những chiến công oanh liệt gắn liền với mảnh đất Lạng Sơn. Hàng năm cứ vào ngày 23 tháng giêng, Ủy ban nhân dân thành phố Lạng Sơn lại tổ chức lễ hội đền vua Lê. Quang cảnh Lễ Hội Đền Vua Lê Mở đầu lễ hội là lễ khai mạc diễn ra rất tưng bừng và nhộn nhịp với sự xuất hiện của những đội múa sư tử, đầy tinh thần thượng võ - một nét đẹp văn hóa giàu bản sắc trong nhiều lễ hội ở tại Lạng Sơn. Tiếp đó là chương trình văn nghệ với những tiết mục múa, hát đậm đà bản sắc dân tộc, tạo được ấn tượng sâu đậm ở trong lòng những người dự hội về những nét đẹp văn hóa của đồng bào các dân tộc Xứ Lạng. Đặc biệt, các tiết mục hát then, đàn tính của những người trung tuổi, cao tuổi và màn hát múa của các bạn trẻ, của các em thiếu nhi càng khiến cho không khí buổi khai mạc thêm vui tươi và náo nức hơn. Ngay sau tiếng trống khai hội, đại biểu, nhân dân và những du khách thập phương vào đền dâng hương, cầu cho “quốc thái dân an”, “nhân khang, vật thịnh”, cuộc sống ấm n và hạnh phúc. Kế đó, các trò chơi vui hội hào hứng và ý nghĩa như: đánh cờ tướng, đẩy gậy,… thu hút rất nhiều người dự hội tham gia và cổ vũ, khiến cho ngày hội đã nhộn nhịp lại càng đông vui hơn. Một tiết mục văn nghệ trong lễ hội Vào năm 2002 Đền Vua Lê đã được xếp hạng là di tích lịch sử cấp tỉnh, cấp thành phố. Có thể nói, lễ hội Đền Vua Lê đã và đang góp phần thiết thực vào công tác giáo dục truyền thống lịch sử cho các thế hệ qua di sản văn hóa, đồng thời góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn hóa lễ hội ở trên quê hương Xứ Lạng./.

(lehoi.info) - Lễ hội đền vua Lê diễn ra hàng năm vào ngày 23 tháng giêng, thuộc xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn, đây là một lễ hội truyền thống mang ý nghĩa lịch sử sâu sắc.

Lễ hội đền vua Lê

Nhắc đến cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, chúng ta lại nhớ tới kế sách, chiến lược “vây thành, diệt viện”, của vua Lê Thái Tổ - Lê Lợi, nhớ tới những thắng lợi của chính nghĩa, của tinh thần yêu nước, của sức mạnh đoàn kết dân tộc. Để tưởng nhớ về những trang sử đầy tự hào của dân tộc ta, nhớ đến các vị anh hùng dân tộc trong suốt dặm dài công cuộc dựng nước và giữ nước, trong đó có những chiến công oanh liệt gắn liền với mảnh đất Lạng Sơn. Hàng năm cứ vào ngày 23 tháng giêng, Ủy ban nhân dân thành phố Lạng Sơn lại tổ chức lễ hội đền vua Lê. Quang cảnh Lễ Hội Đền Vua Lê Mở đầu lễ hội là lễ khai mạc diễn ra rất tưng bừng và nhộn nhịp với sự xuất hiện của những đội múa sư tử, đầy tinh thần thượng võ - một nét đẹp văn hóa giàu bản sắc trong nhiều lễ hội ở tại Lạng Sơn. Tiếp đó là chương trình văn nghệ với những tiết mục múa, hát đậm đà bản sắc dân tộc, tạo được ấn tượng sâu đậm ở trong lòng những người dự hội về những nét đẹp văn hóa của đồng bào các dân tộc Xứ Lạng. Đặc biệt, các tiết mục hát then, đàn tính của những người trung tuổi, cao tuổi và màn hát múa của các bạn trẻ, của các em thiếu nhi càng khiến cho không khí buổi khai mạc thêm vui tươi và náo nức hơn. Ngay sau tiếng trống khai hội, đại biểu, nhân dân và những du khách thập phương vào đền dâng hương, cầu cho “quốc thái dân an”, “nhân khang, vật thịnh”, cuộc sống ấm n và hạnh phúc. Kế đó, các trò chơi vui hội hào hứng và ý nghĩa như: đánh cờ tướng, đẩy gậy,… thu hút rất nhiều người dự hội tham gia và cổ vũ, khiến cho ngày hội đã nhộn nhịp lại càng đông vui hơn. Một tiết mục văn nghệ trong lễ hội Vào năm 2002 Đền Vua Lê đã được xếp hạng là di tích lịch sử cấp tỉnh, cấp thành phố. Có thể nói, lễ hội Đền Vua Lê đã và đang góp phần thiết thực vào công tác giáo dục truyền thống lịch sử cho các thế hệ qua di sản văn hóa, đồng thời góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn hóa lễ hội ở trên quê hương Xứ Lạng./.

Related Figures

Lễ hội Căm Mường

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 3/3 Âm lịch Lễ hội Căm Mường là một lễ hội của đồng bào người dân tộc Lự ở tỉnh Lai Châu. Đây là dịp để cho bà con dân bản dâng tế lễ vật cầu khẩn thần sông, thần núi, thần khe và thần suối thần rồng phù hộ cho bà con dân bản được no đủ, điều lành thì ở lại, điều dữ thì mang đi. Lễ hội được tổ chức hàng năm vào ngày mùng 3 tháng 3 âm lịch. Người dân tộc Lự trong lễ hội Căm Mường Lễ hội Căm Mường được chia làm 2 phần là Phần lễ và Phần hội Phần lễ: Mỗi gia đình sẽ cử ra một người đại diện là nam giới để đi tham gia phần phụ lễ, khi đi về sẽ có lộc dành cho những người ở nhà. Mở đầu cuộc lễ, ông thầy cả sẽ đọc lời tuyên bố lý do buổi lễ. Trong lời của thầy cả đề cập tới lịch sử của người dân tộc Lự, lịch sử của bản mường, cái lý của việc làm lễ và những người sẽ được “thụ lễ” lần này. Một nghi thức trong lễ hội Khi bắt đầu lễ các thầy sẽ lạy một lạy rồi bắt đầu đọc lời khấn. Trong phần lễ này không có khèn, trống, sáo hay bất kì một loại nhạc cụ nào để làm âm vang. Theo quan niệm của người dân tộc Lự thì như thế sẽ làm ảnh hưởng tới các linh hồn riêng, mà cái linh hồn ở đây chính là sự thần bí và linh thiêng ẩn hiện trong những lời khẩn cầu của ông thầy cúng. Người dân tộc Lự ví lễ là dịp để thể hiện lòng thành kính đối với các vị thần được thể hiện bằng các lễ vật dâng tế trong buổi lễ. Những lễ vật này do người dân bản tự nguyện đóng góp, và thầy cúng sẽ khẩn cầu lên vị thần thấu hiểu cho tấm lòng thành kính của dân bản, mong được mùa bội thu, thóc lúa đầy bồ và già trẻ gái trai trong bản được vui vẻ sum vầy hạnh phúc. Phần hội: Các chàng trai sẽ thổi sáo để cho các cô gái hát những bài ca của dân tộc mình. Những lời hát là lời nhắn nhủ của thế hệ đi trước dành cho lớp trẻ hôm nay phải biết chung tay xây dựng bản mường ngày càng ấm no và hạnh phúc. Các chàng trai thổi sáo cho các cô gái hát trong lễ hội Cùng với các bài hát thì các trò chơi như đẩy gậy, kéo co . Nó cũng thể hiện được sức mạnh của mỗi người, đồng thời nếu ai là người thắng sẽ gặp được nhiều may mắn trong năm tới, còn ai là người thua sẽ là người gặp những điều không may. Vì vậy mà kết thúc lễ hội mọi người sẽ cùng té nước để cầu may, cũng như để gột rửa những điều không may mắn. Trò chơi đẩy gậy trong lễ hội

Lễ hội Căm Mường là một lễ hội của đồng bào người dân tộc Lự ở tỉnh Lai Châu. Đây là dịp để cho bà con dân bản dâng tế lễ vật cầu khẩn thần sông, thần núi, thần khe và thần suối thần rồng phù hộ cho bà con dân bản được no đủ, điều lành thì ở lại, điều dữ thì mang đi. Lễ hội được tổ chức hàng năm vào ngày mùng 3 tháng 3 âm lịch.

Người dân tộc Lự trong lễ hội Căm Mường

Lễ hội Căm Mường được chia làm 2 phần là Phần lễ và Phần hội

Phần lễ: Mỗi gia đình sẽ cử ra một người đại diện là nam giới để đi tham gia phần phụ lễ, khi đi về sẽ có lộc dành cho những người ở nhà. Mở đầu cuộc lễ, ông thầy cả sẽ đọc lời tuyên bố lý do buổi lễ. Trong lời của thầy cả đề cập tới lịch sử của người dân tộc Lự, lịch sử của bản mường, cái lý của việc làm lễ và những người sẽ được “thụ lễ” lần này. Một nghi thức trong lễ hội Khi bắt đầu lễ các thầy sẽ lạy một lạy rồi bắt đầu đọc lời khấn. Trong phần lễ này không có khèn, trống, sáo hay bất kì một loại nhạc cụ nào để làm âm vang. Theo quan niệm của người dân tộc Lự thì như thế sẽ làm ảnh hưởng tới các linh hồn riêng, mà cái linh hồn ở đây chính là sự thần bí và linh thiêng ẩn hiện trong những lời khẩn cầu của ông thầy cúng. Người dân tộc Lự ví lễ là dịp để thể hiện lòng thành kính đối với các vị thần được thể hiện bằng các lễ vật dâng tế trong buổi lễ. Những lễ vật này do người dân bản tự nguyện đóng góp, và thầy cúng sẽ khẩn cầu lên vị thần thấu hiểu cho tấm lòng thành kính của dân bản, mong được mùa bội thu, thóc lúa đầy bồ và già trẻ gái trai trong bản được vui vẻ sum vầy hạnh phúc. Phần hội: Các chàng trai sẽ thổi sáo để cho các cô gái hát những bài ca của dân tộc mình. Những lời hát là lời nhắn nhủ của thế hệ đi trước dành cho lớp trẻ hôm nay phải biết chung tay xây dựng bản mường ngày càng ấm no và hạnh phúc. Các chàng trai thổi sáo cho các cô gái hát trong lễ hội Cùng với các bài hát thì các trò chơi như đẩy gậy, kéo co . Nó cũng thể hiện được sức mạnh của mỗi người, đồng thời nếu ai là người thắng sẽ gặp được nhiều may mắn trong năm tới, còn ai là người thua sẽ là người gặp những điều không may. Vì vậy mà kết thúc lễ hội mọi người sẽ cùng té nước để cầu may, cũng như để gột rửa những điều không may mắn. Trò chơi đẩy gậy trong lễ hội

Related Figures

Lễ hội Then Kin Pang

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/3 Âm lịch Lễ hội Kin Pang Then là một lễ hội của những người đồng bào dân tộc Thái trắng, mang tính cộng đồng cao và có hình thức diễn xướng dân gian độc đáo. Đã thành thông lệ, cứ vào ngày mùng 10 tháng 3 (Âm lịch) khi những bông bó mạ đã nở vàng trên núi đồi, những trận mưa đầu mùa bắt đầu lắc rắc rơi gọi mầm măng đắng nhú lên khỏi mặt đất là bà con người dân tộc Thái trắng ở Lai Châu lại kéo về xã Khổng Lào, Phong Thổ, Lai Châu để tham dự lễ hội Then Kin Pang. Bà Then và đội múa trong nghi lễ mời Then về chung vui với bản mường Đây là một lễ hội địa phương và có nguồn gốc từ dân gian. Truyền thuyết dân tộc Thái trắng kể lại rằng: Sau Vua Trời là Then, các vị Then đều có lòng bao dung độ lượng, yêu thiên nhiên cây cỏ và yêu con người. Bởi vậy mà Vua Trời đã phái các vị Then xuống hạ giới để cứu giúp con người. Dân bản trên mường dưới hễ đau ốm thì sẽ được Then cho thuốc, nhà nào gặp phải rủi ro vận hạn thì đến gặp Then sẽ được cầu phúc cho tai qua nạn khỏi. Bởi vậy nên cứ đến ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch hàng năm là những người này lại đến để tổ chức lễ tạ ơn Then, người khác đến để cầu phúc xin cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi và bản mường được bình yên no ấm. Dân bản khắp vùng cũng kéo đến để dự lễ, tổ chức các cuộc thi múa hát dân ca; thi ném còn, thi đẩy gậy, thi kéo co, thi bắn nỏ, thi bơi lội, thi té nước; thi nấu ăn... mà thành lễ hội Then Kin Pang (có nghĩa là ngày hội ăn mừng tạ ơn Then). Lễ hội Then Kin Pang gồm có 2 phần là phần lễ và phần hội. Phần lễ với lối hát Then truyền thống. Qua lời hát, ông Then cầu cúng cho dân làng trong bản, trong mường sang một năm mới có được nhiều điều tốt đẹp, cho con người luôn luôn khoẻ mạnh, no ấm, cầu cho mưa thuận gió hoà, cho mùa màng tốt tươi và cùng với đó là lễ tạ ơn của con cái đối với cha mẹ. Ngoài ra, “Kin Pang Then” cũng là lễ hội cầu phúc cầu lộc cho gia đình và cho con cháu, là dịp để cho con cháu tạ ơn thầy trong dịp đầu năm mới. Phần lễ tuy đơn giản nhưng mang ý nghĩa tâm linh rất sâu sắc, không có yếu tố mê tín dị đoan, mang tính cộng đồng cao và vun đắp tình đoàn kết trong bản, trong mường. Điệu múa tính tẩu trong lễ hội Then Kin Pang Phần hội với những lời hát Then, điệu múa, những trò chơi dân gian lành mạnh như Trò mưa đá (là trò chơi ông Then xin trời cho mưa xuống để cho mùa màng tươi tốt), trò cày bừa, trò hái nấm, trò múa khăn, trò múa tăng bu tăng bẳng, trò múa vòng xoè… đã tạo ra một không khí vui tươi phấn khởi và cuốn hút dân làng đến tham gia. Bên cạnh đó, lễ hội còn là dịp để trai gái ở trong bản, trong mường gặp gỡ và thể hiện mình qua những câu hát, những điệu múa. Và sau lễ hội, nhiều đôi đã nên vợ, nên chồng. Trò chơi ném còn trong lễ hội Lễ hội Then Kin Pang giờ chỉ còn lại ở mảnh đất Khổng Lào, cái rốn văn hóa của đồng bào dân tộc Thái ở Lai Châu. Đây là một sinh hoạt văn hóa mang tính tâm linh của đồng bào người dân tộc Thái trắng, góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, khuyến khích du lịch văn hóa và ẩm thực phát triển ở tại vùng đất gian khó nhất nơi địa đầu Tổ quốc.

Lễ hội Kin Pang Then là một lễ hội của những người đồng bào dân tộc Thái trắng, mang tính cộng đồng cao và có hình thức diễn xướng dân gian độc đáo. Đã thành thông lệ, cứ vào ngày mùng 10 tháng 3 (Âm lịch) khi những bông bó mạ đã nở vàng trên núi đồi, những trận mưa đầu mùa bắt đầu lắc rắc rơi gọi mầm măng đắng nhú lên khỏi mặt đất là bà con người dân tộc Thái trắng ở Lai Châu lại kéo về xã Khổng Lào, Phong Thổ, Lai Châu để tham dự lễ hội Then Kin Pang.

Bà Then và đội múa trong nghi lễ mời Then về chung vui với bản mường

Đây là một lễ hội địa phương và có nguồn gốc từ dân gian. Truyền thuyết dân tộc Thái trắng kể lại rằng: Sau Vua Trời là Then, các vị Then đều có lòng bao dung độ lượng, yêu thiên nhiên cây cỏ và yêu con người. Bởi vậy mà Vua Trời đã phái các vị Then xuống hạ giới để cứu giúp con người. Dân bản trên mường dưới hễ đau ốm thì sẽ được Then cho thuốc, nhà nào gặp phải rủi ro vận hạn thì đến gặp Then sẽ được cầu phúc cho tai qua nạn khỏi. Bởi vậy nên cứ đến ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch hàng năm là những người này lại đến để tổ chức lễ tạ ơn Then, người khác đến để cầu phúc xin cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi và bản mường được bình yên no ấm. Dân bản khắp vùng cũng kéo đến để dự lễ, tổ chức các cuộc thi múa hát dân ca; thi ném còn, thi đẩy gậy, thi kéo co, thi bắn nỏ, thi bơi lội, thi té nước; thi nấu ăn... mà thành lễ hội Then Kin Pang (có nghĩa là ngày hội ăn mừng tạ ơn Then). Lễ hội Then Kin Pang gồm có 2 phần là phần lễ và phần hội. Phần lễ với lối hát Then truyền thống. Qua lời hát, ông Then cầu cúng cho dân làng trong bản, trong mường sang một năm mới có được nhiều điều tốt đẹp, cho con người luôn luôn khoẻ mạnh, no ấm, cầu cho mưa thuận gió hoà, cho mùa màng tốt tươi và cùng với đó là lễ tạ ơn của con cái đối với cha mẹ. Ngoài ra, “Kin Pang Then” cũng là lễ hội cầu phúc cầu lộc cho gia đình và cho con cháu, là dịp để cho con cháu tạ ơn thầy trong dịp đầu năm mới. Phần lễ tuy đơn giản nhưng mang ý nghĩa tâm linh rất sâu sắc, không có yếu tố mê tín dị đoan, mang tính cộng đồng cao và vun đắp tình đoàn kết trong bản, trong mường. Điệu múa tính tẩu trong lễ hội Then Kin Pang Phần hội với những lời hát Then, điệu múa, những trò chơi dân gian lành mạnh như Trò mưa đá (là trò chơi ông Then xin trời cho mưa xuống để cho mùa màng tươi tốt), trò cày bừa, trò hái nấm, trò múa khăn, trò múa tăng bu tăng bẳng, trò múa vòng xoè… đã tạo ra một không khí vui tươi phấn khởi và cuốn hút dân làng đến tham gia. Bên cạnh đó, lễ hội còn là dịp để trai gái ở trong bản, trong mường gặp gỡ và thể hiện mình qua những câu hát, những điệu múa. Và sau lễ hội, nhiều đôi đã nên vợ, nên chồng. Trò chơi ném còn trong lễ hội Lễ hội Then Kin Pang giờ chỉ còn lại ở mảnh đất Khổng Lào, cái rốn văn hóa của đồng bào dân tộc Thái ở Lai Châu. Đây là một sinh hoạt văn hóa mang tính tâm linh của đồng bào người dân tộc Thái trắng, góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, khuyến khích du lịch văn hóa và ẩm thực phát triển ở tại vùng đất gian khó nhất nơi địa đầu Tổ quốc.

Related Figures

Lễ hội Kin Lẩu Khẩu Mẩu của người Thái Trắng

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/9 Âm lịch Kin lẩu khẩu mẩu (hay Lễ hội cốm mới) của người dân tộc Thái trắng - xã Mường So - Phong Thổ, Lai Châu đã có từ rất lâu đời. Lễ hội là nơi để người dân cầu mong mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu và vạn vật sinh sôi phát triển. Lễ hội cũng là nơi để giao lưu tình cảm của các cư dân ở trên địa bàn toàn tỉnh. Qua nhiều năm, Lễ hội này không còn được tổ chức nên đã dần bị mai một. Năm cuối cùng diễn ra Lễ hội là vào năm 1961, trải qua 46 năm bị gián đoạn, Lễ hội giờ đây đã được tổ chức, phục dựng lại ở tại bản Huổi Én - xã Mường So - Phong Thổ, Lai Châu (năm 2007) và được tổ chức đều đặn vào mỗi năm vào ngày rằm tháng 9 (âm lịch) hàng năm, đây cũng chính là thời điểm lúa non thích hợp nhất để chọn về làm cốm. Đặc sắc lễ hội Kin Lẩu Khẩu Mẩu của người Thái Trắng Theo truyền thống canh tác nông nghiệp của người dân tộc Thái trắng ở Mường so trước đây họ thường chỉ trồng 1 vụ lúa, ngày nay do biết áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất nông nghiệp nên dân cư ở nơi đây đã biết canh tác lúa 2 vụ. Lúa được dùng để làm cốm phải là lúa nếp, cũng có rất nhiều loại lúa nếp có thể làm cốm như: Lúa Lương phượng, lúa nếp thơm, lúa nếp tan, lúa nếp quýt, lúa nếp hoa… Nhộn nhịp lễ hội Kin Lẩu Khẩu Mẩu của người Thái Trắng Ngày trước lúa được chọn để làm cốm thường là lúa nếp nương bởi vì loại lúa này thường sẽ giữ được chất ngọt của hạt nếp, mùi thơm và độ dẻo của hạt lúa cũng không bị mất đi và đặc biệt hơn nữa những hạt lúa nếp nương lại rất tròn và rất mẩy. Ngày nay do nhu cầu sử dụng lúa nếp của người dân có phần hạn chế và diện tích canh tác lúa nương cũng không còn nhiều nên lúa được dùng để làm cốm là giống lúa Nếp thơm hoặc giống lúa Lương phượng. Khi chọn lúa để làm cốm người ta không nhất thiết phải lấy lúa của một gia đình nào, trong thời gian chuẩn bị họ sẽ tập trung ra cánh đồng lúa của bản tìm ruộng lúa nào có giống lúa phù hợp với các tiêu chuẩn trên, họ sẽ sử dụng loại lúa ở trong ruộng đó. Số lượng lấy ít hay nhiều còn tuỳ thuộc vào nhu cầu sử dụng của buổi Lễ. Người ta cũng lựa chọn những bông lúa hạt to, mẩy và đặc biệt là không bị lẫn lúa tẻ rồi tuốt lúa từ những bông lúa đó đem về phơi khô rồi bảo quản ở trong các bao đặt ở nơi khô thoáng để làm giống cho vụ sau. Trước hôm diễn ra buổi lễ 1 ngày, một bà cụ ở trong bản (đã được lựa chọn và phân công từ trước) có kinh nghiệm về làm cốm cùng với chủ ruộng và 1 tốp nữ của bản cùng ra đồng để lấy lúa. Bà cụ sẽ tiến lên trước thửa ruộng rồi đọc lời khấn: "Qua quá trình cày cấy, chăm sóc giờ đây lúa ở ruộng đã chín vàng, lúa trên khắp cánh đồng đã chín. Con cháu sẽ tổ chức ăn cốm mới, xin với ông bà thổ địa được lấy lúa về làm cốm". Chấm dứt lời khấn bà cụ sẽ cắt một ít lúa ở trong ruộng đó làm mẫu rồi hướng dẫn cho các cô gái cắt đủ số lượng lúa cần lấy. Dụng cụ để cắt lúa là liềm và dao. Những cô gái được chọn để đi cắt lúa cũng có những tiêu chuẩn nhất định: Đó phải là những cô gái còn trinh tiết, nếu là những người đã có gia đình thì đó sẽ là những gia đình thuận hoà yên ấm, con cái khoẻ mạnh và ngoan ngoãn. Theo quan niệm của những người dân nơi đây chỉ những người đó lấy lúa về làm cốm thì mới thể hiện được sự trưởng thành, phương trưởng của con cháu và sự nguyên vẹn đối với các thần linh. Lễ hội Kin Lẩu Khẩu Mẩu của người Thái Trắng Lễ hội cốm mới là một nét văn hoá đặc trưng rất riêng của tộc người Thái trắng ở Phong Thổ - Lai Châu. Cùng với rất nhiều các lễ hội khác trong năm, Phong Thổ giờ đây đang dần trở thành một điểm hấp dẫn thu hút khách du lịch đến thăm quan và được sống trong một mùa Lễ hội với nguyên vẻ đơn sơ và hồn hậu không thể lẫn với bất cứ nơi nào. Theo: VNMedia

Kin lẩu khẩu mẩu (hay Lễ hội cốm mới) của người dân tộc Thái trắng - xã Mường So - Phong Thổ, Lai Châu đã có từ rất lâu đời. Lễ hội là nơi để người dân cầu mong mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu và vạn vật sinh sôi phát triển. Lễ hội cũng là nơi để giao lưu tình cảm của các cư dân ở trên địa bàn toàn tỉnh. Qua nhiều năm, Lễ hội này không còn được tổ chức nên đã dần bị mai một. Năm cuối cùng diễn ra Lễ hội là vào năm 1961, trải qua 46 năm bị gián đoạn, Lễ hội giờ đây đã được tổ chức, phục dựng lại ở tại bản Huổi Én - xã Mường So - Phong Thổ, Lai Châu (năm 2007) và được tổ chức đều đặn vào mỗi năm vào ngày rằm tháng 9 (âm lịch) hàng năm, đây cũng chính là thời điểm lúa non thích hợp nhất để chọn về làm cốm.

Đặc sắc lễ hội Kin Lẩu Khẩu Mẩu của người Thái Trắng

Theo truyền thống canh tác nông nghiệp của người dân tộc Thái trắng ở Mường so trước đây họ thường chỉ trồng 1 vụ lúa, ngày nay do biết áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất nông nghiệp nên dân cư ở nơi đây đã biết canh tác lúa 2 vụ. Lúa được dùng để làm cốm phải là lúa nếp, cũng có rất nhiều loại lúa nếp có thể làm cốm như: Lúa Lương phượng, lúa nếp thơm, lúa nếp tan, lúa nếp quýt, lúa nếp hoa… Nhộn nhịp lễ hội Kin Lẩu Khẩu Mẩu của người Thái Trắng Ngày trước lúa được chọn để làm cốm thường là lúa nếp nương bởi vì loại lúa này thường sẽ giữ được chất ngọt của hạt nếp, mùi thơm và độ dẻo của hạt lúa cũng không bị mất đi và đặc biệt hơn nữa những hạt lúa nếp nương lại rất tròn và rất mẩy. Ngày nay do nhu cầu sử dụng lúa nếp của người dân có phần hạn chế và diện tích canh tác lúa nương cũng không còn nhiều nên lúa được dùng để làm cốm là giống lúa Nếp thơm hoặc giống lúa Lương phượng. Khi chọn lúa để làm cốm người ta không nhất thiết phải lấy lúa của một gia đình nào, trong thời gian chuẩn bị họ sẽ tập trung ra cánh đồng lúa của bản tìm ruộng lúa nào có giống lúa phù hợp với các tiêu chuẩn trên, họ sẽ sử dụng loại lúa ở trong ruộng đó. Số lượng lấy ít hay nhiều còn tuỳ thuộc vào nhu cầu sử dụng của buổi Lễ. Người ta cũng lựa chọn những bông lúa hạt to, mẩy và đặc biệt là không bị lẫn lúa tẻ rồi tuốt lúa từ những bông lúa đó đem về phơi khô rồi bảo quản ở trong các bao đặt ở nơi khô thoáng để làm giống cho vụ sau. Trước hôm diễn ra buổi lễ 1 ngày, một bà cụ ở trong bản (đã được lựa chọn và phân công từ trước) có kinh nghiệm về làm cốm cùng với chủ ruộng và 1 tốp nữ của bản cùng ra đồng để lấy lúa. Bà cụ sẽ tiến lên trước thửa ruộng rồi đọc lời khấn: "Qua quá trình cày cấy, chăm sóc giờ đây lúa ở ruộng đã chín vàng, lúa trên khắp cánh đồng đã chín. Con cháu sẽ tổ chức ăn cốm mới, xin với ông bà thổ địa được lấy lúa về làm cốm". Chấm dứt lời khấn bà cụ sẽ cắt một ít lúa ở trong ruộng đó làm mẫu rồi hướng dẫn cho các cô gái cắt đủ số lượng lúa cần lấy. Dụng cụ để cắt lúa là liềm và dao. Những cô gái được chọn để đi cắt lúa cũng có những tiêu chuẩn nhất định: Đó phải là những cô gái còn trinh tiết, nếu là những người đã có gia đình thì đó sẽ là những gia đình thuận hoà yên ấm, con cái khoẻ mạnh và ngoan ngoãn. Theo quan niệm của những người dân nơi đây chỉ những người đó lấy lúa về làm cốm thì mới thể hiện được sự trưởng thành, phương trưởng của con cháu và sự nguyên vẹn đối với các thần linh. Lễ hội Kin Lẩu Khẩu Mẩu của người Thái Trắng Lễ hội cốm mới là một nét văn hoá đặc trưng rất riêng của tộc người Thái trắng ở Phong Thổ - Lai Châu. Cùng với rất nhiều các lễ hội khác trong năm, Phong Thổ giờ đây đang dần trở thành một điểm hấp dẫn thu hút khách du lịch đến thăm quan và được sống trong một mùa Lễ hội với nguyên vẻ đơn sơ và hồn hậu không thể lẫn với bất cứ nơi nào. Theo: VNMedia

Related Figures

Lễ hội Xên Mường

Thông tin thời kỳ

Lễ hội Xên Mường (hay cúng Mường) là một trong những lễ hội lớn nhất trong năm ở tỉnh Lai Châu, nhằm tưởng nhớ đến các vị thần linh đã khai sáng ra Mường - cách gọi tên vùng đất nơi người dân tộc Thái đang sinh sống, cầu mong cho người dân tộc Thái được ấm no, được hạnh phúc...Lế hội được tổ chức hàng năm vào ngày Thìn tháng 2 âm lịch ở tại Xã Mường Than, Than Uyên, Lai Châu. Lễ hội Xên Mường Mỗi Mường sẽ chọn địa điểm, thời gian, cách thức tiến hành và một số nghi lễ khác nhau. Người dân tộc Thái Tây Bắc thường tổ chức lễ hội này ở đầu nguồn sông suối, là nơi cung cấp nước cho toàn Mường. Tuy nhiên, người dân tộc Thái Đen ở Mường Lò (Nghĩa Lộ, Yên Bái) thì lại tổ chức ở một khu rừng cấm của Mường, nơi có gốc đa to nhất, xung quanh là chỗ "yên nghỉ" của những người đã khuất. Ở Mường Lò, ông mo Nghè (ông mo Mường), người trông coi thần quyền cho chủ Mường và Hội Phụ lão sẽ đứng ra để tổ chức lễ hội Xên Mường. Tại đây, lễ Xên Mường phải có áo của một người con trai thuộc dòng dõi quý tộc gốc hay một người đương chức để làm vật tế. Ngày nay, chức danh quý tộc đã không còn nữa nên người dân tộc Thái lấy áo của một vị lãnh đạo xã để làm vật tế. Lễ vật là do người dân toàn Mường đóng góp, có thể mổ từ 2 đến 4 con trâu. Riêng người dân tộc Thái ở Yên Châu, Sơn La thì lại tế trâu trắng. Điều lạ là, con trâu để Xên Mường phải do chính ông mo Nghè đi tìm, ông thích con nào thì chỉ con đấy, không cần biết con trâu đó là của nhà ai. Người ta bảo khi bị ông mo chỉ gậy vào, con trâu đó đứng yên đến mức gần như bị thôi miên, người giúp việc cho ông chỉ việc dắt trâu về nơi để tổ chức lễ hội. Cỗ cúng thường gồm có 3 mâm nhưng phải đảm bảo có thịt trâu chín, gạo và rượu. Ông mo khấn 7 lần, mời các vị thần và tổ tiên về dự lễ và phù hộ cho người dân Mường được ấm no, được sung túc và có cuộc sống an vui. Một nghi thức trong lễ hội Những trò chơi trong lễ hội Xên Mường thường là ném còn, xoè vòng theo nhịp. Trước khi bắt đầu, người Thái lập đàn tế còn ở dưới chân cột còn cao 15m đến 20m. Lễ vật gần giống với Xên Mường, chỉ khác là có thêm hàng trăm quả còn ở trên đàn tế. Tham gia trò này chủ yếu là những nam thanh niên, ai ném rách tâm điểm ở trên đỉnh cột còn sẽ được coi là người hùng của hội... Nét đẹp người con gái Thái trong lễ hội Xên Mường lehoi.info tổng hợp

Lễ hội Xên Mường (hay cúng Mường) là một trong những lễ hội lớn nhất trong năm ở tỉnh Lai Châu, nhằm tưởng nhớ đến các vị thần linh đã khai sáng ra Mường - cách gọi tên vùng đất nơi người dân tộc Thái đang sinh sống, cầu mong cho người dân tộc Thái được ấm no, được hạnh phúc...Lế hội được tổ chức hàng năm vào ngày Thìn tháng 2 âm lịch ở tại Xã Mường Than, Than Uyên, Lai Châu.

Lễ hội Xên Mường

Mỗi Mường sẽ chọn địa điểm, thời gian, cách thức tiến hành và một số nghi lễ khác nhau. Người dân tộc Thái Tây Bắc thường tổ chức lễ hội này ở đầu nguồn sông suối, là nơi cung cấp nước cho toàn Mường. Tuy nhiên, người dân tộc Thái Đen ở Mường Lò (Nghĩa Lộ, Yên Bái) thì lại tổ chức ở một khu rừng cấm của Mường, nơi có gốc đa to nhất, xung quanh là chỗ "yên nghỉ" của những người đã khuất. Ở Mường Lò, ông mo Nghè (ông mo Mường), người trông coi thần quyền cho chủ Mường và Hội Phụ lão sẽ đứng ra để tổ chức lễ hội Xên Mường. Tại đây, lễ Xên Mường phải có áo của một người con trai thuộc dòng dõi quý tộc gốc hay một người đương chức để làm vật tế. Ngày nay, chức danh quý tộc đã không còn nữa nên người dân tộc Thái lấy áo của một vị lãnh đạo xã để làm vật tế. Lễ vật là do người dân toàn Mường đóng góp, có thể mổ từ 2 đến 4 con trâu. Riêng người dân tộc Thái ở Yên Châu, Sơn La thì lại tế trâu trắng. Điều lạ là, con trâu để Xên Mường phải do chính ông mo Nghè đi tìm, ông thích con nào thì chỉ con đấy, không cần biết con trâu đó là của nhà ai. Người ta bảo khi bị ông mo chỉ gậy vào, con trâu đó đứng yên đến mức gần như bị thôi miên, người giúp việc cho ông chỉ việc dắt trâu về nơi để tổ chức lễ hội. Cỗ cúng thường gồm có 3 mâm nhưng phải đảm bảo có thịt trâu chín, gạo và rượu. Ông mo khấn 7 lần, mời các vị thần và tổ tiên về dự lễ và phù hộ cho người dân Mường được ấm no, được sung túc và có cuộc sống an vui. Một nghi thức trong lễ hội Những trò chơi trong lễ hội Xên Mường thường là ném còn, xoè vòng theo nhịp. Trước khi bắt đầu, người Thái lập đàn tế còn ở dưới chân cột còn cao 15m đến 20m. Lễ vật gần giống với Xên Mường, chỉ khác là có thêm hàng trăm quả còn ở trên đàn tế. Tham gia trò này chủ yếu là những nam thanh niên, ai ném rách tâm điểm ở trên đỉnh cột còn sẽ được coi là người hùng của hội... Nét đẹp người con gái Thái trong lễ hội Xên Mường lehoi.info tổng hợp

Related Figures

Lễ hội Bun vốc nặm

Thông tin thời kỳ

Đây là lễ hội té nước của những người Lào ở tỉnh Lai Châu. Lễ hội này được tổ chức trước mỗi mùa vụ, nhằm cầu cho mưa thuận, gió hòa, mùa màng tươi tốt. Các tiết mục văn nghệ, những trò chơi dân gian truyền thống, mang đậm bản sắc cư dân bản địa… đã thu hút đông đảo cộng đồng các dân tộc quanh vùng tham gia. Lễ hội Bun vốc nặm tại Lai Châu Ngay từ buổi sáng sớm, khi mây mù còn giăng mắc ở trên đỉnh núi, từ khắp các ngả đường đã thấy bà con các dân tộc nô nức kéo về trung tâm xã - địa điểm tổ chức lễ hội. Nổi bật hơn cả là các cô gái Lào xúng xính trong bộ trang phục truyền thống với những hoa văn tinh xảo, miệng cười tươi tắn dắt tay nhau về xem hội. Xin nước cầu may ở một gia đình tiêu biểu Phần lễ là phần cúng cầu các thần linh phù hộ cho mưa thuận gió hòa, cây cối sinh sôi nảy nở không bị sâu bệnh phá hoại, người người được mạnh khoẻ, nhà nhà được hạnh phúc. Các già làng, các trưởng bản và nam nữ thanh niên trong xã đập mẹt, gõ trống, tuốt lá cọ và tuốt lạt… để giả làm tiếng sấm, tiếng mưa rơi. Họ đội nón, khoác áo tơi đến từng nhà xin nước và xin lộc trời… Đó là những hành động mang ý nghĩa phồn thực, cầu mưa xuống để cho vụ mùa tốt tươi, bội thu… Phần hội được bắt đầu khi trai bản trên, gái bản dưới, không phân biệt người già hay trẻ nhỏ kéo nhau ra suối để té nước. Với quan niệm rằng ướt nhiều, thì may mắn sẽ đến nhiều nên ai cũng mong mình được té càng ướt càng tốt. Không chỉ người dân bản địa tham gia trong cuộc, ngay cả những khách xem bên bờ suối cũng được đắm mình trong dòng nước mát. Tất cả đều vui vẻ, thoải mái và rộn vang tiếng cười. Mang trên mình bộ quần áo ướt sũng, mọi người cùng nhau lên bờ để thưởng thức các món ăn làm từ sản phẩm nông nghiệp, do chính bà con dân tộc Lào làm như: bánh trưng, cơm lam và xôi ngũ sắc… Những trò chơi dân gian trong lễ hội Lễ hội kết thúc bằng những trò chơi dân gian truyền thống như: ném còn, đẩy gậy, kéo co…

Đây là lễ hội té nước của những người Lào ở tỉnh Lai Châu. Lễ hội này được tổ chức trước mỗi mùa vụ, nhằm cầu cho mưa thuận, gió hòa, mùa màng tươi tốt. Các tiết mục văn nghệ, những trò chơi dân gian truyền thống, mang đậm bản sắc cư dân bản địa… đã thu hút đông đảo cộng đồng các dân tộc quanh vùng tham gia.

Lễ hội Bun vốc nặm tại Lai Châu

Ngay từ buổi sáng sớm, khi mây mù còn giăng mắc ở trên đỉnh núi, từ khắp các ngả đường đã thấy bà con các dân tộc nô nức kéo về trung tâm xã - địa điểm tổ chức lễ hội. Nổi bật hơn cả là các cô gái Lào xúng xính trong bộ trang phục truyền thống với những hoa văn tinh xảo, miệng cười tươi tắn dắt tay nhau về xem hội. Xin nước cầu may ở một gia đình tiêu biểu Phần lễ là phần cúng cầu các thần linh phù hộ cho mưa thuận gió hòa, cây cối sinh sôi nảy nở không bị sâu bệnh phá hoại, người người được mạnh khoẻ, nhà nhà được hạnh phúc. Các già làng, các trưởng bản và nam nữ thanh niên trong xã đập mẹt, gõ trống, tuốt lá cọ và tuốt lạt… để giả làm tiếng sấm, tiếng mưa rơi. Họ đội nón, khoác áo tơi đến từng nhà xin nước và xin lộc trời… Đó là những hành động mang ý nghĩa phồn thực, cầu mưa xuống để cho vụ mùa tốt tươi, bội thu… Phần hội được bắt đầu khi trai bản trên, gái bản dưới, không phân biệt người già hay trẻ nhỏ kéo nhau ra suối để té nước. Với quan niệm rằng ướt nhiều, thì may mắn sẽ đến nhiều nên ai cũng mong mình được té càng ướt càng tốt. Không chỉ người dân bản địa tham gia trong cuộc, ngay cả những khách xem bên bờ suối cũng được đắm mình trong dòng nước mát. Tất cả đều vui vẻ, thoải mái và rộn vang tiếng cười. Mang trên mình bộ quần áo ướt sũng, mọi người cùng nhau lên bờ để thưởng thức các món ăn làm từ sản phẩm nông nghiệp, do chính bà con dân tộc Lào làm như: bánh trưng, cơm lam và xôi ngũ sắc… Những trò chơi dân gian trong lễ hội Lễ hội kết thúc bằng những trò chơi dân gian truyền thống như: ném còn, đẩy gậy, kéo co…

Related Figures

Lễ hội Nàng Han

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/2 Âm lịch Lễ Hội Nàng Han ở huyện Phong Thổ, Lai Châu là một nét văn hóa đẹp của đồng bào người dân tộc Thái, người dân tộc Mường của tỉnh Lai Châu. Từ năm 2008, lễ hội được tổ chức vào ngày 15 tháng 2 âm lịch sau 60 năm bị lãng quên. Nàng Han ở trong tâm linh 16 xứ Thái, xứ Mường ở vùng Tây Bắc cũng giống như Bà Trưng, Bà Triệu đối với người Kinh. Nhân dân nhớ công ơn của nàng, nên đã lập đền thờ và tổ chức Lễ hội ngay ở mó nước nàng tắm. Lễ hội này mang ý nghĩa cầu cho mưa thuận gió hòa và cầu cho mùa màng bội thu. Đặc sắc lễ hội Nàng Han ở Phong Thổ Theo truyền thuyết kể lại rằng, nàng Han xuất thân trong một gia đình người dân tộc Thái nghèo ở Chiềng Sa (ngày nay là xã Mường So, Phong Thổ, Lai Châu). Nàng đã đứng đầu cuộc khởi nghĩa của đồng bào 16 xứ Thái quật cường đã đánh bại giặc xâm lược phương Bắc. Sau khi dẫn đoàn quân thắng trận trở về nàng đã tắm gội ở mó nước Tây An (xã Mường So) rồi bay lên trời. Trong lễ Nàng Han có phần lễ tế trâu trắng gồm sáu bài tế lễ là: Phái lệ tơ, Tùng song tơ, Thá hu nơ, Thá ớc, Quát bó héo Then hầu phét và 32 bài múa dân gian như múa xòe, múa đi cày, múa nón... tượng trưng cho các sinh hoạt của người dân tộc Thái ở trong đời sống lao động sản xuất hằng ngày. Phần hội có các trò chơi truyền thống của người dân tộc Thái như: Kéo co, thi ném còn, đánh Tó Má Lẹ, thi đánh cầu lông gà, thi bắt cá, thi đẩy gậy.... Một nghi thức trong lễ hội Nàng Han Các cô thiếu nữ dân tộc Thái rực rỡ trong những bộ váy cóm duyên dáng uốn mình chơi trò ném còn, kéo co, đánh cầu. Các chàng trai dân tộc Thái lực lưỡng, nhanh nhẹn trong trò chơi thi bắt cá, thi đi cà kheo.... làm cho các du khách thập phương càng ngất ngây say đắm với cái nôi văn hoá Thái Mường So huyền thoại. Trò chơi đẩy gậy trong lễ hội Ngoài ra, cuộc thi bắt cá trên sông Vằng Pheo cũng thu hút rất nhiều người tham gia. Các nam thanh, nữ tú xứ Mường, ai ai cũng muốn đẫm mình bơi lội trên suối cầu mong cho sức khoẻ, cho nhanh nhẹn. Còn du khách thì ai cũng bị té nước ướt đẫm như một lời chúc sức khoẻ của những người Mường So mến khách. Lễ hội được diễn ra trong một ngày, đến cuối buổi lễ người tham gia được thưởng thức các món ăn đặc sản của người dân tộc Thái với những hương vị mang đậm phong vị của vùng Tây Bắc.

Lễ Hội Nàng Han ở huyện Phong Thổ, Lai Châu là một nét văn hóa đẹp của đồng bào người dân tộc Thái, người dân tộc Mường của tỉnh Lai Châu. Từ năm 2008, lễ hội được tổ chức vào ngày 15 tháng 2 âm lịch sau 60 năm bị lãng quên. Nàng Han ở trong tâm linh 16 xứ Thái, xứ Mường ở vùng Tây Bắc cũng giống như Bà Trưng, Bà Triệu đối với người Kinh. Nhân dân nhớ công ơn của nàng, nên đã lập đền thờ và tổ chức Lễ hội ngay ở mó nước nàng tắm. Lễ hội này mang ý nghĩa cầu cho mưa thuận gió hòa và cầu cho mùa màng bội thu.

Đặc sắc lễ hội Nàng Han ở Phong Thổ

Theo truyền thuyết kể lại rằng, nàng Han xuất thân trong một gia đình người dân tộc Thái nghèo ở Chiềng Sa (ngày nay là xã Mường So, Phong Thổ, Lai Châu). Nàng đã đứng đầu cuộc khởi nghĩa của đồng bào 16 xứ Thái quật cường đã đánh bại giặc xâm lược phương Bắc. Sau khi dẫn đoàn quân thắng trận trở về nàng đã tắm gội ở mó nước Tây An (xã Mường So) rồi bay lên trời. Trong lễ Nàng Han có phần lễ tế trâu trắng gồm sáu bài tế lễ là: Phái lệ tơ, Tùng song tơ, Thá hu nơ, Thá ớc, Quát bó héo Then hầu phét và 32 bài múa dân gian như múa xòe, múa đi cày, múa nón... tượng trưng cho các sinh hoạt của người dân tộc Thái ở trong đời sống lao động sản xuất hằng ngày. Phần hội có các trò chơi truyền thống của người dân tộc Thái như: Kéo co, thi ném còn, đánh Tó Má Lẹ, thi đánh cầu lông gà, thi bắt cá, thi đẩy gậy.... Một nghi thức trong lễ hội Nàng Han Các cô thiếu nữ dân tộc Thái rực rỡ trong những bộ váy cóm duyên dáng uốn mình chơi trò ném còn, kéo co, đánh cầu. Các chàng trai dân tộc Thái lực lưỡng, nhanh nhẹn trong trò chơi thi bắt cá, thi đi cà kheo.... làm cho các du khách thập phương càng ngất ngây say đắm với cái nôi văn hoá Thái Mường So huyền thoại. Trò chơi đẩy gậy trong lễ hội Ngoài ra, cuộc thi bắt cá trên sông Vằng Pheo cũng thu hút rất nhiều người tham gia. Các nam thanh, nữ tú xứ Mường, ai ai cũng muốn đẫm mình bơi lội trên suối cầu mong cho sức khoẻ, cho nhanh nhẹn. Còn du khách thì ai cũng bị té nước ướt đẫm như một lời chúc sức khoẻ của những người Mường So mến khách. Lễ hội được diễn ra trong một ngày, đến cuối buổi lễ người tham gia được thưởng thức các món ăn đặc sản của người dân tộc Thái với những hương vị mang đậm phong vị của vùng Tây Bắc.

Related Figures

Lễ hội Gầu Tào

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 4/5 Âm lịch (lehoi.info)-Ngày xưa, lễ hội Gầu Tào là một hình thức tâm linh của người dân tộc Mông cúng thần đất mong năm mới có nhiều con, nhiều cháu. Ngày nay, cứ đến ngày mùng 4 - 5 âm lịch, lễ hội Gầu Tào trở thành trung tâm của mọi lễ hội trong mùa xuân đối với người dân tộc Mông, người Hà Nhì, người Dao và người Lô Lô... của 8 xã biên giới thuộc khu vực Dào San (Phong Thổ, Lai Châu). Tưng bừng lễ hội Gầu Tào Những cụ già người dân tộc Mông kể lại rằng, trước đây, lễ Gầu Tào là do những gia đình giàu có, không có con hay sinh con một bề trong năm làm ăn không phát đạt gặp nhiều rủi ro thì sẽ đứng ra tổ chức để cầu thần đất cho sang năm mới có nhiều con, nhiều cháu; sức khỏe dồi dào; cầu để có lúa xếp đầy bồ, ngô treo đầy gác; trâu, bò đứng chật trong chuồng, bản làng vui vẻ hòa thuận và “người yên, vật thịnh”. Ngày nay lễ hội Gàu Tào chủ yếu mang ý nghĩa vui xuân, cầu cho mưa thuận gió hòa, người người mạnh khỏe và nhà nhà hạnh phúc... Lễ hội không còn do riêng một gia đình tổ chức nữa mà đã trở thành ngày hội của cả xã, của cả vùng cao biên giới này. Phần lễ rất ngắn gọn, chủ yếu là phần hội, thời gian tổ chức trong vòng ba ngày, từ ngày mùng 4 đến ngày 6 Tết. Mọi người đến dự lễ hội từ rất sớm, từ khi còn chưa nhìn rõ mặt người, trung tâm Dào San đã chật cứng người, tiếng hát để chúc mừng nhau năm mới huyên náo cả một góc núi. Các trai mường khoẻ mạnh bắt đầu thịt trâu để làm lễ cúng thần đất, mong cho năm mới con người sinh sôi, mưa thuận gió hoà. Những trò chơi dân gian trong lễ hội Rất nhiều những trò chơi được tiến hành sau lễ cúng như thi đẩy gậy, thi bắn nỏ, thi kéo co, thi leo cây, hát giao duyên, làm xiếc... Lễ hội Gầu Tào thu hút đông đảo người dân tham gia Các thiếu nữ người dân tộc Mông xúng xính váy áo tham gia trò chơi kéo co. Các thiếu nữ người Hà Nhì duyên dáng trong những điệu múa dâng các vị thần, cầu mong che chở cho con người. Các chàng trai cường tráng ưỡn ngực lên dây thi bắn nỏ. Những bàn tay gân guốc, rắn chắc thoăn thoắt như sóc, chinh phục đỉnh cao trong trò chơi thi leo cây cầu mong năm mới lên rừng bắn được nhiều thú và khai khẩn được đám nương tốt. Lễ hội Gầu Tào là tín hiệu báo mùa xuân đã về trên vùng cao nguyên Dào San lehoi.info tổng hợp

(lehoi.info)-Ngày xưa, lễ hội Gầu Tào là một hình thức tâm linh của người dân tộc Mông cúng thần đất mong năm mới có nhiều con, nhiều cháu. Ngày nay, cứ đến ngày mùng 4 - 5 âm lịch, lễ hội Gầu Tào trở thành trung tâm của mọi lễ hội trong mùa xuân đối với người dân tộc Mông, người Hà Nhì, người Dao và người Lô Lô... của 8 xã biên giới thuộc khu vực Dào San (Phong Thổ, Lai Châu).

Tưng bừng lễ hội Gầu Tào

Những cụ già người dân tộc Mông kể lại rằng, trước đây, lễ Gầu Tào là do những gia đình giàu có, không có con hay sinh con một bề trong năm làm ăn không phát đạt gặp nhiều rủi ro thì sẽ đứng ra tổ chức để cầu thần đất cho sang năm mới có nhiều con, nhiều cháu; sức khỏe dồi dào; cầu để có lúa xếp đầy bồ, ngô treo đầy gác; trâu, bò đứng chật trong chuồng, bản làng vui vẻ hòa thuận và “người yên, vật thịnh”. Ngày nay lễ hội Gàu Tào chủ yếu mang ý nghĩa vui xuân, cầu cho mưa thuận gió hòa, người người mạnh khỏe và nhà nhà hạnh phúc... Lễ hội không còn do riêng một gia đình tổ chức nữa mà đã trở thành ngày hội của cả xã, của cả vùng cao biên giới này. Phần lễ rất ngắn gọn, chủ yếu là phần hội, thời gian tổ chức trong vòng ba ngày, từ ngày mùng 4 đến ngày 6 Tết. Mọi người đến dự lễ hội từ rất sớm, từ khi còn chưa nhìn rõ mặt người, trung tâm Dào San đã chật cứng người, tiếng hát để chúc mừng nhau năm mới huyên náo cả một góc núi. Các trai mường khoẻ mạnh bắt đầu thịt trâu để làm lễ cúng thần đất, mong cho năm mới con người sinh sôi, mưa thuận gió hoà. Những trò chơi dân gian trong lễ hội Rất nhiều những trò chơi được tiến hành sau lễ cúng như thi đẩy gậy, thi bắn nỏ, thi kéo co, thi leo cây, hát giao duyên, làm xiếc... Lễ hội Gầu Tào thu hút đông đảo người dân tham gia Các thiếu nữ người dân tộc Mông xúng xính váy áo tham gia trò chơi kéo co. Các thiếu nữ người Hà Nhì duyên dáng trong những điệu múa dâng các vị thần, cầu mong che chở cho con người. Các chàng trai cường tráng ưỡn ngực lên dây thi bắn nỏ. Những bàn tay gân guốc, rắn chắc thoăn thoắt như sóc, chinh phục đỉnh cao trong trò chơi thi leo cây cầu mong năm mới lên rừng bắn được nhiều thú và khai khẩn được đám nương tốt. Lễ hội Gầu Tào là tín hiệu báo mùa xuân đã về trên vùng cao nguyên Dào San lehoi.info tổng hợp

Related Figures

Lễ hội Hạn Khuống

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/11- 30/11 Âm lịch (lehoi.info)-Lễ hội Hạn Khuống là một lễ hội của đồng bào người dân tộc Thái, Tây Bắc là một hình thức sinh hoạt văn hóa truyền thống, bao gồm nhiều thể loại (kể chuyện, hát) trong một khung cảnh ấm cúng và tao nhã. Lễ hội này là do nhà các cô gái tổ chức. Thực ra đây là một cuộc vui để tìm hiểu bạn đời sau đó chia tay để về nhà chồng. Lễ hội này thường được tổ chức sau vụ thu hoạch vào tháng 11 hàng năm. Lễ hội Hạn Khuống tại Lai Châu Lễ hội diễn ra trên một khoảng đất rộng, thanh niên nam nữ dựng sàn, có hàng rào bao quanh được làm bằng phên tre, và một số vật dụng bài trí theo quan niệm của đồng bào là để tượng trưng cho triết lý vũ trụ muôn loài và càn khôn tương hợp. Các cô gái xinh sắn, được lựa chọn từ những người chưa lập gia đình, chăm chỉ, nết na và tháo vát, họ có vai trò điều phối giữ nhịp cho cuộc hát đối đáp. Soi sáng cho đêm Hạn Khuống đó là một đống lửa lớn ở giữa sàn. Đặc sắc lễ hội Hạn Khuống Khi cuộc vui bắt đầu, các cô gái trên sàn hát những câu hát trữ tình, nội dung về tình yêu đôi lứa, khát vọng yêu thương và bày tỏ tâm tư nỗi niềm… Ở dưới sân, nhân dân theo dõi, nhiệt tình tán đồng, và đặc biệt là ứng với các cô gái ở trên sàn, các tràng trai ở dưới sân có nhiệm vụ hát đối lại theo nội dung do các cô gái đã quy định. Khi nỗi niềm, tâm tư của các cô gái được bạn tình chung lòng san sẻ thì tự tay các cô sẽ cắt sợi chỉ để mở cầu thang. Từng cặp trai gái ngồi sát lại bên nhau cạnh đống lửa, chàng trai vừa trổ tài Tính tẩu lại vừa âu yếm nhìn cô gái đang bẽn lẽn quay tơ. Càng về khuya, khi mà những người lớn tuổi đã ra về, thì lớp trẻ vẫn hát xướng say sưa với những lời hẹn hò, tái ngộ trao gửi… Một màn hát đối đáp trong Hạn Khuống của người Thái Sau những mùa Hạn khuống, rất nhiều đôi lứa đã tâm đầu ý hợp, đã nên vợ, thành chồng. Đối với những người đã có tuổi thì Hạn Khuống thường gợi lại biết bao kỷ niệm đẹp của một thời son trẻ. lehoi.info tổng hợp

Related Figures

Lễ hội Nàng Han

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/2 Âm lịch (lehoi.info)- Lễ hội Nàng Han tôn vinh nữ anh hùng đã có công đánh đuổi giặc ngoại xâm của đồng bào người dân tộc Thái trắng, được tổ chức vừa là để tri ân Nàng Han, vừa là để mong cầu sự no ấm, cuộc sống an lành, nhân khang, vật thịnh, mùa màng tươi tốt cho khắp bản làng. Lễ hội được tổ chức hàng năm vào ngày 15 tháng 2, ở tại bản Tây An xã Mường So. Vào ngày này, bà con dâng hương, hoa, nông sản và thực phẩm do chính bản làng mình làm ra. Tưng bừng lễ hội Nàng Han Tương truyền, Nàng Han xuất thân trong một gia đình người dân tộc Thái nghèo ở Chiềng Sa (ngày nay là xã Mường So, Phong Thổ, Lai Châu). Nàng đã cải trang thành nam giới và đứng lên kêu gọi các thanh niên trai tráng ở các bản đoàn kết đánh giặc. Nàng đứng đầu trong cuộc khởi nghĩa của đồng bào 16 xứ Thái quật cường đánh bại giặc xâm lược phương Bắc. Sau khi dẫn đoàn quân thắng trận trở về, Nàng tắm gội ở mó nước Tây An (thuộc xã Mường So) rồi bay lên trời. Từ đó, để nhớ công ơn của Nàng, bà con đã lập đền thờ và tổ chức Lễ hội ngay ở mó nước Nàng tắm. Nàng Han trong tâm linh 16 xứ Thái, xứ Mường ở Tây Bắc cũng giống như Bà Trưng, Bà Triệu đối với người Kinh. Lễ hội Nàng Han tại Lai Châu Sau 60 năm vắng mặt trong đời sống của đồng bào người dân tộc Thái Tây Bắc.Năm 2008, ngành văn hóa tỉnh Lai Châu và huyện Phong Thổ nhận thấy cần khơi dựng lại vốn cổ văn hóa hàm chứa rất nhiều trong lễ hội này của người dân tộc Thái, nên đã có dự án phục dựng lại lễ hội này ở nơi cội nguồn sinh ra nó: bản Vàng Pheo, xã Mường So, huyện Phong Thổ, tỉnh lai Châu. Lễ hội Nàng Han, trong trí nhớ của những người già ở bản Vàng Pheo, huyện Phong Thổ, thì gồm có sáu bài tế lễ do các thầy mo đảm nhiệm, gồm: Phái lệ tơ, Tùng song tơ, Thá hu nơ, Thá ớc, Quát bó héo, Then hầu phét. Đặc biệt, trong lễ hội còn có tới 32 bài múa dân gian của người dân tộc Thái. Những người hát múa trong lễ hội được tuyển chọn rất khắt khe từ các cô gái trẻ trong bản, luyện tập công phu nhiều ngày. Đến ngày chính lễ, đội múa này sẽ múa từ trong bản ra đến miếu thờ Nàng Han, nơi các vị chức sắc ngự xem. Đúng vào ngày chính hội, dân làng tập trung trước ngôi miếu thờ Nàng Han mới phục dựng để xem múa hát. Các thầy mo cúng lễ ngay ở ngoài trời. Vật phẩm dâng lên Nàng Han gồm có hoa quả, gà xôi và những tờ giấy bạc của đồng bào dân tộc Thái. Thầy mo cúng xong thì các cô gái trong đội múa với trang phục váy cóm thướt tha biểu diễn các bài dân ca truyền thống ca ngợi về quê hương, tình yêu và công đức của vị nữ tướng anh hùng. Trò chơi đẩy gậy trong lễ hội Cùng với phần lễ tái dựng theo trí nhớ của những người già, thì phần hội cũng khá sôi nổi và rầm rộ với những trò chơi dân gian thường thấy trong các ngày hội của đồng bào dân tộc gần đây: kéo co, đẩy gậy, ném còn... Phần trình diễn ẩm thực của người dân tộc Thái, với những món ăn đặc sắc như xôi ba màu, cá nướng và rêu nướng ngay ở bên bờ suối đầu bản khiến các du khách tò mò. Đặc biệt trò chơi thi bắt cá ở dưới con suối thu hút đông đảo trai làng biểu diễn dưới sự hò reo cổ vũ thán phục của những du khách phương xa.

(lehoi.info)- Lễ hội Nàng Han tôn vinh nữ anh hùng đã có công đánh đuổi giặc ngoại xâm của đồng bào người dân tộc Thái trắng, được tổ chức vừa là để tri ân Nàng Han, vừa là để mong cầu sự no ấm, cuộc sống an lành, nhân khang, vật thịnh, mùa màng tươi tốt cho khắp bản làng. Lễ hội được tổ chức hàng năm vào ngày 15 tháng 2, ở tại bản Tây An xã Mường So. Vào ngày này, bà con dâng hương, hoa, nông sản và thực phẩm do chính bản làng mình làm ra.

Tưng bừng lễ hội Nàng Han

Tương truyền, Nàng Han xuất thân trong một gia đình người dân tộc Thái nghèo ở Chiềng Sa (ngày nay là xã Mường So, Phong Thổ, Lai Châu). Nàng đã cải trang thành nam giới và đứng lên kêu gọi các thanh niên trai tráng ở các bản đoàn kết đánh giặc. Nàng đứng đầu trong cuộc khởi nghĩa của đồng bào 16 xứ Thái quật cường đánh bại giặc xâm lược phương Bắc. Sau khi dẫn đoàn quân thắng trận trở về, Nàng tắm gội ở mó nước Tây An (thuộc xã Mường So) rồi bay lên trời. Từ đó, để nhớ công ơn của Nàng, bà con đã lập đền thờ và tổ chức Lễ hội ngay ở mó nước Nàng tắm. Nàng Han trong tâm linh 16 xứ Thái, xứ Mường ở Tây Bắc cũng giống như Bà Trưng, Bà Triệu đối với người Kinh. Lễ hội Nàng Han tại Lai Châu Sau 60 năm vắng mặt trong đời sống của đồng bào người dân tộc Thái Tây Bắc.Năm 2008, ngành văn hóa tỉnh Lai Châu và huyện Phong Thổ nhận thấy cần khơi dựng lại vốn cổ văn hóa hàm chứa rất nhiều trong lễ hội này của người dân tộc Thái, nên đã có dự án phục dựng lại lễ hội này ở nơi cội nguồn sinh ra nó: bản Vàng Pheo, xã Mường So, huyện Phong Thổ, tỉnh lai Châu. Lễ hội Nàng Han, trong trí nhớ của những người già ở bản Vàng Pheo, huyện Phong Thổ, thì gồm có sáu bài tế lễ do các thầy mo đảm nhiệm, gồm: Phái lệ tơ, Tùng song tơ, Thá hu nơ, Thá ớc, Quát bó héo, Then hầu phét. Đặc biệt, trong lễ hội còn có tới 32 bài múa dân gian của người dân tộc Thái. Những người hát múa trong lễ hội được tuyển chọn rất khắt khe từ các cô gái trẻ trong bản, luyện tập công phu nhiều ngày. Đến ngày chính lễ, đội múa này sẽ múa từ trong bản ra đến miếu thờ Nàng Han, nơi các vị chức sắc ngự xem. Đúng vào ngày chính hội, dân làng tập trung trước ngôi miếu thờ Nàng Han mới phục dựng để xem múa hát. Các thầy mo cúng lễ ngay ở ngoài trời. Vật phẩm dâng lên Nàng Han gồm có hoa quả, gà xôi và những tờ giấy bạc của đồng bào dân tộc Thái. Thầy mo cúng xong thì các cô gái trong đội múa với trang phục váy cóm thướt tha biểu diễn các bài dân ca truyền thống ca ngợi về quê hương, tình yêu và công đức của vị nữ tướng anh hùng. Trò chơi đẩy gậy trong lễ hội Cùng với phần lễ tái dựng theo trí nhớ của những người già, thì phần hội cũng khá sôi nổi và rầm rộ với những trò chơi dân gian thường thấy trong các ngày hội của đồng bào dân tộc gần đây: kéo co, đẩy gậy, ném còn... Phần trình diễn ẩm thực của người dân tộc Thái, với những món ăn đặc sắc như xôi ba màu, cá nướng và rêu nướng ngay ở bên bờ suối đầu bản khiến các du khách tò mò. Đặc biệt trò chơi thi bắt cá ở dưới con suối thu hút đông đảo trai làng biểu diễn dưới sự hò reo cổ vũ thán phục của những du khách phương xa.

Related Figures

Lễ hội Hoa ban

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 13/2 Âm lịch (lehoi.info)-Hội Hoa ban, được tổ chức hàng năm vào ngày 13 tháng 2 âm lịch, khi thời tiết đã bắt đầu nắng ấm. Lễ hội còn có một ý nghĩa rất quan trọng đối với người Thái. Hội hoa ban mở ra không chỉ là ngày hội của tình yêu và của hạnh phúc tưởng nhớ đến một câu chuyện của đôi trai gái trong sự tích mà còn là dịp để bày tỏ đạo hiếu đối với ông bà, với cha mẹ, thỉnh bái thần rừng, thần hang cầu mong cho mưa thuận gió hòa và mùa màng tươi tốt. Sau mùa mưa hoa ban bắt đầu nở trắng cả núi rừng thì người dân tộc Thái ở Tây Bắc bắt đầu đi trẩy Hội. Lễ hội Hoa ban tại Lai Châu Lễ hội được bắt nguồn từ sự tích của người dân tộc Thái: Ngày xưa, nàng Khôm (tiếng Thái nghĩa là nghèo và cay đắng) và chàng Tào Lu (tiếng Thái nghĩa là giàu có) yêu nhau nhưng không được gia đình chấp thuận. Mùa xuân, 2 người đã rủ nhau lên chơi hang Thẩm Đông Ngoạng (hang rừng ve, tức hang Thẩm Lé thuộc Yên Bái bây giờ). Ít lâu sau, chàng bị cảm chết, biến thành con Tô Mánh Lú (màu đen và to hơn con ve). Nàng Khôm không muốn bị ép duyên với một chàng trai khác nên đã bỏ trốn vào rừng. Nàng chạy, chạy mãi, kiệt sức rồi nàng chết ở trong rừng. Nơi nàng nằm xuống mọc lên một loại cây có hoa màu trắng, có hương thơm và có mật ngọt. Người dân gọi đó là hoa Ban. Đặc sắc lễ hội Hoa ban Loài hoa ban ấy nở vào đúng vào mùa xuân, thời gian mà nàng Khôm và chàng Lu cùng nhau đi chơi hang. Hàng năm, cứ mỗi độ xuân về, hoa ban lại nở trắng núi rừng Tây Bắc,và người dân tộc Thái ở khắp nới trên vùng Tây Bắc nói chung và Lai Châu nói riêng đều háo hứng đi trẩy hội. Ngày hội sôi nổi với các trò diễn độc đáo. Âm vang nhộn nhịp của tiếng pí, tiếng khèn và tiếng trống chiêng. Con trai thì thổi khèn, con gái thì dập dìu múa điệu múa hái hoa. Các trò diễn độc đáo trong lễ hội Đó là dịp gặp nhau, hò hẹn và tâm tình của những đôi bạn tâm giao. Chàng trai ngắt những bông hoa ban đầu xuân đẹp nhất cài lên mái tóc của người con gái mình yêu. Cô gái e ấp và thẹn thùng nấp mình dưới những lộc ban xanh mướt. Tất cả đều được thể hiện thông qua tiếng đàn, tiếng hát và lời nguyện cầu tha thiết

(lehoi.info)-Hội Hoa ban, được tổ chức hàng năm vào ngày 13 tháng 2 âm lịch, khi thời tiết đã bắt đầu nắng ấm. Lễ hội còn có một ý nghĩa rất quan trọng đối với người Thái. Hội hoa ban mở ra không chỉ là ngày hội của tình yêu và của hạnh phúc tưởng nhớ đến một câu chuyện của đôi trai gái trong sự tích mà còn là dịp để bày tỏ đạo hiếu đối với ông bà, với cha mẹ, thỉnh bái thần rừng, thần hang cầu mong cho mưa thuận gió hòa và mùa màng tươi tốt. Sau mùa mưa hoa ban bắt đầu nở trắng cả núi rừng thì người dân tộc Thái ở Tây Bắc bắt đầu đi trẩy Hội.

Lễ hội Hoa ban tại Lai Châu

Lễ hội được bắt nguồn từ sự tích của người dân tộc Thái: Ngày xưa, nàng Khôm (tiếng Thái nghĩa là nghèo và cay đắng) và chàng Tào Lu (tiếng Thái nghĩa là giàu có) yêu nhau nhưng không được gia đình chấp thuận. Mùa xuân, 2 người đã rủ nhau lên chơi hang Thẩm Đông Ngoạng (hang rừng ve, tức hang Thẩm Lé thuộc Yên Bái bây giờ). Ít lâu sau, chàng bị cảm chết, biến thành con Tô Mánh Lú (màu đen và to hơn con ve). Nàng Khôm không muốn bị ép duyên với một chàng trai khác nên đã bỏ trốn vào rừng. Nàng chạy, chạy mãi, kiệt sức rồi nàng chết ở trong rừng. Nơi nàng nằm xuống mọc lên một loại cây có hoa màu trắng, có hương thơm và có mật ngọt. Người dân gọi đó là hoa Ban. Đặc sắc lễ hội Hoa ban Loài hoa ban ấy nở vào đúng vào mùa xuân, thời gian mà nàng Khôm và chàng Lu cùng nhau đi chơi hang. Hàng năm, cứ mỗi độ xuân về, hoa ban lại nở trắng núi rừng Tây Bắc,và người dân tộc Thái ở khắp nới trên vùng Tây Bắc nói chung và Lai Châu nói riêng đều háo hứng đi trẩy hội. Ngày hội sôi nổi với các trò diễn độc đáo. Âm vang nhộn nhịp của tiếng pí, tiếng khèn và tiếng trống chiêng. Con trai thì thổi khèn, con gái thì dập dìu múa điệu múa hái hoa. Các trò diễn độc đáo trong lễ hội Đó là dịp gặp nhau, hò hẹn và tâm tình của những đôi bạn tâm giao. Chàng trai ngắt những bông hoa ban đầu xuân đẹp nhất cài lên mái tóc của người con gái mình yêu. Cô gái e ấp và thẹn thùng nấp mình dưới những lộc ban xanh mướt. Tất cả đều được thể hiện thông qua tiếng đàn, tiếng hát và lời nguyện cầu tha thiết

Related Figures

Lễ cúng đất làng của người Ba Na

Thông tin thời kỳ

(lehoi.info) - Lễ hội Cúng Đất làng của người dân tộc Ba Na được tổ chức hàng năm vào cuối tháng 2 và đầu tháng 3 âm lịch khi chuẩn bị vào vụ sản xuất hoặc khi dọn đến một vùng đất mới. Lễ Cúng Đất Làng của người Ba Na Theo quan niệm của những người dân tộc Ba Na (tỉnh Kon Tum), thì con người từ khi sinh ra cho đến khi xuống mồ đều phải trải qua nhiều quá trình của mối quan hệ ứng xử; mối quan hệ giữa Người - Người (giữa cá nhân với cá nhân), mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng; mối quan hệ giữa cá nhân, cộng đồng với đấng siêu nhiên - Giàng. Trong khi điều kiện sinh tồn của các dận tộc còn gặp rất nhiều những khó khăn phải chống chọi với thiên nhiên, thú dữ, bệnh tật, đói nghèo và chết chóc... mà trình độ nhận thức khoa học của con người thì còn nhiều hạn chế. Do đó, vòng đời người cũng được gắn liền với hệ thống Lễ - Hội tương ứng trong mỗi thời kỳ, mỗi tình huống cụ thể. Có Lễ Bỏ Mả (Pơ Thi), Lễ Ăn Trâu, Lễ hội mừng Nhà rông mới và Lễ cúng Đất làng... Đặc sắc lễ cúng đất làng của người Ba Na Lễ Cúng Đất Làng là Lễ hội của người dân tộc Ba Na sinh sống ở Kon Tum và ở Gia Lai. Những người dân làng Ba Na làm lễ cúng đất làng vào cuối tháng 2 và đầu tháng 3 âm lịch khi chuẩn bị vào vụ sản xuất hoặc khi dọn đến một vùng đất mới. Trước hôm dựng làng đồng bào người dân tộc Ba Na làm lễ kéo dài hai ngày. Họ khấn các vị thần linh phù hộ cho công việc làm ăn được thuận lợi, và thông báo cho thần linh biết công việc làm ăn trong năm mới. Nét đẹp người con gái Ba Na

(lehoi.info) - Lễ hội Cúng Đất làng của người dân tộc Ba Na được tổ chức hàng năm vào cuối tháng 2 và đầu tháng 3 âm lịch khi chuẩn bị vào vụ sản xuất hoặc khi dọn đến một vùng đất mới.

Lễ Cúng Đất Làng của người Ba Na

Theo quan niệm của những người dân tộc Ba Na (tỉnh Kon Tum), thì con người từ khi sinh ra cho đến khi xuống mồ đều phải trải qua nhiều quá trình của mối quan hệ ứng xử; mối quan hệ giữa Người - Người (giữa cá nhân với cá nhân), mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng; mối quan hệ giữa cá nhân, cộng đồng với đấng siêu nhiên - Giàng. Trong khi điều kiện sinh tồn của các dận tộc còn gặp rất nhiều những khó khăn phải chống chọi với thiên nhiên, thú dữ, bệnh tật, đói nghèo và chết chóc... mà trình độ nhận thức khoa học của con người thì còn nhiều hạn chế. Do đó, vòng đời người cũng được gắn liền với hệ thống Lễ - Hội tương ứng trong mỗi thời kỳ, mỗi tình huống cụ thể. Có Lễ Bỏ Mả (Pơ Thi), Lễ Ăn Trâu, Lễ hội mừng Nhà rông mới và Lễ cúng Đất làng... Đặc sắc lễ cúng đất làng của người Ba Na Lễ Cúng Đất Làng là Lễ hội của người dân tộc Ba Na sinh sống ở Kon Tum và ở Gia Lai. Những người dân làng Ba Na làm lễ cúng đất làng vào cuối tháng 2 và đầu tháng 3 âm lịch khi chuẩn bị vào vụ sản xuất hoặc khi dọn đến một vùng đất mới. Trước hôm dựng làng đồng bào người dân tộc Ba Na làm lễ kéo dài hai ngày. Họ khấn các vị thần linh phù hộ cho công việc làm ăn được thuận lợi, và thông báo cho thần linh biết công việc làm ăn trong năm mới. Nét đẹp người con gái Ba Na

Related Figures

Lễ hội mừng lúa mới của dân tộc Xê Đăng nhánh Xơ Teng

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/10- 31/10 Dương lịch Hàng năm, cứ vào khoảng tháng 10 (Dương lịch), khi lúa đã chín rộ, người dân tộc Xê Đăng nhánh Xơ Teng ở huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum lại bắt đầu việc thu hoạch và mở hội ăn mừng lúa mới . Trong lễ hội, họ khấn ông Trời (Giàng), xin Thần lúa (Noa Sai) cho họ rước hồn lúa về với dân làng, với ước nguyện cầu mong cho dân làng không thiếu cái lúa để ăn, cuộc sống luôn luôn no đủ và sung túc. Lễ hội mừng lúa mới của dân tộc Xê Đăng nhánh Xơ Teng Thông thường, lễ hội “mừng lúa mới” của người dân tộc Xê Đăng, nhánh Xơ Teng chia thành 2 giai đoạn, giai đoạn thứ nhất cũng được chia làm 2 giai đoạn, giai đoạn thứ nhất là ăn lúa mới ở tại mỗi gia đình (Ka pa neo) và giai đoạn thứ 2 là uống rượu mừng lúa mới ở tại cộng đồng làng (Onđrô tơ triêng). Một nghi thức trong lễ hội mừng lúa mới Ở giai đoạn thứ nhất, khi phát hiện rằng lúa đã chín, chủ hộ sẽ đưa các thành viên trong gia đình đến rẫy lúa của mình, chủ hộ dùng cây le tươi có lá đánh dấu các vị trí chuẩn bị tuốt lúa, đến chỗ lúa chín đều nhất, chủ hộ sẽ đọc lời khấn : “ Ô mo hua bă, êh ngăn ngin pê ka, Trôh ka, Hmeh păng Ka kơ chai, I phai, I Rih đi đo” (Ơ Thần lúa, hôm nay tôi xin phép được thay mặt mọi người trong gia đình, xin được lấy nắm lúa đầu tiên này, xin được rước hồn lúa về với gia đình chúng tôi cho chúng tôi được no đủ ); sau đó, chủ hộ sẽ tuốt nắm lúa đầu tiên làm phép, rồi cả gia đình bắt đầu công việc tuốt lúa. Tuốt lúa xong, họ đưa lúa về kho (gần rẫy lúa) để cất giữ, mỗi gia đình sẽ chỉ mang một gùi lúa lớn về nhà để cúng lúa mới, trên đường mang lúa về nhà, khi gặp ngã ba, ngã tư hay đường rẽ…,họ bẻ một cành cây để chắn ngang các lối đi phụ, chỉ để lại một lối đi chính từ kho lúa về nhà mình với suy nghĩ không để cho hồn lúa đi lạc lối khác. Khi đã mang lúa về đến nhà, các gia đình lấy lúa đem rang cho khô và giã, lấy gạo nấu một nồi cơm lớn, thức ăn được chuẩn bị trước của mỗi gia đình để ăn cơm mới gồm có: cá suối, thịt rừng và rượu ghè. Họ bày cơm mới, thức ăn và rượu ghè ra giữa nhà, chủ hộ đọc lời khấn: “ Tô cheng Kông, po ro Ka pa neo, tiên tơ Đră cheng, tô đi đo” (Hôm nay hồn lúa đã về với chúng ta, chúng ta cùng nhau đánh chiêng, uống rượu, mừng hồn lúa về với chúng ta, cho chúng ta được no đủ). Khấn xong, chủ hộ sẽ nắm vắt cơm đầu tiên để ăn, uống rượu, sau đó, mọi người trong gia đình cùng nhau ăn, uống rượu, múa hát đánh chiêng vui vẻ cho đến tận đêm khuya, thì cuộc vui tạm nghỉ. Tưng bừng lễ hội mừng lúa mới của dân tộc Xê Đăng nhánh Xơ Teng Khi tất cả các gia đình ở trong làng đã ăn mừng lúa mới (Ka pa neo) từng gia đình xong, già làng tập trung các chủ hộ lại để thông báo lễ hội uống rượu “mừng lúa mới” của tất cả cộng đồng làng (On đrô tơ triêng). Trong lễ này, già làng đóng vai trò là người chủ lễ. Già làng thông báo cho tất cả các gia đình ở trong làng chuẩn bị thức ăn như: chim chuột, thịt rừng, rau măng, cá suối, rượu ghè,v. v…và một công việc không thể thiếu ở trong lễ hội uống rượu mừng lúa mới đó là phong tục dựng cây nêu, công việc này do nam giới ở trong làng thực hiện (nữ không được tham gia) mọi công việc chuẩn bị đã xong, lễ hội “Mừng lúa mới” được bắt đầu. Từ buổi sáng sớm của ngày bắt đầu lễ hội, tất cả các gia đình ở trong làng đều phải đóng kín cửa, không ai được phép ra vào, cơm và các loại thức ăn đã được nấu sẵn và để lên giàn bếp, rượu ghè cũng đã được các gia đình chuẩn bị đầy đủ. Già làng là người đầu tiên được phép mở cửa và đi một mình đến nhà Rông; sau đó, già làng đánh một hồi trống báo hiệu cho tất cả nam giới ở trong làng mang lễ vật như: Heo, gà, cá suối và rượu ghè tập trung về nhà Rông. Lễ vật được bày tại cột chính giữa của nhà Rông. Già làng đọc lời khấn: “ Ô Noa Pôk, ô Noa Sai. Êh lăm Trôh a nghiên ăm nghiên Pê Ka, Troh Hnăm nêu Trỗ ăn pôi ta hra, Pôi ta mo ngua” (Ơ Giàng, ơ Thần lúa, hôm nay hồn lúa về với làng chúng tôi, chúng tôi cầu mong thần lúa cho chúng tôi sang năm mới và mãi mãi đừng thiếu lúa để ăn, dân làng không phải đói, xin hồn lúa hãy ở với chúng tôi, cho chúng tôi được no đủ). Sau lời khấn, già làng sẽ ăn cơm mới và uống rượu làm phép, rồi các thành viên trong làng lần lượt uống rượu và ăn cơm mới. Độc đáo lễ hội mừng lúa mới của dân tộc Xê Đăng nhánh Xơ Teng Uống rượu ở nhà Rông xong, già làng đưa tất cả mọi người ở nhà Rông lần lượt đi đến từng gia đình ở trong làng (đoàn đi theo hướng tay trái, già làng sẽ là người đi đầu tiên) đến mỗi nhà, các gia đình mang cơm rượu và thức ăn ra tiếp đoàn . Già làng làm phép và sau đó mọi người cùng nhau ăn cơm, uống rượu tượng trưng, rồi lại tiếp tục đi đến những nhà khác. Khi đã đi đến tất cả các gia đình ở trong làng, đoàn lại quay lại nhà Rông, và lúc này tất cả các lễ vật được đưa ra vị trí cây nêu ở trước nhà Rông. Già làng thông báo cho tất cả các thành viên ở trong làng (kể cả phụ nữ) tập trung về nhà Rông để mở hội “mừng lúa mới”. Rượu ghè và thức ăn từ mỗi gia đình được lần lượt mang tới nhà Rông, cả cộng đồng làng cùng nhau uống rượu, múa hát, đánh cồng chiêng và tổ chức các trò chơi, trò diễn dân gian cho đến tận đêm khuya. Khi lửa đã tàn, rượu đã nhạt, mọi người tạm nghỉ, lễ hội chính “Mừng lúa mới” của người XêĐăng, nhánh Xơ Teng ở Đăk Tô-Kon Tum xem như đã kết thúc; những ngày sau họ sẽ chỉ kéo dài việc uống rượu vui vẻ mà thôi. Theo kontum.gov.vn

Related Figures

Lễ mừng cơm mới của người Si La

Thông tin thời kỳ

Người dân tộc Si La chỉ có khoảng 700 người sinh sống chủ yếu ở 2 bản Seo Hai, xã Kan Hồ, Mường Tè, Lai Châu và dân tộc Si La gắn chặt với núi rừng, điều kiện canh tác rất khó khăn nên đồng bào ở đây luôn mơ ước về sự no đủ. Đó chính là lý do ra đời của Lễ mừng cơm mới (ổm khe) của đồng bào người dân tộc Si La. Lễ mừng cơm mới của đồng bào người dân tộc Si La được tổ chức đầu vụ thu hoạch (tháng 8 âm lịch), vào ngày hợi, ngọ, tị, thân hoặc thìn. Nếu ngày cúng trùng vào ngày giỗ của gia đình thì trưởng họ sẽ phải lui lại nhưng vẫn phải chọn vào một trong những ngày đã kể trên. Người phụ nữ dân tộc Si La trong bộ trang phục truyền thống Khi lúa trên nương đã chín, trưởng dòng họ sẽ đi hái một nắm lúa đem về phơi khô rồi giã lấy gạo nấu một bát xôi để làm lễ vật cúng chính. Những người con trai đã ra ở riêng, nếu bố đã mất thì phải đem lễ vật đến bàn thờ đặt ở nhà trưởng họ để cúng tổ tiên (nếu còn bố thì bố sẽ làm thay). Lễ vật bắt buộc phải có ở đây là 1 gói cơm mới (được lấy từ nương lúa của gia đình đem về phơi rồi đồ lên), 2 con sóc, 2 con cua và 2 con cá. Lễ cúng thường được làm vào buổi chiều. Cách thức tổ chức và những lễ vật của các dòng họ đều giống như nhau. Khi lễ vật được các gia đình ở trong dòng họ đem đến, trưởng họ sẽ bày ra một mâm tròn và bắt đầu làm lễ cúng. Con cháu sẽ quây tròn vòng quanh mâm cúng, trưởng họ vừa cúng vừa đọc những câu cầu cho mùa màng năm sau được tươi tốt và cho thu hoạch bội thu. Lễ cúng không thắp hương mà chỉ thắp nến. Nghi lễ trong Lễ mừng cơm mới Khi cúng xong các gia đình sẽ cùng nhau ăn mừng lúa mới. Gia đình nào khó khăn, trưởng dòng họ sẽ cho đem lễ vật đã cúng về nhà ăn cùng con cái và những người thân. Người dân tộc Si La rất coi trọng Lễ mừng cơm mới nên các dòng họ thường tổ chức rất chu đáo. Lễ cúng xong, sáng ngày hôm sau các gia đình lên nương thu hoạch lúa. Lễ mừng cơm mới của người dân tộc Si La ở Lai Châu ngoài ý nghĩa tín ngưỡng còn là dịp để cho các dòng họ tưởng nhớ tới những người đã khuất và là dịp để anh em họ hàng hội tụ, biểu thị sự đoàn kết và sức mạnh cộng đồng. Các điệu hát và tiếng sáo, tiếng đàn vang lên khắp núi rừng báo hiệu một mùa bội thu, an lành và no ấm. Đây là nét đẹp văn hóa của đồng bào người dân tộc Si La. Độc đáo Lễ mừng cơm mới dân tộc Si La Theo Danviet.vn

Người dân tộc Si La chỉ có khoảng 700 người sinh sống chủ yếu ở 2 bản Seo Hai, xã Kan Hồ, Mường Tè, Lai Châu và dân tộc Si La gắn chặt với núi rừng, điều kiện canh tác rất khó khăn nên đồng bào ở đây luôn mơ ước về sự no đủ. Đó chính là lý do ra đời của Lễ mừng cơm mới (ổm khe) của đồng bào người dân tộc Si La. Lễ mừng cơm mới của đồng bào người dân tộc Si La được tổ chức đầu vụ thu hoạch (tháng 8 âm lịch), vào ngày hợi, ngọ, tị, thân hoặc thìn. Nếu ngày cúng trùng vào ngày giỗ của gia đình thì trưởng họ sẽ phải lui lại nhưng vẫn phải chọn vào một trong những ngày đã kể trên.

Người phụ nữ dân tộc Si La trong bộ trang phục truyền thống

Khi lúa trên nương đã chín, trưởng dòng họ sẽ đi hái một nắm lúa đem về phơi khô rồi giã lấy gạo nấu một bát xôi để làm lễ vật cúng chính. Những người con trai đã ra ở riêng, nếu bố đã mất thì phải đem lễ vật đến bàn thờ đặt ở nhà trưởng họ để cúng tổ tiên (nếu còn bố thì bố sẽ làm thay). Lễ vật bắt buộc phải có ở đây là 1 gói cơm mới (được lấy từ nương lúa của gia đình đem về phơi rồi đồ lên), 2 con sóc, 2 con cua và 2 con cá. Lễ cúng thường được làm vào buổi chiều. Cách thức tổ chức và những lễ vật của các dòng họ đều giống như nhau. Khi lễ vật được các gia đình ở trong dòng họ đem đến, trưởng họ sẽ bày ra một mâm tròn và bắt đầu làm lễ cúng. Con cháu sẽ quây tròn vòng quanh mâm cúng, trưởng họ vừa cúng vừa đọc những câu cầu cho mùa màng năm sau được tươi tốt và cho thu hoạch bội thu. Lễ cúng không thắp hương mà chỉ thắp nến. Nghi lễ trong Lễ mừng cơm mới Khi cúng xong các gia đình sẽ cùng nhau ăn mừng lúa mới. Gia đình nào khó khăn, trưởng dòng họ sẽ cho đem lễ vật đã cúng về nhà ăn cùng con cái và những người thân. Người dân tộc Si La rất coi trọng Lễ mừng cơm mới nên các dòng họ thường tổ chức rất chu đáo. Lễ cúng xong, sáng ngày hôm sau các gia đình lên nương thu hoạch lúa. Lễ mừng cơm mới của người dân tộc Si La ở Lai Châu ngoài ý nghĩa tín ngưỡng còn là dịp để cho các dòng họ tưởng nhớ tới những người đã khuất và là dịp để anh em họ hàng hội tụ, biểu thị sự đoàn kết và sức mạnh cộng đồng. Các điệu hát và tiếng sáo, tiếng đàn vang lên khắp núi rừng báo hiệu một mùa bội thu, an lành và no ấm. Đây là nét đẹp văn hóa của đồng bào người dân tộc Si La. Độc đáo Lễ mừng cơm mới dân tộc Si La Theo Danviet.vn

Related Figures

Lễ giỗ Đức khai trấn Mạc Cửu

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/5- 30/5 Âm lịch (lehoi.info) - Lễ giỗ Đức khai trấn Mạc Cửu được tổ chức hàng năm vào tháng 5 âm lịch, tại thị xã Hà Tiên, Kiên Giang. Lễ hội này thu hút được đông đảo cán bộ và các tầng lớp nhân dân tham gia, khơi dậy được tình yêu quê hương, tình yêu đất nước và ý thức tự lực, tự cường dân tộc; ra sức làm việc và cống hiến, góp phần xây dựng quê hương Hà Tiên ngày càng giàu đẹp. Lễ giỗ Đức khai trấn Mạc Cửu Mạc Cửu là người đã có công đầu trong việc khai phá nên vùng đất Hà Tiên cách đây hơn 300 năm. Vào đầu thế kỷ thứ 18, Mạc Cửu trên đường tha hương lập nghiệp, ông đã đặt chân đến vùng đất Hà Tiên, hay còn gọi là Phương Thành, là một vùng đất có vị trí thông thương rất thuận lợi, phong cảnh hữu tình và ông đã quyết định dừng chân tại nơi đây để bắt đầu cho công cuộc mở đất. Sau đó, ông dâng biểu xưng thần, thuần phục chúa Nguyễn xin sáp nhập vùng đất Hà Tiên vào nước Đại Việt vào mùa thu năm Mậu Tý 1708. Đây là một sự kiện trọng đại trong lịch sử hình thành bờ cõi của dân tộc Việt Nam. Ghi nhận công lao to lớn của Mạc Cửu, ngay sau khi ông qua đời, Triều đinh nhà Nguyễn đã truy phong cho ông tước vị “Khai trấn Thượng Trụ Quốc, Đại tướng quân Vũ nghị công” và cho nhân dân ở xã Mỹ Đức, trấn Hà Tiên thờ phụng. Sau đó, vào năm Minh Mạng thứ III, ngày 24/9, vua Minh Mạng đã ban sắc tiếp tục truy phong thêm tước vị cho ông đó là Thụ công- Thuận nghĩa- Trung đẳng thần. Để tưởng nhớ công lao của Mạc Cửu, lễ giỗ của ông được nhân dân tổ chức hàng năm. Lễ hội diễn ra trong 3 ngày từ ngày 25 đến ngày 27 tháng 5 năm. Đoàn rước sắc từ đền thờ họ Mạc đến tượng đài Mạc Cửu Phần Lễ được diễn ra ở tại Đền thờ họ Mạc và tượng đài Mạc Cửu gồm: Lễ nghinh thần, Lễ tế thần và Đặt bàn hương án trước tượng đài Mạc Cửu; Dâng hương làm lễ thỉnh sắc ở tại Đền thờ họ Mạc; Đoàn thỉnh sắc khởi hành đến tại khu tượng đài danh nhân Mạc Cửu.. Phần Hội được diễn ra ở trong khuôn viên di tích Lịch sử - Văn hóa núi Bình San, tượng đài Mạc Cửu và Sân lễ đài thị xã với những trò chơi dân gian như: kéo co, bịt mắt đập nồi, đẩy gậy, thi đấu cờ tướng, nhảy bao bố… và biểu diễn văn nghệ với nhiều tiết mục rất phong phú, hấp dẫn. Tại Lễ hội còn tổ chức một số hoạt động thiết thực chào mừng như: Tổ chức Hội chợ Biên giới Hà Tiên, ở tại Sân lễ đài thị xã; Thi đấu giải Quần vợt mở rộng; Tổ chức giải bóng đá tứ hùng; Hội thi tìm hiểu “Thân thế và sự nghiệp của dòng họ Mạc”; Các trò chơi; Hội chợ ẩm thực;Thi đấu giải Đua xe đạp mở rộng; Diễu hành xe hoa trên một số tuyến đường trong nội ô thị xã; Văn nghệ phục vụ tại Công viên tượng đài Mạc Cửu; Các cơ quan, gia đình treo lồng đèn và cờ phướn… Chương trình văn nghệ tại lễ giỗ Đức Khai trấn mạc Cửu Việc tổ chức Lễ hội giỗ Đức khai Trấn Mạc Cửu là để tiếp tục tuyên truyền, giáo dục và phát huy truyền thống đạo đức “Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây” của dân tộc ta và tôn vinh công lao to lớn của Mạc Cửu, người đã có công đầu trong việc quy tập dân chúng, khai phá và mở mang vùng đất Hà Tiên, để các thế hệ con cháu tiếp bước xây dựng và phát triển, trở thành vùng đất trù phú, dân cư sung túc và đời sống ổn định./.

(lehoi.info) - Lễ giỗ Đức khai trấn Mạc Cửu được tổ chức hàng năm vào tháng 5 âm lịch, tại thị xã Hà Tiên, Kiên Giang. Lễ hội này thu hút được đông đảo cán bộ và các tầng lớp nhân dân tham gia, khơi dậy được tình yêu quê hương, tình yêu đất nước và ý thức tự lực, tự cường dân tộc; ra sức làm việc và cống hiến, góp phần xây dựng quê hương Hà Tiên ngày càng giàu đẹp.

Lễ giỗ Đức khai trấn Mạc Cửu

Mạc Cửu là người đã có công đầu trong việc khai phá nên vùng đất Hà Tiên cách đây hơn 300 năm. Vào đầu thế kỷ thứ 18, Mạc Cửu trên đường tha hương lập nghiệp, ông đã đặt chân đến vùng đất Hà Tiên, hay còn gọi là Phương Thành, là một vùng đất có vị trí thông thương rất thuận lợi, phong cảnh hữu tình và ông đã quyết định dừng chân tại nơi đây để bắt đầu cho công cuộc mở đất. Sau đó, ông dâng biểu xưng thần, thuần phục chúa Nguyễn xin sáp nhập vùng đất Hà Tiên vào nước Đại Việt vào mùa thu năm Mậu Tý 1708. Đây là một sự kiện trọng đại trong lịch sử hình thành bờ cõi của dân tộc Việt Nam. Ghi nhận công lao to lớn của Mạc Cửu, ngay sau khi ông qua đời, Triều đinh nhà Nguyễn đã truy phong cho ông tước vị “Khai trấn Thượng Trụ Quốc, Đại tướng quân Vũ nghị công” và cho nhân dân ở xã Mỹ Đức, trấn Hà Tiên thờ phụng. Sau đó, vào năm Minh Mạng thứ III, ngày 24/9, vua Minh Mạng đã ban sắc tiếp tục truy phong thêm tước vị cho ông đó là Thụ công- Thuận nghĩa- Trung đẳng thần. Để tưởng nhớ công lao của Mạc Cửu, lễ giỗ của ông được nhân dân tổ chức hàng năm. Lễ hội diễn ra trong 3 ngày từ ngày 25 đến ngày 27 tháng 5 năm. Đoàn rước sắc từ đền thờ họ Mạc đến tượng đài Mạc Cửu Phần Lễ được diễn ra ở tại Đền thờ họ Mạc và tượng đài Mạc Cửu gồm: Lễ nghinh thần, Lễ tế thần và Đặt bàn hương án trước tượng đài Mạc Cửu; Dâng hương làm lễ thỉnh sắc ở tại Đền thờ họ Mạc; Đoàn thỉnh sắc khởi hành đến tại khu tượng đài danh nhân Mạc Cửu.. Phần Hội được diễn ra ở trong khuôn viên di tích Lịch sử - Văn hóa núi Bình San, tượng đài Mạc Cửu và Sân lễ đài thị xã với những trò chơi dân gian như: kéo co, bịt mắt đập nồi, đẩy gậy, thi đấu cờ tướng, nhảy bao bố… và biểu diễn văn nghệ với nhiều tiết mục rất phong phú, hấp dẫn. Tại Lễ hội còn tổ chức một số hoạt động thiết thực chào mừng như: Tổ chức Hội chợ Biên giới Hà Tiên, ở tại Sân lễ đài thị xã; Thi đấu giải Quần vợt mở rộng; Tổ chức giải bóng đá tứ hùng; Hội thi tìm hiểu “Thân thế và sự nghiệp của dòng họ Mạc”; Các trò chơi; Hội chợ ẩm thực;Thi đấu giải Đua xe đạp mở rộng; Diễu hành xe hoa trên một số tuyến đường trong nội ô thị xã; Văn nghệ phục vụ tại Công viên tượng đài Mạc Cửu; Các cơ quan, gia đình treo lồng đèn và cờ phướn… Chương trình văn nghệ tại lễ giỗ Đức Khai trấn mạc Cửu Việc tổ chức Lễ hội giỗ Đức khai Trấn Mạc Cửu là để tiếp tục tuyên truyền, giáo dục và phát huy truyền thống đạo đức “Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây” của dân tộc ta và tôn vinh công lao to lớn của Mạc Cửu, người đã có công đầu trong việc quy tập dân chúng, khai phá và mở mang vùng đất Hà Tiên, để các thế hệ con cháu tiếp bước xây dựng và phát triển, trở thành vùng đất trù phú, dân cư sung túc và đời sống ổn định./.

Related Figures

Lễ hội

Thông tin thời kỳ

"Ngăh Yang pơ dei kăm hau" là lễ hội cúng Yàng trước khi đưa lúa về kho của người dân Jrai A ráp. Hàng năm cứ vào khoảng tháng 9, tháng 10, khi những bông lúa ở ngoài rẫy sắp bước vào kỳ chín rộ, thì già làng liền triệu tập một cuộc họp gồm những người có trách nhiệm, bàn bạc công việc để chuẩn bị cho lễ hội. Lễ hội "Ngăh Yang pơ dei kăm hau" của người Jrai A ráp ở Sa Thầy Tuỳ thuộc vào tín hiệu của mùa màng mà quyết định quy mô tổ chức. Sau khi đã thống nhất về thời gian và mức đóng góp của các chủ hộ, già làng với vai trò là người tổng chỉ huy, phân công cho các thành viên thực hiện những công việc cụ thể như mua trâu, mua dê, mua heo, mua gà để làm vật hiến tế, chặt cây dựng nêu.v.v..Không khí chuẩn bị nhanh chóng lan toả, tất bật ở trong mỗi gia đình. Thông thường, thời gian tiến hành lễ hội được tổ chức trong vòng 3 ngày. Ngày đầu tiên, mọi người tập trung để làm cây nêu. Từng nhóm nghệ nhân sẽ chịu trách nhiệm mỗi công việc một cách rất trôi chảy và thành thạo. Già làng sẽ chọn vị trí để tốp thanh niên đào hố, cắt máu gà đổ xuống và thắp lửa khấn Yàng rồi dựng cây nêu. Sau đó trâu sẽ được dắt về, cột vào thòng lọng kết bằng dây mây vô cùng chắc chắn. Ngay lúc này, 1 con heo nhỏ được hiến sinh lấy máu để quết vào cây nêu. Đêm hôm đó, cả làng sẽ không ngủ mà thực hiện lễ thức góp gạo thiêng. Một ban đại diện đốt đuốc và đi đến từng nhà, chủ hộ lấy 1 nắm gạo thơm góp vào gùi chung của cả làng để đưa về nhà rông. Nghi lễ chém trâu trong lễ hội Ngày thứ 2 mới thực sự là ngày chính lễ. Khi mặt trời vừa thức, cồng chiêng đã vang lên. Âm thanh rộn rã của chiêng bằng, chiêng núm vọng vào vách núi, trầm bổng lan toả trong không gian như báo với thần linh rằng dân làng bắt đầu hành lễ. Già làng trong bộ trang phục truyền thống, vai mang kiếm, tiến hành các nghi thức rắc gạo thiêng, dâng rượu thiêng, khấn Yàng và nhảy múa rồi chém nhẹ vào mình con trâu. Gọi là chém vì người dân Jrai A ráp chỉ đâm trâu khi mừng chiến công và mừng chiến thắng. Tiếng cồng tiếng chiêng vang lên rộn rã và trầm hùng. Vòng xoang bắt đầu hình thành rộng dần và nhiều lớp dần. Trâu được một tốp thanh niên lực lưỡng quật ngã, cắt lấy máu, treo đầu và đuôi trâu lên cây nêu. Lúc này ở bên trong nhà rông đã chuẩn bị sẵn hai ghè rượu thiêng, giá trị của mỗi ghè lên đến vài chục con trâu. Cùng với rượu, một ít tim và một ít gan trâu được bỏ vào vật dụng đan bằng cây lồ ô tươi, kết hoa văn vô cùng tinh tế để dâng lên Yàng. Già làng tiếp tục chủ trì nghi lễ, với lời khấn đại ý là cảm ơn Yàng đã cho mưa, cho nắng thuận hoà, cây lúa không bị con heo, con nai và con chuột rừng phá hoại. Nghi lễ này chỉ có già làng và những người uy tín, dân làng kính trọng thì mới được tham gia. Mọi người vừa lầm rầm khấn cầu, vừa chấm ngón tay vào ghè rượu thiêng rồi đưa lên miệng để ngậm. Tiếp đến là lễ thức nắm dây, một thủ tục tâm linh vô cùng độc đáo được gọi là Hrế Prang được tiến hành. Sợi dây cột từ cổ ghè rượu thiêng, dòng xuống bên dưới nhà rông, dân làng nắm vào sợi dây đó tạo thành dòng người tiếp nối dài ra mãi. Theo quan niệm, sợi dây chính là mối liên hệ giao cảm giữa con người với thần linh. Khi nắm dây, những mong muốn của mỗi người là sẽ được thần linh chấp nhận giúp đỡ. Nắm dây còn biểu hiện tính cộng đồng rất cao, mang ý nghĩa gắn kết mọi thành viên ở trong làng như một khối thống nhất. Phần nghi lễ đến lúc này coi như đã được hoàn tất. Mọi người bắt tay vào chia thịt cho các hộ gia đình. Đồng thời từ các hướng, dân làng cõng rượu đến góp để chuẩn bị cho phần hội thâu đêm. Những ghè rượu cứ nối tiếp nhau thành hàng, thành lối. Chủ ghè vồn vã mời khách hết căn này đến căn khác, khách phải uống cho thật say mới thực tình. Khi đã chuếnh choáng hơi men, cũng là lúc những điệu hát giao duyên được bắt đầu cất lên, cùng những ánh mắt đắm say và tình tứ. Ngày thứ 3 chỉ mang tính nội bộ. Già làng và những người có trách nhiệm xem xét những cái được và những cái chưa được về lễ hội vừa tổ chức để rút kinh nghiệm. Tiếp tục ăn đầu trâu, uống rượu và bàn việc thu hoạch lúa đại trà sao cho nhanh gọn, tránh được thất thoát. Trồng cây Pơ lang, một nhánh nhỏ như cây gậy nằm giữa các cột "Gưng". Đây là một loại cây có sức sống mãnh liệt, tượng trưng cho sức mạnh của cộng đồng và kết thúc bằng việc treo xương của đầu trâu lên mái nhà rông. Độc đáo Lễ hội "Ngăh Yang pơ dei kăm hau" của người Jrai A ráp Lễ hội "Ngăh Yang pơ dei kăm hau" thực chất là một cách thể hiện văn hoá ứng xử của con người với thần linh. Nó xuất phát từ cuộc sống lao động sản xuất vốn phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên. Theo cách nghĩ của người dân Jrai A ráp, nhờ có Yàng che chở và phù hộ nên thóc lúa mới đầy kho. Vì vậy tổ chức lễ hội là để tỏ lòng biết ơn và là hành động trả nghĩa đối với thần linh. Đồng thời thông qua lễ hội, là dịp để từng thành viên trong cộng đồng làng nhận thức rõ trách nhiệm và quyền lợi của mình. Biểu hiện rõ nhất trong lễ thức nắm dây, ai là người không tự nguyện tham gia, có nghĩa là người đó tự tách ra khỏi cộng đồng. Lễ hội còn là môi trường nhằm thoả mãn nhu cầu được giao lưu của con người, sau những tháng ngày lao động miệt mài vất vả. Trải qua bao đời nay, mặc dù chịu nhiều tác động của môi trường xã hội, của thiên nhiên...nhưng lễ hội "Ngăh Yang pơ dei kăm hau" vẫn được người dân Jrai A ráp lưu giữ và khẳng định sức sống mãnh liệt trong cuộc sống tinh thần của cộng đồng. Ở lễ hội này, yếu tố duy tâm giống như một lớp bụi mờ, phía sau nó lấp lánh những giá trị văn hoá vượt ngưỡng tâm linh. Theo Kontum.gov.vn

"Ngăh Yang pơ dei kăm hau" là lễ hội cúng Yàng trước khi đưa lúa về kho của người dân Jrai A ráp. Hàng năm cứ vào khoảng tháng 9, tháng 10, khi những bông lúa ở ngoài rẫy sắp bước vào kỳ chín rộ, thì già làng liền triệu tập một cuộc họp gồm những người có trách nhiệm, bàn bạc công việc để chuẩn bị cho lễ hội.

Lễ hội "Ngăh Yang pơ dei kăm hau" của người Jrai A ráp ở Sa Thầy

Tuỳ thuộc vào tín hiệu của mùa màng mà quyết định quy mô tổ chức. Sau khi đã thống nhất về thời gian và mức đóng góp của các chủ hộ, già làng với vai trò là người tổng chỉ huy, phân công cho các thành viên thực hiện những công việc cụ thể như mua trâu, mua dê, mua heo, mua gà để làm vật hiến tế, chặt cây dựng nêu.v.v..Không khí chuẩn bị nhanh chóng lan toả, tất bật ở trong mỗi gia đình. Thông thường, thời gian tiến hành lễ hội được tổ chức trong vòng 3 ngày. Ngày đầu tiên, mọi người tập trung để làm cây nêu. Từng nhóm nghệ nhân sẽ chịu trách nhiệm mỗi công việc một cách rất trôi chảy và thành thạo. Già làng sẽ chọn vị trí để tốp thanh niên đào hố, cắt máu gà đổ xuống và thắp lửa khấn Yàng rồi dựng cây nêu. Sau đó trâu sẽ được dắt về, cột vào thòng lọng kết bằng dây mây vô cùng chắc chắn. Ngay lúc này, 1 con heo nhỏ được hiến sinh lấy máu để quết vào cây nêu. Đêm hôm đó, cả làng sẽ không ngủ mà thực hiện lễ thức góp gạo thiêng. Một ban đại diện đốt đuốc và đi đến từng nhà, chủ hộ lấy 1 nắm gạo thơm góp vào gùi chung của cả làng để đưa về nhà rông. Nghi lễ chém trâu trong lễ hội Ngày thứ 2 mới thực sự là ngày chính lễ. Khi mặt trời vừa thức, cồng chiêng đã vang lên. Âm thanh rộn rã của chiêng bằng, chiêng núm vọng vào vách núi, trầm bổng lan toả trong không gian như báo với thần linh rằng dân làng bắt đầu hành lễ. Già làng trong bộ trang phục truyền thống, vai mang kiếm, tiến hành các nghi thức rắc gạo thiêng, dâng rượu thiêng, khấn Yàng và nhảy múa rồi chém nhẹ vào mình con trâu. Gọi là chém vì người dân Jrai A ráp chỉ đâm trâu khi mừng chiến công và mừng chiến thắng. Tiếng cồng tiếng chiêng vang lên rộn rã và trầm hùng. Vòng xoang bắt đầu hình thành rộng dần và nhiều lớp dần. Trâu được một tốp thanh niên lực lưỡng quật ngã, cắt lấy máu, treo đầu và đuôi trâu lên cây nêu. Lúc này ở bên trong nhà rông đã chuẩn bị sẵn hai ghè rượu thiêng, giá trị của mỗi ghè lên đến vài chục con trâu. Cùng với rượu, một ít tim và một ít gan trâu được bỏ vào vật dụng đan bằng cây lồ ô tươi, kết hoa văn vô cùng tinh tế để dâng lên Yàng. Già làng tiếp tục chủ trì nghi lễ, với lời khấn đại ý là cảm ơn Yàng đã cho mưa, cho nắng thuận hoà, cây lúa không bị con heo, con nai và con chuột rừng phá hoại. Nghi lễ này chỉ có già làng và những người uy tín, dân làng kính trọng thì mới được tham gia. Mọi người vừa lầm rầm khấn cầu, vừa chấm ngón tay vào ghè rượu thiêng rồi đưa lên miệng để ngậm. Tiếp đến là lễ thức nắm dây, một thủ tục tâm linh vô cùng độc đáo được gọi là Hrế Prang được tiến hành. Sợi dây cột từ cổ ghè rượu thiêng, dòng xuống bên dưới nhà rông, dân làng nắm vào sợi dây đó tạo thành dòng người tiếp nối dài ra mãi. Theo quan niệm, sợi dây chính là mối liên hệ giao cảm giữa con người với thần linh. Khi nắm dây, những mong muốn của mỗi người là sẽ được thần linh chấp nhận giúp đỡ. Nắm dây còn biểu hiện tính cộng đồng rất cao, mang ý nghĩa gắn kết mọi thành viên ở trong làng như một khối thống nhất. Phần nghi lễ đến lúc này coi như đã được hoàn tất. Mọi người bắt tay vào chia thịt cho các hộ gia đình. Đồng thời từ các hướng, dân làng cõng rượu đến góp để chuẩn bị cho phần hội thâu đêm. Những ghè rượu cứ nối tiếp nhau thành hàng, thành lối. Chủ ghè vồn vã mời khách hết căn này đến căn khác, khách phải uống cho thật say mới thực tình. Khi đã chuếnh choáng hơi men, cũng là lúc những điệu hát giao duyên được bắt đầu cất lên, cùng những ánh mắt đắm say và tình tứ. Ngày thứ 3 chỉ mang tính nội bộ. Già làng và những người có trách nhiệm xem xét những cái được và những cái chưa được về lễ hội vừa tổ chức để rút kinh nghiệm. Tiếp tục ăn đầu trâu, uống rượu và bàn việc thu hoạch lúa đại trà sao cho nhanh gọn, tránh được thất thoát. Trồng cây Pơ lang, một nhánh nhỏ như cây gậy nằm giữa các cột "Gưng". Đây là một loại cây có sức sống mãnh liệt, tượng trưng cho sức mạnh của cộng đồng và kết thúc bằng việc treo xương của đầu trâu lên mái nhà rông. Độc đáo Lễ hội "Ngăh Yang pơ dei kăm hau" của người Jrai A ráp Lễ hội "Ngăh Yang pơ dei kăm hau" thực chất là một cách thể hiện văn hoá ứng xử của con người với thần linh. Nó xuất phát từ cuộc sống lao động sản xuất vốn phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên. Theo cách nghĩ của người dân Jrai A ráp, nhờ có Yàng che chở và phù hộ nên thóc lúa mới đầy kho. Vì vậy tổ chức lễ hội là để tỏ lòng biết ơn và là hành động trả nghĩa đối với thần linh. Đồng thời thông qua lễ hội, là dịp để từng thành viên trong cộng đồng làng nhận thức rõ trách nhiệm và quyền lợi của mình. Biểu hiện rõ nhất trong lễ thức nắm dây, ai là người không tự nguyện tham gia, có nghĩa là người đó tự tách ra khỏi cộng đồng. Lễ hội còn là môi trường nhằm thoả mãn nhu cầu được giao lưu của con người, sau những tháng ngày lao động miệt mài vất vả. Trải qua bao đời nay, mặc dù chịu nhiều tác động của môi trường xã hội, của thiên nhiên...nhưng lễ hội "Ngăh Yang pơ dei kăm hau" vẫn được người dân Jrai A ráp lưu giữ và khẳng định sức sống mãnh liệt trong cuộc sống tinh thần của cộng đồng. Ở lễ hội này, yếu tố duy tâm giống như một lớp bụi mờ, phía sau nó lấp lánh những giá trị văn hoá vượt ngưỡng tâm linh. Theo Kontum.gov.vn

Related Figures

Tết Chol Chnăm Thmây

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 13/4- 15/4 Dương lịch (lehoi.info) - Lễ Chôl Chnăm Thmây được tổ chức hàng năm vào ngày 13 đến ngày 15 tháng 4 dương lịch. Ngoài những nghi lễ truyền thống như: lễ rước Mahaskan, lễ dâng hương hoa quả, lễ đắp núi cát, đắp núi lúa, gạo, lễ tắm tượng Phật và lễ cầu siêu cho ông bà quá cố. Lễ hội còn có những trò chơi dân gian như: thả vịt trên sông, bịt mắt dập nồi, thả thuyền rược bắt và múa hát room-vông. Tết cổ truyền Chôl Chnăm Thmây dân tộc Khmer Chôl Chnăm Thmây có nghĩa là “Vào năm mới”, “Lễ chịu tuổi”, là lễ tết lớn nhất trong năm của người dân tộc Khmer được diễn ra vào giữa tháng 4 Dương lịch, là lúc giao mùa giữa mùa nắng và mùa mưa ở vùng Nam bộ. Giai đoạn này trời đất giao hòa, cỏ cây trở nên tươi tốt đầy sức sống. Sự đâm chồi nảy lộc của cỏ cây được người dân tộc Khmer quan niệm như là sự khởi đầu của một năm mới. Người dân tộc Khmer chịu ảnh hưởng nhiều từ nền văn hóa Ấn Độ, nên đa số đều theo Phật Giáo tiểu thừa. Vì thế, họ ăn tết khác với những nước ở trong vùng Đông Nam Á và trên thế giới. Người dân tộc Khmer ở Kiên Giang chuẩn bị ngày Tết cổ truyền của họ thật trang trọng, nhà cửa được dọn dẹp rất sạch sẽ, quần áo may mới cho mọi người trong gia đình như Tết Nguyên Đán ở nước ta. Lễ hội vào năm mới của người dân tộc Khmer thường được kéo dài trong 3 ngày, năm nhuận thì kéo dài 4 ngày, mỗi ngày có một tên gọi khác nhau. Ngoài việc thờ phụng Phật, người dân tộc Khmer còn tin rằng mỗi năm sẽ có một vị thần trên trời (Têvôđa) được trời sai xuống để chăm lo cho cuộc sống và con người trong năm đó, hết năm lại trở về trời để vị thần khác xuống hạ giới. Vì thế, trong đêm Giao Thừa, nhà nào cũng làm cỗ, thắp hương, đốt đèn và cúng lễ tiễn đưa vị Têvôđa cũ, đón rước Têvôđa mới. Cả gia đình ngồi xếp chân ở trước bàn thờ tổ tiên, khấn vái, mong và tin rằng sẽ được thần ban cho phước lành. Đồng bào Khmer đến cúng chùa ngày Tết Chôl Chnăm Thmây Trong Tết Chôl Chnam Thmây, một tục lệ không thể thiếu của người dân tộc Khme đó là đắp núi cát ở tại các ngôi chùa. Người dân tộc Khmer quan niệm rằng mỗi hạt cát được đắp lên là xoá được một tội lỗi và giải thoát được một linh hồn ở dưới địa ngục. Núi cát cũng giống như những đám mây mang mưa cho vụ mùa mới sau 5-6 tháng khô hạn. Gia đình nào cũng vậy, dù là rất nghèo nhưng cũng sẽ có nồi bánh nùm-chrụt (gần giống bánh tét của người Kinh ở Nam Bộ) và bánh nùm-tiên (gần giống bánh ít ở Nam Bộ). Hai loại bánh này là tượng trưng cho sự no ấm, làm ăn thịnh vượng, được mùa của những người dân tộc Khmer. Nó cũng giống như bánh chưng, bánh dầy của người Kinh vùng đồng bằng Bắc Bộ dùng trong ngày tết Nguyên đán. Ngoài ra còn có các loại bánh như: nùm- niềng- nóc, nùm-chết (bánh dừa nhân chuối), sùm-bóc-cháp (bánh bột nhân dừa) Đến dịp Tết Chôl Chnăm Thmây của người dân tộc Khmer - Kiên Giang, chúng ta sẽ được tận hưởng một không khí rất náo nhiệt và đầy sinh động. Những điệu múa lăm thôn, múa rô băm, múa dù kê và tục thả lồng đèn trời là những nét văn hoá đặc sắc không thể nào thiếu ở trong lễ hội này. Những chiếc đèn lồng được thả lên cao, mang theo cả ước nguyện của những người dân Khmer về một cuộc sống ấm no, an lành và hạnh phúc. Tết Chôl-chnăm-thmây, đồng bào dân tộc Khmer tập trung ở tại các ngôi chùa, cùng thờ cúng ông bà, vui chơi và cầu cho một năm mới mưa thuận gió hòa và làm ăn phát đạt. Nhà chùa nào cũng cùng với đồng bào chuẩn bị cho các nghi lễ và các họat động văn hóa, thể thao trong những ngày tết. Ở tại chùa Thủy Liễu, huyện Gò Quao năm nay ngoài các lễ mừng năm mới còn có hội thi bơi xuồng ba lá, đập nồi đất, đẩy gậy…đang được bà con háo hức chờ đón. Đặc sắc Tết Chol Chnăm Thmây tại Kiên Giang Ở tỉnh Kiên Giang, bà con dân tộc Khmer sống xen lẫn, chan hòa và đoàn kết với những người Kinh và người Hoa, tiếng Khmer có thể nói không sõi nhưng phong tục tập quán của đồng bào Khmer thì luôn được gìn giữ và phát huy. Tết cổ truyền Chôl-chnăm-thmây là một trong những dịp để đồng bào dân tộc Khmer đưa con cháu mình cùng đến chùa và giảng giải cho chúng phong tục của dân tộc mình. Cứ như thế, không khí ngày tết cổ truyền Chôl-chnăm-thmây của đồng bào dân tộc Khmer ở tỉnh Kiên Giang đến từ rất sớm, mang đầy đủ ý nghĩa và hương vị. Một năm mới với nhiều niềm vui mới và thắng lợi mới đang được đồng bào tưng bừng chào đón.

(lehoi.info) - Lễ Chôl Chnăm Thmây được tổ chức hàng năm vào ngày 13 đến ngày 15 tháng 4 dương lịch. Ngoài những nghi lễ truyền thống như: lễ rước Mahaskan, lễ dâng hương hoa quả, lễ đắp núi cát, đắp núi lúa, gạo, lễ tắm tượng Phật và lễ cầu siêu cho ông bà quá cố. Lễ hội còn có những trò chơi dân gian như: thả vịt trên sông, bịt mắt dập nồi, thả thuyền rược bắt và múa hát room-vông.

Tết cổ truyền Chôl Chnăm Thmây dân tộc Khmer

Chôl Chnăm Thmây có nghĩa là “Vào năm mới”, “Lễ chịu tuổi”, là lễ tết lớn nhất trong năm của người dân tộc Khmer được diễn ra vào giữa tháng 4 Dương lịch, là lúc giao mùa giữa mùa nắng và mùa mưa ở vùng Nam bộ. Giai đoạn này trời đất giao hòa, cỏ cây trở nên tươi tốt đầy sức sống. Sự đâm chồi nảy lộc của cỏ cây được người dân tộc Khmer quan niệm như là sự khởi đầu của một năm mới. Người dân tộc Khmer chịu ảnh hưởng nhiều từ nền văn hóa Ấn Độ, nên đa số đều theo Phật Giáo tiểu thừa. Vì thế, họ ăn tết khác với những nước ở trong vùng Đông Nam Á và trên thế giới. Người dân tộc Khmer ở Kiên Giang chuẩn bị ngày Tết cổ truyền của họ thật trang trọng, nhà cửa được dọn dẹp rất sạch sẽ, quần áo may mới cho mọi người trong gia đình như Tết Nguyên Đán ở nước ta. Lễ hội vào năm mới của người dân tộc Khmer thường được kéo dài trong 3 ngày, năm nhuận thì kéo dài 4 ngày, mỗi ngày có một tên gọi khác nhau. Ngoài việc thờ phụng Phật, người dân tộc Khmer còn tin rằng mỗi năm sẽ có một vị thần trên trời (Têvôđa) được trời sai xuống để chăm lo cho cuộc sống và con người trong năm đó, hết năm lại trở về trời để vị thần khác xuống hạ giới. Vì thế, trong đêm Giao Thừa, nhà nào cũng làm cỗ, thắp hương, đốt đèn và cúng lễ tiễn đưa vị Têvôđa cũ, đón rước Têvôđa mới. Cả gia đình ngồi xếp chân ở trước bàn thờ tổ tiên, khấn vái, mong và tin rằng sẽ được thần ban cho phước lành. Đồng bào Khmer đến cúng chùa ngày Tết Chôl Chnăm Thmây Trong Tết Chôl Chnam Thmây, một tục lệ không thể thiếu của người dân tộc Khme đó là đắp núi cát ở tại các ngôi chùa. Người dân tộc Khmer quan niệm rằng mỗi hạt cát được đắp lên là xoá được một tội lỗi và giải thoát được một linh hồn ở dưới địa ngục. Núi cát cũng giống như những đám mây mang mưa cho vụ mùa mới sau 5-6 tháng khô hạn. Gia đình nào cũng vậy, dù là rất nghèo nhưng cũng sẽ có nồi bánh nùm-chrụt (gần giống bánh tét của người Kinh ở Nam Bộ) và bánh nùm-tiên (gần giống bánh ít ở Nam Bộ). Hai loại bánh này là tượng trưng cho sự no ấm, làm ăn thịnh vượng, được mùa của những người dân tộc Khmer. Nó cũng giống như bánh chưng, bánh dầy của người Kinh vùng đồng bằng Bắc Bộ dùng trong ngày tết Nguyên đán. Ngoài ra còn có các loại bánh như: nùm- niềng- nóc, nùm-chết (bánh dừa nhân chuối), sùm-bóc-cháp (bánh bột nhân dừa) Đến dịp Tết Chôl Chnăm Thmây của người dân tộc Khmer - Kiên Giang, chúng ta sẽ được tận hưởng một không khí rất náo nhiệt và đầy sinh động. Những điệu múa lăm thôn, múa rô băm, múa dù kê và tục thả lồng đèn trời là những nét văn hoá đặc sắc không thể nào thiếu ở trong lễ hội này. Những chiếc đèn lồng được thả lên cao, mang theo cả ước nguyện của những người dân Khmer về một cuộc sống ấm no, an lành và hạnh phúc. Tết Chôl-chnăm-thmây, đồng bào dân tộc Khmer tập trung ở tại các ngôi chùa, cùng thờ cúng ông bà, vui chơi và cầu cho một năm mới mưa thuận gió hòa và làm ăn phát đạt. Nhà chùa nào cũng cùng với đồng bào chuẩn bị cho các nghi lễ và các họat động văn hóa, thể thao trong những ngày tết. Ở tại chùa Thủy Liễu, huyện Gò Quao năm nay ngoài các lễ mừng năm mới còn có hội thi bơi xuồng ba lá, đập nồi đất, đẩy gậy…đang được bà con háo hức chờ đón. Đặc sắc Tết Chol Chnăm Thmây tại Kiên Giang Ở tỉnh Kiên Giang, bà con dân tộc Khmer sống xen lẫn, chan hòa và đoàn kết với những người Kinh và người Hoa, tiếng Khmer có thể nói không sõi nhưng phong tục tập quán của đồng bào Khmer thì luôn được gìn giữ và phát huy. Tết cổ truyền Chôl-chnăm-thmây là một trong những dịp để đồng bào dân tộc Khmer đưa con cháu mình cùng đến chùa và giảng giải cho chúng phong tục của dân tộc mình. Cứ như thế, không khí ngày tết cổ truyền Chôl-chnăm-thmây của đồng bào dân tộc Khmer ở tỉnh Kiên Giang đến từ rất sớm, mang đầy đủ ý nghĩa và hương vị. Một năm mới với nhiều niềm vui mới và thắng lợi mới đang được đồng bào tưng bừng chào đón.

Related Figures

Lễ hội Nghinh Ông

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/10- 16/10 Âm lịch (lehoi.info)- Hàng năm cứ vào các ngày 15 và ngày 16 tháng 10 âm lịch, chính quyền xã Lại Sơn, huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang và ngư dân địa phương nơi đây lại long trọng tổ chức Lễ hội Nghinh Ông để bày tỏ lòng tri ân vì sự phù trợ của Cá Ông và các bậc tiền nhân đã có công khai mở vùng đất này. Rước ngai thờ Ông xuống thuyền trong lễ hội Tập tục thờ cá Ông là một nét sinh hoạt văn hóa đặc trưng của cư dân miền duyên hải, lễ cúng cá Ông ở Lại Sơn tồn tại đã hơn 100 năm. Đây cũng là loại hình lễ hội cầu ngư, cầu cho mưa thuận gió hòa, làm ăn trên biển được thuận lợi và cũng là dịp để bà con tổng kết lại những chuyến đi biển trong năm. Trong ngày hội, hàng trăm tàu thuyền, ghe xuồng neo đậu ở phía trước Đình Thần Nam Hải nằm sát biển để chờ diễu hành. Đối với những người dân đảo Hòn Sơn chủ yếu sống bằng nghề đánh bắt cá nên lễ hội nghinh ông Nam Hải là một trong những lễ hội quan trọng nhất ở trong năm. Vì vậy, từ ngày 14 âm lịch, dường như hầu hết những tàu thuyền dù đánh cá ở tận trùng khơi cũng tụ tập về làm cho những bến cảng xung quanh hòn đảo giữa biển này đông nghẹt tàu thuyền và ghe xuồng. Lễ hội nghinh ông ở Kiên Giang Lễ hội diễn ra gồm hai phần: Phần lễ và phần hội Phần lễ gồm lễ cúng thỉnh (cung nghinh) các vị thần. Lễ Nghinh Ông và Chánh tế được tiến hành với sự tham gia đông đảo của tất cả những ngư dân ở trên đảo. Về phần hội đã tổ chức được những trò chơi dân gian, tạo được không khí vui tươi cho lễ hội như: đua xuồng chèo, bịt mắt đập niêu, thi ẩm thực với các món ăn miền biển, kéo co, đờn ca tài tử. Bên cạnh là những hoạt động: tổ chức các tour du lịch leo núi, lặn biển ngắm san hô, tham quan nhà thùng nước mắm và các nghề thủ công, tổ chức các giải xe đạp leo núi, bóng chuyền bãi biển, tổ chức giải bóng đá, liên hoan đờn ca tài tử, chiếu phim.vv… Lễ thả tàu tiễn những vị thần linh trở về với biển khơi kết thúc lễ hội nghinh ông. Tàu cá kéo về Cảng Hòn Sơn tham dự lễ hội Nghinh Ông Lễ hội nghinh Ông được cộng đồng cư dân ở nơi đây sáng tạo và gìn giữ, lưu truyền nhằm thể hiện những ước nguyện, những khát vọng tâm linh và thẩm mỹ trong cuộc sống đời thường.

(lehoi.info)- Hàng năm cứ vào các ngày 15 và ngày 16 tháng 10 âm lịch, chính quyền xã Lại Sơn, huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang và ngư dân địa phương nơi đây lại long trọng tổ chức Lễ hội Nghinh Ông để bày tỏ lòng tri ân vì sự phù trợ của Cá Ông và các bậc tiền nhân đã có công khai mở vùng đất này.

Rước ngai thờ Ông xuống thuyền trong lễ hội

Tập tục thờ cá Ông là một nét sinh hoạt văn hóa đặc trưng của cư dân miền duyên hải, lễ cúng cá Ông ở Lại Sơn tồn tại đã hơn 100 năm. Đây cũng là loại hình lễ hội cầu ngư, cầu cho mưa thuận gió hòa, làm ăn trên biển được thuận lợi và cũng là dịp để bà con tổng kết lại những chuyến đi biển trong năm. Trong ngày hội, hàng trăm tàu thuyền, ghe xuồng neo đậu ở phía trước Đình Thần Nam Hải nằm sát biển để chờ diễu hành. Đối với những người dân đảo Hòn Sơn chủ yếu sống bằng nghề đánh bắt cá nên lễ hội nghinh ông Nam Hải là một trong những lễ hội quan trọng nhất ở trong năm. Vì vậy, từ ngày 14 âm lịch, dường như hầu hết những tàu thuyền dù đánh cá ở tận trùng khơi cũng tụ tập về làm cho những bến cảng xung quanh hòn đảo giữa biển này đông nghẹt tàu thuyền và ghe xuồng. Lễ hội nghinh ông ở Kiên Giang Lễ hội diễn ra gồm hai phần: Phần lễ và phần hội Phần lễ gồm lễ cúng thỉnh (cung nghinh) các vị thần. Lễ Nghinh Ông và Chánh tế được tiến hành với sự tham gia đông đảo của tất cả những ngư dân ở trên đảo. Về phần hội đã tổ chức được những trò chơi dân gian, tạo được không khí vui tươi cho lễ hội như: đua xuồng chèo, bịt mắt đập niêu, thi ẩm thực với các món ăn miền biển, kéo co, đờn ca tài tử. Bên cạnh là những hoạt động: tổ chức các tour du lịch leo núi, lặn biển ngắm san hô, tham quan nhà thùng nước mắm và các nghề thủ công, tổ chức các giải xe đạp leo núi, bóng chuyền bãi biển, tổ chức giải bóng đá, liên hoan đờn ca tài tử, chiếu phim.vv… Lễ thả tàu tiễn những vị thần linh trở về với biển khơi kết thúc lễ hội nghinh ông. Tàu cá kéo về Cảng Hòn Sơn tham dự lễ hội Nghinh Ông Lễ hội nghinh Ông được cộng đồng cư dân ở nơi đây sáng tạo và gìn giữ, lưu truyền nhằm thể hiện những ước nguyện, những khát vọng tâm linh và thẩm mỹ trong cuộc sống đời thường.

Related Figures

Lễ hội truyền thống Nguyễn Trung Trực

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 26/8- 28/8 Âm lịch (lehoi.info)- Lễ hội truyền thống Nguyễn Trung Trực là một lễ hội có qui mô lớn được tổ chức hàng năm vào các ngày 26, ngày 27 và ngày 28 tháng 8 âm lịch, ở tại thành phố Rạch Giá. Lễ hội thu hút đông đảo nhân dân trong khu vực về dâng hương tưởng nhớ đến người anh hùng của dân tộc. Lễ hội truyền thống Nguyễn Trung Trực tại Kiên Giang Nguyễn Trung Trực là một trong những người đầu tiên ở vùng đất Nam bộ đứng lên khơi dậy phong trào yêu nước, chống Pháp ở nửa cuối thế kỷ XIX. Chiến công hiển hách của ông đã làm cho quân thù khiếp sợ là trận đốt cháy tàu chiến của thực dân Pháp ở sông Nhật Tảo, tỉnh Long An vào năm 1861 và trận đánh tiêu diệt đồn Rạch Giá của thực dân Pháp vào năm 1868. 2 chiến công vang vội này đã được nhà thơ yêu nước Huỳnh Mẫn Đạt ca ngợi qua 2 câu thơ nổi tiếng: “Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa/ Kiếm bạt Kiên Giang khấp quỷ thần”. Từ 2 chiến công vang dội nhất lúc bấy giờ mà phong trào yêu nước, chống Pháp đã lan tỏa khắp nơi trong cả nước đến Cách mạng Tháng 8 năm 1945. Gương hy sinh lẫm liệt của người anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực là biểu tượng tinh thần đấu tranh bất khuất của dân tộc Việt Nam được đúc kết từ hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước. Để tỏ lòng tiếc thương vô hạn người anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực, người dân Rạch Giá đã cất một ngôi đình thờ và tổ chức lễ cúng giỗ ông hàng năm vào ngày 27, ngày 28 và ngày 29 tháng 8 âm lịch. Từ lễ giỗ như lễ cúng kiếng gia tiên, nhưng với lòng ngưỡng mộ anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực, người dân - ai cũng muốn được tỏ lòng thành kính và tôn vinh ông bằng những nén hương, bằng những chén rượu để ghi ơn người anh hùng dân tộc, lễ giỗ dần dần được nâng cấp thành lễ hội cấp thị xã, cấp tỉnh rồi đến cấp khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long. Hàng năm số người đến tham dự và dâng hương Cụ Nguyễn ngày càng đông. Quang cảnh lễ hội truyền thống Nguyễn Trung Trực Lễ hội được chia làm 2 phần: phần lễ và phần hội. Phần lễ gồm có rước sắc thần, lễ dâng hương và lễ cúng tế tại đình. Phần hội gồm những họat động văn hóa-nghệ thuật và những trò chơi rất đặc sắc. Trong suốt ba ngày diễn ra lễ hội có các hoạt động sân khấu hóa tái hiện sinh động những chiến công oanh liệt của dân tộc Việt Nam và Cụ Nguyễn Trung Trực, các trò chơi dân gian, các hoạt động thương mại, du lịch và văn hóa ẩm thực sông nước Nam bộ và nhiều các hoạt động khác phục vụ nhân dân trẩy hội. Đông đảo người dân và du khách tới tham dự lễ hội Cùng thời gian này, những nơi có đền thờ anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực tại các tỉnh Tiền Giang, Long An, Cà Mau và An Giang cũng tổ chức lễ dâng hương tưởng nhớ tới người anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực. Người dân luôn tự hào với truyền thống của cha ông đã làm rạng danh dân tộc Việt Nam anh hùng.

(lehoi.info)- Lễ hội truyền thống Nguyễn Trung Trực là một lễ hội có qui mô lớn được tổ chức hàng năm vào các ngày 26, ngày 27 và ngày 28 tháng 8 âm lịch, ở tại thành phố Rạch Giá. Lễ hội thu hút đông đảo nhân dân trong khu vực về dâng hương tưởng nhớ đến người anh hùng của dân tộc.

Lễ hội truyền thống Nguyễn Trung Trực tại Kiên Giang

Nguyễn Trung Trực là một trong những người đầu tiên ở vùng đất Nam bộ đứng lên khơi dậy phong trào yêu nước, chống Pháp ở nửa cuối thế kỷ XIX. Chiến công hiển hách của ông đã làm cho quân thù khiếp sợ là trận đốt cháy tàu chiến của thực dân Pháp ở sông Nhật Tảo, tỉnh Long An vào năm 1861 và trận đánh tiêu diệt đồn Rạch Giá của thực dân Pháp vào năm 1868. 2 chiến công vang vội này đã được nhà thơ yêu nước Huỳnh Mẫn Đạt ca ngợi qua 2 câu thơ nổi tiếng: “Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa/ Kiếm bạt Kiên Giang khấp quỷ thần”. Từ 2 chiến công vang dội nhất lúc bấy giờ mà phong trào yêu nước, chống Pháp đã lan tỏa khắp nơi trong cả nước đến Cách mạng Tháng 8 năm 1945. Gương hy sinh lẫm liệt của người anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực là biểu tượng tinh thần đấu tranh bất khuất của dân tộc Việt Nam được đúc kết từ hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước. Để tỏ lòng tiếc thương vô hạn người anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực, người dân Rạch Giá đã cất một ngôi đình thờ và tổ chức lễ cúng giỗ ông hàng năm vào ngày 27, ngày 28 và ngày 29 tháng 8 âm lịch. Từ lễ giỗ như lễ cúng kiếng gia tiên, nhưng với lòng ngưỡng mộ anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực, người dân - ai cũng muốn được tỏ lòng thành kính và tôn vinh ông bằng những nén hương, bằng những chén rượu để ghi ơn người anh hùng dân tộc, lễ giỗ dần dần được nâng cấp thành lễ hội cấp thị xã, cấp tỉnh rồi đến cấp khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long. Hàng năm số người đến tham dự và dâng hương Cụ Nguyễn ngày càng đông. Quang cảnh lễ hội truyền thống Nguyễn Trung Trực Lễ hội được chia làm 2 phần: phần lễ và phần hội. Phần lễ gồm có rước sắc thần, lễ dâng hương và lễ cúng tế tại đình. Phần hội gồm những họat động văn hóa-nghệ thuật và những trò chơi rất đặc sắc. Trong suốt ba ngày diễn ra lễ hội có các hoạt động sân khấu hóa tái hiện sinh động những chiến công oanh liệt của dân tộc Việt Nam và Cụ Nguyễn Trung Trực, các trò chơi dân gian, các hoạt động thương mại, du lịch và văn hóa ẩm thực sông nước Nam bộ và nhiều các hoạt động khác phục vụ nhân dân trẩy hội. Đông đảo người dân và du khách tới tham dự lễ hội Cùng thời gian này, những nơi có đền thờ anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực tại các tỉnh Tiền Giang, Long An, Cà Mau và An Giang cũng tổ chức lễ dâng hương tưởng nhớ tới người anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực. Người dân luôn tự hào với truyền thống của cha ông đã làm rạng danh dân tộc Việt Nam anh hùng.

Related Figures

Lễ Ok om bok

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/10 Âm lịch (lehoi.info)- Ngày 15 tháng 10 âm lịch hàng năm là ngày cuối của mùa mưa và cũng là thời gian thu hoạch hoa màu, trong đó có lúa nếp. Vào đúng ngày này đồng bào dân tộc Khmer lại tổ chức một lễ lớn gọi là lễ Ok om bok mang ý nghĩa là mừng cơm mới vào những ngày trăng sáng trên dòng sông Cái Lớn của huyện Gò Quao. Xưa kia, người dân tộc Khmer làm ruộng theo 2 mùa trong năm. Mùa mưa từ ngày 16 tháng 4 đến ngày 15 tháng 10 âm lịch, mùa nắng là từ ngày 16 tháng 10 đến ngày 15 tháng 4 âm lịch. Ngày 15 tháng 10 âm lịch là ngày cuối của mùa mưa và cũng chính là thời gian thu hoạch hoa màu, trong đó có lúa nếp. Vào đúng ngày này đồng bào người dân tộc Khmer lại tổ chức một lễ lớn gọi là lễ Ok om bok mang ý nghĩa là mừng cơm mới vào những ngày trăng sáng. Mưa gió chấm dứt, nước từ từ rút xuống mở đầu cho một mùa khô ráo sau những ngày lao động miệt mài trên đồng ruộng, đồng thời cũng là dịp để tưởng nhớ đến công ơn Mặt trăng vì theo quan niệm của người dân tộc Khmer, Mặt trăng như một vị thần điều tiết mùa màng giúp trúng mùa và làm ăn khá giả. Mâm lễ cúng Trăng Lễ cúng trăng được xem là lễ chính ở trong Lễ hội Ok om bok. Lễ này được tổ chức đúng vào đêm rằm tháng 10 âm lịch tại khuôn viên chùa, trong từng nhà dân hay tập trung tổ chức ở tại một nơi rộng rãi. Để chuẩn bị cho lễ cúng trăng, người dân tộc Khmer thường làm một chiếc cổng bằng tre có trang trí hoa lá; trên cổng giăng một dây trầu gồm có 12 lá trầu cuốn tròn tượng trưng cho 12 tháng ở trong năm và một dây cau gồm 7 trái chẻ vỏ ra như hai cánh con ong, tượng trưng cho 7 ngày ở trong tuần. Ngày nay lễ cúng đã đơn giản hơn, chỉ cần đem một cái bàn và bày lên đó các lễ vật cúng. Ngoài cốm dẹp là thức cúng bắt buộc còn phải có trái dừa tươi, chuối, khoai lang, bánh kẹo và trái cây… Buổi tối sau khi chuẩn bị xong, tất cả mọi người sẽ trải chiếu ngồi chắp tay quay mặt về phía Mặt trăng để chờ làm lễ. Đúng lúc Mặt trăng lên cao tỏa ánh sáng vằng vặc thì đốt nhang đốt đèn, rót trà và mời vị sư làm chủ lễ. Ông khấn vái nói lên lòng biết ơn của bà con đối với Mặt trăng và xin Mặt trăng tiếp nhận những lễ vật do bà con dâng cúng; ban cho mọi người có sức khỏe dồi dào, cho mưa thuận gió hòa, cho năm tới trúng mùa, cho cuộc sống no đủ và hạnh phúc. Đó là mong ước ngàn đời không chỉ của riêng đồng bào dân tộc Khmer mà còn là ước vọng chính đáng của các dân tộc và của cả nhân loại. Cúng xong, ông chủ lễ tập trung trẻ em lại ngồi xếp bằng và chắp tay nhìn về hướng Mặt trăng. Ống lấy cốm dẹp và các đồ cúng khác, mỗi thứ một ít đút vào miệng bọn trẻ rồi hỏi chúng ước gì. Bọn trẻ sẽ nói ước nguyện của mình và ông khuyên dạy chúng phải chăm ngoan và học hành giỏi giang để giúp ích cho đời… Xong thủ tục này, mọi người vừa ăn uống, vừa múa hát vui chơi đến tận khuya. Thả đèn gió ở lễ hội Ok Om Bok Do là lễ ăn mừng và nhớ ơn Mặt trăng nên trong lễ Ok om bok, ngoài việc tổ chức lễ cúng trăng, người dân tộc Khmer còn tổ chức lễ đua ghe ngo và nhiều hoạt động vui chơi, giải trí khác Liên hoan văn nghệ ở lễ hội Ok Om Bok Chiếc ghe ngo thường được làm bằng cây sao có hình thù tựa như con rắn, mình thon thon và thoai thoải về hai phía; đầu ghe ngo uốn cong và thấp hơn sau lái một chút. Ghe ngo có chiều cong và có cây cột cặp chặt ở đáy nối dài từ đầu tới lái, người dân tộc Khmer gọi là đon xanh touch (cây cần câu). Cây này được làm bằng cây tràm vừa bền, lại vừa có độ nhún giúp ghe được vững và nhảy vọt. Trên lòng ghe đóng nhiều thanh cây ngang dài độ khoảng 1,2m vừa để cho hai người ngồi bơi thoải mái theo từng cặp song song. Ghe ngo thường có từ 52 đến 54 chỗ ngồi cho người ngồi bơi và người chỉ huy. Thân của ghe ngo được sơn màu đen, trên be sơn vệt màu trắng hay màu vàng hoặc màu đỏ. Hai bên vẽ hoa văn Khmer hoặc vẩy rồng, vẩy rắn. Đầu ghe vẽ hình con thú biểu tượng cho chiếc ghe ngo của chùa mình. Ghe ngo do địa phương hỗ trợ một phần kinh phí, phần còn lại là do bà con trong phum sóc đóng góp công sức, tiền bạc tạo nên và được bảo quản rất cẩn thận ở trong chùa. Mỗi năm ghe ngo sẽ được đưa xuống nước một lần vào dịp lễ hội Ok om bok. Vì vậy người ta tổ chức lễ hạ thủy rất công phu, ngoài lễ cúng, người dân tộc Khmer còn tập trung tập dượt rất cẩn thận và rất siêng năng. Người được chọn để bơi phải là trai tráng khỏe mạnh, quen bơi và bơi có nghệ thuật. Trước cuộc đua, họ phải tập bơi trên cạn cho đều tay và đúng nhịp sau đó mới tập bơi ở dưới nước. Người ngồi mũi chỉ huy phải là người có uy tín ở trong phum sóc. Các đội ghe trước giờ xuất phát Ngoài ra, trong khuôn khổ lễ hội còn diễn ra các hoạt động như: liên hoan văn nghệ khme, biểu diễn nghệ thuật Khmer, bóng chuyền, bóng đá, các trò chơi dân gian hay thi làm giàn thủy lục; gian hàng trưng bày, triển lãm các hình ảnh, hiện vật, tư liệu về văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Khmer Kiên Giang để hiểu thêm về vùng đất giàu truyền thống cách mạng. Từ năm 2007, lễ hội Ok om bok được tỉnh Kiên Giang nâng lên tổ chức thành Ngày hội Văn hóa-Thể thao dân tộc Khmer cấp tỉnh.

(lehoi.info)- Ngày 15 tháng 10 âm lịch hàng năm là ngày cuối của mùa mưa và cũng là thời gian thu hoạch hoa màu, trong đó có lúa nếp. Vào đúng ngày này đồng bào dân tộc Khmer lại tổ chức một lễ lớn gọi là lễ Ok om bok mang ý nghĩa là mừng cơm mới vào những ngày trăng sáng trên dòng sông Cái Lớn của huyện Gò Quao.

Xưa kia, người dân tộc Khmer làm ruộng theo 2 mùa trong năm. Mùa mưa từ ngày 16 tháng 4 đến ngày 15 tháng 10 âm lịch, mùa nắng là từ ngày 16 tháng 10 đến ngày 15 tháng 4 âm lịch. Ngày 15 tháng 10 âm lịch là ngày cuối của mùa mưa và cũng chính là thời gian thu hoạch hoa màu, trong đó có lúa nếp. Vào đúng ngày này đồng bào người dân tộc Khmer lại tổ chức một lễ lớn gọi là lễ Ok om bok mang ý nghĩa là mừng cơm mới vào những ngày trăng sáng. Mưa gió chấm dứt, nước từ từ rút xuống mở đầu cho một mùa khô ráo sau những ngày lao động miệt mài trên đồng ruộng, đồng thời cũng là dịp để tưởng nhớ đến công ơn Mặt trăng vì theo quan niệm của người dân tộc Khmer, Mặt trăng như một vị thần điều tiết mùa màng giúp trúng mùa và làm ăn khá giả. Mâm lễ cúng Trăng Lễ cúng trăng được xem là lễ chính ở trong Lễ hội Ok om bok. Lễ này được tổ chức đúng vào đêm rằm tháng 10 âm lịch tại khuôn viên chùa, trong từng nhà dân hay tập trung tổ chức ở tại một nơi rộng rãi. Để chuẩn bị cho lễ cúng trăng, người dân tộc Khmer thường làm một chiếc cổng bằng tre có trang trí hoa lá; trên cổng giăng một dây trầu gồm có 12 lá trầu cuốn tròn tượng trưng cho 12 tháng ở trong năm và một dây cau gồm 7 trái chẻ vỏ ra như hai cánh con ong, tượng trưng cho 7 ngày ở trong tuần. Ngày nay lễ cúng đã đơn giản hơn, chỉ cần đem một cái bàn và bày lên đó các lễ vật cúng. Ngoài cốm dẹp là thức cúng bắt buộc còn phải có trái dừa tươi, chuối, khoai lang, bánh kẹo và trái cây… Buổi tối sau khi chuẩn bị xong, tất cả mọi người sẽ trải chiếu ngồi chắp tay quay mặt về phía Mặt trăng để chờ làm lễ. Đúng lúc Mặt trăng lên cao tỏa ánh sáng vằng vặc thì đốt nhang đốt đèn, rót trà và mời vị sư làm chủ lễ. Ông khấn vái nói lên lòng biết ơn của bà con đối với Mặt trăng và xin Mặt trăng tiếp nhận những lễ vật do bà con dâng cúng; ban cho mọi người có sức khỏe dồi dào, cho mưa thuận gió hòa, cho năm tới trúng mùa, cho cuộc sống no đủ và hạnh phúc. Đó là mong ước ngàn đời không chỉ của riêng đồng bào dân tộc Khmer mà còn là ước vọng chính đáng của các dân tộc và của cả nhân loại. Cúng xong, ông chủ lễ tập trung trẻ em lại ngồi xếp bằng và chắp tay nhìn về hướng Mặt trăng. Ống lấy cốm dẹp và các đồ cúng khác, mỗi thứ một ít đút vào miệng bọn trẻ rồi hỏi chúng ước gì. Bọn trẻ sẽ nói ước nguyện của mình và ông khuyên dạy chúng phải chăm ngoan và học hành giỏi giang để giúp ích cho đời… Xong thủ tục này, mọi người vừa ăn uống, vừa múa hát vui chơi đến tận khuya. Thả đèn gió ở lễ hội Ok Om Bok Do là lễ ăn mừng và nhớ ơn Mặt trăng nên trong lễ Ok om bok, ngoài việc tổ chức lễ cúng trăng, người dân tộc Khmer còn tổ chức lễ đua ghe ngo và nhiều hoạt động vui chơi, giải trí khác Liên hoan văn nghệ ở lễ hội Ok Om Bok Chiếc ghe ngo thường được làm bằng cây sao có hình thù tựa như con rắn, mình thon thon và thoai thoải về hai phía; đầu ghe ngo uốn cong và thấp hơn sau lái một chút. Ghe ngo có chiều cong và có cây cột cặp chặt ở đáy nối dài từ đầu tới lái, người dân tộc Khmer gọi là đon xanh touch (cây cần câu). Cây này được làm bằng cây tràm vừa bền, lại vừa có độ nhún giúp ghe được vững và nhảy vọt. Trên lòng ghe đóng nhiều thanh cây ngang dài độ khoảng 1,2m vừa để cho hai người ngồi bơi thoải mái theo từng cặp song song. Ghe ngo thường có từ 52 đến 54 chỗ ngồi cho người ngồi bơi và người chỉ huy. Thân của ghe ngo được sơn màu đen, trên be sơn vệt màu trắng hay màu vàng hoặc màu đỏ. Hai bên vẽ hoa văn Khmer hoặc vẩy rồng, vẩy rắn. Đầu ghe vẽ hình con thú biểu tượng cho chiếc ghe ngo của chùa mình. Ghe ngo do địa phương hỗ trợ một phần kinh phí, phần còn lại là do bà con trong phum sóc đóng góp công sức, tiền bạc tạo nên và được bảo quản rất cẩn thận ở trong chùa. Mỗi năm ghe ngo sẽ được đưa xuống nước một lần vào dịp lễ hội Ok om bok. Vì vậy người ta tổ chức lễ hạ thủy rất công phu, ngoài lễ cúng, người dân tộc Khmer còn tập trung tập dượt rất cẩn thận và rất siêng năng. Người được chọn để bơi phải là trai tráng khỏe mạnh, quen bơi và bơi có nghệ thuật. Trước cuộc đua, họ phải tập bơi trên cạn cho đều tay và đúng nhịp sau đó mới tập bơi ở dưới nước. Người ngồi mũi chỉ huy phải là người có uy tín ở trong phum sóc. Các đội ghe trước giờ xuất phát Ngoài ra, trong khuôn khổ lễ hội còn diễn ra các hoạt động như: liên hoan văn nghệ khme, biểu diễn nghệ thuật Khmer, bóng chuyền, bóng đá, các trò chơi dân gian hay thi làm giàn thủy lục; gian hàng trưng bày, triển lãm các hình ảnh, hiện vật, tư liệu về văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Khmer Kiên Giang để hiểu thêm về vùng đất giàu truyền thống cách mạng. Từ năm 2007, lễ hội Ok om bok được tỉnh Kiên Giang nâng lên tổ chức thành Ngày hội Văn hóa-Thể thao dân tộc Khmer cấp tỉnh.

Related Figures

Lễ hội Am Chúa

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/3 Âm lịch (lehoi.info) - Lễ hội Am Chúa được tổ chức ngày mùng 1 tháng 3 âm lịch hàng năm ở tại Am Chúa, núi Đại An, thôn Đại Điền Trung 1, xã Diên Điền, Diên Khánh, Khánh Hòa. Đây là một dịp sinh hoạt văn hóa tâm linh, để những người dân Khánh Hòa nói riêng và những du khách thập phương cả nước nói chung thể hiện tấm lòng "Uống nước nhớ nguồn". Nhớ ơn Bà Mẹ Xứ Sở đã dạy cho người dân Khánh Hòa biết cày cấy và biết trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải… Lễ hội Am Chúa Theo truyền thuyết được Lễ bộ Thượng thư Phan Thanh Giản ghi lại trong một tấm bia đá từ năm 1856 ở Tháp Bà, Am Chúa chính là nơi phát tích của Bà Po Nagar lúc ấu thơ khi sống với cha mẹ nuôi, còn Tháp Bà (Nha Trang) là nơi thờ Bà khi đã hiển thánh. Ngay từ đầu triều Nguyễn- Vua Gia Long, Thiên Y Ana đã được sắc phong là Hồng Nhơn Phổ Tế Linh Ứng Thượng Đẳng Thần và ở tại Am Chúa mỗi khi tế lễ thường được tổ chức theo nghi lễ quốc gia do quan đầu tỉnh làm chủ tế Cảnh lễ hội Am Chúa Am Chúa là một di tích lịch sử văn hoá từ lâu đời của xứ Trầm Hương, nó gắn liền với tục thờ Thánh Mẫu Thiên Y A Na. Cùng với truyền thuyết về Thiên Y Thánh Mẫu, di tích Am Chúa đã thể hiện rõ nét sự giao lưu văn hoá Việt - Chăm. Thánh Mẫu Thiên Y A Na - Bà Mẹ xứ sở đã khai sáng và truyền dạy cho dân chúng cách làm ăn và sinh sống. Tín ngưỡng thờ Bà Thiên Y A Na được bắt nguồn từ tục thờ Bà Ponagar của người dân tộc Chăm. Hay nói đúng hơn, những người Việt đến định cư ở vùng đất này đã Việt hoá tục thờ Bà Mẹ xứ sở của người dân tộc Chăm bằng truyền thuyết về Bà Thiên Y A Na giáng trần tại núi Đại An và hiển thánh ở Tháp Bà - Nha Trang. Đến nay, ở Khánh Hoà vẫn còn lưu truyền câu nói: “Am Chúa hiển nhân, Tháp Bà hiển thánh” như một lời khẳng định về sự nối liền giữa di tích Am Chúa với Tháp Bà Ponagar. Không chỉ là một di tích Lịch sử Văn hóa lâu đời, Am Chúa còn gắn liền với lịch sử đấu tranh cách mạng của quân và dân xã Diên Điền nói riêng và huyện Diên Khánh nói chung. Hiện nay, trước sân của am vẫn còn 1 cây mã tiền cổ thụ có tuổi thọ trên 350 năm. Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ, cây mã tiền nhiều lần được dùng để làm cột treo cờ để biểu dương lực lượng và khơi dậy truyền thống yêu nước của nhân dân. Sau lưng Am Chúa vẫn còn lưu lại dấu vết của lô cốt, giao thông hào bằng đá do thực dân Pháp xây dựng trong những năm chiếm đóng ở tại đây. Với nhiều giá trị văn hoá và lịch sử cách mạng, vào năm 1999 Am Chúa đã được xếp hạng di tích Lịch sử Văn hóa cấp quốc gia. Đặc sắc lễ hội Am Chúa Lễ hội thường được kéo dài từ 3 đến 4 ngày. Lễ hội gồm có 2 phần, phần lễ và phần hội. Sau lễ cầu cúng tôn nghiêm theo nghi thức cổ truyền, chương trình lễ hội gồm có nghi thức lễ, rước lân và biểu diễn múa lân của các đội lân trong và ngoài tỉnh. Bên ngoài hội là những trò chơi dân gian như chơi đu, hò bài chòi… Đặc biệt, trong những ngày này, chương trình hát tuồng và dân ca kịch khu 5 thường xuyên biểu diễn để phục vụ khách tham gia hội do Nhà hát nghệ thuật truyền thống Khánh Hoà thực hiện./.

(lehoi.info) - Lễ hội Am Chúa được tổ chức ngày mùng 1 tháng 3 âm lịch hàng năm ở tại Am Chúa, núi Đại An, thôn Đại Điền Trung 1, xã Diên Điền, Diên Khánh, Khánh Hòa. Đây là một dịp sinh hoạt văn hóa tâm linh, để những người dân Khánh Hòa nói riêng và những du khách thập phương cả nước nói chung thể hiện tấm lòng "Uống nước nhớ nguồn". Nhớ ơn Bà Mẹ Xứ Sở đã dạy cho người dân Khánh Hòa biết cày cấy và biết trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải…

Lễ hội Am Chúa

Theo truyền thuyết được Lễ bộ Thượng thư Phan Thanh Giản ghi lại trong một tấm bia đá từ năm 1856 ở Tháp Bà, Am Chúa chính là nơi phát tích của Bà Po Nagar lúc ấu thơ khi sống với cha mẹ nuôi, còn Tháp Bà (Nha Trang) là nơi thờ Bà khi đã hiển thánh. Ngay từ đầu triều Nguyễn- Vua Gia Long, Thiên Y Ana đã được sắc phong là Hồng Nhơn Phổ Tế Linh Ứng Thượng Đẳng Thần và ở tại Am Chúa mỗi khi tế lễ thường được tổ chức theo nghi lễ quốc gia do quan đầu tỉnh làm chủ tế Cảnh lễ hội Am Chúa Am Chúa là một di tích lịch sử văn hoá từ lâu đời của xứ Trầm Hương, nó gắn liền với tục thờ Thánh Mẫu Thiên Y A Na. Cùng với truyền thuyết về Thiên Y Thánh Mẫu, di tích Am Chúa đã thể hiện rõ nét sự giao lưu văn hoá Việt - Chăm. Thánh Mẫu Thiên Y A Na - Bà Mẹ xứ sở đã khai sáng và truyền dạy cho dân chúng cách làm ăn và sinh sống. Tín ngưỡng thờ Bà Thiên Y A Na được bắt nguồn từ tục thờ Bà Ponagar của người dân tộc Chăm. Hay nói đúng hơn, những người Việt đến định cư ở vùng đất này đã Việt hoá tục thờ Bà Mẹ xứ sở của người dân tộc Chăm bằng truyền thuyết về Bà Thiên Y A Na giáng trần tại núi Đại An và hiển thánh ở Tháp Bà - Nha Trang. Đến nay, ở Khánh Hoà vẫn còn lưu truyền câu nói: “Am Chúa hiển nhân, Tháp Bà hiển thánh” như một lời khẳng định về sự nối liền giữa di tích Am Chúa với Tháp Bà Ponagar. Không chỉ là một di tích Lịch sử Văn hóa lâu đời, Am Chúa còn gắn liền với lịch sử đấu tranh cách mạng của quân và dân xã Diên Điền nói riêng và huyện Diên Khánh nói chung. Hiện nay, trước sân của am vẫn còn 1 cây mã tiền cổ thụ có tuổi thọ trên 350 năm. Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ, cây mã tiền nhiều lần được dùng để làm cột treo cờ để biểu dương lực lượng và khơi dậy truyền thống yêu nước của nhân dân. Sau lưng Am Chúa vẫn còn lưu lại dấu vết của lô cốt, giao thông hào bằng đá do thực dân Pháp xây dựng trong những năm chiếm đóng ở tại đây. Với nhiều giá trị văn hoá và lịch sử cách mạng, vào năm 1999 Am Chúa đã được xếp hạng di tích Lịch sử Văn hóa cấp quốc gia. Đặc sắc lễ hội Am Chúa Lễ hội thường được kéo dài từ 3 đến 4 ngày. Lễ hội gồm có 2 phần, phần lễ và phần hội. Sau lễ cầu cúng tôn nghiêm theo nghi thức cổ truyền, chương trình lễ hội gồm có nghi thức lễ, rước lân và biểu diễn múa lân của các đội lân trong và ngoài tỉnh. Bên ngoài hội là những trò chơi dân gian như chơi đu, hò bài chòi… Đặc biệt, trong những ngày này, chương trình hát tuồng và dân ca kịch khu 5 thường xuyên biểu diễn để phục vụ khách tham gia hội do Nhà hát nghệ thuật truyền thống Khánh Hoà thực hiện./.

Related Figures

Lễ hội Tháp Bà

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 20/3- 24/3 Âm lịch Được tổ chức hàng năm từ ngày 20 đến ngày 24 tháng 3 âm lịch ở tại khu di tích Tháp Ponagar thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Đây là một lễ hội lớn nhất trong khu vực để tưởng niệm tới nữ thần Mẹ Xứ sở (phiên âm tiếng Chăm nghĩa là Po Nogar). Theo truyền thuyết, Bà Mẹ Xứ sở là một người đã có công tạo lập xứ sở, duy trì nòi giống, tìm ra cây lúa và dạy người dân trồng trọt… Lễ hội Tháp Bà Nghi lễ gồm có 2 phần chính: Lễ Thay Y (vào ngày 20 tháng 3): tháo bỏ xiêm y và mũ miện cũ, tắm rửa tượng nữ thần bằng một loại nước lá thơm và thay xiêm y, mũ miện mới. Lễ cầu cùng vào ngày 23 tháng 3, được tiến hành rất tôn nghiêm mang ý nghĩa ca ngợi công đức Mẹ Xứ sở và cầu mong cho cư dân có cuộc sống yên bình, ấm no hạnh phúc. Cảnh lễ hội Tháp Bà Sau phần lễ hội là đến phần hội. Phần hội chủ yếu là múa bóng (điệu múa có động tác uốn éo và ưỡn hông như các vũ nữ Chămpa có ở phù điêu tại khu di tích Tháp Bà), múa dâng bông và hát bộ diễn các tích tuồng cổ trước ngôi đền chính. Trước đây trong hội còn có các cuộc đua thuyền thúng ở dưới chân tháp. Biểu diễn múa Chăm tại lễ hội Khu di tích tháp Bà ở Nha Trang, nơi diễn ra lễ hội Tháp Bà hàng năm, chính là điểm hội tụ các giá trị truyền thống của qúa trình giao lưu văn hóa Việt - Chăm trong lịch sử. Mỗi dịp lễ hội là một cơ hội để bà con trở về với cội nguồn, giáo dục thế hệ trẻ biết sống có đạo lý, góp phần bồi đắp những truyền thống văn hóa tốt đẹp cho các thế hệ. Lễ hội là biểu tượng của sự đoàn kết dân tộc, góp phần làm nên các yếu tố cố kết cộng đồng của các dân tộc Việt Nam trên dải đất miền Trung. Do đó lễ hội Tháp Bà không chỉ thu hút đông đảo bà con người Việt, người Chăm ở Nha Trang, Khánh Hòa mà còn nhiều người ở khắp mọi nơi trong nước cũng nô nức kéo về tham dự hội. Theo Khanhhoa.gov.vn

Được tổ chức hàng năm từ ngày 20 đến ngày 24 tháng 3 âm lịch ở tại khu di tích Tháp Ponagar thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Đây là một lễ hội lớn nhất trong khu vực để tưởng niệm tới nữ thần Mẹ Xứ sở (phiên âm tiếng Chăm nghĩa là Po Nogar). Theo truyền thuyết, Bà Mẹ Xứ sở là một người đã có công tạo lập xứ sở, duy trì nòi giống, tìm ra cây lúa và dạy người dân trồng trọt…

Lễ hội Tháp Bà

Nghi lễ gồm có 2 phần chính: Lễ Thay Y (vào ngày 20 tháng 3): tháo bỏ xiêm y và mũ miện cũ, tắm rửa tượng nữ thần bằng một loại nước lá thơm và thay xiêm y, mũ miện mới. Lễ cầu cùng vào ngày 23 tháng 3, được tiến hành rất tôn nghiêm mang ý nghĩa ca ngợi công đức Mẹ Xứ sở và cầu mong cho cư dân có cuộc sống yên bình, ấm no hạnh phúc. Cảnh lễ hội Tháp Bà Sau phần lễ hội là đến phần hội. Phần hội chủ yếu là múa bóng (điệu múa có động tác uốn éo và ưỡn hông như các vũ nữ Chămpa có ở phù điêu tại khu di tích Tháp Bà), múa dâng bông và hát bộ diễn các tích tuồng cổ trước ngôi đền chính. Trước đây trong hội còn có các cuộc đua thuyền thúng ở dưới chân tháp. Biểu diễn múa Chăm tại lễ hội Khu di tích tháp Bà ở Nha Trang, nơi diễn ra lễ hội Tháp Bà hàng năm, chính là điểm hội tụ các giá trị truyền thống của qúa trình giao lưu văn hóa Việt - Chăm trong lịch sử. Mỗi dịp lễ hội là một cơ hội để bà con trở về với cội nguồn, giáo dục thế hệ trẻ biết sống có đạo lý, góp phần bồi đắp những truyền thống văn hóa tốt đẹp cho các thế hệ. Lễ hội là biểu tượng của sự đoàn kết dân tộc, góp phần làm nên các yếu tố cố kết cộng đồng của các dân tộc Việt Nam trên dải đất miền Trung. Do đó lễ hội Tháp Bà không chỉ thu hút đông đảo bà con người Việt, người Chăm ở Nha Trang, Khánh Hòa mà còn nhiều người ở khắp mọi nơi trong nước cũng nô nức kéo về tham dự hội. Theo Khanhhoa.gov.vn

Related Figures

Lễ Đôl ta

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 30/8 Âm lịch (lehoi.info) - Lễ hội Đôl ta được tổ chức hàng năm vào ngày 30 tháng 8 âm lịch. Lễ được tổ chức để nhằm tưởng nhớ đến công ơn ông, bà, cha, mẹ những người đă có công sinh thành. Lễ thường được tổ chức tại chùa. Lễ Đôl ta tại Kiên Giang ảnh 1 Theo truyền tích xưa, người dân tộc Khmer chọn thời điểm này để tổ chức lễ Đôl ta, vì đây là lúc vụ mùa cày cấy vừa xong, tiết thu mát mẻ và trời đẹp. Mọi người nghỉ ngơi lấy lại sức sau những tháng ngày làm lụng vất vả cực nhọc. Lúc ấy, ngoài cánh đồng văng vẳng tiếng chim kêu. Người dân tộc Khmer gọi đó là “Satt đôn ta” (chim tổ tiên) báo hiệu cho tất cả mọi nhà chuẩn bị cho lễ Đôl ta. Vừa xong mùa vụ, khí hậu mát mẻ, nhìn đồng ruộng xanh tốt, lòng người phơi phới, họ dặn nhau: phải chuẩn bị tốt cho ngày lễ Đôl ta - để cúng ông bà tổ tiên thật chu đáo, thật vui vẻ và ý nghĩa. Lễ Đôl ta nhằm 4 mục đích là: nhớ đến ông bà, cha mẹ và họ hàng; tập trung anh em, con cháu trong gia đình lại để biếu quần áo, biếu bánh trái cho những người đã có công ơn còn đang sống và làm lễ cầu phước cho những người đã quá cố; đoàn kết giữa những người trong phum sóc với nhau; tổ chức liên hoan vui chơi, gắn bó họ hàng, bè bạn thân thích và gắn bó tình làng xóm để giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống. Lễ Đôl ta sẽ được tổ chức cụ thể như sau: Ngày thứ nhất, mỗi gia đình phải dọn dẹp bàn thờ tổ tiên, trải chiếu, để mùng mền và gối mới lên giường rồi để sẵn một bộ áo quần mới và chư chuẩn bị cho ông bà đi xa mới về nhà. Sau khi chuẩn bị các thứ này xong, họ bày bánh, bày trà và dọn một mâm cơm để 4 cái chén, đốt nhang và đèn rồi mời họ hàng, bà con lối xóm lân cận đến cùng cúng. Sau khi rót 3 lần rượu và trà cúng, những người đứng cúng gắp thức ăn để vào chén, đổ trà rượu vào rồi đem ra sân đổ cạnh hàng rào, để mời “ma quỷ” đưa ông bà họ về nhà ăn và ở lại trong suốt 3 ngày cúng, để đưa giúp ông bà tổ tiên họ trở về lại nơi cũ. Buổi sáng chỉ gọi là “cúng tiếp đón”. Buổi chiều, họ lại cúng linh hồn ông bà, tắm rửa và thay quần áo mới rồi mời linh hồn ông bà cùng đi vào chùa nghe các sư sãi tụng kinh lấy phước, và đi xem hát múa vui chơi cho thoả thích. Những ngày này, trong tình cảm của con cháu, ông bà, tổ tiên họ như hiện diện bên con cháu, nên ai ai cũng phấn chấn. Lễ Đôl ta tại Kiên Giang ảnh 2 Ngày cúng thứ 2, sau 1 ngày đêm và 1 ngày ở chùa, đến chiều họ lại đưa linh hồn những người quá cố về nhà. Họ cũng làm cơm cúng và mời ông bà ở lại chơi với con cháu thêm một đêm nữa. Ngày thứ 3 là ngày cúng cuối cùng, mỗi gia đình lại dọn lễ vật giống như ngày đầu tiên và họ cũng mời họ hàng, lối xóm đến dự, được gọi là “cúng đưa”. Sau khi làm các thủ tục cúng như ngày đầu, họ bới cơm, gắp thức ăn vào chén, rồi đổ vào thuyền, tàu buồm được họ làm bằng bẹ chuối, làm bằng mo cau để tiễn ông bà về với nơi cũ. Thức ăn này họ chuẩn bị cho ông bà để đi đường. Trên tàu họ treo cờ phướn hình tam giác, khắc hình cá sấu, tắc kè ở đầu và đuôi con tàu để tránh tai nạn dọc đường. Họ còn để thêm bánh trái, lúa, muối, đậu, mè để ông bà và “người” đưa đường ăn được lâu. Xong xuôi, họ đem chiếc thuyền này thả ở trên sông, hoặc thả ở rạch gần nhà. Sau khi đưa tàu đi, họ tiếp tục mời anh em ở trong gia đình và bà con lối xóm dùng cơm. Bữa cơm thân mật có xen ca hát, tạo không khí vui vẻ, có nhà mời ông lục đến để tụng kinh tạo thêm phần long trọng, kéo dài đến chiều hoặc đến tối kết thúc 3 ngày lễ Đôl ta. Lễ Đôl ta tại Kiên Giang ảnh 3 Ngày nay, trong mối quan hệ xã hội rộng rãi và đoàn kết lâu bền giữa 3 dân tộc Kinh- Khmer- Hoa, lễ Đôn ta của người đồng bào dân tộc Khmer anh em, đồng bào Kinh, Hoa trong các xóm, ấp, phum, sóc lân cận cũng được mời đến để chung vui, càng thắt chặt thêm tình làng, nghĩa xóm trong tinh thần toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư. Lễ Đôl ta giống như lễ Vu lan đều được xem là nét đẹp về lòng hiếu thảo, tri ân của con cháu đối với ông bà, cha mẹ đang sống và đã mất.

(lehoi.info) - Lễ hội Đôl ta được tổ chức hàng năm vào ngày 30 tháng 8 âm lịch. Lễ được tổ chức để nhằm tưởng nhớ đến công ơn ông, bà, cha, mẹ những người đă có công sinh thành. Lễ thường được tổ chức tại chùa.

Lễ Đôl ta tại Kiên Giang ảnh 1

Theo truyền tích xưa, người dân tộc Khmer chọn thời điểm này để tổ chức lễ Đôl ta, vì đây là lúc vụ mùa cày cấy vừa xong, tiết thu mát mẻ và trời đẹp. Mọi người nghỉ ngơi lấy lại sức sau những tháng ngày làm lụng vất vả cực nhọc. Lúc ấy, ngoài cánh đồng văng vẳng tiếng chim kêu. Người dân tộc Khmer gọi đó là “Satt đôn ta” (chim tổ tiên) báo hiệu cho tất cả mọi nhà chuẩn bị cho lễ Đôl ta. Vừa xong mùa vụ, khí hậu mát mẻ, nhìn đồng ruộng xanh tốt, lòng người phơi phới, họ dặn nhau: phải chuẩn bị tốt cho ngày lễ Đôl ta - để cúng ông bà tổ tiên thật chu đáo, thật vui vẻ và ý nghĩa. Lễ Đôl ta nhằm 4 mục đích là: nhớ đến ông bà, cha mẹ và họ hàng; tập trung anh em, con cháu trong gia đình lại để biếu quần áo, biếu bánh trái cho những người đã có công ơn còn đang sống và làm lễ cầu phước cho những người đã quá cố; đoàn kết giữa những người trong phum sóc với nhau; tổ chức liên hoan vui chơi, gắn bó họ hàng, bè bạn thân thích và gắn bó tình làng xóm để giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống. Lễ Đôl ta sẽ được tổ chức cụ thể như sau: Ngày thứ nhất, mỗi gia đình phải dọn dẹp bàn thờ tổ tiên, trải chiếu, để mùng mền và gối mới lên giường rồi để sẵn một bộ áo quần mới và chư chuẩn bị cho ông bà đi xa mới về nhà. Sau khi chuẩn bị các thứ này xong, họ bày bánh, bày trà và dọn một mâm cơm để 4 cái chén, đốt nhang và đèn rồi mời họ hàng, bà con lối xóm lân cận đến cùng cúng. Sau khi rót 3 lần rượu và trà cúng, những người đứng cúng gắp thức ăn để vào chén, đổ trà rượu vào rồi đem ra sân đổ cạnh hàng rào, để mời “ma quỷ” đưa ông bà họ về nhà ăn và ở lại trong suốt 3 ngày cúng, để đưa giúp ông bà tổ tiên họ trở về lại nơi cũ. Buổi sáng chỉ gọi là “cúng tiếp đón”. Buổi chiều, họ lại cúng linh hồn ông bà, tắm rửa và thay quần áo mới rồi mời linh hồn ông bà cùng đi vào chùa nghe các sư sãi tụng kinh lấy phước, và đi xem hát múa vui chơi cho thoả thích. Những ngày này, trong tình cảm của con cháu, ông bà, tổ tiên họ như hiện diện bên con cháu, nên ai ai cũng phấn chấn. Lễ Đôl ta tại Kiên Giang ảnh 2 Ngày cúng thứ 2, sau 1 ngày đêm và 1 ngày ở chùa, đến chiều họ lại đưa linh hồn những người quá cố về nhà. Họ cũng làm cơm cúng và mời ông bà ở lại chơi với con cháu thêm một đêm nữa. Ngày thứ 3 là ngày cúng cuối cùng, mỗi gia đình lại dọn lễ vật giống như ngày đầu tiên và họ cũng mời họ hàng, lối xóm đến dự, được gọi là “cúng đưa”. Sau khi làm các thủ tục cúng như ngày đầu, họ bới cơm, gắp thức ăn vào chén, rồi đổ vào thuyền, tàu buồm được họ làm bằng bẹ chuối, làm bằng mo cau để tiễn ông bà về với nơi cũ. Thức ăn này họ chuẩn bị cho ông bà để đi đường. Trên tàu họ treo cờ phướn hình tam giác, khắc hình cá sấu, tắc kè ở đầu và đuôi con tàu để tránh tai nạn dọc đường. Họ còn để thêm bánh trái, lúa, muối, đậu, mè để ông bà và “người” đưa đường ăn được lâu. Xong xuôi, họ đem chiếc thuyền này thả ở trên sông, hoặc thả ở rạch gần nhà. Sau khi đưa tàu đi, họ tiếp tục mời anh em ở trong gia đình và bà con lối xóm dùng cơm. Bữa cơm thân mật có xen ca hát, tạo không khí vui vẻ, có nhà mời ông lục đến để tụng kinh tạo thêm phần long trọng, kéo dài đến chiều hoặc đến tối kết thúc 3 ngày lễ Đôl ta. Lễ Đôl ta tại Kiên Giang ảnh 3 Ngày nay, trong mối quan hệ xã hội rộng rãi và đoàn kết lâu bền giữa 3 dân tộc Kinh- Khmer- Hoa, lễ Đôn ta của người đồng bào dân tộc Khmer anh em, đồng bào Kinh, Hoa trong các xóm, ấp, phum, sóc lân cận cũng được mời đến để chung vui, càng thắt chặt thêm tình làng, nghĩa xóm trong tinh thần toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư. Lễ Đôl ta giống như lễ Vu lan đều được xem là nét đẹp về lòng hiếu thảo, tri ân của con cháu đối với ông bà, cha mẹ đang sống và đã mất.

Related Figures

Lễ hội đền Chử Đồng Tử

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/2- 12/2 Âm lịch Lễ hội Chử Đồng Tử diễn ra từ ngày mùng 10 đến ngày 12 tháng 2 âm lịch hàng năm tại Đền Đa Hoà và đền Dạ Trạch, Khoái Châu, Hưng Yên. Đây là một lễ hội rất độc đáo và nó gắn liền với truyền thuyết tình yêu bất tử, lãng mạn giữa chàng trai nghèo đánh cá ven sông với nàng công chúa Tiên Dung - con của vua Hùng thứ 18. Lễ hội đền Chử Đồng Tử tại Hưng Yên Lễ hội Chử Đồng Tử được tổ chức ở 2 ngôi đền: Tại đền Đa Hoà Từ sáng sớm ngày mùng 10 tháng 2, cuộc rước kiệu của 8 xã xuất phát từ nhiều hướng theo đê sông Hồng tiến về đền Đa Hoà. Nếu có dịp quan sát từ xa du khách sẽ thấy nổi bật trên con đê xanh xanh và nền trời xanh là một dòng người sắc màu rực rỡ đầy ấn tượng. Đoàn rước của các xã mỗi khi gặp nhau họ đều có nghi lễ chào. Tới điểm quy định đoàn rước của xã Đa Hoà (nơi có đền Đa Hoà) ra nghênh đón và nhập vào thành một đoàn rước lớn tiến về đền làm lễ. Thứ tự đoàn rước được quy định như sau: Hoàng Trạch, Đồng Quê, Bằng Nha, Phú Thị, Phúc Trạch, Thiết Trụ, Nhạn Tháp, Đa Hòa và cuối cùng là Mễ Sở. Một nghi thức trong lễ hội đền Chử Đồng Tử Đoàn rước của 9 xã tuần tự tiến vào đền trong niềm hân hoan của những du khách hành hương trẩy hội. Sau khi an vị thánh tại ban thờ các tôn thần, kiệu cùng các đồ rước tập kết ở tại nơi quy định, thành viên các đoàn rước và những du khách hành hương ra sân đại tế để làm lễ khai hội. Sau lễ khai hội, dâng hương là những trò chơi dân gian, các trò vui diễn ra cả ngày lẫn đêm trong những ngày hội. Tại đền Dạ Trạch Sáng ngày mùng 10 tháng 2, đoàn rước nước của xã Dạ Trạch và 4 xã bạn (Hàm Tử, Yên Phú, Đông Tảo và Tứ Dân) thuộc huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên được cử hành từ đền Dạ Trạch tiến về phía sông Hồng để lấy nước. Đặc sắc lễ hội đền Chử Đồng Tử Mở đường cho đoàn rước là một con rồng dài trên 20m được 30 thanh niên khoẻ mạnh thay nhau múa theo điệu trống thúc liên hồi khiến cuộc rước thật tưng bừng. Tiếp theo sau là 2 hàng các bà, các chị, các cô trong trang phục đủ màu rực rỡ tay cầm cờ hội (cờ ngũ hành, cờ tứ linh...); trống chiêng; ngựa hồng, ngựa bạch; lỗ bộ, gươm trường bát bửu; phường đồng văn; đội múa sinh tiền, đội múa nón, con đĩ đánh bồng, đội nhạc lễ (bát âm); kiệu rước chóe đựng nước; kiệu rước gậy có nón úp trên đầu gậy, biểu tượng gợi nhớ uy linh của thánh Chử; kiệu đức thánh Chử Đồng Tử; hai kiệu rước nhị vị phu nhân; kiệu rước “Bế ngư thần quan”. Xen vào đội hình là các đội tế và các bô lão trong trang phục lễ hội truyền thống đi hộ giá kiệu. Các tàn, tán và lọng đi hai bên che cho kiệu. Ra đến sông Hồng đoàn rước xuống thuyền. Đoàn thuyền của 5 xã thuộc huyện Khoái Châu xuôi dòng sông Hồng đón đội hình rước của xã Mai Động (tỉnh Hưng Yên) và 2 xã Khai Thái và xã Tự Nhiên (của tỉnh Hà Tây) ghép thành một đội hình lớn. Một cuộc trình diễn du thuyền trên sông và làm lễ lấy nước ở giữa sông Hồng. Kết thúc việc lấy nước đoàn rước sẽ lên bờ và rước nước về đền. Đến khoảng 11h30’ đoàn rước nước về tới đền là cũng vừa kịp đến giờ khai hội.Sau khi kiệu rước nước được đưa vào an vị ở trong đền, các kiệu rước thánh an vị tại sân đền, đội hình ổn định và các đại biểu đến dự đầy đủ. Đoàn rồng tiến qua Cầu Tiên vào cửa đền cúi lạy thánh sau đó lui ra, đoàn múa sinh tiền và múa nón biểu diễn trên cầu. Lễ khai hội được bắt đầu. Sau lễ khai hội, nhiều những hoạt động vui chơi, múa hát, tranh tài được tổ chức ở tại khu vực đền trong những ngày lễ hội.

Lễ hội Chử Đồng Tử diễn ra từ ngày mùng 10 đến ngày 12 tháng 2 âm lịch hàng năm tại Đền Đa Hoà và đền Dạ Trạch, Khoái Châu, Hưng Yên. Đây là một lễ hội rất độc đáo và nó gắn liền với truyền thuyết tình yêu bất tử, lãng mạn giữa chàng trai nghèo đánh cá ven sông với nàng công chúa Tiên Dung - con của vua Hùng thứ 18.

Lễ hội đền Chử Đồng Tử tại Hưng Yên

Lễ hội Chử Đồng Tử được tổ chức ở 2 ngôi đền: Tại đền Đa Hoà Từ sáng sớm ngày mùng 10 tháng 2, cuộc rước kiệu của 8 xã xuất phát từ nhiều hướng theo đê sông Hồng tiến về đền Đa Hoà. Nếu có dịp quan sát từ xa du khách sẽ thấy nổi bật trên con đê xanh xanh và nền trời xanh là một dòng người sắc màu rực rỡ đầy ấn tượng. Đoàn rước của các xã mỗi khi gặp nhau họ đều có nghi lễ chào. Tới điểm quy định đoàn rước của xã Đa Hoà (nơi có đền Đa Hoà) ra nghênh đón và nhập vào thành một đoàn rước lớn tiến về đền làm lễ. Thứ tự đoàn rước được quy định như sau: Hoàng Trạch, Đồng Quê, Bằng Nha, Phú Thị, Phúc Trạch, Thiết Trụ, Nhạn Tháp, Đa Hòa và cuối cùng là Mễ Sở. Một nghi thức trong lễ hội đền Chử Đồng Tử Đoàn rước của 9 xã tuần tự tiến vào đền trong niềm hân hoan của những du khách hành hương trẩy hội. Sau khi an vị thánh tại ban thờ các tôn thần, kiệu cùng các đồ rước tập kết ở tại nơi quy định, thành viên các đoàn rước và những du khách hành hương ra sân đại tế để làm lễ khai hội. Sau lễ khai hội, dâng hương là những trò chơi dân gian, các trò vui diễn ra cả ngày lẫn đêm trong những ngày hội. Tại đền Dạ Trạch Sáng ngày mùng 10 tháng 2, đoàn rước nước của xã Dạ Trạch và 4 xã bạn (Hàm Tử, Yên Phú, Đông Tảo và Tứ Dân) thuộc huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên được cử hành từ đền Dạ Trạch tiến về phía sông Hồng để lấy nước. Đặc sắc lễ hội đền Chử Đồng Tử Mở đường cho đoàn rước là một con rồng dài trên 20m được 30 thanh niên khoẻ mạnh thay nhau múa theo điệu trống thúc liên hồi khiến cuộc rước thật tưng bừng. Tiếp theo sau là 2 hàng các bà, các chị, các cô trong trang phục đủ màu rực rỡ tay cầm cờ hội (cờ ngũ hành, cờ tứ linh...); trống chiêng; ngựa hồng, ngựa bạch; lỗ bộ, gươm trường bát bửu; phường đồng văn; đội múa sinh tiền, đội múa nón, con đĩ đánh bồng, đội nhạc lễ (bát âm); kiệu rước chóe đựng nước; kiệu rước gậy có nón úp trên đầu gậy, biểu tượng gợi nhớ uy linh của thánh Chử; kiệu đức thánh Chử Đồng Tử; hai kiệu rước nhị vị phu nhân; kiệu rước “Bế ngư thần quan”. Xen vào đội hình là các đội tế và các bô lão trong trang phục lễ hội truyền thống đi hộ giá kiệu. Các tàn, tán và lọng đi hai bên che cho kiệu. Ra đến sông Hồng đoàn rước xuống thuyền. Đoàn thuyền của 5 xã thuộc huyện Khoái Châu xuôi dòng sông Hồng đón đội hình rước của xã Mai Động (tỉnh Hưng Yên) và 2 xã Khai Thái và xã Tự Nhiên (của tỉnh Hà Tây) ghép thành một đội hình lớn. Một cuộc trình diễn du thuyền trên sông và làm lễ lấy nước ở giữa sông Hồng. Kết thúc việc lấy nước đoàn rước sẽ lên bờ và rước nước về đền. Đến khoảng 11h30’ đoàn rước nước về tới đền là cũng vừa kịp đến giờ khai hội.Sau khi kiệu rước nước được đưa vào an vị ở trong đền, các kiệu rước thánh an vị tại sân đền, đội hình ổn định và các đại biểu đến dự đầy đủ. Đoàn rồng tiến qua Cầu Tiên vào cửa đền cúi lạy thánh sau đó lui ra, đoàn múa sinh tiền và múa nón biểu diễn trên cầu. Lễ khai hội được bắt đầu. Sau lễ khai hội, nhiều những hoạt động vui chơi, múa hát, tranh tài được tổ chức ở tại khu vực đền trong những ngày lễ hội.

Related Figures

Lễ cúng đình Kỳ an - Xuân tế

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/2- 16/2 Âm lịch (lehoi.info)- Lễ cúng đình Kỳ an - Xuân tế được tổ chức vào hai ngày 15 và ngày 16 tháng 2 âm lịch hàng năm, tại đình làng Chấp Lễ, xã Ninh Thân, Ninh Hòa, Khánh Hòa. Vùng quê xã Ninh Thân Lễ Kỳ an, hay còn được gọi là Lễ cúng đình ở làng, ngươi dân đến đây đều mang trong lòng nguyện ý cầu mong mưa thuận, gió hòa, quốc gia thái bình và muôn dân an lạc... Đây thực sự là nhu cầu của con người, là niềm an ủi, sự nâng đỡ về tâm lý... không chỉ là nét đẹp về văn hóa tâm linh của những người dân Khánh Hòa mà còn là nét nổi trội về bản sắc văn hóa của các dân tộc Việt Nam. Lễ cúng đình Kỳ an - Xuân tế được diễn ra như sau: Chấp Lễ khởi đầu bằng cảnh rước sắc phong từ nhà thờ Tiền hiền về đình làng (lúc 15 giờ ngày 15/2 âm lịch). * Lễ Thượng hương: Mở đầu cảnh rước sắc phong đó là lễ Thượng hương. Sau 3 hồi 9 tiếng chinh, tiếng cổ là nhạc tế. Giữa nền nhạc bát âm, đội lân vào chầu phục trước long đình và điện thờ thần... Bốn sắc phong được vị chánh tế lần lượt mở ra để thỉnh nhập long đình giữa 2 hàng cờ ngũ sắc và thập bát ban binh khí ứng chầu. Trong 4 sắc phong thì có ba sắc phong là của các triều vua Tự Đức, Thành Thái và Duy Tân phong tước hiệu cho Thành hoàng làng là "Đại Càn Quốc gia Nam Hái Tứ vị tôn thần " và một sắc phong triều Khải Định phong Bà Thiên Y Ana Diễn Ngọc Phi tước hiệu "Hồng Nhân phổ tế Linh ứng Tôn thần". Dưới nền nhạc của bài Bá lệnh, kiệu rước long đình theo hướng hương lộ, qua chợ làng, tiến thẳng về đình - nơi thờ Thành hoàng và cũng chính là nơi sẽ diễn ra lễ Tế chánh. Tại đình làng, 4 sắc phong thần được vị chủ tế thỉnh nhập điện thờ thần. Sau đó, chuyển sang lễ cúng cô hồn... * Lễ cúng cô hồn ở đình làng Chấp Lễ diễn ra vào lúc 18 giờ ngày 15/2 âm lịch. Tại miếu Cô Hồn - bên tả của đình làng và tách rời với điện thờ Thần. Văn tế của lễ cúng cô hồn ở các đình làng rất giống với Văn tế của lễ Tống Na trong lễ Cầu Ngư của các cư dân vùng biển. Văn tế cô hồn thật là lâm ly, bi thiết, xót thương cho những vong hồn đã về nơi chín suối nhưng cõi nhân gian không có ai cúng tế và phụng thờ. * Lễ Tỉnh sanh - Túc yết diễn ra vào lúc 0 giờ 1 phút ngày 16/2 âm lịch. Sau khi khởi chinh, cổ, trong nền nhạc lễ, vị Chánh tế làm lễ tế cáo trời đất dâng hương, dâng rượu tại hương án được đặt ở trước sân đình... Vật phẩm hiến tế của lễ Tỉnh sanh trong lễ cúng đình ngoài hương, đăng, trà, quả và rượu thì còn có heo và con heo ấy phải là loại heo toàn sắc, toàn sinh (tức là - loại heo một màu, và tế sống nguyên con). Sau khi heo bị thọc tiết và được đưa đi cạo lông, người chấp sự dâng một tuần nhang lễ tạ Tỉnh sanh. Ba lá vàng được đốt lên để báo hiệu lễ Tỉnh sanh đã hoàn tất. Sau đó, chuyển qua lễ Tế Thiên Y A Na Diễn Ngọc Phi tại Miếu thờ Bà bên hữu đình làng... Đình Làng Chấp Lễ Trong các sắc thần do các triều vua ở nhà Nguyễn phong tặng thường chép là Thiên-Y-A-Na Diễn Ngọ Phi. Ngoài đời, thì thường gọi là Thiêt Y A Na. Nhà Nguyễn trung hưng ngay buổi đầu đã phong tặng: Hồng nhân phổ tế Linh ứng Thượng đẳng Thần. Các vua đời sau đời nào cũng có sắc phong tặng. * Lễ tế Bà Thiên Y A Na vào lúc 1 giờ sáng ngày 16/2 âm lịch. Sau 3 hồi chín tiếng chinh, cổ lệnh, Ban tế tựu vị. 2 bên là 12 khóa sinh tay cầm cờ ngũ hành đứng hầu ở trước miếu. Trong nền nhạc bát âm, vị chánh tế thực hiện nghi thức hành sơ hiến lễ, tấn tửu, và đọc chúc văn. * Lễ Tế chánh diễn ra vào lúc 2 giờ sáng ngày 16/2 âm lịch. Lúc này, cả 4 sắc phong thần đều được thỉnh nhập điện thờ. 2 hàng lễ sinh tay cầm cờ ngũ sắc đứng hầu nơi sân điện. Dân chúng ở trong làng đứng chật cả sân đình, tất cả đều giữ thái độ rất trang nghiêm. Đây là thời khắc giao cảm giữa thần linh và con người; giữa thế giới siêu nhiên và con người trần thế mà cầu nối của sự giao cảm ấy chính là các nghi thức tế lễ và Ban tế lễ. Ba hồi chín tiếng chiêng, tiếng trống vang rền nội điện giữa canh khuya, khiến không khí càng thêm huyền ảo. Trong nền nhạc lễ, chánh tế và bồi tế tựu vị. Bốn lễ sinh hai tay nâng ngọn hoa đăng từng bước nhập điện thờ thần để làm lễ thượng hương, tấn tửu. Nghi lễ này còn được gọi là Đi Điện. Sau phần thượng hương, nghênh thần, cúc cung bái lạy là đến phần đọc chúc văn. * Lễ Thứ được diễn ra ngay sau lễ Chánh. Lễ Thứ là lễ hát cúng đình và dâng thần linh. Trong đó, Tôn vương là phần hát rất quan trọng trong lễ cúng đình Kỳ an - Xuân tế Vì vậy, những người đang có tang chế sẽ không được dự lễ này. Lễ Tôn vương bao giờ cũng có múa tứ linh gồm: Lân, Cọp, Rồng và ông Địa. Điệu múa tứ linh vừa nhộn nhịp, vừa tươi vui vừa thêm phần hài hước như muốn mang đến cho dân làng một năm mới an khang và thịnh vượng. Sau điện múa tứ linh là đến "múa Quỳnh tương" chúc rượu. Điệu múa này là sự bày tỏ lòng thành kính của dân làng đối với các bậc tôn thần qua những động tác rót rượu và dâng rượu lên án thờ được đặt trước cửa đình. Sau cùng là cảnh đăng quang, kế vị của vị vua trẻ rồi chuyển sang phần ca múa đón chào cuộc đời mới đang đến với những điều tốt đẹp. * Lễ Hồi sắc phong thần diễn ra lúc 6 giờ ngày 16/2 âm lịch. Nghi thức hành lễ của lễ hồi sắc không khác so với nghi thức của lễ rước sắc. Vẫn là khởi chinh, cổ và khởi nhạc lễ Ban tế lễ thượng hương, nghênh sắc nhập long đình và sau đó khởi kiệu. Đoàn người hồi sắc từ trình làng về nhà thờ Tiền hiền, dẫn đầu vẫn là Đội múa lân, sau đó là đến Đội cờ ngũ sắc và thập bát ban binh khí hộ tống Long đình... * Lễ Tiền hiền: Sau khi các sắc phong đã yên vị ở trên án thờ, Ban tế lễ chuyển sang Lễ Tiền hiền vào lúc 7h ngày 16/2 âm lịch. Các vị chủ tế, bồi tế, thầy lễ và lễ sinh tiến hành một khóa lễ. Sau đó, dàn nhạc bát âm ngừng tấu. âm thanh nhạc lễ lắng dần, sân đình bỗng vỡ òa trong sự náo nức và thôi thúc của tiếng trống hội làng... Lễ cúng đình Kỳ an - Xuân tế tại Khánh Hoà Phần Hội: Những trò chơi dân gian như: Thi hát dân ca bài chòi, hát bội, thi đấu cờ tướng, đập ấm, kéo dây, chọi gà không chỉ là những trò vui chơi, giải trí mà còn thông qua lễ hội nhằm giáo dục các thế hệ, các dòng tộc quần cư trong thôn xóm thấm sâu đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" và tương thân, tương ái...

(lehoi.info)- Lễ cúng đình Kỳ an - Xuân tế được tổ chức vào hai ngày 15 và ngày 16 tháng 2 âm lịch hàng năm, tại đình làng Chấp Lễ, xã Ninh Thân, Ninh Hòa, Khánh Hòa.

Vùng quê xã Ninh Thân

Lễ Kỳ an, hay còn được gọi là Lễ cúng đình ở làng, ngươi dân đến đây đều mang trong lòng nguyện ý cầu mong mưa thuận, gió hòa, quốc gia thái bình và muôn dân an lạc... Đây thực sự là nhu cầu của con người, là niềm an ủi, sự nâng đỡ về tâm lý... không chỉ là nét đẹp về văn hóa tâm linh của những người dân Khánh Hòa mà còn là nét nổi trội về bản sắc văn hóa của các dân tộc Việt Nam. Lễ cúng đình Kỳ an - Xuân tế được diễn ra như sau: Chấp Lễ khởi đầu bằng cảnh rước sắc phong từ nhà thờ Tiền hiền về đình làng (lúc 15 giờ ngày 15/2 âm lịch). * Lễ Thượng hương: Mở đầu cảnh rước sắc phong đó là lễ Thượng hương. Sau 3 hồi 9 tiếng chinh, tiếng cổ là nhạc tế. Giữa nền nhạc bát âm, đội lân vào chầu phục trước long đình và điện thờ thần... Bốn sắc phong được vị chánh tế lần lượt mở ra để thỉnh nhập long đình giữa 2 hàng cờ ngũ sắc và thập bát ban binh khí ứng chầu. Trong 4 sắc phong thì có ba sắc phong là của các triều vua Tự Đức, Thành Thái và Duy Tân phong tước hiệu cho Thành hoàng làng là "Đại Càn Quốc gia Nam Hái Tứ vị tôn thần " và một sắc phong triều Khải Định phong Bà Thiên Y Ana Diễn Ngọc Phi tước hiệu "Hồng Nhân phổ tế Linh ứng Tôn thần". Dưới nền nhạc của bài Bá lệnh, kiệu rước long đình theo hướng hương lộ, qua chợ làng, tiến thẳng về đình - nơi thờ Thành hoàng và cũng chính là nơi sẽ diễn ra lễ Tế chánh. Tại đình làng, 4 sắc phong thần được vị chủ tế thỉnh nhập điện thờ thần. Sau đó, chuyển sang lễ cúng cô hồn... * Lễ cúng cô hồn ở đình làng Chấp Lễ diễn ra vào lúc 18 giờ ngày 15/2 âm lịch. Tại miếu Cô Hồn - bên tả của đình làng và tách rời với điện thờ Thần. Văn tế của lễ cúng cô hồn ở các đình làng rất giống với Văn tế của lễ Tống Na trong lễ Cầu Ngư của các cư dân vùng biển. Văn tế cô hồn thật là lâm ly, bi thiết, xót thương cho những vong hồn đã về nơi chín suối nhưng cõi nhân gian không có ai cúng tế và phụng thờ. * Lễ Tỉnh sanh - Túc yết diễn ra vào lúc 0 giờ 1 phút ngày 16/2 âm lịch. Sau khi khởi chinh, cổ, trong nền nhạc lễ, vị Chánh tế làm lễ tế cáo trời đất dâng hương, dâng rượu tại hương án được đặt ở trước sân đình... Vật phẩm hiến tế của lễ Tỉnh sanh trong lễ cúng đình ngoài hương, đăng, trà, quả và rượu thì còn có heo và con heo ấy phải là loại heo toàn sắc, toàn sinh (tức là - loại heo một màu, và tế sống nguyên con). Sau khi heo bị thọc tiết và được đưa đi cạo lông, người chấp sự dâng một tuần nhang lễ tạ Tỉnh sanh. Ba lá vàng được đốt lên để báo hiệu lễ Tỉnh sanh đã hoàn tất. Sau đó, chuyển qua lễ Tế Thiên Y A Na Diễn Ngọc Phi tại Miếu thờ Bà bên hữu đình làng... Đình Làng Chấp Lễ Trong các sắc thần do các triều vua ở nhà Nguyễn phong tặng thường chép là Thiên-Y-A-Na Diễn Ngọ Phi. Ngoài đời, thì thường gọi là Thiêt Y A Na. Nhà Nguyễn trung hưng ngay buổi đầu đã phong tặng: Hồng nhân phổ tế Linh ứng Thượng đẳng Thần. Các vua đời sau đời nào cũng có sắc phong tặng. * Lễ tế Bà Thiên Y A Na vào lúc 1 giờ sáng ngày 16/2 âm lịch. Sau 3 hồi chín tiếng chinh, cổ lệnh, Ban tế tựu vị. 2 bên là 12 khóa sinh tay cầm cờ ngũ hành đứng hầu ở trước miếu. Trong nền nhạc bát âm, vị chánh tế thực hiện nghi thức hành sơ hiến lễ, tấn tửu, và đọc chúc văn. * Lễ Tế chánh diễn ra vào lúc 2 giờ sáng ngày 16/2 âm lịch. Lúc này, cả 4 sắc phong thần đều được thỉnh nhập điện thờ. 2 hàng lễ sinh tay cầm cờ ngũ sắc đứng hầu nơi sân điện. Dân chúng ở trong làng đứng chật cả sân đình, tất cả đều giữ thái độ rất trang nghiêm. Đây là thời khắc giao cảm giữa thần linh và con người; giữa thế giới siêu nhiên và con người trần thế mà cầu nối của sự giao cảm ấy chính là các nghi thức tế lễ và Ban tế lễ. Ba hồi chín tiếng chiêng, tiếng trống vang rền nội điện giữa canh khuya, khiến không khí càng thêm huyền ảo. Trong nền nhạc lễ, chánh tế và bồi tế tựu vị. Bốn lễ sinh hai tay nâng ngọn hoa đăng từng bước nhập điện thờ thần để làm lễ thượng hương, tấn tửu. Nghi lễ này còn được gọi là Đi Điện. Sau phần thượng hương, nghênh thần, cúc cung bái lạy là đến phần đọc chúc văn. * Lễ Thứ được diễn ra ngay sau lễ Chánh. Lễ Thứ là lễ hát cúng đình và dâng thần linh. Trong đó, Tôn vương là phần hát rất quan trọng trong lễ cúng đình Kỳ an - Xuân tế Vì vậy, những người đang có tang chế sẽ không được dự lễ này. Lễ Tôn vương bao giờ cũng có múa tứ linh gồm: Lân, Cọp, Rồng và ông Địa. Điệu múa tứ linh vừa nhộn nhịp, vừa tươi vui vừa thêm phần hài hước như muốn mang đến cho dân làng một năm mới an khang và thịnh vượng. Sau điện múa tứ linh là đến "múa Quỳnh tương" chúc rượu. Điệu múa này là sự bày tỏ lòng thành kính của dân làng đối với các bậc tôn thần qua những động tác rót rượu và dâng rượu lên án thờ được đặt trước cửa đình. Sau cùng là cảnh đăng quang, kế vị của vị vua trẻ rồi chuyển sang phần ca múa đón chào cuộc đời mới đang đến với những điều tốt đẹp. * Lễ Hồi sắc phong thần diễn ra lúc 6 giờ ngày 16/2 âm lịch. Nghi thức hành lễ của lễ hồi sắc không khác so với nghi thức của lễ rước sắc. Vẫn là khởi chinh, cổ và khởi nhạc lễ Ban tế lễ thượng hương, nghênh sắc nhập long đình và sau đó khởi kiệu. Đoàn người hồi sắc từ trình làng về nhà thờ Tiền hiền, dẫn đầu vẫn là Đội múa lân, sau đó là đến Đội cờ ngũ sắc và thập bát ban binh khí hộ tống Long đình... * Lễ Tiền hiền: Sau khi các sắc phong đã yên vị ở trên án thờ, Ban tế lễ chuyển sang Lễ Tiền hiền vào lúc 7h ngày 16/2 âm lịch. Các vị chủ tế, bồi tế, thầy lễ và lễ sinh tiến hành một khóa lễ. Sau đó, dàn nhạc bát âm ngừng tấu. âm thanh nhạc lễ lắng dần, sân đình bỗng vỡ òa trong sự náo nức và thôi thúc của tiếng trống hội làng... Lễ cúng đình Kỳ an - Xuân tế tại Khánh Hoà Phần Hội: Những trò chơi dân gian như: Thi hát dân ca bài chòi, hát bội, thi đấu cờ tướng, đập ấm, kéo dây, chọi gà không chỉ là những trò vui chơi, giải trí mà còn thông qua lễ hội nhằm giáo dục các thế hệ, các dòng tộc quần cư trong thôn xóm thấm sâu đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" và tương thân, tương ái...

Related Figures

Lễ hội Ăn mừng lúa mới của người Raglai

Thông tin thời kỳ

(lehoi.info)- Thời gian tổ chức Lễ hội Ăn mừng lúa mới của người dân tộc Raglai bắt đầu từ tháng 11 đến giữa tháng Giêng âm lịch hàng năm, ở tại xã Sơn Hiệp, huyện miền núi Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa. Lễ hội Ăn mừng lúa mới của người Raglai Trong nghi lễ nông nghiệp của người dân tộc Raglai, lễ hội Ăn mừng lúa mới hết sức quan trọng và nó được xem như là ngày Tết cổ truyền của dân làng. Người dân tộc Raglai có tín ngưỡng đa thần, họ tin rằng, cây cối đều có hồn và được thần linh cai quản. Các vị thần đó đã cho họ có được cuộc sống tốt hơn. Vì thế, sau khi thu hoạch, bao giờ họ cũng làm lễ để cúng tạ thần Lúa - Bắp và Ông Bà tổ tiên đã phù hộ rồi mới ăn. Trong lễ cúng còn cầu xin cho con cháu trong làng được mạnh khỏe, mùa màng năm sau được bội thu hơn năm trước. Lễ hội do từng gia đình tổ chức, qui mô nhỏ hay lớn thì phụ thuộc vào kết quả thu hoạch mùa vụ và điều kiện kinh tế. Lễ hội thường được tổ chức từ 1 đến 3 ngày. Các bước trong lễ hội được tiến hành như sau: - Trước hết là lên rẫy (chọn rẫy tốt nhất) để làm lễ cúng Thần Lúa, “xin rước Thần Lúa về nhà”. Lễ cúng này rất đơn giản, lễ vật đó là trầu cau, cơm, trứng luộc và rượu. Sau khi cúng, mọi người sẽ cùng nhau tuốt lúa, làm sạch cho vào gùi và rước Thần Lúa về nhà. - Lễ Ăn mừng lúa mới là lễ chính được tổ chức rất linh đình và rộn ràng (những gia đình được mùa to và cúng lớn thì tổ chức tại nhà dài). Bà con trong thôn sẽ giúp chuẩn bị gạo, nếp, rau củ, mổ heo, gà và nấu nướng. Đặc biệt là chuẩn bị vật liệu cho việc nấu món canh Bùi. Đó là món canh truyền thống không thể thiếu trong lễ cúng để dâng Thần Lúa - Bắp và dâng Ông Bà. “Canh Bùi có nguyên liệu từ gạo của lúa mới và lá của cây Bột ngọt giã nhuyễn và nấu chung với rau Rịa xắt nhỏ. Canh Bùi khi chín sền sệt, có mùi vị béo, thơm của gạo và ngọt của rau”. Một nghi thức trong lễ hội ăn mừng lúa mới của người Raglai Thầy cúng hành lễ có sự chứng giám của gia đình và của bà con trong thôn. Các nghi thức cúng được tiến hành rất cẩn trọng. Sau phần lễ, chủ nhà thường bưng chén rượu đến và mời từng người một. Mọi người cùng nhau ăn, uống và chúc cho nhau những điều tốt đẹp nhất. Rượu càng vào thì các điệu hát A - lâu, Ma - Diêng và nhịp chiêng Sa - va - lâu, Ato - pa - krúc..., càng sôi nổi. Thanh niên trong làng còn đốt lửa trại, cùng nhau ca hát và nhảy múa suốt đêm. Cứ như vậy, mùa lễ hội của người dân tộc Raglai có khi kéo dài đến cả tháng, các làng (Plơi) luôn rộn rã tiếng cồng tiếng chiêng. Tưng bừng lễ hội ăn mừng lúa mới của người Raglai Lễ ăn lúa mới diễn ra hằng năm sau mỗi một vụ thu hoạch. Đây là một nét văn hoá đẹp trong đời sống tinh thần của người dân tộc Raglai, và là dịp để con cháu trong gia đình và bà con lối xóm cùng chung vui, uống rượu cần và cùng nhau đánh mã la, cồng chiêng và múa hát quanh đống lửa thâu đêm suốt sáng./.

(lehoi.info)- Thời gian tổ chức Lễ hội Ăn mừng lúa mới của người dân tộc Raglai bắt đầu từ tháng 11 đến giữa tháng Giêng âm lịch hàng năm, ở tại xã Sơn Hiệp, huyện miền núi Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa.

Lễ hội Ăn mừng lúa mới của người Raglai

Trong nghi lễ nông nghiệp của người dân tộc Raglai, lễ hội Ăn mừng lúa mới hết sức quan trọng và nó được xem như là ngày Tết cổ truyền của dân làng. Người dân tộc Raglai có tín ngưỡng đa thần, họ tin rằng, cây cối đều có hồn và được thần linh cai quản. Các vị thần đó đã cho họ có được cuộc sống tốt hơn. Vì thế, sau khi thu hoạch, bao giờ họ cũng làm lễ để cúng tạ thần Lúa - Bắp và Ông Bà tổ tiên đã phù hộ rồi mới ăn. Trong lễ cúng còn cầu xin cho con cháu trong làng được mạnh khỏe, mùa màng năm sau được bội thu hơn năm trước. Lễ hội do từng gia đình tổ chức, qui mô nhỏ hay lớn thì phụ thuộc vào kết quả thu hoạch mùa vụ và điều kiện kinh tế. Lễ hội thường được tổ chức từ 1 đến 3 ngày. Các bước trong lễ hội được tiến hành như sau: - Trước hết là lên rẫy (chọn rẫy tốt nhất) để làm lễ cúng Thần Lúa, “xin rước Thần Lúa về nhà”. Lễ cúng này rất đơn giản, lễ vật đó là trầu cau, cơm, trứng luộc và rượu. Sau khi cúng, mọi người sẽ cùng nhau tuốt lúa, làm sạch cho vào gùi và rước Thần Lúa về nhà. - Lễ Ăn mừng lúa mới là lễ chính được tổ chức rất linh đình và rộn ràng (những gia đình được mùa to và cúng lớn thì tổ chức tại nhà dài). Bà con trong thôn sẽ giúp chuẩn bị gạo, nếp, rau củ, mổ heo, gà và nấu nướng. Đặc biệt là chuẩn bị vật liệu cho việc nấu món canh Bùi. Đó là món canh truyền thống không thể thiếu trong lễ cúng để dâng Thần Lúa - Bắp và dâng Ông Bà. “Canh Bùi có nguyên liệu từ gạo của lúa mới và lá của cây Bột ngọt giã nhuyễn và nấu chung với rau Rịa xắt nhỏ. Canh Bùi khi chín sền sệt, có mùi vị béo, thơm của gạo và ngọt của rau”. Một nghi thức trong lễ hội ăn mừng lúa mới của người Raglai Thầy cúng hành lễ có sự chứng giám của gia đình và của bà con trong thôn. Các nghi thức cúng được tiến hành rất cẩn trọng. Sau phần lễ, chủ nhà thường bưng chén rượu đến và mời từng người một. Mọi người cùng nhau ăn, uống và chúc cho nhau những điều tốt đẹp nhất. Rượu càng vào thì các điệu hát A - lâu, Ma - Diêng và nhịp chiêng Sa - va - lâu, Ato - pa - krúc..., càng sôi nổi. Thanh niên trong làng còn đốt lửa trại, cùng nhau ca hát và nhảy múa suốt đêm. Cứ như vậy, mùa lễ hội của người dân tộc Raglai có khi kéo dài đến cả tháng, các làng (Plơi) luôn rộn rã tiếng cồng tiếng chiêng. Tưng bừng lễ hội ăn mừng lúa mới của người Raglai Lễ ăn lúa mới diễn ra hằng năm sau mỗi một vụ thu hoạch. Đây là một nét văn hoá đẹp trong đời sống tinh thần của người dân tộc Raglai, và là dịp để con cháu trong gia đình và bà con lối xóm cùng chung vui, uống rượu cần và cùng nhau đánh mã la, cồng chiêng và múa hát quanh đống lửa thâu đêm suốt sáng./.

Related Figures

Lễ hội đền Ủng

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 11/1 Âm lịch Lễ hội đền Ủng được tổ chức hàng năm vào ngày 11 tháng Giêng âm lịch, tại xã Phù Ủng, huyện Ân Thi, Tỉnh Hưng Yên. Đây là lễ hội để tưởng nhớ tới tướng quân Phạm Ngũ Lão. Đền Ủng Đền Ủng thờ tướng quân Phạm Ngũ Lão, là một danh tướng thời Trần, người đã có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông xâm lược ở thế kỷ XIII. Phạm Ngũ Lão sinh ra và lớn lên ở tại làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, Phủ Thượng Hồng (nay là xã Phù Ủng, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên) ngay từ nhỏ ông đã bộc lộ chí khí khác thường và tính tình cương trực. Đến nay thì câu chuyện về tướng quân Phạm Ngũ Lão vẫn còn được người dân kể lại như một tích chuyện kỳ lạ về một vị tướng anh hùng có lòng yêu nước, căm thù giặc sâu sắc, có sức khoẻ phi thường và gan dạ. Tương truyền năm ông 13 tuổi, trong làng đã có người đỗ đạt làm quan và mở tiệc thiết đãi dân làng, cả làng kéo đến để tham dự chỉ có ông là không. Người mẹ hỏi sao con không đến thì ông đáp rằng chí làm trai phải làm lên công danh sự nghiệp vẻ vang cho xóm làng còn mình chưa làm được gì nên cảm thấy hổ thẹn với lòng.Hàng ngày Phạm Ngũ Lão vẫn ngồi bên đường chẻ tre, vót nan và đan sọt. Một hôm Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn từ Vạn Kiếp (Chí Linh) lên kinh đô Thăng Long. Quân sĩ hộ vệ Trần Hưng Đạo đi trước dẹp đường, thấy Phạm Ngũ Lão, quát đuổi ông vẫn cứ ngồi yên thanh thản đan vót như không hề nghe thấy gì, quân lính lấy giáo đâm vào đùi, máu chẩy đầm đìa, nhưng ông vẫn không nhúc nhích. Trần Hưng Đạo thấy làm lạ bèn tiến đến hỏi đầu đuôi sự việc. Khi biết chuyện Phạm Ngũ Lão vì mải nghĩ đến việc nước mà quên cả nỗi đau thân xác, Hưng Đạo Vượng nhận thấy đây chính là một nhân tài của đất nước, bèn triệu hồi trọng dụng. Với tài năng bẩm sinh cùng với sự rèn cặp của Trần Quốc Tuấn Phạm Ngũ Lão mau chóng trở thành một vị tướng xuất sắc đã 2 lần đánh tan giặc xâm lược Nguyên - Mông.Để tưởng nhớ đến một vị tướng tài danh là người con của quê hương, dân làng Phù Ủng đã lập đền thờ Phạm Ngũ Lão ở ngay trên nền đất cũ của nhà ông. Múa rồng ở lễ hội đền Ủng Lễ hội được mở đầu với nghi thức rước công chúa Tĩnh Huệ (con gái của Phạm Ngũ Lão) từ phủ chúa về lăng Phạm Tiên Công để trình ông và rước về đền Phạm Ngũ Lão để trình cha. Trong lễ rước, hàng nghìn người dân và du khách thập phương đã chen nhau chui qua gầm kiệu với tâm niệm rằng những ước muốn của mình trong năm mới sẽ thành hiện thực. Phần lễ được tổ chức trang trọng với các nghi thức cổ truyền như đại lễ, tế nội tán và ngoại tán… Phần Hội với những trò chơi dân gian, những môn thể thao, vui chơi do tướng quân Phạm Ngũ Lão nghĩ ra để rèn luyện sức khỏe và ý chí cho binh sĩ như: hội thi vật cù. Cù có hình tròn, làm bằng gỗ vuông sơn màu đỏ. Sân chơi là một bãi rộng chia thành 2 bên đông và tây, giữa sân có kẻ một vạch ngang, chính giữa vạch sẽ đào một lỗ đặt quả dầu, hai đầu sân mỗi bên sẽ đào một lỗ. Mỗi đội có 8 quân và 1 tổng, đầu chít khăn và đóng khố. Mỗi đội đóng khố một màu khác nhau. Trước khi chơi, 2 đội xếp thành 2 hàng làm lễ trước cửa đền. Trọng tài cầm quả cầu đặt ở hố giữa sân, phát hiệu lệnh, 2 bên giành nhau cướp bỏ vào lỗ của đối phương, bên nào cho vào lỗ của bên kia là đã thắng cuộc. Trong những ngày lễ hội diễn ra, bên cạnh các phần nghi lễ còn có những hoạt động thể thao giao hữu bóng chuyền, cầu lông, hoạt động văn hóa cho chữ đầu xuân, hát trống quân, hát quan họ... Lễ hội đền Ủng thu hút đông đảo người dân và du khách tới tham dự Lễ hội đền Ủng được tổ chức từ ngày 11 đến ngày 13 tháng giêng, thu hút được hàng nghìn lượt khách thập phương tới dâng hương và trẩy hội, đây là một trong những lễ hội lớn, mở đầu cho các hoạt động văn hóa, lễ hội mùa xuân của tỉnh Hưng Yên. lehoi.info tổng hợp

Lễ hội đền Ủng được tổ chức hàng năm vào ngày 11 tháng Giêng âm lịch, tại xã Phù Ủng, huyện Ân Thi, Tỉnh Hưng Yên. Đây là lễ hội để tưởng nhớ tới tướng quân Phạm Ngũ Lão.

Đền Ủng

Đền Ủng thờ tướng quân Phạm Ngũ Lão, là một danh tướng thời Trần, người đã có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông xâm lược ở thế kỷ XIII. Phạm Ngũ Lão sinh ra và lớn lên ở tại làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, Phủ Thượng Hồng (nay là xã Phù Ủng, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên) ngay từ nhỏ ông đã bộc lộ chí khí khác thường và tính tình cương trực. Đến nay thì câu chuyện về tướng quân Phạm Ngũ Lão vẫn còn được người dân kể lại như một tích chuyện kỳ lạ về một vị tướng anh hùng có lòng yêu nước, căm thù giặc sâu sắc, có sức khoẻ phi thường và gan dạ. Tương truyền năm ông 13 tuổi, trong làng đã có người đỗ đạt làm quan và mở tiệc thiết đãi dân làng, cả làng kéo đến để tham dự chỉ có ông là không. Người mẹ hỏi sao con không đến thì ông đáp rằng chí làm trai phải làm lên công danh sự nghiệp vẻ vang cho xóm làng còn mình chưa làm được gì nên cảm thấy hổ thẹn với lòng.Hàng ngày Phạm Ngũ Lão vẫn ngồi bên đường chẻ tre, vót nan và đan sọt. Một hôm Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn từ Vạn Kiếp (Chí Linh) lên kinh đô Thăng Long. Quân sĩ hộ vệ Trần Hưng Đạo đi trước dẹp đường, thấy Phạm Ngũ Lão, quát đuổi ông vẫn cứ ngồi yên thanh thản đan vót như không hề nghe thấy gì, quân lính lấy giáo đâm vào đùi, máu chẩy đầm đìa, nhưng ông vẫn không nhúc nhích. Trần Hưng Đạo thấy làm lạ bèn tiến đến hỏi đầu đuôi sự việc. Khi biết chuyện Phạm Ngũ Lão vì mải nghĩ đến việc nước mà quên cả nỗi đau thân xác, Hưng Đạo Vượng nhận thấy đây chính là một nhân tài của đất nước, bèn triệu hồi trọng dụng. Với tài năng bẩm sinh cùng với sự rèn cặp của Trần Quốc Tuấn Phạm Ngũ Lão mau chóng trở thành một vị tướng xuất sắc đã 2 lần đánh tan giặc xâm lược Nguyên - Mông.Để tưởng nhớ đến một vị tướng tài danh là người con của quê hương, dân làng Phù Ủng đã lập đền thờ Phạm Ngũ Lão ở ngay trên nền đất cũ của nhà ông. Múa rồng ở lễ hội đền Ủng Lễ hội được mở đầu với nghi thức rước công chúa Tĩnh Huệ (con gái của Phạm Ngũ Lão) từ phủ chúa về lăng Phạm Tiên Công để trình ông và rước về đền Phạm Ngũ Lão để trình cha. Trong lễ rước, hàng nghìn người dân và du khách thập phương đã chen nhau chui qua gầm kiệu với tâm niệm rằng những ước muốn của mình trong năm mới sẽ thành hiện thực. Phần lễ được tổ chức trang trọng với các nghi thức cổ truyền như đại lễ, tế nội tán và ngoại tán… Phần Hội với những trò chơi dân gian, những môn thể thao, vui chơi do tướng quân Phạm Ngũ Lão nghĩ ra để rèn luyện sức khỏe và ý chí cho binh sĩ như: hội thi vật cù. Cù có hình tròn, làm bằng gỗ vuông sơn màu đỏ. Sân chơi là một bãi rộng chia thành 2 bên đông và tây, giữa sân có kẻ một vạch ngang, chính giữa vạch sẽ đào một lỗ đặt quả dầu, hai đầu sân mỗi bên sẽ đào một lỗ. Mỗi đội có 8 quân và 1 tổng, đầu chít khăn và đóng khố. Mỗi đội đóng khố một màu khác nhau. Trước khi chơi, 2 đội xếp thành 2 hàng làm lễ trước cửa đền. Trọng tài cầm quả cầu đặt ở hố giữa sân, phát hiệu lệnh, 2 bên giành nhau cướp bỏ vào lỗ của đối phương, bên nào cho vào lỗ của bên kia là đã thắng cuộc. Trong những ngày lễ hội diễn ra, bên cạnh các phần nghi lễ còn có những hoạt động thể thao giao hữu bóng chuyền, cầu lông, hoạt động văn hóa cho chữ đầu xuân, hát trống quân, hát quan họ... Lễ hội đền Ủng thu hút đông đảo người dân và du khách tới tham dự Lễ hội đền Ủng được tổ chức từ ngày 11 đến ngày 13 tháng giêng, thu hút được hàng nghìn lượt khách thập phương tới dâng hương và trẩy hội, đây là một trong những lễ hội lớn, mở đầu cho các hoạt động văn hóa, lễ hội mùa xuân của tỉnh Hưng Yên. lehoi.info tổng hợp

Related Figures

Lễ hội Đền An Xá

Thông tin thời kỳ

(lehoi.info) - Lễ hội truyền thống đền An Xá còn có tên gọi khác là đền Đậu An hay Thụy Ứng quán được tổ chức từ ngày mùng 6 đến ngày 12 tháng 4 âm lịch hàng năm, tại xã An Viên huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Đền thờ Ngũ Lão tiên ông và đấng Thiên Tiên, Địa Tiên đã giúp nhân dân khai hoang diệt trừ hổ giữ và bảo vệ mùa màng. Quang cảnh lễ hội Đền An Xá Đền An Xá hiện nay còn lưu giữ được nhiều di vật bằng đất nung rất độc đáo như: nhang án đất nung thời Trần và tháp đất nung có niên đại thế kỷ 17… Nhang án bằng đất nung có chiều dài 2,7m, chiều rộng 1,3m, chiều cao 0,8m. Nhang án chia làm 3 phần. Phần trên cùng là trang trí hình cánh sen gần như vuông. Trong các cánh sen to được lồng các cánh sen nhỏ. Phần thân bệ, chính diện được chia làm 3 khuông. Trong mỗi khuông trang trí hình “Lưỡng long chầu lá đề” và được chạm nổi. Rồng được mô tả chín khúc mềm mại. Phần đế làm theo kiểu chân quỳ dạ cá và chạm hình sóng nước. Tháp nằm cách cửa đền khoảng 20m, có niên đại Hoàng triều Cảnh Trị ngũ niên (1667). Tháp được xây bằng gạch, kích thước mỗi viên 0,3mx0,3m. Tháp cao 4,5m, gồm chín tầng (cửu trùng), bệ vuông 2mx2m. Phần đế tháp được làm theo kiểu “chân quì dạ cá”. Trên 4 chân quỳ ở 4 góc là hình vũ nữ đội bệ sen. Các tầng đều có mái hẹp và lợp ngói ống. Trang trí trên tháp có nhiều hoa văn hình cánh sen, chim thần gurada, long mã, voi, sấu và rồng vờn mây… Các hình tượng trang trí được cách điệu cao, xung quanh là các đao lửa và đao lưỡi mác. Lễ hội đền An Xá - nét văn hóa tín ngưỡng độc đáo Trong ngày lễ hội truyền thống đền An Xá. Dân làng đan biểu tượng Thiên Tiên, Địa Tiên bằng tre, cao gần 5m và rước quanh làng. Vào buổi chiều ngày mùng 8, diễn lại sự tích mẹ con nhà khó đánh hổ. Trò diễn được sân khấu hóa với hình ảnh Lỗ Quốc đại vương, 3 lực sỹ được Ngọc Hoàng cử xuống tiêu diệt hổ dữ bảo vệ dân làng và sức mạnh của người mẹ nghèo khó tham gia diệt hổ. Lễ hội kết thúc vào ngày 12, vào lúc 23h đêm. Trước giờ kết thúc, tổ chức lại trò đánh hổ ở đền và làm lễ triệt đăng, tắt hết đèn nến trong đền và các vùng xung quanh. Khi tắt đèn đồng thời với việc mô phỏng tiếng ếch, tiếng nhái kêu vang rền. Lễ hội đền An Xá lehoi.info tổng hợp

(lehoi.info) - Lễ hội truyền thống đền An Xá còn có tên gọi khác là đền Đậu An hay Thụy Ứng quán được tổ chức từ ngày mùng 6 đến ngày 12 tháng 4 âm lịch hàng năm, tại xã An Viên huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Đền thờ Ngũ Lão tiên ông và đấng Thiên Tiên, Địa Tiên đã giúp nhân dân khai hoang diệt trừ hổ giữ và bảo vệ mùa màng.

Quang cảnh lễ hội Đền An Xá

Đền An Xá hiện nay còn lưu giữ được nhiều di vật bằng đất nung rất độc đáo như: nhang án đất nung thời Trần và tháp đất nung có niên đại thế kỷ 17… Nhang án bằng đất nung có chiều dài 2,7m, chiều rộng 1,3m, chiều cao 0,8m. Nhang án chia làm 3 phần. Phần trên cùng là trang trí hình cánh sen gần như vuông. Trong các cánh sen to được lồng các cánh sen nhỏ. Phần thân bệ, chính diện được chia làm 3 khuông. Trong mỗi khuông trang trí hình “Lưỡng long chầu lá đề” và được chạm nổi. Rồng được mô tả chín khúc mềm mại. Phần đế làm theo kiểu chân quỳ dạ cá và chạm hình sóng nước. Tháp nằm cách cửa đền khoảng 20m, có niên đại Hoàng triều Cảnh Trị ngũ niên (1667). Tháp được xây bằng gạch, kích thước mỗi viên 0,3mx0,3m. Tháp cao 4,5m, gồm chín tầng (cửu trùng), bệ vuông 2mx2m. Phần đế tháp được làm theo kiểu “chân quì dạ cá”. Trên 4 chân quỳ ở 4 góc là hình vũ nữ đội bệ sen. Các tầng đều có mái hẹp và lợp ngói ống. Trang trí trên tháp có nhiều hoa văn hình cánh sen, chim thần gurada, long mã, voi, sấu và rồng vờn mây… Các hình tượng trang trí được cách điệu cao, xung quanh là các đao lửa và đao lưỡi mác. Lễ hội đền An Xá - nét văn hóa tín ngưỡng độc đáo Trong ngày lễ hội truyền thống đền An Xá. Dân làng đan biểu tượng Thiên Tiên, Địa Tiên bằng tre, cao gần 5m và rước quanh làng. Vào buổi chiều ngày mùng 8, diễn lại sự tích mẹ con nhà khó đánh hổ. Trò diễn được sân khấu hóa với hình ảnh Lỗ Quốc đại vương, 3 lực sỹ được Ngọc Hoàng cử xuống tiêu diệt hổ dữ bảo vệ dân làng và sức mạnh của người mẹ nghèo khó tham gia diệt hổ. Lễ hội kết thúc vào ngày 12, vào lúc 23h đêm. Trước giờ kết thúc, tổ chức lại trò đánh hổ ở đền và làm lễ triệt đăng, tắt hết đèn nến trong đền và các vùng xung quanh. Khi tắt đèn đồng thời với việc mô phỏng tiếng ếch, tiếng nhái kêu vang rền. Lễ hội đền An Xá lehoi.info tổng hợp

Related Figures

Lễ hội cầu an Bảng Mường.

Thông tin thời kỳ

Lễ hội cầu an cho bản mường (xên bản, xên mường) của người dân tộc Thái, đặc biệt là người dân tộc Thái Mai Châu, Thuận Châu, Mộc Châu, người dân tộc Mường... là một sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng rất quan trọng đối với cộng đồng những người ở Tây Bắc. Lễ hội thường được tổ chức hàng năm vào cuối tháng giêng, đầu tháng 2 âm lịch (vào dịp tết Nguyên Đán), gắn với tục giết trâu hiến sinh cầu và tạ thần linh, được biểu hiện qua tiếng sấm, tức lời phán quyết của vua trời, qua hình tượng thủy thần và thuồng luồng... Lễ hội có liên quan đến đời sống vật chất, tinh thần và tâm linh của cả bản mường, đến mùa màng, sức khỏe và sự làm ăn của cộng đồng năm ấy, nên được tổ chức rất trọng thể, vui vẻ và thu hút sự tham gia của đồng bào ở địa vực lớn (bản và mường). Nghi lễ giết trâu trong lễ cầu an bản Mường Lễ hội này thường được tổ chức ở tại một bãi rộng, nơi có nguồn nước (mở nước), nhiều khi là một nguồn nước thiêng, hoặc ở cạnh rừng (bìa rừng) trong 2 hoặc 3 ngày. Từ địa vực mà sự hiến sinh gắn với một biểu hiện của thần linh hay bản thân thần linh (sấm, mưa, thuồng luồng, thổ công và thổ địa...). Nhiều người cho biết, ở Mộc Châu, lễ hội này thường được tiến hành ở đầu nguồn nước thuộc một bản được chọn (thường là bản Mòn). Đây là một nguồn nước thiêng, ở gần rừng thiêng và là nơi cư trú của thần thuồng luồng đầy uy lực. Ở người dân tộc Thái Mai Châu, thì lễ hội lại được tổ chức ở bãi rộng gần đình như các lễ hội ở châu thổ, ở đồng bằng. Có nơi, người ta còn tổ chức lễ ở các miếu thờ thổ công, thờ thổ địa của bản, của gia đình, ở vườn và ở đầu ruộng. Thường thì ngay từ dịp tết Nguyên Đán, mọi thứ dùng cho lễ hội đã được chuẩn bị xong. Lễ hội thường kéo dài trong vòng 3 ngày (có nơi 2 ngày 1 đêm, có nơi 1 ngày 1 đêm). Nghi lễ cúng viếng cơ bản đó là hiến sinh trâu (nơi thì là một cặp trâu đực to, trắng - đen, nơi thì một con, nhiều nơi cúng cả gà và lợn). Ở Mộc Châu, trong lễ xên bản, xên mường, người ta hiến tế một cặp trâu trắng - đen cở từ mười tuổi trở lên. 2 trâu, nhưng con trâu trắng mới thực sự mang năng lượng thiêng để thành lễ vật tế thần (ở đây là thủy quái thuồng luồng, con ma to nhất dưới nước mà bà con thường gọi là phi ngược). Có lẽ nghi thức thờ, hiến sinh 2 trâu là mới hơn nghi thức hiến sinh 1 trâu mộng rất phổ biến. Bởi theo bà con cho biết, trước kia, dân một mường khác phải đem trâu trắng và các đồ cúng lên cúng ở tại bản Mòn này. Từ đó nảy sinh lễ cúng liên mường (xên liên mường) mà đồ cúng và trâu hiến sinh tăng thêm về số lượng. Suy tưởng này, thực ra mới chỉ là một giả thiết. Nam nữ thanh niên múa hát giao duyên Người chịu trách nhiệm chính trong tổ chức lễ hội cầu an bản mường đó là a nha, nhưng người trực tiếp điều hành buổi lễ lại chính lại là ông thầy cúng (mo mường). Dân chúng trong mường, ngoài bản, bất kể già trẻ hay gái trai đều có nghĩa vụ tham gia, đóng góp tùy sức mình và được quyền tham dự lễ hội của mường. Nghi lễ giết trâu ở đây hết sức đơn giản, không quan trọng và hệ thống như nghi lễ đâm trâu và ăn trâu ở Tây Nguyên. Trước ngày hội chính thức, tức là khoảng 2 đến 3 giờ chiều ngày hôm trước, người ta đã làm lễ giết trâu. Trước khi thịt trâu, ông mo mường và ông mò phăn (tức ông thầy chém, được người dân mường chọn ra) làm lễ vái thần linh, vái tổ tiên rồi cầm dao nhọn làm động tác chém dữ (chỉ mang tính nghi lễ) vào cổ các con trâu dùng để tế lễ, miệng thì thầm những câu như thần chú (thực ra, nhiều người cho rằng các ông chỉ nói lời kính báo với thần linh, với tổ tiên: trâu tế thần đã sẵn, dân bản, dân mường đã thịt trâu dâng các vị rồi đây nhé, xin các vị về mà nhận lấy). Sau đó, các ông lui ra, dành chỗ cho các thanh niên khỏe mạnh vào để chém trâu và thịt trâu... Bắt đầu ngày hội, người ta làm rất nhiều mâm cỗ cúng (mỗi mâm cỗ tượng trưng cho một bản lớn, xưa, có tạo bản đứng đầu, các bản nhỏ thì không được tượng trưng bằng mâm cỗ) đặt cạnh nguồn nước thiêng của mường. Đặc biệt, mâm cỗ của ông a nha, đặt ở giữa, dùng để cúng tổ tiên (mâm cúng chính thức) phải đầy đủ các bộ phận của con trâu hiến tế (đầu, đùi, thân, đuôi, móng...) cùng tất cả các bộ phận của 1 con lợn. Những mâm còn lại của các bản, ngoài thịt trâu và cơm rượu... còn phải có vịt gà, đặt ở hai bên mâm cúng chính và dành để cúng các vị thần khác. Khi buổi lễ được bắt đầu, mo mường quì trước các mâm cỗ, phía sau là a nha, tạo bản và những người dân mường quì lễ. Trong không khí rất trang nghiêm và linh thiêng, ông mo trang trọng, xuất thần đọc bài cúng đã thông thuộc, mời tổ tiên (ông cha bà cố nội ngoại tiếng Thái nghĩa là Pao pu pang cải), mời thần đất (Chau đỉn), mời chủ nguồn nước (Chau nặm bo) và mời thổ công thổ địa... về nhận lễ vật, dùng cỗ và vui vẻ với cộng đồng dân cư bản mường; đồng thời cầu mong tổ tiên thần linh ban phúc, phù trợ cho bản mường bình yên, làm ăn suôn sẻ, con người luôn khỏe mạnh, ngô lúa sinh sôi, gia súc gia cầm đàn đàn, lớp lớp. Khấn xong, mo mường và các vị chức sắc cùng với người dân bản mường vái lạy tổ tiên và các vị thần. Trong lúc đó, mo mường ném 2 quả trứng (một trắng, một đỏ) và 1 nắm cơm nhỏ xuống nguồn nước. Cuộc lễ kết thúc, tất cả mọi người bắt đầu vào cuộc ăn uống cộng cảm, vui chơi thể thao và văn nghệ... Cuộc ăn uống cộng cảm diễn ra hết sức vui nhưng đúng lễ nghi. Các ông mo mường, a nha và tạo bản... ăn làm phép ở mâm cỗ chính, rồi đi từng mâm; ở mỗi mâm các ông ăn một miếng thịt và uống một hớp rượu. Kế đó, cả bản mường ăn uống vui vẻ cho bằng hết các mâm, không được bỏ thừa hay đem về. Để chuẩn bị cho việc diễn ra những trò bách hý trong hội lễ, ngay từ buổi sáng tinh mơ của ngày đầu tiên, bên cạnh vị trí cúng lễ (mặt bằng, có thể là bàn đá cạnh nguồn nước), người dân bản đã sửa sang, dọn dẹp một mặt bằng rộng, cách nơi hành lễ khoảng trên dưới 100m. Mọi hoạt động hội hè, trò chơi, văn nghệ, thể thao... đều được diễn ra ở nơi đây. Trời về chiều, trong tiếng trống, tiếng chiêng dìu dặt lúc khoan lúc nhặt, dân làng tổ chức xòe vòng, xòe đôi và xòe đơn thật hào hứng. Bên mâm rượu tập thể, những nam thanh nữ tú hát giỏi múa hay, biết nhiều, nhanh nhẹn trong ứng đối vừa ăn uống, chọc ghẹo và vừa hát đối đáp giao duyên. Họ hát giới thiệu, khen ngợi nhau, bày tỏ chí hướng và tỏ lòng với nhau... trong men rượu, men tình... Bên cạnh đó, dăm bảy đôi nam nữ (thường là những đôi đã ngầm kết nhau, tổ chức múa sạp, thi bắn nỏ và bắn súng hỏa mai. Nhiều nơi còn có tục đi săn tập thể vào ngày kết thúc lễ hội. Dưới sự chỉ huy của một người thợ săn giỏi nhất mường, được dân bản bầu lên, mọi người lao mình vào cuộc săn một cách hào hứng. Thú rừng săn được sẽ chia đều cho mọi người cũng như lũ chó tham gia vào cuộc săn... Cứ như thế cuộc vui kéo dài trong 2, 3 ngày. Sau đó, bản nào về bản ấy. Bản nào giàu có, nhiều khả năng vật chất thì mời mo mường, a nha về bản mình, tiếp tục mổ lợn, giết gà tiệc tùng vui vẻ, hoặc tổ chức cầu an cho bản (xên bản) Những trò chơi dân gian trong lễ hội Theo Dulichvietnam

Lễ hội cầu an cho bản mường (xên bản, xên mường) của người dân tộc Thái, đặc biệt là người dân tộc Thái Mai Châu, Thuận Châu, Mộc Châu, người dân tộc Mường... là một sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng rất quan trọng đối với cộng đồng những người ở Tây Bắc. Lễ hội thường được tổ chức hàng năm vào cuối tháng giêng, đầu tháng 2 âm lịch (vào dịp tết Nguyên Đán), gắn với tục giết trâu hiến sinh cầu và tạ thần linh, được biểu hiện qua tiếng sấm, tức lời phán quyết của vua trời, qua hình tượng thủy thần và thuồng luồng... Lễ hội có liên quan đến đời sống vật chất, tinh thần và tâm linh của cả bản mường, đến mùa màng, sức khỏe và sự làm ăn của cộng đồng năm ấy, nên được tổ chức rất trọng thể, vui vẻ và thu hút sự tham gia của đồng bào ở địa vực lớn (bản và mường).

Nghi lễ giết trâu trong lễ cầu an bản Mường

Lễ hội này thường được tổ chức ở tại một bãi rộng, nơi có nguồn nước (mở nước), nhiều khi là một nguồn nước thiêng, hoặc ở cạnh rừng (bìa rừng) trong 2 hoặc 3 ngày. Từ địa vực mà sự hiến sinh gắn với một biểu hiện của thần linh hay bản thân thần linh (sấm, mưa, thuồng luồng, thổ công và thổ địa...). Nhiều người cho biết, ở Mộc Châu, lễ hội này thường được tiến hành ở đầu nguồn nước thuộc một bản được chọn (thường là bản Mòn). Đây là một nguồn nước thiêng, ở gần rừng thiêng và là nơi cư trú của thần thuồng luồng đầy uy lực. Ở người dân tộc Thái Mai Châu, thì lễ hội lại được tổ chức ở bãi rộng gần đình như các lễ hội ở châu thổ, ở đồng bằng. Có nơi, người ta còn tổ chức lễ ở các miếu thờ thổ công, thờ thổ địa của bản, của gia đình, ở vườn và ở đầu ruộng. Thường thì ngay từ dịp tết Nguyên Đán, mọi thứ dùng cho lễ hội đã được chuẩn bị xong. Lễ hội thường kéo dài trong vòng 3 ngày (có nơi 2 ngày 1 đêm, có nơi 1 ngày 1 đêm). Nghi lễ cúng viếng cơ bản đó là hiến sinh trâu (nơi thì là một cặp trâu đực to, trắng - đen, nơi thì một con, nhiều nơi cúng cả gà và lợn). Ở Mộc Châu, trong lễ xên bản, xên mường, người ta hiến tế một cặp trâu trắng - đen cở từ mười tuổi trở lên. 2 trâu, nhưng con trâu trắng mới thực sự mang năng lượng thiêng để thành lễ vật tế thần (ở đây là thủy quái thuồng luồng, con ma to nhất dưới nước mà bà con thường gọi là phi ngược). Có lẽ nghi thức thờ, hiến sinh 2 trâu là mới hơn nghi thức hiến sinh 1 trâu mộng rất phổ biến. Bởi theo bà con cho biết, trước kia, dân một mường khác phải đem trâu trắng và các đồ cúng lên cúng ở tại bản Mòn này. Từ đó nảy sinh lễ cúng liên mường (xên liên mường) mà đồ cúng và trâu hiến sinh tăng thêm về số lượng. Suy tưởng này, thực ra mới chỉ là một giả thiết. Nam nữ thanh niên múa hát giao duyên Người chịu trách nhiệm chính trong tổ chức lễ hội cầu an bản mường đó là a nha, nhưng người trực tiếp điều hành buổi lễ lại chính lại là ông thầy cúng (mo mường). Dân chúng trong mường, ngoài bản, bất kể già trẻ hay gái trai đều có nghĩa vụ tham gia, đóng góp tùy sức mình và được quyền tham dự lễ hội của mường. Nghi lễ giết trâu ở đây hết sức đơn giản, không quan trọng và hệ thống như nghi lễ đâm trâu và ăn trâu ở Tây Nguyên. Trước ngày hội chính thức, tức là khoảng 2 đến 3 giờ chiều ngày hôm trước, người ta đã làm lễ giết trâu. Trước khi thịt trâu, ông mo mường và ông mò phăn (tức ông thầy chém, được người dân mường chọn ra) làm lễ vái thần linh, vái tổ tiên rồi cầm dao nhọn làm động tác chém dữ (chỉ mang tính nghi lễ) vào cổ các con trâu dùng để tế lễ, miệng thì thầm những câu như thần chú (thực ra, nhiều người cho rằng các ông chỉ nói lời kính báo với thần linh, với tổ tiên: trâu tế thần đã sẵn, dân bản, dân mường đã thịt trâu dâng các vị rồi đây nhé, xin các vị về mà nhận lấy). Sau đó, các ông lui ra, dành chỗ cho các thanh niên khỏe mạnh vào để chém trâu và thịt trâu... Bắt đầu ngày hội, người ta làm rất nhiều mâm cỗ cúng (mỗi mâm cỗ tượng trưng cho một bản lớn, xưa, có tạo bản đứng đầu, các bản nhỏ thì không được tượng trưng bằng mâm cỗ) đặt cạnh nguồn nước thiêng của mường. Đặc biệt, mâm cỗ của ông a nha, đặt ở giữa, dùng để cúng tổ tiên (mâm cúng chính thức) phải đầy đủ các bộ phận của con trâu hiến tế (đầu, đùi, thân, đuôi, móng...) cùng tất cả các bộ phận của 1 con lợn. Những mâm còn lại của các bản, ngoài thịt trâu và cơm rượu... còn phải có vịt gà, đặt ở hai bên mâm cúng chính và dành để cúng các vị thần khác. Khi buổi lễ được bắt đầu, mo mường quì trước các mâm cỗ, phía sau là a nha, tạo bản và những người dân mường quì lễ. Trong không khí rất trang nghiêm và linh thiêng, ông mo trang trọng, xuất thần đọc bài cúng đã thông thuộc, mời tổ tiên (ông cha bà cố nội ngoại tiếng Thái nghĩa là Pao pu pang cải), mời thần đất (Chau đỉn), mời chủ nguồn nước (Chau nặm bo) và mời thổ công thổ địa... về nhận lễ vật, dùng cỗ và vui vẻ với cộng đồng dân cư bản mường; đồng thời cầu mong tổ tiên thần linh ban phúc, phù trợ cho bản mường bình yên, làm ăn suôn sẻ, con người luôn khỏe mạnh, ngô lúa sinh sôi, gia súc gia cầm đàn đàn, lớp lớp. Khấn xong, mo mường và các vị chức sắc cùng với người dân bản mường vái lạy tổ tiên và các vị thần. Trong lúc đó, mo mường ném 2 quả trứng (một trắng, một đỏ) và 1 nắm cơm nhỏ xuống nguồn nước. Cuộc lễ kết thúc, tất cả mọi người bắt đầu vào cuộc ăn uống cộng cảm, vui chơi thể thao và văn nghệ... Cuộc ăn uống cộng cảm diễn ra hết sức vui nhưng đúng lễ nghi. Các ông mo mường, a nha và tạo bản... ăn làm phép ở mâm cỗ chính, rồi đi từng mâm; ở mỗi mâm các ông ăn một miếng thịt và uống một hớp rượu. Kế đó, cả bản mường ăn uống vui vẻ cho bằng hết các mâm, không được bỏ thừa hay đem về. Để chuẩn bị cho việc diễn ra những trò bách hý trong hội lễ, ngay từ buổi sáng tinh mơ của ngày đầu tiên, bên cạnh vị trí cúng lễ (mặt bằng, có thể là bàn đá cạnh nguồn nước), người dân bản đã sửa sang, dọn dẹp một mặt bằng rộng, cách nơi hành lễ khoảng trên dưới 100m. Mọi hoạt động hội hè, trò chơi, văn nghệ, thể thao... đều được diễn ra ở nơi đây. Trời về chiều, trong tiếng trống, tiếng chiêng dìu dặt lúc khoan lúc nhặt, dân làng tổ chức xòe vòng, xòe đôi và xòe đơn thật hào hứng. Bên mâm rượu tập thể, những nam thanh nữ tú hát giỏi múa hay, biết nhiều, nhanh nhẹn trong ứng đối vừa ăn uống, chọc ghẹo và vừa hát đối đáp giao duyên. Họ hát giới thiệu, khen ngợi nhau, bày tỏ chí hướng và tỏ lòng với nhau... trong men rượu, men tình... Bên cạnh đó, dăm bảy đôi nam nữ (thường là những đôi đã ngầm kết nhau, tổ chức múa sạp, thi bắn nỏ và bắn súng hỏa mai. Nhiều nơi còn có tục đi săn tập thể vào ngày kết thúc lễ hội. Dưới sự chỉ huy của một người thợ săn giỏi nhất mường, được dân bản bầu lên, mọi người lao mình vào cuộc săn một cách hào hứng. Thú rừng săn được sẽ chia đều cho mọi người cũng như lũ chó tham gia vào cuộc săn... Cứ như thế cuộc vui kéo dài trong 2, 3 ngày. Sau đó, bản nào về bản ấy. Bản nào giàu có, nhiều khả năng vật chất thì mời mo mường, a nha về bản mình, tiếp tục mổ lợn, giết gà tiệc tùng vui vẻ, hoặc tổ chức cầu an cho bản (xên bản) Những trò chơi dân gian trong lễ hội Theo Dulichvietnam

Related Figures

Lễ hội đu Mường Vôi

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 8/1 Âm lịch (lehoi.info)- Cứ 2 năm một lần, vào mùng 7 khai hạ tính theo lịch Mường và là ngày mùng 8 tháng Giêng âm lịch, bà con nhân dân ở khắp các nơi xa gần lại tụ tập về để tham dự lễ hội đu Mường Vôi thuộc xã Liên Vũ, Lạc Sơn, Hòa Bình. Hội đu Mường Vôi đã có trên 100 năm, do chiến tranh, nên hội đu Mường Vôi đã có một thời gian bị gián đoạn và không được tổ chức, nhưng đến nay, hội đu Mường Vôi lại được khôi phục và tổ chức định kỳ với nhiều hoạt động đa dạng và phong phú. Lễ hội đu Mường Vôi Lễ hội gồm có 2 phần: Phần lễ và phần hội. Nét văn hóa, đặc sắc của lễ hội Phần lễ gồm có lễ dâng hương cúng thành hoàng làng, đọc lời khai mạc và đánh trống khai hội. Phần hội có tổ chức ném còn, đánh đu, bắn nỏ, kéo co, đánh mảng, đánh bóng chuyền và đẩy gậy. Đặc biệt, trong lễ hội đu Vôi còn có những nghệ nhân hát đúm, rằng thường để cổ vũ, khích lệ ngày hội và chúc cho mọi người, mọi nhà có một mùa xuân mới an lành, no đủ, và các tiết mục văn nghệ khác. Nghi lễ hạ cột đu vào mùng 7 khai hạ có ý nghĩa hết sức đặc biệt, quan niệm năm nào cột đu đổ vào làng là năm đó cả làng no đủ và mọi sự tốt lành. Đặc sắc lễ hội đu Mường Vôi Đặc biệt lễ hội đu Vôi mang đậm nét bản sắc văn hóa của người dân tộc Mường Vôi nói riêng và của bà con dân tộc Mường ở huyện Lạc Sơn nói chung. Lễ hội được duy trì không những có ý nghĩa to lớn về giá trị văn hóa mà đây còn là dịp để con em quê hương và mọi người dân ở trong Mường tưởng nhớ đến ông bà, tổ tiên và tưởng nhớ tới những người đã có công đi khai dân mở đất. Cái đẹp của lễ hội Đu Mường Vôi là sự giao thoa văn hoá, sự đoàn kết cộng đồng, chung sức, chung lòng xây dựng bản mường ngày càng giàu mạnh hơn.

(lehoi.info)- Cứ 2 năm một lần, vào mùng 7 khai hạ tính theo lịch Mường và là ngày mùng 8 tháng Giêng âm lịch, bà con nhân dân ở khắp các nơi xa gần lại tụ tập về để tham dự lễ hội đu Mường Vôi thuộc xã Liên Vũ, Lạc Sơn, Hòa Bình. Hội đu Mường Vôi đã có trên 100 năm, do chiến tranh, nên hội đu Mường Vôi đã có một thời gian bị gián đoạn và không được tổ chức, nhưng đến nay, hội đu Mường Vôi lại được khôi phục và tổ chức định kỳ với nhiều hoạt động đa dạng và phong phú.

Lễ hội đu Mường Vôi

Lễ hội gồm có 2 phần: Phần lễ và phần hội. Nét văn hóa, đặc sắc của lễ hội Phần lễ gồm có lễ dâng hương cúng thành hoàng làng, đọc lời khai mạc và đánh trống khai hội. Phần hội có tổ chức ném còn, đánh đu, bắn nỏ, kéo co, đánh mảng, đánh bóng chuyền và đẩy gậy. Đặc biệt, trong lễ hội đu Vôi còn có những nghệ nhân hát đúm, rằng thường để cổ vũ, khích lệ ngày hội và chúc cho mọi người, mọi nhà có một mùa xuân mới an lành, no đủ, và các tiết mục văn nghệ khác. Nghi lễ hạ cột đu vào mùng 7 khai hạ có ý nghĩa hết sức đặc biệt, quan niệm năm nào cột đu đổ vào làng là năm đó cả làng no đủ và mọi sự tốt lành. Đặc sắc lễ hội đu Mường Vôi Đặc biệt lễ hội đu Vôi mang đậm nét bản sắc văn hóa của người dân tộc Mường Vôi nói riêng và của bà con dân tộc Mường ở huyện Lạc Sơn nói chung. Lễ hội được duy trì không những có ý nghĩa to lớn về giá trị văn hóa mà đây còn là dịp để con em quê hương và mọi người dân ở trong Mường tưởng nhớ đến ông bà, tổ tiên và tưởng nhớ tới những người đã có công đi khai dân mở đất. Cái đẹp của lễ hội Đu Mường Vôi là sự giao thoa văn hoá, sự đoàn kết cộng đồng, chung sức, chung lòng xây dựng bản mường ngày càng giàu mạnh hơn.

Related Figures

Tổ chức lễ hội Đào Nương

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/2- 6/2 Âm lịch (lehoi.info)- Lễ hội Đào Nương được tổ chức từ ngày mùng 1 đến ngày mùng 6 tháng 2 âm lịch, tại xã Trung Nghĩa (thành phố Hưng Yên) nhằm tưởng nhớ tới bà Đào Thị Huệ, người đã có công trong việc tổ chức nghĩa binh chống giặc nhà Minh vào đầu thế kỷ XV. Quang cảnh lễ hội Đào Nương Theo truyền thuyết kể lại rằng, vào thế kỷ XV, làng Đào Đặng còn là một vùng sình lầy, lau sậy um tùm. Quân giặc không quen phong thổ nên thường sinh bệnh tật và chết vì muỗi độc. Đào Nương (Bà Đào Thị Huệ) đã nghĩ ra kế giết giặc, dùng lời ca, tiếng hát làm cho chúng mê hoặc và lừa chúng chui vào bao gai tránh muỗi đốt, rồi bí mật cùng trai tráng chờ đến đêm khuya khi giặc đã ngủ say, đến khiêng từng bao ném xuống sông. Thấy lực lượng ngày càng hao hụt mà không rõ nguyên nhân, giặc Minh đã sợ hãi rút quân. Sau khi bà mất vua Lê Thái Tổ đã phong cho bà làm "Phúc thần" và cho sửa lại nhà thờ, cấp ruộng cúng tế hàng năm. Vì bà được suy tôn là một trong những vị sư tổ nghề hát chào của nước ta, nên trong những ngày hội làng không thể thiếu được những làn điệu chèo truyền thống cùng với những tiếng "tom, chát" của tiếng trống đế chèo. Đoàn rước kiệu Đào nương từ đền Đào nương đến đình làng Lễ hội gồm có 2 phần: Phần Lễ và Phần Hội Phần Lễ: các nghi thức tế, lễ diễn ra rất trang nghiêm và thành kính. Trong phần nghi lễ, đoàn rước kiệu từ đền bà Đào Nương đến đình làng, đoàn rước kiệu rất đặc biệt, chỉ có phái nữ tham gia vào rước kiệu. Tại đình làng diễn ra các nghi thức lễ và dâng hương. Lễ hội Đào Nương Phần Hội: Phần Hội được tổ chức với những trò chơi dân gian truyền thống như kéo có, cờ tướng, đi cầu kiều, chọi gà…đặc biệt là cuộc thi gói bánh tẻ và thi sàng gạo. Việc tổ chức cuộc thi gói bánh tẻ và thi sàng gạo đã góp phần khơi dậy niềm tự hào của những người dân nơi đây về một phong tục truyền thống của địa phương, đồng thời cũng ý thức cho lớp con cháu hôm nay phải bảo vệ, giữ gìn và phát huy những nghề truyền thống của cha ông từ ngàn đời xưa để lại. lehoi.info tổng hợp

(lehoi.info)- Lễ hội Đào Nương được tổ chức từ ngày mùng 1 đến ngày mùng 6 tháng 2 âm lịch, tại xã Trung Nghĩa (thành phố Hưng Yên) nhằm tưởng nhớ tới bà Đào Thị Huệ, người đã có công trong việc tổ chức nghĩa binh chống giặc nhà Minh vào đầu thế kỷ XV.

Quang cảnh lễ hội Đào Nương

Theo truyền thuyết kể lại rằng, vào thế kỷ XV, làng Đào Đặng còn là một vùng sình lầy, lau sậy um tùm. Quân giặc không quen phong thổ nên thường sinh bệnh tật và chết vì muỗi độc. Đào Nương (Bà Đào Thị Huệ) đã nghĩ ra kế giết giặc, dùng lời ca, tiếng hát làm cho chúng mê hoặc và lừa chúng chui vào bao gai tránh muỗi đốt, rồi bí mật cùng trai tráng chờ đến đêm khuya khi giặc đã ngủ say, đến khiêng từng bao ném xuống sông. Thấy lực lượng ngày càng hao hụt mà không rõ nguyên nhân, giặc Minh đã sợ hãi rút quân. Sau khi bà mất vua Lê Thái Tổ đã phong cho bà làm "Phúc thần" và cho sửa lại nhà thờ, cấp ruộng cúng tế hàng năm. Vì bà được suy tôn là một trong những vị sư tổ nghề hát chào của nước ta, nên trong những ngày hội làng không thể thiếu được những làn điệu chèo truyền thống cùng với những tiếng "tom, chát" của tiếng trống đế chèo.

Đoàn rước kiệu Đào nương từ đền Đào nương đến đình làng

Lễ hội gồm có 2 phần: Phần Lễ và Phần Hội Phần Lễ: các nghi thức tế, lễ diễn ra rất trang nghiêm và thành kính. Trong phần nghi lễ, đoàn rước kiệu từ đền bà Đào Nương đến đình làng, đoàn rước kiệu rất đặc biệt, chỉ có phái nữ tham gia vào rước kiệu. Tại đình làng diễn ra các nghi thức lễ và dâng hương.

Lễ hội Đào Nương

Phần Hội: Phần Hội được tổ chức với những trò chơi dân gian truyền thống như kéo có, cờ tướng, đi cầu kiều, chọi gà…đặc biệt là cuộc thi gói bánh tẻ và thi sàng gạo. Việc tổ chức cuộc thi gói bánh tẻ và thi sàng gạo đã góp phần khơi dậy niềm tự hào của những người dân nơi đây về một phong tục truyền thống của địa phương, đồng thời cũng ý thức cho lớp con cháu hôm nay phải bảo vệ, giữ gìn và phát huy những nghề truyền thống của cha ông từ ngàn đời xưa để lại. lehoi.info tổng hợp

Related Figures

Lễ hội Đền Thiên Hậu

Thông tin thời kỳ

Lễ hội Đền Thiên Hậu mở hội hằng năm vào ngày 23 tháng 3 và ngày mùng 9 tháng 9 (âm lịch), để kỷ niệm ngày sinh và ngày hoá của Lâm Tức Mặc. Lễ hội thu hút đông đảo các dòng họ người dân tộc Hoa ở Phố Hiến và người Việt về để tế lễ. Đền Thiên Hậu Đền Thiên Hậu (Thiên Hậu thượng phố) nằm trên đường Trưng Trắc - phường Quang Trung - Thị xã Hưng Yên được xây dựng vào năm 1640 do 40 dòng họ người Trung Quốc ở Quảng Đông, Quảng Tây và Phúc Kiến quyên góp tiền của để xây dựng nên. Đền Thiên Hậu thờ bà Lâm Tức Mặc, theo “Đại Nam nhất thống chí”, bà là một vị thần biển. Lâm Tức Mặc sinh ngày 23 tháng 3 (âm lịch) là người con gái thứ 6 của Lâm Nguyện, người Bồ Điền, tỉnh Phúc Kiến (Trung Quốc). Tương truyền khi Lâm Tức Mặc ra đời có hương thơm ngào ngạt, và có hào quang rực rỡ. Lâm Tức Mặc rất thông minh, năm lên 8 tuổi đi học tiên, luyện đơn thành chính quả và có thể hô mưa gọi gió, dùng phép màu cưỡi chiếu bay trên biển. Khi dân tình mất mùa đói kém bà đã tìm ra rong biển để ăn thay gạo, mì, mạch, nhờ vậy dân tình đã không còn đói khổ. Bà tìm ra một thứ dầu ma mộc, phun xuống đất mọc thành cây cho hạt ăn thay lúa gạo... Đến ngày mùng 9 tháng 9 âm lịch bà không bệnh mà hoá. Sau khi hoá Bà thường mặc áo màu đỏ bay lượn trên biển để cứu giúp tàu thuyền qua lại. Người dân Phúc Kiến đã tôn bà làm thần Hàng Hải, ở đâu có người dân Phúc Kiến thì ở đó có đền thờ bà. Khi di cư đến Phố Hiến, người dân Phúc Kiến đã lập đền thờ Bà ở phố Bắc Hoà (nay là phố Trưng Trắc). Đền Thiên Hậu là công trình mang đậm màu sắc kiến trúc Trung Hoa trên nhiều hạng mục như: cổng nghi môn, nhà thiêu hương, mái, đao góc và cách kết cấu vì kèo. Tương truyền đền được làm ở Trung Quốc rồi mới mang sang Phố Hiến để cất dựng. Nghi môn được dựng giống như một ngôi nhà, mái lợp ngói ống, kiến trúc các bộ vì kiểu chồng rường, hệ thống cánh cửa khắc hình quan văn võ và người theo hầu. Thềm được lát bằng những tấm đá cuội trải qua mưa gió hàng mấy trăm năm vẫn không bị mòn. Phía trước nghi môn có đôi nghê chầu: con đực ngậm ngọc và con cái ôm con bú, chất liệu bằng đá hoa cương, tạo tác rất sinh động. Viên ngọc được làm tròn, nhẵn và không biết làm cách nào người ta có thể đưa được vào miệng con đực. Đã có câu ca rằng: Ai về tỉnh lỵ Hưng Yên Thăm đền Thiên Hậu đôi bên nghê chầu Con Dương ngậm ngọc Bích Châu Con Âm sữa ngọt một bầu nuôi con. Hai con nghê đá đã nói lên quan niệm sống của người dân Trung Hoa: được của và được con đó là hạnh phúc lớn nhất của cuộc đời. Khu nội tự xây kiểu chữ đinh gồm nhà thiêu hương và hậu cung. Nhà thiêu hương dựng chồng diêm 2 tầng 8 mái, mái lợp bằng ngói ống, đường bờ nóc được trang trí đức phật ngồi trên toà sen, xung quanh có người qua lại. Toàn bộ hệ thống vì được kết cấu theo hình thái đặc biệt với từng chủ đề và tích truyện Trung Quốc như: Tây Du Ký, Tam Quốc… Ngoài ra, ở đây còn trang trí các loại hoa dây, bát mã quần phi và cảnh bốn mùa: Xuân, hạ, thu, đông. Hậu cung gồm 3 gian, kiến trúc kiểu “chồng rường cánh”, trên các đầu dư chạm thành hình con cá chép. Gian hậu cung ngoài thờ Lâm Tức Mặc còn thờ cha mẹ, anh em ruột của Bà và các dòng họ của người Hoa đã có công dựng đền. Hằng năm, Đền Thiên Hậu mở hội vào ngày 23 tháng 3 và ngày mùng 9 tháng 9 (âm lịch) để kỷ niệm ngày sinh và ngày hoá của Lâm Tức Mặc. Đông đảo các dòng họ người dân tộc Hoa ở Phố Hiến và người Việt về để tế lễ. Trong lễ hội tổ chức rước kiệu rất linh đình, lễ vật gồm có bánh rong câu, bánh rùa và bánh Tô Châu… là những sản vật truyền thống của người dân Trung Hoa. Quang cảnh lễ hội đền Thiên Hậu Đền Thiên Hậu là một trong số rất ít những công trình kiến trúc cổ của người Trung Hoa ở Phố Hiến còn bảo lưu cho tới ngày nay. Với mục đích gìn giữ và tuyên truyền quảng bá tới đông đảo quần chúng nhân dân, tỉnh Hưng Yên đã cho trùng tu Đền Thiên Hậu khang trang sạch đẹp và năm 1992 đã được Bộ VHTT công nhận là một di tích kiến trúc nghệ thuật./. Theo BaoHungYen Lễ hội đền Thiên Hậu

Lễ hội Đền Thiên Hậu mở hội hằng năm vào ngày 23 tháng 3 và ngày mùng 9 tháng 9 (âm lịch), để kỷ niệm ngày sinh và ngày hoá của Lâm Tức Mặc. Lễ hội thu hút đông đảo các dòng họ người dân tộc Hoa ở Phố Hiến và người Việt về để tế lễ.

Đền Thiên Hậu

Đền Thiên Hậu (Thiên Hậu thượng phố) nằm trên đường Trưng Trắc - phường Quang Trung - Thị xã Hưng Yên được xây dựng vào năm 1640 do 40 dòng họ người Trung Quốc ở Quảng Đông, Quảng Tây và Phúc Kiến quyên góp tiền của để xây dựng nên. Đền Thiên Hậu thờ bà Lâm Tức Mặc, theo “Đại Nam nhất thống chí”, bà là một vị thần biển. Lâm Tức Mặc sinh ngày 23 tháng 3 (âm lịch) là người con gái thứ 6 của Lâm Nguyện, người Bồ Điền, tỉnh Phúc Kiến (Trung Quốc). Tương truyền khi Lâm Tức Mặc ra đời có hương thơm ngào ngạt, và có hào quang rực rỡ. Lâm Tức Mặc rất thông minh, năm lên 8 tuổi đi học tiên, luyện đơn thành chính quả và có thể hô mưa gọi gió, dùng phép màu cưỡi chiếu bay trên biển. Khi dân tình mất mùa đói kém bà đã tìm ra rong biển để ăn thay gạo, mì, mạch, nhờ vậy dân tình đã không còn đói khổ. Bà tìm ra một thứ dầu ma mộc, phun xuống đất mọc thành cây cho hạt ăn thay lúa gạo... Đến ngày mùng 9 tháng 9 âm lịch bà không bệnh mà hoá. Sau khi hoá Bà thường mặc áo màu đỏ bay lượn trên biển để cứu giúp tàu thuyền qua lại. Người dân Phúc Kiến đã tôn bà làm thần Hàng Hải, ở đâu có người dân Phúc Kiến thì ở đó có đền thờ bà. Khi di cư đến Phố Hiến, người dân Phúc Kiến đã lập đền thờ Bà ở phố Bắc Hoà (nay là phố Trưng Trắc). Đền Thiên Hậu là công trình mang đậm màu sắc kiến trúc Trung Hoa trên nhiều hạng mục như: cổng nghi môn, nhà thiêu hương, mái, đao góc và cách kết cấu vì kèo. Tương truyền đền được làm ở Trung Quốc rồi mới mang sang Phố Hiến để cất dựng. Nghi môn được dựng giống như một ngôi nhà, mái lợp ngói ống, kiến trúc các bộ vì kiểu chồng rường, hệ thống cánh cửa khắc hình quan văn võ và người theo hầu. Thềm được lát bằng những tấm đá cuội trải qua mưa gió hàng mấy trăm năm vẫn không bị mòn. Phía trước nghi môn có đôi nghê chầu: con đực ngậm ngọc và con cái ôm con bú, chất liệu bằng đá hoa cương, tạo tác rất sinh động. Viên ngọc được làm tròn, nhẵn và không biết làm cách nào người ta có thể đưa được vào miệng con đực. Đã có câu ca rằng: Ai về tỉnh lỵ Hưng Yên Thăm đền Thiên Hậu đôi bên nghê chầu Con Dương ngậm ngọc Bích Châu Con Âm sữa ngọt một bầu nuôi con. Hai con nghê đá đã nói lên quan niệm sống của người dân Trung Hoa: được của và được con đó là hạnh phúc lớn nhất của cuộc đời. Khu nội tự xây kiểu chữ đinh gồm nhà thiêu hương và hậu cung. Nhà thiêu hương dựng chồng diêm 2 tầng 8 mái, mái lợp bằng ngói ống, đường bờ nóc được trang trí đức phật ngồi trên toà sen, xung quanh có người qua lại. Toàn bộ hệ thống vì được kết cấu theo hình thái đặc biệt với từng chủ đề và tích truyện Trung Quốc như: Tây Du Ký, Tam Quốc… Ngoài ra, ở đây còn trang trí các loại hoa dây, bát mã quần phi và cảnh bốn mùa: Xuân, hạ, thu, đông. Hậu cung gồm 3 gian, kiến trúc kiểu “chồng rường cánh”, trên các đầu dư chạm thành hình con cá chép. Gian hậu cung ngoài thờ Lâm Tức Mặc còn thờ cha mẹ, anh em ruột của Bà và các dòng họ của người Hoa đã có công dựng đền. Hằng năm, Đền Thiên Hậu mở hội vào ngày 23 tháng 3 và ngày mùng 9 tháng 9 (âm lịch) để kỷ niệm ngày sinh và ngày hoá của Lâm Tức Mặc. Đông đảo các dòng họ người dân tộc Hoa ở Phố Hiến và người Việt về để tế lễ. Trong lễ hội tổ chức rước kiệu rất linh đình, lễ vật gồm có bánh rong câu, bánh rùa và bánh Tô Châu… là những sản vật truyền thống của người dân Trung Hoa.

Quang cảnh lễ hội đền Thiên Hậu

Đền Thiên Hậu là một trong số rất ít những công trình kiến trúc cổ của người Trung Hoa ở Phố Hiến còn bảo lưu cho tới ngày nay. Với mục đích gìn giữ và tuyên truyền quảng bá tới đông đảo quần chúng nhân dân, tỉnh Hưng Yên đã cho trùng tu Đền Thiên Hậu khang trang sạch đẹp và năm 1992 đã được Bộ VHTT công nhận là một di tích kiến trúc nghệ thuật./. Theo BaoHungYen

Lễ hội đền Thiên Hậu

Related Figures

Lễ hội đánh cá suối Tháng ba

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/3- 30/3 Âm lịch (lehoi.info) - Lễ hội đánh cá suối Tháng ba được tổ chức vào khoảng tháng 3 âm lịch hàng năm, tại xã Lỗ Sơn, Tân Lạc, Hòa Bình. Lễ hội là dịp để những người dân bảy tỏ sự tôn kính đối với các vị thần linh, đồng thời cũng là cơ hội để người dân vui chơi và thắt chặt thêm tình đoàn kết cộng đồng. Lễ hội này cũng mang ý nghĩa tuyên truyền sâu rộng tới người dân trong việc bảo vệ môi trường sinh thái và tài nguyên thiên nhiên. Nghi lễ cúng thần Linh và Thành Hoàng làng trước khi bắt đầu Lễ hội. Lễ hội đánh cá Tháng ba thường tổ chức khi bắt đầu vào mùa mưa, thời điểm này cá đã lớn tránh được mùa cá sinh sản. Trước đây khi còn chế độ Nhà Lang, có quy định các khoang cá (khúc suối có cá), định ra khoang cá của nhà Lang và khoang cá của dân làng. Khoang cá của nhà Lang là khoang suối có rất nhiều cá và không một ai được phép đánh bắt, nếu ai vi phạm thì sẽ bị nhà Lang phạt rất nặng, có thể là phạt trâu, phạt lợn, hay một hình thức phạt nào đó do nhà Lang đặt ra. Mỗi năm nhà Lang chỉ tổ chức đánh cá một lần, không có sự ấn định về ngày, tháng, mà tuỳ thuộc vào thời tiết hàng năm nhưng thường là được tổ chức vào khoảng tháng 3 âm lịch. Khi tổ chức đánh cá, nhà Lang sẽ thông báo cho các Ậu biết và chuẩn bị lực lượng khi đánh cá, các Ậu đuổi cá, sau đó sai những người giúp việc đánh bắt cá cho Lang. Khi đánh bắt được cá, nhà Lang lựa chọn ra những con to nhất và ngon nhất, mời thầy cúng đến để làm lễ, mục đích là nhằm tạ ơn thần linh đã phù trợ cho mường có được một năm no đủ và cầu mong năm sau cá dưới suối sẽ nhiều hơn, con thú trên rừng sẽ đông hơn để cuộc sống của người dân mường bớt đi vất vả. Khi lễ cúng ở nhà Lang đã hoàn tất, nhà Lang sẽ chia cho dân một ít (chủ yếu là cho những người đã tham gia đánh bắt cá cho Lang), số còn lại dùng để tổ chức ăn uống ở tại nhà Lang, chỉ có Lang và các Ậu mới được ăn uống tại nhà Lang. Sau khi nhà Làng tổ chức lễ hội đánh cá ở tại Khoang cá của nhà Lang thì lúc này nhân dân trong vùng mới được tổ chức đánh cá tại Khoang của dân làng. Theo quy định, mỗi gia đình sẽ cử một người đàn ông tham gia đánh cá, số cá đánh được, một phần sẽ được đem cúng tại Miếu thờ Thành Hoàng làng, sau khi cúng xong sẽ tổ chức ăn uống luôn ở tại miếu thờ của làng, mời quan Lang, Ậu và các chức sắc trong làng tham gia, những người dân tham gia đánh bắt cá cũng được mời ăn. Số cá còn lại, Lang, Ậu cho phép dân làng chia nhau đem về ăn. Người dân các vùng lân cận cũng có thể đến đây đánh bắt cá, nhưng phải nộp lại một phần cho Lang ở vùng này. Trước đây là lễ hội chỉ có quy mô nhỏ của một làng, nghi trình tổ chức lễ hội chưa thật rõ nét, phần lễ thì tương đối đơn giản, phần hội thì cũng không lớn, theo các cụ kể lại thì chủ yếu là việc tổ chức ăn uống. Tuy thế, Lễ hội đánh cá lại biểu hiện những nét đặc trưng trong sinh hoạt của đồng bào dân tộc Mường thời xưa, vừa đơn giản, vừa mộc mạc nhưng lại mang tính cộng đồng cao. Lễ hội đánh cá suối Tháng ba ngày nay được chia thành hai phần: Phần Lễ và Phần Hội Mở đầu là phần Lễ diễn ra trang trọng ở tại miếu thờ xóm Tân Vượng. Thầy mo làm lễ cúng các thần linh phù hộ cho một năm mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu, người dân mạnh khỏe và gặp nhiều may mắn. Sau đó, 4 thanh niên khỏe mạnh sẽ khiêng bè (mảng) ra suối, chọn một người có uy tín đại diện của xóm, của xã thực hiện quăng mẻ chài đầu tiên. Theo quan niệm của người dân ở đây, mẻ chài này mà bắt được cá ngay thì trong năm việc đánh bắt sẽ thuận tiện và cũng chứng tỏ suối của bản có rất nhiều tôm cá. Phần hội được diễn ra tại 3 khoang suối lớn là khoang Trớ, Lở và Ích của suối cái Lỗ Sơn với các nội dung phong phú như: phần thi đua bè của hàng trăm thanh niên các xóm; phần thi đánh bắt tập thể có cả nam giới và phụ nữ cùng tham gia… Phần hội thu hút nhiều người tham gia Thời gian lễ hội đánh bắt cá suối được tổ chức từ 3 đến 5 ngày. Người dân sẽ lần lượt tập trung đánh bắt từ khoang dưới lên khoang trên. Mỗi khi có người nào bắt được cá to, hàng trăm người đánh bắt trên khoang sẽ cùng nhau hò reo, chúc mừng, vui vẻ. Lễ hội đánh cá suối Tháng ba thu hút đông đảo người dân tham gia Lễ hội đánh cá suối tháng ba được tổ chức trong không khí rộn ràng và vui tươi; nét văn hóa và những giá trị truyền thống độc đáo của dân tộc Mường nơi đây…để lại trong lòng người dân và hàng nghìn du khách đến tham dự những ấn tượng đẹp khó quên./.

(lehoi.info) - Lễ hội đánh cá suối Tháng ba được tổ chức vào khoảng tháng 3 âm lịch hàng năm, tại xã Lỗ Sơn, Tân Lạc, Hòa Bình. Lễ hội là dịp để những người dân bảy tỏ sự tôn kính đối với các vị thần linh, đồng thời cũng là cơ hội để người dân vui chơi và thắt chặt thêm tình đoàn kết cộng đồng. Lễ hội này cũng mang ý nghĩa tuyên truyền sâu rộng tới người dân trong việc bảo vệ môi trường sinh thái và tài nguyên thiên nhiên.

Nghi lễ cúng thần Linh và Thành Hoàng làng trước khi bắt đầu Lễ hội.

Lễ hội đánh cá Tháng ba thường tổ chức khi bắt đầu vào mùa mưa, thời điểm này cá đã lớn tránh được mùa cá sinh sản. Trước đây khi còn chế độ Nhà Lang, có quy định các khoang cá (khúc suối có cá), định ra khoang cá của nhà Lang và khoang cá của dân làng. Khoang cá của nhà Lang là khoang suối có rất nhiều cá và không một ai được phép đánh bắt, nếu ai vi phạm thì sẽ bị nhà Lang phạt rất nặng, có thể là phạt trâu, phạt lợn, hay một hình thức phạt nào đó do nhà Lang đặt ra. Mỗi năm nhà Lang chỉ tổ chức đánh cá một lần, không có sự ấn định về ngày, tháng, mà tuỳ thuộc vào thời tiết hàng năm nhưng thường là được tổ chức vào khoảng tháng 3 âm lịch. Khi tổ chức đánh cá, nhà Lang sẽ thông báo cho các Ậu biết và chuẩn bị lực lượng khi đánh cá, các Ậu đuổi cá, sau đó sai những người giúp việc đánh bắt cá cho Lang. Khi đánh bắt được cá, nhà Lang lựa chọn ra những con to nhất và ngon nhất, mời thầy cúng đến để làm lễ, mục đích là nhằm tạ ơn thần linh đã phù trợ cho mường có được một năm no đủ và cầu mong năm sau cá dưới suối sẽ nhiều hơn, con thú trên rừng sẽ đông hơn để cuộc sống của người dân mường bớt đi vất vả. Khi lễ cúng ở nhà Lang đã hoàn tất, nhà Lang sẽ chia cho dân một ít (chủ yếu là cho những người đã tham gia đánh bắt cá cho Lang), số còn lại dùng để tổ chức ăn uống ở tại nhà Lang, chỉ có Lang và các Ậu mới được ăn uống tại nhà Lang. Sau khi nhà Làng tổ chức lễ hội đánh cá ở tại Khoang cá của nhà Lang thì lúc này nhân dân trong vùng mới được tổ chức đánh cá tại Khoang của dân làng. Theo quy định, mỗi gia đình sẽ cử một người đàn ông tham gia đánh cá, số cá đánh được, một phần sẽ được đem cúng tại Miếu thờ Thành Hoàng làng, sau khi cúng xong sẽ tổ chức ăn uống luôn ở tại miếu thờ của làng, mời quan Lang, Ậu và các chức sắc trong làng tham gia, những người dân tham gia đánh bắt cá cũng được mời ăn. Số cá còn lại, Lang, Ậu cho phép dân làng chia nhau đem về ăn. Người dân các vùng lân cận cũng có thể đến đây đánh bắt cá, nhưng phải nộp lại một phần cho Lang ở vùng này. Trước đây là lễ hội chỉ có quy mô nhỏ của một làng, nghi trình tổ chức lễ hội chưa thật rõ nét, phần lễ thì tương đối đơn giản, phần hội thì cũng không lớn, theo các cụ kể lại thì chủ yếu là việc tổ chức ăn uống. Tuy thế, Lễ hội đánh cá lại biểu hiện những nét đặc trưng trong sinh hoạt của đồng bào dân tộc Mường thời xưa, vừa đơn giản, vừa mộc mạc nhưng lại mang tính cộng đồng cao. Lễ hội đánh cá suối Tháng ba ngày nay được chia thành hai phần: Phần Lễ và Phần Hội Mở đầu là phần Lễ diễn ra trang trọng ở tại miếu thờ xóm Tân Vượng. Thầy mo làm lễ cúng các thần linh phù hộ cho một năm mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu, người dân mạnh khỏe và gặp nhiều may mắn. Sau đó, 4 thanh niên khỏe mạnh sẽ khiêng bè (mảng) ra suối, chọn một người có uy tín đại diện của xóm, của xã thực hiện quăng mẻ chài đầu tiên. Theo quan niệm của người dân ở đây, mẻ chài này mà bắt được cá ngay thì trong năm việc đánh bắt sẽ thuận tiện và cũng chứng tỏ suối của bản có rất nhiều tôm cá. Phần hội được diễn ra tại 3 khoang suối lớn là khoang Trớ, Lở và Ích của suối cái Lỗ Sơn với các nội dung phong phú như: phần thi đua bè của hàng trăm thanh niên các xóm; phần thi đánh bắt tập thể có cả nam giới và phụ nữ cùng tham gia… Phần hội thu hút nhiều người tham gia Thời gian lễ hội đánh bắt cá suối được tổ chức từ 3 đến 5 ngày. Người dân sẽ lần lượt tập trung đánh bắt từ khoang dưới lên khoang trên. Mỗi khi có người nào bắt được cá to, hàng trăm người đánh bắt trên khoang sẽ cùng nhau hò reo, chúc mừng, vui vẻ. Lễ hội đánh cá suối Tháng ba thu hút đông đảo người dân tham gia Lễ hội đánh cá suối tháng ba được tổ chức trong không khí rộn ràng và vui tươi; nét văn hóa và những giá trị truyền thống độc đáo của dân tộc Mường nơi đây…để lại trong lòng người dân và hàng nghìn du khách đến tham dự những ấn tượng đẹp khó quên./.

Related Figures

Tết cơm Đe Mường Rậm

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 26/10 Âm lịch Hàng năm, cứ đến ngày 26 tháng 10 âm lịch, những người dân Mường Rậm, xã Lạc Thịnh, Yên Thủy, Hòa Bình lại gác công việc đồng áng, ruộng nương thường ngày để tất bật chuẩn bị đón Tết cơm Đe. Người dân Mường Rậm ở Lạc Thịnh thường ăn ba cái tết lớn là Tết Nguyên đán, Tết Độc lập và Tết cơm Đe, trong đó Tết cơm Đe được tổ chức to hơn, đông hơn và vui hơn cả vì cả nước duy chỉ có xã Lạc Thịnh mới có cái tết độc đáo này. Độc đáo Tết cơm Đe Mường Rậm ở tỉnh Hòa Bình Nét độc đáo trong Tết cơm Đe của người dân Mường Rậm là ăn chay và chỉ có phần lễ. Trong mâm cúng, bao giờ cũng phải có quả đu đủ, quả mướp và măng giang lấy từ rừng về đồ lên hoặc luộc chín, vừng rang giã nhỏ không cho muối hay bất kỳ loại gia vị nào. Món đặc biệt không thể thiếu trong mâm cúng đó là cơm Đe. Cơm được làm từ gạo nếp nhưng phải là loại gạo ngon, đồ lên rồi trộn ủ với men lá cây rừng. Để có cơm Đe vừa ngon, vừa ngọt, lại vừa đậm đà, người dân Mường Rậm phải chuẩn bị trước đó vài ngày, thường là từ ngày 20 tháng 10 âm lịch. Những người con của quê hương dù đi công tác, làm ăn, sinh sống ở nơi xa đều cố gắng thu xếp công việc để về thưởng thức Tết cơm Đe. Trong vùng, chỉ có dòng họ Bùi làm Tết cơm Đe, còn các dòng họ khác như Quách, Nguyễn... thì không làm mà sẽ đến để chia vui. Để chuẩn bị cho mâm cúng tết được chu tất, ngay từ tờ mờ sáng, gia đình đã dậy, để chuẩn bị bày mâm cúng. Mâm cơm đe của người Mường Rậm Theo quan niệm của người dân Mường Rậm, phải cúng trước khi mặt trời mọc, vì thời gian này là linh thiêng và mát mẻ hơn cả. Mâm cúng được đặt ở hướng chính giữa của ngôi nhà sàn (đặt mấy mâm là tùy vào từng gia đình). Măng giang, đu đủ và mướp được đồ chín bày lên tàu lá chuối xanh. Sau khi sắp lễ xong, một ông thầy mo có uy tín nhất ở trong làng được mời đến cúng, cầu cho mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu, vạn vật tốt tươi và con người khỏe mạnh. Trong khi cúng, tất cả các con cháu phải ngồi ở phía trong ngôi nhà sàn để nghe và xem thầy làm lễ. Khi bài cúng kết thúc thì cũng là lúc cả gia đình tổ chức ăn Tết trong sáng sớm, từ người già đến trẻ nhỏ đều thưởng thức cơm Đe để được may mắn và mạnh khỏe. Các cụ già trong Mường kể lại rằng, từ thời xa xưa, không ai còn nhớ là vào thời gian nào, có một vị tướng đã đem quân đi đánh giặc phương Bắc. Trận ấy ông thua và không may đã bị thương. Ông cùng tùy tùng phải vượt qua núi Trường Sơn để chạy về vùng Yên Thủy. Đến khu vực xã Lạc Thịnh thì trời đã chuyển sang ngày 26/10 âm lịch. Vị tướng này đã vào nhà của một người dân tộc Mường xin nghỉ lại. Trời lúc này chưa sáng hẳn, nhà nghèo quanh năm nên chẳng có ngô, có gạo cũng không có thứ gì gọi là thực phẩm. Chủ nhà đành luộc bí xanh, đu đủ và vài chiếc măng giang đang chỏng chơ trong góc bếp nhà sàn để vị tướng và tùy tùng ăn qua bữa. Đang ăn những thứ đó với vừng rang giã nhỏ không có muối (ngày xưa muối trên miền núi rất hiếm), thì chủ nhà chợt nhớ ra là còn có ít cơm Đe đang ủ, chuẩn bị nấu rượu dùng vào Tết Nguyên đán nên vội lấy ra mời. Nó không còn là cơm nữa nhưng cũng chưa phải là rượu, xưa nay ở đây không ai ăn. Sáng hôm sau, trước khi đi, xúc động trước tấm lòng của những người dân nơi đây và thương người dân nghèo đói, vì vùng này thường xuyên xảy ra hạn hán... vị tướng đã lập đàn cúng thần cầu mưa. Thật linh thiêng, vừa cúng xong thì trời đổ mưa khiến cho người dân vui mừng. Từ đó đến nay, cứ gần đến ngày 26/10 âm lịch vùng đất Mường Rậm lại có mưa, không to thì nhỏ. Ngày nay bà con Mường Rậm còn làm bánh chưng để cúng trong lễ cơm Đe Nhớ ơn vị tướng đánh giặc cứu nước lại còn lập đàn cầu mưa cho dân lành ở vùng hạn hán, hàng năm người dân tộc Mường ở đây lấy ngày 26/10 làm Tết cơm Đe. Vật cúng trong mâm không ngoài những thứ đã tiếp vị tướng năm nào, nhất là cơm Đe (loại cơm ủ men từ lá cây rừng để nấu rượu), một thứ không thể thiếu. Ngày nay khi cuộc sống đã khá dần lên, người dân Mường Rậm ở xã Lạc Thịnh, Yên Thủy, Hòa Bình đã no ấm và càng coi trọng Tết cơm Đe. Ai đã từng đặt chân đến vùng đất này, thưởng thức món cơm Đe chắc hẳn không thể quên được hương vị độc đáo của nó và càng không thể quên tấm lòng hiếu khách của bà con nơi đây. Đó là nét văn hóa truyền thống lâu đời của người dân tộc Mường Rậm, cần được quan tâm bảo tồn và phát huy. Theo: Báo Tin Tức/Vietnam+

Hàng năm, cứ đến ngày 26 tháng 10 âm lịch, những người dân Mường Rậm, xã Lạc Thịnh, Yên Thủy, Hòa Bình lại gác công việc đồng áng, ruộng nương thường ngày để tất bật chuẩn bị đón Tết cơm Đe. Người dân Mường Rậm ở Lạc Thịnh thường ăn ba cái tết lớn là Tết Nguyên đán, Tết Độc lập và Tết cơm Đe, trong đó Tết cơm Đe được tổ chức to hơn, đông hơn và vui hơn cả vì cả nước duy chỉ có xã Lạc Thịnh mới có cái tết độc đáo này.

Độc đáo Tết cơm Đe Mường Rậm ở tỉnh Hòa Bình

Nét độc đáo trong Tết cơm Đe của người dân Mường Rậm là ăn chay và chỉ có phần lễ. Trong mâm cúng, bao giờ cũng phải có quả đu đủ, quả mướp và măng giang lấy từ rừng về đồ lên hoặc luộc chín, vừng rang giã nhỏ không cho muối hay bất kỳ loại gia vị nào. Món đặc biệt không thể thiếu trong mâm cúng đó là cơm Đe. Cơm được làm từ gạo nếp nhưng phải là loại gạo ngon, đồ lên rồi trộn ủ với men lá cây rừng. Để có cơm Đe vừa ngon, vừa ngọt, lại vừa đậm đà, người dân Mường Rậm phải chuẩn bị trước đó vài ngày, thường là từ ngày 20 tháng 10 âm lịch. Những người con của quê hương dù đi công tác, làm ăn, sinh sống ở nơi xa đều cố gắng thu xếp công việc để về thưởng thức Tết cơm Đe. Trong vùng, chỉ có dòng họ Bùi làm Tết cơm Đe, còn các dòng họ khác như Quách, Nguyễn... thì không làm mà sẽ đến để chia vui. Để chuẩn bị cho mâm cúng tết được chu tất, ngay từ tờ mờ sáng, gia đình đã dậy, để chuẩn bị bày mâm cúng. Mâm cơm đe của người Mường Rậm Theo quan niệm của người dân Mường Rậm, phải cúng trước khi mặt trời mọc, vì thời gian này là linh thiêng và mát mẻ hơn cả. Mâm cúng được đặt ở hướng chính giữa của ngôi nhà sàn (đặt mấy mâm là tùy vào từng gia đình). Măng giang, đu đủ và mướp được đồ chín bày lên tàu lá chuối xanh. Sau khi sắp lễ xong, một ông thầy mo có uy tín nhất ở trong làng được mời đến cúng, cầu cho mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu, vạn vật tốt tươi và con người khỏe mạnh. Trong khi cúng, tất cả các con cháu phải ngồi ở phía trong ngôi nhà sàn để nghe và xem thầy làm lễ. Khi bài cúng kết thúc thì cũng là lúc cả gia đình tổ chức ăn Tết trong sáng sớm, từ người già đến trẻ nhỏ đều thưởng thức cơm Đe để được may mắn và mạnh khỏe. Các cụ già trong Mường kể lại rằng, từ thời xa xưa, không ai còn nhớ là vào thời gian nào, có một vị tướng đã đem quân đi đánh giặc phương Bắc. Trận ấy ông thua và không may đã bị thương. Ông cùng tùy tùng phải vượt qua núi Trường Sơn để chạy về vùng Yên Thủy. Đến khu vực xã Lạc Thịnh thì trời đã chuyển sang ngày 26/10 âm lịch. Vị tướng này đã vào nhà của một người dân tộc Mường xin nghỉ lại. Trời lúc này chưa sáng hẳn, nhà nghèo quanh năm nên chẳng có ngô, có gạo cũng không có thứ gì gọi là thực phẩm. Chủ nhà đành luộc bí xanh, đu đủ và vài chiếc măng giang đang chỏng chơ trong góc bếp nhà sàn để vị tướng và tùy tùng ăn qua bữa. Đang ăn những thứ đó với vừng rang giã nhỏ không có muối (ngày xưa muối trên miền núi rất hiếm), thì chủ nhà chợt nhớ ra là còn có ít cơm Đe đang ủ, chuẩn bị nấu rượu dùng vào Tết Nguyên đán nên vội lấy ra mời. Nó không còn là cơm nữa nhưng cũng chưa phải là rượu, xưa nay ở đây không ai ăn. Sáng hôm sau, trước khi đi, xúc động trước tấm lòng của những người dân nơi đây và thương người dân nghèo đói, vì vùng này thường xuyên xảy ra hạn hán... vị tướng đã lập đàn cúng thần cầu mưa. Thật linh thiêng, vừa cúng xong thì trời đổ mưa khiến cho người dân vui mừng. Từ đó đến nay, cứ gần đến ngày 26/10 âm lịch vùng đất Mường Rậm lại có mưa, không to thì nhỏ. Ngày nay bà con Mường Rậm còn làm bánh chưng để cúng trong lễ cơm Đe Nhớ ơn vị tướng đánh giặc cứu nước lại còn lập đàn cầu mưa cho dân lành ở vùng hạn hán, hàng năm người dân tộc Mường ở đây lấy ngày 26/10 làm Tết cơm Đe. Vật cúng trong mâm không ngoài những thứ đã tiếp vị tướng năm nào, nhất là cơm Đe (loại cơm ủ men từ lá cây rừng để nấu rượu), một thứ không thể thiếu. Ngày nay khi cuộc sống đã khá dần lên, người dân Mường Rậm ở xã Lạc Thịnh, Yên Thủy, Hòa Bình đã no ấm và càng coi trọng Tết cơm Đe. Ai đã từng đặt chân đến vùng đất này, thưởng thức món cơm Đe chắc hẳn không thể quên được hương vị độc đáo của nó và càng không thể quên tấm lòng hiếu khách của bà con nơi đây. Đó là nét văn hóa truyền thống lâu đời của người dân tộc Mường Rậm, cần được quan tâm bảo tồn và phát huy. Theo: Báo Tin Tức/Vietnam+

Related Figures

Lễ hội làng Vai

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 11/11- 13/11 Âm lịch Đã thành thông lệ, hàng năm, khi năm cũ chuẩn bị qua đi, một năm mới sắp đến cũng là lúc nhân dân làng Vai xã Thanh Nông, huyện Lạc Thuỷ, tỉnh Hòa Bình nao nức và xôn xao hòa mình vào không khí ấm áp của ngày hội làng truyền thống.Ngày hội truyền thống của làng được bắt đầu từ ngày 11 đến hết ngày 13 tháng 11 hàng năm ở tại đình và đền làng Vai. Hội làng là dịp để nhân dân làng Vai tỏ lòng thành kính và nhớ ơn tới Tam vị Tản Viên Sơn và Cảnh Tiên Công chúa, cảm ơn các vị thần linh đã phù hộ cho họ một năm yên bình, ấm no và hạnh phúc. Ngày này, những người con của làng dù đi đâu xa cũng về với ngày hội truyền thống của làng còn là dịp để mọi người đoàn tụ, thắt chặt tình người, tình quê hương, tình làng xóm. Vẻ đẹp làng Vai Hòa Bình Hội được chia thành 2 phần, phần lễ và phần hội. Phần lễ được tiến hành rất uy nghi và trang trọng, những nghi thức trong phần lễ vẫn được người dân truyền giữ và vun đắp từ đời này sang đời khác, phần hội thì đã bị mai một đi nhiều. Làng Vai gồm có 2 giáp, được chia thành giáp trong và giáp ngoài, đứng đầu mỗi giáp có giáp trưởng, trong ngày 11, dân làng sẽ tổ chức đưa kiệu đến nhà trưởng hàng giáp để rước sắc về đình thờ. Đi đầu là kiệu đặt bài vị của thần thành hoàng làng, đi sau là kiệu hoa quả, xôi, gạo và bánh chưng…. Đi sau cỗ kiệu có tàn lọng, đao, mũ và bia rất long trọng. Đi trước kiệu có đội múa sinh tiền, rồng bay, phượng múa có gươm trùng, bát bửu và bát tiên 2 hàng uy nghi. Sau khi rước sắc về đình thờ, dân làng lại tổ chức rước cỗ (gọi là cỗ đốn) của các gia đình có cụ cao tuổi hoặc những người có chức sắc ở trong xóm đến đình thờ và tổ chức thi cỗ, cỗ nhà ai to nhất, ngon nhất và đẹp nhất được đặt ở bàn thứ nhất và cứ như vậy, cỗ nhà ai kém hơn thì đặt ở bàn nhì và bàn ba. Không khí rộn ràng của lễ hội làng Vai Ngay trong buổi chiều ngày 11, khi các nghi thức của buổi lễ đang tiến hành thì các hoạt động vui hội cũng được bắt đầu ở sân nhà văn hóa của làng nằm ở phía sau đình. Các trò chơi dân gian như bịt mắt bắt dê, kéo co, đánh cờ người và tổ chức giao lưu bóng chuyền giữa các đội bóng trong xã… Buổi tối dân làng lại tổ chức biểu diễn và giao lưu văn nghệ giữa các đội văn nghệ ở các vùng lân cận với các chủ đề ca ngợi Đảng, ca ngợi Bác Hồ và tình yêu quê hương đất nước đổi mới. Ngày 12 là ngày chính hội. Buổi sáng thì tổ chức rước cỗ lễ hàng giáp về đình thờ. Ngày này, cả dân làng tập trung đông ở tại đình làng để tham dự lễ hội. Trong buổi lễ, ông lang (ông Từ) làm chủ tế. Sau buổi lễ lý trưởng (trưởng thôn) đọc hương ước của làng để nhân dân nghe và thực hiện trong năm mới. Buổi chiều tiếp tục mở hội, các thanh niên nam nữ ở trong làng tổ chức các trò chơi như buổi chiều ngày 11 và được kết thúc vào ngày 13. Những hoạt động sinh hoạt văn hóa trong lễ hội Sự ấm áp trong những ngày hội làng với lưu giữ nét đẹp văn hóa đặc sắc cổ truyền là những bài học lịch sử thực tế, hiệu quả nhất cho thế hệ trẻ, cũng là dịp để nhân thêm niềm tự hào, tự tôn dân tộc, giáo dục con cháu nhớ về quê hương, nhớ về nguồn cội. Hội làng Vai đã trở thành một nét đẹp văn hóa giàu ý nghĩa, như một mạch ngầm chảy mãi, bừng lên sức sống, bản sắc của quê hương làng Vai. Theo Báo Hòa Bình

Đã thành thông lệ, hàng năm, khi năm cũ chuẩn bị qua đi, một năm mới sắp đến cũng là lúc nhân dân làng Vai xã Thanh Nông, huyện Lạc Thuỷ, tỉnh Hòa Bình nao nức và xôn xao hòa mình vào không khí ấm áp của ngày hội làng truyền thống.Ngày hội truyền thống của làng được bắt đầu từ ngày 11 đến hết ngày 13 tháng 11 hàng năm ở tại đình và đền làng Vai. Hội làng là dịp để nhân dân làng Vai tỏ lòng thành kính và nhớ ơn tới Tam vị Tản Viên Sơn và Cảnh Tiên Công chúa, cảm ơn các vị thần linh đã phù hộ cho họ một năm yên bình, ấm no và hạnh phúc. Ngày này, những người con của làng dù đi đâu xa cũng về với ngày hội truyền thống của làng còn là dịp để mọi người đoàn tụ, thắt chặt tình người, tình quê hương, tình làng xóm.

Vẻ đẹp làng Vai Hòa Bình

Hội được chia thành 2 phần, phần lễ và phần hội. Phần lễ được tiến hành rất uy nghi và trang trọng, những nghi thức trong phần lễ vẫn được người dân truyền giữ và vun đắp từ đời này sang đời khác, phần hội thì đã bị mai một đi nhiều. Làng Vai gồm có 2 giáp, được chia thành giáp trong và giáp ngoài, đứng đầu mỗi giáp có giáp trưởng, trong ngày 11, dân làng sẽ tổ chức đưa kiệu đến nhà trưởng hàng giáp để rước sắc về đình thờ. Đi đầu là kiệu đặt bài vị của thần thành hoàng làng, đi sau là kiệu hoa quả, xôi, gạo và bánh chưng…. Đi sau cỗ kiệu có tàn lọng, đao, mũ và bia rất long trọng. Đi trước kiệu có đội múa sinh tiền, rồng bay, phượng múa có gươm trùng, bát bửu và bát tiên 2 hàng uy nghi. Sau khi rước sắc về đình thờ, dân làng lại tổ chức rước cỗ (gọi là cỗ đốn) của các gia đình có cụ cao tuổi hoặc những người có chức sắc ở trong xóm đến đình thờ và tổ chức thi cỗ, cỗ nhà ai to nhất, ngon nhất và đẹp nhất được đặt ở bàn thứ nhất và cứ như vậy, cỗ nhà ai kém hơn thì đặt ở bàn nhì và bàn ba. Không khí rộn ràng của lễ hội làng Vai Ngay trong buổi chiều ngày 11, khi các nghi thức của buổi lễ đang tiến hành thì các hoạt động vui hội cũng được bắt đầu ở sân nhà văn hóa của làng nằm ở phía sau đình. Các trò chơi dân gian như bịt mắt bắt dê, kéo co, đánh cờ người và tổ chức giao lưu bóng chuyền giữa các đội bóng trong xã… Buổi tối dân làng lại tổ chức biểu diễn và giao lưu văn nghệ giữa các đội văn nghệ ở các vùng lân cận với các chủ đề ca ngợi Đảng, ca ngợi Bác Hồ và tình yêu quê hương đất nước đổi mới. Ngày 12 là ngày chính hội. Buổi sáng thì tổ chức rước cỗ lễ hàng giáp về đình thờ. Ngày này, cả dân làng tập trung đông ở tại đình làng để tham dự lễ hội. Trong buổi lễ, ông lang (ông Từ) làm chủ tế. Sau buổi lễ lý trưởng (trưởng thôn) đọc hương ước của làng để nhân dân nghe và thực hiện trong năm mới. Buổi chiều tiếp tục mở hội, các thanh niên nam nữ ở trong làng tổ chức các trò chơi như buổi chiều ngày 11 và được kết thúc vào ngày 13. Những hoạt động sinh hoạt văn hóa trong lễ hội Sự ấm áp trong những ngày hội làng với lưu giữ nét đẹp văn hóa đặc sắc cổ truyền là những bài học lịch sử thực tế, hiệu quả nhất cho thế hệ trẻ, cũng là dịp để nhân thêm niềm tự hào, tự tôn dân tộc, giáo dục con cháu nhớ về quê hương, nhớ về nguồn cội. Hội làng Vai đã trở thành một nét đẹp văn hóa giàu ý nghĩa, như một mạch ngầm chảy mãi, bừng lên sức sống, bản sắc của quê hương làng Vai. Theo Báo Hòa Bình

Related Figures

Lễ hội Phủ Thượng Đoạn

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/3- 15/3 Âm lịch Phủ Thượng Đoạn thờ Mẫu, là một trong “ Tứ linh từ ” theo tín ngưỡng của nhân dân Việt Nam. Phủ Thượng Đoạn tọa lạc trên địa phận phường Đông Hải, thuộc Quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Hàng năm, cứ đến tháng 3 âm lịch, lễ hội truyền thống Phủ Thượng Đoạn là được người dân tổ chức linh đình. Lễ hội Phủ Thượng Đoạn được tổ chức cách 1 năm tổ chức 1 lần. Ngày mồng 1 là ngày bắt đầu vào hội, bắt đầu bằng tế lễ nhập tịch do nhân dân làng thượng Đoạn cử hành. Trước ngày nhập tịch 1 ngày, ban tổ chức lễ sẽ dùng lễ trầu, xôi, gà, rượu làm lễ cáo yết , sau đó dùng nước thơm để tắm thần vị, tắm xong phải lau phủ bằng nước trầm hương thêm một lượt nữa, đó gọi là lễ mộc dục. Tắm xong tượng thần xong sẽ phong áo mũ đại trào, cũng có bằng giấy, cũng có thể bằng giấy, tế xong một tuần, được gọi là tế gia quan. Ngày mồng 2 hợp tế của 3 xã là Vạn Mỹ, Đoạn Xá và Thượng Đoạn. Tối ngày mồng 2 tổng Hạ Đoạn sẽ cử ra một đoàn chức sắc, lão hạng và chức dịch để thực hiện lễ yết. Ngày mồng 3 sẽ tế hàng huyện vì đây được xem là một trong những ngũ linh của huyện An Dương. Ngày mồng 4 sẽ đóng cửa Phủ, cho đến hết ngày mồng 7. Cổng chính Phủ Thượng Đoạn Hải Phòng Ngày mồng 8 lại mở cửa đền từ sáng sớm, lễ hội lại tiếp diễn, nghi thức tế lễ được tổ chức giống lần trước. Đặc biệt là vào buổi sáng ngày 11, sẽ cử hành đám rước thần tượng chúa Liễu, xuất phát từ Phủ Thượng Đoạn qua chùa tân ( ngày nay là chùa Vẽ ) để làm lễ chư Phật, sau đó xin nghênh rước kinh sách về Phủ Thượng Đoạn để phối thờ hưởng trong mấy hội lễ. Đến ngày 14 tháng 3 sẽ cử hành lễ rước trả lại chùa. Tương truyền răng, trong một kiếp hóa thân của chúa Liễu đã quy y Tam Bảo nên lễ hội Phủ Thượng Đoạn mới có lễ rước kinh phật này với mục đích nhắc lại sự tích của Thánh Mẫu. Bên trong Phủ Thượng Đoạn Hải Phòng Vào ngày tổ chức đám nghênh rước, tất cả người dân trong vùng cùng tham dự, ai được phân công khiêng kiệu hoặc khiêng vác cái gì cũng vậy, đều phải ăn chay nằm mộng, mặc trang phục mới, đồ tốt. Từ đem, người thủ hiệu đã gióng một hồi trống để báo hiệu cho những ai được gì thì nhanh chóng về đỉnh để chuẩn bị sắp sẵn mà đi rước. Rước long kiệu khi đi qua cửa tam quan thì phải dừng kiệu để chờ các xã khác trong tổng giao hiếu đến đầy đủ, xếp hàng lần lượt như đã qui định đâu đấy mới bắt đầu rước tiếp. Trong khi cử hành lễ rước, khi các xã giao hiếu, xã đàn anh sẽ đi đầu tiên, kế đến sẽ là các xã khác theo thứ tự lần lượt mà đi, mãi cho tận cuối đoàn là dân Thượng Đoạn. Lễ rước kiệu truyền thống Trong những ngày lễ hội, du khách thập phương từ khắp nơi đổ về xem hội rất tấp nập, áo quần đua sắc khuôn mặt ai cũng biểu lộ sự hồ hởi, vui tươi. Trong Phủ khói hương bay nghi ngút, ngoài sân lá cờ tán đang bay phấp phới, người vào Phủ người đến chùa cứ ra ra vào vao chen chúc nhau. Ngoài hoạt động tế lễ diễn ra rất trang nghiêm, rước sách kính cẩn và rất vui nhộn, ngày hội Phủ Thượng Đoạn còn thu hút du khách bởi các trò chơi dân gian hấp dẫn hư : hát chèo, hát ca trù, tổ tôm điếm, đánh cờ, múa rối nước ... ngoài ra còn có đám hát chầu Thánh Mẫu được đông đảo du khách quan tâm. Đến ngày 15 tháng 3 thì tổ chức lễ tạ cuốn cờ, đóng cửa đình kết thúc hội

Related Figures

Hội chọi trâu Đồ Sơn

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 9/8 Âm lịch Lễ hội Chọi trâu Đồ Sơn được tổ chức vào ngày mồng 9 tháng 8 âm lịch hàng năm, là một lễ hội truyền thống của nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng, trước lễ hội này Đồ Sơn còn có 2 cuộc đấu loại diễn ra vào trung tuần tháng 5 và ngày mồng 8 tháng 6 âm lịch. Không chỉ là một lễ hội gắn liền với phong tục thờ cúng thuỷ thần và tục hiến sinh của người dân Đồ Sơn mà còn dịp để người dân nơi đây thể hiện tinh thần thượng võ. Công việc chuẩn bị cho lễ hội chọi Trâu Đồ Sơn rất công phu, người ta phải chọn mua, nuôi và huấn luyện những con trâu chọi. Trâu chọi phải là loại có" ức rộng, cổ cò,háng to, đít nhọn, đuôi trai, sừng hình cánh cung, trường đùi...", trâu chọi phải từ 4 đến 5 năm tuổi trở lên. Trâu chọi được nuôi trong chuồng riêng, không được tiếp xúc với trâu thường. Màn đánh trống hội hoành tráng Lễ hội chọi trâu Đồ Sơn cũng giống nhiều lễ hội khác, gồm có 2 phần là phần lễ và phần hội đan xen lẫn nhau. Từ ngày mồng 1 đầu tháng, các vị cao niên của làng đã tham ra làm lễ tế thần Điểm Tước tại đình Tổng. Những làng nào có trâu chọi đều phải tập trung ra đình Tổng làm lễ. Sau đó sẽ tiến hành lễ rước nước ( gắn liền với tục tế Thuỷ Thần). Lọ nước thần mỗi năm sẽ thay nước một lần được từng làng, từng phường mang về đình riêng. Tại đình của làng, các chủ trâu cũng lần lượt cho trâu ra làm lễ Thành Hoàng. Sau khi làm lễ tế thần xong, trâu chọi lúc này đã được gọi là "Ông trâu", là một biểu tượng của tâm linh, cũng chính là niềm tin, và là ước vọng của nhân dân nơi đây. Buổi sáng ngày chính hội, ngày mồng 9 tháng 8 âm lịch, người dân trong phường kéo nhau nườm nượp ra đình. Từ đây, sẽ tiến hành lễ rước các "Ông trâu" ra sới đấu bằng kiệu bát cống, cờ thần tung bay phấp phới, long đình bát biểu, tưng bừng trong tiếng nhạc bát âm. Phần hội diễn ra vào ngày chính hội mồng 9 tháng 8 với hàng loạt hoạt động mang đậm màu sắc dân tộc. Màn biểu diễn múa khai hội được biểu diễn bởi 24 tráng niên của làng, được chia thành 2 hàng, trình diễn trông vừa uyển chuyển vừa mạnh mẽ, màu sắc rực rỡ biến hoá linh hoạt và huyền ảo trong nền âm thanh của tiếng trống và thanh la. Theo cách nói của các vị cao niên trong làng, tiếng trốn và tiếng thanh la có tác dụng tạo nên một bầu không khí sôi động, thúc giục các “ông trâu” thi đấu hết mình, tạo nên sự kịch tính cho mỗi trận đấu. Với tiết mục múa cờ, những lá cờ được các thanh niên trai tráng vung lên quật xuống vừa mạnh mẽ, vừa dứt khoát, nhưng cũng rất nhịp nhàng, có lúc lại đan chéo vào nhau như 2 đội quân đang giao chiến với nhau, thể hiện tinh thần dũng cảm của con người đang nỗ lực chống chọi lại với biển khơi. Chủ Trâu đang dắt trâu chọi vào sới Đúng 8 giờ sáng, tiếng chiêng, tiếng trống khai hội, dịch loa để ra hiệu gọi các “ông trâu” vào trận. Từ 2 cổng bắc và nam của sới đấu, từng đôi trâu chọi sẽ lần lượt được dắt ra, hai con trâu đứng dưới chân cột cờ Ngũ Phụng (ở hai bên). Khi hiệu lệnh phát ra thì hai Ông trâu cũng bắt đầu di chuyển lại gần nhau hơn, khi cách nhau khoảng 20 mét. Khi có hiệu lệnh tiếp theo người chủ trâu đột nhiên tháo dây mũi của trâu ra, hai con trâu ngay lập tức lao vào nhau và bắt đầu trận so tài. Khi đã quyết định thắng bại, cảnh "Thu trâu" diễn ra cũng hết sức hấp dẫn, bắt đầu bằng việc, con thắng sẽ tiếp tục thi đấu xếp loại để phân ngôi nhất nhì... Theo quan niệm của người dân nơi đây , nếu trâu làng nào thắng trận thì năm đó cả làng ấy sẽ gặp nhiều may mắn, mọi người trong làng được bình yên trong suốt hành trình lao động trên biển, sóng yên biển lặng. Và đặc biệt hơn nữa là dù kết quả thắng hay thua, sau khi lễ hội kết thúc, các trâu sẽ được mổ thịt để tế lễ trời đất, cầu mùa màng được thuận hoà. Người dân nơi đây cũng tin rằng, nếu được ăn thịt trâu chọi trong ngày hội, sẽ gặp được nhiều may mắn. Hai trâu chọi đang tranh tài tranh sức Lễ hội chọi trâu Đồ Sơn mang đậm nét văn hoá tín ngưỡng, tâm linh của người dân vùng biển, góp phần tạo nên một ngày lễ hội có sự riêng biệt của một vùng duyên hải.

Lễ hội Chọi trâu Đồ Sơn được tổ chức vào ngày mồng 9 tháng 8 âm lịch hàng năm, là một lễ hội truyền thống của nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng, trước lễ hội này Đồ Sơn còn có 2 cuộc đấu loại diễn ra vào trung tuần tháng 5 và ngày mồng 8 tháng 6 âm lịch. Không chỉ là một lễ hội gắn liền với phong tục thờ cúng thuỷ thần và tục hiến sinh của người dân Đồ Sơn mà còn dịp để người dân nơi đây thể hiện tinh thần thượng võ.

Công việc chuẩn bị cho lễ hội chọi Trâu Đồ Sơn rất công phu, người ta phải chọn mua, nuôi và huấn luyện những con trâu chọi. Trâu chọi phải là loại có" ức rộng, cổ cò,háng to, đít nhọn, đuôi trai, sừng hình cánh cung, trường đùi...", trâu chọi phải từ 4 đến 5 năm tuổi trở lên. Trâu chọi được nuôi trong chuồng riêng, không được tiếp xúc với trâu thường. Màn đánh trống hội hoành tráng Lễ hội chọi trâu Đồ Sơn cũng giống nhiều lễ hội khác, gồm có 2 phần là phần lễ và phần hội đan xen lẫn nhau. Từ ngày mồng 1 đầu tháng, các vị cao niên của làng đã tham ra làm lễ tế thần Điểm Tước tại đình Tổng. Những làng nào có trâu chọi đều phải tập trung ra đình Tổng làm lễ. Sau đó sẽ tiến hành lễ rước nước ( gắn liền với tục tế Thuỷ Thần). Lọ nước thần mỗi năm sẽ thay nước một lần được từng làng, từng phường mang về đình riêng. Tại đình của làng, các chủ trâu cũng lần lượt cho trâu ra làm lễ Thành Hoàng. Sau khi làm lễ tế thần xong, trâu chọi lúc này đã được gọi là "Ông trâu", là một biểu tượng của tâm linh, cũng chính là niềm tin, và là ước vọng của nhân dân nơi đây. Buổi sáng ngày chính hội, ngày mồng 9 tháng 8 âm lịch, người dân trong phường kéo nhau nườm nượp ra đình. Từ đây, sẽ tiến hành lễ rước các "Ông trâu" ra sới đấu bằng kiệu bát cống, cờ thần tung bay phấp phới, long đình bát biểu, tưng bừng trong tiếng nhạc bát âm. Phần hội diễn ra vào ngày chính hội mồng 9 tháng 8 với hàng loạt hoạt động mang đậm màu sắc dân tộc. Màn biểu diễn múa khai hội được biểu diễn bởi 24 tráng niên của làng, được chia thành 2 hàng, trình diễn trông vừa uyển chuyển vừa mạnh mẽ, màu sắc rực rỡ biến hoá linh hoạt và huyền ảo trong nền âm thanh của tiếng trống và thanh la. Theo cách nói của các vị cao niên trong làng, tiếng trốn và tiếng thanh la có tác dụng tạo nên một bầu không khí sôi động, thúc giục các “ông trâu” thi đấu hết mình, tạo nên sự kịch tính cho mỗi trận đấu. Với tiết mục múa cờ, những lá cờ được các thanh niên trai tráng vung lên quật xuống vừa mạnh mẽ, vừa dứt khoát, nhưng cũng rất nhịp nhàng, có lúc lại đan chéo vào nhau như 2 đội quân đang giao chiến với nhau, thể hiện tinh thần dũng cảm của con người đang nỗ lực chống chọi lại với biển khơi. Chủ Trâu đang dắt trâu chọi vào sới Đúng 8 giờ sáng, tiếng chiêng, tiếng trống khai hội, dịch loa để ra hiệu gọi các “ông trâu” vào trận. Từ 2 cổng bắc và nam của sới đấu, từng đôi trâu chọi sẽ lần lượt được dắt ra, hai con trâu đứng dưới chân cột cờ Ngũ Phụng (ở hai bên). Khi hiệu lệnh phát ra thì hai Ông trâu cũng bắt đầu di chuyển lại gần nhau hơn, khi cách nhau khoảng 20 mét. Khi có hiệu lệnh tiếp theo người chủ trâu đột nhiên tháo dây mũi của trâu ra, hai con trâu ngay lập tức lao vào nhau và bắt đầu trận so tài. Khi đã quyết định thắng bại, cảnh "Thu trâu" diễn ra cũng hết sức hấp dẫn, bắt đầu bằng việc, con thắng sẽ tiếp tục thi đấu xếp loại để phân ngôi nhất nhì... Theo quan niệm của người dân nơi đây , nếu trâu làng nào thắng trận thì năm đó cả làng ấy sẽ gặp nhiều may mắn, mọi người trong làng được bình yên trong suốt hành trình lao động trên biển, sóng yên biển lặng. Và đặc biệt hơn nữa là dù kết quả thắng hay thua, sau khi lễ hội kết thúc, các trâu sẽ được mổ thịt để tế lễ trời đất, cầu mùa màng được thuận hoà. Người dân nơi đây cũng tin rằng, nếu được ăn thịt trâu chọi trong ngày hội, sẽ gặp được nhiều may mắn. Hai trâu chọi đang tranh tài tranh sức Lễ hội chọi trâu Đồ Sơn mang đậm nét văn hoá tín ngưỡng, tâm linh của người dân vùng biển, góp phần tạo nên một ngày lễ hội có sự riêng biệt của một vùng duyên hải.

Màn đánh trống hội hoành tráng

Chủ Trâu đang dắt trâu chọi vào sới

Related Figures

Lễ cơm mới người Thái

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/8- 30/8 Âm lịch Năm nào cũng vậy, lễ cơm mới của người dân tộc Thái ở Mai Châu được tổ chức một lần vào tháng 8 âm lịch. Không định ngày tuỳ theo điều kiện của từng gia đình mà làm lễ cơm mới nhỏ hay to. Lễ cơm mới người Thái ở Mai Châu Đây là lễ có tính chất gia đình nhưng lại là một lễ hội thực sự vì nó được tổ chức phổ biến ở khắp vùng mà có người dân tộc Thái sinh sống. Tuy là lễ của một gia đình nhưng họ hàng đến dự rất đông, thậm chí còn có sự góp mặt của đông đảo hàng xóm nên lễ cơm mới đã trở thành một ngày hội. Lễ cơm mới của mỗi dòng họ thường do trưởng họ đứng ra làm. Trước ngày làm lễ, chủ nhà sẽ phải đi mời ông mo luông (ông mo có uy tín) được ông mo nhận lời về nhà chuẩn bị làm lễ. Cô con dâu cả ở trong nhà đi mời các cô gái chưa chồng (sao hàm) đến để giúp việc. Ngoài ra, chủ nhà còn đi mời những người khác để làm những việc phục vụ cho ngày lễ gồm những người trong họ hàng, những già bản (tháu kè), những thanh niên, trai gái (sao chở, bào chở) để đánh trống, đánh chiêng và đánh máng (keng loóng). Buổi sáng sớm hôm làm lễ, cô dâu cả cùng với cô gái giúp việc xuống sân lấy 2 cụm lúa (bó lúa đã đặt sẵn) gánh lên nhà đặt trước bàn thờ, để báo cho tổ tiên biết mùa màng đã thu hoạch và xin phép được ăn cơm mới, tỏ ý là không dám ăn trước tổ tiên. Khấn báo xong, 2 người lấy bó lúa xuống sân rồi lại làm động tác gánh lên nhà, bỏ lên gác bếp cho khô rồi mang xuống máy gỗ giữa sân giã ra hạt thóc, bỏ vào cối giã ra gạo, xong rồi mang lên nhà ngâm vào ang và sau đó đem đồ chín. Tất cả những động tác này chỉ làm tượng trưng theo nghi lễ, còn mọi thứ chuẩn bị cho lễ đã được chuẩn bị từ những hôm trước đó rồi. Sau khi xôi đồ và cá đồ chín xong, người sắp xếp mâm cỗ là vợ chồng người con trai cả. Mâm cỗ được bày biện rất đẹp mắt, trên mâm được lót lá chuối, nắm xôi thành một vòng tròn quanh mâm tượng trưng cho bờ ruộng. Sau đó, đổ xôi vào giữa theo hình quả đồi bát úp, lấy một nắm xôi nặn hình chảo và úp tiến lên, 9 miếng gừng thái lát đặt trên “núi”. Gói mọc cá đặt lên sườn núi và riêng gói chính (mọc cọc, buộc chín lạt) đặt trên đỉnh. Mọc cá được trộn với bột nếp cùng với gia vị, đặt giữa lá chuối và buộc túm lại hấp chín. ở người dân tộc Thái, lễ cơm mới chỉ dùng cá để cúng thờ, tránh thịt gia súc, gia cầm nuôi trong nhà vì họ cho rằng đến mùa lúa, những con vật này cũng ăn thóc giống như người. Thầy cúng thực hiện nghi thức cúng trong lễ cơm mới Trong lễ cơm mới, một chị người dân tộc Thái kể lại rằng: Sự tích về lễ cơm mới là có một nàng dâu hiếu thảo, trước ngày gặt lúa thì bố chồng mất. Đêm đó, nàng bàn với chồng là đi gặt lúa cúng cơm mời vong hồn bố về ăn. Nhà quá nghèo chỉ có một con gà mái đang nuôi nhưng họ quyết định thịt con gà mái để cúng bố. ở dưới gầm sàn, mẹ con gà nghe thấy hết câu chuyện của vợ chồng chủ liền oà khóc chiêm chiếp và nức nở. Vợ chồng người chủ nghe những lời từ biệt não nề, sầu thảm của mẹ con gà mà động lòng thương xót. Người chồng quyết định không giết con gà nữa mà hứa sẽ đem chài ra suối bắt cá về để cúng bố. Từ đó thành lệ, lễ cơm mới chỉ dùng cá và dùng thịt thú rừng. Ngoài ra, còn có 2 bát canh măng chua nấu với cá, 5 đôi đũa tre, 1 vò rượu cần, vuông vải trắng tự dệt, vải thổ cẩm, vòng tay bằng bạc và 1 bộ áo mới của chủ nhà (người con trai cả) con cháu mang đến mỗi người 1 bộ quần áo, đĩa trầu cau têm sẵn và chai rượu tự cất. Mâm cỗ đặt trên 1 cái mâm tre hình chữ nhật có chiều dài 1m, chiều rộng 60cm, chiều cao 1m. Bắt đầu từ cửa vào nhà, người con trai trưởng sẽ nhấc mâm cỗ tiến từng bước đi về bàn thờ tổ tiên. Nếu “mọc cộc” buộc chín lạt thì sẽ bước chín bước, năm lạt thì sẽ bước năm bước, ba lạt thì sẽ bước ba bước. Số lạt buộc ở đây là để phân biệt đẳng cấp xã hội. Dòng họ Tạo Phìa (dòng họ quyền thế trước đây) thường buộc chín lạt. Dòng họ Khà Khum (cũng thuộc họ Hà Công của Tạo Phìa) do lép vế, sống như cuộc sống dân thường nên được buộc năm lạt. Các dòng họ thường dân thì chỉ được phép buộc ba lạt. Khi cỗ được bày xong, ông mo sẽ bắt đầu cúng. Đầu tiên ông khấn gọi mo tảy (thần của thầy mo) vị thần này do then luông, ông vua lớn nhất của Mường trời trao cho những người làm thầy mo ở hạ giới để hành nghề. Trước khi hành lễ, ông thầy mo phải xin mo tảy nhập vào mình, cũng là xin phép then luông để làm việc. Mo tảy cũng phải có mâm cỗ riêng: xôi, gà, rượu, vải và tiền. Xong nghi lễ đầu tiên này cũng vừa hết buổi sáng, mọi người nghỉ ngơi và ăn cơm trưa để chuẩn bị vào phần chính của lễ cơm mới. Phần chính của lễ này có 2 nội dung: nội dung thứ nhất là ông mo kể trước bàn thờ một bài mo dài suốt một ngày một đêm, mọi người ngồi nghe rất đông, chật cả sàn nhà. Nội dung thứ 2 là các cuộc xoè, múa và hát đối đáp (khắp tua) đánh trống chiêng và đánh máng (keng loóng). Ông mo kể như hát, ông gọi các bậc tổ tiên từ trên trời xuống, từ mộ về và từ bệ thờ ra cùng ngồi với con cháu vui mùa lúa mới. Sau đó ông kể tại sao có cá và có cơm. Tại sao trời hạn hán, lũ lụt, kể đến sự vật lộn với thiên nhiên để giành lấy một cuộc sống ấm no. Mo còn kể những cuộc đấu tranh xua đuổi những cái ác, cái xấu ra khỏi nhà, khỏi bản, để đem lại cuộc sống tốt lành cho tất cả mọi người. Đồng bào và du khách cùng nối tay nhau trong vòng xòe Thái Cho đến bây giờ, lễ cơm mới thực sự là một cuộc sinh hoạt văn hoá hấp dẫn và lý thú của người dân tộc Thái ở Mai Châu. Du khách đến tham quan du lịch vào thời điểm này còn được chiêm ngưỡng những cuộc múa xoè, múa trống chiêng và đánh máng của những tràng trai, cô gái bản. Cuộc vui này không chỉ bó hẹp trong gia đình, trong dòng họ mà còn thu hút cả bản Mường cùng tới nghe kể mo và múa hát. Trai gái nhảy múa say sưa suốt đêm, hát hò qua đêm đến sáng.

Năm nào cũng vậy, lễ cơm mới của người dân tộc Thái ở Mai Châu được tổ chức một lần vào tháng 8 âm lịch. Không định ngày tuỳ theo điều kiện của từng gia đình mà làm lễ cơm mới nhỏ hay to.

Lễ cơm mới người Thái ở Mai Châu

Đây là lễ có tính chất gia đình nhưng lại là một lễ hội thực sự vì nó được tổ chức phổ biến ở khắp vùng mà có người dân tộc Thái sinh sống. Tuy là lễ của một gia đình nhưng họ hàng đến dự rất đông, thậm chí còn có sự góp mặt của đông đảo hàng xóm nên lễ cơm mới đã trở thành một ngày hội. Lễ cơm mới của mỗi dòng họ thường do trưởng họ đứng ra làm. Trước ngày làm lễ, chủ nhà sẽ phải đi mời ông mo luông (ông mo có uy tín) được ông mo nhận lời về nhà chuẩn bị làm lễ. Cô con dâu cả ở trong nhà đi mời các cô gái chưa chồng (sao hàm) đến để giúp việc. Ngoài ra, chủ nhà còn đi mời những người khác để làm những việc phục vụ cho ngày lễ gồm những người trong họ hàng, những già bản (tháu kè), những thanh niên, trai gái (sao chở, bào chở) để đánh trống, đánh chiêng và đánh máng (keng loóng). Buổi sáng sớm hôm làm lễ, cô dâu cả cùng với cô gái giúp việc xuống sân lấy 2 cụm lúa (bó lúa đã đặt sẵn) gánh lên nhà đặt trước bàn thờ, để báo cho tổ tiên biết mùa màng đã thu hoạch và xin phép được ăn cơm mới, tỏ ý là không dám ăn trước tổ tiên. Khấn báo xong, 2 người lấy bó lúa xuống sân rồi lại làm động tác gánh lên nhà, bỏ lên gác bếp cho khô rồi mang xuống máy gỗ giữa sân giã ra hạt thóc, bỏ vào cối giã ra gạo, xong rồi mang lên nhà ngâm vào ang và sau đó đem đồ chín. Tất cả những động tác này chỉ làm tượng trưng theo nghi lễ, còn mọi thứ chuẩn bị cho lễ đã được chuẩn bị từ những hôm trước đó rồi. Sau khi xôi đồ và cá đồ chín xong, người sắp xếp mâm cỗ là vợ chồng người con trai cả. Mâm cỗ được bày biện rất đẹp mắt, trên mâm được lót lá chuối, nắm xôi thành một vòng tròn quanh mâm tượng trưng cho bờ ruộng. Sau đó, đổ xôi vào giữa theo hình quả đồi bát úp, lấy một nắm xôi nặn hình chảo và úp tiến lên, 9 miếng gừng thái lát đặt trên “núi”. Gói mọc cá đặt lên sườn núi và riêng gói chính (mọc cọc, buộc chín lạt) đặt trên đỉnh. Mọc cá được trộn với bột nếp cùng với gia vị, đặt giữa lá chuối và buộc túm lại hấp chín. ở người dân tộc Thái, lễ cơm mới chỉ dùng cá để cúng thờ, tránh thịt gia súc, gia cầm nuôi trong nhà vì họ cho rằng đến mùa lúa, những con vật này cũng ăn thóc giống như người. Thầy cúng thực hiện nghi thức cúng trong lễ cơm mới Trong lễ cơm mới, một chị người dân tộc Thái kể lại rằng: Sự tích về lễ cơm mới là có một nàng dâu hiếu thảo, trước ngày gặt lúa thì bố chồng mất. Đêm đó, nàng bàn với chồng là đi gặt lúa cúng cơm mời vong hồn bố về ăn. Nhà quá nghèo chỉ có một con gà mái đang nuôi nhưng họ quyết định thịt con gà mái để cúng bố. ở dưới gầm sàn, mẹ con gà nghe thấy hết câu chuyện của vợ chồng chủ liền oà khóc chiêm chiếp và nức nở. Vợ chồng người chủ nghe những lời từ biệt não nề, sầu thảm của mẹ con gà mà động lòng thương xót. Người chồng quyết định không giết con gà nữa mà hứa sẽ đem chài ra suối bắt cá về để cúng bố. Từ đó thành lệ, lễ cơm mới chỉ dùng cá và dùng thịt thú rừng. Ngoài ra, còn có 2 bát canh măng chua nấu với cá, 5 đôi đũa tre, 1 vò rượu cần, vuông vải trắng tự dệt, vải thổ cẩm, vòng tay bằng bạc và 1 bộ áo mới của chủ nhà (người con trai cả) con cháu mang đến mỗi người 1 bộ quần áo, đĩa trầu cau têm sẵn và chai rượu tự cất. Mâm cỗ đặt trên 1 cái mâm tre hình chữ nhật có chiều dài 1m, chiều rộng 60cm, chiều cao 1m. Bắt đầu từ cửa vào nhà, người con trai trưởng sẽ nhấc mâm cỗ tiến từng bước đi về bàn thờ tổ tiên. Nếu “mọc cộc” buộc chín lạt thì sẽ bước chín bước, năm lạt thì sẽ bước năm bước, ba lạt thì sẽ bước ba bước. Số lạt buộc ở đây là để phân biệt đẳng cấp xã hội. Dòng họ Tạo Phìa (dòng họ quyền thế trước đây) thường buộc chín lạt. Dòng họ Khà Khum (cũng thuộc họ Hà Công của Tạo Phìa) do lép vế, sống như cuộc sống dân thường nên được buộc năm lạt. Các dòng họ thường dân thì chỉ được phép buộc ba lạt. Khi cỗ được bày xong, ông mo sẽ bắt đầu cúng. Đầu tiên ông khấn gọi mo tảy (thần của thầy mo) vị thần này do then luông, ông vua lớn nhất của Mường trời trao cho những người làm thầy mo ở hạ giới để hành nghề. Trước khi hành lễ, ông thầy mo phải xin mo tảy nhập vào mình, cũng là xin phép then luông để làm việc. Mo tảy cũng phải có mâm cỗ riêng: xôi, gà, rượu, vải và tiền. Xong nghi lễ đầu tiên này cũng vừa hết buổi sáng, mọi người nghỉ ngơi và ăn cơm trưa để chuẩn bị vào phần chính của lễ cơm mới. Phần chính của lễ này có 2 nội dung: nội dung thứ nhất là ông mo kể trước bàn thờ một bài mo dài suốt một ngày một đêm, mọi người ngồi nghe rất đông, chật cả sàn nhà. Nội dung thứ 2 là các cuộc xoè, múa và hát đối đáp (khắp tua) đánh trống chiêng và đánh máng (keng loóng). Ông mo kể như hát, ông gọi các bậc tổ tiên từ trên trời xuống, từ mộ về và từ bệ thờ ra cùng ngồi với con cháu vui mùa lúa mới. Sau đó ông kể tại sao có cá và có cơm. Tại sao trời hạn hán, lũ lụt, kể đến sự vật lộn với thiên nhiên để giành lấy một cuộc sống ấm no. Mo còn kể những cuộc đấu tranh xua đuổi những cái ác, cái xấu ra khỏi nhà, khỏi bản, để đem lại cuộc sống tốt lành cho tất cả mọi người. Đồng bào và du khách cùng nối tay nhau trong vòng xòe Thái Cho đến bây giờ, lễ cơm mới thực sự là một cuộc sinh hoạt văn hoá hấp dẫn và lý thú của người dân tộc Thái ở Mai Châu. Du khách đến tham quan du lịch vào thời điểm này còn được chiêm ngưỡng những cuộc múa xoè, múa trống chiêng và đánh máng của những tràng trai, cô gái bản. Cuộc vui này không chỉ bó hẹp trong gia đình, trong dòng họ mà còn thu hút cả bản Mường cùng tới nghe kể mo và múa hát. Trai gái nhảy múa say sưa suốt đêm, hát hò qua đêm đến sáng.

Related Figures

Lễ hội Đình Hàng Kênh

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 16/2- 20/2 Âm lịch Đình Hàng Kênh tọa lạc trên địa bàn xã Dư Hàng Kênh thuộc huyện An Dương ( nay thuộc địa phận phường Hàng Kênh, quận Lê Chân ) TP. Hải Phòng. Đình Hàng Kênh có tên chữ là Nhân Thọ Đình, là một công trình kiến trúc cổ, có nghệ thuật điêu khắc thuộc hàng có giá trị của thành phố Hải Phòng. Lễ hội đình Hàng Kênh được tổ chức trong suốt 5 ngày vào trung tuần của tháng 2 âm lịch hàng năm, tức là từ ngày 16 đến ngày 20. Đình Hàng Kênh tại Hải Phòng Theo tục trước đây, vào khoảng 7 giờ tối của ngày hôm trước, dân làng đều phải tập trung ra đình để làm lễ tế nhập tịch ở trong đình ( lễ tế nội tán ). Xưa kia thì thường không có phần tế nữ quan mà chỉ có đội nam giới mới được tế, ban tế có lúc lên tới 26 người, trong đó có 1 vị mạnh bái và 5 vị bồi tế. Nhưng ngày nay, khi tế đến đoạn tiến tước và quân hiến sẽ một đôi nữ đi sau ( mỗi bên 1 người ) vừa đi vừa múa tay không theo nền nhạc lưu thủy. Ngày lễ chính thức là ngày 16 tháng 2 âm lịch, trừ một số vị chức sắc của làng và người trong ban tế đám thì những người được phân công các công việc trong ngày hội phải ngủ ở đình từ tối hôm trước, và sáng sớm hôm sau, tất cả dân làng phải tề tựu về đình từ lúc 5 giờ sáng để cử hành lễ rước sắc. Trình tự đám rước của đình Hàng Kênh: Dẫn đầu là 5 cờ ngũ hành, tiếp theo là đôi càm cạp đi bảo vệ trật tự, tiếp theo nữa là đoàn người cầm bát biểu, trống ,chiêng, long đình, rồi đến chấp kích, sau đó là phường bát âm, tiếp đến là kiệu thần tượng Ngô Quyền. Tiếp theo là các vị chức sắc rồi cuối cùng mới đến dân làng. Những người tham gia mang vác, khiêng đồ vật đi rước đều mặc áo màu nâu, sau khi rước sắc về đình xong sẽ tiến hành ngoại tán. Một gian thờ trong ngôi đình Hàng Kênh Các buổi chiều trong những ngày diễn ra lễ hội, cứ đến 2 giờ chiều, hội sẽ tổ chức cuộc thi đánh vật và nhiều trò chơi vui khác. Người trong làng được đấu vật trước, sau đó mới tới lượt người ngoài làng. Đô vật phải đóng khố xanh, đỏ, lưng buộc một dải băng bằng vải được bện tròn giống dây thừng to thì giắt khố sẽ đẹp hơn. Trước khi mở hội đấu vật, đôi đô vật sẽ vái thần 4 lần, sau đó vờn nhau để tìm miếng vật. Lệ vật ở đây hơi khác một chút, đó là đô vật nào bị nhấc bổng lên trên hoặc bị vật cho nằm ngửa ra là tính bị thua. Giải treo vật gồm vải, lụa và tiền. Đánh vật trong 5 ngày liền, đô vật nào giữ giải trong ngày sẽ ngồi ghế có lọng che. Ngày cuối cùng sẽ là vòng chung kết, các đô vật thắng trong 5 ngày sẽ vật với nhau để phân thắng bại. Bên cạnh đó Lễ hội làng đình Hàng Kênh còn tổ chức thêm trò chơi cờ người. Một bên là nam, một bên là nữ đều chưa lập gia thất. Những người được chọn làm “ Quân cờ” thường là con nhà khá giả trong làng để còn mặc những bộ quần áo đẹp, người làm trọng tài có một bàn cờ nhỏ ở bên trong để theo dõi. Ngoài ra, trong lễ hội còn có tổ tôm điếm (làm chòi ), tam cúc điếm ( ngồi bàn ), bắt vịt, hát đúm, cầu hùm...Buổi tối, lễ hội còn tổ chức hát chèo, đêm hát ca trù. Đình Hàng Kênh trước ngày khai hội

Related Figures

Hội đánh pháo đất Vĩnh Bảo

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 3/8 Âm lịch Nếu bạn có dịp về Vĩnh Bảo, tp Hải Phòng vào mùa thu, bạn sẽ được chứng kiến một lễ hội làng truyền thống vô cùng đặc sắc, lễ hội đánh pháo đất. Hội thi đánh pháo đất diễn ra vào ngày mồng 3 tháng 8 âm lịch hằng năm, tại các xã Tam Đa, Tân Hưng, huyện Vĩnh Bảo, Tân Liên. Hội đánh pháo đất Vĩnh Bảo tại Hải Phòng Tương truyền, cuộc thi đánh pháo đất này được tổ chức lần đầu tiên vào năm giữa thế kỷ thứ I sau Công Nguyên. Pháo đất Vĩnh Bảo gồm có 2 loại: pháo đập úp và pháo tung, pháo tung ngắn hơn pháo đập úng. Đất được dùng để làm pháo được lấy từ đáy sông, loại đất này đã được gạt hết một lớp bùn từ chiều ngày hôm trước, được phơi cho se mặt. Sáng ngày hôm sau sẽ lấy chày hoặc tay để luyện đất. Luyện nhào cho tới khi nó dẻo lại giống như kẹo, nhuyễn như bột dùng để làm bánh, từ màu đen sẽ chuyển sang màu hồng mịn, khi óng ánh như sáp thì đã đạt thành công và chuyển sang giai đoạn làm pháo. Pháo được nặn theo hình khối chữ nhật, miệng hình tròn hoặc hình chữ nhật, trong đó có đặt " cạnh pháo " là một thoi đất dài và mềm, nối hai thành pháo với nhau. Dân làng ai muốn tham gia đánh pháo đều có thể tham gia, nhưng đa phần là những chàng trai và người ta sẽ chia những người tham dự cuộc thi thành nhiều "cỗ pháo". Mỗi cỗ pháo gồm 3 đên 4 người, mỗi nhóm được nhận từ 25-30 kg đất để thi làm pháo nhanh. Đất được dàn đều lên khuôn. Đầu tiên người ta sẽ làm cánh pháo, sau đó sẽ bấu một "mép" - chỗ mỏng nhất của cánh pháo - để khi tung lên cánh pháo sẽ mở ra. Đồng thời còn làm các "nắm kế" - nắm đất có hình tròn như quả cam - để giữ cho cánh pháo không bị rã ra. Chuốt bụng của pháo, xem lại cánh pháo và thế là đã hoàn thành một chiếc pháo. Chiếc pháo đất nằm một cách oai vệ trên mười nắm kê, trông giống như một cỗ xe 10 bánh. Lễ hội đánh pháo ở Vĩnh Bảo là một lễ hội độc đáo của người dân Hải Phòng Khi vào cuộc thi, ông quản pháo cũng là người có uy tín nhất trong các lần hội đánh pháo đất sẽ thúc một hồi trống dài. Tiếng trống vang lên rộn rã, các cỗ pháo cũng lần lượt được đưa ra sân bãi bằng phẳng giữa tiếng vỗ tay và reo hò của người xem. Mỗi một cỗ pháo sẽ chọn một người có vóc dáng cao tớn, to khỏe nhất vào thi, số người còn lại sẽ đứng bên cạnh để nâng pháo. Đầu tiên là tung pháo. Người dự thi sẽ nhận pháo của bạn để củng cố, sau khi nâng pháo lên ngang mặt một đoạn thì xoay thật mạnh hai tay rồi tung pháo lên, sao cho tung càng lêncao càng tốt và đảm bảo rằng pháo không bị chao đảo. Sau 3 lần tung quả pháo lên cao như vậy thì chuyển sang phần thi 3 lần đập úp 3 quả pháo khác. Người dự thi sẽ nâng pháo lên ngang ngực rồi đâp úp thật nhanh đêt quả pháo rơi xuống mặt đất, miệng pháo rơi thật nhanh và mạnh xuống mặt bãi bằng phẳng rắn chắc, lúc đó không khí trong lòng quả pháo sau khi bị nén lại sẽ tạo ra sự chênh lệch áp suất trong lòng quả pháo so với bên ngoài thân pháo, làm cho cả hộp pháo mỏng bị vỡ tung ra và phát ra tiếng nổ rất lớn. Khi tung pháo lên hay đập úp pháo xuống thì cánh pháo được làm bằng đất mềm cũng theo thành pháo mà vỡ toang ra và mở ra theo chiều dài, thông thường là trên dưới một mét, có khi dài tới 2 mét, xoắn lại và nằm vắt ngang qua thân pháo. Pháo nổ càng to thì cánh pháo càng mở dài ra, càng nói lên nghệ thuật cao và sự khỏe mạnh của người đánh pháo ,đồng thời thể hiện kỹ thuật giỏi của những người làm pháo. Ban tổ chức sẽ cộng chiều dài của cánh pháo của cả 3 lần tung pháo và 3 lần đập pháo để xếp giải. Người tham gia cuộc thi đánh pháo đang đỡ quả pháo lên

Nếu bạn có dịp về Vĩnh Bảo, tp Hải Phòng vào mùa thu, bạn sẽ được chứng kiến một lễ hội làng truyền thống vô cùng đặc sắc, lễ hội đánh pháo đất. Hội thi đánh pháo đất diễn ra vào ngày mồng 3 tháng 8 âm lịch hằng năm, tại các xã Tam Đa, Tân Hưng, huyện Vĩnh Bảo, Tân Liên.

Hội đánh pháo đất Vĩnh Bảo tại Hải Phòng

Tương truyền, cuộc thi đánh pháo đất này được tổ chức lần đầu tiên vào năm giữa thế kỷ thứ I sau Công Nguyên. Pháo đất Vĩnh Bảo gồm có 2 loại: pháo đập úp và pháo tung, pháo tung ngắn hơn pháo đập úng. Đất được dùng để làm pháo được lấy từ đáy sông, loại đất này đã được gạt hết một lớp bùn từ chiều ngày hôm trước, được phơi cho se mặt. Sáng ngày hôm sau sẽ lấy chày hoặc tay để luyện đất. Luyện nhào cho tới khi nó dẻo lại giống như kẹo, nhuyễn như bột dùng để làm bánh, từ màu đen sẽ chuyển sang màu hồng mịn, khi óng ánh như sáp thì đã đạt thành công và chuyển sang giai đoạn làm pháo. Pháo được nặn theo hình khối chữ nhật, miệng hình tròn hoặc hình chữ nhật, trong đó có đặt " cạnh pháo " là một thoi đất dài và mềm, nối hai thành pháo với nhau. Dân làng ai muốn tham gia đánh pháo đều có thể tham gia, nhưng đa phần là những chàng trai và người ta sẽ chia những người tham dự cuộc thi thành nhiều "cỗ pháo". Mỗi cỗ pháo gồm 3 đên 4 người, mỗi nhóm được nhận từ 25-30 kg đất để thi làm pháo nhanh. Đất được dàn đều lên khuôn. Đầu tiên người ta sẽ làm cánh pháo, sau đó sẽ bấu một "mép" - chỗ mỏng nhất của cánh pháo - để khi tung lên cánh pháo sẽ mở ra. Đồng thời còn làm các "nắm kế" - nắm đất có hình tròn như quả cam - để giữ cho cánh pháo không bị rã ra. Chuốt bụng của pháo, xem lại cánh pháo và thế là đã hoàn thành một chiếc pháo. Chiếc pháo đất nằm một cách oai vệ trên mười nắm kê, trông giống như một cỗ xe 10 bánh. Lễ hội đánh pháo ở Vĩnh Bảo là một lễ hội độc đáo của người dân Hải Phòng Khi vào cuộc thi, ông quản pháo cũng là người có uy tín nhất trong các lần hội đánh pháo đất sẽ thúc một hồi trống dài. Tiếng trống vang lên rộn rã, các cỗ pháo cũng lần lượt được đưa ra sân bãi bằng phẳng giữa tiếng vỗ tay và reo hò của người xem. Mỗi một cỗ pháo sẽ chọn một người có vóc dáng cao tớn, to khỏe nhất vào thi, số người còn lại sẽ đứng bên cạnh để nâng pháo. Đầu tiên là tung pháo. Người dự thi sẽ nhận pháo của bạn để củng cố, sau khi nâng pháo lên ngang mặt một đoạn thì xoay thật mạnh hai tay rồi tung pháo lên, sao cho tung càng lêncao càng tốt và đảm bảo rằng pháo không bị chao đảo. Sau 3 lần tung quả pháo lên cao như vậy thì chuyển sang phần thi 3 lần đập úp 3 quả pháo khác. Người dự thi sẽ nâng pháo lên ngang ngực rồi đâp úp thật nhanh đêt quả pháo rơi xuống mặt đất, miệng pháo rơi thật nhanh và mạnh xuống mặt bãi bằng phẳng rắn chắc, lúc đó không khí trong lòng quả pháo sau khi bị nén lại sẽ tạo ra sự chênh lệch áp suất trong lòng quả pháo so với bên ngoài thân pháo, làm cho cả hộp pháo mỏng bị vỡ tung ra và phát ra tiếng nổ rất lớn. Khi tung pháo lên hay đập úp pháo xuống thì cánh pháo được làm bằng đất mềm cũng theo thành pháo mà vỡ toang ra và mở ra theo chiều dài, thông thường là trên dưới một mét, có khi dài tới 2 mét, xoắn lại và nằm vắt ngang qua thân pháo. Pháo nổ càng to thì cánh pháo càng mở dài ra, càng nói lên nghệ thuật cao và sự khỏe mạnh của người đánh pháo ,đồng thời thể hiện kỹ thuật giỏi của những người làm pháo. Ban tổ chức sẽ cộng chiều dài của cánh pháo của cả 3 lần tung pháo và 3 lần đập pháo để xếp giải. Người tham gia cuộc thi đánh pháo đang đỡ quả pháo lên

Related Figures

Lễ hội Hát Đúm

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 4/1- 10/1 Âm lịch Không biết từ bao giờ, cứ đến ngày mồng 4 tháng giêng âm lịch hàng năm Tổng Phục lại tưng bừng mở Hội làng. Hội làng đầu xuân được tổ chức trong 6 ngày, với rất nhiều cuộc thi: thi dệt cửi, thi cỗ bánh, đánh vật, thi đánh đu, đánh cờ...nhưng thu hút sự quan tâm nhất vẫn là hội thi hát Đúm. Đây được xem là lễ hội có truyền thống từ rất xa xưa và đã được duy trì cho đến tận ngày hôm nay trong niềm đam mê của các nghệ nhân đã có tuổi, và cũng là đam mê của rất nhiều thanh, thiếu niên. Lễ hội Hát Đúm ở Thủy Nguyên tại Hải Phòng Theo tục truyền, ngày đầu tiên của hội hát đúm cũng chính là ngày những cô gái của Tổng Phục được phép tháo bỏ chiếc khăn mỏ quạ bịt trên mặt trong suốt cả năm xuống. Chính vì thế, hội hát đúm ngày xuân ở Thủy Nguyên cũng được coi là ngày hội mở mặt. Trong những ngày hội, các chàng trai và cô gái của Tổng Phục (trước đây là 3 xã Phả Lễ, Phục Lễ và Lập Lễ thuộc Tổng Phục) sẽ tập trung lại để hát đúm tại khu vực sân đình Phục Lễ, đây một trong những ngôi đình lớn của Hải Phòng. Hát đúm cũng có khi tổ chức ở một địa điểm ở trên đường đi hay ở ngoài cánh đồng khi những chàng trai và cô gái trẻ trong Tổng Phục mặc những bộ quần áo truyền thống trong ngày hội gặp gỡ nhau. Họ sẽ nắm lấy tay nhau rất say sưa và cùng hát đối những làn điệu giao duyên để thể hiện khát vọng về một tình yêu đôi lứa bền chặt thông qua những câu hát trữ tình mang đậm chất dân gian của vùng quê Thủy Nguyên. Bài bản của lối hát đúm rất phong phú và đa dạng. Trước tiên, khi nam nữ mới gặp nhau sẽ hát những câu hát chào, câu hát mừng. Sau đó có thể biểu diễn các câu hát hỏi, hát đố, hát huê tình, hát họa, hát cưới... và cuối cùng sẽ là điệu hát ra về. Hát đúm được kéo dài từ lúc sáng cho tới trưa, từ trưa cho đến tối. Giữa các canh hát với nhau, các cô gái sẽ mời trầu nước, tặng vật kỷ niệm cho các chàng để bày tỏ lòng mến mộ. Buổi chiều , các cô sẽ mời các chàng trai về nhà mình và cùng ăn bữa cơm đầu xuân để đôi bên biết nhà cửa và có có khi hát tới khuya. Cứ tiếp tục như vậy, ngày này rồi qua ngày khác, cuộc hát đúm kéo dài cho đến ngày Mồng 10. Qua những buổi hát đối giao duyên, nhiều đôi trai gái đã kết nhau và rồi cuối năm lại nên duyên chồng vợ. Hát Đúm là một làn điệu dân gian cổ truyền của vùng quê Thủy Nguyên Bởi vì có tục lệ này mà các cô gái ở Thủy Nguyên cô nào cũng thuộc các bài hát ví để vào mỗi dịp lễ hội gặp các chàng trai mời hát thì mới hát và mở khăn. Hát ví thông thường chỉ dựa vào 2 thể thơ song thất lục bát và lục bát. Tuy không có nhiều làn điệu, thế nhưng đề tài lại rất phong phú, đòi hỏi người hát phải có kỹ thuật về đối đáp. Trong ngày tổ chức hội “Hát đúm”, tại sân chùa Phục Lễ sẽ có nhiều bàn hát đúm được bày ra, mỗi bàn sẽ kê 2 bộ tràng kỷ đối diện nhau. Giữa bàn bày sẵn các hộp trầu và khăn tay được thêu cành hồng (tặng phẩm). Một bên là các chàng trai, một bên là các cô gái ngồi ra 2 bên dãy tràng kỷ. Mặt đối mặt, tay trong tay. Thường thì cả 2 bên trai gái vào hát đều di chuyển để nếu khi có một ai đó hát bí hoặc bị hỏi, đố mà lúng túng không trả lời được thì sẽ ra hiệu người kia để hát đỡ, và gỡ thế bí cho. Khi hát còn có nhạc bát âm. Hai bên trai gái sẽ hát đối đáp qua lại. Bên nào mà không đối đáp được sẽ là bên thua. Đây giống như là một hình thức để thử tài văn chương, và kiến thức của nhau, ướm lời yêu đương được "tìm hiểu" bằng nghệ thuật, phải thuộc làu các tục ngữ và các truyện tích. Nam nữ hát Đúm giao duyên trong ngày xuân Hát đúm vui nhất là vào ngày hát giã đám. Lúc này họ sẽ trao giữ các kỷ vật cho nhau, nấn ná cho đến tận đêm khuya, mà đưa ra toàn là những bài hát hay, và mới nhất từ nỗi lòng sâu kín của chính họ. Ngày hôm đó cả hai bên cũng ít hát đối đáp mà chỉ toàn là hát các bài trữ tình,lưu luyến, bâng khuâng… Những thương nhớ, yêu đương, sự chia ly, xa cách, những lời hứa hẹn, sự đợi chờ, hy vọng… Họ mong đợi cho một mùa hội sau, để lại được say đắm trong ngày hội, để được nghe tiếng hát của nhau. Vào những ngày xuân, hát đúm dường như trỗi dậy với một sức sống mới đã tiềm ẩn từ rất lâu trong tâm trí và trong tấm lòng của những người dân của quê hương hát đúm. Các chàng trai và cô gái vẫn còn say sưa trong những làn điệu hát đúm của ngày xuân.

Không biết từ bao giờ, cứ đến ngày mồng 4 tháng giêng âm lịch hàng năm Tổng Phục lại tưng bừng mở Hội làng. Hội làng đầu xuân được tổ chức trong 6 ngày, với rất nhiều cuộc thi: thi dệt cửi, thi cỗ bánh, đánh vật, thi đánh đu, đánh cờ...nhưng thu hút sự quan tâm nhất vẫn là hội thi hát Đúm. Đây được xem là lễ hội có truyền thống từ rất xa xưa và đã được duy trì cho đến tận ngày hôm nay trong niềm đam mê của các nghệ nhân đã có tuổi, và cũng là đam mê của rất nhiều thanh, thiếu niên.

Lễ hội Hát Đúm ở Thủy Nguyên tại Hải Phòng

Theo tục truyền, ngày đầu tiên của hội hát đúm cũng chính là ngày những cô gái của Tổng Phục được phép tháo bỏ chiếc khăn mỏ quạ bịt trên mặt trong suốt cả năm xuống. Chính vì thế, hội hát đúm ngày xuân ở Thủy Nguyên cũng được coi là ngày hội mở mặt. Trong những ngày hội, các chàng trai và cô gái của Tổng Phục (trước đây là 3 xã Phả Lễ, Phục Lễ và Lập Lễ thuộc Tổng Phục) sẽ tập trung lại để hát đúm tại khu vực sân đình Phục Lễ, đây một trong những ngôi đình lớn của Hải Phòng. Hát đúm cũng có khi tổ chức ở một địa điểm ở trên đường đi hay ở ngoài cánh đồng khi những chàng trai và cô gái trẻ trong Tổng Phục mặc những bộ quần áo truyền thống trong ngày hội gặp gỡ nhau. Họ sẽ nắm lấy tay nhau rất say sưa và cùng hát đối những làn điệu giao duyên để thể hiện khát vọng về một tình yêu đôi lứa bền chặt thông qua những câu hát trữ tình mang đậm chất dân gian của vùng quê Thủy Nguyên. Bài bản của lối hát đúm rất phong phú và đa dạng. Trước tiên, khi nam nữ mới gặp nhau sẽ hát những câu hát chào, câu hát mừng. Sau đó có thể biểu diễn các câu hát hỏi, hát đố, hát huê tình, hát họa, hát cưới... và cuối cùng sẽ là điệu hát ra về. Hát đúm được kéo dài từ lúc sáng cho tới trưa, từ trưa cho đến tối. Giữa các canh hát với nhau, các cô gái sẽ mời trầu nước, tặng vật kỷ niệm cho các chàng để bày tỏ lòng mến mộ. Buổi chiều , các cô sẽ mời các chàng trai về nhà mình và cùng ăn bữa cơm đầu xuân để đôi bên biết nhà cửa và có có khi hát tới khuya. Cứ tiếp tục như vậy, ngày này rồi qua ngày khác, cuộc hát đúm kéo dài cho đến ngày Mồng 10. Qua những buổi hát đối giao duyên, nhiều đôi trai gái đã kết nhau và rồi cuối năm lại nên duyên chồng vợ. Hát Đúm là một làn điệu dân gian cổ truyền của vùng quê Thủy Nguyên Bởi vì có tục lệ này mà các cô gái ở Thủy Nguyên cô nào cũng thuộc các bài hát ví để vào mỗi dịp lễ hội gặp các chàng trai mời hát thì mới hát và mở khăn. Hát ví thông thường chỉ dựa vào 2 thể thơ song thất lục bát và lục bát. Tuy không có nhiều làn điệu, thế nhưng đề tài lại rất phong phú, đòi hỏi người hát phải có kỹ thuật về đối đáp. Trong ngày tổ chức hội “Hát đúm”, tại sân chùa Phục Lễ sẽ có nhiều bàn hát đúm được bày ra, mỗi bàn sẽ kê 2 bộ tràng kỷ đối diện nhau. Giữa bàn bày sẵn các hộp trầu và khăn tay được thêu cành hồng (tặng phẩm). Một bên là các chàng trai, một bên là các cô gái ngồi ra 2 bên dãy tràng kỷ. Mặt đối mặt, tay trong tay. Thường thì cả 2 bên trai gái vào hát đều di chuyển để nếu khi có một ai đó hát bí hoặc bị hỏi, đố mà lúng túng không trả lời được thì sẽ ra hiệu người kia để hát đỡ, và gỡ thế bí cho. Khi hát còn có nhạc bát âm. Hai bên trai gái sẽ hát đối đáp qua lại. Bên nào mà không đối đáp được sẽ là bên thua. Đây giống như là một hình thức để thử tài văn chương, và kiến thức của nhau, ướm lời yêu đương được "tìm hiểu" bằng nghệ thuật, phải thuộc làu các tục ngữ và các truyện tích. Nam nữ hát Đúm giao duyên trong ngày xuân Hát đúm vui nhất là vào ngày hát giã đám. Lúc này họ sẽ trao giữ các kỷ vật cho nhau, nấn ná cho đến tận đêm khuya, mà đưa ra toàn là những bài hát hay, và mới nhất từ nỗi lòng sâu kín của chính họ. Ngày hôm đó cả hai bên cũng ít hát đối đáp mà chỉ toàn là hát các bài trữ tình,lưu luyến, bâng khuâng… Những thương nhớ, yêu đương, sự chia ly, xa cách, những lời hứa hẹn, sự đợi chờ, hy vọng… Họ mong đợi cho một mùa hội sau, để lại được say đắm trong ngày hội, để được nghe tiếng hát của nhau. Vào những ngày xuân, hát đúm dường như trỗi dậy với một sức sống mới đã tiềm ẩn từ rất lâu trong tâm trí và trong tấm lòng của những người dân của quê hương hát đúm. Các chàng trai và cô gái vẫn còn say sưa trong những làn điệu hát đúm của ngày xuân.

Related Figures

Lễ hội chùa Hàm Long

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 23/1- 25/1 Âm lịch Chùa Hàm Long thuộc địa phận xã Thủy Đường, huyện Thủy Nguyên, TP. Hải Phòng, là một công trình kiến trúc tôn giáo đạo Phật được xây dựng từ thế kỷ thứ 17, dưới thời hậu Lê. Ngôi chùa này được xây dựng ở trên sườn núi Vân Ô. Chùa Hàm Long từ lâu đã trở nên nổi tiếng, không chỉ nổi tiếng bởi cảnh quan đẹp thuộc vào hạng nhất của chốn Hải Dương, mà nơi đây còn nổi tiếng bởi lễ hội được tổ chức vào ngày 23-25 tháng Giêng âm lịch hàng năm. Lễ hội chùa Hàm Long là một lễ hội chùa của đạo Phật nên các công việc chuẩn bị vào hội cũng như việc rước tế đều không có.Trong không khí của lễ hội này, con người dường như được thoát khỏi thế giới trần tục và hoà mình vào cõi phật linh thiêng. Cảnh quan chùa Hàm Long Trước khi vào ngày hội chính khoảng 1 đến 2 ngày, nhà chùa sẽ làm các công việc như vệ sinh cảnh chùa, quét dọn... Một việc không thể thiếu đó chính là lễ tắm cho các pho tượng thờ. Tham gia việc tắm tượng phải là những người trong sạch, có phẩm chất đạo đức tốt, không chịu tang. Vào những năm dân làng nơi đây được mùa, nhân dân sẽ công đức nhiều hơn nên nhà chùa cũng tổ chức tô tượng và đồ thờ, ngoài ra còn các trang trí thêm kiến trúc của chùa. Ngôi chùa Hàm Long nổi tiếng về kiến trúc và mang giá trị nghệ thuật cao Vào ngày hội, sư trụ trì sẽ tụng kinh gõ mõ trước phật điện chùa Hàm Long, dưới sân chùa các đệ tử của ông sẽ cử hành lễ theo kinh Nam Hoa. Đi lên phía trên theo độ dốc của ngọn núi Vân Ô, còn có một ngôi chùa nhỏ, đó chính là chùa Cao, phật điện của chùa Cao chỉ có một pho tượng duy nhất là Quan âm Nam Hải được tạc theo phong cách " Thiên thủ thiên nhỡn ". Nơi đây còn thu hút rất nhiều người dân hành nghề sông nước từ các xã như Phục Lễ, Tam Hưng, An Lư, Phả Lễ, Minh Đức... tới dâng lễ cầu mong cho sóng yên biển lặng và đánh bắt được nhiều tôm cá. Vào buổi tối của ngày lễ hội, các hoạt động văn hoá được tổ chức rất sôi nổi như kể hạnh, hát chèo, mà nội dung chủ yếu đó là kể lại những công đức của nhà Phật, đồng thời khuyên răn các Phật tử phải tu nhân tích đức, chăm lo cho việc thiền. Đặc biệt, sự tích ông tổ Non Đông đã được chuyển thể thành bài thơ theo thể thơ lục bát với lối kể truyền miệng, sự tích này đã được lưu truyền từ bao đời nay. Ban thờ trong một gian thờ của chùa Hàm Long Lễ hội chùa Hàm Long diễn ra trong sự nhịp nhàng chứ không ồn ào và náo nhiệt như những lễ hội khác , tuy nhiên nó chứa đựng những giá trị tinh thần rất to lớn, chính vì vậy đã tạo nên sức cuốn hút lớn đối với mọi người tham gia, không chỉ là những tăng ni phật tử mà còn rất đông người dân từ tất cả những tầng lớp xã hội.

Related Figures

Lễ hội làng Vân Tra

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 14/1- 15/1 Âm lịch Làng Vân Tra thuộc địa phận xã An Đồng, huyện An Dương, thành phố hải Phòng. Là một vùng quê giáp ranh với thành phố Hải Phong, tuy nhiên từ lâu làng Vân vẫn duy trì được những nét đẹp trong văn hoá của các hội đình, hội chùa và là nơi hấp dẫn các du khách thập phương trong mỗi dịp Tết đến, Xuân về. Hội chùa làng Vân Tra được tổ chức trong 2 ngày là ngày 14 và 15 tháng giêng hàng năm. Ngoài lễ mở cửa chùa ra, lễ hội Vân Tra còn nhiều hoạt động văn hoá thể thao khác mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc, đã được Làng văn hoá Vân Tra tổ chức thường niên và đã thu hút được đông đảo du khách quanh vùng tham dự. Đội nữ đang làm lễ tại chùa Vân Tra Lễ hội vật truyền thống của làng Vân Tra được tổ chức thường niên để thể hiện tinh thần thượng võ. Trong ngày hội, các hoạt động văn hóa, thể thao và tâm linh cũng được tổ chức với mục đích ôn lại truyền thống hào hùng của cha ông ta. Đây cũng là dịp để các thanh thiếu niên giữa các làng, các xã giao lưu với nhau, tăng cường tình đoàn kết gắn bó, nâng cao mối thân tình cộng đồng. Hội đấu vật của làng Vân Tra còn có điểm độc đáo nữa là nét đặc sắc mà hiếm nơi nào có được đó là giải thách đấu đôi nam nữ. Phần hội diễn ra rất sôi nổi với nhiều trò vui dân gian như cuộc thi chọi gà, thi đấu cờ tướng hay bịt mắt đập niêu. Lễ hội làng Vân Tra tại Hải Phòng Sau ngày hội chùa, vào trung tuần của tháng 2, Làng văn hoá Vân Tra lại tổ chức một hội đình khác để tưởng nhớ tới công lao của đức thánh Đào Lôi, người đã có công lớn trong cuộc chiến đánh đuổi quân xâm lược nhà Tống. Cùng với ngôi chùa Vân Tra, ngôi đình này đã tạo nên một quần thể di tích văn hoá lịch sử và đã trở thành niềm tự hào của biết bao thế hệ người dân của làng văn hoá Vân Tra./. Đấu vật là điểm nổi bật nhất của lễ hội làng Vân Tra đã thể hiện được tinh thần thượng võ của người dân nơi đây

Related Figures

Lễ hội Núi Voi

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 12/2- 14/2 Âm lịch Hàng năm, cứ đến ngày 12-14 tháng 2 lễ hội truyền thống Núi Voi tại huyện An Lã, TP Hải Phòng lại tưng bưng cờ hoa, đây là một ngày hội mang màu sắc văn hoá địa phương của ngư dân vùng biển. Đây cũng chính là dịp để du khách khắp nơi trong nước có dịp tìm hiểu về mảnh đất cổ có bề dày lịch sử này, đến với lễ hội này du khách còn được thưởng thức và tham gia nhiều hoạt động văn hoá độc đáo. Trong suốt những năm Việt Nam kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ, Núi Voi đã trở thành một huyền thoại với hình ảnh nổi bật là “Những cô gái dân quân Hải Phòng treo mình bên vách đá, lưng chừng trời để ngắm bắn máy bay rơi”. Màn biểu diễn trống hội Núi Voi và lễ hội Núi Voi đã gắn liền với lịch sử phát triển của con người và vùng đất huyện An Lão, thành phố Hải Phòng. Trải qua biết bao thăng trầm lịch sử, dù cho quy mô tổ chức có to hay nhỏ khác nhau thì lễ hội Núi Voi vẫn luôn được người dân nơi đây duy trì từ hàng trăm năm qua. Lễ hội Núi Voi là dịp để người dân tôn vinh và tưởng nhớ tới những vị anh hùng dân tộc, bao lớp người An Lão đã đứng lên chiến đấu, bảo vệ và xây dựng vùng đất này. Chính vì thế đã thành tục lệ, lễ hội Núi Voi được bắt đầu bằng một nghi thức tế lễ diễn ra rất trang nghiêm tại khu đền thờ nữ tướng Lê Chân, một khu đền nằm ở phía nam núi Voi, sau đó sẽ là lễ tế thần hoàng tại chùa, đình Chi Lai nằm ở phía bên kia của dãy núi Voi. Khu danh thắng Núi Voi vốn được xem là nơi ẩn chứa nhiều dấu tích và nhiều truyền thuyết lịch sử vô cùng độc đáo, khiến không gian lễ hội lại càng trở nên linh thiêng hơn . Lễ hội Núi Voi không chỉ để tôn vinh và tưởng niệm các vị anh hùng của dân, những người đã có công lớn với đất nước, với quê hương, lễ hội này còn là dịp để mỗi làng quê giới thiệu tới du khách gần xa gần những tiềm năng của quê hương mình. Ngay trong không khí của những ngày đầu năm mới, từ khắp các làng trên, xóm dưới của huyện An Lão, đồng thời đã diễn ra khá nhiều lễ hội truyền thống, những tiết mục liên hoan văn nghệ, chơi thể thao, rồi từ đó ban tổ chức sẽ lựa chọn ra những tiết mục đặc sắc nhất và những diễn viên, vận động viên nào tiêu biểu nhất để tham dự lễ hội. Lễ hội Núi Voi là một trong những lễ hội lớn nhất của Hải Phòng Đã trở thành thông lệ, cứ đến ngày mồng 4 tháng 1 hằng năm, xã Thái Sơn, thường tổ chức hội vật mùa xuân, thường chọn những đô vật tiêu biểu trong vùng để tham gia Hội vật tự do Núi Voi. Vào ngày mồng 3 Tết, xã Bát Trang sẽ tổ chức giải thi đấu bóng chuyền, xã Quang Trung sẽ tổ chức liên hoan văn nghệ, xã An Thọ thì tổ chức giải cờ tướng,… Đây đều là những nội dung phần hội nằm trong những hoạt động của lễ hội Núi Voi. Đến với lễ hội Núi Voi du khách còn được sống trong một không gian văn hóa truyền thống Ngoài ra, tại lễ hội Núi Voi du khách còn được thưởng thức nhiều sản vật, món ăn nổi tiếng giàu chất hương vị quê hương như: khoai Tiên Hội, chè Chi Lai…/. Sự hòa quyện giữa không gian đẹp của di tích Núi Voi cùng với các hoạt động mang văn hóa đậm nét dân gian truyền thống của nhân dân huyện An Lão đã tạo nên một nét riêng hấp dẫn cho du khách đến lễ hội này. Đêm hội liên hoan văn nghệ

Hàng năm, cứ đến ngày 12-14 tháng 2 lễ hội truyền thống Núi Voi tại huyện An Lã, TP Hải Phòng lại tưng bưng cờ hoa, đây là một ngày hội mang màu sắc văn hoá địa phương của ngư dân vùng biển. Đây cũng chính là dịp để du khách khắp nơi trong nước có dịp tìm hiểu về mảnh đất cổ có bề dày lịch sử này, đến với lễ hội này du khách còn được thưởng thức và tham gia nhiều hoạt động văn hoá độc đáo. Trong suốt những năm Việt Nam kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ, Núi Voi đã trở thành một huyền thoại với hình ảnh nổi bật là “Những cô gái dân quân Hải Phòng treo mình bên vách đá, lưng chừng trời để ngắm bắn máy bay rơi”.

Màn biểu diễn trống hội

Núi Voi và lễ hội Núi Voi đã gắn liền với lịch sử phát triển của con người và vùng đất huyện An Lão, thành phố Hải Phòng. Trải qua biết bao thăng trầm lịch sử, dù cho quy mô tổ chức có to hay nhỏ khác nhau thì lễ hội Núi Voi vẫn luôn được người dân nơi đây duy trì từ hàng trăm năm qua. Lễ hội Núi Voi là dịp để người dân tôn vinh và tưởng nhớ tới những vị anh hùng dân tộc, bao lớp người An Lão đã đứng lên chiến đấu, bảo vệ và xây dựng vùng đất này. Chính vì thế đã thành tục lệ, lễ hội Núi Voi được bắt đầu bằng một nghi thức tế lễ diễn ra rất trang nghiêm tại khu đền thờ nữ tướng Lê Chân, một khu đền nằm ở phía nam núi Voi, sau đó sẽ là lễ tế thần hoàng tại chùa, đình Chi Lai nằm ở phía bên kia của dãy núi Voi. Khu danh thắng Núi Voi vốn được xem là nơi ẩn chứa nhiều dấu tích và nhiều truyền thuyết lịch sử vô cùng độc đáo, khiến không gian lễ hội lại càng trở nên linh thiêng hơn . Lễ hội Núi Voi không chỉ để tôn vinh và tưởng niệm các vị anh hùng của dân, những người đã có công lớn với đất nước, với quê hương, lễ hội này còn là dịp để mỗi làng quê giới thiệu tới du khách gần xa gần những tiềm năng của quê hương mình. Ngay trong không khí của những ngày đầu năm mới, từ khắp các làng trên, xóm dưới của huyện An Lão, đồng thời đã diễn ra khá nhiều lễ hội truyền thống, những tiết mục liên hoan văn nghệ, chơi thể thao, rồi từ đó ban tổ chức sẽ lựa chọn ra những tiết mục đặc sắc nhất và những diễn viên, vận động viên nào tiêu biểu nhất để tham dự lễ hội. Lễ hội Núi Voi là một trong những lễ hội lớn nhất của Hải Phòng Đã trở thành thông lệ, cứ đến ngày mồng 4 tháng 1 hằng năm, xã Thái Sơn, thường tổ chức hội vật mùa xuân, thường chọn những đô vật tiêu biểu trong vùng để tham gia Hội vật tự do Núi Voi. Vào ngày mồng 3 Tết, xã Bát Trang sẽ tổ chức giải thi đấu bóng chuyền, xã Quang Trung sẽ tổ chức liên hoan văn nghệ, xã An Thọ thì tổ chức giải cờ tướng,… Đây đều là những nội dung phần hội nằm trong những hoạt động của lễ hội Núi Voi. Đến với lễ hội Núi Voi du khách còn được sống trong một không gian văn hóa truyền thống Ngoài ra, tại lễ hội Núi Voi du khách còn được thưởng thức nhiều sản vật, món ăn nổi tiếng giàu chất hương vị quê hương như: khoai Tiên Hội, chè Chi Lai…/. Sự hòa quyện giữa không gian đẹp của di tích Núi Voi cùng với các hoạt động mang văn hóa đậm nét dân gian truyền thống của nhân dân huyện An Lão đã tạo nên một nét riêng hấp dẫn cho du khách đến lễ hội này. Đêm hội liên hoan văn nghệ

Related Figures

Lễ hội làng Đồng Minh

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/3- 15/3 Âm lịch Xã Đồng Minh thuộc địa phận huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng, nơi đây có 2 di tích nổi tiếng là miếu Bảo Hà và chùa Bảo Hà, đều là hai di tích có liên quan trực tiếp đến hội làng Đồng Minh. Hàng năm, từ ngày mồng 10-15 tháng 3 âm lịch nhân dân nơi đây lại tưng bừng mở hội làng Đồng Minh, đây là ngày lễ chính của làng, ngoài ra vào ngày giỗ của Nguyễn Công Huệ(18/6 âm lịch) nhân dân nơi đây cũng tổ chức một lễ hội nữa. Các phường thợ như sơn mài, điêu khắc, rối cạn, ngải cứu đều tập trung tại miếu để làm lễ cúng ông tổ nghề của mình. Nghề điêu khắc gỗ truyền thống của thôn Bảo Hà Theo tục lệ, hai thôn Bảo Hà và Linh Đông, mỗi thôn sẽ được cử ra một người làm mạnh bái để cử hành lễ tế. Hàng năm, hai thôn Hà Cầu và Linh Đông sẽ cử người để luân phiên nuôi “ lợn hỗng” cho lợn to béo và đẹp để chuẩn bị mở hội. Người nuôi lợn phải là các cụ đã cao tuổi, là người có danh vọng, có uy tín và có điều kiện kinh tế khá giả. Trước ngày mở hội ba ngày, những nhà ai nuôi lợn hỗng người ta sẽ cho lợn hỗng ăn mía cây, trứng gà, tắm sạch sẽ bằng nước ngũ vị. Vào ngày rước, lợn sẽ được nhốt vào cũi, có lọng che, các trai đinh cường tráng, khỏe mạnh và không có tang trở sẽ mặc quần dài, áo nâu để khiêng cũi lợn. Lễ rước Đám rước "lợn hỗng" thường được tổ chức như sau: Theo sau đội cờ ngũ sắc là đội khiêng lợn hỗng, đến mâm ngũ quả, rồi đến phường nhạc bát âm, sau đó đến các cụ cao tuổi rồi mới đến các chức sắc trong làng và đi cuối cùng là nhân dân trong thôn xã...Sau khi rước lợn hỗng về miếu, làng sẽ tổ chức lễ tế lợn ông hỗng và tổ chức cuộc thi lợn hỗng để chấm điểm. Nếu đem cân lợn, lợn của ai năm nay nặng hơn dịp lễ hội năm trước thì người nuôi lợn năm nay sẽ được nhận giải thưởng của làng đó, phần thưởng sẽ là 1 sào ruộng có chân điền tốt. Biểu diễn múa rối cạn Ngoài ra, trong lễ hội Đồng Minh bà con dân làng và khách xem hội còn được thưởng thức tiết mục múa rối cạn. Con rối thường do các phường thợ điêu khắc của Đồng Minh tự chế tạo lấy và được biểu diễn theo các tích cổ. Con rối được làm bằng gỗ, tay rối được làm bằng bông, toàn thân rối cao chừng 30 cm. Cũng giống như các lễ hội khác , lễ hội Đồng Minh còn tổ chức các cuộc thi đấu võ, hát chèo, đấu cờ vào ban ngày; tổ chức hát ả đào vào ban đêm...

Related Figures

Lễ hội rước lợn Ông Bồ

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/1 Âm lịch Kỳ Sơn thuộc địa phận xã Tân Trào, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng. Lễ hội Rước lợn "ông Bồ" của làng Kỳ Sơn đã gợi mở cho khách xem hội một cuộc kiếm tìm đầy ý nghĩa của một nét văn hóa dân gian đặc trưng, minh chứng cho sức sống mãnh liệt của những lễ hội truyền thống. Cứ đến ngày mồng 10 tháng Giêng âm lịch hàng năm người dân Kỳ Sơn lại tưng bừng mở hội Rước lợn Ông Bồ. Đây là một này không chỉ là một bình thường của những người nông dân mà còn mang thái địa phương vói ước nguyện mong cho quốc thái dân an, vạn vật sinh sôi nảy nở, mùa màng bội thu. Lợn Ông bồ là những con lợn được chăm sóc đặc biệt để phục vụ cho lễ tế Theo các bậc cao niên của làng Kỳ Sơn thì ông Bồ" không phải để chỉ một tên cụ thể nào đó, mà là có nghĩa tượng trưng cho sự to lớn. Về tham dự lễ hội Rước lợn ông bồ, khách xem hội cũng như nhân dân trong vùng đều thấy cách giải thích tên lễ hội như trên là có lý, bởi vì con lợn được rước trong lễ hội rất to, mặc dù nó đã được mổ thịt và cạo lông rất sạch sẽ. Nhiều bô lão trong làng cho biết, từ xa xưa các giáp của làng Kỳ Sơn rất khuyến khích việc người dân nuôi lợn giỏi, nhất là để chuẩn bị lợn cho lễ hội của làng. Thời ấy, làng quy định nếu gia đình nào sinh được con trai thì phải gánh tế đám, tức là gia đình ấy có nhiệm vụ nuôi một con lợn to để phụ vụ cho lễ tế đám. Số lợn được nuôi nhiều hay ít là tùy thuộc vào các giáp tự quyết định và làng đều treo giải là một cái thủ lợn, tùy thuộc vào trọng lượng của lợn. Sau khi được nuôi trong một cái chuồng sạch sẽ, cứ đến ngày mồng 9 tháng Giêng thì chủ lợn sẽ mở cửa chuồng ra để bà con dân làng được biết. Lợn sau khi được mổ thịt xong mới đặt lên cân để ghi điểm, lợn của ai ai nặng cân nhất thì người nuôi lợn ấy sẽ nhận được giải là cái thủ lợn... Lợn được mang vào tế đám sẽ tính theo trọng lượng móc hàm. Song song với việc mổ lợn, các giáp sẽ giã bánh dày.Vì vậy, vào lễ rước, làng Kỳ Sơn sẽ có đủ các lễ là lợn to và bánh dày, ai cũng hoan hỉ vì đóng góp công sức mình ở trong đó. Mọi nghi lễ tế Rước lợn "ông Bồ" của làng Kỳ Sơn được cử hành tại đình của làng. Lợn được làm sạch sẽ rồi mới đặt trên mâm sao cho xoãi cả bốn chân ra, có giấy hồng điều để trang trí ở trên thân. Mâm bánh dày xếp làm sao cho trông đẹp mắt, còn có mâm ngũ quả với nhiều màu sắc. Tất cả đều được đặt lên kiệu rước, rước đi trong đội âm nhạc và tiếng trống hội làng.Toàn bộ lễ rước diễn ra dưới sự điều hành của các vị bô lão và người dân trong làng. Các vị cao niên trong làng đang tiến hành làm lễ Lễ hội Rước lợn "ông Bồ" được lập từ rất lâu nhưng đã qua một thời gian gián đoạn, cho tới năm 1997 mới được khôi phục hoàn toàn. So với lễ hội trước đây, dân làng Kỳ Sơn không còn treo giải nuôi lợn, nhưng về cơ bản vẫn đảm bảo các quy trình của lễ hội xưa như chọn một gia đình nào đó để nuôi lợn giống tốt để khi vào ngày lễ hội là có lợn "ông Bồ" vừa nặng cân, vừa nhiều thịt, trông cũng đẹp mắt. Và lễ hội ngày nay cũng không thể thiếu bánh dày va mâm ngũ quả. Phần tế là do cụ Phạm Văn Mão và các đại diện trong làng cùng cử hành. Đội tế của người lớn (bồi tế) gồm những người có họ Vũ. Bên cạnh đó còn có 5 em thiếu niên nam là học giỏi, và khỏe mạnh tham gia. Lễ rước lợn Ông bồ Trong khói hương nghi ngút ở nơi cửa đình, các em được nghe bài văn tế của các cụ, trong không khí trang nghiêm của nghi lễ dân gian, các em sẽ thấm thía hơn ý nghĩa của một lễ hội quê nhà. Đó là sự kế thừa tinh thần của sự yêu lao động, một lòng muốn tạo nên sự no ấm cho mảnh đất quê hương mình. Sau khi rước lợn xong, dân làng sẽ được "thụ lộc "thịt lợn, hoa quả và bánh dày. Các hộ chăn nuôi giỏi đều được biểu dương và được khen thưởng. Dân làng ai ai cũng phấn khởi. Từ một con vật nuôi bình thường, ở một thời khắc nào đó nó lại được gắn liền với một nghi thức rất trang nghiêm của một lễ hội (mở 3 năm một lần như hiện nay), con lợn ở Kỳ Sơn đã trở nên linh thiêng và mang nhiều yếu tố tâm linh, tạo nên sự độc đáo trong lễ hội làng.

Kỳ Sơn thuộc địa phận xã Tân Trào, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng. Lễ hội Rước lợn "ông Bồ" của làng Kỳ Sơn đã gợi mở cho khách xem hội một cuộc kiếm tìm đầy ý nghĩa của một nét văn hóa dân gian đặc trưng, minh chứng cho sức sống mãnh liệt của những lễ hội truyền thống.

Cứ đến ngày mồng 10 tháng Giêng âm lịch hàng năm người dân Kỳ Sơn lại tưng bừng mở hội Rước lợn Ông Bồ. Đây là một này không chỉ là một bình thường của những người nông dân mà còn mang thái địa phương vói ước nguyện mong cho quốc thái dân an, vạn vật sinh sôi nảy nở, mùa màng bội thu. Lợn Ông bồ là những con lợn được chăm sóc đặc biệt để phục vụ cho lễ tế Theo các bậc cao niên của làng Kỳ Sơn thì ông Bồ" không phải để chỉ một tên cụ thể nào đó, mà là có nghĩa tượng trưng cho sự to lớn. Về tham dự lễ hội Rước lợn ông bồ, khách xem hội cũng như nhân dân trong vùng đều thấy cách giải thích tên lễ hội như trên là có lý, bởi vì con lợn được rước trong lễ hội rất to, mặc dù nó đã được mổ thịt và cạo lông rất sạch sẽ. Nhiều bô lão trong làng cho biết, từ xa xưa các giáp của làng Kỳ Sơn rất khuyến khích việc người dân nuôi lợn giỏi, nhất là để chuẩn bị lợn cho lễ hội của làng. Thời ấy, làng quy định nếu gia đình nào sinh được con trai thì phải gánh tế đám, tức là gia đình ấy có nhiệm vụ nuôi một con lợn to để phụ vụ cho lễ tế đám. Số lợn được nuôi nhiều hay ít là tùy thuộc vào các giáp tự quyết định và làng đều treo giải là một cái thủ lợn, tùy thuộc vào trọng lượng của lợn. Sau khi được nuôi trong một cái chuồng sạch sẽ, cứ đến ngày mồng 9 tháng Giêng thì chủ lợn sẽ mở cửa chuồng ra để bà con dân làng được biết. Lợn sau khi được mổ thịt xong mới đặt lên cân để ghi điểm, lợn của ai ai nặng cân nhất thì người nuôi lợn ấy sẽ nhận được giải là cái thủ lợn... Lợn được mang vào tế đám sẽ tính theo trọng lượng móc hàm. Song song với việc mổ lợn, các giáp sẽ giã bánh dày.Vì vậy, vào lễ rước, làng Kỳ Sơn sẽ có đủ các lễ là lợn to và bánh dày, ai cũng hoan hỉ vì đóng góp công sức mình ở trong đó. Mọi nghi lễ tế Rước lợn "ông Bồ" của làng Kỳ Sơn được cử hành tại đình của làng. Lợn được làm sạch sẽ rồi mới đặt trên mâm sao cho xoãi cả bốn chân ra, có giấy hồng điều để trang trí ở trên thân. Mâm bánh dày xếp làm sao cho trông đẹp mắt, còn có mâm ngũ quả với nhiều màu sắc. Tất cả đều được đặt lên kiệu rước, rước đi trong đội âm nhạc và tiếng trống hội làng.Toàn bộ lễ rước diễn ra dưới sự điều hành của các vị bô lão và người dân trong làng. Các vị cao niên trong làng đang tiến hành làm lễ Lễ hội Rước lợn "ông Bồ" được lập từ rất lâu nhưng đã qua một thời gian gián đoạn, cho tới năm 1997 mới được khôi phục hoàn toàn. So với lễ hội trước đây, dân làng Kỳ Sơn không còn treo giải nuôi lợn, nhưng về cơ bản vẫn đảm bảo các quy trình của lễ hội xưa như chọn một gia đình nào đó để nuôi lợn giống tốt để khi vào ngày lễ hội là có lợn "ông Bồ" vừa nặng cân, vừa nhiều thịt, trông cũng đẹp mắt. Và lễ hội ngày nay cũng không thể thiếu bánh dày va mâm ngũ quả. Phần tế là do cụ Phạm Văn Mão và các đại diện trong làng cùng cử hành. Đội tế của người lớn (bồi tế) gồm những người có họ Vũ. Bên cạnh đó còn có 5 em thiếu niên nam là học giỏi, và khỏe mạnh tham gia. Lễ rước lợn Ông bồ Trong khói hương nghi ngút ở nơi cửa đình, các em được nghe bài văn tế của các cụ, trong không khí trang nghiêm của nghi lễ dân gian, các em sẽ thấm thía hơn ý nghĩa của một lễ hội quê nhà. Đó là sự kế thừa tinh thần của sự yêu lao động, một lòng muốn tạo nên sự no ấm cho mảnh đất quê hương mình. Sau khi rước lợn xong, dân làng sẽ được "thụ lộc "thịt lợn, hoa quả và bánh dày. Các hộ chăn nuôi giỏi đều được biểu dương và được khen thưởng. Dân làng ai ai cũng phấn khởi. Từ một con vật nuôi bình thường, ở một thời khắc nào đó nó lại được gắn liền với một nghi thức rất trang nghiêm của một lễ hội (mở 3 năm một lần như hiện nay), con lợn ở Kỳ Sơn đã trở nên linh thiêng và mang nhiều yếu tố tâm linh, tạo nên sự độc đáo trong lễ hội làng.

Related Figures

Lễ hội đền Trinh Hư

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 11/1- 13/1 Âm lịch Đền Trinh Hưởng nằm trên địa phận xã Thiên Hương, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng. Ngôi đền này là nơi thờ ba anh em nhà họ Đào, là những người anh hùng đã có công lao lớn trong trận chiến trên sông Bạch Đằng năm 981, trận chiến mà quân Việt Nam ta đã đánh tan quân xâm lược Tống do Lê Hoàn làm thủ lĩnh . Vào ngày 12 tháng 1 âm lịch người dân Thiên Hương lại tưng bừng mở hội làng, đây là ngày chính hội và cũng chính là ngày 3 anh em họ Đào thắng trận trở về, mở hội khao thưởng dân làng. Từ đó, ngày này đã được người dân Trinh Hưởng lấy làm hội làng hàng năm. Hội làng Trinh Hưởng được tổ chức từ ngày 11 đến ngày 13 tháng 1 âm lịch. Buổi sáng ngày 11 tháng Giêng, các giáp đã cử hành lễ rước kiệu thánh từ các đền của giáp ra đình, người khiêng kiệu thường là những nam thanh niên khoẻ mạn, họ phải ăn chay một ngày trước khi mở lễ rước. Trong lễ rước, các chàng trai khiêng kiệu đều phải mặc áo the, quần trắng, gia đình phải không chịu tang. Lễ hội đền Trinh Hưởng tại Hải Phòng Trình tự trong đám rước: Đội cờ quạt dẫn đầu, sau đó đến người cầm chấp kích, bát biểu, theo sau là kiệu, theo sau kiệu là các quan viên và chức sắc trong làng, cuối cùng mới đến dân trong giáp ngoài làng. Ông Đám do dân làng cử ra là người sẽ điều khiển đám rước. Vì rước kiệu từ 3 nơi về đình nên thứ tự kiệu về giáo cũng phải được qui định, kiệu giáp Cả sẽ về đình đầu tiên, rồi mới đến giáp Bắc rồi đến giáp Đoài. Đám rước đi tới đâu cũng đều mang không khí sôi động đến đó, đều là để thu hút và kéo theo mọi người xem hội đến đó làm cho đám rước mỗi lúc một đông vui. Vì ngày 12 tháng Giêng mới là ngày hội chính nên buổi sáng thường dành thời gian cho khách thập phương đến lễ, còn các giáp sẽ cử hành rước cỗ tế lễ vào buổi chiều ngày hôm ấy, mâm lễ được chuẩn bị thật đơn giản nhưng lại có ý nghĩa: 1 mâm bánh chưng, 1 mâm bánh dày và 1 mâm hoa quả. Lễ cúng được tiến hành trong suốt 3 tuần hương: tuần đầu tiên là dâng hương hoa, tuần thứ hai là dâng nến, toà bát tiên, tuần 3 là dâng oản quả. Trong tế lễ này, quan đám sẽ đọc chúc tuyên dương công lao của các vị anh hùng dân tộc được dân làng tôn thờ. Ngoài nghi lễ này ra, trong ngày hội còn có tổ chức các trò vui. Người ta vòn tổ chức giải đấu vật để đọ sức, đánh cờ để đấu trí, hát ca trù, hát chèo và hát hò đối đáp của các thanh niên nam nữ. Vào lúc 5 giờ chiều ngày 13 tháng Giêng nhân dân các giáp sẽ tới đình để rước kiệu các kiệu về giáp của mình. Đám rước cũng bắt đầu tản về các ngả đường của thôn xóm trong tiếng bát âm rộn ràng, tiếng trống để báo hiệu kỳ hội làng đã sắp kết thúc. Đám rước lại tiếp tục đi trong ánh đuốc bập bùng ở dưới ánh trăng trong màn đêm. Lễ rước trong ngày hội đền Trinh Hưởng Đền Trinh Hưởng đã di tích đã nhận được chứng nhận di tích lịch sử văn hóa của Bộ Văn hoá thông tin.

Related Figures

Hội thi kéo xe ngựa Hoàng Châu

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/6 Âm lịch Hàng năm, cứ đến ngày mồng 10 tháng 6 âm lịch, Hội thi kéo xe ngựa Hoàng Châu lại diễn ra một cách sôi nổi và náo nhiệt tại xã Hoàng Châu, huyện Cát Hải, Hải Phòng. Hội thi kéo xe ngựa Hoàng Châu tại Hải Phòng Trong năm, cứ đến ngày ngày mất hoặc ngày sinh của các vị thành hoàng, người dân làng Hoàng Châu lại tưng bừng mở hội, nơi đây đã trở thành một tụ điểm sinh hoạt văn hóa cổ truyền của người dân địa phương và nhân dân địa phương lân cận. Người làng sẽ cùng nhau quây quần tại đình làng, thành kính và dâng lên thành hoàng những nén hương thơm, tế lễ ngay trước ban thờ của các vị thành hoàng để cầu mong những điều may mắn, và an bình trong cuộc sống, đồng thời tỏ lòng biết ơn tới công đức của tổ tiên. Trong những ngày mở Hội, làng Hoàng Châu còn tổ chức đám rước linh vị 2 vị thành hoàng làng từ 2 ngôi miếu ở giáp Đông và giáp Đoài về đình để mở hội tế lễ. Lễ hội Hoàng Châu nổi bật nhất với cuộc thi kéo ngựa chiến hay được gọi là xa mã ở giữa 2 bên giáp Đoài và giáp Đông. Để cuộc thi điều khiển xa mã được diễn ra một cách suôn sẻ, người ta phải chuẩn bị mọi thứ một cách chu đáo: chiếc xa mã được làm giống như một đôi ngựa chiến thực thụ, gồm có bộ dây cương, cổ đeo nhạc, yếm hoa, động cơ trên bánh xe bằng gỗ. Thành viên của 2 giáp tham dự cuộc thi đều phải mặc trang phục quần ống chẽn, đầu có chít khăn màu xanh hoặc màu đỏ, chít kiểu đầu rìu. Người chỉ huy tay có cầm một cờ nhỏ có màu sắc để phân biệt với cờ của bên đối phương, mỗi đội sẽ có một đôi gồm 12 - 15 người tham gia, trang phục quần áo, khăn mũ chỉnh tề đúng với quy định của hội làng. Các đội đang kéo ngựa chạy vòng quanh để chấm điểm Cuộc chơi chỉ được bắt đầu khi vị chủ quản phát ra hiệu lệnh, người chỉ huy phải điều khiến sao cho hai ngựa chuyển động lúc nhanh lúc chậm một cách nhịp nhàng, đôi khi lại lượn vòng một cách rất điệu nghệ. Quy định của cuộc thi là bên nào muốn giành được giải thưởng thì phải kéo cặp ngựa chạy đủ ba vòng, không được chạm vạch. Một điều tối kỵ là không được làm tổn thương đến xa mã của đối phương và các thành viên phải nắm giữ, kéo và đẩy chiếc xa mã. Ngày xưa, đội thắng cuộc sẽ nhận được một phần thưởng là chút lộc phẩm của hội đình. Vả bên thắng lẫn bên thua cùng nhau vui vẻ hòa mình vào sự cổ vũ, reo hò của nhân dân trong làng và khách thập phương; sau đó tất cả sẽ cùng nhau uống trà, hưởng lộc thánh, và cùng hẹn đến mùa lễ hội sang năm. Đây thật sự là một cuộc thi và cũng là một trò chơi vui mang tính thượng võ, mà lại đậm đà bản sắc văn hóa dân gian của làng xã Hoàng Châu vẫn đang được bảo lưu cho đến ngày nay. Lễ rước linh vị hai thành hoàng làng về đình làm lễ

Hàng năm, cứ đến ngày mồng 10 tháng 6 âm lịch, Hội thi kéo xe ngựa Hoàng Châu lại diễn ra một cách sôi nổi và náo nhiệt tại xã Hoàng Châu, huyện Cát Hải, Hải Phòng.

Hội thi kéo xe ngựa Hoàng Châu tại Hải Phòng

Trong năm, cứ đến ngày ngày mất hoặc ngày sinh của các vị thành hoàng, người dân làng Hoàng Châu lại tưng bừng mở hội, nơi đây đã trở thành một tụ điểm sinh hoạt văn hóa cổ truyền của người dân địa phương và nhân dân địa phương lân cận. Người làng sẽ cùng nhau quây quần tại đình làng, thành kính và dâng lên thành hoàng những nén hương thơm, tế lễ ngay trước ban thờ của các vị thành hoàng để cầu mong những điều may mắn, và an bình trong cuộc sống, đồng thời tỏ lòng biết ơn tới công đức của tổ tiên.

Trong những ngày mở Hội, làng Hoàng Châu còn tổ chức đám rước linh vị 2 vị thành hoàng làng từ 2 ngôi miếu ở giáp Đông và giáp Đoài về đình để mở hội tế lễ. Lễ hội Hoàng Châu nổi bật nhất với cuộc thi kéo ngựa chiến hay được gọi là xa mã ở giữa 2 bên giáp Đoài và giáp Đông. Để cuộc thi điều khiển xa mã được diễn ra một cách suôn sẻ, người ta phải chuẩn bị mọi thứ một cách chu đáo: chiếc xa mã được làm giống như một đôi ngựa chiến thực thụ, gồm có bộ dây cương, cổ đeo nhạc, yếm hoa, động cơ trên bánh xe bằng gỗ. Thành viên của 2 giáp tham dự cuộc thi đều phải mặc trang phục quần ống chẽn, đầu có chít khăn màu xanh hoặc màu đỏ, chít kiểu đầu rìu. Người chỉ huy tay có cầm một cờ nhỏ có màu sắc để phân biệt với cờ của bên đối phương, mỗi đội sẽ có một đôi gồm 12 - 15 người tham gia, trang phục quần áo, khăn mũ chỉnh tề đúng với quy định của hội làng. Các đội đang kéo ngựa chạy vòng quanh để chấm điểm Cuộc chơi chỉ được bắt đầu khi vị chủ quản phát ra hiệu lệnh, người chỉ huy phải điều khiến sao cho hai ngựa chuyển động lúc nhanh lúc chậm một cách nhịp nhàng, đôi khi lại lượn vòng một cách rất điệu nghệ. Quy định của cuộc thi là bên nào muốn giành được giải thưởng thì phải kéo cặp ngựa chạy đủ ba vòng, không được chạm vạch. Một điều tối kỵ là không được làm tổn thương đến xa mã của đối phương và các thành viên phải nắm giữ, kéo và đẩy chiếc xa mã. Ngày xưa, đội thắng cuộc sẽ nhận được một phần thưởng là chút lộc phẩm của hội đình. Vả bên thắng lẫn bên thua cùng nhau vui vẻ hòa mình vào sự cổ vũ, reo hò của nhân dân trong làng và khách thập phương; sau đó tất cả sẽ cùng nhau uống trà, hưởng lộc thánh, và cùng hẹn đến mùa lễ hội sang năm. Đây thật sự là một cuộc thi và cũng là một trò chơi vui mang tính thượng võ, mà lại đậm đà bản sắc văn hóa dân gian của làng xã Hoàng Châu vẫn đang được bảo lưu cho đến ngày nay. Lễ rước linh vị hai thành hoàng làng về đình làm lễ

Related Figures

Lễ hội Từ Lương Xâm

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 16/1- 18/1 Âm lịch Lễ hội Từ Lương Xâm được tổ chức trong 3 ngày từ ngày 14 đến 16 tháng Giêng âm lịch hàng năm, tại phường Nam Hải, Hải An, thành phố Hải phòng. Đây chính là dịp để người dân Việt Nam cùng nhau ôn lại truyền thống lịch sử hào hùng của dân tộc và biểu dương những tấm gương, những công đức to lớn của người anh hùng của dân tộc Ngô Quyền. Lịch sử thành văn đã khẳng định: Cuối năm 938, sau khi dẹp lọa lũ phản bội Kiều Công Tiễn, tại Đại La (ngày nay là Hà Nội), Ngô Quyền đã đưa đại quân của mình về vùng cửa sông Bạch Đằng để xây dựng thế trận đón đánh giặc xâm lược Nam Hán. Ông đã lợi dụng triệt để sự địa hình phức tạp của sông Bạch Đằng và hiết lập nên một trận địa thủy chiến với quy mô lớn, có thể nói trận địa này có đủ khả năng để chôn vùi hàng trăm chiếc thuyền chiến của quân giặc. Ông đã huy động quân dân chặt nhiều gỗ, vót thật nhọn, bịt sắt rồi đóng thành một bãi cọc lớn ở trên cửa sông Bạch Đằng. Quân thủy và bộ cùng cùng phối hợp với nhiều lực lượng dân binh, sau đó ông cho quân lính mai phục sẵn ở bên trong bãi cọc, nơi hạ lưu sông. Một đội thuyền nhẹ sẽ di chuyển về hướng quân giặc dưới sự sự chỉ huy của Ngô Tất Tố, vốn là người giỏi bơi lội và đã quá quen thuộc với địa hình sông nước, nhân lúc nước triều lên đội quân của Ngô Tất tố sẽ nhử giặc cho chúng vượt qua bãi cọc, chúng ấn thân vào cạm bẫy của ta. Và điều diệu kỳ cuối cùng cũng đã đến, đây là trận đánh diễn ra đúng theo diệu kế của Ngô Quyền. Tiết mục múa rồng đặc sắc Chiến thắng Bạch Đằng vào năm 938 rất nhanh nhanh gọn, và bất ngờ, bất ngờ tới mức vua Nam Hán dù đang cầm quân tiếp ứng đóng ở biên giới nhưng vẫn không kịp đưa quân đến chi viện. Chiến thắng Bạch Đằng đã viết nên trang sử hào hùng của đất nước Việt Nam, con người Việt Nam trên con đường đấu tranh chống Bắc thuộc, chống đồng hóa và đấu tranh giành lại sự bình yên cho bờ cõi nước nhà. Để tưởng nhớ truyền thống “uống nước nhớ nguồn” và sự gắn bó tình thân hữu, và những công lao to lớn của Ngô Quyền, người dân trong vùng đất cửa sông Bạch Đằng đã tôn ông làm thành hoàng. Ở vùng đất này trải qua bao nhiêu năm lịch sử, mặc dù nhiều làng xã cũ đã không còn nữa, nhưng nhiều làng mới cũng bắt đầu xuất hiện, và có một điểm chung rằng những làng mới này họ cũng đều thờ Ngô Quyền. Xưa kia, sau khi người ta đã cử hành nghi thức quốc lễ tại từ Lương Xâm xong thì cũng là lúc các tổng, các làng xã xung quanh cũng bắt đầu tổ chức tế lễ Ngô Vương. Việc tế lễ Ngô Quyền được cấp nhà nước (thời Đinh, Ngô, Lý, Tiền Lê) sau này lại do hàng huyện đảm nhiệm tổ chức, cuối cùng là hàng tổng và của dân ở làng sở tại. Lễ rước kiệu Cuộc hành lễ trong lễ hội Lương Xâm diễn ra với đoàn lễ rất đông của hàng chục làng xã tiến hành rước kiệu từ đình làng mình về chầu đã tạo nên một sức mạnh cộng đồng và tấm lòng luôn hướng về cội nguồn một cách mạnh mẽ. Tất cả các kiệu đều được đặt tại một khu đất rộng ngay trước cửa Linh từ Lương Xâm về để chấm giải. Kiệu nào đoạt nhất thì lần sau sẽ có được vinh dự thay mặt cho cả đoàn kiệu đứng lên dâng lễ Thánh Vương. Trong lễ hội Lương Xâm còn tổ chức nhiều tiết mục văn nghệ, các tiết mục biểu diễn ca múa nhạc của dân tộc đã tái hiện lại chiến thắng Bạch Đằng lẫy lừng Ngô Quyền, đồng thời còn tổ chức các trò chơi dân gian như: bịt mắt bắt dê, bịt mắt đập niêu, cờ tướng, đu xuân, tổ chức giải bóng đá, cờ người, bóng chuyền… Tiết mục múa trống truyền thống

Lễ hội Từ Lương Xâm được tổ chức trong 3 ngày từ ngày 14 đến 16 tháng Giêng âm lịch hàng năm, tại phường Nam Hải, Hải An, thành phố Hải phòng. Đây chính là dịp để người dân Việt Nam cùng nhau ôn lại truyền thống lịch sử hào hùng của dân tộc và biểu dương những tấm gương, những công đức to lớn của người anh hùng của dân tộc Ngô Quyền.

Lịch sử thành văn đã khẳng định: Cuối năm 938, sau khi dẹp lọa lũ phản bội Kiều Công Tiễn, tại Đại La (ngày nay là Hà Nội), Ngô Quyền đã đưa đại quân của mình về vùng cửa sông Bạch Đằng để xây dựng thế trận đón đánh giặc xâm lược Nam Hán. Ông đã lợi dụng triệt để sự địa hình phức tạp của sông Bạch Đằng và hiết lập nên một trận địa thủy chiến với quy mô lớn, có thể nói trận địa này có đủ khả năng để chôn vùi hàng trăm chiếc thuyền chiến của quân giặc. Ông đã huy động quân dân chặt nhiều gỗ, vót thật nhọn, bịt sắt rồi đóng thành một bãi cọc lớn ở trên cửa sông Bạch Đằng. Quân thủy và bộ cùng cùng phối hợp với nhiều lực lượng dân binh, sau đó ông cho quân lính mai phục sẵn ở bên trong bãi cọc, nơi hạ lưu sông. Một đội thuyền nhẹ sẽ di chuyển về hướng quân giặc dưới sự sự chỉ huy của Ngô Tất Tố, vốn là người giỏi bơi lội và đã quá quen thuộc với địa hình sông nước, nhân lúc nước triều lên đội quân của Ngô Tất tố sẽ nhử giặc cho chúng vượt qua bãi cọc, chúng ấn thân vào cạm bẫy của ta. Và điều diệu kỳ cuối cùng cũng đã đến, đây là trận đánh diễn ra đúng theo diệu kế của Ngô Quyền. Tiết mục múa rồng đặc sắc Chiến thắng Bạch Đằng vào năm 938 rất nhanh nhanh gọn, và bất ngờ, bất ngờ tới mức vua Nam Hán dù đang cầm quân tiếp ứng đóng ở biên giới nhưng vẫn không kịp đưa quân đến chi viện. Chiến thắng Bạch Đằng đã viết nên trang sử hào hùng của đất nước Việt Nam, con người Việt Nam trên con đường đấu tranh chống Bắc thuộc, chống đồng hóa và đấu tranh giành lại sự bình yên cho bờ cõi nước nhà. Để tưởng nhớ truyền thống “uống nước nhớ nguồn” và sự gắn bó tình thân hữu, và những công lao to lớn của Ngô Quyền, người dân trong vùng đất cửa sông Bạch Đằng đã tôn ông làm thành hoàng. Ở vùng đất này trải qua bao nhiêu năm lịch sử, mặc dù nhiều làng xã cũ đã không còn nữa, nhưng nhiều làng mới cũng bắt đầu xuất hiện, và có một điểm chung rằng những làng mới này họ cũng đều thờ Ngô Quyền. Xưa kia, sau khi người ta đã cử hành nghi thức quốc lễ tại từ Lương Xâm xong thì cũng là lúc các tổng, các làng xã xung quanh cũng bắt đầu tổ chức tế lễ Ngô Vương. Việc tế lễ Ngô Quyền được cấp nhà nước (thời Đinh, Ngô, Lý, Tiền Lê) sau này lại do hàng huyện đảm nhiệm tổ chức, cuối cùng là hàng tổng và của dân ở làng sở tại. Lễ rước kiệu Cuộc hành lễ trong lễ hội Lương Xâm diễn ra với đoàn lễ rất đông của hàng chục làng xã tiến hành rước kiệu từ đình làng mình về chầu đã tạo nên một sức mạnh cộng đồng và tấm lòng luôn hướng về cội nguồn một cách mạnh mẽ. Tất cả các kiệu đều được đặt tại một khu đất rộng ngay trước cửa Linh từ Lương Xâm về để chấm giải. Kiệu nào đoạt nhất thì lần sau sẽ có được vinh dự thay mặt cho cả đoàn kiệu đứng lên dâng lễ Thánh Vương. Trong lễ hội Lương Xâm còn tổ chức nhiều tiết mục văn nghệ, các tiết mục biểu diễn ca múa nhạc của dân tộc đã tái hiện lại chiến thắng Bạch Đằng lẫy lừng Ngô Quyền, đồng thời còn tổ chức các trò chơi dân gian như: bịt mắt bắt dê, bịt mắt đập niêu, cờ tướng, đu xuân, tổ chức giải bóng đá, cờ người, bóng chuyền… Tiết mục múa trống truyền thống

Related Figures

Lễ hội Minh thề

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 14/1 Âm lịch Lễ hội Minh Thề được tổ chức vào ngày 14 tháng 1 âm lịch hàng năm, tại Miếu thờ của thôn Hoà Liễu, thuộc xã Thuận Thiên, Kiến Thuỵ, Hải Phòng. Lễ hội này là sự kết hợp hài hòa giữa giáo dục đạo lý nhân cách và tín ngưỡng tâm linh. Cắt tiết gà tuyên thề trước sự chứng kiến của dân làng Theo truyền thuyết, ngôi chùa cổ Hoà Liễu được xây dựng từ thế kỷ thứ 13, còn có tên khác là Thiên Phúc Tự. Giữa thế kỷ thứ 16, thái hoàng Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toả (vợ của Thái Thượng hoàng Mạc Đăng Dung) đã đến ấp Lan Niểu (là thôn Hoà Liễu hiện nay) tự bỏ tiền ra và vận động những người trong hoàng thân quốc thích, quan lại của triều Mạc có cả thảy 35 vị cùng góp tiền để trùng tu và tái tạo lại ngôi chùa cổ này. Thái Hoàng Thái Hậu đã mua 25 mẫu 8 sào 2 thước ruộng để cúng dâng Tam Bảo. Nhiều người đã noi theo gương Thái hoàng thái hậu mà tậu ruộng để cúng chùa để gia tăng diện tích lên đến 47 mẫu 5 sào. Số ruộng này dân làng nơi đây gọi là Thánh điền, một phần diện tích được dành cho các hộ gia đình chùa cấy, một phần sẽ dùng mỗi khi vào tuần tiết lễ hội, còn ít ruộng sẽ chia cho các dân đinh cấy cày hưởng lộc và cho cấy đấu lấy thóc nộp quỹ nghĩa thương hoặc phòng khi có nạn đói khó thì cấp đỡ người nghèo, quả phụ, cố nhân… Cũng chính từ nơi này, Thái hoàng Thái hậu đã bàn với làng rồi lập ra một Hịch văn hội Minh thề để quy định lấy chí công làm trọng. Hội Hoà Liễu thường kéo dài trong 3 ngày, vào các ngày 14, 15 và 16 tháng 1, nhưng hội “Minh thề” được tổ chức như một dịp khai hội. Trước kia, trước khi khai mạc hội Minh Thề, dân làng thường tế Thánh tại khu miếu chính của làng, thường là những người phải có chức dịch trong hàng tổng, có khi có quan lại hàng phủ về dự lễ. Vị chủ tế đang cử hành nghi lễ Các nghi lễ được cử hành rất trang trọng, ông chủ lễ và các vị bồi lễ sẽ cùng nhau đọc bản chúc văn lai lịch và công đức của Thánh vương. Sau đó, họ sẽ tiến hành làm lễ dâng hương, dâng nước và dâng rượu trong tiếng nhạc bát có âm thanh réo rắt. Sáu khi tế thần xong các bô lão, chức dịch, dân làng và quan khách sửa soạn quần áo chỉnh tề rồi tập trung quanh sân miếu đứng theo thứ bậc. Chủ tế sẽ thể hiện động tác “chỉ trời vạch đất” để mô phỏng lại phép biến hóa trong Kinh dịch rồi tiếp đến sẽ vẽ một vòng tròn có đường kính chừng 2m ở ngay giữa sân miếu còn được gọi là Đài thề. Trước Đài thề sẽ đặt một bàn thờ sao cho bàn quay mặt về hướng về cửa miếu thâm nghiêm. Tiếp theo sẽ là nghi lễ cắt tiết gà để cử hành nghi lễ uống máu ăn thề. Nghi lễ này phải được thực hiện rất cầu kì và tuân theo quy định nghiêm ngặt của truyền thống đã có từ ngàn đời xưa. Máu gà trống sẽ được hòa vào một bình rượu lớn, sau đó, người này uống xong truyền tay tay người kia uống một ngụm đã khẳng định tinh thần đoàn kết và cùng nhau thực hiện lời thề. Sau lễ hội Minh diễn ra rất thề trang nghiêm, dân làng Hoà Liễu như được tiếp thêm sức mạnh, rũ bỏ mọi ưu phiền của một năm qua để tiếp tục bước cũng chính thức năm mới, với niềm tin tưởng vào những điều tốt đẹp sẽ đến với dân làng. các vị cao niên đang đọc bản chúc văn lai lịch

Lễ hội Minh Thề được tổ chức vào ngày 14 tháng 1 âm lịch hàng năm, tại Miếu thờ của thôn Hoà Liễu, thuộc xã Thuận Thiên, Kiến Thuỵ, Hải Phòng. Lễ hội này là sự kết hợp hài hòa giữa giáo dục đạo lý nhân cách và tín ngưỡng tâm linh.

Cắt tiết gà tuyên thề trước sự chứng kiến của dân làng

Theo truyền thuyết, ngôi chùa cổ Hoà Liễu được xây dựng từ thế kỷ thứ 13, còn có tên khác là Thiên Phúc Tự. Giữa thế kỷ thứ 16, thái hoàng Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toả (vợ của Thái Thượng hoàng Mạc Đăng Dung) đã đến ấp Lan Niểu (là thôn Hoà Liễu hiện nay) tự bỏ tiền ra và vận động những người trong hoàng thân quốc thích, quan lại của triều Mạc có cả thảy 35 vị cùng góp tiền để trùng tu và tái tạo lại ngôi chùa cổ này. Thái Hoàng Thái Hậu đã mua 25 mẫu 8 sào 2 thước ruộng để cúng dâng Tam Bảo. Nhiều người đã noi theo gương Thái hoàng thái hậu mà tậu ruộng để cúng chùa để gia tăng diện tích lên đến 47 mẫu 5 sào. Số ruộng này dân làng nơi đây gọi là Thánh điền, một phần diện tích được dành cho các hộ gia đình chùa cấy, một phần sẽ dùng mỗi khi vào tuần tiết lễ hội, còn ít ruộng sẽ chia cho các dân đinh cấy cày hưởng lộc và cho cấy đấu lấy thóc nộp quỹ nghĩa thương hoặc phòng khi có nạn đói khó thì cấp đỡ người nghèo, quả phụ, cố nhân… Cũng chính từ nơi này, Thái hoàng Thái hậu đã bàn với làng rồi lập ra một Hịch văn hội Minh thề để quy định lấy chí công làm trọng. Hội Hoà Liễu thường kéo dài trong 3 ngày, vào các ngày 14, 15 và 16 tháng 1, nhưng hội “Minh thề” được tổ chức như một dịp khai hội. Trước kia, trước khi khai mạc hội Minh Thề, dân làng thường tế Thánh tại khu miếu chính của làng, thường là những người phải có chức dịch trong hàng tổng, có khi có quan lại hàng phủ về dự lễ. Vị chủ tế đang cử hành nghi lễ Các nghi lễ được cử hành rất trang trọng, ông chủ lễ và các vị bồi lễ sẽ cùng nhau đọc bản chúc văn lai lịch và công đức của Thánh vương. Sau đó, họ sẽ tiến hành làm lễ dâng hương, dâng nước và dâng rượu trong tiếng nhạc bát có âm thanh réo rắt. Sáu khi tế thần xong các bô lão, chức dịch, dân làng và quan khách sửa soạn quần áo chỉnh tề rồi tập trung quanh sân miếu đứng theo thứ bậc. Chủ tế sẽ thể hiện động tác “chỉ trời vạch đất” để mô phỏng lại phép biến hóa trong Kinh dịch rồi tiếp đến sẽ vẽ một vòng tròn có đường kính chừng 2m ở ngay giữa sân miếu còn được gọi là Đài thề. Trước Đài thề sẽ đặt một bàn thờ sao cho bàn quay mặt về hướng về cửa miếu thâm nghiêm. Tiếp theo sẽ là nghi lễ cắt tiết gà để cử hành nghi lễ uống máu ăn thề. Nghi lễ này phải được thực hiện rất cầu kì và tuân theo quy định nghiêm ngặt của truyền thống đã có từ ngàn đời xưa. Máu gà trống sẽ được hòa vào một bình rượu lớn, sau đó, người này uống xong truyền tay tay người kia uống một ngụm đã khẳng định tinh thần đoàn kết và cùng nhau thực hiện lời thề. Sau lễ hội Minh diễn ra rất thề trang nghiêm, dân làng Hoà Liễu như được tiếp thêm sức mạnh, rũ bỏ mọi ưu phiền của một năm qua để tiếp tục bước cũng chính thức năm mới, với niềm tin tưởng vào những điều tốt đẹp sẽ đến với dân làng. các vị cao niên đang đọc bản chúc văn lai lịch

Related Figures

Lễ hội Đình Vĩnh Khê

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 7/1 Âm lịch Đình Vĩnh Khê nằm trên địa phận làng Vĩnh Khê, xã An Đồng, An Dương, Hải Phòng. Lễ hội Đình Vĩnh Khê được tổ chức vào ngày mồng 7 tháng 1 âm lịch hàng năm nhằm kỷ niệm ngày sinh của hai vị tướng tài dưới thời vua Trần Nghệ Tông là Vũ Giao và Vũ Trung. Để bày tỏ lòng tôn kính và cũng là để tưởng nhớ tới cội nguồn, noi gương tấm gương trung liệt, hiếu nghĩa của 2 vị tướng họ Vũ, người dân đã lấy ngày này để mở hội làng. Hội làng Vĩnh Khê gắn liền với một hội thi đấu vật, thường chỉ diễn ra 1 ngày nhưng lễ hội này cũng đã thu hút rất nhiều đô vật đến từ các lò vật nổi tiếng tại Vĩnh Bảo và Tiên Lãng đến so tài. Lễ hội Đình Vĩnh Khê tại Hải Phòng Vào ngày hôm trước hôm khai cuộc, các vị cao niên trong cùng các dòng họ sẽ tiến cử ra 2 cụ già của làng đạt đủ tiêu chuẩn: là người đức cao vọng trọng, gia đình song toàn, không vướng tang gia, kinh tế khá, ăn mặc trang phục gọn gàng, làm lễ "Giao điệt" ở trước của đình. Hai vị cao niên được dân làng chọn sẽ mặc trang phục giống nhau và cùng nhatu tiến hành biểu diễn những miếng, vờn, trò, chào cơ bản trong mỗi cuộc thi đấu vật. Nét độc đáo riêng biệt trong lễ hội vật truyền thống của làng Vĩnh Khê chính là thể lệ thi đấu không tuân theo bất cứ một quy chuẩn sẵn có của đấu vật mà hoàn toàn là theo lệ làng quy định. Chính vì thế, các đô vật tham gia cuộc thi sẽ đấu với nhau mà không cần tính thời gian, lứa tuổi hay hạng cân. Hội đình Vĩnh Khê thu hút hàng nghìn người dân và du khách đến xem hội Một nét riêng biệt khác mà chỉ có hội vật làng Vĩnh khê mới đó, đó là cơ cấu giải thưởng thường lớn hơn so với nhiều hội vật khác bởi vì khách xem hội có nhiều người sẵn sàng ủng hộ cả hàng chục triệu đồng. Thông thường, các đô vật tham gia hội thi sẽ phải thi đấu trong 3 hiệp, mỗi hiệp diễn ra trong 3 phút, tuy nhiên nếu kết thúc cả 3 hiệp thi đấu mà vẫn không tìm được người thắng cuộc thì các đô vật sẽ bước vào hiệp phụ mà không cần phải tính thời gian. Người được coi là chiến thắng tuyệt đối là khi anh ta phải hạ được đối thủ ở tư thế hai vai hoặc một bên mông phải chạm thảm trong khoảng thời gian 3 giây của 1 hiệp thi đấu.. Đấu vật là một phần không thể thiếu trong lễ hội đình Vĩnh Khê

Đình Vĩnh Khê nằm trên địa phận làng Vĩnh Khê, xã An Đồng, An Dương, Hải Phòng. Lễ hội Đình Vĩnh Khê được tổ chức vào ngày mồng 7 tháng 1 âm lịch hàng năm nhằm kỷ niệm ngày sinh của hai vị tướng tài dưới thời vua Trần Nghệ Tông là Vũ Giao và Vũ Trung. Để bày tỏ lòng tôn kính và cũng là để tưởng nhớ tới cội nguồn, noi gương tấm gương trung liệt, hiếu nghĩa của 2 vị tướng họ Vũ, người dân đã lấy ngày này để mở hội làng. Hội làng Vĩnh Khê gắn liền với một hội thi đấu vật, thường chỉ diễn ra 1 ngày nhưng lễ hội này cũng đã thu hút rất nhiều đô vật đến từ các lò vật nổi tiếng tại Vĩnh Bảo và Tiên Lãng đến so tài.

Lễ hội Đình Vĩnh Khê tại Hải Phòng

Vào ngày hôm trước hôm khai cuộc, các vị cao niên trong cùng các dòng họ sẽ tiến cử ra 2 cụ già của làng đạt đủ tiêu chuẩn: là người đức cao vọng trọng, gia đình song toàn, không vướng tang gia, kinh tế khá, ăn mặc trang phục gọn gàng, làm lễ "Giao điệt" ở trước của đình. Hai vị cao niên được dân làng chọn sẽ mặc trang phục giống nhau và cùng nhatu tiến hành biểu diễn những miếng, vờn, trò, chào cơ bản trong mỗi cuộc thi đấu vật. Nét độc đáo riêng biệt trong lễ hội vật truyền thống của làng Vĩnh Khê chính là thể lệ thi đấu không tuân theo bất cứ một quy chuẩn sẵn có của đấu vật mà hoàn toàn là theo lệ làng quy định. Chính vì thế, các đô vật tham gia cuộc thi sẽ đấu với nhau mà không cần tính thời gian, lứa tuổi hay hạng cân. Hội đình Vĩnh Khê thu hút hàng nghìn người dân và du khách đến xem hội Một nét riêng biệt khác mà chỉ có hội vật làng Vĩnh khê mới đó, đó là cơ cấu giải thưởng thường lớn hơn so với nhiều hội vật khác bởi vì khách xem hội có nhiều người sẵn sàng ủng hộ cả hàng chục triệu đồng. Thông thường, các đô vật tham gia hội thi sẽ phải thi đấu trong 3 hiệp, mỗi hiệp diễn ra trong 3 phút, tuy nhiên nếu kết thúc cả 3 hiệp thi đấu mà vẫn không tìm được người thắng cuộc thì các đô vật sẽ bước vào hiệp phụ mà không cần phải tính thời gian. Người được coi là chiến thắng tuyệt đối là khi anh ta phải hạ được đối thủ ở tư thế hai vai hoặc một bên mông phải chạm thảm trong khoảng thời gian 3 giây của 1 hiệp thi đấu.. Đấu vật là một phần không thể thiếu trong lễ hội đình Vĩnh Khê

Related Figures

Lễ Hội đền Kiếp Bạc

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/8- 20/8 Âm lịch Hội đền Kiếp Bạc được tổ chức từ ngày 15 đến 20 tháng 8 âm lịch hàng năm, tại đền Kiếp Bạc thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, là một lễ hội truyền thống để kỉ niệm ngày mất của vị anh hùng dân tộc Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Là một trong những lễ hội lớn nhất toàn quốc, thu hút được hàng vạn người từ khắp nơi trên mọi miền đất nước về trẩy hội, để tưởng nhớ tới công đức của vị anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo, họ còn được thăm thú cảnh quan tuyệt đẹp của nơi đây. Khuôn viên đền Kiếp Bạc Trước kia, hội đền Kiếp Bạc thường được tổ chức theo nghi lễ quốc gia, cứ đến dịp lễ triều đình lại cử quan lại về để làm chủ tế. Tương truyền, ngày giỗ của Đức Thánh Trần là một ngày vô cùng thiêng liêng vì nhân dân Việt Nam đã tôn thờ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn như một người cha của họ. Ngày nay, ngày 20 tháng 8 âm lịch mới là ngày chính hội, nhưng từ vài ngày trước đó du khách thập phương đã kéo về đây nườm nượp, từng đoàn người đến rồi đi không ngớt, thuyền đậu chật cả bến sông. Ngày hội chính diễn ra rất long trọng, mở đầu bằng nghi lễ dâng hương của các cấp chính quyền địa phương. Đại diện chính quyền sẽ lên đọc diễn văn ca ngợi công lao to lớn của vị anh hùng dân tộc Trần Quốc Tuấn, ca ngợi những thắng lợi trong cuộc chiến chống giặc Nguyên Mông và tai hiện lại không khí hào hùng, oanh liệt của dân tộc ta trong hơn bảy trăm năm về trước, đồng thời biểu dương cho tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái và lòng yêu nước sâu sắc của nhân dân ta. Sau lễ dâng hương sẽ cử hành đại lễ với nghi thức tế lễ uy nghiêm. Sau khi lễ tế xong sẽ cử hành lễ rước, đây là một nghi lễ vô cùng quan trọng và thu hút được nhiều người quan tâm nhấtcủa lễ hội. Người được chọn chèo thuyền tự xem đó là một điều vinh dự lớn, việc chuẩn bị thuyền rước cũng khá quan trọng.Tất cả các thuyền tham gia lễ rước đều phải trang trí những dải vải đỏ ở các mạn thuyền, trên thuyền có chăng đèn kết hoa trông rất rực rỡ. Riêng thuyền rước Long kiệu lại được trang trí dải vải màu vàng ở mạn thuyền, trên thuyền có cờ hoa cũng màu vàng. Lễ rước không giới hạn người dân của một địa phương mà là một đám rước của toàn người dân từ khắp nơi quy tụ về đây, với nhiều loại phẩm vật của các vùng miền được dâng lên. Khi lễ rước chính thức bắt đầu Bài vị Đức Thánh Trần sẽ được rước trên Kiệu được sơn son thiếp vàng, đi qua Tam Quan và hướng về phía bờ sông. Từ đây kiệu sẽ được rước lên thuyền rồng. Cuộc rước thường kéo dài khoảng 2 giờ đồng hồ, sau đó, lại rước Ngài trở lại về đền để cử hành lễ tạ - đồng thời cũng kết thúc một ngày hội lớn. Lễ Hội đền Kiếp Bạc tại Hải Dương Phần hội diễn ra khá phong phú và đa dạng, các trò chơi và các màn biểu diễn văn nghệ được đan xen với phần lễ. Các cuộc thi như: thi làm cỗ tiễn thánh, đấu vật, đua thuyền, hát dân ca, quan họ…. diễn ra trong không khí vui tươi của ngày hội. Một trong những trò diễn hấp dẫn nhất của lễ hội đến Kiếp Bạc chính là hội đua thuyền trên sông Lục Đầu. Hàng trăm chiếc thuyền lướt phăng phăng trên mặt nước như mũi tên cùng tiếng trống thúc giục, tiếng hò reo dậy đất náo nức cả lòng người. Trảy hội Kiếp Bạc cũng đã làm sống lại không khí hào hùng, oanh liệt khi Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn ra trận năm xưa. Lễ rước trên sông diễn ra rất hoành tráng

Hội đền Kiếp Bạc được tổ chức từ ngày 15 đến 20 tháng 8 âm lịch hàng năm, tại đền Kiếp Bạc thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, là một lễ hội truyền thống để kỉ niệm ngày mất của vị anh hùng dân tộc Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Là một trong những lễ hội lớn nhất toàn quốc, thu hút được hàng vạn người từ khắp nơi trên mọi miền đất nước về trẩy hội, để tưởng nhớ tới công đức của vị anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo, họ còn được thăm thú cảnh quan tuyệt đẹp của nơi đây.

Khuôn viên đền Kiếp Bạc

Trước kia, hội đền Kiếp Bạc thường được tổ chức theo nghi lễ quốc gia, cứ đến dịp lễ triều đình lại cử quan lại về để làm chủ tế. Tương truyền, ngày giỗ của Đức Thánh Trần là một ngày vô cùng thiêng liêng vì nhân dân Việt Nam đã tôn thờ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn như một người cha của họ. Ngày nay, ngày 20 tháng 8 âm lịch mới là ngày chính hội, nhưng từ vài ngày trước đó du khách thập phương đã kéo về đây nườm nượp, từng đoàn người đến rồi đi không ngớt, thuyền đậu chật cả bến sông. Ngày hội chính diễn ra rất long trọng, mở đầu bằng nghi lễ dâng hương của các cấp chính quyền địa phương. Đại diện chính quyền sẽ lên đọc diễn văn ca ngợi công lao to lớn của vị anh hùng dân tộc Trần Quốc Tuấn, ca ngợi những thắng lợi trong cuộc chiến chống giặc Nguyên Mông và tai hiện lại không khí hào hùng, oanh liệt của dân tộc ta trong hơn bảy trăm năm về trước, đồng thời biểu dương cho tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái và lòng yêu nước sâu sắc của nhân dân ta. Sau lễ dâng hương sẽ cử hành đại lễ với nghi thức tế lễ uy nghiêm. Sau khi lễ tế xong sẽ cử hành lễ rước, đây là một nghi lễ vô cùng quan trọng và thu hút được nhiều người quan tâm nhấtcủa lễ hội. Người được chọn chèo thuyền tự xem đó là một điều vinh dự lớn, việc chuẩn bị thuyền rước cũng khá quan trọng.Tất cả các thuyền tham gia lễ rước đều phải trang trí những dải vải đỏ ở các mạn thuyền, trên thuyền có chăng đèn kết hoa trông rất rực rỡ. Riêng thuyền rước Long kiệu lại được trang trí dải vải màu vàng ở mạn thuyền, trên thuyền có cờ hoa cũng màu vàng. Lễ rước không giới hạn người dân của một địa phương mà là một đám rước của toàn người dân từ khắp nơi quy tụ về đây, với nhiều loại phẩm vật của các vùng miền được dâng lên. Khi lễ rước chính thức bắt đầu Bài vị Đức Thánh Trần sẽ được rước trên Kiệu được sơn son thiếp vàng, đi qua Tam Quan và hướng về phía bờ sông. Từ đây kiệu sẽ được rước lên thuyền rồng. Cuộc rước thường kéo dài khoảng 2 giờ đồng hồ, sau đó, lại rước Ngài trở lại về đền để cử hành lễ tạ - đồng thời cũng kết thúc một ngày hội lớn. Lễ Hội đền Kiếp Bạc tại Hải Dương Phần hội diễn ra khá phong phú và đa dạng, các trò chơi và các màn biểu diễn văn nghệ được đan xen với phần lễ. Các cuộc thi như: thi làm cỗ tiễn thánh, đấu vật, đua thuyền, hát dân ca, quan họ…. diễn ra trong không khí vui tươi của ngày hội. Một trong những trò diễn hấp dẫn nhất của lễ hội đến Kiếp Bạc chính là hội đua thuyền trên sông Lục Đầu. Hàng trăm chiếc thuyền lướt phăng phăng trên mặt nước như mũi tên cùng tiếng trống thúc giục, tiếng hò reo dậy đất náo nức cả lòng người. Trảy hội Kiếp Bạc cũng đã làm sống lại không khí hào hùng, oanh liệt khi Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn ra trận năm xưa. Lễ rước trên sông diễn ra rất hoành tráng

Related Figures

Lễ hội đền Cuối

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 26/8 Âm lịch Đền Cuối nằm ở thôn Hội Xuyên thuộc thị trấn Gia Lộc, Hải Dương. Lễ hội đền Cuối được tổ chức trong 3 ngày, kể từ ngày 26 đến ngày 28 tháng 8 âm lịch, bắt nguồn từ ngày giỗ của vị tướng Nguyễn Chế Nghĩa (27/8) - là một danh tướng nổi tiếng dưới thời Trần đã từng tham gia 2 cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông, ông đã được thờ phụng tại ngôi đền này. Sáng ngày 26 tháng 8, sau khi cử hành nghi thức tế lễ mở cửa đền xong, một hồi trống sẽ vang lên để báo hiệu cho giờ khai hội đã tới. Mọi người kéo nhau đổ về đền chính để thắp hương làm lễ. Rước kiệu trong lễ hội đền Cuối Ngày 27 tháng 8 là chính hội. Từ đêm hôm trước, các xóm đã chuẩn bị kiệu lễ đặt sẵn ở sân đền. Khi các cỗ kiệu và đội hình đã được tập kết đầy đủ, tiếng chiêng trống sẽ vang lên để báo hiệu cho lễ rước truyền thống đã bắt đầu. Hành trình rước bắt đầu đi từ đền, qua khu lăng mộ rồi qua chợ Cuối mới về tới đền chính. Dẫn đầu là đội múa lân, vừa biểu diễn vừa dẫn đường. Đi theo sau là đội thó, rồi đến là đội tế nam, tiếp theo là đội dâng hương, đội các bà, đội các cô đội khăn vàng mặc áo thêu, thắt lưng hồng, quần trắng và đi dép mũi hài. Tiếp theo là hai con ngựa gỗ để tượng trưng cho hai con ngựa chiến Long Đề và Long Câu mà đức thánh đã cưỡi khi xuất trận và các kiệu, gồm các kiệu cỗ tam sinh, kiệu cỗ đường, kiệu cỗ hoa quả tứ linh, kiệu cỗ bò thui, và kiệu thánh. Kiệu về đến đền Một điều tạo nên sự đặc biết của lế hội là trong những ngày hội, có nhiều loại cỗ cúng .Làng có 12 giáp , mỗi giáp làm một loại cỗ. Trong suốt 3 ngày lễ hội, ngày đầu lễ cúng bằng cỗ ngũ quả , được bà biện theo kiểu Thượng tam long, hạ tứ linh. Những ngày sau sẽ cúng bằng các loại cỗ khác. Cỗ đường: Gồm nhiều loại bánh như: bánh cốm , bánh dầy, bánh chay, bánh phu thê, bánh nướng, bánh trôi, bánh bột lọc, bánh do.Trên mặt bánh có dán chữ thọ được cắt bằng giấy hồng điều. Bánh cốm, bánh bột lọc và bánh gio đều được gói bằng lá chuối tươi, có buộc lạt nhuộm đổ. Cỗ thầu: Gồm các loại như: thịt luộc, thịt nấu đông, giò , nem, thịt chả, thịt nem chạo, ninh, thịt mọc. Mỗi món đựng trong một cái bát lớn. Cỗ tam sinh: Về tam sinh mỗi nơi có một quan niệm khác nhau, ở đây tam sinh là gà ,lợn, ngỗng hoặc ngan. Ba con vật này sau khi làm thịt xong, để thịt sống và tạo dáng như vẫn còn sống, trang trí bằng giấy hồng điều, cúng thần xong sẽ chia đều cho các giáp để làm cỗ. Cỗ bò thui: Ngày thứ 3, mổ bò, thui. Sau khi thui xong, mang cả con bò và chậu tiết vào để tế thần. Tế xong các giáp sẽ đăng cái khiêng bò về để làm cỗ rồi chia phần. Biểu diễn đánh Thó tại Lễ hội đền Cuối. Sau khi lễ rước kết thúc sẽ bắt đầu phần hội với các trò chơi đã được tổ chức qua hàng trăm năm nay như đi cầu kiều hay thi bắt vịt. Tuy nhiên, nói đến lễ hội đền Cuối là phải nhắc tới trò đánh thó (một dạng võ dùng gậy). Đây là một môn võ cổ truyền mà Nguyễn Chế Nghĩa đã rất điêu luyện và đánh thó cũng chính là linh hồn của ngày lễ hội đền Cuối. Lễ hội đền Cuối đã thể hiện được niềm tự hào và biết ơn sâu sắc của dân làng Hội Xuyên đối với người anh hùng của quê hương của mình, trải qua bao nhiêu tháng năm nhưng lễ hôi đền Cuối vẫn giữ gìn được các nét văn hóa truyền thống.

Đền Cuối nằm ở thôn Hội Xuyên thuộc thị trấn Gia Lộc, Hải Dương. Lễ hội đền Cuối được tổ chức trong 3 ngày, kể từ ngày 26 đến ngày 28 tháng 8 âm lịch, bắt nguồn từ ngày giỗ của vị tướng Nguyễn Chế Nghĩa (27/8) - là một danh tướng nổi tiếng dưới thời Trần đã từng tham gia 2 cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông, ông đã được thờ phụng tại ngôi đền này. Sáng ngày 26 tháng 8, sau khi cử hành nghi thức tế lễ mở cửa đền xong, một hồi trống sẽ vang lên để báo hiệu cho giờ khai hội đã tới. Mọi người kéo nhau đổ về đền chính để thắp hương làm lễ. Rước kiệu trong lễ hội đền Cuối Ngày 27 tháng 8 là chính hội. Từ đêm hôm trước, các xóm đã chuẩn bị kiệu lễ đặt sẵn ở sân đền. Khi các cỗ kiệu và đội hình đã được tập kết đầy đủ, tiếng chiêng trống sẽ vang lên để báo hiệu cho lễ rước truyền thống đã bắt đầu. Hành trình rước bắt đầu đi từ đền, qua khu lăng mộ rồi qua chợ Cuối mới về tới đền chính. Dẫn đầu là đội múa lân, vừa biểu diễn vừa dẫn đường. Đi theo sau là đội thó, rồi đến là đội tế nam, tiếp theo là đội dâng hương, đội các bà, đội các cô đội khăn vàng mặc áo thêu, thắt lưng hồng, quần trắng và đi dép mũi hài. Tiếp theo là hai con ngựa gỗ để tượng trưng cho hai con ngựa chiến Long Đề và Long Câu mà đức thánh đã cưỡi khi xuất trận và các kiệu, gồm các kiệu cỗ tam sinh, kiệu cỗ đường, kiệu cỗ hoa quả tứ linh, kiệu cỗ bò thui, và kiệu thánh. Kiệu về đến đền Một điều tạo nên sự đặc biết của lế hội là trong những ngày hội, có nhiều loại cỗ cúng .Làng có 12 giáp , mỗi giáp làm một loại cỗ. Trong suốt 3 ngày lễ hội, ngày đầu lễ cúng bằng cỗ ngũ quả , được bà biện theo kiểu Thượng tam long, hạ tứ linh. Những ngày sau sẽ cúng bằng các loại cỗ khác. Cỗ đường: Gồm nhiều loại bánh như: bánh cốm , bánh dầy, bánh chay, bánh phu thê, bánh nướng, bánh trôi, bánh bột lọc, bánh do.Trên mặt bánh có dán chữ thọ được cắt bằng giấy hồng điều. Bánh cốm, bánh bột lọc và bánh gio đều được gói bằng lá chuối tươi, có buộc lạt nhuộm đổ. Cỗ thầu: Gồm các loại như: thịt luộc, thịt nấu đông, giò , nem, thịt chả, thịt nem chạo, ninh, thịt mọc. Mỗi món đựng trong một cái bát lớn. Cỗ tam sinh: Về tam sinh mỗi nơi có một quan niệm khác nhau, ở đây tam sinh là gà ,lợn, ngỗng hoặc ngan. Ba con vật này sau khi làm thịt xong, để thịt sống và tạo dáng như vẫn còn sống, trang trí bằng giấy hồng điều, cúng thần xong sẽ chia đều cho các giáp để làm cỗ. Cỗ bò thui: Ngày thứ 3, mổ bò, thui. Sau khi thui xong, mang cả con bò và chậu tiết vào để tế thần. Tế xong các giáp sẽ đăng cái khiêng bò về để làm cỗ rồi chia phần. Biểu diễn đánh Thó tại Lễ hội đền Cuối. Sau khi lễ rước kết thúc sẽ bắt đầu phần hội với các trò chơi đã được tổ chức qua hàng trăm năm nay như đi cầu kiều hay thi bắt vịt. Tuy nhiên, nói đến lễ hội đền Cuối là phải nhắc tới trò đánh thó (một dạng võ dùng gậy). Đây là một môn võ cổ truyền mà Nguyễn Chế Nghĩa đã rất điêu luyện và đánh thó cũng chính là linh hồn của ngày lễ hội đền Cuối. Lễ hội đền Cuối đã thể hiện được niềm tự hào và biết ơn sâu sắc của dân làng Hội Xuyên đối với người anh hùng của quê hương của mình, trải qua bao nhiêu tháng năm nhưng lễ hôi đền Cuối vẫn giữ gìn được các nét văn hóa truyền thống.

Đền Cuối nằm ở thôn Hội Xuyên thuộc thị trấn Gia Lộc, Hải Dương. Lễ hội đền Cuối được tổ chức trong 3 ngày, kể từ ngày 26 đến ngày 28 tháng 8 âm lịch, bắt nguồn từ ngày giỗ của vị tướng Nguyễn Chế Nghĩa (27/8) - là một danh tướng nổi tiếng dưới thời Trần đã từng tham gia 2 cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông, ông đã được thờ phụng tại ngôi đền này.

Sáng ngày 26 tháng 8, sau khi cử hành nghi thức tế lễ mở cửa đền xong, một hồi trống sẽ vang lên để báo hiệu cho giờ khai hội đã tới. Mọi người kéo nhau đổ về đền chính để thắp hương làm lễ. Rước kiệu trong lễ hội đền Cuối Ngày 27 tháng 8 là chính hội. Từ đêm hôm trước, các xóm đã chuẩn bị kiệu lễ đặt sẵn ở sân đền. Khi các cỗ kiệu và đội hình đã được tập kết đầy đủ, tiếng chiêng trống sẽ vang lên để báo hiệu cho lễ rước truyền thống đã bắt đầu. Hành trình rước bắt đầu đi từ đền, qua khu lăng mộ rồi qua chợ Cuối mới về tới đền chính. Dẫn đầu là đội múa lân, vừa biểu diễn vừa dẫn đường. Đi theo sau là đội thó, rồi đến là đội tế nam, tiếp theo là đội dâng hương, đội các bà, đội các cô đội khăn vàng mặc áo thêu, thắt lưng hồng, quần trắng và đi dép mũi hài. Tiếp theo là hai con ngựa gỗ để tượng trưng cho hai con ngựa chiến Long Đề và Long Câu mà đức thánh đã cưỡi khi xuất trận và các kiệu, gồm các kiệu cỗ tam sinh, kiệu cỗ đường, kiệu cỗ hoa quả tứ linh, kiệu cỗ bò thui, và kiệu thánh. Kiệu về đến đền Một điều tạo nên sự đặc biết của lế hội là trong những ngày hội, có nhiều loại cỗ cúng .Làng có 12 giáp , mỗi giáp làm một loại cỗ. Trong suốt 3 ngày lễ hội, ngày đầu lễ cúng bằng cỗ ngũ quả , được bà biện theo kiểu Thượng tam long, hạ tứ linh. Những ngày sau sẽ cúng bằng các loại cỗ khác. Cỗ đường: Gồm nhiều loại bánh như: bánh cốm , bánh dầy, bánh chay, bánh phu thê, bánh nướng, bánh trôi, bánh bột lọc, bánh do.Trên mặt bánh có dán chữ thọ được cắt bằng giấy hồng điều. Bánh cốm, bánh bột lọc và bánh gio đều được gói bằng lá chuối tươi, có buộc lạt nhuộm đổ. Cỗ thầu: Gồm các loại như: thịt luộc, thịt nấu đông, giò , nem, thịt chả, thịt nem chạo, ninh, thịt mọc. Mỗi món đựng trong một cái bát lớn. Cỗ tam sinh: Về tam sinh mỗi nơi có một quan niệm khác nhau, ở đây tam sinh là gà ,lợn, ngỗng hoặc ngan. Ba con vật này sau khi làm thịt xong, để thịt sống và tạo dáng như vẫn còn sống, trang trí bằng giấy hồng điều, cúng thần xong sẽ chia đều cho các giáp để làm cỗ. Cỗ bò thui: Ngày thứ 3, mổ bò, thui. Sau khi thui xong, mang cả con bò và chậu tiết vào để tế thần. Tế xong các giáp sẽ đăng cái khiêng bò về để làm cỗ rồi chia phần. Biểu diễn đánh Thó tại Lễ hội đền Cuối. Sau khi lễ rước kết thúc sẽ bắt đầu phần hội với các trò chơi đã được tổ chức qua hàng trăm năm nay như đi cầu kiều hay thi bắt vịt. Tuy nhiên, nói đến lễ hội đền Cuối là phải nhắc tới trò đánh thó (một dạng võ dùng gậy). Đây là một môn võ cổ truyền mà Nguyễn Chế Nghĩa đã rất điêu luyện và đánh thó cũng chính là linh hồn của ngày lễ hội đền Cuối. Lễ hội đền Cuối đã thể hiện được niềm tự hào và biết ơn sâu sắc của dân làng Hội Xuyên đối với người anh hùng của quê hương của mình, trải qua bao nhiêu tháng năm nhưng lễ hôi đền Cuối vẫn giữ gìn được các nét văn hóa truyền thống.

Related Figures

Lế hội Chùa Muống

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 24/1- 27/1 Âm lịch Chùa Muống tự là Quang Khánh tự nằm ở thôn Quảng Đạt, xã Ngũ Phúc, thuộc huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương. Hội chùa Muống đã tồn tại từ rất lâu, từ đầu thế kỷ thứ 14, bắt nguồn từ lễ kỷ niệm ngày mất của nhà sư Tuệ Nhẫn( 27 tháng 1 năm 1935). Sư Tuệ Nhẫn là một vị cao tăng và cũng chính là một vị lương y, người đã công xây dựng ngồi chùa Muống. Sau khi ông mất, nhân dân nơi đây đã tôn ông là Thành hoàng làng. Lễ hội được tổ chức trong 4 ngày, kể từ ngày 24 đến hết ngày 27 tháng giêng, trong đó ngày 27 là ngày chính hội. Lễ hội Chùa Muống tại Hải Dương Lễ hội chùa Muống gồm 2 yếu tố là Thần và Phật: - Ngày 24 sẽ tiến hành làm lễ nhập tịch, lễ vật là cỗ chay gồm có hoa quả, bánh nếp và bánh dầy. Sư sãi trong chùa phải tụng kinh cả đêm, không khí ngày hội thật sôi nổi. - Ngày 25, cử hành lệ rước bánh dầy quanh chùa, sau đó đưa vào tiền đường để dâng lên bàn thờ Thánh tổ. Đây là một nghi thức quan trọng, qua đó để bày tỏ lòng mong muốn được mùa màng bội thu. Khuôn viên ngôi chùa Muống tại Hải Dương - Ngày 26 sẽ cử hành lễ tập ngơi, thực tế là một cuộc tập dượt để chuẩn bị cho ngày đại lễ. Trong ngày này sẽ tổ chức rước kiệu thử, chuẩn bị chu đáo tất cả mọi thứ cho ngày chính hội, buổi tối, các nhà sư sẽ tiến hành làm lễ mộc dục. - Ngày 27 là ngày chính hội, từ sáng sớm khách xem hội đã đến rất đông. Lễ rước được thực hiện tương tự tại các đền và đình làng, gồm có tàn, long, bát biểu, đòn bát cống để rước tượng Thánh tổ Non Đông, Thánh phụ và Thánh mẫu. Đoàn rước diễu hành xung quang chùa, sau đó đi ra tam quan để làm lễ, xong rồi lại chuyển vào chùa để làm lễ an vị cho các thần tượng. Hội sẽ kết thúc vào đêm ngày 27. Những người phụ nữ đang đội lễ đi diễu hành Hội chùa Muống là một lễ hội lớn của nhân dân Hải Dương. Hiện nay, lễ hội chùa Muống vẫn còn được duy trì, mặc dù không còn giữ nguyên được những nghi lễ truyền thống như xưa nhưng lễ hội vẫn còn lưu giữ một số điều thuần phong mỹ tục.

Chùa Muống tự là Quang Khánh tự nằm ở thôn Quảng Đạt, xã Ngũ Phúc, thuộc huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương. Hội chùa Muống đã tồn tại từ rất lâu, từ đầu thế kỷ thứ 14, bắt nguồn từ lễ kỷ niệm ngày mất của nhà sư Tuệ Nhẫn( 27 tháng 1 năm 1935). Sư Tuệ Nhẫn là một vị cao tăng và cũng chính là một vị lương y, người đã công xây dựng ngồi chùa Muống. Sau khi ông mất, nhân dân nơi đây đã tôn ông là Thành hoàng làng. Lễ hội được tổ chức trong 4 ngày, kể từ ngày 24 đến hết ngày 27 tháng giêng, trong đó ngày 27 là ngày chính hội.

Lễ hội Chùa Muống tại Hải Dương

Lễ hội chùa Muống gồm 2 yếu tố là Thần và Phật: - Ngày 24 sẽ tiến hành làm lễ nhập tịch, lễ vật là cỗ chay gồm có hoa quả, bánh nếp và bánh dầy. Sư sãi trong chùa phải tụng kinh cả đêm, không khí ngày hội thật sôi nổi. - Ngày 25, cử hành lệ rước bánh dầy quanh chùa, sau đó đưa vào tiền đường để dâng lên bàn thờ Thánh tổ. Đây là một nghi thức quan trọng, qua đó để bày tỏ lòng mong muốn được mùa màng bội thu. Khuôn viên ngôi chùa Muống tại Hải Dương - Ngày 26 sẽ cử hành lễ tập ngơi, thực tế là một cuộc tập dượt để chuẩn bị cho ngày đại lễ. Trong ngày này sẽ tổ chức rước kiệu thử, chuẩn bị chu đáo tất cả mọi thứ cho ngày chính hội, buổi tối, các nhà sư sẽ tiến hành làm lễ mộc dục. - Ngày 27 là ngày chính hội, từ sáng sớm khách xem hội đã đến rất đông. Lễ rước được thực hiện tương tự tại các đền và đình làng, gồm có tàn, long, bát biểu, đòn bát cống để rước tượng Thánh tổ Non Đông, Thánh phụ và Thánh mẫu. Đoàn rước diễu hành xung quang chùa, sau đó đi ra tam quan để làm lễ, xong rồi lại chuyển vào chùa để làm lễ an vị cho các thần tượng. Hội sẽ kết thúc vào đêm ngày 27. Những người phụ nữ đang đội lễ đi diễu hành Hội chùa Muống là một lễ hội lớn của nhân dân Hải Dương. Hiện nay, lễ hội chùa Muống vẫn còn được duy trì, mặc dù không còn giữ nguyên được những nghi lễ truyền thống như xưa nhưng lễ hội vẫn còn lưu giữ một số điều thuần phong mỹ tục.

Related Figures

Lễ hội chùa Trông

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/3 Âm lịch Lễ hội chùa Trông diễn ra vào ngày 15 tháng Ba âm lịch hàng năm, tại xã Hưng Long thuộc huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương, với mục đích suy tôn Phật và đức thánh Nguyễn Minh Không. Được bắt nguồn từ việc kỷ niệm ngày mất của vị thiền sư Nguyễn Minh Không ở thời nhà Lý. Lễ hội chùa Trông là một lễ hội lớn của vùng Hạ Hồng xưa kia, cho đến ngày nay, lễ hội này đã đi vào lịch sử dân tộc. Chùa Trông được thiền sư Nguyễn Minh Không xây dựng từ thời Lý ở thế kỷ thứ 11. Ngôi chùa này thờ Phật và thiền sư Nguyễn Minh Không. Chùa Trông còn có tên khác là Chùa Tông, trong Đại Nam nhất thống chí có ghi là đền thờ thiền sư Minh Không, họ Nguyễn, tự là Chí Thành. Thời phong kiến ngôi chùa này thuộc xã Hán Lý, tổng Văn Hội, huyện Vĩnh Lại của phủ Hạ Hồng. Từ năm 1947, Hán Lý đã trở thành một thôn của xã Hưng Long, huyện Ninh Giang. Lễ rước kiệu chùa Trông được tổ chức rất long trọng Chùa Trông đã được xây dựng dưới thời Lý, đến thời Nguyễn thì quan thượng thư Thượng Đoàn đã cho tôn tạo lại theo kiểu kiến trúc nội công ngoại quốc gồm: Tam quan ngoại, tam quan nội, giải vũ, tắc môn, nhà mẫu, chùa kiểu chữ đinh và đền Đức Thánh kiểu chữ đinh trông rất đồ sộ. Công trình này đã bị tàn phá nặng nề trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đến nay chỉ còn lại hệ thống tam quan cùng một số cổ vật của chùa. Tam quan chùa Trông là một công trình kiến trúc nghệ thuật có kiến trúc độc đáo ở thời Nguyễn. Ngôi chùa này hiện nay đã được khôi phục lại nhưng vẫn chưa được như thời xưa. Hội chùa Trông được bắt nguồn từ việc kỷ niệm ngày mất của vị thiền sư Nguyễn Minh Không ở thời Lý. Đây là một trong những lễ hội lớn nhất của vùng Hạ Hồng xưa, đã đi vào lịch sử của dân tộc. Hội kéo dài trong 16 ngày, bắt đầu từ ngày 15 tháng 3 đến ngày mồng 1 tháng 4. Ngày 15/3 sẽ cử hành lễ thỉnh kinh, lễ rước nước, tổ chức lễ rước kiệu rất long trọng ra sông Luộc để lấy nước về cúng. Ngày 16, cử hành nghi lễ rước Thành Hoàng và lễ tế tại chùa. Lễ hội chùa Trông do hai làng Hán Lý và Hào Khê cùng đứng ra tổ chức, vì từ xa xưa hai làng này chính là một làng. Sau khi được chia tách, mỗi làng đều có đình riêng. Đình Hán Lý thì thờ thành hoàng là đại vương Đường Cát, một vị tướng khác của Khúc Thừa Dụ đã có công đánh thắng giặc Đường ở thế kỷ thứ 10. Đình Hào Khê là nơi thờ Lý Chiêu Hoàng làm thành hoàng làng, vị vua cuối cùng của triều nhà Lý. Như vậy ngày hội này phải tế 3 vị, gồm 2 thành hoàng và một vị thiền sư. Tại đây chỉ có đội tế nam, trang phục theo truyền thống gồm có ba mạnh bái và 16 vị bồi tế. Tên huý nên kiêng các từ như: Lệ, Minh, Ứng, Chiêu. Quy trình tế lễ gồm ngũ tuần: Tuần thứ nhất: Dâng hương và hoa; Tuần thứ hai : Dâng đăng trà; Tuần thứ ba: Dâng quả thực; Tuần thứ tứ: Đọc chúc văn; và Tuần thứ năm: Lễ Tất Sau khi thực lễ tế đức Thánh và 2 vị Đại vương xong sẽ tổ chức các trò vui dân gian kéo trong 3 đến 4 ngày. Đến ngày 20 tháng ba, cử hành lễ rước xuất Đông nhập Tây. Lễ này được cử hành từ khi xây dựng tam quan. Cổng phía Bắc có ghi ba chữ Bắc địa đầu tức là làng Hán Lý ở phía bắc. Cổng phía Nam có ghi 3 chữ là Nam thiên động tức là làng Hào Khê là một động ở phía nam. Đoàn rước gồm có: kiệu Đức thánh, kiệu bát hương, 2 kiệu Thành hoàng, kiệu Thánh mẫu. Kiệu này được các nữ thanh đồng khiêng. Đoàn rước sẽ di chuyển ra phía cổng ở phía đông, đi vòng quanh 2 làng , về cổng ở phía tây. Tối ngày 25 tháng 3, mỗi giáp sẽ sửa sọan một mâm cỗ để cúng ở đền Đức thánh, đọc kệ kể thân thế của Người. Từ ngày 26 tháng 3, tế lễ Thành hoàng và Đức thánh. Sau tế lễ sẽ là lễ dâng hương do 16 người trong đội múa thực hiện trước tượng Đức thánh theo điệu Giao liên, Hoa chúc, mô phỏng lại điệu múa cung đình. Trong những ngày lễ hội còn có các trò diễn dân gian. Chùa Trông tại Hải Dương Sáng ngày mồng 1 tháng 4, tổ chức nghi lễ rước Thành hoàng về các đình và kết thúc hội. Phần chia cỗ: Nếu lễ vật là bằng trâu bò, thì thủ sẽ biếu vị tiên chỉ một nửa, còn lại chia thành 3 phần, một phần biếu các cụ già từ 60 tuổi trở lên trong làng, 1 phần để biếu chức sắc trong làng, một phần để biếu những người hành văn. Thịt được chia theo đầu người từ hương ẩm trở lên. Hội chùa Trông năm nào cũng mời đại biểu của chùa Hoa Vân đền Tân La ( Quỳnh Phụ, Thái Bình). Đền Tranh và đền Trung Hoà (Ninh Giang). Trong những ngày lễ hội, nhân dân Đào Phố thuộc xã Hồng Phúc thường tổ chức lễ rước Thành hoàng lên chùa Trông để dự hội, gọi là lễ rước chạ. Hội chùa Trông ngày nay vẫn đông vui, nội dung cũng khá phong phú không kém lễ hội xưa./.

Lễ hội chùa Trông diễn ra vào ngày 15 tháng Ba âm lịch hàng năm, tại xã Hưng Long thuộc huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương, với mục đích suy tôn Phật và đức thánh Nguyễn Minh Không.

Được bắt nguồn từ việc kỷ niệm ngày mất của vị thiền sư Nguyễn Minh Không ở thời nhà Lý. Lễ hội chùa Trông là một lễ hội lớn của vùng Hạ Hồng xưa kia, cho đến ngày nay, lễ hội này đã đi vào lịch sử dân tộc. Chùa Trông được thiền sư Nguyễn Minh Không xây dựng từ thời Lý ở thế kỷ thứ 11. Ngôi chùa này thờ Phật và thiền sư Nguyễn Minh Không. Chùa Trông còn có tên khác là Chùa Tông, trong Đại Nam nhất thống chí có ghi là đền thờ thiền sư Minh Không, họ Nguyễn, tự là Chí Thành. Thời phong kiến ngôi chùa này thuộc xã Hán Lý, tổng Văn Hội, huyện Vĩnh Lại của phủ Hạ Hồng. Từ năm 1947, Hán Lý đã trở thành một thôn của xã Hưng Long, huyện Ninh Giang. Lễ rước kiệu chùa Trông được tổ chức rất long trọng Chùa Trông đã được xây dựng dưới thời Lý, đến thời Nguyễn thì quan thượng thư Thượng Đoàn đã cho tôn tạo lại theo kiểu kiến trúc nội công ngoại quốc gồm: Tam quan ngoại, tam quan nội, giải vũ, tắc môn, nhà mẫu, chùa kiểu chữ đinh và đền Đức Thánh kiểu chữ đinh trông rất đồ sộ. Công trình này đã bị tàn phá nặng nề trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đến nay chỉ còn lại hệ thống tam quan cùng một số cổ vật của chùa. Tam quan chùa Trông là một công trình kiến trúc nghệ thuật có kiến trúc độc đáo ở thời Nguyễn. Ngôi chùa này hiện nay đã được khôi phục lại nhưng vẫn chưa được như thời xưa. Hội chùa Trông được bắt nguồn từ việc kỷ niệm ngày mất của vị thiền sư Nguyễn Minh Không ở thời Lý. Đây là một trong những lễ hội lớn nhất của vùng Hạ Hồng xưa, đã đi vào lịch sử của dân tộc. Hội kéo dài trong 16 ngày, bắt đầu từ ngày 15 tháng 3 đến ngày mồng 1 tháng 4. Ngày 15/3 sẽ cử hành lễ thỉnh kinh, lễ rước nước, tổ chức lễ rước kiệu rất long trọng ra sông Luộc để lấy nước về cúng. Ngày 16, cử hành nghi lễ rước Thành Hoàng và lễ tế tại chùa. Lễ hội chùa Trông do hai làng Hán Lý và Hào Khê cùng đứng ra tổ chức, vì từ xa xưa hai làng này chính là một làng. Sau khi được chia tách, mỗi làng đều có đình riêng. Đình Hán Lý thì thờ thành hoàng là đại vương Đường Cát, một vị tướng khác của Khúc Thừa Dụ đã có công đánh thắng giặc Đường ở thế kỷ thứ 10. Đình Hào Khê là nơi thờ Lý Chiêu Hoàng làm thành hoàng làng, vị vua cuối cùng của triều nhà Lý. Như vậy ngày hội này phải tế 3 vị, gồm 2 thành hoàng và một vị thiền sư. Tại đây chỉ có đội tế nam, trang phục theo truyền thống gồm có ba mạnh bái và 16 vị bồi tế. Tên huý nên kiêng các từ như: Lệ, Minh, Ứng, Chiêu. Quy trình tế lễ gồm ngũ tuần: Tuần thứ nhất: Dâng hương và hoa; Tuần thứ hai : Dâng đăng trà; Tuần thứ ba: Dâng quả thực; Tuần thứ tứ: Đọc chúc văn; và Tuần thứ năm: Lễ Tất Sau khi thực lễ tế đức Thánh và 2 vị Đại vương xong sẽ tổ chức các trò vui dân gian kéo trong 3 đến 4 ngày. Đến ngày 20 tháng ba, cử hành lễ rước xuất Đông nhập Tây. Lễ này được cử hành từ khi xây dựng tam quan. Cổng phía Bắc có ghi ba chữ Bắc địa đầu tức là làng Hán Lý ở phía bắc. Cổng phía Nam có ghi 3 chữ là Nam thiên động tức là làng Hào Khê là một động ở phía nam. Đoàn rước gồm có: kiệu Đức thánh, kiệu bát hương, 2 kiệu Thành hoàng, kiệu Thánh mẫu. Kiệu này được các nữ thanh đồng khiêng. Đoàn rước sẽ di chuyển ra phía cổng ở phía đông, đi vòng quanh 2 làng , về cổng ở phía tây. Tối ngày 25 tháng 3, mỗi giáp sẽ sửa sọan một mâm cỗ để cúng ở đền Đức thánh, đọc kệ kể thân thế của Người. Từ ngày 26 tháng 3, tế lễ Thành hoàng và Đức thánh. Sau tế lễ sẽ là lễ dâng hương do 16 người trong đội múa thực hiện trước tượng Đức thánh theo điệu Giao liên, Hoa chúc, mô phỏng lại điệu múa cung đình. Trong những ngày lễ hội còn có các trò diễn dân gian. Chùa Trông tại Hải Dương Sáng ngày mồng 1 tháng 4, tổ chức nghi lễ rước Thành hoàng về các đình và kết thúc hội. Phần chia cỗ: Nếu lễ vật là bằng trâu bò, thì thủ sẽ biếu vị tiên chỉ một nửa, còn lại chia thành 3 phần, một phần biếu các cụ già từ 60 tuổi trở lên trong làng, 1 phần để biếu chức sắc trong làng, một phần để biếu những người hành văn. Thịt được chia theo đầu người từ hương ẩm trở lên. Hội chùa Trông năm nào cũng mời đại biểu của chùa Hoa Vân đền Tân La ( Quỳnh Phụ, Thái Bình). Đền Tranh và đền Trung Hoà (Ninh Giang). Trong những ngày lễ hội, nhân dân Đào Phố thuộc xã Hồng Phúc thường tổ chức lễ rước Thành hoàng lên chùa Trông để dự hội, gọi là lễ rước chạ. Hội chùa Trông ngày nay vẫn đông vui, nội dung cũng khá phong phú không kém lễ hội xưa./.

Related Figures

Lễ Xin Trùm

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/10 Âm lịch Đền Cao tọa lạc tại xã An Lạc, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương là một danh thắng nổi tiếng không chỉ bởi kiến trúc cổ kính và độc đáo mà còn bởi thắng cảnh đẹp. Nơi đây còn thu hút khách thập phương bởi lễ hội xin trùm. Lễ hội này ra đời từ khi đền được xây dựng và đã duy trì được hơn 1000 năm và sau hơn 10 bị gián đoạn, đến năm 2010 lễ hội này mới được phục dựng. Lễ hội này diễn ra vào ngày 15 tháng 10 âm lịch hàng năm. Cổng vào đền Trong ngày lễ chính, trong đền được trang hoàng rất ấn tượng. Ở giữa nơi hành lễ là một tấm biển lớn có dòng chữ “Lễ Xin Trùm”. Từ 5h sáng, bài vị, kiệu và lọng của 5 vị thánh, đền Cả (nơi thờ 2 vị), đền Cao, đền Bến Cả và đền Bến Tràng cùng cỗ chay: hoa quả, bánh kẹo, cơm trắng, chè đông và bánh dày đã được các quan đám và dân làng rước đến nơi hành lễ trong hồi chiêng trống ngân vang. Cả 5 đoàn rước từ 5 hướng cùng đổ về nơi hành lễ. Lễ xin trùm là một nghi lễ rất linh thiêng được cử hành vô cùng khắt khe. Để đứng ra lo liệu việc đền hàng tháng, hàng năm, làng sẽ cử ra 1 cụ trùm và 5 vị quan đám đại diện cho 4 ngôi đền trên và 1 ngôi đình tên là quan Đoài, quan Nam, quan Đông, quan Trung và quan Bắc. Những người được chọn thường là các bậc cao niên trong làng, là người đức độ, con cháu hiếu thảo, gia đình thuận hòa và đặc biệt là gia đình không chịu tang. Mỗi tháng, sáu cụ trên phải trai giới ăn chay từ ngày 13 đến ngày 15 và từ ngày 29 đến ngày mồng 1 âm lịch trước khi tiến hành làm lễ. Các quan đám được nhận mũ áo và trọng trách đảm nhiệm công việc của làng trong 1 năm, kể từ ngày mồng 2 Tết năm này cho đến ngày mồng 2 Tết năm sau. Sau 1 nhiệm kỳ các cụ sẽ được làng phong Lềnh và được mọi người trọng vọng. Riêng ông trùm sẽ đảm nhiệm vai trò của mình cho đến lúc gia đình có tang hoặc qua đời thì mới thôi. Khi đó, lễ xin trùm lại được tổ chức nhưng chỉ tiến hành vào ngày 15/3 hoặc 15/10 âm lịch. Cụ Trùm đang làm lễ tế Nghi lễ xin trùm diễn ra một cách nghiêm trang và mang màu sắc tâm linh. Người được chọn phong trùm là người đã được chọn kỹ càng trong các Lềnh. Trước hết, 5 quan đám sẽ cử hành dâng trầu nước, sau đó dâng cỗ lễ chay rồi thắp hương đen lên các ban. Trên bục cử hành lễ, quan đám sẽ đứng trước và đọc tên khấn với nhà thánh để xin phép cho người đứng sau mình được lên làm trùm, sau đó quỳ xuống đội một chiếc mâm đồng trên có đặt hai đồng tiền trinh để trên một thoi vàng có phủ tấm vải điều, bắt đầu làm lễ khất keo. Khi vị quan đám này hơi cúi đầu để gieo lễ thì 2 vị quan đám khác sẽ khiêng một chiếc mâm đồng đệ lên phía trước để đón 2 đồng tiền rơi xuống. Lễ khất keo này chỉ được thực hiện một lần duy nhất. Nếu 2 đồng tiền trinh mà 1 sấp 1 ngửa thì lễ xin trùm đã được thần chấp thuận. Trường hợp hai đồng tiền cùng mặt thì việc xin trùm phải tạm gác lại chờ cho đến dịp sau và các vị quan đám sẽ tạm thời đảm đương trách nhiệm lo liệu công việc của trùm. Lễ xin trùm là một nghi thức tâm linh được rất nhiều người dân nơi đây quan tâm theo dõi. Theo quan niệm của người dân nơi đây, năm nào mà làm lễ xin trùm thành công thì từ năm đó người dân trong vùng sẽ làm ăn phát đạt. Đền Cao là nơi thờ Vương Đức Minh - Thiên Bồng Đại tướng quân Đại vương, là một di tích lịch sử đã có từ rất lâu, nằm trên đỉnh núi Thiên Bồng, giữa cánh rừng lim già cổ thụ hàng trăm năm tuổi. Ngôi đền này đền Cả và đền Bến Cả, đền Bến Tràng đã tạo nên một cụm danh lam thắng cảnh gắn liền với cuộc đời của 5 vị tướng là 5 anh em ruột nhà họ Vương đã có công lớn trong việc trợ giúp vua Lê Đại Hành đánh tan quân xâm lược Tống vào năm 981: Vương Đức Xuân, Vương Đức Minh, Vương Đức Hồng, Vương Thị Liễu và Vương Thị Đào. Qua một gia đoạn thời gian, cuộc đời và chiến công của những vị danh tướng này đã được bà con nhân dân huyền thoại hóa lên để bày tỏ lòng tôn kính và được truyền tụng cho đến tận hôm nay. Lễ Xin Trùm ở đền Cao thu hút được rất nhiều khách thâp phương tham đự Lễ hội đền Cao tổ chức trong 5 ngày, từ ngày 21 đến 25 tháng giêng âm lịch hằng năm, nhằm suy tôn Thành hoàng làng cùng năm danh vị tướng họ Vương. Trong ngày hội ban tổ chức còn tổ chức nhiều hoạt động vui chơi để người dân tham dự và sinh hoạt như lễ du tiên, cướp cờ, vật, kéo co, cờ người, thi bánh dày, chè đông. Với hiện trạng của khu di tích và các lễ hội, đặc biệt nhất là lễ xin trùm, được người dân bảo tồn và giữ gìn vẫn còn khá nguyên vẹn, lễ hội đền Cao đã được Sở Văn hóa-Thể thao -Du lịch đánh giá là một trong những lễ hội cổ truyền nổi bật của tỉnh Hải Dương.

Đền Cao tọa lạc tại xã An Lạc, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương là một danh thắng nổi tiếng không chỉ bởi kiến trúc cổ kính và độc đáo mà còn bởi thắng cảnh đẹp. Nơi đây còn thu hút khách thập phương bởi lễ hội xin trùm. Lễ hội này ra đời từ khi đền được xây dựng và đã duy trì được hơn 1000 năm và sau hơn 10 bị gián đoạn, đến năm 2010 lễ hội này mới được phục dựng. Lễ hội này diễn ra vào ngày 15 tháng 10 âm lịch hàng năm.

Cổng vào đền

Trong ngày lễ chính, trong đền được trang hoàng rất ấn tượng. Ở giữa nơi hành lễ là một tấm biển lớn có dòng chữ “Lễ Xin Trùm”. Từ 5h sáng, bài vị, kiệu và lọng của 5 vị thánh, đền Cả (nơi thờ 2 vị), đền Cao, đền Bến Cả và đền Bến Tràng cùng cỗ chay: hoa quả, bánh kẹo, cơm trắng, chè đông và bánh dày đã được các quan đám và dân làng rước đến nơi hành lễ trong hồi chiêng trống ngân vang. Cả 5 đoàn rước từ 5 hướng cùng đổ về nơi hành lễ.

Lễ xin trùm là một nghi lễ rất linh thiêng được cử hành vô cùng khắt khe. Để đứng ra lo liệu việc đền hàng tháng, hàng năm, làng sẽ cử ra 1 cụ trùm và 5 vị quan đám đại diện cho 4 ngôi đền trên và 1 ngôi đình tên là quan Đoài, quan Nam, quan Đông, quan Trung và quan Bắc. Những người được chọn thường là các bậc cao niên trong làng, là người đức độ, con cháu hiếu thảo, gia đình thuận hòa và đặc biệt là gia đình không chịu tang. Mỗi tháng, sáu cụ trên phải trai giới ăn chay từ ngày 13 đến ngày 15 và từ ngày 29 đến ngày mồng 1 âm lịch trước khi tiến hành làm lễ. Các quan đám được nhận mũ áo và trọng trách đảm nhiệm công việc của làng trong 1 năm, kể từ ngày mồng 2 Tết năm này cho đến ngày mồng 2 Tết năm sau. Sau 1 nhiệm kỳ các cụ sẽ được làng phong Lềnh và được mọi người trọng vọng. Riêng ông trùm sẽ đảm nhiệm vai trò của mình cho đến lúc gia đình có tang hoặc qua đời thì mới thôi. Khi đó, lễ xin trùm lại được tổ chức nhưng chỉ tiến hành vào ngày 15/3 hoặc 15/10 âm lịch. Cụ Trùm đang làm lễ tế Nghi lễ xin trùm diễn ra một cách nghiêm trang và mang màu sắc tâm linh. Người được chọn phong trùm là người đã được chọn kỹ càng trong các Lềnh. Trước hết, 5 quan đám sẽ cử hành dâng trầu nước, sau đó dâng cỗ lễ chay rồi thắp hương đen lên các ban. Trên bục cử hành lễ, quan đám sẽ đứng trước và đọc tên khấn với nhà thánh để xin phép cho người đứng sau mình được lên làm trùm, sau đó quỳ xuống đội một chiếc mâm đồng trên có đặt hai đồng tiền trinh để trên một thoi vàng có phủ tấm vải điều, bắt đầu làm lễ khất keo. Khi vị quan đám này hơi cúi đầu để gieo lễ thì 2 vị quan đám khác sẽ khiêng một chiếc mâm đồng đệ lên phía trước để đón 2 đồng tiền rơi xuống. Lễ khất keo này chỉ được thực hiện một lần duy nhất. Nếu 2 đồng tiền trinh mà 1 sấp 1 ngửa thì lễ xin trùm đã được thần chấp thuận. Trường hợp hai đồng tiền cùng mặt thì việc xin trùm phải tạm gác lại chờ cho đến dịp sau và các vị quan đám sẽ tạm thời đảm đương trách nhiệm lo liệu công việc của trùm. Lễ xin trùm là một nghi thức tâm linh được rất nhiều người dân nơi đây quan tâm theo dõi. Theo quan niệm của người dân nơi đây, năm nào mà làm lễ xin trùm thành công thì từ năm đó người dân trong vùng sẽ làm ăn phát đạt. Đền Cao là nơi thờ Vương Đức Minh - Thiên Bồng Đại tướng quân Đại vương, là một di tích lịch sử đã có từ rất lâu, nằm trên đỉnh núi Thiên Bồng, giữa cánh rừng lim già cổ thụ hàng trăm năm tuổi. Ngôi đền này đền Cả và đền Bến Cả, đền Bến Tràng đã tạo nên một cụm danh lam thắng cảnh gắn liền với cuộc đời của 5 vị tướng là 5 anh em ruột nhà họ Vương đã có công lớn trong việc trợ giúp vua Lê Đại Hành đánh tan quân xâm lược Tống vào năm 981: Vương Đức Xuân, Vương Đức Minh, Vương Đức Hồng, Vương Thị Liễu và Vương Thị Đào. Qua một gia đoạn thời gian, cuộc đời và chiến công của những vị danh tướng này đã được bà con nhân dân huyền thoại hóa lên để bày tỏ lòng tôn kính và được truyền tụng cho đến tận hôm nay. Lễ Xin Trùm ở đền Cao thu hút được rất nhiều khách thâp phương tham đự Lễ hội đền Cao tổ chức trong 5 ngày, từ ngày 21 đến 25 tháng giêng âm lịch hằng năm, nhằm suy tôn Thành hoàng làng cùng năm danh vị tướng họ Vương. Trong ngày hội ban tổ chức còn tổ chức nhiều hoạt động vui chơi để người dân tham dự và sinh hoạt như lễ du tiên, cướp cờ, vật, kéo co, cờ người, thi bánh dày, chè đông. Với hiện trạng của khu di tích và các lễ hội, đặc biệt nhất là lễ xin trùm, được người dân bảo tồn và giữ gìn vẫn còn khá nguyên vẹn, lễ hội đền Cao đã được Sở Văn hóa-Thể thao -Du lịch đánh giá là một trong những lễ hội cổ truyền nổi bật của tỉnh Hải Dương.

Related Figures

Lễ hội truyền thống Văn miếu Mao Điền

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 18/2 Âm lịch Hàng năm, cứ đến ngày 18 tháng hai âm lịch, người dân xã Cẩm Điền lại tưng bừng mở hội tại di tích Văn miếu Mao Điền thuộc địa phận huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Lễ hội Văn miếu Mao Điền được tổ chức với mục đích để nhân dân ôn lại truyền thống hiếu học và thi khoa bảng của những vị hiền tài thời xưa. Từ đó độn viên và khích lệ thế hệ con cháu trong học tập, để trở thành những người con hữu dụng đối với quê hương, đối với đất nước. Văn miếu Mao Điền ngày vào hội Văn miếu Mao Điền nằm ở thuộc thôn Mậu Tài thuộc xã Cẩm Điền, Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Di tích Mao Điền được xây dựng vào cuối thời Lê sơ ở thế kỷ thứ 15. Đây là văn miếu lớn thứ 2 và là một trong 4 văn miếu của Việt Nam còn lại đến ngày nay… Trải qua hơn 200 năm, Văn miếu Mao Điền là nơi thờ nhà tư tưởng học, nhà chính trị học kiệt xuất- Khổng Tử. Nơi đây còn là trường thi tuyển chọn những nhân tài cho dân tộc trong các triều đại phong kiến, và nơi đây cũng được xem là một danh thắng nổi tiếng của xứ Đông xưa. Hiện nay, Văn miếu Mao Điền còn là nơi thờ phụng nhiều bậc đại nho sĩ, các bậc hiền tài của đất nước như: Mạc Đĩnh Chi, nhà giáo Chu Văn An, danh yTuệ Tĩnh, Phạm Sư Mạnh, danh nhân văn hóa Thế giới Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Vũ Hữu, Nguyễn Thị Duệ… Hàng năm, Văn miếu Mao Điền lại đón tiếp hàng chục vạn người dân, du khách thập phương và các nhà giáo, học sinh, sinh viên từ khắp nơi về tham quan chiêm bái… Nghi lễ xếp chữ trong ngày hội Xưa kia, việc tế lễ tại khu Văn Miếu được tổ chức rất long trọng vào 2 ngày là ngày 18 tháng 2 và 20 tháng 8 Âm lịch, nhưng vì bị gián đoạn nên nhiều nghi lễ đã bị thất truyền. Cho đến năm 2005, lễ hội văn miếu Mao Điền mới được phục dựng và nâng lên là lễ hội cấp tỉnh. Trong năm, văn miếu Mao Điền sẽ có hai lần lễ hội, lễ hội mùa xuân được tổ chức vào ngày 17 và 18 tháng 2 âm lịch, lễ hội mùa thu được tổ chức vào ngày 20 tháng 8 âm lịch. Phần lễ của lễ hội này cũng có rước kiệu, văn tế và đọc diễn văn ca ngợi công đức của Khổng Tử và các bậc tiên hiền xứ Đông, trong đó đặc biệt nhất là lễ chữ dâng Thánh, xếp chữ “Tiên học lễ - Hậu học văn”. Phần hội diễn ra với nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ và thể thao. Tại buổi lễ, các vị đại biểu cùng khác xem hội và đông đảo học sinh, sinh viên các cấp, người dên từ trong và ngoài tỉnh đều qui tụ về đây để dâng hương lên Khổng Tử và các bậc hiền tài xưa. Khuôn viên văn miếu Mao Điền

Hàng năm, cứ đến ngày 18 tháng hai âm lịch, người dân xã Cẩm Điền lại tưng bừng mở hội tại di tích Văn miếu Mao Điền thuộc địa phận huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Lễ hội Văn miếu Mao Điền được tổ chức với mục đích để nhân dân ôn lại truyền thống hiếu học và thi khoa bảng của những vị hiền tài thời xưa. Từ đó độn viên và khích lệ thế hệ con cháu trong học tập, để trở thành những người con hữu dụng đối với quê hương, đối với đất nước.

Văn miếu Mao Điền ngày vào hội

Văn miếu Mao Điền nằm ở thuộc thôn Mậu Tài thuộc xã Cẩm Điền, Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Di tích Mao Điền được xây dựng vào cuối thời Lê sơ ở thế kỷ thứ 15. Đây là văn miếu lớn thứ 2 và là một trong 4 văn miếu của Việt Nam còn lại đến ngày nay… Trải qua hơn 200 năm, Văn miếu Mao Điền là nơi thờ nhà tư tưởng học, nhà chính trị học kiệt xuất- Khổng Tử. Nơi đây còn là trường thi tuyển chọn những nhân tài cho dân tộc trong các triều đại phong kiến, và nơi đây cũng được xem là một danh thắng nổi tiếng của xứ Đông xưa. Hiện nay, Văn miếu Mao Điền còn là nơi thờ phụng nhiều bậc đại nho sĩ, các bậc hiền tài của đất nước như: Mạc Đĩnh Chi, nhà giáo Chu Văn An, danh yTuệ Tĩnh, Phạm Sư Mạnh, danh nhân văn hóa Thế giới Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Vũ Hữu, Nguyễn Thị Duệ… Hàng năm, Văn miếu Mao Điền lại đón tiếp hàng chục vạn người dân, du khách thập phương và các nhà giáo, học sinh, sinh viên từ khắp nơi về tham quan chiêm bái… Nghi lễ xếp chữ trong ngày hội Xưa kia, việc tế lễ tại khu Văn Miếu được tổ chức rất long trọng vào 2 ngày là ngày 18 tháng 2 và 20 tháng 8 Âm lịch, nhưng vì bị gián đoạn nên nhiều nghi lễ đã bị thất truyền. Cho đến năm 2005, lễ hội văn miếu Mao Điền mới được phục dựng và nâng lên là lễ hội cấp tỉnh. Trong năm, văn miếu Mao Điền sẽ có hai lần lễ hội, lễ hội mùa xuân được tổ chức vào ngày 17 và 18 tháng 2 âm lịch, lễ hội mùa thu được tổ chức vào ngày 20 tháng 8 âm lịch. Phần lễ của lễ hội này cũng có rước kiệu, văn tế và đọc diễn văn ca ngợi công đức của Khổng Tử và các bậc tiên hiền xứ Đông, trong đó đặc biệt nhất là lễ chữ dâng Thánh, xếp chữ “Tiên học lễ - Hậu học văn”.

Văn miếu Mao Điền nằm ở thuộc thôn Mậu Tài thuộc xã Cẩm Điền, Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Di tích Mao Điền được xây dựng vào cuối thời Lê sơ ở thế kỷ thứ 15. Đây là văn miếu lớn thứ 2 và là một trong 4 văn miếu của Việt Nam còn lại đến ngày nay… Trải qua hơn 200 năm, Văn miếu Mao Điền là nơi thờ nhà tư tưởng học, nhà chính trị học kiệt xuất- Khổng Tử. Nơi đây còn là trường thi tuyển chọn những nhân tài cho dân tộc trong các triều đại phong kiến, và nơi đây cũng được xem là một danh thắng nổi tiếng của xứ Đông xưa. Hiện nay, Văn miếu Mao Điền còn là nơi thờ phụng nhiều bậc đại nho sĩ, các bậc hiền tài của đất nước như: Mạc Đĩnh Chi, nhà giáo Chu Văn An, danh yTuệ Tĩnh, Phạm Sư Mạnh, danh nhân văn hóa Thế giới Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Vũ Hữu, Nguyễn Thị Duệ… Hàng năm, Văn miếu Mao Điền lại đón tiếp hàng chục vạn người dân, du khách thập phương và các nhà giáo, học sinh, sinh viên từ khắp nơi về tham quan chiêm bái…

Nghi lễ xếp chữ trong ngày hội

Xưa kia, việc tế lễ tại khu Văn Miếu được tổ chức rất long trọng vào 2 ngày là ngày 18 tháng 2 và 20 tháng 8 Âm lịch, nhưng vì bị gián đoạn nên nhiều nghi lễ đã bị thất truyền. Cho đến năm 2005, lễ hội văn miếu Mao Điền mới được phục dựng và nâng lên là lễ hội cấp tỉnh. Trong năm, văn miếu Mao Điền sẽ có hai lần lễ hội, lễ hội mùa xuân được tổ chức vào ngày 17 và 18 tháng 2 âm lịch, lễ hội mùa thu được tổ chức vào ngày 20 tháng 8 âm lịch.

Phần lễ của lễ hội này cũng có rước kiệu, văn tế và đọc diễn văn ca ngợi công đức của Khổng Tử và các bậc tiên hiền xứ Đông, trong đó đặc biệt nhất là lễ chữ dâng Thánh, xếp chữ “Tiên học lễ - Hậu học văn”.

Phần hội diễn ra với nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ và thể thao. Tại buổi lễ, các vị đại biểu cùng khác xem hội và đông đảo học sinh, sinh viên các cấp, người dên từ trong và ngoài tỉnh đều qui tụ về đây để dâng hương lên Khổng Tử và các bậc hiền tài xưa. Khuôn viên văn miếu Mao Điền

Related Figures

Lễ hội chùa Bạch Hào

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 5/1- 6/1 Âm lịch Lễ hội chùa Bạch Hào được tổ chức trong 2 ngày mồng 5 và ngày mồng 6 tháng giêng âm lịch hàng năm, tạ xã Thanh Xá thuộc huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Đây là lễ hội truyền thống đầu tiên trong năm và cũng chính là một lễ hội lớn của nhân dân huyện Thanh Hà với các trò chơi dân gian độc đáo. Lễ hội chùa Bạch Hào tại Hải Dương Để chuẩn bị cho ngày mở hội, từ ngày mồng 4 từ người già đến trẻ em, trai gái các làng đã tất bật với công việc chuẩn bị một mâm quả thịnh soạn cho lễ rước được tổ chức vào ngày hôm sau. Những người khéo tay nhất của thôn sẽ được triệu tập để chuẩn bị mâm quả, sao cho mâm quả vừa đẹp mà lại có ý nghĩa để thi tài với các thôn khác. Lễ rước trước đây chỉ là lễ rước “long đình” của các dòng họ trong xã chứ không có lễ rước cỗ như ngày nay. Ngày nay, lễ hội này đã được rút ngắn thời gian lại thành 2 ngày, việc rước “long đình” cũng được người dân thay thế bằng rước “cỗ” bởi vì long đình của nhiều dòng họ đã bị hỏng, không thể sử dụng được nữa. Cỗ thường là các mâm quả, được trang trí theo các thế khác nhau, tạo nên sự uy nghiêm nhưng cũng rất đẹp mắt như: hạc ngậm phong thư, quần long tụ hội... Từ sáng sớm ngày mồng 5 tháng 1 , tại sân nhà văn hóa của các thôn đã chật kín người. Các cụ già trong trang phục áo the, khăn xếp, các cụ bà đi chùa thường mặc áo nâu, các thanh niên nam nữ hân hoan trong trang phục truyền thống của lễ hội, tất cả đều sẵn sàng tham gia đám rước. Ngoài 5 mâm cỗ của 5 thôn, người ta còn rước cả bài vị của ba vị thành hoàng, cũng chính là 3 vị tướng thời nhà Trần đã có công dẹp giặc, dựng làng, truyền nghề trồng dâu nuôi tằm của nhân dân Thanh Xá. Sau đó, sẽ tổ chức các nghi lễ khác của lễ hội như lễ dâng hương, tế tổ... được cử hành ngay tại chùa. Hội bơi chải là một phần không thể thiếu trong lễ hội chùa Bạch Hào Lễ hội chùa Hào đã thu hút được đông đảo khách thập phương đến tham dự, ngoài ý nghĩa về tâm linh, lễ hội chùa Hào còn thu hút sự quan tâm bởi sự phong phú của nhiều trò chơi dân gian được tổ chức trong phần hội. Trong đó, hội bơi thuyền truyền thống còn được gọi là trò bơi chải là một nét đẹp văn hóa của người dân nơi đây được du khách thích thú. Hội đua thuyền tổ chức vào ngày chính hội - ngày mồng 6, để kỷ niệm ngày vua Trần Nhân Tông đã dừng đến thăm chùa trong lần kinh lý tại Hải Dương. Một thời gian rất dài, vì kinh tế khó khăn nên thuyền đua được làm bằng nan chứ không phải bằng gỗ như ngày nay. Hội thi bơi chải đi kèm với các phần thi khác như nấu cơm và bắt vịt trên sông. Đây cũng chính là phần thi sôi nổi, thu hút được nhiều người xem nhất. Chỉ các đội về nhất và về nhì mới được tham dự vào phần thi này. Ngày nay, có một số trò chơi dân gian khác được tổ chức kèm theo hội bơi chải như bắt chạch, leo cầu thùm,... đã không còn được tổ chức vì điều kiện thời tiết và thời gian không cho phép. Tuy nhiên, lễ hội cũng không vì thế mà bớt vui vì còn có các môn thể thao hiện đại như cầu lông, bóng đá mi-ni, thể dục dưỡng sinh của các cụ cao tuổi. Trước đây, lễ hội còn có các gánh hát và các phường chèo từ khắp nơi trong tỉnh về biểu diễn để phục vụ bà con và khách xem hội, nhưng ngày nay các tiết mục văn nghệ là do các thôn tự biên tự diễn. Lễ hội chùa Bạch Hào vẫn còn giữ được nhiều nghi thức truyền thống đặc sắc Những hoạt động văn hóa, văn nghệ và thể thao sôi nổi này đã góp phần làm nên một lễ hội độc đáo, vừa mang nét truyền thống nhưng cũng có phần hiện đại.

Lễ hội chùa Bạch Hào được tổ chức trong 2 ngày mồng 5 và ngày mồng 6 tháng giêng âm lịch hàng năm, tạ xã Thanh Xá thuộc huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Đây là lễ hội truyền thống đầu tiên trong năm và cũng chính là một lễ hội lớn của nhân dân huyện Thanh Hà với các trò chơi dân gian độc đáo.

Lễ hội chùa Bạch Hào tại Hải Dương

Để chuẩn bị cho ngày mở hội, từ ngày mồng 4 từ người già đến trẻ em, trai gái các làng đã tất bật với công việc chuẩn bị một mâm quả thịnh soạn cho lễ rước được tổ chức vào ngày hôm sau. Những người khéo tay nhất của thôn sẽ được triệu tập để chuẩn bị mâm quả, sao cho mâm quả vừa đẹp mà lại có ý nghĩa để thi tài với các thôn khác. Lễ rước trước đây chỉ là lễ rước “long đình” của các dòng họ trong xã chứ không có lễ rước cỗ như ngày nay. Ngày nay, lễ hội này đã được rút ngắn thời gian lại thành 2 ngày, việc rước “long đình” cũng được người dân thay thế bằng rước “cỗ” bởi vì long đình của nhiều dòng họ đã bị hỏng, không thể sử dụng được nữa. Cỗ thường là các mâm quả, được trang trí theo các thế khác nhau, tạo nên sự uy nghiêm nhưng cũng rất đẹp mắt như: hạc ngậm phong thư, quần long tụ hội... Từ sáng sớm ngày mồng 5 tháng 1 , tại sân nhà văn hóa của các thôn đã chật kín người. Các cụ già trong trang phục áo the, khăn xếp, các cụ bà đi chùa thường mặc áo nâu, các thanh niên nam nữ hân hoan trong trang phục truyền thống của lễ hội, tất cả đều sẵn sàng tham gia đám rước. Ngoài 5 mâm cỗ của 5 thôn, người ta còn rước cả bài vị của ba vị thành hoàng, cũng chính là 3 vị tướng thời nhà Trần đã có công dẹp giặc, dựng làng, truyền nghề trồng dâu nuôi tằm của nhân dân Thanh Xá. Sau đó, sẽ tổ chức các nghi lễ khác của lễ hội như lễ dâng hương, tế tổ... được cử hành ngay tại chùa. Hội bơi chải là một phần không thể thiếu trong lễ hội chùa Bạch Hào Lễ hội chùa Hào đã thu hút được đông đảo khách thập phương đến tham dự, ngoài ý nghĩa về tâm linh, lễ hội chùa Hào còn thu hút sự quan tâm bởi sự phong phú của nhiều trò chơi dân gian được tổ chức trong phần hội. Trong đó, hội bơi thuyền truyền thống còn được gọi là trò bơi chải là một nét đẹp văn hóa của người dân nơi đây được du khách thích thú. Hội đua thuyền tổ chức vào ngày chính hội - ngày mồng 6, để kỷ niệm ngày vua Trần Nhân Tông đã dừng đến thăm chùa trong lần kinh lý tại Hải Dương. Một thời gian rất dài, vì kinh tế khó khăn nên thuyền đua được làm bằng nan chứ không phải bằng gỗ như ngày nay. Hội thi bơi chải đi kèm với các phần thi khác như nấu cơm và bắt vịt trên sông. Đây cũng chính là phần thi sôi nổi, thu hút được nhiều người xem nhất. Chỉ các đội về nhất và về nhì mới được tham dự vào phần thi này. Ngày nay, có một số trò chơi dân gian khác được tổ chức kèm theo hội bơi chải như bắt chạch, leo cầu thùm,... đã không còn được tổ chức vì điều kiện thời tiết và thời gian không cho phép. Tuy nhiên, lễ hội cũng không vì thế mà bớt vui vì còn có các môn thể thao hiện đại như cầu lông, bóng đá mi-ni, thể dục dưỡng sinh của các cụ cao tuổi. Trước đây, lễ hội còn có các gánh hát và các phường chèo từ khắp nơi trong tỉnh về biểu diễn để phục vụ bà con và khách xem hội, nhưng ngày nay các tiết mục văn nghệ là do các thôn tự biên tự diễn. Lễ hội chùa Bạch Hào vẫn còn giữ được nhiều nghi thức truyền thống đặc sắc Những hoạt động văn hóa, văn nghệ và thể thao sôi nổi này đã góp phần làm nên một lễ hội độc đáo, vừa mang nét truyền thống nhưng cũng có phần hiện đại.

Related Figures

Lễ hội Đền Bia

Thông tin thời kỳ

Đền Bia thuộc địa phận thôn Văn Thai xã Cẩm Văn, Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Đền Bia được lập nên để thờ Tuệ Tĩnh và một tấm bia ở thời Lê là một di vật kỷ niệm của Tuệ Tĩnh nên từ đó đặt tên là Đền Bia. Theo tư liệu lịch sử vẫn còn lưu hành thì khi Tuệ Tĩnh 55 tuổi, ông đã đi sứ Trung Quốc và qua đời tại Giang Nam. Khai hội đền Bia ở Hải Dương Về tấm bia thời nhà Lê hiện đang được thờ tại đền đã có lịch sử như sau: Nhân dân địa phương này cho biết, tấm bia này là do vị tiến sĩ Nguyễn Danh Nho (1638-1699) là một người cùng quê với Tuệ Tĩnh đã soạn khắc vào năm 1699 khi ông sang Trung Quốc và đến viếng mộ Tuệ Tĩnh tại tỉnh Giang Nam. Từ ngày dựng tấm bia này, người dân từ khắp nơi kéo về đây lấy thuốc, hái lá và xin nước đền Bia về uống để trị bệnh. Tương truyền, năm 1845 (Thiệu Trị thứ 5), mỗi ngày Đền Bia tiếp đón hàng nghìn người, nên nhà vua đã hạ chiếu cấm các việc cúng lễ, xin thuốc, xin nước, mang tính chất mê tín và không hợp vệ sinh, đồng thời ra lệnh cho người mang tấm bia về kho ở Hải Dương để cất, sau này làng Văn Thai có người làm chức thủ kho, ông ta đã bí mật lấy lại tấm bia và đem về đền thờ. Đền Bia được xây dựng từ thời nhà Lê, năm 1936 được trùng tu, kiến trúc theo kiểu tiền nhất hậu đinh, mặt tiền của chùa quay hướng bắc, quanh chùa toàn là cây cối xanh tươi, nằm giữa một cánh đồng của 2 xã Cẩm Vũ và Cẩm Văn của huyện Cẩm Giàng. Đền Bia có một vườn thuốc nam khá rộng, phong phú và đa dạng các loại dược liệu, toà tiền tế được trùng tu vào năm 1993 phỏng theo phong cách kiến trúc của thời Nguyễn, trông khá đẹp, với năm gian với diện tích 120 m2, hậu cung và trung từ tuy nhỏ nhưng vẫn còn chắc chắn và đồng bộ từ kiến trúc cho tới các đồ thờ tự, nhà hình lòng thuyền tứ trụ, bức cốn được chạm long cuốn thuỷ có cả hoa lá, chính giữa treo một bức đại tự được sơn son thiếp vàng có ghi 4 chữ: " Thánh cung vạn tuế" tức là: " Đức thánh muôn tuổi". Hai cột treo 2 câu đối để ca ngợi Tuệ Tĩnh: " Hoàng giáp phương danh đằng bắc địa Thánh sư dược diệu trấn Nam bang" Có nghĩa là: " Thi đậu hoàng giáp danh tiếng lẫy lừng đất bắc Chữa bệnh thần diệu tài quán nước Nam". Khai hội đền Bia ở Hải Dương Di tích này còn nhiều cổ vật có giá trị từ các triều đại như: bệ đá thời nhà Nguyễn được chạm khắc tứ linh, cỗ khám được sơn son thiếp vàng, tứ quý, bức tượng Tuệ Tĩnh, đặc biệt là tấm bia thời nhà Lê là một di vật kỷ niệm của danh y Tuệ Tĩnh, được nhân dân nơi đây xem như báu vật và bảo quản rất cẩn thận tại hậu cung của đền. Năm 2003, bản dự án trùng tu đền Bia với qui mô đã được phê duyệt. Năm 2006, công trình này đã được đưa vào khánh thành sau 3 năm xây dựng , với tổng số kinh phí là 14,8 tỷ đồng. Tổng diện tích khu di tích đền Bia là 3 ha, 7 mẫu gồm có 2 khu là: Khu thờ tự và y xá. Khu thờ tự có năm công trình: nhà thuỷ đình, Tam quan, hữu vu, nhà tả vu , hậu cung và tiền tế, tổng có 23 gian, diện tích còn lại là sân vườn, tường bao quanh và cổng. Kiến trúc của đền mang phong cách thời Nguyễn, gỗ lim 100% và gạch Bát Tràng. Khu y xá gồm có 3 công trình: nhà bốc thuốc, nhà chẩn trị, Nhà bắt mạch và kê đơn thuốc, mỗi công trình gồm 5 gian. Ngoài ra, đền còn có khu nhà từ tâm để đón tiếp khách. Khu di tích đền Bia tọa lạc trên một cánh đồng, nơi tiếp giáp giữa hai làng Văn Thai và Nghĩa Phú, đã tạo nên một không gian rộng rãi, hoành tráng, cổ kính nhưng hài hoà với thiên nhiên. Đền Bia -Lễ hội Đền Bia: Trước khi mở hội Đền Bia, vùng đất này chỉ là một đống đất cao, nhưng vì khu đất này có hình dáng giống một con dao cầu nên bà con dân làng vẫn thường lui tới cắm hương lễ bái, sau khi tấm bia này được dựng lên thì mới xây dựng đền thờ tấm bia, ban đầu ngôi đền chỉ làm bằng gianh, tre, nhưng vì năm nào cũng bị cháy nên dân làng đã cho xây một ngôi đền gọi là Đền Trung ở gần chỗ mà làng Văn Thai thờ vọng lên đền Bia, sau đó đền Bia mới được xây dựng bằng vật liệu gạch, gỗ lim trông chắc chắn hơn, từ đó nhân dân trong làng làm lễ tại hai đền và đặt tên cho đền Trung và đền Thượng. Theo nhân dân nơi đây cho biết, lễ hội đền Bia lập từ năm 1830, đó là vào thời vua Minh Mạng thứ 11. Tương truyền, ngày mồng tháng Tư có thánh ứng nên lễ hội đã diễn ra từ ngày 1 tháng 4 đến hết ngày 4 tháng 4. Trong 4 ngày này, nhân dân sẽ gọi là Hội thánh ứng lần thứ nhất, đây cũng chính là ngày giỗ danh y Tuệ Tĩnh. Lý trưởng, các vị chức sắc trong làng, các giáp đứng và hội đồng tộc biểu sẽ đứng ra tổ chức hội. Diễn biến của lễ hội thánh ứng lần thứ nhất có trình thự như sau: - Thánh ứng lần thứ nhất (vào năm 1830): *Ngày mồng 1 tháng Tư: Nhân dân sẽ tổ chức lễ rước bát hương cùng hòm sắc từ đền Trung về đền Bia (đền Thượng), lễ rước có 2 kiệu, kiệu thứ nhất được 12 thanh niên mặc áo đỏ khiêng rước bát hương , các thanh niên này được chọn từ các giáp của làng, có độ tuổi từ 18 đến 30 tuổi. Kiệu thứ hai sẽ rước hòm sắc, do 4 người khiêng, trên kiệu còn có long đình đặt hòm sắc. Trò múa rối nước Dẫn đầu đoàn rước là một số thanh niên cầm cờ và bát biểu, theo sau là đội chiêng, trống, tiếp theo là đội kiệu bát hương, rồi đến kiệu của các vị chức sắc trong làng, xã, mặc trang phục áo lương, đầu đội khăn xếp, có người cầm tàn lọng che hai bên, sau đó sẽ đến kiệu hòm sắc, tiếp đến là các vị trong ban hội đồng tộc biểu của làng, các giáp trong xã, đoàn các cụ, đoàn dân làng mặc áo dài và vấn khă đội lễ vật, và cuối cùng là đội nhân dân đi theo. Lễ vật gồm lợn luộc để nguyên con, xôi, trầu, hoa quả, rượu, đèn hương... nói chung đều là những sản vật của người dân trong làng làm ra. Đoàn rước đi thành một hàng dài trong tiếng chiêng, tiếng trống rộn ràng, không khí lễ hội lại càng tưng bừng hoà với những bộ quần áo đủ sắc màu. Khi đoàn rước về đến đền bia, kiệu sẽ hạ tại vị trí trang trọng và tiến hành tế thánh, đội tế nam gồm có 15 người, vị chủ tế phải là vị tiên chỉ của làng. * Ngày mồng 2 tháng 4: Tại đền Thượng (đền Bia) và đền Trung, người dân đến lễ bái tự do, và còn xin thuốc, gọi đây là hội thánh vì đây là nơi thờ tấm bia kỷ niệm danh y Tuệ Tĩnh, người được tôn là thánh của thuốc nam, tương truyền trong những ngày mở hội bất cứ ai vào đền Bia cũng đều bứt lá và đặt lên để lễ thánh rồi mang lá về sắc uống thì khỏi bệnh (bách bệnh), người nọ truyền tai người kia cho nên dân từ khắp nơi kéo nhau về đền Bia rất đông, nhân dân trong thôn đã mang nhiều loại lá ra đền để lễ bán như: lá ngải cứu, lá tre dây, lá mít, lá cúc tần, lá bưởi... ai mua lá xong cũng đều mang vào lễ thánh thì lá đó mang về sắc uống mới khỏi bệnh được vì người ta cho rằng lá đó đã được Thánh ứng. Năm 1830 có hàng vạn người dân từ khắp nơi trong nước đến lễ và xin thuốc thánh, nhân dân địa phương đã phải dựng nhà sàn xung quanh đền để phục vụ. Không khí ngày hội diễn ra nhộn nhịp suốt ngày đêm, khiến mọi người trong làng xã, từ các cụ già cho đến các em nhỉ cũng đều ra đền để phục vụ lễ hội thánh. * Ngày mồng 3 tháng 4: Nhân dân trong làng và du khách các nơi vẫn đến đền đặt lễ thánh và xin lá thuốc. Để cho có không khí lễ hội tưng bừng, làng đã tổ chức các trò chơi dân gian như bịt mắt bắt dê, đánh cờ, đi cầu kiều... đều có giải thưởng. Buổi tối tổ chức hát chèo đến tận đêm khuya. *Ngày mồng 4 tháng 4: Tổ chức lễ rước kiệu rước hòm sắc và bát hương trở lại đền Trung rồi làm lễ tạ thánh, diễn biến của đoàn rước cũng được thực hiện như lễ rước ngày mồng 1 tháng 4, sau đó sẽ kết thúc hội và đóng cửa đền. Từ năm 1830-1950, hàng năm lễ hội này vẫn được hội đồng tộc biểu tổ chức và cử hành đầy đủ lệ bộ, tuy nhiên người đến dự Hội đã không cong đông bằng năm 1830. Lễ hội ở đây còn có lệ kiêng: Nhà ai có đại tang thì không được tham gia rước kiệu, ai ăn thịt chó cùng không được tham gia vào đền làm lễ, tất cả đều phải kiêng đúng theo quy định, nếu ai vi phạmsẽ bị làng phạt. - Thánh ứng lần thứ hai ( năm 1936): Sau hơn 100 năm, sau ngày Thánh ứng lần thứ nhất vào năm 1830. Năm 1936 (là năm Bảo Đại thứ 11), tương truyền, có Thánh ứng lần thứ 2, lễ hội Thánh được tổ chức long trọng trong 4 ngày, từ ngày mồng 1 tháng 4 đến ngày ,mồng 4 tháng 4 âm lịch, giống với dịpThánh ứng lần thứ nhất. Nhưng có chỗ khác là lần này người đến lễ và xin thuốc còn đông hơn rất nhiểu so với lần trước, mỗi ngày đều có tới hàng vạn người từ khắp các nơi trên mọi miền tổ quốc đổ về xin lá thuốc, tất cả mọi loại lá gì trong đền cũng được xem là thuốc quý là để chữa bách bệnh. Từ đó cho đến nay lễ hội này vẫn tổ chức như xưa nhưng người tham dự thì không đông như năm 1936 nữa. Năm 1962, đền Trung đã bị giải hạ, nên từ đó lễ hội tập trung tại đền Bia là chính. Xét về quy mô lễ thì hội cổ truyền Đền Bia là một lễ hội với quy mô rất lớn, là một lễ hội thu hút được người dân của ba miền trong nước, đặc biệt vì sự "hiển thánh" tại Đền Bia nên được truyền đi rất nhanh, nhân dân đã đặt niềm tin vào vị Thánh thuốc nam Tuệ Tĩnh. Đền Bia Năm 1992, xã Cẩm Văn đã quyết định thành lập Chi hội đông y, chuyên về sản xuất và kê đơn bốc thuốc nam, thuốc bắc, số hội viên tham gia cũng khá đông, địa điểm được đặt tại đền Bia, xung quanh ngôi đền có nhiều cây thuốc, vào những ngày lễ hội nhân dân tham dự hội, lễ Thánh, đồng thời xin thuốc để chữa bệnh, ngoài ra hiện nay còn có thày thuốc bắt mạch kê thuốc tại đền, Chi hội đông y hoạt động ở đền Bia là một chi hội mạnh thuộc Chi hội đông y huyện Cẩm Giàng và Hải Dương, Chi hội này hoạt động có hiệu quả tốt, đã phát huy được truyền thống của thuốc nam Tuệ Tĩnh. Ngày nay, chính quyền địa phương đã đứng ra tổ chức lễ hội tại di tích đền Bia, những hình thức cổ truyền trong các dịp lễ hội vẫn được người đời nay kế thừa có chọn lọc, vẫn tiếp tục duy trì và phát huy những phong tục hay của người xưa và loại trừ những hành động và biểu hiện chưa được tốt, cùng nhau phấn đấu xây dựng quê hương. Sau một năm lao động cực nhọc, những ngày lễ hội vui vẻ đã mang đến cho người dân nơi đây sự thoải mái, đồng thời cũng thắt chặt thêm mối tình đoàn kết của xóm làng, dòng tộc trong mỗi dịp lễ hội thiêng liêng. Số tiền được công đức của khách thập phương sẽ được công khai và đưa vào quỹ xây dựng di tích.

Đền Bia thuộc địa phận thôn Văn Thai xã Cẩm Văn, Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Đền Bia được lập nên để thờ Tuệ Tĩnh và một tấm bia ở thời Lê là một di vật kỷ niệm của Tuệ Tĩnh nên từ đó đặt tên là Đền Bia. Theo tư liệu lịch sử vẫn còn lưu hành thì khi Tuệ Tĩnh 55 tuổi, ông đã đi sứ Trung Quốc và qua đời tại Giang Nam.

Khai hội đền Bia ở Hải Dương

Về tấm bia thời nhà Lê hiện đang được thờ tại đền đã có lịch sử như sau: Nhân dân địa phương này cho biết, tấm bia này là do vị tiến sĩ Nguyễn Danh Nho (1638-1699) là một người cùng quê với Tuệ Tĩnh đã soạn khắc vào năm 1699 khi ông sang Trung Quốc và đến viếng mộ Tuệ Tĩnh tại tỉnh Giang Nam. Từ ngày dựng tấm bia này, người dân từ khắp nơi kéo về đây lấy thuốc, hái lá và xin nước đền Bia về uống để trị bệnh. Tương truyền, năm 1845 (Thiệu Trị thứ 5), mỗi ngày Đền Bia tiếp đón hàng nghìn người, nên nhà vua đã hạ chiếu cấm các việc cúng lễ, xin thuốc, xin nước, mang tính chất mê tín và không hợp vệ sinh, đồng thời ra lệnh cho người mang tấm bia về kho ở Hải Dương để cất, sau này làng Văn Thai có người làm chức thủ kho, ông ta đã bí mật lấy lại tấm bia và đem về đền thờ. Đền Bia được xây dựng từ thời nhà Lê, năm 1936 được trùng tu, kiến trúc theo kiểu tiền nhất hậu đinh, mặt tiền của chùa quay hướng bắc, quanh chùa toàn là cây cối xanh tươi, nằm giữa một cánh đồng của 2 xã Cẩm Vũ và Cẩm Văn của huyện Cẩm Giàng. Đền Bia có một vườn thuốc nam khá rộng, phong phú và đa dạng các loại dược liệu, toà tiền tế được trùng tu vào năm 1993 phỏng theo phong cách kiến trúc của thời Nguyễn, trông khá đẹp, với năm gian với diện tích 120 m2, hậu cung và trung từ tuy nhỏ nhưng vẫn còn chắc chắn và đồng bộ từ kiến trúc cho tới các đồ thờ tự, nhà hình lòng thuyền tứ trụ, bức cốn được chạm long cuốn thuỷ có cả hoa lá, chính giữa treo một bức đại tự được sơn son thiếp vàng có ghi 4 chữ: " Thánh cung vạn tuế" tức là: " Đức thánh muôn tuổi". Hai cột treo 2 câu đối để ca ngợi Tuệ Tĩnh: " Hoàng giáp phương danh đằng bắc địa Thánh sư dược diệu trấn Nam bang" Có nghĩa là: " Thi đậu hoàng giáp danh tiếng lẫy lừng đất bắc Chữa bệnh thần diệu tài quán nước Nam". Khai hội đền Bia ở Hải Dương Di tích này còn nhiều cổ vật có giá trị từ các triều đại như: bệ đá thời nhà Nguyễn được chạm khắc tứ linh, cỗ khám được sơn son thiếp vàng, tứ quý, bức tượng Tuệ Tĩnh, đặc biệt là tấm bia thời nhà Lê là một di vật kỷ niệm của danh y Tuệ Tĩnh, được nhân dân nơi đây xem như báu vật và bảo quản rất cẩn thận tại hậu cung của đền. Năm 2003, bản dự án trùng tu đền Bia với qui mô đã được phê duyệt. Năm 2006, công trình này đã được đưa vào khánh thành sau 3 năm xây dựng , với tổng số kinh phí là 14,8 tỷ đồng. Tổng diện tích khu di tích đền Bia là 3 ha, 7 mẫu gồm có 2 khu là: Khu thờ tự và y xá. Khu thờ tự có năm công trình: nhà thuỷ đình, Tam quan, hữu vu, nhà tả vu , hậu cung và tiền tế, tổng có 23 gian, diện tích còn lại là sân vườn, tường bao quanh và cổng. Kiến trúc của đền mang phong cách thời Nguyễn, gỗ lim 100% và gạch Bát Tràng. Khu y xá gồm có 3 công trình: nhà bốc thuốc, nhà chẩn trị, Nhà bắt mạch và kê đơn thuốc, mỗi công trình gồm 5 gian. Ngoài ra, đền còn có khu nhà từ tâm để đón tiếp khách. Khu di tích đền Bia tọa lạc trên một cánh đồng, nơi tiếp giáp giữa hai làng Văn Thai và Nghĩa Phú, đã tạo nên một không gian rộng rãi, hoành tráng, cổ kính nhưng hài hoà với thiên nhiên. Đền Bia -Lễ hội Đền Bia: Trước khi mở hội Đền Bia, vùng đất này chỉ là một đống đất cao, nhưng vì khu đất này có hình dáng giống một con dao cầu nên bà con dân làng vẫn thường lui tới cắm hương lễ bái, sau khi tấm bia này được dựng lên thì mới xây dựng đền thờ tấm bia, ban đầu ngôi đền chỉ làm bằng gianh, tre, nhưng vì năm nào cũng bị cháy nên dân làng đã cho xây một ngôi đền gọi là Đền Trung ở gần chỗ mà làng Văn Thai thờ vọng lên đền Bia, sau đó đền Bia mới được xây dựng bằng vật liệu gạch, gỗ lim trông chắc chắn hơn, từ đó nhân dân trong làng làm lễ tại hai đền và đặt tên cho đền Trung và đền Thượng. Theo nhân dân nơi đây cho biết, lễ hội đền Bia lập từ năm 1830, đó là vào thời vua Minh Mạng thứ 11. Tương truyền, ngày mồng tháng Tư có thánh ứng nên lễ hội đã diễn ra từ ngày 1 tháng 4 đến hết ngày 4 tháng 4. Trong 4 ngày này, nhân dân sẽ gọi là Hội thánh ứng lần thứ nhất, đây cũng chính là ngày giỗ danh y Tuệ Tĩnh. Lý trưởng, các vị chức sắc trong làng, các giáp đứng và hội đồng tộc biểu sẽ đứng ra tổ chức hội. Diễn biến của lễ hội thánh ứng lần thứ nhất có trình thự như sau: - Thánh ứng lần thứ nhất (vào năm 1830): *Ngày mồng 1 tháng Tư: Nhân dân sẽ tổ chức lễ rước bát hương cùng hòm sắc từ đền Trung về đền Bia (đền Thượng), lễ rước có 2 kiệu, kiệu thứ nhất được 12 thanh niên mặc áo đỏ khiêng rước bát hương , các thanh niên này được chọn từ các giáp của làng, có độ tuổi từ 18 đến 30 tuổi. Kiệu thứ hai sẽ rước hòm sắc, do 4 người khiêng, trên kiệu còn có long đình đặt hòm sắc. Trò múa rối nước Dẫn đầu đoàn rước là một số thanh niên cầm cờ và bát biểu, theo sau là đội chiêng, trống, tiếp theo là đội kiệu bát hương, rồi đến kiệu của các vị chức sắc trong làng, xã, mặc trang phục áo lương, đầu đội khăn xếp, có người cầm tàn lọng che hai bên, sau đó sẽ đến kiệu hòm sắc, tiếp đến là các vị trong ban hội đồng tộc biểu của làng, các giáp trong xã, đoàn các cụ, đoàn dân làng mặc áo dài và vấn khă đội lễ vật, và cuối cùng là đội nhân dân đi theo. Lễ vật gồm lợn luộc để nguyên con, xôi, trầu, hoa quả, rượu, đèn hương... nói chung đều là những sản vật của người dân trong làng làm ra. Đoàn rước đi thành một hàng dài trong tiếng chiêng, tiếng trống rộn ràng, không khí lễ hội lại càng tưng bừng hoà với những bộ quần áo đủ sắc màu. Khi đoàn rước về đến đền bia, kiệu sẽ hạ tại vị trí trang trọng và tiến hành tế thánh, đội tế nam gồm có 15 người, vị chủ tế phải là vị tiên chỉ của làng. * Ngày mồng 2 tháng 4: Tại đền Thượng (đền Bia) và đền Trung, người dân đến lễ bái tự do, và còn xin thuốc, gọi đây là hội thánh vì đây là nơi thờ tấm bia kỷ niệm danh y Tuệ Tĩnh, người được tôn là thánh của thuốc nam, tương truyền trong những ngày mở hội bất cứ ai vào đền Bia cũng đều bứt lá và đặt lên để lễ thánh rồi mang lá về sắc uống thì khỏi bệnh (bách bệnh), người nọ truyền tai người kia cho nên dân từ khắp nơi kéo nhau về đền Bia rất đông, nhân dân trong thôn đã mang nhiều loại lá ra đền để lễ bán như: lá ngải cứu, lá tre dây, lá mít, lá cúc tần, lá bưởi... ai mua lá xong cũng đều mang vào lễ thánh thì lá đó mang về sắc uống mới khỏi bệnh được vì người ta cho rằng lá đó đã được Thánh ứng. Năm 1830 có hàng vạn người dân từ khắp nơi trong nước đến lễ và xin thuốc thánh, nhân dân địa phương đã phải dựng nhà sàn xung quanh đền để phục vụ. Không khí ngày hội diễn ra nhộn nhịp suốt ngày đêm, khiến mọi người trong làng xã, từ các cụ già cho đến các em nhỉ cũng đều ra đền để phục vụ lễ hội thánh. * Ngày mồng 3 tháng 4: Nhân dân trong làng và du khách các nơi vẫn đến đền đặt lễ thánh và xin lá thuốc. Để cho có không khí lễ hội tưng bừng, làng đã tổ chức các trò chơi dân gian như bịt mắt bắt dê, đánh cờ, đi cầu kiều... đều có giải thưởng. Buổi tối tổ chức hát chèo đến tận đêm khuya. *Ngày mồng 4 tháng 4: Tổ chức lễ rước kiệu rước hòm sắc và bát hương trở lại đền Trung rồi làm lễ tạ thánh, diễn biến của đoàn rước cũng được thực hiện như lễ rước ngày mồng 1 tháng 4, sau đó sẽ kết thúc hội và đóng cửa đền. Từ năm 1830-1950, hàng năm lễ hội này vẫn được hội đồng tộc biểu tổ chức và cử hành đầy đủ lệ bộ, tuy nhiên người đến dự Hội đã không cong đông bằng năm 1830. Lễ hội ở đây còn có lệ kiêng: Nhà ai có đại tang thì không được tham gia rước kiệu, ai ăn thịt chó cùng không được tham gia vào đền làm lễ, tất cả đều phải kiêng đúng theo quy định, nếu ai vi phạmsẽ bị làng phạt. - Thánh ứng lần thứ hai ( năm 1936): Sau hơn 100 năm, sau ngày Thánh ứng lần thứ nhất vào năm 1830. Năm 1936 (là năm Bảo Đại thứ 11), tương truyền, có Thánh ứng lần thứ 2, lễ hội Thánh được tổ chức long trọng trong 4 ngày, từ ngày mồng 1 tháng 4 đến ngày ,mồng 4 tháng 4 âm lịch, giống với dịpThánh ứng lần thứ nhất. Nhưng có chỗ khác là lần này người đến lễ và xin thuốc còn đông hơn rất nhiểu so với lần trước, mỗi ngày đều có tới hàng vạn người từ khắp các nơi trên mọi miền tổ quốc đổ về xin lá thuốc, tất cả mọi loại lá gì trong đền cũng được xem là thuốc quý là để chữa bách bệnh. Từ đó cho đến nay lễ hội này vẫn tổ chức như xưa nhưng người tham dự thì không đông như năm 1936 nữa. Năm 1962, đền Trung đã bị giải hạ, nên từ đó lễ hội tập trung tại đền Bia là chính. Xét về quy mô lễ thì hội cổ truyền Đền Bia là một lễ hội với quy mô rất lớn, là một lễ hội thu hút được người dân của ba miền trong nước, đặc biệt vì sự "hiển thánh" tại Đền Bia nên được truyền đi rất nhanh, nhân dân đã đặt niềm tin vào vị Thánh thuốc nam Tuệ Tĩnh. Đền Bia Năm 1992, xã Cẩm Văn đã quyết định thành lập Chi hội đông y, chuyên về sản xuất và kê đơn bốc thuốc nam, thuốc bắc, số hội viên tham gia cũng khá đông, địa điểm được đặt tại đền Bia, xung quanh ngôi đền có nhiều cây thuốc, vào những ngày lễ hội nhân dân tham dự hội, lễ Thánh, đồng thời xin thuốc để chữa bệnh, ngoài ra hiện nay còn có thày thuốc bắt mạch kê thuốc tại đền, Chi hội đông y hoạt động ở đền Bia là một chi hội mạnh thuộc Chi hội đông y huyện Cẩm Giàng và Hải Dương, Chi hội này hoạt động có hiệu quả tốt, đã phát huy được truyền thống của thuốc nam Tuệ Tĩnh. Ngày nay, chính quyền địa phương đã đứng ra tổ chức lễ hội tại di tích đền Bia, những hình thức cổ truyền trong các dịp lễ hội vẫn được người đời nay kế thừa có chọn lọc, vẫn tiếp tục duy trì và phát huy những phong tục hay của người xưa và loại trừ những hành động và biểu hiện chưa được tốt, cùng nhau phấn đấu xây dựng quê hương. Sau một năm lao động cực nhọc, những ngày lễ hội vui vẻ đã mang đến cho người dân nơi đây sự thoải mái, đồng thời cũng thắt chặt thêm mối tình đoàn kết của xóm làng, dòng tộc trong mỗi dịp lễ hội thiêng liêng. Số tiền được công đức của khách thập phương sẽ được công khai và đưa vào quỹ xây dựng di tích.

Related Figures

Lễ hội chùa Minh Khánh

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 29/10- 1/11 Âm lịch Lễ hội chùa Minh Khánh được tổ chức hằng năm vào ngày 29/10 đến 01/11 âm lịch, tại thị trấn Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, là dịp để nhân dân tưởng nhớ về Phật hoàng Trần Nhân Tông, nơi nhà vua dựng lập đại bản doanh đóng quân ở Bình Kha để chuẩn bị cho cuộc chiến chống quân xâm lực Nguyên Mông lần thứ 3. Chùa Minh Khánh (còn được gọi với tên khác là chùa Hương Đại) tọa lạc tại thị trấn Thanh Hà. Chùa được xây dựng từ thời nhà Lý, sau đó đã được trùng tu và tôn tạo nhiều lần. Ngôi chùa này có kiến trúc độc đáo, cảnh quan đẹp và vẫn còn lưu giữ được hệ thống tháp cổ, tượng phật, 16 tấm bia và 13 đạo sắc phong từ thời Lê, Nguyễn... Với những giá trị văn hóa, lịch sử đã được bảo tồn, vào năm 1990, chùa Minh Khánh đẫ được nhà nước công nhận là di tích lịch sử- văn hóa cấp quốc gia,và ngày hội chùa Minh Khánh cũng bắt đầu được tổ chức đều đặn từ đây. Rất đông người dân trong vùng và du khách thập phương về dự hội chùa Minh Khánh Chùa Minh Khánh có quan hệ với tên tuổi lẫy lừng của vị vua anh minh Trần Nhân Tông, một nhà tu hành đắc đạo, và là 1 trong vị tổ của thiền phái Trúc Lâm. Theo truyền thuyết, ở thế kỷ thứ 13, vua Trần Nhân Tông rời Tràng An đến hội quân với Trần Hưng Đạo đang đóng quân ở đây. Trước ngày xuất quân, đức vua đã lập đàn tế trời, Phật và trước cửa chùa Ngài đã cắt máu ăn thề với quyết tâm sẽ tiêu diệt giặc Nguyên Mông. Hiện nay, ngôi chùa này còn lưu giữ chín viên xá lỵ của Ngài. Trong chùa, tại gian chính điện có đặt ban thờ vua Trần Nhân Tông. Từ khi vua Trần Nhân Tông hạ giá tới đây, chùa Minh Khánh đã trở thành một ngôi chùa nổi tiếng, được người dân trong vùng và khắp nơi ngưỡng vọng. Sự kiện này vẫn còn lưu dấu tích trên bia "Minh Khánh Đại danh lam" được khắc vào năm Hồng Thuận thứ 3 (1511): “Tiên triều vua Trần Nhân Tông đã tu hành tại nơi đây mà huyết thư vẫn còn lưu, đương thời được coi là "Tiểu Tây phương". Một lâu đài quý báu ở Trúc Quốc, rực sáng hoa soi. Thời đó, sư tiểu sớm hôm thắp đèn dâng hương, quét tước, nhân dân đến phụng thờ, tiếng tăm lan rộng khắp xa gần…”. Ngày vua Trần Nhân Tông viên tịch tức ngày mồng 1 tháng 11 âm lịch, người dân nơi đây đã lấy ngày này để tổ chức lễ hội của chùa. Lễ hội chùa Minh Khánh gồm 2 phần chính là Phần Hội và Phần Lễ Phần lễ diễn ra với nhiều nghi lễ như: lễ rước sắc, lễ mộc dục, rước mâm ngũ quả, tế lễ. Lễ rước sắc thường được tổ chức vào buổi sáng ngày 29/10 âm lịch hằng năm. Người được chọn phục vụ lễ rước là các thanh niên nam nữ từ 18 tuổi trở lên. Từ buổi sáng sớm ngày 29, đoàn rước sẽ tập trung tại đền Ngự Dội để làm lễ xin sắc, sau đó rước sắc về chùa để làm lễ tế và xin khai hội. Thời xưa, đền Ngự Dội đã là nơi giữ sắc vua ban. Đây được xem là lễ rước cổ truyền được thực hiện theo nghi thức Phật giáo. Dẫn đầu là đội múa lân và đoàn rước phướn Phật, sau đó là đội cờ hội và đội các tăng ni phật tử, tiếp nữa là ban nhạc lễ gồm chiêng và trống. Theo sau là hàng bát bửu do 8 cô gái trẻ mặc trang phục áo nâu đỏ, đầu chít khăn, mặc quần trắng. Theo sau bát bửu là hàng chấp kích được tám nam thanh niên trẻ mặc áo nâu đỏ, quần trắng và chít khăn trên đầu. Kế đến là đội long đình có đặt mâm ngũ quả và bát hương. Đi sau đội long đình là đội nghi lễ gồm bát bửu, chấp kích rồi tới đội long kiệu đặt hòm sắc phong do vua ban, được trang trí bằng tấm vải đỏ lộng lẫy. Theo sau đoàn rước là các cụ cao niên, chức sắc quan viên trong làng và nhân dân cùng khách thập phương về xem hội. Không khí buổi rước diễn ra trong không khí vui tươi, náo nhiệt. Lễ hội chùa Minh Khánh tại Hải Dương Sau phần lễ là Phần hội gồm các trò chơi như múa rối nước, cờ người, hát quan họ , diễn chèo… thi bày mâm ngũ quả, làm bánh dầy. Tục thi bày mâm ngũ quả rất hay tổ chức trong mùa lễ hội từ xa xưa cho đến nay, đã tạo thành một điểm nhấn rất độc đáo cho ngày hội chùa Minh Khánh. Vào ngày mở hội, 9 khu dân cư thuộc thị trấn Thanh hà sẽ xây 9 mâm ngũ quả tham dự. Các mâm ngũ quả này được trình bày theo các chủ đề như: cửu long bảo tháp (9 con rồng và 1 tòa bảo tháp); cửu long tranh châu (9 con rồng tranh ngọc); long lân khánh hội (rồng lân vui hội); hạ tứ linh (trên là rồng vàng dưới là 4 vật thiêng); thượng hoàng long, tứ linh tòng mẫu (4 con vật thiêng: long, ly, quy, phượng theo mẹ); hạ tứ linh khánh hội (trên có rồng vàng chầu mặt nguyệt, dưới là tứ linh mừng hội)... Các loại hoa quả là các sản vật đồng quê như chuối xanh, bưởi, hạt tiêu, đu đủ, hạt nhãn, quất, na... Với bàn tay khéo léo, tài hoa, trí tưởng tượng phong phú của những người dân nơi đây những con rồng, con phượng, lân đã trở nên vô cùng tuyệt đẹp và sống động. Trước đây, ngoài lễ vật mâm ngũ quả ra thì bánh dầy cũng là một lễ vật quan trọng không thể thiếu, vừa để thi và cũng để tiến vua. Mỗi mâm bánh dầy có 5 chiếc, mỗi chiếc nặng khoảng 1kg, phải bảo đảm được bốn yếu tố,tròn, trắng, mịn, trong. Để có được những chiếc bánh dầy đạt yêu cầu, người dân cần phải chọn loại lúa nếp ngon, nước được dùng để làm bánh trong và sạch. Trước khi làm bánh thì gạo phải được đồ xôi rồi mang đi giã. Khi giã bánh xong, cho vào một cái khuôn đúc thành bánh. Bánh dày được bày cùng với mâm ngũ quả trong lễ cúng tế. Lễ rước mâm ngũ quả diễn ra rất hoành tráng Lễ hội chùa Minh Khánh là một lễ hội truyền thống đã được người dân địa phương và khách thập phương rất thích thú. Chính vì vậy cần phải bảo tồn và phát huy những nét đẹp truyền thống của lễ hội này.

Lễ hội chùa Minh Khánh được tổ chức hằng năm vào ngày 29/10 đến 01/11 âm lịch, tại thị trấn Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, là dịp để nhân dân tưởng nhớ về Phật hoàng Trần Nhân Tông, nơi nhà vua dựng lập đại bản doanh đóng quân ở Bình Kha để chuẩn bị cho cuộc chiến chống quân xâm lực Nguyên Mông lần thứ 3.

Chùa Minh Khánh (còn được gọi với tên khác là chùa Hương Đại) tọa lạc tại thị trấn Thanh Hà. Chùa được xây dựng từ thời nhà Lý, sau đó đã được trùng tu và tôn tạo nhiều lần. Ngôi chùa này có kiến trúc độc đáo, cảnh quan đẹp và vẫn còn lưu giữ được hệ thống tháp cổ, tượng phật, 16 tấm bia và 13 đạo sắc phong từ thời Lê, Nguyễn... Với những giá trị văn hóa, lịch sử đã được bảo tồn, vào năm 1990, chùa Minh Khánh đẫ được nhà nước công nhận là di tích lịch sử- văn hóa cấp quốc gia,và ngày hội chùa Minh Khánh cũng bắt đầu được tổ chức đều đặn từ đây. Rất đông người dân trong vùng và du khách thập phương về dự hội chùa Minh Khánh Chùa Minh Khánh có quan hệ với tên tuổi lẫy lừng của vị vua anh minh Trần Nhân Tông, một nhà tu hành đắc đạo, và là 1 trong vị tổ của thiền phái Trúc Lâm. Theo truyền thuyết, ở thế kỷ thứ 13, vua Trần Nhân Tông rời Tràng An đến hội quân với Trần Hưng Đạo đang đóng quân ở đây. Trước ngày xuất quân, đức vua đã lập đàn tế trời, Phật và trước cửa chùa Ngài đã cắt máu ăn thề với quyết tâm sẽ tiêu diệt giặc Nguyên Mông. Hiện nay, ngôi chùa này còn lưu giữ chín viên xá lỵ của Ngài. Trong chùa, tại gian chính điện có đặt ban thờ vua Trần Nhân Tông. Từ khi vua Trần Nhân Tông hạ giá tới đây, chùa Minh Khánh đã trở thành một ngôi chùa nổi tiếng, được người dân trong vùng và khắp nơi ngưỡng vọng. Sự kiện này vẫn còn lưu dấu tích trên bia "Minh Khánh Đại danh lam" được khắc vào năm Hồng Thuận thứ 3 (1511): “Tiên triều vua Trần Nhân Tông đã tu hành tại nơi đây mà huyết thư vẫn còn lưu, đương thời được coi là "Tiểu Tây phương". Một lâu đài quý báu ở Trúc Quốc, rực sáng hoa soi. Thời đó, sư tiểu sớm hôm thắp đèn dâng hương, quét tước, nhân dân đến phụng thờ, tiếng tăm lan rộng khắp xa gần…”. Ngày vua Trần Nhân Tông viên tịch tức ngày mồng 1 tháng 11 âm lịch, người dân nơi đây đã lấy ngày này để tổ chức lễ hội của chùa. Lễ hội chùa Minh Khánh gồm 2 phần chính là Phần Hội và Phần Lễ Phần lễ diễn ra với nhiều nghi lễ như: lễ rước sắc, lễ mộc dục, rước mâm ngũ quả, tế lễ. Lễ rước sắc thường được tổ chức vào buổi sáng ngày 29/10 âm lịch hằng năm. Người được chọn phục vụ lễ rước là các thanh niên nam nữ từ 18 tuổi trở lên. Từ buổi sáng sớm ngày 29, đoàn rước sẽ tập trung tại đền Ngự Dội để làm lễ xin sắc, sau đó rước sắc về chùa để làm lễ tế và xin khai hội. Thời xưa, đền Ngự Dội đã là nơi giữ sắc vua ban. Đây được xem là lễ rước cổ truyền được thực hiện theo nghi thức Phật giáo. Dẫn đầu là đội múa lân và đoàn rước phướn Phật, sau đó là đội cờ hội và đội các tăng ni phật tử, tiếp nữa là ban nhạc lễ gồm chiêng và trống. Theo sau là hàng bát bửu do 8 cô gái trẻ mặc trang phục áo nâu đỏ, đầu chít khăn, mặc quần trắng. Theo sau bát bửu là hàng chấp kích được tám nam thanh niên trẻ mặc áo nâu đỏ, quần trắng và chít khăn trên đầu. Kế đến là đội long đình có đặt mâm ngũ quả và bát hương. Đi sau đội long đình là đội nghi lễ gồm bát bửu, chấp kích rồi tới đội long kiệu đặt hòm sắc phong do vua ban, được trang trí bằng tấm vải đỏ lộng lẫy. Theo sau đoàn rước là các cụ cao niên, chức sắc quan viên trong làng và nhân dân cùng khách thập phương về xem hội. Không khí buổi rước diễn ra trong không khí vui tươi, náo nhiệt. Lễ hội chùa Minh Khánh tại Hải Dương Sau phần lễ là Phần hội gồm các trò chơi như múa rối nước, cờ người, hát quan họ , diễn chèo… thi bày mâm ngũ quả, làm bánh dầy. Tục thi bày mâm ngũ quả rất hay tổ chức trong mùa lễ hội từ xa xưa cho đến nay, đã tạo thành một điểm nhấn rất độc đáo cho ngày hội chùa Minh Khánh. Vào ngày mở hội, 9 khu dân cư thuộc thị trấn Thanh hà sẽ xây 9 mâm ngũ quả tham dự. Các mâm ngũ quả này được trình bày theo các chủ đề như: cửu long bảo tháp (9 con rồng và 1 tòa bảo tháp); cửu long tranh châu (9 con rồng tranh ngọc); long lân khánh hội (rồng lân vui hội); hạ tứ linh (trên là rồng vàng dưới là 4 vật thiêng); thượng hoàng long, tứ linh tòng mẫu (4 con vật thiêng: long, ly, quy, phượng theo mẹ); hạ tứ linh khánh hội (trên có rồng vàng chầu mặt nguyệt, dưới là tứ linh mừng hội)... Các loại hoa quả là các sản vật đồng quê như chuối xanh, bưởi, hạt tiêu, đu đủ, hạt nhãn, quất, na... Với bàn tay khéo léo, tài hoa, trí tưởng tượng phong phú của những người dân nơi đây những con rồng, con phượng, lân đã trở nên vô cùng tuyệt đẹp và sống động. Trước đây, ngoài lễ vật mâm ngũ quả ra thì bánh dầy cũng là một lễ vật quan trọng không thể thiếu, vừa để thi và cũng để tiến vua. Mỗi mâm bánh dầy có 5 chiếc, mỗi chiếc nặng khoảng 1kg, phải bảo đảm được bốn yếu tố,tròn, trắng, mịn, trong. Để có được những chiếc bánh dầy đạt yêu cầu, người dân cần phải chọn loại lúa nếp ngon, nước được dùng để làm bánh trong và sạch. Trước khi làm bánh thì gạo phải được đồ xôi rồi mang đi giã. Khi giã bánh xong, cho vào một cái khuôn đúc thành bánh. Bánh dày được bày cùng với mâm ngũ quả trong lễ cúng tế. Lễ rước mâm ngũ quả diễn ra rất hoành tráng Lễ hội chùa Minh Khánh là một lễ hội truyền thống đã được người dân địa phương và khách thập phương rất thích thú. Chính vì vậy cần phải bảo tồn và phát huy những nét đẹp truyền thống của lễ hội này.

Related Figures

Lễ hội đình Cậy

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 22/2 Âm lịch Cứ đến ngày 22 tháng Hai âm lịch hàng năm, lễ hội đình Cậy tại xã Long Xuyên, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương lại tưng bừng và nhộn nhịp. Đây là hoạt động để kỷ niệm ngày sinh của vị Thành hoàng làng. Lễ hội này dưới thời phong kiến thường được tổ chức vào ngày mồng 9 tháng 3 âm lịch. Hai làng Kệ Gián và Hương Gián thường tổ chức hội thi bơi chải. Hội thi bơi chải này được bắt nguồn từ một truyền thuyết xa xưa: sau khi Vua Hùng thứ 18 đánh thắng nhà Thục đã lấy ngày mồng 10 tháng 3 làm ngày giỗ tổ Hùng Vương. Vào ngày hôm đó, tất cả các Lạc tướng, Lạc hầu đang trị vì tại các địa phương đều quay trở về kinh đô Phong Châu tại tỉnh Vĩnh Phúc để tham dự lễ hội. Tiết mục múa rồng Bảo Phúc Đại vương là một vị tướng dưới thời vua Hùng, lúc này ông đang đóng quân ở Hương Gián, Kệ Gián cũng phải lên đường trở về kinh dự lễ. Ngày mồng 9/3 dân làng đã mở hội đua thuyền để đưa tiễn ngài về kinh. Từ đó trở về sau, cứ vào ngày mồng 9 tháng 3 âm lịch hàng năm, nhân dân làng Kệ Gián và Hương Gián lại cùng nhau tổ chức lễ hội thi bơi chải nhằm tưởng nhớ tới sự kiện lịch sử này. Trước kia, đội hình đua thuyền thường được tổ chức theo từng xóm; Hai thôn có tất cả 6 xóm sẽ có 6 thuyền đua. Mỗi thuyền đua sẽ có 18 người đều nam giới mặc đồng phục, không qui định về tuổi tác, gồm 1 người cầm mõ, 1 người cầm cờ, 1 người cầm lái, 1 người tát nước, 1 người thổi tù và 13 tay chèo (1 người chèo mũi); hai bên mạn thuyền mỗi bên sẽ có 6 tay chèo. Vì điều kiện kinh tế khó khăn nên các xóm không thể tự đóng hoặc tự mua sắm được thuyền đua nên mỗi năm đến kỳ lễ hội thì các xóm đều phải đi thuê thuyền đua từ các nơi khác, nhưng chủ yếu là thuê của làng Quát (thuộc xã Yết Kiêu, huyện Gia Lộc). Đường bơi dài khoảng 1,5km. Điểm xuất phát là từ cây đa Đống ếch (cách cây cầu Cậy ngày nay khoảng 500m về hướng đông), ngược dòng sông Kẻ Sặt đi về phía tây đến hết địa phận làng Cậy, các thuyền bơi sẽ bơi 3 vòng. Đội của xóm nào giành được giải nhất thì làng đó sẽ thưởng cho một buổi tối hát chèo. Các xóm không đạt giải thì phải đi xem nhờ, việc treo giải như vậy cũng đã tạo nên không khí ganh đua trong hội đua thuyền, các xóm đều quyết tâm giành được giải trong các kỳ thi bơi chải. Lễ rước kiệu thánh của lễ hội đền Cậy tại Hải Dương Từ ngày di tích đình Cậy được nhà nước công nhận là di tích cấp quốc gia, lễ hội tại đình Cậy lại được phục hồi và được chính quyền, nhân dân xây dựng quy chế chung để tổ chức lễ hội, lễ hội thi bơi chải được thống nhất lồng ghép vào lễ hội kỷ niệm ngày sinh là mồng 10 tháng 2 và 2 năm mới được tổ chức thi bơi chải một lần. Lễ hội được tổ chức trong vòng 7 ngày: Từ sáng ngày 10 tháng 2 làm lễ mở cửa đình, lễ bao sái đồ thờ, chồng kiệu vào đình để làm các bước chuẩn bị cho lễ rước. Trong khi rước kiệu, đội múa lân sẽ dẫn đầu đoàn, tiếp theo là đội mang cờ thần và quốc kỳ, tiếp theo nữa sẽ đến đoàn các em học sinh, rồi đến đội nhạc của hội Cựu chiến binh, tiếp đến là đoàn rước kiệu thánh, rồi đoàn kiệu lục lộ, tới kiệu long đình... Những người được chọn để khiêng kiệu không cần phải qua lựa chọn hoặc qua tục cắt phù giá như trước đây mà là để giao cho các đoàn thể (chủ yếu vẫn là Đoàn thanh niên) và các xóm sẽ tự lựa chọn. Thành phần đội tế cũng được thay đổi, hội Phụ lão của xã sẽ cử ra một đội tễ lễ, những người từ 50 tuổi trở lên không chịu tang cha, mẹ hoặc vợ (trước kia là kiêng 3 năm, nay chỉ kiêng có 1 năm). Trước đây, chỉ có đội tế lễ nam, ngày nay có cả đội tế lễ nữ. Ngày nay, cơ chế thị trường đã có nhiều thay đổi, con em làng Cậy có nhiều người đi làm xa không thể về quê dự lễ hội. Vì vậy, số lượng người tham gia lễ rước cũng ít hơn, chỉ bằng một nửa của thời Phong kiến. Đền Cậy trong ngày lễ hội Sáng ngày 11 tháng 2, Ban tổ chức lễ hội sẽ cử hành lễ dâng hương tại đình, sau đó họ sẽ ra dâng hương tại khu nghĩa trang liệt sỹ của xã. Ngoài ra, buổi sáng họ còn tổ chức tế thần tại đình làng, buổi chiều sẽ rước tập ngơi từ đình về nghè. Toàn bộ đồ rước sẽ được để lại tại nghè một đêm, hôm sau sẽ cử hành tế công đồng. Ngày 12 tháng Hai, buổi sáng sẽ tổ chức lễ tế công đồng tại nghè, buổi chiều cử hành lễ rước Thánh từ nghè trở về đình. Buổi tối có tổ chức hát chèo ngay tại sân đình. Ngày 13 tháng Hai, buổi sáng chuẩn bị các công việc liên quan cho hội bơi chải, buổi chiều tổ chức hội thi bơi chải. Buổi tối lại tiếp tục mở hội hát chèo tại sân đình. Ngày 14 tháng Hai, ban ngày nhân dân trong thôn sẽ tiếp tục về đình và nghè để dâng hương. Buổi chiều sẽ tổ chức tế lễ nữ tại đình. Buổi tối lại tiếp tục hát chèo. Ngày 15 tháng Hai, bà con lại tiếp tục ra dâng lễ tại đình và nghè, tổ chức một số trò chơi dân gian vui như: đi cầu thùm, chọi gà... Ngày 16 tháng Hai, buổi chiều sẽ tổ chức lễ tạ, cất đồ thờ rồi đóng cửa đình, kết thúc lễ hội. Lễ hội đình Cậy tại Hải Dương vẫn còn giữ được những phong tục cổ truyền như: Tế, lễ, rước kiệu... Lễ hội này còn bảo lưu được một số loại hình văn hóa dân gian như: Hát chèo, bơi chải...

Cứ đến ngày 22 tháng Hai âm lịch hàng năm, lễ hội đình Cậy tại xã Long Xuyên, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương lại tưng bừng và nhộn nhịp. Đây là hoạt động để kỷ niệm ngày sinh của vị Thành hoàng làng.

Lễ hội này dưới thời phong kiến thường được tổ chức vào ngày mồng 9 tháng 3 âm lịch. Hai làng Kệ Gián và Hương Gián thường tổ chức hội thi bơi chải. Hội thi bơi chải này được bắt nguồn từ một truyền thuyết xa xưa: sau khi Vua Hùng thứ 18 đánh thắng nhà Thục đã lấy ngày mồng 10 tháng 3 làm ngày giỗ tổ Hùng Vương. Vào ngày hôm đó, tất cả các Lạc tướng, Lạc hầu đang trị vì tại các địa phương đều quay trở về kinh đô Phong Châu tại tỉnh Vĩnh Phúc để tham dự lễ hội. Tiết mục múa rồng Bảo Phúc Đại vương là một vị tướng dưới thời vua Hùng, lúc này ông đang đóng quân ở Hương Gián, Kệ Gián cũng phải lên đường trở về kinh dự lễ. Ngày mồng 9/3 dân làng đã mở hội đua thuyền để đưa tiễn ngài về kinh. Từ đó trở về sau, cứ vào ngày mồng 9 tháng 3 âm lịch hàng năm, nhân dân làng Kệ Gián và Hương Gián lại cùng nhau tổ chức lễ hội thi bơi chải nhằm tưởng nhớ tới sự kiện lịch sử này. Trước kia, đội hình đua thuyền thường được tổ chức theo từng xóm; Hai thôn có tất cả 6 xóm sẽ có 6 thuyền đua. Mỗi thuyền đua sẽ có 18 người đều nam giới mặc đồng phục, không qui định về tuổi tác, gồm 1 người cầm mõ, 1 người cầm cờ, 1 người cầm lái, 1 người tát nước, 1 người thổi tù và 13 tay chèo (1 người chèo mũi); hai bên mạn thuyền mỗi bên sẽ có 6 tay chèo. Vì điều kiện kinh tế khó khăn nên các xóm không thể tự đóng hoặc tự mua sắm được thuyền đua nên mỗi năm đến kỳ lễ hội thì các xóm đều phải đi thuê thuyền đua từ các nơi khác, nhưng chủ yếu là thuê của làng Quát (thuộc xã Yết Kiêu, huyện Gia Lộc). Đường bơi dài khoảng 1,5km. Điểm xuất phát là từ cây đa Đống ếch (cách cây cầu Cậy ngày nay khoảng 500m về hướng đông), ngược dòng sông Kẻ Sặt đi về phía tây đến hết địa phận làng Cậy, các thuyền bơi sẽ bơi 3 vòng. Đội của xóm nào giành được giải nhất thì làng đó sẽ thưởng cho một buổi tối hát chèo. Các xóm không đạt giải thì phải đi xem nhờ, việc treo giải như vậy cũng đã tạo nên không khí ganh đua trong hội đua thuyền, các xóm đều quyết tâm giành được giải trong các kỳ thi bơi chải. Lễ rước kiệu thánh của lễ hội đền Cậy tại Hải Dương Từ ngày di tích đình Cậy được nhà nước công nhận là di tích cấp quốc gia, lễ hội tại đình Cậy lại được phục hồi và được chính quyền, nhân dân xây dựng quy chế chung để tổ chức lễ hội, lễ hội thi bơi chải được thống nhất lồng ghép vào lễ hội kỷ niệm ngày sinh là mồng 10 tháng 2 và 2 năm mới được tổ chức thi bơi chải một lần. Lễ hội được tổ chức trong vòng 7 ngày: Từ sáng ngày 10 tháng 2 làm lễ mở cửa đình, lễ bao sái đồ thờ, chồng kiệu vào đình để làm các bước chuẩn bị cho lễ rước. Trong khi rước kiệu, đội múa lân sẽ dẫn đầu đoàn, tiếp theo là đội mang cờ thần và quốc kỳ, tiếp theo nữa sẽ đến đoàn các em học sinh, rồi đến đội nhạc của hội Cựu chiến binh, tiếp đến là đoàn rước kiệu thánh, rồi đoàn kiệu lục lộ, tới kiệu long đình... Những người được chọn để khiêng kiệu không cần phải qua lựa chọn hoặc qua tục cắt phù giá như trước đây mà là để giao cho các đoàn thể (chủ yếu vẫn là Đoàn thanh niên) và các xóm sẽ tự lựa chọn. Thành phần đội tế cũng được thay đổi, hội Phụ lão của xã sẽ cử ra một đội tễ lễ, những người từ 50 tuổi trở lên không chịu tang cha, mẹ hoặc vợ (trước kia là kiêng 3 năm, nay chỉ kiêng có 1 năm). Trước đây, chỉ có đội tế lễ nam, ngày nay có cả đội tế lễ nữ. Ngày nay, cơ chế thị trường đã có nhiều thay đổi, con em làng Cậy có nhiều người đi làm xa không thể về quê dự lễ hội. Vì vậy, số lượng người tham gia lễ rước cũng ít hơn, chỉ bằng một nửa của thời Phong kiến. Đền Cậy trong ngày lễ hội Sáng ngày 11 tháng 2, Ban tổ chức lễ hội sẽ cử hành lễ dâng hương tại đình, sau đó họ sẽ ra dâng hương tại khu nghĩa trang liệt sỹ của xã. Ngoài ra, buổi sáng họ còn tổ chức tế thần tại đình làng, buổi chiều sẽ rước tập ngơi từ đình về nghè. Toàn bộ đồ rước sẽ được để lại tại nghè một đêm, hôm sau sẽ cử hành tế công đồng. Ngày 12 tháng Hai, buổi sáng sẽ tổ chức lễ tế công đồng tại nghè, buổi chiều cử hành lễ rước Thánh từ nghè trở về đình. Buổi tối có tổ chức hát chèo ngay tại sân đình. Ngày 13 tháng Hai, buổi sáng chuẩn bị các công việc liên quan cho hội bơi chải, buổi chiều tổ chức hội thi bơi chải. Buổi tối lại tiếp tục mở hội hát chèo tại sân đình. Ngày 14 tháng Hai, ban ngày nhân dân trong thôn sẽ tiếp tục về đình và nghè để dâng hương. Buổi chiều sẽ tổ chức tế lễ nữ tại đình. Buổi tối lại tiếp tục hát chèo. Ngày 15 tháng Hai, bà con lại tiếp tục ra dâng lễ tại đình và nghè, tổ chức một số trò chơi dân gian vui như: đi cầu thùm, chọi gà... Ngày 16 tháng Hai, buổi chiều sẽ tổ chức lễ tạ, cất đồ thờ rồi đóng cửa đình, kết thúc lễ hội. Lễ hội đình Cậy tại Hải Dương vẫn còn giữ được những phong tục cổ truyền như: Tế, lễ, rước kiệu... Lễ hội này còn bảo lưu được một số loại hình văn hóa dân gian như: Hát chèo, bơi chải...

Related Figures

Lễ hội chùa Nhẫm Dương

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 5/3- 7/3 Âm lịch Lễ hội chùa Nhẫm Dương từ xưa còn có tên là Trũng Nhẫm, được tổ chức hàng năm vào các ngày mồng 5, 6 và 7 tháng Ba âm lịch hàng năm, tại xã Duy Tân thuộc huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. Chùa Nhẫm Dương còn có tên khác là Thánh Quang Tự. Vì những biến động của lịch sử, nhất là trong những năm chiến tranh ở thế kỷ thứ 20, ngôi chùa Thánh Quang đã bị tàn phá một cách trầm trọng. Hiện nay, còn lại chỉ còn là những cây thị cổ thụ có tuổi đời đến 600-700 năm, những viên đá tảng và gạch trang trí hoa văn từ thời nhà Trần cùng những tấm bia đá, nhất là động Thánh Hoá ở sau những ngôi chùa cùng với nhiều huyền thoại được lưu truyền trong dân gian và ngay cả trong vùng vẫn còn lưu giữ đã thôi thúc người dân và phật tự khôi phục lại chùa Thánh Quang. Lễ hội chùa Nhẫm Dương tại Hải Dương Theo văn bia hiện vẫn còn lưu giữ đến ngày nay ở Nhẫm Dương thì Chùa Thánh Quang Tự là nơi Thánh tổ Thuỷ Nguyệt đã khai sáng đạo Phật tại nơi đây vào năm Thiệu Bảo Kỷ Mão nguyên niên thời Trần (1279). Thành tổ Thủy Nguyệt là bậc thiền sư đã có công đức to lớn trong sự nghiệp giữ nước lúc bấy giờ. Chùa Thánh Quang còn được xem là một tổ đình lớn và nổi tiếng của vùng Đông Bắc duyên hải. Nơi đây đã xuất hiện rất nhiều bậc Thiền sư và cao tăng thạc đức đến hoằng pháp hộ quốc an dân như Sư Tổ Cáy tu tại động Thánh Hoá; Quốc sư Thánh tổ Thuỷ Nguyệt ở thời nhà Trần; Sư tổ Thuỷ Nguyệt Thông Giác ở thời Hậu Lê, người đã sáng lập nên thiền phái Tào Động tại Việt Nam và đã từng tu hành tại đây, xung quanh chùa là hệ thống các hang động kỳ vĩ. Tại hang Thánh Hoá người ta đã phát hiện những dấu vết có niên đại từ thời Canh Tân cách đây từ 5- 3 vạn năm về trước. Lễ hội chùa Nhẫm Dương được tổ chức trong 3 ngày, từ ngày mồng 5 đến hết ngày mồng 7 tháng 3 âm lịch, thường được tiến hành theo chương trình như sau: Ngày mồng 5, nhà chùa sẽ tiến hành cúng Nhập tịch, đầu tiên là cúng phật, sau đó là cúng mời Phật tổ về. Thời gian cúng khoảng hơn 1 giờ đồng hồ. Buổi tối sẽ làm lễ Mộc dục (tức lễ tắm tượng Thánh tổ). Lễ này được thực hiện khá tỉ mỉ. Người được chọn tắm tượng phải là người đã có tuổi, ăn chay 3 ngày trước, phải tắm rửa tẩy uế và mặc quần áo mới rồi mới được cử hành lễ. Nước tắm tượng được lấy từ giếng trong chùa. Khăn tắm và khăn lau tượng đều phải là khăn mới, tinh khiết. Nước tắm được đun với ngũ vị hương, chắt ra gạn lấy nước thật trong, đựng trong một chiếc thau mới. Mỗi lần tắm như vậy phải dùng từ 5 -7 thau. Số khăn mặt tương ứng với số thau. Bã ngũ vị hương sau khi đun xong vớt ra sẽ để lại để người dân mang về nấu lại và tắm cho trẻ con hoặc người lớn hoặc rửa mặt. Trước khi tắm tượng, trong lễ mộc dục còn cần phải thực hiện lệ dâng nước cúng. Nước cúng gồm các vị thuốc bắc được đem sắc 3 nước, sau đó đổ chung lại rồi gạn lấy 3 chén để cúng Phật tổ. Bã thuốc được giữ lại để chia cho mọi người một ít về nấu lại uống. Đấy được xem là lộc Thánh ban cho. Trong lúc cử hành lễ tắm tượng ở trong chùa thì ở bên ngoài các sư chùa sẽ tiến hành lễ cúng Đàn tràng sái tịnh. Lễ cúng gồm có hoa quả, bánh chưng chay và xôi chè. Thời gian cúng trong hơn 1 giờ. Chùa Nhẫm Dương là một ngôi chùa cổ kính của tỉnh Hải Dương Ngày mồng 6 là ngày Lễ chính, từ sáng sớm, các nghi thức đã được chuẩn bị sẵn sàng. Người dân trong làng và phật tử gần xa đã tập trung rất đông ở chùa để cùng chứng kiến lễ cúng Phật và cúng Thánh Tổ, sau đó sẽ thực hiện lễ rước Thánh Tổ. Lễ vật gồm : bánh chưng, xôi chè, cỗ chay có thịt gà, nem, giò chả, ốc, cá, tôm.. tất cả đều được làm bằng bột đậu nành ... hương, hoa quả, nến. Sai khi cúng tại chùa xong sẽ bắt đầu cuộc rước. Đoàn rước gồm có cờ thần bát biểu, dàn nhạc bát âm, trống, long đình, kiệu rước ngai thánh tổ, hương án bày lễ vật, . Theo sau là các đoàn thể cuối cùng là dân làng. Đoàn rước sẽ xuất phát từ cổng chùa, sau đó vòng ra phía trái rồi đi dọc làng Duyên Linh, khi đến giáp với chùa Sanh thì lại vòng theo tay trái để về thôn Kim Bào rồi mới về chùa. Tiếp theo, khi đoàn rước đã về chùa cũng là thời điểm tiến hành lễ tế Thánh Tổ. Sau khi đoàn tế của nhà chùa và làng tế xong thì mới đến lượt các đoàn tế của nơi khác. Ngày mồng 7 là ngày Lễ Tất. Đây được xem là nghi lễ để kết thúc 3 ngày lễ hội. Việc đầu tiên sẽ là lễ cúng Phật, sau đó đến cúng Thánh Tổ. Các sư và phật tử sẽ cầu kinh. Hoa lễ vẫn được chuẩn bị như ngày hôm trước. Tuy nhiên, ngày lễ tất còn tổ chức lễ bố thí bằng bỏng nẻ và cháo hoa. Lễ bố thí diễn ra tại sân chùa. Nhà chùa sẽ cho dựng đàn Mông Sơn Thí Thực, thỉnh Phật về để phá tù ngục cho các vong hồn để họ được tới ăn mày nơi cửa phật. Đàn Mông sơn thí thực được làm bằng gỗ cao khoảng 1,5m, được bày đối diện với hương án để cúng phật ở ngay cửa chùa. Trên đàn có một người đóng giả Phật sẽ làm chủ lễ, người đó mặc áo cà sa đàn, đầu đội mũ thất phật. Hai bên có Ngọc Nữ và Kim Đồng ngồi thấp hơn. Dưới sân là có vị thầy cúng. Lễ nghi được chuẩn bị gồm xôi chè, trà, hương đăng và hoa quả. Riêng nẻ và cháo dùng để cúng cô hồn thì được bày ở dưới sân. Lễ cúng còn có cả cua, cáy, ốc, cá, chim, còn sống và càng nhiều càng tốt. Khi cúng cần phải đưa lễ từ đàn sang bàn để cúng phật, trong lễ lúc này còn có thêm 2 bát cơm lồng. Việc đưa lễ được thực hiện như vậy là để thỉnh Phật để Phật. Lễ bố thí cần phải cúng vào buổi tối. Khi cúng xong ban đêm sẽ thả tất cả cá, cáy, cua, chim... ra các ao hồ đầm ruộng và quanh chùa. Còn cháo và nẻ cùng hoa lễ sẽ đem cho dân. Sau khi kết thúc lễ bố thí cũng là kết thúc ba3 ngày hội. Trong 3 ngày này ở chùa thì trong sân chùa, cổng chùa và một số địa điểm ở chân núi gần chùa có tổ chức các trò chơi như kéo co, chọi gà, đánh cờ, đu, đánh cờ và hát nhà tơ (ca trù), hát múa sênh tiề và hát văn. Ngôi chùa Nhẫm Dương nhìn từ xa trông rất cổ kính và uy nghiêm

Lễ hội chùa Nhẫm Dương từ xưa còn có tên là Trũng Nhẫm, được tổ chức hàng năm vào các ngày mồng 5, 6 và 7 tháng Ba âm lịch hàng năm, tại xã Duy Tân thuộc huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. Chùa Nhẫm Dương còn có tên khác là Thánh Quang Tự. Vì những biến động của lịch sử, nhất là trong những năm chiến tranh ở thế kỷ thứ 20, ngôi chùa Thánh Quang đã bị tàn phá một cách trầm trọng. Hiện nay, còn lại chỉ còn là những cây thị cổ thụ có tuổi đời đến 600-700 năm, những viên đá tảng và gạch trang trí hoa văn từ thời nhà Trần cùng những tấm bia đá, nhất là động Thánh Hoá ở sau những ngôi chùa cùng với nhiều huyền thoại được lưu truyền trong dân gian và ngay cả trong vùng vẫn còn lưu giữ đã thôi thúc người dân và phật tự khôi phục lại chùa Thánh Quang. Lễ hội chùa Nhẫm Dương tại Hải Dương Theo văn bia hiện vẫn còn lưu giữ đến ngày nay ở Nhẫm Dương thì Chùa Thánh Quang Tự là nơi Thánh tổ Thuỷ Nguyệt đã khai sáng đạo Phật tại nơi đây vào năm Thiệu Bảo Kỷ Mão nguyên niên thời Trần (1279). Thành tổ Thủy Nguyệt là bậc thiền sư đã có công đức to lớn trong sự nghiệp giữ nước lúc bấy giờ. Chùa Thánh Quang còn được xem là một tổ đình lớn và nổi tiếng của vùng Đông Bắc duyên hải. Nơi đây đã xuất hiện rất nhiều bậc Thiền sư và cao tăng thạc đức đến hoằng pháp hộ quốc an dân như Sư Tổ Cáy tu tại động Thánh Hoá; Quốc sư Thánh tổ Thuỷ Nguyệt ở thời nhà Trần; Sư tổ Thuỷ Nguyệt Thông Giác ở thời Hậu Lê, người đã sáng lập nên thiền phái Tào Động tại Việt Nam và đã từng tu hành tại đây, xung quanh chùa là hệ thống các hang động kỳ vĩ. Tại hang Thánh Hoá người ta đã phát hiện những dấu vết có niên đại từ thời Canh Tân cách đây từ 5- 3 vạn năm về trước.

Lễ hội chùa Nhẫm Dương từ xưa còn có tên là Trũng Nhẫm, được tổ chức hàng năm vào các ngày mồng 5, 6 và 7 tháng Ba âm lịch hàng năm, tại xã Duy Tân thuộc huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.

Chùa Nhẫm Dương còn có tên khác là Thánh Quang Tự. Vì những biến động của lịch sử, nhất là trong những năm chiến tranh ở thế kỷ thứ 20, ngôi chùa Thánh Quang đã bị tàn phá một cách trầm trọng. Hiện nay, còn lại chỉ còn là những cây thị cổ thụ có tuổi đời đến 600-700 năm, những viên đá tảng và gạch trang trí hoa văn từ thời nhà Trần cùng những tấm bia đá, nhất là động Thánh Hoá ở sau những ngôi chùa cùng với nhiều huyền thoại được lưu truyền trong dân gian và ngay cả trong vùng vẫn còn lưu giữ đã thôi thúc người dân và phật tự khôi phục lại chùa Thánh Quang.

Lễ hội chùa Nhẫm Dương tại Hải Dương

Theo văn bia hiện vẫn còn lưu giữ đến ngày nay ở Nhẫm Dương thì Chùa Thánh Quang Tự là nơi Thánh tổ Thuỷ Nguyệt đã khai sáng đạo Phật tại nơi đây vào năm Thiệu Bảo Kỷ Mão nguyên niên thời Trần (1279). Thành tổ Thủy Nguyệt là bậc thiền sư đã có công đức to lớn trong sự nghiệp giữ nước lúc bấy giờ. Chùa Thánh Quang còn được xem là một tổ đình lớn và nổi tiếng của vùng Đông Bắc duyên hải. Nơi đây đã xuất hiện rất nhiều bậc Thiền sư và cao tăng thạc đức đến hoằng pháp hộ quốc an dân như Sư Tổ Cáy tu tại động Thánh Hoá; Quốc sư Thánh tổ Thuỷ Nguyệt ở thời nhà Trần; Sư tổ Thuỷ Nguyệt Thông Giác ở thời Hậu Lê, người đã sáng lập nên thiền phái Tào Động tại Việt Nam và đã từng tu hành tại đây, xung quanh chùa là hệ thống các hang động kỳ vĩ. Tại hang Thánh Hoá người ta đã phát hiện những dấu vết có niên đại từ thời Canh Tân cách đây từ 5- 3 vạn năm về trước.

Lễ hội chùa Nhẫm Dương được tổ chức trong 3 ngày, từ ngày mồng 5 đến hết ngày mồng 7 tháng 3 âm lịch, thường được tiến hành theo chương trình như sau: Ngày mồng 5, nhà chùa sẽ tiến hành cúng Nhập tịch, đầu tiên là cúng phật, sau đó là cúng mời Phật tổ về. Thời gian cúng khoảng hơn 1 giờ đồng hồ. Buổi tối sẽ làm lễ Mộc dục (tức lễ tắm tượng Thánh tổ). Lễ này được thực hiện khá tỉ mỉ. Người được chọn tắm tượng phải là người đã có tuổi, ăn chay 3 ngày trước, phải tắm rửa tẩy uế và mặc quần áo mới rồi mới được cử hành lễ. Nước tắm tượng được lấy từ giếng trong chùa. Khăn tắm và khăn lau tượng đều phải là khăn mới, tinh khiết. Nước tắm được đun với ngũ vị hương, chắt ra gạn lấy nước thật trong, đựng trong một chiếc thau mới. Mỗi lần tắm như vậy phải dùng từ 5 -7 thau. Số khăn mặt tương ứng với số thau. Bã ngũ vị hương sau khi đun xong vớt ra sẽ để lại để người dân mang về nấu lại và tắm cho trẻ con hoặc người lớn hoặc rửa mặt. Trước khi tắm tượng, trong lễ mộc dục còn cần phải thực hiện lệ dâng nước cúng. Nước cúng gồm các vị thuốc bắc được đem sắc 3 nước, sau đó đổ chung lại rồi gạn lấy 3 chén để cúng Phật tổ. Bã thuốc được giữ lại để chia cho mọi người một ít về nấu lại uống. Đấy được xem là lộc Thánh ban cho. Trong lúc cử hành lễ tắm tượng ở trong chùa thì ở bên ngoài các sư chùa sẽ tiến hành lễ cúng Đàn tràng sái tịnh. Lễ cúng gồm có hoa quả, bánh chưng chay và xôi chè. Thời gian cúng trong hơn 1 giờ. Chùa Nhẫm Dương là một ngôi chùa cổ kính của tỉnh Hải Dương Ngày mồng 6 là ngày Lễ chính, từ sáng sớm, các nghi thức đã được chuẩn bị sẵn sàng. Người dân trong làng và phật tử gần xa đã tập trung rất đông ở chùa để cùng chứng kiến lễ cúng Phật và cúng Thánh Tổ, sau đó sẽ thực hiện lễ rước Thánh Tổ. Lễ vật gồm : bánh chưng, xôi chè, cỗ chay có thịt gà, nem, giò chả, ốc, cá, tôm.. tất cả đều được làm bằng bột đậu nành ... hương, hoa quả, nến. Sai khi cúng tại chùa xong sẽ bắt đầu cuộc rước. Đoàn rước gồm có cờ thần bát biểu, dàn nhạc bát âm, trống, long đình, kiệu rước ngai thánh tổ, hương án bày lễ vật, . Theo sau là các đoàn thể cuối cùng là dân làng. Đoàn rước sẽ xuất phát từ cổng chùa, sau đó vòng ra phía trái rồi đi dọc làng Duyên Linh, khi đến giáp với chùa Sanh thì lại vòng theo tay trái để về thôn Kim Bào rồi mới về chùa. Tiếp theo, khi đoàn rước đã về chùa cũng là thời điểm tiến hành lễ tế Thánh Tổ. Sau khi đoàn tế của nhà chùa và làng tế xong thì mới đến lượt các đoàn tế của nơi khác. Ngày mồng 7 là ngày Lễ Tất. Đây được xem là nghi lễ để kết thúc 3 ngày lễ hội. Việc đầu tiên sẽ là lễ cúng Phật, sau đó đến cúng Thánh Tổ. Các sư và phật tử sẽ cầu kinh. Hoa lễ vẫn được chuẩn bị như ngày hôm trước. Tuy nhiên, ngày lễ tất còn tổ chức lễ bố thí bằng bỏng nẻ và cháo hoa. Lễ bố thí diễn ra tại sân chùa. Nhà chùa sẽ cho dựng đàn Mông Sơn Thí Thực, thỉnh Phật về để phá tù ngục cho các vong hồn để họ được tới ăn mày nơi cửa phật. Đàn Mông sơn thí thực được làm bằng gỗ cao khoảng 1,5m, được bày đối diện với hương án để cúng phật ở ngay cửa chùa. Trên đàn có một người đóng giả Phật sẽ làm chủ lễ, người đó mặc áo cà sa đàn, đầu đội mũ thất phật. Hai bên có Ngọc Nữ và Kim Đồng ngồi thấp hơn. Dưới sân là có vị thầy cúng. Lễ nghi được chuẩn bị gồm xôi chè, trà, hương đăng và hoa quả. Riêng nẻ và cháo dùng để cúng cô hồn thì được bày ở dưới sân. Lễ cúng còn có cả cua, cáy, ốc, cá, chim, còn sống và càng nhiều càng tốt. Khi cúng cần phải đưa lễ từ đàn sang bàn để cúng phật, trong lễ lúc này còn có thêm 2 bát cơm lồng. Việc đưa lễ được thực hiện như vậy là để thỉnh Phật để Phật. Lễ bố thí cần phải cúng vào buổi tối. Khi cúng xong ban đêm sẽ thả tất cả cá, cáy, cua, chim... ra các ao hồ đầm ruộng và quanh chùa. Còn cháo và nẻ cùng hoa lễ sẽ đem cho dân. Sau khi kết thúc lễ bố thí cũng là kết thúc ba3 ngày hội. Trong 3 ngày này ở chùa thì trong sân chùa, cổng chùa và một số địa điểm ở chân núi gần chùa có tổ chức các trò chơi như kéo co, chọi gà, đánh cờ, đu, đánh cờ và hát nhà tơ (ca trù), hát múa sênh tiề và hát văn. Ngôi chùa Nhẫm Dương nhìn từ xa trông rất cổ kính và uy nghiêm

Related Figures

Lễ hội đình Hàn Bơi

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 14/8- 16/8 Âm lịch Hàng năm, cứ đến ngày 14 đến ngày 16 tháng Tám Âm lịch, người dân phường Cẩm Thượng ở thành phố Hải Dương lại tưng bừng mở hội với mục đích để tưởng nhớ tới công đức của đức thánh Khai Thiên Thể Đạo, người đã có công lao trong việc phò giúp vua Hùng Vương thứ 18 dẹp giặc xâm lược, giữ yên bờ cõi. Đình Hàn Bơi là nơi thờ đức thánh Khai Thiên Thể Đạo. Theo lưu truyền, đức thánh Khai Thiên Thể Đạo tên thật là Hán Công Đạt, là người làng Phương Độ thuộc phường Cẩm Thượng, tp Hải Dương. Từ khi sinh ra Ngài đã có dung mạo phi thường, lại nổi tiếng là một người trí tuệ hơn người nên đã sớm trở thành một nhân tài có văn võ song toàn, học sâu, biết rộng. Thời vua Hùng Vương thứ 18, nước Việt bị quân Xích Quỷ xâm lược. Vua Hùng đã nhiều lần cử các tướng tài đi diệt giặc nhưng vẫn không dẹp yên được, chính vì vậy, Vua bèn cử Hán Công Đạt đi và phong cho ông bốn chữ “Hùng vĩ Việt nhân”, phong cho ông chức Đại tướng tổng chỉ huy bộ binh mã, thủy, để tiêu diệt quân giặc. Rước kiệu trong lễ hội đình Hàn Bơi tại Hải Dương Với kế sách của ông, quân Việt đã đại thắng. Không chỉ nổi tiếng bởi tài năng thao lược, đại tướng Hán Công Đạt còn là một vị quan đức độ, rất được lòng dân chúng. Khi tuổi đã cao, ông xin từ giã quan trường về làng Phương Độ sinh sống với dân làng. Để tưởng nhớ tới công đức cua ông, sau khi ông qua đời, dân làng đã lập đền thờ, quanh năm dâng hương bày tỏ sự tôn kính. Ngày nay, đình Hàn Bơi nằm tại phường Cẩm Thượng ở tp Hải Dương, hướng về phía sông Thái Bình, là một địa điểm sinh hoạt tâm linh và tín ngưỡng linh thiêng của nhân dân quanh vùng. Hàng năm, cứ đến ngày hội, từ ngày 14 tới 16 tháng 8 Âm lịch, nhân dân phường Cẩm Thượng lại tưng bừng mở hội truyền thống đình Hàn Bơi nhằm tưởng nhớ tới công lao to lớn của đức thánh. Lễ hội diễn ra với nhiều nghi lễ truyền thống và các trò chơi dân gian. Ngoài ngày chính lễ ra, lễ hội này còn được tổ chức vào dịp 10 tháng 3 Âm lịch với các hoạt động giống ngày chính lễ. Biểu diễn múa rồng trong lễ hội Trước ngày diễn ra lễ hội, người dân phường Cẩm Thượng đã chuẩn bị hương hoa để lên đình dâng hương. Phần lễ diễn ra rất trang nghiêm với nhiều lễ tế, lễ dâng hương lên đức thánh và lễ rước. Lễ rước với đoàn kỳ lân, trống, cờ thần, chiêng, bát biểu, phường bát âm, chấp kích, các bàn kiệu bày 18 cái bánh trưng, 18 cái bánh dày, đội lễ mâm hoa quả, kiệu long đình để rước sắc Thành hoàng, kiệu bát cống được bắt đầu từ đình Phương Độ đi đến đình Hàn Bơi. Bánh trưng và bánh dày trong lễ vật chính là để tượng trưng cho 18 đời vua Hùng, và cũng là lễ vật để dân làng dâng lên tổ tiên. Đặc biệt, khi lễ dâng hương lên đức thánh kết thúc sẽ là nghi lễ thả cá chép. Thả 18 con cá chép để tượng trưng cho sự bình yên của xã hội, cầu cho quốc thái dân an, mùa mang tốt tươi. Hội thi bơi chải truyền thống trên sông Thái Bình Sau phần lễ diễn ra trong không khí trang nghiêm, phần hội sẽ diễn ra trong bầu không khí sôi động, mà đặc biệt nhất là hội thi bơi thuyền trải truyền thống được rất nhiều người mong đợi. Cuộc thi bơi thuyền trải đã tái hiện một cách sống động cảnh Hán Công Đạt dùng thuyền nhỏ để dẹp giặc Xích Thủy trong lịch sử, nhằm hun đúc tinh thần và sự tự hào dân tộc trong lòng mỗi người dân của phường Cẩm Thượng, đồng thời ca ngợi công đức của ngài , để cổ vũ tinh thần thượng võ của người dân Việt Nam. Theo tục truyền rằng, lễ hội đình Hàn Bơi xưa kia có màn rước nước trên sông được tổ chức vào ngày 15/8 Âm lịch. Đoàn rước nước có tuyền tướng, thuyền quân sẽ đi trước, thuyền ngài đi ở giữa, tiếp sau là thuyền của sáu thôn chở các kiệu của thôn, hai bên có đoàn rước là đôi thuyền chải vừa bơi vừa hô vang. Tuy nhiên, qua thời gian lịch sử lâu dài, ngày nay nghi lễ này đã không còn được thực hiện nữa. Ngoài hội thi bơi thuyền trải ra, phần hội còn có các hoạt động hấp dẫn khác cũng thu hút được đông đảo người dân tham gia, trong đó có các trò chơi dân gian và còn có biểu diễn văn nghệ.

Hàng năm, cứ đến ngày 14 đến ngày 16 tháng Tám Âm lịch, người dân phường Cẩm Thượng ở thành phố Hải Dương lại tưng bừng mở hội với mục đích để tưởng nhớ tới công đức của đức thánh Khai Thiên Thể Đạo, người đã có công lao trong việc phò giúp vua Hùng Vương thứ 18 dẹp giặc xâm lược, giữ yên bờ cõi.

Đình Hàn Bơi là nơi thờ đức thánh Khai Thiên Thể Đạo. Theo lưu truyền, đức thánh Khai Thiên Thể Đạo tên thật là Hán Công Đạt, là người làng Phương Độ thuộc phường Cẩm Thượng, tp Hải Dương. Từ khi sinh ra Ngài đã có dung mạo phi thường, lại nổi tiếng là một người trí tuệ hơn người nên đã sớm trở thành một nhân tài có văn võ song toàn, học sâu, biết rộng. Thời vua Hùng Vương thứ 18, nước Việt bị quân Xích Quỷ xâm lược. Vua Hùng đã nhiều lần cử các tướng tài đi diệt giặc nhưng vẫn không dẹp yên được, chính vì vậy, Vua bèn cử Hán Công Đạt đi và phong cho ông bốn chữ “Hùng vĩ Việt nhân”, phong cho ông chức Đại tướng tổng chỉ huy bộ binh mã, thủy, để tiêu diệt quân giặc. Rước kiệu trong lễ hội đình Hàn Bơi tại Hải Dương Với kế sách của ông, quân Việt đã đại thắng. Không chỉ nổi tiếng bởi tài năng thao lược, đại tướng Hán Công Đạt còn là một vị quan đức độ, rất được lòng dân chúng. Khi tuổi đã cao, ông xin từ giã quan trường về làng Phương Độ sinh sống với dân làng. Để tưởng nhớ tới công đức cua ông, sau khi ông qua đời, dân làng đã lập đền thờ, quanh năm dâng hương bày tỏ sự tôn kính. Ngày nay, đình Hàn Bơi nằm tại phường Cẩm Thượng ở tp Hải Dương, hướng về phía sông Thái Bình, là một địa điểm sinh hoạt tâm linh và tín ngưỡng linh thiêng của nhân dân quanh vùng. Hàng năm, cứ đến ngày hội, từ ngày 14 tới 16 tháng 8 Âm lịch, nhân dân phường Cẩm Thượng lại tưng bừng mở hội truyền thống đình Hàn Bơi nhằm tưởng nhớ tới công lao to lớn của đức thánh. Lễ hội diễn ra với nhiều nghi lễ truyền thống và các trò chơi dân gian. Ngoài ngày chính lễ ra, lễ hội này còn được tổ chức vào dịp 10 tháng 3 Âm lịch với các hoạt động giống ngày chính lễ. Biểu diễn múa rồng trong lễ hội Trước ngày diễn ra lễ hội, người dân phường Cẩm Thượng đã chuẩn bị hương hoa để lên đình dâng hương. Phần lễ diễn ra rất trang nghiêm với nhiều lễ tế, lễ dâng hương lên đức thánh và lễ rước. Lễ rước với đoàn kỳ lân, trống, cờ thần, chiêng, bát biểu, phường bát âm, chấp kích, các bàn kiệu bày 18 cái bánh trưng, 18 cái bánh dày, đội lễ mâm hoa quả, kiệu long đình để rước sắc Thành hoàng, kiệu bát cống được bắt đầu từ đình Phương Độ đi đến đình Hàn Bơi. Bánh trưng và bánh dày trong lễ vật chính là để tượng trưng cho 18 đời vua Hùng, và cũng là lễ vật để dân làng dâng lên tổ tiên. Đặc biệt, khi lễ dâng hương lên đức thánh kết thúc sẽ là nghi lễ thả cá chép. Thả 18 con cá chép để tượng trưng cho sự bình yên của xã hội, cầu cho quốc thái dân an, mùa mang tốt tươi. Hội thi bơi chải truyền thống trên sông Thái Bình Sau phần lễ diễn ra trong không khí trang nghiêm, phần hội sẽ diễn ra trong bầu không khí sôi động, mà đặc biệt nhất là hội thi bơi thuyền trải truyền thống được rất nhiều người mong đợi. Cuộc thi bơi thuyền trải đã tái hiện một cách sống động cảnh Hán Công Đạt dùng thuyền nhỏ để dẹp giặc Xích Thủy trong lịch sử, nhằm hun đúc tinh thần và sự tự hào dân tộc trong lòng mỗi người dân của phường Cẩm Thượng, đồng thời ca ngợi công đức của ngài , để cổ vũ tinh thần thượng võ của người dân Việt Nam. Theo tục truyền rằng, lễ hội đình Hàn Bơi xưa kia có màn rước nước trên sông được tổ chức vào ngày 15/8 Âm lịch. Đoàn rước nước có tuyền tướng, thuyền quân sẽ đi trước, thuyền ngài đi ở giữa, tiếp sau là thuyền của sáu thôn chở các kiệu của thôn, hai bên có đoàn rước là đôi thuyền chải vừa bơi vừa hô vang. Tuy nhiên, qua thời gian lịch sử lâu dài, ngày nay nghi lễ này đã không còn được thực hiện nữa. Ngoài hội thi bơi thuyền trải ra, phần hội còn có các hoạt động hấp dẫn khác cũng thu hút được đông đảo người dân tham gia, trong đó có các trò chơi dân gian và còn có biểu diễn văn nghệ.

Related Figures

Lễ hội đền An Phụ

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/4 Âm lịch Hàng năm, cứ đến ngày mồng 1 tháng 4 Âm lịch người dân ở huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương lại tưng bừng mở hội truyền thống đền An Phụ để thể hiện tấm lòng thành kính, và tưởng nhớ về An sinh vương Trần Liễu, đấng sinh thành và là người đã góp phần tạo nên các vị thiên tài, vị anh hùng của dân tộc Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn. Đền An Phụ tên tự là An Phụ Sơn từ, nằm trên đỉnh núi An Phụ, thuộc địa phận xã An Sinh, Kinh Môn, Hải Dương được xây dựng vào thời Trần (ở thế kỷ thứ XIII), dưới thời An Sinh Vương Trần Liễu. Theo sử sách có ghi chép, vào năm 1237, triều đình Nhà Trần đã cắt đất của các xã An Dưỡng, An Phụ, An Hưng, An Sinh, An Bang để ban cho Trần Liễu dựng thái ấp và phong chức làm An sinh Vương. Ngài và phu nhân là những người đã đào tào ra những vị anh hùng của dân tộc, những người có văn võ song toàn, có công lớn trong ba cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông. Ông qua đời ngày mồng 1 tháng 4 năm 1251. Để tưởng nhớ tới công đức của ông, ngày mồng 1 tháng 4 âm lịch hàng năm, nhân dân nơi đây lại nô nức tổ chức lễ hội Đền An Phụ. Tượng đài Trần Hưng Đạo tại đền An Phụ Lễ hội đền An Phụ diễn ra trong 3, ngay từ ngày 29 tháng 3 đến ngày mồng 1 tháng 4 Âm lịch. Phần lễ thường tổ chức trong suốt 3 ngày mở hội. Sáng ngày 29 tháng 3 sẽ tổ chức lễ cáo yết xin mở hội. Lễ Mộc dục hay bao sái tượng được tổ chức tại đền An Phụ vào lúc 23h, ngày 30 tháng 3. Ngày chính hội là ngày mồng 1 tháng 4 Âm lịch. Đền An Phụ tại tỉnh Hải Dương Chính hội được bắt đầu bằng màn múa rồng, đoàn rước của các xã Phạm Mệnh, An Sinh, Hiến Thành, Thượng Quận, thị trấn Phú Thứ. Lễ khai hội và dâng hương tưởng niệm An sinh vương Trần Liễu diễn ra rất long trọng tại ngôi đền An Phụ với mandf biểu diễn trống hội được tổ chức theo nghi thức cổ, có tiết mục múa lân, múa rồng và lễ dâng văn tế để ca ngợi ơn đức của đức An sinh vương. Sau ngày lễ khai hội và dâng hương sẽ đến lễ tế thần được thực hiện theo nghi thức truyền thống. Phần lễ tạ sẽ được tổ chức vào ngày mồng 8 tháng 4 Âm lịch. Múa rồng tại lễ khai hội Đền An Phụ Ngoài phần lễ được thực hiên theo nghi thức truyền thống ra, phần hội cũng có nhiều hoạt động độc đáo và hấp dẫn như chương trình biểu diễn chèo diễn ra tại di tích động Kính Chủ, nhiều chương trình biểu diễn nghệ thuật và giao lưu văn hóa văn nghệ của nhân dân các xã lân cận và du khách thập phương tại sân đình cùng nhiều trò chơi dân gian truyền thống khác. Những năm trở lại đây, lễ hội đền An Phụ đang ngày càng được mở rộng hơn, phong phú hơn về nội dung lẫn hình thức, không chỉ để phục vụ nhu cầu văn hóa tâm linh và tín ngưỡng của nhân dân trong vùng, mà còn là dịp để giới thiệu lễ hội đền An Phụ và di tích đền An Phụ đến đông đảo quần chúng nhân dân và du khách thập phương với mục đích để tưởng nhớ tới công lao to lớn của cha ông, đã làm phong phú đời sống văn hóa cũng như tinh thần của người dân địa phương , đồng thời góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của dân tộc.

Hàng năm, cứ đến ngày mồng 1 tháng 4 Âm lịch người dân ở huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương lại tưng bừng mở hội truyền thống đền An Phụ để thể hiện tấm lòng thành kính, và tưởng nhớ về An sinh vương Trần Liễu, đấng sinh thành và là người đã góp phần tạo nên các vị thiên tài, vị anh hùng của dân tộc Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn.

Đền An Phụ tên tự là An Phụ Sơn từ, nằm trên đỉnh núi An Phụ, thuộc địa phận xã An Sinh, Kinh Môn, Hải Dương được xây dựng vào thời Trần (ở thế kỷ thứ XIII), dưới thời An Sinh Vương Trần Liễu. Theo sử sách có ghi chép, vào năm 1237, triều đình Nhà Trần đã cắt đất của các xã An Dưỡng, An Phụ, An Hưng, An Sinh, An Bang để ban cho Trần Liễu dựng thái ấp và phong chức làm An sinh Vương. Ngài và phu nhân là những người đã đào tào ra những vị anh hùng của dân tộc, những người có văn võ song toàn, có công lớn trong ba cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông. Ông qua đời ngày mồng 1 tháng 4 năm 1251. Để tưởng nhớ tới công đức của ông, ngày mồng 1 tháng 4 âm lịch hàng năm, nhân dân nơi đây lại nô nức tổ chức lễ hội Đền An Phụ. Tượng đài Trần Hưng Đạo tại đền An Phụ Lễ hội đền An Phụ diễn ra trong 3, ngay từ ngày 29 tháng 3 đến ngày mồng 1 tháng 4 Âm lịch. Phần lễ thường tổ chức trong suốt 3 ngày mở hội. Sáng ngày 29 tháng 3 sẽ tổ chức lễ cáo yết xin mở hội. Lễ Mộc dục hay bao sái tượng được tổ chức tại đền An Phụ vào lúc 23h, ngày 30 tháng 3. Ngày chính hội là ngày mồng 1 tháng 4 Âm lịch. Đền An Phụ tại tỉnh Hải Dương Chính hội được bắt đầu bằng màn múa rồng, đoàn rước của các xã Phạm Mệnh, An Sinh, Hiến Thành, Thượng Quận, thị trấn Phú Thứ. Lễ khai hội và dâng hương tưởng niệm An sinh vương Trần Liễu diễn ra rất long trọng tại ngôi đền An Phụ với mandf biểu diễn trống hội được tổ chức theo nghi thức cổ, có tiết mục múa lân, múa rồng và lễ dâng văn tế để ca ngợi ơn đức của đức An sinh vương. Sau ngày lễ khai hội và dâng hương sẽ đến lễ tế thần được thực hiện theo nghi thức truyền thống. Phần lễ tạ sẽ được tổ chức vào ngày mồng 8 tháng 4 Âm lịch. Múa rồng tại lễ khai hội Đền An Phụ Ngoài phần lễ được thực hiên theo nghi thức truyền thống ra, phần hội cũng có nhiều hoạt động độc đáo và hấp dẫn như chương trình biểu diễn chèo diễn ra tại di tích động Kính Chủ, nhiều chương trình biểu diễn nghệ thuật và giao lưu văn hóa văn nghệ của nhân dân các xã lân cận và du khách thập phương tại sân đình cùng nhiều trò chơi dân gian truyền thống khác. Những năm trở lại đây, lễ hội đền An Phụ đang ngày càng được mở rộng hơn, phong phú hơn về nội dung lẫn hình thức, không chỉ để phục vụ nhu cầu văn hóa tâm linh và tín ngưỡng của nhân dân trong vùng, mà còn là dịp để giới thiệu lễ hội đền An Phụ và di tích đền An Phụ đến đông đảo quần chúng nhân dân và du khách thập phương với mục đích để tưởng nhớ tới công lao to lớn của cha ông, đã làm phong phú đời sống văn hóa cũng như tinh thần của người dân địa phương , đồng thời góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của dân tộc.

Related Figures

Lễ hội đình Ngọc Uyên

Thông tin thời kỳ

Đình Ngọc Uyên thuộc địa phận Phường Ngọc Châu, tp Hải Dương. Ngôi đình này xưa kia rất đẹp, đẹp đến mức bia "Ngọc đình bi ký" hiện đang được lưu giữ trong Đình làng Ngọc Uyên đã tả lại việc xây cất đình với những mỹ tự: ... "Ngôi đình nằm ở phía đông thành Phượng, chính là ngôi Đình Ngọc Uyên. Bao quanh đình 2 bên tả hữu là dòng sông Thái Bình. Xa xa cảnh đẹp lọt vào tầm mắt chính là án Ngọc Lặc cao chót vót. Phía trước giao lưu chảy xiết với con sông Lục Đầu. Phía sau cây cối mọc tươi tốt xum xuê. Nổi gần trông rất đẹp mắt đó là điền Triều (ruộng Triều). Trên dưới phì nhiêu rất tươi tốt. Nghìn cây cổ thụ che bóng mát là nơi chim chóc tụ hội hót véo von. Con đường rộng thênh thang, xe, ngựa qua lại rất tấp nập. Ngôi đình này quả thực là một danh lam thắng cảnh vậy"… Làng Ngọc Uyên có tên Nôm là làng Đũi, xưa kia còn một ngôi văn chỉ nằm cạnh đình Ngọc Uyên ngày nay. "Từ chỉ bi ký" - Bia đá đã khắc ghi công đức của Hội tư văn bản xã đã có bài minh chép 2 câu như sau: Thanh Lâm thắng địa đệ nhất Ngọc Uyên. Văn phong sơ trấn đạo mạch vĩnh chuyền Nhân tài thế xuất khoa giáp bộ niên Bi thành chi hậu phúc hưởng ức niên Dịch nghĩa: Đất Ngọc Uyên là nơi có thắng cảnh đẹp nhất huyện Thanh Lâm Văn hóa phong tục thuần hậu nổi tiếng mạch đất lưu truyền mãi Nhân tài xuất thế nối tiếp nhau đõ đạt qua các khoa giáp Ghi lại trên bia để lưu muôn đời, hưởng phúc ngàn năm. Đình Ngọc Uyên Vào thế kỷ thứ 19, địa danh xã Ngọc Uyên, tỏng Trác Châu thuộc huyện Thanh Lâm, phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương trong mắt người dân nơi đây là vậy. Đủ để thấy, mảnh đất này có một sức hấp dẫn rất mạnh mẽ. Làng Ngọc Uyên tọa lạc ở ngã ba sông Kẻ Sặt và sông Thái Bình (chính vì vậy mới đặt tên là ngã ba Tam Giang). Sông Thái Bình nối với sông Văn Úc và đổ ra biển đã tạo nên một thế trận vô cùng lợi hại, chính vì vậy các triều đại phong kiến trong lịch đều tận dụng nó để tác chiến bằng đường thủy trong các cuộc chiến với phong kiến từ phương Bắc. Dưới thời Hai Bà Trưng các tướng lĩnh đã từng giáp mặt với quân tướng nhà Hán và đã có nhiều trận huyết chiến diễn ra trên khúc sông này. Tướng của Tô Định tên là Mã Giang Long đã bại trận và chết dưới tay nữ tướng Ngọc Tuyền, đã có vô số quân tướng giặc bỏ thây nơi đây, buộc Tô Định phải rút quân về Bắc Giang để cố thủ. Thời nhà Đinh, họ Phạm đã có công trợ giúp Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12 sứ quân. Thời nhà Trần, quân tướng Hưng Đạo Đại Vương đã từng hành quân qua nơi này trên những chiếc thuyền chiến, hợp quân bộ và thủy lại đánh tan quân Nguyên trong trận huyết chiến cuối cùng trên dòng sông Bạch Đằng…Chỉ với hơn 6km đường sông ở ngã ba sông Thái Bình - Kẻ Sặt, sử sách Việt Nam đã ghi lại biết bao chiến công oanh liệt của các vị anh hùng dân tộc, của nhân dân Việt trong các trận chiến chống lại giặc ngoại xâm. Đình Ngọc Uyên là nơi thờ 2 vị thành hoàng làng là Lê Viết Quang và Lê Viết Hưng. Ngọc phả và truyền thuyết để lưu lại cho biết: Cha mẹ của Lê Viết Hưng và Lê Viết Quang là Ông Lê Viết Đức và Bà Bùi Thị Nguyên, quê ở thôn Gôi thuộc huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Vốn xuất thân từ gia đình nghèo khó, lại hiếm muộn về đường con trai nên ông bà đã quyết định rời cố hương tìm về nơi đất lành để sinh sống, và cuối cùng dạt tới làng Ngọc Uyên. Gặp nơi đất lành, bằng phẳng, đồng ruộng thì phì nhiêu, cây cối xanh tốt , sông nước thuận hòa nên xin được ngụ lại sinh sống. Ôn bà đã bỏ biết bao công sức để khai phá đất hoang, trồng lúa và đánh bắt tôm cá để mưu sinh, cùng bà con bản địa dựng nên điền trại. Tại nơi đây, thuận theo ý trời bà Bùi Thị Nguyên đã hạ sinh đôi hai người trai, tướng mạo trông rất khôi ngô, tuấn tú. Hai cụ đã đặt tên một người là Lê Viết Hưng và người kia là Lê Viết Quang. Hai vị này càng lớn càng vạm vỡ, to khỏe, thân hình trông cao lớn, trí tuệ tinh thông, văn võ song toàn. Vào năm 930, Vua Nam Hán đã đem quân xâm chiếm nước ta. Không chấp nhận dưới ách đô hộ của quân Hán, nhân dân khắp nơi đã nổi dậy tổng khởi nghĩa. Năm 939, Ngô Quyền được lòng dân, được tướng sĩ ủng hộ nên đã đánh bại quân Nam Hán ngay trên sông Bạch Đằng, mở ra một kỷ nguyên thống nhất cho đất nước. Đến năm 944, Ngô Quyền qua đời, triều chính lại rơi vào cảnh rối ren, dẫn đến họa 12 sứ quân đã khiến dân tình hỗn loạn, cuộc sống của người dân chìm đắm trong đau khổ. Từ vùng đất Hoa Lư (Ninh Bình) Đinh Bộ Lĩnh đã phất cờ nghĩa dấy lên phong trào dẹp loạn được nhân dân ủng hộ. Hòa cùng với bách thứ, dân làng Ngọc Uyên đã đóng góp người tài, vật lực với mong muốn đất nước sớm phục hưng. Hai anh em Lê Viết Hưng và Lê Viết Quang đã tình nguyện đi theo Đinh Bộ Đầu, hưng binh trấn giữ ở châu thổ, đánh thắng nhiều trận tại Chí Linh, Thanh Lâm. Vì có công với nước nên hai ông đã được Vua Đinh phong tước, sau khi hai ông qua đời nhân dân đã lập đền thờ và tôn làm Thành hoàng. Các em học sinh đang quét dọn sân đình Đức Thánh Cả Lê Viết Hưng được phong lên làm Đương cảnh thành hoàng quan hà Đại vương "Trưởng tả đạo binh nhung kiêm tham tán mưu sự" . Đức Thánh Hai Lê Viết Quang đã được phong lên làm Dương cảnh thành hoàng Đinh triều phong tước "Thiếu tử Thái Bảo tiền quân". Hiện nay, trong đình Ngọc Uyên vẫn còn giữ lại đôi câu đối nguyên văn như sau: Đinh triều lưỡng tướng phù quốc chí nam nhi Văn võ toàn tài cứu dân trang Việt sử Dịch nghĩa là: Triều Đinh hai tướng giúp Vua giúp nước tỏ rõ tài chí nam nhi. Văn võ song tòan, cứu dân (công) trạng đã được ghi trong sách sử nước Việt. Trong gian hậu cung của Đình, còn 2 câu đối ca ngợi công đức của hai vị thành hoàng nguyên văn như sau: Phù quốc an dân dực anh linh vu ngọc địa Trừ gian thảo tặc phấn uy vũ ư Hoa Lư Đình Ngọc Uyên được xây dựng từ năm nào đến nay cũng không còn tài liệu nào ghi rõ, trước đây vốn được dựng ở giữa làng chếch về phía Nam, thuộc địa phận xóm Giếng Quan. Nơi đây vốn là một khu đất trũng lầy lội, trông không được thoáng đãng, rất bất tiện cho việc đi lại và thăm viếng cũng như thờ cúng. Sau đó, đình đã được di dời về địa điểm ngày nay (ở đầu làng) là nơi cao ráo và thoáng mát. Theo các bô lão trong làng, khu đất này là nơi đắc địa bởi thế đầu rồng, ngôi đình nằm ở vị trí chính trán rồng, chếch phía trước cửa đình về hướng đông nam chừng 200m có 2 cái ao tròn tựa như mắt rồng. Tuy rất khó để xác định năm khởi công xây dựng đình, nhưng căn cứ vào tài liệu hồ sơ di tích do Bảo tàng Hải Hưng lập thì vào khoảng năm Tự Đức thứ hai, tháng 4 năm Kỷ Dậu (1849)- như dòng chữ được khắc trên Thượng lương đã ghi rõ: "Hoàng triều Tự Đức thứ hai năm Kỷ Dậu tháng tư". Đình Ngọc Uyên hiện nay vẫn còn lưu giữ được khá nhiều cổ vật quý với đầy đủ các chất liệu, nổi bật nhất là quả chuông đồng có đường kính 0.40m, chiều cao 0.60m có khắc dòng chữ " - Khí cụ chung của đình Ngọc Uyên" ; 17 tấm bia hậu ghi lại công đức của người đã có công tu bổ di tích; 12 đạo sắc phong của các triều đại phong kiến, sớm nhất là vào thời Cảnh Hưng vào năm 1783, muộn nhất là vào thời Khải Định năm 1924. Đồ thờ được làm bằng gỗ, điển hình như bát hương cổ, nhang án thờ ở đình ngoài, 2 cỗ long đình, 2 cỗ kiệu bát cống được sơn son thếp vàng, 2 cỗ ngai thờ... Sau khi cách mạng thánh 8 thành công, đình Ngọc Uyên là nơi mở lớp học bình dân học vụ, lớp huấn luyện về quân sự, là trụ sở của một số đoàn thể cách mạng. Ngôi đình này cũng là nơi diễn ra cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên của chính thể cách mạng Việt Nam vào ngày 6-1-1946, xác lập quyền làm chủ của chế độ của những người dân địa phương, được tự tay cầm lá phiếu đi bầu cử. Làng Ngọc Uyên thuộc địa phận xã Ngọc Châu, đã có nhiều lần thay đổi. Thời phong kiến nơi đây có tên đầy đủ là Ngọc Uyên xã, Trác Châu tổng, thuộc Thanh Lâm huyện. Sau cách mạng tháng 8 năm 1945 làng Ngọc Uyên thuộc địa phận xã Ngọc Châu, Nam Sách, Hải Dương. Năm 1950, ngôi đền này thuộc địa phận thị xã Hải Dương, đến năm 1954 lại tiếp tục chuyển một lần nữa, rồi đến năm 1968 thuộc thị xã Hải Dương. Ngày nay thì Ngọc Uyên thuộc địa phận phường Ngọc Châu, tp Hải Dương. Việc thực hiện nghi lễ ở hội Ngọc Uyên được diễn ra như sau: Tế lễ vào các dịp: ngày sinh thần thành hoàng là vào ngày 16 tháng giêng, ngày thánh hóa tức ngày mồng 2 tháng 11, ngày khánh hạ là ngày mồng 6 tháng 10 làm lễ ca khúc khải hoàn (còn được gọi là Lễ hội thắng trận khao quân). Việc tế lễ và hội hè được thực hiện như sau: Ngày 14 làng sẽ làm lễ mở cửa đình, bao sái đồ thờ, lau chùi và dọn dẹp, đìn. Chuẩn bị các đồ tế tự và một số công việc khác. Chiều ngày 14 sẽ thực hiện lễ tế yết, lễ vật gồm có hai thủ lợn, hai phương xôi nén, hoa quả, rượu, trầu. Trưa ngày 15 (chính ngọ) sẽ làm lễ tế nhập tịch. Làng có tất cả 5 giáp (Tây Hào; Đông Hào; Khang Pụ; Tiền Đình; Tân Phú), mỗi giáp sẽ mang các lễ vật đã chuẩn bị lên dâng thánh là một con lợn còn sống, và xôi nén, hoa quả, rượu. Lợn tế mỗi năm sẽ người được các phe giáp cắt cử người làm "tế đám" phải tự nuôi hai "ông lợn". Ông "tế đám" sẽ được dân làng giao cho ruộng công để tự cày cấy lấy hoa lợi để chuẩn bị lễ vật dâng lên Thánh. Lợn tế từ lúc nhập chuồng cho đến khi thành vật tế đều được gọi là "Ông lợn", được tách nuôi chuồng riêng, chế độ ăn uống cũng đặc biệt hơn và được chăm sóc, tắm rửa sạch sẽ, nếu lợn Ông lợn ốm, bỏ ăn thì người ta không được dùng thuốc chữa mà phải biện cơi trầu để kêu Thánh sẽ khỏi. Lợn phải nặng từ 70kg trở lên. Ngày 16 là ngày lễ chính, từ sáng đoàn rước của làng đã tập trung đầy đủ ở sân đình với cờ, tán lọng, biển, nghi trượng rầm rộ rồi bắt đầu rước kiệu thánh đi vòng quanh một vòng làng rồi trở về đình. Vào đúng giờ Ngọ, làng sẽ tổ chức tế. Trong khi thực hiện lễ tế, nếu ai phạm lỗi hoặc người tế mà làm sai động tác nào đó sẽ bị cắm thẻ tre trên đầu (cổ áo), và bị làng phạt tiền, còn phải chuẩn bị cơi trầu để kêu thánh và xin làng, số tiền đó sẽ được dùng vào việc hương đăng trong đình. Tế xong đồ lễ sẽ được chia về các giáp. Ngày 17 tháng giêng có 2 khóa tế: - Tế tạ tổ chức vào buổi trưa, còn được gọi là tế tán tịch. - Tế tiễn tổ chức vào buổi chiều, và tế tiễn quan "đương niên hành khiển". Việc thực hiện lễ tế được cử hành ngoài ở sân đình tùy theo từng năm, bàn tế được đặt theo các hướng Đông,Tây, Nam, Bắc. Tế từ giữa sân đình cho đến cửa nội cung. Đội hình quan tế gồm 2 ông Thông xướng Đông và Tây dẫn quan viên tế và xướng thay cho hai ông Đông, Tây điển tiếp lời tế. Sau đó, tiến hành rước bát hương Thành hoàng từ đình trở lại miếu đền Thượng, tế an vị xong sẽ để lại bát hương thờ Thánh tại đây. Buổi chiều, tổ chức lễ tế tạ trong đình. Sau khi cử hành lễ tế xong, làng sẽ biếu phần tế cho các vị quan viên dự tế, ông chủ tế sẽ được biếu cái thủ lợn, ông đọc văn sẽ được cái khoanh bí, 2 ông củ soát sẽ được 2 cái chân trước... Sau lễ tế tạ, làng còn tổ chức thêm lễ cúng lục đạo chúng sinh, thầy cúng sẽ đảm nhiệm việc này, đồ lễ gồm quần áo, các thứ bánh khoai, ngô, cháo lá đa. Cúng xong, mọi người sẽ cùng ùa vào cướp để cháo thí để lấy lộc. Sau đó làng đóng cửa đình, rã đám.

Related Figures

Lễ hội đền Sượt

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 9/3- 10/3 Âm lịch Hàng năm, cứ đến ngày mồng 2 tháng 9 âm lịch người dân làng Thanh Cương thuộc phường Thanh Bình, Hải Dương lại tưng bừng mở Lễ hội Đền Sượt. Trong hai ngày lễ hội có nhiều nghi lễ nhưng trong đó độc đáo nhất là tục đánh bệt, tức đánh hổ, là một trò diễn dân gian vô cùng độc đáo. Hội bơi chải Thanh Cương linh từ còn được biết với cái tên khác là Quang liệt miếu, tên nôm là đền Sượt, thuộc địa phận làng Thanh Cương, phường Thanh Bình, tp Hải Dương, là nơi thờ Vũ Hựu, một vị danh tướng dưới thời Lê sơ, quê của ông là làng Thanh Cương. Khi qua đời vào ngày 16 tháng 11 năm Tân Tỵ-1521, ông đã được người dân nơi đây tôn là Thượng đẳng phúc thần, Hiển Hựu đại vương, Minh quốc linh ứng, và tôn là Thành hoàng làng. Đền Sượt mang dấu ấn kiến trúc của thế kỷ 19. Di tích này đã được nhà nước xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia vào năm 1992. Trước cách mạng tháng 8, Lễ hội đền Sượt đã được tổ chức nhưng tùy theo từng năm tổ chức, có năm có rước kiệu, biểu diễn văn nghệ và trò đánh Bệt. Việc tổ chức lễ rước kiệu và trò đánh Bệt được thực hiện từ năm 1937. Sau đó, lễ hội này có năm tổ chức lễ rướ có năm không, cho tới năm 1919 Sở Văn hoá Thông tin đã chỉ đạo cử hành lễ rước và tổ chức trò đánh Bệt mới được khôi phục, tuy nhiên nghi thức diễn ra vẫn chưa được đầy đủ như thời xưa. Lễ hội đền Sượt vẫn được duy trì từ năm 1990 đến nay. Các hoạt động của lễ hội diễn ra như sau: - Từ ngày mồng 1 tháng 7 đến mồng 7 tháng 3: Ban khánh tiết đền sẽ tổ chức rửa đồ thờ tự và tập hợp dân làng để họp bàn tổ chức lễ hội. - Ngày mồng 9 tháng 3: Tiễn hành lễ Mộc dục, đón nhân dân quanh vùng và khách thập phương về dâng hương. - Tối ngày mồng 9 tháng 3: Ban khánh tiết sửa soạn đồ lễ gồm xôi, gà, trầu cau, rượu trắng, vàng hương để cử hành lễ cáo yết tại đền. - Ngày mồng 10 tháng 3: Buổi sáng ban khánh tiết sẽ sắm lễ xôi gà, trầu cau, rượu trắng, hương hoa để dâng lên Đức Thánh tại đền. Từ năm 1999 đến ngày nay, dân làng Thanh Cường đều tổ chức rước kiệu từ đền đi qua khu lăng mộ Đức Thánh tới đình rồi về đền. Tiết mục chèo tại sân đền Thứ tự trong đoàn rước: Dẫn đầu là đội múa lân , đội cờ hội, đội bát biểu, đội kiệu long đình (8gồm tám người khênh kiệu là những thanh niên chưa vợ). Nhạc rước có chiêng, tù và bát âm. Sau kiệu sẽ là đoàn người đội mâm lễ vật của nhân dân trong làng. Sau khi đoàn rước này tập trung về sân đền, kiệu rước sẽ được đưa vào hậu cung, trưởng ban khánh tiết dâng hương. Lễ dâng hương: Ông trưởng ban di tích sẽ đứng lên đọc bài diễn văn ca ngợi công đức của Đức Thánh, nêu lên trách nhiệm của Ban quản lý đền, tất cả các công dân đều có nghĩa vụ bảo vệ di tích. Sau ông trưởng ban đọc bản diễn văn xong, các hộ gia đình ở thôn Thanh Cương cùng khách thập phương sẽ tự do vào dâng lễ. Hiện tại, thôn Thanh Cương vẫn đứng ra tổ chức hội, tuần gồm 24 vị cao niên. Cụ cao nhất là 80 tuổi, người ít tuổi nhất cũng đã 50. Hội tuần có nhiệm vụ lo liệu công việc tuần tiết tại đền: Ngày sóc và ngày vọng (ngày mồng 1 và ngày 15 ) và các ngày tế lễ khác theo tục cũ từ trước đến nay mà thôn vẫn còn giữ được. Phần hội: Hội đền Sượt không tổ chức nhiều trò chơi dân gian hấp dẫn như các lễ hội khác, nhưng vẫn giữ được những nét độc đáo của lễ hội truyền thống xưa với trò Chọi gà, biểu diễn chèo, cờ tướng... Năm 1999, trò đánh Bệt đã được khôi phục lại, đã được dân làng Thanh Cương nhiệt tình tham gia. Trước ngày vào hội, đinh tráng trong độ tuổi từ 18-54 tuổi đều phải sắm một cái gậy đánh bệt. + Gậy dành cho dân đinh dài 7 thước ta (1 thước tương đương với 40cm). +Gậy cho năm người tham gia tiếp đánh hổ, dài 4 thước. +Gậy cho các nữ đồng trinh múa biểu diễn trước hàng quân, dài 1,2 thước. Lễ rước kiệu diễn ra rất long trọng Lễ hội đền Sượt làng Thanh Cương từ xưa đã được xem là một lễ hội vùng có qui mô tương đối lớn, đã thu hút được rất nhiều người dân từ các tỉnh khác tham gia như: Bắc Ninh, Hà Nội, Hải Phòng. Ngày nay, lễ hội đền Sượt vẫn là nơi giao lưu tín ngưỡng hưng thịnh. Đặc biệt là dịp đầu xuân, ngày lễ hội và ngày rằm mồng 1 lại càng thu hút được đông đảo người dân qui tụ về đây sinh hoạt tín ngưỡng. Đền Sượt thu hút được đông đảo du khách là vì nơi đây có thắng cảnh đẹp, ngoài ra lễ hội đền Sượt còn là dịp để giáo dục truyền thống uống nước nhớ nguồn, và một điều đặc biệt nữa là người dân về đây xem hội cho rằng: Thẻ của đền Sượt khá ứng nghiệm. Hộp thẻ đựng 100 quẻ tiêm sẽ được đánh thứ tự trên mỗi thanh tre dài khoảng 20cm, được vót mỏng bản có chiều rộng chừng 1cm. Trên đầu mỗi quẻ tiêm sẽ được đánh bằng chữ Hán và số tự nhiên từ 1- 100, mỗi thẻ tương ứng với cuộc đời và số phận của một đức thánh hiền hay một vị quan chức trong lịch sử Trung Quốc. Trong tâm linh người về đây xem hội cho rằng, đèn Sượt rất linh thiêng và họ cầu gì cũng được thần bảo hộ.

Hàng năm, cứ đến ngày mồng 2 tháng 9 âm lịch người dân làng Thanh Cương thuộc phường Thanh Bình, Hải Dương lại tưng bừng mở Lễ hội Đền Sượt. Trong hai ngày lễ hội có nhiều nghi lễ nhưng trong đó độc đáo nhất là tục đánh bệt, tức đánh hổ, là một trò diễn dân gian vô cùng độc đáo.

Hội bơi chải

Thanh Cương linh từ còn được biết với cái tên khác là Quang liệt miếu, tên nôm là đền Sượt, thuộc địa phận làng Thanh Cương, phường Thanh Bình, tp Hải Dương, là nơi thờ Vũ Hựu, một vị danh tướng dưới thời Lê sơ, quê của ông là làng Thanh Cương. Khi qua đời vào ngày 16 tháng 11 năm Tân Tỵ-1521, ông đã được người dân nơi đây tôn là Thượng đẳng phúc thần, Hiển Hựu đại vương, Minh quốc linh ứng, và tôn là Thành hoàng làng. Đền Sượt mang dấu ấn kiến trúc của thế kỷ 19. Di tích này đã được nhà nước xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia vào năm 1992. Trước cách mạng tháng 8, Lễ hội đền Sượt đã được tổ chức nhưng tùy theo từng năm tổ chức, có năm có rước kiệu, biểu diễn văn nghệ và trò đánh Bệt. Việc tổ chức lễ rước kiệu và trò đánh Bệt được thực hiện từ năm 1937. Sau đó, lễ hội này có năm tổ chức lễ rướ có năm không, cho tới năm 1919 Sở Văn hoá Thông tin đã chỉ đạo cử hành lễ rước và tổ chức trò đánh Bệt mới được khôi phục, tuy nhiên nghi thức diễn ra vẫn chưa được đầy đủ như thời xưa. Lễ hội đền Sượt vẫn được duy trì từ năm 1990 đến nay. Các hoạt động của lễ hội diễn ra như sau: - Từ ngày mồng 1 tháng 7 đến mồng 7 tháng 3: Ban khánh tiết đền sẽ tổ chức rửa đồ thờ tự và tập hợp dân làng để họp bàn tổ chức lễ hội. - Ngày mồng 9 tháng 3: Tiễn hành lễ Mộc dục, đón nhân dân quanh vùng và khách thập phương về dâng hương. - Tối ngày mồng 9 tháng 3: Ban khánh tiết sửa soạn đồ lễ gồm xôi, gà, trầu cau, rượu trắng, vàng hương để cử hành lễ cáo yết tại đền. - Ngày mồng 10 tháng 3: Buổi sáng ban khánh tiết sẽ sắm lễ xôi gà, trầu cau, rượu trắng, hương hoa để dâng lên Đức Thánh tại đền. Từ năm 1999 đến ngày nay, dân làng Thanh Cường đều tổ chức rước kiệu từ đền đi qua khu lăng mộ Đức Thánh tới đình rồi về đền. Tiết mục chèo tại sân đền Thứ tự trong đoàn rước: Dẫn đầu là đội múa lân , đội cờ hội, đội bát biểu, đội kiệu long đình (8gồm tám người khênh kiệu là những thanh niên chưa vợ). Nhạc rước có chiêng, tù và bát âm. Sau kiệu sẽ là đoàn người đội mâm lễ vật của nhân dân trong làng. Sau khi đoàn rước này tập trung về sân đền, kiệu rước sẽ được đưa vào hậu cung, trưởng ban khánh tiết dâng hương. Lễ dâng hương: Ông trưởng ban di tích sẽ đứng lên đọc bài diễn văn ca ngợi công đức của Đức Thánh, nêu lên trách nhiệm của Ban quản lý đền, tất cả các công dân đều có nghĩa vụ bảo vệ di tích. Sau ông trưởng ban đọc bản diễn văn xong, các hộ gia đình ở thôn Thanh Cương cùng khách thập phương sẽ tự do vào dâng lễ. Hiện tại, thôn Thanh Cương vẫn đứng ra tổ chức hội, tuần gồm 24 vị cao niên. Cụ cao nhất là 80 tuổi, người ít tuổi nhất cũng đã 50. Hội tuần có nhiệm vụ lo liệu công việc tuần tiết tại đền: Ngày sóc và ngày vọng (ngày mồng 1 và ngày 15 ) và các ngày tế lễ khác theo tục cũ từ trước đến nay mà thôn vẫn còn giữ được. Phần hội: Hội đền Sượt không tổ chức nhiều trò chơi dân gian hấp dẫn như các lễ hội khác, nhưng vẫn giữ được những nét độc đáo của lễ hội truyền thống xưa với trò Chọi gà, biểu diễn chèo, cờ tướng... Năm 1999, trò đánh Bệt đã được khôi phục lại, đã được dân làng Thanh Cương nhiệt tình tham gia. Trước ngày vào hội, đinh tráng trong độ tuổi từ 18-54 tuổi đều phải sắm một cái gậy đánh bệt. + Gậy dành cho dân đinh dài 7 thước ta (1 thước tương đương với 40cm). +Gậy cho năm người tham gia tiếp đánh hổ, dài 4 thước. +Gậy cho các nữ đồng trinh múa biểu diễn trước hàng quân, dài 1,2 thước. Lễ rước kiệu diễn ra rất long trọng Lễ hội đền Sượt làng Thanh Cương từ xưa đã được xem là một lễ hội vùng có qui mô tương đối lớn, đã thu hút được rất nhiều người dân từ các tỉnh khác tham gia như: Bắc Ninh, Hà Nội, Hải Phòng. Ngày nay, lễ hội đền Sượt vẫn là nơi giao lưu tín ngưỡng hưng thịnh. Đặc biệt là dịp đầu xuân, ngày lễ hội và ngày rằm mồng 1 lại càng thu hút được đông đảo người dân qui tụ về đây sinh hoạt tín ngưỡng. Đền Sượt thu hút được đông đảo du khách là vì nơi đây có thắng cảnh đẹp, ngoài ra lễ hội đền Sượt còn là dịp để giáo dục truyền thống uống nước nhớ nguồn, và một điều đặc biệt nữa là người dân về đây xem hội cho rằng: Thẻ của đền Sượt khá ứng nghiệm. Hộp thẻ đựng 100 quẻ tiêm sẽ được đánh thứ tự trên mỗi thanh tre dài khoảng 20cm, được vót mỏng bản có chiều rộng chừng 1cm. Trên đầu mỗi quẻ tiêm sẽ được đánh bằng chữ Hán và số tự nhiên từ 1- 100, mỗi thẻ tương ứng với cuộc đời và số phận của một đức thánh hiền hay một vị quan chức trong lịch sử Trung Quốc. Trong tâm linh người về đây xem hội cho rằng, đèn Sượt rất linh thiêng và họ cầu gì cũng được thần bảo hộ.

Related Figures

Hội Đình Đụn

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/6- 18/6 Âm lịch Phong Phú xưa kia là xã Long Phúc, ngày nay là xã Thạch Khê, huyện Thạch Hà. Mé tây của xã này có một con sông Nài chảy qua, xuống đến ngã ba Sơn rồi mới đổ ra cửa Sót. Ngày xưa, bờ sông này bị sạt lở đất, nhưng vào đời Tự Đức có một tú tài tên là Trương Quốc Hiền đã tự bỏ tiền túi của mình ra để mua nguyên vật liệu về kè ghép bờ sông lại. Sau này, con trai của ông đã học hành thành tài, là Tiến Sỹ Trương Quốc Dụng đã đổ thêm 2 kè nữa, sau đó dân làng đã đắp con đê dọc theo dòng sông để ngăn mặn. Hàng năm cứ mỗi dịp tháng 6 âm lịch, dân làng ở địa phương này lại tổ chức đắp sữa đê một lần. Kỳ đắp đê được kết hợp với hội làng thì được gọi là hội Đình Đụn. Rước kiệu cỗ trong lễ hội Không biết từ bao giờ, các đền, miếu xã Thạch Kê còn có một nơi rất thiêng liêng đối với nhân dân trong làng, đó chính là vùng Cây Đa - Cồn Đình. Đó là một cồn đất vuông, mỗi chiều khoảng 40 mét, cao 4 mét, chính giữa có trồng một cây cột lim có chiều cao khoảng 6 mét còn được gọi là "Cột Đình Đụn " ... Phía tây nam cồn đình có một cây đa cổ thụ đã trên 200 năm tuổi . Người dân dâng hương hoa, vật phẩm để làm lễ Hội " Đình Đụn " tổ chức vào ngày rằm tháng 6, kéo dài từ 3- đến 4 ngày. Trai của bốn giáp đan bốn tấm phên, mỗi chiều 6 mét đem đến vây quanh cây cột đình và che để làm rạp tế. Dân làng thì lo sửa soạn mâm cỗ, năm được mùa thì bốn giáp thịt bốn con trâu, đồ 40 thúng xôi, năm không được mùa thì chỉ làm 20 thúng xôi và 4 con trâu. Ngày 15 sẽ cử hành lễ tế yết cáo Thành Hoàng cùng các vị tiên hiền của làng, sau đó, thỉnh mời các vị lên rạp đình để cử hành Đại lễ. Cả khu đình lúc đó rất đông vui, tấp nập. Đêm đến trăng lên, gió mát, các chàng trai và cô gái gái thi nhau hò đối đáp, các trò chơi vui cũng được tổ chức như đánh vật, kéo co .. biểu diễn diễn tuồng. Hội thường kéo dài trong 3 ngày, đến ngày 18/6 thì tan. Các chàng trai, cô gái tổ chức hò đối đáp trên sông Trong thời điểm hội tan cũng chính là lúc con nước kiệt, trai của bốn giáp sẽ thi nhau phá rạp để lấy 4 tấm phên tre mang ra đê Long Tường ráp vào những đoạn đê bị xung yếu như đã được qui định. Tiếng reo hò hoà chung với tiếng trống thúc giục, cỗ vũ thôi thúc 4 giáp thi nhau đào đất đắp vào đoạn đê theo phần đất và khối lượng đã được qui định. Đê được đắp xong, trai gái bốn giáp tụm thành từng ở trên đê để nghe công bố kết quả và nhận giải.

Related Figures

Tục thờ thần và lễ cầu ngư làng Hội Thống

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 3/1- 3/2 Âm lịch Làng Hội Thống thuộc địa phận xã Xuân Hội, huyện Nghi Xuân, tình Hà Tĩnh. Hội Thống nằm ở mé bờ Nam của cửa Hội có nghề nông, nghề buôn nhưng lại nổi tiếng với nghề biển. Nơi đây ngoài ngôi Đình Kiên Nghĩa ra còn nhiều đền miếu nhưng trong số đó có ba ngôi đền thờ vị thần Nam Hải Ngư (cá ông) thường gọi là đền Cố, đền Cô và đền Cậu. Ngư dân Hà Tĩnh đánh bắt vào buổi sáng Tín ngưỡng thờ Cá Ông ở đây không chỉ là bày tỏ sự tôn kính lên thần linh mà người dân nơi đây còn xem loài cá này thể hiện cho sự hưng thịnh của cả làng. 'Ông' là tiếng gọi tôn kính mà ngư dân biển nơi đây dành riêng cho loài cá voi, loài cá đã giúp đỡ họ vượt qua biết bao tai nạn khi đang lênh đênh trên biển cả. Lễ cầu ngư của Hội Thống thường được tổ chức hàng năm, có khi lại 3 năm tổ chức 1 lần vào ngày mồng 3 tháng 2 âm lịch. Lễ cầu ngư làng Hội Thống tại Hà Tĩnh Từ đầu năm, các chủ thuyền đã tụ họp bàn về việc đóng góp và chọn ra người vào ban "chịu việc " và ban hành lễ. Những người được chọn thường là những người được dân làng tín nhiệm nhất. Lễ đặt mỗi thuyền cần phải nộp 10 quan tiền, trước ngày mở hội mọi việc chuẩn bị đều phải hoàn tất. Trên đất liền người ta sẽ dựng một rạp ở bên luồng hoặc bãi biễn gọi đó là nơi dâng lễ, rạp cao chừng3 mét, dài rộng chừng 6 mét, quay mặt ra biển. Mái và 3 phía của rạp sẽ dùng thuyền để che kín. Trong rạp, ở ngay chính giữa sẽ đặt các lễ vật, trên vách có treo nhiều bức tranh thờ. Lễ rước trên biển Dưới nước người ta sẽ kết 4 con thuyền với nhau để tạo lót ván sàn thành một sân gỗ rộng, đặt một bàn thờ. Các đồ lễ vật, hương đèn, đều làm bằng nứa, hương được cắm vào những khúc chuối nhỏ. Trên bàn thờ đã bày lễ vật là một con lợn luộc được đặt trong mâm, còn có xôi, thịt gà, trầu rượu được đặt trong một cái mâm khác. Các chủ thuyền sẽ cúng mỗi nhà một mâm oản. Trong rạp cũng như ở trên thuyền, cỗ bàn đều đặt sang phía đông, thầy cúng cùng mọi người sẽ ngồi về hướng tây, quay mặt ra biển. Trống chiêng nhã nhạc bắt đầu nổi lên, lễ tế bắt đầu được tiến hành một cách nghiêm trang, kết thúc lễ tế sẽ là cuộc đua thuyền.

Related Figures

Lễ hội Đô Đài và trò "Đình Đụn"

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 12/1 Âm lịch Đền Đô Đài là nơi thờ vị quan Đô đài Ngự Sử - Bùi Cầm Hổ. Ngôi đền này toạ lạc ngay dưới chân ngọn núi Bạch Tỵ, nay thuộc địa phận xã Đậu Liêu thuộc thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh. Đền Đô Đài thờ quan Đô đài Ngự Sử - Bùi Cầm Hổ Lễ hội đền Đô Đài còn được gọi là lễ báo ân, được tổ chức hàng năm vào ngày 12 tháng 1 âm lịch, đây cũng chính là ngày giỗ của vị quan Đô đài Ngự Sử - Bùi Cầm Hổ . Lễ Báo ân được tổ chức trang nghiêm, kính cẩn Lễ hội đền Đô Đài được tổ chức với hai loại nghi thức: Đại lễ hội thì 50 năm mới tổ chức một lần, lễ hội thông thường thì tổ chức hàng năm. Trong dịp đại lễ ngoài các nghi lễ đã được qui định là dựng "Đình Đụn" làm sân khấu ngay tại bờ khe Vẹt ở phía trước đền để biểu diễn tuồng "Đình Đụn "gồm bốn cột mạ (cái), các cây cột quyết và xà ngang đều làm bằng thiết mộc, được làm sẵn và ngâm dưới khe, đến kỳ hội mới vớt lên để dựng, sao cho các cột cắm sâu xuống khe, sàn đình được lát ván cao hơn so với mặt nước, nhưng vừa phải giống như nhà "Thuỷ Tạ ", gian giữa đình sẽ dành để biểu diễn, các phía chung quanh dành cho dân làng ngồi xem. Biểu diễn tuồng tại lễ hội Khi các thủ tục nghi lễ đã được cử hành xong sẽ đến màn biểu diễn tuồng. Hội đình tan các cây cột lại được tháo dỡ ra và mang ngâm xuống khe cho chờ đến kỳ lễ hội sau lại lấy lên dựng lại. Vì có " Đình Đụn " dựng trò diễn tuồng, nên "Đình Đụn " cũng được gọi là nhà Trò, khe Vẹt ở trước đền còn được gọi là khe Nhà Trò. Lễ hội thường được tổ chức hàng năm chỉ tổ chức lễ rước cỗ, yết bái, chầu hầu và đại tế chỉ diễn ra trong vòng 1 ngày 1 đêm, không cần dựng "Đình Đụn " để diễn trò .

Đền Đô Đài là nơi thờ vị quan Đô đài Ngự Sử - Bùi Cầm Hổ. Ngôi đền này toạ lạc ngay dưới chân ngọn núi Bạch Tỵ, nay thuộc địa phận xã Đậu Liêu thuộc thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.

Đền Đô Đài thờ quan Đô đài Ngự Sử - Bùi Cầm Hổ

Lễ hội đền Đô Đài còn được gọi là lễ báo ân, được tổ chức hàng năm vào ngày 12 tháng 1 âm lịch, đây cũng chính là ngày giỗ của vị quan Đô đài Ngự Sử - Bùi Cầm Hổ .

Lễ Báo ân được tổ chức trang nghiêm, kính cẩn

Lễ hội đền Đô Đài được tổ chức với hai loại nghi thức: Đại lễ hội thì 50 năm mới tổ chức một lần, lễ hội thông thường thì tổ chức hàng năm. Trong dịp đại lễ ngoài các nghi lễ đã được qui định là dựng "Đình Đụn" làm sân khấu ngay tại bờ khe Vẹt ở phía trước đền để biểu diễn tuồng "Đình Đụn "gồm bốn cột mạ (cái), các cây cột quyết và xà ngang đều làm bằng thiết mộc, được làm sẵn và ngâm dưới khe, đến kỳ hội mới vớt lên để dựng, sao cho các cột cắm sâu xuống khe, sàn đình được lát ván cao hơn so với mặt nước, nhưng vừa phải giống như nhà "Thuỷ Tạ ", gian giữa đình sẽ dành để biểu diễn, các phía chung quanh dành cho dân làng ngồi xem.

Biểu diễn tuồng tại lễ hội

Khi các thủ tục nghi lễ đã được cử hành xong sẽ đến màn biểu diễn tuồng. Hội đình tan các cây cột lại được tháo dỡ ra và mang ngâm xuống khe cho chờ đến kỳ lễ hội sau lại lấy lên dựng lại. Vì có " Đình Đụn " dựng trò diễn tuồng, nên "Đình Đụn " cũng được gọi là nhà Trò, khe Vẹt ở trước đền còn được gọi là khe Nhà Trò. Lễ hội thường được tổ chức hàng năm chỉ tổ chức lễ rước cỗ, yết bái, chầu hầu và đại tế chỉ diễn ra trong vòng 1 ngày 1 đêm, không cần dựng "Đình Đụn " để diễn trò .

Related Figures

Lễ hội Chùa Chân Tiên

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 3/3 Âm lịch Theo tục truyền, cứ vào ngày mồng 3 tháng 3 Âm lịch hàng năm, Ban Trị sự Phật giáo tỉnh sẽ kết hợp với các cấp chính quyền địa phương để tổ chức lễ hội chùa Chân Tiên, tại ngôi chùa Chân Tiên tọa lạc tại xã Thịnh Lộc, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Các tăng ni người dân và khách thập phương đội lễ lên chùa lễ Phật Từ thành phố Vinh-Nghệ An, đi men theo quốc lộ 1A về phía Nam sẽ đến thị trấn Nghèn ở km số 31, rẽ về hướng Đông, đi theo đường Liên Hương khoảng 18km sẽ đến chùa Chân Tiên. Chùa Chân Tiên là một ngôi chùa có phong cảnh đẹp, nằm trên núi Tiên Am, nằm ở cuối dãy Ngàn Hống, sát với bờ biển Đông. Đứng trên chùa Chân Tiên nhìn xuống dưới toàn là màu xanh của những rừng thông trùng điệp. Đi về 4 phía xung quanh của chùa Chân Tiên, du khách sẽ tận hưởng được nhiều cảnh đẹp và các chứng tích gắn với các truyền thuyết và huyền thoại li kì, hấp dẫn như: dấu chân Tiên, cây đa nơi Thái thượng lão quân dừng chân nghỉ mát ,chùa Vồn Sơn nơi thờ Phật Tổ, bàn cờ tiên, nền Hoàng Thạch, nền Sơn Tinh, bàu tiên v.v…Tất cả những chứng tích và dấu tích trên đã góp phần mang lại cho mảnh đất Thịnh Lộc sự linh thiêng, là một trong những địa điểm du lịch, vãn cảnh lý tưởng. Chùa Chân Tiên được xây dựng ở thời nhà Trần (ở thế kỷ 13). Trong quá trình lịch sử có nhiều biến đổi, ngôi chùa này đã được tu sửa lại ba lần. Đây là một công trình có kiến trúc hài hòa, gồm 2 nhà: nhà bên trái là chùa thứ nhất và nhà bên phải là chùa thứ hai. Đoàn làm lễ đang tiến hành dâng lễ lên chùa Nhà bên trái là nơi thờ Phật Tổ, được xây dựng chủ yếu bằng vôi vữa với kiến trúc tứ trụ, gồm 3 gian, xung quanh còn có tường bao bọc. Chùa được lợp bằng loại ngói vảy, hai bên hiên của chùa thì bên trái thờ quan Văn, bên phải là thờ quan Võ. Trước cửa còn có bốn câu đối: “Tùng sơn địa thắng lưu tiên tích Hồ Thủy Thiên Quang ánh phật đường Sa môn bất tử đường như dẫn Thạch thất do tuyên Hán dĩ lai” Nhà bên phải là nơi thờ Thánh Mẫu, gồm các công trình như nhà kiệu Long đình, thượng điện và nhà Bái đường với tổng diện tích khoảng 56 m2… Các công trình này đều được trang trí bằng các hoa văn và họa tiết trông khá tinh xảo như hình mặt trăng, hình rồng, hoa lá v.v... Lễ hội Chùa Chân Tiên thu hút được nhiều du khách đến xem hội và cầu Phật Trong chùa Chân Tiên ngày nay vẫn còn lưu giữ các hiện vật thờ tự rất quý hiếm như: các lư hương, trống, pho tượng Phật, cờ Phật, hương án… Chùa Chân Tiên không chỉ là một địa danh du lịch nổi tiếng, mà nơi đây còn là một di tích lịch sử cách mạng. Chùa Chân Tiên đã được người đời mệnh danh là “Am tiên đệ nhất danh lam”, năm 1992 đã được công nhận là Di tích lịch sử quốc gia. Lễ hội chùa Chân Tiên thu hút được rất nhiều đại đức, các tăng ni, Phật tử và rất đông du khách thập phương về thắp hương, cầu Phật. Tại Lễ hội này còn diễn ra nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ và thể dục thể thao, các trò chơi dân gian thu hút sự quan tâm của du khách như: đua thuyền, bóng chuyền bãi biển, vật cổ truyền hay đi cà kheo...

Theo tục truyền, cứ vào ngày mồng 3 tháng 3 Âm lịch hàng năm, Ban Trị sự Phật giáo tỉnh sẽ kết hợp với các cấp chính quyền địa phương để tổ chức lễ hội chùa Chân Tiên, tại ngôi chùa Chân Tiên tọa lạc tại xã Thịnh Lộc, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh.

Các tăng ni người dân và khách thập phương đội lễ lên chùa lễ Phật

Từ thành phố Vinh-Nghệ An, đi men theo quốc lộ 1A về phía Nam sẽ đến thị trấn Nghèn ở km số 31, rẽ về hướng Đông, đi theo đường Liên Hương khoảng 18km sẽ đến chùa Chân Tiên. Chùa Chân Tiên là một ngôi chùa có phong cảnh đẹp, nằm trên núi Tiên Am, nằm ở cuối dãy Ngàn Hống, sát với bờ biển Đông. Đứng trên chùa Chân Tiên nhìn xuống dưới toàn là màu xanh của những rừng thông trùng điệp. Đi về 4 phía xung quanh của chùa Chân Tiên, du khách sẽ tận hưởng được nhiều cảnh đẹp và các chứng tích gắn với các truyền thuyết và huyền thoại li kì, hấp dẫn như: dấu chân Tiên, cây đa nơi Thái thượng lão quân dừng chân nghỉ mát ,chùa Vồn Sơn nơi thờ Phật Tổ, bàn cờ tiên, nền Hoàng Thạch, nền Sơn Tinh, bàu tiên v.v…Tất cả những chứng tích và dấu tích trên đã góp phần mang lại cho mảnh đất Thịnh Lộc sự linh thiêng, là một trong những địa điểm du lịch, vãn cảnh lý tưởng. Chùa Chân Tiên được xây dựng ở thời nhà Trần (ở thế kỷ 13). Trong quá trình lịch sử có nhiều biến đổi, ngôi chùa này đã được tu sửa lại ba lần. Đây là một công trình có kiến trúc hài hòa, gồm 2 nhà: nhà bên trái là chùa thứ nhất và nhà bên phải là chùa thứ hai. Đoàn làm lễ đang tiến hành dâng lễ lên chùa Nhà bên trái là nơi thờ Phật Tổ, được xây dựng chủ yếu bằng vôi vữa với kiến trúc tứ trụ, gồm 3 gian, xung quanh còn có tường bao bọc. Chùa được lợp bằng loại ngói vảy, hai bên hiên của chùa thì bên trái thờ quan Văn, bên phải là thờ quan Võ. Trước cửa còn có bốn câu đối: “Tùng sơn địa thắng lưu tiên tích Hồ Thủy Thiên Quang ánh phật đường Sa môn bất tử đường như dẫn Thạch thất do tuyên Hán dĩ lai” Nhà bên phải là nơi thờ Thánh Mẫu, gồm các công trình như nhà kiệu Long đình, thượng điện và nhà Bái đường với tổng diện tích khoảng 56 m2… Các công trình này đều được trang trí bằng các hoa văn và họa tiết trông khá tinh xảo như hình mặt trăng, hình rồng, hoa lá v.v... Lễ hội Chùa Chân Tiên thu hút được nhiều du khách đến xem hội và cầu Phật Trong chùa Chân Tiên ngày nay vẫn còn lưu giữ các hiện vật thờ tự rất quý hiếm như: các lư hương, trống, pho tượng Phật, cờ Phật, hương án… Chùa Chân Tiên không chỉ là một địa danh du lịch nổi tiếng, mà nơi đây còn là một di tích lịch sử cách mạng. Chùa Chân Tiên đã được người đời mệnh danh là “Am tiên đệ nhất danh lam”, năm 1992 đã được công nhận là Di tích lịch sử quốc gia. Lễ hội chùa Chân Tiên thu hút được rất nhiều đại đức, các tăng ni, Phật tử và rất đông du khách thập phương về thắp hương, cầu Phật. Tại Lễ hội này còn diễn ra nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ và thể dục thể thao, các trò chơi dân gian thu hút sự quan tâm của du khách như: đua thuyền, bóng chuyền bãi biển, vật cổ truyền hay đi cà kheo...

Related Figures

Lễ hội Chùa Hương Tích

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/1 Âm lịch Đã trở thành một thông lệ, hàng năm cứ vào ngày mồng 10 tháng Giêng âm lịch, bà con nhân dân xã Thiên Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh cùng du khách thập phương lại nô nức đi hội Chùa Hương Tích. Chùa Hương Tích nằm trên đỉnh núi Hồng Lĩnh thuộc địa phận xã Thiên Lộc, huyện Can Lộc. Theo truyền thuyết xưa, chùa Hương Tích là nơi thờ công chúa Diệu Thiện, là con gái vua Trang Vương nước Sở, (khá giống với truyền thuyết của chùa Hương ở Hà Tây). Lễ hội Chùa Hương Tích tại Hà Tĩnh Căn cứ vào một số tư liệu cổ vẫn còn được lưu giữ, các nhà nghiên cứu đã cho rằng chùa Hương ở Hà Tĩnh đã được xây dựng từ thế kỷ thứ 8 dưới thời nhà Trần. Muốn lên tới đỉnh chùa Hương Tích, du khách phải ngồi thuyền để đi qua hồ Nhà Đường khoảng 2 cây số, sau đó, đi thêm 2 cây số đường rừng với bóng cây thông trúc rợp mát và những đá suối nhấp nhô. Khi lên chùa, du khách sẽ có cơ hội được thưởng ngoạn rất nhiều cảnh đệp của một vùng non nước hữu tình. Nơi đây có động Tiên Nữ có 36 cửa ra vào, am Phun Mây trông huyền bí diệu kỳ, bàn cờ Tiên, khe Tiên Tắm… Có thể nói, nếu động Hương Tích ở Hà Tây cũ được người đời mệnh danh là “Nam Thiên đệ nhất động” thì Chùa Hương Tích ở Hà Tĩnh lại được người xưa mệnh danh là “Hoan Châu đệ nhất danh thắng”. Du khách muốn đến Chùa Hương Tích phải ngồi thuyền qua hồ Nhà Đường Chùa Hương ở Thiên Lộc- Hà Tĩnh đã trở thành một điểm thắng cảnh, một nơi tâm linh của người dân từ khắp các nơi trong toàn quốc trong mỗi dịp lễ hội. Ngày nào cũng như ngày nào, ngôi chùa này lúc nào cũng có du khách đạo hữu đến dâng hương, và thăm thú thắng cảnh. Vào múa xuân, tháng giêng, tháng hai âm lịch hàng năm và vào ngày lễ vu lan (rằm tháng bảy âm lịch), nơi đây đã đón tiếp hàng vạn du khách về trẩy hội. Trước ngày mở hội chính, từ ngày mồng 4 đến ngày mồng 9 Tết mỗi ngày chùa Hương ở Hà Tĩnh có hàng nghìn du khách từ khắp nơi, việt kiều về hành hương vãn cảnh, dâng hương, dâng hoa, trẩy hội, dâng lễ, cầu Phật. Đến đây, du khách không chỉ được vãn cảnh chùa, dâng hương cầu may mà còn được tham gia các hoạt động văn hoá vô cùng thú vị và ý nghĩa như: đấu vật, bóng chuyền, kéo co, giao lưu văn hoá văn nghệ giữa các địa phương…, và đặc biệt là được tham dự triển lãm những hiện vật cổ đã vừa được khai quật từ khu di tích nền Trang Vương. Cứ vào mỗi dịp lễ hội chùa Hương Tích lại tiếp đón hàng ngàn du khách về trẩy hội Hiện nay du khách đi lễ hội, vãn cảnh chùa Hương không còn vất vả như xưa, bởi ở đây đã trang bị hệ thống cabin - cáp treo. Vì vậy du khách chỉ mất 4 phút để đi từ Miếu Cô đến chùa Hương Tích hoặc ngược lại.

Đã trở thành một thông lệ, hàng năm cứ vào ngày mồng 10 tháng Giêng âm lịch, bà con nhân dân xã Thiên Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh cùng du khách thập phương lại nô nức đi hội Chùa Hương Tích.

Chùa Hương Tích nằm trên đỉnh núi Hồng Lĩnh thuộc địa phận xã Thiên Lộc, huyện Can Lộc. Theo truyền thuyết xưa, chùa Hương Tích là nơi thờ công chúa Diệu Thiện, là con gái vua Trang Vương nước Sở, (khá giống với truyền thuyết của chùa Hương ở Hà Tây). Lễ hội Chùa Hương Tích tại Hà Tĩnh Căn cứ vào một số tư liệu cổ vẫn còn được lưu giữ, các nhà nghiên cứu đã cho rằng chùa Hương ở Hà Tĩnh đã được xây dựng từ thế kỷ thứ 8 dưới thời nhà Trần. Muốn lên tới đỉnh chùa Hương Tích, du khách phải ngồi thuyền để đi qua hồ Nhà Đường khoảng 2 cây số, sau đó, đi thêm 2 cây số đường rừng với bóng cây thông trúc rợp mát và những đá suối nhấp nhô. Khi lên chùa, du khách sẽ có cơ hội được thưởng ngoạn rất nhiều cảnh đệp của một vùng non nước hữu tình. Nơi đây có động Tiên Nữ có 36 cửa ra vào, am Phun Mây trông huyền bí diệu kỳ, bàn cờ Tiên, khe Tiên Tắm… Có thể nói, nếu động Hương Tích ở Hà Tây cũ được người đời mệnh danh là “Nam Thiên đệ nhất động” thì Chùa Hương Tích ở Hà Tĩnh lại được người xưa mệnh danh là “Hoan Châu đệ nhất danh thắng”. Du khách muốn đến Chùa Hương Tích phải ngồi thuyền qua hồ Nhà Đường Chùa Hương ở Thiên Lộc- Hà Tĩnh đã trở thành một điểm thắng cảnh, một nơi tâm linh của người dân từ khắp các nơi trong toàn quốc trong mỗi dịp lễ hội. Ngày nào cũng như ngày nào, ngôi chùa này lúc nào cũng có du khách đạo hữu đến dâng hương, và thăm thú thắng cảnh. Vào múa xuân, tháng giêng, tháng hai âm lịch hàng năm và vào ngày lễ vu lan (rằm tháng bảy âm lịch), nơi đây đã đón tiếp hàng vạn du khách về trẩy hội. Trước ngày mở hội chính, từ ngày mồng 4 đến ngày mồng 9 Tết mỗi ngày chùa Hương ở Hà Tĩnh có hàng nghìn du khách từ khắp nơi, việt kiều về hành hương vãn cảnh, dâng hương, dâng hoa, trẩy hội, dâng lễ, cầu Phật. Đến đây, du khách không chỉ được vãn cảnh chùa, dâng hương cầu may mà còn được tham gia các hoạt động văn hoá vô cùng thú vị và ý nghĩa như: đấu vật, bóng chuyền, kéo co, giao lưu văn hoá văn nghệ giữa các địa phương…, và đặc biệt là được tham dự triển lãm những hiện vật cổ đã vừa được khai quật từ khu di tích nền Trang Vương.

Cứ vào mỗi dịp lễ hội chùa Hương Tích lại tiếp đón hàng ngàn du khách về trẩy hội

Hiện nay du khách đi lễ hội, vãn cảnh chùa Hương không còn vất vả như xưa, bởi ở đây đã trang bị hệ thống cabin - cáp treo. Vì vậy du khách chỉ mất 4 phút để đi từ Miếu Cô đến chùa Hương Tích hoặc ngược lại.

Related Figures

Lễ hội làng Khê Thượng

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 3/1- 7/1 Âm lịch Làng Khê Thượng là một làng cổ nằm ven theo sông Đà. Vào những ngày đầu năm mới, sau khi người dân vừa tận hưởng những ngày tết cổ truyền của dân tộc xong, làng sẽ mở làng, để tưởng niệm về Tản Viên Sơn Thánh, là vị thánh đứng đầu trong "Tứ Bất Tử Việt Nam". Lễ hội này thường diễn ra trong 5 ngày, từ ngày mồng 3 đến ngày mồng 7 tháng Giêng. Nhưng trên thực tế đã bắt đầu từ ngày 30 tết. Lễ đưa tiễn Đức Thánh Tản qua sông Đà. Nghi thức đầu tiên của lễ hội làng Khê Thượng sẽ được tiến hành vào tối ngày 30 Tết với ý nghĩa tượng trưng cho việc tiễn đưa Đức Thánh Tản Viên về núi Nghĩa Lĩnh để dâng lễ tết lên bố vợ của Ngài. Vào ngày hôm đó, các vị chức sắc, các bô lão ban Khánh tiết, những người đăng cai tổ chức lễ đều phải y phục truyền thống như trong ngày chính hội, đầu đội mũ mão. Người ta thường tiến hành tế lễ tại đình theo nghi thức truyền thống, sau đó tất cả sẽ cùng dân làng đi ra bến đò làng Khê Thượng. Đây chính là lễ đưa tiễn Đức Thánh Tản qua sông Đà. Nghi lễ bái vong Ngài tại ngọn núi Nghĩa Lĩnh Tối ngày 30 Tết, sau khi làm lễ tại đình xong, các chức sắc và bô lão cũng những người trong bàn Tế sẽ cùng dân làng, tề tựu đông đủ tại bến đò. Khi lễ tiễn bắt đầu, người lái đò (mặc trang phục màu đỏ) sẽ lặng lẽ bước xuống đò đợi sẵn ở đó,sau đó ông chèo chiếc đò không từ bến làng Khê Thượng sang đến bến đò Bộ thuộc địa phận xã Thạch Đồng, huyện Tam Thanh, tỉnh Vĩnh Phúc. Mọi người đều ngầm hiểu rằng Đức Thánh đã lên con đò đó để qua sông và Đức Thánh Tản sẽ không đi một mình mà còn có rất nhiều quân lính đi theo hộ tống Ngài. Do đó người lái đò sẽ phải chèo thuyền đi đi lại lại ba lần qua sông, đó còn được gọi là trò Rước Chúa Trai. Tiếp theo, dân làng sẽ ai về nhà nấy để chuẩn bị cho ngày lễ Tết cổ truyền, đón Giao thừa với một tâm trạng phấn khởi, hào hứng và hy vọng một năm mới sẽ gặp nhiều may mắn. Chiều ngày mồng 2 tháng giêng, người làng đã chuẩn bị xong kiệu, hương án, cờ trống bên bờ sông Đà để cử hành nghi lễ bái vong Ngài tại ngọn núi Nghĩa Lĩnh để rước Ngài về. Sang sáng ngày mồng 3 Tết tất cả dân làng sẽ mở hội tưng bừng. Nhiều trò chơi và cuộc thi được tổ chức, sân đình trở nên nhộn nhịp hẳn lên với các trò như: đấu vật, chọi gà, chơi cờ, hát chèo, tổ tôm và nhiều trò chơi, cuộc thi khác.Trong đó, cuộc thi đấu vật luôn thu hút được sự quân đặc biệt từ dân làng và khách xem hôi. Người dân ở đây thường gọi là đấu vật thờ Thánh, với mục đích khuyến khích tinh thần thượng võ của người dân trong làng, đồng thời ôn lại sự kiện Sơn Tinh thắng Thuỷ Tinh nhờ vào lòng dũng cảm và sức khỏe phi thường của mình. Tinh thần thượng võ của nhân dân Khê Thượng còn thể hiện ở trò “Chém may". "Chém may" là một tục lệ khá độc đáo của làng, được tổ chức vào ngày mồng 7 tết. Dân làng sẽ chọn ra những trai tráng khoẻ mạnh nhất, yêu cầu không có tang chế và không gây điều tiếng gì trong năm. Những người được chọn sẽ tự tập các thế múa dao sao cho thuần thục. Nếu không biểu diễn được tốt sẽ cảm thấy có lỗi với thánh, với gia đình. Sáng ngày mồng 7 các chàng trai sẽ cởi trần, đóng khố màu đỏ, đầu chất khăn đỏ, tay trái có cầm chiếc thuyền giấy màu đỏ, tay phải cầm một con dao. Các chàng trai vào lễ thánh ở trong đình sẽ bước ra sân để tề tựu trong sự chờ đợi, háo hức của dân làng. Tại đó, người ta cũng dựng một hàng cây chuối to, thẳng đứng đều nhau, cách chừng vài mét, sao cho lúc các chàng trai múa lượn được thoải mái. Khi tiếng trống nổi lên, các chàng tra tham gia đấu vật cũng từ từ biểu diễn các điệu múa từ chậm đến nhanh dần, nhanh dần theo nhịp của tiếng trống. Đến khi nhịp trống thúc đổ dồn thì cũng là lúc các đường dao cũng quay xoáy tít và các chàng trai sẽ tiến dần đến chỗ các cây chuối. Nhanh như chớp họ nhảy lên, lúc đấy người ta chỉ nhìn thấy được vệt dao loang loáng và lướt một cái rất nhanh ngang qua thân cây chuối thi hấy thân chuối đổ gục mà đoạn dưới vẫn còn đứng nguyên như chưa hề động đến. Tiếng reo hò cổ vũ náo nhiệt vang dậy, đường chém ngọt của con dao sắc, thân chuối đứt gãy báo hiệu cho điều lành. Bởi vì người dân trong vùng tin rằng các quân thuỷ quái của Thủy Tinh đều khiếp sợ nhát chém như vậy, vì sợ nên họ sẽ từ bỏ ý định phá hoại, và quấy rối dân làng. Người người đều vui mừng, hồ bởi cùng nhau vào lễ tạ trong đình và kéo nhau ra về với niềm vui và tin rằng năm đó sẽ có nhiều niềm vui, bởi "vạn sự khởi đầu nan" đầu năm mới đã rất tốt đẹp rồi. Mọi người cũng chúc tụng nhau, cùng nhau vui chơi đến ngày hội cuối cùng.

Làng Khê Thượng là một làng cổ nằm ven theo sông Đà. Vào những ngày đầu năm mới, sau khi người dân vừa tận hưởng những ngày tết cổ truyền của dân tộc xong, làng sẽ mở làng, để tưởng niệm về Tản Viên Sơn Thánh, là vị thánh đứng đầu trong "Tứ Bất Tử Việt Nam". Lễ hội này thường diễn ra trong 5 ngày, từ ngày mồng 3 đến ngày mồng 7 tháng Giêng. Nhưng trên thực tế đã bắt đầu từ ngày 30 tết.

Lễ đưa tiễn Đức Thánh Tản qua sông Đà.

Nghi thức đầu tiên của lễ hội làng Khê Thượng sẽ được tiến hành vào tối ngày 30 Tết với ý nghĩa tượng trưng cho việc tiễn đưa Đức Thánh Tản Viên về núi Nghĩa Lĩnh để dâng lễ tết lên bố vợ của Ngài. Vào ngày hôm đó, các vị chức sắc, các bô lão ban Khánh tiết, những người đăng cai tổ chức lễ đều phải y phục truyền thống như trong ngày chính hội, đầu đội mũ mão. Người ta thường tiến hành tế lễ tại đình theo nghi thức truyền thống, sau đó tất cả sẽ cùng dân làng đi ra bến đò làng Khê Thượng. Đây chính là lễ đưa tiễn Đức Thánh Tản qua sông Đà. Nghi lễ bái vong Ngài tại ngọn núi Nghĩa Lĩnh Tối ngày 30 Tết, sau khi làm lễ tại đình xong, các chức sắc và bô lão cũng những người trong bàn Tế sẽ cùng dân làng, tề tựu đông đủ tại bến đò. Khi lễ tiễn bắt đầu, người lái đò (mặc trang phục màu đỏ) sẽ lặng lẽ bước xuống đò đợi sẵn ở đó,sau đó ông chèo chiếc đò không từ bến làng Khê Thượng sang đến bến đò Bộ thuộc địa phận xã Thạch Đồng, huyện Tam Thanh, tỉnh Vĩnh Phúc. Mọi người đều ngầm hiểu rằng Đức Thánh đã lên con đò đó để qua sông và Đức Thánh Tản sẽ không đi một mình mà còn có rất nhiều quân lính đi theo hộ tống Ngài. Do đó người lái đò sẽ phải chèo thuyền đi đi lại lại ba lần qua sông, đó còn được gọi là trò Rước Chúa Trai. Tiếp theo, dân làng sẽ ai về nhà nấy để chuẩn bị cho ngày lễ Tết cổ truyền, đón Giao thừa với một tâm trạng phấn khởi, hào hứng và hy vọng một năm mới sẽ gặp nhiều may mắn. Chiều ngày mồng 2 tháng giêng, người làng đã chuẩn bị xong kiệu, hương án, cờ trống bên bờ sông Đà để cử hành nghi lễ bái vong Ngài tại ngọn núi Nghĩa Lĩnh để rước Ngài về. Sang sáng ngày mồng 3 Tết tất cả dân làng sẽ mở hội tưng bừng. Nhiều trò chơi và cuộc thi được tổ chức, sân đình trở nên nhộn nhịp hẳn lên với các trò như: đấu vật, chọi gà, chơi cờ, hát chèo, tổ tôm và nhiều trò chơi, cuộc thi khác.Trong đó, cuộc thi đấu vật luôn thu hút được sự quân đặc biệt từ dân làng và khách xem hôi. Người dân ở đây thường gọi là đấu vật thờ Thánh, với mục đích khuyến khích tinh thần thượng võ của người dân trong làng, đồng thời ôn lại sự kiện Sơn Tinh thắng Thuỷ Tinh nhờ vào lòng dũng cảm và sức khỏe phi thường của mình. Tinh thần thượng võ của nhân dân Khê Thượng còn thể hiện ở trò “Chém may". "Chém may" là một tục lệ khá độc đáo của làng, được tổ chức vào ngày mồng 7 tết. Dân làng sẽ chọn ra những trai tráng khoẻ mạnh nhất, yêu cầu không có tang chế và không gây điều tiếng gì trong năm. Những người được chọn sẽ tự tập các thế múa dao sao cho thuần thục. Nếu không biểu diễn được tốt sẽ cảm thấy có lỗi với thánh, với gia đình. Sáng ngày mồng 7 các chàng trai sẽ cởi trần, đóng khố màu đỏ, đầu chất khăn đỏ, tay trái có cầm chiếc thuyền giấy màu đỏ, tay phải cầm một con dao. Các chàng trai vào lễ thánh ở trong đình sẽ bước ra sân để tề tựu trong sự chờ đợi, háo hức của dân làng. Tại đó, người ta cũng dựng một hàng cây chuối to, thẳng đứng đều nhau, cách chừng vài mét, sao cho lúc các chàng trai múa lượn được thoải mái. Khi tiếng trống nổi lên, các chàng tra tham gia đấu vật cũng từ từ biểu diễn các điệu múa từ chậm đến nhanh dần, nhanh dần theo nhịp của tiếng trống. Đến khi nhịp trống thúc đổ dồn thì cũng là lúc các đường dao cũng quay xoáy tít và các chàng trai sẽ tiến dần đến chỗ các cây chuối. Nhanh như chớp họ nhảy lên, lúc đấy người ta chỉ nhìn thấy được vệt dao loang loáng và lướt một cái rất nhanh ngang qua thân cây chuối thi hấy thân chuối đổ gục mà đoạn dưới vẫn còn đứng nguyên như chưa hề động đến. Tiếng reo hò cổ vũ náo nhiệt vang dậy, đường chém ngọt của con dao sắc, thân chuối đứt gãy báo hiệu cho điều lành. Bởi vì người dân trong vùng tin rằng các quân thuỷ quái của Thủy Tinh đều khiếp sợ nhát chém như vậy, vì sợ nên họ sẽ từ bỏ ý định phá hoại, và quấy rối dân làng. Người người đều vui mừng, hồ bởi cùng nhau vào lễ tạ trong đình và kéo nhau ra về với niềm vui và tin rằng năm đó sẽ có nhiều niềm vui, bởi "vạn sự khởi đầu nan" đầu năm mới đã rất tốt đẹp rồi. Mọi người cũng chúc tụng nhau, cùng nhau vui chơi đến ngày hội cuối cùng.

Related Figures

Lễ hội đền Chiêu Trưng

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/5- 3/5 Âm lịch Đền Chiêu Trưng hay đền Võ Mục, thuộc địa phận xã Kim Đôi, ngày nay là xã Thạch Kim, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Đền Chiêu Trưng là nơi thờ Lê Khôi, thuỵ là Võ Mục, con trai ông Lê Trừ là người anh trai thứ hai của anh hùng dân tộc Lê Lợi. Hàng năm, cứ đến ngày mồng 1, 2, 3 tháng 5 âm lịch người dân lại mở hội, đây cũng chính là ngày giỗ của ông. Lễ hội đền Chiêu Trưng là dịp để nhân dân địa phương giới thiệu về thân thế cũng như sự nghiệp và công lao to lớn của vị danh tướng Chiêu Trưng đại vương Lê Khôi. Cổng đền Chiêu Trưng ngày vào hội Lê Khôi là một trong những người đầu tiên tham gia nghĩa quân Lam Sơn, có tên trong danh sách Hội thề Lũng Nhai và là 1 trong 35 vị công thần khởi nghĩa. Ông đã làm quan trải qua 3 triều đại (vua Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông) ông từng nắm chức Khâm sai tiết chế thủy lục như dinh và Hộ vệ thượng tướng quân. Năm 1443, Lê Khôi nhậm chức Tổng trấn Hoan Châu, khi mới nhậm chức ông chú trọng phát triển nền nông nghiệp, chăm chỉ đắp đập khai hoang, lập làng. Năm 1446, phụng mệnhcủa vua Lê Nhân Tông, ông dẫn quân đi đánh Chiêm Thành nhưng trên đường trở kinh thì ông đã qua đời tại Cử Sót vì bị bệnh rất nặng. Thi hài của ông đã được an táng tại chóp núi Long Ngâm. Được tin Lê Khôi mất, vua Nhân Tông đã phát lệnh làm quốc tang và xây dựng đền thờ tại nơi ông mất. Năm 1487, vua Lê Thánh Tông sắc phong ông là “Chiêu Trưng đại vương”. Đền Chiêu Trưng gồm 3 toà được xây dựng từ năm 1477 (Đinh Mão), một năm sau khi Lê Khôi qua đời, ngôi đền đã qua nhiều lần trùng tu nhưng vẫn giữ được các kiến trúc cổ xưa ban đầu. Đám rước của bốn xã trong vùng Lễ hội đền Chiêu Trưng gồm hai phần: Phần lễ diễn ra một cách trang nghiêm và xúc động. Sau đám rước của bốn xã Thạch Bàn, Thạch Hải, Thạch Kim, Mai Phụ, từ các đền thờ vọng đến các điện thờ, đúng 2 giờ chiều, các vị chủ tế và bồi tế sẽ tiến hành làm lễ bái chiêu hồn tướng công trước sự chứng kiến của rất đông người dân và du khách trẩy hội. Lễ hội kết thúc vào ngày mồng 3 với phần tạ lễ của người dân trong vùng. Phần hội diễn ra một cách tưng bừng với các tiết mục nghệ thuật mang đậm màu sắc xứ Nghệ và nhiều trò chơi dân gian, các hoạt động thể thao là trò thu hút được nhiều người dân địa phương và du khách. Đội các cụ cao niên đang làm lễ tế Đến với lễ hội đền Chiêu Trưng, du khách còn được đắm mình trong danh thắng Quỳnh Viên - Nam Giới - Cửa Sót. Bởi thắng cảnh nơi này đã gắn liền với sự tích Chử Đồng Tử và công chúa Tiên Dung, và vườn Quỳnh Viên của Chử Đồng Tử

Đền Chiêu Trưng hay đền Võ Mục, thuộc địa phận xã Kim Đôi, ngày nay là xã Thạch Kim, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Đền Chiêu Trưng là nơi thờ Lê Khôi, thuỵ là Võ Mục, con trai ông Lê Trừ là người anh trai thứ hai của anh hùng dân tộc Lê Lợi. Hàng năm, cứ đến ngày mồng 1, 2, 3 tháng 5 âm lịch người dân lại mở hội, đây cũng chính là ngày giỗ của ông. Lễ hội đền Chiêu Trưng là dịp để nhân dân địa phương giới thiệu về thân thế cũng như sự nghiệp và công lao to lớn của vị danh tướng Chiêu Trưng đại vương Lê Khôi.

Cổng đền Chiêu Trưng ngày vào hội

Lê Khôi là một trong những người đầu tiên tham gia nghĩa quân Lam Sơn, có tên trong danh sách Hội thề Lũng Nhai và là 1 trong 35 vị công thần khởi nghĩa. Ông đã làm quan trải qua 3 triều đại (vua Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông) ông từng nắm chức Khâm sai tiết chế thủy lục như dinh và Hộ vệ thượng tướng quân. Năm 1443, Lê Khôi nhậm chức Tổng trấn Hoan Châu, khi mới nhậm chức ông chú trọng phát triển nền nông nghiệp, chăm chỉ đắp đập khai hoang, lập làng. Năm 1446, phụng mệnhcủa vua Lê Nhân Tông, ông dẫn quân đi đánh Chiêm Thành nhưng trên đường trở kinh thì ông đã qua đời tại Cử Sót vì bị bệnh rất nặng. Thi hài của ông đã được an táng tại chóp núi Long Ngâm. Được tin Lê Khôi mất, vua Nhân Tông đã phát lệnh làm quốc tang và xây dựng đền thờ tại nơi ông mất. Năm 1487, vua Lê Thánh Tông sắc phong ông là “Chiêu Trưng đại vương”. Đền Chiêu Trưng gồm 3 toà được xây dựng từ năm 1477 (Đinh Mão), một năm sau khi Lê Khôi qua đời, ngôi đền đã qua nhiều lần trùng tu nhưng vẫn giữ được các kiến trúc cổ xưa ban đầu. Đám rước của bốn xã trong vùng Lễ hội đền Chiêu Trưng gồm hai phần: Phần lễ diễn ra một cách trang nghiêm và xúc động. Sau đám rước của bốn xã Thạch Bàn, Thạch Hải, Thạch Kim, Mai Phụ, từ các đền thờ vọng đến các điện thờ, đúng 2 giờ chiều, các vị chủ tế và bồi tế sẽ tiến hành làm lễ bái chiêu hồn tướng công trước sự chứng kiến của rất đông người dân và du khách trẩy hội. Lễ hội kết thúc vào ngày mồng 3 với phần tạ lễ của người dân trong vùng. Phần hội diễn ra một cách tưng bừng với các tiết mục nghệ thuật mang đậm màu sắc xứ Nghệ và nhiều trò chơi dân gian, các hoạt động thể thao là trò thu hút được nhiều người dân địa phương và du khách. Đội các cụ cao niên đang làm lễ tế Đến với lễ hội đền Chiêu Trưng, du khách còn được đắm mình trong danh thắng Quỳnh Viên - Nam Giới - Cửa Sót. Bởi thắng cảnh nơi này đã gắn liền với sự tích Chử Đồng Tử và công chúa Tiên Dung, và vườn Quỳnh Viên của Chử Đồng Tử

Related Figures

Lễ hội rước sắc phong Vua Hàm Nghi

Thông tin thời kỳ

Hàng năm, vào ngày mồng 7 tháng giêng âm lịch, lễ hội rước sắc phong Vua Hàm Nghi lại diễn ra một cách nhộn nhịp và tưng bừng. Đây là một lễ hội truyền thống của người dân Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh, và cũng là một nét văn hoá tâm linh nổi bật ở miền Trung trong những ngày đầu xuân năm mới. Lễ hội rước sắc phong Vua Hàm Nghi tại Hà Tĩnh Trước đây, Lễ hội rước sắc phong Vua Hàm Nghi được tổ chức 2 năm một lần, nhưng từ năm 2010 trở đi, Lễ hội này đã diễn ra một thường niên, tại xã Phú Gia - nơi vua Hàm Nghi hạ chiếu Cần Vương vào năm Ất Dậu 1885, để đắp luỹ, xây thành, chiêu binh, tuyển tướng tăng sức mạnh quân đội để bảo vệ dinh luỹ; chặn giặc đường tiến quân của giặc từ Tuyên Hoá - Quảng Bình ra, đồng thời trấn an Quân đội, phòng đánh giặc từ Bắc ải tấn công vào. Tương truyền, sau khi vua Hàm Nghi từ bỏ ngai vàng, tạm biệt Mẫu Hậu đã cùng với quân thần yêu nước du ngoạn ra Hà Tĩnh, đến vùng đất xã Phú Gia. Vua cùng các quân thần ngự bôn với vị chủ tướng Tôn Thất Thuyết đã hoạt động ở đây được hơn 3 tháng, viết hịch Cần Vương cứu nước, đã tổ chức cuộc tấn công phá kho thóc của Nhật Tổng Chu Lễ phân phát cho dân. Nhưng trước sự tấn công quyết liệt của thực dân Pháp, vua Hàm Nghi buộc phải rời khỏi thành Sơn Phòng. Trước lúc rời thành, Vua Hàm Nghi đã sai Tôn Thất Thuyết vào đền Đức Thánh Mẫu tạ lễ 2 con voi bằng vàng có khối lượng 0,54kg, ban 2 đạo sắc, các thanh bảo kiếm, áo Hoàng bào của nhà Vua, nghê vàng và lục lạc bằng đồng đen. Đoàn rước sắc phong vua Hàm Nghi nổi bật với những là cờ đỏ tươi và trang phục lễ rực rỡ Ngày nay, các ẩn tích này vẫn còn được lưu giữ nguyên vẹn tại nhà của các cố đạo và quần thể di tích lịch sử Thành Sơn Phòng Hàm Nghi, đền Đức Thánh MẫuTrầm Lâm ở xã Phú Gia, đền Công Đồng Hội Sở, đã được nhà nước công nhận là di tích lịch sử Quốc Gia và đầu tư tu sửa, xây dựng lại. Hàng năm, cứ vào ngày mồng 07 tháng giêng các báu vật của Vua Hàm Nghi đang lưu giữ tại nhà cố đạo cũ đều được rước đến nhà cố đạo mới để bảo quản. Trước khi ccs báu vật này được rước tới nhà cố đạo mới người ta phải rước qua thành Sơn Phòng nơi thờ vua Hàm Nghi, đền Công Đồng Hội Sở để làm lễ. Sau đó, đến đền Đức Thánh Mẫu Trầm Lâm để làm lễ cúng vái tạ ơn người, việc này có ý nghĩa tượng trưng cho việc rước sắc phong vua, cầu cho dân tình được yên bình, người người hạnh phúc, xã hội yên bình, mưa thuận gió hòa. Người cất giữ báu vật của Vua Hàm Nghi phải được xét tuyển qua Lễ Hạ Nguyên được tổ chức vào tháng 12 âm lịch, trên mọi phương diện như đạo đức, những kiến thức văn hoá dân tộc, năng lực thờ phụng, khi xin keo ở trước Bàn thờ Vua Hàm Nghi phải được quẻ. các cụ chủ tế và bồi tế vừa đi vừa hát sắc bùa Lễ hội rước sắc phong Vua Hàm Nghi đã thu hút được rất đông người dân và du khách trẩy hội. Hai bên lề đường trên tuyến đường đoàn rước đi qua, có nhiều hộ dân đã tự nguyện bày lễ trầu cau, bánh kẹo, rượu, và thắp hương để nghênh đón người trong đoàn rước.

Hàng năm, vào ngày mồng 7 tháng giêng âm lịch, lễ hội rước sắc phong Vua Hàm Nghi lại diễn ra một cách nhộn nhịp và tưng bừng. Đây là một lễ hội truyền thống của người dân Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh, và cũng là một nét văn hoá tâm linh nổi bật ở miền Trung trong những ngày đầu xuân năm mới.

Lễ hội rước sắc phong Vua Hàm Nghi tại Hà Tĩnh

Trước đây, Lễ hội rước sắc phong Vua Hàm Nghi được tổ chức 2 năm một lần, nhưng từ năm 2010 trở đi, Lễ hội này đã diễn ra một thường niên, tại xã Phú Gia - nơi vua Hàm Nghi hạ chiếu Cần Vương vào năm Ất Dậu 1885, để đắp luỹ, xây thành, chiêu binh, tuyển tướng tăng sức mạnh quân đội để bảo vệ dinh luỹ; chặn giặc đường tiến quân của giặc từ Tuyên Hoá - Quảng Bình ra, đồng thời trấn an Quân đội, phòng đánh giặc từ Bắc ải tấn công vào. Tương truyền, sau khi vua Hàm Nghi từ bỏ ngai vàng, tạm biệt Mẫu Hậu đã cùng với quân thần yêu nước du ngoạn ra Hà Tĩnh, đến vùng đất xã Phú Gia. Vua cùng các quân thần ngự bôn với vị chủ tướng Tôn Thất Thuyết đã hoạt động ở đây được hơn 3 tháng, viết hịch Cần Vương cứu nước, đã tổ chức cuộc tấn công phá kho thóc của Nhật Tổng Chu Lễ phân phát cho dân. Nhưng trước sự tấn công quyết liệt của thực dân Pháp, vua Hàm Nghi buộc phải rời khỏi thành Sơn Phòng. Trước lúc rời thành, Vua Hàm Nghi đã sai Tôn Thất Thuyết vào đền Đức Thánh Mẫu tạ lễ 2 con voi bằng vàng có khối lượng 0,54kg, ban 2 đạo sắc, các thanh bảo kiếm, áo Hoàng bào của nhà Vua, nghê vàng và lục lạc bằng đồng đen. Đoàn rước sắc phong vua Hàm Nghi nổi bật với những là cờ đỏ tươi và trang phục lễ rực rỡ Ngày nay, các ẩn tích này vẫn còn được lưu giữ nguyên vẹn tại nhà của các cố đạo và quần thể di tích lịch sử Thành Sơn Phòng Hàm Nghi, đền Đức Thánh MẫuTrầm Lâm ở xã Phú Gia, đền Công Đồng Hội Sở, đã được nhà nước công nhận là di tích lịch sử Quốc Gia và đầu tư tu sửa, xây dựng lại. Hàng năm, cứ vào ngày mồng 07 tháng giêng các báu vật của Vua Hàm Nghi đang lưu giữ tại nhà cố đạo cũ đều được rước đến nhà cố đạo mới để bảo quản. Trước khi ccs báu vật này được rước tới nhà cố đạo mới người ta phải rước qua thành Sơn Phòng nơi thờ vua Hàm Nghi, đền Công Đồng Hội Sở để làm lễ. Sau đó, đến đền Đức Thánh Mẫu Trầm Lâm để làm lễ cúng vái tạ ơn người, việc này có ý nghĩa tượng trưng cho việc rước sắc phong vua, cầu cho dân tình được yên bình, người người hạnh phúc, xã hội yên bình, mưa thuận gió hòa. Người cất giữ báu vật của Vua Hàm Nghi phải được xét tuyển qua Lễ Hạ Nguyên được tổ chức vào tháng 12 âm lịch, trên mọi phương diện như đạo đức, những kiến thức văn hoá dân tộc, năng lực thờ phụng, khi xin keo ở trước Bàn thờ Vua Hàm Nghi phải được quẻ. các cụ chủ tế và bồi tế vừa đi vừa hát sắc bùa Lễ hội rước sắc phong Vua Hàm Nghi đã thu hút được rất đông người dân và du khách trẩy hội. Hai bên lề đường trên tuyến đường đoàn rước đi qua, có nhiều hộ dân đã tự nguyện bày lễ trầu cau, bánh kẹo, rượu, và thắp hương để nghênh đón người trong đoàn rước.

Related Figures

Lễ hội gò Đống Đa

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 5/1 Âm lịch Lễ hội gò Đống Đa ở Hà Nội, thường được tổ chức vào ngày mồng 5 tết Nguyên Đán tại khu di tích gò Đống Đa thuộc phường Quang Trung, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Đây là một lễ hội nhằm tưởng nhớ đến chiến công lẫy lừng của vua Quang Trung, người anh hùng áo vải trong lịch sử đã lãnh đạo nhân dân chống lại giặc ngoại xâm của dân tộc. Trong ngày Lễ hội gò Đống Đa có nhiều trò chơi vui, khoẻ, với tinh thần thượng võ. Trong đó, tiết mục rước Rồng lửa Thăng Long là một trong những màn biểu diễn độc đáo nhất. Từ sáng sớm, cửa đình làng Khương Thượng đã mở rộng, khói hương lan toả nghi ngút. Trước đình có treo một lá cờ hội lớn để chào mừng ngày hội của cả làng. Lễ rước kiệu được cử hành rất hoành tráng và trang nghiêm Hơn 200 năm trở về trước, vào năm 1789, Khương Thượng là một chiến trường đẫm máu. Đêm ngày mồng 4, rạng sáng ngày mồng 5 tết Kỷ Dậu (tức ngày 29, 30 tháng 2 năm 1789) đồn trại giặc đóng ở Khương Thượng đã bị quân ta phá huỷ khiến tên Thái thú Điền Châu Sầm Nghi Đống bại trận, phải thắt cổ tự tử ngay tại nơi đây. Từ đó, Gò Đống Đa đã trở thành một di tích lịch sử hào hùng, vẻ vang của dân tộc ta, đồng thời nơi đây cũng chính là một chứng tích ghi lại sự thất bại nhục nhã của giặc ngoại xâm. Vào buổi sáng ngày mở hội, các vị chức sắc và các bô lão của làng đã tề tựu đông đủ tại Gò Đống Đa để chuẩn bị cho cuộc đại lễ. Đến gần 12 giờ trưa ngày mồng 5, đoạn đường từ đình làng Khương Thượng đến gò Đống Đa người dân sẽ cử hành đám rước thần để mừng chiến thắng của nghĩa quân Quang Trung. Đám rước có rất đông người tham ra, đi thành một hàng dài, với những bộ trang phục lễ hội rực rỡ sắc màu trông rất đẹp mắt. Đoàn diễu hành đi rất chậm rãi, trật tự để thể hiện sự tôn nghiêm và để khách xem hội có thể chiêm ngưỡng bức tượng hoành tráng của lễ hội. Lễ hội gò Đống Đa còn hấp dẫn bởi tốp người đi sau cùng với một "Con Rồng lửa". Thanh niên của hai làng Khương Thượng và Đồng Quang, cùng nhau bện rơm để kết thành thành hình những con rồng lớn, được trang trí bằng các mo cau và loại giấy bồi. Một tốp thanh niên khác sẽ mặc y phục của lễ hội đi quanh đám rước Rồng lửa, họ biểu diễn côn quyền với mục đích tái hiện lại cảnh tượng của chiến trận năm xưa, biểu dương khí thế dũng mãnh của nghĩa quân Tây Sơn. Đây là một trò diễn độc đáo thu hút được sự quan tâm của lễ hội gò Đống Đa. Tiết mục múa rồng đặc sắc Ngày nay, trừ ngày giải phóng thủ đô (10-10-1954), lễ hội gò Đống Đa cũng được coi là quốc lễ của nước ta. Chính vì vậy, hàng năm, các cán bộ lãnh đạo của Đảng và Nhà nước đều tới dự và chủ trì các nghi thức của lễ hội gò Đống Đa. Là cá tổ quốc, cờ hội tung bay phấp phới như để hưởng ứng ngày hội và như là lời mời du khách muôn phương. Nằm đối diện với gò Đống Đa là chùa Đồng Quang, vào ngày hội gò Đống Đa, ngôi chùa này cũng toả hương khói nghi ngút, du khách thập phương và người dân ra vào tấp nập. Trong chùa Đồng Quang, các sư sẽ làm cháo cúng cho các cô hồn của quân giặc để thể hiện hiện sự nhân nghĩa trong truyền thống của đạo đức của dân tộc Việt. Trước bức tượng lớn vua Quang Trung , nhân dân và khác xem hội cũng tới dâng hoa và thắp hương tưởng niệm rất đông. Sau khi cử hành các nghi thức lễ trang trọng xong, ban tổ chức sẽ bắt đầu mở phần hội, là các trò chơi và màn biểu diễn nghệ thuật như múa rồng, múa lân, đầu vật, chọi gà, cờ người. Quê hương của anh hùng áo vải Quang Trung - Nguyễn Huệ là Bình Khê, Bình Định. Ở Bình Định, nhân dân đã cho xây dựng nhà thờ ba anh em nhà Tây Sơn là Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc và Nguyễn Lữ. Hàng năm, cứ đến ngày mồng 5 tết Nguyên Đán, nhân dân khắp nơi lại đổ về đây để dâng hương và lễ vật lên các vị anh hùng nghĩa sĩ để bày tỏ lòng biết ơn và ôn lại những trang sử hào hùng của dân tộc. Người dân nơi đây còn tổ chức các cuộc thi đánh trống, đấu võ, côn quyền... để thể hiện tinh thần thượng võ, kế truyền truyền thống từ ông cha. Ban tế lễ và các đoàn lễ cùng dâng hương lên vua Quang Trung Ngày nay, đến xem hội Đống Đa đối với người Hà Nội mà nói đã trở thành một niềm vui trong những ngày đầu xuân.

Lễ hội gò Đống Đa ở Hà Nội, thường được tổ chức vào ngày mồng 5 tết Nguyên Đán tại khu di tích gò Đống Đa thuộc phường Quang Trung, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Đây là một lễ hội nhằm tưởng nhớ đến chiến công lẫy lừng của vua Quang Trung, người anh hùng áo vải trong lịch sử đã lãnh đạo nhân dân chống lại giặc ngoại xâm của dân tộc.

Trong ngày Lễ hội gò Đống Đa có nhiều trò chơi vui, khoẻ, với tinh thần thượng võ. Trong đó, tiết mục rước Rồng lửa Thăng Long là một trong những màn biểu diễn độc đáo nhất. Từ sáng sớm, cửa đình làng Khương Thượng đã mở rộng, khói hương lan toả nghi ngút. Trước đình có treo một lá cờ hội lớn để chào mừng ngày hội của cả làng. Lễ rước kiệu được cử hành rất hoành tráng và trang nghiêm Hơn 200 năm trở về trước, vào năm 1789, Khương Thượng là một chiến trường đẫm máu. Đêm ngày mồng 4, rạng sáng ngày mồng 5 tết Kỷ Dậu (tức ngày 29, 30 tháng 2 năm 1789) đồn trại giặc đóng ở Khương Thượng đã bị quân ta phá huỷ khiến tên Thái thú Điền Châu Sầm Nghi Đống bại trận, phải thắt cổ tự tử ngay tại nơi đây. Từ đó, Gò Đống Đa đã trở thành một di tích lịch sử hào hùng, vẻ vang của dân tộc ta, đồng thời nơi đây cũng chính là một chứng tích ghi lại sự thất bại nhục nhã của giặc ngoại xâm. Vào buổi sáng ngày mở hội, các vị chức sắc và các bô lão của làng đã tề tựu đông đủ tại Gò Đống Đa để chuẩn bị cho cuộc đại lễ. Đến gần 12 giờ trưa ngày mồng 5, đoạn đường từ đình làng Khương Thượng đến gò Đống Đa người dân sẽ cử hành đám rước thần để mừng chiến thắng của nghĩa quân Quang Trung. Đám rước có rất đông người tham ra, đi thành một hàng dài, với những bộ trang phục lễ hội rực rỡ sắc màu trông rất đẹp mắt. Đoàn diễu hành đi rất chậm rãi, trật tự để thể hiện sự tôn nghiêm và để khách xem hội có thể chiêm ngưỡng bức tượng hoành tráng của lễ hội. Lễ hội gò Đống Đa còn hấp dẫn bởi tốp người đi sau cùng với một "Con Rồng lửa". Thanh niên của hai làng Khương Thượng và Đồng Quang, cùng nhau bện rơm để kết thành thành hình những con rồng lớn, được trang trí bằng các mo cau và loại giấy bồi. Một tốp thanh niên khác sẽ mặc y phục của lễ hội đi quanh đám rước Rồng lửa, họ biểu diễn côn quyền với mục đích tái hiện lại cảnh tượng của chiến trận năm xưa, biểu dương khí thế dũng mãnh của nghĩa quân Tây Sơn. Đây là một trò diễn độc đáo thu hút được sự quan tâm của lễ hội gò Đống Đa. Tiết mục múa rồng đặc sắc Ngày nay, trừ ngày giải phóng thủ đô (10-10-1954), lễ hội gò Đống Đa cũng được coi là quốc lễ của nước ta. Chính vì vậy, hàng năm, các cán bộ lãnh đạo của Đảng và Nhà nước đều tới dự và chủ trì các nghi thức của lễ hội gò Đống Đa. Là cá tổ quốc, cờ hội tung bay phấp phới như để hưởng ứng ngày hội và như là lời mời du khách muôn phương. Nằm đối diện với gò Đống Đa là chùa Đồng Quang, vào ngày hội gò Đống Đa, ngôi chùa này cũng toả hương khói nghi ngút, du khách thập phương và người dân ra vào tấp nập. Trong chùa Đồng Quang, các sư sẽ làm cháo cúng cho các cô hồn của quân giặc để thể hiện hiện sự nhân nghĩa trong truyền thống của đạo đức của dân tộc Việt. Trước bức tượng lớn vua Quang Trung , nhân dân và khác xem hội cũng tới dâng hoa và thắp hương tưởng niệm rất đông. Sau khi cử hành các nghi thức lễ trang trọng xong, ban tổ chức sẽ bắt đầu mở phần hội, là các trò chơi và màn biểu diễn nghệ thuật như múa rồng, múa lân, đầu vật, chọi gà, cờ người. Quê hương của anh hùng áo vải Quang Trung - Nguyễn Huệ là Bình Khê, Bình Định. Ở Bình Định, nhân dân đã cho xây dựng nhà thờ ba anh em nhà Tây Sơn là Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc và Nguyễn Lữ. Hàng năm, cứ đến ngày mồng 5 tết Nguyên Đán, nhân dân khắp nơi lại đổ về đây để dâng hương và lễ vật lên các vị anh hùng nghĩa sĩ để bày tỏ lòng biết ơn và ôn lại những trang sử hào hùng của dân tộc. Người dân nơi đây còn tổ chức các cuộc thi đánh trống, đấu võ, côn quyền... để thể hiện tinh thần thượng võ, kế truyền truyền thống từ ông cha. Ban tế lễ và các đoàn lễ cùng dâng hương lên vua Quang Trung Ngày nay, đến xem hội Đống Đa đối với người Hà Nội mà nói đã trở thành một niềm vui trong những ngày đầu xuân.

Related Figures

Lễ hội Chùa Hương

Thông tin thời kỳ

Hội chùa Hương được tổ chức từ ngày mồng 6 tháng Giêng và kéo dài đến hạ tuần tháng Ba âm lịch hàng năm, tại địa bàn xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội. Ngày mồng 6 tháng Giêng sẽ là ngày khai hội. Mỗi khi dịp lễ hội Chùa Hương đến có hàng triệu phật tử và du khách từ khắp nơi trong nước lại nô nức kéo nhau về đây trẩy hội. Hành trình tìm về miền đất Phật, là nơi Bồ Tát Quan Thế Âm đã ứng hiện tu hành, để dâng lên Người những lời nguyện cầu, một nén thay lòng thành kính, hoặc thả hồn vào với thiên nhiên ở một vùng non nước hữu tình còn in dấu Phật. Lễ hội Chùa Hương tại Hà Nội Thời điểm Chùa Hương đông khách nhất đó là từ 15 tháng riêng đến 18 tháng 2 âm lịch. Những ngày này vốn là ngày lễ khai sơn hay lễ mở cửa rừng của địa phương nơi đây. Đến nay, nghi lễ mở cửa rừng này có hàm nghĩa mới là mở cửa chùa. Phần lễ của lễ hội chùa Hương được thực hiện rất đơn giản. Trước ngày mở hội 1 ngày, từ các đền, chùa cho đến đình, miếu khói hương lan tỏa nghi ngút, không khí ngày hội đã bao trùm cả xã Hương Sơn. Xã Hương Sơn là xã đang trực tiếp quản lý điểm du lịch chùa Hương. Trước khi vào chùa hành lễ, du khách đều phải nghỉ lại tại các làng quanh bến Yến, bến Đục. Do đó, đi hội chùa Hương du khách và Phật tử đều dễ dàng hòa mình vào bầu không khí của hội làng truyền thống. Trong ngôi chùa Trong có nghi lễ dâng hương, gồm hương, đèn, hoa, nến, hoa quả và đồ chay. Khi cử hành lễ cúng sẽ có 2 tăng ni mặc áo cà sa mang đồ lễ chay lên đàn rồi sau đó mới dâng đồ lễ lên bàn thờ. Trong lúc chạy đàn cả hai vị tăng ni còn biểu diễn những điệu múa rất dẻo và trông rất đẹp mắt. Từ ngày mở hội cho đến ngày vãn hội, thỉnh thoảng mới có nhà sư ở các chùa khác đến gõ mõ tụng kinh chứ không phải ngày nào cũng có. Trong chùa hương khói lúc nào cũng tỏa ra nghi ngút. Về phần lễ thiên về "thiền". Nhưng ở các chùa ngoài lại thờ phụng các vị sơn thần thượng đẳng. Đền Cửa Vòng được xem là "chân long linh từ”, là nơi thờ bà chúa Thượng Nguổn, là người cai quản cả một vùng rừng núi bao quanh địa phương này với cái tên "tì nữ tuý Hồng" của sơn thần. Chùa Tuyết Sơn, Chùa Bắc Đài, chùa Cả và đình Quân là nơi thờ ngũ hổ và tín ngưỡng với loài cá thần. Các nghệ nhân đang biểu diễn các tiết mục nghệ thuật truyền thống trong ngày hội Như vậy, phần lễ là toàn bộ hệ thống tín ngưỡng như là một tổng thể tôn giáo của Việt Nam; có tín ngưỡng đối với tự nhiên, có Đạo giáo, có Phật giáo và cả Nho gia. Nhưng những tính chất tôn giáo này lại có phần bị tình yêu thiên nhiên, tình cảm cộng đồng hay tinh yêu trai gái… rất trần tục đang dần lấn đi. Ngày vào hội, làng tổ chức lễ rước thần từ đền ra đến đình. Cờ trống dẫn đầu, theo sau là dàn nhạc bát âm, trai thanh gái lịch khiêng kiệu, ông già, bà già thành tâm tôn kính tiễn thần. Không khí lúc ấy khiến tâm linh của mọi người trở nên sảng khoái. Trong lễ hội còn có rước văn và rước lễ. Người làng sau khi dinh kiệu đến nhà ông soạn văn tế sẽ rước bản văn tế này ra đền để chủ tế đọc to một cách trịnh trọng. Trong suốt những ngày diễn ra lễ hội, sự vui tươi, nồng nhiệt của giới trẻ, là sự thành kính , tôn nghiêm của các bậc cao niên, là sự hoan hỷ mà các cụ ông phụ lão ai ai cũng có. Lễ hội chùa Hương còn là nơi hội tụ các các hoạt động văn hóa dân tộc độc đáo của nhiều địa phương như: leo núi, bơi thuyền... các chiếu hát chèo hay hát văn … Chùa Hương là nơi có non nước hữu tình Vào những ngày hội, chùa Hương lúc nào cũng tấp nập người ra vào trên hàng trăm con thuyền. Nét độc đáo nhất của hội chùa Hương chính là thú vui lkhi ngồi thuyền vãng cảnh, như lạc vào cõi tiên, cõi Phật. Chính vì thế, khi nhắc đến chùa Hương có người nghĩ đến con đò. Cho đến nay, hội bơi thuyền của chùa Hương vẫn luôn tạo được cảm hứng mãnh liệt cho người xem hội. Khi bước chân xuống khỏi con thuyền, từ giã sông nước, con người như được hòa nhập vào cảnh đồi núi nhấp nhô và chùa chiền, họ bắt đầu hành trình mới là leo núi. Leo núi thăm hang, thăm động vãn cảnh đẹp. Trong bầu không khí linh thiêng và tưng bừng của ngày hội. Ở bất cứ nơi nào như sân chùa hay sân nhà tổ, các chiếu hát chèo đò lại được mở ra để khách thập phương được thưởng thức làn điệu truyền thống. Các vãi có giọng hay sẽ đứng dậy biểu diễn các động tác chèo đò, sau đó hát một số đoạn văn trên 6 dưới 8 kể về đến tích nhà Phật. Đây là một nét sinh hoạt độc đáo rất được các vãi hâm mộ. Hàng năm cứ vào dịp lễ hội chùa hương lại có hàng triệu khách thập phương và Phật tử về Chùa Hương dự hội Có thể thấy rằng, trẩy hội chùa Hương không chỉ để người dân đến thăm quan chốn Phật đài mà quan trọng hơn là nơi hòa nhập huyền diệu giữa con người với con người và con người với thiên nhiên cao rộng. Đó chính là vẻ đẹp lung linh, thơ mộng của sông nước, bao la của trời đất , sự trùng điệp núi rừng, huyền bí của các hang động… Và dường như cảnh non nước, sông núi đã khiến con người quên đi những bộn bề của cuộc sống.

Hội chùa Hương được tổ chức từ ngày mồng 6 tháng Giêng và kéo dài đến hạ tuần tháng Ba âm lịch hàng năm, tại địa bàn xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội. Ngày mồng 6 tháng Giêng sẽ là ngày khai hội. Mỗi khi dịp lễ hội Chùa Hương đến có hàng triệu phật tử và du khách từ khắp nơi trong nước lại nô nức kéo nhau về đây trẩy hội. Hành trình tìm về miền đất Phật, là nơi Bồ Tát Quan Thế Âm đã ứng hiện tu hành, để dâng lên Người những lời nguyện cầu, một nén thay lòng thành kính, hoặc thả hồn vào với thiên nhiên ở một vùng non nước hữu tình còn in dấu Phật.

Lễ hội Chùa Hương tại Hà Nội

Thời điểm Chùa Hương đông khách nhất đó là từ 15 tháng riêng đến 18 tháng 2 âm lịch. Những ngày này vốn là ngày lễ khai sơn hay lễ mở cửa rừng của địa phương nơi đây. Đến nay, nghi lễ mở cửa rừng này có hàm nghĩa mới là mở cửa chùa. Phần lễ của lễ hội chùa Hương được thực hiện rất đơn giản. Trước ngày mở hội 1 ngày, từ các đền, chùa cho đến đình, miếu khói hương lan tỏa nghi ngút, không khí ngày hội đã bao trùm cả xã Hương Sơn. Xã Hương Sơn là xã đang trực tiếp quản lý điểm du lịch chùa Hương. Trước khi vào chùa hành lễ, du khách đều phải nghỉ lại tại các làng quanh bến Yến, bến Đục. Do đó, đi hội chùa Hương du khách và Phật tử đều dễ dàng hòa mình vào bầu không khí của hội làng truyền thống. Trong ngôi chùa Trong có nghi lễ dâng hương, gồm hương, đèn, hoa, nến, hoa quả và đồ chay. Khi cử hành lễ cúng sẽ có 2 tăng ni mặc áo cà sa mang đồ lễ chay lên đàn rồi sau đó mới dâng đồ lễ lên bàn thờ. Trong lúc chạy đàn cả hai vị tăng ni còn biểu diễn những điệu múa rất dẻo và trông rất đẹp mắt. Từ ngày mở hội cho đến ngày vãn hội, thỉnh thoảng mới có nhà sư ở các chùa khác đến gõ mõ tụng kinh chứ không phải ngày nào cũng có. Trong chùa hương khói lúc nào cũng tỏa ra nghi ngút. Về phần lễ thiên về "thiền". Nhưng ở các chùa ngoài lại thờ phụng các vị sơn thần thượng đẳng. Đền Cửa Vòng được xem là "chân long linh từ”, là nơi thờ bà chúa Thượng Nguổn, là người cai quản cả một vùng rừng núi bao quanh địa phương này với cái tên "tì nữ tuý Hồng" của sơn thần. Chùa Tuyết Sơn, Chùa Bắc Đài, chùa Cả và đình Quân là nơi thờ ngũ hổ và tín ngưỡng với loài cá thần. Các nghệ nhân đang biểu diễn các tiết mục nghệ thuật truyền thống trong ngày hội Như vậy, phần lễ là toàn bộ hệ thống tín ngưỡng như là một tổng thể tôn giáo của Việt Nam; có tín ngưỡng đối với tự nhiên, có Đạo giáo, có Phật giáo và cả Nho gia. Nhưng những tính chất tôn giáo này lại có phần bị tình yêu thiên nhiên, tình cảm cộng đồng hay tinh yêu trai gái… rất trần tục đang dần lấn đi. Ngày vào hội, làng tổ chức lễ rước thần từ đền ra đến đình. Cờ trống dẫn đầu, theo sau là dàn nhạc bát âm, trai thanh gái lịch khiêng kiệu, ông già, bà già thành tâm tôn kính tiễn thần. Không khí lúc ấy khiến tâm linh của mọi người trở nên sảng khoái. Trong lễ hội còn có rước văn và rước lễ. Người làng sau khi dinh kiệu đến nhà ông soạn văn tế sẽ rước bản văn tế này ra đền để chủ tế đọc to một cách trịnh trọng. Trong suốt những ngày diễn ra lễ hội, sự vui tươi, nồng nhiệt của giới trẻ, là sự thành kính , tôn nghiêm của các bậc cao niên, là sự hoan hỷ mà các cụ ông phụ lão ai ai cũng có. Lễ hội chùa Hương còn là nơi hội tụ các các hoạt động văn hóa dân tộc độc đáo của nhiều địa phương như: leo núi, bơi thuyền... các chiếu hát chèo hay hát văn … Chùa Hương là nơi có non nước hữu tình Vào những ngày hội, chùa Hương lúc nào cũng tấp nập người ra vào trên hàng trăm con thuyền. Nét độc đáo nhất của hội chùa Hương chính là thú vui lkhi ngồi thuyền vãng cảnh, như lạc vào cõi tiên, cõi Phật. Chính vì thế, khi nhắc đến chùa Hương có người nghĩ đến con đò. Cho đến nay, hội bơi thuyền của chùa Hương vẫn luôn tạo được cảm hứng mãnh liệt cho người xem hội. Khi bước chân xuống khỏi con thuyền, từ giã sông nước, con người như được hòa nhập vào cảnh đồi núi nhấp nhô và chùa chiền, họ bắt đầu hành trình mới là leo núi. Leo núi thăm hang, thăm động vãn cảnh đẹp. Trong bầu không khí linh thiêng và tưng bừng của ngày hội. Ở bất cứ nơi nào như sân chùa hay sân nhà tổ, các chiếu hát chèo đò lại được mở ra để khách thập phương được thưởng thức làn điệu truyền thống. Các vãi có giọng hay sẽ đứng dậy biểu diễn các động tác chèo đò, sau đó hát một số đoạn văn trên 6 dưới 8 kể về đến tích nhà Phật. Đây là một nét sinh hoạt độc đáo rất được các vãi hâm mộ. Hàng năm cứ vào dịp lễ hội chùa hương lại có hàng triệu khách thập phương và Phật tử về Chùa Hương dự hội Có thể thấy rằng, trẩy hội chùa Hương không chỉ để người dân đến thăm quan chốn Phật đài mà quan trọng hơn là nơi hòa nhập huyền diệu giữa con người với con người và con người với thiên nhiên cao rộng. Đó chính là vẻ đẹp lung linh, thơ mộng của sông nước, bao la của trời đất , sự trùng điệp núi rừng, huyền bí của các hang động… Và dường như cảnh non nước, sông núi đã khiến con người quên đi những bộn bề của cuộc sống.

Related Figures

Lễ hội Chùa Láng

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 7/3 Âm lịch Cứ đến ngày mồng 7 tháng 3 âm lịch, người dân làng Láng lại tưng bừng mở hội Chùa Láng, tại ngôi chùa Láng thuộc phường Láng Thượng, Đống Đa, Hà Nội. Tương truyền, ngày mồng 7 tháng 3 chính là ngày sinh cùa Thiền sư Từ đạo Hạnh, người được tôn thánh của làng Láng, ngôi chùa Láng cũng chính là nơi thờ phụng vị thiền sư này. Lễ hội Chùa Láng tại Hà Nội Theo tài liệu cũ có ghi chép lại : Hội Láng không phải là lễ hội được tổ chức hàng năm mà cứ phải 10 năm, 15 năm với tổ chức 1 lần, nhất là vào những nămmưa thuận gió hoà, khi vận hội thanh bình và người người, nhà nhà được no ấm hội mới mở hội. Hội Chùa Láng được mở cùng ngày với lễ hội chùa Thầy, nơi tu hành của thiền sư Từ Đạo Hạnh. Việc chuẩn bị cho lễ hội được người dân làng Láng thực hiện rất công phu, ví dụ: phải có đủ các loại pháo để bắn trong khoảng nửa giờ đồng hồ trong nghi lễ đấu thần, việc lựa chọn và huấn luyện hai bộ đô tuỳ nội và tùy ngoại. Bộ đô tuỳ nội gồm 18 trai đinh, là những người vẫn đang còn chịu tang, tượng trưng cho ý nghĩa để tang cho Thánh phụ (Từ Vinh), tùy nội sẽ rước kiệu từ chùa Láng tới cống Cót, sau đó độ hà sang sông, chuyển kiệu cho đô tuỳ ngoại gồm có 36 người (18 người dự bị), sẽ rước kiệu đi đến Dịch Vọng Hậu, sau đó lại rước trở về chùa Cả. Khuôn biên Chùa Láng Ngày mồng 5 là ngày bắt đầu hội, kiệu Thánh sẽ được rước lên chùa Nền trước, với ngụ ý để ông thăm lại nơi Ngài chào đời. Ngày hôm sau lại rước kiệu Thánh xuống chùa Tam Huyền thuộc làng Mọc để thăm quê của cha. Trong hai ngày này chỉ rước bát hương chứ không rước tượng. Tối ngày mồng 6, tượng ngài trong chùa Cả sẽ được rước ngự đến nhà bát giác để mời Thánh chiêm ngưỡng tiết mục múa hát của mười cô gái với xiêm y lộng lẫy biểu diễn. Ngày mồng 7, là ngày chính hội, sẽ có đám rước lớn, dẫn đầu là hai lá cờ tiết mao. Theo sau là hai hàng chiêng trống. Còn có cả con đĩ đánh bồng và đoàn long đình gồm cờ, quạt, phướn, lọng đi theo sau. Lễ hội chùa Láng trên thực tế là lễ hội mùa xuân nhiều làng sinh sống ở hai bên bờ sông Tô Lịch trước kia, chính vì vậy lễ hội có những nét văn hóa khác lạ. Từ chùa ra đến đường cái đám rước phải di chuyển rất chậm, ra tới cổng làng thì tốc độ di chuyển mới tăng dần lên. Vừa có lễ dâng lên Thánh, vừa có lễ dâng lên Phật lại vừa có lễ dâng lên thiên tử để tượng trưng cho 3 kiếp hoá của Thiền sư Từ Đạo Hạnh Các đoàn làm lễ rực rỡ trong những bộ y phục lễ hội Những cái độc đáo tạo nên nét đặc sắc riêng của lễ hội Chùa Láng chính là hình thức trình diễn đấu thần. Khi đến cửa chùa Thánh Tổ ( nơi thờ Đại Điên) đám rước sẽ dừng lại, khi hồi pháo lệnh vang lên, theo đó hàng loạt loài pháo thăng thiên, pháo chuột sẽ được đốt để phóng sang chùa Thánh Tổ, sang phía kiệu Đại Điên đang núp. Đúng giờ chính ngọ (12 giờ trưa) đám rước sẽ di chuyển thật nhanh về phía chùa Cả. Đêm đó có tổ chức hát chèo vãn hội. Hội Láng đã cho thấy sự sinh động trong cảnh sinh hoạt văn hóa, tâm linh và tinh thần của người Việt ở đời Lý. Thời xưa, dường như Đời và Đạo hoà cùng nhau làm nên một chỉnh thể, chính vì thế những ngôi chùa ở dọc hai bên bờ Tô giang đều có liên quan đến sự tích thiền sư Từ Đạo Hạnh, ngày nay vẫn được dân gian gọi là đền. Hình thức hội chùa Láng được liệt kê vào hệ thống các phong tục hội hè đặc sắc miền phụ cận kinh thành Thăng Long. Trải qua nhiều đời, hội Láng đã góp phần làm giàu sinh hoạt văn hoá dân gian của dân tộc.

Cứ đến ngày mồng 7 tháng 3 âm lịch, người dân làng Láng lại tưng bừng mở hội Chùa Láng, tại ngôi chùa Láng thuộc phường Láng Thượng, Đống Đa, Hà Nội. Tương truyền, ngày mồng 7 tháng 3 chính là ngày sinh cùa Thiền sư Từ đạo Hạnh, người được tôn thánh của làng Láng, ngôi chùa Láng cũng chính là nơi thờ phụng vị thiền sư này.

Lễ hội Chùa Láng tại Hà Nội

Theo tài liệu cũ có ghi chép lại : Hội Láng không phải là lễ hội được tổ chức hàng năm mà cứ phải 10 năm, 15 năm với tổ chức 1 lần, nhất là vào những nămmưa thuận gió hoà, khi vận hội thanh bình và người người, nhà nhà được no ấm hội mới mở hội. Hội Chùa Láng được mở cùng ngày với lễ hội chùa Thầy, nơi tu hành của thiền sư Từ Đạo Hạnh. Việc chuẩn bị cho lễ hội được người dân làng Láng thực hiện rất công phu, ví dụ: phải có đủ các loại pháo để bắn trong khoảng nửa giờ đồng hồ trong nghi lễ đấu thần, việc lựa chọn và huấn luyện hai bộ đô tuỳ nội và tùy ngoại. Bộ đô tuỳ nội gồm 18 trai đinh, là những người vẫn đang còn chịu tang, tượng trưng cho ý nghĩa để tang cho Thánh phụ (Từ Vinh), tùy nội sẽ rước kiệu từ chùa Láng tới cống Cót, sau đó độ hà sang sông, chuyển kiệu cho đô tuỳ ngoại gồm có 36 người (18 người dự bị), sẽ rước kiệu đi đến Dịch Vọng Hậu, sau đó lại rước trở về chùa Cả. Khuôn biên Chùa Láng Ngày mồng 5 là ngày bắt đầu hội, kiệu Thánh sẽ được rước lên chùa Nền trước, với ngụ ý để ông thăm lại nơi Ngài chào đời. Ngày hôm sau lại rước kiệu Thánh xuống chùa Tam Huyền thuộc làng Mọc để thăm quê của cha. Trong hai ngày này chỉ rước bát hương chứ không rước tượng. Tối ngày mồng 6, tượng ngài trong chùa Cả sẽ được rước ngự đến nhà bát giác để mời Thánh chiêm ngưỡng tiết mục múa hát của mười cô gái với xiêm y lộng lẫy biểu diễn. Ngày mồng 7, là ngày chính hội, sẽ có đám rước lớn, dẫn đầu là hai lá cờ tiết mao. Theo sau là hai hàng chiêng trống. Còn có cả con đĩ đánh bồng và đoàn long đình gồm cờ, quạt, phướn, lọng đi theo sau. Lễ hội chùa Láng trên thực tế là lễ hội mùa xuân nhiều làng sinh sống ở hai bên bờ sông Tô Lịch trước kia, chính vì vậy lễ hội có những nét văn hóa khác lạ. Từ chùa ra đến đường cái đám rước phải di chuyển rất chậm, ra tới cổng làng thì tốc độ di chuyển mới tăng dần lên. Vừa có lễ dâng lên Thánh, vừa có lễ dâng lên Phật lại vừa có lễ dâng lên thiên tử để tượng trưng cho 3 kiếp hoá của Thiền sư Từ Đạo Hạnh Các đoàn làm lễ rực rỡ trong những bộ y phục lễ hội Những cái độc đáo tạo nên nét đặc sắc riêng của lễ hội Chùa Láng chính là hình thức trình diễn đấu thần. Khi đến cửa chùa Thánh Tổ ( nơi thờ Đại Điên) đám rước sẽ dừng lại, khi hồi pháo lệnh vang lên, theo đó hàng loạt loài pháo thăng thiên, pháo chuột sẽ được đốt để phóng sang chùa Thánh Tổ, sang phía kiệu Đại Điên đang núp. Đúng giờ chính ngọ (12 giờ trưa) đám rước sẽ di chuyển thật nhanh về phía chùa Cả. Đêm đó có tổ chức hát chèo vãn hội. Hội Láng đã cho thấy sự sinh động trong cảnh sinh hoạt văn hóa, tâm linh và tinh thần của người Việt ở đời Lý. Thời xưa, dường như Đời và Đạo hoà cùng nhau làm nên một chỉnh thể, chính vì thế những ngôi chùa ở dọc hai bên bờ Tô giang đều có liên quan đến sự tích thiền sư Từ Đạo Hạnh, ngày nay vẫn được dân gian gọi là đền. Hình thức hội chùa Láng được liệt kê vào hệ thống các phong tục hội hè đặc sắc miền phụ cận kinh thành Thăng Long. Trải qua nhiều đời, hội Láng đã góp phần làm giàu sinh hoạt văn hoá dân gian của dân tộc.

Related Figures

Hội làng Triều Khúc

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 9/1- 12/1 Âm lịch Hội làng Triều Khúc tại Hà Nội được tổ chức từ ngày mồng 9 đến ngày 12 tháng Giêng âm lịch, định kỳ 3 năm 1 lần. Đình Triều Khúc là nơi thờ Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng, người đã đánh thắng quân giặc và lên ngôi vua, vì để biết ơn công lao của ông, dân làng nơi đây đã suy tôn ông là thành hoàng và thờ cúng ông. Hội làng Triều Khúc tại Hà Nội Ngày mồng 9 tháng Giêng, cửa đình Triều Khúc sẽ mở cửa để người dân đến lau chùi và cử hành lễ “Nhập tịch”. Sáng ngày mồng 10, người dân tề tựu đông đủ tại Đại đình để tiến hành lễ tế chính thức. Theo truyền thuyết lưu truyền thì đây là lễ Tức vị (tức là Lễ lên ngôi vua) của Phùng Hưng. Đám rước được tổ chức rất long trọng, với đầy đủ các nghi lễ cần thiết như: rước mũ, áo hoàng đế của Bố Cái Đại Vương ở đình Sắc đưa về đình Đại. Các cụ ông, cụ bà các chàng trai, cô gái trong làng đều ăn mặc đẹp theo đúng nghi thức của hội lễ: quần lụa, áo gấm, áo the, hài thêu hoa văn rất cầu kì, rực rỡ. Đoàn khiêng kiệu toàn là thanh niên trai tráng chưa có gia đình, vừa rước kiệu vừa nghi trượng che lọng vàng, lọng tía... vừa múa các điệu múa cổ như: múa sênh tiền, múa trống bồng, trong tiếng nhạc hội réo rắt của đội nhạc lễ. Điều khác lạ ở đám rước này là người rước đi ở hai bên vừa đi vừa quay mặt vào nhau. Khi đám rước tới nơi, các bô lão sẽ kính cẩn đọc bài văn tế, làm lễ dâng hương rồi mở hòm sắt, lấy bút ra để bắt đầu cuộc tế lễ. Tiết mục múa rồng trong ngày hội làng Triều Khúc Ngoài phần lễ ra còn có phần hội. Phần hội diễn ra với không khí rộn ràng hơn, vui tươi hơn với nhiều điệu múa cổ như: múa lân, múa rồng, múa bồng, múa sênh tiền, múa chạy cờ. Điều đáng chú ý nhất trong lễ hội này là màn múa “con đĩ đánh bồng”, một điệu múa mang tính ước lệ cao. Sở dĩ điệu múa nam giả nữ để biểu diễn, là vì thời xưa giới cấm nữ giới không được tham dự vào chốn linh thiêng. Hơn nữa, mặc dù các chàng trai giả gái, nhưng những động tác của họ lại toát lên phong thái của đấng nam nhi, với tinh thần thượng võ. Phụ nữ khó có thể thể hiện được phong thái này. Ngày 12 là ngày vãn hội. Dân làng sẽ làm lễ giã đám để kết thúc hội bằng điệu múa cờ. Điệu múa cờ là để tượng trưng cho sự tích Phùng Hưng kén hiền tài bổ xung vào quân ngũ trước khi ông đưa quân đi quyết chiến với quân giặc nhà Đường do Cao Chính Bình làm thủ lĩnh. Kết thúc ngày hội, người dân trong làng tụ họp lại sân đình để hưởng miếng lộc thánh, hy vọng sẽ gặp may mắn và làm ăn phát tài trong năm mới. Màn múa Con đĩa đánh bồng do các nam thanh niên biểu diễn là phần ấn tượng nhất trong lễ hội làng Triều Khúc Hội làng Triều Khúc đến nay vẫn còn giữ được nét nguyên sơ nhất của một lễ hội truyền thống, nó mang đậm cốt cách, vẻ đẹp tâm linh của thủ đô nghìn năm văn hiến. Nét nguyên sơ ấy đã được người dân làng Triều Khúc lưu truyền đến ngày nay, và còn mãi lưu truyền về sau ở vùng quê cổ kính này.

Hội làng Triều Khúc tại Hà Nội được tổ chức từ ngày mồng 9 đến ngày 12 tháng Giêng âm lịch, định kỳ 3 năm 1 lần. Đình Triều Khúc là nơi thờ Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng, người đã đánh thắng quân giặc và lên ngôi vua, vì để biết ơn công lao của ông, dân làng nơi đây đã suy tôn ông là thành hoàng và thờ cúng ông.

Hội làng Triều Khúc tại Hà Nội

Ngày mồng 9 tháng Giêng, cửa đình Triều Khúc sẽ mở cửa để người dân đến lau chùi và cử hành lễ “Nhập tịch”. Sáng ngày mồng 10, người dân tề tựu đông đủ tại Đại đình để tiến hành lễ tế chính thức. Theo truyền thuyết lưu truyền thì đây là lễ Tức vị (tức là Lễ lên ngôi vua) của Phùng Hưng. Đám rước được tổ chức rất long trọng, với đầy đủ các nghi lễ cần thiết như: rước mũ, áo hoàng đế của Bố Cái Đại Vương ở đình Sắc đưa về đình Đại. Các cụ ông, cụ bà các chàng trai, cô gái trong làng đều ăn mặc đẹp theo đúng nghi thức của hội lễ: quần lụa, áo gấm, áo the, hài thêu hoa văn rất cầu kì, rực rỡ. Đoàn khiêng kiệu toàn là thanh niên trai tráng chưa có gia đình, vừa rước kiệu vừa nghi trượng che lọng vàng, lọng tía... vừa múa các điệu múa cổ như: múa sênh tiền, múa trống bồng, trong tiếng nhạc hội réo rắt của đội nhạc lễ. Điều khác lạ ở đám rước này là người rước đi ở hai bên vừa đi vừa quay mặt vào nhau. Khi đám rước tới nơi, các bô lão sẽ kính cẩn đọc bài văn tế, làm lễ dâng hương rồi mở hòm sắt, lấy bút ra để bắt đầu cuộc tế lễ. Tiết mục múa rồng trong ngày hội làng Triều Khúc Ngoài phần lễ ra còn có phần hội. Phần hội diễn ra với không khí rộn ràng hơn, vui tươi hơn với nhiều điệu múa cổ như: múa lân, múa rồng, múa bồng, múa sênh tiền, múa chạy cờ. Điều đáng chú ý nhất trong lễ hội này là màn múa “con đĩ đánh bồng”, một điệu múa mang tính ước lệ cao. Sở dĩ điệu múa nam giả nữ để biểu diễn, là vì thời xưa giới cấm nữ giới không được tham dự vào chốn linh thiêng. Hơn nữa, mặc dù các chàng trai giả gái, nhưng những động tác của họ lại toát lên phong thái của đấng nam nhi, với tinh thần thượng võ. Phụ nữ khó có thể thể hiện được phong thái này. Ngày 12 là ngày vãn hội. Dân làng sẽ làm lễ giã đám để kết thúc hội bằng điệu múa cờ. Điệu múa cờ là để tượng trưng cho sự tích Phùng Hưng kén hiền tài bổ xung vào quân ngũ trước khi ông đưa quân đi quyết chiến với quân giặc nhà Đường do Cao Chính Bình làm thủ lĩnh. Kết thúc ngày hội, người dân trong làng tụ họp lại sân đình để hưởng miếng lộc thánh, hy vọng sẽ gặp may mắn và làm ăn phát tài trong năm mới. Màn múa Con đĩa đánh bồng do các nam thanh niên biểu diễn là phần ấn tượng nhất trong lễ hội làng Triều Khúc Hội làng Triều Khúc đến nay vẫn còn giữ được nét nguyên sơ nhất của một lễ hội truyền thống, nó mang đậm cốt cách, vẻ đẹp tâm linh của thủ đô nghìn năm văn hiến. Nét nguyên sơ ấy đã được người dân làng Triều Khúc lưu truyền đến ngày nay, và còn mãi lưu truyền về sau ở vùng quê cổ kính này.

Related Figures

Lễ hội Cổ Loa

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 6/1- 16/1 Âm lịch Hàng năm, lễ hội Cổ Loa thường diễn ra từ ngày mồng 6 đến ngày 16 tháng giêng âm lịch. Hội này được tổ chức để kỷ niệm ngày Thục Phán nhập cung. Mặc dù phải chứng cảnh tượng đau buồn khi thành rơi vào tay giặc chỉ vì chút mất cảnh giác, thế nhưng trải qua bao nhiêu năm dài đằng đẵng thành Cổ Loa vẫn luôn là niềm tự hào của người dân Việt Nam về truyền thống anh hùng chống giặc ngoại xâm. Lễ hội Cổ Loa tại Hà Nội Làng Cổ Loa có 12 xóm nhưng lễ hội Cổ Loa là hội chung của một cụm gồm 8 làng (ngày xưa gọi là Bát Xã) gồm: Cổ Loa, Sàn Dã, Đài Bi, Mạch Tràng, Cầu Cả, Thư Cưu, Văn Thượng, Xép. Cả tám làng này đều thờ vị Thục Phán nên tất cả đều tham gia tổ chức hội. Sáng ngày mồng 6 tháng Giêng, làng sẽ tổ chức lễ rước văn tế từ khu nhà vị tiên chỉ về đền để cử hành nghi lễ tế thần. Theo tục lệ, văn tế soạn thảo phải được đặt lên giá, khi 12 ông trưởng xóm đã tập hợp đông đủ cả sẽ bắt đầu sửa lễ. Mở đầu sẽ là 5 lá cờ ngũ hành, tiếp theo sẽ là phường bát âm giá văn tế được đặt trong chiếc kiệu long đình có lọng che. Theo sau là các quan viên và các vị kỳ mục trong làng. Bên ngoài sân đền, cờ đuôi nheo, cờ hội cắm thẳng hàng từ đường vào xóm cho đến tận sân đền. Giữa sân đền là một cột cờ lớn, phía trên chiếc cờ đại đang bay phấp phới. Sát cửa đền, 2 bên là hai con ngựa bạch, ngựa hồng với đầy đủ yên cương với màu sắc sặc sỡ. Ra phía ngoài sẽ là bát bưu và đồ lễ bộ. Khoảng giữa sân có 12 cái kiệu của 12 xóm. Trước cửa đền có bày hương án lớn, bày bộ ngũ sự làm bằng đồng và nhiều lễ vật cùng một hộp kính đựng hai cái hia màu vàng. Bên cạnh đó còn có một hương án nhỏ, phía trên có bày đôi hạc đồng, 1 chiếc đỉnh và chiếc nỏ, 1 bó tên và 1 thanh kiếm. Chiếc nỏ này được sơn son thếp vàng để biểu trưng cho nỏ thần xưa. Lễ hội Cổ Loa là một lễ hội lớn trong năm của làng Cổ Loa Sau khi một hồi tù và vang lên, cũng chính là hiệu lệnh báo hiệu đám rước văn đã về đến đền, long đình sẽ được khiêng một đến đặt ở trước hương án. Lúc này, phường bát âm cũng bắt đầu nổi nhạc, tiếng tù và cũng vang lên như hân hoan đón chào. Cuộc tế lễ chính thức bắt đầu và kéo dài quaquá giờ Ngọ. Trong lúc các quan viên và kỳ mục thay nhau làm lễ tế trước bàn thờ, dân chúng sẽ quỳ lạy làm lễ theo ở nội tự, một số kỳ mục sẽ được cử làm đại diện tiến hành lễ cầu nguyện cho xóm làng, cầu mong nhà vua phù hộ cho dân làng cuộc sống yên bình và thịnh vượng. Buổi chiều hôm đó, đám rước thần diễn ra rất sôi động với rất đông dân làng tham gia. Thứ tự các cuộc rước gồm có cờ quạt-long đình-tự khí- bát bửu- phường bát âm- quan viên lễ phục với trang phục chỉnh tề bưng theo khí giới của Vua cùng diễu hành trong vài giờ, xuất phát từ sân đền Cổ Loa cho tới đầu làng thì tất cả giải tán. Đoàn rước kiệu trong ngày hội Cổ Loa Còn phần hội của lễ hội Cổ Loa thường kéo dài tới hết rằm tháng giêng mới tàn hội, với nhiều trò vui. Buổi tối ở đình làng có hội đốt pháo hoa, hát tuồng, hát ca trù. Ban ngày, các cụ ông sẽ chơi bài hay đánh cờ. Các cụ bà thì đi lễ đình, lễ chùa. Thanh thiếu niên nam nữ vui chơi đánh đu, kéo co, đấu vật, bắn cung nỏ, leo dây, thi thổi cơm, chọi gà, cờ người, đánh đáo mẹt... Trong những mở hội Cổ Loa, nhân dân trong vùng, người dân các nơi lận cận và du khách thập phương về xem rất đông, đây được xem như là dịp vui xuân mang ý nghĩa rất quan trọng.

Hàng năm, lễ hội Cổ Loa thường diễn ra từ ngày mồng 6 đến ngày 16 tháng giêng âm lịch. Hội này được tổ chức để kỷ niệm ngày Thục Phán nhập cung. Mặc dù phải chứng cảnh tượng đau buồn khi thành rơi vào tay giặc chỉ vì chút mất cảnh giác, thế nhưng trải qua bao nhiêu năm dài đằng đẵng thành Cổ Loa vẫn luôn là niềm tự hào của người dân Việt Nam về truyền thống anh hùng chống giặc ngoại xâm.

Lễ hội Cổ Loa tại Hà Nội

Làng Cổ Loa có 12 xóm nhưng lễ hội Cổ Loa là hội chung của một cụm gồm 8 làng (ngày xưa gọi là Bát Xã) gồm: Cổ Loa, Sàn Dã, Đài Bi, Mạch Tràng, Cầu Cả, Thư Cưu, Văn Thượng, Xép. Cả tám làng này đều thờ vị Thục Phán nên tất cả đều tham gia tổ chức hội. Sáng ngày mồng 6 tháng Giêng, làng sẽ tổ chức lễ rước văn tế từ khu nhà vị tiên chỉ về đền để cử hành nghi lễ tế thần. Theo tục lệ, văn tế soạn thảo phải được đặt lên giá, khi 12 ông trưởng xóm đã tập hợp đông đủ cả sẽ bắt đầu sửa lễ. Mở đầu sẽ là 5 lá cờ ngũ hành, tiếp theo sẽ là phường bát âm giá văn tế được đặt trong chiếc kiệu long đình có lọng che. Theo sau là các quan viên và các vị kỳ mục trong làng. Bên ngoài sân đền, cờ đuôi nheo, cờ hội cắm thẳng hàng từ đường vào xóm cho đến tận sân đền. Giữa sân đền là một cột cờ lớn, phía trên chiếc cờ đại đang bay phấp phới. Sát cửa đền, 2 bên là hai con ngựa bạch, ngựa hồng với đầy đủ yên cương với màu sắc sặc sỡ. Ra phía ngoài sẽ là bát bưu và đồ lễ bộ. Khoảng giữa sân có 12 cái kiệu của 12 xóm. Trước cửa đền có bày hương án lớn, bày bộ ngũ sự làm bằng đồng và nhiều lễ vật cùng một hộp kính đựng hai cái hia màu vàng. Bên cạnh đó còn có một hương án nhỏ, phía trên có bày đôi hạc đồng, 1 chiếc đỉnh và chiếc nỏ, 1 bó tên và 1 thanh kiếm. Chiếc nỏ này được sơn son thếp vàng để biểu trưng cho nỏ thần xưa. Lễ hội Cổ Loa là một lễ hội lớn trong năm của làng Cổ Loa Sau khi một hồi tù và vang lên, cũng chính là hiệu lệnh báo hiệu đám rước văn đã về đến đền, long đình sẽ được khiêng một đến đặt ở trước hương án. Lúc này, phường bát âm cũng bắt đầu nổi nhạc, tiếng tù và cũng vang lên như hân hoan đón chào. Cuộc tế lễ chính thức bắt đầu và kéo dài quaquá giờ Ngọ. Trong lúc các quan viên và kỳ mục thay nhau làm lễ tế trước bàn thờ, dân chúng sẽ quỳ lạy làm lễ theo ở nội tự, một số kỳ mục sẽ được cử làm đại diện tiến hành lễ cầu nguyện cho xóm làng, cầu mong nhà vua phù hộ cho dân làng cuộc sống yên bình và thịnh vượng. Buổi chiều hôm đó, đám rước thần diễn ra rất sôi động với rất đông dân làng tham gia. Thứ tự các cuộc rước gồm có cờ quạt-long đình-tự khí- bát bửu- phường bát âm- quan viên lễ phục với trang phục chỉnh tề bưng theo khí giới của Vua cùng diễu hành trong vài giờ, xuất phát từ sân đền Cổ Loa cho tới đầu làng thì tất cả giải tán. Đoàn rước kiệu trong ngày hội Cổ Loa Còn phần hội của lễ hội Cổ Loa thường kéo dài tới hết rằm tháng giêng mới tàn hội, với nhiều trò vui. Buổi tối ở đình làng có hội đốt pháo hoa, hát tuồng, hát ca trù. Ban ngày, các cụ ông sẽ chơi bài hay đánh cờ. Các cụ bà thì đi lễ đình, lễ chùa. Thanh thiếu niên nam nữ vui chơi đánh đu, kéo co, đấu vật, bắn cung nỏ, leo dây, thi thổi cơm, chọi gà, cờ người, đánh đáo mẹt... Trong những mở hội Cổ Loa, nhân dân trong vùng, người dân các nơi lận cận và du khách thập phương về xem rất đông, đây được xem như là dịp vui xuân mang ý nghĩa rất quan trọng.

Related Figures

Lễ hội đền Sóc

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 6/1 Âm lịch Lễ hội đền Sóc Sơn được tổ chức vào ngày mồng 6 tháng Giêng âm lịch hàng năm, tại ngôi Đến Sóc thuộc xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn , thành phố Hà Nội. Lễ hội này có mục đích tưởng nhớ và ca ngợi công ơn của người anh hùng đã có công đánh đuổi giặc Ân dưới đời vua Hùng. Lễ hội đền Sóc tại Hà Nội Tại sân đền Thượng, lễ hội được bắt đầu từ lúc 00h ngày mồng 6 với lễ kê khai quang và lễ tắm cho tượng do chủ tế cùng chức sắc cử hành. Sau đó sẽ cử hành lễ rước dâng hoa tre và lễ chém tướng. Hoa tre được làm từ một thanh tre dẹt, có kích thước chừng 50cm x 50cm, đầu thanh tre có vót xơ bông dài chừng 10cm x 10cm có nhuộm nhiều màu nhưng chủ yếu là màu vàng. Sau khi làm lễ dâng hoa tre lên Thánh xong, các quan tế sẽ hô lớn “lễ tất tranh lộc", lúc đó tất cả các hoa tre sẽ được vung ra để người xem hội tranh cướp với ý nghĩa cầu may. Lễ rước dâng hoa tre kết thúc sẽ tiến hành lễ chém tướng dựa trên điển tích Thánh Gióng dùng cây tre ngà làm vũ khí để giết giặc Ân. Theo truyền thuyết Thánh Gióng, Ngài phi ngựa từ Châu Cầu đuổi theo giặc Ân và dùng tre ngà đập chết tướng Thạch Linh và hai tướng của hắn Người dân thôn Dược Thượng rước voi dâng lên Thánh Gióng Ngoài ra, còn có lễ rước voi của làng Dược Thượng, là một nghi lễ cũng rất quan trọng trong ngày hội này. Trong lễ rước voi, 12 thanh niên nam khỏe mạnh được chọn để vừa đi vừa đánh trống, vừa reo hò vang dậy cả một vùng. Tương truyền rằng: Sau khi Thánh Gióng đánh tan giặc Ân, ngài đã giải tán binh sĩ để họ trở về quê hương làm ăn, đoàn tụ với gia đình, đồng thời ban lệnh thả hết ngựa và voi chiến về rừng. Nhưng vì không biết được ý nghĩa của lệnh của Thánh Gióng, nhân dân thôn Dược Thượng đã giữ lại một con voi chiến. Khi biết đã phạm sai lầm, từ đó, hàng năm người dân trong thôn Dược Thượng đã đan một con voi bằng tre Đằng ngà để rước lên Đền Sóc trong ngày khai hội để trả lễ cho Ngài. Ban tế lễ hội đền Sóc đang cử hành nghi lễ Lễ hội đền Sóc gắn liền với truyền thuyết về Thánh Gióng, nhưng bên cạnh đó lễ hội này vẫn mang đậm chất của một lễ hội cầu mùa theo tín ngưỡng phổ biến của người dân phía Bắc.

Lễ hội đền Sóc Sơn được tổ chức vào ngày mồng 6 tháng Giêng âm lịch hàng năm, tại ngôi Đến Sóc thuộc xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn , thành phố Hà Nội. Lễ hội này có mục đích tưởng nhớ và ca ngợi công ơn của người anh hùng đã có công đánh đuổi giặc Ân dưới đời vua Hùng.

Lễ hội đền Sóc tại Hà Nội

Tại sân đền Thượng, lễ hội được bắt đầu từ lúc 00h ngày mồng 6 với lễ kê khai quang và lễ tắm cho tượng do chủ tế cùng chức sắc cử hành. Sau đó sẽ cử hành lễ rước dâng hoa tre và lễ chém tướng. Hoa tre được làm từ một thanh tre dẹt, có kích thước chừng 50cm x 50cm, đầu thanh tre có vót xơ bông dài chừng 10cm x 10cm có nhuộm nhiều màu nhưng chủ yếu là màu vàng. Sau khi làm lễ dâng hoa tre lên Thánh xong, các quan tế sẽ hô lớn “lễ tất tranh lộc", lúc đó tất cả các hoa tre sẽ được vung ra để người xem hội tranh cướp với ý nghĩa cầu may. Lễ rước dâng hoa tre kết thúc sẽ tiến hành lễ chém tướng dựa trên điển tích Thánh Gióng dùng cây tre ngà làm vũ khí để giết giặc Ân. Theo truyền thuyết Thánh Gióng, Ngài phi ngựa từ Châu Cầu đuổi theo giặc Ân và dùng tre ngà đập chết tướng Thạch Linh và hai tướng của hắn Người dân thôn Dược Thượng rước voi dâng lên Thánh Gióng Ngoài ra, còn có lễ rước voi của làng Dược Thượng, là một nghi lễ cũng rất quan trọng trong ngày hội này. Trong lễ rước voi, 12 thanh niên nam khỏe mạnh được chọn để vừa đi vừa đánh trống, vừa reo hò vang dậy cả một vùng. Tương truyền rằng: Sau khi Thánh Gióng đánh tan giặc Ân, ngài đã giải tán binh sĩ để họ trở về quê hương làm ăn, đoàn tụ với gia đình, đồng thời ban lệnh thả hết ngựa và voi chiến về rừng. Nhưng vì không biết được ý nghĩa của lệnh của Thánh Gióng, nhân dân thôn Dược Thượng đã giữ lại một con voi chiến. Khi biết đã phạm sai lầm, từ đó, hàng năm người dân trong thôn Dược Thượng đã đan một con voi bằng tre Đằng ngà để rước lên Đền Sóc trong ngày khai hội để trả lễ cho Ngài. Ban tế lễ hội đền Sóc đang cử hành nghi lễ Lễ hội đền Sóc gắn liền với truyền thuyết về Thánh Gióng, nhưng bên cạnh đó lễ hội này vẫn mang đậm chất của một lễ hội cầu mùa theo tín ngưỡng phổ biến của người dân phía Bắc.

Người dân thôn Dược Thượng rước voi dâng lên Thánh Gióng

Related Figures

Lễ hội chùa Trăm Gian

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 4/1 Âm lịch Chùa Trăm Gian hay chùa Tiên Lữ, chùa Núi, nằm ở xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội. Hàng năm, vào ngày mồng 4 tháng Giêng chùa lại mở hội tưng bừng, đây được xem là ngày hoá của Đức Bồ tát khai Sơn - Nguyễn Bình An. Khi còn tu luyện tại ngôi chùa Trăm Gian, Ông đã nổi tiếng là một người thông tuệ phật pháp và triển hiện nhiều phép lạ để giúp đỡ dân chúng . Lễ hội chùa Trăm Gian là một lễ hội vùng, gồm nhiều thôn như thôn Thượng, Nội, Phương Khê( thuộc xã Tiên phương) và Thổ Nghĩa là Xã Tân Hoà, huyện Quốc Oai ngày nay. Phần lễ của lễ hội chùa Trăm Gian bao gồm: Đại đám có lễ rước kiệu Thánh, lễ rước nhang yến (án), rước giá cỗ gồm bánh chưng và bánh dày của nhà chùa, rước giá văn bản là giá để bản văn tế, rước bát nhang và mâm ngũ quả. Lễ rước kiệu Thánh là kiệu bát công được 18 người khiêng, mỗi một giá rước có 4 người khiêng. Người khiêng đều phải mặc áo Mã tiền gồm bên trong là thân áo, bên ngoài có đính các dải phướn có nhiều màu xanh, đỏ, tím, vàng, phía trên chỉ nhỏ như chiếc đũa cả, phía dưới lại to bằng mái chèo. Lễ hội chùa Trăm Gian còn được gọi là lễ hội đánh cờ người Ngày mồng 4, đúng vào giờ Thìn (7-9 giờ sáng) đội rước kiệu sẽ di chuyển ra sập đá ở trước nhà Tiền đường để trí kiệu (tức là chồng đòn), các tàn quạt được cắm xung quanh và bày dàn bát bửu. Tiếp theo, đoàn rước sẽ di chuyển xuống núi theo hình chữ chi từ chùa xuống gác chuông rồi vòng qua phải, sau đó quay lại đi giữa nhà giá ngự, rồi đến hồ bán nguyệt để ra đường làng, từ đây đoàn rước sẽ đi thẳng ra Quán Thánh nằm ở giữa đồng chiêm là lưu lại dấu tích bước chân thứ nhất của Thánh khi về quê xin tương cà. Khi đến hòn đá ở Quán Thánh thì dừng chân để tổ chức tế. Ông Quản Tuần là chỉ huy đám rước cùng các vị chức sắc chánh phó tổng, được trương tuần dẹp đường. Tế xong sẽ rước về, khi đi tới chân núi thì rước thẳng lên chùa chứ không cần đi theo hình chữ chi nữa. Buổi tối Thánh hoàn cung, đoàn Mai Lĩnh sẽ phải làm lễ trình rối ở trước cửa điện Thánh với ý nghĩa tượng trưng cho việc trình diện của quân Minh năm xưa. Theo người dân kể lại, khi quân Minh sang xâm lược nước ta đã giết người, cướp của, đốt các chùa chiền, chúng hành động vô cùng tàn ác, chính Ngài đã làm ra mưa máu khiến quân giặc bị bệnh mà chết , bị hao tổn binh lực nên phải rút đi. Sau khi quân Minh rút về nước, còn một số ít quân sĩ xin ở lại Mai Lĩnh lập nghiệp. Chính vì vậy, hằng năm cứ vào đêm chính hội của lễ hội chùa Trăm Gian (đêm mồng 4 tháng Giêng) nhân dân Mai Lĩnh, nay thuộc địa phận quận Hà Đông lại cử một nhóm người đến để lễ trình con rối tượng trưng cho nghi thức trình diện của quân Minh năm xưa. Nếu như năm nào người dân Mai Lĩnh không lễ trình thì y như rằng họ sẽ gặp nhiều vận vui, làm ăn thua lỗ. Đoàn Mai Lĩnh gồm 4 đến 5 người, gồm một người sẽ gánh những con rối được đựng trong hai cái bồ to và mấy người đi theo trình rối. Trong lễ trình rối, họ sẽ căng màn lên, người trình sẽ đứng sau màn và lần lượt giơ con rối bà mẹ và các con để trình diễn. Trình xong, các con rối sẽ được cất đi để ngày hội năm sau lại dùng, sáng ngày hôm sau đoàn ra về. Khuôn viên chùa Trăm Gian Về mâm “ngũ quả” dâng lên Thánh gồm nhiều thứ quả như: 6 nải chuối tiêu, 10 quả cam đường , 10 quả cam sành, 10 quả quýt, 1 quả bưởi đào, 1 quả bưởi, 1 quả bưởi đường, 1 quả bưởi gấc, 1 quả na, 1 quả mít một quả, 1 quả dứa… nói chung cứ càng nhiều thứ quả thì càng tốt. Trong hội rước ngày mồng 4, cỗ chay là do sư chùa sửa soạn, gồm 16 cái bánh chưng và 16 cái bánh dày, cúng xong sẽ chia đều cho 4 thôn. Đoàn đại biểu Bối Khê là quê hương của Đức Thánh sang dự hội chùa Trăm Gian được mọi người gọi là các cụ Sãi quan anh, gồm 8 cụ ông và 8 cụ bà. Đến ngày hội chùa Bối Khê vào 12 tháng Giêng, đoàn đại biểu của “tứ bích” lên tham dự và cũng lại được gọi như thế. Để đón tiếp cẩn thận, làng sẽ bình chọn trong “Tứ bích” mỗi thôn có 2 người, phải là những người cao tuổi, có uy tín và được người dân kính trọng, đức cao vọng trọng, đầy đủ tư cách, khi tiếp khách phải nói năng lễ độ, biết nhún nhường, cùng hàn huyên thân tình sau 1 năm xa cách. Các cụ Sãi Bối Khê được lấy từ 7 sào ruộng do nhân dân trong làng cấp để tổ chức 2 bữa cơm (trưa ngày mồng 4 và sáng ngày mồng 5) và một bữa nước vào tối ngày mồng 4. Cỗ chứa Sãi làm rất to, được bày trên mâm vuông hai tầng. Trưa ngày mồng 5 dân anh trở về. Ngày mồng 5 thổi cỗ chùa, người đến lượt phải làm mà không được cấp ruộng. Từ tối ngày hôm trước, gia đình thổi cỗ đã cử người đi mời khắp lượt, người đến chùa đều được nhận quà mừng. Gia đình phải chuẩn bị loại gạo ngon, dùng rá mới để vo, dùng chậu mới để đựng cơm canh. Vo gạo xong bày cả dãy dài, ông chủ sẽ đi xem và thọc tay vào từng rá gạo để kiểm tra chất lượng.Trưa ngày mồng 5 sẽ ăn cỗ chùa. Chùa Trăm Gian là nơi thờ Đức Bồ tát khai Sơn - Nguyễn Bình An Đặc biệt, gia đình nào được chọn thi cỗ chay gồm xôi và chuối, thì để tế tạ ngày 6, phải chuẩn bị từ vài tháng trước. Phần hội diễn ra rất đông vui, với nhiều trò chơi và cuộc thi phong phú và độc đáo như: Thổi cỗ chùa, múa rối, thi oản chuối, đấu vật, đốt pháo…. Đặc sắc nhất phải kể đến cờ người. Chính vì vậy, hội chùa Trăm Gian còn được người ta gọi là lễ hội đánh cờ người. Hội pháo cũng diễn ra rất sôi nổi, có pháo hoa, pháo bông, pháo ném và màn bắn pháo trên cao, pháo nhị thanh, pháo chuột.

Chùa Trăm Gian hay chùa Tiên Lữ, chùa Núi, nằm ở xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội. Hàng năm, vào ngày mồng 4 tháng Giêng chùa lại mở hội tưng bừng, đây được xem là ngày hoá của Đức Bồ tát khai Sơn - Nguyễn Bình An. Khi còn tu luyện tại ngôi chùa Trăm Gian, Ông đã nổi tiếng là một người thông tuệ phật pháp và triển hiện nhiều phép lạ để giúp đỡ dân chúng .

Lễ hội chùa Trăm Gian là một lễ hội vùng, gồm nhiều thôn như thôn Thượng, Nội, Phương Khê( thuộc xã Tiên phương) và Thổ Nghĩa là Xã Tân Hoà, huyện Quốc Oai ngày nay. Phần lễ của lễ hội chùa Trăm Gian bao gồm: Đại đám có lễ rước kiệu Thánh, lễ rước nhang yến (án), rước giá cỗ gồm bánh chưng và bánh dày của nhà chùa, rước giá văn bản là giá để bản văn tế, rước bát nhang và mâm ngũ quả. Lễ rước kiệu Thánh là kiệu bát công được 18 người khiêng, mỗi một giá rước có 4 người khiêng. Người khiêng đều phải mặc áo Mã tiền gồm bên trong là thân áo, bên ngoài có đính các dải phướn có nhiều màu xanh, đỏ, tím, vàng, phía trên chỉ nhỏ như chiếc đũa cả, phía dưới lại to bằng mái chèo. Lễ hội chùa Trăm Gian còn được gọi là lễ hội đánh cờ người Ngày mồng 4, đúng vào giờ Thìn (7-9 giờ sáng) đội rước kiệu sẽ di chuyển ra sập đá ở trước nhà Tiền đường để trí kiệu (tức là chồng đòn), các tàn quạt được cắm xung quanh và bày dàn bát bửu. Tiếp theo, đoàn rước sẽ di chuyển xuống núi theo hình chữ chi từ chùa xuống gác chuông rồi vòng qua phải, sau đó quay lại đi giữa nhà giá ngự, rồi đến hồ bán nguyệt để ra đường làng, từ đây đoàn rước sẽ đi thẳng ra Quán Thánh nằm ở giữa đồng chiêm là lưu lại dấu tích bước chân thứ nhất của Thánh khi về quê xin tương cà. Khi đến hòn đá ở Quán Thánh thì dừng chân để tổ chức tế. Ông Quản Tuần là chỉ huy đám rước cùng các vị chức sắc chánh phó tổng, được trương tuần dẹp đường. Tế xong sẽ rước về, khi đi tới chân núi thì rước thẳng lên chùa chứ không cần đi theo hình chữ chi nữa. Buổi tối Thánh hoàn cung, đoàn Mai Lĩnh sẽ phải làm lễ trình rối ở trước cửa điện Thánh với ý nghĩa tượng trưng cho việc trình diện của quân Minh năm xưa. Theo người dân kể lại, khi quân Minh sang xâm lược nước ta đã giết người, cướp của, đốt các chùa chiền, chúng hành động vô cùng tàn ác, chính Ngài đã làm ra mưa máu khiến quân giặc bị bệnh mà chết , bị hao tổn binh lực nên phải rút đi. Sau khi quân Minh rút về nước, còn một số ít quân sĩ xin ở lại Mai Lĩnh lập nghiệp. Chính vì vậy, hằng năm cứ vào đêm chính hội của lễ hội chùa Trăm Gian (đêm mồng 4 tháng Giêng) nhân dân Mai Lĩnh, nay thuộc địa phận quận Hà Đông lại cử một nhóm người đến để lễ trình con rối tượng trưng cho nghi thức trình diện của quân Minh năm xưa. Nếu như năm nào người dân Mai Lĩnh không lễ trình thì y như rằng họ sẽ gặp nhiều vận vui, làm ăn thua lỗ. Đoàn Mai Lĩnh gồm 4 đến 5 người, gồm một người sẽ gánh những con rối được đựng trong hai cái bồ to và mấy người đi theo trình rối. Trong lễ trình rối, họ sẽ căng màn lên, người trình sẽ đứng sau màn và lần lượt giơ con rối bà mẹ và các con để trình diễn. Trình xong, các con rối sẽ được cất đi để ngày hội năm sau lại dùng, sáng ngày hôm sau đoàn ra về. Khuôn viên chùa Trăm Gian Về mâm “ngũ quả” dâng lên Thánh gồm nhiều thứ quả như: 6 nải chuối tiêu, 10 quả cam đường , 10 quả cam sành, 10 quả quýt, 1 quả bưởi đào, 1 quả bưởi, 1 quả bưởi đường, 1 quả bưởi gấc, 1 quả na, 1 quả mít một quả, 1 quả dứa… nói chung cứ càng nhiều thứ quả thì càng tốt. Trong hội rước ngày mồng 4, cỗ chay là do sư chùa sửa soạn, gồm 16 cái bánh chưng và 16 cái bánh dày, cúng xong sẽ chia đều cho 4 thôn. Đoàn đại biểu Bối Khê là quê hương của Đức Thánh sang dự hội chùa Trăm Gian được mọi người gọi là các cụ Sãi quan anh, gồm 8 cụ ông và 8 cụ bà. Đến ngày hội chùa Bối Khê vào 12 tháng Giêng, đoàn đại biểu của “tứ bích” lên tham dự và cũng lại được gọi như thế. Để đón tiếp cẩn thận, làng sẽ bình chọn trong “Tứ bích” mỗi thôn có 2 người, phải là những người cao tuổi, có uy tín và được người dân kính trọng, đức cao vọng trọng, đầy đủ tư cách, khi tiếp khách phải nói năng lễ độ, biết nhún nhường, cùng hàn huyên thân tình sau 1 năm xa cách. Các cụ Sãi Bối Khê được lấy từ 7 sào ruộng do nhân dân trong làng cấp để tổ chức 2 bữa cơm (trưa ngày mồng 4 và sáng ngày mồng 5) và một bữa nước vào tối ngày mồng 4. Cỗ chứa Sãi làm rất to, được bày trên mâm vuông hai tầng. Trưa ngày mồng 5 dân anh trở về. Ngày mồng 5 thổi cỗ chùa, người đến lượt phải làm mà không được cấp ruộng. Từ tối ngày hôm trước, gia đình thổi cỗ đã cử người đi mời khắp lượt, người đến chùa đều được nhận quà mừng. Gia đình phải chuẩn bị loại gạo ngon, dùng rá mới để vo, dùng chậu mới để đựng cơm canh. Vo gạo xong bày cả dãy dài, ông chủ sẽ đi xem và thọc tay vào từng rá gạo để kiểm tra chất lượng.Trưa ngày mồng 5 sẽ ăn cỗ chùa. Chùa Trăm Gian là nơi thờ Đức Bồ tát khai Sơn - Nguyễn Bình An Đặc biệt, gia đình nào được chọn thi cỗ chay gồm xôi và chuối, thì để tế tạ ngày 6, phải chuẩn bị từ vài tháng trước. Phần hội diễn ra rất đông vui, với nhiều trò chơi và cuộc thi phong phú và độc đáo như: Thổi cỗ chùa, múa rối, thi oản chuối, đấu vật, đốt pháo…. Đặc sắc nhất phải kể đến cờ người. Chính vì vậy, hội chùa Trăm Gian còn được người ta gọi là lễ hội đánh cờ người. Hội pháo cũng diễn ra rất sôi nổi, có pháo hoa, pháo bông, pháo ném và màn bắn pháo trên cao, pháo nhị thanh, pháo chuột.

Related Figures

Lễ hội đền Chúa xã Cổ Nhuế

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 30/7- 1/8 Âm lịch Chùa Anh Linh và đền Chúa ở thôn Viên thuộc xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm , Hà Nội, là hai di tích kiến trúc đền chùa gắn liền với sự kiện lịch sử thời Trần chống giặc ngoại xâm Nguyên Mông, ngoài ra còn gắn liền với việc công chúa Túc Trunh- con gái của Vua Trần Thánh Tông, chiêu dân để lập ấp thành làng Việt Cổ tại vùng đất Cổ Nhuế. Hàng năm, cứ đến ngày 30 tháng 7 đền chùa lại mở cửa để mở hội, đến hết ngày mồng 1 tháng 8 âm lịch thì đóng cửa chùa, vãn hội. Đoàn lễ rước Chúa Bà với trang phục rực rỡ Tương truyền, sau khi quân ta chiến thắng quân Nguyên Mông lần thứ nhất (vào năm Mậu Ngọ - 1258), vì muốn phát triển nền sản xuất để nhân dân có cuộc sống ấm no, quốc gia hưng thịnh, Vua Trần đã xuống chiếu lệnh cho các vương hầu, công chúa đi chiêu dân phiêu tán, khai khẩn đất hoang, mở rộng vùng đất ven kinh thành Thăng Long. Theo chiếu chỉ của vua Trần, con gái Vua Trần Thánh Tông (1240 -1290) - công chúa Túc Trinh đã rời cung điện, di chuyển về vùng phía Tây Bắc của kinh thành Thăng Long để chiêu dân. Công chúa Túc Trinh đã bỏ tiền bạc phát chẩn, cấp tiền cho dân nghèo để dựng nhà, khai hoang đất đai, làm ăn sinh sống và gây dựng thành làng, xóm. Sau khi làng Cổ Nhuế Viên được thành lập, công chúa Túc Trinh đã chuyển đến làng An Nội thuộc xã Liên Mạc, huyện Từ Liêm để tiếp tục làm việc ân đức. Sau này, vào ngày mất của công chúa Túc Trinh, người dân hai làng An Hội và Cổ Nhuế đã tổ chức lễ hội để tưởng nhớ đến bà. Đêm ngày 30 tháng Bảy âm lịch hàng năm, dân hai làng sẽ làm lễ mở cửa đền. Vào giờ Tý của ngày mồng 1 tháng Tám âm lịch hàng năm, sẽ cử hành lễ cúng thức và mộc dục. Lễ mộc dục thường do một vị bô lão có uy tin trong làng cử hành, ông phải mặc trang phục chỉnh tề, đầu có đội khăn xếp, quần trùng, áo dài, chân mang hài vân sảo, tất cả đều màu đỏ. Vị bô lão này sẽ thay mặt cho cả dân làng làm việc ân đức với Chúa, chính vì vậy vị bô lão này phải tuân thủ các điều kiêng kỵ như ăn chay cả tháng trước ngày hội, không được ngủ chung với phụ nữ... Nước được dùng trong lễ mộc dục phải là nước mưa tinh khiết đun với ngũ vị hương. Người nấu nước dùng trong lễ mộc dục là đàn bà và cũng phải ăn chay, nằm mộng trước cả tháng. Trước khi cử hành lễ, vị bô lão này sẽ rửa tay được gọi là quán tẩy, sau đó ông vẩy nước hoa, vào người, rồi xoa lên mặt, đầu và hai cánh tay, được gọi là tẩy uế. Lễ hội đền Chúa xã Cổ Nhuế tại Hà Nội Sau khi làm lễ mộc dục cho Chúa Bà xong, các đồ mã cũ được đem đi đốt, dâng đồ mới lên Chúa Bà. Người dân trong làng tranh nhau để được mang y phục cũ của Chúa Bà về để để trên bàn thờ tổ tiên gia đình với ý nghĩa: Chúa Bà sẽ phù hộ cho gia đình làm ăn hưng thịnh, tránh những điều tai ương hoặc họ se thành sợi rồi buộc vào cổ tay, chân hoặc đeo ở cổ cho trẻ nhỏ để đi đêm không sợ bị ma quỷ quấy nhiễu, đêm ngủ không bị giật mình. Các cụ bà cũng lấy một miếng vải áo của y phục cũ của Chúa Bà khâu ở vạt áo của mình hoặc buộc vào tràng hạt để đeo với mong cầu khi chết sẽ được Chúa Bà giúp sức đưa về cảnh tây phương cực lạc. Lễ mộc dục kết thúc sẽ đến lễ cúng thức, ông chủ tế đứng lên đọc chúc văn, nội dung là lời ca ngợi công đức của công chúa Túc Trinh, người đã có công lập làng Cổ Nhuế, cầu Chúa Bà ban phúc cho dân làng. Sáng ngày mồng 1 tháng Tám, lễ cúng phật diễn ra tại chùa Anh Linh, sau đó sẽ sẽ ;à ;ễ khai quang ở đền Chúa. Ngày giỗ Chúa còn được gọi là cúng đối kỵ, có dâng lục cúng gồm: quả, đăng, thực, hương, hoa, trà. Lễ cúng thực gồm Cơm tẻ được nấu bằng gạo lật, muối vừng, giá luộc, trám đen muối, canh đậu xanh, tương, sau nghi lễ cúng thực xong sẽ dâng chè lam, chè kho và kẹo lạc lêm Chúa Bà. Màn biểu diễn múa lân và đốt pháo Vao ngày giỗ Chúa, người dân trong làng sẽ làm cỗ chay và ăn chay. Những sản vật do từng nhà sản xuất được sẽ được đem dâng lễ tại đền như: dừa, lựu, mít, cam, mía, khoai luộc... Ngoài ra, trong ngày này các gia đình nằm trên trục đường xã Cổ Nhuế - Chèm phải sắm hoa quả, đèn nến, vàng, hương, oản... bày lên một cái bàn nhỏ đặt ở trước nhà gần rệ đường để dâng lên Chúa Bà để xin bà ban cho sức khỏe và an khang, thịnh vượng.

Related Figures

Hội Đền Trèm ( Chèm )

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 14/4- 16/4 Âm lịch Đền Trèm hay đền Chèm thuộc xã Thuỵ Phương, Từ Liêm, Hà Nội. Trong đền Trèm là nơi thờ Đức ông - Lý Ông Trọng, là một con người đức độ, tài giỏi và luôn giúp đỡ dân làng Thuỵ Phương, ông vẫn luôn hiển linh như một phúc thần bảo hộ cho dân làng Thụy Phương. Vợ chồng Lý Ông Trọng được người dân lập đền thờ và tôn thành Đức Ông và Đức Bà. Hội đền Trèm mở trong 3 ngày, kể từ ngày 14 đến 16 tháng 4 hàng năm để tưởng niệm Đức Ông. Những chàng trai trong lễ mộc dục Mở đầu lễ hội đền Trèm là lễ rước nước được cử hành vào sáng sớm ngày 15. Nước được lấy ở giữa dòng sông rồi mang về đền để dùng cho lễ tắm tượng. Tiếp theo sẽ là lễ rước văn (rước bài văn tế từ nhà của người trưởng văn về đình), cuối cùng sẽ là lễ tụng kinh cầu siêu do các thầy chùa phụ trách và thường tiến hành trong đêm ngày 15. Hội Đình Chèm do cả ba làng đứng ra tổ chức để tri ân công đức của Ông Trọng Khi các nghi lễ đã tiến hành xong cũng chính là thời điểm bắt đầu phần hội. Dân làng và khách xem hội sẽ cùng chung vui trong không khí hội hè với nhiều trò chơi và cuộc thi như: thả chim bồ câu, đánh cờ, chèo thuyền, đấu vật... Trong đó hấp dẫn nhất phải kể đến hội thi thả chim và hội đua thuyền. Hội thi thả chim với sự tham dự của nhiều chủ chim, có năm có tới dăm chục thậm chí hàng trăm đàn chim được nhốt trong lồng để chờ đợi được tung cánh bay lên trời cao. Trong ngày 15.6 âm lịch diễn ra những nghi lễ chính như rước nước, tắm tượng thánh, phóng sinh… Từ những nghi thức lễ cổ truyền và các tập tục: rước nước, chèo thuyền, tắm tượng, thả chim... là các lễ nghi trong nghề nông nghiệp xa xưa, trải qua bao năm thắng và bị ảnh hưởng của các dòng văn hoá, đến nay lễ hội đền Trèm chỉ giống như một thú chơi tao nhã và có chút tín ngưỡng tâm linh, đặc biệt là tinh thần thượng võ. Tất cả đãtạo nên sự hấp dẫn riêng, độc đáo của một làng quê nông nghiệp ở ven thủ đô.

Đền Trèm hay đền Chèm thuộc xã Thuỵ Phương, Từ Liêm, Hà Nội. Trong đền Trèm là nơi thờ Đức ông - Lý Ông Trọng, là một con người đức độ, tài giỏi và luôn giúp đỡ dân làng Thuỵ Phương, ông vẫn luôn hiển linh như một phúc thần bảo hộ cho dân làng Thụy Phương. Vợ chồng Lý Ông Trọng được người dân lập đền thờ và tôn thành Đức Ông và Đức Bà. Hội đền Trèm mở trong 3 ngày, kể từ ngày 14 đến 16 tháng 4 hàng năm để tưởng niệm Đức Ông.

Những chàng trai trong lễ mộc dục Mở đầu lễ hội đền Trèm là lễ rước nước được cử hành vào sáng sớm ngày 15. Nước được lấy ở giữa dòng sông rồi mang về đền để dùng cho lễ tắm tượng. Tiếp theo sẽ là lễ rước văn (rước bài văn tế từ nhà của người trưởng văn về đình), cuối cùng sẽ là lễ tụng kinh cầu siêu do các thầy chùa phụ trách và thường tiến hành trong đêm ngày 15. Hội Đình Chèm do cả ba làng đứng ra tổ chức để tri ân công đức của Ông Trọng Khi các nghi lễ đã tiến hành xong cũng chính là thời điểm bắt đầu phần hội. Dân làng và khách xem hội sẽ cùng chung vui trong không khí hội hè với nhiều trò chơi và cuộc thi như: thả chim bồ câu, đánh cờ, chèo thuyền, đấu vật... Trong đó hấp dẫn nhất phải kể đến hội thi thả chim và hội đua thuyền. Hội thi thả chim với sự tham dự của nhiều chủ chim, có năm có tới dăm chục thậm chí hàng trăm đàn chim được nhốt trong lồng để chờ đợi được tung cánh bay lên trời cao. Trong ngày 15.6 âm lịch diễn ra những nghi lễ chính như rước nước, tắm tượng thánh, phóng sinh… Từ những nghi thức lễ cổ truyền và các tập tục: rước nước, chèo thuyền, tắm tượng, thả chim... là các lễ nghi trong nghề nông nghiệp xa xưa, trải qua bao năm thắng và bị ảnh hưởng của các dòng văn hoá, đến nay lễ hội đền Trèm chỉ giống như một thú chơi tao nhã và có chút tín ngưỡng tâm linh, đặc biệt là tinh thần thượng võ. Tất cả đãtạo nên sự hấp dẫn riêng, độc đáo của một làng quê nông nghiệp ở ven thủ đô.

Related Figures

Lễ hội làng nghề Bát Tràng

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/2 Âm lịch Bát Tràng là một làng cổ có truyền thống làm gốm, nằm ở bờ bắc của sông Hồng, nay thuộc địa phận xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Hàng năm, cứ đến ngày Rằm tháng 2 âm lịch, nhân dân Bát Tràng lại tưng bừng mở hội lễ hội làng Bát Tràng. Với ý nghĩa tôn vinh nghề gốm truyền thống của làng, đồng thời nhắc nhở con cháu hãy luôn nhớ về cội nguồn, đây cũng chính là dịp dân làng Bát Tràng dâng các món lễ vật lên thần hoàng để cầu xin thánh hiền ban cho dân giàu, nước mạnh. Lễ hội làng nghề Bát Tràng tại Hà Nội Phần tế lễ được cử hành theo phong tục truyền thống, gồm: lễ rước nước, lễ tắm bài vị, lễ rước bài vị ra đình đều được thực hiện rất trang trọng. Lễ dâng lên thành hoàng thường là một con trâu tơ béo đã được thui vàng. Con trâu thui sẽ được đặt cả con lên một chiếc bàn lớn, kèm theo 6 mâm cỗ và 4 mâm xôi. Sau khi cúng lễ xong, phẩm vật sẽ được hạ xuống rồi chia đều cho các họ cùng hưởng lộc . Phần hội diễn ra với không khí sôi động với nhiều trò diễn, nhưng độc đáo nhất phải kể đến chính là trò chơi cờ người và lối hát thờ. Theo lệ làng, trước ngày mở hội, làng sẽ chọn ra 2 bà tướng cờ thường là những người có phẩm hạnh, giàu có nhất làng. Mỗi bà tướng sẽ nhận 16 thiếu nữ ở độ tuổi từ 10- 15, có ngoại hình xinh đẹp, nết na, được nuôi ăn uống và may cho những bộ áo quần thật đẹp. Các cô gái này được rèn tập làm các quân cờ trong bộ cờ tướng trong vòng 1 tháng mới được ra biểu diễn thi đấu tại sân đình. Lễ rước nước trong ngày hội Bát Tràng Công việc chuẩn bị cho hội hát thờ cũng được chuẩn bị rất cẩn trọng. Làng sẽ tổ chức 3 chầu thi, 4 chầu cầm để chọn ra các bài và người vào hát thờ, sau đó sẽ mời các đội đàn hát từ các vùng xung quanh đến để tập kén giọng. Đội nào chiến tháng “4 chầu cầm” sẽ được chọn là đội hát thờ trong lễ hội năm đó. Không chỉ hấp dẫn bởi nét văn hoá truyền thống, những phong tục xa xưa, mà hội làng Bát Tràng còn thu hút nhiều du khách thập phương bởi đây còn là dịp để người dân làng nghề quảng bá các sản phẩm Gốm truyền thống của mình tới du khách. Chính vì vậy, đến với hội du khách thập phương còn được chiêm ngưỡng những sản phẩm gốm vô cùng độc đáo và sắc sảo, được làm bởi từ những bàn tay tài hoa của các nghệ nhân làng nghề. Lễ hội làng nghề Bát Tràng là quảng bá các sản phẩm Gốm của làng Bát tràng

Bát Tràng là một làng cổ có truyền thống làm gốm, nằm ở bờ bắc của sông Hồng, nay thuộc địa phận xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Hàng năm, cứ đến ngày Rằm tháng 2 âm lịch, nhân dân Bát Tràng lại tưng bừng mở hội lễ hội làng Bát Tràng. Với ý nghĩa tôn vinh nghề gốm truyền thống của làng, đồng thời nhắc nhở con cháu hãy luôn nhớ về cội nguồn, đây cũng chính là dịp dân làng Bát Tràng dâng các món lễ vật lên thần hoàng để cầu xin thánh hiền ban cho dân giàu, nước mạnh.

Lễ hội làng nghề Bát Tràng tại Hà Nội

Phần tế lễ được cử hành theo phong tục truyền thống, gồm: lễ rước nước, lễ tắm bài vị, lễ rước bài vị ra đình đều được thực hiện rất trang trọng. Lễ dâng lên thành hoàng thường là một con trâu tơ béo đã được thui vàng. Con trâu thui sẽ được đặt cả con lên một chiếc bàn lớn, kèm theo 6 mâm cỗ và 4 mâm xôi. Sau khi cúng lễ xong, phẩm vật sẽ được hạ xuống rồi chia đều cho các họ cùng hưởng lộc . Phần hội diễn ra với không khí sôi động với nhiều trò diễn, nhưng độc đáo nhất phải kể đến chính là trò chơi cờ người và lối hát thờ. Theo lệ làng, trước ngày mở hội, làng sẽ chọn ra 2 bà tướng cờ thường là những người có phẩm hạnh, giàu có nhất làng. Mỗi bà tướng sẽ nhận 16 thiếu nữ ở độ tuổi từ 10- 15, có ngoại hình xinh đẹp, nết na, được nuôi ăn uống và may cho những bộ áo quần thật đẹp. Các cô gái này được rèn tập làm các quân cờ trong bộ cờ tướng trong vòng 1 tháng mới được ra biểu diễn thi đấu tại sân đình. Lễ rước nước trong ngày hội Bát Tràng Công việc chuẩn bị cho hội hát thờ cũng được chuẩn bị rất cẩn trọng. Làng sẽ tổ chức 3 chầu thi, 4 chầu cầm để chọn ra các bài và người vào hát thờ, sau đó sẽ mời các đội đàn hát từ các vùng xung quanh đến để tập kén giọng. Đội nào chiến tháng “4 chầu cầm” sẽ được chọn là đội hát thờ trong lễ hội năm đó. Không chỉ hấp dẫn bởi nét văn hoá truyền thống, những phong tục xa xưa, mà hội làng Bát Tràng còn thu hút nhiều du khách thập phương bởi đây còn là dịp để người dân làng nghề quảng bá các sản phẩm Gốm truyền thống của mình tới du khách. Chính vì vậy, đến với hội du khách thập phương còn được chiêm ngưỡng những sản phẩm gốm vô cùng độc đáo và sắc sảo, được làm bởi từ những bàn tay tài hoa của các nghệ nhân làng nghề. Lễ hội làng nghề Bát Tràng là quảng bá các sản phẩm Gốm của làng Bát tràng

Related Figures

Lễ Hội Làng Lệ Mật

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 23/3 Âm lịch Hàng năm, lễ hội Làng Lệ Mật thường được tổ chức vào ngày 23 tháng 3 âm lịch, tại làng Lệ Mật, xã Việt Hưng, Gia Lâm, Hà Nội. Lễ hội làng Lệ Mật có ý nghĩa tưởng nhớ tới Hoàng Đức Trung, người đã có công lớn trong việc đưa người nghèo của làng Lệ Mật đến vùng kinh đô khai hoang đất đang, phát triển nông nghiệp, lập ra 13 trại tại phía tây thành Thăng Long (tức quận Ba Đình ngày nay). Ông đã được người dân trong làng suy tôn thành Thành Hoàng cùa làng. Lễ Hội Làng Lệ Mật tại Hà Nội Từ sáng sớm ngày 23 tháng 3, 13 trại phía Tây thành Thăng Long xưa đã cử các con cháu đại diện đội 13 mâm lễ vật từ kinh đô Thăng Long về đình làng Lệ Mật để tham dự lễ hội Phần lễ của lễ hội làng Lệ Mật bao gồm: lễ rước nước từ giếng làng về đình, rước cá chép vàng vào đình Thánh, Rước 13 mâm cỗ của 13 trại ở quận Ba Đình về làng để dâng lên Thành Hoàng làng. Phần hội diễn ra với không khí tưng vừng, sôi động của ngày hội. Đặc biệt, trò múa rắn là màn biểu diễn được nhiều chờ đợi nhất. Con rắn này (được làm bằng nan tre và trùm vải ra ngoài) chính là tượng trưng cho loài thuỷ quái đã bị hạ gục bởi chàng trai họ Hoàng, người có sực mạnh và tài trí phi thường. Nhạc múa là tiếng trống nhịp đôi kết hợp dồn dập và dàn bát âm, nghe tiếng nhạc náo nức cả lòng người. Lễ chém rắn tái hiện điển tích chàng trai họ Hoàng hạ gục loài thủy quái Bên cạnh đó, tiết mục thi nấu ăn các món đặc sản của địa phương cũng thu hút được sự quan tâm của đông đảo người dân và khách xem hội. Trong cuộc thi nấy ăn, có rất nhiều món được các đội thi cua làng trổ tài như : "tam xà đại hội" (3 loại rắn là cạp nong, rắn hổ mang, rắn ráo), "lý ngư vọng nguyệt" (cỗ cá chép to, cỗ gỏi) và "ngũ hổ chầu lâm" (cỗ 5 con ếch)… Hội làng Lệ Mật là dịp để con cháu trong làng (còn gọi là dân cựu quán) và những người dân đi xa khai hoang ở kinh đô (tức dân kinh quán) hội tụ về đây, gặp gỡ cà cùng nhau ôn lại trang sử đã được ông cha xưa dàn dựng đầy gian nan và thử thách, cùng chung niềm vui này còn là lòng biết ơn đối với tổ tiên. Đình làng Lệ Mật

Hàng năm, lễ hội Làng Lệ Mật thường được tổ chức vào ngày 23 tháng 3 âm lịch, tại làng Lệ Mật, xã Việt Hưng, Gia Lâm, Hà Nội. Lễ hội làng Lệ Mật có ý nghĩa tưởng nhớ tới Hoàng Đức Trung, người đã có công lớn trong việc đưa người nghèo của làng Lệ Mật đến vùng kinh đô khai hoang đất đang, phát triển nông nghiệp, lập ra 13 trại tại phía tây thành Thăng Long (tức quận Ba Đình ngày nay). Ông đã được người dân trong làng suy tôn thành Thành Hoàng cùa làng.

Lễ Hội Làng Lệ Mật tại Hà Nội

Từ sáng sớm ngày 23 tháng 3, 13 trại phía Tây thành Thăng Long xưa đã cử các con cháu đại diện đội 13 mâm lễ vật từ kinh đô Thăng Long về đình làng Lệ Mật để tham dự lễ hội Phần lễ của lễ hội làng Lệ Mật bao gồm: lễ rước nước từ giếng làng về đình, rước cá chép vàng vào đình Thánh, Rước 13 mâm cỗ của 13 trại ở quận Ba Đình về làng để dâng lên Thành Hoàng làng. Phần hội diễn ra với không khí tưng vừng, sôi động của ngày hội. Đặc biệt, trò múa rắn là màn biểu diễn được nhiều chờ đợi nhất. Con rắn này (được làm bằng nan tre và trùm vải ra ngoài) chính là tượng trưng cho loài thuỷ quái đã bị hạ gục bởi chàng trai họ Hoàng, người có sực mạnh và tài trí phi thường. Nhạc múa là tiếng trống nhịp đôi kết hợp dồn dập và dàn bát âm, nghe tiếng nhạc náo nức cả lòng người. Lễ chém rắn tái hiện điển tích chàng trai họ Hoàng hạ gục loài thủy quái Bên cạnh đó, tiết mục thi nấu ăn các món đặc sản của địa phương cũng thu hút được sự quan tâm của đông đảo người dân và khách xem hội. Trong cuộc thi nấy ăn, có rất nhiều món được các đội thi cua làng trổ tài như : "tam xà đại hội" (3 loại rắn là cạp nong, rắn hổ mang, rắn ráo), "lý ngư vọng nguyệt" (cỗ cá chép to, cỗ gỏi) và "ngũ hổ chầu lâm" (cỗ 5 con ếch)… Hội làng Lệ Mật là dịp để con cháu trong làng (còn gọi là dân cựu quán) và những người dân đi xa khai hoang ở kinh đô (tức dân kinh quán) hội tụ về đây, gặp gỡ cà cùng nhau ôn lại trang sử đã được ông cha xưa dàn dựng đầy gian nan và thử thách, cùng chung niềm vui này còn là lòng biết ơn đối với tổ tiên. Đình làng Lệ Mật

Related Figures

Lễ hội đình Kim Giang

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 11/2- 12/2 Âm lịch Đình làng Kim Giang nằm trên đường Kim Giang, gần chùa và đến, thuộc cụm di tích lịch sử chùa - đình- đền Kim Giang. Đình Kim Giang là nơi thờ Thành hoàng có hiệu là Mạo Giáp Hoa. Lễ hội này diễn ra hàng năm vào ngày 11 đến 12 tháng Hai âm lịch, nhằm tôn vinh ơn đức của Ngài và thân mẫu của Ngài. Chương trình lễ hội đình làng Kim Giang diễn ra như sau: Đình Kim Giang Sáng ngày 11 tháng Hai, bắt đầu lễ hội sẽ là một hồi trống tưng bừng của đội trống của làng, sau đó là lễ khai mạc hội. Tiếp theo là lễ tế nhập tịch được tổ chức tại đình và đền của làng, chủ trì là các cụ bô lão trong làng, các cụ đều mặc trang phục truyền thống, mũ, giầy chỉnh tề và làm lễ cáo xin phép Thành hoàng làng cho làng được tổ chức lễ hội. Buổi chiều, lễ hội lại tiếp tục với nhiều hoạt động vui chơi dân gian truyền thống như chơi cờ tướng, chọi gà hay đánh đu... Buổi tối, tại Đình có biểu diễn ca múa nhạc đặc sắc. Đội lễ đang cử hành lễ rước sắc phong Ngày 12 là ngày hội chính, đầu tiên sẽ là cử hành lễ rước bảng sắc phong, rước từ nhà sắc tới đình và đền. Đội múa rồng do các nam thanh niên làng đảm nhiệm sẽ dẫn đầu đoàn rước, theo sau là các cháu thiếu nhi mang ảnh Bác Hồ, tiếp đến là đội tế lễ nam nữ. Đội múa sinh tiền do các em thiếu nhi biểu diễn trên suốt đoạn đường rước kiệu lại càng khiến không khí lễ hội càng thêm vui vẻ, nhí nhảnh và hồn nhiên. Bảng sắc phong do đoàn rước kiệu của hội phụ nữ làng đảm nhiệm, và sau cùng là đội lễ của người dân trong làng và các làng xung quanh cùng tham gia lễ hội. Đọc chúc văn tế Thánh lễ Mẫu Sau đó, lễ hội lại tiếp diễn với màn đội tế nam, tế nữ, làm lễ cúng Thành hoàng, tiếp đến là đọc chúc văn tế Thánh lễ Mẫu tại đình và đền. Sau các nghi lễ đã được thực hiện xong thì dân làng cùng du khách sẽ cùng hưởng lộc thánh. Buổi chiều ngày 12 sẽ tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí, các cuộc thi và trao giải thưởng cho người đạt giải tại sân đền. Lễ tạ Thánh và tổng kết lễ hội cũng được các cụ bô lão chịu trách nhiệm cử hành vào lúc xế chiều. Lễ hội đình làng Kim Giang diễn ra hàng năm, đã góp phần giáo dục tư tưởng của con cháu trong làng không được quên truyền thống dựng nước và giữ nước của thế hệ cha ông, đồn thời góp phần nâng cao tình đoàn kết giữa người dân trong làng và người dân trong làng với các làng bên cạnh.

Đình làng Kim Giang nằm trên đường Kim Giang, gần chùa và đến, thuộc cụm di tích lịch sử chùa - đình- đền Kim Giang. Đình Kim Giang là nơi thờ Thành hoàng có hiệu là Mạo Giáp Hoa. Lễ hội này diễn ra hàng năm vào ngày 11 đến 12 tháng Hai âm lịch, nhằm tôn vinh ơn đức của Ngài và thân mẫu của Ngài.

Chương trình lễ hội đình làng Kim Giang diễn ra như sau:

Đình Kim Giang

Sáng ngày 11 tháng Hai, bắt đầu lễ hội sẽ là một hồi trống tưng bừng của đội trống của làng, sau đó là lễ khai mạc hội. Tiếp theo là lễ tế nhập tịch được tổ chức tại đình và đền của làng, chủ trì là các cụ bô lão trong làng, các cụ đều mặc trang phục truyền thống, mũ, giầy chỉnh tề và làm lễ cáo xin phép Thành hoàng làng cho làng được tổ chức lễ hội. Buổi chiều, lễ hội lại tiếp tục với nhiều hoạt động vui chơi dân gian truyền thống như chơi cờ tướng, chọi gà hay đánh đu... Buổi tối, tại Đình có biểu diễn ca múa nhạc đặc sắc. Đội lễ đang cử hành lễ rước sắc phong Ngày 12 là ngày hội chính, đầu tiên sẽ là cử hành lễ rước bảng sắc phong, rước từ nhà sắc tới đình và đền. Đội múa rồng do các nam thanh niên làng đảm nhiệm sẽ dẫn đầu đoàn rước, theo sau là các cháu thiếu nhi mang ảnh Bác Hồ, tiếp đến là đội tế lễ nam nữ. Đội múa sinh tiền do các em thiếu nhi biểu diễn trên suốt đoạn đường rước kiệu lại càng khiến không khí lễ hội càng thêm vui vẻ, nhí nhảnh và hồn nhiên. Bảng sắc phong do đoàn rước kiệu của hội phụ nữ làng đảm nhiệm, và sau cùng là đội lễ của người dân trong làng và các làng xung quanh cùng tham gia lễ hội. Đọc chúc văn tế Thánh lễ Mẫu Sau đó, lễ hội lại tiếp diễn với màn đội tế nam, tế nữ, làm lễ cúng Thành hoàng, tiếp đến là đọc chúc văn tế Thánh lễ Mẫu tại đình và đền. Sau các nghi lễ đã được thực hiện xong thì dân làng cùng du khách sẽ cùng hưởng lộc thánh. Buổi chiều ngày 12 sẽ tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí, các cuộc thi và trao giải thưởng cho người đạt giải tại sân đền. Lễ tạ Thánh và tổng kết lễ hội cũng được các cụ bô lão chịu trách nhiệm cử hành vào lúc xế chiều. Lễ hội đình làng Kim Giang diễn ra hàng năm, đã góp phần giáo dục tư tưởng của con cháu trong làng không được quên truyền thống dựng nước và giữ nước của thế hệ cha ông, đồn thời góp phần nâng cao tình đoàn kết giữa người dân trong làng và người dân trong làng với các làng bên cạnh.

Related Figures

Lễ hội đình Bái Ân

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 9/2- 10/2 Âm lịch Đình Bái Ân thuộc địa phận phường Nghĩa Đô, Cầu Giấy, Hà Nội. Ngôi đình này được xây dựng từ thời vua Lý Nhân Tông, là nơi thờ 3 vị Thành hoàng làng là Chiêu Điều Đại Vương, Chiêu ứng Vũ Đại Vương Uy Linh Phúc Thần và công chúa Thuận Chính. Lễ hội đình làng Bái Ân diễn ra hàng năm, từ ngày mồng 9 cho đến hết ngày mồng 10 tháng Hai âm lịch. Lễ hội đình Bái Ân với ý nghĩa tôn vinh công đức của 3 vị Thành Hoàng đã có công với làng. Lễ hội đình Bái Ân tại Hà Nội Buổi sáng ngày mồng 9, một đội gồm các cụ già có uy tín trong làng đã được dân chọn trong y phục lễ hội truyền thống sẽ vào lễ cáo với 3 vị Thành hoàng làng về công việc của làng, cầu mong các vị Thành Hoàng phù hộ cho bà con dân làng được sống khỏe mạnh, xã hội văn minh, làm ăn phát tài. Tiếp theo sẽ là lễ rước kiệu vòng quanh làng, thường được thực hiện bởi đội thanh niên nam nữ ưu tú và người dân trong làng. Buổi chiều sẽ là phần hội với nhiều là tiết mục văn nghệ đặc sắc và các trò chơi vui khiến hội làng càng thêm sôi động. Ngày mồng 10 mới là ngày hội chính, đầu tiên sẽ màn tế lễ nữ và tế lễ nam do các bậc cao niên trong làng đã được lựa chọn. Tiếp đến sẽ là lễ dâng hương, đại diện của các làng khác sẽ được mời đến tham dự lễ hội và dâng hương lên các vị Thành Hoàng. Buổi chiều, lễ hội sẽ diễn ra với các màn ca hát dân gian truyền thống và các trò chơi dân gian như chọi gà và đánh cờ. Kết thúc lễ hội đình Bái Ân sẽ là màn lễ tạ của các bô lão trong làng vào cuối buổi chiều. Màn hát dân gian truyền thống trong ngày hội

Đình Bái Ân thuộc địa phận phường Nghĩa Đô, Cầu Giấy, Hà Nội. Ngôi đình này được xây dựng từ thời vua Lý Nhân Tông, là nơi thờ 3 vị Thành hoàng làng là Chiêu Điều Đại Vương, Chiêu ứng Vũ Đại Vương Uy Linh Phúc Thần và công chúa Thuận Chính. Lễ hội đình làng Bái Ân diễn ra hàng năm, từ ngày mồng 9 cho đến hết ngày mồng 10 tháng Hai âm lịch. Lễ hội đình Bái Ân với ý nghĩa tôn vinh công đức của 3 vị Thành Hoàng đã có công với làng.

Lễ hội đình Bái Ân tại Hà Nội

Buổi sáng ngày mồng 9, một đội gồm các cụ già có uy tín trong làng đã được dân chọn trong y phục lễ hội truyền thống sẽ vào lễ cáo với 3 vị Thành hoàng làng về công việc của làng, cầu mong các vị Thành Hoàng phù hộ cho bà con dân làng được sống khỏe mạnh, xã hội văn minh, làm ăn phát tài. Tiếp theo sẽ là lễ rước kiệu vòng quanh làng, thường được thực hiện bởi đội thanh niên nam nữ ưu tú và người dân trong làng. Buổi chiều sẽ là phần hội với nhiều là tiết mục văn nghệ đặc sắc và các trò chơi vui khiến hội làng càng thêm sôi động. Ngày mồng 10 mới là ngày hội chính, đầu tiên sẽ màn tế lễ nữ và tế lễ nam do các bậc cao niên trong làng đã được lựa chọn. Tiếp đến sẽ là lễ dâng hương, đại diện của các làng khác sẽ được mời đến tham dự lễ hội và dâng hương lên các vị Thành Hoàng. Buổi chiều, lễ hội sẽ diễn ra với các màn ca hát dân gian truyền thống và các trò chơi dân gian như chọi gà và đánh cờ. Kết thúc lễ hội đình Bái Ân sẽ là màn lễ tạ của các bô lão trong làng vào cuối buổi chiều. Màn hát dân gian truyền thống trong ngày hội

Related Figures

Lễ hội đình Ứng Thiên

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 6/3- 8/3 Âm lịch Đình Ứng Thiên nằm ở bờ bắc của sông Tô Lịch, thuộc địa phận phường Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội. Đình là một ngôi chùa cổ, được xây dựng từ thời Vua Lý Thánh Tông, khoảng từ năm 1069 đến 1072, là nơi thờ Hậu Thổ Phu Nhân, người đã có công phò giúp vua đánh đuổi quân Chiêm. Dưới thời vua Trần Anh Tông, bà được phong là Nguyên - Trung, sau đó được phong là Ứng Thiên Hóa Dục. Qua các triều đại Lê, Tây Sơn và triều Nguyễn, đã nhận sắc phong là Thượng Đẳng Tối Linh Thần. Hội đình Ứng Thiên được tổ chức hàng năm là để tưởng nhớ đến công lao của Hậu Thổ Phu Nhân, hội diễn ra trong 3 ngày kể từ ngày mồng 6 cho đến hết ngày mồng 8 tháng 3 âm lịch. Chiếc chuông đồng cổ trong đình Ứng Thiên Từ sáng sớm ngày mồng 6 tháng Ba, những người đã được nhân dân trong phường chọn lựa để tham gia cử hành lễ Mộc dục, bao sái tượng đều tập trung về đình. Đúng 8 giờ sáng, chương trình tế lễ chính thức bắt đầu, các bô lão có uy tín trong phường là những người đảm nhiệm lễ trong những bộ trang phục lễ hội truyền thống. Theo sau là các dòng họ trong phường, tiếp đến là các đoàn đại biểu từ các nơi về dâng hương lễ lên Đức Địa Mẫu, sau nữa là đoàn đại diện dâng hương của phường Láng Hạ. Từ chiều ngày mồng 6 và ngày mồng 7/3 sẽ cử hành lễ dâng hương lễ Thánh, lễ này do các cụ bà hành lễ, là người của nhiều đoàn từ nhiều nơi về dự lễ hội. Khuôn viên đình Ứng Thiên Buổi sáng ngày mồng 8, đoàn tế nam Láng Thượng sẽ cử hành làm lễ tế Thánh, tiếp theo, các cụ ông trong đội tế lễ của đình sẽ vào để cử hành lễ tạ Thánh. Buổi chiều ngày hôm đó, lễ hội vẫn tiếp tục với nhiều tiết mục văn nghệ đặc sắc và nhiều trò chơi vui. Lễ giã hội được tiến hành vào lúc xế chiều. Đan xen với các ngày lễ Thánh của người dân trong vùng và du khách thập phương là các tiết mục văn nghệ và các trò chơi dân gian truyền thống thi đấu cờ, chọi gà, như hát quan họ, diễn chèo… Cổng đình Ứng Thiên có tượng hai con voi lớn ở cổng tạo nên vẻ uy nghiêm

Đình Ứng Thiên nằm ở bờ bắc của sông Tô Lịch, thuộc địa phận phường Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội. Đình là một ngôi chùa cổ, được xây dựng từ thời Vua Lý Thánh Tông, khoảng từ năm 1069 đến 1072, là nơi thờ Hậu Thổ Phu Nhân, người đã có công phò giúp vua đánh đuổi quân Chiêm. Dưới thời vua Trần Anh Tông, bà được phong là Nguyên - Trung, sau đó được phong là Ứng Thiên Hóa Dục. Qua các triều đại Lê, Tây Sơn và triều Nguyễn, đã nhận sắc phong là Thượng Đẳng Tối Linh Thần. Hội đình Ứng Thiên được tổ chức hàng năm là để tưởng nhớ đến công lao của Hậu Thổ Phu Nhân, hội diễn ra trong 3 ngày kể từ ngày mồng 6 cho đến hết ngày mồng 8 tháng 3 âm lịch.

Chiếc chuông đồng cổ trong đình Ứng Thiên

Từ sáng sớm ngày mồng 6 tháng Ba, những người đã được nhân dân trong phường chọn lựa để tham gia cử hành lễ Mộc dục, bao sái tượng đều tập trung về đình. Đúng 8 giờ sáng, chương trình tế lễ chính thức bắt đầu, các bô lão có uy tín trong phường là những người đảm nhiệm lễ trong những bộ trang phục lễ hội truyền thống. Theo sau là các dòng họ trong phường, tiếp đến là các đoàn đại biểu từ các nơi về dâng hương lễ lên Đức Địa Mẫu, sau nữa là đoàn đại diện dâng hương của phường Láng Hạ. Từ chiều ngày mồng 6 và ngày mồng 7/3 sẽ cử hành lễ dâng hương lễ Thánh, lễ này do các cụ bà hành lễ, là người của nhiều đoàn từ nhiều nơi về dự lễ hội. Khuôn viên đình Ứng Thiên Buổi sáng ngày mồng 8, đoàn tế nam Láng Thượng sẽ cử hành làm lễ tế Thánh, tiếp theo, các cụ ông trong đội tế lễ của đình sẽ vào để cử hành lễ tạ Thánh. Buổi chiều ngày hôm đó, lễ hội vẫn tiếp tục với nhiều tiết mục văn nghệ đặc sắc và nhiều trò chơi vui. Lễ giã hội được tiến hành vào lúc xế chiều. Đan xen với các ngày lễ Thánh của người dân trong vùng và du khách thập phương là các tiết mục văn nghệ và các trò chơi dân gian truyền thống thi đấu cờ, chọi gà, như hát quan họ, diễn chèo… Cổng đình Ứng Thiên có tượng hai con voi lớn ở cổng tạo nên vẻ uy nghiêm

Related Figures

Lễ hội đình làng Nam Đồng

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 17/2 Âm lịch Đình Nam Đồng tọa lạc trên phố Nguyễn Lương Bằng, phường Nam Đồng, Đống Đa, Hà Nội. Ngôi đình này là nơi thờ vị Thái uý Lý Thường Kiệt, một vị anh hùng có công lao to lớn đối với sự nghiệp giữ nước của dân tộc ở thế kỷ 11. Sau trận đánh trên sông Như Nguyệt vào năm 1076, ông đã được vua ban lệnh về đóng quân tại trại Nam Đồng. Ông đã đưa dân chúng đến đây để lập trại, dạy người dân cách làm ăn và ban nhiều quyền lợi để khuyến khích người dân khai hoang sinh sống. Sau khi ông qua đời, Vua Lý Nhân Tông đã cho lập đền thờ ông tại nhiều nơi trong nước, để con cháu đời đời thờ phụng và nhớ ơn vị anh hùng này. Lý Thường Kiệt đã được người dân Nam Đồng tôn thành Thành hoàng làng. Tương truyền, mộ của ông vẫn còn ở làng Nam Đồng . Để tưởng nhớ tới công đức của vị anh hùng này, hàng năm người dân Nam Đồng đều tổ chức lễ hội vào ngày 17 tháng Hai âm lịch và ngày mồng 2 tháng Sáu âm lịch, để tưởng niệm về ông. Lễ chính hội được tổ chức hàng năm vào ngày 17 tháng Hai âm lịch. Lễ hội đình làng Nam Đồng tại Hà Nội Thái Úy Lý Thường Kiệt sinh ngày 17/02 và mất ngày 02/06. Hàng năm, người dân đã lấy ngày 17 tháng 2 âm lịch làm ngày để tổ chức lễ chính hội. Lễ hội đình Nam Đồng diễn ra trong 2 ngày, với rất đông người dân trong vùng và du khách khắp nơi tham dự. Chương trình tổ chức lễ hội diễn ra như sau: Ngày 16 tháng 2: Buổi sáng sẽ bắt đầu bằng nghi thức tế lễ do đội nam tế do các cụ ông trong làng cử hành. Sau đó, dân làng sẽ vào lễ Thánh. Buổi chiều tại Đình sẽ có biểu diễn ca nhạc văn nghệ và nhiều trò chơi dân gian. Đội tế lễ nữ đang làm lễ trong Đình Ngày 17 tháng 2: Đầu tiên sẽ là lễ đọc thần phả của đình cùng với sự tham dự của dân làng và rất đông khách thập phương, tiếp theo, các dòng họ và cá nhân trong làng sẽ vào dâng lễ lên Thánh. Sau đó, lễ dâng hương do đội tế nam thực hiện được tiến hành. Kế tiếp là đến lễ tế của đội tế nữ. Sau khi lễ tế kết thúc, ban tổ chức sẽ dành thời gian cho khách thập phương vào dâng hương và dân lễ lênThánh. Đến trưa, ban chủ lễ sẽ mời khách thập phương cùng nhân dân trong làng vào đình thụ lộc Thánh. Buổi chiều ngày 17, đình tiếp tục đón nhân dân và du khách vào lễ Thánh, sau đó sẽ là các tiết mục văn nghệ và các trò chơi vui. Xế chiều cùng ngày, các cụ ông trong trang phục tế lễ nghiêm chỉnh tổ chức làm lễ giã hội. Khuôn viên đình Nam Đình

Đình Nam Đồng tọa lạc trên phố Nguyễn Lương Bằng, phường Nam Đồng, Đống Đa, Hà Nội. Ngôi đình này là nơi thờ vị Thái uý Lý Thường Kiệt, một vị anh hùng có công lao to lớn đối với sự nghiệp giữ nước của dân tộc ở thế kỷ 11. Sau trận đánh trên sông Như Nguyệt vào năm 1076, ông đã được vua ban lệnh về đóng quân tại trại Nam Đồng. Ông đã đưa dân chúng đến đây để lập trại, dạy người dân cách làm ăn và ban nhiều quyền lợi để khuyến khích người dân khai hoang sinh sống. Sau khi ông qua đời, Vua Lý Nhân Tông đã cho lập đền thờ ông tại nhiều nơi trong nước, để con cháu đời đời thờ phụng và nhớ ơn vị anh hùng này. Lý Thường Kiệt đã được người dân Nam Đồng tôn thành Thành hoàng làng. Tương truyền, mộ của ông vẫn còn ở làng Nam Đồng . Để tưởng nhớ tới công đức của vị anh hùng này, hàng năm người dân Nam Đồng đều tổ chức lễ hội vào ngày 17 tháng Hai âm lịch và ngày mồng 2 tháng Sáu âm lịch, để tưởng niệm về ông. Lễ chính hội được tổ chức hàng năm vào ngày 17 tháng Hai âm lịch.

Lễ hội đình làng Nam Đồng tại Hà Nội

Thái Úy Lý Thường Kiệt sinh ngày 17/02 và mất ngày 02/06. Hàng năm, người dân đã lấy ngày 17 tháng 2 âm lịch làm ngày để tổ chức lễ chính hội. Lễ hội đình Nam Đồng diễn ra trong 2 ngày, với rất đông người dân trong vùng và du khách khắp nơi tham dự. Chương trình tổ chức lễ hội diễn ra như sau: Ngày 16 tháng 2: Buổi sáng sẽ bắt đầu bằng nghi thức tế lễ do đội nam tế do các cụ ông trong làng cử hành. Sau đó, dân làng sẽ vào lễ Thánh. Buổi chiều tại Đình sẽ có biểu diễn ca nhạc văn nghệ và nhiều trò chơi dân gian. Đội tế lễ nữ đang làm lễ trong Đình Ngày 17 tháng 2: Đầu tiên sẽ là lễ đọc thần phả của đình cùng với sự tham dự của dân làng và rất đông khách thập phương, tiếp theo, các dòng họ và cá nhân trong làng sẽ vào dâng lễ lên Thánh. Sau đó, lễ dâng hương do đội tế nam thực hiện được tiến hành. Kế tiếp là đến lễ tế của đội tế nữ. Sau khi lễ tế kết thúc, ban tổ chức sẽ dành thời gian cho khách thập phương vào dâng hương và dân lễ lênThánh. Đến trưa, ban chủ lễ sẽ mời khách thập phương cùng nhân dân trong làng vào đình thụ lộc Thánh. Buổi chiều ngày 17, đình tiếp tục đón nhân dân và du khách vào lễ Thánh, sau đó sẽ là các tiết mục văn nghệ và các trò chơi vui. Xế chiều cùng ngày, các cụ ông trong trang phục tế lễ nghiêm chỉnh tổ chức làm lễ giã hội. Khuôn viên đình Nam Đình

Related Figures

Lễ hội Thập Tam Trại

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 21/1 Âm lịch Lễ hội Thập Tam Trại tại Hà Nội, là một lễ hội có qui mô lớn do 13 làng trại của quận Ba Đình cùng tổ chức, nhằm tưởng nhớ tới Nguyễn Quý Công, người quê làng Lệ Mật, chính là phường Việt Hưng, quận Long Biên ngày nay. Nguyễn Quý Công là người đã có công khai khoang vùng đất ở phía tây kinh thành Thăng Long. Ông chính là người đã tạo nên một vùng nông nghiệp trù phú ở ven đô với cái tên Thập Tam Trại. Lễ hội Thập Tam Trại thường được tổ chức vào ngày 21 tháng Giêng âm lịch hàng năm, tại Công viên Bách Thảo thuộc phường Ngọc Hà, quận Ba Đình, Hà Nội. Lễ hội Thập Tam Trại tại Hà Nội Trong lễ rước có đầy đủ 13 làng trại là Cống Vị, Vĩnh Phúc, Liễu Giai, Ngọc Hà, Xuân Biểu, Thủ Lệ, Vạn Phúc, Hữu Tiệp, Kim Mã, Cống Yên, Ngọc Khánh, Đại Yên, Giảng Võ, bên cạnh đó còn có sự tham gia của làng trại Lệ Mật, Hào Nam... Lễ hội Thập Tam Trại được bắt đầu từ 8 giờ sáng với màn diễu hành long trọng trước lễ đài. Dẫn đầu đoàn diễu hành là đội trống, đội cờ, theo sau là đội cờ lễ và đội người cầm cờ hoa. Sau đó sẽ là lễ rước kiệu, nhảy múa ca hát của 13 làng trại theo thứ tự của được sắp xếp, tiếp nữa là các cụ bô lão, thanh niên nam nữ trong y phục quần áo lễ hội truyền thống. Đoàn rước sẽ rước di chuyển ra cổng làng Ngọc Hà, diễu hành trên tuyến đường Ngọc Hà đến đường Hoàng Hoa Thám, sau đó trở lại và đi một vòng quanh hồ trong công viên Bách Thảo. Lễ rước kiệu diễn ra rất long trọng Lễ hội Thập Tam Trại ngày nay đã được mở rộng với nhiều tiết mụ biểu diễn nghệ thuật và dưỡng sinh đặc sắc như màn biểu diễn múa quạt dưỡng sinh do 100 cụ bà biểu diễn rất đẹp mắt. Tiếp theo chương trình sẽ là màn biểu diễn võ thuật của 100 võ sinh, cũng là tiết mục được rất nhiều người yêu thích. Kết thúc phần biểu diễn diễu hành sẽ là màn Ngũ Long với 5 con rồng với đầy đủ mầu sắc cùng múa lượn biểu diễn rất đẹp mắt. Trong chương trình lễ hội còn có nhiều trò chơi dân gian như: chọi gà, đánh cờ người, đánh đu tre, đập niêu đất... Các hoạt động khác như hội thi bày mâm hoa quả, hát dân ca trên thuyền, ca trù, trưng bày các loại cây cảnh, dân ca hay hát chèo. Tiết mục “Chém rắn” của làng trại Lệ Mật là tiết mục cuối cùng để kết thúc lễ hội và cũng chính là tiết mục được rất nhiều người dân chờ đợi. Đoàn lễ của làng trại Đại Yên Lễ hội Thập Tam trại với ý nghĩa tôn vinh, tưởng niệm và ghi nhớ công ơn của ông Nguyễn Quý Công, người đã có công khai hoang đất đai, lập làng, ngoài ra, lễ hội còn là nơi giáo dục con cháu truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, tín ngưỡng tâm linh của người xưa, những giá trị văn hóa truyền thống, cũng là dịp để người dân 13 làng trại ôn lại những trang sử dựng làng trại đầy khó khăn, thử thách, của các vị tiền hiền. Lễ hội Thập Tam Trại là một trong những sự kiện văn hóa đã thu hút đông đảo quần chúng nhân dân tham gia, đã thể hiện một cách sinh động nền văn hóa cổ xưa kết hợp với hiện đại. Lễ hội này còn góp phần thúc đẩy quần chúng giao lưu hội tụ, tạo nên sức mạnh đoàn kết, qua đó khơi dậy lòng tự về lịch sử, về dân tộc và những vị anh hùng đã có công với đất nước. Lễ hội Thập Tam Trại là một lễ hội lớn do 13 làng trại tại Hà Nội tổ chức

Lễ hội Thập Tam Trại tại Hà Nội, là một lễ hội có qui mô lớn do 13 làng trại của quận Ba Đình cùng tổ chức, nhằm tưởng nhớ tới Nguyễn Quý Công, người quê làng Lệ Mật, chính là phường Việt Hưng, quận Long Biên ngày nay. Nguyễn Quý Công là người đã có công khai khoang vùng đất ở phía tây kinh thành Thăng Long. Ông chính là người đã tạo nên một vùng nông nghiệp trù phú ở ven đô với cái tên Thập Tam Trại. Lễ hội Thập Tam Trại thường được tổ chức vào ngày 21 tháng Giêng âm lịch hàng năm, tại Công viên Bách Thảo thuộc phường Ngọc Hà, quận Ba Đình, Hà Nội.

Lễ hội Thập Tam Trại tại Hà Nội

Trong lễ rước có đầy đủ 13 làng trại là Cống Vị, Vĩnh Phúc, Liễu Giai, Ngọc Hà, Xuân Biểu, Thủ Lệ, Vạn Phúc, Hữu Tiệp, Kim Mã, Cống Yên, Ngọc Khánh, Đại Yên, Giảng Võ, bên cạnh đó còn có sự tham gia của làng trại Lệ Mật, Hào Nam... Lễ hội Thập Tam Trại được bắt đầu từ 8 giờ sáng với màn diễu hành long trọng trước lễ đài. Dẫn đầu đoàn diễu hành là đội trống, đội cờ, theo sau là đội cờ lễ và đội người cầm cờ hoa. Sau đó sẽ là lễ rước kiệu, nhảy múa ca hát của 13 làng trại theo thứ tự của được sắp xếp, tiếp nữa là các cụ bô lão, thanh niên nam nữ trong y phục quần áo lễ hội truyền thống. Đoàn rước sẽ rước di chuyển ra cổng làng Ngọc Hà, diễu hành trên tuyến đường Ngọc Hà đến đường Hoàng Hoa Thám, sau đó trở lại và đi một vòng quanh hồ trong công viên Bách Thảo. Lễ rước kiệu diễn ra rất long trọng Lễ hội Thập Tam Trại ngày nay đã được mở rộng với nhiều tiết mụ biểu diễn nghệ thuật và dưỡng sinh đặc sắc như màn biểu diễn múa quạt dưỡng sinh do 100 cụ bà biểu diễn rất đẹp mắt. Tiếp theo chương trình sẽ là màn biểu diễn võ thuật của 100 võ sinh, cũng là tiết mục được rất nhiều người yêu thích. Kết thúc phần biểu diễn diễu hành sẽ là màn Ngũ Long với 5 con rồng với đầy đủ mầu sắc cùng múa lượn biểu diễn rất đẹp mắt. Trong chương trình lễ hội còn có nhiều trò chơi dân gian như: chọi gà, đánh cờ người, đánh đu tre, đập niêu đất... Các hoạt động khác như hội thi bày mâm hoa quả, hát dân ca trên thuyền, ca trù, trưng bày các loại cây cảnh, dân ca hay hát chèo. Tiết mục “Chém rắn” của làng trại Lệ Mật là tiết mục cuối cùng để kết thúc lễ hội và cũng chính là tiết mục được rất nhiều người dân chờ đợi. Đoàn lễ của làng trại Đại Yên Lễ hội Thập Tam trại với ý nghĩa tôn vinh, tưởng niệm và ghi nhớ công ơn của ông Nguyễn Quý Công, người đã có công khai hoang đất đai, lập làng, ngoài ra, lễ hội còn là nơi giáo dục con cháu truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, tín ngưỡng tâm linh của người xưa, những giá trị văn hóa truyền thống, cũng là dịp để người dân 13 làng trại ôn lại những trang sử dựng làng trại đầy khó khăn, thử thách, của các vị tiền hiền. Lễ hội Thập Tam Trại là một trong những sự kiện văn hóa đã thu hút đông đảo quần chúng nhân dân tham gia, đã thể hiện một cách sinh động nền văn hóa cổ xưa kết hợp với hiện đại. Lễ hội này còn góp phần thúc đẩy quần chúng giao lưu hội tụ, tạo nên sức mạnh đoàn kết, qua đó khơi dậy lòng tự về lịch sử, về dân tộc và những vị anh hùng đã có công với đất nước. Lễ hội Thập Tam Trại là một lễ hội lớn do 13 làng trại tại Hà Nội tổ chức

Lễ rước kiệu diễn ra rất long trọng

Related Figures

Lễ hội núi Sưa

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 19/1 Âm lịch Lễ hội Núi Sưa được tổ chức vào ngày 19 tháng Giêng hàng năm, tại phường Ngọc Hà, Hà Nội. Lễ hội này do 3 làng cổ là Ngọc Hà, Xuân Biểu và Hữu Tiệp tổ chức, cả ba làng này đều thờ Đức Huyền Thiên Hắc Đế là Thành Hoàng làng. Tương truyền, Đức Huyền Thiên Hắc Đế là người đã có công phò trợ vua Lý Thánh Tông đánh quân Chiêm Thành. Ngày 19 tháng Giêng là ngày sinh của Ông nên dân làng nơi đây đã lấy ngày này là ngày mở hội hàng năm. Các vị bô lão của làng đang hành lễ trước đền Lễ hội Núi Sưa được bắt đầu từ lúc sáng sớm với màn tế lễ của các bô lão của ba làng. Các bô lão trong làng tham dự tế lễ đều phải mặc trang phục lễ trông rất oai nghiêm. Khi tế lễ, các cụ đứng nghiêm trang trước sân đền và tuyên biểu tấu với Thần Thành Hoàng về những việc nhân dân trong làng đã làm được trong một năm vừa qua, và cầu xin thần phù hộ cho dân được bình an, mưa thuận gió hòa, công việc thuận lợi, nhân dân được hưởng an vui. Sau màn tế lễ sẽ đến màn rước kiệu, lễ này cũng được tổ chức hoành tráng với rất đông con cháu của cả ba làng tham gia và du khách thập phương xem hội. Các chàng trai và cô gái trong nhưng trang phục cổ truyền có màu sắc sặc sỡ khiến cả đoàn rước nổi bật hẳn lên, người cầm cờ, người cầm hoa, đi theo sau là đội kiệu do các trai tráng khỏe mạnh khiêng, tiếp theo là các bô lão trong làng cùng bước theo sau với những bộ trang phục lễ có màu sắc nổi bật, nét mặt cụ nào cũng thể hiện sự phấn khởi vui mừng như tỏ lòng báo công với Thần hoàng. Lễ hội Núi Sưa là lễ hội nổi bật nhất của 3 làng trại trong 13 trại cổ ở Hà Nội vẫn còn duy trì và phát triển cho đến ngày nay. Trong dịp lễ hội Núi Sưa còn có nhiều trò chơi vui, các tiết mục biểu diễn văn nghệ như đánh cờ người, đấu võ, hát chèo, chọi gà... được nhân dân của ba làng và người dân các vùng khác hưởng ứng tham gia. Lễ hội Núi Sưa là một trong những lễ hội nổi bật nhất của 3 làng trại trong số 13 trại cổ của Hà Nội vẫn còn duy trì và phát triển cho đến ngày nay.

Lễ hội Núi Sưa được tổ chức vào ngày 19 tháng Giêng hàng năm, tại phường Ngọc Hà, Hà Nội. Lễ hội này do 3 làng cổ là Ngọc Hà, Xuân Biểu và Hữu Tiệp tổ chức, cả ba làng này đều thờ Đức Huyền Thiên Hắc Đế là Thành Hoàng làng. Tương truyền, Đức Huyền Thiên Hắc Đế là người đã có công phò trợ vua Lý Thánh Tông đánh quân Chiêm Thành. Ngày 19 tháng Giêng là ngày sinh của Ông nên dân làng nơi đây đã lấy ngày này là ngày mở hội hàng năm.

Các vị bô lão của làng đang hành lễ trước đền

Lễ hội Núi Sưa được bắt đầu từ lúc sáng sớm với màn tế lễ của các bô lão của ba làng. Các bô lão trong làng tham dự tế lễ đều phải mặc trang phục lễ trông rất oai nghiêm. Khi tế lễ, các cụ đứng nghiêm trang trước sân đền và tuyên biểu tấu với Thần Thành Hoàng về những việc nhân dân trong làng đã làm được trong một năm vừa qua, và cầu xin thần phù hộ cho dân được bình an, mưa thuận gió hòa, công việc thuận lợi, nhân dân được hưởng an vui. Sau màn tế lễ sẽ đến màn rước kiệu, lễ này cũng được tổ chức hoành tráng với rất đông con cháu của cả ba làng tham gia và du khách thập phương xem hội. Các chàng trai và cô gái trong nhưng trang phục cổ truyền có màu sắc sặc sỡ khiến cả đoàn rước nổi bật hẳn lên, người cầm cờ, người cầm hoa, đi theo sau là đội kiệu do các trai tráng khỏe mạnh khiêng, tiếp theo là các bô lão trong làng cùng bước theo sau với những bộ trang phục lễ có màu sắc nổi bật, nét mặt cụ nào cũng thể hiện sự phấn khởi vui mừng như tỏ lòng báo công với Thần hoàng.

Lễ hội Núi Sưa là lễ hội nổi bật nhất của 3 làng trại trong 13 trại cổ ở Hà Nội vẫn còn duy trì và phát triển cho đến ngày nay. Trong dịp lễ hội Núi Sưa còn có nhiều trò chơi vui, các tiết mục biểu diễn văn nghệ như đánh cờ người, đấu võ, hát chèo, chọi gà... được nhân dân của ba làng và người dân các vùng khác hưởng ứng tham gia. Lễ hội Núi Sưa là một trong những lễ hội nổi bật nhất của 3 làng trại trong số 13 trại cổ của Hà Nội vẫn còn duy trì và phát triển cho đến ngày nay.

Related Figures

Lễ hội làng Huỳnh Cung

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 18/1- 21/1 Âm lịch Đình Huỳnh Cung nằm ở xã Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội, là nơi thờ Uy Mang đại vương và Hồng Bác đại vương, là hai người con của Vua Hùng Vương thứ 17. Theo thần phả có ghi chép lại, cả hai vị đại vương này đều tinh thông võ nghệ và có sức khỏe phi thường, đã có công trợ giúp nước nên được nhà Vua phong thần, được người dân tôn làm Thành hoàng của làng. Trong đình Huỳnh Cung còn thờ Chu Văn An, cũng là người đã có công lớn đối với nhân dân làng Huỳnh Cung. Lễ hội đình Cung được tổ chức trong vòng 4 ngày, kể từ ngày 18-21 thángG Giêng âm lịch hàng năm, nhằm tôn vinh hai vị Thành hoàng làng cùng Đức thánh hiền Chu Văn An. Lễ hội làng Huỳnh Cung tại Hà Nội Buổi sáng ngày 18/01, nhóm người đã được dân làng chọn ra từ trước để phục vụ lễ hội sẽ vào bao sái tượng (tức lau tượng) và các đồ lễ trong đình. Đầu giờ chiều cùng ngày, đội lễ gồm các bô lão trong trang phục tế lễ cổ truyền với màu sắc sặc sỡ đã tề tựu đầy đủ trước cửa ở sân đình để chuẩn bị tễ tế trong nhịp trống trầm hùng. Ngày 19 sẽ là khoảng thời gian để các dòng họ, gia đình và người dân từ các nơi khác đến dâng lễ thánh. Buổi chiều và tối sẽ tổ chức biểu diễn văn nghệ truyền thống ngay tại sân đình. Ngày 20 là ngày chính của hội, trong không khí tưng bừng, tiếng trống hội vang lên từng hồi rộn ràng, từ sáng sớm với màn tuyên dương các em học sinh đã có thành tích cao trong các cuộc thi học sinh giỏi cấp huyện và thành phố, gia đình nào có người đỗ đạt cao và giúp ích cho đất nước cho làng xã làng xã. Tiếp theo sẽ là màn rước kiệu, sẽ được tổ chức tại tượng đài lưu niệm Hồ Chủ Tịch, di chuyển lên chùa làng tế lễ , sau đó dâng hương Đức thánh Chu Văn An. Đội đội lễ của các dòng họ và nhân dân trong làng Màn rước kiệu diễn ra hoành tráng, đoàn rước đi từ đình đến chùa với sự tham gia của đông đảo dân làng. Dẫn đầu là đoàn múa sư tử với trống chiêng rộn ràng do các võ sinh trong làng biểu diễn, tiếp đến sẽ là rước ảnh Bác Hồ của đội các em thiếu nhi, tiếp đến nữa là đội đội đồ lễ của các dòng họ và người dân trong làng, kế sau là đội tế lễ, và sau cùng là một đội khiêng kiệu do thanh niên nam nữ của làng đảm nhiệm. Buổi chiều giao lưu văn hóa văn nghệ và bóng đá giữa các làng tại sân vận động của xã. Ngày 21 là cuối cùng của lễ hội. Từ sáng sớm các bô lão của làng đã chuẩn bị quần áo lễ phục trang nghiêm, tề tựu về sân đình để làm lễ tạ tại đình làng và tuyên bố dã hội. Các bô lão đứng thành từng hàng ngay ngắn để cử hành tế lễ Lễ hội làng Huỳnh Cung diễn ra hàng năm với qui mô tương đối lớn. Lễ hội diễn ra trong không khí trang nghiêm và thành kính của nhân dân trong làng và khách xem hội.

Đình Huỳnh Cung nằm ở xã Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội, là nơi thờ Uy Mang đại vương và Hồng Bác đại vương, là hai người con của Vua Hùng Vương thứ 17. Theo thần phả có ghi chép lại, cả hai vị đại vương này đều tinh thông võ nghệ và có sức khỏe phi thường, đã có công trợ giúp nước nên được nhà Vua phong thần, được người dân tôn làm Thành hoàng của làng. Trong đình Huỳnh Cung còn thờ Chu Văn An, cũng là người đã có công lớn đối với nhân dân làng Huỳnh Cung. Lễ hội đình Cung được tổ chức trong vòng 4 ngày, kể từ ngày 18-21 thángG Giêng âm lịch hàng năm, nhằm tôn vinh hai vị Thành hoàng làng cùng Đức thánh hiền Chu Văn An.

Lễ hội làng Huỳnh Cung tại Hà Nội

Buổi sáng ngày 18/01, nhóm người đã được dân làng chọn ra từ trước để phục vụ lễ hội sẽ vào bao sái tượng (tức lau tượng) và các đồ lễ trong đình. Đầu giờ chiều cùng ngày, đội lễ gồm các bô lão trong trang phục tế lễ cổ truyền với màu sắc sặc sỡ đã tề tựu đầy đủ trước cửa ở sân đình để chuẩn bị tễ tế trong nhịp trống trầm hùng. Ngày 19 sẽ là khoảng thời gian để các dòng họ, gia đình và người dân từ các nơi khác đến dâng lễ thánh. Buổi chiều và tối sẽ tổ chức biểu diễn văn nghệ truyền thống ngay tại sân đình. Ngày 20 là ngày chính của hội, trong không khí tưng bừng, tiếng trống hội vang lên từng hồi rộn ràng, từ sáng sớm với màn tuyên dương các em học sinh đã có thành tích cao trong các cuộc thi học sinh giỏi cấp huyện và thành phố, gia đình nào có người đỗ đạt cao và giúp ích cho đất nước cho làng xã làng xã. Tiếp theo sẽ là màn rước kiệu, sẽ được tổ chức tại tượng đài lưu niệm Hồ Chủ Tịch, di chuyển lên chùa làng tế lễ , sau đó dâng hương Đức thánh Chu Văn An. Đội đội lễ của các dòng họ và nhân dân trong làng Màn rước kiệu diễn ra hoành tráng, đoàn rước đi từ đình đến chùa với sự tham gia của đông đảo dân làng. Dẫn đầu là đoàn múa sư tử với trống chiêng rộn ràng do các võ sinh trong làng biểu diễn, tiếp đến sẽ là rước ảnh Bác Hồ của đội các em thiếu nhi, tiếp đến nữa là đội đội đồ lễ của các dòng họ và người dân trong làng, kế sau là đội tế lễ, và sau cùng là một đội khiêng kiệu do thanh niên nam nữ của làng đảm nhiệm. Buổi chiều giao lưu văn hóa văn nghệ và bóng đá giữa các làng tại sân vận động của xã. Ngày 21 là cuối cùng của lễ hội. Từ sáng sớm các bô lão của làng đã chuẩn bị quần áo lễ phục trang nghiêm, tề tựu về sân đình để làm lễ tạ tại đình làng và tuyên bố dã hội. Các bô lão đứng thành từng hàng ngay ngắn để cử hành tế lễ Lễ hội làng Huỳnh Cung diễn ra hàng năm với qui mô tương đối lớn. Lễ hội diễn ra trong không khí trang nghiêm và thành kính của nhân dân trong làng và khách xem hội.

Related Figures

Hội đánh cá làng Me

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 2/2- 10/2 Âm lịch Làng Me là một tên khác của xã Cung Thuận, ngày nay thuộc xã Tích Giang, huyện Phúc Thọ, Hà Nội. Trong tâm thức của người dân trong làng, Đức thánh Tản là người đã có công đánh thắng Thủy Tinh và diệt trừ loài thủy quái, mang lại mùa màng tươi tốt cho nhân dân trong vùng. Chính vì vậy, để ghi nhớ công ơn to lớn của Thánh Tản, người dân làng Me hàng năm đều tổ chức đánh bắt các loài thủy tộc để dâng lên Ngài. Xuất phát từ quan niệm của người xưa, người làng Me đã có tục thi đánh cá vào mỗi dịp hội làng. Hội làng diễn ra từ ngày mồng 2 đến hết ngày mồng 10 tháng 2 Âm lịch hàng năm. Hội làng Me hấp dẫn bởi nhiều trò vui dân gian, nhưng đặc sắc và thu hút được nhieuf tham gia hơn cả là cuộc thi đánh cá được tổ chức vào buổi sáng ngày mồng 4 tháng 2. Làng Me có một cái ao hình vòng cung khá rộng, trông từ xa như ôm lấy ngôi đình vậy, dân làng vẫn gọi cái ao này là ao đình. Cá thả trong ao đình bất kỳ ai cũng không được đánh bắt trước khi vào lễ hội. Hàng năm, dân làng sẽ phân công gia đình nào đó trông nom ao cá chu đáo, chính vì vậy cá ở ao đình sinh sôi nảy nở rất mạnh và đa dạng về chủng loại: trắm, chép, mè, trôi... Các đội tham gia thi bắt cá Sáng sớm ngày mồng 4 tháng 2, từ các xóm, các ngõ, bà con dân làng đã nô nức đổ về ao đình để xem hội thi đánh cá. Xung quanh ao đình, hàng mấy trăm người được chia thành nhiều phe, giáp đã về dự khá đông với đủ nơm, vó, cụp... chỉ chờ nghe lệnh để xuống bắt cá. Quang cảnh của hội thi bắt cá diễn ra hết sức nhộn nhịp, kèm theo sự hồi hộp và những tiếng reo hò cổ vũ nhiệt tình. Vòng trong sẽ là những người tham gia cuộc thi, dáng vẻ người nào cũng hăm hở, có người miệng còn chóp chép nhai trầu cho đỡ lạnh. Còn vòng ngoài thì là tầng tầng, lớp lớp người đi xem hội, đứng cổ vũ chật ních cả một vòng ao, không còn chỗ nào hở. Người dân ở các xã lân cận cũng đổ xô tới xem rất đông. Hội đánh bắt cá làng Me diễn ra rất vui vẻ và náo nhiệt Sau khi vị một đại diện của làng cử hành lễ khấn để xin lệnh đức Thánh ở đình xong thì một hồi trống ngũ cũng vang lên, như hiệu lệnh bắt đầu cuộc thi. Tất cả những người dự thi đua nhau nhảy ùm xuống ao. Kẻ úp nơm người chụp, tất cả khua múa rối rít, loạn xạ cả lên. Nước ao lúc nào cũng chao động sóng sánh, bọt nước nổi lên đục ngầu, bắn tung toé lên cả trên bờ. Tiếng người đuổi bắt cá ở dưới ao hò reo 1, thì những người cổ vũ trên bờ phải hò 10, thêm vào đó là những nhịp trống thúc giục khiến không khí ngày hội càng thêm tưng bừng. Với các công cụ trong tay, ai cũng vận dụng hết khả năng của mình, họ chen lấn nhau, tranh nhau từng khoảng trống, khiến cho những con cá bị dồn đuổi nhảy tứ tung, có con còn nhảy cả lên trên bờ. Mỗi khi có người nào đó bắt được cá hoặc bắt trượt cá, thì trên bờ tiếng hò reo lại nổi lên như sấm dậy. Khi có người bắt cá sẽ nhanh tay đưa ngay cho người nhà đang đã đợi sẵn trên bờ để gom thành từng phần để tính điểm thi. Một thanh niên bắt được con cá to Hội thi đánh cá diễn ra một cách ồn ào, sôi động, và diễn ra đến đầu giờ chiều, khi nào có tiếng pháo nổ thì tất cả mới dừng lại. Lúc này, từng phần cá được người dân lần lượt khiêng cả vào sân đình để ban chủ hội chấm điểm. Lúc này, đám người xem hội cũng ùa vào theo, nhất là đám thanh niên nam nữ tha hồ xô đẩy, hò hét ầm ĩ. Những người được chiến thắng, nhận được phần thưởng mặt mày hớn hở. Những người không được giải cũng không vì thế mà buồn, mà thậm chí họ còn thấy vui. Người làng Me ngày hôm ấy đắm mình trong bầu không khí vui vẻ sôi động của ngày hội. Số cá bắt được trong hội thi sẽ được chia đều cho các hộ gia đình trong làng để làm tiệc cá. Tục thi đánh bắt cá làng Me đã thể hiện một cách sống động đời sống văn hóa của những người dân vùng nông nghiệp thời cổ xưa. Có một số nơi khác ở xứ Đoài cũng tổ chức tục thi đánh cá và thờ thần núi Tản Viên, nhưng không khí hội thi đánh cá làng Me bao giờ cũng vui hơn nhất, đặc sắc nhất. Chính vì vậy, hội thi này đã được nhân dân khắp nơi hưởng ứng và ngợi ca, và không biết từ bao giờ nó đã gắn liền với đời sống tinh thần của người dân làng Me.

Related Figures

Lễ hội đền Đồng Nhân

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 3/2- 6/2 Âm lịch Đền Đồng Nhân thuộc địa phận quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, là nơi thờ hai bà Trưng Trắc và Trưng Nhị, là hai nữ anh hùng kiệt suất của dân tộc, đã đứng lên chỉ huy cuộc khởi nghĩa chống lại quân Đông Hán để giành độc lập cho đất nước. Từ lâu, đã thành thông lệ, hàng năm, cứ đến ngày mồng 3, 4,5, 6 tháng 2 âm lịch, nhân dân phường Đồng Nhân cùng người dân Thủ đô và du khách khắp nơi lại nô nức tề tựu về đây để trẩy hội đền Đồng Nhân, tưởng niệm về Hai Bà Trưng. Sân đền Đồng Nhân trong dịp lễ hội Ngày mồng 4 tháng 2, từ sáng sớm các cụ ông phường Đồng Nhân đã tề tựu về đền, ai nấy đề mặc trang phục ngày lễ và mũ, giầy chỉnh tề để cử hành lễ bao sái đồ thờ, sau đó là lễ tế yết xin đức Thánh cho khai hội. Tiếp theo, các cụ bà sẽ tiến hành lễ dâng cúng trà, rượu và hậu cung như tục xưa. Kế đến là đội tế nữ sẽ làm lễ dâng hương lễ Thánh. Ngày mồng 5 là ngày chính hội, có lễ tắm tượng và mở cửa hậu cung, sau đó là tế và múa đèn. Đặc biệt, lễ rước thánh giá được cử hành long trọng. Lộ trình rước kiệu là từ đền ra đến sông Hồng để cử hành lễ tắm tượng. Sau đó sẽ rước tượng Hai Bà Trưng về đền. Cuộc tế được tiến hành trong không khí trang nghiêm. Phần lễ còn có nhiều tiết mục đặc sắc khác, điển hình nhất là điệu múa đèn thờ. Một đội gồm 10 đến 12 cô gái trẻ đẹp, mặc những bộ y phục rất sặc sỡ, mỗi cô cầm hai ngọn đèn để biểu diễn. Các cô gái biểu diễn những điệu múa uyển chuyển theo nhịp của tiếng trống cơm bập bùng khiến lòng người càng náo nức hơn. Trong lễ hội còn tổ chức nhiều trò chơi vui. Ngày mồng 6 sẽ làm lễ kết thúc và đóng cửa đền. Các bị bô lão mặc y phục lễ hội để cử hành các nghi lễ của lễ hội Lễ hội Đồng Nhân là một lễ hội truyền thống đặc sắc của người dân Thủ đô, với mục đích nhắc nhở con cháu thế hệ sau hãy luôn biết hướng về cội nguồn, luôn ghi nhớ công ơn của các vị anh hùng của dân tộc đã có công lớn trong các cuộc chiến chống giặc giữ nước./. Một tiết mục biểu diễn thể hiện tinh thần thượng võ

Đền Đồng Nhân thuộc địa phận quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, là nơi thờ hai bà Trưng Trắc và Trưng Nhị, là hai nữ anh hùng kiệt suất của dân tộc, đã đứng lên chỉ huy cuộc khởi nghĩa chống lại quân Đông Hán để giành độc lập cho đất nước. Từ lâu, đã thành thông lệ, hàng năm, cứ đến ngày mồng 3, 4,5, 6 tháng 2 âm lịch, nhân dân phường Đồng Nhân cùng người dân Thủ đô và du khách khắp nơi lại nô nức tề tựu về đây để trẩy hội đền Đồng Nhân, tưởng niệm về Hai Bà Trưng.

Sân đền Đồng Nhân trong dịp lễ hội

Ngày mồng 4 tháng 2, từ sáng sớm các cụ ông phường Đồng Nhân đã tề tựu về đền, ai nấy đề mặc trang phục ngày lễ và mũ, giầy chỉnh tề để cử hành lễ bao sái đồ thờ, sau đó là lễ tế yết xin đức Thánh cho khai hội. Tiếp theo, các cụ bà sẽ tiến hành lễ dâng cúng trà, rượu và hậu cung như tục xưa. Kế đến là đội tế nữ sẽ làm lễ dâng hương lễ Thánh.

Ngày mồng 5 là ngày chính hội, có lễ tắm tượng và mở cửa hậu cung, sau đó là tế và múa đèn. Đặc biệt, lễ rước thánh giá được cử hành long trọng. Lộ trình rước kiệu là từ đền ra đến sông Hồng để cử hành lễ tắm tượng. Sau đó sẽ rước tượng Hai Bà Trưng về đền. Cuộc tế được tiến hành trong không khí trang nghiêm. Phần lễ còn có nhiều tiết mục đặc sắc khác, điển hình nhất là điệu múa đèn thờ. Một đội gồm 10 đến 12 cô gái trẻ đẹp, mặc những bộ y phục rất sặc sỡ, mỗi cô cầm hai ngọn đèn để biểu diễn. Các cô gái biểu diễn những điệu múa uyển chuyển theo nhịp của tiếng trống cơm bập bùng khiến lòng người càng náo nức hơn. Trong lễ hội còn tổ chức nhiều trò chơi vui. Ngày mồng 6 sẽ làm lễ kết thúc và đóng cửa đền. Các bị bô lão mặc y phục lễ hội để cử hành các nghi lễ của lễ hội Lễ hội Đồng Nhân là một lễ hội truyền thống đặc sắc của người dân Thủ đô, với mục đích nhắc nhở con cháu thế hệ sau hãy luôn biết hướng về cội nguồn, luôn ghi nhớ công ơn của các vị anh hùng của dân tộc đã có công lớn trong các cuộc chiến chống giặc giữ nước./. Một tiết mục biểu diễn thể hiện tinh thần thượng võ

Related Figures

Hội làng Thanh Am

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 9/3- 10/3 Âm lịch Thanh Am là một làng thuộc xã Thượng Thanh, Huyện Gia lâm, thành phố Hà Nội. Làng Thanh Am là một làng cổ ở ven đô, nằm cạnh sông Đuống, Xưa kia vẫn được gọi với cái tên nôm là làng Đuống. Cứ mỗi dịp xuân về, dân làng Thanh Am lại mở hội, đây là một nét sinh hoạt văn hoá truyền thống đã có sức cuốn hút rất lớn đối với người tham gia, đồng thời trở thành điều không thể thiếu đời sống tinh thần của người dân thủ đô. Hội làng Thanh Am diễn ra trong 2 ngày, kể từ mồng 9 đến hết ngày mồng 10 tháng ba âm lịch, trong đó ngày mồng 10 là ngày chính hội. Ngày mồng 9 mở đầu với nghi lễ rước nước. Người dân trong làng và người dân các vùng lân cận đã tề tựu đông đủ, họ ăn mặc chỉnh tề, thái độ rất trang túc. Theo trình tự, cờ thần đi đầu, đội “a dứ” sẽ theo sau. Đội này có 4 hoặc 8 thanh niên nam mặc quần áo màu trắng, thắt khăn xanh đỏ ở ngang lưng, tay cầm cây cờ đuôi nheo ngũ sắc, chạy ngược chạy xuôi và chạy hình vòng cung, miệng hú “a dứ rồi phất cờ từ phải sang trái và ngược lại, ”. Sau đội “a dứ” sẽ là hàng bát bửu, kế đến là đội trống chiêng mở đường cho kiệu thánh theo phía sau. Sau đội kiệu thánh còn có đội nữ mặc áo thụng xanh hoặc hồng, đầu có đội khăn xếp rộng màu vàng, thắt khăn màu bỏ múi ra bên ở ngang lưng, họ vừa đi vừa múa sênh tiền trông khá duyên dáng và yểu điệu. Đi theo sau là cụ tiên chỉ làng hay còn gọi là cụ từ với lễ phục màu đỏ, đội mũ tế, chân deo hia. Tiếp theo là đại biểu của 2 làng kết chạ Lê Xá và Cống Thôn, rồi mới đến các vãi và thanh niên trai tráng trong làng, đoàn rước đi thành hàng đôi có khi đoàn dài hơn cây số. Lễ rước nước ngày mùng 9 Đoàn rước kiệu xuất phát từ đình, đi vòng qua nửa làng rồi lên đê, đi men theo con đê một đoạn dài, rồi dừng lại ở nơi đã cắm sẵn lá cờ thần và một chiếc thuyền bằng gỗ có trang trí thêm những dải lụa đỏ chung quanh thuyền đã chờ sẵn từ trước. Khi pháo lệnh nổ, cờ cũng dàn ra hai bên, kiệu thánh cũng dừng. Lúc này tiếng chiêng trống dồn dập. Cụ tiên chỉ thong thả bước lên thuyền, 2 trai làng đi sau khênh một chiếc choé có phủ tấm vải điều cũng bước theo xuống. Pháo lệnh nổ tiếp thì thuyền chèo sẽ tiến ra giữa sông và đi ngược lên một đoạn để chọn nơi có dòng nước trong hơn thì dừng lại. Một tràng pháo tép lại tiếp tục vang lên, khói lan toả ra một vùng sông quyện vào với làn sóng. Khi tiếng pháo dứt, cụ tiên chỉ cầm gáo múc nước khoan thai múc từng gáo lên và đổ vào choé bằng gốm sứ Bát Tràng. Khi choé đã đầy nước thì cụ tiên chỉ sẽ đậy nắp lại và lại dùng vải điểu phủ lên trên. Thuyền cũng quay mũi chèo về cập bến, các trai làng lại khênh chóe lên bờ đặt lên kiệu. Đoàn rước nước lại đi theo trình tự ban đầu và tiếp tục rước về đình làng. Khi về tới đình, lúc này cũng đã 9 - 10 giờ sáng, kiệu được đặt ngoài sân ở trước cửa đình được tàn, lọng che. Riêng choé nước thì được rước vào chính tẩm. Sau đó, hai đội nam và nữ sẽ lần lượt vào đình hành lễ, xong xuôi thì đến các đội khác như đội sênh tiền, a dứ, nhạc lễ và cuối cùng là bà con thập phương. Đoàn tế lễ chuẩn bị làm lễ mộc dục Cụ tiên chỉ sẽ trịnh trọng rót từ trong chóe ra các bình nhỏ, sau đó rót vào các chén nhỏ để cúng, còn lại sẽ dùng để “mộc dục”, tức là tắm rửa cho các tượng thánh và ngai thờ. Lễ rước như vậy là đã hoàn tất trước ngày diễn ra lễ hội chính. Phong tục rước nước này cũng là một phong tục và khá chung phổ biến của những người dân sống bằng nông nghiệp, nó ẩn chứa điều mong muốn và niềm khát khao về sự hài hòa của tự nhiên, mưa thuận gió hoà, hoa màu được tươi tốt, cây lúa năng suất, vụ mùa bội thu, cuộc sống của người dân ngày thêm no đủ thịnh vượng. Lễ tế trong đình làng Ngày mồng 10 là ngày chính hội. Cả ngày hôm đó hương khói lan tỏa nghi ngút. Đội nữ làm lễ dâng hương thì đến đội nam tế. Sau 2 đội này tế xong là các “chạ” anh vào tế và khách thập thập phương vào cúng vái… Điều đặc biệt ở hội làng Thanh Am là phụ nữ là người cử hành lễ dâng hương, từ xa xưa kia ít nơi có bởi quan niệm của người dân trong chế độ phong kiến rất khắt khe “nữ nhân bất đáo đình trung”. Nhưng khi hỏi ra mới biết, nơi đây còn thờ 2 nữ tướng của Hai Bà Trưng là Đào phu nhân (Phương Dung công chúa) và Đào Kỳ; vì có thờ nữ tướng nên nữ giới mới được phép tham dự tế lễ. Các dòng họ trong làng cũng đội xôi gà ra để dâng lễ thần thánh, lễ xong sẽ đem về các nhà trưởng họ để chia lộc hoặc cùng thụ lộc tại đấy. Chiều và tối chủ yếu là các trò vui chơi. Trong đình còn có chiếu chèo hoặc diễn tích tuồng. Hai loại hình nghệ thuật truyền thống này thu hút được sự quan tâm của phần lớn các cụ ông, cụ bà mà chưa hấp dẫn được thế hệ thanh thiếu nhi, chính vì vậy có năm ban tổ chức lễ hội đã xin phép các cụ bô lão trong làng mời đoàn hát quan họ Bắc Ninh về biểu diễn. Hát quan họ trên thuyền rồng hoặc bơi trước ao đình để người xem hội có thể ngồi hoặc đứng quanh sân cùng thưởng thức và cũng có thể thưởng cho các nghệ nhân. Ngoài tiết mục hát quan họ, theo các cụ già của làng kể lại, xưa kia hội làng còn tổ chức cả trò đuổi bắt vịt dưới ao, kéo co, hoặc các vùng khác sẽ mang gà đến chọi…Hội làng Thanh Am xưa là như vậy đó. Ngày nay thời thế đã đổi khác rồi, thanh niên nam nữ trong làng không tìm hiểu nhau qua những câu hát đối đáp xa xưa. Thay vào những điệu hát ví là hát những ca khúc mới hoặc những bài thơ do họ tự biên tự diễn… Lớp trung niên thì ham trò cầu lông và biểu diễn dưỡng sinh Thái cực quyền, lớp các cụ già cũng bỏ tổ tôm, xóc đĩa, tài bàn để vui với cờ tướng... Lễ và hội trong ngày hội làng Thanh Am vừa giữ được nét truyền thống xưa vừa có nhiều đổi mới trong các nghi thức nhưng vẫn vui, vẫn lành mạnh và đậm đà bản sắc dân tộc.

Related Figures

Hội làng Động Phí

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 3/1- 4/1 Âm lịch Làng Động Phí nằm ở xã Phương Tú thuộc huyện Ứng Hoà, Hà Nội. Trước đây, Động Phí là một xã gồm 3 thôn là Nguyễn Xã, Động Phí, Ngọc Động, thuộc tổng Đạo Tú của huyện Ứng Hoà. Ngày nay, ba thôn này thuộc địa phận xã Phương Tú. Lễ hội làng Động Phí là một trong những lễ hội lớn trong vùng vẫn được tổ chức vào 2 là ngày mồng 3, 4 tết hàng năm, với sự tham gia của 2 thôn là Ngọc Động và Nguyễn Xá. Đình làng Ngọc Động và đình làng Động Phí và đình làng Nguyễn Xá là nơi thờ ba vị Thành hoàng là hai anh em Bạch Địa, Bạch Tượng và người em Đô Đài, những người đã có công giúp vua Đinh Bộ Lĩnh đánh tan giặc ngoại xâm thống nhất đất nước. Do Bạc Tượng là anh cả nên hội làng Động Phí thường tổ chức lớn nhất. Ngày chính hội làng Động Phí là ngày mồng 4 tháng Giêng. Tương truyền, ngày này là ngày huy công Bạch Tượng xuất trận đánh tan quân thù. Tuy nhiên, hội làng này đã được tổ chức tưng bừng bắt đầu từ chiều ngày mồng 3 tết. Hôm đó, làng tổ chức lễ nghiềm quân nhằm biểu dương lực lượng đã tham gia rước kiệu Thành hoàng. Tất cả quân rước tề tựu đông đủ tại sân trước nhà đại bái trong đình Động Phí, dưới sự chỉ dẫn của ban khánh tiết, đoàn rước sẽ theo trình tự từ đình ra đầu làng, sau đó xuống cuối làng. Biểu diễn múa trống tại lễ hội Hội đình nghiềm quân gồm có đội cờ, nhạc bát âm, rước bát bửu, múa sênh tiền gồm 12 - 16 em gái, đội trống nữ và đội múa rồng phù giá kiệu. Đáng chú ý nhất của hội rước làng Động Phí gồm bốn cỗ kiệu: 1. Kiệu Tam tự (một đỉnh đồng và hai cây nến bằng đồng). 2. Kiệu ngũ sự (một đỉnh, hai cây nến bằng đồng và hai lọ lộc bình). 3. Kiệu long đình có đặt long ngài bài vị đức bản thổ. 4. Kiệu bát cống được 16 người khiêng, trên kiệu đặt long ngài bài vị của Bạch Tượng đại vương. Trò cướp cầu xưa Rước kiệu Thánh một vòng đi quanh làng xong thì hồi giá trở lại đình, xếp các cỗ kiệu ở trước cửa nhà đại bái. Buổi tối, các cụ già trong làng sẽ tổ chức lễ tế Thành hoàng. Việc tế diễn ra rất nghiêm trang. Tục từ xưa đến nay, mỗi lần vào hội làng Động Phí phải chuẩn bị một cỗ chay để dâng lễ nhà Thánh. Mâm cỗ chay này gồm: ba bát cơm, ba bát chè, ba bát canh đậu và sáu đĩa (đĩa cùi dừa, đậu ván, lạc, bí, vừng, giá đậu) cũng còn gọi là tục cúng. Sáng ngày mồng 4 tết mới là ngày chính hội, dân làng Động Phí đều tập trung về đình để nghênh đón hai đoàn rước của làng Ngọc Động từ dưới lên và đoàn rước của làng Nguyễn Xá từ trên xuống. Theo quy định, khi đám rước của làng Nguyễn Xá đến trước thì cả đoàn phải dừng ở trước nghi môn để đợi đám rước của làng Ngọc Động đến và đi trước vì Thành hoàng Ngọc Động là thờ cúng Tượng Địa đại vương, người thuộc bậc trên của Thành hoàng làng Nguyễn Xá thờ Đô Đài đại vương. Đây cũng chính là thời điểm không khí ngày hội làng Động Phí tưng bừng nhất. Cuộc hội nhập của đám rước của 3 làng cùng nghênh đón tiếp nhau. Lúc này, đội múa sư tử bắt đầu trình diễn, tiếng trống hội vang lên, đã phá vỡ trật tự nghiêm chỉnh từ trước của đám rước kiệu, có khi còn có cả kiệu quay, kiệu bay. Cờ xí và bát bửu bay phấp phới, rợp cả một vùng trời. Múa trống, múa sênh tiền.... đã bộc lộ rõ tài năng đa dạng. Đặc biệt trong lễ hội trước đây còn có cò trò cướp cầu, ngày nay thì đã không còn. Tương truyền quả cầu này được làm cây chuối hột, có đường kính 0.4m. Lễ cướp cầu thường tổ chức ở sân đình thôn Động Phí, có 5 thôn lân cận tham gia, chia làm 9 keo thường kéo dài 3 ngày, bên nào cướp được cầu rồi đưa vào hố của mình sẽ là đội chiến thắng. Sau những màn trình diễn sôi động của các trò dân gian, các cỗ kiệu Thánh sẽ được đón rước đến nghi môn và đặt ngay ngắn tại trước cửa đình. Bấy giờ các cụ và trong thôn cũng bước vào thực hiện các nghi lễ tế cộng đồng. Cuộc tế lễ thường kéo dài nhiều tuần. Buổi trưa, các làng sẽ tổ chức ăn chay kết nghĩa với nhau. Cuối buổi chiều dân làng Ngọc Động và Nguyễn Xá rước kiệu của làng mình về. Các thôn vẫn tiếp tục nghi lễ tế vào đêm hôm đó tại đình của làng mình. Hội làng Động Phí đã thể hiện được truyền thống uống nước nhớ nguồn, tưởng nhớ công ơn của các vị anh hùng đã có công với đất nước, từ đó thắt chặt mối thân tình giữa các thôn với nhau.

Related Figures

Lễ hội đền Cống Yên

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 12/1- 13/1 Âm lịch Lễ hội đền Cống Yên tại Đền Cống Yên thuộc phường Vĩnh Phúc, Ba Đình, Hà Nội. Hội diễn ra trong 2, kể từ ngày 12 đến hết ngày 13 tháng Giêng âm lịch. Người dân nơi đây suy tôn Đức Thánh Quảng Hồng, là người đã có công trong cuộc chiến chống quân Nguyên ở thế kỷ thứ 13. Ông được phong là Bản Cảnh Thành hoàng Quảng Hồng linh ứng là Thượng đẳng Thần Đại Vương. Lễ hội đền Cống Yên tại Hà Nội Đức Thánh Quảng Hồng sinh ra tại làng Cống Yên thuộc Quảng Đức, phủ Phụng Thiên, chính là trại Cống Yên thuộc phường Vĩnh Phúc, Ba Đình, thành phố Hà Nội ngày nay. Từ năm 1285 đến 1288, giặc Nguyên đã lệnh Ô Mã Nhi đưa quân sang đánh chiếm nước ta. Đức Thánh Quảng Hồng đã trợ giúp vua Trần Nhân Tông đánh tan giặc Nguyên giữ yên bờ cõi. Cổng đền Cống Yên Sáng ngày 12 tháng Giêng ban tổ chức sẽ cử hành lễ yết, sau đó sẽ là tổ chức các cuộc thi vui, các trò chơi dân gian, hiện đại và biểu diễn các tiết mục văn nghệ. Ngày 13 tháng Giêng là ngày chính hội, từ sáng sớm người dân đã chuẩn bị cho duyệt lễ rước cùng các thanh niên trai tráng trong làng, tiếp theo sẽ đến lễ khai mạc lễ hội. Với màn dâng hương lên lễ thánh và đọc thần phả của đền, sau đó cả 2 đội tế lễ nữ và tế lễ nam sẽ tiến vào để làm tế lễ với những bước chân lên xuống nhịp nhàng, nghi lễ diễn ra rất long trọng và trang nghiêm. Tiếp sau đó là các trò chơi, múa hát còn có sự tham gia của nhân dân làng, trong vùng và các khắp nơi lân cận kéo dài đến tận xế chiều. Các cao niên trong làng đang tế lễ Lễ hội đền Cống Yên được tổ chức hàng năm với sự tham gia của đông đảo dân chúng trong và ngoài vùng. Là một trong những lễ hội truyền thống của người dân trong mười ba làng trại cổ thời Lý Nhân Tông.

Lễ hội đền Cống Yên tại Đền Cống Yên thuộc phường Vĩnh Phúc, Ba Đình, Hà Nội. Hội diễn ra trong 2, kể từ ngày 12 đến hết ngày 13 tháng Giêng âm lịch. Người dân nơi đây suy tôn Đức Thánh Quảng Hồng, là người đã có công trong cuộc chiến chống quân Nguyên ở thế kỷ thứ 13. Ông được phong là Bản Cảnh Thành hoàng Quảng Hồng linh ứng là Thượng đẳng Thần Đại Vương.

Lễ hội đền Cống Yên tại Hà Nội

Đức Thánh Quảng Hồng sinh ra tại làng Cống Yên thuộc Quảng Đức, phủ Phụng Thiên, chính là trại Cống Yên thuộc phường Vĩnh Phúc, Ba Đình, thành phố Hà Nội ngày nay. Từ năm 1285 đến 1288, giặc Nguyên đã lệnh Ô Mã Nhi đưa quân sang đánh chiếm nước ta. Đức Thánh Quảng Hồng đã trợ giúp vua Trần Nhân Tông đánh tan giặc Nguyên giữ yên bờ cõi.

Cổng đền Cống Yên

Sáng ngày 12 tháng Giêng ban tổ chức sẽ cử hành lễ yết, sau đó sẽ là tổ chức các cuộc thi vui, các trò chơi dân gian, hiện đại và biểu diễn các tiết mục văn nghệ. Ngày 13 tháng Giêng là ngày chính hội, từ sáng sớm người dân đã chuẩn bị cho duyệt lễ rước cùng các thanh niên trai tráng trong làng, tiếp theo sẽ đến lễ khai mạc lễ hội. Với màn dâng hương lên lễ thánh và đọc thần phả của đền, sau đó cả 2 đội tế lễ nữ và tế lễ nam sẽ tiến vào để làm tế lễ với những bước chân lên xuống nhịp nhàng, nghi lễ diễn ra rất long trọng và trang nghiêm. Tiếp sau đó là các trò chơi, múa hát còn có sự tham gia của nhân dân làng, trong vùng và các khắp nơi lân cận kéo dài đến tận xế chiều. Các cao niên trong làng đang tế lễ Lễ hội đền Cống Yên được tổ chức hàng năm với sự tham gia của đông đảo dân chúng trong và ngoài vùng. Là một trong những lễ hội truyền thống của người dân trong mười ba làng trại cổ thời Lý Nhân Tông.

Related Figures

Lễ hội đình Yên Phụ

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/2 Âm lịch Đình Yên Phụ nằm trên một khu đất ra ở ven Hồ Tây, thuộc địa phận làng Yên Phụ, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội, Đình thờ Uy Đô Linh Lang, là vị hoàng tử, con trai của vua Trần Thánh Tông. Uy Đô Linh Lang là vị anh hùng của dân tộc, đã có công lao lớn trong cuộc chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông. Hội đình Yên Phụ diễn ra vào ngày 10 tháng 2 âm lịch hàng năm, đã thu hút sự tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân từ các địa phương ven hồ Tây như Tứ Liên, Nghi Tàm, Nhật Tân. Đặc biệt, ngôi đình này mỗi dịp lễ hội lại có đoàn kết chạ từ làng Thanh Cù, nơi có di tích Gò Đống Mối, tương truyền là mộ của Uy Đô Linh Lang về tham dự. Hội đình Yên Phụ ngày nay vẫn giữ gìn được nề nếp ngày Hội đình của Hà Nội. Lễ hội đình Yên Phụ tại Hà Nội Lễ hội đình Yên Phụ được bắt đầu từ sáng ngày mồng 10 tháng 2 âm lịch, đầu tiên là lễ tế của các bô lão. Sau nghi thức lễ tế sẽ là màn biểu diễn múa lân múa rồng đặc sắc của các nam thanh niên trong làng. Tiếp theo, lễ hội đình sẽ tiếp tục với màn rước kiệu do 4 chàng thanh niên khoẻ mạnh, mặc trang phục áo dài, dải có tua mạng. Hai kiệu đại được 16 nam thanh niên cường tráng, khoẻ mạnh mặc trang phục áo trắng quần trắng ,thắt đai đỏ, đai xanh khiêng, đi theo sau là đoàn múa sinh tiền, các vị chức sắc bô lão trong làng và nhân dân cùng nhiệt liệt hưởng ứng. Đội múa Rồng và kiệu rước sẽ rước dọc tuyến phố Yên Phụ, sau đó đến đường Thanh Niên rồi hạ kiệu ở chùa Trấn Quốc để thỉnh nước về làm lễ tắm tượng. Đoàn rước sau khi vào chùa Trấn Quốc, được Hòa thượng trụ trì của chùa đọc sớ ban phép cho vào nước thỉnh. Khi thỉnh được nước xong thì cả đoàn lại rước trở về đình và cử hành lễ mộc dục hay lễ tắm tượng. Trong ngày hội đình Yên Phụ, không khí hội còn tưng bừng và náo nức nhiều trò chơi vui như, đánh cờ người, chọi chim, chọi gà, bơi thuyền... Ban tổ chức hội đang làm lễ trong đình Hội đình Yên Phụ diễn ra rất trang nghiêm, long trọng, và là một nét đẹp văn hoá truyền thống của người dân Hà Nội vẫn còn được giữ gìn. Đội rước kiệu đến chùa Trấn Quốc thỉnh nước về làm lễ mộc dục

Đình Yên Phụ nằm trên một khu đất ra ở ven Hồ Tây, thuộc địa phận làng Yên Phụ, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội, Đình thờ Uy Đô Linh Lang, là vị hoàng tử, con trai của vua Trần Thánh Tông. Uy Đô Linh Lang là vị anh hùng của dân tộc, đã có công lao lớn trong cuộc chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông. Hội đình Yên Phụ diễn ra vào ngày 10 tháng 2 âm lịch hàng năm, đã thu hút sự tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân từ các địa phương ven hồ Tây như Tứ Liên, Nghi Tàm, Nhật Tân. Đặc biệt, ngôi đình này mỗi dịp lễ hội lại có đoàn kết chạ từ làng Thanh Cù, nơi có di tích Gò Đống Mối, tương truyền là mộ của Uy Đô Linh Lang về tham dự. Hội đình Yên Phụ ngày nay vẫn giữ gìn được nề nếp ngày Hội đình của Hà Nội.

Lễ hội đình Yên Phụ tại Hà Nội

Lễ hội đình Yên Phụ được bắt đầu từ sáng ngày mồng 10 tháng 2 âm lịch, đầu tiên là lễ tế của các bô lão. Sau nghi thức lễ tế sẽ là màn biểu diễn múa lân múa rồng đặc sắc của các nam thanh niên trong làng. Tiếp theo, lễ hội đình sẽ tiếp tục với màn rước kiệu do 4 chàng thanh niên khoẻ mạnh, mặc trang phục áo dài, dải có tua mạng. Hai kiệu đại được 16 nam thanh niên cường tráng, khoẻ mạnh mặc trang phục áo trắng quần trắng ,thắt đai đỏ, đai xanh khiêng, đi theo sau là đoàn múa sinh tiền, các vị chức sắc bô lão trong làng và nhân dân cùng nhiệt liệt hưởng ứng. Đội múa Rồng và kiệu rước sẽ rước dọc tuyến phố Yên Phụ, sau đó đến đường Thanh Niên rồi hạ kiệu ở chùa Trấn Quốc để thỉnh nước về làm lễ tắm tượng. Đoàn rước sau khi vào chùa Trấn Quốc, được Hòa thượng trụ trì của chùa đọc sớ ban phép cho vào nước thỉnh. Khi thỉnh được nước xong thì cả đoàn lại rước trở về đình và cử hành lễ mộc dục hay lễ tắm tượng. Trong ngày hội đình Yên Phụ, không khí hội còn tưng bừng và náo nức nhiều trò chơi vui như, đánh cờ người, chọi chim, chọi gà, bơi thuyền... Ban tổ chức hội đang làm lễ trong đình Hội đình Yên Phụ diễn ra rất trang nghiêm, long trọng, và là một nét đẹp văn hoá truyền thống của người dân Hà Nội vẫn còn được giữ gìn. Đội rước kiệu đến chùa Trấn Quốc thỉnh nước về làm lễ mộc dục

Related Figures

Lễ hội làng Miêng Hạ

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 4/1 Âm lịch Hội làng Miêng Hạ thuộc xã Hoa Sơn, Ứng Hoà, Hà Nội, còn được người dân xem là hội pháo. Hội làng được tổ chức vào ngày mồng 4 tháng 1 âm lịch hàng năm. Tương truyền, vào ngày này, thần Cao sơn tức là vị thành hoàng làng được thờ trong đền Thạch vốn được người dân suy tôn là Đức Thánh, là người cầm quân xuất trận đánh giặc gìn giữ bờ cõi nước Văn Lang dưới đời vua Hùng thứ 18. Sau khi giành chiến thắng, ông đem quân về Miêng Hạ để mở hội khao thưởng. Lễ hội khai mở vào giờ thìn, từ 7 đến 9 giờ sáng, bằng một tiếng pháo lệnh. Làng có 6 giáp được chia phiên để tổ chức lễ hội, đến phiên giáp nào đăng cai tổ chức hội năm đò thì ông trùm giáp của làng đó sẽ được cầm trịch (cái dùi) đánh ba hồi trống, và cũng là người châm ngòi pháo lệnh. Ống lệnh được làm bằng đồng, quả pháo nhồi thuốc nặng khoảng 30 đến 40kg. Sau khi tiếng pháo lệnh vang lên thì từ 3 nơi đền Đông (của giáp Đông và giáp Tây), đền Thạch (của giáp Thạch và giáp Trù),đền Thượng (của giáp Thượng và giáp Đình) sẽ rước kiệu về tựu ở đình làng này. Mỗi nơi đều rước 2 cỗ kiệu, trong đó có 1 kiệu là rước cây bông. Cây bông được làm bằng tre có kết cấu hai tầng giống hình nón cụt, mặt trên có đường kính 10cm, mặt dưới đường kính 40cm, xung quanh được ken đều 36 thanh tre vót tròn và dài chừng 40cm, vòng quanh mỗi thanh tre đều quấn giấy đỏ, xanh, vàng để tua. Tâm hình nón cụt là một ống tre có độ dài khoảng 40cm, được cố định lại bởi hai thanh tre hình chữ thập ở mặt và ở chỗ gần hình chóp. Ông chủ tế đánh trống khai hội Các giáp rước cỗ kiệu của giáp mình, trong đó có 1 kiệu cây bông, về đặt ngay trước cửa đình để làm tế lộ thiên vào giờ ngọ (12 đến 1 giờ chiều) hay còn được gọi là tế yến lộ thiên. Nghi thức tế được cử hành rất long trọng. Ông chủ tế và 2 ông đông xướng và tây xướng là những người điều hành cuộc tế. Bắt đầu, xướng: - Khởi chinh cổ tam thông (Nổi 3 hồi chiêng trống). Xướng tiếp theo: - Nhạc âm, nhạc ti cùng nổi lên. (Cả dàn nhạc cùng đánh). Xướng tiếp theo: - Thiêu pháo. Vừa dứt lời thì một loạt cây pháo của các giáp và các gia đình trong các giáp thi nhau đốt, tiếng pháo nổ rầm rầm rất sôi động, tiếng pháo là mô phỏng cho tiếng sấm, loé ra ánh sáng như tia chớp, tưởng như dào dạt những cơn mưa đang tưới xuống làng quê làm mùa màng tốt tươi. Sau khi tế lộ thiên xong, trai đinh các giáp sẽ rước kiệu vào đặt ở trong đình. Những ngày sau đó cụ tế và các cụ xướng, và dân làng cùng đi xem hát hay và đánh võng trên cây đu tiên. Sau này, vì hội pháo khá tốn kém nên làng không tổ chức lễ đốt pháo nữa mà chủ yếu diễn trò ội ại. Vui hội và tế lễ thần diễn ra cho tới buổi tối ngày rã đám, lúc nửa đêm, thì làng còn có tiết mục giải áo, nghĩa là mọi màn trướng trong đình đều được hạ xuống. Sau đó, các quan viên cùng nhau vào làm lễ tạ. Cuối cuộc tế tạ sẽ là lễ tế tẩu mã. Khi ấy ánh đèn đuốc trong đình đều đã thổi tắt, trai đinh các giáp đi vào đình một cách lặng lẽ và đưa các cỗ kiệu ra khỏi đình. Ở bên ngoài, dân hàng giáp đang chờ đón kiệu bằng những bó đuốc, thắp sáng rục trời áp giá về đền. Bấy giờ 6 cây bông của 6 giáp sẽ được một cụ già của làng buộc túm lại, ròng lên 1 cái đinh ở chính giữa thượng lương đình. Đèn trong đình lại bật sáng, trai đinh các giáp cùng vào đình, hướng mắt vào 6 cây bông đang được treo lơ lửng ở gian giữa. Dân làng cũng bắt đầu diễn trò ội ại. Lễ hội làng Miêng Hạ tại Hà Nội Khi đèn đuốc trong đình đã tắt thì một cụ già của làng sẽ cởi dây ra, thả 6 cây bông đang treo ở thượng lương cho rơi xuống. Bấy giờ trong đình tràn ngập trong bống tối, hầu hết là có trai đinh của các giáp. Tuân thủ theo tục của làng, các chàng trai phải cởi hết áo quần ra, chỉ mặc chiếc quần đùi (cụ già đóng khố), sau đó trai đinh cùng hô ội ại rồi cùng lao vào, nhảy lên để cướp cây bông xuống. Nếu có người giật được cây bông xuống thì xé bông ra, cướp lấy cái nõ tre chạy ra phía ngoài đình và mang về đền của giáp mình. Kỳ ội ại, đinh của giáp nào mà cướp được 3 cái nõ cây bông thì giáp đó tâm niệm người dân trong làng sẽ gặp được nhiều may mắn trong năm mới. Việc một người cướp được chiếc nõ trong đêm tối thực sự rất vất vả, bởi vì các trai đinh đều tranh nhau giằng xé. Người nào không cướp được nõ bèn nhặt các thanh tre quấn giấy mang về nhà làm phước. Trò ội ại trong ngày hội làng Miêng Hạ còn được gọi là trò cướp nõ xé bông. Cướp nõ xé bông trong thành ngữ tiếng Việt có một câu "ba mươi sáu cái nõn (nõ) nường" tức là để mỉa mai ai đó cứ đòi hỏi thứ cao quá đáng, được bắt nguồn từ một phong tục cổ tại Dị Nậu và Khúc Lạc (Phú Thọ). Các chủ tế và giáp xướng đang tế lễ Bản thân hình của cây bông dù đã được cách điệu hoá và nhân dân Miêng Hạ đã duy trì tục hèm nhưng cũng không thể lý giải nổi bản chất của trò ội ại mang ý nghĩa gì, theo suy đoán chủ quan thì tượng trưng cho cây vàng cây bạc và cướp nõ chính là diễn tục cướp vàng cướp bạc. Tuy nhiên, thực chất cây bông thực chính là hình ảnh tượng trưng cho âm và dương. Trai đinh của giáp nào mà cướp được nõ đều rất phấn khởi. Họ mang về đền làng mình một cách thành kính và dâng nõ lên bàn thờ thổ thần. Sau một hồi tế tạ thổ thần, họ sẽ hóa nõ (đốt thành than) trước sự vui mừng và reo hò của dân hàng giáp. Ai cũng đều tin rằng năm đó giáp mình sẽ gặp nhiều may mắn. Trò ội ại, trong lễ hội làng Miêng Hạ chính là tâm thức của người dân để mong cho ngày hội đầu năm của dân làng được âm dương hòa hợp, để vạn vật không ngừng sinh sôi phát triển, cầu cho vật thịnh dân an, phồn thực mãi mãi cùng với tiếng pháo tượng trưng cho trận mưa, cầu sự mát lành. Những năm trở lại đây, trò ội ại trong lễ hội làng Miêng Hạ vẫn tiếp tục được tổ chức, và đã trở thành một trò vui không thể thiếu trong ngày hội.

Related Figures

Hội làng Đại Lan

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 6/1- 8/1 Âm lịch Làng Đại Lan thuộc địa phận xã Duyên Hà, Thanh Trì, Hà Nội. Đình Đại Lan là nơi thờ 3 vị thần là Minh Chiêu, Chà Mục và Linh Hồ, là các danh tướng dưới thời vua Hùng thứ 17. Không biết từ bao giờ, hàng năm cứ vào ngày mồng 6 tháng Giêng người dân Đại Lan lại tưng bừng mở hội. Hội làng Đại Lan diễn ra trong ba ngày mồng 6,7, 8 tháng Giêng tại đình làng Đại Lan. Việc chuẩn bị cho hội làng được bắt đầu từ nửa tháng trước đó. Chiều ngày 23 tháng Chạp, dân làng sẽ tổ chức lễ rước nước từ sông Hồng về đình để làm lễ. Dẫn đầu có tuần đinh thổi tù và để dẹp đường, tiếp đến sẽ là đội cờ, đội bát âm và theo sau là kiệu nước. Bên trên kiệu nước có đặt một chóe sứ. Đi sau kiệu là các cụ ông. Khi đến bờ sông, đoàn rước sẽ dừng lại tại miếu Hà Bá. Sau khi hành lễ tại miếu xong, chóe nước sẽ được chuyển xuống thuyền. Khi con thuyền tiến ra đến giữa sông thì cụ Tiên chỉ sẽ dùng gáo trịnh trọng múc từng gáo nước lên đổ vào chóe, sau đó sẽ rước về đình. Buổi chiều ngày hôm đó, nước trong chóe sẽ được người dân dùng để lau ngai, bài vị của thần. Ngoài ra, còn phục vụ cho việc mộc dục triều y tức là llau rửa ngai thờ, phong mũ, áo, làng sẽ chọn lựa ra ba cụ song toàn. Các cụ sẽ tắm gội từ hôm trước. Nửa đêm ngày 23, tại hậu cung, chỉ 3 cụ mới được vào vấn đổi mã. Mã gồm có mũ, hia, áo, đai đem phong lên 3 ngai thờ. Sáng ngày mồng 4 Tết, các bộ mã này sẽ được đi đem hóa. Đình Đại Lan, nơi diễn ra lễ hội Sáng ngày mồng 6 tết, hai đoàn rước đang chuẩn bị xuất phát từ đình. Một đoàn do 4 trai làng khiêng kiệu long đình ra nghè để rước bát hương về đình. Khi đoàn rước này đi từ nghè về đình thì khi đi qua cửa đền Đức thánh Bà phải dừng lại. Tại đây, những người thuộc Hội Tư văn với y phục áo the khăn xếp, thắt lưng đỏ sẽ khiêng kiệu bát cống rước Đức thánh Bà ra nhập đoàn cùng tiến về đình. Kiệu Đức thánh Bà sẽ đi trước theo sau là kiệu long đình. Buổi chiều ngày mồng 6, tại đình sẽ tổ chức lễ tế hội đồng. Trong năm, vào các ngày sinh và ngày hóa của các vị thần, dân làng đều tổ chức tế lễ, nhưng chỉ cử hành vào chiều ngày mồng 6 mới tiến hành lễ rước văn. Văn tế sẽ do một vị cao niên trong làng viết, phải là người viết chữ đẹp và có phẩm hạnh tốt. Ở Đại Lan, việc này là do vị Tiên chỉ đảm nhiệm. Đúng giờ đẹp đã định, dân làng đem long đình, tài tử đồng văn, cờ quạt, một chức sắc mặc áo thụng, đội mũ, đến nhà của người viết văn tế để rước bản văn ra đình. Người viết văn cũng phải mặc áo thụng, đội mũ và đi theo sau long đình. Cũng có năm, hội cử hành nghi lễ rước văn đơn giản hơn. Trong đội hình rước sẽ không có kiệu long đình. Người viết văn với y phục áo the khăn xếp, hai tay bê một hộp sơn son thếp vàng, bên trong có đặt một bản văn tế. Lễ vật được dâng lên trong các kỳ tế lễ ở làng gồm có hương hoa, xôi, thịt lợn, oản quả, thịt gà. Đặc biệt, trong ngày hội làng còn có các món cá lăng và gỏi cá lăng. Đoạn sông Hồng chảy qua làng Đại Lan lòng sông sâu, nước chảy xiết. Trước đây, tại khúc sông này thường xuất hiện loại cá lăng có thịt nạc hồng, loài cá vốn ưa thích sinh sống ở vùng sóng cả. Tương truyền, khi thân mẫu của vị thần làng có thai, bà rất thích ăn gỏi cá lăng, chính vì thế trong bài văn tế ngày kỵ thần người xưa có câu: “Khải thánh chi tư, đàn tư chi kính, dụng thân nghi khổn chi thành” (Nhớ đức thánh mở mang làng xóm, kính dâng lễ cá lên để tỏ lòng thành). Đội rước kiệu làm lễ rước kiệu Hằng năm, cứ trước ngày mở hội, muốn có loại cá lăng to để sửa sợn cỗ thánh, người dân 3 giáp đăng cai mở hội sẽ phải đặt dân vạn chài đánh bắt. Cá được dòng theo thuyền về, phải giữ cho còn sống nguyên. Chiều ngày mồng 6, các giáp mới sẽ chuyển cá ra đình để lễ trình. Cá được đặt trên án thư, buộc ngang thân bằng một dây vải đỏ. Lễ trình cá xong, cá của giáp nào sẽ đem về nhà trưởng giáp ấy làm cỗ. Cá được làm sạch và pha lọc kỹ càng. Thịt cá sẽ thái miếng đều đặn. Một phần thì dùng làm gỏi, phần còn lại thì ướp với nghệ sau đó đun chín, gắp ra đĩa, rắc ít riềng đã giã nhỏ lên trên. Vây, xương và thủ cá sẽ đem băm nhỏ và vê thành từng viên đều nhau. Lòng cá nấu thì với rau cần. Rau cần được múc ra bát chiết yêu, mỗi bát đặt lên 6 viên cá. Những công đoạn này được tiến hành rất cẩn thận và chu đáo. Sáng sớm ngày mồng 7 tức ngày chính hội, lễ cá được đặt vào mâm thùng có chân được sơn son thếp vàng. Ban khánh tiết của làng sẽ cử phường bát âm đến nhà người đăng cai làm cỗ, rước lễ cá về đình. Mâm thùng do 2 trai đinh khiêng. Những người này đều phải mặc áo the khăn xếp, thắt lưng màu đỏ. Trên mỗi mâm cỗ đều có lọng che. Trong 3 ngày hội, ở sân đình có tổ chức các cuộc thi như thi vật, múa roi, đánh gậy. Sáng ngày mồng 7, làng chọn ra 2 cụ già, yêu cầu các cụ phải có gia đình song toàn thì mới vào vật thờ, các đô dự giải sẽ vào vật sau. Trước khi bắt đầu cuộc đấu, các đô phải vào trình nghệ theo cách 3 ra 3 vào. Hai đô đi vào phía trước cửa đình, bắt tay, sau đó biểu diễn vài miếng cơ bản để thể hiện tài nghệ của mình. Làng có quy định, đấu vật chỉ có giải nhất không có các giải phụ. Khi thi đấu không kẹp cá, không móc cổ, không cài hàm, không bấm huyệt. Các miếng chính mà đô vật có thể trổ tài là sườn trái, gồng, bốc một, sườn phải, đánh bò, bốc đôi. Trước kia, làng Đại Lan có ông Tư Viết, ông Ốc, ông Ba Nhì và ông Ba Đức, là những đô vật khét tiếng một thời. Riêng ông Hai Phả nổi tiếng với miếng mói gót rất độc đáo. Cuộc đấu đang vào lúc cao trào, khi hai đô đang bắt tay nhau, ông giật tay mói gót một cách bất ngờ làm đối phương nằm bật ngửa trắng bụng. Thi đấu vật tại lễ hội Theo thần tích kể lại, vị thần làng đánh gậy dài rất giỏi. Khi ra trận, ông một mình một gậy, có thể nói là tả xung hữu đột, một mình ông có thể đánh thắng hàng trăm lính giặc. Chính vì vậy, trong ngày hội làng hằng năm đều không thể thiếu được môn đánh gậy. Đánh gậy là trò chơi để tưởng niệm về công lao của các vị thần, đồng thời cũng là để rèn sức, rèn trí giữ cho xóm làng được bình yên. Khi thi đấu người ta sẽ dùng đến loại gậy dài 2 thước (2,8m). Người vào đua tài thường mặc quần áo nâu, đeo thắt lưng đỏ. Những ai muốn vào dự thi đấu, phải đăng ký 1 cặp với ban tổ chức, khi đến lượt, từng cặp sẽ ra múa trình nghề. Trong lúc đang thi đấu, không được đánh vào thượng diện và trung bộ. Khi có người bị đánh trúng, nhưng người cầm trịch vẫn chưa hồi chầu, mà đối phương kịp bồi lại trúng thì hòa. Hội làng Đại Lan đã thể hiện tinh thần thượng võ. Các tay chơi từ Yên Duyên (Thanh Trì), Yên Mỹ, Trung Quan, Chử Xá (huyện Gia Lâm) đều tìm đến để tranh tài. Ngày nay, trong làng có ông Uyên, ông Liên, ông Tạc, ông Hà, ông Thụ, đều là những người thuộc các bài siêu cổ, siêu hoa, chấp thủ, bài côn…

Làng Đại Lan thuộc địa phận xã Duyên Hà, Thanh Trì, Hà Nội. Đình Đại Lan là nơi thờ 3 vị thần là Minh Chiêu, Chà Mục và Linh Hồ, là các danh tướng dưới thời vua Hùng thứ 17. Không biết từ bao giờ, hàng năm cứ vào ngày mồng 6 tháng Giêng người dân Đại Lan lại tưng bừng mở hội. Hội làng Đại Lan diễn ra trong ba ngày mồng 6,7, 8 tháng Giêng tại đình làng Đại Lan. Việc chuẩn bị cho hội làng được bắt đầu từ nửa tháng trước đó. Chiều ngày 23 tháng Chạp, dân làng sẽ tổ chức lễ rước nước từ sông Hồng về đình để làm lễ. Dẫn đầu có tuần đinh thổi tù và để dẹp đường, tiếp đến sẽ là đội cờ, đội bát âm và theo sau là kiệu nước. Bên trên kiệu nước có đặt một chóe sứ. Đi sau kiệu là các cụ ông. Khi đến bờ sông, đoàn rước sẽ dừng lại tại miếu Hà Bá. Sau khi hành lễ tại miếu xong, chóe nước sẽ được chuyển xuống thuyền. Khi con thuyền tiến ra đến giữa sông thì cụ Tiên chỉ sẽ dùng gáo trịnh trọng múc từng gáo nước lên đổ vào chóe, sau đó sẽ rước về đình. Buổi chiều ngày hôm đó, nước trong chóe sẽ được người dân dùng để lau ngai, bài vị của thần. Ngoài ra, còn phục vụ cho việc mộc dục triều y tức là llau rửa ngai thờ, phong mũ, áo, làng sẽ chọn lựa ra ba cụ song toàn. Các cụ sẽ tắm gội từ hôm trước. Nửa đêm ngày 23, tại hậu cung, chỉ 3 cụ mới được vào vấn đổi mã. Mã gồm có mũ, hia, áo, đai đem phong lên 3 ngai thờ. Sáng ngày mồng 4 Tết, các bộ mã này sẽ được đi đem hóa. Đình Đại Lan, nơi diễn ra lễ hội Sáng ngày mồng 6 tết, hai đoàn rước đang chuẩn bị xuất phát từ đình. Một đoàn do 4 trai làng khiêng kiệu long đình ra nghè để rước bát hương về đình. Khi đoàn rước này đi từ nghè về đình thì khi đi qua cửa đền Đức thánh Bà phải dừng lại. Tại đây, những người thuộc Hội Tư văn với y phục áo the khăn xếp, thắt lưng đỏ sẽ khiêng kiệu bát cống rước Đức thánh Bà ra nhập đoàn cùng tiến về đình. Kiệu Đức thánh Bà sẽ đi trước theo sau là kiệu long đình. Buổi chiều ngày mồng 6, tại đình sẽ tổ chức lễ tế hội đồng. Trong năm, vào các ngày sinh và ngày hóa của các vị thần, dân làng đều tổ chức tế lễ, nhưng chỉ cử hành vào chiều ngày mồng 6 mới tiến hành lễ rước văn. Văn tế sẽ do một vị cao niên trong làng viết, phải là người viết chữ đẹp và có phẩm hạnh tốt. Ở Đại Lan, việc này là do vị Tiên chỉ đảm nhiệm. Đúng giờ đẹp đã định, dân làng đem long đình, tài tử đồng văn, cờ quạt, một chức sắc mặc áo thụng, đội mũ, đến nhà của người viết văn tế để rước bản văn ra đình. Người viết văn cũng phải mặc áo thụng, đội mũ và đi theo sau long đình. Cũng có năm, hội cử hành nghi lễ rước văn đơn giản hơn. Trong đội hình rước sẽ không có kiệu long đình. Người viết văn với y phục áo the khăn xếp, hai tay bê một hộp sơn son thếp vàng, bên trong có đặt một bản văn tế. Lễ vật được dâng lên trong các kỳ tế lễ ở làng gồm có hương hoa, xôi, thịt lợn, oản quả, thịt gà. Đặc biệt, trong ngày hội làng còn có các món cá lăng và gỏi cá lăng. Đoạn sông Hồng chảy qua làng Đại Lan lòng sông sâu, nước chảy xiết. Trước đây, tại khúc sông này thường xuất hiện loại cá lăng có thịt nạc hồng, loài cá vốn ưa thích sinh sống ở vùng sóng cả. Tương truyền, khi thân mẫu của vị thần làng có thai, bà rất thích ăn gỏi cá lăng, chính vì thế trong bài văn tế ngày kỵ thần người xưa có câu: “Khải thánh chi tư, đàn tư chi kính, dụng thân nghi khổn chi thành” (Nhớ đức thánh mở mang làng xóm, kính dâng lễ cá lên để tỏ lòng thành). Đội rước kiệu làm lễ rước kiệu Hằng năm, cứ trước ngày mở hội, muốn có loại cá lăng to để sửa sợn cỗ thánh, người dân 3 giáp đăng cai mở hội sẽ phải đặt dân vạn chài đánh bắt. Cá được dòng theo thuyền về, phải giữ cho còn sống nguyên. Chiều ngày mồng 6, các giáp mới sẽ chuyển cá ra đình để lễ trình. Cá được đặt trên án thư, buộc ngang thân bằng một dây vải đỏ. Lễ trình cá xong, cá của giáp nào sẽ đem về nhà trưởng giáp ấy làm cỗ. Cá được làm sạch và pha lọc kỹ càng. Thịt cá sẽ thái miếng đều đặn. Một phần thì dùng làm gỏi, phần còn lại thì ướp với nghệ sau đó đun chín, gắp ra đĩa, rắc ít riềng đã giã nhỏ lên trên. Vây, xương và thủ cá sẽ đem băm nhỏ và vê thành từng viên đều nhau. Lòng cá nấu thì với rau cần. Rau cần được múc ra bát chiết yêu, mỗi bát đặt lên 6 viên cá. Những công đoạn này được tiến hành rất cẩn thận và chu đáo. Sáng sớm ngày mồng 7 tức ngày chính hội, lễ cá được đặt vào mâm thùng có chân được sơn son thếp vàng. Ban khánh tiết của làng sẽ cử phường bát âm đến nhà người đăng cai làm cỗ, rước lễ cá về đình. Mâm thùng do 2 trai đinh khiêng. Những người này đều phải mặc áo the khăn xếp, thắt lưng màu đỏ. Trên mỗi mâm cỗ đều có lọng che. Trong 3 ngày hội, ở sân đình có tổ chức các cuộc thi như thi vật, múa roi, đánh gậy. Sáng ngày mồng 7, làng chọn ra 2 cụ già, yêu cầu các cụ phải có gia đình song toàn thì mới vào vật thờ, các đô dự giải sẽ vào vật sau. Trước khi bắt đầu cuộc đấu, các đô phải vào trình nghệ theo cách 3 ra 3 vào. Hai đô đi vào phía trước cửa đình, bắt tay, sau đó biểu diễn vài miếng cơ bản để thể hiện tài nghệ của mình. Làng có quy định, đấu vật chỉ có giải nhất không có các giải phụ. Khi thi đấu không kẹp cá, không móc cổ, không cài hàm, không bấm huyệt. Các miếng chính mà đô vật có thể trổ tài là sườn trái, gồng, bốc một, sườn phải, đánh bò, bốc đôi. Trước kia, làng Đại Lan có ông Tư Viết, ông Ốc, ông Ba Nhì và ông Ba Đức, là những đô vật khét tiếng một thời. Riêng ông Hai Phả nổi tiếng với miếng mói gót rất độc đáo. Cuộc đấu đang vào lúc cao trào, khi hai đô đang bắt tay nhau, ông giật tay mói gót một cách bất ngờ làm đối phương nằm bật ngửa trắng bụng. Thi đấu vật tại lễ hội Theo thần tích kể lại, vị thần làng đánh gậy dài rất giỏi. Khi ra trận, ông một mình một gậy, có thể nói là tả xung hữu đột, một mình ông có thể đánh thắng hàng trăm lính giặc. Chính vì vậy, trong ngày hội làng hằng năm đều không thể thiếu được môn đánh gậy. Đánh gậy là trò chơi để tưởng niệm về công lao của các vị thần, đồng thời cũng là để rèn sức, rèn trí giữ cho xóm làng được bình yên. Khi thi đấu người ta sẽ dùng đến loại gậy dài 2 thước (2,8m). Người vào đua tài thường mặc quần áo nâu, đeo thắt lưng đỏ. Những ai muốn vào dự thi đấu, phải đăng ký 1 cặp với ban tổ chức, khi đến lượt, từng cặp sẽ ra múa trình nghề. Trong lúc đang thi đấu, không được đánh vào thượng diện và trung bộ. Khi có người bị đánh trúng, nhưng người cầm trịch vẫn chưa hồi chầu, mà đối phương kịp bồi lại trúng thì hòa. Hội làng Đại Lan đã thể hiện tinh thần thượng võ. Các tay chơi từ Yên Duyên (Thanh Trì), Yên Mỹ, Trung Quan, Chử Xá (huyện Gia Lâm) đều tìm đến để tranh tài. Ngày nay, trong làng có ông Uyên, ông Liên, ông Tạc, ông Hà, ông Thụ, đều là những người thuộc các bài siêu cổ, siêu hoa, chấp thủ, bài côn…

Làng Đại Lan thuộc địa phận xã Duyên Hà, Thanh Trì, Hà Nội. Đình Đại Lan là nơi thờ 3 vị thần là Minh Chiêu, Chà Mục và Linh Hồ, là các danh tướng dưới thời vua Hùng thứ 17. Không biết từ bao giờ, hàng năm cứ vào ngày mồng 6 tháng Giêng người dân Đại Lan lại tưng bừng mở hội. Hội làng Đại Lan diễn ra trong ba ngày mồng 6,7, 8 tháng Giêng tại đình làng Đại Lan.

Việc chuẩn bị cho hội làng được bắt đầu từ nửa tháng trước đó. Chiều ngày 23 tháng Chạp, dân làng sẽ tổ chức lễ rước nước từ sông Hồng về đình để làm lễ. Dẫn đầu có tuần đinh thổi tù và để dẹp đường, tiếp đến sẽ là đội cờ, đội bát âm và theo sau là kiệu nước. Bên trên kiệu nước có đặt một chóe sứ. Đi sau kiệu là các cụ ông. Khi đến bờ sông, đoàn rước sẽ dừng lại tại miếu Hà Bá. Sau khi hành lễ tại miếu xong, chóe nước sẽ được chuyển xuống thuyền. Khi con thuyền tiến ra đến giữa sông thì cụ Tiên chỉ sẽ dùng gáo trịnh trọng múc từng gáo nước lên đổ vào chóe, sau đó sẽ rước về đình. Buổi chiều ngày hôm đó, nước trong chóe sẽ được người dân dùng để lau ngai, bài vị của thần. Ngoài ra, còn phục vụ cho việc mộc dục triều y tức là llau rửa ngai thờ, phong mũ, áo, làng sẽ chọn lựa ra ba cụ song toàn. Các cụ sẽ tắm gội từ hôm trước. Nửa đêm ngày 23, tại hậu cung, chỉ 3 cụ mới được vào vấn đổi mã. Mã gồm có mũ, hia, áo, đai đem phong lên 3 ngai thờ. Sáng ngày mồng 4 Tết, các bộ mã này sẽ được đi đem hóa. Đình Đại Lan, nơi diễn ra lễ hội Sáng ngày mồng 6 tết, hai đoàn rước đang chuẩn bị xuất phát từ đình. Một đoàn do 4 trai làng khiêng kiệu long đình ra nghè để rước bát hương về đình. Khi đoàn rước này đi từ nghè về đình thì khi đi qua cửa đền Đức thánh Bà phải dừng lại. Tại đây, những người thuộc Hội Tư văn với y phục áo the khăn xếp, thắt lưng đỏ sẽ khiêng kiệu bát cống rước Đức thánh Bà ra nhập đoàn cùng tiến về đình. Kiệu Đức thánh Bà sẽ đi trước theo sau là kiệu long đình. Buổi chiều ngày mồng 6, tại đình sẽ tổ chức lễ tế hội đồng. Trong năm, vào các ngày sinh và ngày hóa của các vị thần, dân làng đều tổ chức tế lễ, nhưng chỉ cử hành vào chiều ngày mồng 6 mới tiến hành lễ rước văn. Văn tế sẽ do một vị cao niên trong làng viết, phải là người viết chữ đẹp và có phẩm hạnh tốt. Ở Đại Lan, việc này là do vị Tiên chỉ đảm nhiệm. Đúng giờ đẹp đã định, dân làng đem long đình, tài tử đồng văn, cờ quạt, một chức sắc mặc áo thụng, đội mũ, đến nhà của người viết văn tế để rước bản văn ra đình. Người viết văn cũng phải mặc áo thụng, đội mũ và đi theo sau long đình. Cũng có năm, hội cử hành nghi lễ rước văn đơn giản hơn. Trong đội hình rước sẽ không có kiệu long đình. Người viết văn với y phục áo the khăn xếp, hai tay bê một hộp sơn son thếp vàng, bên trong có đặt một bản văn tế. Lễ vật được dâng lên trong các kỳ tế lễ ở làng gồm có hương hoa, xôi, thịt lợn, oản quả, thịt gà. Đặc biệt, trong ngày hội làng còn có các món cá lăng và gỏi cá lăng. Đoạn sông Hồng chảy qua làng Đại Lan lòng sông sâu, nước chảy xiết. Trước đây, tại khúc sông này thường xuất hiện loại cá lăng có thịt nạc hồng, loài cá vốn ưa thích sinh sống ở vùng sóng cả. Tương truyền, khi thân mẫu của vị thần làng có thai, bà rất thích ăn gỏi cá lăng, chính vì thế trong bài văn tế ngày kỵ thần người xưa có câu: “Khải thánh chi tư, đàn tư chi kính, dụng thân nghi khổn chi thành” (Nhớ đức thánh mở mang làng xóm, kính dâng lễ cá lên để tỏ lòng thành). Đội rước kiệu làm lễ rước kiệu Hằng năm, cứ trước ngày mở hội, muốn có loại cá lăng to để sửa sợn cỗ thánh, người dân 3 giáp đăng cai mở hội sẽ phải đặt dân vạn chài đánh bắt. Cá được dòng theo thuyền về, phải giữ cho còn sống nguyên. Chiều ngày mồng 6, các giáp mới sẽ chuyển cá ra đình để lễ trình. Cá được đặt trên án thư, buộc ngang thân bằng một dây vải đỏ. Lễ trình cá xong, cá của giáp nào sẽ đem về nhà trưởng giáp ấy làm cỗ. Cá được làm sạch và pha lọc kỹ càng. Thịt cá sẽ thái miếng đều đặn. Một phần thì dùng làm gỏi, phần còn lại thì ướp với nghệ sau đó đun chín, gắp ra đĩa, rắc ít riềng đã giã nhỏ lên trên. Vây, xương và thủ cá sẽ đem băm nhỏ và vê thành từng viên đều nhau. Lòng cá nấu thì với rau cần. Rau cần được múc ra bát chiết yêu, mỗi bát đặt lên 6 viên cá. Những công đoạn này được tiến hành rất cẩn thận và chu đáo. Sáng sớm ngày mồng 7 tức ngày chính hội, lễ cá được đặt vào mâm thùng có chân được sơn son thếp vàng. Ban khánh tiết của làng sẽ cử phường bát âm đến nhà người đăng cai làm cỗ, rước lễ cá về đình. Mâm thùng do 2 trai đinh khiêng. Những người này đều phải mặc áo the khăn xếp, thắt lưng màu đỏ. Trên mỗi mâm cỗ đều có lọng che. Trong 3 ngày hội, ở sân đình có tổ chức các cuộc thi như thi vật, múa roi, đánh gậy. Sáng ngày mồng 7, làng chọn ra 2 cụ già, yêu cầu các cụ phải có gia đình song toàn thì mới vào vật thờ, các đô dự giải sẽ vào vật sau. Trước khi bắt đầu cuộc đấu, các đô phải vào trình nghệ theo cách 3 ra 3 vào. Hai đô đi vào phía trước cửa đình, bắt tay, sau đó biểu diễn vài miếng cơ bản để thể hiện tài nghệ của mình. Làng có quy định, đấu vật chỉ có giải nhất không có các giải phụ. Khi thi đấu không kẹp cá, không móc cổ, không cài hàm, không bấm huyệt. Các miếng chính mà đô vật có thể trổ tài là sườn trái, gồng, bốc một, sườn phải, đánh bò, bốc đôi. Trước kia, làng Đại Lan có ông Tư Viết, ông Ốc, ông Ba Nhì và ông Ba Đức, là những đô vật khét tiếng một thời. Riêng ông Hai Phả nổi tiếng với miếng mói gót rất độc đáo. Cuộc đấu đang vào lúc cao trào, khi hai đô đang bắt tay nhau, ông giật tay mói gót một cách bất ngờ làm đối phương nằm bật ngửa trắng bụng. Thi đấu vật tại lễ hội Theo thần tích kể lại, vị thần làng đánh gậy dài rất giỏi. Khi ra trận, ông một mình một gậy, có thể nói là tả xung hữu đột, một mình ông có thể đánh thắng hàng trăm lính giặc. Chính vì vậy, trong ngày hội làng hằng năm đều không thể thiếu được môn đánh gậy. Đánh gậy là trò chơi để tưởng niệm về công lao của các vị thần, đồng thời cũng là để rèn sức, rèn trí giữ cho xóm làng được bình yên. Khi thi đấu người ta sẽ dùng đến loại gậy dài 2 thước (2,8m). Người vào đua tài thường mặc quần áo nâu, đeo thắt lưng đỏ. Những ai muốn vào dự thi đấu, phải đăng ký 1 cặp với ban tổ chức, khi đến lượt, từng cặp sẽ ra múa trình nghề. Trong lúc đang thi đấu, không được đánh vào thượng diện và trung bộ. Khi có người bị đánh trúng, nhưng người cầm trịch vẫn chưa hồi chầu, mà đối phương kịp bồi lại trúng thì hòa. Hội làng Đại Lan đã thể hiện tinh thần thượng võ. Các tay chơi từ Yên Duyên (Thanh Trì), Yên Mỹ, Trung Quan, Chử Xá (huyện Gia Lâm) đều tìm đến để tranh tài. Ngày nay, trong làng có ông Uyên, ông Liên, ông Tạc, ông Hà, ông Thụ, đều là những người thuộc các bài siêu cổ, siêu hoa, chấp thủ, bài côn…

Related Figures

Hội Gióng Sóc Sơn

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 6/1- 8/1 Âm lịch Tương truyền, xã Phù Linh thuộc huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, là nơi anh hùng Thánh Gióng dừng chân cuối cùng trước khi về trời, vậy nên, hàng năm cứ đến ngày mồng 6 tháng 1 âm lịch, nhân dân ở đây lại tưng bừng mở hội tại Khu di tích thờ Thánh Gióng- Phù Đổng Thiên Vương. Lễ hội Gióng Sóc Sơn được tổ chức trong 3 ngày, kể từ ngày mồng 6 đến hết ngày mồng 8 tháng 1, với nhiều nghi lễ truyền thống như: lễ rước, lễ khai quang, lễ dâng hoa tre lên đền Thượng, lễ dâng hương. Lễ rước xe hoa diễn ra rất vui nhộn Trước ngày mở hội, 7 thôn làng đại diện cho 1 xã sẽ chuẩn bị các lễ vật cần thiết trong ngày mở đầu lễ hội. Nhưng nghi lễ đặc biệt thì phải làm vào đêm mồng 5, đó chính là lễ Mộc Dục với mục đích mời ông Gióng về hưởng các lễ vật và lễ phẩm đã được dân làng chuẩn bị chu đáo với tấm lòng thành kính, đồng thời cầu mong đức Thánh Gióng sẽ phù hộ cho người dân các xã có một cuộc sống yên bình, ấm no, hạnh phúc. Ngoài ra, trong lễ hội Gióng Sóc Sơn còn tổ chức nhiều trò chơi dân gian đã thu hút được sự quan tâm của đông đảo người dân trong vùng và người dân khắp nơi trong nước như: cờ tướng, chọi gà, hát ca trù… Hội Gióng Sóc Sơn tại Hà Nội Ngày chính hội là vào ngày mồng 7, ngày thánh hoá như trong truyền thuyết. Vào ngày khai hội, dân làng và du khách thập phương sẽ dâng hương lên đức Thánh Gióng, đúng nửa đêm thì các bộ lão sẽ tiến hành lễ khai quang - tắm rửa cho pho tượng Thánh Gióng. Nghi lễ được cử hành chủ yếu vào ngày chính hội là lễ dâng hoa tre lên đền Thượng (nơi thờ Thánh Gióng) và tiết mục chém tướng giặc. Hoa tre được làm từ những thanh tre dài chừng 50cm, có đường kính khoảng 1cm, đầu được vót thành xơ rồi nhuộm màu. Lễ dâng hoa kết thúc, tre sẽ được tung ra trước sân đền để người dự hội nhặt về cầu may. Chém tướng giặc được mô phỏng lại bằng cách chém một pho tượng, tái diễn lại truyền thuyết Thánh Gióng dùng cây tre ngà quật chết Thạch Linh, là tên tướng cầm đầu giặc Ân. Lễ rước kiệu lên đền Thượng Mặc dù, có nhiều nghi lễ gắn liền với truyền thuyết Thánh gióng nhưng các nhà nghiên cứu đánh giá rằng: "Hội Gióng Sóc Sơn vẫn có tính chất hội cầu mùa theo tín ngưỡng dân gian phổ biến trong hầu hết hội xuân ở vùng đồng bằng và vùng trung du Bắc Bộ".

Tương truyền, xã Phù Linh thuộc huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, là nơi anh hùng Thánh Gióng dừng chân cuối cùng trước khi về trời, vậy nên, hàng năm cứ đến ngày mồng 6 tháng 1 âm lịch, nhân dân ở đây lại tưng bừng mở hội tại Khu di tích thờ Thánh Gióng- Phù Đổng Thiên Vương. Lễ hội Gióng Sóc Sơn được tổ chức trong 3 ngày, kể từ ngày mồng 6 đến hết ngày mồng 8 tháng 1, với nhiều nghi lễ truyền thống như: lễ rước, lễ khai quang, lễ dâng hoa tre lên đền Thượng, lễ dâng hương.

Lễ rước xe hoa diễn ra rất vui nhộn

Trước ngày mở hội, 7 thôn làng đại diện cho 1 xã sẽ chuẩn bị các lễ vật cần thiết trong ngày mở đầu lễ hội. Nhưng nghi lễ đặc biệt thì phải làm vào đêm mồng 5, đó chính là lễ Mộc Dục với mục đích mời ông Gióng về hưởng các lễ vật và lễ phẩm đã được dân làng chuẩn bị chu đáo với tấm lòng thành kính, đồng thời cầu mong đức Thánh Gióng sẽ phù hộ cho người dân các xã có một cuộc sống yên bình, ấm no, hạnh phúc. Ngoài ra, trong lễ hội Gióng Sóc Sơn còn tổ chức nhiều trò chơi dân gian đã thu hút được sự quan tâm của đông đảo người dân trong vùng và người dân khắp nơi trong nước như: cờ tướng, chọi gà, hát ca trù… Hội Gióng Sóc Sơn tại Hà Nội Ngày chính hội là vào ngày mồng 7, ngày thánh hoá như trong truyền thuyết. Vào ngày khai hội, dân làng và du khách thập phương sẽ dâng hương lên đức Thánh Gióng, đúng nửa đêm thì các bộ lão sẽ tiến hành lễ khai quang - tắm rửa cho pho tượng Thánh Gióng. Nghi lễ được cử hành chủ yếu vào ngày chính hội là lễ dâng hoa tre lên đền Thượng (nơi thờ Thánh Gióng) và tiết mục chém tướng giặc. Hoa tre được làm từ những thanh tre dài chừng 50cm, có đường kính khoảng 1cm, đầu được vót thành xơ rồi nhuộm màu. Lễ dâng hoa kết thúc, tre sẽ được tung ra trước sân đền để người dự hội nhặt về cầu may. Chém tướng giặc được mô phỏng lại bằng cách chém một pho tượng, tái diễn lại truyền thuyết Thánh Gióng dùng cây tre ngà quật chết Thạch Linh, là tên tướng cầm đầu giặc Ân. Lễ rước kiệu lên đền Thượng Mặc dù, có nhiều nghi lễ gắn liền với truyền thuyết Thánh gióng nhưng các nhà nghiên cứu đánh giá rằng: "Hội Gióng Sóc Sơn vẫn có tính chất hội cầu mùa theo tín ngưỡng dân gian phổ biến trong hầu hết hội xuân ở vùng đồng bằng và vùng trung du Bắc Bộ".

Lễ rước kiệu lên đền Thượng

Related Figures

Lễ hội phong Chúa, rước Vua

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 11/1 Âm lịch Thụỵ Lôi là một ngôi làng thuộc xã Thụỵ Lâm, huyện Đông An, thành phố Hà Nội. Có điển tích kể rằng: sau nhiều lần cho xây thành Cổ Loa nhưng không xong, ngày xây lên đêm lại đổ, vua Thục Phán An Dương Vương đã được thần Huyền Thiên Trấn Vũ diệt trừ yêu ma, từ đó, xây thành lên mới vững chãi. Để tạc ghi công ơn của thần Huyền Thiên Trấn Vũ, vua An Dương Vương đã lập nên đền Sái để nhân dân thờ thần Trấn Vũ, và hàng năm mỗi dịp xuân về, nhà vua lại đích thân về đền để bái yết . Tuy nhin, về sau, việc đi lại rất khó khăn, lại tốn kém bạc tiền của nhân dân nên nhà vua đã ban chiếu cho người dân làng Thụỵ Lôi phải thực hiện nghi lễ này. Từ đó, lễ hội “Rước vua giả” mới ra đời. Lễ hội này còn được gọi với tên khác là lễ rước vua sống của người dân làng Thụỵ Lôi. Lễ hội được tổ chức hàng năm, vào ngày 11 tháng 1 âm lịch. Lễ rước kiệu vua và kiệu chúa Để chuẩn bị cho ngày mở hội, từ những ngày đầu tiên của năm mới, bà con dân làng đã sửa sang, dọn dẹp lại đường sá, những cụ già có uy tín trong làng tìm một nơi nào đó để dựng dinh cho vua, chúa và quan lại trong triều đình; người thì làm làm bánh chưng, người lám bánh dày để tiến vua cùng với nhiều sản vật khác... Trước ngày diễn ra lễ hội chính, làng đã cho giết trâu, giết bò, mổ lợn để khao dân làng tại đình... Sáng ngày 11 tháng Giêng là ngày chính hội, ngoài những người được chọn để đóng vai vua còn có vai chúa và 4 vị quan đầu triều sẽ cùng tham gia lễ rước. Vua giả sẽ ngồi trên một chiếc kiệu được các trai tráng trong làng rước ra đình cùng các quan. Trong khi tiến hành lễ rước, thỉnh thoảng đám trai tráng khiêng kiệu “chúa” lại hô thật to rồi chạy thật nhanh lên trước để dẹp đường cho kiệu “vua”. Lễ hội phong Chúa rước Vua tại Hà Nội Sau khi kiệu “vua”, “chúa” cùng các vị quan đã yên vị, yến tiệc cũng chính thức bắt đầu; tan tiệc trống, tiếng chiêng lại nổi lên rộn ràng, theo nghi lễ ông cha đã truyền lại, “chúa” sẽ lên kiệu để vào yết “vua”, sau đó “vua” sẽ lên kiệu để bắt đầu cuộc rước: “vua” lên bái vọng ở đền Sái để bày tỏ sự biết ơn đối với Huyền Thiên Trấn Vũ, đồng thời thực hiện các nghi lễ khác tại đình, chùa... Lễ hội diễn ra trong bầu không khí trang nghiêm nhưng cũng rất náo nhiệt, với tiếng chiêng trống nổi lên liên hồi,khiến ai nấy cũng phải hồ hởi dõi theo đám rước, hàng vạn người cứ tiếp nối theo nhau đi theo kiệu làm ngày xuân như dài mãi... Đặc biệt sau lễ rước kiệu, “vua” sẽ về dinh ... nhà mình, ngự trên ngai vàng để bà con dân làng tới dinh “vua” để chúc mừng. Theo các bô lão trong làng, những người được chọn làm “vua” phải là người đáp ứng nhiều yêu cầu rất khắt khe, cả về đức độ, tuổi tác, sức khỏe... Trong suốt 2 cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ và thực dân Pháp, lễ rước vua giả ở làng Thụy Lôi đã bị gián đoạn, mãi cho đến năm 1984 đến nay mới được tổ chức rất đều đặn. Trước kia, nhà vua sẽ cắt ruộng đất cho những người được giao nhiệm vị chuẩn bị trâu, lợn để làm lễ đón rước vua. Ngày nay, ở Thụỵ Lôi vẫn còn những cánh đồng vẫn giữ được những cái tên ngày xưa như: dõng Vua, khu Trâu đô, Lợn đô... Vua Chúa và các quan đầu triều do người dân hóa trang trong dịp lễ rước kiệu vua chúa Trước đây, lễ hội rước vua này diễn ra trong 3 ngày, nhưng ngày nay chỉ tổ chức gọn trong 1 ngày để phù hợp với đời sống văn hóa mới của người dân trong vùng. Ngày 11 tháng 1 hàng năm, du khách thập phương lại đổ về làng Thụy Lôi để xem lễ rước vua giả vô cùng độc đáo của làng. Người dân nơi đây càng thêm tự hào về nét văn hóa đặc sắc của người dân Việt.

Thụỵ Lôi là một ngôi làng thuộc xã Thụỵ Lâm, huyện Đông An, thành phố Hà Nội. Có điển tích kể rằng: sau nhiều lần cho xây thành Cổ Loa nhưng không xong, ngày xây lên đêm lại đổ, vua Thục Phán An Dương Vương đã được thần Huyền Thiên Trấn Vũ diệt trừ yêu ma, từ đó, xây thành lên mới vững chãi. Để tạc ghi công ơn của thần Huyền Thiên Trấn Vũ, vua An Dương Vương đã lập nên đền Sái để nhân dân thờ thần Trấn Vũ, và hàng năm mỗi dịp xuân về, nhà vua lại đích thân về đền để bái yết . Tuy nhin, về sau, việc đi lại rất khó khăn, lại tốn kém bạc tiền của nhân dân nên nhà vua đã ban chiếu cho người dân làng Thụỵ Lôi phải thực hiện nghi lễ này. Từ đó, lễ hội “Rước vua giả” mới ra đời. Lễ hội này còn được gọi với tên khác là lễ rước vua sống của người dân làng Thụỵ Lôi. Lễ hội được tổ chức hàng năm, vào ngày 11 tháng 1 âm lịch.

Lễ rước kiệu vua và kiệu chúa

Để chuẩn bị cho ngày mở hội, từ những ngày đầu tiên của năm mới, bà con dân làng đã sửa sang, dọn dẹp lại đường sá, những cụ già có uy tín trong làng tìm một nơi nào đó để dựng dinh cho vua, chúa và quan lại trong triều đình; người thì làm làm bánh chưng, người lám bánh dày để tiến vua cùng với nhiều sản vật khác... Trước ngày diễn ra lễ hội chính, làng đã cho giết trâu, giết bò, mổ lợn để khao dân làng tại đình... Sáng ngày 11 tháng Giêng là ngày chính hội, ngoài những người được chọn để đóng vai vua còn có vai chúa và 4 vị quan đầu triều sẽ cùng tham gia lễ rước. Vua giả sẽ ngồi trên một chiếc kiệu được các trai tráng trong làng rước ra đình cùng các quan. Trong khi tiến hành lễ rước, thỉnh thoảng đám trai tráng khiêng kiệu “chúa” lại hô thật to rồi chạy thật nhanh lên trước để dẹp đường cho kiệu “vua”. Lễ hội phong Chúa rước Vua tại Hà Nội Sau khi kiệu “vua”, “chúa” cùng các vị quan đã yên vị, yến tiệc cũng chính thức bắt đầu; tan tiệc trống, tiếng chiêng lại nổi lên rộn ràng, theo nghi lễ ông cha đã truyền lại, “chúa” sẽ lên kiệu để vào yết “vua”, sau đó “vua” sẽ lên kiệu để bắt đầu cuộc rước: “vua” lên bái vọng ở đền Sái để bày tỏ sự biết ơn đối với Huyền Thiên Trấn Vũ, đồng thời thực hiện các nghi lễ khác tại đình, chùa... Lễ hội diễn ra trong bầu không khí trang nghiêm nhưng cũng rất náo nhiệt, với tiếng chiêng trống nổi lên liên hồi,khiến ai nấy cũng phải hồ hởi dõi theo đám rước, hàng vạn người cứ tiếp nối theo nhau đi theo kiệu làm ngày xuân như dài mãi... Đặc biệt sau lễ rước kiệu, “vua” sẽ về dinh ... nhà mình, ngự trên ngai vàng để bà con dân làng tới dinh “vua” để chúc mừng. Theo các bô lão trong làng, những người được chọn làm “vua” phải là người đáp ứng nhiều yêu cầu rất khắt khe, cả về đức độ, tuổi tác, sức khỏe... Trong suốt 2 cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ và thực dân Pháp, lễ rước vua giả ở làng Thụy Lôi đã bị gián đoạn, mãi cho đến năm 1984 đến nay mới được tổ chức rất đều đặn. Trước kia, nhà vua sẽ cắt ruộng đất cho những người được giao nhiệm vị chuẩn bị trâu, lợn để làm lễ đón rước vua. Ngày nay, ở Thụỵ Lôi vẫn còn những cánh đồng vẫn giữ được những cái tên ngày xưa như: dõng Vua, khu Trâu đô, Lợn đô... Vua Chúa và các quan đầu triều do người dân hóa trang trong dịp lễ rước kiệu vua chúa Trước đây, lễ hội rước vua này diễn ra trong 3 ngày, nhưng ngày nay chỉ tổ chức gọn trong 1 ngày để phù hợp với đời sống văn hóa mới của người dân trong vùng. Ngày 11 tháng 1 hàng năm, du khách thập phương lại đổ về làng Thụy Lôi để xem lễ rước vua giả vô cùng độc đáo của làng. Người dân nơi đây càng thêm tự hào về nét văn hóa đặc sắc của người dân Việt.

Related Figures

Lễ hội Vân Sa

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 4/1- 5/1 Âm lịch Thôn Vân Sa nằm ven sông Hồng, tọa lạc trên một dải đất phù sa màu mỡ thuộc địa phận xã Tản Hồng, Ba Vì, thành phố Hà Nội. Hàng năm, lễ hội Vân Sa được tổ chức vào ngày mồng 4 và ngày mồng 5 tết nhằm tưởng nhớ đến công lao to lớn của vị liệt nữ Ngũ Nương cùng Huệ Vũ đại vương - Trần Quốc Chẩn. Lễ hội Vân Sa được tổ chức tại đình và miếu của thôn. Ngày mồng 4 tết, ông lý trưởng cưỡi con ngựa dẫn đầu một đội quân gồm 12 đến 14 đinh đêu mặc quần áo giả lính. Một người vác cờ sẽ đi trước đội kéo quân, theo sau là một người cầm trống bỏi, người vác loa sẽ là đội đi cuối. Đội kéo quân sẽ đi dọc tho ngõ làng vào các ngõ xóm, vừa đi vừa đánh trống, rao loa thông báo lịch tổ chức trò chiềng, thúc giục các giáp phải có trách nhiệm tham gia đầy đủ theo tục lệ của làng. Ngày mồng 5 là ngày chính hội, dân chúng từ khắp các nơi nô nức kéo nhau về Vân Sa xem hội. Đền Vân Sa Bắt đầu từ sớm ngày mồng 5 tết, có 8 giáp trong thôn thì cứ 2 hoặc 3 giáp lại liên kết với nhau để tạo thành một đám rước. Năm nào có lễ phong đăng hòa cốc thì trong 8 giáp sẽ có 4 đến 5 đám rước, chí ít thì cũng phải có 3 đám rước. Các giáp tổ chức lễ rước kiệu cỗ. Cỗ gồm có xôi, gà, oản, quả, rượu, cau, trầu, hoa, được bày ở gian giữa đình. Sau đó, làng cử hành một đám rước mang kiệu bát cống (có 8 người khiêng) đi vào nhà cụ hay chữ nhất của làng để xin bản văn tế, rước bản văn tế ra đình để độc tế các vị thần, còn gọi là rước văn. Suốt buổi sáng ngày hôm đó các cụ cao niên trong làng tiến hành các nghi thức lễ tế anh linh các vị thành hoàng làng. Làng Vân Sa, xã Tản Hồng, Ba Vì, Hà Nội. Buổi chiều ngày mồng 5 sẽ tổ chức phần hội, lúc bấy giờ các giáp sẽ tổ chức rước kén về đình. Hội rước kén diễn ra rất tấp nập, có múa linh, rước bông, và trò tứ dân lạc nghiệp rất hấp dẫn. Trò tứ dân lạc nghiệp được tiến hành như sau: người diễn sẽ đóng giả tứ dân sĩ, công, nông, thương.Trò tứ dân lạc nghiệp tổ chức tại sân đình Vân Sa từ 4 đến 6 giờ chiều. Đầu tiên, đội kéo quân sẽ do lý trưởng cưỡi ngựa đi đầu trình diễn đội hình trước thành hoàng làng để ra mắt nhân dân xung quanh sân đình. Người cầm loa đi theo sau cùng, vừa đi vừa rao chương trình diễn trò. Giây phút linh thiêng nhất chính là thời điểm cả đám hội chờ đợi ở cửa miếu Nhà Bà chờ mở cửa miếu, để trai đinh của làng vào rước ảnh của Đức Thánh Bà ra ngoài sân đình. Bức ảnh Thánh Bà Ngũ Nương đã có công đánh giặc, cương nghị đang ngồi trên mình ngựa. Người rước ảnh liệng qua rồi lại liệng lại 3 vòng rồi trịnh trọng rước ảnh Đức Thánh Bà trả lại yên vị trong cung của miếu thờ. Sau đó, một bên cổng đình sẽ mở cửa để đám rước kén đầu tiên vào sân. Mọi người trong đoàn rước vừa đi vừa nhảy múa diễn trò trong sân đình 3 vòng rồi đi ra bằng lối ở cổng đình phía đối diện. Xưa kia, khi cây sào gắn dàn kén được đưa ra khỏi đình, dân thôn sẽ đưa dàn kén lên một gác gỗ gá rồi buộc chắc chắn lại. Từ trên đó người ta phải lắc mạnh để cái kén rơi xuống phía dưới, mọi người đi hội sẽ tranh nhau cướp. Ai cướp được nhiều kén được người dân cho rằng năm đó sẽ làm ăn gặp nhiều may mắn. Ngày nay, người nào vác kén ra khỏi sân đình phải lắc thật mạnh cây sào để con kén rơi xuống để người đi xem hội tranh cướp. Lễ rước kiệu cỗ về đình Sau khi đám rước kén đầu tiên ra rồi, dân làng lại tiếp tục mở cửa đình để đám rước kén thứ hai tiến vào tái diễn trò tứ dân lạc nghiệp như đám rước đầu tiên. Lần lượt như thế cho đến đám rước cuối cùng. Ngày nay, dân làng Vân Sa gọi trò tứ dân lạc nghiệp là trò triềng với ý nghĩa trình diễn các ngành nghề của tứ dân, nhưng xa xưa hơn cả thì được gọi là trò chiềng, tức trò vui của làng. Lễ hội Vân Sa là một lễ hội làng nghề đặc trưng của phía Bắc, cũng là một lễ hội gắn liền với tín ngưỡng phồn thực của những người nôn dân làm nông nghiệp. Tục rước bông và rước nõ cũng như rước ảnh bà Ngũ Nương đã thể hiện nguyên lý Mẹ và tín ngưỡng sinh sôi nảy nở một cách sinh động của người Viêt.

Thôn Vân Sa nằm ven sông Hồng, tọa lạc trên một dải đất phù sa màu mỡ thuộc địa phận xã Tản Hồng, Ba Vì, thành phố Hà Nội. Hàng năm, lễ hội Vân Sa được tổ chức vào ngày mồng 4 và ngày mồng 5 tết nhằm tưởng nhớ đến công lao to lớn của vị liệt nữ Ngũ Nương cùng Huệ Vũ đại vương - Trần Quốc Chẩn. Lễ hội Vân Sa được tổ chức tại đình và miếu của thôn.

Ngày mồng 4 tết, ông lý trưởng cưỡi con ngựa dẫn đầu một đội quân gồm 12 đến 14 đinh đêu mặc quần áo giả lính. Một người vác cờ sẽ đi trước đội kéo quân, theo sau là một người cầm trống bỏi, người vác loa sẽ là đội đi cuối. Đội kéo quân sẽ đi dọc tho ngõ làng vào các ngõ xóm, vừa đi vừa đánh trống, rao loa thông báo lịch tổ chức trò chiềng, thúc giục các giáp phải có trách nhiệm tham gia đầy đủ theo tục lệ của làng. Ngày mồng 5 là ngày chính hội, dân chúng từ khắp các nơi nô nức kéo nhau về Vân Sa xem hội. Đền Vân Sa Bắt đầu từ sớm ngày mồng 5 tết, có 8 giáp trong thôn thì cứ 2 hoặc 3 giáp lại liên kết với nhau để tạo thành một đám rước. Năm nào có lễ phong đăng hòa cốc thì trong 8 giáp sẽ có 4 đến 5 đám rước, chí ít thì cũng phải có 3 đám rước. Các giáp tổ chức lễ rước kiệu cỗ. Cỗ gồm có xôi, gà, oản, quả, rượu, cau, trầu, hoa, được bày ở gian giữa đình. Sau đó, làng cử hành một đám rước mang kiệu bát cống (có 8 người khiêng) đi vào nhà cụ hay chữ nhất của làng để xin bản văn tế, rước bản văn tế ra đình để độc tế các vị thần, còn gọi là rước văn. Suốt buổi sáng ngày hôm đó các cụ cao niên trong làng tiến hành các nghi thức lễ tế anh linh các vị thành hoàng làng. Làng Vân Sa, xã Tản Hồng, Ba Vì, Hà Nội. Buổi chiều ngày mồng 5 sẽ tổ chức phần hội, lúc bấy giờ các giáp sẽ tổ chức rước kén về đình. Hội rước kén diễn ra rất tấp nập, có múa linh, rước bông, và trò tứ dân lạc nghiệp rất hấp dẫn. Trò tứ dân lạc nghiệp được tiến hành như sau: người diễn sẽ đóng giả tứ dân sĩ, công, nông, thương.Trò tứ dân lạc nghiệp tổ chức tại sân đình Vân Sa từ 4 đến 6 giờ chiều. Đầu tiên, đội kéo quân sẽ do lý trưởng cưỡi ngựa đi đầu trình diễn đội hình trước thành hoàng làng để ra mắt nhân dân xung quanh sân đình. Người cầm loa đi theo sau cùng, vừa đi vừa rao chương trình diễn trò. Giây phút linh thiêng nhất chính là thời điểm cả đám hội chờ đợi ở cửa miếu Nhà Bà chờ mở cửa miếu, để trai đinh của làng vào rước ảnh của Đức Thánh Bà ra ngoài sân đình. Bức ảnh Thánh Bà Ngũ Nương đã có công đánh giặc, cương nghị đang ngồi trên mình ngựa. Người rước ảnh liệng qua rồi lại liệng lại 3 vòng rồi trịnh trọng rước ảnh Đức Thánh Bà trả lại yên vị trong cung của miếu thờ. Sau đó, một bên cổng đình sẽ mở cửa để đám rước kén đầu tiên vào sân. Mọi người trong đoàn rước vừa đi vừa nhảy múa diễn trò trong sân đình 3 vòng rồi đi ra bằng lối ở cổng đình phía đối diện. Xưa kia, khi cây sào gắn dàn kén được đưa ra khỏi đình, dân thôn sẽ đưa dàn kén lên một gác gỗ gá rồi buộc chắc chắn lại. Từ trên đó người ta phải lắc mạnh để cái kén rơi xuống phía dưới, mọi người đi hội sẽ tranh nhau cướp. Ai cướp được nhiều kén được người dân cho rằng năm đó sẽ làm ăn gặp nhiều may mắn. Ngày nay, người nào vác kén ra khỏi sân đình phải lắc thật mạnh cây sào để con kén rơi xuống để người đi xem hội tranh cướp. Lễ rước kiệu cỗ về đình Sau khi đám rước kén đầu tiên ra rồi, dân làng lại tiếp tục mở cửa đình để đám rước kén thứ hai tiến vào tái diễn trò tứ dân lạc nghiệp như đám rước đầu tiên. Lần lượt như thế cho đến đám rước cuối cùng. Ngày nay, dân làng Vân Sa gọi trò tứ dân lạc nghiệp là trò triềng với ý nghĩa trình diễn các ngành nghề của tứ dân, nhưng xa xưa hơn cả thì được gọi là trò chiềng, tức trò vui của làng. Lễ hội Vân Sa là một lễ hội làng nghề đặc trưng của phía Bắc, cũng là một lễ hội gắn liền với tín ngưỡng phồn thực của những người nôn dân làm nông nghiệp. Tục rước bông và rước nõ cũng như rước ảnh bà Ngũ Nương đã thể hiện nguyên lý Mẹ và tín ngưỡng sinh sôi nảy nở một cách sinh động của người Viêt.

Related Figures

Lễ hội Bơi Đăm

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 9/3 Âm lịch Khâu chuẩn bị cho ngày hội đã được tiến hành từ những ngày đầu năm. Ngày mồng 9 tháng 3 là ngày khai hội. Trong ngày khai hội, lễ đám rước Thánh từ miếu về đình là nghi thức quan trọng nhất và long trọng nhất. Sau khi tế lễ tại đình xong sẽ làm lễ cáo yết ở miếu, sau đó là màn rước ngai của Thánh về đình. Đám rước diễn ra một cách long trọng với đầy đủ lệ bộ và nghi trượng cũng như những vị cao niên có trọng trách trong lễ hội và đông đảo nhân dân trong làng. Đám rước đi men theo đường làng, xuất phát từ miếu Thượng cuối cùng về tới đình. Tới đình, kiệu của Thánh được đặt ở chính ngự ngoài. Sau đó, các tay đô sẽ cùng bô lão rước ngai của Thánh vào đình và ngự tại đây. Ngày hội bắt đầu bằng một cuộc tế lễ diễn ra rất long trọng do hội đồng bô lão trong làng thực hiện. Mọi nghi thức tế lễ đều được thực hiện ở chính ngự trong sau đó ra quãng sân trước cửa đình rồi vào trong đình. Các bước tế lễ của mỗi tuần tế đều được đều bắt đầu từ chính ngự trong ra đến đình. Trong lúc các vị bô lão của làng đang tiến hành tế lễ, hai gian cạnh ở trong đình có trải sẵn chiếc chiếu để du khách thập phương và nhân dân trong làng chuẩn bị lễ để dâng lên bàn thờ Thánh. Người ra vào chật kín cả hai gian với nhiều loại lễ vật… Lễ hội Bơi Đăm tại Hà Nội Sau khi một hồi chiêng trống nổi lên, các trai kiệu và các cụ cao niên sẽ rước ngai thánh từ trong đình ra đến chính ngự trong. Kiệu sẽ đi thẳng từ chính ngự trong ra chính ngự ngoài rồi ra đến đường làng trước ao đình. Khi đi đến trước cửa Thủy đình, kiệu được hạ xuống, các trai kiệu và các cụ rước kiệu sẽ đặt tại bệ giữa nhà Thủy tạ, chấp kích và cờ quạt được đặt ở trước mặt kiệu thánh, hướng mặt nhìn ra sông. Một hồi chiêng trống lại nổi lên, tiếng pháo nổ ở nhà Thủy tạ, ở hai bên bờ sông và trong đình vang lên rộn rã báo vị ngai ngài đã yên vị. Lễ hội Bơi Đăm còn hấp dẫn bởi cuộc đua thuyền. Tiếng chiêng, trống và pháp là hiệu lệnh thông báo chuẩn bị cuộc đua thuyền. Các thuyền đua từ các ngả tiến dần về Thủy tạ trong tiếng vui cười, reo hò vang dậy của nhân dân 3 thôn đang cổ vũ cho thuyền đua của làng mình. Các thuyền đua đang cố gắng tăng tốc về đích Ba thôn là thôn Thượng, thôn Trung và thôn Hạ, mỗi thôn đều có hai thuyền đua. Xưa có thêm một thuyền nữa gọi là thuyền quan. Thuyền quan không tham gia cuộc đua mà chỉ bơi theo đoàn để quan sát cuộc đua. Thuyền đua dài chừng 15 m, có 18 trai bơi và 6 người nữa là ông lái, ông phất cờ, ông dô (người bắt nhịp), ông cầm lạng (người cầm sào), một người sẽ tát nước trong thuyền ra và một ông trọng tài ngồi theo dõi xem có ai vi phạm nội qui cuộc thi không. Trai bơi là những trai tráng đang trong độ tuổi từ 20 đến 35 tuổi, có kinh nghiệm và cường tráng. Mỗi cuộc đua thuyền được tiến hành qua 6 vòng thi. Sáng ngày 10 tháng 3 bơi 2 vòng, chiều 1 vòng. Ngày 11/3 bơi 3 vòng và kết thúc hội bơi là lễ trao giải. Thuyền nào thắng cuộc sẽ có được vinh dự chở ngai của Thánh từ Thủy tạ lên miếu Thượng. Khác với nhiều lễ hội bơi chải khác, ở Lễ hội bơi Đăm khâu tuyển chọn diễn ra khá khắt khe: các tay bơi yêu cầu phải trong độ tuổi 29-35, khỏe mạnh, tư cách đạo đức phải tốt. Trai bơi sẽ được người dân trong xã đóng góp nuôi ăn trong 20 ngày trước khi mở lễ hội. Hội bơi Đăm thường diễn ra trên dòng sông Nhuệ, đoạn sông chảy qua xã Tây Tựu. Trước đây, hai bên bờ sông này thường được tổng vệ sinh, giải tán các hàng quán trái phép mọc lên ở hai bên bờ, khai thông dòng chảy cho sông. Không chỉ thế. những ngày tổ chức cuộc đua thuyền, trên mặt đất cũng tổ chức những trò chơi truyền thống, thu hút sự quan tâm của đông đảo dân chúng và khác dự hội. Lễ hội Bơi Đăm là một lễ hội truyền thống của người dân làng Đăm

Khâu chuẩn bị cho ngày hội đã được tiến hành từ những ngày đầu năm. Ngày mồng 9 tháng 3 là ngày khai hội. Trong ngày khai hội, lễ đám rước Thánh từ miếu về đình là nghi thức quan trọng nhất và long trọng nhất. Sau khi tế lễ tại đình xong sẽ làm lễ cáo yết ở miếu, sau đó là màn rước ngai của Thánh về đình. Đám rước diễn ra một cách long trọng với đầy đủ lệ bộ và nghi trượng cũng như những vị cao niên có trọng trách trong lễ hội và đông đảo nhân dân trong làng. Đám rước đi men theo đường làng, xuất phát từ miếu Thượng cuối cùng về tới đình. Tới đình, kiệu của Thánh được đặt ở chính ngự ngoài. Sau đó, các tay đô sẽ cùng bô lão rước ngai của Thánh vào đình và ngự tại đây.

Ngày hội bắt đầu bằng một cuộc tế lễ diễn ra rất long trọng do hội đồng bô lão trong làng thực hiện. Mọi nghi thức tế lễ đều được thực hiện ở chính ngự trong sau đó ra quãng sân trước cửa đình rồi vào trong đình. Các bước tế lễ của mỗi tuần tế đều được đều bắt đầu từ chính ngự trong ra đến đình. Trong lúc các vị bô lão của làng đang tiến hành tế lễ, hai gian cạnh ở trong đình có trải sẵn chiếc chiếu để du khách thập phương và nhân dân trong làng chuẩn bị lễ để dâng lên bàn thờ Thánh. Người ra vào chật kín cả hai gian với nhiều loại lễ vật… Lễ hội Bơi Đăm tại Hà Nội Sau khi một hồi chiêng trống nổi lên, các trai kiệu và các cụ cao niên sẽ rước ngai thánh từ trong đình ra đến chính ngự trong. Kiệu sẽ đi thẳng từ chính ngự trong ra chính ngự ngoài rồi ra đến đường làng trước ao đình. Khi đi đến trước cửa Thủy đình, kiệu được hạ xuống, các trai kiệu và các cụ rước kiệu sẽ đặt tại bệ giữa nhà Thủy tạ, chấp kích và cờ quạt được đặt ở trước mặt kiệu thánh, hướng mặt nhìn ra sông. Một hồi chiêng trống lại nổi lên, tiếng pháo nổ ở nhà Thủy tạ, ở hai bên bờ sông và trong đình vang lên rộn rã báo vị ngai ngài đã yên vị. Lễ hội Bơi Đăm còn hấp dẫn bởi cuộc đua thuyền. Tiếng chiêng, trống và pháp là hiệu lệnh thông báo chuẩn bị cuộc đua thuyền. Các thuyền đua từ các ngả tiến dần về Thủy tạ trong tiếng vui cười, reo hò vang dậy của nhân dân 3 thôn đang cổ vũ cho thuyền đua của làng mình. Các thuyền đua đang cố gắng tăng tốc về đích Ba thôn là thôn Thượng, thôn Trung và thôn Hạ, mỗi thôn đều có hai thuyền đua. Xưa có thêm một thuyền nữa gọi là thuyền quan. Thuyền quan không tham gia cuộc đua mà chỉ bơi theo đoàn để quan sát cuộc đua. Thuyền đua dài chừng 15 m, có 18 trai bơi và 6 người nữa là ông lái, ông phất cờ, ông dô (người bắt nhịp), ông cầm lạng (người cầm sào), một người sẽ tát nước trong thuyền ra và một ông trọng tài ngồi theo dõi xem có ai vi phạm nội qui cuộc thi không. Trai bơi là những trai tráng đang trong độ tuổi từ 20 đến 35 tuổi, có kinh nghiệm và cường tráng. Mỗi cuộc đua thuyền được tiến hành qua 6 vòng thi. Sáng ngày 10 tháng 3 bơi 2 vòng, chiều 1 vòng. Ngày 11/3 bơi 3 vòng và kết thúc hội bơi là lễ trao giải. Thuyền nào thắng cuộc sẽ có được vinh dự chở ngai của Thánh từ Thủy tạ lên miếu Thượng. Khác với nhiều lễ hội bơi chải khác, ở Lễ hội bơi Đăm khâu tuyển chọn diễn ra khá khắt khe: các tay bơi yêu cầu phải trong độ tuổi 29-35, khỏe mạnh, tư cách đạo đức phải tốt. Trai bơi sẽ được người dân trong xã đóng góp nuôi ăn trong 20 ngày trước khi mở lễ hội. Hội bơi Đăm thường diễn ra trên dòng sông Nhuệ, đoạn sông chảy qua xã Tây Tựu. Trước đây, hai bên bờ sông này thường được tổng vệ sinh, giải tán các hàng quán trái phép mọc lên ở hai bên bờ, khai thông dòng chảy cho sông. Không chỉ thế. những ngày tổ chức cuộc đua thuyền, trên mặt đất cũng tổ chức những trò chơi truyền thống, thu hút sự quan tâm của đông đảo dân chúng và khác dự hội. Lễ hội Bơi Đăm là một lễ hội truyền thống của người dân làng Đăm

Related Figures

Hội Thả diều

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/3 Âm lịch Hội thả diều diễn ra vào ngày 15 tháng Ba âm lịch, tại làng Bá Giang thuộc xã Hồng Hà, Đan Phượng, Hà Nội. Hội thả diều ở Bá Giang gắn liền với "tiệc" ông Nguyễn Cả, một vị danh nhân của làng, nguyên là một vị tướng giỏi của vua Đinh Tiên Hoàng. Sau khi ông từ quan về quê hương, dạy người dân trồng trọt, mở mang cơ nghiệp và gây dựng xóm làng. Về cuối đời, ông Nguyễn Cả sống trong cảnh điền viên, ông bày những thú vui thanh cao cho dân làng, trong đó có chơi thả diều cùng đám trẻ chăn trâu. Một hôm, trên gò đất ông cùng dân làng hay chơi thả diều, bất ngờ Hầu Công xuất hiện. Ông cúi đầu và kính cẩn làm lễ. Sau đó, ông hóa cùng đám mây ngũ sắc. Nhân dân vì tiếc thương ông nên đã lập miếu thờ ông Nguyễn Cả ngay tại gò đất này. Đây cũng chính là địa điểm hằng năm dân làng mở hội thả diều. Hội Thả diều ở Bá Giang tại Hà Nội Tháng 3 mới là dịp mở hội thi, nhưng từ tháng 8 năm trước, trong làng đã chuẩn bị làm diều. Người chọn tre, người mua giấy, người khoét sáo, người chuốt dây... chuẩn bị rất tỷ mỉ, rất công phu. Xưa kia, dây diều được làm bằng loại tre bánh tẻ được vót chuốt đều, nối dài sau đó cuộn lại và ngâm vào nước có quả cây chuối hột và muối. Sau đó, cho vào nồi đặt lên bếp ninh sôi trong nồi ba mươi cả một ngày sẽ niến dây tre trở thành một loại dây vừa dai vừa mềm. Họ làm sáo diều bằng cách dùng nan tre vót đan thành ống, dùng sơn ta đun để gắn miệng sáo được khoét bằng gỗ vàng tâm vào. Chiếc sáo này vừa nhẹ, lại phát ra âm thanh nghe vừa ấm và thanh. Giấy dán diều bồi dùng loại giấy bản. Ngày nay, dây ni-lông được sử dung làm dây diều, diều càng nhẹ thì càng dễ bay cao. Mở màn hội thi thả diều ở Bá Giang là lễ rước bánh dày để tưởng nhớ đến thần nhân. Sau đó, cuộc thi diều sẽ chính thức bắt đầu. Một người khéo tay nhất của làng sẽ chọn làm chiếc diều tượng trưng với kích thước to nhất, dài 5 mét, rộng 1,5 mét, diều được dán giấy hồng điều, trên cánh diều có chép bài thơ: Gió hát trăng thanh hồn non nước Sải cánh diều bay nhạc sáo ngân Khi thiêng tướng Cả lưu truyền thống Anh hùng rạng rỡ sáng lòng dân. Trước khi diễn ra hội thi diều làng sẽ chọn một người khéo tay nhất để làm chiếc diều lớn nhất Mở đầu cho cuộc thi là lễ trình diều. Mọi người dự thi sẽ mang diều đến trình ở trước cửa Miếu. Mỗi năm có khoảng năm đến sáu chục người dự thi, ngoài dân làng Bá Giang, còn có người dân Hạ Mỗ, Liên Trung, Tân Hội... Diều dự thi con dài đến 3 mét, nhỏ thì cũng phải dài 1 mét. Hội diều diễn ra trong 2 tiếng đồng hồ, khi đó sẽ có một số diều bị đứt dây, sẽ bị loại khỏi cuộc thi. Số diều còn lại đạt đến tầng cao và bay đậu ở giữa trời càng ngày càng giảm dần. Vào giai đoạn chung kết thì chỉ còn khoảng 10 chiếc diều. Ban tổ chức sẽ hội thi tập trung tại đền Châu Trần, bên cạnh miếu Bá Giang. Những người ứng thí sẽ lùa dây diều và buộc vào hàng cột ở ngay trước cửa đền Châu Trần. Các giải nhất, nhì, ba được trao cho những người nào có diều bay cao nhất, có tiếng sáo hay nhất và không chao đảo. Sau khi công bố người trúng giải đem phần thưởng vào lễ đình tạ nhân thần, hội thi cũng chính thức kết thúc. Hội thả diều ở Bá Giang hàng năm thu hút từ năm đến sáu chục người tham gia Thế nhưng, những con diều vẫn còn đang bay trên bầu trời cao cho đến tận đêm khuya. Làng Bá Giang trong đêm trăng có tiếng sáo diều nghe rất dễ chịu, tạo nên cảnh đồng quê yên bình và đấy thi vị.

Hội thả diều diễn ra vào ngày 15 tháng Ba âm lịch, tại làng Bá Giang thuộc xã Hồng Hà, Đan Phượng, Hà Nội. Hội thả diều ở Bá Giang gắn liền với "tiệc" ông Nguyễn Cả, một vị danh nhân của làng, nguyên là một vị tướng giỏi của vua Đinh Tiên Hoàng. Sau khi ông từ quan về quê hương, dạy người dân trồng trọt, mở mang cơ nghiệp và gây dựng xóm làng. Về cuối đời, ông Nguyễn Cả sống trong cảnh điền viên, ông bày những thú vui thanh cao cho dân làng, trong đó có chơi thả diều cùng đám trẻ chăn trâu. Một hôm, trên gò đất ông cùng dân làng hay chơi thả diều, bất ngờ Hầu Công xuất hiện. Ông cúi đầu và kính cẩn làm lễ. Sau đó, ông hóa cùng đám mây ngũ sắc. Nhân dân vì tiếc thương ông nên đã lập miếu thờ ông Nguyễn Cả ngay tại gò đất này. Đây cũng chính là địa điểm hằng năm dân làng mở hội thả diều.

Hội Thả diều ở Bá Giang tại Hà Nội

Tháng 3 mới là dịp mở hội thi, nhưng từ tháng 8 năm trước, trong làng đã chuẩn bị làm diều. Người chọn tre, người mua giấy, người khoét sáo, người chuốt dây... chuẩn bị rất tỷ mỉ, rất công phu. Xưa kia, dây diều được làm bằng loại tre bánh tẻ được vót chuốt đều, nối dài sau đó cuộn lại và ngâm vào nước có quả cây chuối hột và muối. Sau đó, cho vào nồi đặt lên bếp ninh sôi trong nồi ba mươi cả một ngày sẽ niến dây tre trở thành một loại dây vừa dai vừa mềm. Họ làm sáo diều bằng cách dùng nan tre vót đan thành ống, dùng sơn ta đun để gắn miệng sáo được khoét bằng gỗ vàng tâm vào. Chiếc sáo này vừa nhẹ, lại phát ra âm thanh nghe vừa ấm và thanh. Giấy dán diều bồi dùng loại giấy bản. Ngày nay, dây ni-lông được sử dung làm dây diều, diều càng nhẹ thì càng dễ bay cao. Mở màn hội thi thả diều ở Bá Giang là lễ rước bánh dày để tưởng nhớ đến thần nhân. Sau đó, cuộc thi diều sẽ chính thức bắt đầu. Một người khéo tay nhất của làng sẽ chọn làm chiếc diều tượng trưng với kích thước to nhất, dài 5 mét, rộng 1,5 mét, diều được dán giấy hồng điều, trên cánh diều có chép bài thơ: Gió hát trăng thanh hồn non nước Sải cánh diều bay nhạc sáo ngân Khi thiêng tướng Cả lưu truyền thống Anh hùng rạng rỡ sáng lòng dân. Trước khi diễn ra hội thi diều làng sẽ chọn một người khéo tay nhất để làm chiếc diều lớn nhất Mở đầu cho cuộc thi là lễ trình diều. Mọi người dự thi sẽ mang diều đến trình ở trước cửa Miếu. Mỗi năm có khoảng năm đến sáu chục người dự thi, ngoài dân làng Bá Giang, còn có người dân Hạ Mỗ, Liên Trung, Tân Hội... Diều dự thi con dài đến 3 mét, nhỏ thì cũng phải dài 1 mét. Hội diều diễn ra trong 2 tiếng đồng hồ, khi đó sẽ có một số diều bị đứt dây, sẽ bị loại khỏi cuộc thi. Số diều còn lại đạt đến tầng cao và bay đậu ở giữa trời càng ngày càng giảm dần. Vào giai đoạn chung kết thì chỉ còn khoảng 10 chiếc diều. Ban tổ chức sẽ hội thi tập trung tại đền Châu Trần, bên cạnh miếu Bá Giang. Những người ứng thí sẽ lùa dây diều và buộc vào hàng cột ở ngay trước cửa đền Châu Trần. Các giải nhất, nhì, ba được trao cho những người nào có diều bay cao nhất, có tiếng sáo hay nhất và không chao đảo. Sau khi công bố người trúng giải đem phần thưởng vào lễ đình tạ nhân thần, hội thi cũng chính thức kết thúc. Hội thả diều ở Bá Giang hàng năm thu hút từ năm đến sáu chục người tham gia Thế nhưng, những con diều vẫn còn đang bay trên bầu trời cao cho đến tận đêm khuya. Làng Bá Giang trong đêm trăng có tiếng sáo diều nghe rất dễ chịu, tạo nên cảnh đồng quê yên bình và đấy thi vị.

Related Figures

Hội làng Lai Tảo

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 11/3- 13/3 Âm lịch Làng Lai Tảo thuộc địa phận xã Bột Xuyên, Mỹ Đức, Hà Nội. Tương truyền, sau khi trợ giúp Hai Bà Trưng đánh tan quân Nam hán, thắng trận trở về ba vị Đại Vương là Đệ nhất Đại vương Cao Quế Minh- thượng đẳng thần, Đệ nhị đại vương Cao Tuấn- trung đẳng thần và Đệ nhị đại vương Cao Châu Pháp- trung đẳng thần, trên đường đi du xuân lễ hội chùa Hương đã đi qua miền Cảo Trang (nay là Làng Lai Tảo), nơi quên nhà của 3 Ngài nên đã dừng chân lại trong dịp đi cầu tự tại chùa Hương trở về. Các ngài cấp cho dân làng 12 nén vàng và 12 nén bạc để tổ chức hội ăn mừng. Từ đó, cứ đến ngày 11, 12 và 13 tháng 3 âm lịch hàng năm, dân làng lại mở hội để tưởng nhớ tới công đức to lớn của các vị đại vương. Trước ngày mở hội, các hộ gia đình trong các xóm ở trong làng đã chuẩn bị xay lúa, giã gạo, lợn, gà, giã bột làm bánh. Đình, Đền đã được các nhà chức sắc, các cụ từ, ông lành quét dọn, lau chùi, bày biện và trang hoàng nơi thờ tự trông rất lộng lẫy, vàuy nghi, trước hồ trên khuôn Đình cũng đã cắm một lá cờ thần và cờ đỏ sao vàng khổ lớn. Trên cổng đình là tấm băng rôn bằng lụa màu đỏ thắm với hàng chữ ‘’ Khánh hội du xuân Tam vị thượng đẳng tối linh thần’’. Từ ngày mồng 10 tháng ba, ở Đình, Đến, chùa, Miếu người dân đã chằng buộc kiệu, sắm sửa cờ và các đồ khí tự, lễ cáo, lễ sao bái... Từ sáng sớm ngày 11 các nhà chức sắc cùng các hương lão và các chư già đã khăn áo nghiêm chỉnh tề tựu tại sân Đình. Lễ rước kiệu Các đội tài tử bát âm, đội phủ giá, đội múa rồng, đội cờ, đội xênh tiền, đã tập trung đầy đủ và đứng thành hàng lối chỉnh tề trên sân. Phủ giá gồm những trai làng khoẻ mạnh, chưa có gia đình, có ngoại hình đều nhau, đều ăn vận áo nâu màu vàng có đường viền đỏ thân có thêu long hoá, thắt lưng màu đỏ, chân bó xà cạp vàng, viền đỏ và đi giày trắng. Dưới sự chỉ huy của một người nhạc trưởng, 12 nhạc công với các loại trống lớn, trống nhỏ, thanh la nạo bạt, trống phường, chiêng đồng, hồ nhị, sáo trúc… cùng hoà tấu nên những bản nhạc mang đậm âm hưởng dân tộc, lúc rộn ràng, lúc thì trầm bổng, du dương. Cùng lúc đó, từ các ngả đường các dân đinh nam phụ và lão ấu với những bộ trang phục mới đẹp, với đủ các loại màu sắc cứ từng đoàn, từng đoàn kéo nhau về Đình nơi sắp diễn ra lễ hội. Đến giờ đẹp đã chọn, các nhà chức sắc sẽ ra lệnh khởi kiệu để rước qua Miếu Bà, qua Đền Trung, lên Đền Thượng rồi lên chùa Thuỷ Vân tự để phụng nghinh các vị thánh thần về hội đồng tế tự. Theo giờ đã định, từ các Đền, các Chùa kiệu rước hội tụ tại một ngã ba ở đầu làng ngay phía trước đền Thượng nối đuôi nhau tạo thành 1 đoàn rước. Từ đây, đoàn sẽ di chuyển trên con đường nghinh thần từ đầu làng nơi có ngôi chùa Thuỷ Vân tự tới tận Đình có chiều dài tới ngàn mét. Đây là con đường của các vị thần mà làng đang tôn thờ, trong tâm thức của người dân làng Lai Tảo, con đường này rất linh thiêng, từ bao đời nay không có đám cưới, đám tang nào đi dọc con đường này mà đều phải chọn đường khác để đi tránh. Đoàn rước kéo dài cả hàng trăm mét, đoàn người dự lễ hội cũng rất đông đúc, chật ních cả một con đường rộng. Trông từ xa đã thấy một đoàn người với sắc màu rực rỡ kiệu, ngai vàng lộng lẫy, đầy uy nghi. Đội rồng dẫn đầu đoàn rước, tiếp theo là đội kỳ. Theo sau nữa là hai hàng các cụ hương lão với trang phục áo lương, quần trắng, khăn xếp, tay cầm truỳ đồng, hồng trượng và đại đao phù việt. Các kiệu phù nhang sẽ đi trước kì khẩu. Hội làng Lai Tảo tại Hà Nội Hai bên là các cụ già, áo dài cổ đeo tràng hạt, tay cầm hương đang tỏa ra làn khói nghi ngút. Điều thu hút người xem nhất là kiệu tam vị được mười hai phủ giá cung nghinh, có lẽ đây là bộ kiệu lớn nhất của vùng này. Tam vị ngự trên ba ngai lớn, mặc trên mình những bộ áo gấm, lưng thắt đai xiêm nhà binh, chân đi hia trên đầu đội cánh mũ lung linh toả ra ánh hào quang. Cứ tiếp diễn vậy, đoàn rước sẽ diễu hành trên con đường lớn trong hơn 1 giờ đồng hồ mới về tới Đình. Kiệu ngự hạ ở sân Đình: các nhà chức sắc cùng các ông lành và các cụ hương lão đều lần lượt đến cung nghin các chư vị vào cung, vào đúng vị trí mà tiền nhân đã làm từ xưa, sau đó là lễ yên vị. Đến buổi chiều cùng ngày, làng mở tuần tế yết và cỗ tế gồm: Xôi kê, Xui thủ, oản quả,... Đêm đến ở sân đình có chiếu chèo, Tuồng cổ . Ngày 12 là ngày chính hội. Hầu như thâu đêm từ ngày hôm trước, các xóm, người người, nhà nhà đang tất bật mổ lợn, giết gà, đồ xôi, nấu chè, làm bánh, làm cỗ để dâng lên những mâm lễ vật tế thần và dâng lên tổ tiên. Từ sáng tinh mơ, cỗ tế của các xóm đã được đưa lên kiệu, các chàng trai chưa vợ, cường tráng theo nhịp trống vang lên mà rước cỗ vào Đình theo sau là các vị hương lão, chư già và bà con lối xóm. Cuộc tế lẽ này kéo dài tới gần trưa. Bên việc cạnh tế lễ, còn diễn ra nhiều trò chơi dân gian khác như múa kiếm, bắt vịt trong ao Đình, bắn cung,… Lai Tảo là một lễ hội truyền thống của người dân huyện Mỹ Đức Hà Nội Tan chiếu chèo cũng là lúc nửa đêm có tế bán dạ. Ngày 13 tháng 3, từ sáng sớm sau khi làm lễ tế tạ và lễ phụng nghinh, đoàn rước sẽ đi từ Đình làng đưa các chư vị hoàn cung. Sau khi hoàn cung xong là lễ yên vị. Chiều ngày hôm đó, làng sẽ tổ chức lễ tạ. Hội làng Lai Tảo là dịp để nhắc nhở dân làng hãy nhớ ơn đức thượng đẳng thần đã có công hộ quốc cứu dân, giữ yên bờ cõi, giáo dục con cháu hãy hướng về cội nguồn nhớ tới công ơn của tổ tiên, ông bà, những người đã sinh thành và dưỡng dục mình nên người.

Làng Lai Tảo thuộc địa phận xã Bột Xuyên, Mỹ Đức, Hà Nội. Tương truyền, sau khi trợ giúp Hai Bà Trưng đánh tan quân Nam hán, thắng trận trở về ba vị Đại Vương là Đệ nhất Đại vương Cao Quế Minh- thượng đẳng thần, Đệ nhị đại vương Cao Tuấn- trung đẳng thần và Đệ nhị đại vương Cao Châu Pháp- trung đẳng thần, trên đường đi du xuân lễ hội chùa Hương đã đi qua miền Cảo Trang (nay là Làng Lai Tảo), nơi quên nhà của 3 Ngài nên đã dừng chân lại trong dịp đi cầu tự tại chùa Hương trở về. Các ngài cấp cho dân làng 12 nén vàng và 12 nén bạc để tổ chức hội ăn mừng. Từ đó, cứ đến ngày 11, 12 và 13 tháng 3 âm lịch hàng năm, dân làng lại mở hội để tưởng nhớ tới công đức to lớn của các vị đại vương.

Trước ngày mở hội, các hộ gia đình trong các xóm ở trong làng đã chuẩn bị xay lúa, giã gạo, lợn, gà, giã bột làm bánh. Đình, Đền đã được các nhà chức sắc, các cụ từ, ông lành quét dọn, lau chùi, bày biện và trang hoàng nơi thờ tự trông rất lộng lẫy, vàuy nghi, trước hồ trên khuôn Đình cũng đã cắm một lá cờ thần và cờ đỏ sao vàng khổ lớn. Trên cổng đình là tấm băng rôn bằng lụa màu đỏ thắm với hàng chữ ‘’ Khánh hội du xuân Tam vị thượng đẳng tối linh thần’’. Từ ngày mồng 10 tháng ba, ở Đình, Đến, chùa, Miếu người dân đã chằng buộc kiệu, sắm sửa cờ và các đồ khí tự, lễ cáo, lễ sao bái... Từ sáng sớm ngày 11 các nhà chức sắc cùng các hương lão và các chư già đã khăn áo nghiêm chỉnh tề tựu tại sân Đình. Lễ rước kiệu Các đội tài tử bát âm, đội phủ giá, đội múa rồng, đội cờ, đội xênh tiền, đã tập trung đầy đủ và đứng thành hàng lối chỉnh tề trên sân. Phủ giá gồm những trai làng khoẻ mạnh, chưa có gia đình, có ngoại hình đều nhau, đều ăn vận áo nâu màu vàng có đường viền đỏ thân có thêu long hoá, thắt lưng màu đỏ, chân bó xà cạp vàng, viền đỏ và đi giày trắng. Dưới sự chỉ huy của một người nhạc trưởng, 12 nhạc công với các loại trống lớn, trống nhỏ, thanh la nạo bạt, trống phường, chiêng đồng, hồ nhị, sáo trúc… cùng hoà tấu nên những bản nhạc mang đậm âm hưởng dân tộc, lúc rộn ràng, lúc thì trầm bổng, du dương. Cùng lúc đó, từ các ngả đường các dân đinh nam phụ và lão ấu với những bộ trang phục mới đẹp, với đủ các loại màu sắc cứ từng đoàn, từng đoàn kéo nhau về Đình nơi sắp diễn ra lễ hội. Đến giờ đẹp đã chọn, các nhà chức sắc sẽ ra lệnh khởi kiệu để rước qua Miếu Bà, qua Đền Trung, lên Đền Thượng rồi lên chùa Thuỷ Vân tự để phụng nghinh các vị thánh thần về hội đồng tế tự. Theo giờ đã định, từ các Đền, các Chùa kiệu rước hội tụ tại một ngã ba ở đầu làng ngay phía trước đền Thượng nối đuôi nhau tạo thành 1 đoàn rước. Từ đây, đoàn sẽ di chuyển trên con đường nghinh thần từ đầu làng nơi có ngôi chùa Thuỷ Vân tự tới tận Đình có chiều dài tới ngàn mét. Đây là con đường của các vị thần mà làng đang tôn thờ, trong tâm thức của người dân làng Lai Tảo, con đường này rất linh thiêng, từ bao đời nay không có đám cưới, đám tang nào đi dọc con đường này mà đều phải chọn đường khác để đi tránh. Đoàn rước kéo dài cả hàng trăm mét, đoàn người dự lễ hội cũng rất đông đúc, chật ních cả một con đường rộng. Trông từ xa đã thấy một đoàn người với sắc màu rực rỡ kiệu, ngai vàng lộng lẫy, đầy uy nghi. Đội rồng dẫn đầu đoàn rước, tiếp theo là đội kỳ. Theo sau nữa là hai hàng các cụ hương lão với trang phục áo lương, quần trắng, khăn xếp, tay cầm truỳ đồng, hồng trượng và đại đao phù việt. Các kiệu phù nhang sẽ đi trước kì khẩu. Hội làng Lai Tảo tại Hà Nội Hai bên là các cụ già, áo dài cổ đeo tràng hạt, tay cầm hương đang tỏa ra làn khói nghi ngút. Điều thu hút người xem nhất là kiệu tam vị được mười hai phủ giá cung nghinh, có lẽ đây là bộ kiệu lớn nhất của vùng này. Tam vị ngự trên ba ngai lớn, mặc trên mình những bộ áo gấm, lưng thắt đai xiêm nhà binh, chân đi hia trên đầu đội cánh mũ lung linh toả ra ánh hào quang. Cứ tiếp diễn vậy, đoàn rước sẽ diễu hành trên con đường lớn trong hơn 1 giờ đồng hồ mới về tới Đình. Kiệu ngự hạ ở sân Đình: các nhà chức sắc cùng các ông lành và các cụ hương lão đều lần lượt đến cung nghin các chư vị vào cung, vào đúng vị trí mà tiền nhân đã làm từ xưa, sau đó là lễ yên vị. Đến buổi chiều cùng ngày, làng mở tuần tế yết và cỗ tế gồm: Xôi kê, Xui thủ, oản quả,... Đêm đến ở sân đình có chiếu chèo, Tuồng cổ . Ngày 12 là ngày chính hội. Hầu như thâu đêm từ ngày hôm trước, các xóm, người người, nhà nhà đang tất bật mổ lợn, giết gà, đồ xôi, nấu chè, làm bánh, làm cỗ để dâng lên những mâm lễ vật tế thần và dâng lên tổ tiên. Từ sáng tinh mơ, cỗ tế của các xóm đã được đưa lên kiệu, các chàng trai chưa vợ, cường tráng theo nhịp trống vang lên mà rước cỗ vào Đình theo sau là các vị hương lão, chư già và bà con lối xóm. Cuộc tế lẽ này kéo dài tới gần trưa. Bên việc cạnh tế lễ, còn diễn ra nhiều trò chơi dân gian khác như múa kiếm, bắt vịt trong ao Đình, bắn cung,… Lai Tảo là một lễ hội truyền thống của người dân huyện Mỹ Đức Hà Nội Tan chiếu chèo cũng là lúc nửa đêm có tế bán dạ. Ngày 13 tháng 3, từ sáng sớm sau khi làm lễ tế tạ và lễ phụng nghinh, đoàn rước sẽ đi từ Đình làng đưa các chư vị hoàn cung. Sau khi hoàn cung xong là lễ yên vị. Chiều ngày hôm đó, làng sẽ tổ chức lễ tạ. Hội làng Lai Tảo là dịp để nhắc nhở dân làng hãy nhớ ơn đức thượng đẳng thần đã có công hộ quốc cứu dân, giữ yên bờ cõi, giáo dục con cháu hãy hướng về cội nguồn nhớ tới công ơn của tổ tiên, ông bà, những người đã sinh thành và dưỡng dục mình nên người.

Related Figures

Hội đình Giàn

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 9/2- 11/2 Âm lịch Đội nữ đang rước kiệu bà Hội đình Giàn mở đầu bằng một cuộc rước nước linh đình từ một giếng nước cổ truyền đã có từ thời Hai Bà Trưng về đình để làm lễ tiến cúng thần hoàng. Ngày mồng 10 sẽ tiến hành lễ rước kiệu Ông, kiệu Bà đến chùa Thiên Phúc dâng hương. Ngày hôm sau, lại rước 2 kiệu ra miếu Mẫu (nơi thờ mẹ Lý Phục Man) sau đó rước trở lại đình. Mỗi kiệu gồm 16 người khiêng, nam thanh niên rước kiệu Ông, còn nữ rước kiệu Bà, tất cả đều chạy tịnh một tuần trước ngày mở hội. Hội đình Giàn tại Hà Nội Trong khi rước, kiệu Ông sẽ đi trước rồi mới đến kiệu Bà, theo sau nữa là phường bát âm, múa bồng, đội sênh tiền - mõ lộn, múa tử linh, múa mặt nạ... Khi đang rước đến nửa đường thì hai kiệu bỗng nhiên dừng lại rồi xoay tròn, lát sau hai kiệu mới rầm rầm chạy về phía trước. Tương truyền, xưa kia, khi đang trên đường rước, kiệu ông cứ xoay lại để nhìn các cô gái khiêng kiệu Bà không chịu đi vì ghen. Hội Giàn còn hấp dẫn bởi trò chơi dân gian “cờ người”, quân cờ là những cô gái trẻ, xinh đẹp của làng thủ vai. Ngoài ra, còn có nhiều trò vui và các cuộc thi đấu võ dân tộc./. Phần hội diễn ra với nhiều tiết mục văn nghệ và trò chơi dân gian vui nhộn

Đội nữ đang rước kiệu bà

Related Figures

Lễ hội Đình làng An Hạ

Thông tin thời kỳ

Cứ vào ngày 12 tháng Giêng âm lịch hàng năm, 3 thôn: Ngự Câu, Đào Nguyên và An Hạ thuộc địa phận xã An Thượng, Hoài Đức, lại tưng bừng tổ chức lễ hội truyền thống đình nhằm tưởng nhớ tới công lao to lớn vĩ đại của các vị thành hoàng. Lễ hội này vẫn còn mang đậm bản sắc văn hóa của vùng quê ở khu vực vùng đồng bằng Bắc Bộ. Lễ rước kiệu ở hội đình An Hạ Theo thần phả có ghi chép thì đình làng An Hạ hồi xưa thờ gia đình cụ Đỗ Thiện. Ông là một trong những cựu thần quan trọng trong triều đại vua Thục Phán An Dương Vương. Vào năm Đinh Hợi, năm 214 trước Công nguyên, khi giặc Tần tiến quân sang xâm lược nước ta, ông Đỗ Thiện đã cùng 2 người vợ và 9 người con của mình đã tham gia đánh đuổi giặc. Sau khi nước ta giành chiến thắng ở vùng Lĩnh Nam, vua Thục Phán An Dương Vương đã mở tiệc để mừng công và phong chức “vương” cho gia đình cụ Đỗ Thiện. Sau khi ông và người thân qua đời, gia đình ông đã được người dân suy tôn làm Thành hoàng đình Đụn. Theo thần phả ghi chép lại, Thành hoàng thôn An Hạ chính là người con gái tên Đỗ Thị Bảo của Thái công Đại vương Đỗ Thiện. Sau khi đánh thắng giặc ngoại xâm, bà đã được vua Thục Phán An Dương Vương phong tước “Huyền Vũ phong tư đệ lục vị công chúa”, nay đình vẫn còn giữ lại bài vị. Phần lễ của hội đình làng An Hạ diễn ra một cách trang nghiêm gồm lễ rước kiệu thánh và dâng hương. Điều đặc biệt nhất của lễ hội đình An Hạ chính là lễ rước đi từ đình làng ra đến quán. Nhưng vì thình hình giao thông thành phố khá đông người qua lại, chính vì vậy thường thì 5 năm làng mới tổ chức 1 lần hội. Lễ hội Đình làng An Hạ tại Hà Nội Lễ rước gồm 5 kiệu, mỗi kiệu có hơn 20 thanh niên đã được tuyển chọn kỹ càng để khiêng. 5 chiếc kiệu gồm: kiệu văn, kiệu thánh để bài vị, kiệu oản, kiệu hoa và kiệu hương. Sau khi tới đạo quán, các chiếc kiệu sẽ dừng chân và được đặt tại đó. Các cụ đại diện cho những người cao tuổi trong thôn sẽ cùng người làm chủ cử hành tế lễ thánh, và dâng hương. Đến buổi chiều, 5 chiếc kiệu lại được rước về đình. Trong khi đang tiến hành lễ rước, nhân dân hai bên đường cũng lập sẵn ban thờ của mình ra trước cổng nhà để lễ thánh. Phần hội diễn ra rất sôi động với rất nhiều trò chơi dân gian hấp dẫn như mở chiếu chèo, đánh cờ người… thu hút đông đảo bà con dân làng tham gia. Nhìn chung, hội đình An Hạ là một trong số những lễ hội đình làng tiêu biểu và đặc sắc của người dân ở khu vực đồng bằng Bắc bộ. Lễ hội này mang đậm giá trị văn hóa làng xóm của nhân dân Việt Nam cần phả được bảo tồn và phát huy.

Cứ vào ngày 12 tháng Giêng âm lịch hàng năm, 3 thôn: Ngự Câu, Đào Nguyên và An Hạ thuộc địa phận xã An Thượng, Hoài Đức, lại tưng bừng tổ chức lễ hội truyền thống đình nhằm tưởng nhớ tới công lao to lớn vĩ đại của các vị thành hoàng. Lễ hội này vẫn còn mang đậm bản sắc văn hóa của vùng quê ở khu vực vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Lễ rước kiệu ở hội đình An Hạ

Theo thần phả có ghi chép thì đình làng An Hạ hồi xưa thờ gia đình cụ Đỗ Thiện. Ông là một trong những cựu thần quan trọng trong triều đại vua Thục Phán An Dương Vương. Vào năm Đinh Hợi, năm 214 trước Công nguyên, khi giặc Tần tiến quân sang xâm lược nước ta, ông Đỗ Thiện đã cùng 2 người vợ và 9 người con của mình đã tham gia đánh đuổi giặc. Sau khi nước ta giành chiến thắng ở vùng Lĩnh Nam, vua Thục Phán An Dương Vương đã mở tiệc để mừng công và phong chức “vương” cho gia đình cụ Đỗ Thiện. Sau khi ông và người thân qua đời, gia đình ông đã được người dân suy tôn làm Thành hoàng đình Đụn. Theo thần phả ghi chép lại, Thành hoàng thôn An Hạ chính là người con gái tên Đỗ Thị Bảo của Thái công Đại vương Đỗ Thiện. Sau khi đánh thắng giặc ngoại xâm, bà đã được vua Thục Phán An Dương Vương phong tước “Huyền Vũ phong tư đệ lục vị công chúa”, nay đình vẫn còn giữ lại bài vị. Phần lễ của hội đình làng An Hạ diễn ra một cách trang nghiêm gồm lễ rước kiệu thánh và dâng hương. Điều đặc biệt nhất của lễ hội đình An Hạ chính là lễ rước đi từ đình làng ra đến quán. Nhưng vì thình hình giao thông thành phố khá đông người qua lại, chính vì vậy thường thì 5 năm làng mới tổ chức 1 lần hội. Lễ hội Đình làng An Hạ tại Hà Nội Lễ rước gồm 5 kiệu, mỗi kiệu có hơn 20 thanh niên đã được tuyển chọn kỹ càng để khiêng. 5 chiếc kiệu gồm: kiệu văn, kiệu thánh để bài vị, kiệu oản, kiệu hoa và kiệu hương. Sau khi tới đạo quán, các chiếc kiệu sẽ dừng chân và được đặt tại đó. Các cụ đại diện cho những người cao tuổi trong thôn sẽ cùng người làm chủ cử hành tế lễ thánh, và dâng hương. Đến buổi chiều, 5 chiếc kiệu lại được rước về đình. Trong khi đang tiến hành lễ rước, nhân dân hai bên đường cũng lập sẵn ban thờ của mình ra trước cổng nhà để lễ thánh. Phần hội diễn ra rất sôi động với rất nhiều trò chơi dân gian hấp dẫn như mở chiếu chèo, đánh cờ người… thu hút đông đảo bà con dân làng tham gia. Nhìn chung, hội đình An Hạ là một trong số những lễ hội đình làng tiêu biểu và đặc sắc của người dân ở khu vực đồng bằng Bắc bộ. Lễ hội này mang đậm giá trị văn hóa làng xóm của nhân dân Việt Nam cần phả được bảo tồn và phát huy.

Related Figures

Lễ hội làng Tạ Xá

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/3- 15/3 Âm lịch Tạ Xá là một ngôi làng thuộc xã Đại Thắng, Phú Xuyên, Hà Nội. Lễ hội làng Tạ Xá cổ truyền xưa thường được tổ chức với qui mô khá lớn, diễn ra từ ngày mồng 10 đến ngày 15 tháng 3 âm lịch. Trong lễ hội này còn tổ chức nhiều cuộc thi tài giữa các làng ở trong xã như: thi chọi gà, thi làm bánh chưng, thi gạo. Từ sau cách mạng Tháng 8 và các cuộc chiến tranh diễn ra đã làm gián đoạn việc tổ chức hội làng, cho tới mấy chục năm trở lại đây, làng Tạ Xá mới khôi phục lại hội làng vào tháng 3 hàng năm. Lễ hội làng Tạ Xá được tổ chức từ ngày 11 đến hết ngày 12 tháng 3 âm lịch hàng năm, được bà con dân làng và những người làm ăn xa quê nhiệt tình hưởng ứng. Lễ hội Tạ Xá gồm 2 phần lễ và phần hôi. Phần lễ được tổ chức rất trang nghiêm, từ sáng ngày 11 toàn thể dân làng sẽ rước kiệu lên miếu để làm lễ rước thánh về đình cử hành tế lễ, sáng ngày 12 tiếp tục tế thánh, sau đó sẽ rước thành về miếu. Lễ hội làng Tạ Xá tại Hà Nội Thông thường phần hội sẽ được tổ chức đan xen với phần lễ, sự kết hợp giữa văn hóa hiện đai và truyền thống. Nhiều trò chơi và cuộc thi truyền thống của lễ hội xưa kia đã được người dân nơi đây được khôi phục lại như trò thi gói bánh chưng và thi gà. Ba hộ sẽ được chọn tham dự cuộc thi gà: Mỗi hộ sẽ chọn một con gà sống thiến nặng khoảng 2kg, đã được cắt tiế và làm cẩn thận, gà được luộc chín, da phải bóng mịn, cánh xòe cánh phượng, miệng ngậm một bông hồng đang chúm chím nở đỏ tươi. Tương tự, cũng sẽ có 3 hộ được chọn thi bánh chưng: Mỗi hộ sẽ gói 21 chiếc. Bánh khi chín rền cân nặng bình quân là 1,1kg một chiếc. Khuôn hình vuông, thành sắc cạnh, bên trong chín rền, khi cắt ra phần gạo, nhân đậu và thịt cân đều so với các góc, các cạnh. Ban giám khảo sẽ chấm bánh chưng và thi gà, thường chấm khá kỹ càng, phân giải nhất, nhì, ba. Gà đoạt giải nhất sẽ được tiến dâng lên lễ thánh. Gà và bánh chưng, sau khi tế lễ xong sẽ được chia đều về cho các mâm cỗ liên hoan để tất cả mọi người được hưởng lộc thánh. Các cô gái trẻ của làng đội lễ lễ thần Trò thi hiện đại diễn ra cũng rất phong phú và hấp dẫn người xem. Có phần trầm ngâm và lặng lẽ đó là đấu cờ tướng. Sôi nổi và hào hứng đó là các trò thi bắt vịt dưới nước, kéo co, đi cầu phao, chọi gà, bơi thuyền... mới nhất là trò “nhảy bao múc nước”. Lễ hội làng Tạ Xá là một trong những lễ hội cổ truyền tiêu biểu của Phía Bắc. Đây là lễ hội mang ý nghĩa giáo dục tinh thần để nhớ về tổ tiên, nhớ vê cội nguồn, lễ hội làng Tạ Xá còn là dịp để thắt chặt tình đoàn kết quê hương, xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.

Related Figures

Lễ hội đền Măng Sơn

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 6/1- 12/1 Âm lịch Đền Măng Sơn là một ngôi đền cổ thờ Đức Thánh Tản Viên của nhân dân tổng Tường Phiêu xưa. Theo các cụ già nơi đây kể lại: Đức Tản Viên từ núi Ba Vì đã đi thăm thú nhiều nơi. Một hôm, ngài đến dừng chân ở Sơn Đông, thấy cảnh sắc nơi đây nên thơ, người dân thì đôn hậu, đời sống cũng khá giả, nên liền ở lại, cho xây dựng một cung điện ở đồi Măng Sơn . Nhân dân quanh vùng đã học được ngài dạy cho nghề săn bắn nên nhiều người dân đã săn bắt chim muông rất khá. Sau khi ngài rời quê hương, dân làng vì nhớ tới công lao to lớn đó, đã lập đền thờ và mở hội hàng năm tại đền Măng Sơn. Hội đền Măng Sơn được tổ chức từ ngày mồng 6 đến ngày 12 tháng Giêng. Vào ngày hội đền Măng Sơn, 5 xã trong tổng có: Sơn Trung, Sơn Đông, Trạch Lôi, Tường Phiêu, Thuần Mỹ đã cử các đại diện mang theo lễ tập trung lên đỉnh Sơn Trung. Lễ vật là một hộp quả có hình lục lăng được chồng 8 tầng và được 4 người khênh. Lễ hội đền Măng Sơn tại Hà Nội Trai đinh các xã đều tụ tập đông đủ ở đình Sơn Trung, các cụ sẽ cắt cử các trai đinh đi rước 3 cỗ kiệu ở trong đặt long ngai bài vị của 3 vị Đức Thánh Tản là Tản Viên, con ông bác và hai anh em Quý Minh, Cao Sơn là con ông chú, lên đền Măng Sơn để tế lễ. Cứ 8 người khiêng một kiệu, đi ngoài là một người cầm lọng, một người cầm cờ đi trước múa dẫn đường, một người đánh trống khẩu để dẹp đám, thành một cỗ. Riêng kiệu Thánh Tản Viên sẽ có thêm 2 cái quạt vả lớn được che ở hai bên. Đây là 3 cỗ kiệu hiếm có của vùng. Việc trang trí quần áo cho 3 long ngai cũng khá đặc biệt. Cả Tam vị Đức Thánh Tản đều đội mũ Kim Ngạc, quần áo vóc trắng, bên ngoài choàng áo vóc đỏ, ngoài cùng là áo hoàng bào có màu hoàng yến, đeo thắt lưng cổn long, đeo hia hổ túc. Mỗi năm rước kiệu các ngài Đức Thánh Tản là dịp để người dân trong vùng và du khách chiêm ngưỡng vẻ đẹp lỗng lẫy của dung nhan các vị do người dân tưởng tượng và sáng tạo ra. Một nghi lễ lớn như vậy là dịp để người dân bày tỏ tấm lòng thành kính lên các vị thánh. Các xã đều cử đại diện vào tế. Chủ tế thường là một cụ cao niên của làng Sơn Đông. Bên cạnh chủ tế còn có ba vị bồi tế, một người đọc văn, 5 người dẫn rượu, 5 người dẫn đèn. Thường là những người cao tuổi, vợ chồng chu toàn, con cháu đầy đặn, và là người có phẩm hạnh mới được chọn để làm vai tế. Người dân Sơn Đông có quan niệm rằng, việc tế lễ là rất hệ trọng, ảnh hưởng tới phúc lành của mọi nhà nên phải chọn người một cách cẩn trọng mới được vào tế lễ. Các cụ bà đang bổ cau tiêm trầu trong ngày hội đền Một điều đáng lưu ý nữa là có một mâm ngũ quả sẽ được dâng lên thờ thần, trong đó có bày các thứ quả được trồng trong vùng. Nhưng không thể thiếu mít xanh, ở Sơn Đông có loại mít có rất quả sớm, người dân gọi loại mít này là mít chiêm. Sau quả mít là 1 quả dứa non, quả chuối, quả bưởi, quả quít hoặc quả cam… Lại nữa, một mâm cỗ khác tế để thần không thể thiếu thú rừng. Tương truyền: Hồi xưa, thú rừng sau khi bắt được sẽ để khô. Sau này, khi việc săn bắt thú rừng càng ngày càng khó, người ta đã thay thế bằng 3 miếng thịt lợn sống. Quá trình tiến hành tế lễ, ông chủ tế sẽ thay mặt cộng đồng, diễn lại các nghi thức dân làng đã được hưởng lộc do Đức Thánh Tản săn bắt. Khi ông chủ tế đọc văn tế đến câu ẩm phước, chủ tế sẽ dừng lời, trân trọng nâng chén lên để nhà ngài nghiêng người sang một bên để giả uống. Đến đoạn thụ tộ thì ông chủ tế sẽ thành kính nâng chén đặt vào trong mâm lễ. Văn tế đọc đến đoạn thù tạc, chủ tế sẽ dùng đũa gắp lật đi lật lại ba miếng thịt lợn coi như đã hưởng lộc ngài. Cuộc tế thần tại đền Măng Sơn đã hoàn thành, 1 giờ chiều cùng ngày, dân hàng tổng sẽ rước 3 cỗ kiệu từ đền về bãi Dộc Thày, hạ kiệu và xếp ngay ngắn, sau đó toàn dân sẽ tỏa ra bãi tổ chức để tham gia các trò chơi vui của ngày hội. Tại đây, nam nữ sẽ tham gia hát ví đúm giao duyên. Các đô vật của các xã và các nơi lân cận sẽ tham gia vật giải. Ngoài bãi có tổ chức thi bắn nỏ, đánh đu cây. Cuộc vui chơi cứ tiếp diễn trong suốt chiều ngày hôm đó. Tối đến người dân sẽ đốt đuốc ca vui cho đến nửa đêm, sang đến giờ Tý (quá nửa đêm) mới tiến hành rước kiệu 3 ngài về đình. Đèn đuốc đã sáng trưng. Dọc đường về qua xóm có cây đa ở trước cổng làng đã có sẵn một cây đuốc lớn (cón được gọi là cây đình liệu), tiếp lửa đốt lên để nghênh đón kiệu ngài làm cho đám rước càng lung linh và huyền ảo. Hội đền Măng Sơn hấp dẫn khách xem hội bởi các trò chơi dân gian và hiện đại Truyền rằng: Dân làng nơi đây phải làm vậy để tái diễn lại sự tích Đức Thánh Tản đi săn, bắt được thú, nghỉ đêm tại bãi Thày, dân các xã mang rượu đến cùng ăn uống, ca hát, vui chơi. Rước về tới đỉnh Sơn Trung, họ đưa 3 ngài vào yên vị, lễ hội Tản Viên vẫn chưa chấm dứt. Các bô lão trong làng vẫn còn phải tế trực vào các buổi tối cho tới ngày 12 tháng giêng âm lịch mới được tế giã. Sang ngày mồng 8 tháng Giêng, dân làng Sơn Đông sẽ cũng nhau diễn lại hội Thánh Tản như vào hôm 6 tháng Giêng, tuy nhiên đoàn không dừng ở bãi Thày mà tiến thẳng về đình, quy mô có phần nhỏ hơn. Lễ hội Tản Viên xưa kia được tổ chức với qui mô lớn, mang màu sắc văn hóa và tín ngưỡng riêng của một vùng, đặc biệt nghi thức rước đêm lại để lại mốt dấu ấn khó phai mờ đối với những ai đã một lần tới dự hội ở Sơn Trung, qua đó đã phản ánh niềm tự hào của người dân nơi đây về truyền thống văn hóa tại địa phương.

Related Figures

Lễ hội đền Bà Tấm

Thông tin thời kỳ

Đền Bà Tấm thuộc địa phận xã Dương Xá, huyện Gia Lâm ở ngoại thành Hà Nội, xưa kia thuộc trang Thổ Lỗi của huyện Siêu Loại, phủ Thuận An. Dương Xá gồm 3 thôn là Dương Đá, Dương Đình và Dương Đanh (Tam Dương), xa xưa nữa là 3 ngõ trong một làng, đền Bà Tấm tọa lạc trên đất của thôn Dương Đá . Trước kia, Dương Xá được tính là một xã, nhưng ngày nay hợp với Yên Bình thành xã Dương Xá và Thuận Quang mới. Hàng năm, người dân nơi đây lại mở 2 kỳ hội, 1 kỳ vào ngày 19/02 và một kỳ vào 25/07 âm lịch, tương truyền hai ngày này là ngày sinh và ngày mất của Bà Tấm. Không chỉ thế, những ngày sóc vọng trong năm đều có tổ chức lễ trong đền. Đội các cụ bà trong trang phục ngày hội đang làm lễ dâng hương Xưa kia hội đền bà Tấm được tổ chức với qui mô rất lớn, không phải chỉ có mình xã Dương Xá và Thuận Quang cùng tổ chức, mà là cả tổng Dương Quang cũ (gồm có 9 xã suốt từ Sủi (Phú Thị) cho đến Văn Lâm (Hải Hưng) và những làng có người cấy cấy ruộng hậu của đền. Trong đền vẫn còn lưu giữ tấm bia có ghi rất chi tiết tên của các làng cấy ruộng hậu của đền. Vì hội khá lớn, nên 5 năm mới tổ chức 1 lần. Theo trí nhớ của dân làng thì hội cuối cùng được tổ chức vào năm 1939. Trước đây, ngày chính hội là từ ngày 19 đến 22 tháng Hai âm lịch, nhưng trên thực tế từ ngày 16 người ta đã rục rịch chuẩn bị và kéo dài cho đến tận ngày 25 tháng 2. Ngay từ bữa tiệc đầu xuân, dân làng đã hội tụ đông đủ tại đền để chuẩn bị kế hoạch hội xuân tế lễ để cẩn cáo với Bà, mong bà phù hộ cho dân làng. Dân làng chọn ra các tiên chỉ, tổng cờ, và ban tế cùng các việc khác diễn ra trong ngày hội. Hội ngày 19 tháng 2, mở đầu là một đám rước rất long trọng - lễ rước nước. Đám rước được khởi hành từ đền Bà Tấm lên tới giếng nước cạnh chùa của làng Sủi (Phú Thị) cách đền chừng 2km. Đi đầu đám rước là đội cờ ngũ hành, tiếp theo là Tổng cờ, rồi đến đoàn chiêng, trống và bát bửu. Theo liền sau đó là long đình rước bài bị bà Ỷ Lan , có đoàn người phục dịch đi theo kiệu. Đường đi là từ đền rồi theo đường 179 ngày nay để lên Sủi. Theo sau kiệu Bà là kiệu đựng chóe để lấy nước. Các cụ già trong làng vẫn còn nhớ trước đây trong đền có 1 chiếc chóe bằng sứ Nhật Bản trông rất to và cao, nhưng nay nó đã không còn. Ngoài ra, là kiệu của các thôn thuộc xã Dương Xá cùng tất cả các làng đã cấy ruộng nhà đền. Chính vì vậy, đám rước lại càng đông người, đi theo một hàng di, bởi vì ruộng đất lộc của đền trải rộng đến tận Bình Trù, Nghĩa Trai, Liên Mỹ. . . Bà cũng được xem là Mẫu nghi của thiên hạ. Vì qui mô của đám rước rất dài và lớn như vậy nên thường kéo dài tới 4 đến 5 tiếng đồng hồ mới rước nước về đến đền. Đền Bà Tấm Trong lúc tiến hành cuộc rước nước, các thôn trong xã cũng tiến hành lễ rước lễ vật về đền để tế lễ. Sau khi kiệu Bà và chóe nước đã được đưa vào đền yên vị xong , cuộc tế lễ cúng chính thức bắt đầu. Các bô lão của 5 thôn được cử vào ban tế để tiến hành kiểm tra lễ vật của các thôn. Lễ vật dùng để tế lễ trong ngày hội có là trầu và rượu. Từ xa xưa đã như vậy, tuy nhiên cũng có năm có thêm bánh gai hoặc bánh mật mà thôi. Tương truyền, việc làm oản xôi để thờ cũng cần phải rất tinh khiết. Phải lấy nước lấy từ giếng Quán Đôi ở đầu thôn Dương Đình,sau đó gánh về nhà trước đó từ 3 đến 4 ngày và để thật trong, khi đó mới được đem ra vo gạo và đồ xôi, như vậy thì mới đảm bảo được độ tinh khiết cho xôi. Sau khi đã xem xét một cách cẩn trọng, các lễ vật mới được dâng lên để tế lễ. Sau khi các cụ trong hội đồng làm lễ chính thức xong, dân làng và du khách thập phương bắt đầu dâng lễ, người ra người vào không ngớt. Ngày hội đầu tiên thường kéo dài cho đến tận đêm khuya trong không khí trang nghiêm trong đền. Bên cạnh đó, ngoài sân đền và khu vực quanh đền còn tổ chức các cuộc vui chơi. Tương truyền, sau khi làm lẽ tế lễ xong ngày hôm đó và ngày hôm sau, lễ vật sẽ được chia ra làm 2 phần, riêng Dương Đá (là nơi sinh của Bà) sẽ được một 1 phần , phần còn lại kia sẽ được chia cho các thôn còn lại của xã. Riêng ông chủ tế sẽ được biếu 60 quả chuối và 60 phẩm oản. Trong đền Bà Tấm có điện thờ bà Ỷ Lan Mỗi năm, hội đền Bà Tấm đều có phường hát từ các nơi tới đăng cai hát giữ cửa đền, họ hát suốt từ ngày 19 cho đến hết hội. Thường các phường hát sẽ đến xin, địa phương sau đó sẽ chọn ra 1 phường tín nhiệm và cho phép họ tới để hát giữ cửa đền cho tới ngày rã đám mới thanh toán tiền cho phường hát. Ngoài ra, các phường tuồng và chèo cũng tới góp vui , làm cho không khí hội càng thêm sôi nổi. Trong hội còn tổ chức các trò chơi khác như: đấu vật, tổ tôm điếm, chọi gà, đốt pháo . . . Cứ như vậy, lễ hội đền bà Tấm thường kéo dài đến hết ngày 21/02 âm lịch. Ngày 22 tháng Hai sẽ là ngày tế rã đám và đóng cửa đền để kết thúc hội. Cũng vào ngày này các giải vật, giải cờ cũng mới phân ngôi nhất, nhì để làm lễ trao giải . Những năm gần đây, hội đền Bà Tấm lại càng ngày càng qui mô hơn. Khu vực đền đã được người dân tu sửa lại trông khang trang hơn, đẹp hơn xưa rất nhiều. Ngày hội được chính quyền địa phương và bà con nhân dân trong xã tổ chức khá chu đáo. Nhiều trò vui dân gian đã được khôi phục lại như chọi gà, tổ tôm điếm. . . Chính vì vậy, khách đến hội mỗi năm lại càng đông thêm.

Đền Bà Tấm thuộc địa phận xã Dương Xá, huyện Gia Lâm ở ngoại thành Hà Nội, xưa kia thuộc trang Thổ Lỗi của huyện Siêu Loại, phủ Thuận An. Dương Xá gồm 3 thôn là Dương Đá, Dương Đình và Dương Đanh (Tam Dương), xa xưa nữa là 3 ngõ trong một làng, đền Bà Tấm tọa lạc trên đất của thôn Dương Đá . Trước kia, Dương Xá được tính là một xã, nhưng ngày nay hợp với Yên Bình thành xã Dương Xá và Thuận Quang mới. Hàng năm, người dân nơi đây lại mở 2 kỳ hội, 1 kỳ vào ngày 19/02 và một kỳ vào 25/07 âm lịch, tương truyền hai ngày này là ngày sinh và ngày mất của Bà Tấm. Không chỉ thế, những ngày sóc vọng trong năm đều có tổ chức lễ trong đền.

Đội các cụ bà trong trang phục ngày hội đang làm lễ dâng hương

Xưa kia hội đền bà Tấm được tổ chức với qui mô rất lớn, không phải chỉ có mình xã Dương Xá và Thuận Quang cùng tổ chức, mà là cả tổng Dương Quang cũ (gồm có 9 xã suốt từ Sủi (Phú Thị) cho đến Văn Lâm (Hải Hưng) và những làng có người cấy cấy ruộng hậu của đền. Trong đền vẫn còn lưu giữ tấm bia có ghi rất chi tiết tên của các làng cấy ruộng hậu của đền. Vì hội khá lớn, nên 5 năm mới tổ chức 1 lần. Theo trí nhớ của dân làng thì hội cuối cùng được tổ chức vào năm 1939. Trước đây, ngày chính hội là từ ngày 19 đến 22 tháng Hai âm lịch, nhưng trên thực tế từ ngày 16 người ta đã rục rịch chuẩn bị và kéo dài cho đến tận ngày 25 tháng 2. Ngay từ bữa tiệc đầu xuân, dân làng đã hội tụ đông đủ tại đền để chuẩn bị kế hoạch hội xuân tế lễ để cẩn cáo với Bà, mong bà phù hộ cho dân làng. Dân làng chọn ra các tiên chỉ, tổng cờ, và ban tế cùng các việc khác diễn ra trong ngày hội. Hội ngày 19 tháng 2, mở đầu là một đám rước rất long trọng - lễ rước nước. Đám rước được khởi hành từ đền Bà Tấm lên tới giếng nước cạnh chùa của làng Sủi (Phú Thị) cách đền chừng 2km. Đi đầu đám rước là đội cờ ngũ hành, tiếp theo là Tổng cờ, rồi đến đoàn chiêng, trống và bát bửu. Theo liền sau đó là long đình rước bài bị bà Ỷ Lan , có đoàn người phục dịch đi theo kiệu. Đường đi là từ đền rồi theo đường 179 ngày nay để lên Sủi. Theo sau kiệu Bà là kiệu đựng chóe để lấy nước. Các cụ già trong làng vẫn còn nhớ trước đây trong đền có 1 chiếc chóe bằng sứ Nhật Bản trông rất to và cao, nhưng nay nó đã không còn. Ngoài ra, là kiệu của các thôn thuộc xã Dương Xá cùng tất cả các làng đã cấy ruộng nhà đền. Chính vì vậy, đám rước lại càng đông người, đi theo một hàng di, bởi vì ruộng đất lộc của đền trải rộng đến tận Bình Trù, Nghĩa Trai, Liên Mỹ. . . Bà cũng được xem là Mẫu nghi của thiên hạ. Vì qui mô của đám rước rất dài và lớn như vậy nên thường kéo dài tới 4 đến 5 tiếng đồng hồ mới rước nước về đến đền. Đền Bà Tấm Trong lúc tiến hành cuộc rước nước, các thôn trong xã cũng tiến hành lễ rước lễ vật về đền để tế lễ. Sau khi kiệu Bà và chóe nước đã được đưa vào đền yên vị xong , cuộc tế lễ cúng chính thức bắt đầu. Các bô lão của 5 thôn được cử vào ban tế để tiến hành kiểm tra lễ vật của các thôn. Lễ vật dùng để tế lễ trong ngày hội có là trầu và rượu. Từ xa xưa đã như vậy, tuy nhiên cũng có năm có thêm bánh gai hoặc bánh mật mà thôi. Tương truyền, việc làm oản xôi để thờ cũng cần phải rất tinh khiết. Phải lấy nước lấy từ giếng Quán Đôi ở đầu thôn Dương Đình,sau đó gánh về nhà trước đó từ 3 đến 4 ngày và để thật trong, khi đó mới được đem ra vo gạo và đồ xôi, như vậy thì mới đảm bảo được độ tinh khiết cho xôi. Sau khi đã xem xét một cách cẩn trọng, các lễ vật mới được dâng lên để tế lễ. Sau khi các cụ trong hội đồng làm lễ chính thức xong, dân làng và du khách thập phương bắt đầu dâng lễ, người ra người vào không ngớt. Ngày hội đầu tiên thường kéo dài cho đến tận đêm khuya trong không khí trang nghiêm trong đền. Bên cạnh đó, ngoài sân đền và khu vực quanh đền còn tổ chức các cuộc vui chơi. Tương truyền, sau khi làm lẽ tế lễ xong ngày hôm đó và ngày hôm sau, lễ vật sẽ được chia ra làm 2 phần, riêng Dương Đá (là nơi sinh của Bà) sẽ được một 1 phần , phần còn lại kia sẽ được chia cho các thôn còn lại của xã. Riêng ông chủ tế sẽ được biếu 60 quả chuối và 60 phẩm oản. Trong đền Bà Tấm có điện thờ bà Ỷ Lan Mỗi năm, hội đền Bà Tấm đều có phường hát từ các nơi tới đăng cai hát giữ cửa đền, họ hát suốt từ ngày 19 cho đến hết hội. Thường các phường hát sẽ đến xin, địa phương sau đó sẽ chọn ra 1 phường tín nhiệm và cho phép họ tới để hát giữ cửa đền cho tới ngày rã đám mới thanh toán tiền cho phường hát. Ngoài ra, các phường tuồng và chèo cũng tới góp vui , làm cho không khí hội càng thêm sôi nổi. Trong hội còn tổ chức các trò chơi khác như: đấu vật, tổ tôm điếm, chọi gà, đốt pháo . . . Cứ như vậy, lễ hội đền bà Tấm thường kéo dài đến hết ngày 21/02 âm lịch. Ngày 22 tháng Hai sẽ là ngày tế rã đám và đóng cửa đền để kết thúc hội. Cũng vào ngày này các giải vật, giải cờ cũng mới phân ngôi nhất, nhì để làm lễ trao giải . Những năm gần đây, hội đền Bà Tấm lại càng ngày càng qui mô hơn. Khu vực đền đã được người dân tu sửa lại trông khang trang hơn, đẹp hơn xưa rất nhiều. Ngày hội được chính quyền địa phương và bà con nhân dân trong xã tổ chức khá chu đáo. Nhiều trò vui dân gian đã được khôi phục lại như chọi gà, tổ tôm điếm. . . Chính vì vậy, khách đến hội mỗi năm lại càng đông thêm.

Related Figures

Hội húc cầu gỗ

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 12/10- 14/10 Âm lịch Cứ đến ngày 12 đến 14 tháng 10 âm lịch hàng năm, người dân làng Xuân Dục ở Hà Nội lại mở hội để tưởng niệm các vị Quốc Tổ. Lễ vật dâng lên các vị Quốc Tổ chỉ có oản, quả được đặt lên kiệu bát cống và rước từ chùa về đình. Hội xưa được tổ chức rất vui với nhiều trò chơi như: ban ngày có tiết mục múa rối, bịt mắt bắt dê, bắt phỗng... buổi tối thì có hát chèo, tuồng. Vào ngày mồng 3 tháng Giêng, ở Xuân Dục còn có lễ hội húc cầu gỗ. Làng Xuân Dục Đông thời xưa có tên gọi Xuân Đán Trang, ngày nay thuộc địa phận xã Tân Minh, Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Làng Xuân Dục là điểm tụ hội của người dân Việt cổ, có thể nói nơi đây là điểm nối giữa vùng đất tổ Phong Châu và khu vực đồng bằng châu thổ sông Hồng. Đình Xuân Dục là nơi thờ Lạc Long Quân và Âu Cơ. Đình làng Xuân Dục tại Hà Nội Tương truyền, vào thời vua Hùng Vương, một cánh quân của Thánh Gióng dưới sự chỉ huy của tướng Hữu Lâm, vào một buổi chiều giáp Tết đã hành quân qua Xuân Đán Trang. Vị chủ tướng này trông thấy nơi đây có rừng già, phong cảnh rất đẹp nên đã cho quân lính dừng chân nghỉ ngơi. Để quân dân cùng vui nên dân làng đã đem cơm nắm, cà muối đến để thết nghĩa quân (nay tại Xuân Dục vẫn còn có địa danh Rừng Cơm). Các phụ lão trong làng còn kể, khi các chiến sĩ đi chơi xuân, nhìn thấy đám trẻ mục đồng túm 5 tụm 3, đã nghĩ ra trò chơi húc cầu . Lúc đầu quả cầu được làm từ củ chuối lá mọc ở giữa rừng có đường kính chừng 30cm. Dụng cụ dùng để cướp cầu là một que tre có móc nhọn ở đầu. Sau khi que tre bị gãy người ta sẽ phải dùng sức người để đẩy. Ai khéo dùng mẹo có thể lừa cướp được quả cầu và đẩy vào lồ phía bên kia thì sẽ là đội thắng cuộc. Nhưng quả cầu được làm bằng củ chuối lại để được lâu, nên người ta đã nghĩ ra cách làm quả cầu mới bằng gỗ lục thông (cây thông to mọc ở rừng) có đường kính khoảng 50cm và nặng khoảng 60-70kg, được sơn mầu đỏ. Làng Xuân Dục có 4 giáp được chia thành 2 đội (nhân dân nơi đây gọi là tứ giáp lưỡng đoàn). Mỗi đội sẽ cử 10 trai đinh to khỏe. Mỗi đội sẽ có 1 ông cai chỉ huy. Giáp Đông và giáp Điềm sẽ giữ lồ ở phía đông còn giáp Đoài và giáp bắc sẽ giữ lồ ở phía tây. Cuộc chơi được tổ chức trên một thửa đất rộng 5 sào ngay trước cửa đình. Chiều ngày mồng 3 Tết, lễ đào lồ sẽ diễn ra hết sức trang nghiêm. Theo phong tục ở đây, lễ đào lồ cũng chính là lễ động thổ. Từ đây, nếu có việc cần thiết phải ra đồng thì người ta đã được tự do cày cuốc mà không cần phải kiêng cữ. Hai lồ được đặt ở hai hướng đông - tây. Mỗi lồ sâu khoảng 0,5m rộng 0,8m. Hai lồ cách nhau 25m. Song song với lễ động thổ, các chức sắc của làng sẽ tổ chức lễ vớt cầu từ Ao Tiên, sau đó rửa sạch, lau khô rồi đặt lên một chiếu hoa được chải ở trước hậu cung đình. Lúc ấy, trên ban thờ đã bày biện mâm cỗ chay gồm: bánh rán,bánh dày, bánh khảo và một buồng chuối lá. Tục truyền rằng, bánh dày là để tượng trưng cho cơm nắm, bánh rán là để tượng trưng cho cà ghém mà xưa kia dân làng đã thiết quân ông Gióng. Sau khi lễ thần xong, đêm ngày mồng 3 Tết, ông từ và các phụ lão phải đèn nhang thờ phụng và canh quả cầu này suốt đêm. Lễ rước kiệu Sáng ngày mồng 4 Tết, sau khi các quan viên và hương lão đã tế thần xong lúc 10 giờ thì 2 đội sẽ tiến ra sân đình để lễ vua. Các cầu thủ sẽ quấn khăn đầu rìu, thắt lưng đỏ và xếp thành hàng để chờ cụ chủ tế đánh hai tiếng trống rồi chắp tay lên ngực, đánh ba tiếng trống thì tất cả sẽ cùng lễ vua cho đều. Sau lễ trình sẽ là cuộc đấu húc cầu gỗ.Trận đấu ra hết sức sôi nổi và hào hứng. Điều hành cuộc chơi có ông chủ tế, 1 người đánh trống chầu, hai ông sẽ đăng cai thay phiên nhau. Khi tiếng trống nổi lên thì thùng khoan nhặt, khán giả cũng tha hồ chen chú, xô đẩy, hò reo cổ vũ ầm ĩ. Trong khi đó, các cầu thủ sẽ tìm mọi cách trườn bò, và luồn lách miễn sao đẩy được quả cầu gỗ vào trúng lồ của phía bên kia. Mẹo chơi duy nhất để nhanh giành chiến thắng là một người ôm thật chặt quả cầu, 3-4 người cùng đội sẽ tập trung sức lôi phốc người đang ôm cầu chạy nhanh về phía lồ của đối phương . Nhưng trước sự cảnh giác của đối thủ, cánh "lừa" trên cũng không phải lúc nào cũng giành được thắng lợi. Cuộc đua tranh thường được dừng ngay khi có một bên thắng một bên thua. Nhưng tới 4 giờ chiều nếu vẫn không phân được thắng bại thì cuộc đua vẫn phải kết thúc. Cụ chủ tế sẽ lấy ra một cành lá tươi (dân làng gọi là cây nêu) đánh dấu vào chỗ quả cầu đang đậu, sau đó lấy lễ vật trên ban thờ để phân phát cho mọi người. Sáng ngày mồng 5, mọi nghi lễ lại được tiếp tục được tiến hành như ngày mồng 4. Vào chiều ngày mồng 5, sau khi lễ tạ và phát lộc cho dân làng xong, cụ chủ tế sẽ hạ buồng chuối lá từ ban thờ thần xuống và tung mạnh ra giữa sân. Mọi người tham dự hội nhảy bổ vào cướp và giật. Ai cướp hay bẻ được nhiều quả thì năm đó sẽ gặp được nhiều may mắn, đó là người dân quan niệm như vậy. 3 quả cầu gỗ phục vụ cho lễ hội Cũng trong buổi chiều ngày mồng 5, sau khi 3 quả cầu được đưa trở lại nằm dưới Ao Tiên thì cũng chính là lúc các trai đinh về nhà. Họ chuẩn bị khăn áo chỉnh tề để 3 giờ sáng ngày hôm sau sẽ đốt đuốc rước kiệu hoa trúc đến đền Sóc Sơn rước lộc. Hoa trúc được làm từ những thanh tre có độ dài 0,7m, bông tua được nhuộm màu vàng, hay màu đỏ. Bó hoa trúc có khoảng 150 đến 200 bông. Sau khi dự lễ xong, kiệu làng Xuân Dục được rước ra đến giữa sân của đền Sóc. Nam thanh nữ tú từ khắp vùng lân cận và các nơi trong nước cũng về dự hội hô nhau xô vào cướp. Ai nấy đều cố cướp được ít nhất là 1 bông. Người ta cho rằng, đi hội mà cướp được hoa trúc thì xem như năm đó bản thân sẽ gặp được nhiều may mắn. Hội húc cầu gỗ tại Xuân Dục đã thể hiện mong ước từ ngàn đời của người dân sống bằng nghề trồng lúa nước: mong cho mưa thuận gió hòa; quả cầu đỏ là tượng trưng cho mặt trời luôn chuyển động từ hướng đông sang hướng tây. Người Xuân Dục xem sự thắng, thua của hội như là một điềm dự báo thời tiết trong năm: - Bên tây thua thì báo hiệu cho vụ mùa khó khăn, nước ít và sâu bệnh cũng nhiều. - Bên đông thua thì năm đó được mùa, nước nôi đầy đủ và cũng không sâu bệnh. - Hai bên hòa nhau thì năm đó khí hậu bình thường, dân làng tha hồ tăng gia sản xuất và chăn nuôi. Trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp, đình Xuân Dục Đông đã bị quân giặc tàn nặng nề để lấy gạch đi xây bốt Núi Đôi. Dân làng nơi đây chỉ còn giữ lại được ba quả cầu được chôn ở Ao Tiên. Sau năm 1954, đình Xuân Dục một lần nữa được dựng lại. Hằng năm, người dân lại mở hội và tổ chức hội húc cầu ở sân đình. Xuân Dục là một mảnh đất lịch sử - ở đây không chỉ độc đáo ở cảnh "Núi chồng núi vợ đứng song đôi" mà còn thu hút du khách thập phương bởi hội húc cầu độc đáo được tổ chức vào mỗi dịp Tết đến Xuân về.

Làng Xuân Dục Đông thời xưa có tên gọi Xuân Đán Trang, ngày nay thuộc địa phận xã Tân Minh, Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Làng Xuân Dục là điểm tụ hội của người dân Việt cổ, có thể nói nơi đây là điểm nối giữa vùng đất tổ Phong Châu và khu vực đồng bằng châu thổ sông Hồng. Đình Xuân Dục là nơi thờ Lạc Long Quân và Âu Cơ. Đình làng Xuân Dục tại Hà Nội Tương truyền, vào thời vua Hùng Vương, một cánh quân của Thánh Gióng dưới sự chỉ huy của tướng Hữu Lâm, vào một buổi chiều giáp Tết đã hành quân qua Xuân Đán Trang. Vị chủ tướng này trông thấy nơi đây có rừng già, phong cảnh rất đẹp nên đã cho quân lính dừng chân nghỉ ngơi. Để quân dân cùng vui nên dân làng đã đem cơm nắm, cà muối đến để thết nghĩa quân (nay tại Xuân Dục vẫn còn có địa danh Rừng Cơm). Các phụ lão trong làng còn kể, khi các chiến sĩ đi chơi xuân, nhìn thấy đám trẻ mục đồng túm 5 tụm 3, đã nghĩ ra trò chơi húc cầu . Lúc đầu quả cầu được làm từ củ chuối lá mọc ở giữa rừng có đường kính chừng 30cm. Dụng cụ dùng để cướp cầu là một que tre có móc nhọn ở đầu. Sau khi que tre bị gãy người ta sẽ phải dùng sức người để đẩy. Ai khéo dùng mẹo có thể lừa cướp được quả cầu và đẩy vào lồ phía bên kia thì sẽ là đội thắng cuộc. Nhưng quả cầu được làm bằng củ chuối lại để được lâu, nên người ta đã nghĩ ra cách làm quả cầu mới bằng gỗ lục thông (cây thông to mọc ở rừng) có đường kính khoảng 50cm và nặng khoảng 60-70kg, được sơn mầu đỏ. Làng Xuân Dục có 4 giáp được chia thành 2 đội (nhân dân nơi đây gọi là tứ giáp lưỡng đoàn). Mỗi đội sẽ cử 10 trai đinh to khỏe. Mỗi đội sẽ có 1 ông cai chỉ huy. Giáp Đông và giáp Điềm sẽ giữ lồ ở phía đông còn giáp Đoài và giáp bắc sẽ giữ lồ ở phía tây. Cuộc chơi được tổ chức trên một thửa đất rộng 5 sào ngay trước cửa đình. Chiều ngày mồng 3 Tết, lễ đào lồ sẽ diễn ra hết sức trang nghiêm. Theo phong tục ở đây, lễ đào lồ cũng chính là lễ động thổ. Từ đây, nếu có việc cần thiết phải ra đồng thì người ta đã được tự do cày cuốc mà không cần phải kiêng cữ. Hai lồ được đặt ở hai hướng đông - tây. Mỗi lồ sâu khoảng 0,5m rộng 0,8m. Hai lồ cách nhau 25m. Song song với lễ động thổ, các chức sắc của làng sẽ tổ chức lễ vớt cầu từ Ao Tiên, sau đó rửa sạch, lau khô rồi đặt lên một chiếu hoa được chải ở trước hậu cung đình. Lúc ấy, trên ban thờ đã bày biện mâm cỗ chay gồm: bánh rán,bánh dày, bánh khảo và một buồng chuối lá. Tục truyền rằng, bánh dày là để tượng trưng cho cơm nắm, bánh rán là để tượng trưng cho cà ghém mà xưa kia dân làng đã thiết quân ông Gióng. Sau khi lễ thần xong, đêm ngày mồng 3 Tết, ông từ và các phụ lão phải đèn nhang thờ phụng và canh quả cầu này suốt đêm. Lễ rước kiệu Sáng ngày mồng 4 Tết, sau khi các quan viên và hương lão đã tế thần xong lúc 10 giờ thì 2 đội sẽ tiến ra sân đình để lễ vua. Các cầu thủ sẽ quấn khăn đầu rìu, thắt lưng đỏ và xếp thành hàng để chờ cụ chủ tế đánh hai tiếng trống rồi chắp tay lên ngực, đánh ba tiếng trống thì tất cả sẽ cùng lễ vua cho đều. Sau lễ trình sẽ là cuộc đấu húc cầu gỗ.Trận đấu ra hết sức sôi nổi và hào hứng. Điều hành cuộc chơi có ông chủ tế, 1 người đánh trống chầu, hai ông sẽ đăng cai thay phiên nhau. Khi tiếng trống nổi lên thì thùng khoan nhặt, khán giả cũng tha hồ chen chú, xô đẩy, hò reo cổ vũ ầm ĩ. Trong khi đó, các cầu thủ sẽ tìm mọi cách trườn bò, và luồn lách miễn sao đẩy được quả cầu gỗ vào trúng lồ của phía bên kia. Mẹo chơi duy nhất để nhanh giành chiến thắng là một người ôm thật chặt quả cầu, 3-4 người cùng đội sẽ tập trung sức lôi phốc người đang ôm cầu chạy nhanh về phía lồ của đối phương . Nhưng trước sự cảnh giác của đối thủ, cánh "lừa" trên cũng không phải lúc nào cũng giành được thắng lợi. Cuộc đua tranh thường được dừng ngay khi có một bên thắng một bên thua. Nhưng tới 4 giờ chiều nếu vẫn không phân được thắng bại thì cuộc đua vẫn phải kết thúc. Cụ chủ tế sẽ lấy ra một cành lá tươi (dân làng gọi là cây nêu) đánh dấu vào chỗ quả cầu đang đậu, sau đó lấy lễ vật trên ban thờ để phân phát cho mọi người. Sáng ngày mồng 5, mọi nghi lễ lại được tiếp tục được tiến hành như ngày mồng 4. Vào chiều ngày mồng 5, sau khi lễ tạ và phát lộc cho dân làng xong, cụ chủ tế sẽ hạ buồng chuối lá từ ban thờ thần xuống và tung mạnh ra giữa sân. Mọi người tham dự hội nhảy bổ vào cướp và giật. Ai cướp hay bẻ được nhiều quả thì năm đó sẽ gặp được nhiều may mắn, đó là người dân quan niệm như vậy. 3 quả cầu gỗ phục vụ cho lễ hội Cũng trong buổi chiều ngày mồng 5, sau khi 3 quả cầu được đưa trở lại nằm dưới Ao Tiên thì cũng chính là lúc các trai đinh về nhà. Họ chuẩn bị khăn áo chỉnh tề để 3 giờ sáng ngày hôm sau sẽ đốt đuốc rước kiệu hoa trúc đến đền Sóc Sơn rước lộc. Hoa trúc được làm từ những thanh tre có độ dài 0,7m, bông tua được nhuộm màu vàng, hay màu đỏ. Bó hoa trúc có khoảng 150 đến 200 bông. Sau khi dự lễ xong, kiệu làng Xuân Dục được rước ra đến giữa sân của đền Sóc. Nam thanh nữ tú từ khắp vùng lân cận và các nơi trong nước cũng về dự hội hô nhau xô vào cướp. Ai nấy đều cố cướp được ít nhất là 1 bông. Người ta cho rằng, đi hội mà cướp được hoa trúc thì xem như năm đó bản thân sẽ gặp được nhiều may mắn. Hội húc cầu gỗ tại Xuân Dục đã thể hiện mong ước từ ngàn đời của người dân sống bằng nghề trồng lúa nước: mong cho mưa thuận gió hòa; quả cầu đỏ là tượng trưng cho mặt trời luôn chuyển động từ hướng đông sang hướng tây. Người Xuân Dục xem sự thắng, thua của hội như là một điềm dự báo thời tiết trong năm: - Bên tây thua thì báo hiệu cho vụ mùa khó khăn, nước ít và sâu bệnh cũng nhiều. - Bên đông thua thì năm đó được mùa, nước nôi đầy đủ và cũng không sâu bệnh. - Hai bên hòa nhau thì năm đó khí hậu bình thường, dân làng tha hồ tăng gia sản xuất và chăn nuôi. Trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp, đình Xuân Dục Đông đã bị quân giặc tàn nặng nề để lấy gạch đi xây bốt Núi Đôi. Dân làng nơi đây chỉ còn giữ lại được ba quả cầu được chôn ở Ao Tiên. Sau năm 1954, đình Xuân Dục một lần nữa được dựng lại. Hằng năm, người dân lại mở hội và tổ chức hội húc cầu ở sân đình. Xuân Dục là một mảnh đất lịch sử - ở đây không chỉ độc đáo ở cảnh "Núi chồng núi vợ đứng song đôi" mà còn thu hút du khách thập phương bởi hội húc cầu độc đáo được tổ chức vào mỗi dịp Tết đến Xuân về.

Làng Xuân Dục Đông thời xưa có tên gọi Xuân Đán Trang, ngày nay thuộc địa phận xã Tân Minh, Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Làng Xuân Dục là điểm tụ hội của người dân Việt cổ, có thể nói nơi đây là điểm nối giữa vùng đất tổ Phong Châu và khu vực đồng bằng châu thổ sông Hồng. Đình Xuân Dục là nơi thờ Lạc Long Quân và Âu Cơ.

Đình làng Xuân Dục tại Hà Nội

Tương truyền, vào thời vua Hùng Vương, một cánh quân của Thánh Gióng dưới sự chỉ huy của tướng Hữu Lâm, vào một buổi chiều giáp Tết đã hành quân qua Xuân Đán Trang. Vị chủ tướng này trông thấy nơi đây có rừng già, phong cảnh rất đẹp nên đã cho quân lính dừng chân nghỉ ngơi. Để quân dân cùng vui nên dân làng đã đem cơm nắm, cà muối đến để thết nghĩa quân (nay tại Xuân Dục vẫn còn có địa danh Rừng Cơm). Các phụ lão trong làng còn kể, khi các chiến sĩ đi chơi xuân, nhìn thấy đám trẻ mục đồng túm 5 tụm 3, đã nghĩ ra trò chơi húc cầu . Lúc đầu quả cầu được làm từ củ chuối lá mọc ở giữa rừng có đường kính chừng 30cm. Dụng cụ dùng để cướp cầu là một que tre có móc nhọn ở đầu. Sau khi que tre bị gãy người ta sẽ phải dùng sức người để đẩy. Ai khéo dùng mẹo có thể lừa cướp được quả cầu và đẩy vào lồ phía bên kia thì sẽ là đội thắng cuộc. Nhưng quả cầu được làm bằng củ chuối lại để được lâu, nên người ta đã nghĩ ra cách làm quả cầu mới bằng gỗ lục thông (cây thông to mọc ở rừng) có đường kính khoảng 50cm và nặng khoảng 60-70kg, được sơn mầu đỏ.

Làng Xuân Dục có 4 giáp được chia thành 2 đội (nhân dân nơi đây gọi là tứ giáp lưỡng đoàn). Mỗi đội sẽ cử 10 trai đinh to khỏe. Mỗi đội sẽ có 1 ông cai chỉ huy. Giáp Đông và giáp Điềm sẽ giữ lồ ở phía đông còn giáp Đoài và giáp bắc sẽ giữ lồ ở phía tây. Cuộc chơi được tổ chức trên một thửa đất rộng 5 sào ngay trước cửa đình. Chiều ngày mồng 3 Tết, lễ đào lồ sẽ diễn ra hết sức trang nghiêm. Theo phong tục ở đây, lễ đào lồ cũng chính là lễ động thổ. Từ đây, nếu có việc cần thiết phải ra đồng thì người ta đã được tự do cày cuốc mà không cần phải kiêng cữ. Hai lồ được đặt ở hai hướng đông - tây. Mỗi lồ sâu khoảng 0,5m rộng 0,8m. Hai lồ cách nhau 25m. Song song với lễ động thổ, các chức sắc của làng sẽ tổ chức lễ vớt cầu từ Ao Tiên, sau đó rửa sạch, lau khô rồi đặt lên một chiếu hoa được chải ở trước hậu cung đình. Lúc ấy, trên ban thờ đã bày biện mâm cỗ chay gồm: bánh rán,bánh dày, bánh khảo và một buồng chuối lá. Tục truyền rằng, bánh dày là để tượng trưng cho cơm nắm, bánh rán là để tượng trưng cho cà ghém mà xưa kia dân làng đã thiết quân ông Gióng. Sau khi lễ thần xong, đêm ngày mồng 3 Tết, ông từ và các phụ lão phải đèn nhang thờ phụng và canh quả cầu này suốt đêm.

Lễ rước kiệu

Sáng ngày mồng 4 Tết, sau khi các quan viên và hương lão đã tế thần xong lúc 10 giờ thì 2 đội sẽ tiến ra sân đình để lễ vua. Các cầu thủ sẽ quấn khăn đầu rìu, thắt lưng đỏ và xếp thành hàng để chờ cụ chủ tế đánh hai tiếng trống rồi chắp tay lên ngực, đánh ba tiếng trống thì tất cả sẽ cùng lễ vua cho đều. Sau lễ trình sẽ là cuộc đấu húc cầu gỗ.Trận đấu ra hết sức sôi nổi và hào hứng. Điều hành cuộc chơi có ông chủ tế, 1 người đánh trống chầu, hai ông sẽ đăng cai thay phiên nhau. Khi tiếng trống nổi lên thì thùng khoan nhặt, khán giả cũng tha hồ chen chú, xô đẩy, hò reo cổ vũ ầm ĩ. Trong khi đó, các cầu thủ sẽ tìm mọi cách trườn bò, và luồn lách miễn sao đẩy được quả cầu gỗ vào trúng lồ của phía bên kia. Mẹo chơi duy nhất để nhanh giành chiến thắng là một người ôm thật chặt quả cầu, 3-4 người cùng đội sẽ tập trung sức lôi phốc người đang ôm cầu chạy nhanh về phía lồ của đối phương . Nhưng trước sự cảnh giác của đối thủ, cánh "lừa" trên cũng không phải lúc nào cũng giành được thắng lợi. Cuộc đua tranh thường được dừng ngay khi có một bên thắng một bên thua. Nhưng tới 4 giờ chiều nếu vẫn không phân được thắng bại thì cuộc đua vẫn phải kết thúc. Cụ chủ tế sẽ lấy ra một cành lá tươi (dân làng gọi là cây nêu) đánh dấu vào chỗ quả cầu đang đậu, sau đó lấy lễ vật trên ban thờ để phân phát cho mọi người.

Sáng ngày mồng 5, mọi nghi lễ lại được tiếp tục được tiến hành như ngày mồng 4. Vào chiều ngày mồng 5, sau khi lễ tạ và phát lộc cho dân làng xong, cụ chủ tế sẽ hạ buồng chuối lá từ ban thờ thần xuống và tung mạnh ra giữa sân. Mọi người tham dự hội nhảy bổ vào cướp và giật. Ai cướp hay bẻ được nhiều quả thì năm đó sẽ gặp được nhiều may mắn, đó là người dân quan niệm như vậy.

3 quả cầu gỗ phục vụ cho lễ hội

Cũng trong buổi chiều ngày mồng 5, sau khi 3 quả cầu được đưa trở lại nằm dưới Ao Tiên thì cũng chính là lúc các trai đinh về nhà. Họ chuẩn bị khăn áo chỉnh tề để 3 giờ sáng ngày hôm sau sẽ đốt đuốc rước kiệu hoa trúc đến đền Sóc Sơn rước lộc. Hoa trúc được làm từ những thanh tre có độ dài 0,7m, bông tua được nhuộm màu vàng, hay màu đỏ. Bó hoa trúc có khoảng 150 đến 200 bông. Sau khi dự lễ xong, kiệu làng Xuân Dục được rước ra đến giữa sân của đền Sóc. Nam thanh nữ tú từ khắp vùng lân cận và các nơi trong nước cũng về dự hội hô nhau xô vào cướp. Ai nấy đều cố cướp được ít nhất là 1 bông. Người ta cho rằng, đi hội mà cướp được hoa trúc thì xem như năm đó bản thân sẽ gặp được nhiều may mắn.

Hội húc cầu gỗ tại Xuân Dục đã thể hiện mong ước từ ngàn đời của người dân sống bằng nghề trồng lúa nước: mong cho mưa thuận gió hòa; quả cầu đỏ là tượng trưng cho mặt trời luôn chuyển động từ hướng đông sang hướng tây. Người Xuân Dục xem sự thắng, thua của hội như là một điềm dự báo thời tiết trong năm:

- Bên tây thua thì báo hiệu cho vụ mùa khó khăn, nước ít và sâu bệnh cũng nhiều.

- Bên đông thua thì năm đó được mùa, nước nôi đầy đủ và cũng không sâu bệnh.

- Hai bên hòa nhau thì năm đó khí hậu bình thường, dân làng tha hồ tăng gia sản xuất và chăn nuôi.

Trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp, đình Xuân Dục Đông đã bị quân giặc tàn nặng nề để lấy gạch đi xây bốt Núi Đôi. Dân làng nơi đây chỉ còn giữ lại được ba quả cầu được chôn ở Ao Tiên. Sau năm 1954, đình Xuân Dục một lần nữa được dựng lại. Hằng năm, người dân lại mở hội và tổ chức hội húc cầu ở sân đình.

Xuân Dục là một mảnh đất lịch sử - ở đây không chỉ độc đáo ở cảnh "Núi chồng núi vợ đứng song đôi" mà còn thu hút du khách thập phương bởi hội húc cầu độc đáo được tổ chức vào mỗi dịp Tết đến Xuân về.

Related Figures

Hội làng Đức Diễn

Thông tin thời kỳ

Hàng năm, cứ đến ngày mồng 10 tháng hai âm lịch, người dân thôn Đức Diễn, Xã Phú Diễn, Từ Liêm Hà Nội, lại tưng bừng mở hội làng Đức Diễn. Hội được tổ chức vào ngày mồng 10 và kết thúc vào ngày 13 tháng 2, là dịp để tôn vinh Thổ lệnh Quốc thống đại vương, vị thần đang trấn giữ thành Bạch Hạc, tam giang Đào Trường, thượng đẳng thần. Làng Đức Diễn xưa kia gồm 4 giáp là giáp Chính, giáp Trung, giáp Tây và giáp Đông. Đình làng Đức Diễn nằm trên một khu đất khá rộng, cửa đình hướng mặt về phía nam, phía tây của đình có một cái ao lớn, bờ ao chạy men theo đất của đình tạo nên một khoảng không gian rất thoang đãng và mát mẻ. Sân đình tương đối rộng để tương xứng với nhà tiền tế 5 gian, chạy hết chiều ngang của sân đình. Kiến trúc của đình được xây dựng theo kiểu chữ công gồm đại đình, cung cấm và thần đoạ. Lễ rước Hàng năm mỗi giáp sẽ lần lượt đăng cai để tổ chức lễ hội, làng còn gọi làm vào đám. Lễ hội của làng Đức Diễn xưa mang nhiều yếu tố dân gian, tục lệ như ngày mồng 9 tháng 2: làng sẽ giao cho các trai đinh dẫy cỏ và dọn dẹp gò bên cạnh giếng, rồi tạo thành bậc tam cấp. Sau khi dẫy cỏ xong thì khiêng một cái chum sành đến, đổ nước vào chođầy chum và tuần phải canh cả đêm để không để vật bẩn rơi vào. Lễ tế ở đình làng Đức Diễn Sáng ngày mồng 10 tháng 2, làng sẽ tổ chức đám rước, xuất phát từ đình làng qua cổng “Ma hóp” rồi vòng qua đường sang cồng Giếng để về đình. Đám rước có: đi đầu là cờ hội, sau đó là cờ thần và cờ ngũ hành, đến tứ linh rồi đến các ông trong ban tế vác theo đồ bát bửu, tiếp theo là đội chấp kích. Tiếp đến là ban nhạc bát âm, đến trống khẩu, sau đội bát âm sẽ là 8 cô gái đồng trinh thay nhau khênh một giá gỗ được sơn son thếp vàng có đựng chóe sứ đẹp. Đó chính là chóe sứ được dùng trong lễ rước nước. Tới gò đoàn sẽ dừng lại để chuyển nước sạch đã lấy được từ chum cho sang chóe rồi rước về đình. Giếng cổ làng Diễn Trong ngày hội làng Đức Diễn, người dân nơi đây còn tự làm các loại bánh để cúng thần như: bánh cuốn, bánh dầy và mía. Làng Đức Diễn vốn là một làng gắn bó với nông nghiệp, chỉ lo việc trồng lúa không có cây gì khác. Người già của làng kể lại rằng, có một ông tên là Lý Năm, trong một lần ông về quê vợ ở Đoan Hùng - Phú Thọ để ăn giỗ, thấy giống bưởi ở đây quá ngon nên đã xin một cành chiết đem về Đức Diễn để trồng. Khi chưa coi trọng việc trồng bưởi để kinh doanh, thì những giống bưởi được nhân từ nhà ông Năm vẫn chưa có giá trị cao, nên vẫn chưa được phổ biến nhiều. Lúc giá trị của cây quả được coi trọng, người ta mới chú trọng đến việ nhân giống đại trà bưởi Diễn. Và điều đặc biệt là giống bưởi của làng Đức Diễn bao giờ cũng ngon hơn. Ngày nay trong khí thế đi lên của nông thôn mới. Làng Đức Diễn vừa mới xây dựng phong trào sản xuất, vừa giữ gìn những nét văn hóa tiêu biểu của các tục lệ của quê hương.

Hàng năm, cứ đến ngày mồng 10 tháng hai âm lịch, người dân thôn Đức Diễn, Xã Phú Diễn, Từ Liêm Hà Nội, lại tưng bừng mở hội làng Đức Diễn. Hội được tổ chức vào ngày mồng 10 và kết thúc vào ngày 13 tháng 2, là dịp để tôn vinh Thổ lệnh Quốc thống đại vương, vị thần đang trấn giữ thành Bạch Hạc, tam giang Đào Trường, thượng đẳng thần.

Làng Đức Diễn xưa kia gồm 4 giáp là giáp Chính, giáp Trung, giáp Tây và giáp Đông. Đình làng Đức Diễn nằm trên một khu đất khá rộng, cửa đình hướng mặt về phía nam, phía tây của đình có một cái ao lớn, bờ ao chạy men theo đất của đình tạo nên một khoảng không gian rất thoang đãng và mát mẻ. Sân đình tương đối rộng để tương xứng với nhà tiền tế 5 gian, chạy hết chiều ngang của sân đình. Kiến trúc của đình được xây dựng theo kiểu chữ công gồm đại đình, cung cấm và thần đoạ. Lễ rước Hàng năm mỗi giáp sẽ lần lượt đăng cai để tổ chức lễ hội, làng còn gọi làm vào đám. Lễ hội của làng Đức Diễn xưa mang nhiều yếu tố dân gian, tục lệ như ngày mồng 9 tháng 2: làng sẽ giao cho các trai đinh dẫy cỏ và dọn dẹp gò bên cạnh giếng, rồi tạo thành bậc tam cấp. Sau khi dẫy cỏ xong thì khiêng một cái chum sành đến, đổ nước vào chođầy chum và tuần phải canh cả đêm để không để vật bẩn rơi vào. Lễ tế ở đình làng Đức Diễn Sáng ngày mồng 10 tháng 2, làng sẽ tổ chức đám rước, xuất phát từ đình làng qua cổng “Ma hóp” rồi vòng qua đường sang cồng Giếng để về đình. Đám rước có: đi đầu là cờ hội, sau đó là cờ thần và cờ ngũ hành, đến tứ linh rồi đến các ông trong ban tế vác theo đồ bát bửu, tiếp theo là đội chấp kích. Tiếp đến là ban nhạc bát âm, đến trống khẩu, sau đội bát âm sẽ là 8 cô gái đồng trinh thay nhau khênh một giá gỗ được sơn son thếp vàng có đựng chóe sứ đẹp. Đó chính là chóe sứ được dùng trong lễ rước nước. Tới gò đoàn sẽ dừng lại để chuyển nước sạch đã lấy được từ chum cho sang chóe rồi rước về đình. Giếng cổ làng Diễn Trong ngày hội làng Đức Diễn, người dân nơi đây còn tự làm các loại bánh để cúng thần như: bánh cuốn, bánh dầy và mía. Làng Đức Diễn vốn là một làng gắn bó với nông nghiệp, chỉ lo việc trồng lúa không có cây gì khác. Người già của làng kể lại rằng, có một ông tên là Lý Năm, trong một lần ông về quê vợ ở Đoan Hùng - Phú Thọ để ăn giỗ, thấy giống bưởi ở đây quá ngon nên đã xin một cành chiết đem về Đức Diễn để trồng. Khi chưa coi trọng việc trồng bưởi để kinh doanh, thì những giống bưởi được nhân từ nhà ông Năm vẫn chưa có giá trị cao, nên vẫn chưa được phổ biến nhiều. Lúc giá trị của cây quả được coi trọng, người ta mới chú trọng đến việ nhân giống đại trà bưởi Diễn. Và điều đặc biệt là giống bưởi của làng Đức Diễn bao giờ cũng ngon hơn. Ngày nay trong khí thế đi lên của nông thôn mới. Làng Đức Diễn vừa mới xây dựng phong trào sản xuất, vừa giữ gìn những nét văn hóa tiêu biểu của các tục lệ của quê hương.

Related Figures

Lễ hội Miếu Mạch Lũng

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/2- 12/2 Âm lịch Lễ hội Miếu Mạch Lũng tại xã Đại Mạch, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội, diễn ra trong 3 ngày, kể từ ngày mồng 10 đến hết ngày 12 tháng 2 âm lịch hàng năm. Miếu Mạch Lũng là một di tích lịch sử thờ 3 vị anh hùng dân tộc dưới thời vua Hùng Vương thứ 18. Các vị cao niên đang hành lễ trong miếu Thần phả còn lưu ở miếu Mạch Lũng cũng cho biết: Nước Văn Lang có một người em vua tên là Hùng Trang, làm Trưởng quan đạo Hải Dương là chồng của Soa Nương- con gái của Trưởng quan hộ chủ Cửu Chân. Tuy về nhà chồng đã 8, 9 năm nhưng Soa Nương vẫn chưa sinh được mun con nào. Bà ngày đêm thắp nhang và cầu nguyệt trời đất cho bà đứa con. Kết quả là vào một ngày nọ, Soa Nương nằm ngủ và mơ thấy có 3 con rồng bay từ ngoài vào, hoá thành 3 người con trai. Người anh tự xưng là chàng Cả, người em xưng chàng Hai và em út xưng là chàng Ba, tất cả 3 con rồng đều ở Thuỷ cung và tình nguyện xin được đầu thai làm con của Soa Nương. Thế rồi bà có thai. Ngày 14/8 năm Nhâm Tý, Soa Nương sinh ra một bọc, nở ra được 3 người con trai đều là những người có thiên tư xuất chúng lạ thường. Khi lớn lên, cả 3 anh em đều rất thông minh, mới học vài năm mà thiên kinh vạn cuốn đều đã đọc tinh thông, trên thông thiên văn, dưới tường địa lí, không việc gì là không biết, không vật gì là không hay. Ba anh em còn có công giúp nhân dân chống lũ lụt, hạn hán và dạy họ ca hát, trồng dâu, học hành, nuôi tằm... Ba người con trai của Soa Nương được nhà vua phong thưởng rất hậu hĩnh. Sau này, ba anh em ra ở trang Mạch Lũng, thành lập một cung khác rồi đón mẹ đến ở. Người dân trong vùng từ già đến trẻ đều rất yêu mến gia đình họ. Ba anh em còn giúp nhà vua cầm thuỷ quân đánh tan giặc ngoại xâm, giữ yên bờ cõi. Nhà Vua đã ban chiếu triệu hồi. Khi đó, ba vị về trước điện hành lễ bái tạ rồi hoá phép biến thành rồng, biến mất. Ngày đôm ấy là ngày 13 tháng 7, trời đất bỗng tối sầm, mùi khói hương thơm ngát. Vua bèn sắc phong cho cả ba anh em là Minh Mỗ Đại vương Thượng đẳng thần, lệnh cho sứ thần đón về trang Mạch Lũng để người dân thờ phụng. Từ đó trở về sau, các vị này thường hiển linh để giúp nước, giúp dân, cầu mưa, cầu tạnh đều rất linh ứng, chính vì vậy các đế vương đều phong mỹ tự để thờ phụng... Lễ hội Miếu Mạch Lũng tại Hà Nội Miếu Mạch Lũng được trùng tu, mở rộng khá nhiều lần. Lần được biết rõ nhất đó là vào thời vua Lê Trung Hưng, quy mô rất bề thế, kiến trúc có giá trị nghệ thuật cao. Kiến trúc của miếu được làm theo kiểu chuôi vồ, cửa hướng về hướng Tây - Nam, nhìn ra dòng sông Hồng. Trong suốt ba ngày mở hội, các cá nhân, các đoàn đại diện cho các tổ chức sản xuất, nhóm các đồng niên, đông ngũ hay đồng môn…và các gia đình cứ lần lượt mang lễ lên miếu để làm lễ dâng hương. Những gia đình có kinh tế khá giả có thể dâng tới 5 mâm cỗ lớn với đầy đủ thủ lợn, gà, xôi, trầu cau, bánh cốm…còn những gia đình nghèo nhất thì cũng thể hiện lòng thành kính bằng đĩa xôi và khoanh thịt. Tất cả những việc đại sự trong các gia đình như việc cưới xin, xây nhà…đều phải tạm hoãn để tập trung cho ngày lễ Thánh. Phần lễ diễn ra với các nghi lễ truyền thống như tế nữ, tế nam, tế cáo và rước kiệu. Phần hội gồm nhiều hoạt động văn hóa đậm chất dân gian như: cờ tướng, chọi gà, hát quan họ, bịt mắt đập niêu… thu hút dự quan tâm của đông đảo người dân và du khách tham gia. Miều Mạch Lũng là nơi thờ ba vị anh hùng dân tộc dưới thời vua hùng đời thứ 18

Lễ hội Miếu Mạch Lũng tại xã Đại Mạch, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội, diễn ra trong 3 ngày, kể từ ngày mồng 10 đến hết ngày 12 tháng 2 âm lịch hàng năm. Miếu Mạch Lũng là một di tích lịch sử thờ 3 vị anh hùng dân tộc dưới thời vua Hùng Vương thứ 18.

Các vị cao niên đang hành lễ trong miếu

Thần phả còn lưu ở miếu Mạch Lũng cũng cho biết: Nước Văn Lang có một người em vua tên là Hùng Trang, làm Trưởng quan đạo Hải Dương là chồng của Soa Nương- con gái của Trưởng quan hộ chủ Cửu Chân. Tuy về nhà chồng đã 8, 9 năm nhưng Soa Nương vẫn chưa sinh được mun con nào. Bà ngày đêm thắp nhang và cầu nguyệt trời đất cho bà đứa con. Kết quả là vào một ngày nọ, Soa Nương nằm ngủ và mơ thấy có 3 con rồng bay từ ngoài vào, hoá thành 3 người con trai. Người anh tự xưng là chàng Cả, người em xưng chàng Hai và em út xưng là chàng Ba, tất cả 3 con rồng đều ở Thuỷ cung và tình nguyện xin được đầu thai làm con của Soa Nương. Thế rồi bà có thai. Ngày 14/8 năm Nhâm Tý, Soa Nương sinh ra một bọc, nở ra được 3 người con trai đều là những người có thiên tư xuất chúng lạ thường. Khi lớn lên, cả 3 anh em đều rất thông minh, mới học vài năm mà thiên kinh vạn cuốn đều đã đọc tinh thông, trên thông thiên văn, dưới tường địa lí, không việc gì là không biết, không vật gì là không hay. Ba anh em còn có công giúp nhân dân chống lũ lụt, hạn hán và dạy họ ca hát, trồng dâu, học hành, nuôi tằm... Ba người con trai của Soa Nương được nhà vua phong thưởng rất hậu hĩnh. Sau này, ba anh em ra ở trang Mạch Lũng, thành lập một cung khác rồi đón mẹ đến ở. Người dân trong vùng từ già đến trẻ đều rất yêu mến gia đình họ. Ba anh em còn giúp nhà vua cầm thuỷ quân đánh tan giặc ngoại xâm, giữ yên bờ cõi. Nhà Vua đã ban chiếu triệu hồi. Khi đó, ba vị về trước điện hành lễ bái tạ rồi hoá phép biến thành rồng, biến mất. Ngày đôm ấy là ngày 13 tháng 7, trời đất bỗng tối sầm, mùi khói hương thơm ngát. Vua bèn sắc phong cho cả ba anh em là Minh Mỗ Đại vương Thượng đẳng thần, lệnh cho sứ thần đón về trang Mạch Lũng để người dân thờ phụng. Từ đó trở về sau, các vị này thường hiển linh để giúp nước, giúp dân, cầu mưa, cầu tạnh đều rất linh ứng, chính vì vậy các đế vương đều phong mỹ tự để thờ phụng... Lễ hội Miếu Mạch Lũng tại Hà Nội Miếu Mạch Lũng được trùng tu, mở rộng khá nhiều lần. Lần được biết rõ nhất đó là vào thời vua Lê Trung Hưng, quy mô rất bề thế, kiến trúc có giá trị nghệ thuật cao. Kiến trúc của miếu được làm theo kiểu chuôi vồ, cửa hướng về hướng Tây - Nam, nhìn ra dòng sông Hồng. Trong suốt ba ngày mở hội, các cá nhân, các đoàn đại diện cho các tổ chức sản xuất, nhóm các đồng niên, đông ngũ hay đồng môn…và các gia đình cứ lần lượt mang lễ lên miếu để làm lễ dâng hương. Những gia đình có kinh tế khá giả có thể dâng tới 5 mâm cỗ lớn với đầy đủ thủ lợn, gà, xôi, trầu cau, bánh cốm…còn những gia đình nghèo nhất thì cũng thể hiện lòng thành kính bằng đĩa xôi và khoanh thịt. Tất cả những việc đại sự trong các gia đình như việc cưới xin, xây nhà…đều phải tạm hoãn để tập trung cho ngày lễ Thánh. Phần lễ diễn ra với các nghi lễ truyền thống như tế nữ, tế nam, tế cáo và rước kiệu. Phần hội gồm nhiều hoạt động văn hóa đậm chất dân gian như: cờ tướng, chọi gà, hát quan họ, bịt mắt đập niêu… thu hút dự quan tâm của đông đảo người dân và du khách tham gia. Miều Mạch Lũng là nơi thờ ba vị anh hùng dân tộc dưới thời vua hùng đời thứ 18

Related Figures

Lễ hội Đền Và

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/1 Âm lịch Hàng năm, cứ đến ngày 15 tháng Giêng âm lịch người dân thôn Vân Gia thuộc xã Trung Hưng, huyện Sơn Tây, thành phố Hà Nội lại tưng bừng mở hội Đền Và. Tương truyền thời ấy, khi vua Hùng nghe theo lời Sơn Tinh trao lại ngôi vua cho Thục Phán, đất nước đã trở lại cảnh thái bình. Sơn Tinh cùng Mỵ Châu về núi Ba Vì sinh sống. Ngài thường du ngoạn khắp bốn phương, hỏi thăm tình trạng dân tình khắp nơi. Một lần, khi Ngài đang nhằm hướng mặt trời mọc để đi đến một quả đồi thấp ở ven dòng sông Tích. Thấy đây quả thật là một nơi thắng địa, Ngài đã dừng chân nghỉ ngơi nhưng vừa lúc đó trên trời bồng nhiên xuất hiện đám mây ngũ sắc từ phía núi Ba Vì bay tới đã che mát một vùng. Ngài cho rằng là điềm lành, bèn cho lập tại đó một hành cung. Nơi ấy nay chính là ngôi đền Và. Lễ hội Đền Và tại Hà Nội Từ ngày có hành cung ở Đền Và, Thánh Tản cũng thường hay lui tới vùng đất ở bên kia sông Hồng. Một lần, đang trên đường trở về Đền Và, Ngài dừng chân tại một xóm nhỏ ở ven sông để nghỉ ngơi. Mặc dù đang tiết xuân mát mẻ, nhưng vì đi đường xa lại gió bụi khiến người khó chị nên Ngài muốn tìm nguồn nước để tắm giội. Nhìn quanh nơi này, Ngài thấy một cô gái đang gánh đôi sọt đi cắt cỏ, Ngài tiến đến bên và lựa lời chào hỏi rồi ngỏ ý muốn nhờ cô gánh cho một gánh nước ở sông Hồng. Cô gái này tưởng Ngài đùa lỡm nên cười ngặt nghẽo. Nhưng sau đó cô đã rất bất ngờ trước vẻ chân thực của Ngài, nhưng cô vẫn quyết định từ chối lời đề nghị vì sọt của cô chỉ đựng được cỏ chứ không đựng được nước. Ngài chỉ mỉm cười và bảo cô cứ thử giúp thử xem sao. Quả nhiên, đôi sọt của cô gái lại đựng được nước thật. Trong khi Ngài đang tắm giội thì cô gái đã chạy về loan báo với dân làng rằng có chuyện lạ đời. Khi người dân kéo đến nơi thì người tắm xong và đã đi mất, xung quanh chỉ còn phảng phất mùi hương trầm. Lúc ấy dân làng nơi đây mới bừng tỉnh và nhận ra đó là chính đức thánh Tản vừa ghé qua đây. Lại có chuyện, khi mới gặp cô gái đi cắt cỏ, Ngài đã bày cho cô gái cách làm liềm để thay cho con dao cô vẫn hay dùng để cắt cỏ được dễ hơn và nhanh hơn. Ghi nhớ dấu tích và ơn đức của Ngài, dân làng Di Bình (thuộc xã Vĩnh Ninh, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc) đã lập ngôi đền và đặt tên cho đền là đền Ngự Giội, ý để nhắc nhở về việc Ngài đã đến đây ngự cảnh và tắm giội ở đó trước khi trở về đền Và. Cứ ba năm một lần lễ hội Đền Và lại được tổ chức với qui mô lớn Người dân ở Đền Và, dựa vào sự tích đám mây ngũ sắc (chữ Hán là Vân già) xuất hiện trên bầu trời của quê mình đã đặt tên cho là làng Vân Gia. Từ đó, dân trong làng làm ăn phát đạt hơn, họ càng ngày càng chăm sóc việc hương khói và thờ phụng Thánh Tản. Lễ hội Đền Và được tổ chức vào dịp xuân thu nhị kỳ: mùa xuân được mở vào tháng Giêng, mùa thu thì mở vào tháng 9. Lễ hội đền Và thường được mở vào ngày rằm tháng giêng hàng năm. Cứ 3 năm lại tổ chức một lễ hội lớn vào các năm Tý - Ngọ - Mão - Dậu. Năm lễ hội lớn thì đền Và có lệ tục rước nước do chính người dân dân làng Di Bình thuộc xã Vĩnh Thịnh, Yên Lạc đảm nhiệm. Cũng vào năm mở hội lớn, các làng có cùng tín ngưỡng ở đền sẽ cùng nhau tổ chức một cuộc rước rất hoành tráng. Tất cả sẽ có 8 làng tham gia, gồm: Thanh Trì, Vân Gia, Mai Trai, Nghĩa Phủ, Đạm Trai thuộc xã Trung Hưng; làng Phù Sa, Phú Nhi (Bần Nhi) thuộc địa phận xã Viên Sơn và làng Di Bình của tỉnh Vĩnh Phúc. Lễ hội Đền Và diễn ra trong một không gian rộng, các nghi thức được tổ chức chặt chẽ. Lễ hội thường bắt đầu mở từ ngày 13 tháng 1. Dân thôn Vân Gia sẽ lên đền để dọn dẹp và trang trí cờ hội. Buổi chiều, người dân các thôn sẽ rước cỗ kiệu của thôn mình về đặt ngay ở sân trước nhà tiền tế của đền. Các cỗ kiệu sẽ được đưa xuống thuyền qua sông. Cư dân vạn chài ở trên sông sẽ tấp nập kéo đến, ghép các thuyền lại thành hình một quả cầu phao vực lớn để đưa đoàn rước sang sông và khi họ nhập vào đoàn rước sẽ trở thành những đoàn người đi hội. Quan niệm của dân nơi đây là vào ngày này vạn chài nào thì trên sông sẽ làm nhiều điều phúc và Thánh Tản sẽ ban nhiều điều may cho làng đó. Khuôn viên Đền Và Sang ngày Rằm tháng giêng, cũng chính là ngày chính hội sẽ tổ chức những cuộc vui chơi, tiếp đón khách xem hội đến đền Và thắp hương, lễ vật lên viếng Đức Thánh Tản. Ngày 15, tại sân trước của nhà tiền tế sẽ diễn ra trò đấu vật. Các đô vật xứ Đoài sẽ đến vật chầu bóng Thánh, sau đó sẽ diễn trò vui vật để giật giải, một thú vui vốn được người dân xứ Đoài hâm mộ. Lễ hội thu được tổ chức vào ngày rằm tháng 9 âm lịch. Lễ hội mở từ ngày 14 tháng 9 âm lịch, dân làng của các thôn Nghĩa Phủ, Vân Gia, Thanh Trì, Đạm Trai, Mai Trai sẽ cùng nhau ùa ra đoạn sông Tích từ Thượng Cầu Vang để cùng đánh bắt cá.

Hàng năm, cứ đến ngày 15 tháng Giêng âm lịch người dân thôn Vân Gia thuộc xã Trung Hưng, huyện Sơn Tây, thành phố Hà Nội lại tưng bừng mở hội Đền Và.

Tương truyền thời ấy, khi vua Hùng nghe theo lời Sơn Tinh trao lại ngôi vua cho Thục Phán, đất nước đã trở lại cảnh thái bình. Sơn Tinh cùng Mỵ Châu về núi Ba Vì sinh sống. Ngài thường du ngoạn khắp bốn phương, hỏi thăm tình trạng dân tình khắp nơi. Một lần, khi Ngài đang nhằm hướng mặt trời mọc để đi đến một quả đồi thấp ở ven dòng sông Tích. Thấy đây quả thật là một nơi thắng địa, Ngài đã dừng chân nghỉ ngơi nhưng vừa lúc đó trên trời bồng nhiên xuất hiện đám mây ngũ sắc từ phía núi Ba Vì bay tới đã che mát một vùng. Ngài cho rằng là điềm lành, bèn cho lập tại đó một hành cung. Nơi ấy nay chính là ngôi đền Và. Lễ hội Đền Và tại Hà Nội Từ ngày có hành cung ở Đền Và, Thánh Tản cũng thường hay lui tới vùng đất ở bên kia sông Hồng. Một lần, đang trên đường trở về Đền Và, Ngài dừng chân tại một xóm nhỏ ở ven sông để nghỉ ngơi. Mặc dù đang tiết xuân mát mẻ, nhưng vì đi đường xa lại gió bụi khiến người khó chị nên Ngài muốn tìm nguồn nước để tắm giội. Nhìn quanh nơi này, Ngài thấy một cô gái đang gánh đôi sọt đi cắt cỏ, Ngài tiến đến bên và lựa lời chào hỏi rồi ngỏ ý muốn nhờ cô gánh cho một gánh nước ở sông Hồng. Cô gái này tưởng Ngài đùa lỡm nên cười ngặt nghẽo. Nhưng sau đó cô đã rất bất ngờ trước vẻ chân thực của Ngài, nhưng cô vẫn quyết định từ chối lời đề nghị vì sọt của cô chỉ đựng được cỏ chứ không đựng được nước. Ngài chỉ mỉm cười và bảo cô cứ thử giúp thử xem sao. Quả nhiên, đôi sọt của cô gái lại đựng được nước thật. Trong khi Ngài đang tắm giội thì cô gái đã chạy về loan báo với dân làng rằng có chuyện lạ đời. Khi người dân kéo đến nơi thì người tắm xong và đã đi mất, xung quanh chỉ còn phảng phất mùi hương trầm. Lúc ấy dân làng nơi đây mới bừng tỉnh và nhận ra đó là chính đức thánh Tản vừa ghé qua đây. Lại có chuyện, khi mới gặp cô gái đi cắt cỏ, Ngài đã bày cho cô gái cách làm liềm để thay cho con dao cô vẫn hay dùng để cắt cỏ được dễ hơn và nhanh hơn. Ghi nhớ dấu tích và ơn đức của Ngài, dân làng Di Bình (thuộc xã Vĩnh Ninh, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc) đã lập ngôi đền và đặt tên cho đền là đền Ngự Giội, ý để nhắc nhở về việc Ngài đã đến đây ngự cảnh và tắm giội ở đó trước khi trở về đền Và. Cứ ba năm một lần lễ hội Đền Và lại được tổ chức với qui mô lớn Người dân ở Đền Và, dựa vào sự tích đám mây ngũ sắc (chữ Hán là Vân già) xuất hiện trên bầu trời của quê mình đã đặt tên cho là làng Vân Gia. Từ đó, dân trong làng làm ăn phát đạt hơn, họ càng ngày càng chăm sóc việc hương khói và thờ phụng Thánh Tản. Lễ hội Đền Và được tổ chức vào dịp xuân thu nhị kỳ: mùa xuân được mở vào tháng Giêng, mùa thu thì mở vào tháng 9. Lễ hội đền Và thường được mở vào ngày rằm tháng giêng hàng năm. Cứ 3 năm lại tổ chức một lễ hội lớn vào các năm Tý - Ngọ - Mão - Dậu. Năm lễ hội lớn thì đền Và có lệ tục rước nước do chính người dân dân làng Di Bình thuộc xã Vĩnh Thịnh, Yên Lạc đảm nhiệm. Cũng vào năm mở hội lớn, các làng có cùng tín ngưỡng ở đền sẽ cùng nhau tổ chức một cuộc rước rất hoành tráng. Tất cả sẽ có 8 làng tham gia, gồm: Thanh Trì, Vân Gia, Mai Trai, Nghĩa Phủ, Đạm Trai thuộc xã Trung Hưng; làng Phù Sa, Phú Nhi (Bần Nhi) thuộc địa phận xã Viên Sơn và làng Di Bình của tỉnh Vĩnh Phúc. Lễ hội Đền Và diễn ra trong một không gian rộng, các nghi thức được tổ chức chặt chẽ. Lễ hội thường bắt đầu mở từ ngày 13 tháng 1. Dân thôn Vân Gia sẽ lên đền để dọn dẹp và trang trí cờ hội. Buổi chiều, người dân các thôn sẽ rước cỗ kiệu của thôn mình về đặt ngay ở sân trước nhà tiền tế của đền. Các cỗ kiệu sẽ được đưa xuống thuyền qua sông. Cư dân vạn chài ở trên sông sẽ tấp nập kéo đến, ghép các thuyền lại thành hình một quả cầu phao vực lớn để đưa đoàn rước sang sông và khi họ nhập vào đoàn rước sẽ trở thành những đoàn người đi hội. Quan niệm của dân nơi đây là vào ngày này vạn chài nào thì trên sông sẽ làm nhiều điều phúc và Thánh Tản sẽ ban nhiều điều may cho làng đó. Khuôn viên Đền Và Sang ngày Rằm tháng giêng, cũng chính là ngày chính hội sẽ tổ chức những cuộc vui chơi, tiếp đón khách xem hội đến đền Và thắp hương, lễ vật lên viếng Đức Thánh Tản. Ngày 15, tại sân trước của nhà tiền tế sẽ diễn ra trò đấu vật. Các đô vật xứ Đoài sẽ đến vật chầu bóng Thánh, sau đó sẽ diễn trò vui vật để giật giải, một thú vui vốn được người dân xứ Đoài hâm mộ. Lễ hội thu được tổ chức vào ngày rằm tháng 9 âm lịch. Lễ hội mở từ ngày 14 tháng 9 âm lịch, dân làng của các thôn Nghĩa Phủ, Vân Gia, Thanh Trì, Đạm Trai, Mai Trai sẽ cùng nhau ùa ra đoạn sông Tích từ Thượng Cầu Vang để cùng đánh bắt cá.

Related Figures

Lễ hội Võng La

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 13/1- 15/1 Âm lịch Lễ hội Võng La được tổ chức từ ngày 13 -15 tháng Giêng âm lịch hàng năm, tại Đình Đại Độ tọa lạc ở làng Đại Độ thuộc xã Võng La, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Lễ hội là cơ hội để suy tôn Ngũ vị Tôn Thần: Quốc Công Đại Vương , Lã Nương Phu nhân Đại Vương và 3 người con là Minh Chiêu (Đệ Nhị Linh Tố Đại Vương), Linh Khổn (Đệ Nhất Linh Tố Đại Vương) và Cung Mục (Đệ Tam Linh Tố Đại Vương). Lễ hội Võng La tại Hà Nội Theo truyền thuyết lưu truyền và thần phả ở đình có ghi, vào đời Vua Hùng thứ 18 (Hùng Duệ Vương), ông Quốc Tế và vợ là bà Phùng Thị Loan (Lã Nương) đảm nhiệm nhiệm vụ trông coi lương thực và kho bạc ở xã Võng La. Hai vợ chồng ông tuổi đã xế chiều nhưng vẫn chưa sinh được người co nào. Trong một đêm, bà Lã Nương nằm mộng thấy có ba con rắn trắng bò từ sông lên rồi bò lên người bà. Sau đó, bà có mang, sau đúng 9 tháng 10 ngày có mang bà sinh ra 3 người con trai và đặt tên các còn là Minh Chiêu, Linh Khổn và Cung Mục. Ba người con trai của Lã Nương lớn lên đều rất thông minh tài trí hơn người, văn võ song toàn, khỏe mạnh phi thường. Khuôn viên Đình Đại Độ Sau khi được tin quân Thục Phán đang dẫn 100 vạn quân tinh nhuệ chia thành tám mũi tấn công vào đất nước, Hùng Duệ Vương đã lệnh triệu tập các vị quan đại thần vào để bàn kế sách đánh giặc. Tả Viên Sơn Thần đã tiến cử ba anh em Minh Chiêu,Linh Khổn, và Cung Mục với vua và họ đã được vua phong làm tướng quân, được chỉ huy 2 đường tiến công đường thủy và đường bộ để giao chiến với quân Thục. Nhờ có tài trí hơn người, chỉ trong một thời gian rất ngắn, ba anh em Linh Khổn đã đánh bại quân Thục Phán. Tuy nhiên, khi đang trên đường trở về diện kiến nhà vua thì ba anh em không bệnh mà qua đời. Nhà vua tỏ ra vô cùng thương tiếc đã truyền chiếu chỉ lập đền thờ cho dân làng thờ phụng, và tôn 3 anh em họ trở thành Thành Hoàng làng, đồng thời sắc phong cho Linh Khổn là Đệ Nhất Linh Tố Đại Vương, Minh Chiêu là Đệ Nhị Linh Tố Đại Vương và Cung Mục là Đệ Tam Linh Tố Đại Vương. Cha mẹ của họ được sắc phong là Quốc Công Đại Vương và Phu Nhân Đại Vương. Hàng năm, xã Võng La sẽ mở 2 kỳ hội. Hội tháng Giêng âm lịch sẽ là hội chính, diễn ra vào ngày 13 đến 15 tháng Giêng để tưởng niệm ngày hóa của 3 vị Đại Vương. Hội tháng 8 âm lịch sẽ tổ chức vào ngày 15 nhằm tưởng niệm ngày sinh và cũng chính là ngày hóa của cha mẹ 3 vị Đại Vương. Diễn biến của ngày hội chính Ngày 13 tháng Giêng: Buổi sáng, các cụ ông thuộc đội tế lễ sẽ mặc trang phục truyền thống để cử hành lễ bao sái, mộc dục tượng, các đồ thờ cúng và lễ tế để mở cửa đình. Buổi chiều cùng ngày, đội tế nam sẽ tiến hành lễ tế nhập tịch còn đội tế nữ sẽ tiến hành lễ dâng hương tế Thánh. Ngày 14 tháng Giêng là ngày Chính hội: Lễ rước kiệu sẽ được tổ chức vào buổi sáng sớm. Đội múa sư tử sẽ dẫn đầu đoàn rước, kế tiếp sẽ là phường bát âm, sau đó là đội mang cờ, theo sau nữa là đồ bát bảo, đội khiêng kiệu, rồi đến đội tế nam và đội tế nữ, đội lễ và cuối cùng là dân làng. Những người được chọn khiêng kiệu phải là những thanh niên khỏe mạnh có đạo đức tốt và chưa lập gia đình. Hội Võng La là dịp tưởng nhớ tới công ơn 5 vị thần dưới thời vua hùng thứ 18 Kiệu Ông (hay kiệu Long Đình) và kiệu của 3 vị Đại Vương sẽ được các chàng trai khiêng, kiệu Đức Bà (kiệu Bát Cống) được các cô gái khiêng. Đoàn rước kiệu sẽ xuất phát từ đình đi xung quanh xã Võng La, sau đó khi quay trở lại sân đình. Khi kiệu yên vị ở sân đình, đội tế nam sẽ tiến hành lễ tế Thánh. Buổi chiều, đội tế nam cùng đội nữ dâng hương của các thôn và các xã lân cận sẽ làm lễ tế Thánh. Tối đến, các chương trình giao lưu văn nghệ của xã Võng La cùng các xã khác sẽ được tổ chức. Ngày 15 tháng Giêng: Buổi sáng, đội tế nữ tề tựu về đình, tất cả diện trang phục truyền thống để làm lễ dâng hương tế Thánh. Buổi chiều, đội tế nam sẽ cử hành lễ tế giã hội và sau đó phát lộc Thánh. Trong những ngày lễ hội có nhiều trò chơi được tổ chức, các hoạt động văn hóa như: múa sênh tiền, múa sư tử, hát quan họ, hát văn, hát chèo, cuộc thi cờ tướng, đu tre, chọi gà, đá bóng, bóng chuyền …

Lễ hội Võng La được tổ chức từ ngày 13 -15 tháng Giêng âm lịch hàng năm, tại Đình Đại Độ tọa lạc ở làng Đại Độ thuộc xã Võng La, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Lễ hội là cơ hội để suy tôn Ngũ vị Tôn Thần: Quốc Công Đại Vương , Lã Nương Phu nhân Đại Vương và 3 người con là Minh Chiêu (Đệ Nhị Linh Tố Đại Vương), Linh Khổn (Đệ Nhất Linh Tố Đại Vương) và Cung Mục (Đệ Tam Linh Tố Đại Vương).

Lễ hội Võng La tại Hà Nội

Theo truyền thuyết lưu truyền và thần phả ở đình có ghi, vào đời Vua Hùng thứ 18 (Hùng Duệ Vương), ông Quốc Tế và vợ là bà Phùng Thị Loan (Lã Nương) đảm nhiệm nhiệm vụ trông coi lương thực và kho bạc ở xã Võng La. Hai vợ chồng ông tuổi đã xế chiều nhưng vẫn chưa sinh được người co nào. Trong một đêm, bà Lã Nương nằm mộng thấy có ba con rắn trắng bò từ sông lên rồi bò lên người bà. Sau đó, bà có mang, sau đúng 9 tháng 10 ngày có mang bà sinh ra 3 người con trai và đặt tên các còn là Minh Chiêu, Linh Khổn và Cung Mục. Ba người con trai của Lã Nương lớn lên đều rất thông minh tài trí hơn người, văn võ song toàn, khỏe mạnh phi thường. Khuôn viên Đình Đại Độ Sau khi được tin quân Thục Phán đang dẫn 100 vạn quân tinh nhuệ chia thành tám mũi tấn công vào đất nước, Hùng Duệ Vương đã lệnh triệu tập các vị quan đại thần vào để bàn kế sách đánh giặc. Tả Viên Sơn Thần đã tiến cử ba anh em Minh Chiêu,Linh Khổn, và Cung Mục với vua và họ đã được vua phong làm tướng quân, được chỉ huy 2 đường tiến công đường thủy và đường bộ để giao chiến với quân Thục. Nhờ có tài trí hơn người, chỉ trong một thời gian rất ngắn, ba anh em Linh Khổn đã đánh bại quân Thục Phán. Tuy nhiên, khi đang trên đường trở về diện kiến nhà vua thì ba anh em không bệnh mà qua đời. Nhà vua tỏ ra vô cùng thương tiếc đã truyền chiếu chỉ lập đền thờ cho dân làng thờ phụng, và tôn 3 anh em họ trở thành Thành Hoàng làng, đồng thời sắc phong cho Linh Khổn là Đệ Nhất Linh Tố Đại Vương, Minh Chiêu là Đệ Nhị Linh Tố Đại Vương và Cung Mục là Đệ Tam Linh Tố Đại Vương. Cha mẹ của họ được sắc phong là Quốc Công Đại Vương và Phu Nhân Đại Vương. Hàng năm, xã Võng La sẽ mở 2 kỳ hội. Hội tháng Giêng âm lịch sẽ là hội chính, diễn ra vào ngày 13 đến 15 tháng Giêng để tưởng niệm ngày hóa của 3 vị Đại Vương. Hội tháng 8 âm lịch sẽ tổ chức vào ngày 15 nhằm tưởng niệm ngày sinh và cũng chính là ngày hóa của cha mẹ 3 vị Đại Vương. Diễn biến của ngày hội chính Ngày 13 tháng Giêng: Buổi sáng, các cụ ông thuộc đội tế lễ sẽ mặc trang phục truyền thống để cử hành lễ bao sái, mộc dục tượng, các đồ thờ cúng và lễ tế để mở cửa đình. Buổi chiều cùng ngày, đội tế nam sẽ tiến hành lễ tế nhập tịch còn đội tế nữ sẽ tiến hành lễ dâng hương tế Thánh. Ngày 14 tháng Giêng là ngày Chính hội: Lễ rước kiệu sẽ được tổ chức vào buổi sáng sớm. Đội múa sư tử sẽ dẫn đầu đoàn rước, kế tiếp sẽ là phường bát âm, sau đó là đội mang cờ, theo sau nữa là đồ bát bảo, đội khiêng kiệu, rồi đến đội tế nam và đội tế nữ, đội lễ và cuối cùng là dân làng. Những người được chọn khiêng kiệu phải là những thanh niên khỏe mạnh có đạo đức tốt và chưa lập gia đình. Hội Võng La là dịp tưởng nhớ tới công ơn 5 vị thần dưới thời vua hùng thứ 18 Kiệu Ông (hay kiệu Long Đình) và kiệu của 3 vị Đại Vương sẽ được các chàng trai khiêng, kiệu Đức Bà (kiệu Bát Cống) được các cô gái khiêng. Đoàn rước kiệu sẽ xuất phát từ đình đi xung quanh xã Võng La, sau đó khi quay trở lại sân đình. Khi kiệu yên vị ở sân đình, đội tế nam sẽ tiến hành lễ tế Thánh. Buổi chiều, đội tế nam cùng đội nữ dâng hương của các thôn và các xã lân cận sẽ làm lễ tế Thánh. Tối đến, các chương trình giao lưu văn nghệ của xã Võng La cùng các xã khác sẽ được tổ chức. Ngày 15 tháng Giêng: Buổi sáng, đội tế nữ tề tựu về đình, tất cả diện trang phục truyền thống để làm lễ dâng hương tế Thánh. Buổi chiều, đội tế nam sẽ cử hành lễ tế giã hội và sau đó phát lộc Thánh. Trong những ngày lễ hội có nhiều trò chơi được tổ chức, các hoạt động văn hóa như: múa sênh tiền, múa sư tử, hát quan họ, hát văn, hát chèo, cuộc thi cờ tướng, đu tre, chọi gà, đá bóng, bóng chuyền …

Related Figures

Lễ hội đền Ba Xã

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 12/6 Âm lịch Lễ hội đền Ba Xã diễn ra vào ngày 12 tháng 6 âm lịch, tại đền thờ Thánh Mạc Trâu tại xã Minh Đức, Ứng Hòa, thành phố Hà Nội. Từ lâu lễ hội này đã trở thành tục lệ của 5 thôn: Thịnh Bằng, Thịnh Cầu, Thịnh Thần, Thịnh Hạ, Thịnh Thượng và dân chúng khắp nơi kéo về dự hội rất đông. Theo các cụ cao niên kẻ lại: Xa xưa, vùng này được coi là rốn nước đồng chiêm, việc trồng trọt canh tác cả năm chỉ ở một vụ mà vẫn bấp bênh. Cư dân thì đói nghèo xơ xác trên cánh đồng trắng, nước trong. Cho đến khi có một người họ Mạc, tên gọi là Trâu Trắng đã dạy người dân quanh vùng để ngăn nước và cấy các giống lúa thích hợp theo từng mùa vụ. Kết quả là dân được ấm no, quần cư trở nên phồn thịnh và trù phú hơn. Khi ông qua đời, nhớ tới công ơn ấy, nhân dân trong vùng góp sức và quyên tiền lập đền thờ và tôn ông lên làm đức thành hoàng làng và cũng từ đấy người dân nơi đây có thói quen kỵ huý với tên gọi: Trâu. Lễ rước kiệu truyền thống Đền thờ đức thánh Mạc Trâu tọa lạc ở nơi trung tâm của 5 thôn: Thịnh Bằng, Thịnh Cầu, Thịnh Thần, Thịnh Hạ và Thịnh Thượng. Mặt đền quay về hướng đông, nhìn ra mặt hồ sen rộng bao la bát ngát. Hai bên tả hữu của đền, một bên là chi lưu của sông Nhuệ, và một bên là đường cái quanh co uốn khúc như một con rồng, con rắn đang lượn quanh. Đền thánh Mạc Trâu có kết cấu mặt bằng theo kiểu "nội công ngoại quốc". Từ đường lớn đi vào là một con đường vỉa gạch nghiêng sẽ đưa ta đến sân chầu. Hai bên đường và dưới bóng các cây cổ thụ, có đặt nhiều con trâu đá, ngựa đá, và chó đá và voi đá trông rất uy nghiêm nhưng cũng rất dân dã. Chính điện trông rất khang trang được chia làm 3 lớp, nên thường gọi tên nôm là tam cung. Trên các chắn gió, vì kèo, đặc biệt là cửa võng đều được chạm trổ nhiều họa tiết tinh vi như: hoa lá, tứ linh, cá chép vượt Vũ Môn... Nội cung có bày bài vị đức thành hoàng và 5 bát hương thờ của 5 làng cùng nhiều đồ tế khí: bát bửu, tàn lọng, kiệu rước, xà mâu... Ở 2 bên chính điện, cùng trông ra ngoài sân chầu là 2 dãy nhà 5 gian, ứng với 5 thôn được dùng làm nơi để tiếp khách và nhận lễ trong mỗi dịp lễ hội... Dâng lễ vật trong lễ hội đền Ba Xã Đền Ba Xã bốn mùa bát tiết hương bay. Nhưng nhộn nhịp tưng bừng hơn cả lại là kỳ lễ hội thường niên được tổ chức vào ngày 12 tháng 6. Và như đã thành tục lệ, cứ 5 năm lại mở một kỳ lễ hội to. Để chuẩn bị cho ngày vào hội, người ở 5 thôn ở Minh Đức sẽ nuôi 5 con nghé. Trước ngày lễ hội các con nghé này sẽ được dắt đến thi. Con nào vào giải sẽ được chọn để mở hội giết thịt tế thần vào ngày hôm sau, và thịt sẽ được chia đều để 5 thôn thụ lộc. Ngày khai hội 12 tháng Sáu, từ lúc sáng sớm, cả làng đã rộn rã, tưng bừng kéo nhau ra đền. Người của 5 thôn trong không khí tưng bừng, trống giong cờ mở rước kiệu đưa thần thánh đang thờ trong thôn của mình về đền dự hội. Sau khi cả 5 thôn đã tề tựu về đền đông đủ, lễ rước nước cũng chính thức bắt đầu. Vẫn theo thứ tự anh đi trước em theo sau, 5 đoàn rước tiến ra sông Nhuệ để làm lễ rước nước. Dẫn đầu mỗi đoàn rước là một đội cờ. Theo sau là đội nhạc, đội kiệu sẽ rước bát nhang hương án, và một kiệu rước chum nước. Chum nước được quây xung quanh bằng một tấm vải trắng, miệng phủ một tấm vải vuông màu đỏ. Tới bờ sông 5 thôn, mỗi thôn sẽ lấy đủ nước để về làm lễ mộc dục. Nghi thức cúng tế trong ngày hội Sau lễ mộc dục sẽ đến lễ tế thần, lần lượt 5 thôn sẽ làm lễ tế, tiếp sau đó là lễ tế của các gia đình, các dòng họ và du khách thập phương. Trong khi lễ tế diễn ra một cách long trọng ở chính đền, ở ngoài hồ và ngoài bãi đền lại diễn ra nhiều trò chơi rất sôi động như: múa lân, múa rồng, đấu vật, chọi gà. Nhưng sôi nổi nhất, cuốn hút người xem nhất là trò túm nước và đập bị gạo. Người ta sẽ treo các bị gạo và các túi nước lên một cái giá treo. Ai đập được vào bị gạo thì sẽ được thưởng. Ai đập vào túi nước, túi nước vỡ ra sẽ bắn tung tóe vào người, khiến người đứng ngoài xem phá lên cười. Lễ hội đền Ba Xã từ lâu đã trở thành lệ của 5 thôn: Thịnh Bằng, Thịnh Cầu, Thịnh Thượng, Thịnh Thần, Thịnh Hạ và khách thập phương kéo về tham dự rất đông. Để đáp ứng tối đa cho việc ăn ở của du khách thập phương, nhiều người dân địa phương đã quần tụ lại gần đền để dựng nhà, lập quán tạo thành một nơi buôn bán sầm uất. Chính vì vậy mà ở cách đền Ba Xã ngày nay không xa có một địa danh có tên gọi là: Phố Cống Thần.

Lễ hội đền Ba Xã diễn ra vào ngày 12 tháng 6 âm lịch, tại đền thờ Thánh Mạc Trâu tại xã Minh Đức, Ứng Hòa, thành phố Hà Nội. Từ lâu lễ hội này đã trở thành tục lệ của 5 thôn: Thịnh Bằng, Thịnh Cầu, Thịnh Thần, Thịnh Hạ, Thịnh Thượng và dân chúng khắp nơi kéo về dự hội rất đông.

Theo các cụ cao niên kẻ lại: Xa xưa, vùng này được coi là rốn nước đồng chiêm, việc trồng trọt canh tác cả năm chỉ ở một vụ mà vẫn bấp bênh. Cư dân thì đói nghèo xơ xác trên cánh đồng trắng, nước trong. Cho đến khi có một người họ Mạc, tên gọi là Trâu Trắng đã dạy người dân quanh vùng để ngăn nước và cấy các giống lúa thích hợp theo từng mùa vụ. Kết quả là dân được ấm no, quần cư trở nên phồn thịnh và trù phú hơn. Khi ông qua đời, nhớ tới công ơn ấy, nhân dân trong vùng góp sức và quyên tiền lập đền thờ và tôn ông lên làm đức thành hoàng làng và cũng từ đấy người dân nơi đây có thói quen kỵ huý với tên gọi: Trâu. Lễ rước kiệu truyền thống Đền thờ đức thánh Mạc Trâu tọa lạc ở nơi trung tâm của 5 thôn: Thịnh Bằng, Thịnh Cầu, Thịnh Thần, Thịnh Hạ và Thịnh Thượng. Mặt đền quay về hướng đông, nhìn ra mặt hồ sen rộng bao la bát ngát. Hai bên tả hữu của đền, một bên là chi lưu của sông Nhuệ, và một bên là đường cái quanh co uốn khúc như một con rồng, con rắn đang lượn quanh. Đền thánh Mạc Trâu có kết cấu mặt bằng theo kiểu "nội công ngoại quốc". Từ đường lớn đi vào là một con đường vỉa gạch nghiêng sẽ đưa ta đến sân chầu. Hai bên đường và dưới bóng các cây cổ thụ, có đặt nhiều con trâu đá, ngựa đá, và chó đá và voi đá trông rất uy nghiêm nhưng cũng rất dân dã. Chính điện trông rất khang trang được chia làm 3 lớp, nên thường gọi tên nôm là tam cung. Trên các chắn gió, vì kèo, đặc biệt là cửa võng đều được chạm trổ nhiều họa tiết tinh vi như: hoa lá, tứ linh, cá chép vượt Vũ Môn... Nội cung có bày bài vị đức thành hoàng và 5 bát hương thờ của 5 làng cùng nhiều đồ tế khí: bát bửu, tàn lọng, kiệu rước, xà mâu... Ở 2 bên chính điện, cùng trông ra ngoài sân chầu là 2 dãy nhà 5 gian, ứng với 5 thôn được dùng làm nơi để tiếp khách và nhận lễ trong mỗi dịp lễ hội... Dâng lễ vật trong lễ hội đền Ba Xã Đền Ba Xã bốn mùa bát tiết hương bay. Nhưng nhộn nhịp tưng bừng hơn cả lại là kỳ lễ hội thường niên được tổ chức vào ngày 12 tháng 6. Và như đã thành tục lệ, cứ 5 năm lại mở một kỳ lễ hội to. Để chuẩn bị cho ngày vào hội, người ở 5 thôn ở Minh Đức sẽ nuôi 5 con nghé. Trước ngày lễ hội các con nghé này sẽ được dắt đến thi. Con nào vào giải sẽ được chọn để mở hội giết thịt tế thần vào ngày hôm sau, và thịt sẽ được chia đều để 5 thôn thụ lộc. Ngày khai hội 12 tháng Sáu, từ lúc sáng sớm, cả làng đã rộn rã, tưng bừng kéo nhau ra đền. Người của 5 thôn trong không khí tưng bừng, trống giong cờ mở rước kiệu đưa thần thánh đang thờ trong thôn của mình về đền dự hội. Sau khi cả 5 thôn đã tề tựu về đền đông đủ, lễ rước nước cũng chính thức bắt đầu. Vẫn theo thứ tự anh đi trước em theo sau, 5 đoàn rước tiến ra sông Nhuệ để làm lễ rước nước. Dẫn đầu mỗi đoàn rước là một đội cờ. Theo sau là đội nhạc, đội kiệu sẽ rước bát nhang hương án, và một kiệu rước chum nước. Chum nước được quây xung quanh bằng một tấm vải trắng, miệng phủ một tấm vải vuông màu đỏ. Tới bờ sông 5 thôn, mỗi thôn sẽ lấy đủ nước để về làm lễ mộc dục. Nghi thức cúng tế trong ngày hội Sau lễ mộc dục sẽ đến lễ tế thần, lần lượt 5 thôn sẽ làm lễ tế, tiếp sau đó là lễ tế của các gia đình, các dòng họ và du khách thập phương. Trong khi lễ tế diễn ra một cách long trọng ở chính đền, ở ngoài hồ và ngoài bãi đền lại diễn ra nhiều trò chơi rất sôi động như: múa lân, múa rồng, đấu vật, chọi gà. Nhưng sôi nổi nhất, cuốn hút người xem nhất là trò túm nước và đập bị gạo. Người ta sẽ treo các bị gạo và các túi nước lên một cái giá treo. Ai đập được vào bị gạo thì sẽ được thưởng. Ai đập vào túi nước, túi nước vỡ ra sẽ bắn tung tóe vào người, khiến người đứng ngoài xem phá lên cười. Lễ hội đền Ba Xã từ lâu đã trở thành lệ của 5 thôn: Thịnh Bằng, Thịnh Cầu, Thịnh Thượng, Thịnh Thần, Thịnh Hạ và khách thập phương kéo về tham dự rất đông. Để đáp ứng tối đa cho việc ăn ở của du khách thập phương, nhiều người dân địa phương đã quần tụ lại gần đền để dựng nhà, lập quán tạo thành một nơi buôn bán sầm uất. Chính vì vậy mà ở cách đền Ba Xã ngày nay không xa có một địa danh có tên gọi là: Phố Cống Thần.

Related Figures

Đặc sắc lễ hội làng Cổ Trai

Thông tin thời kỳ

Cổ Trai là một trong sáu thôn của xã Đại Xuyên, huyên Phú Xuyên, Hà Nội, các thôn khác gồm: Kiều Đoài, Kiều Đông,Thái Lai, Đa Chất và Thường Xuyên. Hệ thống các đình, chùa của Đại Xuyên được xây dựng từ rất sớm, có quy mô và bề thế, cũng đã trải qua tu bổ, sửa chữa dưới các triều đại phong kiến về sau này. Tiêu biểu hiện nay đó là đình Cổ Trai, với nhiều mảng chạm trên hệ thống các bộ vì, các đầu dư có phong cách nghệ thuật phù hợp với dòng Lạc khoản ghi trong câu đầu ở Đại bái đình: “Hoàng triều Cảnh Hưng tứ thập tứ niên tu tạo” (năm 1783). Đình Cổ Trai là nơi thờ Trung Thành Đại vương - một vị thiên thần dưới thời vua Hùng vương thứ 18. Nói đến các vị thần, sách Đại Nam nhất thống chí đã ghi: “Đền thần Trung Thành tại xã Đa Chất, huyện Phú Xuyên, Hà Nội. Tương truyền thần Trung Thành cũng chính là thủy thần ở ngã ba Bạch Hạc”. Nhiều làng ở quanh khu vực này cũng thừa nhận Thành hoàng được thờ tại đình Đa Chất là chính còn các làng khác chỉ thờ vọng. Đặc sắc lễ hội làng Cổ Trai tại Hà Nội Mỗi một làng lại có nhiều nét văn hóa riêng biệt, đã được lưu truyền từ biết bao đời nay. Đặc biệt nhân dân xã Đại Xuyên, tuy mỗi thôn có một giọng nói khác nhau, nhưng từ xa xưa đã hình thành nên một nền văn hóa truyền thống chung, mang nét đặc trưng của cộng đồng cư dân làm nghề nông, trồng lúa nước. Đó chính là tinh thần đoàn kết, tương trợ lẫn nhau trong lao động. Điều đó xuất phát từ công tác trị thủy (sông Nhuệ và Sông Lương chảy qua), đòi hỏi người dân phải đoàn kết, hỗ trợ nhau phòng, chống lũ lụt... Hàng năm, nhân dân xã Đại Xuyên sẽ tổ chức lễ hội truyền thống bắt đầu từ ngày 10-8 đến hết ngày 15-8 âm lịch. Nhân dân các thôn trong xã với trang phục lễ hội truyền thống đầy màu sắc, cùng đoàn rước đi đến đình Đa Chất để rước Thành hoàng về đình của làng mình. Riêng làng Cổ Trai, lễ hội truyền thống này được tổ chức từ ngày mồng 8 đến ngày 11 tháng 8 âm lịch. Trước ngày Đại kỳ phước, người người, nhà nhà trong làng cùng nhau xúm lại chuẩn bị cho lễ hội. Ngày mồng 7 và mồng 8, cụ thủ từ cùng các cụ cao niên trong làng, phải là người có gia đình song toàn, không để tang, sẽ ra đình làm lễ Mộc dục và lễ phong mã cho long ngai bài vị thờ thánh. Nước làm lễ Mộc dục phải được lấy từ sông Lương từ trước đó. ANh1 Nhộn nhịp và tưng bừng nhất là ngày hội rước nước do bà con dân làng tiến hành. Đoàn rước nước được chia làm 2 đội. Các đội này sẽ mặc trang phục của ngày hội. Dẫn đầu đoàn rước là một đội múa rồng, trông rất lộng lẫy uy nghi, con rồng uốn lượn theo tiếng trống, nhịp phách dồn dập. Múa rồng là một môn nghệ thuật, đòi hỏi người múa phải làm sao lái cho con rồng như đang bay, uốn lượn nhịp nhàng. Theo sau là đội bát âm, nhã nhạc như: đàn gảy, sáo, nhị, tù và... Cụ thủ tay cầm trống khẩu để làm điều lệnh đối với đội kiệu. Kiệu, chóe đựng nước được 4 thanh niên trai đinh khỏe mạnh của làng khiêng. Chiếc chóe sứ được đặt trên bệ để trên kiệu và thường có lọng che. Đoàn người này mặc trang phục ngày hội cứ nối tiếp nhau theo đoàn rước ra tới bờ sông Lương. Khi đến bờ sông cả đoàn rước sẽ dừng lại. Lúc bấy giờ trên sông đã có hàng chục chiếc thuyền kết cắm cờ hội đang chờ sẵn. Sau một tràng pháo nổ, tiếng trống vang lên, tiếng tù và, nhị, sáo, đàn gảy cũng vang lên là lúc tiến hành nghi lễ lấy nước. Người được chọn để lấy nước cho vào chóe là một cụ cao niên khỏe mạnh trong làng, là người đức độ, mặc y phục lễ hội, tay cầm dùng gáo dừa múc từng gáo đổ vào chóe. Khi chóe nước đã đầy, một hồi trống giục nổi lên báo hiệu đưa chóe nước vào bờ. Đoàn rước đi về đình với thứ tự giống lúc đi. Nước đựng trong chóe sẽ được dùng để tế hàng tháng. Lễ rước nước trong ngày hội làng Cổ Trai đã giúp chúng ta sống lại trong không khí của những hội làng thuở xưa. Nội dung của lễ rước nước đã thể hiện nét tín ngưỡng cầu nước của những người dân làm nông nghiệp. Trai đinh trong làng khiêng liệu Lễ hội làng Cổ Trai thường diễn ra trong sự thiêng liêng, đưa người dân và khách xem được quay trở về với quá khứ, từ đó nâng cao sự đồng cảm của cộng đồng, đắm chìm trong niềm ước vọng về mùa màng bội thu, quốc thái dân an của người xưa. Lễ hội chính là dịp để người dân làm nông nghiệp lúa nước hòa mình vào các trò chơi diễn xướng dân gian. Lễ hội diễn ra hàng năm, cũng là dịp để người dân địa phương tưởng nhớ về vị Thành hoàng làng nhưng trên thực tế là để tưởng về tổ tiên, qua đó giáo dục người dân tinh thần yêu quê hương, cho đất nước, cho toàn thể cộng đồng, nâng cao ý thức bảo vệ những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.

Cổ Trai là một trong sáu thôn của xã Đại Xuyên, huyên Phú Xuyên, Hà Nội, các thôn khác gồm: Kiều Đoài, Kiều Đông,Thái Lai, Đa Chất và Thường Xuyên.

Hệ thống các đình, chùa của Đại Xuyên được xây dựng từ rất sớm, có quy mô và bề thế, cũng đã trải qua tu bổ, sửa chữa dưới các triều đại phong kiến về sau này. Tiêu biểu hiện nay đó là đình Cổ Trai, với nhiều mảng chạm trên hệ thống các bộ vì, các đầu dư có phong cách nghệ thuật phù hợp với dòng Lạc khoản ghi trong câu đầu ở Đại bái đình: “Hoàng triều Cảnh Hưng tứ thập tứ niên tu tạo” (năm 1783). Đình Cổ Trai là nơi thờ Trung Thành Đại vương - một vị thiên thần dưới thời vua Hùng vương thứ 18. Nói đến các vị thần, sách Đại Nam nhất thống chí đã ghi: “Đền thần Trung Thành tại xã Đa Chất, huyện Phú Xuyên, Hà Nội. Tương truyền thần Trung Thành cũng chính là thủy thần ở ngã ba Bạch Hạc”. Nhiều làng ở quanh khu vực này cũng thừa nhận Thành hoàng được thờ tại đình Đa Chất là chính còn các làng khác chỉ thờ vọng. Đặc sắc lễ hội làng Cổ Trai tại Hà Nội Mỗi một làng lại có nhiều nét văn hóa riêng biệt, đã được lưu truyền từ biết bao đời nay. Đặc biệt nhân dân xã Đại Xuyên, tuy mỗi thôn có một giọng nói khác nhau, nhưng từ xa xưa đã hình thành nên một nền văn hóa truyền thống chung, mang nét đặc trưng của cộng đồng cư dân làm nghề nông, trồng lúa nước. Đó chính là tinh thần đoàn kết, tương trợ lẫn nhau trong lao động. Điều đó xuất phát từ công tác trị thủy (sông Nhuệ và Sông Lương chảy qua), đòi hỏi người dân phải đoàn kết, hỗ trợ nhau phòng, chống lũ lụt... Hàng năm, nhân dân xã Đại Xuyên sẽ tổ chức lễ hội truyền thống bắt đầu từ ngày 10-8 đến hết ngày 15-8 âm lịch. Nhân dân các thôn trong xã với trang phục lễ hội truyền thống đầy màu sắc, cùng đoàn rước đi đến đình Đa Chất để rước Thành hoàng về đình của làng mình. Riêng làng Cổ Trai, lễ hội truyền thống này được tổ chức từ ngày mồng 8 đến ngày 11 tháng 8 âm lịch. Trước ngày Đại kỳ phước, người người, nhà nhà trong làng cùng nhau xúm lại chuẩn bị cho lễ hội. Ngày mồng 7 và mồng 8, cụ thủ từ cùng các cụ cao niên trong làng, phải là người có gia đình song toàn, không để tang, sẽ ra đình làm lễ Mộc dục và lễ phong mã cho long ngai bài vị thờ thánh. Nước làm lễ Mộc dục phải được lấy từ sông Lương từ trước đó. ANh1 Nhộn nhịp và tưng bừng nhất là ngày hội rước nước do bà con dân làng tiến hành. Đoàn rước nước được chia làm 2 đội. Các đội này sẽ mặc trang phục của ngày hội. Dẫn đầu đoàn rước là một đội múa rồng, trông rất lộng lẫy uy nghi, con rồng uốn lượn theo tiếng trống, nhịp phách dồn dập. Múa rồng là một môn nghệ thuật, đòi hỏi người múa phải làm sao lái cho con rồng như đang bay, uốn lượn nhịp nhàng. Theo sau là đội bát âm, nhã nhạc như: đàn gảy, sáo, nhị, tù và... Cụ thủ tay cầm trống khẩu để làm điều lệnh đối với đội kiệu. Kiệu, chóe đựng nước được 4 thanh niên trai đinh khỏe mạnh của làng khiêng. Chiếc chóe sứ được đặt trên bệ để trên kiệu và thường có lọng che. Đoàn người này mặc trang phục ngày hội cứ nối tiếp nhau theo đoàn rước ra tới bờ sông Lương. Khi đến bờ sông cả đoàn rước sẽ dừng lại. Lúc bấy giờ trên sông đã có hàng chục chiếc thuyền kết cắm cờ hội đang chờ sẵn. Sau một tràng pháo nổ, tiếng trống vang lên, tiếng tù và, nhị, sáo, đàn gảy cũng vang lên là lúc tiến hành nghi lễ lấy nước. Người được chọn để lấy nước cho vào chóe là một cụ cao niên khỏe mạnh trong làng, là người đức độ, mặc y phục lễ hội, tay cầm dùng gáo dừa múc từng gáo đổ vào chóe. Khi chóe nước đã đầy, một hồi trống giục nổi lên báo hiệu đưa chóe nước vào bờ. Đoàn rước đi về đình với thứ tự giống lúc đi. Nước đựng trong chóe sẽ được dùng để tế hàng tháng. Lễ rước nước trong ngày hội làng Cổ Trai đã giúp chúng ta sống lại trong không khí của những hội làng thuở xưa. Nội dung của lễ rước nước đã thể hiện nét tín ngưỡng cầu nước của những người dân làm nông nghiệp. Trai đinh trong làng khiêng liệu Lễ hội làng Cổ Trai thường diễn ra trong sự thiêng liêng, đưa người dân và khách xem được quay trở về với quá khứ, từ đó nâng cao sự đồng cảm của cộng đồng, đắm chìm trong niềm ước vọng về mùa màng bội thu, quốc thái dân an của người xưa. Lễ hội chính là dịp để người dân làm nông nghiệp lúa nước hòa mình vào các trò chơi diễn xướng dân gian. Lễ hội diễn ra hàng năm, cũng là dịp để người dân địa phương tưởng nhớ về vị Thành hoàng làng nhưng trên thực tế là để tưởng về tổ tiên, qua đó giáo dục người dân tinh thần yêu quê hương, cho đất nước, cho toàn thể cộng đồng, nâng cao ý thức bảo vệ những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.

Related Figures

Lễ hội Đền Đại Lộ

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/2- 10/2 Âm lịch Hàng năm, cứ đến ngày mồng 01 tháng hai âm lịch người dân xã Ninh Sở lại tưng bừng mở hội đền Đại Lộ. Lễ hội đền Đại Lộ diễn ra trong 10 ngày, kể từ ngày mồng 01 đến ngày mồng 10 tháng hai âm lịch, tại chùa Đại Lộ và đền Quan ở xã Ninh Sở, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Lễ hội này có mục đích suy tôn “Đại Càn Quốc Gia Nam Hải Tứ Vị Thánh Nương” là Mẫu Thương Ngàn, Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Địa và Mẫu Thoả, lưu giữ được những nét đẹp văn hóa thờ Mẫu đã có truyền thống lâu đời của người dân Việt Nam. Lễ rước kiệu trong ngày hội đền Đại Lộ Đền Đại Lộ nằm về phía nam của trung tâm thành phố Hà Nội, cách khoảng 15km. Ngôi đền này được xây dựng từ thời nhàTrần, cách đây trên 700 năm. Xung quanh về sự ra đời của ngôi đền Đại Lộ và lễ hội truyền thống này đã được nhiều nhóm nghiên cứu ghi lại nhiều điều khác nhau, nhưng các cụ cao niên trong làng vẫn lưu truyền lại cho thế hệ con cháu một sự tích có chút huyền bí nhưng đầy tự hào. Xưa kia, khi đoạn đê ở làng quê Ninh Sở bị vỡ, người dân trong làng đã tìm mọi cách để đắp lại thế nhưng tất cả đều không thành. Sau đó, nhà Vua đã đích thân cùng dân làng đến sông Nhị Hà cầu khấn, dâng lễ cầu xin 3 vị thánh mẫu để đắp được con đê này, dân làng sẽ lập đền thờ phụng. Lúc đó, có 2 ông rắn (dân làng thường gọi là 2 ông đốp hay ông đốt) bỗng nhiên xuất hiện, hai ông rắn từ từ nối đuôi lại với nhau, từ đó đoạn đê này đã được hạp long và từ đó đê cũng không bao giờ bị vỡ nữa. Chính vì thế, ngay phía trên các ban thờ ở trong ngôi đền Đại Lộ có trang trí hai con rắn đang cuộn mình trên các thanh xà. Các vị cao niên đang cử hành nghi lễ Chương trình lễ hội đền Đại Lộ được diễn ra như sau: Ngày 01/02: Buổi sáng sẽ tiến hành lễ mở cửa đền, sau đó làm lễ cúng khai quang yên vị tại đền Đại Lộ và đền Quan. Buổi chiều, người dân trong làng cùng du khách thập phương được vào lễ Thánh. Ngày 02/02 : Buổi sáng, tổ chức lễ tế nhập tịch tại đền Quan tế trước rồi đến đền Đại Lộ. Buổi chiều, đội nam tế sẽ cử hành lễ tế tại đền Quan, còn đội nữ tế tại đền Đại Lộ. Ngày 03/2: Buổi sáng, đội nam tế tại đền Đại Lộ; Buổi chiều, lễ hạ sắc tại đền Quan và tổ chức lễ rước sắc về chùa Đại Lộ. Ngày 04/2: Buổi sáng, tổ chức lễ rước sắc lên đền Quan, sau đó làm lễ tại đền Đại Lộ; Buổi chiều, các kiệu ở đền Đại Lộ và đền Quan sẽ được rước về sân chùa Đại Lộ để chuẩn bị tiến hành lễ rước nước. Sau đó, đội nữ tế ở đền Đại Lộ còn đội nam tế đền Quan. Ngày 05/2: Từ lúc sáng sớm, đoàn kiệu rước chóe đựng nước và nhiều lễ vật đi từ chùa Đại Lộ ra đến bến Lộ để lên thuyền bơi ra giữa sông lấy nước trong về làm lễ. Sau khi rước nước về đền Đại Lộ để thờ Mẫu. Tại đền mẫu, đoàn tế nam sẽ cử hành lễ hạ sắc và rước sắc ở chùa Đại Lộ. Đến tối, đội nữ tế ở đền Đại Lộ. Lễ hội Đền Đại Lộ tại Hà Nội Ngày 06/2 (Chính hội): Buổi sáng sẽ tổ chức lễ rước sắc từ chùa Đại Lộ về đền Đại Lộ, tiếp theo đội nữ sẽ tiến hành lễ tế Thánh. Từ chiều đến tối, đội tế nam ở đền Đại Lộ và các làng sẽ thay nhau hành lễ tế Thánh. Đây là ngày chính hội của Tứ vị Thánh Mẫu, nên đan xen giữa các nghi lễ còn có các hoạt động hầu Thánh của các đệ tử nhà Thánh mang ý nghĩa tôn vinh và tỏ lòng biết ơn đến công đức của người. Ngày 07 - 08 - 09/2: Đội tế nam và đội tế nữ ở các đền từ các vùng lân cận đổ về hành lễ tế Thánh. Ngày 10/2 : Màn tế giã hội của đội tế nũ và đội tế nam trong đền Đại Lộ, đền Quan và chùa Đại Lộ Trong lễ hội đền Đại Lộ còn tổ chức các trò chơi dân gian như: kéo co, bóng đá, đánh cờ tướng, đập niêu, biểu diễn hát quan họ hay hát văn…

Hàng năm, cứ đến ngày mồng 01 tháng hai âm lịch người dân xã Ninh Sở lại tưng bừng mở hội đền Đại Lộ. Lễ hội đền Đại Lộ diễn ra trong 10 ngày, kể từ ngày mồng 01 đến ngày mồng 10 tháng hai âm lịch, tại chùa Đại Lộ và đền Quan ở xã Ninh Sở, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Lễ hội này có mục đích suy tôn “Đại Càn Quốc Gia Nam Hải Tứ Vị Thánh Nương” là Mẫu Thương Ngàn, Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Địa và Mẫu Thoả, lưu giữ được những nét đẹp văn hóa thờ Mẫu đã có truyền thống lâu đời của người dân Việt Nam.

Lễ rước kiệu trong ngày hội đền Đại Lộ

Đền Đại Lộ nằm về phía nam của trung tâm thành phố Hà Nội, cách khoảng 15km. Ngôi đền này được xây dựng từ thời nhàTrần, cách đây trên 700 năm. Xung quanh về sự ra đời của ngôi đền Đại Lộ và lễ hội truyền thống này đã được nhiều nhóm nghiên cứu ghi lại nhiều điều khác nhau, nhưng các cụ cao niên trong làng vẫn lưu truyền lại cho thế hệ con cháu một sự tích có chút huyền bí nhưng đầy tự hào. Xưa kia, khi đoạn đê ở làng quê Ninh Sở bị vỡ, người dân trong làng đã tìm mọi cách để đắp lại thế nhưng tất cả đều không thành. Sau đó, nhà Vua đã đích thân cùng dân làng đến sông Nhị Hà cầu khấn, dâng lễ cầu xin 3 vị thánh mẫu để đắp được con đê này, dân làng sẽ lập đền thờ phụng. Lúc đó, có 2 ông rắn (dân làng thường gọi là 2 ông đốp hay ông đốt) bỗng nhiên xuất hiện, hai ông rắn từ từ nối đuôi lại với nhau, từ đó đoạn đê này đã được hạp long và từ đó đê cũng không bao giờ bị vỡ nữa. Chính vì thế, ngay phía trên các ban thờ ở trong ngôi đền Đại Lộ có trang trí hai con rắn đang cuộn mình trên các thanh xà. Các vị cao niên đang cử hành nghi lễ Chương trình lễ hội đền Đại Lộ được diễn ra như sau: Ngày 01/02: Buổi sáng sẽ tiến hành lễ mở cửa đền, sau đó làm lễ cúng khai quang yên vị tại đền Đại Lộ và đền Quan. Buổi chiều, người dân trong làng cùng du khách thập phương được vào lễ Thánh. Ngày 02/02 : Buổi sáng, tổ chức lễ tế nhập tịch tại đền Quan tế trước rồi đến đền Đại Lộ. Buổi chiều, đội nam tế sẽ cử hành lễ tế tại đền Quan, còn đội nữ tế tại đền Đại Lộ. Ngày 03/2: Buổi sáng, đội nam tế tại đền Đại Lộ; Buổi chiều, lễ hạ sắc tại đền Quan và tổ chức lễ rước sắc về chùa Đại Lộ. Ngày 04/2: Buổi sáng, tổ chức lễ rước sắc lên đền Quan, sau đó làm lễ tại đền Đại Lộ; Buổi chiều, các kiệu ở đền Đại Lộ và đền Quan sẽ được rước về sân chùa Đại Lộ để chuẩn bị tiến hành lễ rước nước. Sau đó, đội nữ tế ở đền Đại Lộ còn đội nam tế đền Quan. Ngày 05/2: Từ lúc sáng sớm, đoàn kiệu rước chóe đựng nước và nhiều lễ vật đi từ chùa Đại Lộ ra đến bến Lộ để lên thuyền bơi ra giữa sông lấy nước trong về làm lễ. Sau khi rước nước về đền Đại Lộ để thờ Mẫu. Tại đền mẫu, đoàn tế nam sẽ cử hành lễ hạ sắc và rước sắc ở chùa Đại Lộ. Đến tối, đội nữ tế ở đền Đại Lộ. Lễ hội Đền Đại Lộ tại Hà Nội Ngày 06/2 (Chính hội): Buổi sáng sẽ tổ chức lễ rước sắc từ chùa Đại Lộ về đền Đại Lộ, tiếp theo đội nữ sẽ tiến hành lễ tế Thánh. Từ chiều đến tối, đội tế nam ở đền Đại Lộ và các làng sẽ thay nhau hành lễ tế Thánh. Đây là ngày chính hội của Tứ vị Thánh Mẫu, nên đan xen giữa các nghi lễ còn có các hoạt động hầu Thánh của các đệ tử nhà Thánh mang ý nghĩa tôn vinh và tỏ lòng biết ơn đến công đức của người. Ngày 07 - 08 - 09/2: Đội tế nam và đội tế nữ ở các đền từ các vùng lân cận đổ về hành lễ tế Thánh. Ngày 10/2 : Màn tế giã hội của đội tế nũ và đội tế nam trong đền Đại Lộ, đền Quan và chùa Đại Lộ Trong lễ hội đền Đại Lộ còn tổ chức các trò chơi dân gian như: kéo co, bóng đá, đánh cờ tướng, đập niêu, biểu diễn hát quan họ hay hát văn…

Related Figures

Lễ hội đền Trần Thương

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 20/8- 22/8 Âm lịch Đền Trần Thương nằm ở thôn Trần Thương, thuộc huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Đền là nơi thờ cúng vị anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo và thân phụ của ông. Cũng như các đền thờ Trần Hưng Đạo khác, đền Trần Thương thường tổ chức lễ hội để tưởng nhớ tới công ơn của vị anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo vào ngày 20/08 âm lịch hàng năm. Lễ hội đền Trần Thương tại Hà Nam Lễ hội đền Trần Thương diễn ra trong 3 ngày nhưng trên thực tế thì năm còn tổ chức dài hơn, vì số lượng người về hành lễ đăng kỹ dự tế rất đông. Từ rằm tháng Tám âm lịch đã có nhiều đoàn người đến tế ở đền. Mỗi ngày có ít nhất 4 đến 5 đám tế. Vào ngày chính của hội, phần lễ diễn ra rất trang trọng với nghi lễ rước kiệu, dâng hương và tế lễ. Phần hội thì diễn ra rất náo nhiệt và vui vẻ với nhiều trò chơi vui dân gian như: cờ tướng, đi cầu kiều, bơi chải, tổ tôm điếm… Trò chơi cờ tướng luôn thu hút sự quan tâm của nhiều người nhất. Tục này thường diễn ra trước khi tổ chức các trò hội. Khi tiếng trống nổi lên cũng chính là để báo hiệu cho cuộc chơi bắt đầu, các đấu thủ và dân làng nườm nượp kéo nhau về sân đền tham dự. Làng chọn ra các lão làng, các chức sắc có gia đình êm ấm, trọn vẹn là người khai cuộc, trong đó, người cao tuổi nhất sẽ được chọn làm chủ tế. Chủ tế sẽ làm lễ cáo yết Đức Thánh Trần, sau đó rước bàn cờ từ hậu cung quay ra ngoài, khi tiến đến trước hương án ông nâng bàn cờ lên và vái ba vái. Sau đó, cuộc chơi chính thức bắt đầu. Hai đấu thủ mặc những bộ y phục truyền thống của những vị tướng lĩnh thời nhà Trần và mang thanh long đao vào cuộc. Sau một tuần hương bên nào thắng, người đó sẽ giành được giải. Vãn cuộc, quân cờ và bàn cờ sẽ được rửa bằng nước giếng của đền và loại nước ngũ quả, lau chùi rất cẩn thận rồi đặt lên hương án. Tục chơi cờ là để tưởng nhớ người anh hùng Trần Hưng Đạo có tài thao lược quân sự, ngoài ra còn đẻ rèn luyện trí tuệ, đề cao truyền thống anh dũng chống giặc ngoại xâm của cha ông ta. Người dân Trần Thương tưng bừng ngày hội đền Trần Thương Lễ hội đền Trần Thương ở huyện Lý Nhân là một trong ba lễ hội đặc sắc nhất của tỉnh Hà Nam. Lễ hội này mang ý nghĩa là một cuộc hành hương về với cội nguồn của người dân địa phương và du khách đến xem hội. Đền Trần Thương đón bằng chứng nhận di sản văn hóa phi vật thể

Đền Trần Thương nằm ở thôn Trần Thương, thuộc huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Đền là nơi thờ cúng vị anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo và thân phụ của ông. Cũng như các đền thờ Trần Hưng Đạo khác, đền Trần Thương thường tổ chức lễ hội để tưởng nhớ tới công ơn của vị anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo vào ngày 20/08 âm lịch hàng năm.

Lễ hội đền Trần Thương tại Hà Nam

Lễ hội đền Trần Thương diễn ra trong 3 ngày nhưng trên thực tế thì năm còn tổ chức dài hơn, vì số lượng người về hành lễ đăng kỹ dự tế rất đông. Từ rằm tháng Tám âm lịch đã có nhiều đoàn người đến tế ở đền. Mỗi ngày có ít nhất 4 đến 5 đám tế. Vào ngày chính của hội, phần lễ diễn ra rất trang trọng với nghi lễ rước kiệu, dâng hương và tế lễ. Phần hội thì diễn ra rất náo nhiệt và vui vẻ với nhiều trò chơi vui dân gian như: cờ tướng, đi cầu kiều, bơi chải, tổ tôm điếm… Trò chơi cờ tướng luôn thu hút sự quan tâm của nhiều người nhất. Tục này thường diễn ra trước khi tổ chức các trò hội. Khi tiếng trống nổi lên cũng chính là để báo hiệu cho cuộc chơi bắt đầu, các đấu thủ và dân làng nườm nượp kéo nhau về sân đền tham dự. Làng chọn ra các lão làng, các chức sắc có gia đình êm ấm, trọn vẹn là người khai cuộc, trong đó, người cao tuổi nhất sẽ được chọn làm chủ tế. Chủ tế sẽ làm lễ cáo yết Đức Thánh Trần, sau đó rước bàn cờ từ hậu cung quay ra ngoài, khi tiến đến trước hương án ông nâng bàn cờ lên và vái ba vái. Sau đó, cuộc chơi chính thức bắt đầu. Hai đấu thủ mặc những bộ y phục truyền thống của những vị tướng lĩnh thời nhà Trần và mang thanh long đao vào cuộc. Sau một tuần hương bên nào thắng, người đó sẽ giành được giải. Vãn cuộc, quân cờ và bàn cờ sẽ được rửa bằng nước giếng của đền và loại nước ngũ quả, lau chùi rất cẩn thận rồi đặt lên hương án. Tục chơi cờ là để tưởng nhớ người anh hùng Trần Hưng Đạo có tài thao lược quân sự, ngoài ra còn đẻ rèn luyện trí tuệ, đề cao truyền thống anh dũng chống giặc ngoại xâm của cha ông ta. Người dân Trần Thương tưng bừng ngày hội đền Trần Thương Lễ hội đền Trần Thương ở huyện Lý Nhân là một trong ba lễ hội đặc sắc nhất của tỉnh Hà Nam. Lễ hội này mang ý nghĩa là một cuộc hành hương về với cội nguồn của người dân địa phương và du khách đến xem hội. Đền Trần Thương đón bằng chứng nhận di sản văn hóa phi vật thể

Related Figures

Lễ hội đền Trúc

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/2- 10/2 Âm lịch Đền Trúc nằm trên địa phận thôn Quyển Sơn, thuộc xã Thi Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Đền Trúc là nơi thờ vị danh tướng Lý Thường Kiệt. Hàng năm, từ này mồng 1 tháng Giêng đến mồng 1 tháng Hai âm lịch, người dân thôn Quyển Sơn lại mở cửa đền để mở hội. Lễ hội này thường được mở vào thời điểm người dân nơi đây nhàn rỗi, người dân quanh vùng và du khách khắp nơi trong nước cũng nô nức kéo về dự hội. Không gian lễ hội từ xưa đã mở rộng từ đình Trung tới đền Trúc, chùa Thi và khu vực ven núi Cấm. Vào lúc sáng sớm của ngày hội, đoàn rước kiệu sẽ xuất hành từ đền đã về đến cửa đình để làm lễ dâng thương. Sau đó, các đội tế trong những bộ y phục tế lễ với đủ màu tiến hành làm lễ tạ ơn Trời Phật. Sau khi nghi lễ cáo trời đất và thành hoàng diễn ra trong khoảng 3 tiếng đồng hồ thì sẽ đến các trò chơi dân gian như thi đấu vật, kéo co, chơi cờ bỏi, chọi gà… Nhưng điều thu hút nhất của lễ hội đền Trúc phải kể đến nghệ thuật múa hát dậm và cuộc đua thuyền. Lễ rước tượng Phật và bài vị của Lý Thường Kiệt Sáng ngày mồng 1 tháng 2 âm lịch, làng sẽ chính thức mở hội rước tượng Phật và bài vị của danh tướng Lý Thường Kiệt từ đền về tới đình làng. Sau phần lễ sẽ đến phần múa hát thờ. Hát dậm sẽ biểu diễn liên tục trong vòng 6 ngày. Đến sáng ngày mồng 7 lại rước tượng Phật và bài vị của Lý Thường Kiệt trở về đền, hát dậm vẫn còn diễn trong 3 ngày nữa (còn được gọi là hát yên vị) và đến ngày mồng 10 tháng 2 sẽ đóng cửa đền, kết thúc hội. Múa hát dậm là một lối múa hát được danh tướng Lý Thường Kiệt truyền lại cho dân trong vùng khi ông đánh thắng trận trở về và dừng chân nghỉ tại nơi này. Từ đó, mỗi khi đến dịp hội đền, nhân dân trong vùng lại tổ chức múa hát dậm để tưởng nhớ đến vị anh hùng dân tộc Lý Thường Kiệt. Phường múa hát có thông thường sẽ có từ 30 con dậm trở lên, là những cô gái trẻ tuổi từ 13 đến 15, xinh đẹp và có tài múa hát. Đặc biệt, ai có chồng hoặc có tang thì không được hát. Cụ trùm là người đứng đầu phường hát, là người cao tuổi lại có tài hát, đặc biệt là tài ghi nhớ các bài, và cũng là người chỉ đạo múa hát. Cụ trùm này thuộc lòng tất cả các làn điệu và điệu múa, trực tiếp chỉ đạo các con dậm thực hiện theo chương trình tiết mục. Khi diễn xướng, cụ trùm sẽ mặc y phục thụng màu vàng, đầu vấn khăn vàng, chân đi dép cong, các con dậm thì mặc áo mớ ba nhiễu đỏ ở trong cùng rồi đến the xanh, the đen bên ngoài cùng, yếm đỏ, khăn đỏ, váy lĩnh, mũ tiên đính ngọc... Trong nghệ thuật múa hát dậm, điệu múa có nhiều động tác là mô phỏng clại ác động tác chèo thuyền, lúc đứng hát cũng như lúc quỳ lạy (còn được gọi là chèo thuyền và chèo quỳ). Đây được xem là phần lễ có gắn bó mật thiết nhất với phần hội là hội đua thuyền được tổ chức trên sông Đáy. Cụ trùm được xem là một “quan chức” trong thôn, được ưu tiên và ưu đãi. Các con dậm tuy vất vả nhưng chẳng được gì, lại còn phải quyên góp thêm. Nhưng ai được làm con dậm thì đã là một vinh dự to lớn chẳng phải ai cũng được. Bài bản hát dậm thường được chép lại bằng chữ Nôm, có tên gọi là: “Lý Đại vương bình Chiêm sự tích diễn ca”. Hát dậm gồm 30 tiết mục với hơn 1000 câu thơ. Múa dậm có kết hợp với hát và mô phỏng các động tác dậm chân, chèo thuyền (vì thế mới có tên gọi là hát dậm). Ngoài hát dậm ra, hội đền Trúc còn có hát đúm, hát bỏ bộ. Trai gái khi đến tuổi trưởng thành, chưa lấy vợ, lấy chồng đều được đến giao lưu với nhau trước cửa đền. Tối tối, họ đến cửa đền lễ tạ, sau đó tản ra chung quanh, vào rừng hoặc lên núi, dưới bóng cây hay bãi đất... họ hát đối đáp tỏ tình... Các cô gái trẻ đang múa hát dậm Hội đua thuyền diễn ra vào ngày mùng 6 tháng 2. Đua Thuyền chỉ có nam giới mới được tham gia. Số lượng thuyền đua nhiều ít tùy theo từng năm, thường sẽ có 3 thuyền dự thi. Ba đội đua với những bộ trang phục có màu sắc rực rỡ khác nhau. Thuyền đua thường được đóng bằng gỗ, dài chừng 8 mét, đầu và thuyền thường được đóng vuông. Phía trên đầu thuyền có gắn một đầu rồng được khắc bằng gỗ và cắm 1 lá cờ hội nhỏ. Đoạn đường đua dài khoảng 3km trên dòng sông Đáy. Điểm xuất phát từ ngay trước cửa đền Trúc, đến chân cầu Quế rồi quay trở lại. Mỗi thuyền đua có18 người: một người lái thuyền, 16 người là tay chèo, 1 người gõ trống chỉ huy. Mỗi nhịp gõ là một câu hò là một nhịp chèo đã tạo nên sự nhịp nhàng cho cả đội. Khán giả đến xem hội cổ vũ rất đông, tiếng hò reo, tiếng vỗ tay vang dội cả một vùng sông nước. Kết thúc cuộc thi đua thuyền, đội thắng cuộc sẽ nhận được một phần thưởng của làng. Cuộc đua thuyền trên sông Đáy có nhiều tầng ý nghĩa. Ngoài ý nghĩa là một cuộc đua mang tính thể thao đua thuyền còn là một nghi lễ để tưởng niệm về cuộc hành quân của đoàn quân Lý Thường Kiệt trên sông trong trận đánh quân Chiêm Thành. Đây còn là một hoạt động tín ngưỡng độc đáo của người nông dân quanh năm trồng lúa nước muốn thể hiện khát vọng thoát khỏi thiên tai, cầu mong cho mưa thuận gió hoà và mùa màng tươi tốt. Các chàng trai Quyền Sơn trong cuộc đua thuyền trên sông Đáy Màn hát dậm và đua thuyền trong ngày hội đền Trúc là những hoạt động văn nghệ - thể thao đầy sức sống của người dân trong vùng để ca ngợi chiến công lẫy lừng của Lý Thường Kiệt, ca ngợi quê hương Việt Nam giàu truyền thống văn hóa và tinh thần anh dũng, kiên cường, bất khuất.

Đền Trúc nằm trên địa phận thôn Quyển Sơn, thuộc xã Thi Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Đền Trúc là nơi thờ vị danh tướng Lý Thường Kiệt. Hàng năm, từ này mồng 1 tháng Giêng đến mồng 1 tháng Hai âm lịch, người dân thôn Quyển Sơn lại mở cửa đền để mở hội. Lễ hội này thường được mở vào thời điểm người dân nơi đây nhàn rỗi, người dân quanh vùng và du khách khắp nơi trong nước cũng nô nức kéo về dự hội. Không gian lễ hội từ xưa đã mở rộng từ đình Trung tới đền Trúc, chùa Thi và khu vực ven núi Cấm.

Vào lúc sáng sớm của ngày hội, đoàn rước kiệu sẽ xuất hành từ đền đã về đến cửa đình để làm lễ dâng thương. Sau đó, các đội tế trong những bộ y phục tế lễ với đủ màu tiến hành làm lễ tạ ơn Trời Phật. Sau khi nghi lễ cáo trời đất và thành hoàng diễn ra trong khoảng 3 tiếng đồng hồ thì sẽ đến các trò chơi dân gian như thi đấu vật, kéo co, chơi cờ bỏi, chọi gà… Nhưng điều thu hút nhất của lễ hội đền Trúc phải kể đến nghệ thuật múa hát dậm và cuộc đua thuyền. Lễ rước tượng Phật và bài vị của Lý Thường Kiệt Sáng ngày mồng 1 tháng 2 âm lịch, làng sẽ chính thức mở hội rước tượng Phật và bài vị của danh tướng Lý Thường Kiệt từ đền về tới đình làng. Sau phần lễ sẽ đến phần múa hát thờ. Hát dậm sẽ biểu diễn liên tục trong vòng 6 ngày. Đến sáng ngày mồng 7 lại rước tượng Phật và bài vị của Lý Thường Kiệt trở về đền, hát dậm vẫn còn diễn trong 3 ngày nữa (còn được gọi là hát yên vị) và đến ngày mồng 10 tháng 2 sẽ đóng cửa đền, kết thúc hội. Múa hát dậm là một lối múa hát được danh tướng Lý Thường Kiệt truyền lại cho dân trong vùng khi ông đánh thắng trận trở về và dừng chân nghỉ tại nơi này. Từ đó, mỗi khi đến dịp hội đền, nhân dân trong vùng lại tổ chức múa hát dậm để tưởng nhớ đến vị anh hùng dân tộc Lý Thường Kiệt. Phường múa hát có thông thường sẽ có từ 30 con dậm trở lên, là những cô gái trẻ tuổi từ 13 đến 15, xinh đẹp và có tài múa hát. Đặc biệt, ai có chồng hoặc có tang thì không được hát. Cụ trùm là người đứng đầu phường hát, là người cao tuổi lại có tài hát, đặc biệt là tài ghi nhớ các bài, và cũng là người chỉ đạo múa hát. Cụ trùm này thuộc lòng tất cả các làn điệu và điệu múa, trực tiếp chỉ đạo các con dậm thực hiện theo chương trình tiết mục. Khi diễn xướng, cụ trùm sẽ mặc y phục thụng màu vàng, đầu vấn khăn vàng, chân đi dép cong, các con dậm thì mặc áo mớ ba nhiễu đỏ ở trong cùng rồi đến the xanh, the đen bên ngoài cùng, yếm đỏ, khăn đỏ, váy lĩnh, mũ tiên đính ngọc... Trong nghệ thuật múa hát dậm, điệu múa có nhiều động tác là mô phỏng clại ác động tác chèo thuyền, lúc đứng hát cũng như lúc quỳ lạy (còn được gọi là chèo thuyền và chèo quỳ). Đây được xem là phần lễ có gắn bó mật thiết nhất với phần hội là hội đua thuyền được tổ chức trên sông Đáy. Cụ trùm được xem là một “quan chức” trong thôn, được ưu tiên và ưu đãi. Các con dậm tuy vất vả nhưng chẳng được gì, lại còn phải quyên góp thêm. Nhưng ai được làm con dậm thì đã là một vinh dự to lớn chẳng phải ai cũng được. Bài bản hát dậm thường được chép lại bằng chữ Nôm, có tên gọi là: “Lý Đại vương bình Chiêm sự tích diễn ca”. Hát dậm gồm 30 tiết mục với hơn 1000 câu thơ. Múa dậm có kết hợp với hát và mô phỏng các động tác dậm chân, chèo thuyền (vì thế mới có tên gọi là hát dậm). Ngoài hát dậm ra, hội đền Trúc còn có hát đúm, hát bỏ bộ. Trai gái khi đến tuổi trưởng thành, chưa lấy vợ, lấy chồng đều được đến giao lưu với nhau trước cửa đền. Tối tối, họ đến cửa đền lễ tạ, sau đó tản ra chung quanh, vào rừng hoặc lên núi, dưới bóng cây hay bãi đất... họ hát đối đáp tỏ tình... Các cô gái trẻ đang múa hát dậm Hội đua thuyền diễn ra vào ngày mùng 6 tháng 2. Đua Thuyền chỉ có nam giới mới được tham gia. Số lượng thuyền đua nhiều ít tùy theo từng năm, thường sẽ có 3 thuyền dự thi. Ba đội đua với những bộ trang phục có màu sắc rực rỡ khác nhau. Thuyền đua thường được đóng bằng gỗ, dài chừng 8 mét, đầu và thuyền thường được đóng vuông. Phía trên đầu thuyền có gắn một đầu rồng được khắc bằng gỗ và cắm 1 lá cờ hội nhỏ. Đoạn đường đua dài khoảng 3km trên dòng sông Đáy. Điểm xuất phát từ ngay trước cửa đền Trúc, đến chân cầu Quế rồi quay trở lại. Mỗi thuyền đua có18 người: một người lái thuyền, 16 người là tay chèo, 1 người gõ trống chỉ huy. Mỗi nhịp gõ là một câu hò là một nhịp chèo đã tạo nên sự nhịp nhàng cho cả đội. Khán giả đến xem hội cổ vũ rất đông, tiếng hò reo, tiếng vỗ tay vang dội cả một vùng sông nước. Kết thúc cuộc thi đua thuyền, đội thắng cuộc sẽ nhận được một phần thưởng của làng. Cuộc đua thuyền trên sông Đáy có nhiều tầng ý nghĩa. Ngoài ý nghĩa là một cuộc đua mang tính thể thao đua thuyền còn là một nghi lễ để tưởng niệm về cuộc hành quân của đoàn quân Lý Thường Kiệt trên sông trong trận đánh quân Chiêm Thành. Đây còn là một hoạt động tín ngưỡng độc đáo của người nông dân quanh năm trồng lúa nước muốn thể hiện khát vọng thoát khỏi thiên tai, cầu mong cho mưa thuận gió hoà và mùa màng tươi tốt. Các chàng trai Quyền Sơn trong cuộc đua thuyền trên sông Đáy Màn hát dậm và đua thuyền trong ngày hội đền Trúc là những hoạt động văn nghệ - thể thao đầy sức sống của người dân trong vùng để ca ngợi chiến công lẫy lừng của Lý Thường Kiệt, ca ngợi quê hương Việt Nam giàu truyền thống văn hóa và tinh thần anh dũng, kiên cường, bất khuất.

Related Figures

Lễ hội chùa Đọi Sơn

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 21/3 Âm lịch Trong các lễ hội tại Hà Nam, lễ hội đặc sắc và thu hút được đông đảo người xem nhất phải kể đến lễ hội chùa Đọi Sơn ở xã Đọi Sơn, thuộc huyện Duy Tiên. Hàng năm, cứ vào ngày 21/03 âm lịch, chùa Đọi Sơn lại tưng bừng mở hội. Nhân dân khắp nơi trong vùng và đông đảo du khách thập phương háo hức kéo nhau về đây văn cảnh chùa và xem hội. Tiết mục đánh trống trong ngày hội Từ sáng sớm ngày mở hội, đoàn rước kiệu bắt đầu hành lễ từ chân núi lên tới chùa làm lễ, dâng hương để tưởng niệm Lý Nhân Tông, người đã có công mở mang và xây dựng chùa. Sau phần lễ dâng hương sẽ đến các đội tế nam quan, tế nữ quan cùng tạ ơn Trời Phật. Đoàn múa lâm vàm múa rồng trong lễ rước

Trong các lễ hội tại Hà Nam, lễ hội đặc sắc và thu hút được đông đảo người xem nhất phải kể đến lễ hội chùa Đọi Sơn ở xã Đọi Sơn, thuộc huyện Duy Tiên. Hàng năm, cứ vào ngày 21/03 âm lịch, chùa Đọi Sơn lại tưng bừng mở hội. Nhân dân khắp nơi trong vùng và đông đảo du khách thập phương háo hức kéo nhau về đây văn cảnh chùa và xem hội.

Từ sáng sớm ngày mở hội, đoàn rước kiệu bắt đầu hành lễ từ chân núi lên tới chùa làm lễ, dâng hương để tưởng niệm Lý Nhân Tông, người đã có công mở mang và xây dựng chùa. Sau phần lễ dâng hương sẽ đến các đội tế nam quan, tế nữ quan cùng tạ ơn Trời Phật. Đoàn múa lâm vàm múa rồng trong lễ rước

Related Figures

Lễ hội đền Lảnh Giang

Thông tin thời kỳ

Đền Lảnh Giang nằm ở thôn Yên Lạc, thuộc xã Mộc Nam, huyện Duy Tiên, tỉnh hà Nam, là nơi thờ Tam vị Đại Vương của thời Hùng Duệ Vương đã có công lớn đánh Thục và thờ công chúa Tiên Dung. Hàng năm, ở đây sẽ có 2 kỳ lễ hội vào tháng Sáu và tháng Tám âm lịch. Kỳ hội tháng Sáu được tổ chức từ ngày 18 đến ngày 25 dành, kỳ hội tháng Tám thì tổ chức vào ngày 20. Cổng đền Lảnh Giang Ngày 18 tháng Sáu âm lịch, bà con địa phương sẽ tổ chức chồng kiệu, kéo cờ than ra trước cửa đền, ngày 21 sẽ bắt đầu cử hành lễ cáo kỵ. Từ ngày 22 đến ngày 24 tháng 6 là những ngày lễ chính tế và cử hành lễ rước kiệu Thánh quanh đền. Ngày 25 tháng 6 sẽ cử hành lễ tạ và hạ cờ, sau đó đóng cửa đền. Ngày 25 tháng Tám âm lịch, đền Yên Từ thuộc xã Mộc Bắc, huyện Duy Tiên là nơi thờ Ngọc Hoa công chúa sẽ tiến hành lễ rước kiệu về bái vọng. Ngoài các nghi lễ chính như tế lễ, lễ rước thánh Lễ hội đền Lảnh Giang còn thu hút sự quan tâm của nhân dân quanh vùng và du khách thập phương bởi phần hội với nhiều tiết mục phong phú như múa lân, múa rồng, chiếu chèo sân đền, võ vật, đấu cờ người, hát chầu văn, múa sư tử, tổ tôm điếm, nấu cơm trên quang gánh, bắt vịt dưới nước, chọi gà, đi cầu khỉ… Lễ hội đền Lảnh Giang tại Hà Nam Lễ hội tổ chức vào tháng 6 còn hấp dẫn bởi trò bơi chải trên sông Hồng và lễ rước nước được tổ chức rất long trọng. Nước được lấy từ một khoảng giữa của sông Hồng, sau đó mang về làm nước cúng và lễ tắm cho tượng của các ngôi đền trong khu di tích. Nghi thức rước nước giữa dòng sông Hồng về đền để thờ cúng và tắm cho tượng có mục đích để biểu thị nguyện vọng cầu cho mưa thuận gió hòa, và để thể hiện khát vọng của người dân muốn chinh phục thiên nhiên. Nếu căn cứ theo tục thờ và vị trí của đền là bên bờ sông, có thể nhận ra một điều là các vị thần mà đền Lảnh Giang đang thờ tuy có tên tuổi từ các tích dân gian nhưng kỳ thực là thờ những vị thủy thần. Cũng giống như các đền thờ cúng thủy thần khác, tục thờ cúng thủy thần của đền Lảnh Giang cũng thể hiện hai mặt của đời sống văn hóa và đời sống tâm linh với khát khao được thần thiên nhiên phù hộ và ước muốn chế ngự sức mạnh của thiên nhiên. Tiết mục múa rồng đặc sắc trong ngày hội Ngoài 2 kỳ lễ hội chính, du khách biết đến đền Lảnh Giang còn tìm về đây trong những ngày thường, ngày rằm hoặc mồng 1 đầu tháng để cầu tài, cầu lộc. Phương ngôn có câu rằng "Trăm cảnh, nghìn cảnh không bằng bến Lảnh đền Mây" , đó là câu nói hàm ý về sức hấp dẫn của cảnh quan, các sự tích và sự linh thiêng của đền Lảnh Giang.

Đền Lảnh Giang nằm ở thôn Yên Lạc, thuộc xã Mộc Nam, huyện Duy Tiên, tỉnh hà Nam, là nơi thờ Tam vị Đại Vương của thời Hùng Duệ Vương đã có công lớn đánh Thục và thờ công chúa Tiên Dung. Hàng năm, ở đây sẽ có 2 kỳ lễ hội vào tháng Sáu và tháng Tám âm lịch. Kỳ hội tháng Sáu được tổ chức từ ngày 18 đến ngày 25 dành, kỳ hội tháng Tám thì tổ chức vào ngày 20.

Cổng đền Lảnh Giang

Ngày 18 tháng Sáu âm lịch, bà con địa phương sẽ tổ chức chồng kiệu, kéo cờ than ra trước cửa đền, ngày 21 sẽ bắt đầu cử hành lễ cáo kỵ. Từ ngày 22 đến ngày 24 tháng 6 là những ngày lễ chính tế và cử hành lễ rước kiệu Thánh quanh đền. Ngày 25 tháng 6 sẽ cử hành lễ tạ và hạ cờ, sau đó đóng cửa đền. Ngày 25 tháng Tám âm lịch, đền Yên Từ thuộc xã Mộc Bắc, huyện Duy Tiên là nơi thờ Ngọc Hoa công chúa sẽ tiến hành lễ rước kiệu về bái vọng. Ngoài các nghi lễ chính như tế lễ, lễ rước thánh Lễ hội đền Lảnh Giang còn thu hút sự quan tâm của nhân dân quanh vùng và du khách thập phương bởi phần hội với nhiều tiết mục phong phú như múa lân, múa rồng, chiếu chèo sân đền, võ vật, đấu cờ người, hát chầu văn, múa sư tử, tổ tôm điếm, nấu cơm trên quang gánh, bắt vịt dưới nước, chọi gà, đi cầu khỉ… Lễ hội đền Lảnh Giang tại Hà Nam Lễ hội tổ chức vào tháng 6 còn hấp dẫn bởi trò bơi chải trên sông Hồng và lễ rước nước được tổ chức rất long trọng. Nước được lấy từ một khoảng giữa của sông Hồng, sau đó mang về làm nước cúng và lễ tắm cho tượng của các ngôi đền trong khu di tích. Nghi thức rước nước giữa dòng sông Hồng về đền để thờ cúng và tắm cho tượng có mục đích để biểu thị nguyện vọng cầu cho mưa thuận gió hòa, và để thể hiện khát vọng của người dân muốn chinh phục thiên nhiên. Nếu căn cứ theo tục thờ và vị trí của đền là bên bờ sông, có thể nhận ra một điều là các vị thần mà đền Lảnh Giang đang thờ tuy có tên tuổi từ các tích dân gian nhưng kỳ thực là thờ những vị thủy thần. Cũng giống như các đền thờ cúng thủy thần khác, tục thờ cúng thủy thần của đền Lảnh Giang cũng thể hiện hai mặt của đời sống văn hóa và đời sống tâm linh với khát khao được thần thiên nhiên phù hộ và ước muốn chế ngự sức mạnh của thiên nhiên. Tiết mục múa rồng đặc sắc trong ngày hội Ngoài 2 kỳ lễ hội chính, du khách biết đến đền Lảnh Giang còn tìm về đây trong những ngày thường, ngày rằm hoặc mồng 1 đầu tháng để cầu tài, cầu lộc. Phương ngôn có câu rằng "Trăm cảnh, nghìn cảnh không bằng bến Lảnh đền Mây" , đó là câu nói hàm ý về sức hấp dẫn của cảnh quan, các sự tích và sự linh thiêng của đền Lảnh Giang.

Related Figures

Hội vật võ Liễu Đôi

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 5/1- 10/1 Âm lịch Liễu Đôi là một làng của xã Liêm Túc, thuộc huyện Thanh Liêm, Hà Nam. Cứ đến ngày mồng 5 đến mồng 10 tháng Giêng âm lịch hàng năm, dân làng nơi đây là tưng bừng mở hội Vật võ để tưởng nhớ đến Thánh Ông (một người đàn ông họ Đoàn, đã có công lao to lớn trong cuộc chiến chống ngoại xâm phương Bắc, đồng thời cũng chính là ông tổ của vật võ) do đó cuộc thi vật võ là nội dung chính của lễ hội Liễu Đôi. Truyền thuyết Liễu Đôi kể về một chàng trai họ Đoàn, là một người có sức mạnh phi thường lại rất giỏi võ, một mình có thể địch lại năm trai tráng trên một sới vật. Một hôm, tại Nương Cửi, bất ngờ xuất hiện một ánh sáng xanh chói lòa khiến dân làng vô cùng bất ngờ và hoảng sợ, riêng chỉ có chàng trai họ Đoàn ấy là dám đi tới chỗ phát ra ánh sáng đó và nhận thấy ánh sáng chói lòa ấy phát ra từ một thanh gươm đang đặt trên một tấm khăn đào. Chàng trái họ Đoàn đã bái tạ thần linh, tay cầm thanh gươm, lưng thắt một chiếc khăn đào, múa gươm cho cả làng xem. Hội vật võ Liễu Đôi tại Hà Nam Khi có quân giặc phương Bắc kéo tới, chàng trai này đã mang theo thanh gươm ra trận. Trong đoàn quân của chàng trai họ Đoàn có nữ tướng họ Bùi là người rất dũng cảm, hai người đã cùng thề ước với nhau. Nhưng điều không may đã xảy đến, chàng trai đã bị tử trận, thi hài của chàng được mang về quê hương chôn cất. Khi quân giặc đã tan, nữ tướng họ Bùi đã về quê của chàng trai viếng mộ, nhưng vì quá đau buồn nên đã chết trên lưng ngựa khi chưa đến mộ chàng. Người dân Liễu Đôi thương nhớ, nên lập đền Ông thờ chàng, tôn là Thánh Ông, lập đền Bà để thờ nữ tướng họ Bùi, đặt tên là đền Tiên Bà. Hàng năm, nhân dân trong làng lại mở hội vật để tưởng nhớ, gọi là hội Thánh Tiên (gọi tắt hai chữ đầu của Thánh Ông-Tiên Bà), thực ra là hội vật võ Liễu Đôi Ngày mồng 5 Tết, hội vật võ chính thức bắt đầu. Trường diễn còn được gọi là đóng vật thường được đặt trên mảnh đất truyền thống, chính là Nương Cửi, nơi chàng trai họ Đoàn đã nhận được gươm thần. Tham dự lễ hội có dân xã Liễu Đôi và dân làng của nhiều nơi có truyền thống vật võ. Hội vật võ Liễu Đôi cũng cho phép phụ nữ được tham gia, các chị em được ra đóng với côn, đao, quyền, kiếm… không thua gì kém gì đấng mày râu. Nghi thức hội được tiến hành theo chương trình như sau: Đầu tiên sẽ là lễ rước Thánh vào đóng: Đóng tức là sân diễn ra cuộc đấu vật, lễ rước thánh vào đóng tức là rước kiệu Thánh Ông từ đền về đóng vật. Lễ vật được chuẩn bị để dâng lên thánh là lễ chay, gồm có vài bẹ chuối, mấy phẩm oản, một nậm trà (thay cho rượu). Một cụ già đi đầu, trên tay cầm một chiếc gương đi giật lùi để dẫn đoàn, khi kiệu Thánh về đến đóng thì sẽ cử hành lễ tế. Sau lễ tế Thánh sẽ đến lễ phát hoả. Người ta sẽ đốt lên một ngọn lửa lớn nhằm tưởng niệm lại ánh sáng xanh thần kỳ tỏa ra từ thanh gươm phát hỏa mà thần đã ban cho mảnh đất Liễu Đôi tại cánh Nương Cửi. Sau đó sẽ là lễ trao gươm rồi thắt khăn đào để tưởng nhớ hình ảnh chàng trai họ Đoàn khi nhận thanh gươm thần và tấm khăn lụa đào. Người dân và khách xem hội đang thắp hương lên kiệu thánh Một người cao tuổi và có uy tín trong làng sẽ được chọn làm Ông Trùm, là người cầm trống cái trong hội trao gươm trên kiệu thánh và thắt khăn đào cho đô vật nào đươc cử ra ngồi ở dưới cây dải trước rạp. Sau đó sẽ là lễ múa cờ tụ nghĩa, điệu múa này còn có tên khác là "thiên nhân kỳ trận". Điệu múa này có 2 hoặc 4 người tham gia, mỗi người cầm một lá cờ đỏ hình vuông trên tay, tiến từ hai bên của kiệu thánh ra chính giữa đóng và theo hiệu trống mà múa cờ. Tiếp theo sẽ là lễ thanh động, được bắt đầu bằng hồi trống với tiếng pháo nổ ran, tiếng cồng, chiêng, mõ, thanh la tại sân vật võ và tại các đền chùa nằm trong vùng đều nhất tề hoà cùng tiếng reo hò, vỗ tay, cổ vũ rất sôi nổi. Sau khi thực hiện các nghi thức trên xong thì sẽ đến cuộc vật võ. Hội vật võ diễn ra với nhiều nghi thức qui định bắt buộc. Bắt đầu là nghi thức năm keo trai rốt. Trai rốt tức là hai cậu con trai của làng được sinh muộn nhất trong năm qua. Để mở đầu cuộc vật, làng sẽ gọi tên hai trai rốt lên đóng vật 5 keo để trình làng, và lễ thánh. Tất nhiên trai rốt vẫn còn bé nên chưa vật được, phải gọi bố ra vật thay. Lệ hội quy định, hai ông bố chỉ được vật biểu diễn, không được vật thật và không được để đối phương ngã, bởi vì hai ông bố này chỉ ra vật với mục đích trình làng, trình Thánh để chứng giám rằng tương lai hai chàng trai nhí sẽ trở thành hai đồ vật võ. Chính vì vậy nếu để đối phương bị ngã thì làng sẽ phạt cả hai ông bố. Có khi bố đi vắng không dự hội được thì ông ra vật thay, dù sao thì cũng không được bỏ cuộc. Với lệ bắt buộc này, người dân Liễu Đôi muốn gửi lời nhắn nhủ tới thế hệ con cháu là sinh ra đã làm anh con trai thì việc đâu tiên phải làm là trai vật võ. Đoàn rước kiệu thánh Tiếp theo sẽ là nghi thức đô xã làm nền, tức là đô Liễu Đôi sẽ được gọi vào đóng trước, giao đấu trước để khơi dậy không khí, khuyến khích tinh thần của các đô vật của các nơi đến dự hội. Khi tinh thần đô vật bốn phương đã hăng lên rồi thì đô vật Liễu Đôi cũng được rút ra để nhường đóng cho khách, họ chỉ đứng ngoài để cổ vũ, động viên tinh thần là chính. Vào giải, ai thắng được cả 5 keo liên tục thì sẽ được vào vòng giải. Ai thắng tất cả các đô trong vòng giải sẽ nhận được giải cọc. Giải cọc tức là giải đặc biệt, tiếp theo sẽ là giải nhất, nhì, ba, cuối cùng trao giải cho tất cả những võ sĩ đã vào đóng vật. Như thế, không chỉ thắng mới có giải mà người thua cũng có giải. Phần thưởng trao giải được trích ra từ tiền hảo tâm của khách thập phương đã công đức, ngoài việc dùng tiền để mua đèn nhang, số còn lại sẽ được dùng để chi hết vào giải, nếu còn dư chút ít thì sẽ phát cho người nghèo ngay tại chỗ chứ không được dùng vào việc khác. Vào đóng, các đô vật chỉ được đóng khố cởi trần. Các đô vật cũng thường kiêng cởi áo hay xỏ áo tay phải trước, vì tay phải là để cầm giáo, cầm gươm và là tay lợi thế hơn trong đấu vật. Trong đóng, những miếng đòn hiểm độc làm hại đối phương đều bị cấm ngặt. Nếu ai phạm luật đều sẽ bị xử rất nghiêm khắc. Người phạm luật sẽ bị phạt đứng ở giữa đóng cho một đô vật khoẻ hơn anh ta bê vứt ra khỏi đóng và 5 đời con cháu sau này không được phép tham gia vật võ. Trước khi mở hội vật võ xã Liễu Đôi 1 ngày, làng còn có tổ chức hội thi món ăn đặc sản để chọn ra món ăn ngon nhất sẽ được đem bán phục vụ du khách thập phương trong các hội. Hai đấu sĩ chào khán giả trước khi giao đấu Tinh thần thượng võ của nhân dân làng Liễu Đôi còn được thể hiện qua lễ trầm tự, thường được cử hành vào đúng đêm 30 tết tại ngôi chùa Ba Chạ. Trầm tự tức là chém chữ. Tương truyền, dười thời nhà Trần khi có một người về đây thao binh luyện tướng và khi ra quân ông đã trao lại cho xã Liễu Đôi một cuốn binh thư đắt giá có tên là Võ trận. Người dân Liễu Đôi biết bao thế hệ phải học thuộc cuốn binh thư này. Đêm 30 tết, các tộc trưởng sẽ đeo gươm và đi vào đền thờ Thánh trước mặt có một băng giấy ghi chữ đầu trang của cuốn Võ trận. Đúng giao thừa vào đúng tích tắc đèn vụt tắt, mỗi tộc trưởng sẽ vung gươm chém một nhát vào chiếc băng giấy trước mặt. Ai chém được đoạn giấy nào thì nhận đoạn giấy đó. Vào thời Pháp thuộc, việc dùng gươm để chém băng giấy đã được người dân thay bằng việc rút thẻ. Ngày nay, cuốn binh thư Võ trận không còn nữa nên lễ trầm tự cũng không còn cử hành các tục lệ đó đã chứng tỏ tinh thần thượng võ cao của người dân xã Liễu Đôi.

Liễu Đôi là một làng của xã Liêm Túc, thuộc huyện Thanh Liêm, Hà Nam. Cứ đến ngày mồng 5 đến mồng 10 tháng Giêng âm lịch hàng năm, dân làng nơi đây là tưng bừng mở hội Vật võ để tưởng nhớ đến Thánh Ông (một người đàn ông họ Đoàn, đã có công lao to lớn trong cuộc chiến chống ngoại xâm phương Bắc, đồng thời cũng chính là ông tổ của vật võ) do đó cuộc thi vật võ là nội dung chính của lễ hội Liễu Đôi.

Truyền thuyết Liễu Đôi kể về một chàng trai họ Đoàn, là một người có sức mạnh phi thường lại rất giỏi võ, một mình có thể địch lại năm trai tráng trên một sới vật. Một hôm, tại Nương Cửi, bất ngờ xuất hiện một ánh sáng xanh chói lòa khiến dân làng vô cùng bất ngờ và hoảng sợ, riêng chỉ có chàng trai họ Đoàn ấy là dám đi tới chỗ phát ra ánh sáng đó và nhận thấy ánh sáng chói lòa ấy phát ra từ một thanh gươm đang đặt trên một tấm khăn đào. Chàng trái họ Đoàn đã bái tạ thần linh, tay cầm thanh gươm, lưng thắt một chiếc khăn đào, múa gươm cho cả làng xem.

Hội vật võ Liễu Đôi tại Hà Nam

Khi có quân giặc phương Bắc kéo tới, chàng trai này đã mang theo thanh gươm ra trận. Trong đoàn quân của chàng trai họ Đoàn có nữ tướng họ Bùi là người rất dũng cảm, hai người đã cùng thề ước với nhau. Nhưng điều không may đã xảy đến, chàng trai đã bị tử trận, thi hài của chàng được mang về quê hương chôn cất. Khi quân giặc đã tan, nữ tướng họ Bùi đã về quê của chàng trai viếng mộ, nhưng vì quá đau buồn nên đã chết trên lưng ngựa khi chưa đến mộ chàng. Người dân Liễu Đôi thương nhớ, nên lập đền Ông thờ chàng, tôn là Thánh Ông, lập đền Bà để thờ nữ tướng họ Bùi, đặt tên là đền Tiên Bà. Hàng năm, nhân dân trong làng lại mở hội vật để tưởng nhớ, gọi là hội Thánh Tiên (gọi tắt hai chữ đầu của Thánh Ông-Tiên Bà), thực ra là hội vật võ Liễu Đôi Ngày mồng 5 Tết, hội vật võ chính thức bắt đầu. Trường diễn còn được gọi là đóng vật thường được đặt trên mảnh đất truyền thống, chính là Nương Cửi, nơi chàng trai họ Đoàn đã nhận được gươm thần. Tham dự lễ hội có dân xã Liễu Đôi và dân làng của nhiều nơi có truyền thống vật võ. Hội vật võ Liễu Đôi cũng cho phép phụ nữ được tham gia, các chị em được ra đóng với côn, đao, quyền, kiếm… không thua gì kém gì đấng mày râu. Nghi thức hội được tiến hành theo chương trình như sau: Đầu tiên sẽ là lễ rước Thánh vào đóng: Đóng tức là sân diễn ra cuộc đấu vật, lễ rước thánh vào đóng tức là rước kiệu Thánh Ông từ đền về đóng vật. Lễ vật được chuẩn bị để dâng lên thánh là lễ chay, gồm có vài bẹ chuối, mấy phẩm oản, một nậm trà (thay cho rượu). Một cụ già đi đầu, trên tay cầm một chiếc gương đi giật lùi để dẫn đoàn, khi kiệu Thánh về đến đóng thì sẽ cử hành lễ tế. Sau lễ tế Thánh sẽ đến lễ phát hoả. Người ta sẽ đốt lên một ngọn lửa lớn nhằm tưởng niệm lại ánh sáng xanh thần kỳ tỏa ra từ thanh gươm phát hỏa mà thần đã ban cho mảnh đất Liễu Đôi tại cánh Nương Cửi. Sau đó sẽ là lễ trao gươm rồi thắt khăn đào để tưởng nhớ hình ảnh chàng trai họ Đoàn khi nhận thanh gươm thần và tấm khăn lụa đào. Người dân và khách xem hội đang thắp hương lên kiệu thánh Một người cao tuổi và có uy tín trong làng sẽ được chọn làm Ông Trùm, là người cầm trống cái trong hội trao gươm trên kiệu thánh và thắt khăn đào cho đô vật nào đươc cử ra ngồi ở dưới cây dải trước rạp. Sau đó sẽ là lễ múa cờ tụ nghĩa, điệu múa này còn có tên khác là "thiên nhân kỳ trận". Điệu múa này có 2 hoặc 4 người tham gia, mỗi người cầm một lá cờ đỏ hình vuông trên tay, tiến từ hai bên của kiệu thánh ra chính giữa đóng và theo hiệu trống mà múa cờ. Tiếp theo sẽ là lễ thanh động, được bắt đầu bằng hồi trống với tiếng pháo nổ ran, tiếng cồng, chiêng, mõ, thanh la tại sân vật võ và tại các đền chùa nằm trong vùng đều nhất tề hoà cùng tiếng reo hò, vỗ tay, cổ vũ rất sôi nổi. Sau khi thực hiện các nghi thức trên xong thì sẽ đến cuộc vật võ. Hội vật võ diễn ra với nhiều nghi thức qui định bắt buộc. Bắt đầu là nghi thức năm keo trai rốt. Trai rốt tức là hai cậu con trai của làng được sinh muộn nhất trong năm qua. Để mở đầu cuộc vật, làng sẽ gọi tên hai trai rốt lên đóng vật 5 keo để trình làng, và lễ thánh. Tất nhiên trai rốt vẫn còn bé nên chưa vật được, phải gọi bố ra vật thay. Lệ hội quy định, hai ông bố chỉ được vật biểu diễn, không được vật thật và không được để đối phương ngã, bởi vì hai ông bố này chỉ ra vật với mục đích trình làng, trình Thánh để chứng giám rằng tương lai hai chàng trai nhí sẽ trở thành hai đồ vật võ. Chính vì vậy nếu để đối phương bị ngã thì làng sẽ phạt cả hai ông bố. Có khi bố đi vắng không dự hội được thì ông ra vật thay, dù sao thì cũng không được bỏ cuộc. Với lệ bắt buộc này, người dân Liễu Đôi muốn gửi lời nhắn nhủ tới thế hệ con cháu là sinh ra đã làm anh con trai thì việc đâu tiên phải làm là trai vật võ. Đoàn rước kiệu thánh Tiếp theo sẽ là nghi thức đô xã làm nền, tức là đô Liễu Đôi sẽ được gọi vào đóng trước, giao đấu trước để khơi dậy không khí, khuyến khích tinh thần của các đô vật của các nơi đến dự hội. Khi tinh thần đô vật bốn phương đã hăng lên rồi thì đô vật Liễu Đôi cũng được rút ra để nhường đóng cho khách, họ chỉ đứng ngoài để cổ vũ, động viên tinh thần là chính. Vào giải, ai thắng được cả 5 keo liên tục thì sẽ được vào vòng giải. Ai thắng tất cả các đô trong vòng giải sẽ nhận được giải cọc. Giải cọc tức là giải đặc biệt, tiếp theo sẽ là giải nhất, nhì, ba, cuối cùng trao giải cho tất cả những võ sĩ đã vào đóng vật. Như thế, không chỉ thắng mới có giải mà người thua cũng có giải. Phần thưởng trao giải được trích ra từ tiền hảo tâm của khách thập phương đã công đức, ngoài việc dùng tiền để mua đèn nhang, số còn lại sẽ được dùng để chi hết vào giải, nếu còn dư chút ít thì sẽ phát cho người nghèo ngay tại chỗ chứ không được dùng vào việc khác. Vào đóng, các đô vật chỉ được đóng khố cởi trần. Các đô vật cũng thường kiêng cởi áo hay xỏ áo tay phải trước, vì tay phải là để cầm giáo, cầm gươm và là tay lợi thế hơn trong đấu vật. Trong đóng, những miếng đòn hiểm độc làm hại đối phương đều bị cấm ngặt. Nếu ai phạm luật đều sẽ bị xử rất nghiêm khắc. Người phạm luật sẽ bị phạt đứng ở giữa đóng cho một đô vật khoẻ hơn anh ta bê vứt ra khỏi đóng và 5 đời con cháu sau này không được phép tham gia vật võ. Trước khi mở hội vật võ xã Liễu Đôi 1 ngày, làng còn có tổ chức hội thi món ăn đặc sản để chọn ra món ăn ngon nhất sẽ được đem bán phục vụ du khách thập phương trong các hội. Hai đấu sĩ chào khán giả trước khi giao đấu Tinh thần thượng võ của nhân dân làng Liễu Đôi còn được thể hiện qua lễ trầm tự, thường được cử hành vào đúng đêm 30 tết tại ngôi chùa Ba Chạ. Trầm tự tức là chém chữ. Tương truyền, dười thời nhà Trần khi có một người về đây thao binh luyện tướng và khi ra quân ông đã trao lại cho xã Liễu Đôi một cuốn binh thư đắt giá có tên là Võ trận. Người dân Liễu Đôi biết bao thế hệ phải học thuộc cuốn binh thư này. Đêm 30 tết, các tộc trưởng sẽ đeo gươm và đi vào đền thờ Thánh trước mặt có một băng giấy ghi chữ đầu trang của cuốn Võ trận. Đúng giao thừa vào đúng tích tắc đèn vụt tắt, mỗi tộc trưởng sẽ vung gươm chém một nhát vào chiếc băng giấy trước mặt. Ai chém được đoạn giấy nào thì nhận đoạn giấy đó. Vào thời Pháp thuộc, việc dùng gươm để chém băng giấy đã được người dân thay bằng việc rút thẻ. Ngày nay, cuốn binh thư Võ trận không còn nữa nên lễ trầm tự cũng không còn cử hành các tục lệ đó đã chứng tỏ tinh thần thượng võ cao của người dân xã Liễu Đôi.

Tiếp theo sẽ là nghi thức đô xã làm nền, tức là đô Liễu Đôi sẽ được gọi vào đóng trước, giao đấu trước để khơi dậy không khí, khuyến khích tinh thần của các đô vật của các nơi đến dự hội. Khi tinh thần đô vật bốn phương đã hăng lên rồi thì đô vật Liễu Đôi cũng được rút ra để nhường đóng cho khách, họ chỉ đứng ngoài để cổ vũ, động viên tinh thần là chính. Vào giải, ai thắng được cả 5 keo liên tục thì sẽ được vào vòng giải. Ai thắng tất cả các đô trong vòng giải sẽ nhận được giải cọc. Giải cọc tức là giải đặc biệt, tiếp theo sẽ là giải nhất, nhì, ba, cuối cùng trao giải cho tất cả những võ sĩ đã vào đóng vật. Như thế, không chỉ thắng mới có giải mà người thua cũng có giải. Phần thưởng trao giải được trích ra từ tiền hảo tâm của khách thập phương đã công đức, ngoài việc dùng tiền để mua đèn nhang, số còn lại sẽ được dùng để chi hết vào giải, nếu còn dư chút ít thì sẽ phát cho người nghèo ngay tại chỗ chứ không được dùng vào việc khác.

Related Figures

Lễ hội đình Đinh

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 9/1- 12/1 Âm lịch Đình Đinh nằm ở thôn Đinh thuộc địa phận xã Đinh Xá, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Đình Đinh là nơi thờ Đông Hải Đại Vương Đoàn Thương và con của ông là Đông Xưng đại vương Đoàn Văn, các trung thần dưới triều nhà Lý, Đông Bảng đại vương dưới triều nhà Lê và các vị tiên hiền, những vị đã có công lập làng. Tương truyền vào làng Đinh chính là nơi mà Đông Hải Đại Vương Đoàn đến tìm thầy để học và cũng là nơi ông đã kết duyên với vợ mình. Khi ông qua đời, con trai của ông là Đoàn Văn cũng được người dân xã Đinh Xá lập đền thờ. Hàng năm, cứ đến ngày 10 tháng Giêng âm lịch, là ngày sinh của Đông Hải đại vương Đoàn Thượng, dân làng Đinh lại mở hội để tưởng nhớ đến bậc trung thần. Lễ hội này được tổ chức trong vòng 4 ngày, kể từ ngày mồng 9 đến ngày 12 tháng Giêng âm lịch. Ngoài tế lễ, lễ dâng hương, hội làng Đinh còn hấp dẫn bởi lễ rước nước và lễ khai độc. Lễ rước kiệu Cứ ba năm một lần, làng Đinh lại kết hợp với làng Thủy Cơ ( thuộc xã Châu Sơn, Duy Tiên) tổ chức lễ rước nước để hồi tưởng về vị Đông Hải đại vương và là là dịp để hai làng thể hiện mối giao hảo. Thủy Cơ là một làng chài của xã Châu Sơn, người dân sinh sống bằng nghề sông nước. Làng Đinh đã dành riêng một khu đất trống cho làng Thủy Cơ để mai táng những người đã khuất. Do đó, hai làng này có mối quan hệ rất thân thiết. Khi vào ngày hội, làng Thủy Cơ thường cung cấp 5 chiếc thuyền lớn để cử hành lễ rước nước. Làm lễ tế tại đình Ngày mồng 9, đình Đinh bắt đầu mở cửa, dân hai làng sẽ vào lễ thánh, sau đó cử hành nghi lễ rước kiệu, bát biểu, cờ, chiêng trống, đội bát âm và đội bơi chải xuống thuyền. Trên thuyền đặt 2 chóe sành để đựng nước. Đoàn thuyền sẽ bơi đến ngã ba sông Móng rồi bơi rước 3 vòng, sau đó mới lấy nước cho vào hai chóe, tiếp theo là dâng lên kiệu rồi cùng bơi thuyền trở về đình. Chóe nước sẽ được đưa vào đình để phục vụ cho buổi tế lễ vào ngày hôm sau. Đội hình tế lễ đều là nam, gồm chủ tế, bồi tế và xướng tế. Khi tế, đội hình di chuyển từ sân đình qua tiền đường rồi vào hậu cung. Trong khi tế lễ, ngoài sân đình có biểu diễn múa sư tử, múa rồng, đánh gậy, thi thổi cơm, thi bắt chạch, trên sông Châu thì tổ chức cuộc thi bơi chải. Thi bơi chải trên sông Châu Hàng năm, vào dịp lễ hội ngày mồng 10 tháng Giêng, ở đình Đinh còn tổ chức lễ khai đọc (mang sắc phong ra đọc trong dịp dầu năm mới) chủ trì là hàng xã. Trước ngày lễ, tối ngày mồng 9 sẽ tiến hành rước sắc từ nhà tiên chỉ về đình rồi mới làm lễ khai độc. Ngày mồng 10, tổ chức lễ rước hành ngơi (đi chơi trên đường) cũng có kiệu, có cờ quạt, và bát biểu… Ngày 11, sau khi tế tạ kết thúc sẽ tiến hành rước lộ nhang sắc và các sắc phong về nhà tiên chỉ và đóng cửa đình.

Related Figures

Lễ hội đình Thọ Chương

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 4/1- 6/1 Âm lịch Đình Thọ Chương thuộc xã Đạo Lý, Lý Nhân, Hà Nam, là một ngôi đình lớn thờ thành hoàng làng Vũ Lang Nữu. Vũ Lang Nữu là người Thọ Chương, đã có công dẹp giặc, chính vì vậy nhà vua đã miễn sưu thuế, tạp dịch cho người dân trong làng. Hàng năm, cứ đến ngày mồng 4 đến mồng 6 tháng giêng âm lịch, người dân làng Thọ Chương lại nô nức mở hội kỷ niệm ngày ông Vũ Lang Nữu thắng trận trở về làng, cũng chính là ngày xã Vũ Xá được vua ban lệnh miễn trừ sưu thuế và tạp dịch. Nghi lễ trong lễ hội đình Thọ Chương diễn ra rất trang trọng. Các giáp Bến, Đông, Đoài, Trúc, Hệ, Giữa đều làm cỗ để cúng thành hoàng. Giáp nào cũng chọn những con gà to, béo nhất để làm thịt, gài đôi cánh lên đầu, treo một túi tiền vào mỏ mới của con gà và đặt lên ban thờ. Cúng thành hoàng còn có tục thi lợn béo và làm bánh dày,. Ngày 20/07 âm lịch chính là ngày ông Vũ Lang Nữu mất, hàng năm dân làng đều tổ chức tế lễ, đọc văn tế để ôn lại tiểu sử của ông, và nhắc nhở mọi người phải nhớ đến công ơn của thành hoàng. Đình Thọ Chương tại Hà Nam Nhưng đông vui nhất là ngày mở hội từ ngày mồng 8 đến 12 tháng giêng. Hội làng Thọ Chương cũng giống làng Đồng Lâu ở gần đó, là để tôn vinh thành hoàng và còn để khuyến khích nghề truyền thống của quê hương Lệ làng đã định từ xưa, lễ rước kiệu xuất phát từ Đồng Lâu đến Thọ Chương rồi mới rước quay trở lại. Cả hai đình sẽ cùng tổ chức tế lễ, ăn giao hảo vào ngày mồng 8. Làng Đồng Lâu sẽ rước đến tối mới về. Vào ngày 12, làng Thọ Chương sẽ rước sang làng Đồng Lâu rồi chiều lại rước về. Những ngày diễn ra đám rước, nhân dân trong làng lại náo nức tham dự. Người người, nhà nhà đón chào khách đến thưởng thức những chén trà ngon, những miếng trầu têm khéo tay. Lễ rước kiệu Các buổi tối trong lễ hội đình Thọ Chương đều có biểu diễn chèo. Bức dại có ghi 4 chữ Vũ ấp huyền ca để nhắc nhở người dân trong làng tưởng nhớ tới tục lệ ca hát trong lễ hội. Hội làng Thọ Chương không chỉ hấp dẫn bởi rước xách tế lễ mà còn thu hút bởi nhiều trò vui dân gian như đấu vật, đấu cờ tướng, chơi tổ tôm điểm... trong đó trò đấu vật là trò chơi thu hút được nhiều người xem nhất. Ngoài các đô vật trong làng, còn có nhiều đô vật ở nhiều xã khác như Đồng Yên, Đông Lư, Mạc Thượng, Phúc Châu, Mạc Hạ.. cùng về tham dự giải. Các đô vật làng Thọ Chương thường nhận được giải cao vì tương truyền trong dân gian rằng, xưa kia nơi đây có một người đàn ông rất khỏe, mỗi lần đưa bò ra đồng ông đều cắp con bò ngang hông, chính vì vậy, ông được người dân trong làng gọi là xã Khỏe. Khi lên xới, ông thường giật được giải cao về cho làng và để lại truyền thống thượng võ này cho dân làng. Hát chèo trong ngày hội Lễ hội làng Thọ Chương là sự kết nghĩa giao hảo giữa hai làng Đồng Lâu và Vũ Xá. Lễ hội này đã cho thấy lớp văn hóa sâu sắc của việc thờ cúng thành hoàng của người dân nơi đây. Trong mỗi người dân nơi đây, làm ăn và đánh giặc luôn đan xen vào nhau, và khát khao về một cuộc sống an lạc đã được người dân gửi gắm trong niềm tin tưởng đối với vị thành hoàng mà ý nghĩa mới cũng không làm mờ đi những tầng nghĩa từ xa xưa hơn.

Related Figures

Lễ hội thả diều

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/5 Âm lịch Hội thi thả diều diễn ra vào ngày 15 tháng 5 âm lịch hàng năm, tại làng Đại Hoàng thuộc xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Không biết từ bao giờ, làng Đại Hoàng đã có hội thả diều để ăn mừng năm được mùa và cầu cho quốc thái dân an. Địa điểm tổ chức hội thi thả diều là đình trong, đình ngoại và đình nội. Trong làng có 12 giáp thì tất cả đều tham gia hội thả diều, mỗi giáp có một mẫu riêng của giáp mình để dễ phân biệt. Việc làm diều cũng được người dân trong giáp chuẩn bị rất chu đáo, ngay từ tháng 11 âm lịch của năm trước. Các cụ già trong giáp thường chọn các cây tre dài, thẳng, già và mịn, đã rụng hết lá để chẻ, chuốt làm các thanh các nẹp để làm khung diều, gác lên bếp để hong cho thật khô tới tháng 5 năm sau thì dùng. Vào tháng Tư, các cụ còn lấy nhựa của quả hồng non để làm keo dính đểdán giấy lên khung diều. Dây diều to thường được xe bằng tơ tằm, dây diều nhỏ thì được kết bằng loại chỉ khâu. Ngoài ra, còn phải làm một cái ống suốt cực lớn, hai đầu có gắn bánh xe để cuộn dây vào, nhả dây cho nhanh. Thanh thiếu niên làng Đại Hoàng nô nức xem hội thả diều Diều của làng Đại Hoàng có hình dáng hình thoi và phẳng. Khi diều bay lên cao, cánh phẳng, trông thanh thoát, khi diều hạ cánh xuống thì cánh diều lao vút xuống như một mũi kiếm đâm thẳng xuống lòng đất. Sáng ngày 15 tháng 5 âm lịch, làng sẽ bắt đầu hội thi diều lớn. Sau một hồi trống chiêng nổi lên giòn giã. Ban chủ khảo cùng các đấu thủ đều ăn mặc chỉnh tể, đẹp, đầu có chít khăn, áo dài, quần bó. Mỗi đội dự thi đều có 3 người, 1 người cầm dây diều, 1 người điều khiển diều và 1 người đâm diều lên cao. Khi các đấu thủ đã vào vị trí được đánh dấu trên cánh đồng làng, ban chủ khảo sẽ thắp hương xem như tính giờ. Mỗi một hồi trống nổi lên thì loa cũng bắt đầu gọi, diều của các giáp cũng đồng loạt lao lên, ăn dây. Người điều khiển diều phải giật dây liên tục, chỉnh dây để diều lên thật từ từ. Khi diều no gió sẽ lao vút lên cao, bay trên tầng không rồi dần dần nhỏ dần, nhỏ tới khi trông chỉ như một chiếc lá. Tiếp đó lại nổi một hồi trống nữa, tiếng loa truyền: Loa! Loa! Các diều đấu dây vào nhau để chuẩn bị chấm giải. Trên cánh đồng rộng, các đấu thủ sẽ đi về một điểm. Trong sân đình, các thành viên ban chủ khảo sẽ bàn bạc để chấm giải cho diều của các giáp. Sau đó, diều sẽ được lệnh cho hạ xuống. Cách mặt đất khoảng 30 mét, diều phải được điều khiển làm để lao xuống thật nhanh như một mũi tên bắn thẳng, cắm dựng đứng trên cánh đồng. Xong xuôi các đấu thủ sẽ cùng trở về sân đình để nghe chủ khảo tuyên bố điểm và giải thưởng. Hội thi thả diều của người dân làng Đại Hoàng là một nét đẹp văn hóa đặc sắc đã được lưu truyền từ xa xưa Hội thi diều kết thúc nhưng niềm vui và sự hưng phấn trong lòng người xem và các đấu thủ vẫn như một dư âm động lại mãi. Họ đã được thả hồn vào những cánh diều, sự bay lượn phóng khoáng của cánh diều trên bầu trời rộng lớn, thanh cao khiến lòng người cũng trở nên rộng mở hơn. Đó cũng chính là những giây phút hiếm hoi giúp con người thoát ra cái vỏ bọc của cuộc sống thường nhật.

Hội thi thả diều diễn ra vào ngày 15 tháng 5 âm lịch hàng năm, tại làng Đại Hoàng thuộc xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Không biết từ bao giờ, làng Đại Hoàng đã có hội thả diều để ăn mừng năm được mùa và cầu cho quốc thái dân an. Địa điểm tổ chức hội thi thả diều là đình trong, đình ngoại và đình nội.

Trong làng có 12 giáp thì tất cả đều tham gia hội thả diều, mỗi giáp có một mẫu riêng của giáp mình để dễ phân biệt. Việc làm diều cũng được người dân trong giáp chuẩn bị rất chu đáo, ngay từ tháng 11 âm lịch của năm trước. Các cụ già trong giáp thường chọn các cây tre dài, thẳng, già và mịn, đã rụng hết lá để chẻ, chuốt làm các thanh các nẹp để làm khung diều, gác lên bếp để hong cho thật khô tới tháng 5 năm sau thì dùng. Vào tháng Tư, các cụ còn lấy nhựa của quả hồng non để làm keo dính đểdán giấy lên khung diều. Dây diều to thường được xe bằng tơ tằm, dây diều nhỏ thì được kết bằng loại chỉ khâu. Ngoài ra, còn phải làm một cái ống suốt cực lớn, hai đầu có gắn bánh xe để cuộn dây vào, nhả dây cho nhanh. Thanh thiếu niên làng Đại Hoàng nô nức xem hội thả diều Diều của làng Đại Hoàng có hình dáng hình thoi và phẳng. Khi diều bay lên cao, cánh phẳng, trông thanh thoát, khi diều hạ cánh xuống thì cánh diều lao vút xuống như một mũi kiếm đâm thẳng xuống lòng đất. Sáng ngày 15 tháng 5 âm lịch, làng sẽ bắt đầu hội thi diều lớn. Sau một hồi trống chiêng nổi lên giòn giã. Ban chủ khảo cùng các đấu thủ đều ăn mặc chỉnh tể, đẹp, đầu có chít khăn, áo dài, quần bó. Mỗi đội dự thi đều có 3 người, 1 người cầm dây diều, 1 người điều khiển diều và 1 người đâm diều lên cao. Khi các đấu thủ đã vào vị trí được đánh dấu trên cánh đồng làng, ban chủ khảo sẽ thắp hương xem như tính giờ. Mỗi một hồi trống nổi lên thì loa cũng bắt đầu gọi, diều của các giáp cũng đồng loạt lao lên, ăn dây. Người điều khiển diều phải giật dây liên tục, chỉnh dây để diều lên thật từ từ. Khi diều no gió sẽ lao vút lên cao, bay trên tầng không rồi dần dần nhỏ dần, nhỏ tới khi trông chỉ như một chiếc lá. Tiếp đó lại nổi một hồi trống nữa, tiếng loa truyền: Loa! Loa! Các diều đấu dây vào nhau để chuẩn bị chấm giải. Trên cánh đồng rộng, các đấu thủ sẽ đi về một điểm. Trong sân đình, các thành viên ban chủ khảo sẽ bàn bạc để chấm giải cho diều của các giáp. Sau đó, diều sẽ được lệnh cho hạ xuống. Cách mặt đất khoảng 30 mét, diều phải được điều khiển làm để lao xuống thật nhanh như một mũi tên bắn thẳng, cắm dựng đứng trên cánh đồng. Xong xuôi các đấu thủ sẽ cùng trở về sân đình để nghe chủ khảo tuyên bố điểm và giải thưởng. Hội thi thả diều của người dân làng Đại Hoàng là một nét đẹp văn hóa đặc sắc đã được lưu truyền từ xa xưa Hội thi diều kết thúc nhưng niềm vui và sự hưng phấn trong lòng người xem và các đấu thủ vẫn như một dư âm động lại mãi. Họ đã được thả hồn vào những cánh diều, sự bay lượn phóng khoáng của cánh diều trên bầu trời rộng lớn, thanh cao khiến lòng người cũng trở nên rộng mở hơn. Đó cũng chính là những giây phút hiếm hoi giúp con người thoát ra cái vỏ bọc của cuộc sống thường nhật.

Related Figures

Lễ hội làng Mỹ Đôi (Làng Dâu)

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/2 Âm lịch Làng Dâu còn có tên khác là làng Mỹ Đôi, thuộc địa phận xã An Mỹ, huyện Bình Lục, Hà Nam. Đây là vùng đất lịch sử, với nhiều sự kiện chiến tranh tự vệ nổi tiếng của nhiều lịch đại đã diễn ra, nhưng ấn tượng hơn cả là sự tích 3 chị em ả Đào, Nguyễn Phương, Nguyễn Quế đã chỉ huy nghĩa binh đánh tan giặc Minh ở đầu thế kỷ thứ XV. Hàng năm, làng Dâu lại tưng bừng mở hội vào ngày 15 tháng Hai âm lịch, để thao diễn trận đánh đồn giặc Minh của 3 chi em ả Đào, đồng thời ca ngợi tinh thần kiên cường, yêu nước dám xả thân vì đất nước của nhân dân Việt Nam. Tương truyền: Cha của chị em ả Đào là người vùng Tiên Lữ Hưng Yên, lấy vợ lẽ là bà Thị Hương ở xã Bồ Xá Bình Lục. Ông bà sinh được hai ả Đào, Nguyễn Phương và Nguyễn Quế. Hồi đó, giặc Minh đang xâm lược nước ta, sát hại vô số sinh linh vô tội, cướp bóc tài sản, gây nên cảnh tượng lầm than ở Trang Cổ Thọ (nay là xã An Mỹ). Khi chứng kiến những hành động bạo ngược của quân giặc Minh đang ngày ngày tàn phá dân làng nơi đây, các bô lão Trang Cổ Thọ đã sang làng Bồ Xá xin mượn binh cứu viện để đánh giặc. Khi nắm rõ tình hình, ả Đào đã bàn với hai em cùng dân làng tìm cách đánh giặc Minh trừ hại cho dân. Lễ hội làng Mỹ Đôi (Làng Dâu) tại Hà Nam Sau đó, nghĩa binh hai làng Cổ Thọ và Bồ Xá đã quyết định đánh úp bất ngờ vào căn cứ của giặc Minh. Vào lúc nửa đêm ngày 14/2, ả Đào đã chia quân thành ba đạo, phối kết hợp cùng dân làng Cổ Thọ để tập kích phá đồn giặc. Trước khi xuất phát, nghĩa quân đã lấy bánh dầy làm đồ ăn, lấy mía thaycho nước và tuyệt đối sẽ không dùng đến lửa. Trận tập kích phá đồn giặc Minh đã thành công. Nhân dân cổ Thọ từ đó được sống trong cảnh thanh bình. Lễ hội làng Mỹ Đôi có 2 phần: - Phần chuẩn bị thường được các Giáp thực hiện rất cẩn trọng và từ lâu trước ngày mở hội. Các Giáp đều thi nhau nuôi lợn sạch và béo, thịt heo sẽ được dùng để cúng thành và diễn khai các sự tích. Để làm bánh dầy, dân làng phải chọn gạo sao cho bánh vừa trắng, ngon lại dẻo. Thi nhau trồng hoặc mua các loại mía ngon, mềm. Hoa quả vừa để làm lễ vật lại vừa tượng trưng cho lương thực cho quân lính đã dùng trong chiến trận của các làng khi đánh giặc Minh. Những lễ vật này sẽ được hội đồng chấm thi của hội cân nhắc, xét thưởng giải theo nhất, nhì, ba. Các Giáp còn được giao việc chặt cành cây, cắm xung quanh ngôi miếu ở phía đông nam bình Dâu, để tượng trưng cho đồn binh của giặc, đồng thời bố trí các điểm giặc đóng trong xóm. Nhà nào được chọn để trang trí làm nơi đóng quân, thì người trong gia đình đó phải đóng vai quân Minh, đến đêm phải thắp đèn để báo hiệu và khi đội quân của tiên chúa ả Đào ập đến, họ sẽ phải nằm lăn ra nhà để giả chết, mặc cho nghĩa quân khiêng xác vứt ra khe, hay rãnh phía nam đình Dâu. Trước khi mở hội, làng phải chuẩn bị nhiều nhân lực, chia làm ba cánh quân. Đặc biệt là tìm người nào trông tướng có phúc, có đủ phẩm hạnh để đóng vai ả Đào tiên chúa và hai vị đại vương là Nguyễn Quế và Nguyễn Phương. Đồng thời còn phải chọn một đội múa rồng và làm Chử Đồng Tử tiên ông… Lễ hội Dâu là dịp để người dân trong vùng tưởng nhớ về ba vị nữ tướng tài giỏi - Phần thao diễn sự tích Ả Đào được tiến hành sau khi tế lễ, vào giờ Tý đêm ngày 14 rạng sáng ngày 15 tháng 2 âm lịch. Lúc này, mọi nơi (từ đình, chùa cho đến nhà dân) đều phải thực hiện việc cấm lửa như lệ làng đã ghi: “Thử gian bài binh- bất khả phát yên- duy thủ bạch viên binh-khiến sinh dĩ hường quân sỹ" nghĩa là thời gian dùng binh thì không được phát lửa, dùng thịt lợn và bánh dầy cho quân lính ăn. Truyền thuyết còn lưu lại rằng: Nước uống được quân lính thay bằng mía. Các đạo quân của ba Ả Đào được bố trí tại 3 hướng: Nguyễn Phương làm tướng của đạo phía Nam, ’đạo phía Đông là do Nguyễn Quế chỉ huy, còn ả Đào tiên chúa sẽ chỉ đạo đạo phía Tây, đồng thời cầm linh phù làm tướng soái. Cả 3 đạo quân sẽ tiến từ 3 phía cùng đi về khu miếu, nơi được cắm các cành cây xung quanh miều để tượng trưng cho đồn của địch. Bên trong khu miếu này “quân xanh" sẽ được mặc trang phục, đeo thắt lưng y như quân đội nhà Minh lúc bấy giờ, từng tốp, từng tốp ngồi, nằm vạ vĩnh bên các vại rượu. Sau khi 9 hồi chiêng trống vang lên thì cũng chính là hiệu lệnh tấn công, cả 3 đạo giáp công, giao chiến trong 1 ngày, 1 đêm thì quân giặc bại trận bỏ đồn, chạy trốn. Sau đó 3 đạo quân chia nhau ra, tấn công vào các căn cứ nhỏ của quân Minh được đóng trong làng. Gia đình sẽ bố trí làm nơi quân Minh đóng sẽ châm đèn báo hiệu. Nghĩa quân sẽ ào vào tấn công, tiêu diệt lần lượt từng vị trí, sau đó khiêng "xác giặc" vứt ở khe phía nam làng Dâu. Sau đó đoàn quân sẽ kéo về đình tụ hội. Lúc ấy, trước sân đình bỗng nhiên xuất hiện một con rồng vàng, trên lưng rồng là tiên ông Chử Đồng Tử, tay cầm cái quạt vẫy gọi tiên chúa và 2 tướng Nguyễn Phương và Nguyễn Quế. Sau khi cả ba người chạy đến phía đuôi rồng thì con rồng bay đi, càng ngày càng xa dần, dân làng chứng kiến cảnh tượng này thì dơ tay vẫy vẫy, hoặc chắp tay để vĩnh biệt trong sự bùi ngùi xúc động, cảm phục biết ơn sâu sắc đến ba ả Đào. Lệ ngạch trong ngày hội đình Dâu, thôn Mỹ Đôi thuộc xã An Mỹ, huyện Bình Lục, Hà Nam, với những tình tiết tái diễn lại cuộc chiến chống quân minh của hai làng Cổ Thọ và Bồ Xá, bám sát với nội dung lịch sử nhưng cũng mang màu sắc tín ngưỡng dân gian. Người dân làng Mỹ Đôi đang tái diễn lại trận đánh quân Minh của làng Cổ Thọ và Bồ Xá Ngoài lễ thao diễn phá đồn giặc Minh, làng Dâu còn cử hành lệ đào "cốt khí” (đào xương đã người chết). Lệ này thường diễn ra ở xóm phía nam đình. Theo truyền thuyết, xóm này ngày xưa là một vùng trũng vì có lạch nước chảy qua. Thế kỷ thứ XV, khi giặc Minh đang chiếm đóng vùng, bị dân binh địa phương đứng lên tiêu diệt và xác của giặc Minh được tập trung lại và chôn ở vùng trũng, sau này vùng đất này cao dần do san lấp, lại có sự tôn đất để làm nền nhà, thành xóm, nhưng dưới lòng đất vẫn còn xương người. Truyền thuyết địa phương thường nói đến sự bất ổn về sức khoẻ của dân làng trong xóm vì nghĩ do "âm khí giặc Minh" gây ra… Chính vì vậy, từ bao đời nay, dân làng Dâu luôn phải đào đất lên để tìm xương người rồi đem đi chôn ở nơi khác. Có nhà còn phải cậy sân, đào sâu vào trong lòng đất để tìm xương người, có nhà còn phải đào cả nền nhà để lấy xương đem chôn ở nơi khác... Tục này mang màu sắc duy tâm, nhưng việc làm này có thật này lại có liên quan đến chiến tích lịch sử của dân làng.

Related Figures

Lễ hội làng Gừa

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 4/1 Âm lịch Đình làng Gừa thuộc địa phận xã Liêm Thuận, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, là nơi thờ một vị tướng tài giỏi của vua Đinh Bộ Lĩnh là Trương Nguyên, một người con của làng Gừa. Khi ông qua đời, vua Đinh đã cho ruộng cấy, cắt đinh phu giao, lập đình thờ cúng Trương Nguyên tại đình Làng Gừa. Hội làng Gừa diễn ra vào ngày mồng 4 tháng Giêng âm lịch hàng năm, nhằm tôn vinh công lao to lớn của vị tướng tài giỏi này. Trò cướp cầu trong Lễ hội làng Gừa tại Hà Nam Hiện nay, lễ hội làng Gừa có tế lễ, rước xách và tổ chức các trò vui chủ yếu thể hiện tinh thần thượng võ như đánh vật, đánh đu, cướp cầu, chém mía. Ban đêm sẽ có biểu diễn văn nghệ hát chèo tuồng, đa phần là các tiết mục do dân làng tự biên, tự diễn. Trống lễ, trống hội, trống rước, trống chèo vang lên suốt ngày đêm lại càng khiến cho khí thế của ngày hội càng thêm tưng bừng, náo nhiệt. Lễ hội đình Làng Gừa còn có hấp dẫn bởi trò chơi cướp cầu. Có truyền thuyết kể rằng, khi tướng Trương Nguyên từ Hoa Lư - Ninh Bình về quê nhà có mang theo một quả cầu, là một dụng cụ để binh sĩ luyện tập. Khi về làng ông đã bày thành trò chơi cướp cầu cho toàn dân. Đến ngày nay, trong lễ hội thờ Trương Nguyên, trò cướp cầu đã trở thành một trong những nghi lễ quan trọng nhất. Quả cầu này được làm bằng gỗ, có kích thước xấp xỉ một quả bóng chuyền, được sơn son thếp vàng trông rất sặc sỡ, và có vẽ mây sóng trang trí trên bề mặt. Quả cầu này được xem là thánh vật của làng Gừa, đến nay đã nó đã bị tróc sơn, các hoa văn, họa tiết cũng đã bị mờ, không còn rõ nét. Hàng năm, chỉ vào dịp lễ hội mới được mang cầu này ra chơi và trò cướp cầu sẽ trò đầu tiên để khai cuộc. Người dân vui trẩy hội làng Gừa Từ mờ sáng ngày mồng 4, cửa đình đã mở cửa, các bóng đèn được thắp sáng, khói hương cũng nghi ngút. Trống nổi giục giã như giục dân làng hãy tạm gác mọi việc để về đình. Làng sẽ chọn ra một lão nông hoặc một người có chức sắc, phải là người có gia đình thuận hòa, trên dưới hòa thuận, làm chủ tế. Đúng vào giờ tỵ, trò cướp cầu sẽ chính thức bắt đầu. Đội nào thắng cuộc sẽ được phép vào cung hồi trống, tế thánh khai hội và người dân tin rằng năm đó đội thắng cuộc sẽ ước gì được nấy. Ý nghĩa của trò cướp cầu không chỉ là để tôn vinh vị anh hùng Trương Nguyên mà còn là để thể hiện tinh thần thượng võ, có người còn nói tới dấu vết của tập tục thờ thần mặt trời trong đời sống của người Việt cổ. Các cụ bà đội lễ vào đình làng Gừa

Related Figures

Lễ hội đình Đá

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 6/1- 8/1 Âm lịch Lễ hội đình Đá được tổ chức tại thôn An Mông thuộc xã Tiên Phong, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Đình Đá là nơi thờ công chúa Nguyệt Nga, một nữ tướng tài giỏi của Hai Bà Trưng. Ngoài ngày sinh là ngày rằm tháng 7 và ngày hóa là ngày 12 tháng 10, hội còn tổ chức tế lễ, dâng hương, ngày hội đầu xuân thường được tổ chức từ ngày mồng 6 đến mồng 8 tháng Giêng hàng năm. Trong lễ hội đình Đá có tế lễ, nghi lễ rước kiệu, lễ tế thần nông và các cuộc thi vui như vật cầu, đua thuyền... Tiết mục múa lân múa rồng trong ngày hội đình Đá Trong nghi lễ tế thần nông, người chủ tế và các bồi tế sẽ cử hành các nghi thức như: dân hương, dâng rượu, đọc sớ tấu khấn cầu bình yên cho dân làng, cầu cho mùa màng tươi tốt. Sau đó sẽ đến phần rước hương án tế thần ra một khu ruộng ở gần đình đã được cày bừa từ trước khi mở hội. Đoàn người sẽ đi theo sau hương án tế thần, có người thì gánh vài bó mạ, vài cây lau, người cầm cành tre, người cầm con dao, bó hom dâu. Khi ra đến ruộng cấy lúa và bãi trồng dâu thì đoàn người cũng dừng lại, đặt hương án trên bờ ruộng, dân làng sẽ đứng vây quanh. Ông chủ tế và bồi tế là những người được dân làng tín nhiệm phân công thay mặt tất cả dân làng lội xuống ruộng và cấy vài hàng lúa, lên bãi trồng dâu trồng ít hom dâu để tượng trưng. Dân làng sẽ vây quanh hò reo, hoà chung với tiếng chiêng, tiếng trống bày tỏ niềm vui mừng, và chờ đón một vụ mùa bội thu sắp tới. Người dân trong làng còn té nước ở ruộng vào người gánh mạ, người cấy, người vác các hom dâu, người cắm cành tre, người cắm cây lau dưới ruộng. Mọi người cùng cầu cho mưa thuận gió hoà để cây lúa, cây dâu lên được phát triển tốt, khoẻ như cây lau, cứng như thân tre để chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt và cho mùa lúa, mùa dâu năng suất, cho dân làng có cuộc sống ấm no và hạnh phúc Cuộc đua thuyền trên sông Châu thường được tổ chức tại khu ngã ba sông ở phía đông của xã Tiên Phong (ngày nay là đập Quang Trung), đây chính là nơi tương truyền bà Nguyệt Nga đã tử tiết và cũng chính là nơi thuyền rồng xuất hiện để đón bà xuống thuỷ cung. Hội đua thuyền thường có hai chiếc thuyền lớn, đầu được làm như hình rồng, đuôi lại giống đuôi tôm. Mỗi thuyền được bố trí một người lái mặc áo đỏ, đầu chít khăn, tay cầm mõ, gõ theo nhịp chèo để động viên cả đội. Mũi thuyền có 2 phách cầm chèo ở hai bên để bắt nhịp cho các mái chèo, hai bên của mạn thuyền mỗi bên sẽ có 12 người chèo. Như vậy, mỗi thuyền bơi trong cuộc đua thuyền phải huy động tới 28 tay chèo, đều mặc áo quần và vấn khăn đồng bộ, những người tham gia cuộc đua phải tắm gội sạch sẽ, lên đình lễ thánh xong mới được tham dự đội thi. Đường bơi là một đoạn sông dài hơn 1km, có thể bơi 2 đến 3 vòng, thuyền của giáp nào về cán đích đầu tiên và giật được cành nêu thì là đội thắng cuộc. Giáp thắng cuộc sẽ nhận được giải thưởng, đồng thời vinh dự vì thắng lợi và sẽ được thánh phù hộ gặp nhiều may mắn. Lễ hội đình Đá tại Hà Nam Trò vật cầu thường được tổ chức với mục đích tưởng nhớ đến việc luyện quân của bà Nguyệt Nga. Theo truyền thuyết đã lưu truyền, bà Nguyệt Nga thường tổ chức trò chơi này để tăng thêm sức khỏe cho quân lính của mình. Đội vật cầu mang nhiều nét tương tự với hội vật cầu của làng Gừa ở Liêm Thuận, Thanh Liêm, nhưng cũng có vài nét khác là có riêng một hội vật cầu lão (dành riêng cho đàn ông trên 50 tuổi). Lễ này có tính chất hội đặc trưng của hội thi này đã làm nên không khí vui vẻ, sôi nổi, náo nhiệt cho ngày hội đầu xuân, thể hiện tinh thần thăng hoa.

Related Figures

Lễ hội nhảy lửa cầu may của người Pà Thẻn

Thông tin thời kỳ

Lễ hội nhảy lửa của dân tộc Pà Thẻn là một lễ hội độc đáo với nét huyền bí, hoang sơ của đồng bào này. Dân tộc Pà Thẻn đang sinh sống tại hai huyện Bắc Quang của tỉnh Hà Giang và huyện Chiêm Hoá của tỉnh Tuyên Quang. Cứ vào dịp đầu xuân hàng năm, người dân Pà Thẻn lại rồn ràng tổ chức lễ hội nhảy lửa với ý nghĩa mừng lúa mới và cầu cho một năm mới khoẻ mạnh, thịnh vượng. Lễ hội nhảy lửa được tổ chức vào khoảng thời gian từ 15/12 năm trước đến hết ngày 15 tháng Giêng âm lịch năm sau, thời điểm đã thu hoạch đồng áng xong. Thanh niên nam nhảy qua đóng lửa Lễ hội thường được tổ chức trên một khu đất rộng, bằng phẳng ở trong làng hay trước sân nhà thầy cúng. Trong lễ hội này, mỗi người tham gia lễ nhảy lửa đều mang củi của nhà mình tới góp vui. Bắt đầu lễ hội, thầy mo sẽ làm lễ cầu thần linh. Lễ vật cúng gồm 1 bát hương, đàn sắt, 10 chén rượu, con gà, tiền giấy. Một đống lửa lớn sẽ được đốt lên và thầy mo cũng bắt đầu hành lễ. Thời gian làm lễ thường kéo dài trong 1 đến 2 giờ đồng hồ trước khi diễn lễ hội nhảy lửa. Khi thầy mo gõ vào đàn và cử hành lễ cúng, từng thanh niên trong làng sẽ ngồi đối diện với thầy mo, đây cũng chính là lúc nhập đồng cho người tham gia hội nhảy lửa. Những động tác lắc lư của các thanh niên nam bắt đầu mạnh dần lên. Sau đó, họ bật lên và nhảy ra gần chỗ đống lửa. Trong giây phút xuất thần đó, tinh thần họ bỗng thăng hoa mạnh mẽ, cảm giác phi thường và biến ảo. Lễ hội nhảy lửa cầu may của người Pà Thẻn tại Hà Giang Trong khi các thanh niên đang nhảy lửa, thầy mo vẫn tiếp tục lễ cúng với tiếng nhạc đều đều đầy huyền bí hòa cùng với lời khấn lầm rầm. Đồng bào Pà Thẻn có quan niệm rằng, thời gian nhảy qua đống lửa của họ tuỳ thuộc vào sức mạnh mà họ được thần linh ban cho. Khi hết sức mạnh đó thì họ cũng bị đẩy ra khỏi đống lửa, lại trở về ngồi tiếp tục lễ và rồi lại lắc lư trong tiếng nhạc để chờ thần linh ban cho sức mạnh cho đợt nhảy tiếp theo. Cứ sau khảng 20 phút nhập thần, lại có một đợt nhảy qua đống lửa như vậy. Vũ điệu cùng lửa càng về phần sau lại càng trở nên hấp dẫn và sôi động hơn. Người xem hội cũng ngày càng bị cuốn hút vào những cú nhảy của các nghệ nhân, thậm chí chính bản thân họ cũng đã bị cuốn vào không khí linh thiêng của lễ hội. Trong đợt nhảy cuối cùng, thầy mo chính là linh hồn của buổi lễ cũng sẽ trổ tài nhảy qua lửa với bước nhảy mạnh mẽ và đầy oai phong. Những chiếc áo khoác đỏ và những chiếc mũ với nhiều màu sắc sặc sỡ hoà cùng bông hoa lửa to rực rỡ đã tạo thành một khung cảnh vừa lung linh vừa huyền bí Các cô gái và chàng trai Pà Thẻn giao lưu trong ngày hội nhảy lửa Hiện nay, tại các bản làng của đồng bào dân tộc Pà Thẻn, lễ hội nhảy lửa này vẫn được tổ chức thường xuyên vào dịp lễ Tết với nhiều nét nguyên sơ. Đây cũng chính là một trong những tâm điểm quan tâm của khách du lịch khi muốn đến Hà Giang khám phá văn hóa độc đáo của người Pà Thẻn nói riêng cũng như nét đẹp văn hóa và đời sống của các dân tộc miền núi phía Bắc.

Lễ hội nhảy lửa của dân tộc Pà Thẻn là một lễ hội độc đáo với nét huyền bí, hoang sơ của đồng bào này. Dân tộc Pà Thẻn đang sinh sống tại hai huyện Bắc Quang của tỉnh Hà Giang và huyện Chiêm Hoá của tỉnh Tuyên Quang. Cứ vào dịp đầu xuân hàng năm, người dân Pà Thẻn lại rồn ràng tổ chức lễ hội nhảy lửa với ý nghĩa mừng lúa mới và cầu cho một năm mới khoẻ mạnh, thịnh vượng. Lễ hội nhảy lửa được tổ chức vào khoảng thời gian từ 15/12 năm trước đến hết ngày 15 tháng Giêng âm lịch năm sau, thời điểm đã thu hoạch đồng áng xong.

Thanh niên nam nhảy qua đóng lửa

Lễ hội thường được tổ chức trên một khu đất rộng, bằng phẳng ở trong làng hay trước sân nhà thầy cúng. Trong lễ hội này, mỗi người tham gia lễ nhảy lửa đều mang củi của nhà mình tới góp vui. Bắt đầu lễ hội, thầy mo sẽ làm lễ cầu thần linh. Lễ vật cúng gồm 1 bát hương, đàn sắt, 10 chén rượu, con gà, tiền giấy. Một đống lửa lớn sẽ được đốt lên và thầy mo cũng bắt đầu hành lễ. Thời gian làm lễ thường kéo dài trong 1 đến 2 giờ đồng hồ trước khi diễn lễ hội nhảy lửa. Khi thầy mo gõ vào đàn và cử hành lễ cúng, từng thanh niên trong làng sẽ ngồi đối diện với thầy mo, đây cũng chính là lúc nhập đồng cho người tham gia hội nhảy lửa. Những động tác lắc lư của các thanh niên nam bắt đầu mạnh dần lên. Sau đó, họ bật lên và nhảy ra gần chỗ đống lửa. Trong giây phút xuất thần đó, tinh thần họ bỗng thăng hoa mạnh mẽ, cảm giác phi thường và biến ảo. Lễ hội nhảy lửa cầu may của người Pà Thẻn tại Hà Giang Trong khi các thanh niên đang nhảy lửa, thầy mo vẫn tiếp tục lễ cúng với tiếng nhạc đều đều đầy huyền bí hòa cùng với lời khấn lầm rầm. Đồng bào Pà Thẻn có quan niệm rằng, thời gian nhảy qua đống lửa của họ tuỳ thuộc vào sức mạnh mà họ được thần linh ban cho. Khi hết sức mạnh đó thì họ cũng bị đẩy ra khỏi đống lửa, lại trở về ngồi tiếp tục lễ và rồi lại lắc lư trong tiếng nhạc để chờ thần linh ban cho sức mạnh cho đợt nhảy tiếp theo.

Lễ hội nhảy lửa cầu may của người Pà Thẻn tại Hà Giang

Cứ sau khảng 20 phút nhập thần, lại có một đợt nhảy qua đống lửa như vậy. Vũ điệu cùng lửa càng về phần sau lại càng trở nên hấp dẫn và sôi động hơn. Người xem hội cũng ngày càng bị cuốn hút vào những cú nhảy của các nghệ nhân, thậm chí chính bản thân họ cũng đã bị cuốn vào không khí linh thiêng của lễ hội. Trong đợt nhảy cuối cùng, thầy mo chính là linh hồn của buổi lễ cũng sẽ trổ tài nhảy qua lửa với bước nhảy mạnh mẽ và đầy oai phong. Những chiếc áo khoác đỏ và những chiếc mũ với nhiều màu sắc sặc sỡ hoà cùng bông hoa lửa to rực rỡ đã tạo thành một khung cảnh vừa lung linh vừa huyền bí Các cô gái và chàng trai Pà Thẻn giao lưu trong ngày hội nhảy lửa Hiện nay, tại các bản làng của đồng bào dân tộc Pà Thẻn, lễ hội nhảy lửa này vẫn được tổ chức thường xuyên vào dịp lễ Tết với nhiều nét nguyên sơ. Đây cũng chính là một trong những tâm điểm quan tâm của khách du lịch khi muốn đến Hà Giang khám phá văn hóa độc đáo của người Pà Thẻn nói riêng cũng như nét đẹp văn hóa và đời sống của các dân tộc miền núi phía Bắc.

Related Figures

Lễ hội Gầu Tào của dân tộc Mông

Thông tin thời kỳ

Dân tộc Mông là một trong số 22 dân tộc anh em hiện đang sinh sống trên mảnh đất Hà Giang. Người Mông sống rải rác trên nhiều triền núi cao, đời sống vật chất của họ còn nhiều khó khăn, tyu nhiên đồng bào Mông lại có một đời sống tâm linh và tinh thần vô cùng phong phú, và độc đáo. Ngoài các ngày lễ tết thông thường và các nghi lễ truyền thống trong đời sống, người Mông còn có ngày "Hội Gầu Tào". Lễ hội Gầu Tào thường được tổ chức vào dịp mùa xuân hoặc những dịp người dân đã thu hoạch mùa xong. Hội Gầu Tào do một gia đình hoặc cả làng chủ trì và thường được tổ chức tại một bãi đất rộng ở trong làng, cũng có khi là một nương ngô đã thu hoạch xong. Lễ hội Gầu Tào của dân tộc Mông tại Hà Giang Trước ngày mở hội, Trưởng bản sẽ thông báo tới các hộ gia đình trong một tờ thông báo và thông báo đến các hộ gia đình ở các dân tộc khác đang sinh sống trong khu vực đến tham dự ngày hội cùng với dân bản. Từ sáng sớm ngày mở hội Gầu Tảo, tất cả người dân từ người già, người trẻ, thanh niên nam nữ, trẻ em trong bản đều mặc những bộ trang phục truyền thống mới nhất của mình, người con gái cầm theo cái ô, người con trai thì mang khèn, tất cả đến tập trung tại khu vực diễn ra lễ hội với các màn biểu diễn thi tài. Lễ hội Gầu Tào là nơi gặp gỡ giao duyên của nam nữ người Mông Hội Gầu Tào gồm 2 phần chính là phần lễ và phần hội. Phần lễ: Bắt đầu phần lễ là lễ dựng cây nêu mang ý nghĩa thông báo bản làng mở hội đồng thời để thể hiện sức sống mãnh liệt của làng bản người Mông trên vùng cao nguyên đá. Khi cây nêu đã được dựng xong: bản làng sẽ có dâng một mâm lễ đặc ở dưới cây nêu để chuẩn bị cho lễ cúng trời đất, thần linh và ông bà tổ tiên. Mâm lễ gồm: 1 thủ lợn, 1 đĩa xôi, 1 chai rượu, 4 cái bát con, 4 cái chén, 4 cái thìa, đây được xem là lễ vật dâng lên thần linh và đất trời để cầu vận may, sức mạnh. Con lợn có bốn chân là để tượng trưng cho bốn vị thần trời, đất, núi, sông. Vào lễ, gia chủ sẽ mâm lễ ở chân cây nêu và bắt đầu khấn tạ trời đất đã ban cho gia đình được toại nguyện. Phần hội: Sau khi phần lễ kết thúc sẽ đến phần hội. Phần hội diễn ra với nhiều trò chơi vui nhưng bổ ích và lý thú. Đó là cac trò chơi dân gian, như đấu võ, đánh yến, bắn nỏ... còn có các trò vui mang tính nghệ thuật như thổi sáo, múa khèn, hát đối đáp... Hội thi là nơi để các nam thanh nữ tú trổ tài và cũng chính dịp để họ gặp gỡ, tâm sự trao đổi tâm tình. Lễ hội Gầu Tào của dân tộc Mường ở Hà Giang là một lễ hội lớn, một nét sinh hoạt văn hoá độc đáo, đặc sắc với nhiều loại hình văn hoá nghệ thuật dân gian, hội Gầu Tào thực sự là một lễ hội hẫp dẫn. Từ dụng ý ban đầu là để người dân trong bản tạ ơn đấng sinh thành và chúc tụng cho con đàn cháu đống, pha chút màu sắc tôn giáo, Gầu Tào đã trở thành lễ hội giao duyên của thanh niên nam nữ dân tộc Mông. Người dân trong bản và đông đảo khách du lịch về Hà Giang xem hội Gầu Tào Lễ hội Gầu Tào ở tỉnh Hà Giang như là một phương tiện để người dân củng cố và phát triển các mối quan hệ giữa người với người, giữa các cộng đồng với nhau để làng bản càng thêm gắn bó, thắt chặt tình đoàn kết. Lễ hội này còn góp phần làm cho diện mạo đời sống văn hoá của người Mông càng thêm sinh động hơn, đa dạng hơn, và chính là nguồn lực để thúc đẩy tinh thần dân tộc Mông, cũng như tinh thần đoàn kết của các dân tộc đang sinh sống tại vùng cao nói chung./.

Dân tộc Mông là một trong số 22 dân tộc anh em hiện đang sinh sống trên mảnh đất Hà Giang. Người Mông sống rải rác trên nhiều triền núi cao, đời sống vật chất của họ còn nhiều khó khăn, tyu nhiên đồng bào Mông lại có một đời sống tâm linh và tinh thần vô cùng phong phú, và độc đáo. Ngoài các ngày lễ tết thông thường và các nghi lễ truyền thống trong đời sống, người Mông còn có ngày "Hội Gầu Tào". Lễ hội Gầu Tào thường được tổ chức vào dịp mùa xuân hoặc những dịp người dân đã thu hoạch mùa xong. Hội Gầu Tào do một gia đình hoặc cả làng chủ trì và thường được tổ chức tại một bãi đất rộng ở trong làng, cũng có khi là một nương ngô đã thu hoạch xong.

Lễ hội Gầu Tào của dân tộc Mông tại Hà Giang

Trước ngày mở hội, Trưởng bản sẽ thông báo tới các hộ gia đình trong một tờ thông báo và thông báo đến các hộ gia đình ở các dân tộc khác đang sinh sống trong khu vực đến tham dự ngày hội cùng với dân bản.

Từ sáng sớm ngày mở hội Gầu Tảo, tất cả người dân từ người già, người trẻ, thanh niên nam nữ, trẻ em trong bản đều mặc những bộ trang phục truyền thống mới nhất của mình, người con gái cầm theo cái ô, người con trai thì mang khèn, tất cả đến tập trung tại khu vực diễn ra lễ hội với các màn biểu diễn thi tài. Lễ hội Gầu Tào là nơi gặp gỡ giao duyên của nam nữ người Mông Hội Gầu Tào gồm 2 phần chính là phần lễ và phần hội. Phần lễ: Bắt đầu phần lễ là lễ dựng cây nêu mang ý nghĩa thông báo bản làng mở hội đồng thời để thể hiện sức sống mãnh liệt của làng bản người Mông trên vùng cao nguyên đá. Khi cây nêu đã được dựng xong: bản làng sẽ có dâng một mâm lễ đặc ở dưới cây nêu để chuẩn bị cho lễ cúng trời đất, thần linh và ông bà tổ tiên. Mâm lễ gồm: 1 thủ lợn, 1 đĩa xôi, 1 chai rượu, 4 cái bát con, 4 cái chén, 4 cái thìa, đây được xem là lễ vật dâng lên thần linh và đất trời để cầu vận may, sức mạnh. Con lợn có bốn chân là để tượng trưng cho bốn vị thần trời, đất, núi, sông. Vào lễ, gia chủ sẽ mâm lễ ở chân cây nêu và bắt đầu khấn tạ trời đất đã ban cho gia đình được toại nguyện. Phần hội: Sau khi phần lễ kết thúc sẽ đến phần hội. Phần hội diễn ra với nhiều trò chơi vui nhưng bổ ích và lý thú. Đó là cac trò chơi dân gian, như đấu võ, đánh yến, bắn nỏ... còn có các trò vui mang tính nghệ thuật như thổi sáo, múa khèn, hát đối đáp... Hội thi là nơi để các nam thanh nữ tú trổ tài và cũng chính dịp để họ gặp gỡ, tâm sự trao đổi tâm tình. Lễ hội Gầu Tào của dân tộc Mường ở Hà Giang là một lễ hội lớn, một nét sinh hoạt văn hoá độc đáo, đặc sắc với nhiều loại hình văn hoá nghệ thuật dân gian, hội Gầu Tào thực sự là một lễ hội hẫp dẫn. Từ dụng ý ban đầu là để người dân trong bản tạ ơn đấng sinh thành và chúc tụng cho con đàn cháu đống, pha chút màu sắc tôn giáo, Gầu Tào đã trở thành lễ hội giao duyên của thanh niên nam nữ dân tộc Mông. Người dân trong bản và đông đảo khách du lịch về Hà Giang xem hội Gầu Tào Lễ hội Gầu Tào ở tỉnh Hà Giang như là một phương tiện để người dân củng cố và phát triển các mối quan hệ giữa người với người, giữa các cộng đồng với nhau để làng bản càng thêm gắn bó, thắt chặt tình đoàn kết. Lễ hội này còn góp phần làm cho diện mạo đời sống văn hoá của người Mông càng thêm sinh động hơn, đa dạng hơn, và chính là nguồn lực để thúc đẩy tinh thần dân tộc Mông, cũng như tinh thần đoàn kết của các dân tộc đang sinh sống tại vùng cao nói chung./.

Related Figures

Lễ hội "Nhảy lửa" của người Dao đỏ

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 2/1- 5/1 Âm lịch Hàng năm, cứ cách dịp Tết Nguyên đán cả tháng trời, những người dân sinh ra ở xã Hồ Thầu thuộc huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang nói chung và người dân tộc Dao đỏ nói riêng đang sinh sống ở khắp mọi miền tổ quốc đều chuẩn bị trở về quê hương để hội tụ với gia đình của mình. Đặc biệt, người Dao đỏ ở Hà Giang còn về để rậm rịch chuẩn bị cho Lễ hội khai xuân được tổ chức vào khoảng thời gian từ mồng 2 đến mồng 5 tháng Giêng. Các ngày tổ chức lễ hội thường cố định trong các ngày từ mồng 2-5/01, nhưng ngày và giờ hành lễ lại còn tùy thuộc vào các già làng và trưởng họ xem xét và ấn định. Thầy cúng và dân làng trong lễ cúng Vào buổi sáng ngày đã được chọn, tất cả người dân trong xã đều kéo nhau về khu trung tâm của xã, thường thì người Dao đỏ sẽ mang theo nhiều thức ăn và đồ uống đã chuẩn bị cho ngày tết về dự lễ hội. Các già làng và các ông trưởng họ đã phối hợp với thanh niên trong xã để chuẩn bị những thứ cần thiết cho ngày lễ như đồ cúng, lương thực, thực phẩm và bánh trái để dành cho bữa ăn trưa. Đến giờ đẹp, giờ tốt mà già làng đã chọn, phần chính lễ sẽ được bắt đầu, những đồ lễ đều mang tính dân tộc, theo tập quán của người Dao đỏ lễ vật sẽ được bày ra một chiếc bàn dài, nơi được xem là chỗ trang trọng nhất, trước một bãi sân rộng. Chính giữa sân, một đống củi to sẽ được các thanh niên trong xã mang đến, xếp thật gọn gàng, như đống củi thường được đốt trong những đêm lửa trại. Ông chủ lễ cũng bắt đầu ngồi xuống ghế, ông bắt đầu đọc niên phụ lễ và bài cúng thần lửa với mong muốn câu cầu may, một cuộc sống yên bình, hạnh phúc, cầu mong cho một năm mưa thuận, gió hoà, muôn nhà đều được khoẻ mạnh. Tiếp theo, là nhân ngày đầu xuân năm mới chủ lễ mong cầu thần lửa sẽ mang hơi ấm về sưởi ấm cho dân làng, mong thần lửa về chung vui cùng người dân. Trong lúc chủ lễ đang cầu khấn, người phụ lễ sẽ dùng một cái gióng vầu tre đã được chuẩn bị sẵn từ trước, được chẻ đôi ra, cầm thật chặt vào nhau như chưa hề chẻ ra, sau đó gieo xuống bàn hoặc xuống đất. Hình thể tung vầu che của người Dao đỏ tương tự việc ông thầy cúng của người Kinh sẽ tung hai đồng tiền để "gieo quẻ xin âm dương", khi hai mảnh tre hoặc vầu đều ngửa, hoặc cả hai cùng sấp thì cũng có nghĩa là thần lửa đã đồng ý về tham dự hội cùng dân bản, còn một ngửa một sấp thì đều phải xin lại, đến lúc nào được thì thôi. Lễ hội "Nhảy lửa" của người Dao đỏ ở Hồ Thầu tại Hà Giang Khi buổi lễ bắt đầu cũng là lúc đống củi sẽ được đốt lên, đến lúc này, đống củi đã trở thành một đống lửa hồng cháy bùng lên. Những người muốn tham gia nhảy lửa đều đã ngồi "hầu lễ" từ lúc bắt đầu buổi lễ, họ lấy que tre và gõ liên tục vào các nửa ống vầu đã được chuẩn bị sẵn và ngồi cầu xin thần lửa cùng về vui và nhảy lửa cùng họ, chủ lễ lại một lần nữa "gieo quẻ xin âm dương", cho tới khi thần lửa đồng ý. Khi nhảy lửa, thường là từng đôi một nhảy, người nhảy lửa đều đi chân không trên đống than, họ nhảy qua họ lăn vòng trên đống than hồng khi lửa vẫn còn lem lém bốc cháy. Khi thần lửa đồng ý cho các đôi vào nhảy lửa thì các đôi khác sẽ tiếp tục vào "hầu lễ" để cầu xin được là người nhảy lửa tiếp theo, cứ đôi này , nối tiếp đôi kia cho tới khi đống than hồng tắt lịm ngay dưới những đôi chân trần đen nhẻm vì than. Cũng thật kỳ lạ là những người tham gia nhảy lửa chẳng có ai bị bỏng chân, tay hoặc bị cháy quần áo, trong mắt người nào cũng như say lờ đờ, ánh lửa hồng của ngày đầu mùa xuân như vẫn đang rực cháy trong lòng mỗi người dân. Trong hàng trăm đôi mắt của các cô gái người Dao đỏ lại đang rực cháy tình xuân, họ dõi theo các chàng trai chưa có vợ, đang tham hội nhảy lửa, và rồi họ tìm đến nhau giao lưu tâm tình, thầm thương trộm nhớ, để rồi nếu hợp duyên thì sẽ nên duyên vợ chồng. Mùa xuân năm sau, các cô gái lại địu con, theo chồng đến xem hội nhảy lửa. Chàng trai Dao đỏ chân không nhảy trên đống than vẫn còn lém lửa Lễ hội nhảy lửa của người Dao đỏ chỉ là một phần thuộc hệ thống các lễ hội khai xuân của dân tộc Dao đỏ Hồ Thầu, bên cạnh đó là các lễ hội như đẩy gậy, lễ hội "hát mừng xuân".

Hàng năm, cứ cách dịp Tết Nguyên đán cả tháng trời, những người dân sinh ra ở xã Hồ Thầu thuộc huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang nói chung và người dân tộc Dao đỏ nói riêng đang sinh sống ở khắp mọi miền tổ quốc đều chuẩn bị trở về quê hương để hội tụ với gia đình của mình. Đặc biệt, người Dao đỏ ở Hà Giang còn về để rậm rịch chuẩn bị cho Lễ hội khai xuân được tổ chức vào khoảng thời gian từ mồng 2 đến mồng 5 tháng Giêng. Các ngày tổ chức lễ hội thường cố định trong các ngày từ mồng 2-5/01, nhưng ngày và giờ hành lễ lại còn tùy thuộc vào các già làng và trưởng họ xem xét và ấn định.

Thầy cúng và dân làng trong lễ cúng

Vào buổi sáng ngày đã được chọn, tất cả người dân trong xã đều kéo nhau về khu trung tâm của xã, thường thì người Dao đỏ sẽ mang theo nhiều thức ăn và đồ uống đã chuẩn bị cho ngày tết về dự lễ hội. Các già làng và các ông trưởng họ đã phối hợp với thanh niên trong xã để chuẩn bị những thứ cần thiết cho ngày lễ như đồ cúng, lương thực, thực phẩm và bánh trái để dành cho bữa ăn trưa.

Đến giờ đẹp, giờ tốt mà già làng đã chọn, phần chính lễ sẽ được bắt đầu, những đồ lễ đều mang tính dân tộc, theo tập quán của người Dao đỏ lễ vật sẽ được bày ra một chiếc bàn dài, nơi được xem là chỗ trang trọng nhất, trước một bãi sân rộng. Chính giữa sân, một đống củi to sẽ được các thanh niên trong xã mang đến, xếp thật gọn gàng, như đống củi thường được đốt trong những đêm lửa trại. Ông chủ lễ cũng bắt đầu ngồi xuống ghế, ông bắt đầu đọc niên phụ lễ và bài cúng thần lửa với mong muốn câu cầu may, một cuộc sống yên bình, hạnh phúc, cầu mong cho một năm mưa thuận, gió hoà, muôn nhà đều được khoẻ mạnh. Tiếp theo, là nhân ngày đầu xuân năm mới chủ lễ mong cầu thần lửa sẽ mang hơi ấm về sưởi ấm cho dân làng, mong thần lửa về chung vui cùng người dân. Trong lúc chủ lễ đang cầu khấn, người phụ lễ sẽ dùng một cái gióng vầu tre đã được chuẩn bị sẵn từ trước, được chẻ đôi ra, cầm thật chặt vào nhau như chưa hề chẻ ra, sau đó gieo xuống bàn hoặc xuống đất. Hình thể tung vầu che của người Dao đỏ tương tự việc ông thầy cúng của người Kinh sẽ tung hai đồng tiền để "gieo quẻ xin âm dương", khi hai mảnh tre hoặc vầu đều ngửa, hoặc cả hai cùng sấp thì cũng có nghĩa là thần lửa đã đồng ý về tham dự hội cùng dân bản, còn một ngửa một sấp thì đều phải xin lại, đến lúc nào được thì thôi. Lễ hội "Nhảy lửa" của người Dao đỏ ở Hồ Thầu tại Hà Giang Khi buổi lễ bắt đầu cũng là lúc đống củi sẽ được đốt lên, đến lúc này, đống củi đã trở thành một đống lửa hồng cháy bùng lên. Những người muốn tham gia nhảy lửa đều đã ngồi "hầu lễ" từ lúc bắt đầu buổi lễ, họ lấy que tre và gõ liên tục vào các nửa ống vầu đã được chuẩn bị sẵn và ngồi cầu xin thần lửa cùng về vui và nhảy lửa cùng họ, chủ lễ lại một lần nữa "gieo quẻ xin âm dương", cho tới khi thần lửa đồng ý. Khi nhảy lửa, thường là từng đôi một nhảy, người nhảy lửa đều đi chân không trên đống than, họ nhảy qua họ lăn vòng trên đống than hồng khi lửa vẫn còn lem lém bốc cháy. Khi thần lửa đồng ý cho các đôi vào nhảy lửa thì các đôi khác sẽ tiếp tục vào "hầu lễ" để cầu xin được là người nhảy lửa tiếp theo, cứ đôi này , nối tiếp đôi kia cho tới khi đống than hồng tắt lịm ngay dưới những đôi chân trần đen nhẻm vì than. Cũng thật kỳ lạ là những người tham gia nhảy lửa chẳng có ai bị bỏng chân, tay hoặc bị cháy quần áo, trong mắt người nào cũng như say lờ đờ, ánh lửa hồng của ngày đầu mùa xuân như vẫn đang rực cháy trong lòng mỗi người dân. Trong hàng trăm đôi mắt của các cô gái người Dao đỏ lại đang rực cháy tình xuân, họ dõi theo các chàng trai chưa có vợ, đang tham hội nhảy lửa, và rồi họ tìm đến nhau giao lưu tâm tình, thầm thương trộm nhớ, để rồi nếu hợp duyên thì sẽ nên duyên vợ chồng. Mùa xuân năm sau, các cô gái lại địu con, theo chồng đến xem hội nhảy lửa. Chàng trai Dao đỏ chân không nhảy trên đống than vẫn còn lém lửa Lễ hội nhảy lửa của người Dao đỏ chỉ là một phần thuộc hệ thống các lễ hội khai xuân của dân tộc Dao đỏ Hồ Thầu, bên cạnh đó là các lễ hội như đẩy gậy, lễ hội "hát mừng xuân".

Related Figures

Lễ cúng thần rừng của người Pu péo

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 6/6 Âm lịch Người Pu Péo là một tộc người chỉ sinh sống ở tỉnh Hà Giang, thường sống tập trung tại xã Phố Là thuộc huyện Đồng Văn. Mặc dù dân số không đông nhưng người Pu Péo lại có bản sắc dân tộc khá đa dạng, họ đã bảo lưu được rất nhiều văn hóa truyền thống tốt đẹp. Hàng năm, ngoài các ngày tết Nguyên Đán, Lễ cúng rừng cũng là một ngày lễ rất quan trọng đối với người Pu Péo. Cứ đến ngày mồng 6 tháng 6 âm lịch hàng năm, người Pu Péo dù đi đâu, làm gì cũng đều về quê hương xum họp với gia đình và bản làng trong ngày cúng thần rừng. Buổi lễ cũng thần rừng thường diễn ra ở một khu rừng cấm - rừng thiêng ở đầu bản, ông thầy cúng sẽ thay mặt bà con trong bản kính cẩn úp mặt vào một thân cây lớn trong rừng, sau đó ông quỳ lạy 4 phương trời, 8 phương đất 2 hồi, mỗi hồi 3 lần để cầu mong thần rừng, thần nước sẽ che chở cho dân của bản làng. Người Pu Péo có quan niệm rằng, giữ rừng chính là giữ lấy nguồn nước, cầu thần nước chính là cầu thần rừng!? Chính vì vậy, vào ngày Tết, trai gái ở bản Pu Péo sẽ cùng nhau ra suối gánh nước vàng, nước bạc về nhà để lấy may. Lễ cúng thần rừng của người Pu péo tại Hà Giang Đồ lễ cúng sẽ được bày biện trên các cái nong hay lá chuối rừng, bàn thờ thường được dựng từ những cây trúc màu xanh, cao khoảng 2 mét, hướng mặt về phía đỉnh núi cao. Những vuông cơm tẻ được giã nhuyễn, nặn thành hình bánh, xắt khúc và được bày biện rất cẩn thận trong các nong tròn. Nhiều miếng cơm sẽ được xếp thành hàng thành rất ngay ngắn trên lá chuối tươi, (mỗi nắm cơm là để tượng trưng cho một vị thần, người Pu Péo có tín ngưỡng đa thần, thần Trời, Rừng, Đất, Suối, Gió…) Trên mỗi nắm cơm còn có một mẩu trứng gà luộc (quả trứng gà luộc xong phải bóc vỏ và xắt ra thành miếng). Dưới chân bàn thờ được làm bằng cây trúc tươi, lót lá chuối đang còn tươi xanh có buộc hai con gà vẫn đang còn sống, mỗi con gà được buộc bằng một cái dây, dây được cắm vào một cái cọc. Xung quanh sẽ đặt bình rượu và vài cái chén. Ở gần bàn thờ còn có một cái cọc khác, một con dê được buộc vào cái cọc này, dê vẫn còn sống và thường là dê có lông màu đen. Lễ cúng kéo thường dài trong vài tiếng đồng hồ, thầy cúng tay cầm một cành trúc tươi, vẫn còn lá, khua đi khua lại xung quanh trong suốt thời gian hành lễ. Có lúc ông lại cầm một quả bẩu khô. Bài cúng như lòng thành kính của người dân Pu Péo đối với thần Rừng, Trời, Đất... và cũng là lời mời các vị thần về chứng kiến lễ cúng, hưởng lễ vật thịt gà, thịt dê và che chở cho dân làng, cho họ khoẻ mạnh, mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu. Cầu cho rừng ngày càng xanh tốt để chở che cho con người. Bà con trong thôn cũng xin thề trước thần Rừng rằng, sẽ gìn giữ rừng thật tốt, ai săn bắn hoặc chặt cây trong rừng là vi phạm với lời hứa và sẽ bị thần Rừng trừng phạt. Rừng được tốt tươi, đất trời giao hoà, bảo hộ cho đời sống của nhân dân Củng Chá. Mưa không gây lũ, nắng không gây hạn, gió bão sấm sét không gây chết người. Người Pu péo đang hành lễ trước các vị thần Lễ cúng được chia làm 3 giai đoạn, đoạn đầu có con gà và con dê cái vẫn còn sống nguyên; đoạn hai, hai con vật này đã bị đám thanh niên cắt tiết; và cuối cùng là phần liên hoan để kết thúc buổi lễ, mọi người sẽ cùng ăn cùng uống tại địa điểm diễn ra lễ cúng. Những gia đình nào không tham dự, đều được chia phần, khắc có người mang phần về tận nhà. Những người có mặt trong buổi liên hoan thì phải ăn hết thịt, uống hết rượu ngay trên bãi cỏ xanh ở bìa rừng để cầu may mắn. Cuộc đời của người Pu Péo đã biết bao thế hệ đều gắn bó với rừng. Bà con nơi đây có quan niệm rất rõ, họ chỉ cúng tổ tiên 5 đời về sau của nhà mình, còn tổ tiên trước 5 đời đó thì các vị ấy thường ở trong Rừng, ngụ trong các gốc cây đa to. Chính vì vậy, tín ngưỡng thờ giữ rừng, cúng thầnrừng, với người Pu Péo đó cũng chính là cúng tổ tiên của ho. Trong vòng 1 ngày, với không khí tưng bừng và đoàn kết của ngày hội người dân của các dân tộc trong xã, phần lễ đã diễn ra một cách nghiêm túc, đảm bảo được những điều cơ Ngoài ra, lễ cúng Thần rừng của người Pu péo còn có chương trình hát đối đáp, múa hát các làn điệu dân ca cổ truyền, giao duyên...

Người Pu Péo là một tộc người chỉ sinh sống ở tỉnh Hà Giang, thường sống tập trung tại xã Phố Là thuộc huyện Đồng Văn. Mặc dù dân số không đông nhưng người Pu Péo lại có bản sắc dân tộc khá đa dạng, họ đã bảo lưu được rất nhiều văn hóa truyền thống tốt đẹp. Hàng năm, ngoài các ngày tết Nguyên Đán, Lễ cúng rừng cũng là một ngày lễ rất quan trọng đối với người Pu Péo. Cứ đến ngày mồng 6 tháng 6 âm lịch hàng năm, người Pu Péo dù đi đâu, làm gì cũng đều về quê hương xum họp với gia đình và bản làng trong ngày cúng thần rừng.

Buổi lễ cũng thần rừng thường diễn ra ở một khu rừng cấm - rừng thiêng ở đầu bản, ông thầy cúng sẽ thay mặt bà con trong bản kính cẩn úp mặt vào một thân cây lớn trong rừng, sau đó ông quỳ lạy 4 phương trời, 8 phương đất 2 hồi, mỗi hồi 3 lần để cầu mong thần rừng, thần nước sẽ che chở cho dân của bản làng. Người Pu Péo có quan niệm rằng, giữ rừng chính là giữ lấy nguồn nước, cầu thần nước chính là cầu thần rừng!? Chính vì vậy, vào ngày Tết, trai gái ở bản Pu Péo sẽ cùng nhau ra suối gánh nước vàng, nước bạc về nhà để lấy may. Lễ cúng thần rừng của người Pu péo tại Hà Giang Đồ lễ cúng sẽ được bày biện trên các cái nong hay lá chuối rừng, bàn thờ thường được dựng từ những cây trúc màu xanh, cao khoảng 2 mét, hướng mặt về phía đỉnh núi cao. Những vuông cơm tẻ được giã nhuyễn, nặn thành hình bánh, xắt khúc và được bày biện rất cẩn thận trong các nong tròn. Nhiều miếng cơm sẽ được xếp thành hàng thành rất ngay ngắn trên lá chuối tươi, (mỗi nắm cơm là để tượng trưng cho một vị thần, người Pu Péo có tín ngưỡng đa thần, thần Trời, Rừng, Đất, Suối, Gió…) Trên mỗi nắm cơm còn có một mẩu trứng gà luộc (quả trứng gà luộc xong phải bóc vỏ và xắt ra thành miếng). Dưới chân bàn thờ được làm bằng cây trúc tươi, lót lá chuối đang còn tươi xanh có buộc hai con gà vẫn đang còn sống, mỗi con gà được buộc bằng một cái dây, dây được cắm vào một cái cọc. Xung quanh sẽ đặt bình rượu và vài cái chén. Ở gần bàn thờ còn có một cái cọc khác, một con dê được buộc vào cái cọc này, dê vẫn còn sống và thường là dê có lông màu đen. Lễ cúng kéo thường dài trong vài tiếng đồng hồ, thầy cúng tay cầm một cành trúc tươi, vẫn còn lá, khua đi khua lại xung quanh trong suốt thời gian hành lễ. Có lúc ông lại cầm một quả bẩu khô. Bài cúng như lòng thành kính của người dân Pu Péo đối với thần Rừng, Trời, Đất... và cũng là lời mời các vị thần về chứng kiến lễ cúng, hưởng lễ vật thịt gà, thịt dê và che chở cho dân làng, cho họ khoẻ mạnh, mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu. Cầu cho rừng ngày càng xanh tốt để chở che cho con người. Bà con trong thôn cũng xin thề trước thần Rừng rằng, sẽ gìn giữ rừng thật tốt, ai săn bắn hoặc chặt cây trong rừng là vi phạm với lời hứa và sẽ bị thần Rừng trừng phạt. Rừng được tốt tươi, đất trời giao hoà, bảo hộ cho đời sống của nhân dân Củng Chá. Mưa không gây lũ, nắng không gây hạn, gió bão sấm sét không gây chết người. Người Pu péo đang hành lễ trước các vị thần Lễ cúng được chia làm 3 giai đoạn, đoạn đầu có con gà và con dê cái vẫn còn sống nguyên; đoạn hai, hai con vật này đã bị đám thanh niên cắt tiết; và cuối cùng là phần liên hoan để kết thúc buổi lễ, mọi người sẽ cùng ăn cùng uống tại địa điểm diễn ra lễ cúng. Những gia đình nào không tham dự, đều được chia phần, khắc có người mang phần về tận nhà. Những người có mặt trong buổi liên hoan thì phải ăn hết thịt, uống hết rượu ngay trên bãi cỏ xanh ở bìa rừng để cầu may mắn. Cuộc đời của người Pu Péo đã biết bao thế hệ đều gắn bó với rừng. Bà con nơi đây có quan niệm rất rõ, họ chỉ cúng tổ tiên 5 đời về sau của nhà mình, còn tổ tiên trước 5 đời đó thì các vị ấy thường ở trong Rừng, ngụ trong các gốc cây đa to. Chính vì vậy, tín ngưỡng thờ giữ rừng, cúng thầnrừng, với người Pu Péo đó cũng chính là cúng tổ tiên của ho. Trong vòng 1 ngày, với không khí tưng bừng và đoàn kết của ngày hội người dân của các dân tộc trong xã, phần lễ đã diễn ra một cách nghiêm túc, đảm bảo được những điều cơ Ngoài ra, lễ cúng Thần rừng của người Pu péo còn có chương trình hát đối đáp, múa hát các làn điệu dân ca cổ truyền, giao duyên...

Related Figures

Lễ hội cầu mưa của người Lô Lô

Thông tin thời kỳ

Lễ hội cầu mưa của đồng bào dân tộc Lô Lô ở Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang thường diễn ra vào các ngày 15, 17 hoặc 19 tháng 3 âm lịch. Với nhiều nghi thức đặc sắc, đa dạng, lễ cầu mưa của người Lô Lô đã được lưu truyền từ biết bao nhiêu đời nay, đến nay lễ hội này không chỉ là một sự kiện mang tính tín ngưỡng của riêng người Lô Lô, mà còn là dịp để người dân ở các nơi xung quanh và nhiều du khách trong nước đến giao lưu gặp gỡ, bàn chuyện làm giàu, cầu may, hay bày tỏ lòng thành kính đối với trời đất, trai gái gặp gỡ giao duyên... Lễ cầu mưa không thể làm một cách tùy tiện, không phải năm nào cũng được làm lễ, mà chỉ tổ chức lễ hội vào những năm thời tiết khô hạn, người dân Lô Lô mới tập trung lại và mời người làm lễ ( thường là trưởng xóm hoặc người đàn ông cao tuổi có uy tín trong khu vực). Người phụ nữ Lô Lô với nụ cười rạng rỡ đang sửa sang y phục cho nhau để tham gia lễ hội Trước kia, vào mỗi dịp lễ hội thì những nhà giàu trong bản sẽ chịu trách nhiệm đóng góp chi phí cho buổi lễ. Nhưng hiện nay, muốn cầu mưa xuống để cây cối được tốt tươi, để có nước mà gieo trồng, thì mỗi nhà đều phải lo gom góp một lễ vật để mang tới nhà thầy cúng hoặc nhà của trưởng bản, người thì góp con gà, người góp con chó, người thì góp gạo, chai rượu ... Để cho lễ cầu mưa được diễn ra thành công, không thể thiếu thủ tục làm lễ xin ý kiến các thầy cúng tiền bối trong bản (nếu các thầy cúng tiền bối mà không đồng ý, thì có làm lễ cầu khấn to đến mấy cũng không có mưa). Thủ tục xin ý kiến các thầy cúng tiền bối khá đơn giản, gồm có một chén nước, bó hương và giấy trúc (một loại giấy thường dùng trong việc cúng tế của dâ tộc Lô Lô, nhìn thì giống như giấy bản). Trước hết thầy cúng sẽ thắp hương trên bàn thờ gia tiên, sau đó sẽ đặt giấy trúc, chén nước xuống một góc nhà rồi khấn xin. Sau đó, ông sẽ bọc tờ giấy trúc đó lên chén nước, nếu nước trong chén không bị đổ hoặc thấm ra ngoài thì xem như việc xin phép đã linh nghiệm và lễ cầu mưa cũng xem như thành công. Cuối cùng, thầy cúng sẽ đốt tờ giấy trúc, và hoàn tất thủ tục. Nơi tổ chức lễ cầu mưa thường là một khu đất rộng, cao, gần nương rẫy. Đồ tế lễ có chó, gà, rượu ngô, một thanh kiếm (có thể bằng gỗ hoặc sắt ), 1 bát nước, 4 chén rượu, 4 ống hương bằng tre để tượng trưng cho 4 phương trời. Lễ hội cầu mưa của người Lô Lô tại Hà Giang Các thiếu nữ trong xóm chuẩn bị trang điểm, mặc những bộ trang phục truyền thống của dân tộc mình, và các loại nhạc cụ cần thiết để vào lễ. Các trai bản sẽ đảm nhiệm việc làm lễ vật dâng cúng. Loại nhạc cụ không thể thiếu trong bất cứ buổi lễ cầu mưa nào của người Lô Lô chính là trống đồng và cây nhị. Phần lễ : Trưởng xóm hoặc một người cao tuổi có uy tín nào đó trong khu vực, phải thông thạo đầy đủ các nghi thức sẽ thực hiện lễ cầu mưa. Là người chịu trách nhiệm cử hành phần lễ, những nghi lễ được tiến hành cùng với chứng kiến của dân xóm. Những nghi thức cúng này thường được tiến hành 2 lần. Những lễ vật sống được dâng cúng như chó và gà sẽ được đưa đến nơi hành lễ, buộc chúng quanh bàn lễ và người tế lễ bắt đầu khấn cầu xin phép được dâng lễ. Tiếp theo, các trai tráng trong xóm sẽ mang chó, gà đi làm thịt, rồi lại dâng lên cúng lần nữa. Bài khấn đọc bằng tiếng Lô Lô, cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, làng bản ấm no. Bài khấn thường dài và thanh âm lúc trầm lúc bổng như một bài văn tế, người khấn đọc như hát văn. Sau khi làm lễ khấn xong, người làm lễ sẽ đốt giấy bản tại 4 góc bàn rồi vẩy rượu ra 4 phương với ý nghĩa để tạ ơn trời đất. Thầy cúng và người dân Lô Lô đang cúng tế thần Phần hội : Sau khi lễ cúng kết thúc, dân bản sẽ quây quần lại với nhau để uống rượu, ăn thịt, múa hát chung quanh bàn lễ. Các cô gái trẻ xinh đẹp sẽ nhảy múa trong bộ trang phục truyền thống có thêu hoa văn với nhiều màu sắc rực rỡ, cô gái vừa nhảy múa vừa kéo cây nhị. Lễ hội cầu mưa của dân tộc Lô Lô đã thể hiện những nét tinh túy trong đời sống văn hóa cũng như tinh thần, tín ngưỡng của họ. Người Lô Lô có niềm tin rằng, sau khi làm lễ cúng cầu mưa xong chỉ trong vòng từ 3 đến 9 ngày sẽ có mưa.

Lễ hội cầu mưa của đồng bào dân tộc Lô Lô ở Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang thường diễn ra vào các ngày 15, 17 hoặc 19 tháng 3 âm lịch. Với nhiều nghi thức đặc sắc, đa dạng, lễ cầu mưa của người Lô Lô đã được lưu truyền từ biết bao nhiêu đời nay, đến nay lễ hội này không chỉ là một sự kiện mang tính tín ngưỡng của riêng người Lô Lô, mà còn là dịp để người dân ở các nơi xung quanh và nhiều du khách trong nước đến giao lưu gặp gỡ, bàn chuyện làm giàu, cầu may, hay bày tỏ lòng thành kính đối với trời đất, trai gái gặp gỡ giao duyên...

Lễ cầu mưa không thể làm một cách tùy tiện, không phải năm nào cũng được làm lễ, mà chỉ tổ chức lễ hội vào những năm thời tiết khô hạn, người dân Lô Lô mới tập trung lại và mời người làm lễ ( thường là trưởng xóm hoặc người đàn ông cao tuổi có uy tín trong khu vực). Người phụ nữ Lô Lô với nụ cười rạng rỡ đang sửa sang y phục cho nhau để tham gia lễ hội Trước kia, vào mỗi dịp lễ hội thì những nhà giàu trong bản sẽ chịu trách nhiệm đóng góp chi phí cho buổi lễ. Nhưng hiện nay, muốn cầu mưa xuống để cây cối được tốt tươi, để có nước mà gieo trồng, thì mỗi nhà đều phải lo gom góp một lễ vật để mang tới nhà thầy cúng hoặc nhà của trưởng bản, người thì góp con gà, người góp con chó, người thì góp gạo, chai rượu ... Để cho lễ cầu mưa được diễn ra thành công, không thể thiếu thủ tục làm lễ xin ý kiến các thầy cúng tiền bối trong bản (nếu các thầy cúng tiền bối mà không đồng ý, thì có làm lễ cầu khấn to đến mấy cũng không có mưa). Thủ tục xin ý kiến các thầy cúng tiền bối khá đơn giản, gồm có một chén nước, bó hương và giấy trúc (một loại giấy thường dùng trong việc cúng tế của dâ tộc Lô Lô, nhìn thì giống như giấy bản). Trước hết thầy cúng sẽ thắp hương trên bàn thờ gia tiên, sau đó sẽ đặt giấy trúc, chén nước xuống một góc nhà rồi khấn xin. Sau đó, ông sẽ bọc tờ giấy trúc đó lên chén nước, nếu nước trong chén không bị đổ hoặc thấm ra ngoài thì xem như việc xin phép đã linh nghiệm và lễ cầu mưa cũng xem như thành công. Cuối cùng, thầy cúng sẽ đốt tờ giấy trúc, và hoàn tất thủ tục. Nơi tổ chức lễ cầu mưa thường là một khu đất rộng, cao, gần nương rẫy. Đồ tế lễ có chó, gà, rượu ngô, một thanh kiếm (có thể bằng gỗ hoặc sắt ), 1 bát nước, 4 chén rượu, 4 ống hương bằng tre để tượng trưng cho 4 phương trời. Lễ hội cầu mưa của người Lô Lô tại Hà Giang Các thiếu nữ trong xóm chuẩn bị trang điểm, mặc những bộ trang phục truyền thống của dân tộc mình, và các loại nhạc cụ cần thiết để vào lễ. Các trai bản sẽ đảm nhiệm việc làm lễ vật dâng cúng. Loại nhạc cụ không thể thiếu trong bất cứ buổi lễ cầu mưa nào của người Lô Lô chính là trống đồng và cây nhị. Phần lễ : Trưởng xóm hoặc một người cao tuổi có uy tín nào đó trong khu vực, phải thông thạo đầy đủ các nghi thức sẽ thực hiện lễ cầu mưa. Là người chịu trách nhiệm cử hành phần lễ, những nghi lễ được tiến hành cùng với chứng kiến của dân xóm. Những nghi thức cúng này thường được tiến hành 2 lần. Những lễ vật sống được dâng cúng như chó và gà sẽ được đưa đến nơi hành lễ, buộc chúng quanh bàn lễ và người tế lễ bắt đầu khấn cầu xin phép được dâng lễ. Tiếp theo, các trai tráng trong xóm sẽ mang chó, gà đi làm thịt, rồi lại dâng lên cúng lần nữa. Bài khấn đọc bằng tiếng Lô Lô, cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, làng bản ấm no. Bài khấn thường dài và thanh âm lúc trầm lúc bổng như một bài văn tế, người khấn đọc như hát văn. Sau khi làm lễ khấn xong, người làm lễ sẽ đốt giấy bản tại 4 góc bàn rồi vẩy rượu ra 4 phương với ý nghĩa để tạ ơn trời đất. Thầy cúng và người dân Lô Lô đang cúng tế thần Phần hội : Sau khi lễ cúng kết thúc, dân bản sẽ quây quần lại với nhau để uống rượu, ăn thịt, múa hát chung quanh bàn lễ. Các cô gái trẻ xinh đẹp sẽ nhảy múa trong bộ trang phục truyền thống có thêu hoa văn với nhiều màu sắc rực rỡ, cô gái vừa nhảy múa vừa kéo cây nhị. Lễ hội cầu mưa của dân tộc Lô Lô đã thể hiện những nét tinh túy trong đời sống văn hóa cũng như tinh thần, tín ngưỡng của họ. Người Lô Lô có niềm tin rằng, sau khi làm lễ cúng cầu mưa xong chỉ trong vòng từ 3 đến 9 ngày sẽ có mưa.

Related Figures

Lễ cơm mới của người Gia - Rai

Thông tin thời kỳ

(lehoi.info) - Cứ mỗi dịp tháng 8, tháng 9 hàng năm cũng chính là thời điểm bắt đầu mùa khô, là thời điểm lúa trên rẫy cũng đang bắt đầu chín, báo hiệu cho vụ thu hoạch đã đến và cũng chính là lúc buôn làng Gia - Rai làm Lễ Cơm Mới, để cầu mong cho ruộng nương được tươi tốt và nhiều thóc hơn nữa. Dân làng Gia-Rai Lễ cơm mới là để tỏ lòng biết ơn Yàng (Trời) đã cho mưa thuận gió hoà, ngăn dịch bệnh, muông thú phá hoại cây lúa và cầu xin Yàng giúp cho mùa lúa năm sau tươi tốt hơn. Đàn ông đồng bào Gia-Rai ngồi quây quần bên chum rượu cần Để có cơm mới cúng Yàng, người Gia-Rai phải chuẩn bị từ ngay khi mới bắt đầu gieo hạt. Từ lúc mới làm rẫy, chủ nhà phải chọn ra một vạt đất nhỏ, màu mỡ, bằng phẳng để gieo lúa. Vạt đất này được gọi là “đất thiêng”, ngoài người chủ gia đình ra thì không ai được bước chân đến, kể cả khi thấy có muông thú đến phá hoại cũng chỉ được đứng ở đằng xa mà xua đuổi chứ không được tiến lại gần. Giống lúa được gieo ở vạt “đất thiêng” thường phải chọn giống tốt nhất, gạo ngon và cơm phải dẻo thơm nhất. Gieo hạt xong người ta phải chăm sóc rất chu đáo để cây lúa phát triển được tốt nhất. Khi lúa vừa chín tới, chủ nhà sẽ chọn một chiếc gùi mới và đẹp do chính tay mình đan để thu hoạch lúa. Lúc tuốt lúa thì chỉ được dùng tay, không được sử dụng bất cứ dụng cự nào khác. Người Gia-Rai có quan niệm rằng làm như vậy mới thể hiện được lòng thành kính với Yàng. Lúa sau khi thu hoạch về phải phơi cho thật khô, sẩy cũng phải sạch. Lúc giã gạo thì không được giã kỹ quá để không làm mất đi lớp vỏ lụa bên ngoài của hạt gạo để khi nấu xong cơm sẽ có mùi thơm nức. Kể từ khi lúa được tuốt xong cho đến các khâu chế biến khác để cuối cùng thành cơm cúng, thì lúa phải được cất ở nơi cao ráo, sạch sẽ, nếu không sẽ bị coi là mất đi sự linh thiêng. Lễ vật để cúng ngoài cơm ra còn có rượu cần, heo, gà, thịt thú rừng và trong lễ mừng cơm mới người Gia-rai còn tổ chức lễ hiến trâu. Chuẩn bị xong các lễ vật cần thiết, già làng là người chủ lễ sẽ bắt đầu cử hành lễ cúng. Già làng lấy máu của con vật hiến tế và bôi lên kho lúa, miệng của vò rượu và cần hút rượu, đồng thời dùng rượu cần đổ ra rẫy, rồi đổ lên kho lúa với quan niệm rằng để cho rẫy và kho lúa được chia vui với gia đình. Tiếp theo đó chủ lễ sẽ quỳ xuống và dâng bát cơm hoặc một nắm cơm mới lên đến ngang ngực, mắt hướng lên trên trời, mời chủ nhà ra để nhận lễ rồi độc lời cầu khấn. Lời khấn Yàng của đồng bào Gia-rai như sau: “Ơ... ơ Giàng! Giàng Lúa, Giàng Núi, Giàng Nước... Cảm ơn Giàng đã cho cây lúa già, hạt lúa nhiều, hạt lúa chắc... Giàng hãy bảo con chuột, con chim... không được cắn lúa. Giàng hãy bảo hồn lúa đừng sợ. Giàng hãy bảo hồn lúa về với gia đình...”. Phụ nữ Gia-Rai đang múa điệu múa truyền thống của dân tộc mình Cúng xong, các thành viên trong gia đình mỗi người cầm một cành lá nhỏ nhúng vào một bát đựng rượu rồi đi vẩy lên vạt rẫy, lên người nhau, lên giàn chuông, kho lúa, bếp lửa, cầu thang... với ý nghĩa tượng trưng cho lời chúc sức khoẻ và cùng hưởng lộc Yàng cho. Lúc bấy giờ các vò rượu cần đã được xếp thành hàng rất ngay ngắn, người già sẽ uống trước, người trẻ tuống sau và cứ thế cho đến khi cuộc vui kết thúc. Theo nhịp cồng chiêng vang lên, người ta sẽ nối đuôi nhau và múa theo vòng tròn ngược chiều kim đồng hồ. Lễ cơm mới còn được gọi là lễ ăn cốm mới được tổ chức trong nhiều ngày, không chỉ tổ chức trong gia đình mà còn là lễ hội của tất cả người dân trong buôn làng, không chỉ thu hút người dân trong một buôn làng mà còn thu hút cả người dân của cộng đồng lân cận. Trong lễ hội mừng cơm mới của người Gia -Rai, phần lễ và phần hội xen kẽ nhau đã đáp ứng nhu cầu cả về tâm linh lẫn vui chơi, giải trí của người Gia-Rai./.

(lehoi.info) - Cứ mỗi dịp tháng 8, tháng 9 hàng năm cũng chính là thời điểm bắt đầu mùa khô, là thời điểm lúa trên rẫy cũng đang bắt đầu chín, báo hiệu cho vụ thu hoạch đã đến và cũng chính là lúc buôn làng Gia - Rai làm Lễ Cơm Mới, để cầu mong cho ruộng nương được tươi tốt và nhiều thóc hơn nữa.

Dân làng Gia-Rai Lễ cơm mới là để tỏ lòng biết ơn Yàng (Trời) đã cho mưa thuận gió hoà, ngăn dịch bệnh, muông thú phá hoại cây lúa và cầu xin Yàng giúp cho mùa lúa năm sau tươi tốt hơn. Đàn ông đồng bào Gia-Rai ngồi quây quần bên chum rượu cần Để có cơm mới cúng Yàng, người Gia-Rai phải chuẩn bị từ ngay khi mới bắt đầu gieo hạt. Từ lúc mới làm rẫy, chủ nhà phải chọn ra một vạt đất nhỏ, màu mỡ, bằng phẳng để gieo lúa. Vạt đất này được gọi là “đất thiêng”, ngoài người chủ gia đình ra thì không ai được bước chân đến, kể cả khi thấy có muông thú đến phá hoại cũng chỉ được đứng ở đằng xa mà xua đuổi chứ không được tiến lại gần. Giống lúa được gieo ở vạt “đất thiêng” thường phải chọn giống tốt nhất, gạo ngon và cơm phải dẻo thơm nhất. Gieo hạt xong người ta phải chăm sóc rất chu đáo để cây lúa phát triển được tốt nhất. Khi lúa vừa chín tới, chủ nhà sẽ chọn một chiếc gùi mới và đẹp do chính tay mình đan để thu hoạch lúa. Lúc tuốt lúa thì chỉ được dùng tay, không được sử dụng bất cứ dụng cự nào khác. Người Gia-Rai có quan niệm rằng làm như vậy mới thể hiện được lòng thành kính với Yàng. Lúa sau khi thu hoạch về phải phơi cho thật khô, sẩy cũng phải sạch. Lúc giã gạo thì không được giã kỹ quá để không làm mất đi lớp vỏ lụa bên ngoài của hạt gạo để khi nấu xong cơm sẽ có mùi thơm nức. Kể từ khi lúa được tuốt xong cho đến các khâu chế biến khác để cuối cùng thành cơm cúng, thì lúa phải được cất ở nơi cao ráo, sạch sẽ, nếu không sẽ bị coi là mất đi sự linh thiêng. Lễ vật để cúng ngoài cơm ra còn có rượu cần, heo, gà, thịt thú rừng và trong lễ mừng cơm mới người Gia-rai còn tổ chức lễ hiến trâu. Chuẩn bị xong các lễ vật cần thiết, già làng là người chủ lễ sẽ bắt đầu cử hành lễ cúng. Già làng lấy máu của con vật hiến tế và bôi lên kho lúa, miệng của vò rượu và cần hút rượu, đồng thời dùng rượu cần đổ ra rẫy, rồi đổ lên kho lúa với quan niệm rằng để cho rẫy và kho lúa được chia vui với gia đình. Tiếp theo đó chủ lễ sẽ quỳ xuống và dâng bát cơm hoặc một nắm cơm mới lên đến ngang ngực, mắt hướng lên trên trời, mời chủ nhà ra để nhận lễ rồi độc lời cầu khấn. Lời khấn Yàng của đồng bào Gia-rai như sau: “Ơ... ơ Giàng! Giàng Lúa, Giàng Núi, Giàng Nước... Cảm ơn Giàng đã cho cây lúa già, hạt lúa nhiều, hạt lúa chắc... Giàng hãy bảo con chuột, con chim... không được cắn lúa. Giàng hãy bảo hồn lúa đừng sợ. Giàng hãy bảo hồn lúa về với gia đình...”. Phụ nữ Gia-Rai đang múa điệu múa truyền thống của dân tộc mình Cúng xong, các thành viên trong gia đình mỗi người cầm một cành lá nhỏ nhúng vào một bát đựng rượu rồi đi vẩy lên vạt rẫy, lên người nhau, lên giàn chuông, kho lúa, bếp lửa, cầu thang... với ý nghĩa tượng trưng cho lời chúc sức khoẻ và cùng hưởng lộc Yàng cho. Lúc bấy giờ các vò rượu cần đã được xếp thành hàng rất ngay ngắn, người già sẽ uống trước, người trẻ tuống sau và cứ thế cho đến khi cuộc vui kết thúc. Theo nhịp cồng chiêng vang lên, người ta sẽ nối đuôi nhau và múa theo vòng tròn ngược chiều kim đồng hồ. Lễ cơm mới còn được gọi là lễ ăn cốm mới được tổ chức trong nhiều ngày, không chỉ tổ chức trong gia đình mà còn là lễ hội của tất cả người dân trong buôn làng, không chỉ thu hút người dân trong một buôn làng mà còn thu hút cả người dân của cộng đồng lân cận. Trong lễ hội mừng cơm mới của người Gia -Rai, phần lễ và phần hội xen kẽ nhau đã đáp ứng nhu cầu cả về tâm linh lẫn vui chơi, giải trí của người Gia-Rai./.

Related Figures

Lễ hội Dúi cầu mùa

Thông tin thời kỳ

Lễ hội Dúi cầu mùa của cộng đồng người Ba Na thường diễn ra vào cuối mùa khô đến đầu mùa mưa, khi cây lúa vừa bắt đầu trổ bông vào (khoảng tháng 5 dương lịch), tại xã Kon Pne thuộc huyện Kbang, tỉnh Gia Lai. Lễ hội Dúi là một lễ hội truyền thống được tổ chức duy nhất trong cộng đồng dân tộc Ba Na tại xã Kon Pne. Người dân Ba Na xem con dúi như là biểu tượng của sự cần cù, chăm chỉ nên cả năm sẽ không bị đói ăn. Thời điểm người Ba Na tổ chức lễ hội là vào khoảng tháng 5 dương lịch, chủ gia đình sẽ đại diện cho gia đình mình mang các lễ vật tới nhà rông của thôn bản mình để cử hành lễ cúng Giàng, với mong muốn được mùa vụ bội thu, nương rẫy không bị côn trùng, sâu bị và các con vật khác phá hoại hoa màu. Thông qua lễ hội Dúi cầu mùa, người Ba Na muốn truyền dạy cho con cháu họ một bài học là phải chăm chỉ làm ăn thì mới có được mùa màng bội thu, có được cuộc sống ấm no. Không được vi phạm pháp luật, tránh xa các thói quen xấu như ăn chơi sa đọa, trộm cắp… Đồng bào người Ba Na nhảy múa trong ngày lễ Dúi Lễ hội Dúi cầu mưa thường diễn ra trong 2 ngày 2 đêm, nhưng để chuẩn bị cho lễ hội này người dân phải mất tới 7 ngày. Trước khi diễn ra lễ hội khoảng một tháng, từng gia đình trong các buôn, làng sẽ đi bắt một con dúi (một loài động vật giống chuột núi) và chuẩn bị sẵn một ghè rượu cần ngon. Đây là 2 lễ vật chính không thể thiếu để dâng lên Giàng trong Lễ hội Dúi Trong ngày hội, mọi thứ đều được trang trí rất công phu. Một cây nêu cao lớn được dựng lên ngay giữa sân nhà rông, con dúi sau khi làm sạch sẽ được luộc chín và cắm vào một cái que xiên từ đuôi lên đến đầu rồi được treo lên cây nêu ở giữa sân nhà rông. Con dúi của gia đình nào thì gia đình đó sẽ cắm que để đánh dấu. Các ghè rượu cần của người Ba Na được làm từ men của các loại cây rừng và được xếp thành từng hàng ngay ngắn ngay giữa sân nhà rông. Mỗi một ghè rượu sẽ được bày xen kẽ với một con dúi. Phía dưới và khu vực chung quanh sẽ trang trí thêm các con vật linh thiêng và vẽ những hình ảnh đặc trưng mang tính chất tín ngưỡng của người dân cộng đồng Ba Na. Đàn ông người Ba Na đang quây quần bên ghè rượu cần Sau khi khâu trang trí và chuẩn bị lễ vật cần thiết xong, già làng sẽ tiến lễ hành cúng Giàng theo nghi lễ truyền thống của người Ba Na. Tất cả mọi người trong bản sẽ tập trung về nhà rông và cùng nghe già làng cúng và tất cả cùng cầu nguyện cho mùa màng mới của của gia đình mình được tươi tốt và bội thu. Sau khi nghi lễ cúng của già làng kết thúc sẽ đến các tiết mục văn nghệ. Qua một đêm cúng tại nhà rông, trưa ngày hôm sau sẽ xẻ thịt các con dúi ra để để mọi người cùng ăn và uống với rượu cần, lúc này mọi người sẽ cùng nhau trao đổi những kinh nghiệm làm ăn, sản xuất để cải thiện đời sống cho cả buôn làng. Khi uống hết ghè rượu cần này thì các hộ gia đình sẽ góp thêm các ghè rượu cần khác để mọi ngườitiếp tục uống cho đến hết ngày hôm sau mới thôi. Buổi tối ngày hôm đó, tất cả người sẽ chuyển về nhà mình và tiếp tục lễ cúng mong Giàng phù hộ cho mùa màng của gia đình. Thịt con dúi của các gia đình sẽ được xẻ ra và chia phần để chia cho các gia đình trong thôn. Lễ hội Dúi mang một ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân Ba Na. Đây là nét văn hoá truyền thống độc đáo của đồng bào Ba Na ở Kon Pne./.

Lễ hội Dúi cầu mùa của cộng đồng người Ba Na thường diễn ra vào cuối mùa khô đến đầu mùa mưa, khi cây lúa vừa bắt đầu trổ bông vào (khoảng tháng 5 dương lịch), tại xã Kon Pne thuộc huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.

Lễ hội Dúi là một lễ hội truyền thống được tổ chức duy nhất trong cộng đồng dân tộc Ba Na tại xã Kon Pne. Người dân Ba Na xem con dúi như là biểu tượng của sự cần cù, chăm chỉ nên cả năm sẽ không bị đói ăn. Thời điểm người Ba Na tổ chức lễ hội là vào khoảng tháng 5 dương lịch, chủ gia đình sẽ đại diện cho gia đình mình mang các lễ vật tới nhà rông của thôn bản mình để cử hành lễ cúng Giàng, với mong muốn được mùa vụ bội thu, nương rẫy không bị côn trùng, sâu bị và các con vật khác phá hoại hoa màu. Thông qua lễ hội Dúi cầu mùa, người Ba Na muốn truyền dạy cho con cháu họ một bài học là phải chăm chỉ làm ăn thì mới có được mùa màng bội thu, có được cuộc sống ấm no. Không được vi phạm pháp luật, tránh xa các thói quen xấu như ăn chơi sa đọa, trộm cắp… Đồng bào người Ba Na nhảy múa trong ngày lễ Dúi Lễ hội Dúi cầu mưa thường diễn ra trong 2 ngày 2 đêm, nhưng để chuẩn bị cho lễ hội này người dân phải mất tới 7 ngày. Trước khi diễn ra lễ hội khoảng một tháng, từng gia đình trong các buôn, làng sẽ đi bắt một con dúi (một loài động vật giống chuột núi) và chuẩn bị sẵn một ghè rượu cần ngon. Đây là 2 lễ vật chính không thể thiếu để dâng lên Giàng trong Lễ hội Dúi Trong ngày hội, mọi thứ đều được trang trí rất công phu. Một cây nêu cao lớn được dựng lên ngay giữa sân nhà rông, con dúi sau khi làm sạch sẽ được luộc chín và cắm vào một cái que xiên từ đuôi lên đến đầu rồi được treo lên cây nêu ở giữa sân nhà rông. Con dúi của gia đình nào thì gia đình đó sẽ cắm que để đánh dấu. Các ghè rượu cần của người Ba Na được làm từ men của các loại cây rừng và được xếp thành từng hàng ngay ngắn ngay giữa sân nhà rông. Mỗi một ghè rượu sẽ được bày xen kẽ với một con dúi. Phía dưới và khu vực chung quanh sẽ trang trí thêm các con vật linh thiêng và vẽ những hình ảnh đặc trưng mang tính chất tín ngưỡng của người dân cộng đồng Ba Na. Đàn ông người Ba Na đang quây quần bên ghè rượu cần Sau khi khâu trang trí và chuẩn bị lễ vật cần thiết xong, già làng sẽ tiến lễ hành cúng Giàng theo nghi lễ truyền thống của người Ba Na. Tất cả mọi người trong bản sẽ tập trung về nhà rông và cùng nghe già làng cúng và tất cả cùng cầu nguyện cho mùa màng mới của của gia đình mình được tươi tốt và bội thu. Sau khi nghi lễ cúng của già làng kết thúc sẽ đến các tiết mục văn nghệ. Qua một đêm cúng tại nhà rông, trưa ngày hôm sau sẽ xẻ thịt các con dúi ra để để mọi người cùng ăn và uống với rượu cần, lúc này mọi người sẽ cùng nhau trao đổi những kinh nghiệm làm ăn, sản xuất để cải thiện đời sống cho cả buôn làng. Khi uống hết ghè rượu cần này thì các hộ gia đình sẽ góp thêm các ghè rượu cần khác để mọi ngườitiếp tục uống cho đến hết ngày hôm sau mới thôi. Buổi tối ngày hôm đó, tất cả người sẽ chuyển về nhà mình và tiếp tục lễ cúng mong Giàng phù hộ cho mùa màng của gia đình. Thịt con dúi của các gia đình sẽ được xẻ ra và chia phần để chia cho các gia đình trong thôn. Lễ hội Dúi mang một ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân Ba Na. Đây là nét văn hoá truyền thống độc đáo của đồng bào Ba Na ở Kon Pne./.

Related Figures

Lễ Pơ Thi (Lễ bỏ mả)

Thông tin thời kỳ

Hàng năm, sau khi mùa mưa vừa kết thúc (từ tháng 11 của năm trước cho đến hết tháng 4 dương lịch của năm sau), thời điểm người dân đã thu hoạch mùa màng xong, cả hai tộc người Jrai và Bahnar đang sinh sống ở tỉnh Gia Lai sẽ cùng nhau tổ chức Lễ bỏ mả mà họ gọi với tên chung là Pơ thi. Lễ bỏ mả là một trong những lễ hội lớn nhất và đông vui nhất của Gia Lai. Người dân Tây Nguyên tại tỉnh Gia Lai đang cử hành nghi lễ trong Lễ Bỏ Mả Theo quan niệm từ xa xưa của cư dân bản địa, con người sống đều có linh hồn, khi người chết đi hồn sẽ biến thành ma. Mỗi ngày, người thân của người quá cố đều phải mang cơm nước đã chuẩn bị ở nhà tới nhà mồ, quét dọn nhà mồ. Mục đích của lễ hội Pơ Thi chính là tiễn đưa các tinh linh (ma - hồn) của người mới khuất về với thế giới tổ tiên, về đoàn tụ với những "ma cũ". Chỉ sau khi làm Lễ bỏ mả thì người chết mới thật sự đi về với thế giới tổ tiên, không còn bất cứ sự ràng buộc nào giữa với người sống với người chết. Xưa kia, người Jrai thường tổ chức lễ hội bỏ mả trong 1 tuần, nhưng ngày nay rút ngắn còn 4 ngày: Ngày thứ đầu tiên gọi là ngày vào hội Ngày thứ 2 là ngày vỡ hội Ngày thứ 3 là ngày rửa nồi Ngày cuối cùng là ngày giải phóng cho những ai đang goá bụa. Công việc chuẩn bị trước lễ hội khá là công phu: đốn một cây to để làm hàng rào quanh mồ, đẵn gỗ để đục đẽo tượng rồi dựng cung quanh nhà mồ. Cuối cùng là làm nhà mồ. Trong lễ Bỏ Mả có phần múa rối Lễ bỏ mả thường tổ chức vào buổi chiều, đây giống như một cuộc trình diễn lớn xung quanh nhà mồ. Sau khi già làng cử hành lễ cúng xong, những người thân của người quá cố sẽ vào nhà mồ khóc than lần cuối cùng với người đã khuất. Sau đó, tiếng cồng chiêng cùng tiếng trống bắt đầu nổi lên để tiễn đưa người chết đi về phía bên kia thế giới, đoàn đưa tiễn hồn người chết gồm những đội đánh khiêng và đánh trống, đội đánh cồng chiêng, đội đeo mặt nạ, người biểu diễn những con rối, phụ nữ của bản thì múa, rồi họ đi vòng quanh nhà mồ và biểu diễn những động tác đặc trưng của dân tộc theo tiếng nhạc. Những người tham gia lễ bỏ mả đều phải ăn mặc rất trang nghiêm và có nhiều màu sắc sặc sỡ. Nhìn chung, lễ hội bỏ mả là một biểu tượng văn hóa nổi trội nhất, hấp dẫn nhất của các lễ hội nói riêng và những nét văn hoá đặc trưng của người Jrai nói chung. Bởi vì, Lễ hội bỏ mả chính là một cuộc trình diễn nghệ thuật cỡ lớn của đồng bào Jrai và Bahnar , với tính chất tổng hợp tất cả các sắc thái văn hóa và loại hình nghệ thuật dân gian của đồng bào dân tộc Jrai. Bữa ăn bên nhà mồ cũng chính là bức tranh đầy đủ về nét "văn hoá ẩm thực" của đồng bào dân tộc Jrai. Đây chính là bữa ăn mang tính chất cộng đồng lớn nhất về qui mô lẫn số người tham dự, cũng như sự phong phú trong nền ẩm thực, những nghi thức tín ngưỡng độc đáo, đời thường. Nghệ thuật nhà mồ còn là hình thức tổng hợp từ nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau như: điêu khắc, kiến trúc, trang trí, hội hoạ, nghệ thuật đan. Nghệ thuật nhà mồ luôn đề cao tính nhân văn sâu sắc của con người, luôn lấy con người làm trung tâm của vũ trụ. Những ngày diễn ra Lễ bỏ mả của đồng bào dân tộc ở Gia Lai thực sự là những ngày hội văn hóa tưng bừng với đậm chất nghệ thuật. Trong những diễn ra lễ hội, người người được trong bản sẽ ăn bữa ăn cộng cảm cuối cùng với người đã khuất để rồi tiễn đưa người đã khuất về thế giới bên trong sự thương xót, bằng bản nhạc cồng chiêng, và những màn múa con rối... Sau khi làm lễ giải phóng xong, người sống cũng không còn ràng buộc gì với người đã chết. Họ có thể kết hôn, có thể đến dự những buổi tiệc vui của dân làng. Đến đây, lễ bỏ mả cũng kết thúc, ngôi nhà mồ cũng trở nên yên tĩnh, không còn ai đến và không còn được chăm sóc. Xung quanh nhà mồ là những tượng người được đục đẽo từ gỗ Nếu xét dưới góc độ tôn giáo tín ngưỡng thì Lễ Pơ Thi giống như một nghi thức tang ma. Nhưng nhìn ở góc độ văn hóa thì Lễ hội này của người Tây Nguyên mà điển hình nhất là của đồng bào người Bahnar và Jrai ở tỉnh Gia Lai lại chính là đỉnh điểm của những hoạt động văn hóa truyền thống. Cũng có thể nói, thông qua lễ hội Pơ Thi, chủ lễ đã giải quyết được mối quan hệ giữa con người với con người và mối liên hệ giữa con người với thế giới tự nhiên. Lễ bỏ mả là một trong những nét văn hóa đặc trưng tiêu biểu nhất của các dân tộc ở tỉnh Gia Lai. Đến tham dự Lễ bỏ mả, du khách còn có cơ hội chiêm ngưỡng nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc tượng vô cùng độc đáo của nhà mồ - những giá trị kiến trúc có một không hai của Việt Nam.

Hàng năm, sau khi mùa mưa vừa kết thúc (từ tháng 11 của năm trước cho đến hết tháng 4 dương lịch của năm sau), thời điểm người dân đã thu hoạch mùa màng xong, cả hai tộc người Jrai và Bahnar đang sinh sống ở tỉnh Gia Lai sẽ cùng nhau tổ chức Lễ bỏ mả mà họ gọi với tên chung là Pơ thi. Lễ bỏ mả là một trong những lễ hội lớn nhất và đông vui nhất của Gia Lai.

Người dân Tây Nguyên tại tỉnh Gia Lai đang cử hành nghi lễ trong Lễ Bỏ Mả

Theo quan niệm từ xa xưa của cư dân bản địa, con người sống đều có linh hồn, khi người chết đi hồn sẽ biến thành ma. Mỗi ngày, người thân của người quá cố đều phải mang cơm nước đã chuẩn bị ở nhà tới nhà mồ, quét dọn nhà mồ. Mục đích của lễ hội Pơ Thi chính là tiễn đưa các tinh linh (ma - hồn) của người mới khuất về với thế giới tổ tiên, về đoàn tụ với những "ma cũ". Chỉ sau khi làm Lễ bỏ mả thì người chết mới thật sự đi về với thế giới tổ tiên, không còn bất cứ sự ràng buộc nào giữa với người sống với người chết.

Xưa kia, người Jrai thường tổ chức lễ hội bỏ mả trong 1 tuần, nhưng ngày nay rút ngắn còn 4 ngày: Ngày thứ đầu tiên gọi là ngày vào hội Ngày thứ 2 là ngày vỡ hội Ngày thứ 3 là ngày rửa nồi Ngày cuối cùng là ngày giải phóng cho những ai đang goá bụa. Công việc chuẩn bị trước lễ hội khá là công phu: đốn một cây to để làm hàng rào quanh mồ, đẵn gỗ để đục đẽo tượng rồi dựng cung quanh nhà mồ. Cuối cùng là làm nhà mồ. Trong lễ Bỏ Mả có phần múa rối Lễ bỏ mả thường tổ chức vào buổi chiều, đây giống như một cuộc trình diễn lớn xung quanh nhà mồ. Sau khi già làng cử hành lễ cúng xong, những người thân của người quá cố sẽ vào nhà mồ khóc than lần cuối cùng với người đã khuất. Sau đó, tiếng cồng chiêng cùng tiếng trống bắt đầu nổi lên để tiễn đưa người chết đi về phía bên kia thế giới, đoàn đưa tiễn hồn người chết gồm những đội đánh khiêng và đánh trống, đội đánh cồng chiêng, đội đeo mặt nạ, người biểu diễn những con rối, phụ nữ của bản thì múa, rồi họ đi vòng quanh nhà mồ và biểu diễn những động tác đặc trưng của dân tộc theo tiếng nhạc. Những người tham gia lễ bỏ mả đều phải ăn mặc rất trang nghiêm và có nhiều màu sắc sặc sỡ. Nhìn chung, lễ hội bỏ mả là một biểu tượng văn hóa nổi trội nhất, hấp dẫn nhất của các lễ hội nói riêng và những nét văn hoá đặc trưng của người Jrai nói chung. Bởi vì, Lễ hội bỏ mả chính là một cuộc trình diễn nghệ thuật cỡ lớn của đồng bào Jrai và Bahnar , với tính chất tổng hợp tất cả các sắc thái văn hóa và loại hình nghệ thuật dân gian của đồng bào dân tộc Jrai. Bữa ăn bên nhà mồ cũng chính là bức tranh đầy đủ về nét "văn hoá ẩm thực" của đồng bào dân tộc Jrai. Đây chính là bữa ăn mang tính chất cộng đồng lớn nhất về qui mô lẫn số người tham dự, cũng như sự phong phú trong nền ẩm thực, những nghi thức tín ngưỡng độc đáo, đời thường. Nghệ thuật nhà mồ còn là hình thức tổng hợp từ nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau như: điêu khắc, kiến trúc, trang trí, hội hoạ, nghệ thuật đan. Nghệ thuật nhà mồ luôn đề cao tính nhân văn sâu sắc của con người, luôn lấy con người làm trung tâm của vũ trụ. Những ngày diễn ra Lễ bỏ mả của đồng bào dân tộc ở Gia Lai thực sự là những ngày hội văn hóa tưng bừng với đậm chất nghệ thuật. Trong những diễn ra lễ hội, người người được trong bản sẽ ăn bữa ăn cộng cảm cuối cùng với người đã khuất để rồi tiễn đưa người đã khuất về thế giới bên trong sự thương xót, bằng bản nhạc cồng chiêng, và những màn múa con rối... Sau khi làm lễ giải phóng xong, người sống cũng không còn ràng buộc gì với người đã chết. Họ có thể kết hôn, có thể đến dự những buổi tiệc vui của dân làng. Đến đây, lễ bỏ mả cũng kết thúc, ngôi nhà mồ cũng trở nên yên tĩnh, không còn ai đến và không còn được chăm sóc. Xung quanh nhà mồ là những tượng người được đục đẽo từ gỗ Nếu xét dưới góc độ tôn giáo tín ngưỡng thì Lễ Pơ Thi giống như một nghi thức tang ma. Nhưng nhìn ở góc độ văn hóa thì Lễ hội này của người Tây Nguyên mà điển hình nhất là của đồng bào người Bahnar và Jrai ở tỉnh Gia Lai lại chính là đỉnh điểm của những hoạt động văn hóa truyền thống. Cũng có thể nói, thông qua lễ hội Pơ Thi, chủ lễ đã giải quyết được mối quan hệ giữa con người với con người và mối liên hệ giữa con người với thế giới tự nhiên. Lễ bỏ mả là một trong những nét văn hóa đặc trưng tiêu biểu nhất của các dân tộc ở tỉnh Gia Lai. Đến tham dự Lễ bỏ mả, du khách còn có cơ hội chiêm ngưỡng nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc tượng vô cùng độc đáo của nhà mồ - những giá trị kiến trúc có một không hai của Việt Nam.

Trong lễ Bỏ Mả có phần múa rối

Related Figures

Lễ hội đâm Trâu

Thông tin thời kỳ

Đầu tháng chạp năm trước cho tới tháng Ba âm lịch năm sau, là khoảng thời gian đồng bào Jrai, Bahnar tổ chức lễ hội đâm trâu. Lễ hội đâm trâu thường tổ chức trong 3 ngày, còn người Jrai lại tổ chức trong một ngày rưỡi. Lễ hội đâm trâu thường được tổ chức để mừng chiến thắng, ăn mừng thắng lợi của cả cộng đồng, trong lễ khánh thành nhà rông, lễ cầu an, lễ xoá điềm xấu, điềm gở cho cả buôn làng hoặc để tạ ơn thần linh. Lễ hội đâm Trâu tại Gia Lai Hàng năm dân làng sẽ tổ chức 1 lần lễ hội đâm trâu tại nhà rông của làng, của bản và mọi chi phí phát sinh trong ngày hội đều do dân làng cùng đóng góp. Người chủ trì lễ hội thường là già làng, là người đứng gần cột buộc trâu. Thanh niên nam nữ sẽ là những người đánh cồng, chiêng, múa đứng sau lưng già làng. Những thanh niên có nhiệm vụ đánh trống, chiêng, cồng trong ngày hội, trên đầu mỗi người đều chít khăn đỏ, mặc áo (loại áo dùng riêng cho ngày lễ dành cho con trai), đóng khố. Những cô gái thì mặc áo phia, váy koteh (loại áo thường mặc trong ngày hội của phụ nữ dân tộc này). Khi già làng cử hành nghi lễ khấn vái xong, tiếng cồng chiêng cũng bắt đầu nổi lên hòa vào tiếng la hét, huýt sáo của dân làng. Vào ngày lễ không khí trong làng trở nên rộn ràng hơn, sinh động hơn. Những ngày diễn ra lễ hội đâm trâu, còn lànhững ngày hội của nghệ thuật cồng chiêng, là những giai điệu đặc trưng nhất vì nhiều hộ gia đình đã đem bộ cồng chiêng của mình tới lễ hội để tạo thêm sự vui nhộn cho ngày hội. Các chàng trai đồng bào Bahnar đánh cồng chiêng trong lễ đâm trâu Hết ngày hội thứ nhất, sang đến ngày thứ hai, tiếng cồng chiêng lại càng trở nên rộn rã hơn. Những chàng trai Bahnar khoẻ mạnh, đầu có chít một chiếc khăn đỏ, tay cầm khiên và một thanh gươm sáng loáng lao ra, vừa biểu diễn vũ khí, vừa đi vòng tròn quanh con trâu để đánh lừa con trâu rồi đâm trâu. Sau màn nhảy múa, họ bắt đầu đâm trâu. Khi con trâu đã bị tắt thở, thầy cúng sẽ mang chiêng và nồi đồng nhỏ đến để hứng tiết trâu , sau đó mang hòa với rượu, bộ phận đao kiếm sẽ tiếp tục xẻ thịt trâu. Sau khi làm thịt trâu xong, họ chia thịt trâu thành các phần đều nhau rồi chia cho từng bếp trong buôn làng. Một phần thịt trâu sẽ được dùng để chế biến các món ăn để uống rượu chung tại nhà rông. Lễ hội đâm trâu là một lễ hội lớn mang nét đặc trưng của người Bahnar ở Gia Lai

Đầu tháng chạp năm trước cho tới tháng Ba âm lịch năm sau, là khoảng thời gian đồng bào Jrai, Bahnar tổ chức lễ hội đâm trâu. Lễ hội đâm trâu thường tổ chức trong 3 ngày, còn người Jrai lại tổ chức trong một ngày rưỡi. Lễ hội đâm trâu thường được tổ chức để mừng chiến thắng, ăn mừng thắng lợi của cả cộng đồng, trong lễ khánh thành nhà rông, lễ cầu an, lễ xoá điềm xấu, điềm gở cho cả buôn làng hoặc để tạ ơn thần linh.

Lễ hội đâm Trâu tại Gia Lai

Hàng năm dân làng sẽ tổ chức 1 lần lễ hội đâm trâu tại nhà rông của làng, của bản và mọi chi phí phát sinh trong ngày hội đều do dân làng cùng đóng góp. Người chủ trì lễ hội thường là già làng, là người đứng gần cột buộc trâu. Thanh niên nam nữ sẽ là những người đánh cồng, chiêng, múa đứng sau lưng già làng. Những thanh niên có nhiệm vụ đánh trống, chiêng, cồng trong ngày hội, trên đầu mỗi người đều chít khăn đỏ, mặc áo (loại áo dùng riêng cho ngày lễ dành cho con trai), đóng khố. Những cô gái thì mặc áo phia, váy koteh (loại áo thường mặc trong ngày hội của phụ nữ dân tộc này). Khi già làng cử hành nghi lễ khấn vái xong, tiếng cồng chiêng cũng bắt đầu nổi lên hòa vào tiếng la hét, huýt sáo của dân làng. Vào ngày lễ không khí trong làng trở nên rộn ràng hơn, sinh động hơn. Những ngày diễn ra lễ hội đâm trâu, còn lànhững ngày hội của nghệ thuật cồng chiêng, là những giai điệu đặc trưng nhất vì nhiều hộ gia đình đã đem bộ cồng chiêng của mình tới lễ hội để tạo thêm sự vui nhộn cho ngày hội. Các chàng trai đồng bào Bahnar đánh cồng chiêng trong lễ đâm trâu Hết ngày hội thứ nhất, sang đến ngày thứ hai, tiếng cồng chiêng lại càng trở nên rộn rã hơn. Những chàng trai Bahnar khoẻ mạnh, đầu có chít một chiếc khăn đỏ, tay cầm khiên và một thanh gươm sáng loáng lao ra, vừa biểu diễn vũ khí, vừa đi vòng tròn quanh con trâu để đánh lừa con trâu rồi đâm trâu. Sau màn nhảy múa, họ bắt đầu đâm trâu. Khi con trâu đã bị tắt thở, thầy cúng sẽ mang chiêng và nồi đồng nhỏ đến để hứng tiết trâu , sau đó mang hòa với rượu, bộ phận đao kiếm sẽ tiếp tục xẻ thịt trâu. Sau khi làm thịt trâu xong, họ chia thịt trâu thành các phần đều nhau rồi chia cho từng bếp trong buôn làng. Một phần thịt trâu sẽ được dùng để chế biến các món ăn để uống rượu chung tại nhà rông. Lễ hội đâm trâu là một lễ hội lớn mang nét đặc trưng của người Bahnar ở Gia Lai

Related Figures

Lễ cúng thần lúa của người Châu-ro (lễ sa yang-va)

Thông tin thời kỳ

Người Châu-ro còn được gọi là Ph’nôông, Tô, Ro, Dơro, Xôp… Đồng bào này tự gọi là Chrau Jro (Chrau: người, Jro: tên bộ tộc). Năm 1999, dân số người Châu ro đứng thứ 5 trong tổng số 40 dân tộc đang sinh sống ở tỉnh Đồng Nai. Lễ Sa Yang-va là một lễ hội truyền thống của đồng bào Châu ro được tổ chức hàng năm vẫn giữ được nhiều nét đặc sắc, đã phản ánh nền kinh tế nông nghiệp nương rẫy và du canh, phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên. Lễ hội cúng Yang-va được tổ chức vào Ba, lúc này là thời gian người dân đã thu hoạch mùa xong và đang chuẩn bị gieo hạt. Trước đây, đồng bào Châu ro còn ở căn nhà dài. Căn nhà của họ có khi dài tới 50-70 chục mét, có vài chục hộ gia đình nhỏ ở một ấp, có một già làng sẽ đứng đầu nên lễ cúng Yang-va có thể kéo dài khoảng một tuần và mang tính chất tập thể Ngày nay nhà dài đã không còn nữa, từng hộ sẽ lần lượt cúng lễ hội này và ở mỗi ấp có thể sẽ kéo dài cả tháng, nhưng chỉ tổ chức trong tháng 3. Lễ cúng thần lúa của người Châu-ro (lễ sa yang-va) tại Đồng Nai Rượu ịt (rượu quảng là một thứ rượu cần) thường được đồng bào làm sẵn trước cả tháng. Gạo lứt được nấu chín rồi trải ra một đệm bàng cho nguội. Men được làm bằng các loại lá rừng và trộn với vỏ cây bình linh giã nát, sau đó trộn với bột gạo và nặn thành viên. Vò đựng rượu ịt to cỡ thùng gánh nước trở lên và được rải một lớp trấu sạch mỏng ở dưới đáy, cơm trộn với men theo tỷ lệ đã được quy định, sau đó được đổ vào. Miệng vò gài vỉ xong rồi người ta sẽ úp ngược vò xuống đất trong ba ngày đêm. Sau đó vỉ sẽ được mở ra, phủ một lớp trấu sạch mỏng lên bên trên cùng rồi bịt miệng vò lại. Nếu cơm khô thì chỉ 1 tháng sau là rượu ngấm, còn cơm nhão thì chỉ 25 ngày là đã được rượu. Chủ nhà sẽ chiết rượu ra một chai đựng rượu cốt để cúng tổ tiên, sau đó sẽ đổ thêm nước lã vào cho đầy vò. Lúc uống, người ta sẽ dùng cần dài để hút. Khi rượu với thì châm thêm nước cho đầy lại uống tiếp. Rượu ịt có màu sắc đục lờ lờ, mùi vị ngai ngái mùi lá tươi, và là thứ nước được lên men nhẹ (uống nhiều cũng sẽ bị say) Trước ngày diễn ra lễ cúng Yang-va, chủ nhà sẽ sách chai rượu ịt cốt đi mời họ hàng, bạn bè làng xóm. Khách đến dự lễ đều được chuẩn bị một chai rượu, cũng có thể là rượu đế và phong bao tiền đều tùy vào lòng thành của chủ nhà. Vào ngày lễ cúng Yang-va, mọi thứ cần phải chuẩn bị sẵn sàng từ trước. Thông thường chủ nhà sẽ nhờ người thân hoặc bạn bè đến làm giúp như việc dựng cây nêu, làm các loại bánh trái để cúng (bánh nếp, bánh dày, cơm lam…), lau chùi và trang hoàng bàn thờ Yang… Người ta sẽ lấy hai cây tre non và vót đầu cây thành bông để tượng trưng cho bông lúa. Đỉnh bông sẽ rải một lớp tro để đốt trầm hay nhang thơm. Một cây được dựng ở bàn thờ, một cây thì đặt ở kho lúa. Bàn thờ Yang được bày biện rất đơn sơ, đặt vài mâm cúng, mỗi mâm cúng đều có thịt gà, rượu, bánh và miếng thịt heo sống…Riêng mâm hứa trả vụ tới thì không có thịt gà mà được đặt vào đó 15 cọng tre, mỗi cọng sẽ xâu 7 miếng tim,lòng, gan,… đặt xung quanh miếng thịt heo sống. Các cụ già của buôn làng đang dâng lễ vật cúng Yang và tổ tiên Người gọi Yang đứng lên đọc lời khấn trong lễ cúng theo truyền thống sẽ là Thầy Chang hoặc Bà Búp, nhưng những năm gần đây là sẽ người chủ gia đình, người được dòng họ tôn trọng, thân tộc. Vào buổi sáng sớm của ngày cúng Yang-va, trong khi các thành viên trong gia đình và họ hàng đang chuẩn bị cho lễ vật cúng thì bà chủ nhà sẽ đeo gùi, mang theo cái bầu nước và chà gạt đi vào rẫy để thực hiện nghi thức “rước hồn lúa”. Lễ vật người ta sử dụng để thực hiện nghi thức “rước hồn lúa” gồm có hai cây mía, hai cây chuốc non, các bông lúa có nhiều hạt và sau khi rước về nhà sẽ được chia thành hai phần: một phần để ở bàn thờ Yang-va, một được đặt vào trong kho lúa. Lễ cúng Yang-va thường được cử hành từ lúc 10 giờ, làm lễ 3 lần: - Lần đầu tiên, chủ nhà sẽ đọc lời thỉnh Yang và tổ tiên, ông bà về chứng kiến cho lòng thành của chủ nhà. - Lần thứ hai, đọc bài khấn trả lễ mùa trước và cầu khấn cho mùa vụ tới Yang và ông bà tổ tiên sẽ cho được mùa thì sẽ trả lễ to hơn. - Lần thứ 3 là tổ chức cúng ngoài kho lúa. Bài khấn hứa của gia chủ có tiết tấu nhịp nhàng, nội dung của lời khấn ở trong nhà và ở kho lúa không khác nhau là mấy. Ở kho lúa thì chú trọng đến Yang lúa nhiều hơn các Yang khác. Lễ cúng thường diễn ra trong tiếng cồng, chiêng bảy chiếc tiếng đàn, đánh theo nhịp điệu, có lúc khoan thai, lúc thì dồn dập. Người dân nơi đây cho rằng phải có tiếng cồng chiêng, tiếng nhạc cụ rộn ràng thì các Yang và ông bà tổ tiên mới vui vẻ về dự lễ và chứng giám lễ cúng. Những người phụ nữ Châu ro đang đánh cồng chiêng Lễ cúng Yang ở kho lúa cũng chính phần kết thúc nghi lễ cúng Yang-va. Gia chủ sẽ mời khách lên nhà chính. Lễ vật và thức ăn được làm cho ngày cúng Yang sẽ được dọn ra để đãi khách. Mở đầu cho cuộc vui, một vò rượu cần sẽ được khai mở và người phụ nữ nhiều tuổi nhất trong gia đình sẽ được mời uống trước vì người đó là tiêu biểu cho sự cai quản và chăm sóc nhà cửa, người chịu đựng nhiều khó khăn nhất, lo lắng cho gia đình… Trong khi cùng chung vui với gia chủ và uống rượu cần, mọi người đều nói chuyện vui vẻ, họ hát những bài hát của dân tộc mình theo tiếng nhạc của đàn tre, cồng chiêng, kèn lúa ngân vang. Khi màn đêm buông xuống, tại một khoảng sân rộng ngay trước nhà của gia chủ, đồng bào sẽ tụ tập xung quanh bếp lửa và cùng nhau hát, cùng nhảy múa và biểu diễn các loại nhạc cụ… Gia chủ cũng rất chu đáo khi chuẩn bị sẵn rượu cần để mời khách đến dự. Họ cùng vui chơi cho đến khi bếp lửa tàn, đó thường là lúc nửa đêm, đó cũng chính là lúc lễ hội cúng Yang-va kết thúc trọn vẹn.

Related Figures

Hội đình Định Yên

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 16/4 Âm lịch Hội đình Định Yên tại tỉnh Đồng Tháp thường được tổ chức vào ngày 16 tháng 4 âm lịch hàng năm, tại xã Định Yên, thuộc huyện Lấp Vò, với mục đích để tưởng nhớ ông Phạm Văn An, một người đã có công đầu tiên trong công cuộc khai hoang lập ấp. Ngôi Đình Định Yên ở tỉnh Đồng Tháp Đình Định Yên được xây dựng từ năm 1909( Canh Tuất ). Kiến trúc của đình khá độc đáo, với mái được lợp ngói đại ống, các kỳ, kèo và cột đều được chạm trổ rất hoa văn đầu rồng và lân trông rất lộng lẫy. Đến vãn cảnh đình, du khách sẽ được chiêm ngưỡng các câu đối, bao lam sơn son thếp vàng trông rực rỡ, cân liễn, cẩn ốc xà cừ, chạm hoá long, mẫu đơ, lưỡng sen, và nhiều bức tranh sơn thuỷ có ý nghĩa ca ngợi đất nước và con người v.v.. Chánh điện của đình Định Yên thờ Thành Hoàng Bổn Cảnh, bên tả và bên hữu là thờ các vị Tiền hiền. Trước sân đình có nhiều bồn hoa, cây dương cổ thụ rất cao, làm cho khung cảnh của Đình càng thêm phần thơ mộng. Hằng năm đến ngày ngày 16-17 tháng Tư và 15-16 tháng 11 âm lịch, tại đình lại diễn ra lễ cúng đình rất hoành tráng và long trọng nhằm tưởng nhớ công ơn của ông Phạm Văn An và những người đã có công khai hoang, dựng nên làng xã. Trong những ngày diễn ra Hội đình, sẽ tổ chức các nghi thức truyền thống đặc sắc như: múa lân, đội lính hầu, đội kỵ mã, học trò lễ, trống, nhạc, lễ... Hội đình Định Yên tại Đồng Tháp Du khách tới tham dự hội đình Định Yên cũng sẽ cảm nhận được những điều thú vị về phong tục tập quán của những con người nơi đây, đồng thời làm phong phú thêm vốn hiểu biết của du khách về các lễ hội cổ truyền dân tộc. Không chỉ thế, du khách còn có cơ hội tham quan chợ chiếu Định Yên. Đây là một ngôi chợ độc đáo đã được người dân nơi đây duy trì từ hơn 50 năm nay.

Hội đình Định Yên tại tỉnh Đồng Tháp thường được tổ chức vào ngày 16 tháng 4 âm lịch hàng năm, tại xã Định Yên, thuộc huyện Lấp Vò, với mục đích để tưởng nhớ ông Phạm Văn An, một người đã có công đầu tiên trong công cuộc khai hoang lập ấp.

Ngôi Đình Định Yên ở tỉnh Đồng Tháp

Đình Định Yên được xây dựng từ năm 1909( Canh Tuất ). Kiến trúc của đình khá độc đáo, với mái được lợp ngói đại ống, các kỳ, kèo và cột đều được chạm trổ rất hoa văn đầu rồng và lân trông rất lộng lẫy. Đến vãn cảnh đình, du khách sẽ được chiêm ngưỡng các câu đối, bao lam sơn son thếp vàng trông rực rỡ, cân liễn, cẩn ốc xà cừ, chạm hoá long, mẫu đơ, lưỡng sen, và nhiều bức tranh sơn thuỷ có ý nghĩa ca ngợi đất nước và con người v.v.. Chánh điện của đình Định Yên thờ Thành Hoàng Bổn Cảnh, bên tả và bên hữu là thờ các vị Tiền hiền. Trước sân đình có nhiều bồn hoa, cây dương cổ thụ rất cao, làm cho khung cảnh của Đình càng thêm phần thơ mộng. Hằng năm đến ngày ngày 16-17 tháng Tư và 15-16 tháng 11 âm lịch, tại đình lại diễn ra lễ cúng đình rất hoành tráng và long trọng nhằm tưởng nhớ công ơn của ông Phạm Văn An và những người đã có công khai hoang, dựng nên làng xã. Trong những ngày diễn ra Hội đình, sẽ tổ chức các nghi thức truyền thống đặc sắc như: múa lân, đội lính hầu, đội kỵ mã, học trò lễ, trống, nhạc, lễ... Hội đình Định Yên tại Đồng Tháp Du khách tới tham dự hội đình Định Yên cũng sẽ cảm nhận được những điều thú vị về phong tục tập quán của những con người nơi đây, đồng thời làm phong phú thêm vốn hiểu biết của du khách về các lễ hội cổ truyền dân tộc. Không chỉ thế, du khách còn có cơ hội tham quan chợ chiếu Định Yên. Đây là một ngôi chợ độc đáo đã được người dân nơi đây duy trì từ hơn 50 năm nay.

Related Figures

Lễ hội Gò Tháp

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 14/11- 16/11 Âm lịch Lễ hội Gò Tháp là một trong những lễ hội lớn của nhân dân vùng Đồng Tháp Mười. Lễ hội này được tổ chức 2 lần trong 1 năm, một dịp vào tháng 3 và 1 dịp vào tháng 11 âm lịch, tại Khu di tích Gò Tháp nằm ở xã Tân Kiều thuộc huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp. Từ chiều ngày 14 đến rạng sáng ngày 16 tháng Ba sẽ diễn ra lễ hội tưởng niệm bà Chúa Xứ. Theo ông bà kể lại, Bà Chúa Xứ là người đã có công lớn trong công cuộc khai phá, gây dựng và phát triển vùng đất này, từ chiều ngày 14 đến rạng sáng ngày 16 tháng 11 sẽ là ngày hội tưởng niệm 2 vị anh hùng dân tộc là Đốc Binh Kiều (Nguyễn Tấn Kiều) và Thiên Hộ Dương (Võ Duy Dương), là hai vị thủ lĩnh nghĩa quân đã anh dũng, kiên cường chống lại thực dân Pháp vào nửa cuối thế kỷ 19. Lễ hội Gò Tháp tại Đồng Tháp Lễ hội tại Gò Tháp gồm có hai phần: phần các nghi thức cúng lễ và phần hội hè là những trò vui. Ngoài các nghi lễ cúng chính được cử hành trong mỗi kỳ hội như lễ cúng bà Chúa Xứ, lễ cúng Đốc Binh Kiều, Thiên Hộ Dương ra còn tiến hành cac lễ phụ khác như: lễ cúng Thần nông, lễ cầu an, lễ thỉnh sinh... Trong mỗi một lễ cúng thì nghi thức hành lễ cũng không giống nhau nhưng đều có nét chung là có bài văn tế do vị bô lão chánh bái vừa đọc vừa diễn. Kèm theo đó là các tiết mục lễ nghi để phụ họa theo như: dâng trà, dâng rượu, dâng hương, dàn nhạc lễ kéo những bài réo rắt. Nội dung của bản văn tế là để ca ngợi những công lao to lớn của các bậc tiền nhân hay để cầu khẩn đất trời, cho "quốc thái, dân an", mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu... Trong phần hội hè, các tiết mục như múa, hát, hay các trò chơi dân gian, các hoạt động văn hóa và nghệ thuật diễn ra rất phong phú đã làm cho con người quên đi những ngày tháng vất vả và để họ tìm đến nhau trong một nỗi đồng cảm là hướng về cái thiện. Lễ rước trong ngày hội Gò Tháp khi đến với lễ hội Gò Tháp, du khách được trải nghiệm như bước vào một hoạt động văn hóa tổng hợp, có vật chất, tinh thần, có hoạt động tín ngưỡng, văn hóa, có cái đời thường, đương đại, cổ xưa...đan xen vào nhau, hòa lẫn vào nhau, phản ánh những khát vọng sống và ước mong có được cuộc sống no ấm, an hòa, hạnh phúc của người dân Đồng Tháp. Do vậy có sức cuốn hút của lễ hội này ngày càng đông du khách viếng thăm. Người dân khắp nơi về tham dự Lễ hội Gò Tháp

Lễ hội Gò Tháp là một trong những lễ hội lớn của nhân dân vùng Đồng Tháp Mười. Lễ hội này được tổ chức 2 lần trong 1 năm, một dịp vào tháng 3 và 1 dịp vào tháng 11 âm lịch, tại Khu di tích Gò Tháp nằm ở xã Tân Kiều thuộc huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp. Từ chiều ngày 14 đến rạng sáng ngày 16 tháng Ba sẽ diễn ra lễ hội tưởng niệm bà Chúa Xứ. Theo ông bà kể lại, Bà Chúa Xứ là người đã có công lớn trong công cuộc khai phá, gây dựng và phát triển vùng đất này, từ chiều ngày 14 đến rạng sáng ngày 16 tháng 11 sẽ là ngày hội tưởng niệm 2 vị anh hùng dân tộc là Đốc Binh Kiều (Nguyễn Tấn Kiều) và Thiên Hộ Dương (Võ Duy Dương), là hai vị thủ lĩnh nghĩa quân đã anh dũng, kiên cường chống lại thực dân Pháp vào nửa cuối thế kỷ 19.

Lễ hội Gò Tháp tại Đồng Tháp

Lễ hội tại Gò Tháp gồm có hai phần: phần các nghi thức cúng lễ và phần hội hè là những trò vui. Ngoài các nghi lễ cúng chính được cử hành trong mỗi kỳ hội như lễ cúng bà Chúa Xứ, lễ cúng Đốc Binh Kiều, Thiên Hộ Dương ra còn tiến hành cac lễ phụ khác như: lễ cúng Thần nông, lễ cầu an, lễ thỉnh sinh... Trong mỗi một lễ cúng thì nghi thức hành lễ cũng không giống nhau nhưng đều có nét chung là có bài văn tế do vị bô lão chánh bái vừa đọc vừa diễn. Kèm theo đó là các tiết mục lễ nghi để phụ họa theo như: dâng trà, dâng rượu, dâng hương, dàn nhạc lễ kéo những bài réo rắt. Nội dung của bản văn tế là để ca ngợi những công lao to lớn của các bậc tiền nhân hay để cầu khẩn đất trời, cho "quốc thái, dân an", mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu... Trong phần hội hè, các tiết mục như múa, hát, hay các trò chơi dân gian, các hoạt động văn hóa và nghệ thuật diễn ra rất phong phú đã làm cho con người quên đi những ngày tháng vất vả và để họ tìm đến nhau trong một nỗi đồng cảm là hướng về cái thiện. Lễ rước trong ngày hội Gò Tháp khi đến với lễ hội Gò Tháp, du khách được trải nghiệm như bước vào một hoạt động văn hóa tổng hợp, có vật chất, tinh thần, có hoạt động tín ngưỡng, văn hóa, có cái đời thường, đương đại, cổ xưa...đan xen vào nhau, hòa lẫn vào nhau, phản ánh những khát vọng sống và ước mong có được cuộc sống no ấm, an hòa, hạnh phúc của người dân Đồng Tháp. Do vậy có sức cuốn hút của lễ hội này ngày càng đông du khách viếng thăm. Người dân khắp nơi về tham dự Lễ hội Gò Tháp

Related Figures

Lễ hội dựng nêu

Thông tin thời kỳ

Lễ hội dựng nêu của dân tộc Châu Ro tại tỉnh Đồng Nai thường diễn ra vào những ngày cuối cùng của tháng Chạp hàng năm, tại Nhà văn hóa dân tộc Châu Ro tại ấp Bình Hòa thuộc xã Xuân Phú, huyện Xuân Lộc. Hàng năm, mỗi khi đến ngày mở hội không khí trong làng lại trở nên rộn ràng hơn, những tiếng cười, tiếng hát hòa lẫn với tiếng cồng chiêng khiến buôn, sóc của người Châu Ro luôn nhộn nhịp từ sáng đến tối. Những ngày này, dân làngđều kéo nhau về nhà rông, với lòng thành kính, hò cùng nhau dâng lên Giàng những lễ vật do chính mình làm ra để tạ ơn Giàng đã cho dân làng mùa màng bội thu, con cháu được khỏe mạnh và cầu mong năm tới sẽ mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Người dân đồng bào Châu Ro đang chơi cồng chiêng Nhiều ngày trước khi diễn ra lễ cúng, các trai làng đã rủ nhau vào tận trong rừng sâu để chọn một cây tre thật to, thật cao để làm cây nêu. Lễ vật cúng Giàng thông thường gồm: đầu heo, cơm lam, thịt nướng xâu, gà luộc và những vại rượu cần. Đoàn dâng lễ vật sẽ tiến hành rước từ dưới đất lên đến nhà rông, dẫn đầu đoàn rước lễ là già làng, hai tay cầm bát nhang lên dâng cao, tiếp theo sau là đầu heo, rượu cần và các lễ vật khác... Trong ngày diễn ra hội, nhà rông sẽ được trang trí rất đẹp và theo phong cách của người Châu Ro, có ảnh Bác Hồ, có cờ đỏ sao vàng đặt ngay bên bàn thờ cúng Giàng. Trong lúc dâng lễ vật lên bàn thờ tổ tiên, già làng sẽ thay mặt toàn thể nhân dân trong làng tạ ơn thần linh đã ban bà con dân làng một năm mùa màng tươi tốt, người dân được khỏe mạnh, đồng thời cầu cho năm tới họ lại được thần linh ban cho ơn lộc dồi dào. Tiếp theo sẽ là phần dựng nêu. Cây nêu sẽ được dựng năm nay sẽ cao hơn mọi năm. Khi cây nêu được dựng lên xong, toàn thể dân làng cùng các khách mời sẽ vào trong nhà rông để thưởng thức rượu cần, thịt nướng xâu cơm lam, và các màn múa hát rộn ràng theo tiếng cồng chiêng. Đồng Bào Châu Ro tưng bừng mừng hội dựng cây nêu Lễ hội dựng cây nêu của đồng bào dân tộc Châu Ro ở tỉnh Đồng Nai có ý nghĩa giúp bà con nơi đây duy trì và phát huy được bản sắc của dân tộc mình.

Lễ hội dựng nêu của dân tộc Châu Ro tại tỉnh Đồng Nai thường diễn ra vào những ngày cuối cùng của tháng Chạp hàng năm, tại Nhà văn hóa dân tộc Châu Ro tại ấp Bình Hòa thuộc xã Xuân Phú, huyện Xuân Lộc.

Hàng năm, mỗi khi đến ngày mở hội không khí trong làng lại trở nên rộn ràng hơn, những tiếng cười, tiếng hát hòa lẫn với tiếng cồng chiêng khiến buôn, sóc của người Châu Ro luôn nhộn nhịp từ sáng đến tối. Những ngày này, dân làngđều kéo nhau về nhà rông, với lòng thành kính, hò cùng nhau dâng lên Giàng những lễ vật do chính mình làm ra để tạ ơn Giàng đã cho dân làng mùa màng bội thu, con cháu được khỏe mạnh và cầu mong năm tới sẽ mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Người dân đồng bào Châu Ro đang chơi cồng chiêng Nhiều ngày trước khi diễn ra lễ cúng, các trai làng đã rủ nhau vào tận trong rừng sâu để chọn một cây tre thật to, thật cao để làm cây nêu. Lễ vật cúng Giàng thông thường gồm: đầu heo, cơm lam, thịt nướng xâu, gà luộc và những vại rượu cần. Đoàn dâng lễ vật sẽ tiến hành rước từ dưới đất lên đến nhà rông, dẫn đầu đoàn rước lễ là già làng, hai tay cầm bát nhang lên dâng cao, tiếp theo sau là đầu heo, rượu cần và các lễ vật khác... Trong ngày diễn ra hội, nhà rông sẽ được trang trí rất đẹp và theo phong cách của người Châu Ro, có ảnh Bác Hồ, có cờ đỏ sao vàng đặt ngay bên bàn thờ cúng Giàng. Trong lúc dâng lễ vật lên bàn thờ tổ tiên, già làng sẽ thay mặt toàn thể nhân dân trong làng tạ ơn thần linh đã ban bà con dân làng một năm mùa màng tươi tốt, người dân được khỏe mạnh, đồng thời cầu cho năm tới họ lại được thần linh ban cho ơn lộc dồi dào. Tiếp theo sẽ là phần dựng nêu. Cây nêu sẽ được dựng năm nay sẽ cao hơn mọi năm. Khi cây nêu được dựng lên xong, toàn thể dân làng cùng các khách mời sẽ vào trong nhà rông để thưởng thức rượu cần, thịt nướng xâu cơm lam, và các màn múa hát rộn ràng theo tiếng cồng chiêng. Đồng Bào Châu Ro tưng bừng mừng hội dựng cây nêu Lễ hội dựng cây nêu của đồng bào dân tộc Châu Ro ở tỉnh Đồng Nai có ý nghĩa giúp bà con nơi đây duy trì và phát huy được bản sắc của dân tộc mình.

Related Figures

Lễ hội cúng bà

Thông tin thời kỳ

(lehoi.info) - Lễ hội cúng Bà được nhiều nơi tổ chức, nhưng ở mỗi nơi lại có một cách tổ chức khác nhau, và tùy thuộc vào ngày vía của mỗi Bà. Trong những ngày sóc, vọng, ngày Tết Nguyên Đán hay ngày vía đất, các miễu Bà lại được mở cửa để cúng một lễ nhỏ bằng nhang, bông, bánh trái, còn ngày vía mới là ngày lễ chính. Có nơi còn cúng thường niên đều giống nhau, có nơi lại đáo lệ 2 hoặc ba năm một lần. Miễu Bà tại Đồng Nai, Bà được thờ thường là các nữ thần có nguyên lai khác nhau, được thờ cúng tại miễu tùy theo quan niệm tâm linh của mỗi nơi, nhưng phổ biến nhất là: Bà Ngũ Hành nương nương, Bà Chúa Thượng ngàn, Liễu Hạnh công chúa, Chúa Ngọc nương nương, Chúa Xứ nương nương, Chúa Tiên nương nương, Linh sơn thánh mẫu, Thủy Long thần nữ, Thiên Hậu thánh mẫu, nữ thần bổn địa… Lễ cúng vía Bà thường tổ chức vào ban đêm (thuộc âm) và được Ban quý tế của làng đứng ra thực hiện các lễ cúng, cũng có khi do tổ chức hội mẫu của địa phương thực hiện. Miễu thuộc hệ dân dã nên thường tổ chức các nghi thức cúng Bà cũng không theo đúng khung theo khuôn phép điển lệ như rất tưng bừng, cởi mở và sinh động hơn lễ cúng đình. Tuy nhiên , tại nhiều địa phương vẫn thường áp dụng các nghi thức cúng đình trong lễ cúng miễu. Người dân khắp nơi trong nước đổ xô về Đồng Nai trẩy hội cúng bà ở Miễu Lễ vật cúng miễu được chuẩn bị rất đơn giản và cũng không cần phải kiêng kỵ nhiều như cúng đình. Bình thường thì: heo quay, heo luộc, mâm xôi, bánh chưng... Nhìn chung là tùy tâm, tùy sức. mâm vàng bạc, đồ trang sức… đều được miễn là lòng thành. Việc trang trí và bày biện điện thờ cũng rất đơn giản như: bình bông, bát nhang, chân đèn, chén nước,… Nhiều nơi vật thờ còn có thêm: gương, quạt, lược, trâm cài, và vài món trang sức khác dành cho nữ giới. Những miễu độc lập sẽ có thêm Tả ban, Hữu ban, Nhị vị công tử, Nhị vị công nương, cậu Chài, cậu Quới… Vì là thờ nữ thần cho nên án thờ dù nhỏ vẫn thường được trang hoàng trông rất sặc sỡ, có lộng che và rèm phủ. Trước kia, rất ít ngôi miễu có cốt tượng, thường thờ rất đơn giản bằng chữ Hán được vẽ trên tường hoặc dán trong khám thờ. Những năm gần đây, có miễu thờ cốt tượng bằng thạch cao, gốm, xi măng hay vẽ bằng tranh có lồng kính cho nên các Bà cũng trở nên đồng dạng, trang phục cũng lộng lẫy như nhau, chỉ khác nhau ở tên gọi. Riêng Bà Ngũ Hành là trông khác biệt rõ nhất và dễ nhận ra nhất với bộ cốt tượng có đầy đủ 5 bà trong 5 sắc áo khác nhau có màu đỏ, tím, xanh, vàng, lục với quan niệm của ông cha từ xa xưa đã cho rằng hành thổ màu vàng và là trung tâm nên được ngồi ở giữa. Đêm trước ngày diễn ra lễ vía, ban tổ quý tế sẽ tiến hành thay áo mới ho các Bà như lễ mộc dục khá phổ biến. Khi cử hành lễ này, Chánh bái và Bồi tế sẽ lên nhang, đèn khấn trước để vái xin phép Bà, rồi lui ra. Các phụ nữ sẽ “sạch mình” đã chuẩn bị sẵn các thay nước thơm (nước hương nhu, lá sả, bông bưởi), dùng khăn sạch rồi nhúng nước thơm lau khắp các tượng Bà cho sạch. Khăn lau Bà xong thì vắt nước bẩn ra thau khác, cứ như thế cho tới khi sạch Bà rồi mới thôi. Sau đó, sẽ tiến hành thay cho Bà áo mới, áo cũ và khăn lau sau khi làm xong phải đốt đi chứ không được dùng vào việc khác. Phần hội của lễ cúng Bà hấp dẫn với Hát bóng rỗi, chặp Địa-Nàng, là một loại hình nghệ thuật truyền thống luôn được người dân ở Biên Hòa - Đồng Nai yêu thích. Hát bóng rỗi, Chặp Địa-Nàng vừa có tính nghi lễ (để cúng) những cũng có tính giải trí, vui chơi trong phần hội; đó là một loại hình thức diễn xướng tổng hợp, gồm có nhiều tiết mục được biểu diễn liên tục, đồng thời cũng có thể phân chia ra thành các tổ hợp các tiết mục tùy chọn. Hát bóng rỗi, Địa-Nàng tại Đồng Nai gồm nhiều tiết mục như: Chầu mời-thỉnh tổ, Chặp Địa-Nàng, Khai tràng, Hát bóng rỗi. Lễ hội cúng bà ở Miễu tại Đồng Nai Mở đầu mỗi cuộc hát là lễ Khai tràng với mục đích khai mạc cuộc hát, thường là dàn nhạc bóng biểu diễn. Tiếp theo sẽ là các xấp hát Chầu mời - thỉnh tổ. Điệu hát có vận dụng cả vè, lý, nói rỗi (nói lối) có khi còn có cả làn điệu tuồng. Sau màn Hát Chầu là diễn Chặp Địa-Nàng. Đây là Chặp bóng, là một tích tuồng hài hước thường được biểu diễn ở lễ cúng miễu Bà hay miễu Thổ Địa. Cuộc hát chỉ có 2 nhân vật là Nàng và Địa. Chặp Địa - Nàng cũng vừa dứt thì bóng múa cũng nổi lên. Bóng múa vừa mang tính chất nghi lễ những cũng có tính giải trí. Sau đó, các tiết mục bóng múa sẽ thay nhau múa bông, múa dâng mâm vàng, tiếp đó là các tiết mục tạp kỹ đặc sắc. Tiết mục múa trò chơi còn được gọi là múa tạp kỹ dài hay ngắn, nhiều ít tùy còn tùy thuộc vào không khí cuộc vui; dân làng thưởng nhiều thì họ cũng hào hứng hơn và múa bóng múa hay, khéo hơn, tận tình hơn và ngược lại. Những vị nữ thần được thờ phụng tại miễu ở Đồng Nai hấu hết là có nguồn gốc từ biển, đánh dấu cho một hồi ức của người dân gắn chặt với những hành trình gian lao hình thành từ các cộng đồng cư dân Việt tại tỉnh Đồng Nai. Với một tập hợp các nữ thần phức hệ như vậy, Đồng Nai từ lâu đã như là điểm hội tụ đồng thời là nơi để quảng bá các hệ tín ngưỡng thờ nữ thần của các tỉnh miền Bắc, miền Tây, miền Trung, người Hoa và người dân bổn địa. Tục thờ cúng các nữ thần cũng đã cho thấy, người dân Việt Nam ở địa phương ít nhất cũng đã tìm được biểu tượng tâm linh.

(lehoi.info) - Lễ hội cúng Bà được nhiều nơi tổ chức, nhưng ở mỗi nơi lại có một cách tổ chức khác nhau, và tùy thuộc vào ngày vía của mỗi Bà. Trong những ngày sóc, vọng, ngày Tết Nguyên Đán hay ngày vía đất, các miễu Bà lại được mở cửa để cúng một lễ nhỏ bằng nhang, bông, bánh trái, còn ngày vía mới là ngày lễ chính. Có nơi còn cúng thường niên đều giống nhau, có nơi lại đáo lệ 2 hoặc ba năm một lần.

Miễu Bà tại Đồng Nai, Bà được thờ thường là các nữ thần có nguyên lai khác nhau, được thờ cúng tại miễu tùy theo quan niệm tâm linh của mỗi nơi, nhưng phổ biến nhất là: Bà Ngũ Hành nương nương, Bà Chúa Thượng ngàn, Liễu Hạnh công chúa, Chúa Ngọc nương nương, Chúa Xứ nương nương, Chúa Tiên nương nương, Linh sơn thánh mẫu, Thủy Long thần nữ, Thiên Hậu thánh mẫu, nữ thần bổn địa… Lễ cúng vía Bà thường tổ chức vào ban đêm (thuộc âm) và được Ban quý tế của làng đứng ra thực hiện các lễ cúng, cũng có khi do tổ chức hội mẫu của địa phương thực hiện. Miễu thuộc hệ dân dã nên thường tổ chức các nghi thức cúng Bà cũng không theo đúng khung theo khuôn phép điển lệ như rất tưng bừng, cởi mở và sinh động hơn lễ cúng đình. Tuy nhiên , tại nhiều địa phương vẫn thường áp dụng các nghi thức cúng đình trong lễ cúng miễu. Người dân khắp nơi trong nước đổ xô về Đồng Nai trẩy hội cúng bà ở Miễu Lễ vật cúng miễu được chuẩn bị rất đơn giản và cũng không cần phải kiêng kỵ nhiều như cúng đình. Bình thường thì: heo quay, heo luộc, mâm xôi, bánh chưng... Nhìn chung là tùy tâm, tùy sức. mâm vàng bạc, đồ trang sức… đều được miễn là lòng thành. Việc trang trí và bày biện điện thờ cũng rất đơn giản như: bình bông, bát nhang, chân đèn, chén nước,… Nhiều nơi vật thờ còn có thêm: gương, quạt, lược, trâm cài, và vài món trang sức khác dành cho nữ giới. Những miễu độc lập sẽ có thêm Tả ban, Hữu ban, Nhị vị công tử, Nhị vị công nương, cậu Chài, cậu Quới… Vì là thờ nữ thần cho nên án thờ dù nhỏ vẫn thường được trang hoàng trông rất sặc sỡ, có lộng che và rèm phủ. Trước kia, rất ít ngôi miễu có cốt tượng, thường thờ rất đơn giản bằng chữ Hán được vẽ trên tường hoặc dán trong khám thờ. Những năm gần đây, có miễu thờ cốt tượng bằng thạch cao, gốm, xi măng hay vẽ bằng tranh có lồng kính cho nên các Bà cũng trở nên đồng dạng, trang phục cũng lộng lẫy như nhau, chỉ khác nhau ở tên gọi. Riêng Bà Ngũ Hành là trông khác biệt rõ nhất và dễ nhận ra nhất với bộ cốt tượng có đầy đủ 5 bà trong 5 sắc áo khác nhau có màu đỏ, tím, xanh, vàng, lục với quan niệm của ông cha từ xa xưa đã cho rằng hành thổ màu vàng và là trung tâm nên được ngồi ở giữa. Đêm trước ngày diễn ra lễ vía, ban tổ quý tế sẽ tiến hành thay áo mới ho các Bà như lễ mộc dục khá phổ biến. Khi cử hành lễ này, Chánh bái và Bồi tế sẽ lên nhang, đèn khấn trước để vái xin phép Bà, rồi lui ra. Các phụ nữ sẽ “sạch mình” đã chuẩn bị sẵn các thay nước thơm (nước hương nhu, lá sả, bông bưởi), dùng khăn sạch rồi nhúng nước thơm lau khắp các tượng Bà cho sạch. Khăn lau Bà xong thì vắt nước bẩn ra thau khác, cứ như thế cho tới khi sạch Bà rồi mới thôi. Sau đó, sẽ tiến hành thay cho Bà áo mới, áo cũ và khăn lau sau khi làm xong phải đốt đi chứ không được dùng vào việc khác. Phần hội của lễ cúng Bà hấp dẫn với Hát bóng rỗi, chặp Địa-Nàng, là một loại hình nghệ thuật truyền thống luôn được người dân ở Biên Hòa - Đồng Nai yêu thích. Hát bóng rỗi, Chặp Địa-Nàng vừa có tính nghi lễ (để cúng) những cũng có tính giải trí, vui chơi trong phần hội; đó là một loại hình thức diễn xướng tổng hợp, gồm có nhiều tiết mục được biểu diễn liên tục, đồng thời cũng có thể phân chia ra thành các tổ hợp các tiết mục tùy chọn. Hát bóng rỗi, Địa-Nàng tại Đồng Nai gồm nhiều tiết mục như: Chầu mời-thỉnh tổ, Chặp Địa-Nàng, Khai tràng, Hát bóng rỗi. Lễ hội cúng bà ở Miễu tại Đồng Nai Mở đầu mỗi cuộc hát là lễ Khai tràng với mục đích khai mạc cuộc hát, thường là dàn nhạc bóng biểu diễn. Tiếp theo sẽ là các xấp hát Chầu mời - thỉnh tổ. Điệu hát có vận dụng cả vè, lý, nói rỗi (nói lối) có khi còn có cả làn điệu tuồng. Sau màn Hát Chầu là diễn Chặp Địa-Nàng. Đây là Chặp bóng, là một tích tuồng hài hước thường được biểu diễn ở lễ cúng miễu Bà hay miễu Thổ Địa. Cuộc hát chỉ có 2 nhân vật là Nàng và Địa. Chặp Địa - Nàng cũng vừa dứt thì bóng múa cũng nổi lên. Bóng múa vừa mang tính chất nghi lễ những cũng có tính giải trí. Sau đó, các tiết mục bóng múa sẽ thay nhau múa bông, múa dâng mâm vàng, tiếp đó là các tiết mục tạp kỹ đặc sắc. Tiết mục múa trò chơi còn được gọi là múa tạp kỹ dài hay ngắn, nhiều ít tùy còn tùy thuộc vào không khí cuộc vui; dân làng thưởng nhiều thì họ cũng hào hứng hơn và múa bóng múa hay, khéo hơn, tận tình hơn và ngược lại. Những vị nữ thần được thờ phụng tại miễu ở Đồng Nai hấu hết là có nguồn gốc từ biển, đánh dấu cho một hồi ức của người dân gắn chặt với những hành trình gian lao hình thành từ các cộng đồng cư dân Việt tại tỉnh Đồng Nai. Với một tập hợp các nữ thần phức hệ như vậy, Đồng Nai từ lâu đã như là điểm hội tụ đồng thời là nơi để quảng bá các hệ tín ngưỡng thờ nữ thần của các tỉnh miền Bắc, miền Tây, miền Trung, người Hoa và người dân bổn địa. Tục thờ cúng các nữ thần cũng đã cho thấy, người dân Việt Nam ở địa phương ít nhất cũng đã tìm được biểu tượng tâm linh.

Related Figures

Lễ hội Kỳ Yên Đình Tân Lân

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 12/12- 14/12 Âm lịch (lehoi.info) - Lễ hội Kỳ Yên Đình Tân Lân ở phường Hoà Bình thuộc thành phố Biên Hoà, thường diễn ra vào 3 ngày, từ ngày 12 dến 14 tháng Chạp âm lịch hàng năm. Ngày 23/10/1720, Trần Thượng Xuyên tức Trấn Biên Đô đốc tướng quân qua đời. Người dân nơi ông sinh sống vì muốn tưởng nhớ đến công lao của ông trong thời đầu khai phá đất đai và mở rộng giao lưu và buôn bán thương mại vùng Đồng Nai - Gia Định, họ đã lập một ngôi miếu nhỏ để thờ cúng ông ngay tại khu vực thành cổ Biên Hòa. Đồng Nai tưng bừng lễ hội Kỳ Yên Đình Tân Lân Ngày 14/12/ 1861, tướng Bonard phê chuẩn bản kế hoạch đánh chiếm Biên Hoà , liên quân Tây Ban Nha và Pháp với khoảng 1000 quân lính, 2 hạm thuyền tiến đánh cả đường thủy lẫn đường bộ. Sáng ngày 17/12, Pháp đã chiếm đóng tỉnh lỵ Biên Hoà, kể từ đó ngôi miếu thờ Trấn Biên Đô đã phải di dời hai lần là vào năm 1861 và vào năm 1906, sau đó mới chuyển đến nơi hiện nay. Miếu được xây dựng từ năm 1935, với kiến trúc kiên cố và lấy tên là Tân Lân thành cổ miếu (hay Đình Tân Lân). Đình Tân Lân đã được Bộ Văn hoá -Thông tin- Thể thao và Du lịch xếp hạng vào danh sách di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia vào ngày 25/03/1991, Đình thờ Trấn Biên đô đốc Trần Thượng Xuyên. Đình Tân Lân có những mảng trang trí khá nổi bật là sự kết hợp hài hoà giữa kiến trúc nghệ thuật thời Nguyễn và một yếu tố nữa là kiến trúc nghệ thuật đặc trưng của vùng Hoa Nam (Trung Quốc). Màn biểu diễn lục lân đặc sắc Ngày nay, đình Tân Lân vẫn còn lưu giữ được sắc thần của vua Tự Đức thứ 5 (1852) tặng cho Trần Thượng Xuyên, có nhiều tài liệu Hán Nôm và nhiều bản chất liệu gỗ gồm tám tấm liễn đối, 12 bức hoành phi và 2 bộ Bát bửu được làm bằng đồng... Lễ hội Kỳ Yên Đình Tân Lân thường diễn ra trong 2 ngày. Lẽ hội gồm có nhiều hoạt động cơ bản như: lễ cung thỉnh sắc ông, lễ nhập đoàn, lễ xây chầu đại hội, lễ thỉnh sanh, lễ hạ đàn. Các thành viên trong Ban tổ chức trước khi tham gia các nghi lễ phải dúng rượu trắng để tẩy uế bản thân. Trước khi cử hành lễ rước Đức ông đi diễu quanh thành, phải thực hiện lễ khai sắc ông: đức ông phải được tắm rửa bằng rượu, sau đó mặc áo bào… Ngoài ra, trong lễ hội này còn có nghi thức cúng tiên yết, là một hoạt động cầu nguyện cho xã hội yên bình, người dân có cuộc sống âm no, hạnh phúc Trong những ngày tổ chức lễ hội, rất đông dân chúng khắp nơi thường đều tụ tập về đây để trẩy hội, dâng hương, rước Đức ông đi chu du trong thành, xem hát bội và hát tuồng./. Lễ rước Đức Ông được tổ chức rất long trọng

(lehoi.info) - Lễ hội Kỳ Yên Đình Tân Lân ở phường Hoà Bình thuộc thành phố Biên Hoà, thường diễn ra vào 3 ngày, từ ngày 12 dến 14 tháng Chạp âm lịch hàng năm.

Ngày 23/10/1720, Trần Thượng Xuyên tức Trấn Biên Đô đốc tướng quân qua đời. Người dân nơi ông sinh sống vì muốn tưởng nhớ đến công lao của ông trong thời đầu khai phá đất đai và mở rộng giao lưu và buôn bán thương mại vùng Đồng Nai - Gia Định, họ đã lập một ngôi miếu nhỏ để thờ cúng ông ngay tại khu vực thành cổ Biên Hòa. Đồng Nai tưng bừng lễ hội Kỳ Yên Đình Tân Lân Ngày 14/12/ 1861, tướng Bonard phê chuẩn bản kế hoạch đánh chiếm Biên Hoà , liên quân Tây Ban Nha và Pháp với khoảng 1000 quân lính, 2 hạm thuyền tiến đánh cả đường thủy lẫn đường bộ. Sáng ngày 17/12, Pháp đã chiếm đóng tỉnh lỵ Biên Hoà, kể từ đó ngôi miếu thờ Trấn Biên Đô đã phải di dời hai lần là vào năm 1861 và vào năm 1906, sau đó mới chuyển đến nơi hiện nay. Miếu được xây dựng từ năm 1935, với kiến trúc kiên cố và lấy tên là Tân Lân thành cổ miếu (hay Đình Tân Lân). Đình Tân Lân đã được Bộ Văn hoá -Thông tin- Thể thao và Du lịch xếp hạng vào danh sách di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia vào ngày 25/03/1991, Đình thờ Trấn Biên đô đốc Trần Thượng Xuyên. Đình Tân Lân có những mảng trang trí khá nổi bật là sự kết hợp hài hoà giữa kiến trúc nghệ thuật thời Nguyễn và một yếu tố nữa là kiến trúc nghệ thuật đặc trưng của vùng Hoa Nam (Trung Quốc). Màn biểu diễn lục lân đặc sắc Ngày nay, đình Tân Lân vẫn còn lưu giữ được sắc thần của vua Tự Đức thứ 5 (1852) tặng cho Trần Thượng Xuyên, có nhiều tài liệu Hán Nôm và nhiều bản chất liệu gỗ gồm tám tấm liễn đối, 12 bức hoành phi và 2 bộ Bát bửu được làm bằng đồng... Lễ hội Kỳ Yên Đình Tân Lân thường diễn ra trong 2 ngày. Lẽ hội gồm có nhiều hoạt động cơ bản như: lễ cung thỉnh sắc ông, lễ nhập đoàn, lễ xây chầu đại hội, lễ thỉnh sanh, lễ hạ đàn. Các thành viên trong Ban tổ chức trước khi tham gia các nghi lễ phải dúng rượu trắng để tẩy uế bản thân. Trước khi cử hành lễ rước Đức ông đi diễu quanh thành, phải thực hiện lễ khai sắc ông: đức ông phải được tắm rửa bằng rượu, sau đó mặc áo bào… Ngoài ra, trong lễ hội này còn có nghi thức cúng tiên yết, là một hoạt động cầu nguyện cho xã hội yên bình, người dân có cuộc sống âm no, hạnh phúc Trong những ngày tổ chức lễ hội, rất đông dân chúng khắp nơi thường đều tụ tập về đây để trẩy hội, dâng hương, rước Đức ông đi chu du trong thành, xem hát bội và hát tuồng./. Lễ rước Đức Ông được tổ chức rất long trọng

Related Figures

Lễ đâm trâu của người Kơho

Thông tin thời kỳ

Lễ đâm trâu của người Kơho tại Đồng Nai (Nhôxarpu) là một trong những lễ hội quan trọng bậc nhất của cộng đồng dân tộc Kơho. Lễ hội này thường diễn ra vào dịp cúng cầu an cho dân làng và cũng chính là thông báo tới toàn thể dân làng về mối thân tình anh em vừa kết nghĩa. Lễ vật thường được cho dâng lên các vị thần trong lễ đâm trâu chỉ là thịt trâu và rượu cần dùng để tất cả người dân uống mừng. Nơi tổ chức lễ hội thường là một bãi đất trống, bằng phẳng và đủ rộng, có được dựng hai cây cột. Cây cột cao có treo hình tượng một cặp sừng trâu và cây bông trắng được làm bằng tre hoặc nứa - vật được người dân Kơho quan niệm là tượng trưng cho thần linh. Cây cột thấp vững chắc sẽ dùng để cột trâu. Con trâu là vật tế thần linh trong Lễ đâm trâu của người Kơho Trâu được cột vào cây cột thấp trước 1 ngày diễn ra lễ đâm trâu. Từ tờ mờ sáng người ta đã tiến hành lễ cúng, dưới sự cầu xin thần linh về chứng giám và phù hộ cho bà con những điều tốt đẹp hòa cùng những điệu múa, điệu nhảy vui của dân làng. Thực hiện nghi lễ đâm trâu Vật dùng để đâm trâu là một loại giáo, bề lưỡi giáo rất bén sẽ dùng để đâm vào bên hông trái của con trâu với mục đích xuyên vào tim. Trong lễ cúng cầu bình an, già làng hoặc một người cao tuổi có uy tín nào đó sẽ được quyền ưu tiên đâm trâu. Trong lễ kết nghĩa anh em thì người bạn sẽ là người thông báo với làng và cầm giáo đâm trâu. Trong lễ cúng cầu những điều tốt lành cho dân làng, thịt vật cúng sẽ được chia thành các phần đều nhau cho dân làng để ăn mừng, uống rượu vui vẻ trong những ngày hội. Trong lễ kết nghĩa anh em thì thịt trâu sẽ được chia đều cho hai bên. Tùy vào mỗi người trong lễ kết nghĩa mà thịt trâu sẽ được chia ra để chia họ hàng bà con với mục đích thông báo tin vui đến mọi người. Người Kơho rât kiêng kỵ sự gian dối và tham lam nên thịt trâu được mổ trong các dịp lễ hội không được ăn một mình, mà phải gia chủ phải chia đều cho bà con trong làng để cùng chia sẻ niềm vui và sự an bình.

Related Figures

Lễ cúng Lơh– Yang – Rơ của người Kơho

Thông tin thời kỳ

Cộng đồng dân tộc Kơho có nhiều nhóm người như: Nôp; Xre; Cơ Don; Lạt; Chil; T’ring… Họ sống xen kẽ và có mối quan hệ chặt chẽ với các dân tộc Mnông và Mạ, anh em nên một số nhóm Kơho khó có thể phân biệt được với hai dân tộc trên. Người Kơho có quan niệm rằng, thần linh và ma quỷ chi phối đến đời sống của họ nên trong năm họ thường tổ chứ rất nhiều lễ cúng như: cúng thần lúa (Lơh Yang rơ ), lễ đâm trâu... Lễ Lơh Yang rơ thường được tổ chức với thời điểm khi mùa màng đã thu hoạch xong và người dân làm lễ cúng để tạ ơn thần lúa đã giúp họ có một vụ mùa bội thu, thóc đầy kho, hứa hẹn cuộc sống ấm no và hạnh phúc. Qua đó đồng bào Kơho cũng xin thần lúa phù hộ cho họ một vụ mùa mới bội thu hơn năm trước. Dân làng mừng ngày hội Lễ vật trong lễ cúng Lơh– Yang – Rơ của người Kơhol thường mổ lợn, giết dê hoặc gà, vịt và không thể thiếu rượi cần. Trước khi cử hành lễ cúng Yang lúa, người Kơho phải lập một bàn thờ Yang ở cạnh kho lúa của mình. Cách trang trí bàn thờ Yang cũng là việc rất quan trọng: bên trên có trang trí một cây bông vải, cây bông tre đã được bôi tiết của con vật dùng để cúng lễ. Bên dưới bày các lễ vật như: bánh chưng, thính (cốm dẹp); bánh dầy, bộ đồ lòng của các con vật cúng; củ khoai môn đỏ; ly rượu; bó bông lúa; đọt mây… Hai sợi dây chỉ được đính bông trắng nối liền từ tầng trên của bàn Yang đến bình rượu cần, dùng làm dây dẫn đường để Yang đến được với bình rượu và các vật tế lễ. Dân làng lần lượt gùi các lễ vật cúng gồm: gà, vịt, rượu để cúng tế Trong lúc cử hành lễ, người lớn tuổi trong dòng họ hoặc già làng sẽ đọc bài gọi Yang, sau đó là lễ tạ ơn, cầu xin… Lễ cúng Yang sẽ được tổ chức ở kho lúa trước rồi mới được di chuyển về nhà ở. Những cô gái người Kơho bên ché rượu cần Đây là một lễ hội lớn của người Kơho diễn ra trong thời điểm người dân đang rảnh rỗi, mang tính chất như bữa tiệc ăn mừng mùa màng bội thu. Lễ hội này thường diễn ra từ 3 ngày, có khi là cả 1 tuần, trong không khí vui vẻ. Trong điệu nhạc, tiếng cồng chiêng (cing và gòng) và chất men của rượu cần, mọi người trong đồng bào Kơho sẽ nhảy múa, hát hò và kể những chuyện về đồng bào mình, làm quen… Các hình thức văn hóa nghệ thuật này được dịp phô diễn và gìn giữ cho các thế hệ trẻ.

Related Figures

Lễ cúng Yang Koi của người Mạ

Thông tin thời kỳ

Dân tộc Châu Mạ còn được gọi bằng các tên khác như: Chê Mạ, Chau Mạ, Mạ Xôp, Mạ Tô, Mạ Ngan, Mạ Xrê… Theo con số liệu thống kê vào năm 1999, số người Châu Mạ đứng thứ 10 trong tổng số hơn 40 dân tộc của Việt Nam. Họ tập trung đông nhất ở ấp Hiệp Nghĩa thuộc thị trấn Định Quán, và Tà Lài thuộc huyện Tân Phú, ở các các xã khác như Phú Sơn, Phú Bình… cũng khá đông. Trong một năm, người Mạ tổ chức rất nhiều nghi lễ cúng. Trong đó, lễ cúng Yang Koi được xem là lễ cúng lớn nhất trong năm của người Mạ. Thời gian cúng thường diễn ra vào tháng hai đến tháng ba âm lịch, đó là thời điểm người Mạ đã thu hoạch mùa màng xong.Trước đây lễ cúng thường được tổ chức ở nhà dài nhưng những năm gần đây vì kết cấu cộng đồng đã có nhiều thay đổi nên mỗi nhà sẽ tự tổ chức theo điều kiện nhà mình. Lễ cúng Yang Koi của người Mạ tại Đồng Nai Để chuẩn bị cho lễ cúng, đàn ông Mạ sẽ đi vào rừng chọn những cây tre thật cao, thẳng và đem về khoảng sân để hành lễ. Họ chọn 2 cây tre non cao khoảng 3- 4 mét, sau đó chẻ ngọn thành nhiều nhánh và trang trí bằng nhiều hình vuông với các chùm bông tỉa ra. Chính giữa cây tre sẽ cắm một chùm gai để mây tượng trưng cho bông lúa. Những hoa văn theo các hình học vẽ trên các vật trang trí đều thể hiện qua các tay dan, các dây nối được kết từ gốc lên đến ngọn và thẳng lên trời cao. Cây tre này sẽ được phân chia thành nhiều nấc với các hình tròn, hình vuông, bao trùm và tỏa xuống dưới gốc với nhiều dây trang trí có nhiều hình tượng con vật được đan bằng lạt tre rất sinh động. Hai cây tre này sẽ được chôn ngay trước sân, ở mỗi bông xòe ra sẽ cài lên đó một cái chén cơm nhỏ. Dưới gốc cây tre sẽ đặt những chóe rượu cần. Lễ vật được chuẩn bị là tùy theo điều kiện kinh tế của người dân trongbuôn làng mà già làng sẽ đứng ra làm chủ tế. Ở mỗi hộ, tùy vào điều kiện kinh tế mà gia chủ có thể giết gà, heo, vịt, trâu hoặc dê để làm lễ cúng hoặc tự gia chủ cúng, không mời Bà Bóng và Thầy Cúng. Chủ nhà đang cúng lễ Thần lúa để mong cầu năm tới mùa màng tươi tốt Lời khấn vái có tiết tấu và nhịp điệu, nội dung cụ thể và không được van lơn như lời khấn vái người Kinh vẫn dùng: “Ơ Thần Lúa! Lúa ở dưới nước, dưới bùn hãy về nhà ăn thịt gà, vịt với tôi. Đây là lần cuối tôi được thu mùa. Tôi lạy Thần Lúa, lạy Thần Đất đã ban cho tôi được mùa màng bội thu” hoặc “Năm nay tôi đã uống mừng lúa. Tôi cúng heo cho Thần Lúa để mong cho lúa ăn không hết. Tới năm sau làm nữa thì sẽ có nữa. Mong Thần Lúa đừng để tôi đói, tôi làm rẫy sẽ có cơm ăn. Tôi mời Thần Lúa về ăn con heo, uống rượu và ăn cơm nếp. Tôi mừng Thần Lúa. Tôi ăn cơm đến mùa tới. Sang năm tôi lại làm 3 lần mời Thần Lúa ăn. Trước tháng 4 tôi cúng con gà. Bắt đầu tháng 7 tôi cúng Thần con vịt. Tháng 11 tôi sẽ có thêm nhiều lúa, tôi cúng Thần Lúa con heo. Năm nay Thần Lúa hãy cho tôi ăn, tôi sẽ làm nữa để lại có cơm ăn…” Người dân dân tộc Mạ nổi cồng chiêng và nhảy múa trong ngày lễ Yang Koi Sau khi cúng xong, mọi người sẽ cùng chung vui dự tiệc. Đêm xuống họ cùng đốt lửa, hát ca, nhảy múa, các thanh niên thì tổ chức trò chơi… Nhạc cụ sẽ hòa nhịp theo các bài hát và điệu múa của bà con. Theo truyền thống, việc vui chơi của lễ sẽ kéo dài đến hết 3 ngày 3 đêm, có khi trong cả 1 tuần lễ. Nhưng ngày nay lễ chỉ diễn ra trong một ngày đêm. Dẫu quy mô, nghi thức này đã giản tiện hơn rất nhiều so với trước đây nhưng lễ cúng Yang Koi vẫn luôn được đồng bào Mạ tôn trọng trong đời sống tâm linh. Đây là lễ cúng mà người Mạ vẫn quan niệm rằng các vị thần này có liên quan trực tiếp đến mùa màng của dòng họ. Các cô gái đồng bào Yang Koi đi lấy nước

Related Figures

Lễ hội Hạn Khuống

Thông tin thời kỳ

Hạn khuống là một lễ hội văn hóa truyền thống của đồng bào người Thái ở Điện Biên. Lễ hội này thường được tổ chức sau vụ thu hoạch diễn ra vào tháng 11 hàng năm. Hạn Khuống là lễ hội do bên nhà gái tổ chức nhưng thực ra là một cuộc giao lưu vui vẻ để tìm hiểu người bạn đời sau đó cô gái sẽ chia tay bố mẹ để để về nhà chồng. Chính vì thế, Hạn Khuống diễn ra rất vui vẻ, chan chứa tình thương nên đã để lại rất nhiều kỷ niệm và ấn tượng tốt đẹp của một thời trẻ trung sôi nổi. Lễ hội Hạn Khuống tại Điện Biên Khi nói tới lễ hội Hạn Khuống, người Thái sẽ liên tưởng ngay đến nơi hò hẹn, giao duyên của nam nữ bằng những lời ca thắm đượm tình. Đây cũng là một nét đẹp trong sinh hoạt văn hóa cổ xưa của người Thái. Hạn Khuống còn là lễ hội làm cho trai mường và gái bản Thái càng ngày càng thêm yêu cuộc sống, yêu nghề và gần gũi với thiên nhiên, vì văn hóa dân tộc của người Thái được bắt nguồn từ tình yêu cuộc sống, bắt đầu từ các phong tụ và thói quen sinh hoạt của một tộc người bao đời gắn bó với núi rừng. Có thể nói rằng, lửa sàn Hạn Khuống sẽ thắm đượm tình người khi khách thập phương và bạn bè gần xa cùng đến giao duyên trên sàn Hạn Khuống vào đúng ngày lễ hội, mỗi dịp tết đến xuân về. Ngoài căn nhà sàn vốn là nơi thân quen của cả làng, khi tiết trời chuyển sang mùa xuân, khi bản mường đang bước vào mùa lễ hội, thanh niên nam nữ đồng bào Thái sẽ cùng nhau vào rừng chặt vài cây rừng để về dựng một sàn tại một khu đất trống giữa bản, sàn có thể được dựng từ tre hoặc gỗ, sàn này còn được gọi là Hạn Khuống và nơi để thanh niên nam nữ người Thái đến khắp (hát) đối đáp. Trên sàn Hạn Khuống, người ta đã chuẩn bị dụng cụ cho những chàng trai và cô gái hội tụ giao duyên; con gái Thái thì cán bông, quay sợi, dệt vải, thêu thùa bằng các loại chỉ màu, còn có cả bếp củi để đốt lửa. Dụng cụ dành cho trai Thái gồm có lạt đỏ, lạt xanh, lạt trắng để đan những chiếc hom, chiếc giỏ, đan ớp, hoặc các con vật để dành tặng cho người bạn gái, người mà chàng trai Thái đã có ý tỏ tình trong đêm khắp đối giao duyên. Ống điếu và bó đóm được làm bằng tre ngâm khô và túi thuốc lào. Ngoài ra, còn có các vật dụng khác để đan vợt xúc, đan chải... và các loại nhạc cụ như pí pặp, khèn bè, sáo trúc, pí thiu,,đàn tính... Những chàng trai đang hát đáp lại các cô gái để được lên sàn hoa Sàn Hạn Khuống được dựng cao chừng 1,2m - 1,5m, rộng 0,6m, dài khoảng 5m, xung quanh có dựng lan can và được trang trí hoa văn mang đậm bản sắc dân tộc. Giữa sàn Hạn Khuống có dựng cây nêu to và dài làm bằng tre, phần ngọn của nó còn nguyên lá và trang trí các con giống với nhiều màu sắc gọi là “Lắc xáy chính”. Cây “Lắc xáy chính” này còn mang hình dáng của cây vũ trụ. Bốn góc sàn Hạn Khuống có bốn cây nhỏ được trang trí đẹp còn mắt gọi là “Lắc xáy”. Ở bốn góc sàn đều dựng cầu thang để tiện cho việc lên xuống, còn được gọi là “San bó Han Khuông” (tức Sàn hoa Hạn Khuống). Chủ thể Hạn Khuống sẽ chọn các thiếu nữ Thái xinh đẹp nhất của bản mường, còn là người có đức, có tài hát đối ứng còn được gọi là “Xao tỏn khuống”. Bốn cô gái sẽ ngồi ở bốn góc Hạn Khuống gọi là “Xao lắc xáy”. Khi bếp lửa trên sàn được nhóm lên, ngọn lửa sẽ cháy rực sáng cả một góc bản mường thì cũng là thời điểm các cô chủ Hạn Khuống rút thang lên, quay guồng xa của mình và kéo sợi giăng ngang ở lối lên - xuống của sàn Hạn Khuống và cuộc thi tài cũng chính thức bắt đầu. Lúc này, các chàng trai Thái nếu muốn lên sàn hoa thì cần phải hát đối đáp thật hay và thắng các cô chủ sàn Hạn Khuống mới được lên. Lời các bài hát đối thường được lấy trong các truyện thơ “Tản chụ xiết xương” hay Thái “Xống chụ xon xao”. Khi đã vào cuộc thi, ngoài khắp đối ra còn có phần lứng tác giữa một bên là anh chàng người Thái và một bên là cô chủ Hạn Khuống. Lời ứng tác rất tinh tế, sắc sảo đã thể hiện sự thông minh của những chàng trai và các cô gái Thái. Khi các cô gái đã cảm phục tài ứng tác của các chàng trai trong cuộc thi hát đối, các cô gái sẽ thả thang xuống cho chạm đất rồi đưa tay níu mời các chàng trai Thái lên sàn Hạn Khuống. Sau khi các chàng trai lên dàn Hạn Khuống, bên gái lại tiếp tục thử tài thử sức, lòng kiên trì và cách đối đáp của bên trai bằng việc không cho ghế, nên bên trai lại phải hát để xin ghế ngồi. Xin được ghế ngồi rồi, trai Thái lại khắp đối để xin ống điếu thuốc lào... Sau một hàng loạt các bài khắp, các chàng trai Thái đã vượt qua thử thách của các cô gái chủ Hạn Khuống và được đồng ý cho dự cuộc vui cho đến thâu đêm. Khi có chàng trai và cô gái nào có tình ý với nhau, có cảm tình riêng với nhau rồi thì được tự đến bên nhau để bày tỏ tình cảm bằng những bài khắp đối ân tình và sâu lắng. Cứ như vậy, cuộc vui lại cuốn hút các cô gái Thái và thể hiện sự khéo léo của họ bằng việc thêu dệt, cán bông, xe sợi, không biết mệt mỏi, còn các chàng trai Thái thì người đan hom, đan giỏ, thi thổi sáo, chơi đàn tính bằng những giai điệu níu kéo lòng người. Các cô gái Thái trổ tài quay sợi Càng về đêm, Hạn Khuống lại càng say nồng bởi những điệu khắp đối, và tiếng xe sợi nhanh tay, đan hom, thêu, đan giỏ của các thanh niên nam nữ người Thái. Đến khuya, những người già và trẻ nhỏ tuy vương vấn sàn không muốn rời Hạn Khuống nhưng dũng đều phải lần lượt ra về đã sắp tàn canh. Trên sàn Hạn Khuống chỉ còn lại các chàng trai và cô gái Thái đang vai kề vai ngồi bên bếp lửa cháy hồng. Các cô chủ Hạn Khuống lại càng xinh đẹp hơn với đôi má ửng hồng vì hơi ấm từ bếp lửa. Lễ hội Hạn Khuống được tổ chức trong nhiều ngày, hình thức vui chơi khá phong phú và đa dạng như: múa xòe, tung còn, chơi cù, tó má lẹ... Cùng với những câu khắp đối, người đến xem còn có thể hát phụ họa khiến không khí trong đêm Hạn Khuống lại càng trở lên say đắm lòng người. Hạn Khuống tan hội cũng là lúc các cô chủ sàn Hạn Khuống sẽ khắp lời chia tay. Đến lúc này, không cần ai bảo ai mà mỗi người ai cũng xúm vào dọn dẹp đồ đạc và bắt đầu thổi tắt bếp lửa đi và cùng sánh vai nhau ra về. Cô chủ Hạn Khuống cũng cất thang Hạn Khuống đi như lời thông báo dừng cuộc vui, nhưng dư âm của đêm Hạn Khuống vẫn còn mãi với thời gian. Lễ hội Hạn Khuống như có một sức hút đến kỳ lạ nếu khách đến xem hội để tâm nghe những lời khắp đối qua những câu thơ trong tác phẩm “Xống chụ xon xao” nổi tiếng của người Thái, đã được người Thái ở vùng Tây Bắc lưu truyền, diễn xướng qua biết bao thế hệ, đã đón nhận trường ca đó bằng cả trái tim thắm đượm tình cảm, thiết tha. Chính vì vậy, Hạn Khuống là một nét đẹp văn hóa giàu giá trị tinh thần trong đời sống hằng ngày của người Thái. Sinh hoạt văn hóa trên sàn hoa Hạn Khuống đã khiến con người Thái thêm yêu cuộc sống, có cái nhìn tốt đẹp hơn, cuộc sống của họ luôn tràn ngập tình nghĩa, tình bao dung và lòng tương thân tương ái.

Hạn khuống là một lễ hội văn hóa truyền thống của đồng bào người Thái ở Điện Biên. Lễ hội này thường được tổ chức sau vụ thu hoạch diễn ra vào tháng 11 hàng năm. Hạn Khuống là lễ hội do bên nhà gái tổ chức nhưng thực ra là một cuộc giao lưu vui vẻ để tìm hiểu người bạn đời sau đó cô gái sẽ chia tay bố mẹ để để về nhà chồng. Chính vì thế, Hạn Khuống diễn ra rất vui vẻ, chan chứa tình thương nên đã để lại rất nhiều kỷ niệm và ấn tượng tốt đẹp của một thời trẻ trung sôi nổi.

Lễ hội Hạn Khuống tại Điện Biên

Khi nói tới lễ hội Hạn Khuống, người Thái sẽ liên tưởng ngay đến nơi hò hẹn, giao duyên của nam nữ bằng những lời ca thắm đượm tình. Đây cũng là một nét đẹp trong sinh hoạt văn hóa cổ xưa của người Thái. Hạn Khuống còn là lễ hội làm cho trai mường và gái bản Thái càng ngày càng thêm yêu cuộc sống, yêu nghề và gần gũi với thiên nhiên, vì văn hóa dân tộc của người Thái được bắt nguồn từ tình yêu cuộc sống, bắt đầu từ các phong tụ và thói quen sinh hoạt của một tộc người bao đời gắn bó với núi rừng. Có thể nói rằng, lửa sàn Hạn Khuống sẽ thắm đượm tình người khi khách thập phương và bạn bè gần xa cùng đến giao duyên trên sàn Hạn Khuống vào đúng ngày lễ hội, mỗi dịp tết đến xuân về. Ngoài căn nhà sàn vốn là nơi thân quen của cả làng, khi tiết trời chuyển sang mùa xuân, khi bản mường đang bước vào mùa lễ hội, thanh niên nam nữ đồng bào Thái sẽ cùng nhau vào rừng chặt vài cây rừng để về dựng một sàn tại một khu đất trống giữa bản, sàn có thể được dựng từ tre hoặc gỗ, sàn này còn được gọi là Hạn Khuống và nơi để thanh niên nam nữ người Thái đến khắp (hát) đối đáp. Trên sàn Hạn Khuống, người ta đã chuẩn bị dụng cụ cho những chàng trai và cô gái hội tụ giao duyên; con gái Thái thì cán bông, quay sợi, dệt vải, thêu thùa bằng các loại chỉ màu, còn có cả bếp củi để đốt lửa. Dụng cụ dành cho trai Thái gồm có lạt đỏ, lạt xanh, lạt trắng để đan những chiếc hom, chiếc giỏ, đan ớp, hoặc các con vật để dành tặng cho người bạn gái, người mà chàng trai Thái đã có ý tỏ tình trong đêm khắp đối giao duyên. Ống điếu và bó đóm được làm bằng tre ngâm khô và túi thuốc lào. Ngoài ra, còn có các vật dụng khác để đan vợt xúc, đan chải... và các loại nhạc cụ như pí pặp, khèn bè, sáo trúc, pí thiu,,đàn tính... Những chàng trai đang hát đáp lại các cô gái để được lên sàn hoa Sàn Hạn Khuống được dựng cao chừng 1,2m - 1,5m, rộng 0,6m, dài khoảng 5m, xung quanh có dựng lan can và được trang trí hoa văn mang đậm bản sắc dân tộc. Giữa sàn Hạn Khuống có dựng cây nêu to và dài làm bằng tre, phần ngọn của nó còn nguyên lá và trang trí các con giống với nhiều màu sắc gọi là “Lắc xáy chính”. Cây “Lắc xáy chính” này còn mang hình dáng của cây vũ trụ. Bốn góc sàn Hạn Khuống có bốn cây nhỏ được trang trí đẹp còn mắt gọi là “Lắc xáy”. Ở bốn góc sàn đều dựng cầu thang để tiện cho việc lên xuống, còn được gọi là “San bó Han Khuông” (tức Sàn hoa Hạn Khuống). Chủ thể Hạn Khuống sẽ chọn các thiếu nữ Thái xinh đẹp nhất của bản mường, còn là người có đức, có tài hát đối ứng còn được gọi là “Xao tỏn khuống”. Bốn cô gái sẽ ngồi ở bốn góc Hạn Khuống gọi là “Xao lắc xáy”. Khi bếp lửa trên sàn được nhóm lên, ngọn lửa sẽ cháy rực sáng cả một góc bản mường thì cũng là thời điểm các cô chủ Hạn Khuống rút thang lên, quay guồng xa của mình và kéo sợi giăng ngang ở lối lên - xuống của sàn Hạn Khuống và cuộc thi tài cũng chính thức bắt đầu. Lúc này, các chàng trai Thái nếu muốn lên sàn hoa thì cần phải hát đối đáp thật hay và thắng các cô chủ sàn Hạn Khuống mới được lên. Lời các bài hát đối thường được lấy trong các truyện thơ “Tản chụ xiết xương” hay Thái “Xống chụ xon xao”. Khi đã vào cuộc thi, ngoài khắp đối ra còn có phần lứng tác giữa một bên là anh chàng người Thái và một bên là cô chủ Hạn Khuống. Lời ứng tác rất tinh tế, sắc sảo đã thể hiện sự thông minh của những chàng trai và các cô gái Thái. Khi các cô gái đã cảm phục tài ứng tác của các chàng trai trong cuộc thi hát đối, các cô gái sẽ thả thang xuống cho chạm đất rồi đưa tay níu mời các chàng trai Thái lên sàn Hạn Khuống. Sau khi các chàng trai lên dàn Hạn Khuống, bên gái lại tiếp tục thử tài thử sức, lòng kiên trì và cách đối đáp của bên trai bằng việc không cho ghế, nên bên trai lại phải hát để xin ghế ngồi. Xin được ghế ngồi rồi, trai Thái lại khắp đối để xin ống điếu thuốc lào... Sau một hàng loạt các bài khắp, các chàng trai Thái đã vượt qua thử thách của các cô gái chủ Hạn Khuống và được đồng ý cho dự cuộc vui cho đến thâu đêm. Khi có chàng trai và cô gái nào có tình ý với nhau, có cảm tình riêng với nhau rồi thì được tự đến bên nhau để bày tỏ tình cảm bằng những bài khắp đối ân tình và sâu lắng. Cứ như vậy, cuộc vui lại cuốn hút các cô gái Thái và thể hiện sự khéo léo của họ bằng việc thêu dệt, cán bông, xe sợi, không biết mệt mỏi, còn các chàng trai Thái thì người đan hom, đan giỏ, thi thổi sáo, chơi đàn tính bằng những giai điệu níu kéo lòng người. Các cô gái Thái trổ tài quay sợi Càng về đêm, Hạn Khuống lại càng say nồng bởi những điệu khắp đối, và tiếng xe sợi nhanh tay, đan hom, thêu, đan giỏ của các thanh niên nam nữ người Thái. Đến khuya, những người già và trẻ nhỏ tuy vương vấn sàn không muốn rời Hạn Khuống nhưng dũng đều phải lần lượt ra về đã sắp tàn canh. Trên sàn Hạn Khuống chỉ còn lại các chàng trai và cô gái Thái đang vai kề vai ngồi bên bếp lửa cháy hồng. Các cô chủ Hạn Khuống lại càng xinh đẹp hơn với đôi má ửng hồng vì hơi ấm từ bếp lửa. Lễ hội Hạn Khuống được tổ chức trong nhiều ngày, hình thức vui chơi khá phong phú và đa dạng như: múa xòe, tung còn, chơi cù, tó má lẹ... Cùng với những câu khắp đối, người đến xem còn có thể hát phụ họa khiến không khí trong đêm Hạn Khuống lại càng trở lên say đắm lòng người. Hạn Khuống tan hội cũng là lúc các cô chủ sàn Hạn Khuống sẽ khắp lời chia tay. Đến lúc này, không cần ai bảo ai mà mỗi người ai cũng xúm vào dọn dẹp đồ đạc và bắt đầu thổi tắt bếp lửa đi và cùng sánh vai nhau ra về. Cô chủ Hạn Khuống cũng cất thang Hạn Khuống đi như lời thông báo dừng cuộc vui, nhưng dư âm của đêm Hạn Khuống vẫn còn mãi với thời gian. Lễ hội Hạn Khuống như có một sức hút đến kỳ lạ nếu khách đến xem hội để tâm nghe những lời khắp đối qua những câu thơ trong tác phẩm “Xống chụ xon xao” nổi tiếng của người Thái, đã được người Thái ở vùng Tây Bắc lưu truyền, diễn xướng qua biết bao thế hệ, đã đón nhận trường ca đó bằng cả trái tim thắm đượm tình cảm, thiết tha. Chính vì vậy, Hạn Khuống là một nét đẹp văn hóa giàu giá trị tinh thần trong đời sống hằng ngày của người Thái. Sinh hoạt văn hóa trên sàn hoa Hạn Khuống đã khiến con người Thái thêm yêu cuộc sống, có cái nhìn tốt đẹp hơn, cuộc sống của họ luôn tràn ngập tình nghĩa, tình bao dung và lòng tương thân tương ái.

Related Figures

Hội mừng mưa rơi của dân tộc Khơ Mú

Thông tin thời kỳ

Lễ hội mừng mưa rơi hay còn gọi là lễ hộiccủa người Khơ Mú, là hội mừng mùa măng mọc hay lễ hội mừng nước. Theo lời kể của các cụ già ở bản Pá Bon thuộc xã Mường Luân, tỉnh Điện Biên Đông, đặt tên như vậy bởi mở đầu phần hội mừng mưa là điệu múa “Om đin om đang”. Hội mừng mưa rơi của người Khơ Mú thường được tổ chức vào dịp cuối tháng Ba, đầu tháng Tư âm lịch, là thời điểm trước hoặc sau những trận mưa đầu mùa.Trong lễ hội này, người ta sẽ cùng hát những bài ca mừng nương rẫy khi đón những cơn mưa đầu mùa. Lễ hội này thường được tổ chức ở trên nhà sàn và người chủ trì phần lễ là thầy cúng. Hội mừng mưa rơi của dân tộc Khơ Mú tại Điện Biên Các công việc người dân cần phải làm trước khi mở hội là người trong bản sẽ phải ốp bẹ chuối vào cột nhà mình để làm cây hoa chủ. Cây hoa chủ có 3 - 5 lớp. Các lớp cành đều có treo hình chim, thú và hoa quả sẽ được đan bằng lạt giang hoặc mua tại các chợ. Bàn thờ cúng thần linh sẽ được ở dưới cây hoa. Trên bàn thờ bày các lễ vật cúng tế gồm: 1 đĩa gà luộc, xôi nhuộm phẩm đỏ, bánh dày, bánh chưng, trứng, gạo, muối, mía... Tiếp theo, thầy cúng sẽ mặc trang phục dân tộc là áo đen, đầu chít khăn đen, lưng thắt dây đỏ (ngày nay chỉ cần mặc áo đen) đọc lời cầu khấn cho người trong bản có được sức khoẻ tốt, gặp nhiều may mắn trong làm ăn; cầu cho mưa thuận gió hòa, xua đuổi muông thú phá hoại mùa màng... Khi đang đọc lời cúng, thầy sẽ nhúm một ít gạo, rượu, muốn tung ra xung quanh và thả xuống sàn. Trai gái trong buôn đang nhảy điệu nhảy truyền thống của dân tộc Sau khi phần lễ kết thúc, phần hội sẽ diễn ra một cách sôi nổi với những bà ca và các điệu múa truyền thống của bà con dân tộc Khơ Mú. Từ lễ hội mừng mưa rơi này đã thể hiện nhiều lời ca của dân tộc Khơ Mú và đã được các nhạc sỹ chuyên nghiệp chép lại, sau đó phổ biến rộng trên các phương tiện thông tin đại chúng. Hội mừng mưa rơi của dân tộc Khơ Mú là lễ hội truyền thống mang già bản sắc dân tộc

Lễ hội mừng mưa rơi hay còn gọi là lễ hộiccủa người Khơ Mú, là hội mừng mùa măng mọc hay lễ hội mừng nước. Theo lời kể của các cụ già ở bản Pá Bon thuộc xã Mường Luân, tỉnh Điện Biên Đông, đặt tên như vậy bởi mở đầu phần hội mừng mưa là điệu múa “Om đin om đang”. Hội mừng mưa rơi của người Khơ Mú thường được tổ chức vào dịp cuối tháng Ba, đầu tháng Tư âm lịch, là thời điểm trước hoặc sau những trận mưa đầu mùa.Trong lễ hội này, người ta sẽ cùng hát những bài ca mừng nương rẫy khi đón những cơn mưa đầu mùa. Lễ hội này thường được tổ chức ở trên nhà sàn và người chủ trì phần lễ là thầy cúng.

Hội mừng mưa rơi của dân tộc Khơ Mú tại Điện Biên

Các công việc người dân cần phải làm trước khi mở hội là người trong bản sẽ phải ốp bẹ chuối vào cột nhà mình để làm cây hoa chủ. Cây hoa chủ có 3 - 5 lớp. Các lớp cành đều có treo hình chim, thú và hoa quả sẽ được đan bằng lạt giang hoặc mua tại các chợ. Bàn thờ cúng thần linh sẽ được ở dưới cây hoa. Trên bàn thờ bày các lễ vật cúng tế gồm: 1 đĩa gà luộc, xôi nhuộm phẩm đỏ, bánh dày, bánh chưng, trứng, gạo, muối, mía... Tiếp theo, thầy cúng sẽ mặc trang phục dân tộc là áo đen, đầu chít khăn đen, lưng thắt dây đỏ (ngày nay chỉ cần mặc áo đen) đọc lời cầu khấn cho người trong bản có được sức khoẻ tốt, gặp nhiều may mắn trong làm ăn; cầu cho mưa thuận gió hòa, xua đuổi muông thú phá hoại mùa màng... Khi đang đọc lời cúng, thầy sẽ nhúm một ít gạo, rượu, muốn tung ra xung quanh và thả xuống sàn. Trai gái trong buôn đang nhảy điệu nhảy truyền thống của dân tộc Sau khi phần lễ kết thúc, phần hội sẽ diễn ra một cách sôi nổi với những bà ca và các điệu múa truyền thống của bà con dân tộc Khơ Mú. Từ lễ hội mừng mưa rơi này đã thể hiện nhiều lời ca của dân tộc Khơ Mú và đã được các nhạc sỹ chuyên nghiệp chép lại, sau đó phổ biến rộng trên các phương tiện thông tin đại chúng. Hội mừng mưa rơi của dân tộc Khơ Mú là lễ hội truyền thống mang già bản sắc dân tộc

Related Figures

Lễ Tủ Cải của dân tộc Dao Quần chẹt

Thông tin thời kỳ

Lễ Tủ Cải là một nghi thức truyền thống của đồng bào Dao tại Điện Biên, thường được tổ chức vào mỗi dịp khi thu hoạch xong vụ mùa, cuối năm cũ hoặc đầu năm mới là thời gian người nông dân đang nhàn rỗi. Lễ Tủ Cải không được tổ chức một gian nhất định mà còn tùy thuộc vào điều kiện của từng hộ gia đình. Theo nghĩa Nôm Dao thì Tủ là báo cáo còn Cải là đặt tên, nghĩa của từ Tủ Cải tức là lễ báo cáo với ông bà tổ tiên và thần linh về việc đặt tên âm cho người con trai trong dòng họ, bởi vì khi cúng lễ thường xưng tên với tổ tiên nên họ kiêng không dùng tên thật. Lễ Tủ Cải của dân tộc Dao Quần chẹt tại Điện Biên Tủ Cải là một lễ rất quan trọng trong tập tục văn hóa của người Dao, để đánh dấu sự trưởng thành của con trai người Dao và như lễ thành đinh của người Kinh phong tục cổ truyền. Đồng bào Dao có quan niệm rằng ai đã thụ lễ này mới được xem là người đã đủ tư cách tham gia các công việc của dòng tộc, cộng đồng và những người làm nghề thầy mo đều phải trải qua nghi lễ này mới được công nhận. Bé trai từ 8 tuổi trở lên của một gia đình có điều kiện kinh tế ổn định thì gia đình này sẽ được cho phép làm lễ Tủ Cải. Trước ngày tổ chức lễ từ 10 đến 15 ngày, gia chủ sẽ phải chuẩn bị các lễ vật, thực phẩm tùy thuộc theo nhu cầu và muốn tổ chức quy mô lớn, nhỏ thế nào, đồng thời phải mang lễ vật đến để mời các thầy cúng có uy tín trong bản để nhờ họ chọn ngày lành tháng tốt rồi mới tổ chức lễ. Trước ngày tổ chức lễ 1 ngày, các thầy cúng và họ hàng thân tộc của gia chủ đã có mặt đông đủ. Thầy cả sẽ phân công công việc cho các thầy cúng, những người đến giúp việc, họ hàng và dân bản sẽ cùng dựng đàn lễ ở trong nhà (nơi đặt bàn thờ tổ tiên), đặt một đàn lễ ngoài trời (nơi thờ các thần linh), dán sớ điệp và viết tờ sớ để báo cáo trình báo với tổ tiên và thần linh. Người con trai Dao đang được làm lễ Tủ Cải Khi khâu chuẩn bị đã hoàn tất, lễ Tủ Cải sẽ được bắt đầu. Trong suốt từ 2 đến 4 ngày đêm, tất cả những ai đến dự lễ đều phải ăn chay. Lễ Tủ Cải được tổ chức lớn nhất trong vùng, gồm có 7 ông thầy cúng với nhiệm vụ và quyền hạn khác nhau. Thầy cả và thầy hai sẽ là linh hồn và cũng là người điều khiển chính của các nghi lễ. Các thầy phải đọc thông viết thạo chữ Nôm Dao và thuộc các quyển sách cúng, các bài tế các vị thánh thần hay các bài diễn ca. Mở đầu nghi lễ, thầy cả sẽ đọc lời tuyên bố lý do vì sao tổ chức lễ Tủ Cải. Nội dung của nghi lễ này sẽ thầy cả đề cập tới lịch sử của người Dao, ai là con trai đều phải làm cái lý này, sau đó xướng tên những người được thụ lễ. Tiến trình lễ sẽ diễn ra với nhiều lễ thức khác nhau như: lễ báo cáo lên các vị thần linh, lễ khai đàn, lễ nhập tổ tiên, lễ đặt tên âm, mời tổ tiên trong đàn đến lễ để nghe báo cáo, các nghi thức cầu xin ông bà tổ tiên phù hộ cho con cháu được thụ lễ (sư mới) và làm ăn phát đạt, lễ thụ đèn, lễ quá tăng, lễ cấp thêm âm binh, lễ cấp bằng sắc, lễ cấp cầu, lễ cấp đạo sắc, lễ tạ Thánh, lễ thăm thiên đình, lễ trình diện lên Ngọc Hoàng, lễ cúng Ngọc Hoàng, Thần Nông, lễ ngã đàn hóa kiếp, lễ tiễn Bàn Vương, tiễn đưa tổ tiên và nghi lễ tạ ơn. Diễn trình lễ đặc biệt sinh động ở phần những người giúp việc nhập vai tổ tiên, thần linh về nghe báo cáo, nhảy múa, ăn cỗ sum vầy cùng con cháu và chia tay bịn rịn lưu luyến không muốn rời khi phải về trời. Hay cảnh ma ngoài rừng vào phá lễ, bị bắt nhốt và phần kết được thả ra nhảy múa vui mừng. Lễ thành công khiến cho người ta có thể tưởng tượng quanh ta luôn tồn tại song hành một thế giới vô hình bên thế giới thực tại với nền tảng là lấy cội nguồn tiên tổ, thần linh làm điểm tựa vững chắc đểvươn tới tương lai tươi sáng. Trong phần lễ có xen lẫn các nội dung của phần hội, cả Lễ và Hội phối hợp nhịp nhàng và có mối quan hệ rất mật thiết với nhau, tạo nên bầu không khí linh thiêng nhưng cũng rất ấm áp tình người, và tràn đầy sự hứng khởi. Lời cầu khấn, những lời răn dạy từ tổ tiên, thầy cúng sẽ chuyển lời thần linh, tới sư mới hòa vào tiếng chiêng, tiếng trống. Tất cả sẽ diễn ra rất sinh động và theo một quy trình có mối quan hệ mật thiết, từ khâu chuẩn bị cho tới việc cử hành các nghi lễ. Các lễ thức và cách thức trình diễn, bày tỏ tình cảm và ước nguyện của con cháu với tổ tiên thông qua các thầy cúng và những người giúp việc. Lễ Tủ Cải là để khẳng định một người con trai Dao đã trưởng thành và được tham gia các công việc của dòng tộc và xã hội Các lễ thức được diễn ra theo trình tự quy định cứ như vậy cho đến ngày cuối cùng của lễ, vừa mang ý nghĩa giáo huấn nhưng cũng mang màu sắc tâm linh rất huyền ảo, đồng thời có thể phản ánh những khát vọng của con người luôn lấy cội nguồn và tiên tổ làm nền tảng và để rèn tâm, tu dưỡng đức. Lễ thức quan trọng bậc nhất trong lễ Tủ Cải chính là việc thầy cả ban cho người được thụ lễ 1 bản đạo sắc được viết bằng chữ Nôm Dao, có ghi về lý lịch của sư mới, lý do thụ lễ và các điều răn dạy của tổ tiên. Người Dao xem đạo sắc là bằng chứng để sư mới được phép tham gia các nghi lễ của xã hội người Dao. Tên của chàng trai này cũng được ghi lại trong gia phả, sử dụng mỗi khi cúng lễ và khi qua đời sẽ được con cháu thờ cúng theo tên âm này. Sau khi các nghi lễ kết thúc, thầy thư ký sẽ đọc báo cáo tổng kết trước đàn lễ tổ tiên, báo cáo kết quả của lễ, đồng thời tạ ơn tổ tiên và thần linh đã phù hộ, thỉnh cầu cho sư mới gặp được nhiều may mắn. Cuối cùng gia chủ gửi lời cám ơn và mời mọi người tham gia lễ cùng ăn bữa cơm đoàn kết, họ cùng nâng cốc để chúc mừng cho sư mới. Trải qua bao thăng trầm lịch sử, lễ Tủ Cải của đồng bào người Dao đến nay vẫn giữ gìn được bản sắc văn hóa từ xa xưa và luôn hiện hữu trong đời sống cộng đồng của người Dao. Lễ Tủ Cải còn có tác động tích cực tới việc giáo dục những con em góp phần xây đắp nên mối gắn kết cộng đồng, bảo tồn được tinh hoa văn hóa của dân tộc.

Lễ Tủ Cải là một nghi thức truyền thống của đồng bào Dao tại Điện Biên, thường được tổ chức vào mỗi dịp khi thu hoạch xong vụ mùa, cuối năm cũ hoặc đầu năm mới là thời gian người nông dân đang nhàn rỗi. Lễ Tủ Cải không được tổ chức một gian nhất định mà còn tùy thuộc vào điều kiện của từng hộ gia đình.

Theo nghĩa Nôm Dao thì Tủ là báo cáo còn Cải là đặt tên, nghĩa của từ Tủ Cải tức là lễ báo cáo với ông bà tổ tiên và thần linh về việc đặt tên âm cho người con trai trong dòng họ, bởi vì khi cúng lễ thường xưng tên với tổ tiên nên họ kiêng không dùng tên thật. Lễ Tủ Cải của dân tộc Dao Quần chẹt tại Điện Biên Tủ Cải là một lễ rất quan trọng trong tập tục văn hóa của người Dao, để đánh dấu sự trưởng thành của con trai người Dao và như lễ thành đinh của người Kinh phong tục cổ truyền. Đồng bào Dao có quan niệm rằng ai đã thụ lễ này mới được xem là người đã đủ tư cách tham gia các công việc của dòng tộc, cộng đồng và những người làm nghề thầy mo đều phải trải qua nghi lễ này mới được công nhận. Bé trai từ 8 tuổi trở lên của một gia đình có điều kiện kinh tế ổn định thì gia đình này sẽ được cho phép làm lễ Tủ Cải. Trước ngày tổ chức lễ từ 10 đến 15 ngày, gia chủ sẽ phải chuẩn bị các lễ vật, thực phẩm tùy thuộc theo nhu cầu và muốn tổ chức quy mô lớn, nhỏ thế nào, đồng thời phải mang lễ vật đến để mời các thầy cúng có uy tín trong bản để nhờ họ chọn ngày lành tháng tốt rồi mới tổ chức lễ. Trước ngày tổ chức lễ 1 ngày, các thầy cúng và họ hàng thân tộc của gia chủ đã có mặt đông đủ. Thầy cả sẽ phân công công việc cho các thầy cúng, những người đến giúp việc, họ hàng và dân bản sẽ cùng dựng đàn lễ ở trong nhà (nơi đặt bàn thờ tổ tiên), đặt một đàn lễ ngoài trời (nơi thờ các thần linh), dán sớ điệp và viết tờ sớ để báo cáo trình báo với tổ tiên và thần linh. Người con trai Dao đang được làm lễ Tủ Cải Khi khâu chuẩn bị đã hoàn tất, lễ Tủ Cải sẽ được bắt đầu. Trong suốt từ 2 đến 4 ngày đêm, tất cả những ai đến dự lễ đều phải ăn chay. Lễ Tủ Cải được tổ chức lớn nhất trong vùng, gồm có 7 ông thầy cúng với nhiệm vụ và quyền hạn khác nhau. Thầy cả và thầy hai sẽ là linh hồn và cũng là người điều khiển chính của các nghi lễ. Các thầy phải đọc thông viết thạo chữ Nôm Dao và thuộc các quyển sách cúng, các bài tế các vị thánh thần hay các bài diễn ca. Mở đầu nghi lễ, thầy cả sẽ đọc lời tuyên bố lý do vì sao tổ chức lễ Tủ Cải. Nội dung của nghi lễ này sẽ thầy cả đề cập tới lịch sử của người Dao, ai là con trai đều phải làm cái lý này, sau đó xướng tên những người được thụ lễ. Tiến trình lễ sẽ diễn ra với nhiều lễ thức khác nhau như: lễ báo cáo lên các vị thần linh, lễ khai đàn, lễ nhập tổ tiên, lễ đặt tên âm, mời tổ tiên trong đàn đến lễ để nghe báo cáo, các nghi thức cầu xin ông bà tổ tiên phù hộ cho con cháu được thụ lễ (sư mới) và làm ăn phát đạt, lễ thụ đèn, lễ quá tăng, lễ cấp thêm âm binh, lễ cấp bằng sắc, lễ cấp cầu, lễ cấp đạo sắc, lễ tạ Thánh, lễ thăm thiên đình, lễ trình diện lên Ngọc Hoàng, lễ cúng Ngọc Hoàng, Thần Nông, lễ ngã đàn hóa kiếp, lễ tiễn Bàn Vương, tiễn đưa tổ tiên và nghi lễ tạ ơn. Diễn trình lễ đặc biệt sinh động ở phần những người giúp việc nhập vai tổ tiên, thần linh về nghe báo cáo, nhảy múa, ăn cỗ sum vầy cùng con cháu và chia tay bịn rịn lưu luyến không muốn rời khi phải về trời. Hay cảnh ma ngoài rừng vào phá lễ, bị bắt nhốt và phần kết được thả ra nhảy múa vui mừng. Lễ thành công khiến cho người ta có thể tưởng tượng quanh ta luôn tồn tại song hành một thế giới vô hình bên thế giới thực tại với nền tảng là lấy cội nguồn tiên tổ, thần linh làm điểm tựa vững chắc đểvươn tới tương lai tươi sáng. Trong phần lễ có xen lẫn các nội dung của phần hội, cả Lễ và Hội phối hợp nhịp nhàng và có mối quan hệ rất mật thiết với nhau, tạo nên bầu không khí linh thiêng nhưng cũng rất ấm áp tình người, và tràn đầy sự hứng khởi. Lời cầu khấn, những lời răn dạy từ tổ tiên, thầy cúng sẽ chuyển lời thần linh, tới sư mới hòa vào tiếng chiêng, tiếng trống. Tất cả sẽ diễn ra rất sinh động và theo một quy trình có mối quan hệ mật thiết, từ khâu chuẩn bị cho tới việc cử hành các nghi lễ. Các lễ thức và cách thức trình diễn, bày tỏ tình cảm và ước nguyện của con cháu với tổ tiên thông qua các thầy cúng và những người giúp việc. Lễ Tủ Cải là để khẳng định một người con trai Dao đã trưởng thành và được tham gia các công việc của dòng tộc và xã hội Các lễ thức được diễn ra theo trình tự quy định cứ như vậy cho đến ngày cuối cùng của lễ, vừa mang ý nghĩa giáo huấn nhưng cũng mang màu sắc tâm linh rất huyền ảo, đồng thời có thể phản ánh những khát vọng của con người luôn lấy cội nguồn và tiên tổ làm nền tảng và để rèn tâm, tu dưỡng đức. Lễ thức quan trọng bậc nhất trong lễ Tủ Cải chính là việc thầy cả ban cho người được thụ lễ 1 bản đạo sắc được viết bằng chữ Nôm Dao, có ghi về lý lịch của sư mới, lý do thụ lễ và các điều răn dạy của tổ tiên. Người Dao xem đạo sắc là bằng chứng để sư mới được phép tham gia các nghi lễ của xã hội người Dao. Tên của chàng trai này cũng được ghi lại trong gia phả, sử dụng mỗi khi cúng lễ và khi qua đời sẽ được con cháu thờ cúng theo tên âm này. Sau khi các nghi lễ kết thúc, thầy thư ký sẽ đọc báo cáo tổng kết trước đàn lễ tổ tiên, báo cáo kết quả của lễ, đồng thời tạ ơn tổ tiên và thần linh đã phù hộ, thỉnh cầu cho sư mới gặp được nhiều may mắn. Cuối cùng gia chủ gửi lời cám ơn và mời mọi người tham gia lễ cùng ăn bữa cơm đoàn kết, họ cùng nâng cốc để chúc mừng cho sư mới. Trải qua bao thăng trầm lịch sử, lễ Tủ Cải của đồng bào người Dao đến nay vẫn giữ gìn được bản sắc văn hóa từ xa xưa và luôn hiện hữu trong đời sống cộng đồng của người Dao. Lễ Tủ Cải còn có tác động tích cực tới việc giáo dục những con em góp phần xây đắp nên mối gắn kết cộng đồng, bảo tồn được tinh hoa văn hóa của dân tộc.

Related Figures

Lễ Bó khoăn khoai

Thông tin thời kỳ

Người Thái trắng có quan niệm rằng bất cứ vật chất đều có linh hồn, cơ thể sống biểu hiện một phần một tâm hồn bên trong. Chính vì vậy, sau khi thu hoạch mùa màng xong, người Thái trắng sẽ cử hành nghi thức làm lễ Bó khoăn khoai (cúng vía trâu) - một lễ để thay lời dân làng cảm ơn con trâu đã giúp họ có được mùa vụ mới và nhờ có sức kéo của trâu mà họ mới hoàn thành nhanh chóng công việc. Con trâu có vị trí, ý nghĩa quan trọng đối với cuộc sống của người dân làm nông nghiệp. Là người dân làm nông nghiệp miền núi, tuy nhiên các cư dân Thái (Điện Biên) lại sinh sống chủ yếu tại các thung lũng gần sông, suối, có quan niệm “người Xá ăn theo lửa, người Thái ăn theo nước”, chính vì vậy đã tạo cho người dân bản địa những thói quen và điều kiện để họ sản xuất ra giống lúa nước từ rất lâu đời. Câu tục ngữ “Làm nương ủ lá cây, làm ruộng phải thả nước ngập luống cày”, “Làm nông là phải lo gianh, làm ruộng là phải lo giống” thể hiện trình độ trồng trọ khá cao của dân tộc Thái trắng. Vì vậy để đảm bảo cho sức kéo cho ruộng, nương, thì con trâu đối với người Thái trắng lại có ý nghĩa rất quan trọng. Thanh niên múa hát trong ngày hội Lễ thường được người dân tổ chức như sau: Trước ngày diễn ra lễ cúng, trâu thường được tắm rửa sạch sẽ, Lễ tạ ơn sẽ cử hành nghi thức hành với từng con, bắt đầu từ con trâu đầu đầu đàn, sau đó từng con sẽ lần lượt đi theo thứ tự từ con nhiều tuổi đến con ít tuổi. khi tạ ơn con nào thì sẽ kéo con trâu đó ra trước mâm cổ cúng rồi cầm sẹo mũi của nó và đọc bài cúng. Lễ vật trong lễ bó khoăn khoai gồm: muối được gói vào lá chuối sau đó đặt lên mâm của rải lá chuối, cỏ gianh hay cỏ lau. Lễ vật đã được bày sẵn trong mâm gồm có một con gà, một chai rượu, bốn chén rượu, bốn đôi đũa, hai cuộn dây thừng. Mâm lễ cúng sẽ được gia chủ bưng để ra sàn bên mâng hẩ, tức là sàn vốn được dùng để tổ chức công việc sinh hoạt hằng ngày của gia đình. Gia chủ cúng trâu Sau đó con trâu sẽ được chủ nhà dắt từ gầm sàn đến dưới gian mang hẩ, sau đó sẽ buộc lại bằng dây thừng. Gia chủ bắt đầu cúng, có nội dung rằng con trâu nuôi của gia đình mình, để mình để làm ruộng, cày nương cho nhà mình. Tuy có lúc mình bảo nó không nghe, và không làm theo đúng yêu cầu của mình, lúc đó tao tức giận lắm và đã đánh đập mày, nhưng tao biết linh hồn của mày sẽ không vui. Hôm nay, công việc đồng áng đã xong, vụ mùa bội thu nên tao có tí rượu, thịt, cỏ để mày ăn no và hãy xí xóa lỗi lầm cho tao vì có những lúc tao bực quá mà đánh mày. Lời lẽ trong lời khấn rất giản dị và gắn liền với đời thường, ngôn ngữ mộc mạc như cách sống của người nông dân ở miền núi, công tội đều chỉ ra rất rõ ràng. Tất cả là mong muốn công việc được hoàn thành tốt, nhưng đồng thời cũng có ý nghĩa nhân văn rất sâu sắc, đề cao vai trò của của loài động vật này trong lao động. Trâu của người Thái trắng ở Điện Biên sẽ được làm lễ cúng vả thả vào rừng sau khi thu hoạch mùa màng xong Sau khi gia chủ cúng xong, trâu sẽ được cho ăn no cỏ rồi xát muối vào mồm trâu vì sau khi cử hành lễ bó khoăn khoai xong, gia chủ sẽ dắt trâu lên rừng để nó tự kiếm ăn, không phải chăm sóc nó trong lúc nông nhàn. Việc xát muối vào mồm của trâu là trâu nhớ đường mà trở về nhà, tránh việc đi lạc vào nhà người khác. Việc gia chủ chỉ cho ăn cỏ lau và cỏ gianh là vì khi vào rừng sẽ có rất nhiều loại cỏ độc nên khi chúng ăn hai loại cỏ này rồi sẽ nhớ và chỉ ăn hai loại cỏ này thôi. Cuối cùng, gia chủ sẽ thắp nến sáp ong rồi gắn lên sừng của con trâu với ý nghĩa nến sẽ soi sáng đường đi cho trâu, trên đường đi trâu sẽ không gặp phải hổ dữ hay vướng vào vực sâu. Điều này đã phản ánh nỗi sợ hãi ẩn chứa trong lòng người nông dân miền núi vì trước đây rừng thiêng, nước độc và các loài thú dữ cũng nhiều không đếm xuể. Một điều khác nữa là so với việc cúng vía trâu ở nhiều nơi khác là con trâu sẽ được thả vào rừng vào ngày hôm sau, nhưng ở thị xã Mường Lay thì sau khi cúng xong gia chủ sẽ thả trâu vào rừng ngay để tự nó đi kiếm ăn. Một tuần ít nhất một lần gia chủ phải vào rừng để tìm trâu nhà mình...

Người Thái trắng có quan niệm rằng bất cứ vật chất đều có linh hồn, cơ thể sống biểu hiện một phần một tâm hồn bên trong. Chính vì vậy, sau khi thu hoạch mùa màng xong, người Thái trắng sẽ cử hành nghi thức làm lễ Bó khoăn khoai (cúng vía trâu) - một lễ để thay lời dân làng cảm ơn con trâu đã giúp họ có được mùa vụ mới và nhờ có sức kéo của trâu mà họ mới hoàn thành nhanh chóng công việc.

Con trâu có vị trí, ý nghĩa quan trọng đối với cuộc sống của người dân làm nông nghiệp. Là người dân làm nông nghiệp miền núi, tuy nhiên các cư dân Thái (Điện Biên) lại sinh sống chủ yếu tại các thung lũng gần sông, suối, có quan niệm “người Xá ăn theo lửa, người Thái ăn theo nước”, chính vì vậy đã tạo cho người dân bản địa những thói quen và điều kiện để họ sản xuất ra giống lúa nước từ rất lâu đời. Câu tục ngữ “Làm nương ủ lá cây, làm ruộng phải thả nước ngập luống cày”, “Làm nông là phải lo gianh, làm ruộng là phải lo giống” thể hiện trình độ trồng trọ khá cao của dân tộc Thái trắng. Vì vậy để đảm bảo cho sức kéo cho ruộng, nương, thì con trâu đối với người Thái trắng lại có ý nghĩa rất quan trọng. Thanh niên múa hát trong ngày hội Lễ thường được người dân tổ chức như sau: Trước ngày diễn ra lễ cúng, trâu thường được tắm rửa sạch sẽ, Lễ tạ ơn sẽ cử hành nghi thức hành với từng con, bắt đầu từ con trâu đầu đầu đàn, sau đó từng con sẽ lần lượt đi theo thứ tự từ con nhiều tuổi đến con ít tuổi. khi tạ ơn con nào thì sẽ kéo con trâu đó ra trước mâm cổ cúng rồi cầm sẹo mũi của nó và đọc bài cúng. Lễ vật trong lễ bó khoăn khoai gồm: muối được gói vào lá chuối sau đó đặt lên mâm của rải lá chuối, cỏ gianh hay cỏ lau. Lễ vật đã được bày sẵn trong mâm gồm có một con gà, một chai rượu, bốn chén rượu, bốn đôi đũa, hai cuộn dây thừng. Mâm lễ cúng sẽ được gia chủ bưng để ra sàn bên mâng hẩ, tức là sàn vốn được dùng để tổ chức công việc sinh hoạt hằng ngày của gia đình. Gia chủ cúng trâu Sau đó con trâu sẽ được chủ nhà dắt từ gầm sàn đến dưới gian mang hẩ, sau đó sẽ buộc lại bằng dây thừng. Gia chủ bắt đầu cúng, có nội dung rằng con trâu nuôi của gia đình mình, để mình để làm ruộng, cày nương cho nhà mình. Tuy có lúc mình bảo nó không nghe, và không làm theo đúng yêu cầu của mình, lúc đó tao tức giận lắm và đã đánh đập mày, nhưng tao biết linh hồn của mày sẽ không vui. Hôm nay, công việc đồng áng đã xong, vụ mùa bội thu nên tao có tí rượu, thịt, cỏ để mày ăn no và hãy xí xóa lỗi lầm cho tao vì có những lúc tao bực quá mà đánh mày. Lời lẽ trong lời khấn rất giản dị và gắn liền với đời thường, ngôn ngữ mộc mạc như cách sống của người nông dân ở miền núi, công tội đều chỉ ra rất rõ ràng. Tất cả là mong muốn công việc được hoàn thành tốt, nhưng đồng thời cũng có ý nghĩa nhân văn rất sâu sắc, đề cao vai trò của của loài động vật này trong lao động. Trâu của người Thái trắng ở Điện Biên sẽ được làm lễ cúng vả thả vào rừng sau khi thu hoạch mùa màng xong Sau khi gia chủ cúng xong, trâu sẽ được cho ăn no cỏ rồi xát muối vào mồm trâu vì sau khi cử hành lễ bó khoăn khoai xong, gia chủ sẽ dắt trâu lên rừng để nó tự kiếm ăn, không phải chăm sóc nó trong lúc nông nhàn. Việc xát muối vào mồm của trâu là trâu nhớ đường mà trở về nhà, tránh việc đi lạc vào nhà người khác. Việc gia chủ chỉ cho ăn cỏ lau và cỏ gianh là vì khi vào rừng sẽ có rất nhiều loại cỏ độc nên khi chúng ăn hai loại cỏ này rồi sẽ nhớ và chỉ ăn hai loại cỏ này thôi. Cuối cùng, gia chủ sẽ thắp nến sáp ong rồi gắn lên sừng của con trâu với ý nghĩa nến sẽ soi sáng đường đi cho trâu, trên đường đi trâu sẽ không gặp phải hổ dữ hay vướng vào vực sâu. Điều này đã phản ánh nỗi sợ hãi ẩn chứa trong lòng người nông dân miền núi vì trước đây rừng thiêng, nước độc và các loài thú dữ cũng nhiều không đếm xuể. Một điều khác nữa là so với việc cúng vía trâu ở nhiều nơi khác là con trâu sẽ được thả vào rừng vào ngày hôm sau, nhưng ở thị xã Mường Lay thì sau khi cúng xong gia chủ sẽ thả trâu vào rừng ngay để tự nó đi kiếm ăn. Một tuần ít nhất một lần gia chủ phải vào rừng để tìm trâu nhà mình...

Related Figures

Lễ mừng cơm mới dân tộc Si La

Thông tin thời kỳ

Hàng năm, cứ vào dịp cuối tháng Tám đến đầu tháng Chín âm lịch, người dân đồng bào Si La lại tưng bừng tổ chức lễ mừng cơm mới. Thời điểm tổ chức lễ mừng cơm mới cũng chính là lúc vụ lúa đầu mùa đang chín rộ. Đồng bào Si La thường chọn ngày Tỵ hoặc ngày Thìn để làm lễ. Người Si La có quan niệm rằng, trong quá trình sản xuất của người dân, gia đình và dòng họ luôn được ông bà, tổ tiên che chở. Bởi vậy, khi họ dùng những nông sản đó thì không được quên ơn của những người đi trước đã truyền đạt lại đất đai và kinh nghiệm sản xuất. Người Si La sẽ lấy cắt những bông lúa chín đầu tiên của vụ mùa để về cúng tổ tiên trước khi bắt đầu thu hoạch mùa màng. Lễ mừng cơm mới dân tộc Si La tại Điện Biên Lễ mừng cơm mới của người Si La là một trong những nghi lễ truyền thống đặc trưng của người dân Si La. Họ không chỉ tổ chức lễ tại từng gia đình của trưởng dòng họ riêng, mà còn quây quần tất cả các dòng họ lại và cùng tổ chức. Người Si La thường tổ chức lễ mừng cơm mới tại gia đình trưởng dòng họ của họ. Căn nhà của trưởng dòng họ có một bàn thờ và trưởng họ sẽ là người đại diện cho cả dòng họ tiến hành các thủ tục trong nghi lễ cúng bái. Sau khi cử hành nghi lễ cúng mời tổ tiên xong, các gia đình trong dòng họ sẽ đến nhà trưởng họ để cùng ăn bữa cơm mừng cơm mới. Vào ngày tổ chức làm lễ của cả làng, từ buổi sáng tất cả các gia đình trong bản sẽ cử người làm tổng vệ sinh chung cho cả khu bản. Các gia đình cũng tự quét dọn nhà cửa, rửa sạch bát đũa, lau chùi sạch sẽ các đồ dùng sinh hoạt trong nhà. Trong đó mâm cúng cần phải rửa sạch và sửa sang lại nơi thờ cúng tổ tiên để bày các đồ cúng. Vì người Si La có quan niệm rằng khi ông bà tổ tiên ở thế giới bên kia về hưởng thụ đồ lễ mà trông thấy nhà cửa và đồ dùng không được vệ sinh sạch sẽ không thích và sẽ không phù hộ cho con cháu bảo vệ mùa màng nữa. Những người phụ nữ của đồng bào Si La đang múa để ăn mừng ngày lễ cơm mới Sau khi mọi thứ đã được chuẩn bị xong, chiều tối gia chủ sẽ bắt đầu nấu cơm mới và nấy các món cá, cua, sóc, củ mài, củ khoai... nấu cho chín tồi bầy lên mâm và đợi khi mặt trời lặn hẳn thì trưởng họ sẽ tiến hành phần lễ cúng để mời ông bà tổ tiên về hưởng thụ. Quan niệm của người Si La là khi mặt trời lặn, lúc đêm tối buông xuống cũng chính là lúc ông bà tổ tiên của họ trở về gần con cháu. Mâm lễ thường được bày đầy đủ đồ lễ và thường đặt ở dưới bàn thờ, trưởng họ sẽ thay mặt cho con cháu trong dòng họ cúng mời ông bà tổ tiên, cha mẹ và những người đã khuất cùng về hưởng mâm cơm mới. Sau khi cúng lễ dưới bàn thờ xong, gia chủ sẽ cử người chuyển cả mâm lễ này xuống đặt cạnh bếp chính ở bên giường của gia chủ (Với người Si La chỉ có những gia đình của trưởng họ mới được làm bếp kiểu này. Bếp được làm ở trong nhà, ngay cạnh cây cột chính của nhà, được xem là nơi giữ lửa ấm cho cả dòng họ, bảo vệ che chở cho mọi người và là nơi chủ họ sưởi ấm và hút thuốc). Mâm cúng có đặt thêm một bát nước trắng và một ống tre cao chừng 15cm, có đường kính miệng là 8cm, bên trong ống đặt men rượu và phủ một lá chuối trên miệng ống tre, sau đó cắm 3 que tre là miệng, tượng trưng cho bình rượu cần của người Si La. Lúc này gia chủ cũng bắt đầu cúng tổ tiên lần thứ 2. Sau mỗi lần cúng, trưởng họ sẽ cho một người con cháu trong họ cầm một chiếc thìa múc lấy 3 thìa nước trắng cho vào ống, sau đó sẽ làm như vậy hai lần nữa nhưng hai lần sau mỗi lần múc lấy 1 thìa. Khi xướng cúng đủ 3 lần là kết thúc lễ cúng mời tổ tiên. Các lễ vật này có thể mang ra cho mọi người trong họ dùng, nhưng riêng cơm mới làm đồ cúng thì phải đổ một bát dành riêng cho con chó trong nhà ăn trước, rồi các thành viên trong nhà mới được ăn. Trưởng họ và các thành viên trong dòng họ cùng chuẩn bị mâm lễ vật cúng tổ tiên và ông bà Sau nghi lễ cúng mời ông bà tổ tiên về hưởng cơm mới với con cháu trong họ xong, tại gia đình cử hành lễ (trưởng họ), con cháu trong nhà sẽ bắt đầu bầy mâm cỗ ra mời anh em họ hàng, hàng xóm láng giềng và khách khứa trong bản đến dự bữa cơm mới và cầu chúc cho gia đình và dòng họ gặp nhiều may mắn. Lễ mừng cơm mới của đồng bào Si La kết thúc trong vui vẻ, tiếng nói, tiếng cười và những lời chúc nhau may mắn và thành đạt, trong bữa cơm liên hoan của dòng họ. Mọi người ai cũng đều vui mừng trước thành quả của mùa vụ, ai nấy đều cảm thấy vui mừng, hân hoan và tin tưởng rằng từ đây cuộc sống của họ sẽ còn làm ăn thuận lợi hơn thế và sẽ có rất nhiều cuộc vui như vây diễn ra. Lễ Mừng cơm mới của đồng bào Si La là một nghi thức nông nghiệp mang nhiều yếu tố văn hóa tích cực, đồng thời là một phần quan trọng trong tư tưởng của đồng bào Si La./.

Hàng năm, cứ vào dịp cuối tháng Tám đến đầu tháng Chín âm lịch, người dân đồng bào Si La lại tưng bừng tổ chức lễ mừng cơm mới. Thời điểm tổ chức lễ mừng cơm mới cũng chính là lúc vụ lúa đầu mùa đang chín rộ. Đồng bào Si La thường chọn ngày Tỵ hoặc ngày Thìn để làm lễ.

Người Si La có quan niệm rằng, trong quá trình sản xuất của người dân, gia đình và dòng họ luôn được ông bà, tổ tiên che chở. Bởi vậy, khi họ dùng những nông sản đó thì không được quên ơn của những người đi trước đã truyền đạt lại đất đai và kinh nghiệm sản xuất. Người Si La sẽ lấy cắt những bông lúa chín đầu tiên của vụ mùa để về cúng tổ tiên trước khi bắt đầu thu hoạch mùa màng. Lễ mừng cơm mới dân tộc Si La tại Điện Biên Lễ mừng cơm mới của người Si La là một trong những nghi lễ truyền thống đặc trưng của người dân Si La. Họ không chỉ tổ chức lễ tại từng gia đình của trưởng dòng họ riêng, mà còn quây quần tất cả các dòng họ lại và cùng tổ chức. Người Si La thường tổ chức lễ mừng cơm mới tại gia đình trưởng dòng họ của họ. Căn nhà của trưởng dòng họ có một bàn thờ và trưởng họ sẽ là người đại diện cho cả dòng họ tiến hành các thủ tục trong nghi lễ cúng bái. Sau khi cử hành nghi lễ cúng mời tổ tiên xong, các gia đình trong dòng họ sẽ đến nhà trưởng họ để cùng ăn bữa cơm mừng cơm mới. Vào ngày tổ chức làm lễ của cả làng, từ buổi sáng tất cả các gia đình trong bản sẽ cử người làm tổng vệ sinh chung cho cả khu bản. Các gia đình cũng tự quét dọn nhà cửa, rửa sạch bát đũa, lau chùi sạch sẽ các đồ dùng sinh hoạt trong nhà. Trong đó mâm cúng cần phải rửa sạch và sửa sang lại nơi thờ cúng tổ tiên để bày các đồ cúng. Vì người Si La có quan niệm rằng khi ông bà tổ tiên ở thế giới bên kia về hưởng thụ đồ lễ mà trông thấy nhà cửa và đồ dùng không được vệ sinh sạch sẽ không thích và sẽ không phù hộ cho con cháu bảo vệ mùa màng nữa. Những người phụ nữ của đồng bào Si La đang múa để ăn mừng ngày lễ cơm mới Sau khi mọi thứ đã được chuẩn bị xong, chiều tối gia chủ sẽ bắt đầu nấu cơm mới và nấy các món cá, cua, sóc, củ mài, củ khoai... nấu cho chín tồi bầy lên mâm và đợi khi mặt trời lặn hẳn thì trưởng họ sẽ tiến hành phần lễ cúng để mời ông bà tổ tiên về hưởng thụ. Quan niệm của người Si La là khi mặt trời lặn, lúc đêm tối buông xuống cũng chính là lúc ông bà tổ tiên của họ trở về gần con cháu. Mâm lễ thường được bày đầy đủ đồ lễ và thường đặt ở dưới bàn thờ, trưởng họ sẽ thay mặt cho con cháu trong dòng họ cúng mời ông bà tổ tiên, cha mẹ và những người đã khuất cùng về hưởng mâm cơm mới. Sau khi cúng lễ dưới bàn thờ xong, gia chủ sẽ cử người chuyển cả mâm lễ này xuống đặt cạnh bếp chính ở bên giường của gia chủ (Với người Si La chỉ có những gia đình của trưởng họ mới được làm bếp kiểu này. Bếp được làm ở trong nhà, ngay cạnh cây cột chính của nhà, được xem là nơi giữ lửa ấm cho cả dòng họ, bảo vệ che chở cho mọi người và là nơi chủ họ sưởi ấm và hút thuốc). Mâm cúng có đặt thêm một bát nước trắng và một ống tre cao chừng 15cm, có đường kính miệng là 8cm, bên trong ống đặt men rượu và phủ một lá chuối trên miệng ống tre, sau đó cắm 3 que tre là miệng, tượng trưng cho bình rượu cần của người Si La. Lúc này gia chủ cũng bắt đầu cúng tổ tiên lần thứ 2. Sau mỗi lần cúng, trưởng họ sẽ cho một người con cháu trong họ cầm một chiếc thìa múc lấy 3 thìa nước trắng cho vào ống, sau đó sẽ làm như vậy hai lần nữa nhưng hai lần sau mỗi lần múc lấy 1 thìa. Khi xướng cúng đủ 3 lần là kết thúc lễ cúng mời tổ tiên. Các lễ vật này có thể mang ra cho mọi người trong họ dùng, nhưng riêng cơm mới làm đồ cúng thì phải đổ một bát dành riêng cho con chó trong nhà ăn trước, rồi các thành viên trong nhà mới được ăn. Trưởng họ và các thành viên trong dòng họ cùng chuẩn bị mâm lễ vật cúng tổ tiên và ông bà Sau nghi lễ cúng mời ông bà tổ tiên về hưởng cơm mới với con cháu trong họ xong, tại gia đình cử hành lễ (trưởng họ), con cháu trong nhà sẽ bắt đầu bầy mâm cỗ ra mời anh em họ hàng, hàng xóm láng giềng và khách khứa trong bản đến dự bữa cơm mới và cầu chúc cho gia đình và dòng họ gặp nhiều may mắn. Lễ mừng cơm mới của đồng bào Si La kết thúc trong vui vẻ, tiếng nói, tiếng cười và những lời chúc nhau may mắn và thành đạt, trong bữa cơm liên hoan của dòng họ. Mọi người ai cũng đều vui mừng trước thành quả của mùa vụ, ai nấy đều cảm thấy vui mừng, hân hoan và tin tưởng rằng từ đây cuộc sống của họ sẽ còn làm ăn thuận lợi hơn thế và sẽ có rất nhiều cuộc vui như vây diễn ra. Lễ Mừng cơm mới của đồng bào Si La là một nghi thức nông nghiệp mang nhiều yếu tố văn hóa tích cực, đồng thời là một phần quan trọng trong tư tưởng của đồng bào Si La./.

Related Figures

Lễ hội Thành Bàn Phủ

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 24/2- 25/2 Âm lịch Lễ hội Thành Bàn Phủ của xã Noọng Hẹt, huyện Điện Biên thường diễn ra trong hai ngày ngày 24 và 25 tháng 2 âm lịch hàng năm, với mục đích để người dân hồi tưởng lại vị anh hùng Hoàng Công Chất. Năm 1754, vị anh hùng của dân tộc - Hoàng Công Chất và 2 vị tướng của đồng bào dân tộc thiểu số là Lò Khanh và Lò Ngải phất, đã đứng lên phất cờ khởi nghĩa đánh đuổi giặc Phẻ và đánh tan quân Thái Bình Thiên Quốc do chậu Phạ Tin Tòng chỉ huy, giải phóng Mường Thanh nay thuộc tỉnh Điện Biên, từ đó chấn ải biên cương Tổ quốc. Hàng năm, kễ hội thành Bản Phủ được mở vào đúng ngày giỗ tướng quân Hoàng Công Chất, cũng chính là dịp để nhắc lại truyền thống yêu nước, anh dũng, kiên cường của ông cha ta và là niềm tự hào dân tộc, từ đó khơi dậy mối đoàn kết giữa các dân tộc anh em, tình nghĩa miền xuôi với miền ngược. Lễ hội còn kêu gọi nhân dân của các dân tộc hãy bảo vệ và phát huy truyền thống, tiếp tục phát huy công cuộc đổi mới do Đảng và nhà nước khởi xướng và lãnh đạo. Thông qua lễ hội Bản Phủ, người dân nơi đây còn quảng bá tới du khách trong và ngoài nước về hình ảnh, truyền thống của con người vùng Tây Bắc. Lễ hội Thành Bàn Phủ tại Điện Biên Lễ hội Bản Phủ gồm 2 phần:Lễ và Hội Phần lễ: mở màn là âm vang của tiếng trống oai hùng, trang nghiêm nổi lên lại khiến không khí của ngày hội càng thêm tưng bừng. Sau khi cử hành nghi thức chào cờ cong sẽ là 1 phút mặc niệm, nhằm tưởng nhớ tới những vị anh hùng liệt sỹ đã hy sinh thân mình để bảo vệ cho sự bình yên của Tổ quốc. Chúc văn giỗ tướng quân gồm có ba phần: anh linh, nhạc đệm hùng tráng, nghi lễ rước, dâng lễ vật và tái hiện lại lịch sử dân tộc bằng cách sân khấu hóa. Chỉ huy của đoàn lễ rước là một người đứng tuổi, mặc trang phục uy nghiêm, bước đi với dáng vẻ oai phong, thể hiện sự quý trọng và biết ơn sâu sắc như đại diện cho lòng biết ơn của dân tộc tới vị tướng quân Hoàng Công Chất và hai vị tướng Ngải, Khanh đã có anh dũng hy sinh đánh đuổi giặc ngoại xâm. Đoàn lễ rước gồm đội múa rồng, múa lân, đội rước kiệu đều mặc trang phục lễ hội. Đoàn tế lính nghĩa quân sẽ mặc trang phục như lính trận, tay cầm giáo, mác hướng lên trời. Đoàn cầm cờ và lực lượng quần chúng phải hết sức nghiêm trang. Thanh niên nam nữ trong vùng đang biểu diễn văn nghệ trong lễ hội Màn tái hiện lại lịch sử phong trào khởi nghĩa của tướng quân Hoàng Công Chất bằng sân khấu hoá gồm 3 phần chính là bối cảnh lịch sử, tướng quân lãnh đạo quân và dân đánh đuổi giặc ngoại xâm, Mường Thanh hân hoan trong ngày giải phóng; với sự tham gia của nhiều diễn viên của tỉnh đã làm nổi bật công lao to lớn và tôn vinh người thủ lĩnh Hoàng Công Chất. Từ đó, thể hiện tinh thần đoàn kết giữa đồng bào Tây Bắc và các tỉnh miền xuôi. Tiếng trống, cồng, chiêng, các loại nhạc cụ dân tộc vang lên với âm thanh hoành tráng, rộn ràng nhưng cũng trầm hùng và rất linh thiêng, để cầu cho quốc gia thái bình, gia đình ấm no hạnh phúc. Phần hội diễn ra với sự háo hức chờ đón những niềm vui của người dân và du khách thập phương. Ban tổ chức đã tổ chức các trò chơi lành mạnh, nâng cao đời sống văn hoá cũng như tinh thần cho nhân dân trên địa bàn với các hoạt động văn hoá - văn nghệ đa dạng; còn có trưng bày triển lãm tranh, ảnh hay các di vật của nghĩa quân Hoàng Công Chất”. Các trò chơi dân gian trong lễ hội Bản Phủ như đua ngựa giết Phẻ, bắn nỏ, kéo co, đi cà kheo, đẩy gậy, tung còn, cuộc thi nấu ăn, ẩm thực văn hoá các dân tộc; biểu diễn văn nghệ của các đoàn nghệ thuật quần chúng. Những cô gái trẻ dân tộc Thái ai cũng duyên dáng, dịu dàng trong trang phục truyền thống váy đen dài chấm gót, áo cóm khâu hàng cúc bướm lóng lánh ánh bạc, trên tay có cầm chiếc quạt trong rất sặc sỡ, nhịp nhàng trong điều múa uyển chuyển, đằm thắm, tạo sự lôi cuốn đối với khán giả. Vòng xoè đoàn kết là đặc trưng của dân tộc Thái trong lễ hội. Tiết mục múa lân múa rồng trong ngày Lễ hội thành Bản Phủ

Lễ hội Thành Bàn Phủ của xã Noọng Hẹt, huyện Điện Biên thường diễn ra trong hai ngày ngày 24 và 25 tháng 2 âm lịch hàng năm, với mục đích để người dân hồi tưởng lại vị anh hùng Hoàng Công Chất.

Năm 1754, vị anh hùng của dân tộc - Hoàng Công Chất và 2 vị tướng của đồng bào dân tộc thiểu số là Lò Khanh và Lò Ngải phất, đã đứng lên phất cờ khởi nghĩa đánh đuổi giặc Phẻ và đánh tan quân Thái Bình Thiên Quốc do chậu Phạ Tin Tòng chỉ huy, giải phóng Mường Thanh nay thuộc tỉnh Điện Biên, từ đó chấn ải biên cương Tổ quốc.

Hàng năm, kễ hội thành Bản Phủ được mở vào đúng ngày giỗ tướng quân Hoàng Công Chất, cũng chính là dịp để nhắc lại truyền thống yêu nước, anh dũng, kiên cường của ông cha ta và là niềm tự hào dân tộc, từ đó khơi dậy mối đoàn kết giữa các dân tộc anh em, tình nghĩa miền xuôi với miền ngược. Lễ hội còn kêu gọi nhân dân của các dân tộc hãy bảo vệ và phát huy truyền thống, tiếp tục phát huy công cuộc đổi mới do Đảng và nhà nước khởi xướng và lãnh đạo. Thông qua lễ hội Bản Phủ, người dân nơi đây còn quảng bá tới du khách trong và ngoài nước về hình ảnh, truyền thống của con người vùng Tây Bắc. Lễ hội Thành Bàn Phủ tại Điện Biên Lễ hội Bản Phủ gồm 2 phần:Lễ và Hội Phần lễ: mở màn là âm vang của tiếng trống oai hùng, trang nghiêm nổi lên lại khiến không khí của ngày hội càng thêm tưng bừng. Sau khi cử hành nghi thức chào cờ cong sẽ là 1 phút mặc niệm, nhằm tưởng nhớ tới những vị anh hùng liệt sỹ đã hy sinh thân mình để bảo vệ cho sự bình yên của Tổ quốc. Chúc văn giỗ tướng quân gồm có ba phần: anh linh, nhạc đệm hùng tráng, nghi lễ rước, dâng lễ vật và tái hiện lại lịch sử dân tộc bằng cách sân khấu hóa. Chỉ huy của đoàn lễ rước là một người đứng tuổi, mặc trang phục uy nghiêm, bước đi với dáng vẻ oai phong, thể hiện sự quý trọng và biết ơn sâu sắc như đại diện cho lòng biết ơn của dân tộc tới vị tướng quân Hoàng Công Chất và hai vị tướng Ngải, Khanh đã có anh dũng hy sinh đánh đuổi giặc ngoại xâm. Đoàn lễ rước gồm đội múa rồng, múa lân, đội rước kiệu đều mặc trang phục lễ hội. Đoàn tế lính nghĩa quân sẽ mặc trang phục như lính trận, tay cầm giáo, mác hướng lên trời. Đoàn cầm cờ và lực lượng quần chúng phải hết sức nghiêm trang. Thanh niên nam nữ trong vùng đang biểu diễn văn nghệ trong lễ hội Màn tái hiện lại lịch sử phong trào khởi nghĩa của tướng quân Hoàng Công Chất bằng sân khấu hoá gồm 3 phần chính là bối cảnh lịch sử, tướng quân lãnh đạo quân và dân đánh đuổi giặc ngoại xâm, Mường Thanh hân hoan trong ngày giải phóng; với sự tham gia của nhiều diễn viên của tỉnh đã làm nổi bật công lao to lớn và tôn vinh người thủ lĩnh Hoàng Công Chất. Từ đó, thể hiện tinh thần đoàn kết giữa đồng bào Tây Bắc và các tỉnh miền xuôi. Tiếng trống, cồng, chiêng, các loại nhạc cụ dân tộc vang lên với âm thanh hoành tráng, rộn ràng nhưng cũng trầm hùng và rất linh thiêng, để cầu cho quốc gia thái bình, gia đình ấm no hạnh phúc. Phần hội diễn ra với sự háo hức chờ đón những niềm vui của người dân và du khách thập phương. Ban tổ chức đã tổ chức các trò chơi lành mạnh, nâng cao đời sống văn hoá cũng như tinh thần cho nhân dân trên địa bàn với các hoạt động văn hoá - văn nghệ đa dạng; còn có trưng bày triển lãm tranh, ảnh hay các di vật của nghĩa quân Hoàng Công Chất”. Các trò chơi dân gian trong lễ hội Bản Phủ như đua ngựa giết Phẻ, bắn nỏ, kéo co, đi cà kheo, đẩy gậy, tung còn, cuộc thi nấu ăn, ẩm thực văn hoá các dân tộc; biểu diễn văn nghệ của các đoàn nghệ thuật quần chúng. Những cô gái trẻ dân tộc Thái ai cũng duyên dáng, dịu dàng trong trang phục truyền thống váy đen dài chấm gót, áo cóm khâu hàng cúc bướm lóng lánh ánh bạc, trên tay có cầm chiếc quạt trong rất sặc sỡ, nhịp nhàng trong điều múa uyển chuyển, đằm thắm, tạo sự lôi cuốn đối với khán giả. Vòng xoè đoàn kết là đặc trưng của dân tộc Thái trong lễ hội. Tiết mục múa lân múa rồng trong ngày Lễ hội thành Bản Phủ

Related Figures

Lễ hội Quan Thế Âm

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 18/2- 19/2 Âm lịch Lễ hội Quán Thế Âm diễn ra vào ngày 19 tháng Hai âm lịch hàng năm, tại khu du lịch Ngũ Hành Sơn của thành phố Đà Nẵng . Năm 1960, lễ hội này được tổ chức lần đầu tiên nhân ngày khánh thành pho tượng Bồ Tát Quán Thế Âm tại động Hoa Nghiêm ở ngọn Thuỷ Sơn, phía Tây của Ngũ Hành Sơn. Hai năm sau đó, lễ hội này đã được tổ chức trong dịp khánh thành chùa Quan Âm tại động Quan Âm, là nơi đã tìm thấy một khối thạch nhũ giống với hình tượng của Phật bà Quán Thế Âm. Tuy nhiên sau đó vì nhiều lý do nên lễ hội không được tổ chức trong một khoảng thời gian rất lâu. Cho đến ngày 19 tháng 2 âm lịch năm Tân Mùi (1991), lễ hội Quán Thế Âm mới chính thức khôi phục trở lại và duy trì cho đến ngày nay với quy mô hội càng ngày càng lớn và nội dung cũng ngày càng phong phú hơn. Lễ hội Quan Thế Âm tại Đà Nẵng Lễ hội Quán Thế Âm được tổ chức trong 3 ngày, gồm có hai phần chính là: Phần lễ và Phần hội. Phần lễ mang màu sắc tín ngưỡng Phật Giáo với các nội dung sau: Lễ rước ánh sáng: Nghi lễ này thường được tổ chức vào buổi tối ngày 18, gồm có lễ rước đuốc, rước kiệu, tiết mục múa lân, múa rồng với ý nghĩa tượng trưng là cầu mong ánh sáng sẽ soi đường dẫn lối cho chúng sinh. Trong mà phật giáo cũng cho rằng ánh sáng chính là trí tuệ, trí tuệ soi sáng thì đạo đức cũng trong sáng, và con sẽ làm được nhiều việc tốt. Lễ khai kinh: Lễ khai kinh thường được tổ chức vào buổi sáng ngày 19, được tổ chức rất sớm với ý nghĩa cầu nguyện cho quốc thái dân an, chúng sinh được an bình. Lễ trai đàn chẩn tế: nghi thức lễ này được tổ chức vào sáng ngày 19 với mục đích cầu siêu, dâng hương cúng thập loại chúng sinh. Thường trước khi mở hội, phật tử từ khắp nơi sẽ gửi danh sách những người thân quá cố của mình lên chùa để làm lễ cầu siêu. Trong nghi lễ này yêu cầu phải là người có giới phẩm mới được đứng ra làm lễ. Lễ thuyết giảng về sự tích Bồ tát Quán Thế Âm và dân tộc: lễ cúng sẽ bắt đầu vào sáng ngày 19, để ca ngợi lòng từ bi độ lượng của đức Phật Bồ Tát Quán Thế Âm và cầu nguyện cho quốc thái dân an. Lễ rước Quan Thế Âm thu hút nhiều người xem Lễ rước pho tượng Quán Thế Âm: Vào khoảng 10 giờ sáng ngày 19 sẽ cử hành lễ này, sau khi đã hoàn thành các nghi lễ trên. Bốn người sẽ khiêng kiệu có tượng Phật bà đi trước, theo sau là các Phật tử, kiệu được rước từ trên chùa sau đó xuống một chiếc thuyền đậu trên Sông Cầu Biện (một nhánh của sông Cổ Cò), sau đó sẽ cho thuyền chạy vòng quanh con sông Cổ Cò. Lễ này lễ để cầu nguyện cho đồng bào, cho chúng sinh hành nghề trên biển, đi làm ăn trên các con sông sẽ được thuận lợi và bình an. Ngoài các nghi lễ kể trên, còn có lễ tế xuân (cúng sơn thủy và thổ thần) để cầu cho quốc thái dân an. Lễ thường diễn ra vào đêm ngày 18. Trong khi cử hành nghi lễ này, các bô lão của các phường Hòa Quý, Hòa Hải phải khăn áo chỉnh tề, tay cầm đuốc, cờ lọng, lồng đèn, có đội chiêng trống và nhạc cổ đi theo. Sau khi làm lễ và đọc văn tế xong, đoàn các bô lão sẽ dẫn đầu đoàn rước cộ đi xuống bờ sông Cầu Biện để mở chuẩn bị hội hoa đăng, sau đó từ chùa Quán Thế Âm sẽ đi quanh các tuyến phố, đi qua các làng đá mỹ nghệ Non Nước, sau đó xuống khu du lịch Non Nước rồi trở lại lễ đài với lộ trình dài khoảng hơn 2km. Cứ vào ngày hội Quan Thế Âm lại có hàng nghìn du khách và Phật tử hội tụ về Đà Nẵng xem hội Phần hội diễn ra rất sôi nổi với các hoạt động văn hoá , văn nghệ và thể thao mang đậm bản sắc dân tộc xen vào đó là những môn hiện đại như hội hát dân ca, hoá trang, thi cờ, hoạ, nhạc, điêu khắc, hát tuồng, thả đèn trên sông, múa tứ linh... còn có các hoạt động văn hóa phong phú như triển lãm thư pháp, tranh thủy mặc, hội thi viết về danh thắng Ngũ Hành Sơn, hội thi nấu ăn chay... Với nhiều hoạt động văn hóa và thể thao đặc sắc, mang đậm bản sắc dân tộc, lễ hội Quán Thế Âm tuy có xen lẫn màu sắc tôn giáo nhưng từ lâu đã đi sâu vào lòng người dân trong vùng và du khách khắp nơi. Lễ hội Quán Thế Âm còn là một lời cầu nguyện cho xã hội yên bình, gia đình hạnh phúc, cầu cho mưa thuận gió hòa, và cùng là dịp để mọi người sống lại trong nên văn hóa dân tộc. Các nhà sư đang đọc kinh trước tượng Quan Thế Âm

Lễ hội Quán Thế Âm diễn ra vào ngày 19 tháng Hai âm lịch hàng năm, tại khu du lịch Ngũ Hành Sơn của thành phố Đà Nẵng . Năm 1960, lễ hội này được tổ chức lần đầu tiên nhân ngày khánh thành pho tượng Bồ Tát Quán Thế Âm tại động Hoa Nghiêm ở ngọn Thuỷ Sơn, phía Tây của Ngũ Hành Sơn. Hai năm sau đó, lễ hội này đã được tổ chức trong dịp khánh thành chùa Quan Âm tại động Quan Âm, là nơi đã tìm thấy một khối thạch nhũ giống với hình tượng của Phật bà Quán Thế Âm. Tuy nhiên sau đó vì nhiều lý do nên lễ hội không được tổ chức trong một khoảng thời gian rất lâu. Cho đến ngày 19 tháng 2 âm lịch năm Tân Mùi (1991), lễ hội Quán Thế Âm mới chính thức khôi phục trở lại và duy trì cho đến ngày nay với quy mô hội càng ngày càng lớn và nội dung cũng ngày càng phong phú hơn.

Lễ hội Quan Thế Âm tại Đà Nẵng

Lễ hội Quán Thế Âm được tổ chức trong 3 ngày, gồm có hai phần chính là: Phần lễ và Phần hội. Phần lễ mang màu sắc tín ngưỡng Phật Giáo với các nội dung sau: Lễ rước ánh sáng: Nghi lễ này thường được tổ chức vào buổi tối ngày 18, gồm có lễ rước đuốc, rước kiệu, tiết mục múa lân, múa rồng với ý nghĩa tượng trưng là cầu mong ánh sáng sẽ soi đường dẫn lối cho chúng sinh. Trong mà phật giáo cũng cho rằng ánh sáng chính là trí tuệ, trí tuệ soi sáng thì đạo đức cũng trong sáng, và con sẽ làm được nhiều việc tốt. Lễ khai kinh: Lễ khai kinh thường được tổ chức vào buổi sáng ngày 19, được tổ chức rất sớm với ý nghĩa cầu nguyện cho quốc thái dân an, chúng sinh được an bình. Lễ trai đàn chẩn tế: nghi thức lễ này được tổ chức vào sáng ngày 19 với mục đích cầu siêu, dâng hương cúng thập loại chúng sinh. Thường trước khi mở hội, phật tử từ khắp nơi sẽ gửi danh sách những người thân quá cố của mình lên chùa để làm lễ cầu siêu. Trong nghi lễ này yêu cầu phải là người có giới phẩm mới được đứng ra làm lễ. Lễ thuyết giảng về sự tích Bồ tát Quán Thế Âm và dân tộc: lễ cúng sẽ bắt đầu vào sáng ngày 19, để ca ngợi lòng từ bi độ lượng của đức Phật Bồ Tát Quán Thế Âm và cầu nguyện cho quốc thái dân an. Lễ rước Quan Thế Âm thu hút nhiều người xem Lễ rước pho tượng Quán Thế Âm: Vào khoảng 10 giờ sáng ngày 19 sẽ cử hành lễ này, sau khi đã hoàn thành các nghi lễ trên. Bốn người sẽ khiêng kiệu có tượng Phật bà đi trước, theo sau là các Phật tử, kiệu được rước từ trên chùa sau đó xuống một chiếc thuyền đậu trên Sông Cầu Biện (một nhánh của sông Cổ Cò), sau đó sẽ cho thuyền chạy vòng quanh con sông Cổ Cò. Lễ này lễ để cầu nguyện cho đồng bào, cho chúng sinh hành nghề trên biển, đi làm ăn trên các con sông sẽ được thuận lợi và bình an. Ngoài các nghi lễ kể trên, còn có lễ tế xuân (cúng sơn thủy và thổ thần) để cầu cho quốc thái dân an. Lễ thường diễn ra vào đêm ngày 18. Trong khi cử hành nghi lễ này, các bô lão của các phường Hòa Quý, Hòa Hải phải khăn áo chỉnh tề, tay cầm đuốc, cờ lọng, lồng đèn, có đội chiêng trống và nhạc cổ đi theo. Sau khi làm lễ và đọc văn tế xong, đoàn các bô lão sẽ dẫn đầu đoàn rước cộ đi xuống bờ sông Cầu Biện để mở chuẩn bị hội hoa đăng, sau đó từ chùa Quán Thế Âm sẽ đi quanh các tuyến phố, đi qua các làng đá mỹ nghệ Non Nước, sau đó xuống khu du lịch Non Nước rồi trở lại lễ đài với lộ trình dài khoảng hơn 2km. Cứ vào ngày hội Quan Thế Âm lại có hàng nghìn du khách và Phật tử hội tụ về Đà Nẵng xem hội Phần hội diễn ra rất sôi nổi với các hoạt động văn hoá , văn nghệ và thể thao mang đậm bản sắc dân tộc xen vào đó là những môn hiện đại như hội hát dân ca, hoá trang, thi cờ, hoạ, nhạc, điêu khắc, hát tuồng, thả đèn trên sông, múa tứ linh... còn có các hoạt động văn hóa phong phú như triển lãm thư pháp, tranh thủy mặc, hội thi viết về danh thắng Ngũ Hành Sơn, hội thi nấu ăn chay... Với nhiều hoạt động văn hóa và thể thao đặc sắc, mang đậm bản sắc dân tộc, lễ hội Quán Thế Âm tuy có xen lẫn màu sắc tôn giáo nhưng từ lâu đã đi sâu vào lòng người dân trong vùng và du khách khắp nơi. Lễ hội Quán Thế Âm còn là một lời cầu nguyện cho xã hội yên bình, gia đình hạnh phúc, cầu cho mưa thuận gió hòa, và cùng là dịp để mọi người sống lại trong nên văn hóa dân tộc. Các nhà sư đang đọc kinh trước tượng Quan Thế Âm

Lễ rước Quan Thế Âm thu hút nhiều người xem

Related Figures

Lễ hội đâm trâu của người Bana

Thông tin thời kỳ

Ở Tây Nguyên, từ tháng Chạp đến tháng Ba âm lịch, bà con Banar ở Gia lai, Kon Tum lại mở hội đâm trâu hay còn gọi là Groong Kpo Tonơi hoặc Koh Kpo, để chào đón năm mới, mừng cho mọi người thật nhiều sức khỏe và cầu chúc cho mùa màng tươi tốt. Lễ hội đâm trâu của người Bana tại Đăk Lăk Theo tục lệ của đồng bào người Banar, Jrai, vào mùa xuân hàng năm dân làng sẽ tổ chức một lần lễ hội đâm trâu tại nhà rông của bản, mọi chi phí để tổ chức hội đều do dân làng đóng góp lại. Một già làng có uy tín sẽ được chọn làm chủ trì ngày hội, ông sẽ đứng gần cột buộc trâu. Những nam thanh nữ tú cầm chiêng, cồng, múa sẽ đứng phía sau già làng. Những nam thanh niên có nhiệm vụ đánh trống, cồng, chiêng trong ngày hội đều phải chít khăn đỏ trên đầu, mặc áo ngày lễ dành cho con trai và đóng khố. Nữ thì mặc áo phia, váy koteh ( một loại áo, mặc ngày hội dành riêng cho con gái). Các già làng và thanh niên trai tráng trong làng sẽ chọn một bãi đất rộng, bằng phẳng, cách buôn làng không xa để mời thần linh về chứng kiến. Gưng gồm có cây nêu, cột buộc trâu và một vài cây cột để trang trí. Cây nêu được làm bằng tre vút thẳng và dựng ở giữa. Một cột chính được làm bằng cây Xmuôn hay cây Pleng, được chôn vững để buộc trâu. Xung quanh cây nêu người ta sẽ trồng từ 4 - 8 trụ gỗ hình tròn cao chừng 2 - 3 mét, có đường kính hơn nửa gang tay, và được kẻ trang trí với nhiều gam màu mạnh như đỏ, xanh, đen, trăng. Các trụ gỗ được bố trí khoảng cách khá đều nhau, xếp cẩn thận theo hình hoa thị đối xứng, trên có buộc các đoạn dây rừng để tạo thế liên hoàn, vững chắc hơn. Trên ngọn của cây nêu có những thanh ngang chẻ ra tứ phía, mỗi đầu thanh đều có vòng tre như hình mặt trời. Những đọan dây được tết, những tam giác được đan bằng lạt tre, những chùm ống chuông gió... lủng lẳng ở dưới các vòng mặt trời. Trên cao nữa, ở gần chỗ túi thiêng là tượng trưng cho sức mạnh và trí tuệ là hình ảnh cách điệu của chim Kring (đại bàng) để tượng trưng cho sứ giả của hạnh phúc. Lễ hội đâm trâu của người Bana tại Đăk Lăk Lễ hội thường diễn ra trong 3 ngày 3 đêm. Vị tộc trưởng và thầy cúng hay già làng sẽ làm chủ lễ hiến tế. Ngày thứ 2, một dàn chiêng gồm 8, 10 hoặc 12 chiêng đồng sẽ tấu lên những giai điệu trầm hùng hòa quyện với tiếng trống lớn Bnưng. Những nam thanh niên trong làng đều cởi trần, đóng khố, tay cầm một cái gậy múa Kơ-tếch, giành riêng trong lễ hội đâm trâu. Những thanh niên khoẻ mạnh hơn, đầu được chít khăn đỏ, tay cầm một chiên gươm sắc, sáng loáng lao ra. Nam thanh niên này vừa múa chiên gươm, vừa đi vòng tròn quanh đàn trâu để lừa trâu thừa dịp đâm trâu. Sau cuộc nhảy múa vui vẻ, họ sẽ đâm trâu. Khi con trâu bị đâm đã tắt thở, thầy cùng đem cái chiên nồi đồng nhỏ ra để hứng huyết trâu rồi hòa với rượu, bộ phận đao kiếm thực hiện xẻ thịt trâu. Sau khi làm thịt trâu xong, họ sẽ chia đều thịt cho từng bếp trong buôn làng. Còn giữ một phần thịt trâu lại để uống rượu chung tại nhà rông.Thịt trâu sau khi được xẻ ra, sẽ được chia đều cho các bếp ở trong buôn.Thịt trâu cùng Giàng được bày riêng ra thành năm nhóm ở trên bàn thờ và vẩu rượu pha tiết trâu. Buồng gan của con trâu sẽ được chia nhỏ ta cho trai làng ăn với quan niệm để tăng thêm sức mạnh. Cuộc vui mùa hát lại tiếp tục quanh đống lửa đỏ rực. Người già trong buôn thì uống rượu, hát H'mon, thanh niên nam nữ chưa vợ, chưa chồng thì tìm đến nhau, nhảy múa cho tới khi ngọn lửa tàn đi, đến lúc mặt trời lên...Những ngày diễn ra lễ hội đâm trâu, cũng chính là những ngày hội của nghệ thuật cồng chiêng của Tây Nguyên, vì nhiều nhà sẽ đem bộ cồng chiêng của gia đình mình tới tham dự. Lễ hội đâm trâu như một món ăn tinh thần và là nét văn hóa dân gian đặc sắc của người Banar, đã làm giàu sắc thái văn hóa của dân tộc Việt Nam. Thanh niên trong buôn đang thực nghi lễ đâm trâu

Ở Tây Nguyên, từ tháng Chạp đến tháng Ba âm lịch, bà con Banar ở Gia lai, Kon Tum lại mở hội đâm trâu hay còn gọi là Groong Kpo Tonơi hoặc Koh Kpo, để chào đón năm mới, mừng cho mọi người thật nhiều sức khỏe và cầu chúc cho mùa màng tươi tốt.

Lễ hội đâm trâu của người Bana tại Đăk Lăk

Theo tục lệ của đồng bào người Banar, Jrai, vào mùa xuân hàng năm dân làng sẽ tổ chức một lần lễ hội đâm trâu tại nhà rông của bản, mọi chi phí để tổ chức hội đều do dân làng đóng góp lại. Một già làng có uy tín sẽ được chọn làm chủ trì ngày hội, ông sẽ đứng gần cột buộc trâu. Những nam thanh nữ tú cầm chiêng, cồng, múa sẽ đứng phía sau già làng. Những nam thanh niên có nhiệm vụ đánh trống, cồng, chiêng trong ngày hội đều phải chít khăn đỏ trên đầu, mặc áo ngày lễ dành cho con trai và đóng khố. Nữ thì mặc áo phia, váy koteh ( một loại áo, mặc ngày hội dành riêng cho con gái). Các già làng và thanh niên trai tráng trong làng sẽ chọn một bãi đất rộng, bằng phẳng, cách buôn làng không xa để mời thần linh về chứng kiến. Gưng gồm có cây nêu, cột buộc trâu và một vài cây cột để trang trí. Cây nêu được làm bằng tre vút thẳng và dựng ở giữa. Một cột chính được làm bằng cây Xmuôn hay cây Pleng, được chôn vững để buộc trâu. Xung quanh cây nêu người ta sẽ trồng từ 4 - 8 trụ gỗ hình tròn cao chừng 2 - 3 mét, có đường kính hơn nửa gang tay, và được kẻ trang trí với nhiều gam màu mạnh như đỏ, xanh, đen, trăng. Các trụ gỗ được bố trí khoảng cách khá đều nhau, xếp cẩn thận theo hình hoa thị đối xứng, trên có buộc các đoạn dây rừng để tạo thế liên hoàn, vững chắc hơn. Trên ngọn của cây nêu có những thanh ngang chẻ ra tứ phía, mỗi đầu thanh đều có vòng tre như hình mặt trời. Những đọan dây được tết, những tam giác được đan bằng lạt tre, những chùm ống chuông gió... lủng lẳng ở dưới các vòng mặt trời. Trên cao nữa, ở gần chỗ túi thiêng là tượng trưng cho sức mạnh và trí tuệ là hình ảnh cách điệu của chim Kring (đại bàng) để tượng trưng cho sứ giả của hạnh phúc. Lễ hội đâm trâu của người Bana tại Đăk Lăk Lễ hội thường diễn ra trong 3 ngày 3 đêm. Vị tộc trưởng và thầy cúng hay già làng sẽ làm chủ lễ hiến tế. Ngày thứ 2, một dàn chiêng gồm 8, 10 hoặc 12 chiêng đồng sẽ tấu lên những giai điệu trầm hùng hòa quyện với tiếng trống lớn Bnưng. Những nam thanh niên trong làng đều cởi trần, đóng khố, tay cầm một cái gậy múa Kơ-tếch, giành riêng trong lễ hội đâm trâu. Những thanh niên khoẻ mạnh hơn, đầu được chít khăn đỏ, tay cầm một chiên gươm sắc, sáng loáng lao ra. Nam thanh niên này vừa múa chiên gươm, vừa đi vòng tròn quanh đàn trâu để lừa trâu thừa dịp đâm trâu. Sau cuộc nhảy múa vui vẻ, họ sẽ đâm trâu. Khi con trâu bị đâm đã tắt thở, thầy cùng đem cái chiên nồi đồng nhỏ ra để hứng huyết trâu rồi hòa với rượu, bộ phận đao kiếm thực hiện xẻ thịt trâu. Sau khi làm thịt trâu xong, họ sẽ chia đều thịt cho từng bếp trong buôn làng. Còn giữ một phần thịt trâu lại để uống rượu chung tại nhà rông.Thịt trâu sau khi được xẻ ra, sẽ được chia đều cho các bếp ở trong buôn.Thịt trâu cùng Giàng được bày riêng ra thành năm nhóm ở trên bàn thờ và vẩu rượu pha tiết trâu. Buồng gan của con trâu sẽ được chia nhỏ ta cho trai làng ăn với quan niệm để tăng thêm sức mạnh. Cuộc vui mùa hát lại tiếp tục quanh đống lửa đỏ rực. Người già trong buôn thì uống rượu, hát H'mon, thanh niên nam nữ chưa vợ, chưa chồng thì tìm đến nhau, nhảy múa cho tới khi ngọn lửa tàn đi, đến lúc mặt trời lên...Những ngày diễn ra lễ hội đâm trâu, cũng chính là những ngày hội của nghệ thuật cồng chiêng của Tây Nguyên, vì nhiều nhà sẽ đem bộ cồng chiêng của gia đình mình tới tham dự. Lễ hội đâm trâu như một món ăn tinh thần và là nét văn hóa dân gian đặc sắc của người Banar, đã làm giàu sắc thái văn hóa của dân tộc Việt Nam. Thanh niên trong buôn đang thực nghi lễ đâm trâu

Related Figures

Lễ hội đua voi Tây Nguyên

Thông tin thời kỳ

Lễ hội đua voi Tây Nguyên là một trong những lễ hội quan trọng thuộc hệ thống các lễ hội cổ truyền của nhân dân Tây Nguyên. Lễ hội này thường được tổ chức trong hai ngày là ngày 24 và 25 tháng Chín âm lịch hàng năm, tại Buôn Đôn hay tại một cánh rừng ven sông Sêrêpốk của tỉnh Đăk Lăk. Ngày hội đua voi đã phản ánh tinh thần thượng võ của người dân M'Nông, một dân tộc có truyền thống dũng cảm, có kinh nghiệm trong các cuộc săn bắt voi rừng. Lễ hội đua voi Tây Nguyên tại Đăk Lăk Bãi để tổ chức lễ hội đua voi thường là nơi có dải đất bằng phẳng, diện tích đủ để 5-10 con voi giăng thành một hàng ngang đi cùng một lúc, chiều dài từ 1-2km. Sau một hồi tù cất lên chính là hiệu lệnh bắt đầu, đàn voi sẽ phóng thật nhanh về phía trước trong sự cổ vũ nhiệt tình của đông đảo người dân quanh vùng và du khách thập phương, và trong tiếng chiêng, tiếng trống đánh thúc giục. Sau hội đua voi, cả buôn làng sẽ tập trung hết về nhà cộng đồng để bày tiệc, ăn mừng, uống rượu cần và cùng hát hò, nhảy múa trong bầu không khí vui tươi, sôi động của lễ hội và âm vang của tiếng cồng chiêng rộn rã. Đua voi là một trong những lễ hội lớn và quan trọng nhất trong hệ thống lễ hội cổ truyền của người Tây Nguyên Trong những năm gần đây, theo yêu cầu của ngành du lịch, đồng thời để bảo tồn và phát triển các bản sắc văn hóa, lễ hội đua voi Tây Nguyên đã được chính quyền địa phương đứng ra tổ chức. Ngoài chạy đua, các chú voi còn tham gia các môn thi khác như đá bóng, bơi vượt sông... Vì vậy, nó thường được người dân địa phương giới thiệu trong các chương trình du lịch của Đắk Lắk.

Lễ hội đua voi Tây Nguyên là một trong những lễ hội quan trọng thuộc hệ thống các lễ hội cổ truyền của nhân dân Tây Nguyên. Lễ hội này thường được tổ chức trong hai ngày là ngày 24 và 25 tháng Chín âm lịch hàng năm, tại Buôn Đôn hay tại một cánh rừng ven sông Sêrêpốk của tỉnh Đăk Lăk. Ngày hội đua voi đã phản ánh tinh thần thượng võ của người dân M'Nông, một dân tộc có truyền thống dũng cảm, có kinh nghiệm trong các cuộc săn bắt voi rừng.

Lễ hội đua voi Tây Nguyên tại Đăk Lăk

Bãi để tổ chức lễ hội đua voi thường là nơi có dải đất bằng phẳng, diện tích đủ để 5-10 con voi giăng thành một hàng ngang đi cùng một lúc, chiều dài từ 1-2km. Sau một hồi tù cất lên chính là hiệu lệnh bắt đầu, đàn voi sẽ phóng thật nhanh về phía trước trong sự cổ vũ nhiệt tình của đông đảo người dân quanh vùng và du khách thập phương, và trong tiếng chiêng, tiếng trống đánh thúc giục. Sau hội đua voi, cả buôn làng sẽ tập trung hết về nhà cộng đồng để bày tiệc, ăn mừng, uống rượu cần và cùng hát hò, nhảy múa trong bầu không khí vui tươi, sôi động của lễ hội và âm vang của tiếng cồng chiêng rộn rã. Đua voi là một trong những lễ hội lớn và quan trọng nhất trong hệ thống lễ hội cổ truyền của người Tây Nguyên Trong những năm gần đây, theo yêu cầu của ngành du lịch, đồng thời để bảo tồn và phát triển các bản sắc văn hóa, lễ hội đua voi Tây Nguyên đã được chính quyền địa phương đứng ra tổ chức. Ngoài chạy đua, các chú voi còn tham gia các môn thi khác như đá bóng, bơi vượt sông... Vì vậy, nó thường được người dân địa phương giới thiệu trong các chương trình du lịch của Đắk Lắk.

Related Figures

Lễ hội làng Tuý Loan

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 9/1 Âm lịch Tuý Loan là một làng cổ thuộc thành phố Đà Nẵng, đã tồn tại trên 500 năm, đình làng Túy Loa cũng đã có được lập được hơn 100 năm. Trải qua thời gian dài đằng đẵng, và những thăng trầm lịch sử, đình Tuý Loan ngày nay tuy không còn giữ được nguyên vẹn những kiến trúc ban đầu nhưng trông vẫn còn rất uy nghi. Cứ đến ngày mồng 9 Tết hàng năm, bà con dân làng hai thôn Đông và Tây của làng và du khách thập phương lại quây quần về đình để mở hội. Lễ hội làng Tuý Loan diễn ra trong 2 ngày với không khí lễ hội. Lễ hội làng Tuý Loan tại Đà Nẵng Phần lễ gồm có Lễ rước Sắc phong, nhạc lễ trong lúc dâng hương tế Đình sẽ giúp con cháu tưởng nhớ đến 5 vị tiền hiền Lâm, Đặng, Nguyễn, Lê, Trần, đã tuân lệnh vua Lê Thánh Tôn đi về phương nam để mở mang bờ cõi(năm Hồng Đức nguyên niên 1470), đã dừng chân và chọn nơi đây để khai khẩn đất đai, lập nên làng xóm và đặt tên làng là Tuý Loan. Phần hội của lễ hội Túy Loan diễn ra rất sôi nổi bởi nhiều trò chơi dân gian vui nhộn như vật tay, đẩy gậy, kéo co... được tổ chức ngay trước sân đình. Từ lâu, nghề làm bánh tráng đã góp phần làm nên danh tiếng của làng Tuý Loan. Chính vì vậy, trong phần hội của làng không thể thiếu được cuộc thi nướng bánh tráng. Hai thôn Đông và Tây sẽ cử ra những ai khéo tay nhất thôn mình, thường là các cô gái, để tham gia cuộc thi nướng bánh tráng. Người chiến thắng trong cuộc thi sẽ mang lại vinh dự cho thôn của mình, đồng thời góp phần tôn vinh nét đẹp của nghề truyền thống lâu đời của làng. Cuộc thi đua thuyền trên sông Túy Loan Làng Túy Loan còn thu hút khách thập phương bởi con sông Tuý Loan thơ mộng. Con sông này quanh năm yên tĩnh, nhưng cứ đến ngày hội lại trở nên sôi động hơn bao giờ hết với cuộc đua ghe truyền thống của các chàng trai trong làng. Trên bờ, bà con dân làng và du khách thập phương đứng cố vũ rất đông, những tiếng reo hò, vỗ tay nhiệt tình trong tiếng trống thúc giục lòng người. Kết thúc cuộc thi, bất cứ đội nào thắng cuộc cũng đều có ý nghĩa mang lại cho người dân một năm mới với nhiều may mắn. Ngày nay, lễ hội này còn được bổ sung thêm các trò chơi mới như thi đi xe đạp chậm, thi gói bánh tét...càng làm khiến cho không khí lễ hội càng thêm phần náo nhiệt. Lễ rước kiệu trong Hội làng Túy Loan Du khách về xem hội đình làng Tuý Loan cũng là dịp để du khách gần xa hiểu thêm được phần nào về một vùng đất, phong tục văn hóa và con người của làng quê Túy Loan. Về Đà Nẵng xem hội Túy Loan để chiêm ngưỡng những nét đẹp về văn hóa lẫn con người nơi đây

Tuý Loan là một làng cổ thuộc thành phố Đà Nẵng, đã tồn tại trên 500 năm, đình làng Túy Loa cũng đã có được lập được hơn 100 năm. Trải qua thời gian dài đằng đẵng, và những thăng trầm lịch sử, đình Tuý Loan ngày nay tuy không còn giữ được nguyên vẹn những kiến trúc ban đầu nhưng trông vẫn còn rất uy nghi. Cứ đến ngày mồng 9 Tết hàng năm, bà con dân làng hai thôn Đông và Tây của làng và du khách thập phương lại quây quần về đình để mở hội. Lễ hội làng Tuý Loan diễn ra trong 2 ngày với không khí lễ hội.

Lễ hội làng Tuý Loan tại Đà Nẵng

Phần lễ gồm có Lễ rước Sắc phong, nhạc lễ trong lúc dâng hương tế Đình sẽ giúp con cháu tưởng nhớ đến 5 vị tiền hiền Lâm, Đặng, Nguyễn, Lê, Trần, đã tuân lệnh vua Lê Thánh Tôn đi về phương nam để mở mang bờ cõi(năm Hồng Đức nguyên niên 1470), đã dừng chân và chọn nơi đây để khai khẩn đất đai, lập nên làng xóm và đặt tên làng là Tuý Loan. Phần hội của lễ hội Túy Loan diễn ra rất sôi nổi bởi nhiều trò chơi dân gian vui nhộn như vật tay, đẩy gậy, kéo co... được tổ chức ngay trước sân đình. Từ lâu, nghề làm bánh tráng đã góp phần làm nên danh tiếng của làng Tuý Loan. Chính vì vậy, trong phần hội của làng không thể thiếu được cuộc thi nướng bánh tráng. Hai thôn Đông và Tây sẽ cử ra những ai khéo tay nhất thôn mình, thường là các cô gái, để tham gia cuộc thi nướng bánh tráng. Người chiến thắng trong cuộc thi sẽ mang lại vinh dự cho thôn của mình, đồng thời góp phần tôn vinh nét đẹp của nghề truyền thống lâu đời của làng. Cuộc thi đua thuyền trên sông Túy Loan Làng Túy Loan còn thu hút khách thập phương bởi con sông Tuý Loan thơ mộng. Con sông này quanh năm yên tĩnh, nhưng cứ đến ngày hội lại trở nên sôi động hơn bao giờ hết với cuộc đua ghe truyền thống của các chàng trai trong làng. Trên bờ, bà con dân làng và du khách thập phương đứng cố vũ rất đông, những tiếng reo hò, vỗ tay nhiệt tình trong tiếng trống thúc giục lòng người. Kết thúc cuộc thi, bất cứ đội nào thắng cuộc cũng đều có ý nghĩa mang lại cho người dân một năm mới với nhiều may mắn. Ngày nay, lễ hội này còn được bổ sung thêm các trò chơi mới như thi đi xe đạp chậm, thi gói bánh tét...càng làm khiến cho không khí lễ hội càng thêm phần náo nhiệt. Lễ rước kiệu trong Hội làng Túy Loan Du khách về xem hội đình làng Tuý Loan cũng là dịp để du khách gần xa hiểu thêm được phần nào về một vùng đất, phong tục văn hóa và con người của làng quê Túy Loan. Về Đà Nẵng xem hội Túy Loan để chiêm ngưỡng những nét đẹp về văn hóa lẫn con người nơi đây

Related Figures

Lễ hội Cầu ngư

Thông tin thời kỳ

Lễ hội cầu ngư hay lễ hội Cá Ông, lễ tế Cá Voi, là lễ hội truyền thống lớn nhất của ngư dân biển thành phố Đà Nẵng. Đối với ngư dân Đà Nẵng, việc thờ phụng Cá Ông không chỉ là tín ngưỡng hay bày tỏ sự tôn kính đối với thần linh mà còn là sự kiện gắn liền với sự hưng thịnh của vạn chài. 'Ông' là cách gọi tôn kính của ngư dân biển dành riêng cho loài cá voi, loài cá đã giúp họ vượt qua sóng to gió lớn, bão táp hung dữ khi lênh đênh trên biển cả. Hàng năm, sau khi ăn Tết Nguyên Đán xong, ngư dân sẽ tổ chức lễ tế cá Ông lồng ghép với hai hình thức là Lễ hội Cầu ngư và lễ ra quân cho vụ mùa đánh bắt cá nam. Ở Đà Nẵng, Lễ hội Cầu ngư thường được tổ chức ở các vùng ven biển như Thọ Quang, Mân Thái, Thanh Lộc Đán, Hòa Hiệp, Xuân Hà... Lễ hội Cầu ngư tại Đà Nẵng Lễ hội cầu ngư thường diễn ra trong 2 ngày, tổ chức vào trung tuần tháng Ba âm lịch hàng năm. Ngày đầu tiên sẽ thiết lễ tiên thường, ngày thứ hai sẽ là lễ tế chính thức. Trong ngày lễ hội, bàn thờ phải được trang hoàng rực rỡ và trang nghiêm. Các hộ dân đều đặt một bàn hương án và bày đồ lễ cúng. Trên mỗi tàu thuyền đều có trang trí và chăng đèn kết hoa. Làng sẽ chọn ra các cụ cao niên, có uy tín và hiền đức, không chịu tang chế để lập một ban nghi lễ. Vị chánh bái sẽ dâng đồ tế lễ (không sử dụng hải sản) và đọc bài văn tế bày tỏ lòng biết ơn của dân làng đối với ân đức của loài Cá Ông và cầu mong Ông sẽ phù giúp cho một vụ mùa đánh bắt bội thu, thuyền bè sẽ đi khơi về lộng an toàn. Cầu Ngư là lễ hội lớn nhất của người dân vùng biển Đà Nẵng Từ sáng tinh mơ ngày hôm sau, dân làng đã tập trung ra biển. Tiếng trống làm lễ rước trên biển nổi lên. Có nơi còn tổ chức cả lễ rước Ông từ làng này sang làng khác để thể hiện mối thân tình và sự đoàn kết giữa các làng chài. Tất cả các tàu thuyền ra khơi đều đã đậu ở một vị trí đã được định trước, vị chánh tế sẽ tổ chức lễ “xin keo”. Đó là lễ Cá Ông chứng dám cho lòng thành kính của ngư dân ngoài biển. Vào lúc nửa đêm hôm đó, dân làng sẽ cử hành lễ chánh tế bao gồm: lễ khai mõ, đội học sẽ lên trò dâng hương... Về phần hội thì tuỳ thuộc vào điều kiện của mỗi địa phương mà có hình thức tổ chức khác nhau, nhưng cũng đều tổ chức các trò chơi dân gian của người dân vùng biển như: đua thuyền, lắc thúng, bơi lội, đá bóng, kéo co... Phần hội còn hấp dẫn bởi các tiết mục văn nghệ, hát hò khoan, hát tuồng, múa hát bả trạo (bả: nắm, trạo: chèo đò) thể hiện tinh thần đoàn kết, gắn bó giữa các thành viên trên một con thuyền, vượt qua biết bao sóng to gió cả để mang về một mùa đánh bắt bội thu cho ngư dân. Lễ hội Cầu ngư đã bày tỏ khát vọng có được cuộc sống bình yên của ngư dân biển, những con người đang phải đối mặt với nhiều thách thức khi lênh đênh trên biển cả. Đoàn làm lễ tiến ra biển để cử hành lễ xin keo

Lễ hội cầu ngư hay lễ hội Cá Ông, lễ tế Cá Voi, là lễ hội truyền thống lớn nhất của ngư dân biển thành phố Đà Nẵng. Đối với ngư dân Đà Nẵng, việc thờ phụng Cá Ông không chỉ là tín ngưỡng hay bày tỏ sự tôn kính đối với thần linh mà còn là sự kiện gắn liền với sự hưng thịnh của vạn chài. 'Ông' là cách gọi tôn kính của ngư dân biển dành riêng cho loài cá voi, loài cá đã giúp họ vượt qua sóng to gió lớn, bão táp hung dữ khi lênh đênh trên biển cả. Hàng năm, sau khi ăn Tết Nguyên Đán xong, ngư dân sẽ tổ chức lễ tế cá Ông lồng ghép với hai hình thức là Lễ hội Cầu ngư và lễ ra quân cho vụ mùa đánh bắt cá nam. Ở Đà Nẵng, Lễ hội Cầu ngư thường được tổ chức ở các vùng ven biển như Thọ Quang, Mân Thái, Thanh Lộc Đán, Hòa Hiệp, Xuân Hà...

Lễ hội Cầu ngư tại Đà Nẵng

Lễ hội cầu ngư thường diễn ra trong 2 ngày, tổ chức vào trung tuần tháng Ba âm lịch hàng năm. Ngày đầu tiên sẽ thiết lễ tiên thường, ngày thứ hai sẽ là lễ tế chính thức. Trong ngày lễ hội, bàn thờ phải được trang hoàng rực rỡ và trang nghiêm. Các hộ dân đều đặt một bàn hương án và bày đồ lễ cúng. Trên mỗi tàu thuyền đều có trang trí và chăng đèn kết hoa. Làng sẽ chọn ra các cụ cao niên, có uy tín và hiền đức, không chịu tang chế để lập một ban nghi lễ. Vị chánh bái sẽ dâng đồ tế lễ (không sử dụng hải sản) và đọc bài văn tế bày tỏ lòng biết ơn của dân làng đối với ân đức của loài Cá Ông và cầu mong Ông sẽ phù giúp cho một vụ mùa đánh bắt bội thu, thuyền bè sẽ đi khơi về lộng an toàn. Cầu Ngư là lễ hội lớn nhất của người dân vùng biển Đà Nẵng Từ sáng tinh mơ ngày hôm sau, dân làng đã tập trung ra biển. Tiếng trống làm lễ rước trên biển nổi lên. Có nơi còn tổ chức cả lễ rước Ông từ làng này sang làng khác để thể hiện mối thân tình và sự đoàn kết giữa các làng chài. Tất cả các tàu thuyền ra khơi đều đã đậu ở một vị trí đã được định trước, vị chánh tế sẽ tổ chức lễ “xin keo”. Đó là lễ Cá Ông chứng dám cho lòng thành kính của ngư dân ngoài biển. Vào lúc nửa đêm hôm đó, dân làng sẽ cử hành lễ chánh tế bao gồm: lễ khai mõ, đội học sẽ lên trò dâng hương... Về phần hội thì tuỳ thuộc vào điều kiện của mỗi địa phương mà có hình thức tổ chức khác nhau, nhưng cũng đều tổ chức các trò chơi dân gian của người dân vùng biển như: đua thuyền, lắc thúng, bơi lội, đá bóng, kéo co... Phần hội còn hấp dẫn bởi các tiết mục văn nghệ, hát hò khoan, hát tuồng, múa hát bả trạo (bả: nắm, trạo: chèo đò) thể hiện tinh thần đoàn kết, gắn bó giữa các thành viên trên một con thuyền, vượt qua biết bao sóng to gió cả để mang về một mùa đánh bắt bội thu cho ngư dân. Lễ hội Cầu ngư đã bày tỏ khát vọng có được cuộc sống bình yên của ngư dân biển, những con người đang phải đối mặt với nhiều thách thức khi lênh đênh trên biển cả. Đoàn làm lễ tiến ra biển để cử hành lễ xin keo

Từ sáng tinh mơ ngày hôm sau, dân làng đã tập trung ra biển. Tiếng trống làm lễ rước trên biển nổi lên. Có nơi còn tổ chức cả lễ rước Ông từ làng này sang làng khác để thể hiện mối thân tình và sự đoàn kết giữa các làng chài. Tất cả các tàu thuyền ra khơi đều đã đậu ở một vị trí đã được định trước, vị chánh tế sẽ tổ chức lễ “xin keo”. Đó là lễ Cá Ông chứng dám cho lòng thành kính của ngư dân ngoài biển. Vào lúc nửa đêm hôm đó, dân làng sẽ cử hành lễ chánh tế bao gồm: lễ khai mõ, đội học sẽ lên trò dâng hương... Về phần hội thì tuỳ thuộc vào điều kiện của mỗi địa phương mà có hình thức tổ chức khác nhau, nhưng cũng đều tổ chức các trò chơi dân gian của người dân vùng biển như: đua thuyền, lắc thúng, bơi lội, đá bóng, kéo co... Phần hội còn hấp dẫn bởi các tiết mục văn nghệ, hát hò khoan, hát tuồng, múa hát bả trạo (bả: nắm, trạo: chèo đò) thể hiện tinh thần đoàn kết, gắn bó giữa các thành viên trên một con thuyền, vượt qua biết bao sóng to gió cả để mang về một mùa đánh bắt bội thu cho ngư dân.

Related Figures

Lễ hội làng Hòa Mỹ

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 12/1 Âm lịch Hoà Mỹ là một khối phố thuộc quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Năm 1825, dưới thời vua Minh Mạng thứ 5, Hòa Mỹ được xác lập trên bản đồ đất nước Việt Nam. Lễ hội làng Hòa Mỹ đã có từ rất lâu, tuy nhiên sau một gia đoạn bị gián cách mãi cho tới năm 1994 thì mới được khôi phục hoàn toàn. Hàng năm, cuwsvaof ngày 12 tháng Giêng âm lịch, người dân nơi đây là mở hội tưng bừng để nhắc nhở tinh thần “uống nước nhớ nguồn” cho thế hệ con cháu các tộc họ, đồng thời là dịp kiểm điểm lại những việc đã làm được trong năm vừa qua, từ đó vạch ra hướng đi mới, những công việc cần được thực hiện trong năm mới này. Nổi trống khai hội làng Hòa Mỹ Lễ hội đình làng Hoà Mỹ thường diễn ra trong khoảng một ngày rưỡi. Phần lễ được cử hành theo nghi thức cổ truyền gồm 2 lễ là lễ vọng và chính thức là lễ hội kỵ. Phần hội có nội dung phong phú và đa dạng hơn, đó là những trò chơi truyền thống và các bộ môn thể thao hiện đại đan xen với nhau, tạo nên nét văn hóa rất riêng cho lễ hội Hòa Mỹ. Mở đầu phần hội của Lễ hội Đình Hòa Mỹ thường là giải chạy việt dã truyền thống, luôn thu hút rất đông nông dân, thanh - thiếu niên, học sinh nam nữ tham gia. Người trẻ tuổi thì thi cắm hoa, thi làm bánh còn người cao tuổi thì thi biểu diễn thể dục dưỡng sinh, còn có vui chơi bài chòi. Đội trống biểu diễn trong lễ khai mạc hội Khán giả đến xem hội lúc nào cũng đông quanh, sân tổ chức các trò chơi dân gian như đập om, kéo co... bao giờ cũng chật kín và sôi nổi như không khí ngày hội hè. Trong khi đó, tổ dân phố, các dòng họ, các đoàn thể, lại có dịp để ngồi lại bên nhau giao lưu văn hóa, chia sẻ kinh nghiệm thực hiện nết sống đẹp trong tổ chức tại buổi sinh hoạt cộng đồng, để tất cả cùng nhau phát triển. Các trích đoạn hát tuồng cũng được biểu diễn đan xen với các tiết mục ca múa nhạc kịch trong chương trình văn nghệ lễ hội. Đây cũng là cách để kết hợp hài hoà giữa văn hóa truyền thống và hiện đại. Lễ hội đình làng diễn ra giữa một khu phố như Hoà Mỹ quả là một nét rất riêng biệt trong đời sống văn hoá của bà con nhân dân Đà Nẵng. Lễ hội làng Hòa Mỹ tại Đà Nẵng

Hoà Mỹ là một khối phố thuộc quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Năm 1825, dưới thời vua Minh Mạng thứ 5, Hòa Mỹ được xác lập trên bản đồ đất nước Việt Nam. Lễ hội làng Hòa Mỹ đã có từ rất lâu, tuy nhiên sau một gia đoạn bị gián cách mãi cho tới năm 1994 thì mới được khôi phục hoàn toàn. Hàng năm, cuwsvaof ngày 12 tháng Giêng âm lịch, người dân nơi đây là mở hội tưng bừng để nhắc nhở tinh thần “uống nước nhớ nguồn” cho thế hệ con cháu các tộc họ, đồng thời là dịp kiểm điểm lại những việc đã làm được trong năm vừa qua, từ đó vạch ra hướng đi mới, những công việc cần được thực hiện trong năm mới này.

Nổi trống khai hội làng Hòa Mỹ Lễ hội đình làng Hoà Mỹ thường diễn ra trong khoảng một ngày rưỡi. Phần lễ được cử hành theo nghi thức cổ truyền gồm 2 lễ là lễ vọng và chính thức là lễ hội kỵ. Phần hội có nội dung phong phú và đa dạng hơn, đó là những trò chơi truyền thống và các bộ môn thể thao hiện đại đan xen với nhau, tạo nên nét văn hóa rất riêng cho lễ hội Hòa Mỹ. Mở đầu phần hội của Lễ hội Đình Hòa Mỹ thường là giải chạy việt dã truyền thống, luôn thu hút rất đông nông dân, thanh - thiếu niên, học sinh nam nữ tham gia. Người trẻ tuổi thì thi cắm hoa, thi làm bánh còn người cao tuổi thì thi biểu diễn thể dục dưỡng sinh, còn có vui chơi bài chòi. Đội trống biểu diễn trong lễ khai mạc hội Khán giả đến xem hội lúc nào cũng đông quanh, sân tổ chức các trò chơi dân gian như đập om, kéo co... bao giờ cũng chật kín và sôi nổi như không khí ngày hội hè. Trong khi đó, tổ dân phố, các dòng họ, các đoàn thể, lại có dịp để ngồi lại bên nhau giao lưu văn hóa, chia sẻ kinh nghiệm thực hiện nết sống đẹp trong tổ chức tại buổi sinh hoạt cộng đồng, để tất cả cùng nhau phát triển. Các trích đoạn hát tuồng cũng được biểu diễn đan xen với các tiết mục ca múa nhạc kịch trong chương trình văn nghệ lễ hội. Đây cũng là cách để kết hợp hài hoà giữa văn hóa truyền thống và hiện đại. Lễ hội đình làng diễn ra giữa một khu phố như Hoà Mỹ quả là một nét rất riêng biệt trong đời sống văn hoá của bà con nhân dân Đà Nẵng. Lễ hội làng Hòa Mỹ tại Đà Nẵng

Nổi trống khai hội làng Hòa Mỹ

Related Figures

Lễ rước Mục Đồng

Thông tin thời kỳ

Lễ rước Mục Đồng tại làng Phong Lệ, xã Hòa Châu, huyện Hòa Vang, tp.Đà Nẵng, là một hội dành cho những đứa trẻ chăn trâu và thường tổ chức 3 năm một lần. Lễ rước Mục Đồng dễn ra trong 2 ngày vào cuối tháng 3 âm lịch, với mong cầu một năm mới làm ăn phát đạt, mùa màng bội thu. Lễ rước Mục Đồng tại Đà Nẵng Tục truyền kể rằng, làng Phong Lệ xưa kia có một cồn cỏ. Vào một ngày nọ, có một người xua đàn vịt lên cồn, nhưng chân vịt bỗng nhiên bị dính chặt xuống đất cứ như có bàn tay của ai đó giữ lại. Từ đó cồn này được đặt tên cồn Thần. Một hôm, một đàn trâu của làng bị lạc và chạy lên cồn, đám trẻ chăn trâu đã đến đây tìm, nhưng chúng lại không hề hấn gì. Từ đó có người dân nơi đây lan truyền tiếng đồn là cồn Thần chỉ cho trẻ chăn trâu lên mà thôi. Xóm Cồn về sau đã được đặt tên là xóm Đồng, là nơi tụ tập của nhiều mục đồng trong làng. Sau nhiều năm trôi qua, trong làng dần dần hình thành một lễ hội dành riêng cho những đứa trẻ chăn trâu, và đặt tên là lễ rước mục đồng. Từ hạ tuần tháng 3 âm lịch, đó là thời điểm công việc đồng áng đang vãn, và cũng là lúc người dân bắt đầu sắp đặt cho lễ hội. Các điền chủ có vài mẫu ruộng và mấy con trâu, trở lên sẽ trực tiếp đứng ra cáng đáng công việc của ngày lễ. Làng trên xóm dưới lại rộn ràng chuẩn bị cho lễ hội. Ngoài lá cờ nhỏ của mục đồng, hội còn có cờ lớn của 13 dòng tộc trong làng. Cờ lớn được treo vào cán tre dài chừng 5 mét, có trao kèm các con vật, có tứ linh gồm lân-long-quy-phụng, tứ nghệ gồm sĩ- nông- công-thương. Nhưng nhiều nhất vẫn là các loại dụng cụ phục vụ sản xuất nông nghiệp như cái bừa, cái cuốc, cái cày, xẻng, dần, nia... Để giành được giải thưởng trong lễ hội, các tộc họ khá giả thường thi nhau rước các thợ mộc Kim Bồng khéo tay về tiện các con giống trên gỗ, trông rất công phu. Trên cờ lớn được theo nhiều thứ như vậy nên thường rất nặng, yêu cầu phải chọn các các nam thanh niên trẻ khỏe, đeo nai nịt ngang lưng đầy đủ mới đủ sức để cầm cờ. Lễ rước Mục Đồng là lễ hội dành riêng cho trẻ chăn trâu Chiều 29 tháng 3 âm lịch sẽ tiến hành lễ dạo đồng. Đây là lúc con cháu của làng sinh sống ở khắp nơi trong mọi miền tổ quốc kéo nhau về đông đủ. Mục đồng sẽ cầm cờ đi dạo quanh các cánh đồng để tỏ ý cầu cho mùa màng bội thu. Sáng ngày 30 tháng 3 là ngày lễ chính thức, sẽ cử hành lễ rước. Mới tinh mơ sáng, trong làng đã vang lên tiếng trống giục giã người dân về dự lễ. Tất cả đều về tề tựu trong sân đình Thần, hay đình Mục Đồng. Trùm mục (người trông coi các mục đồng) mặc những bộ lễ phục chỉnh tề, tươm tất trịnh trọng bước vào hậu tẩm khấn vái, sau đó cung thỉnh bài vị của Thần Nông rồi đặt vào kiệu. Kiệu rước được trang trí như kiệu rước Thần, trên nóc kiệu có bốn mái trang trí bốn giao lá, rèm kiệu thì được giăng bằng hoa kết đèn trông rất rực rỡ, do bốn mục đồng cao như nhau khiêng. Đi đầu đám rước sẽ là đoàn cờ mục đồng, kế tiếp sẽ đến cờ 13 tộc họ. Dàn cổ nhạc và chiêng trống cùng kiểng cổ tấu nhạc vang động một góc trời. Gia đình nào có trâu đều chuẩn bị lễ phẩm, lễ thường là một mâm xôi và hoa quả, có khi có con gà hay đầu heo, cho người đội theo sau đám rước. Dân làng sẽ nối đuôi nhau đi sau cùng. Nổi bật hơn hẳn là đoàn người rồng rắn, kiệu rước, trông rất uy nghi, trang trọng cùng tiến về cồn Thần. Trong âm thanh vang dậy trời đất của tiếng trống, tiếng chiêng và nhã nhạc, dưới ánh sáng bập bùng của những ngọn đuốc trong buổi sáng tinh mơ, đám rước đã tạo nên một bức tranh tuyệt đẹp trên con đường làng. Nhiều trò chơi dân gian được tổ chức trong ngày hội Mục Đồng Khi mặt trời đã lên khỏi ngọn tre cũng chính là lúc lễ vừa xong. Mọi người lại quay trở về với cuộc sống thường ngày , nhưng trong lòng họ đã dấy lên một niềm tin rằng: năm nay vụ mùa sẽ bội thu. Lễ hội rước mục đồng diễn ra rất ấm áp và rực rỡ sắc màu với dòng người bình dị, những trò vui dân gian hấp dẫn, những màn trình khó quên của trẻ chăn trâu lại càng khiến khách du lịch càng thêm say lòng.

Lễ rước Mục Đồng tại làng Phong Lệ, xã Hòa Châu, huyện Hòa Vang, tp.Đà Nẵng, là một hội dành cho những đứa trẻ chăn trâu và thường tổ chức 3 năm một lần. Lễ rước Mục Đồng dễn ra trong 2 ngày vào cuối tháng 3 âm lịch, với mong cầu một năm mới làm ăn phát đạt, mùa màng bội thu.

Lễ rước Mục Đồng tại Đà Nẵng

Tục truyền kể rằng, làng Phong Lệ xưa kia có một cồn cỏ. Vào một ngày nọ, có một người xua đàn vịt lên cồn, nhưng chân vịt bỗng nhiên bị dính chặt xuống đất cứ như có bàn tay của ai đó giữ lại. Từ đó cồn này được đặt tên cồn Thần. Một hôm, một đàn trâu của làng bị lạc và chạy lên cồn, đám trẻ chăn trâu đã đến đây tìm, nhưng chúng lại không hề hấn gì. Từ đó có người dân nơi đây lan truyền tiếng đồn là cồn Thần chỉ cho trẻ chăn trâu lên mà thôi. Xóm Cồn về sau đã được đặt tên là xóm Đồng, là nơi tụ tập của nhiều mục đồng trong làng. Sau nhiều năm trôi qua, trong làng dần dần hình thành một lễ hội dành riêng cho những đứa trẻ chăn trâu, và đặt tên là lễ rước mục đồng. Từ hạ tuần tháng 3 âm lịch, đó là thời điểm công việc đồng áng đang vãn, và cũng là lúc người dân bắt đầu sắp đặt cho lễ hội. Các điền chủ có vài mẫu ruộng và mấy con trâu, trở lên sẽ trực tiếp đứng ra cáng đáng công việc của ngày lễ. Làng trên xóm dưới lại rộn ràng chuẩn bị cho lễ hội. Ngoài lá cờ nhỏ của mục đồng, hội còn có cờ lớn của 13 dòng tộc trong làng. Cờ lớn được treo vào cán tre dài chừng 5 mét, có trao kèm các con vật, có tứ linh gồm lân-long-quy-phụng, tứ nghệ gồm sĩ- nông- công-thương. Nhưng nhiều nhất vẫn là các loại dụng cụ phục vụ sản xuất nông nghiệp như cái bừa, cái cuốc, cái cày, xẻng, dần, nia... Để giành được giải thưởng trong lễ hội, các tộc họ khá giả thường thi nhau rước các thợ mộc Kim Bồng khéo tay về tiện các con giống trên gỗ, trông rất công phu. Trên cờ lớn được theo nhiều thứ như vậy nên thường rất nặng, yêu cầu phải chọn các các nam thanh niên trẻ khỏe, đeo nai nịt ngang lưng đầy đủ mới đủ sức để cầm cờ. Lễ rước Mục Đồng là lễ hội dành riêng cho trẻ chăn trâu Chiều 29 tháng 3 âm lịch sẽ tiến hành lễ dạo đồng. Đây là lúc con cháu của làng sinh sống ở khắp nơi trong mọi miền tổ quốc kéo nhau về đông đủ. Mục đồng sẽ cầm cờ đi dạo quanh các cánh đồng để tỏ ý cầu cho mùa màng bội thu. Sáng ngày 30 tháng 3 là ngày lễ chính thức, sẽ cử hành lễ rước. Mới tinh mơ sáng, trong làng đã vang lên tiếng trống giục giã người dân về dự lễ. Tất cả đều về tề tựu trong sân đình Thần, hay đình Mục Đồng. Trùm mục (người trông coi các mục đồng) mặc những bộ lễ phục chỉnh tề, tươm tất trịnh trọng bước vào hậu tẩm khấn vái, sau đó cung thỉnh bài vị của Thần Nông rồi đặt vào kiệu. Kiệu rước được trang trí như kiệu rước Thần, trên nóc kiệu có bốn mái trang trí bốn giao lá, rèm kiệu thì được giăng bằng hoa kết đèn trông rất rực rỡ, do bốn mục đồng cao như nhau khiêng. Đi đầu đám rước sẽ là đoàn cờ mục đồng, kế tiếp sẽ đến cờ 13 tộc họ. Dàn cổ nhạc và chiêng trống cùng kiểng cổ tấu nhạc vang động một góc trời. Gia đình nào có trâu đều chuẩn bị lễ phẩm, lễ thường là một mâm xôi và hoa quả, có khi có con gà hay đầu heo, cho người đội theo sau đám rước. Dân làng sẽ nối đuôi nhau đi sau cùng. Nổi bật hơn hẳn là đoàn người rồng rắn, kiệu rước, trông rất uy nghi, trang trọng cùng tiến về cồn Thần. Trong âm thanh vang dậy trời đất của tiếng trống, tiếng chiêng và nhã nhạc, dưới ánh sáng bập bùng của những ngọn đuốc trong buổi sáng tinh mơ, đám rước đã tạo nên một bức tranh tuyệt đẹp trên con đường làng. Nhiều trò chơi dân gian được tổ chức trong ngày hội Mục Đồng Khi mặt trời đã lên khỏi ngọn tre cũng chính là lúc lễ vừa xong. Mọi người lại quay trở về với cuộc sống thường ngày , nhưng trong lòng họ đã dấy lên một niềm tin rằng: năm nay vụ mùa sẽ bội thu. Lễ hội rước mục đồng diễn ra rất ấm áp và rực rỡ sắc màu với dòng người bình dị, những trò vui dân gian hấp dẫn, những màn trình khó quên của trẻ chăn trâu lại càng khiến khách du lịch càng thêm say lòng.

Related Figures

Lễ hội Nàng Hai của dân tộc Tày

Thông tin thời kỳ

Hội Nàng Hai được tổ chức vào tháng 1 và kéo dài cho đến trung tuần tháng 3.Theo phong tục của dân tộc Tày thì trên cung trăng có Mẹ Trăng và 12 nàng tiên, đó là những người con gái của mẹ Trăng. Mẹ Trăng và các con của mình hằng năm đều chăm lo bảo vệ mùa màng cho những người nông dân đồng bào Tày. Hội Nàng Hai được tổ chức với mục đích tượng trưng các mẹ và các các cô gái ở dưới trần gian cùng lên cung trăng đón Mẹ Trăng và 12 nàng tiên xuống thăm trần gian. phù giúp dân làng làm ăn thuận lợi, cuộc sống ấm no. Lễ hội Nàng Hai của dân tộc Tày tại Cao Bằng Lễ hội Nàng Hai được tổ chức vào thời gian nào là còn phụ thuộc vào thời gian quy định của từng xóm từ những thời xa xưa truyền lại. Ví dụ: Bản Guống thường đón trăng vào ngày mồng 6 tháng 2 và ngày 24 tháng 3 sẽ tiễn trăng; Bản Nưa Khau sẽ đón trăng vào ngày 11 tháng 2 và cử hành tiễn trăng vào ngày 22 tháng 3; còn bản Ngườm Cuông lại đón trăng vào ngày 15 tháng 2, sau đó tiễn trăng vào ngày 21 tháng Ba. Để chuẩn bị cho ngày hội Nàng Hai, các cụ già trong bản sẽ chọn ra một bà mẹ tiêu biểu để làm Mẹ Trăng tiếng địa phương là "Mụ cốc", người này phải là người có cuộc sống gia đình vẹn toàn, hát hay. Họ cũng chọn ra 12-18 cô gái trẻ để đóng vai các nàng tiên. Trong các cô gáu trẻ này sẽ chọn ra 2 cô gái chưa có gia đình để làm 2 chị em trăng. Cô chị có tên là "Nàng Slở", còn cô em là "Nàng Gường". Trong đám trai làng, họ sẽ chọn ra 2 thiếu niên nam để mang lễ đi trước mở đường cho chuyến hành trình của các nàng tiên và mẹ trăng đi lên cung trăng. Về trang phục trong lễ hội: Mẹ Trăng hay Mụ cốc sẽ mặc quần áo chàm, trên đầu có buộc một cái dẻ màu đỏ vắt chéo qua trên khăn. Khi đang hành lễ, đến đoạn múa lên đường thì mẹ trăng sẽ cầm ngọn mía, trên ngọn mía này có treo một cái túi đựng trầu nhỏ và 1 chiếc khăn mù soa, 1 bát nước có đặt trong đó 1 lá bưởi. Ngọn mía và bát nước là để tượng trưng cho việc tẩy uế. Hai thiếu niên nam dẫn đầu sẽ mặc quần áo chàm, trên đầu buộc có buộc hai dẻ vải đỏ, thắt lưng có buộc một tấm vải đỏ. Khi Mẹ Trăng cùng các nàng tiên bắt đầu cuộc hành trình thì 2 thiếu niên nam này mỗi người cầm trên tay một cây trúc nhỏ đã tỉa cành, chỉ để lại vài cành ở phần ngọn, trên ngọn có buộc một chiếc khăn tay. Theo tiếng dân tộc Tày thì 2 cây trúc này được gọi là cây "cụ tiến". Cây "cụ tiến" có ý nghĩa là mở đường cho Mẹ Trăng cùng các nàng tiên đi lên trời mời mẹ trăng và các nàng tiên xuống giúp trần gian tham quan và giúp đỡ dân làng trong công việc làm ăn. Mục đoàn mẹ trăng và các nàng tiên trăng đang đi lên trời để mời các mẹ trăng và tiên trăng xuống trần gian Hai nàng trăng là trăng chị (nàng Slở sẽ mặc áo vàng, trên đầu có vấn khăn và buộc một dẻ vải màu có màu vàng chéo qua trên khăn, trăng em là nàng Gường sẽ mặc áo đỏ, trên đầu cũng buộc dẻ vải nhưng màu màu đỏ. Theo sau trăng chị và trăng em là 6 hoặc 8 cô gái mặc trang phục áo chàm, trên đầu đều buộc dẻ vải màu vàng , hoặc màu đỏ. 6 hoặc 8 cô gái này còn được gọi là các mụ nàng đi để hầu hạ hai nàng trăng. Trong lễ hội Nàng Hai còn có ông Tào làm lễ cúng các thần với mục đích để lễ hội diễn ra một cách suôn sẻ và kết thúc an toàn. Sau khi khâu chuẩn bị đã xong, dân bản sẽ dựng một cái lều ở một nơi khô ráo trong bản, được gọi là lều trăng, tiếng Tày gọi là "Thiêng hai". Lều chỉ dựng sơ sài và lợp bằng rơm, trong lều sẽ kê vài tấm phản để dùng làm chỗ ngồi cho mẹ trăng cùng các nàng tiên trong khi làm lễ. Trước lều các cô gái sẽ vào rừng hái các loại hoa rừng như: hoa Khảo Quang, Bioóc Mạ, hoa Chuối, hoa Guột... sau đó buộc lại từng bó và vắt lên một cây sào treo trước lều trăng. Trước khi cử hành nghi lễ, những người được chọn đóng vai Mẹ Trăng (Mụ cốc) và các nàng sẽ đứng trước bàn thờ để cho ông Tào làm lễ hóa thân. Theo thứ tự, cứ mỗi người sẽ hít thở 3 lần khói hương với mục đích để loại bỏ linh hồn của người thường ra để linh hồn Mẹ Trăng và các nàng tiên sẽ nhập vào thân người. Sau khi lễ nhập hồn kết thúc cũng là lúc bắt đầu hành lễ. Sau ngày lễ đón trăng, Mẹ Trăng cùng các nàng sẽ được làm lễ nhập hồn nhưng sau khi về nhà họ không được làm những việc uế tạp như chuồng gia súc, gánh phân, vào... Việc hành lễ: Sau lễ đón trăng thì các đêm tiếp theo sẽ cử hành lễ cúng các Mẹ Trăng. Lễ cũng được cử hành lúc 12 giờ đêm. Mỗi đêm cúng đều mời một Mẹ Trăng xuống trần gian giúp cho người dân được làm ăn phát tài. Lễ cúng thường được miêu tả như một hành trình các nàng tiên cùng mẹ Trăng đến cửa nơi các Mẹ Trăng ở như: mẹ Bích Lam, mẹ Lạn Ba, mẹ Khắc Cơ, mẹ Lưỡng Tàm, mẹ Bích Vân, mẹ Mạ Mỳ... Theo dân gian thì mỗi người mẹ sẽ phụ trách một công việc riêng; mẹ Khắc Cơ thì bảo quản giống lúa, mẹ Bích Lan thì trông coi giống bông, mẹ Lưỡng Tàm cai quản giống Tằm, mẹ Mạ Mỳ trông các loại sâu bọ, cầu mẹ sẽ nhốt các loại sâu bọ lại không để chúng phá hoại mùa màng... Sau khi đã cầu qua hết các cửa , xin các mẹ ban đầy đủ các giống cây, con vật, cho mưa thuận gió hòa. Đến khi ở trần gian bắt đầu nhiêu việc thì dân bản lại tổ chức tiễn đưa Mẹ trăng và các nàng trăng về trời. Lễ này thường được tổ chức rất chu đáo và được xem là ngày hội chính trong năm của bản làng, lễ hội này thường thu hút rất nhiều người từ các địa phương lân cận đến chơi và xem hội. Tổ chức lễ đưa tiễn các nàng trăng về với trời, dân bản sẽ dựng thêm một lều trăng nhưng lần này là ở ngoài cổng. Lễ này thường tổ chức trong 1 ngày. Trước tiến hành hành lễ đưa tiễn các nàng trăng về với trời ở ngoài cánh đồng, Mẹ Trăng và các nàng trăng cần phải vào lều đón trăng ở trong bản để làm lễ chia tay , họ cùng hát các bài hát trước lúc chia tay, sau đó họ vừa đi vừa dùng tay du thật mạnh những cây cột của lều để cho lều đổ, việc du lều đổ này còn gọi là "Trụ trại". Sau khi "Trụ trại" xong, Mẹ Trăng và các nàng trăng sẽ ra cầu thần để trông coi đầu bản và ra cuối bản mở cửa để Mẹ Trăng và các nàng trăng trở về trời. Lễ hội Nàng Hai là một lễ hội lớn của đồng bào dân tộc Tày tại Cao Bằng "Lều trăng" được dựng sơ sài ở giữa đồng, phía trước lều có đặt vài mâm cỗ, trong đó có 3 mâm to, 1 mâm có thủ lợn, rượu, xôi, 2 mâm có gà, xôi, các mâm còn ại thì chỉ có xôi ngũ sắc. Bên cạnh các mâm cỗ còn có những chiếc thuyền được đẽo bằng gỗ, trong đó có 1 chiếc to được trang trí đẹp hơn. Các thuyền này có ý nghĩa tượng trưng cho những con thuyền chở đầy của cải, hoa trái của dân đưa lên trời để tiến cho các Mẹ Trăng. Trước cửa "lều trăng" có các hàng cọc được dựng lên thành khung, mỗi khung cách nhau khoảng 2m, trên những khung này có trải những tấm vải lợp qua, tạo thành một đường vòng chung quanh sân. Những khung được lợp vải này còn gọi là "trại mùng mành". Khi hành lễ thì các mẹ và các nàng trăng sẽ đi qua dưới các tấm vải lợp này. Trong lễ tiễn trăng, sau khi kết thúc lễ đưa tiễn, múa, đưa thuyền chở của cải tiến các mẹ về trời thì các nàng tiên sẽ phụ khiêng 2 sào hoa và 1 người già sẽ cầm chiếc thuyền to nhất để thả ở trước bản. Sau khi thả thuyền xong, họ đặt hoa ở bên suối, thầy Tào sẽ tiến hành làm phép tách vía cho mẹ trăng và các nàng trăng. Tiếp theo, thầy Tào cùng thân nhân, bạn bè của 2 cô gái đóng vai chị em trăng sẽ gọi hồn vía người ở trần gian và nhập lại vào người để lại trở về thành người trần. Hai cô gái này phải rũ bỏ khăn vấn trên đầu và phải ra khỏi chỗ để làm lễ tách nhập hồn. Năm 1996, Sở Văn hóa và Thông tin tỉnh Cao Bằng đã chấp thuận cho bà con tại xã Tiên Thành khôi phục lại lễ hội này.

Hội Nàng Hai được tổ chức vào tháng 1 và kéo dài cho đến trung tuần tháng 3.Theo phong tục của dân tộc Tày thì trên cung trăng có Mẹ Trăng và 12 nàng tiên, đó là những người con gái của mẹ Trăng. Mẹ Trăng và các con của mình hằng năm đều chăm lo bảo vệ mùa màng cho những người nông dân đồng bào Tày. Hội Nàng Hai được tổ chức với mục đích tượng trưng các mẹ và các các cô gái ở dưới trần gian cùng lên cung trăng đón Mẹ Trăng và 12 nàng tiên xuống thăm trần gian. phù giúp dân làng làm ăn thuận lợi, cuộc sống ấm no.

Lễ hội Nàng Hai của dân tộc Tày tại Cao Bằng

Lễ hội Nàng Hai được tổ chức vào thời gian nào là còn phụ thuộc vào thời gian quy định của từng xóm từ những thời xa xưa truyền lại. Ví dụ: Bản Guống thường đón trăng vào ngày mồng 6 tháng 2 và ngày 24 tháng 3 sẽ tiễn trăng; Bản Nưa Khau sẽ đón trăng vào ngày 11 tháng 2 và cử hành tiễn trăng vào ngày 22 tháng 3; còn bản Ngườm Cuông lại đón trăng vào ngày 15 tháng 2, sau đó tiễn trăng vào ngày 21 tháng Ba. Để chuẩn bị cho ngày hội Nàng Hai, các cụ già trong bản sẽ chọn ra một bà mẹ tiêu biểu để làm Mẹ Trăng tiếng địa phương là "Mụ cốc", người này phải là người có cuộc sống gia đình vẹn toàn, hát hay. Họ cũng chọn ra 12-18 cô gái trẻ để đóng vai các nàng tiên. Trong các cô gáu trẻ này sẽ chọn ra 2 cô gái chưa có gia đình để làm 2 chị em trăng. Cô chị có tên là "Nàng Slở", còn cô em là "Nàng Gường". Trong đám trai làng, họ sẽ chọn ra 2 thiếu niên nam để mang lễ đi trước mở đường cho chuyến hành trình của các nàng tiên và mẹ trăng đi lên cung trăng. Về trang phục trong lễ hội: Mẹ Trăng hay Mụ cốc sẽ mặc quần áo chàm, trên đầu có buộc một cái dẻ màu đỏ vắt chéo qua trên khăn. Khi đang hành lễ, đến đoạn múa lên đường thì mẹ trăng sẽ cầm ngọn mía, trên ngọn mía này có treo một cái túi đựng trầu nhỏ và 1 chiếc khăn mù soa, 1 bát nước có đặt trong đó 1 lá bưởi. Ngọn mía và bát nước là để tượng trưng cho việc tẩy uế. Hai thiếu niên nam dẫn đầu sẽ mặc quần áo chàm, trên đầu buộc có buộc hai dẻ vải đỏ, thắt lưng có buộc một tấm vải đỏ. Khi Mẹ Trăng cùng các nàng tiên bắt đầu cuộc hành trình thì 2 thiếu niên nam này mỗi người cầm trên tay một cây trúc nhỏ đã tỉa cành, chỉ để lại vài cành ở phần ngọn, trên ngọn có buộc một chiếc khăn tay. Theo tiếng dân tộc Tày thì 2 cây trúc này được gọi là cây "cụ tiến". Cây "cụ tiến" có ý nghĩa là mở đường cho Mẹ Trăng cùng các nàng tiên đi lên trời mời mẹ trăng và các nàng tiên xuống giúp trần gian tham quan và giúp đỡ dân làng trong công việc làm ăn. Mục đoàn mẹ trăng và các nàng tiên trăng đang đi lên trời để mời các mẹ trăng và tiên trăng xuống trần gian Hai nàng trăng là trăng chị (nàng Slở sẽ mặc áo vàng, trên đầu có vấn khăn và buộc một dẻ vải màu có màu vàng chéo qua trên khăn, trăng em là nàng Gường sẽ mặc áo đỏ, trên đầu cũng buộc dẻ vải nhưng màu màu đỏ. Theo sau trăng chị và trăng em là 6 hoặc 8 cô gái mặc trang phục áo chàm, trên đầu đều buộc dẻ vải màu vàng , hoặc màu đỏ. 6 hoặc 8 cô gái này còn được gọi là các mụ nàng đi để hầu hạ hai nàng trăng. Trong lễ hội Nàng Hai còn có ông Tào làm lễ cúng các thần với mục đích để lễ hội diễn ra một cách suôn sẻ và kết thúc an toàn. Sau khi khâu chuẩn bị đã xong, dân bản sẽ dựng một cái lều ở một nơi khô ráo trong bản, được gọi là lều trăng, tiếng Tày gọi là "Thiêng hai". Lều chỉ dựng sơ sài và lợp bằng rơm, trong lều sẽ kê vài tấm phản để dùng làm chỗ ngồi cho mẹ trăng cùng các nàng tiên trong khi làm lễ. Trước lều các cô gái sẽ vào rừng hái các loại hoa rừng như: hoa Khảo Quang, Bioóc Mạ, hoa Chuối, hoa Guột... sau đó buộc lại từng bó và vắt lên một cây sào treo trước lều trăng. Trước khi cử hành nghi lễ, những người được chọn đóng vai Mẹ Trăng (Mụ cốc) và các nàng sẽ đứng trước bàn thờ để cho ông Tào làm lễ hóa thân. Theo thứ tự, cứ mỗi người sẽ hít thở 3 lần khói hương với mục đích để loại bỏ linh hồn của người thường ra để linh hồn Mẹ Trăng và các nàng tiên sẽ nhập vào thân người. Sau khi lễ nhập hồn kết thúc cũng là lúc bắt đầu hành lễ. Sau ngày lễ đón trăng, Mẹ Trăng cùng các nàng sẽ được làm lễ nhập hồn nhưng sau khi về nhà họ không được làm những việc uế tạp như chuồng gia súc, gánh phân, vào... Việc hành lễ: Sau lễ đón trăng thì các đêm tiếp theo sẽ cử hành lễ cúng các Mẹ Trăng. Lễ cũng được cử hành lúc 12 giờ đêm. Mỗi đêm cúng đều mời một Mẹ Trăng xuống trần gian giúp cho người dân được làm ăn phát tài. Lễ cúng thường được miêu tả như một hành trình các nàng tiên cùng mẹ Trăng đến cửa nơi các Mẹ Trăng ở như: mẹ Bích Lam, mẹ Lạn Ba, mẹ Khắc Cơ, mẹ Lưỡng Tàm, mẹ Bích Vân, mẹ Mạ Mỳ... Theo dân gian thì mỗi người mẹ sẽ phụ trách một công việc riêng; mẹ Khắc Cơ thì bảo quản giống lúa, mẹ Bích Lan thì trông coi giống bông, mẹ Lưỡng Tàm cai quản giống Tằm, mẹ Mạ Mỳ trông các loại sâu bọ, cầu mẹ sẽ nhốt các loại sâu bọ lại không để chúng phá hoại mùa màng... Sau khi đã cầu qua hết các cửa , xin các mẹ ban đầy đủ các giống cây, con vật, cho mưa thuận gió hòa. Đến khi ở trần gian bắt đầu nhiêu việc thì dân bản lại tổ chức tiễn đưa Mẹ trăng và các nàng trăng về trời. Lễ này thường được tổ chức rất chu đáo và được xem là ngày hội chính trong năm của bản làng, lễ hội này thường thu hút rất nhiều người từ các địa phương lân cận đến chơi và xem hội. Tổ chức lễ đưa tiễn các nàng trăng về với trời, dân bản sẽ dựng thêm một lều trăng nhưng lần này là ở ngoài cổng. Lễ này thường tổ chức trong 1 ngày. Trước tiến hành hành lễ đưa tiễn các nàng trăng về với trời ở ngoài cánh đồng, Mẹ Trăng và các nàng trăng cần phải vào lều đón trăng ở trong bản để làm lễ chia tay , họ cùng hát các bài hát trước lúc chia tay, sau đó họ vừa đi vừa dùng tay du thật mạnh những cây cột của lều để cho lều đổ, việc du lều đổ này còn gọi là "Trụ trại". Sau khi "Trụ trại" xong, Mẹ Trăng và các nàng trăng sẽ ra cầu thần để trông coi đầu bản và ra cuối bản mở cửa để Mẹ Trăng và các nàng trăng trở về trời. Lễ hội Nàng Hai là một lễ hội lớn của đồng bào dân tộc Tày tại Cao Bằng "Lều trăng" được dựng sơ sài ở giữa đồng, phía trước lều có đặt vài mâm cỗ, trong đó có 3 mâm to, 1 mâm có thủ lợn, rượu, xôi, 2 mâm có gà, xôi, các mâm còn ại thì chỉ có xôi ngũ sắc. Bên cạnh các mâm cỗ còn có những chiếc thuyền được đẽo bằng gỗ, trong đó có 1 chiếc to được trang trí đẹp hơn. Các thuyền này có ý nghĩa tượng trưng cho những con thuyền chở đầy của cải, hoa trái của dân đưa lên trời để tiến cho các Mẹ Trăng. Trước cửa "lều trăng" có các hàng cọc được dựng lên thành khung, mỗi khung cách nhau khoảng 2m, trên những khung này có trải những tấm vải lợp qua, tạo thành một đường vòng chung quanh sân. Những khung được lợp vải này còn gọi là "trại mùng mành". Khi hành lễ thì các mẹ và các nàng trăng sẽ đi qua dưới các tấm vải lợp này. Trong lễ tiễn trăng, sau khi kết thúc lễ đưa tiễn, múa, đưa thuyền chở của cải tiến các mẹ về trời thì các nàng tiên sẽ phụ khiêng 2 sào hoa và 1 người già sẽ cầm chiếc thuyền to nhất để thả ở trước bản. Sau khi thả thuyền xong, họ đặt hoa ở bên suối, thầy Tào sẽ tiến hành làm phép tách vía cho mẹ trăng và các nàng trăng. Tiếp theo, thầy Tào cùng thân nhân, bạn bè của 2 cô gái đóng vai chị em trăng sẽ gọi hồn vía người ở trần gian và nhập lại vào người để lại trở về thành người trần. Hai cô gái này phải rũ bỏ khăn vấn trên đầu và phải ra khỏi chỗ để làm lễ tách nhập hồn. Năm 1996, Sở Văn hóa và Thông tin tỉnh Cao Bằng đã chấp thuận cho bà con tại xã Tiên Thành khôi phục lại lễ hội này.

Related Figures

Lễ hội đua thuyền

Thông tin thời kỳ

Lễ hội đua thuyền tại Quận Lien Chiểu, thành phố Đà Nẵng thường diễn ra vào tháng Giêng âm lịch hàng năm, với mong cầu cho mong mưa thuận gió hòa. Theo tục truyền, ngày xưa ông cha ta đã tổ chức Lễ hội đua thuyền vào những ngày đầu xuân với ý nghĩa khai thông sông rạch, và cầu mong cho mưa thuận gió hòa. Trong cuộc đua thuyền, làng nào giành chiến thắng thì năm đó cả làng sẽ gặp nhiều may mắn, làm gì cũng được thuận lợi, phát tài. Thời xưa ngay cả khi đất nước vẫn đang còn trong chiến tranh ác liệt, hay thời bình thì cuộc đua thuyền đã trở thành lễ hội đặc sắc không thể thiếu trong những ngày đầu năm mới. Lễ hội đua thuyền tại Đà Nẵng Một tuần trước khi mở hội, bà con trong làng sẽ tụ họp lại để lên kế hoạch chuẩn bị đua thuyền đồng thời thăm hỏi và động viên con cháu tập luyện chuẩn bị cho hội thi. Bất cứ lúc nào mỗi làng cũng đều hình thành một đội đua thuyền gồm các thanh niên trai tráng cỡ từ 18 đến 35 tuổi. Đội nhiều nhất là 30 người, gồm có lái thuyền, người cầm phách, người cầm tổng và dân bơi. Kinh phí để lập nên đội thuyền đều do dân làng tự nguyên quyên góp. Trong ngày mở hội, cả một vùng Hòa Hiệp dường như mất ngủ, các điểm sinh hoạt tập thể ở thôn nào cũng sáng đèn và rất đông người tụ họp. Người thì về để cổ vũ, người thì bàn tán xem sử dụng chiến thuật nào, đánh giá thuyền và các đội của các làng khác. Nhưng có một điểm chung là người làng nào cũng cho rằng “đò" của làng mình là mạnh nhất và sẽ đoạt giải nhất. Sáng tinh mơ của ngày hội, các cụ già trong làng cùng các trai làng khỏe mạnh nhất sẽ ra bờ sông và đứng bên mũi thuyền để thắp hương cầu nguyện, xin chúng thần ban cho dân làng một mùa mưa thuận gió hòa. Khi đó, hai bên bờ sông, người dân và khách đến xem hội đã đứng rất đông và nói chuyện, cười đùa rất rôm rả. Người dân từ các nơi như Kim Liên, Nam Ô, Thủy Tú… cũng thức dậy từ rất sớm để về hội, tìm kiếm cho mình chỗ đứng xem thuận lợi nhất để không bỏ lỡ những giây phút kịch tích của cuộc đua. Thông qua lễ hội đua thuyền người dân cầu mong cho một năm mưa thuận gió hòa và bình an Khi người phát lệnh ra tín hiệu xuất phát, các thuyền lập ngay lập tức lao lên, hai bên bờ sông Cu Đê cũng bỗng vỡ òa trong tiếng hò reo và cỗ vũ, âm thanh của trống, mõ. Hàng ngàn con mắt đều hướng về mặt sông. Lúc này, dòng sông Cu Đê bỗng vốn hiền hòa cũng bỗng sôi sục khí thế của hàng chục con thuyền. Kết thúc cuộc đua thuyền, đội nào giành chiến thắng sẽ được hân hoan ca hát, đội thua thì cũng không vì thế mà buồn, họ chỉ xuýt xoa tiếc nuối và đặt quyết tâm sẽ chiến thắng vào kỳ lễ hội sau. Hàng chục thuyền đua tham gia hội đua thuyền tại quận Liên Chiểu Những năm gần đây, quận Liên Chiểu đang ngày càng quan tâm đến việc duy trì hoạt động văn hóa truyền thống đua thuyền trên dòng sông Cu Đê. Chỉ từ hoạt động mang tính chất tự phát, đến nay chính quyền địa phương đã hưởng ứng và chủ động ra tổ chức lễ hội, đồng thời cũng mời những đội thuyền của các địa phương khác cùng về tham gia tranh tài, khiến không khí của lễ hội ngày càng sôi nổi. Lễ hội đua thuyền là một nét đẹp độc đáo và đặc trưng của người dân sống ở vùng sông nước, đã tạo nên một nét văn hóa đặc sắc của người Việt khiến ai cũng không thể quên được.

Lễ hội đua thuyền tại Quận Lien Chiểu, thành phố Đà Nẵng thường diễn ra vào tháng Giêng âm lịch hàng năm, với mong cầu cho mong mưa thuận gió hòa.

Theo tục truyền, ngày xưa ông cha ta đã tổ chức Lễ hội đua thuyền vào những ngày đầu xuân với ý nghĩa khai thông sông rạch, và cầu mong cho mưa thuận gió hòa. Trong cuộc đua thuyền, làng nào giành chiến thắng thì năm đó cả làng sẽ gặp nhiều may mắn, làm gì cũng được thuận lợi, phát tài. Thời xưa ngay cả khi đất nước vẫn đang còn trong chiến tranh ác liệt, hay thời bình thì cuộc đua thuyền đã trở thành lễ hội đặc sắc không thể thiếu trong những ngày đầu năm mới. Lễ hội đua thuyền tại Đà Nẵng Một tuần trước khi mở hội, bà con trong làng sẽ tụ họp lại để lên kế hoạch chuẩn bị đua thuyền đồng thời thăm hỏi và động viên con cháu tập luyện chuẩn bị cho hội thi. Bất cứ lúc nào mỗi làng cũng đều hình thành một đội đua thuyền gồm các thanh niên trai tráng cỡ từ 18 đến 35 tuổi. Đội nhiều nhất là 30 người, gồm có lái thuyền, người cầm phách, người cầm tổng và dân bơi. Kinh phí để lập nên đội thuyền đều do dân làng tự nguyên quyên góp. Trong ngày mở hội, cả một vùng Hòa Hiệp dường như mất ngủ, các điểm sinh hoạt tập thể ở thôn nào cũng sáng đèn và rất đông người tụ họp. Người thì về để cổ vũ, người thì bàn tán xem sử dụng chiến thuật nào, đánh giá thuyền và các đội của các làng khác. Nhưng có một điểm chung là người làng nào cũng cho rằng “đò" của làng mình là mạnh nhất và sẽ đoạt giải nhất. Sáng tinh mơ của ngày hội, các cụ già trong làng cùng các trai làng khỏe mạnh nhất sẽ ra bờ sông và đứng bên mũi thuyền để thắp hương cầu nguyện, xin chúng thần ban cho dân làng một mùa mưa thuận gió hòa. Khi đó, hai bên bờ sông, người dân và khách đến xem hội đã đứng rất đông và nói chuyện, cười đùa rất rôm rả. Người dân từ các nơi như Kim Liên, Nam Ô, Thủy Tú… cũng thức dậy từ rất sớm để về hội, tìm kiếm cho mình chỗ đứng xem thuận lợi nhất để không bỏ lỡ những giây phút kịch tích của cuộc đua. Thông qua lễ hội đua thuyền người dân cầu mong cho một năm mưa thuận gió hòa và bình an Khi người phát lệnh ra tín hiệu xuất phát, các thuyền lập ngay lập tức lao lên, hai bên bờ sông Cu Đê cũng bỗng vỡ òa trong tiếng hò reo và cỗ vũ, âm thanh của trống, mõ. Hàng ngàn con mắt đều hướng về mặt sông. Lúc này, dòng sông Cu Đê bỗng vốn hiền hòa cũng bỗng sôi sục khí thế của hàng chục con thuyền. Kết thúc cuộc đua thuyền, đội nào giành chiến thắng sẽ được hân hoan ca hát, đội thua thì cũng không vì thế mà buồn, họ chỉ xuýt xoa tiếc nuối và đặt quyết tâm sẽ chiến thắng vào kỳ lễ hội sau. Hàng chục thuyền đua tham gia hội đua thuyền tại quận Liên Chiểu Những năm gần đây, quận Liên Chiểu đang ngày càng quan tâm đến việc duy trì hoạt động văn hóa truyền thống đua thuyền trên dòng sông Cu Đê. Chỉ từ hoạt động mang tính chất tự phát, đến nay chính quyền địa phương đã hưởng ứng và chủ động ra tổ chức lễ hội, đồng thời cũng mời những đội thuyền của các địa phương khác cùng về tham gia tranh tài, khiến không khí của lễ hội ngày càng sôi nổi. Lễ hội đua thuyền là một nét đẹp độc đáo và đặc trưng của người dân sống ở vùng sông nước, đã tạo nên một nét văn hóa đặc sắc của người Việt khiến ai cũng không thể quên được.

Related Figures

Lễ hội đình làng An Hải

Thông tin thời kỳ

An Hải là một ngôi làng thuộc phường An Hải Tây, thuộc quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Trước đây, nơi đây đã từng được các vị vua nhà Nguyễn cho xây dựng thành trì, còn được gọi là thành An Hải. Thành An Hải và thành Điện Hải ở phía tây là hai địa danh đảm nhiệm nhiệm vụ bảo vệ cảng biển Đà Nẵng. Đến nay, các dấu vết của thành An Hải gần như không còn. Lễ hội đình làng An được lập từ rất lâu, tuy nhiên sau đó đã bị gián đoạn một thời gian và cho tới năm 2000 thì mới được khôi phục hoàn toàn. Lễ hội này diễn ra vào ngày mồng 10 tháng Tám âm lịch hàng năm để nhắc nhở người dân của làng dù đi học, đi làm xa thì cũng quay trở về làng để tưởng nhờ về thời hào hùng ấy. Lễ hội đình làng An Hải tại Đà Nẵng Sau khi tiến hành lễ thỉnh văn khai mạc lễ hội tại đình xong, mọi người sẽ cùng nhau tiến ra bờ sông để xem cuộc thi lắc thúng , là một môn thể thao có lẫn sắc thái văn hóa của người dân vùng biển. Trong sân đình sẽ tổ chức các trò chơi như kéo co, cờ tướng… Bên cạnh đó, ban tổ chức còn tổ chức các môn thể thao htiện đại như điền kinh, cầu lông... Xế chiều sẽ tổ chức hội thi múa lân. Khi màn đêm buông xuống, sau một buổi xây chầu hát lễ hấp dẫn diễn ra với đầy sắc màu dân tộc, mọi người lại quây quần về khu vực sân khấu trước đình để xem hát tuồng. Sáng ngày hôm sau, trong phần lễ chính thức của hội, đại biểu các dòng họ sẽ cùng nhau ôn lại những truyền thống tốt đẹp của làng, trước khi chuyển sang lễ dâng tế theo nghi thức cổ truyền của dân tộc. Các bô lão đang tế lễ trong ngày Hội đình làng An Hải Lễ hội đình làng An Hải tại Đà Nẵng như một lời nhắc nhở đối với người dân nơi đây nói riêng và tất cả người dân trong toàn quốc nói chung, hãy tự hào và nói gương về một thời hiển linh.

An Hải là một ngôi làng thuộc phường An Hải Tây, thuộc quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Trước đây, nơi đây đã từng được các vị vua nhà Nguyễn cho xây dựng thành trì, còn được gọi là thành An Hải. Thành An Hải và thành Điện Hải ở phía tây là hai địa danh đảm nhiệm nhiệm vụ bảo vệ cảng biển Đà Nẵng. Đến nay, các dấu vết của thành An Hải gần như không còn. Lễ hội đình làng An được lập từ rất lâu, tuy nhiên sau đó đã bị gián đoạn một thời gian và cho tới năm 2000 thì mới được khôi phục hoàn toàn. Lễ hội này diễn ra vào ngày mồng 10 tháng Tám âm lịch hàng năm để nhắc nhở người dân của làng dù đi học, đi làm xa thì cũng quay trở về làng để tưởng nhờ về thời hào hùng ấy.

Lễ hội đình làng An Hải tại Đà Nẵng

Sau khi tiến hành lễ thỉnh văn khai mạc lễ hội tại đình xong, mọi người sẽ cùng nhau tiến ra bờ sông để xem cuộc thi lắc thúng , là một môn thể thao có lẫn sắc thái văn hóa của người dân vùng biển. Trong sân đình sẽ tổ chức các trò chơi như kéo co, cờ tướng… Bên cạnh đó, ban tổ chức còn tổ chức các môn thể thao htiện đại như điền kinh, cầu lông... Xế chiều sẽ tổ chức hội thi múa lân. Khi màn đêm buông xuống, sau một buổi xây chầu hát lễ hấp dẫn diễn ra với đầy sắc màu dân tộc, mọi người lại quây quần về khu vực sân khấu trước đình để xem hát tuồng. Sáng ngày hôm sau, trong phần lễ chính thức của hội, đại biểu các dòng họ sẽ cùng nhau ôn lại những truyền thống tốt đẹp của làng, trước khi chuyển sang lễ dâng tế theo nghi thức cổ truyền của dân tộc. Các bô lão đang tế lễ trong ngày Hội đình làng An Hải Lễ hội đình làng An Hải tại Đà Nẵng như một lời nhắc nhở đối với người dân nơi đây nói riêng và tất cả người dân trong toàn quốc nói chung, hãy tự hào và nói gương về một thời hiển linh.

Related Figures

Lễ hội chùa Sùng Phúc

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/1 Âm lịch Theo ghi chép trong cách Việt Nam dư địa chí và Đại Nam nhất thống chí thì ngôi Chùa Sùng Phúc xưa thuộc tổng Lệnh Cấm nay thuộc xã Thanh Nhật, huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng. Hội Chùa Sùng Phúc được tổ chức vào ngày Rằm tháng giêng hàng năm, đã thu hút rất đông người dân quanh vùng và khách thập phương về trẩy hội cầu may. Đây là một lễ hội lớn nhất trong năm của huyện Hạ Lang. Lễ hội chùa Sùng Phúc tại Cao Bằng Chùa Sùng Phúc được xây dựng từ những năm đời vua Trần Nhân Tông ở thế kỷ thứ XIII. Ban đầu chùa có tên là Sùng Khánh tự, thờ phụng Phật và các nhân vật anh hùng lịch sử đã có công trấn ải vùng biên cương. Năm Cảnh Hưng thứ 43 của thời nhà Lê, ngôi chùa này đã được trùng tu và đổi tên thành chùa Sùng Phúc và thờ Đức Phật Quan Âm Bồ Tát như ngày nay. Bên trái chùa có thờ vị Thành Hoàng, người đã có công khẩn hoang, xây dựng bản làng đó chính là ông Nguyễn Thành Vương, tức Nguyễn Đình Bá- tri châu Tư Lang sinh năm 1678. Nguyễn Đình Bá sinh ra tại thôn Bình Dân, phủ Khoái Châu của tỉnh Hưng Yên, sau đó ông được làm Đốc đồng tại Cao Bằng. Màn múa rồng đặc sắc trong ngày Hội chùa Sùng Phúc Chùa Sùng Phúc ở Cao Bằng còn thờ bà Nguyễn Thị Duệ, người ở làng Kiệt Đặc tức xã Văn An, huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương ngày nay. Bà đã theo cha lên Cao Bằng từ thời vua Mạc Kính Cung. Năm 20 tuổi, bà Nguyễn Thị Duệ đã cải trang làm nam thi để đi thi khoa bảng và đã đỗ tiến sĩ đầu bảng tại trường quốc học Bản Thảnh Cao Bằng. Sau khi thi đỗ bà đã được mời về ly cung Đống Lân để dạy học cho các hoàng tử và công chúa. Sau khi kết duyên với Vua Mạc, bà được vua đặt tên là Tinh Phi (Sao sa). Năm 1625, vua Mạc Kính Cung bị tướng Trịnh Kiền của nhà Lê bắt và đưa về Thăng Long trị tội. Sau đó, bà Duệ đã chạy về Hạ Lang rồi xuất gia ở chùa Sùng Phúc. Bà nổi tiếng là người học rộng, tài cao nên mở lớp dạy học, giảng dạy cho người đời về giáo lý nhà phật. Quan châu Nguyễn Đình Bá rất mến mộ bà nên đã truyền cho nhân dân trong vùng không cho người ở ngoài vùng được lai vãng đến chùa nhằm để che dấu tung tích bà Duệ, vì khi đó nhà Lê đang truy tìm bà. Thế nhưng, khi vua Lê biết tin bà đang trí ở Hạ Lang nên đã đón bà về Thăng Long. Sau này, người dân trong vùng vì để tưởng nhớ người thầy nghèo Nguyễn Thị Duệ nên đã đưa bài vị của bà vào Chùa để thờ. Chùa Sùng Phúc được nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia vào ngày 29-1-1993 Người dân trong vùng và khách thập phương kéo về hội chùa Sùng Phúc xem rước kiệu Quan Âm Bồ Tát Lễ hội chùa Sùng Phúc ngày nay không còn được tổ chức như xưa, không còn giữ được đầy đủ những nghi thức lễ như xưa, nhưng ban tổ chức vẫn luôn cố gắng giữ gìn bản sắc văn hóa và tín ngưỡng tâm linh của người xưa. Lễ hội này có tổ chức lễ rước kiệu Quan Âm Bồ Tát và kiệu Thành Hoàng, tổ chức các trò chơi dân gian và các buổi giao lưu văn nghệ làn điệu dân ca dân tộc.

Theo ghi chép trong cách Việt Nam dư địa chí và Đại Nam nhất thống chí thì ngôi Chùa Sùng Phúc xưa thuộc tổng Lệnh Cấm nay thuộc xã Thanh Nhật, huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng. Hội Chùa Sùng Phúc được tổ chức vào ngày Rằm tháng giêng hàng năm, đã thu hút rất đông người dân quanh vùng và khách thập phương về trẩy hội cầu may. Đây là một lễ hội lớn nhất trong năm của huyện Hạ Lang.

Lễ hội chùa Sùng Phúc tại Cao Bằng

Chùa Sùng Phúc được xây dựng từ những năm đời vua Trần Nhân Tông ở thế kỷ thứ XIII. Ban đầu chùa có tên là Sùng Khánh tự, thờ phụng Phật và các nhân vật anh hùng lịch sử đã có công trấn ải vùng biên cương. Năm Cảnh Hưng thứ 43 của thời nhà Lê, ngôi chùa này đã được trùng tu và đổi tên thành chùa Sùng Phúc và thờ Đức Phật Quan Âm Bồ Tát như ngày nay. Bên trái chùa có thờ vị Thành Hoàng, người đã có công khẩn hoang, xây dựng bản làng đó chính là ông Nguyễn Thành Vương, tức Nguyễn Đình Bá- tri châu Tư Lang sinh năm 1678. Nguyễn Đình Bá sinh ra tại thôn Bình Dân, phủ Khoái Châu của tỉnh Hưng Yên, sau đó ông được làm Đốc đồng tại Cao Bằng. Màn múa rồng đặc sắc trong ngày Hội chùa Sùng Phúc Chùa Sùng Phúc ở Cao Bằng còn thờ bà Nguyễn Thị Duệ, người ở làng Kiệt Đặc tức xã Văn An, huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương ngày nay. Bà đã theo cha lên Cao Bằng từ thời vua Mạc Kính Cung. Năm 20 tuổi, bà Nguyễn Thị Duệ đã cải trang làm nam thi để đi thi khoa bảng và đã đỗ tiến sĩ đầu bảng tại trường quốc học Bản Thảnh Cao Bằng. Sau khi thi đỗ bà đã được mời về ly cung Đống Lân để dạy học cho các hoàng tử và công chúa. Sau khi kết duyên với Vua Mạc, bà được vua đặt tên là Tinh Phi (Sao sa). Năm 1625, vua Mạc Kính Cung bị tướng Trịnh Kiền của nhà Lê bắt và đưa về Thăng Long trị tội. Sau đó, bà Duệ đã chạy về Hạ Lang rồi xuất gia ở chùa Sùng Phúc. Bà nổi tiếng là người học rộng, tài cao nên mở lớp dạy học, giảng dạy cho người đời về giáo lý nhà phật. Quan châu Nguyễn Đình Bá rất mến mộ bà nên đã truyền cho nhân dân trong vùng không cho người ở ngoài vùng được lai vãng đến chùa nhằm để che dấu tung tích bà Duệ, vì khi đó nhà Lê đang truy tìm bà. Thế nhưng, khi vua Lê biết tin bà đang trí ở Hạ Lang nên đã đón bà về Thăng Long. Sau này, người dân trong vùng vì để tưởng nhớ người thầy nghèo Nguyễn Thị Duệ nên đã đưa bài vị của bà vào Chùa để thờ. Chùa Sùng Phúc được nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia vào ngày 29-1-1993 Người dân trong vùng và khách thập phương kéo về hội chùa Sùng Phúc xem rước kiệu Quan Âm Bồ Tát Lễ hội chùa Sùng Phúc ngày nay không còn được tổ chức như xưa, không còn giữ được đầy đủ những nghi thức lễ như xưa, nhưng ban tổ chức vẫn luôn cố gắng giữ gìn bản sắc văn hóa và tín ngưỡng tâm linh của người xưa. Lễ hội này có tổ chức lễ rước kiệu Quan Âm Bồ Tát và kiệu Thành Hoàng, tổ chức các trò chơi dân gian và các buổi giao lưu văn nghệ làn điệu dân ca dân tộc.

Người dân trong vùng và khách thập phương kéo về hội chùa Sùng Phúc xem rước kiệu Quan Âm Bồ Tát

Related Figures

Lễ hội Chùa Phố Cũ

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 2/2 Âm lịch Chùa Phố Cũ ở Cao Bằng, là một ngôi chùa cổ kính với kiến trúc cổ vẫn còn nguyên vẹn. Tọa lạc trên tổ dân cư số 1, phố Cũ thuộc phường Hợp Giang, Thị xã Cao Bằng, Chùa Phố Cũ từ lâu đã nổi tiếng với nhiều hoạt động văn hóa tâm linh. Hàng năm, cứ đến ngày mồng 2 tháng hai âm lịch, người dân nơi đây lại mở hội tưng bừng, với nhiều hoạt động văn hóa đặc sắc, sôi nổi, được xem là ngày hội đại đoàn kết của bà con nơi đây và khách thập phương về xem hội. Đồng thời thông qua lễ hội này, còn giới thiệu và quảng bá những nét văn hóa đặc trưng của người dân địa phương đến đông đảo khách thập phương về tham gia lễ hội. Lễ hội Chùa Phố Cũ tại Cao Bằng Theo sách xưa có ghi, Chùa Phố Cũ xưa có tên là Quan Đế Miếu, là nơi thờ cúng quan võ Quan Vân Trường, một vị võ tướng người Trung Quốc nổi tiếng với tài mưu lược, khí phách anh hùng, đồng thời là người hết mực trung nghĩa. Chùa Phố Cũ được xây vào năm Vĩnh Trị thứ 3. Ngoài giá trị to lớn về kiến trúc nghệ thuật, ngôi chùa này còn là di tích cách mạng, nơi hoạt động của Mặt trận Việt Minh tỉnh Cao Bằng do đồng chí Văn Tư (tức Hoàng Đình Giong) chỉ huy cuộc tổng khởi nghĩa đấu tranh giành chính quyền từ tay đế quốc Nhật. Cũng tại chùa Phố Cũ, vào ngày 22-8-1945, Mặt trận Việt Minh Cao Bằng và Thị xã đã tổ chức một cuộc mít tinh, là thời điểm chính quyền cách mạng đầu tiên của tỉnh và thị xã Cao Bằng chính thức ra mắt toàn thể nhân dân. Chùa Phố Cũ được Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng công nhận là di tích lịch sử văn hoá vào ngày 31-12-2002. Người dân khiêng lễ về chùa Hàng năm, cứ đến lễ hội Chùa Phố Cũ, bà con nơi đây là tổ chức lễ hội rất quy củ, nhưng cũng rất đông vui. Nhân dân còn tổ chức lễ rước kiệu, dâng hương, mổ lợn, tế lễ,... không khí của ngày hội luôn tưng bừng, sôi động, náo nhiệt, bà con trong vùng gửi đến nhau những lời chúc cho nhau cuộc sống, ấm no, bình an và hạnh phúc. Để thực hiện nếp sống văn minh, trật tự trong những ngày lễ hội, những năm gần đây ban tổ chức lễ hội đã tăng cường bảo vệ an ninh trật tự lễ hội. Trong ngày hội, các chương trình văn nghệ đặc sắc được tổ chức, với nhiều tiết mục dân ca như: hát quan họ, dá hai, chầu văn... Nhiều trò chơi dân gian cũng được tổ chức và thu hút được nhiều người chơi như: kéo co, đẩy gậy, cờ tướng, nhảy bao bố... Người dân khiêng lễ về chùa

Chùa Phố Cũ ở Cao Bằng, là một ngôi chùa cổ kính với kiến trúc cổ vẫn còn nguyên vẹn. Tọa lạc trên tổ dân cư số 1, phố Cũ thuộc phường Hợp Giang, Thị xã Cao Bằng, Chùa Phố Cũ từ lâu đã nổi tiếng với nhiều hoạt động văn hóa tâm linh. Hàng năm, cứ đến ngày mồng 2 tháng hai âm lịch, người dân nơi đây lại mở hội tưng bừng, với nhiều hoạt động văn hóa đặc sắc, sôi nổi, được xem là ngày hội đại đoàn kết của bà con nơi đây và khách thập phương về xem hội. Đồng thời thông qua lễ hội này, còn giới thiệu và quảng bá những nét văn hóa đặc trưng của người dân địa phương đến đông đảo khách thập phương về tham gia lễ hội.

Lễ hội Chùa Phố Cũ tại Cao Bằng

Theo sách xưa có ghi, Chùa Phố Cũ xưa có tên là Quan Đế Miếu, là nơi thờ cúng quan võ Quan Vân Trường, một vị võ tướng người Trung Quốc nổi tiếng với tài mưu lược, khí phách anh hùng, đồng thời là người hết mực trung nghĩa. Chùa Phố Cũ được xây vào năm Vĩnh Trị thứ 3. Ngoài giá trị to lớn về kiến trúc nghệ thuật, ngôi chùa này còn là di tích cách mạng, nơi hoạt động của Mặt trận Việt Minh tỉnh Cao Bằng do đồng chí Văn Tư (tức Hoàng Đình Giong) chỉ huy cuộc tổng khởi nghĩa đấu tranh giành chính quyền từ tay đế quốc Nhật. Cũng tại chùa Phố Cũ, vào ngày 22-8-1945, Mặt trận Việt Minh Cao Bằng và Thị xã đã tổ chức một cuộc mít tinh, là thời điểm chính quyền cách mạng đầu tiên của tỉnh và thị xã Cao Bằng chính thức ra mắt toàn thể nhân dân. Chùa Phố Cũ được Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng công nhận là di tích lịch sử văn hoá vào ngày 31-12-2002. Người dân khiêng lễ về chùa Hàng năm, cứ đến lễ hội Chùa Phố Cũ, bà con nơi đây là tổ chức lễ hội rất quy củ, nhưng cũng rất đông vui. Nhân dân còn tổ chức lễ rước kiệu, dâng hương, mổ lợn, tế lễ,... không khí của ngày hội luôn tưng bừng, sôi động, náo nhiệt, bà con trong vùng gửi đến nhau những lời chúc cho nhau cuộc sống, ấm no, bình an và hạnh phúc. Để thực hiện nếp sống văn minh, trật tự trong những ngày lễ hội, những năm gần đây ban tổ chức lễ hội đã tăng cường bảo vệ an ninh trật tự lễ hội. Trong ngày hội, các chương trình văn nghệ đặc sắc được tổ chức, với nhiều tiết mục dân ca như: hát quan họ, dá hai, chầu văn... Nhiều trò chơi dân gian cũng được tổ chức và thu hút được nhiều người chơi như: kéo co, đẩy gậy, cờ tướng, nhảy bao bố... Người dân khiêng lễ về chùa

Related Figures

Hội mời Mẹ Trăng

Thông tin thời kỳ

Hội mời Mẹ Trăng thường được tổ chức vào dịp đầu mùa xuân sau những ngày lễ tết Nguyên Đán. Lễ hội kéo dài từ 10-15 ngày. Hội mời Mẹ Trăng được tổ chức riêng trong từng bản làng, hoặc họ có thể mời thêm một số người thân của mình thuộc các bản lân cận cùng đến tham dự. Hội mời Mẹ Trăng tại Cao Bằng Đây là một lễ hội của đồng bào dân tộc Tày với mục đích cầu Mẹ Trăng ban những điều tốt lành dân bản, cây cối tươi tốt, mùa màng bội thu, con vật sinh sôi nảy nở, không bị dịch bệnh hay sâu bọ... Trong ngày diễn ra lễ hội, mọi người, mọi nhà trong bản sẽ nô nức kéo nhau về bản tham gia. Lễ hội thường bắt đầu bằng lễ dâng hoa, sau đó sẽ đến “lượn hai” (ca hát) tượng trưng cho việc tiễn hồn của đoàn người trần gian đi lên cung trăng để mời và đón mời Mẹ Trăng xuống trần gian ngắm cảnh và giúp người dân. Không khí ngày hội vừa có sự huyền ảo xen lẫn thực tại, trong mối giao lưu tâm tình giữa người dân nơi trần thế và người ở cõi tiên của tiết trời xuân. Đầu xuân người dân Cao Bằng nô nức kéo nhau đi xem hội mời Mẹ Trăng Những ngày lễ hội, có rất nhiều trò chơi dân gian được tổ chức như đánh quay, chọi gà, đánh yến... Kết thúc lễ hội sẽ là lễ tiễn trăng về trời, được diễn ra trên một thửa ruộng ở một cánh đồng của bản. Cuối cùng, mọi người tham gia lễ hội sẽ cùng nhau dùng bữa cơm thân mật trong không khí ngày hội của bản làng./.

Hội mời Mẹ Trăng thường được tổ chức vào dịp đầu mùa xuân sau những ngày lễ tết Nguyên Đán. Lễ hội kéo dài từ 10-15 ngày. Hội mời Mẹ Trăng được tổ chức riêng trong từng bản làng, hoặc họ có thể mời thêm một số người thân của mình thuộc các bản lân cận cùng đến tham dự.

Hội mời Mẹ Trăng tại Cao Bằng

Đây là một lễ hội của đồng bào dân tộc Tày với mục đích cầu Mẹ Trăng ban những điều tốt lành dân bản, cây cối tươi tốt, mùa màng bội thu, con vật sinh sôi nảy nở, không bị dịch bệnh hay sâu bọ... Trong ngày diễn ra lễ hội, mọi người, mọi nhà trong bản sẽ nô nức kéo nhau về bản tham gia. Lễ hội thường bắt đầu bằng lễ dâng hoa, sau đó sẽ đến “lượn hai” (ca hát) tượng trưng cho việc tiễn hồn của đoàn người trần gian đi lên cung trăng để mời và đón mời Mẹ Trăng xuống trần gian ngắm cảnh và giúp người dân. Không khí ngày hội vừa có sự huyền ảo xen lẫn thực tại, trong mối giao lưu tâm tình giữa người dân nơi trần thế và người ở cõi tiên của tiết trời xuân. Đầu xuân người dân Cao Bằng nô nức kéo nhau đi xem hội mời Mẹ Trăng Những ngày lễ hội, có rất nhiều trò chơi dân gian được tổ chức như đánh quay, chọi gà, đánh yến... Kết thúc lễ hội sẽ là lễ tiễn trăng về trời, được diễn ra trên một thửa ruộng ở một cánh đồng của bản. Cuối cùng, mọi người tham gia lễ hội sẽ cùng nhau dùng bữa cơm thân mật trong không khí ngày hội của bản làng./.

Related Figures

Lễ hội đền Kỳ Sầm

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/1 Âm lịch Hàng năm, cứ vào ngày mồng 10 tháng Giêng âm lịch, xã Vĩnh Quang, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng lại tưng bừng mở hội Lễ hội đền Kỳ Sầm. Lễ hội nhằm tưởng nhớ đến thánh nhân Nùng Trí Cao, là người đã có công lao to lớn trong việc bảo vệ quê hương đất nước. Rất đông người dân quanh vùng và khách thập phương về vãn cảnh đền Kỳ Sầm trong ngày hội Đền Kỳ sầm thuộc xã Vĩnh Quang của tỉnh Cao Bằng thờ Khâu Sầm Đại Vương Nùng Trí Cao, là người xã Tượng Cần, huyện Thạch Lâm chính là Bản Ngần, thuộc xã Vĩnh Quang, huyện Hoà An ngày nay. Đền Kỳ Sầm được xây dựng để thờ phụng danh nhân lịch sử Nùng Trí Cao, một người Dân tộc Tày và là một nhân vật lịch sử đã có nhiều công lao trong sự nghiệp khai quốc ở đời nhà Lý (vua Lý Thái Tông thế kỷ thứ XI). Ông là con trai của vị thủ lĩnh Nùng Tôn Phúc và bà A Nùng. Sinh ra đã nổi tiếng là một người thông minh, sau khi được về kinh đô Thăng Long và được đi học, Nùng Trí Cao đã trở thành một người có tài thao lược. Chính vì thế, vua nhà Lý đã nhiều lần cử người đi mời Nùng Trí Cao khuyên ông không nên theo nhà Tống. Sau này ông còn giúp nhà Lý đánh tan quân Tống xâm lược nước ta. Ông được vua Lý phong chức Thái Bảo và điều ông về trấn giữ châu Quảng Nguyên. Sau khi ông qua đời, nhà vua đã phong cho ông là Khâu Sầm Đại Vương. Câu chuyện về nhân vật lịch sử Nùng Trí Cao đã trở thành một huyền thoại được lưu truyền trong dân gian. Công lao của ông luôn được người đời tưởng nhớ đến và đã lập đền thờ để thờ phụng. Đoàn làm lễ trong lễ hội đền Kỳ Sầm Sau phần lễ sẽ đến phân hội với nhiều trò chơi dân gian đặc sắc như: đấu vật, tung còn, đá bóng, múa sư tử, đấu võ, múa lân, múa rồng.. đã thu hút sự hưởng ứng nhiệt tình của người dân quanh vùng và khách thập phương. Lễ hội Kỳ Sầm cũng là dịp để người dân được đi vãn cảnh và đi hái lộc đầu xuân. Ở nhiều địa phương khác trong tỉnh bà còn nhân dân cũng lập đền thờ ông./. Đền Kỳ Sầm tại tỉnh Cao Bằng

Hàng năm, cứ vào ngày mồng 10 tháng Giêng âm lịch, xã Vĩnh Quang, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng lại tưng bừng mở hội Lễ hội đền Kỳ Sầm. Lễ hội nhằm tưởng nhớ đến thánh nhân Nùng Trí Cao, là người đã có công lao to lớn trong việc bảo vệ quê hương đất nước.

Rất đông người dân quanh vùng và khách thập phương về vãn cảnh đền Kỳ Sầm trong ngày hội

Đền Kỳ sầm thuộc xã Vĩnh Quang của tỉnh Cao Bằng thờ Khâu Sầm Đại Vương Nùng Trí Cao, là người xã Tượng Cần, huyện Thạch Lâm chính là Bản Ngần, thuộc xã Vĩnh Quang, huyện Hoà An ngày nay. Đền Kỳ Sầm được xây dựng để thờ phụng danh nhân lịch sử Nùng Trí Cao, một người Dân tộc Tày và là một nhân vật lịch sử đã có nhiều công lao trong sự nghiệp khai quốc ở đời nhà Lý (vua Lý Thái Tông thế kỷ thứ XI). Ông là con trai của vị thủ lĩnh Nùng Tôn Phúc và bà A Nùng. Sinh ra đã nổi tiếng là một người thông minh, sau khi được về kinh đô Thăng Long và được đi học, Nùng Trí Cao đã trở thành một người có tài thao lược. Chính vì thế, vua nhà Lý đã nhiều lần cử người đi mời Nùng Trí Cao khuyên ông không nên theo nhà Tống. Sau này ông còn giúp nhà Lý đánh tan quân Tống xâm lược nước ta. Ông được vua Lý phong chức Thái Bảo và điều ông về trấn giữ châu Quảng Nguyên. Sau khi ông qua đời, nhà vua đã phong cho ông là Khâu Sầm Đại Vương. Câu chuyện về nhân vật lịch sử Nùng Trí Cao đã trở thành một huyền thoại được lưu truyền trong dân gian. Công lao của ông luôn được người đời tưởng nhớ đến và đã lập đền thờ để thờ phụng. Đoàn làm lễ trong lễ hội đền Kỳ Sầm Sau phần lễ sẽ đến phân hội với nhiều trò chơi dân gian đặc sắc như: đấu vật, tung còn, đá bóng, múa sư tử, đấu võ, múa lân, múa rồng.. đã thu hút sự hưởng ứng nhiệt tình của người dân quanh vùng và khách thập phương. Lễ hội Kỳ Sầm cũng là dịp để người dân được đi vãn cảnh và đi hái lộc đầu xuân. Ở nhiều địa phương khác trong tỉnh bà còn nhân dân cũng lập đền thờ ông./. Đền Kỳ Sầm tại tỉnh Cao Bằng

Related Figures

Lễ hội Lồng Tồng

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 2/1- 30/1 Âm lịch Lễ hội Lồng tồng còn được biết đến với tên khác là lễ xuống đồng, là một lễ hội lớn nhất vào dịp đầu năm mới của những người dân sinh sống bằng nghệ nông nghiệp trồng trọt. Lễ được tổ chức tại các bản làng với mục đích cầu cúng thần nông, chính là vị thần cai quản vườn tược, ruộng đồng, gia súc và làng bản cho cây cối được xanh tươi, mùa màng bội thu, gia súc không ngừng sinh sôi, mọi người dân có cuộc sống no ấm, bản làng yên bình. Lễ hội Lồng tồng đã ra đời từ rất lâu, và đã được đồng bào dân tộc Tày - Nùng lưu truyền cho đến ngày nay tại các tỉnh Cao Bằng, Thái Nguyên, Lạng Sơn và các tỉnh vùng Tây Bắc. Lễ hội của đồng bào dân tộc Tày - Nùng tại tỉnh Cao Bằng diễn ra từ ngày mồng 2 đến ngày 30 tháng Giêng âm lịch, với mục đích mở mùa gieo trồng mới (tùy theo từng địa phương). Người dân dâng cỗ lên các vị thần Lễ hội Lồng Tồng tại Cao Bằng được tổ chức ngoài trời, thường là trên một thửa ruộng lớn nên còn được gọi là lễ xuống đồng. Vẫn theo tục lệ từ xa xưa, Hội đượcc chia thành 2 phần: Phần lễ có tạ lễ thiên địa, lễ cầu thần Nông, thần Phục Hy phù giúp cho mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu, bản làng được bình yên no ấm... Chủ trì lễ hội là ông thại đinh (người trông coi đình) hay người trông nom việc thờ cúng Thần Nông của bản làng. Tất cả các gia đình tham gia lễ hội đều phải mang theo cỗ để đến làm lễ vật cúng thần đất, Thần sông, thần núi, Thành Hoàng, và Thần Nông : mâm cỗ phải thịnh soạn và được trình bày đẹp. Mâm lễ thường có thịt lợn, xôi nếp, rượu trắng và bánh trái các loại như khẩu slec, khẩu sli, bánh dày, chè lam, bánh khảo...Ở một số hội có qui mô lớn, hội còn tổ chức lễ hiến tam sinh (heo, dê, gà hoặc trâu, heo, gà). Trên thửa ruộng được chọn để tổ chức lễ xuống đồng đàn tế Thần Nông và những thần khác được trần thiết. Khi tiếng chiêng, tiếng trống nổi lên cũng là lúc lễ hội bắt đầu, các bô lão của bản và các tráng đinh sẽ rước Thành Hoàng và Thần Nông từ đình ra thửa ruộng, còn các hộ gia đình sẽ rước các mâm cỗ để bày ra trên bãi hội. Tiếp theo, người chủ trì sẽ hội xướng bài mo cúng chư thần, sau đó tuyên bố phá cỗ . Gia đình nào có mâm cỗ thịnh soạn nhất và mời được nhiều khách xem hội đến thưởng thức mâm cỗ nhà mình thì được xem là điều may mắn, cả năm làm gì cũng được thuận lợi. Cũng có nơi các vị bô lão lại được mời đi thưởng cỗ , có nam thanh nữ tú đi theo múa hát, chúc những điều tốt đẹp cho từng gia đình. Sau khi phá cỗ xong, mọi người lại tiếp tục ca hát và tham gia nhiều trò chơi dân gian như : ném còn, cuớp còn (tương tự như người Mường, người Việt vùng trung du thường chơi cướp nõn nường ), đánh quay, kéo co, đánh yến, múa sư tử, múa võ, đánh đu, múa lân, múa giáo, thi sản vật địa phương, bịt mắt bắt dê, hát giao duyên(hát lượn), cờ tướng … Lễ hội Lồng Tồng hay còn gọi là lễ hội xuống đồng Ném còn là trò chơi ý nghĩa nhất, vui nhất và rất đông người tham gia, bởi người dân nơi đây quan niệm rằng, trong ngày hội phải có người ném được quả còn ngũ sắc xuyên qua điểm hồng tâm thì bản làng năm đó mới làm ăn thuận lợi. Gái trai sẽ chia thành hai phe để hát sli, lượn, đây là hai hình thức hát đối ca giao duyên giữa nam và nữ, thể hiện cho tục cầu mùa, trò chơi kéo co là cuộc đua đức giữa các cô gái chàng trai Tày Nùng với tính chất cầu mùa, cầu nước, cầu mưa giống như một nghi lễ tín ngưỡng nông nghiệp đã có từ lâu đời. Đặc biệt là các điệu hát Sli ( Nùng ) , Lượn ( Tày ) đã rất quen thuộc sẽ được biểu diễn một cách rất tự nhiên trong làng , ở các khe suối hay những cánh rừng. Lễ hội Lồng Tồng là lễ hội quan trọng nhất của người dân vùng Đông Bắc nên mọi người tham gia hội đều mặc y phục truyền thống của dân tộc mình với những màu sắc sặc sỡ. Các các cô, bà mẹ, các bà còn được tô điểm bằng những món đồ trang sức quí giá nhất. Điệu múa tiêu biểu nhất của lễ hội lồng tồng chính là múa sư tử . Những điệu múa khác được múa trong lễ của người Tày Nùng là điệu xòe chiêng hay múa then. Khi trời tối cũng là khi lễ hội chuyển sang những phần hấp dẫn khác. Lửa trại sẽ được nhóm lên. Những là hát cọi cũng vang lên. Câu ca "Gốc cọi nơi mường trời, tổ cọi ở xứ tiên" từ miệng của cô gái thường mở đầu cho loạt các bài hát cọi đối đáp nhau. Ngoài ra, hội còn tổ chức cuộc thi hát lượn, hát sli, luôn thu hút được đông người tham gia. Trò chơi kéo co Trong những năm gần đây, đời sống văn hoá tinh thần của những người dân Tày Nùng càng ngày càng được nâng cao, và cũng nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà Nước đã tạo điều kiện để lễ hội Lồng Tồng của đồng bào người Tày được tổ chức sôi nổi hơn, phong phú hơn, đảm bảo duy trì các yếu tố văn hoá dân gian.

Lễ hội Lồng tồng còn được biết đến với tên khác là lễ xuống đồng, là một lễ hội lớn nhất vào dịp đầu năm mới của những người dân sinh sống bằng nghệ nông nghiệp trồng trọt. Lễ được tổ chức tại các bản làng với mục đích cầu cúng thần nông, chính là vị thần cai quản vườn tược, ruộng đồng, gia súc và làng bản cho cây cối được xanh tươi, mùa màng bội thu, gia súc không ngừng sinh sôi, mọi người dân có cuộc sống no ấm, bản làng yên bình. Lễ hội Lồng tồng đã ra đời từ rất lâu, và đã được đồng bào dân tộc Tày - Nùng lưu truyền cho đến ngày nay tại các tỉnh Cao Bằng, Thái Nguyên, Lạng Sơn và các tỉnh vùng Tây Bắc. Lễ hội của đồng bào dân tộc Tày - Nùng tại tỉnh Cao Bằng diễn ra từ ngày mồng 2 đến ngày 30 tháng Giêng âm lịch, với mục đích mở mùa gieo trồng mới (tùy theo từng địa phương).

Người dân dâng cỗ lên các vị thần Lễ hội Lồng Tồng tại Cao Bằng được tổ chức ngoài trời, thường là trên một thửa ruộng lớn nên còn được gọi là lễ xuống đồng. Vẫn theo tục lệ từ xa xưa, Hội đượcc chia thành 2 phần: Phần lễ có tạ lễ thiên địa, lễ cầu thần Nông, thần Phục Hy phù giúp cho mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu, bản làng được bình yên no ấm... Chủ trì lễ hội là ông thại đinh (người trông coi đình) hay người trông nom việc thờ cúng Thần Nông của bản làng. Tất cả các gia đình tham gia lễ hội đều phải mang theo cỗ để đến làm lễ vật cúng thần đất, Thần sông, thần núi, Thành Hoàng, và Thần Nông : mâm cỗ phải thịnh soạn và được trình bày đẹp. Mâm lễ thường có thịt lợn, xôi nếp, rượu trắng và bánh trái các loại như khẩu slec, khẩu sli, bánh dày, chè lam, bánh khảo...Ở một số hội có qui mô lớn, hội còn tổ chức lễ hiến tam sinh (heo, dê, gà hoặc trâu, heo, gà). Trên thửa ruộng được chọn để tổ chức lễ xuống đồng đàn tế Thần Nông và những thần khác được trần thiết. Khi tiếng chiêng, tiếng trống nổi lên cũng là lúc lễ hội bắt đầu, các bô lão của bản và các tráng đinh sẽ rước Thành Hoàng và Thần Nông từ đình ra thửa ruộng, còn các hộ gia đình sẽ rước các mâm cỗ để bày ra trên bãi hội. Tiếp theo, người chủ trì sẽ hội xướng bài mo cúng chư thần, sau đó tuyên bố phá cỗ . Gia đình nào có mâm cỗ thịnh soạn nhất và mời được nhiều khách xem hội đến thưởng thức mâm cỗ nhà mình thì được xem là điều may mắn, cả năm làm gì cũng được thuận lợi. Cũng có nơi các vị bô lão lại được mời đi thưởng cỗ , có nam thanh nữ tú đi theo múa hát, chúc những điều tốt đẹp cho từng gia đình. Sau khi phá cỗ xong, mọi người lại tiếp tục ca hát và tham gia nhiều trò chơi dân gian như : ném còn, cuớp còn (tương tự như người Mường, người Việt vùng trung du thường chơi cướp nõn nường ), đánh quay, kéo co, đánh yến, múa sư tử, múa võ, đánh đu, múa lân, múa giáo, thi sản vật địa phương, bịt mắt bắt dê, hát giao duyên(hát lượn), cờ tướng … Lễ hội Lồng Tồng hay còn gọi là lễ hội xuống đồng Ném còn là trò chơi ý nghĩa nhất, vui nhất và rất đông người tham gia, bởi người dân nơi đây quan niệm rằng, trong ngày hội phải có người ném được quả còn ngũ sắc xuyên qua điểm hồng tâm thì bản làng năm đó mới làm ăn thuận lợi. Gái trai sẽ chia thành hai phe để hát sli, lượn, đây là hai hình thức hát đối ca giao duyên giữa nam và nữ, thể hiện cho tục cầu mùa, trò chơi kéo co là cuộc đua đức giữa các cô gái chàng trai Tày Nùng với tính chất cầu mùa, cầu nước, cầu mưa giống như một nghi lễ tín ngưỡng nông nghiệp đã có từ lâu đời. Đặc biệt là các điệu hát Sli ( Nùng ) , Lượn ( Tày ) đã rất quen thuộc sẽ được biểu diễn một cách rất tự nhiên trong làng , ở các khe suối hay những cánh rừng. Lễ hội Lồng Tồng là lễ hội quan trọng nhất của người dân vùng Đông Bắc nên mọi người tham gia hội đều mặc y phục truyền thống của dân tộc mình với những màu sắc sặc sỡ. Các các cô, bà mẹ, các bà còn được tô điểm bằng những món đồ trang sức quí giá nhất. Điệu múa tiêu biểu nhất của lễ hội lồng tồng chính là múa sư tử . Những điệu múa khác được múa trong lễ của người Tày Nùng là điệu xòe chiêng hay múa then. Khi trời tối cũng là khi lễ hội chuyển sang những phần hấp dẫn khác. Lửa trại sẽ được nhóm lên. Những là hát cọi cũng vang lên. Câu ca "Gốc cọi nơi mường trời, tổ cọi ở xứ tiên" từ miệng của cô gái thường mở đầu cho loạt các bài hát cọi đối đáp nhau. Ngoài ra, hội còn tổ chức cuộc thi hát lượn, hát sli, luôn thu hút được đông người tham gia. Trò chơi kéo co Trong những năm gần đây, đời sống văn hoá tinh thần của những người dân Tày Nùng càng ngày càng được nâng cao, và cũng nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà Nước đã tạo điều kiện để lễ hội Lồng Tồng của đồng bào người Tày được tổ chức sôi nổi hơn, phong phú hơn, đảm bảo duy trì các yếu tố văn hoá dân gian.

Người dân dâng cỗ lên các vị thần

Related Figures

Lễ Đấu đèn

Thông tin thời kỳ

Chùa Ông ở Cần Thơ còn được gọi với cái tên khác là Quảng Triệu Hội Quán. Là ngôi chùa có nhiều lễ hội lớn diễn ra trong năm, nhưng nổi bật nhất là ngày vía Quan Thánh Đế Quân diễn ra vào ngày 26 tháng Sáu âm lịch, và ngày 23 tháng Ba âm lịch hàng năm là ngày vía Thiên Hậu Thánh Mẫu. Chùa Ông tọa lạc trên đường Hai Bà Trưng thuộc bến Ninh Kiều, phường Tân A, tỉnh Cần Thơ. Lễ Đấu đèn ở Chùa Ông tại Cần Thơ Trong các ngày lễ vía, bà con người Hoa cùng người Việt ở địa phương đều hội tụ về tham dự rất đông, đã tạo nên một không khí ngày hội vô cùng sôi động và vui tươi. Người đi lễ đều ăn mặc rất chỉnh tề, thành kính dâng hương lên thần linh để thể hiện ước vọng bình an trong cuộc sống. Bên cạnh lễ chính, Ban trị sự của chùa còn tổ chức các hoạt động khác như: đấu giá đèn lồng, múa sư tử, múa rồng, múa lân, hội diễn văn nghệ... lại càng tạo nên không khí sinh hoạt văn hóa vui tươi, lành mạnh cho người dân trong địa phương và khách thập phương. Đấu đèn là một trong những nghi thức cổ truyền, và là một nét văn hóa đặc trưng của người Hoa vẫn còn được lưu giữ và phát huy cho đến ngày nay. Lễ đấu đèn đã tồn tại từ lâu đời, đã được biết bao thế hệ người Hoa lưu giữ, bảo tồn và phát huy trong nhiều thế kỷ qua. Tục đấu giá đèn lồng thường tổ chức không theo định kỳ, có khi 1 năm tổ chức, có khi 3 năm không tổ chức. Nhưng cũng có một số nơi tổ chức đấu giá đèn hằng năm. Tuy nhiên, tập tục này vẫn ít khi được tiến hành độc lập mà thường hay tổ chức theo một ngày lễ, hay ngày kỷ niệm nào đó. Bên trong Chùa Ông rất cổ kính nhưng cũng rất trang nghiêm Mục đích của việc đấu giá đèn lồng là để làm tăng thêm sinh khí của các ngày lễ hội, tạo nên sự vui tươi, tình đoàn kết tương thân tương ái trong cộng đồng. Không những thế, nó còn mang một ý nghĩa to lớn hơn, đó là để từ thiện. Số tiền thu về từ cuộc đấu giá sẽ được dùng vào việc công đức như: xây trường học, giúp đỡ trẻ mồ côi cơ nhỡ, xây nghĩa trang... Vào ngày thành lập chùa, hội ngày vía Bà, vía Quan Thánh Đế Quân, ngày thành lập trường... đều tổ chức tục đấu giá đèn lồng. Người Hoa có cách làm đèn lồng rất đẹp, mỗi chiếc đèn lồng đều có tên riêng như: đèn Quan Thánh Đế, đèn Thiên Hậu Thánh Mẫu, đèn Phước Đức Chính Thần... Đèn cao chừng 60cm, chu vi đèn khoảng 40cm, thường là hình trụ có 6 mặt, mỗi mặt có một miếng kính, có vẽ hình ảnh phong cảnh, mai, điểu, núi sông, trúc, sen... và những câu chúc phúc được viết bằng chữ Hán như: “Hiệp gia bình an”, “Sinh ý hưng long”, “Tài lai lộc tấn”... Sáu góc đèn có hình sáu con rồng và được thếp vàng trông rất lộng lẫy, đầu 6 con rồng chầu vào nhau, 6 đuôi rồng thì hơi dang ra, tạo thành thế chân đèn, các cạnh của đèn đều treo tòong teng và các miếng ngọc bội màu xanh, có nơ màu đỏ, phía dưới treo một miếng thẻ bằng nhựa màu vàng có ghi tên từng loại đèn, chữ màu đỏ, phía trong đèn có gắn một bóng đèn tròn, khi đèn nóng lên thì lồng đèn sẽ tự động xoay. Người Hoa quan niệm rằng: đấu được đèn là một vinh dự lớn lao cho bản thân, cho gia đình và làng xóm. Người ta cũng tin rằng, khi đấu được đèn và rước đèn về nhà sẽ gặp được nhiều may mắn, bình an, và làm ăn thuận lợi, phát đạt... Chùa Ông ở Cần Thơ Đấu giá đèn lồng luôn là sự kiện sau cùng của lễ hội. Khi các nghi thức của ngày lễ được cử hành xong là cuộc đấu giá đèn lồng bắt đầu. Mọi người tập trung ở chính diện của hội quán. Tất cả các đèn lồng đều được treo lên trần theo thứ tự giá khởi điểm từ thấp đến cao. Tùy theo địa phương thờ vị thần nào là chính thì giá của đèn lồng mang tên vị thần đó sẽ cao. Ngoài ra, cũng tùy thuộc vào tâm lý của từng người. Người nào thích vị thần nào thì cho giá đèn đó cao để quyết tâm đấu được. Đa phần chiếc đèn mang tên Quan Thánh Đế Quân là có giá cao nhất. Giờ đấu đèn đến. Người trong hội quán của địa phương bước lên bục, giới thiệu dẫn chương trình bằng tiếng Hoa và tiếng Việt về mục đích, ý nghĩa của việc đấu đèn, cách thức đấu đèn. Người trong Ban Trị sự của Hội quán đứng ra điều khiển buổi đấu giá. Từng loại đèn được đọc tên, nêu giá khởi điểm. Một người nữa đứng kế bên, chờ đếm số lần định giá. Mọi người bàn tán xôn xao, xầm xì to nhỏ khi người điều khiển cho biết giá, mọi người hớn hở reo hò, những cánh tay nối nhau giơ lên... Cứ thế, giá mỗi chiếc đèn ngày càng được tăng cao cho đến khi không còn ai trả hơn thì chiếc đèn đó thuộc sở hữu của người đặt giá cao nhất. Người dân đến thắp hương cầu khấn tại Chùa Ông Thông thường, những người tham dự đấu giá đèn là người đại diện cho một tập thể, đại diện cho cơ quan cấp tỉnh, một xóm, hay một phường... Người chiến thắng trong cuộc đấu giá sẽ được mời lên phía trên để nhận đèn một cách trang trọng, còn được xướng tên họ, quê quán và đại diện cho tổ chức, địa phương nào, đơn vị nào..., và người trao đèn thường là khách mời từ các ban, ngành, các đoàn thể hay chính quyền địa phương... Nghi thức trao đèn diễn ra cũng rất long trọng với không khí sôi động bởi tiếng vỗ tay tán thưởng, tiếng hò reo của mọi người. Cứ như thế, buổi lễ sẽ diễn ra cho đến khi đấu giá xong chiếc đèn cuối cùng. Trong buổi đấu giá đèn cũng có các tiết mục văn nghệ được biểu diễn xen kẻ để tăng thêm phần hào hứng và cho không khí buổi lễ. Và cũng là để cho những cá nhân, đơn vị đã thua cuộc ở các lần đấu trước củng cố lại niềm tin và có thể thắng cuộc ở những lần đấu giá sau. Buổi lễ đấu giá kết thúc. Tổng kết lại số tiền thu lại từ buổi đấu giá và ban tổ chức sẽ thông báo số tiền đó, sau đó sẽ sử dụng số tiền này vào những việc có ý nghĩa cho xã hội, hay hỗ trợ cho các đơn vị và cá nhân nào đó. Người đấu được đèn thường không mang đèn về nhà ngay, và cũng không cần phải trả tiền liền, mà họ sẽ gởi lại ban tổ chức. Người ta sẽ ghi họ tên, địa chỉ của người đó và cho xe chở đèn đến tận nhà của người đó rồi mới thu tiền. Nếu đèn thuộc về cá nhân, đơn vị nào cũng sẽ được treo trang trọng ngay giữa nhà hoặc tại một nơi tôn nghiêm nào đó, nhằm phô diễn sự may mắn, vinh hoa, thành đạt... Không chỉ là lễ hội man tính tâm linh, lễ hội ở chùa Ông còn là nơi diễn ra các sinh hoạt văn hóa lành mạnh, đã giữ gìn và phát triển nét đẹp của nền nghệ thuật truyền thống, phong tục tập quán, lễ hội, góp phần làm giàu thêm bản sắc văn hóa Việt Nam.

Chùa Ông ở Cần Thơ còn được gọi với cái tên khác là Quảng Triệu Hội Quán. Là ngôi chùa có nhiều lễ hội lớn diễn ra trong năm, nhưng nổi bật nhất là ngày vía Quan Thánh Đế Quân diễn ra vào ngày 26 tháng Sáu âm lịch, và ngày 23 tháng Ba âm lịch hàng năm là ngày vía Thiên Hậu Thánh Mẫu. Chùa Ông tọa lạc trên đường Hai Bà Trưng thuộc bến Ninh Kiều, phường Tân A, tỉnh Cần Thơ.

Lễ Đấu đèn ở Chùa Ông tại Cần Thơ

Trong các ngày lễ vía, bà con người Hoa cùng người Việt ở địa phương đều hội tụ về tham dự rất đông, đã tạo nên một không khí ngày hội vô cùng sôi động và vui tươi. Người đi lễ đều ăn mặc rất chỉnh tề, thành kính dâng hương lên thần linh để thể hiện ước vọng bình an trong cuộc sống. Bên cạnh lễ chính, Ban trị sự của chùa còn tổ chức các hoạt động khác như: đấu giá đèn lồng, múa sư tử, múa rồng, múa lân, hội diễn văn nghệ... lại càng tạo nên không khí sinh hoạt văn hóa vui tươi, lành mạnh cho người dân trong địa phương và khách thập phương. Đấu đèn là một trong những nghi thức cổ truyền, và là một nét văn hóa đặc trưng của người Hoa vẫn còn được lưu giữ và phát huy cho đến ngày nay. Lễ đấu đèn đã tồn tại từ lâu đời, đã được biết bao thế hệ người Hoa lưu giữ, bảo tồn và phát huy trong nhiều thế kỷ qua. Tục đấu giá đèn lồng thường tổ chức không theo định kỳ, có khi 1 năm tổ chức, có khi 3 năm không tổ chức. Nhưng cũng có một số nơi tổ chức đấu giá đèn hằng năm. Tuy nhiên, tập tục này vẫn ít khi được tiến hành độc lập mà thường hay tổ chức theo một ngày lễ, hay ngày kỷ niệm nào đó. Bên trong Chùa Ông rất cổ kính nhưng cũng rất trang nghiêm Mục đích của việc đấu giá đèn lồng là để làm tăng thêm sinh khí của các ngày lễ hội, tạo nên sự vui tươi, tình đoàn kết tương thân tương ái trong cộng đồng. Không những thế, nó còn mang một ý nghĩa to lớn hơn, đó là để từ thiện. Số tiền thu về từ cuộc đấu giá sẽ được dùng vào việc công đức như: xây trường học, giúp đỡ trẻ mồ côi cơ nhỡ, xây nghĩa trang... Vào ngày thành lập chùa, hội ngày vía Bà, vía Quan Thánh Đế Quân, ngày thành lập trường... đều tổ chức tục đấu giá đèn lồng. Người Hoa có cách làm đèn lồng rất đẹp, mỗi chiếc đèn lồng đều có tên riêng như: đèn Quan Thánh Đế, đèn Thiên Hậu Thánh Mẫu, đèn Phước Đức Chính Thần... Đèn cao chừng 60cm, chu vi đèn khoảng 40cm, thường là hình trụ có 6 mặt, mỗi mặt có một miếng kính, có vẽ hình ảnh phong cảnh, mai, điểu, núi sông, trúc, sen... và những câu chúc phúc được viết bằng chữ Hán như: “Hiệp gia bình an”, “Sinh ý hưng long”, “Tài lai lộc tấn”... Sáu góc đèn có hình sáu con rồng và được thếp vàng trông rất lộng lẫy, đầu 6 con rồng chầu vào nhau, 6 đuôi rồng thì hơi dang ra, tạo thành thế chân đèn, các cạnh của đèn đều treo tòong teng và các miếng ngọc bội màu xanh, có nơ màu đỏ, phía dưới treo một miếng thẻ bằng nhựa màu vàng có ghi tên từng loại đèn, chữ màu đỏ, phía trong đèn có gắn một bóng đèn tròn, khi đèn nóng lên thì lồng đèn sẽ tự động xoay. Người Hoa quan niệm rằng: đấu được đèn là một vinh dự lớn lao cho bản thân, cho gia đình và làng xóm. Người ta cũng tin rằng, khi đấu được đèn và rước đèn về nhà sẽ gặp được nhiều may mắn, bình an, và làm ăn thuận lợi, phát đạt... Chùa Ông ở Cần Thơ Đấu giá đèn lồng luôn là sự kiện sau cùng của lễ hội. Khi các nghi thức của ngày lễ được cử hành xong là cuộc đấu giá đèn lồng bắt đầu. Mọi người tập trung ở chính diện của hội quán. Tất cả các đèn lồng đều được treo lên trần theo thứ tự giá khởi điểm từ thấp đến cao. Tùy theo địa phương thờ vị thần nào là chính thì giá của đèn lồng mang tên vị thần đó sẽ cao. Ngoài ra, cũng tùy thuộc vào tâm lý của từng người. Người nào thích vị thần nào thì cho giá đèn đó cao để quyết tâm đấu được. Đa phần chiếc đèn mang tên Quan Thánh Đế Quân là có giá cao nhất. Giờ đấu đèn đến. Người trong hội quán của địa phương bước lên bục, giới thiệu dẫn chương trình bằng tiếng Hoa và tiếng Việt về mục đích, ý nghĩa của việc đấu đèn, cách thức đấu đèn. Người trong Ban Trị sự của Hội quán đứng ra điều khiển buổi đấu giá. Từng loại đèn được đọc tên, nêu giá khởi điểm. Một người nữa đứng kế bên, chờ đếm số lần định giá. Mọi người bàn tán xôn xao, xầm xì to nhỏ khi người điều khiển cho biết giá, mọi người hớn hở reo hò, những cánh tay nối nhau giơ lên... Cứ thế, giá mỗi chiếc đèn ngày càng được tăng cao cho đến khi không còn ai trả hơn thì chiếc đèn đó thuộc sở hữu của người đặt giá cao nhất. Người dân đến thắp hương cầu khấn tại Chùa Ông Thông thường, những người tham dự đấu giá đèn là người đại diện cho một tập thể, đại diện cho cơ quan cấp tỉnh, một xóm, hay một phường... Người chiến thắng trong cuộc đấu giá sẽ được mời lên phía trên để nhận đèn một cách trang trọng, còn được xướng tên họ, quê quán và đại diện cho tổ chức, địa phương nào, đơn vị nào..., và người trao đèn thường là khách mời từ các ban, ngành, các đoàn thể hay chính quyền địa phương... Nghi thức trao đèn diễn ra cũng rất long trọng với không khí sôi động bởi tiếng vỗ tay tán thưởng, tiếng hò reo của mọi người. Cứ như thế, buổi lễ sẽ diễn ra cho đến khi đấu giá xong chiếc đèn cuối cùng. Trong buổi đấu giá đèn cũng có các tiết mục văn nghệ được biểu diễn xen kẻ để tăng thêm phần hào hứng và cho không khí buổi lễ. Và cũng là để cho những cá nhân, đơn vị đã thua cuộc ở các lần đấu trước củng cố lại niềm tin và có thể thắng cuộc ở những lần đấu giá sau. Buổi lễ đấu giá kết thúc. Tổng kết lại số tiền thu lại từ buổi đấu giá và ban tổ chức sẽ thông báo số tiền đó, sau đó sẽ sử dụng số tiền này vào những việc có ý nghĩa cho xã hội, hay hỗ trợ cho các đơn vị và cá nhân nào đó. Người đấu được đèn thường không mang đèn về nhà ngay, và cũng không cần phải trả tiền liền, mà họ sẽ gởi lại ban tổ chức. Người ta sẽ ghi họ tên, địa chỉ của người đó và cho xe chở đèn đến tận nhà của người đó rồi mới thu tiền. Nếu đèn thuộc về cá nhân, đơn vị nào cũng sẽ được treo trang trọng ngay giữa nhà hoặc tại một nơi tôn nghiêm nào đó, nhằm phô diễn sự may mắn, vinh hoa, thành đạt... Không chỉ là lễ hội man tính tâm linh, lễ hội ở chùa Ông còn là nơi diễn ra các sinh hoạt văn hóa lành mạnh, đã giữ gìn và phát triển nét đẹp của nền nghệ thuật truyền thống, phong tục tập quán, lễ hội, góp phần làm giàu thêm bản sắc văn hóa Việt Nam.

Related Figures

Lễ hội đình Bình Thủy

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 14/4- 15/4 Âm lịch Thành phố Cần Thơ có rất nhiều đình thần, trong có ngôi Đình Bình Thuỷ, hàng năm đình có hai kỳ lễ hội lớn được gắn liền với dấu ấn của ngành sản xuất nông nhiệp. Lễ Thượng điền là để cúng đất đai và bắt đầu cho một vụ mùa mới, được tổ vào ngày 14 và ngày 15 tháng 4Tư âm lịch, một lễ nữa là Lễ Hạ điền với mục đích để để tạ ơn đồng thời cúng ruộng đồng nghỉ ngơi, diễn ra vào ngày 15 tháng 12 âm lịch. Lễ hội của đình được tổ chức với qui mô lớn hay nhỏ đều tùy thuộc vào điều kiện kinh tế của làng là giàu hay nghèo, hay năm đó được mùa hay mất mùa. Lễ hội đình Bình Thủy tại Cần Thơ Nghi thức được cử hành trong cả 2 ngày lễ là gần giống như nhau. Ngày đầu tiên có tên gọi là lễ Túc Yết - là ngày người dân dâng hương lên các vị tiền hiền đã khai khẩn vùng đất này và các vị anh hùng có công với nước, có công trong việc xây dựng và bảo quản ngôi đình này. Tiếp theo sẽ là lễ Chánh Tế, thường được cử hành vào giữa đêm thứ hai. Trong lễ tế thường đọc văn tế có nội dung ca ngợi trời đất, những vị thần linh, ca ngợi công ơn của những bậc tiền nhân, những người đã có công quy dân, lập ấp và phát triển sản xuất... Sau khi các nghi thức lễ kết thúc thì phần hội cũng được bắt đầu. Phần hội là phần sôi động nhất của lễ hội với nhiều trò chơi dân gian và các tiết mục văn nghệ đặc sắc, thu hút rất đông dân làng tham gia. Mọi người dự lễ thường ăn mặc chỉnh tề và nghiêm trang, đến hội để thưởng thức diễn tuồng, xem các các trò chơi dân gian như thi bắt vịt, thi đấu vật, kéo co, chọi gà... đã thể hiện được nét đẹp trong văn hóa tâm linh của con người nơi đây. Những người đến xem hội đình làng sẽ được tự do xem hát và tham gia nhiều trò chơi, giao lưu tâm tình và cùng nhau thưởng thức những món ăn đặc trưng của địa phương, nhưng ăn uống là có văn hóa, vui chơi phải có mức độ. Ai nấy đều cố gắng giữ tư cách, không say sưa quá đà, không càn quấy hay nói những lời tục tỉu, bởi vì trong những ngày lễ, mọi khía cạnh trong đời sống của con người nơi đây đã được nâng lên đời thiêng. Không gian thiêng liêng của ngôi đình cả năm luôn im lìm thì nay trở nên sôi động trở lại bởi con người. Ánh đèn, những ngọn nến sáng trưng, cờ ngũ sắc đang tung bay phấp phới, tiếng chiêng trống nổi lên inh ỏi, lòng người khắp nơi thì náo nức, rộn rã cùng hướng về không gian linh thiêng đó.

Thành phố Cần Thơ có rất nhiều đình thần, trong có ngôi Đình Bình Thuỷ, hàng năm đình có hai kỳ lễ hội lớn được gắn liền với dấu ấn của ngành sản xuất nông nhiệp. Lễ Thượng điền là để cúng đất đai và bắt đầu cho một vụ mùa mới, được tổ vào ngày 14 và ngày 15 tháng 4Tư âm lịch, một lễ nữa là Lễ Hạ điền với mục đích để để tạ ơn đồng thời cúng ruộng đồng nghỉ ngơi, diễn ra vào ngày 15 tháng 12 âm lịch. Lễ hội của đình được tổ chức với qui mô lớn hay nhỏ đều tùy thuộc vào điều kiện kinh tế của làng là giàu hay nghèo, hay năm đó được mùa hay mất mùa.

Lễ hội đình Bình Thủy tại Cần Thơ

Nghi thức được cử hành trong cả 2 ngày lễ là gần giống như nhau. Ngày đầu tiên có tên gọi là lễ Túc Yết - là ngày người dân dâng hương lên các vị tiền hiền đã khai khẩn vùng đất này và các vị anh hùng có công với nước, có công trong việc xây dựng và bảo quản ngôi đình này. Tiếp theo sẽ là lễ Chánh Tế, thường được cử hành vào giữa đêm thứ hai. Trong lễ tế thường đọc văn tế có nội dung ca ngợi trời đất, những vị thần linh, ca ngợi công ơn của những bậc tiền nhân, những người đã có công quy dân, lập ấp và phát triển sản xuất... Sau khi các nghi thức lễ kết thúc thì phần hội cũng được bắt đầu. Phần hội là phần sôi động nhất của lễ hội với nhiều trò chơi dân gian và các tiết mục văn nghệ đặc sắc, thu hút rất đông dân làng tham gia. Mọi người dự lễ thường ăn mặc chỉnh tề và nghiêm trang, đến hội để thưởng thức diễn tuồng, xem các các trò chơi dân gian như thi bắt vịt, thi đấu vật, kéo co, chọi gà... đã thể hiện được nét đẹp trong văn hóa tâm linh của con người nơi đây. Những người đến xem hội đình làng sẽ được tự do xem hát và tham gia nhiều trò chơi, giao lưu tâm tình và cùng nhau thưởng thức những món ăn đặc trưng của địa phương, nhưng ăn uống là có văn hóa, vui chơi phải có mức độ. Ai nấy đều cố gắng giữ tư cách, không say sưa quá đà, không càn quấy hay nói những lời tục tỉu, bởi vì trong những ngày lễ, mọi khía cạnh trong đời sống của con người nơi đây đã được nâng lên đời thiêng. Không gian thiêng liêng của ngôi đình cả năm luôn im lìm thì nay trở nên sôi động trở lại bởi con người. Ánh đèn, những ngọn nến sáng trưng, cờ ngũ sắc đang tung bay phấp phới, tiếng chiêng trống nổi lên inh ỏi, lòng người khắp nơi thì náo nức, rộn rã cùng hướng về không gian linh thiêng đó.

Related Figures

Lễ hội chọi bò Bảo Lâm

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 20/1 Âm lịch Cứ đến ngày 20 tháng Giêng, người dân ở thị trấn Pác-Miều, huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng lại tưng bừng mở hội chọi bò. Đến xem hội, người xem sẽ bị cuốn hút vào những trận đấu đầy kịch tính của những “đấu sĩ bò”. Lễ hội chọi bò Bảo Lâm tại Cao Bằng Không biết từ bao giờ, vùng đất chon von nằm trên vách đá dựng trời, có dòng sông Gâm xanh biếc, hùng vĩ ấy đã trở nên nổi tiếng với giống bò U, một giống quý hiếm. Người dân nơi đây còn nổi tiếng với tài nuôi bò, và cũng chính vì truyền thống nuôi bò giỏi ấy đã giúp người dân có một lễ hội độc đáo, lễ hội chọi bò, thu hút hàng ngàn du khách thập phương về xem mỗi dịp đầu xuân. Tham gia thi đấu chỉ có giống bò U, một giống bò rất đặc biệt với thân hình vạm vỡ, vai có một cái u nhô cao như bò tót, thân hình chắc nịch, cơ bắp cuồn cuộn khiến giống bò này nổi bật nhất trong những giống bò đang được nuôi tại Việt Nam. Theo quan niệm của người Mông ở huyện Bảo Lâm, con bò được rất được yêu quý thậm chí được xem như đồ trang sức, là đại diện cho sức mạnh và sự phú quí cho "thân chủ." Chính vì thế mà người ta vẫn thường nói với nhau rằng, vào nhà người Mông ở đây mà nhìn chuồng bò thì còn đẹp hơn cả ngôi nhà ở của họ. Vào ngày hội ở vùng biên Pắc Miều vốn là một vùng đất thanh bình và vắng vẻ, bỗng trở nên vô cùng náo nhiệt. Từ sáng sớm, ngày diễn ra lễ hội, từng tốp người với những bộ trang phục đặc trưng của người Mông, Lô Lô, Dao có màu sắc sặc sỡ nườm nượp kéo nhàu về khu vực chợ bò của thị trấn. Sân đấu bò thường là một mảnh đất rộng như một sân bóng đá nằm bên cạnh dòng sông Gâm xanh biếc. Sân tổ chức hội chọi bò luôn chật kín người xem Sau lễ khai mạc, sân đấu bò lại càng lúc càng thêm đông người từ khắp ngả đều đổ xem đấu bò. Khi tiếng trống khai hội được gióng lên cũng là lúc hàng ngàn đôi mắt đều hướng về những "đấu sĩ bò" đang lừng lững bước ra đấu trường. Sau khi được chủ bò tháo dây buộc mũi ra, hai chú bò sẽ lao thẳng vào nhau mà không ngần ngại gì. Tiếng va chạm của hai cặp sừng cứ kêu chan chát . Như hiểu được ý chủ, những “đấu sĩ bò” bắt đầu thi triển cá miếng đánh, miếng móc, miếng ghì, cả sân chọi bò trở nên mịt mù vì bụi cát. Bên ngoài sân, khi trận đấu căng thẳng khán giả dường như cũng nín thở, có lúc lại hò hét bởi những miếng đánh cực đỉnh của các đấu sĩ bò. Đáng sợ nhất là những miếng đánh “cảm tử ” của các đấu sĩ bò. Chúng đột nhiên lùi xa rồi bất ngờ lao thẳng cả thân mình nhằm vào đối thủ mà đâm, cặp sừng sắc nhọn của nó sẽ cắm phập vào mắt, vào cổ của đối phương trông rất đáng sợ. Chỉ có giống bò U mới được tham gia hội thi đấu bò Hội chọi bò không chỉ là một trò giải trí mà nó còn là hội để cổ vũ phong trào chăn nuôi bò giỏi của người dân dân tộc Mông, thông qua cuộc thi đấu bò để chọn ra những con bò giống tốt nhất, khỏe nhất để giữ gìn nguồn gen quý hiếm của loài bò này. Không chỉ thế, Hội chọi bò của đồng bảo dân tộc H’mông ở huyện Bảo Lâm còn mang ý nghĩa mang đến niềm hứng khởi cho mọi người để bước vào một năm mới, đồng thời cũng là dịp để người dân cầu mong mưa thuận gió hòa và làm ăn phát đạt Từ năm 2007, Ủy ban nhân dân huyện Bảo Lâm đã đứng ra chủ trì tổ chức Hội thi chọi bò với mục đích khuyến khích nhân dân chăn nuôi, xây dựng thương hiệu đặc sản thịt bò và để quảng bá du lịch lễ hội./.

Cứ đến ngày 20 tháng Giêng, người dân ở thị trấn Pác-Miều, huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng lại tưng bừng mở hội chọi bò. Đến xem hội, người xem sẽ bị cuốn hút vào những trận đấu đầy kịch tính của những “đấu sĩ bò”.

Lễ hội chọi bò Bảo Lâm tại Cao Bằng

Không biết từ bao giờ, vùng đất chon von nằm trên vách đá dựng trời, có dòng sông Gâm xanh biếc, hùng vĩ ấy đã trở nên nổi tiếng với giống bò U, một giống quý hiếm. Người dân nơi đây còn nổi tiếng với tài nuôi bò, và cũng chính vì truyền thống nuôi bò giỏi ấy đã giúp người dân có một lễ hội độc đáo, lễ hội chọi bò, thu hút hàng ngàn du khách thập phương về xem mỗi dịp đầu xuân. Tham gia thi đấu chỉ có giống bò U, một giống bò rất đặc biệt với thân hình vạm vỡ, vai có một cái u nhô cao như bò tót, thân hình chắc nịch, cơ bắp cuồn cuộn khiến giống bò này nổi bật nhất trong những giống bò đang được nuôi tại Việt Nam. Theo quan niệm của người Mông ở huyện Bảo Lâm, con bò được rất được yêu quý thậm chí được xem như đồ trang sức, là đại diện cho sức mạnh và sự phú quí cho "thân chủ." Chính vì thế mà người ta vẫn thường nói với nhau rằng, vào nhà người Mông ở đây mà nhìn chuồng bò thì còn đẹp hơn cả ngôi nhà ở của họ. Vào ngày hội ở vùng biên Pắc Miều vốn là một vùng đất thanh bình và vắng vẻ, bỗng trở nên vô cùng náo nhiệt. Từ sáng sớm, ngày diễn ra lễ hội, từng tốp người với những bộ trang phục đặc trưng của người Mông, Lô Lô, Dao có màu sắc sặc sỡ nườm nượp kéo nhàu về khu vực chợ bò của thị trấn. Sân đấu bò thường là một mảnh đất rộng như một sân bóng đá nằm bên cạnh dòng sông Gâm xanh biếc. Sân tổ chức hội chọi bò luôn chật kín người xem Sau lễ khai mạc, sân đấu bò lại càng lúc càng thêm đông người từ khắp ngả đều đổ xem đấu bò. Khi tiếng trống khai hội được gióng lên cũng là lúc hàng ngàn đôi mắt đều hướng về những "đấu sĩ bò" đang lừng lững bước ra đấu trường. Sau khi được chủ bò tháo dây buộc mũi ra, hai chú bò sẽ lao thẳng vào nhau mà không ngần ngại gì. Tiếng va chạm của hai cặp sừng cứ kêu chan chát . Như hiểu được ý chủ, những “đấu sĩ bò” bắt đầu thi triển cá miếng đánh, miếng móc, miếng ghì, cả sân chọi bò trở nên mịt mù vì bụi cát. Bên ngoài sân, khi trận đấu căng thẳng khán giả dường như cũng nín thở, có lúc lại hò hét bởi những miếng đánh cực đỉnh của các đấu sĩ bò. Đáng sợ nhất là những miếng đánh “cảm tử ” của các đấu sĩ bò. Chúng đột nhiên lùi xa rồi bất ngờ lao thẳng cả thân mình nhằm vào đối thủ mà đâm, cặp sừng sắc nhọn của nó sẽ cắm phập vào mắt, vào cổ của đối phương trông rất đáng sợ. Chỉ có giống bò U mới được tham gia hội thi đấu bò Hội chọi bò không chỉ là một trò giải trí mà nó còn là hội để cổ vũ phong trào chăn nuôi bò giỏi của người dân dân tộc Mông, thông qua cuộc thi đấu bò để chọn ra những con bò giống tốt nhất, khỏe nhất để giữ gìn nguồn gen quý hiếm của loài bò này. Không chỉ thế, Hội chọi bò của đồng bảo dân tộc H’mông ở huyện Bảo Lâm còn mang ý nghĩa mang đến niềm hứng khởi cho mọi người để bước vào một năm mới, đồng thời cũng là dịp để người dân cầu mong mưa thuận gió hòa và làm ăn phát đạt Từ năm 2007, Ủy ban nhân dân huyện Bảo Lâm đã đứng ra chủ trì tổ chức Hội thi chọi bò với mục đích khuyến khích nhân dân chăn nuôi, xây dựng thương hiệu đặc sản thịt bò và để quảng bá du lịch lễ hội./.

Related Figures

Lễ hội pháo hoa Quảng Uyên

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 2/2 Âm lịch Đầu xuân, đến Cao Bằng du khách có thể sẽ bắt gặp lễ hội pháo hoa Quảng Uyên, đây là một lễ hội truyền thống đặc sắc và vô cùng độc đáo với màn tranh pháo hoa đầu xuân rất ấn tượng giữa các xã ở thị trấn Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng. Màn tranh pháo tượng trưng cho việc cầu mong nhưng điều may mắn, tốt lành nhất sẽ đến với dân làng. Hàng năm, cứ đến ngày mồng 2 tháng 2 âm lịch, bà con dân làng và khách thập phương lại nô nức kéo nhau về Quảng Uyên để trảy hội. Lễ hội pháo hoa Quảng Uyên tại Cao Bằng Lễ hội pháo hoa Quảng Uyên có thể nói là lễ hội lớn nhất trong năm của người dân huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng. Lễ hội này gắn liền với yếu tố về lịch sử cũng như về tâm linh của ngôi miếu Bách Linh. Miếu được xây vào thời Lý, ngay dưới chân núi Cốc Bó, vào thời nhà Nguyễn thì được xây dựng mới hoàn toàn theo phong cách kiến trúc của thời Nguyễn. Trước cổng Miếu có tam quan, hậu đường, sân tiền đường, hậu cung, câu đối, hoành phi... Trên cổng Miếu co khắc 3 chữ “Bách Linh miếu”, có con rồng uốn khúc được đắp nổi, được xây bằng loài gạch vồ (gạch thời Mạc), có bức trạm rồng ngậm viên ngọc, bên cạnh đó có chim phượng và long ly tụ hội. Phần lễ hấp dẫn nhất với màn “khai quan” cho mắt rồng mở ra. Mắt rồng được khai quan từ một mỏ nước (người dân nơi đây gọi là bó Cốc Chủ - mỏ nước ngay bên dưới một gốc cây cổ thụ). Một cụ già cao tuổi, có uy tín được chọn làm chủ lễ, còn có một đội rồng gồm khoảng 15 người (1 người đánh trống, 1 người cầm quả cầu và 11 người sẽ múa rồng) lễ được cử hành tại một mỏ nước. Khi ra đến mỏ nước, rồng không được múa và trống cũng không được đánh mà được bịt bằng loại giấy bản, tiến đến mỏ nước, rồng sẽ nằm phục ở đó. Người chủ lễ bắt đầu thắp hương rồi vái thiên địa, cầu xin thần linh về phù hộ cho bà con địa phương một năm mới mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, làm ăn phát đạt, ấm no, hạnh phúc và xin phép được mở mắt cho rồng. Ông chủ lễ cúng xong sẽ cắt tiết con gà trống rồi lấy tiết gà xoa vào hai mắt của con rồng rồi bỏ giấy ở mắt của rồng ra, lúc này con rồng đã được mở mắt. Lúc này, ba ba hồi trống cũng nổi lên để đánh thức rồng. Con rồng bắt đầu cử động từ đầu đến cho đến đuôi. Sau đó, người ta sẽ đánh trống thúc giục và con rồng cũng từ từ bay lên, rồng sẽ bay quanh mỏ nước 3 lần, sau đó bay vào miếu Bách Linh; trong miếu đã có chuẩn bị sẵn lễ và thắp hương, tiếp theo rồng bay vào miếu vái 3 lần rồi đi quanh miếu một vòng rồi ra ngoài. Tiết mục múa rồng trong ngày hội pháo hoa Lễ vật để dâng tế lễ gồm có 1 mâm xôi, 2 con lợn quay, 1 mâm trứng phẩm đỏ, 1 mâm hoa quả. Phần lễ sẽ diễn ra một cách long trọng với 4 đoàn rước kiệu, mỗi kiệu sẽ có 4 người khiêng và đều mặc lễ phục. Kiệu đầu tiên rước ảnh Bác Hồ, kiệu thứ hai là kiệu rước thần, kiệu thứ ba là pháo hoa, cuối cùng sẽ là kiệu rước 1 con lợn quay, là phần thưởng dành đội thắng cuộc trong trò tranh đầu pháo. Đoàn rước rồng sẽ đi theo sau đoàn rước kiệu, sau khi đã làm thủ tục thắp hương tại miếu xong, đoàn rước rồng sẽ xuất phát đi tới Đền thờ Trần Hưng Đạo, Đền thờ Nùng Trí Cao, sau đó sẽ đi qua khắp tuyến phố tới từng nhà. Đi tới đâu đoàn múa rồng cũng được người dân tiếp đón rất nhiệt tình. Phần hội diễn ra rất sôi nổi với các trò chơi dân gian và các tiết mục biểu diễn văn nghệ, như: múa lân, múa rồng, hát lượn, tung còn, tranh đầu pháo... Trò chơi tiêu biểu nhất trong lễ hội chính là trò cướp đầu pháo, đầu pháo được làm từ một chiếc vòng sắt có trang điểm tua ngũ sắc trông rất sặc sỡ, đầu pháo được đặt trên một đài cao, sau khi đốt pháo xong, chờ cho đầu pháo rơi xuống đất thì các đội cũng bắt đầu xông vào tranh cướp, đội nào cầm được đầu pháo chạy đến đưa cho Ban Tổ chức sẽ là đội thắng cuộc. Gần đây, khi nhà nước ban lệnh cấm đốt pháo, Ban Tổ chức lễ hội đã tiến hành trò chơi này bằng cách đứng trên một đài cao, sau đó tung vòng sắt (đầu pháo) cho các đội đứng ở dưới tranh cướp như thường lệ. Người dân địa phương này quan niệm rằng ai bắt được vòng lộc pháo thì năm đó sẽ gặp nhiều may mắn, làm ăn phát tài, và đem lại vinh dự cho xã của mình. Xã nào thắng cuộc sẽ nhận được phần thưởng là một con lợn quay được khiêng trên chiếc kiệu trong lễ rước thần, cỗ kiệu này cũng được để lại cho xã chiến thắng để hương khói cầu lộc. Trải qua một thời gian dài với biết bao thăng trầm, lễ hội pháo hoa Quảng Uyên cũng đã tồn tại và duy trì trong tâm thức của nhiều thế hệ người dân xã Quảng Uyên, đồng thời trở thành nét đẹp tinh thần trong dịp xuân về. Đoàn rước kiệu

Đầu xuân, đến Cao Bằng du khách có thể sẽ bắt gặp lễ hội pháo hoa Quảng Uyên, đây là một lễ hội truyền thống đặc sắc và vô cùng độc đáo với màn tranh pháo hoa đầu xuân rất ấn tượng giữa các xã ở thị trấn Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng. Màn tranh pháo tượng trưng cho việc cầu mong nhưng điều may mắn, tốt lành nhất sẽ đến với dân làng. Hàng năm, cứ đến ngày mồng 2 tháng 2 âm lịch, bà con dân làng và khách thập phương lại nô nức kéo nhau về Quảng Uyên để trảy hội.

Lễ hội pháo hoa Quảng Uyên tại Cao Bằng

Lễ hội pháo hoa Quảng Uyên có thể nói là lễ hội lớn nhất trong năm của người dân huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng. Lễ hội này gắn liền với yếu tố về lịch sử cũng như về tâm linh của ngôi miếu Bách Linh. Miếu được xây vào thời Lý, ngay dưới chân núi Cốc Bó, vào thời nhà Nguyễn thì được xây dựng mới hoàn toàn theo phong cách kiến trúc của thời Nguyễn. Trước cổng Miếu có tam quan, hậu đường, sân tiền đường, hậu cung, câu đối, hoành phi... Trên cổng Miếu co khắc 3 chữ “Bách Linh miếu”, có con rồng uốn khúc được đắp nổi, được xây bằng loài gạch vồ (gạch thời Mạc), có bức trạm rồng ngậm viên ngọc, bên cạnh đó có chim phượng và long ly tụ hội. Phần lễ hấp dẫn nhất với màn “khai quan” cho mắt rồng mở ra. Mắt rồng được khai quan từ một mỏ nước (người dân nơi đây gọi là bó Cốc Chủ - mỏ nước ngay bên dưới một gốc cây cổ thụ). Một cụ già cao tuổi, có uy tín được chọn làm chủ lễ, còn có một đội rồng gồm khoảng 15 người (1 người đánh trống, 1 người cầm quả cầu và 11 người sẽ múa rồng) lễ được cử hành tại một mỏ nước. Khi ra đến mỏ nước, rồng không được múa và trống cũng không được đánh mà được bịt bằng loại giấy bản, tiến đến mỏ nước, rồng sẽ nằm phục ở đó. Người chủ lễ bắt đầu thắp hương rồi vái thiên địa, cầu xin thần linh về phù hộ cho bà con địa phương một năm mới mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, làm ăn phát đạt, ấm no, hạnh phúc và xin phép được mở mắt cho rồng. Ông chủ lễ cúng xong sẽ cắt tiết con gà trống rồi lấy tiết gà xoa vào hai mắt của con rồng rồi bỏ giấy ở mắt của rồng ra, lúc này con rồng đã được mở mắt. Lúc này, ba ba hồi trống cũng nổi lên để đánh thức rồng. Con rồng bắt đầu cử động từ đầu đến cho đến đuôi. Sau đó, người ta sẽ đánh trống thúc giục và con rồng cũng từ từ bay lên, rồng sẽ bay quanh mỏ nước 3 lần, sau đó bay vào miếu Bách Linh; trong miếu đã có chuẩn bị sẵn lễ và thắp hương, tiếp theo rồng bay vào miếu vái 3 lần rồi đi quanh miếu một vòng rồi ra ngoài. Tiết mục múa rồng trong ngày hội pháo hoa Lễ vật để dâng tế lễ gồm có 1 mâm xôi, 2 con lợn quay, 1 mâm trứng phẩm đỏ, 1 mâm hoa quả. Phần lễ sẽ diễn ra một cách long trọng với 4 đoàn rước kiệu, mỗi kiệu sẽ có 4 người khiêng và đều mặc lễ phục. Kiệu đầu tiên rước ảnh Bác Hồ, kiệu thứ hai là kiệu rước thần, kiệu thứ ba là pháo hoa, cuối cùng sẽ là kiệu rước 1 con lợn quay, là phần thưởng dành đội thắng cuộc trong trò tranh đầu pháo. Đoàn rước rồng sẽ đi theo sau đoàn rước kiệu, sau khi đã làm thủ tục thắp hương tại miếu xong, đoàn rước rồng sẽ xuất phát đi tới Đền thờ Trần Hưng Đạo, Đền thờ Nùng Trí Cao, sau đó sẽ đi qua khắp tuyến phố tới từng nhà. Đi tới đâu đoàn múa rồng cũng được người dân tiếp đón rất nhiệt tình. Phần hội diễn ra rất sôi nổi với các trò chơi dân gian và các tiết mục biểu diễn văn nghệ, như: múa lân, múa rồng, hát lượn, tung còn, tranh đầu pháo... Trò chơi tiêu biểu nhất trong lễ hội chính là trò cướp đầu pháo, đầu pháo được làm từ một chiếc vòng sắt có trang điểm tua ngũ sắc trông rất sặc sỡ, đầu pháo được đặt trên một đài cao, sau khi đốt pháo xong, chờ cho đầu pháo rơi xuống đất thì các đội cũng bắt đầu xông vào tranh cướp, đội nào cầm được đầu pháo chạy đến đưa cho Ban Tổ chức sẽ là đội thắng cuộc. Gần đây, khi nhà nước ban lệnh cấm đốt pháo, Ban Tổ chức lễ hội đã tiến hành trò chơi này bằng cách đứng trên một đài cao, sau đó tung vòng sắt (đầu pháo) cho các đội đứng ở dưới tranh cướp như thường lệ. Người dân địa phương này quan niệm rằng ai bắt được vòng lộc pháo thì năm đó sẽ gặp nhiều may mắn, làm ăn phát tài, và đem lại vinh dự cho xã của mình. Xã nào thắng cuộc sẽ nhận được phần thưởng là một con lợn quay được khiêng trên chiếc kiệu trong lễ rước thần, cỗ kiệu này cũng được để lại cho xã chiến thắng để hương khói cầu lộc. Trải qua một thời gian dài với biết bao thăng trầm, lễ hội pháo hoa Quảng Uyên cũng đã tồn tại và duy trì trong tâm thức của nhiều thế hệ người dân xã Quảng Uyên, đồng thời trở thành nét đẹp tinh thần trong dịp xuân về. Đoàn rước kiệu

Related Figures

Lễ hội Nghinh Ông

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 14/2- 16/2 Âm lịch Nghinh Ông là một lễ hội cổ truyền lớn nhất ở tỉnh Cà Mau. Lễ hội này có nguồn gốc bắt nguồn từ một nghi lễ của người Chăm và được người Việt tiếp thu say đó phát triển thành lễ hội như ngày nay. Nghinh Ông là dịp để những người dân biển tưởng nhớ về công ơn của loài cá Voi, loài cá được ngư dân tôn là vị thần Đại tướng quân Nam Hải vì đã không ít lần chúng đã cứu giúp ngư dân đi biển vượt qua những cơn sóng to gió lớn, với mong ước bắt được nhiều tôm, cá và cũng là cầu những điềm lành đến cho mọi người. Lễ hội diễn ra trong 3 ngày kể từ ngày 14 đến 16 tháng Hai âm lịch hàng năm, tại thị trấn Sông Đốc thuộc huyện Trần Văn Thời của tỉnh Cà Mau. Hàng trăm thuyền ra khơi nghinh Ông Ngày 15 là ngày chính hội, nghi lễ chính sẽ được bắt đầu từ lúc 2 giờ chiều. Chủ lễ và ban trị sự lăng sẽ ăn mặc trang trọng để thỉnh lư hương lên kiệu (long đình), lư sẽ được 8 học trò lễ khiêng đi theo hầu. Những học trò lễ được lựa chọn thường là thiếu nữ là con em ngư dân ở vùng Sông Đốc. Các đội cờ ngũ sắc, trống lân, đội binh khí: kiếm, kích, đoàn múa mâm, bát xà mâu… đều phải mặc lễ phục và xếp thành hai hàng có khi hàng dài từ chánh điện ra đến ngoài sân. Khi đoàn diễu hành bắt đầu cũng là lúc bà con trong vùng nhập vào đoàn cùng đi. Trong khin đó, dưới bến sông, hàng trăm tàu thuyền đánh cá của ngư dân trong vùng và các tỉnh khác đã được trang trí cờ hoa đang chờ đoàn lễ để tiến ra khơi làm lễ. Chủ lễ sẽ trực tiếp rước lư hương lên một con tàu to nhất và trang trí rất lộng lẫy (có khi là tàu được kết từ 3 con tàu lại). Tàu này phải do chức sắc Lăng Ông cùng ngư phủ lựa chọn. Sau khi đoàn lễ ra tới cửa biển sẽ có nhiều tàu khác nhập vào đoàn diễu hành. Hàng trăm con tàu với đủ mọi kích cỡ, công suất và được trang trí nhiều kiểu khác nhau, đã tạo ra một khung cảnh sống động, đầy màu sắc. Tiếng sóng nước hòa lẫn với tiếng động cơ ầm ầm vang rộn cả một vùng biển. Lễ hội Nghinh Ông tại Cà Mau Trên đường diễu hành nếu đoàn gặp được cá Ông phun nước (Ông dội) thì đoàn sẽ quay trở về đất liền ngay. Nếu không gặp được Ông thì đoàn tàu sẽ tiếp tục ra khơi để chủ lễ vái đọc những lời nguyện cầu. Thường thì khi đoàn ra biển nơi cách đất liền 1- 2 hải lý, chủ lễ sẽ tiến hành làm lễ “xin keo”. Nếu xin được keo tức là đã gặp được “Ông” và khấn rước “Ông” về. Tại Lăng vẫn tiếp tục diễn ra nhiều nghi lễ, cúng bái cho đến tận khuya. Cũng như các nơi khác, lễ hội Nghinh Ông ở Sông Đốc cũng là một lễ hội cầu ngư: cầu cho biển lặng gió hoà, ngư dân gặp may mắn, làm ăn được phát đạt, dân làng được bình an. Lễ tế được tổ chức với qui mô khá lớn, có tới hàng chục ngàn người trong và ngoài tỉnh về cúng viếng, xem hội. Trong đó, nhiều ngư phủ ở các tỉnh miền Trung và phía Nam cũng nhớ ngày về dự. Lễ hội Nghinh Ông được bắt nguồn từ một nghi lễ của người Chăm

Nghinh Ông là một lễ hội cổ truyền lớn nhất ở tỉnh Cà Mau. Lễ hội này có nguồn gốc bắt nguồn từ một nghi lễ của người Chăm và được người Việt tiếp thu say đó phát triển thành lễ hội như ngày nay. Nghinh Ông là dịp để những người dân biển tưởng nhớ về công ơn của loài cá Voi, loài cá được ngư dân tôn là vị thần Đại tướng quân Nam Hải vì đã không ít lần chúng đã cứu giúp ngư dân đi biển vượt qua những cơn sóng to gió lớn, với mong ước bắt được nhiều tôm, cá và cũng là cầu những điềm lành đến cho mọi người. Lễ hội diễn ra trong 3 ngày kể từ ngày 14 đến 16 tháng Hai âm lịch hàng năm, tại thị trấn Sông Đốc thuộc huyện Trần Văn Thời của tỉnh Cà Mau.

Hàng trăm thuyền ra khơi nghinh Ông

Ngày 15 là ngày chính hội, nghi lễ chính sẽ được bắt đầu từ lúc 2 giờ chiều. Chủ lễ và ban trị sự lăng sẽ ăn mặc trang trọng để thỉnh lư hương lên kiệu (long đình), lư sẽ được 8 học trò lễ khiêng đi theo hầu. Những học trò lễ được lựa chọn thường là thiếu nữ là con em ngư dân ở vùng Sông Đốc. Các đội cờ ngũ sắc, trống lân, đội binh khí: kiếm, kích, đoàn múa mâm, bát xà mâu… đều phải mặc lễ phục và xếp thành hai hàng có khi hàng dài từ chánh điện ra đến ngoài sân. Khi đoàn diễu hành bắt đầu cũng là lúc bà con trong vùng nhập vào đoàn cùng đi. Trong khin đó, dưới bến sông, hàng trăm tàu thuyền đánh cá của ngư dân trong vùng và các tỉnh khác đã được trang trí cờ hoa đang chờ đoàn lễ để tiến ra khơi làm lễ. Chủ lễ sẽ trực tiếp rước lư hương lên một con tàu to nhất và trang trí rất lộng lẫy (có khi là tàu được kết từ 3 con tàu lại). Tàu này phải do chức sắc Lăng Ông cùng ngư phủ lựa chọn. Sau khi đoàn lễ ra tới cửa biển sẽ có nhiều tàu khác nhập vào đoàn diễu hành. Hàng trăm con tàu với đủ mọi kích cỡ, công suất và được trang trí nhiều kiểu khác nhau, đã tạo ra một khung cảnh sống động, đầy màu sắc. Tiếng sóng nước hòa lẫn với tiếng động cơ ầm ầm vang rộn cả một vùng biển.

Lễ hội Nghinh Ông tại Cà Mau

Trên đường diễu hành nếu đoàn gặp được cá Ông phun nước (Ông dội) thì đoàn sẽ quay trở về đất liền ngay. Nếu không gặp được Ông thì đoàn tàu sẽ tiếp tục ra khơi để chủ lễ vái đọc những lời nguyện cầu. Thường thì khi đoàn ra biển nơi cách đất liền 1- 2 hải lý, chủ lễ sẽ tiến hành làm lễ “xin keo”. Nếu xin được keo tức là đã gặp được “Ông” và khấn rước “Ông” về. Tại Lăng vẫn tiếp tục diễn ra nhiều nghi lễ, cúng bái cho đến tận khuya. Cũng như các nơi khác, lễ hội Nghinh Ông ở Sông Đốc cũng là một lễ hội cầu ngư: cầu cho biển lặng gió hoà, ngư dân gặp may mắn, làm ăn được phát đạt, dân làng được bình an. Lễ tế được tổ chức với qui mô khá lớn, có tới hàng chục ngàn người trong và ngoài tỉnh về cúng viếng, xem hội. Trong đó, nhiều ngư phủ ở các tỉnh miền Trung và phía Nam cũng nhớ ngày về dự. Lễ hội Nghinh Ông được bắt nguồn từ một nghi lễ của người Chăm

Related Figures

Lễ Vu Lan

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 19/7- 20/7 Âm lịch Tháng 7 hàng năm, Lễ hội Vu Lan lại diễn ra tại nghĩa trang người Hoa ở huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ. Lễ hội được tổ chức vào ngày 19 đến 29 tháng 7 âm lịch hàng năm, là một trong những lễ hội lớn, thu hút được rất đông người đến xem hội ở nhiều tầng lớp nhân dân. Lễ Vu Lan tại Cần Thơ Trước ngày ngày lễ Vu Lan một ngày, thắng hội được tổ chức bởi Quảng Triệu đã có rất đông người đến để đăng ký được cúng cho cha mẹ và người thân mình. Trong dịp lễ Vu Lan, khi đặt chân đến nghĩa trang người Hoa tại huyện Phong Điền, bạn sẽ dễ dàng trông thấy một tấm bảng lớn được treo ngay giữa cổng với 4 chữ Hán to: Vu Lan Thắng Hội. Trong nghĩa trang có rất đông người qua kẻ lại... Bên phải có một hình vẽ một vị thần trấn cửa, với vẻ mặt oai phong; bên trái là hình vẽ một vị thần làm công việc bố thí, trên tay vị thần này có cầm một cây quạt to, trên cây quạt có bốn chữ: phân y, thí thực - có ý nghĩa là bố thí lương thực và phân phát quần áo cho những vong nhân. Điện Địa Tạng là nơi để đặt bài vị của những người đã quá cố và chính là nơi để lập trai đàn, tụng kinh. Phía trước điện Địa Tạng có một cây phướn cao có ý nghĩa là để dẫn đường cho các vong hồn đến để nghe kinh và sớm được đi đầu thai. Bên trong điện địa có bày mâm lễ vật ở trước các bài vị và đội nhạc lễ tụng kinh. Đặc biệt là phía trước bàn cúng có chữ “đạo” được làm từ những hạt gạo trắng tạo nên sự thiêng liêng. Những hạt gạo này được xếp một cách khéo léo đã tạo nên một chữ “đạo” trông rất thanh thoát, mềm mại lại nhưng cũng rất đẹp mắt. Lễ Vu Lan là nơi giao lưu tín ngưỡng của người Hoa và người Việt Quy trình tổ chức lễ Vu Lan như sau: Đúng giờ làm lễ, vị chủ lễ mặc bộ trang phục áo màu vàng có viền đen đứng lên điều khiển buổi lễ, sau đó các nhà sư sẽ tụng kinh. Tiếng mõ, tiếng tụng kinh, tiếng chiêng ... nổi lên, hòa vào nhau tạo nên một thứ âm thanh nghe rất êm tai, thoát tục, nhưng lại khiến lòng người lắng lại, giây phút đó bao nhiêu lo âu, muộn phiền của cuộc sống đời thường đều chợt tan biến, lòng người lại hướng những điều thiện lương. Những người đến dự lễ Vu Lan trong ngày lễ, về nghe kinh kệ, hoặc là đến viếng mộ người thân. Buổi lễ diễn ra đến tầm 11 giờ trưa thì tạm nghỉ để mọi người dùng cơm. Khi mọi người dùng cơm xong, những thành viên trong Ban trị sự hội quán sẽ phát gạo cho những gia đình có hoành cảnh nghèo khó. Chiều ngày 20 tháng 7 âm lịch, sau khi sư sãi tụng kinh xong, người chủ trì buổi lễ sẽ cùng đoàn nhạc lễ chỉ đường cho khách đi qua Cầu Tiên, đưa ông bà, cha mẹ của mình đi đầu thai. Lễ qua cầu diễn trong không khí nhộn nhịp, mọi người tham gia đứng chật kín cả sân. Trên tay ai cũng cầm theo bài vị của người thân, họ cố tìm một chỗ đứng thật tốt. Đoàn nhạc lễ dẫn đầu, quan khách đi theo sau, đi qua một vòng sân ở trong nghĩa trang sau đó viếng từ đường, sau đó mới qua cầu. Khi đi qua cầu, khách sẽ thả tiền xuống như để hối lộ cho âm binh. Trẻ con đứng rất đông ở chân cầu, chen chúc nhau nhặt tiền, tránh nhau rất náo nhiệt. Đứa trẻ nào mình mẩy trông cũng lấm lem, nhưng mặt thì tươi cười hớn hở, khoe nhau những đồng tiền vừa nhặt được. Sau khi qua cầu xong, người ta sẽ lấy bài vị của người thân mang đi đốt, xem như ông bà và cha mẹ của mình đã được siêu thoát, đã đi đầu thai. Rất đông nhà sư về làm lễ tại lễ Vu Lan Vu Lan thắng hội tại Phong Điền là một ngày lễ lớn hàng năm của cộng đồng người Hoa ở tỉnh Cần Thơ và của người Việt ở khắp mọi miền tổ quốc. Vì trong nghĩa trang này, có rất nhiều bài vị và hài cốt của người Việt . Lễ hội Vu Lan là để thể hiện cho sự gắn bó bền chặt, tinh thần giao lưu văn hóa giữa cộng đồng người Hoa và các dân tộc anh em trên đất Cần Thơ. Vu Lan thắng hội ở Phong Điền thể hiện một nét đẹp nhân văn của cộng đồng người Hoa - là tinh thần tương thân tương ái thể hiện qua việc phát gạo cho người nghèo.

Tháng 7 hàng năm, Lễ hội Vu Lan lại diễn ra tại nghĩa trang người Hoa ở huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ. Lễ hội được tổ chức vào ngày 19 đến 29 tháng 7 âm lịch hàng năm, là một trong những lễ hội lớn, thu hút được rất đông người đến xem hội ở nhiều tầng lớp nhân dân.

Lễ Vu Lan tại Cần Thơ

Trước ngày ngày lễ Vu Lan một ngày, thắng hội được tổ chức bởi Quảng Triệu đã có rất đông người đến để đăng ký được cúng cho cha mẹ và người thân mình. Trong dịp lễ Vu Lan, khi đặt chân đến nghĩa trang người Hoa tại huyện Phong Điền, bạn sẽ dễ dàng trông thấy một tấm bảng lớn được treo ngay giữa cổng với 4 chữ Hán to: Vu Lan Thắng Hội. Trong nghĩa trang có rất đông người qua kẻ lại... Bên phải có một hình vẽ một vị thần trấn cửa, với vẻ mặt oai phong; bên trái là hình vẽ một vị thần làm công việc bố thí, trên tay vị thần này có cầm một cây quạt to, trên cây quạt có bốn chữ: phân y, thí thực - có ý nghĩa là bố thí lương thực và phân phát quần áo cho những vong nhân. Điện Địa Tạng là nơi để đặt bài vị của những người đã quá cố và chính là nơi để lập trai đàn, tụng kinh. Phía trước điện Địa Tạng có một cây phướn cao có ý nghĩa là để dẫn đường cho các vong hồn đến để nghe kinh và sớm được đi đầu thai. Bên trong điện địa có bày mâm lễ vật ở trước các bài vị và đội nhạc lễ tụng kinh. Đặc biệt là phía trước bàn cúng có chữ “đạo” được làm từ những hạt gạo trắng tạo nên sự thiêng liêng. Những hạt gạo này được xếp một cách khéo léo đã tạo nên một chữ “đạo” trông rất thanh thoát, mềm mại lại nhưng cũng rất đẹp mắt.

Lễ Vu Lan là nơi giao lưu tín ngưỡng của người Hoa và người Việt

Quy trình tổ chức lễ Vu Lan như sau:

Đúng giờ làm lễ, vị chủ lễ mặc bộ trang phục áo màu vàng có viền đen đứng lên điều khiển buổi lễ, sau đó các nhà sư sẽ tụng kinh. Tiếng mõ, tiếng tụng kinh, tiếng chiêng ... nổi lên, hòa vào nhau tạo nên một thứ âm thanh nghe rất êm tai, thoát tục, nhưng lại khiến lòng người lắng lại, giây phút đó bao nhiêu lo âu, muộn phiền của cuộc sống đời thường đều chợt tan biến, lòng người lại hướng những điều thiện lương. Những người đến dự lễ Vu Lan trong ngày lễ, về nghe kinh kệ, hoặc là đến viếng mộ người thân. Buổi lễ diễn ra đến tầm 11 giờ trưa thì tạm nghỉ để mọi người dùng cơm. Khi mọi người dùng cơm xong, những thành viên trong Ban trị sự hội quán sẽ phát gạo cho những gia đình có hoành cảnh nghèo khó.

Chiều ngày 20 tháng 7 âm lịch, sau khi sư sãi tụng kinh xong, người chủ trì buổi lễ sẽ cùng đoàn nhạc lễ chỉ đường cho khách đi qua Cầu Tiên, đưa ông bà, cha mẹ của mình đi đầu thai. Lễ qua cầu diễn trong không khí nhộn nhịp, mọi người tham gia đứng chật kín cả sân. Trên tay ai cũng cầm theo bài vị của người thân, họ cố tìm một chỗ đứng thật tốt. Đoàn nhạc lễ dẫn đầu, quan khách đi theo sau, đi qua một vòng sân ở trong nghĩa trang sau đó viếng từ đường, sau đó mới qua cầu. Khi đi qua cầu, khách sẽ thả tiền xuống như để hối lộ cho âm binh. Trẻ con đứng rất đông ở chân cầu, chen chúc nhau nhặt tiền, tránh nhau rất náo nhiệt. Đứa trẻ nào mình mẩy trông cũng lấm lem, nhưng mặt thì tươi cười hớn hở, khoe nhau những đồng tiền vừa nhặt được. Sau khi qua cầu xong, người ta sẽ lấy bài vị của người thân mang đi đốt, xem như ông bà và cha mẹ của mình đã được siêu thoát, đã đi đầu thai.

Rất đông nhà sư về làm lễ tại lễ Vu Lan

Vu Lan thắng hội tại Phong Điền là một ngày lễ lớn hàng năm của cộng đồng người Hoa ở tỉnh Cần Thơ và của người Việt ở khắp mọi miền tổ quốc. Vì trong nghĩa trang này, có rất nhiều bài vị và hài cốt của người Việt . Lễ hội Vu Lan là để thể hiện cho sự gắn bó bền chặt, tinh thần giao lưu văn hóa giữa cộng đồng người Hoa và các dân tộc anh em trên đất Cần Thơ. Vu Lan thắng hội ở Phong Điền thể hiện một nét đẹp nhân văn của cộng đồng người Hoa - là tinh thần tương thân tương ái thể hiện qua việc phát gạo cho người nghèo.

Related Figures

Lễ vía Quan Thánh Đế

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 24/6 Âm lịch Hàng năm, cứ đến ngày 24 tháng 6 âm lịch người dân Cần Thơ lại rộn ràng mở hội lễ vía Quan Thánh Đế vào ngày vía. Các vị cao niên trong Ban trị sự chùa và đông đảo người Hoa sinh sống ở địa phương sẽ cùng tổ chức lễ vía Ông. Theo sách xưa có ghi, trong quá trình người Hoa di cư sang nước ta họ đã gặp phải rất nhiều khó khăn vì những trận sóng to gió lớn trong suốt chuyến đi, cuộc sống bơ vơ, cơ cực nơi ở mảnh đất xa lạ. Người Hoa mang theo tín ngưỡng từ quê nhà và kết hợp với tín ngưỡng của người dân bản địa nơi họ sinh sống đã tạo nên đời sống tinh thần của họ càng thêm phong phú, tạo nên sự dung hợp văn hóa trong đời sống tâm linh của người Hoa nơi đất Việt. Đời sống tâm linh của họ được thể hiện qua các Hội quán mà dân gian vẫn quen gọi là chùa Hoa. Hội quán là nơi sinh hoạt văn hóa và tín ngưỡng của người Hoa xa quê đang sinh sống tại Việt Nam. Những điều thiêng liêng và cao quý, được tôn kính đều được họ đặt trong Hội quán. Tiêu biểu nhất phải kể đến là tín ngưỡng thờ Quan Công và Bà Thiên Hậu Thánh Mẫu. Đặc biệt, Quan Công là một vị thần vẫn được người Hoa hết mực tôn kính về trung, hiếu, lễ, nghĩa, gắn liền với câu chuyện ông cùng Trương Phi và Lưu Bị kết duyên ở vườn đào. Họ tôn Quan Công là Quan Thánh Đế Quân và thờ phụng ông ở rất nhiều nơi. Tượng thờ Quan Công Theo tục lệ, buổi lễ thường bắt đầu vào lúc 9 giờ, mọi thức ăn và đồ cúng đều được chuẩn từ trước và sẵn sàng cho giờ tế lễ. Đúng 9 giờ sáng, sau khi tiếng chuông chùa vang lên để báo hiệu đã đến giờ cử hành nghi lễ, tất cả mọi người (những người trong Ban trị sự và người có liên quan đến công việc bảo quản Hội quán) có khoảng 7- 8 người sẽ chọn ra một người làm chủ lễ, họ cùng tập trung và xếp hàng ngay ngắn trước chánh điện. Thức cúng đều được dọn sẵn ra một cái bàn đặt trước chánh điện. Lễ vật gồm: đặt chính giữa là 1 con heo quay, thân heo được trang trí trông rất đẹp mắt, trên lưng của con heo có cắm 1 con dao, với ngụ ý rằng mời các vị thần về dự lễ sẽ dùng dao xẻ thịt ăn. Bên phải đặt 1 con gà luộc, bên trái là 1 đĩa trái cây với nhiều loại quả như nho, chôm chôm, chuối,... phía trước là hai bình trà và vài cốc trà, rượu sẽ được đặt kề bên. Khi mọi người cùng tề tựu xong, một hồi trống sẽ vang lên (người đánh trống phải thường là một cụ ông). Ông chủ lễ sẽ đọc bài văn tế thần bằng tiếng Hoa. Sau đó, một hồi trống nữa lại vang lên. Bài văn tế thần lại được đọc lại một lần nữa nhưng lần này sẽ thay tên vị thần cũ bằng vị thần đang được cúng, rồi mọi người cùng xá ba xá. Đọc văn tế xong sẽ châm trà rượu. Cứ như thế, nghi lễ sẽ diễn ra và các vị thần được cúng lần lượt là: Thần Tài, Thiên Hậu Thánh Mẫu, Phước Đức Chính Thần, Mã Tiền Tướng Quân, Phật Bà Quan Âm. Riêng Phật Bà Quan Âm thường được cúng bằng đồ chay, hay trái cây. Lễ vía Quan Thánh Đế tại Cần Thơ Lễ đã cử hành xong, người dân sẽ vào bếp phụ nấu ăn, người thì dọn bàn, người dọn ly để chuẩn bị đãi khách xem lễ. Lúc này khách lại tấp nập đến để thắp hương lên đèn ở Hội quán. Có người cúng bằng tiền, nếu số lượng ít thì bỏ luôn vào hùng phước thiện, còn nhiều thì nộp cho người tiếp nhận để ghi tên người cúng vào cuốn sổ công đức. Có người mang nhang khoanh đến cúng (loại nhang này có cọng nhỏ, uốn cong các vòng tròn từ nhỏ đến lớn). Một cụ bà sẽ dùng một cây để móc cuộn nhang treo lên trần nhà. Sau đó, bà sẽ đưa một cái cây bằng gỗ dài, ở trên có đặt một cây nến để khách đốt nhang của mình. Từ trên trần nhà, rất nhiều vòng nhang từ nhỏ đến lớn chụp xuống tạo thành khung cảnh tuyệt đẹp. Khói của nhang bay phảng phất, mùi thơm của hương tỏa ra tạo thành một bầu không khí huyền ảo nhưng cũng rất trang nghiêm. Tất cả khách đến thắp hương cầu khấn đều được mời dùng bữa cơm thân mật hay nán lại uống ly trà, trò chuyện hỏi thăm dăm ba câu, tán chuyện thời sự, thế thái nhân tình... Lễ vía Quan Thánh Đế Quân ở Cần Thơ là một lễ hội của người Hoa, mang đậm tính văn hóa của cộng đồng người Hoa ở Nam, nhưng cũng mang nét văn hóa của người Việt trong đó.

Hàng năm, cứ đến ngày 24 tháng 6 âm lịch người dân Cần Thơ lại rộn ràng mở hội lễ vía Quan Thánh Đế vào ngày vía. Các vị cao niên trong Ban trị sự chùa và đông đảo người Hoa sinh sống ở địa phương sẽ cùng tổ chức lễ vía Ông.

Theo sách xưa có ghi, trong quá trình người Hoa di cư sang nước ta họ đã gặp phải rất nhiều khó khăn vì những trận sóng to gió lớn trong suốt chuyến đi, cuộc sống bơ vơ, cơ cực nơi ở mảnh đất xa lạ. Người Hoa mang theo tín ngưỡng từ quê nhà và kết hợp với tín ngưỡng của người dân bản địa nơi họ sinh sống đã tạo nên đời sống tinh thần của họ càng thêm phong phú, tạo nên sự dung hợp văn hóa trong đời sống tâm linh của người Hoa nơi đất Việt. Đời sống tâm linh của họ được thể hiện qua các Hội quán mà dân gian vẫn quen gọi là chùa Hoa. Hội quán là nơi sinh hoạt văn hóa và tín ngưỡng của người Hoa xa quê đang sinh sống tại Việt Nam. Những điều thiêng liêng và cao quý, được tôn kính đều được họ đặt trong Hội quán. Tiêu biểu nhất phải kể đến là tín ngưỡng thờ Quan Công và Bà Thiên Hậu Thánh Mẫu. Đặc biệt, Quan Công là một vị thần vẫn được người Hoa hết mực tôn kính về trung, hiếu, lễ, nghĩa, gắn liền với câu chuyện ông cùng Trương Phi và Lưu Bị kết duyên ở vườn đào. Họ tôn Quan Công là Quan Thánh Đế Quân và thờ phụng ông ở rất nhiều nơi. Tượng thờ Quan Công Theo tục lệ, buổi lễ thường bắt đầu vào lúc 9 giờ, mọi thức ăn và đồ cúng đều được chuẩn từ trước và sẵn sàng cho giờ tế lễ. Đúng 9 giờ sáng, sau khi tiếng chuông chùa vang lên để báo hiệu đã đến giờ cử hành nghi lễ, tất cả mọi người (những người trong Ban trị sự và người có liên quan đến công việc bảo quản Hội quán) có khoảng 7- 8 người sẽ chọn ra một người làm chủ lễ, họ cùng tập trung và xếp hàng ngay ngắn trước chánh điện. Thức cúng đều được dọn sẵn ra một cái bàn đặt trước chánh điện. Lễ vật gồm: đặt chính giữa là 1 con heo quay, thân heo được trang trí trông rất đẹp mắt, trên lưng của con heo có cắm 1 con dao, với ngụ ý rằng mời các vị thần về dự lễ sẽ dùng dao xẻ thịt ăn. Bên phải đặt 1 con gà luộc, bên trái là 1 đĩa trái cây với nhiều loại quả như nho, chôm chôm, chuối,... phía trước là hai bình trà và vài cốc trà, rượu sẽ được đặt kề bên. Khi mọi người cùng tề tựu xong, một hồi trống sẽ vang lên (người đánh trống phải thường là một cụ ông). Ông chủ lễ sẽ đọc bài văn tế thần bằng tiếng Hoa. Sau đó, một hồi trống nữa lại vang lên. Bài văn tế thần lại được đọc lại một lần nữa nhưng lần này sẽ thay tên vị thần cũ bằng vị thần đang được cúng, rồi mọi người cùng xá ba xá. Đọc văn tế xong sẽ châm trà rượu. Cứ như thế, nghi lễ sẽ diễn ra và các vị thần được cúng lần lượt là: Thần Tài, Thiên Hậu Thánh Mẫu, Phước Đức Chính Thần, Mã Tiền Tướng Quân, Phật Bà Quan Âm. Riêng Phật Bà Quan Âm thường được cúng bằng đồ chay, hay trái cây. Lễ vía Quan Thánh Đế tại Cần Thơ Lễ đã cử hành xong, người dân sẽ vào bếp phụ nấu ăn, người thì dọn bàn, người dọn ly để chuẩn bị đãi khách xem lễ. Lúc này khách lại tấp nập đến để thắp hương lên đèn ở Hội quán. Có người cúng bằng tiền, nếu số lượng ít thì bỏ luôn vào hùng phước thiện, còn nhiều thì nộp cho người tiếp nhận để ghi tên người cúng vào cuốn sổ công đức. Có người mang nhang khoanh đến cúng (loại nhang này có cọng nhỏ, uốn cong các vòng tròn từ nhỏ đến lớn). Một cụ bà sẽ dùng một cây để móc cuộn nhang treo lên trần nhà. Sau đó, bà sẽ đưa một cái cây bằng gỗ dài, ở trên có đặt một cây nến để khách đốt nhang của mình. Từ trên trần nhà, rất nhiều vòng nhang từ nhỏ đến lớn chụp xuống tạo thành khung cảnh tuyệt đẹp. Khói của nhang bay phảng phất, mùi thơm của hương tỏa ra tạo thành một bầu không khí huyền ảo nhưng cũng rất trang nghiêm. Tất cả khách đến thắp hương cầu khấn đều được mời dùng bữa cơm thân mật hay nán lại uống ly trà, trò chuyện hỏi thăm dăm ba câu, tán chuyện thời sự, thế thái nhân tình... Lễ vía Quan Thánh Đế Quân ở Cần Thơ là một lễ hội của người Hoa, mang đậm tính văn hóa của cộng đồng người Hoa ở Nam, nhưng cũng mang nét văn hóa của người Việt trong đó.

Related Figures

Lễ Kỳ Yên

Thông tin thời kỳ

Tại Cần Thơ, các ngôi đình thường tổ chức lễ hội Kỳ Yên, có nơi cúng vào 3 ngày của giữa tháng Ba, tháng Tư âm lịch. Cũng có nơi lại cúng vào tháng Bảy âm lịch, như ngôi đình thần Vĩnh Trinh. Còn lễ Kỳ yên Thượng Điền lại được tổ chức vào giữa tháng 11 âm lịch. Lễ Kỳ Yên tại Cần Thơ Kỳ yên tức là lễ cầu an, mỗi đình đều tổ chức lễ cúng nhưng vào các ngày khác nhau. Lễ cúng thần với nhiều lễ vật là để người dân tỏ lòng thành kính đối với Thành Hoàng. Hạ điền và Thượng điền là hai kỳ lễ lớn nhất trong năm. Lễ Hạ điền thường tổ chức vào đầu mùa mưa, mang ý nghĩa là lễ xuống đồng, bắt đầu việc cày cấy. Lễ Thượng điền lại được cử hành vào cuối mùa mưa, lúc này dân làng đã thu hoạch mùa màng xong. Vì lễ hội Kỳ yên và lễ Hạ điền, Thượng điền, có nghi thức cúng tế tương tự nhau nên nhiều ngôi đình ở Cần Thơ đã sáp nhập hai kỳ lễ này vào thành một, gộp hai lễ lại để cúng chung. Trong các lễ cúng đình, ban tế tự sẽ ghi trên thiệp mời là lễ Kỳ yên Hạ điền hoặc lễ Kỳ yên Thượng điền. Trịnh Hoài Đức đã ghi chép lại trong “Gia Định thành thông chí” như sau: “Tế xã: mỗi làng đều phải xây dựng một ngôi đình, kỳ tế lễ phải lựa ngày tốt, buổi chiều của ngày hôm ấy lớn nhỏ đều phải hội tụ về đình, đêm ấy gọi là túc yết, sáng sớm ngày hôm sau thì áo mão, trống, chiêng để làm lễ chính tế, ngày tiếp theo thì làm lễ dịch tế, còn được gọi là đại đoàn, lễ xong sẽ lui về. Dùng ngày và giờ cúng tế tùy thuộc vào hương tục không giống nhau, có chỗ thì dùng tháng giêng tức là thủ nghĩa Xuân kỳ, có chỗ chọn vào tháng 8, 9 tức là thủ nghĩa thu báo, cũng có chỗ chọn trong 3 tháng mùa đông thì thủ nghĩa là cả năm thành công, tế chưng tế lạp là để đáp tạ ơn thần, sự tế mà có chủ ý, thường gọi là Cầu an. Ngoài hương lệ ra, tọa thứ còn có nhiều nghi tiết thứ tự đều nhượng lại cho vị hương quan ngồi ở trên, cũng có khi có làng có người có học thức thì làm theo lễ “Hương ẩm tửu”, hay giảng quốc luật và hương ước, ấy được xem là làng có phong tục tốt. Đồng thời, trong ngày này suy xét sổ sách trong làng xem một năm này thâu nạp thuế khóa, lúa tiền, diêu dịch dư thiếu ra sao, nông điền được mất như thế nào, giữa hội đồng trình cùng tính toán; cùng bầu cử người chức sự để coi làm việc làng cũng cử hành bàn giao trong ngày ấy”. Lễ vật cúng dâng thần Thành Hoàng trong dịp này cũng tùy thuộc vào tình hình tài chính của đình, cũng như xem mùa vụ năm đó ra sao, được mùa hay mất mùa mà lên kế hoạch tổ chức, nhưng lễ vật không thể thiếu là có một con heo quay, có nơi thì chuẩn bị thêm một con ngỗng, vịt. Ngoài ra, còn có bánh loại bánh trái, trà, rượu và xôi. Xôi cũng là một lễ vật không thể thiếu, và phải do dân làng ở địa phương nấu sẵn và mang vào cúng. Ngày xưa khi đất đai của đình còn rộng nên dân làng thường mướn để làm lúa và nộp huê lợi cho đình. Chính vì vậy, mỗi mỗi dịp cúng đình, những ai mướn đất của đình để trồng trọt đều phải nấu xôi mang vào đình để cúng, để thay lòng cảm tạ ơn thần đã cho họ được cuộc sống no ấm, mùa màng tươi tốt. Những người khác không mướn đất của đình thì sẽ đem hoa quả trong vườn nhà mình, đem xôi, thịt đến đình để dâng lên thần Thành Hoàng làng mình. Bởi vì người dân ở đây cho rằng, vị Thành Hoàng làng của họ đã che chở cho người dân trong dân làng, phù hộ cho họ được yên ổn làm ăn, có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Truyền thống này vẫn còn được lưu truyền cho đến ngày nay trong mỗi dịp cúng đình ở Cần Thơ. Lễ Kỳ Yên Hạ Điền Trong lễ hội Kỳ yên, đa số các ngôi đình ở tỉnh Cần Thơ đều cử hành lễ rước sắc thần cũng như lễ hồi sắc. “Sắc thần là một tờ giấy dai, khổ giấy có chiều dài từ 1,2m đến 1,5m, chiều rộng từ 0,5m đến 0,6m, dày và có màu vàng. Mặt giấy có in hình rồng ẩn trong mây nền chìm bằng dụ ngân, chung quanh còn có khung hồi văn chữ vạn, nên còn gọi là long đằng chỉ (giấy hình rồng để sao chép), có khi là chữ đinh hoặc hoa lá dây chéo nhau. Mỗi sắc thần sẽ có từ 5 đến 11 hàng dọc, được chép từ phải qua trái. Dòng cuối cùng thường đề niên hiệu và ngày tháng cấp sắc. Ấn vàng của nhà vua đóng lên trên hàng chữ đề niên hiệu với son phụng màu đỏ, kể từ chữ (niên) trở xuống có ấn hình vuông, có 4 chữ được viết theo lối triện là Sắc Mệnh Chi Bửu”2. Thời xưa, sắc thần thường được các hương chức cất giữ ở nhà riêng, hoặc là để trong nhà của người thuộc ban tế tự. Đó thường là những người có uy tín, có phẩm hạnh mới được giao việc giữ sắc thần. Bởi vì ngày xưa rất hay xảy ra hiện tượng bị trộm sắc thần nên sau này người ta đã không dám cất sắc thần ở trong đình. Sắc thần là một thứ thiêng liêng, đình nào được ban sắc thần là xem như nhận được nhà nước công nhận hợp pháp. Còn đình nào không được phong sắc thần thì cũng như “đình chui”, không đủ uy tín và linh tiêng để mọi người tin tưởng và đến cúng bái, và cầu nguyện. Chính vì vậy, có những ngôi đình không được ban sắc thần bèn tìm cách mua lại sắc thần của những kẻ đã trộm sắc thần. Sắc thần ở tỉnh Cần Thơ phong cho Bổn Cảnh Thành Hoàng, hầu hết là những vị thần tồn tại trong ý niệm, thường là hữu danh vô thực cho nên việc đình này sử dụng sắc thần của đình kia cũng không có gì phương hại. Sắc thần nào cũng là “Sắc phong Bổn Cảnh Thành Hoàng” chứ không ghi danh tánh cụ thể. Người xưa tin rằng sắc thần là thứ thiêng liêng nên cần phải cất kỹ, không được tùy tiện mở, cũng không phải ai cũng được nhìn kỹ sắc thần. Tuy nhiên, có một số ngôi đình ở Cần Thơ lại có lệ phơi sắc thần. Lệ phơi sắc thần có hai mục đích: Thứ nhất là sắc thần thường được để trong hộp, cất kỹ cả năm trời nên dễ dễ bị ẩm mốc , mối mọt nên trong các lễ cúng đình người ta sẽ đem sắc thần ra phơi và kiểm tra xem sắc có bị hư hỏng gì không, và tránh cho sắc thần bị ẩm ướt. Thứ hai, phơi sắc cũng chính là niềm tự hào của đình làng đó vì đình đó có sắc. Điều này cũng thể hiện cho mọi người thấy rằng đình làng mình là ngôi “đình chính thức” là có sắc phong hẳn hoi, và có công nhận đàng hoàng. Bắt đầu nghi lễ thỉnh sắc thường là một hồi trống để báo hiệu cho dân trong làng biết để về đình cùng đi thỉnh sắc và cũng chính là một cách để báo cho bà con dân làng biết để bày hương án của nhà mình ra bên đường để cúng tạ ơn thần (Lệ bày hương án ra hai bên đường ở tình Cần Thơ ngày nay đã không còn thực hiện). Tiếp theo sẽ là tiếng chiêng trống gióng lên nhằm báo hiệu cho cuộc rước đã bắt đầu. Đoàn chiêng , trống, kèn sẽ dẫn đầu đám rước, sau đó là các vị chức sắc trong làng, các thành viên trong Ban tế tự - những người này thường được giao nhiệm vụ là những người đi đầu trong đám rước. Theo sau sẽ là hai viên chức trong làng. Một người sẽ ôm ấn kiếm - kiếm này là kiếm của thần và một người sẽ kia bưng dàn lỗ bộ nhỏ. Đi theo sau sẽ là những đoàn người ăn mặc như lính hầu đi hai bên, mỗi bên có khoảng 4-5 người, tay cầm đao, thương, kiếm, cờ phướn... tiếp theo sau là bè thủy lục dùng để rước sắc thần nếu phải rước bằng đường thủy, còn rước bằng đường bộ thì có long đình. Bè thủy lục thường được ghép từ 2 đến 3 chiếc ghe lại thành một bè, trên bè có đặt kiệu đỏ, có trang trí đèn lồng, đoàn múa lân biểu diễn trên bè. Trên bè có để một hộp đựng sắc thần, các viên quan hương chức mắc các bộ trang phục lễ nghiêm hầu sắc thần, có thêm đoàn nhạc lễ ở trước, hai bên và phía sau. Dân làng sẽ ngồi cầm dầm để bơi bè. Thành viên trong đoàn làm lễ đang dâng hương khấn thần Một chiếc bè nhỏ khác cũng được trang hoàng trông rất đẹp đẽ, nghiêm trang dẫn trước bè lớn khoảng 30 thước. Trong bè là đội trống chiêng, dàn đồ bắc cấu trổi điệu nhạc. Các hương chức và chấp sự có phận sự sẽ đứng ở trên bè nhỏ này. Trong lễ rước, trống chiêng và bắc cấu cùng tấu lên rập ràng, inh ỏi khắp cả vùng sông nước. Hai bên bờ sông, mỗi nhà sẽ đặt trước cửa nhà một bàn hương án, đèn nhang được chuẩn bi đầy đủ, nghiêm chỉnh, để tỏ lòng tôn kính đối với thần linh. Dưới sông, ghe xuồng của hương chức sẽ đi hầu hạ rất đông và những người hiếu kỳ cũng chèo ghe theo sau để xem khiến cả khúc sông chật ních. Sắc thần sẽ được đặt ở Long đình là một ngôi đình thu nhỏ, thường được dựng bằng gỗ, có chạm khắc và sơn son thếp vàng - qua một cửa nhỏ ngay ở bên hông, để rước sắc về đình. Long đình được đặt trên bàn do 4 người mặc trang phục như lính hầu khiêng kiệu. Đi theo sau bè thủy lục hoặc long đình sẽ là những người theo kiệu, những người trong hội đình hay dân làng đi theo để thỉnh sắc. Khi đám rước đến nơi cất sắc thần, các vị chức việc sẽ tế 1 tuần hương, 3 tuần rượu, và đọc một bài văn tế (bài khấn cũng được), là lòng văn nghinh, rồi chức việc sẽ đứng đầu bưng chiếc hộp đựng sắc trao cho người chánh hội (hay chánh ban quí tế...) để ông ta đem ra đặt vào long đình để đưa sắc về đình. Về đến đình, đoàn tế lễ sẽ cử hành một nghi thức an vị: tế 1 tuần hương, 3 tuần rượu và 1 tuần trà. Sau lễ tế này, các chức việc sẽ dâng hương để ra mắt thần theo sự chỉ đạo của lễ sinh xướng. Trong thời gian sắc thần được để ở đình, bà con dân làng sẽ đến lễ bái lạy và dâng bánh trái, hoa quả và tiền bạc để góp phần tài chính cho việc tế lễ kỳ yên. Sắc thần sẽ được giữ tại đình trong 3 ngày lễ, cho đến chiều ngày cuối cùng thì người ta lại đưa sắc thần trở về nơi cất giữ còn được gọi là lễ hồi sắc. Nghi hồi sắc: tế 1 tuần hương, 3 tuần rượu, 1 tuần trà, đọc một bài văn tế còn gọi là lòng văn tống. Nghi trượng hồi sắc tương tự nghi trượng thỉnh sắc. Khi sắc được đưa về nơi cất giữ cũ lại tiến hành lễ an vị: 1 tuần hương, 3 tuần rượu, 1 tuần trà. Sau đó đám rước cũng tự giải tán để cử hành nghi lễ cúng tiễn đưa khách, nếu có”. Ngày nay, ở Cần Thơ nghi thức thỉnh sắc thần vẫn còn được thực hiện. Tại Cần Thơ, một số địa phương vẫn giữ sắc thần tại đình. Đến kỳ tế lễ sẽ thỉnh sắc thần đi “du ngoạn”. Chuyến “du ngoạn” này là có mục đích để Thần thưởng ngoạn phong cảnh khắp nơi, đồng thời xem xét cuộc sống của người dân từ đó có những biện pháp bảo trợ cho phù hợp. Sau đó sẽ quay về cử hành lễ an vị sắc thần, coi như đám rước đã hoàn thành./.

Tại Cần Thơ, các ngôi đình thường tổ chức lễ hội Kỳ Yên, có nơi cúng vào 3 ngày của giữa tháng Ba, tháng Tư âm lịch. Cũng có nơi lại cúng vào tháng Bảy âm lịch, như ngôi đình thần Vĩnh Trinh. Còn lễ Kỳ yên Thượng Điền lại được tổ chức vào giữa tháng 11 âm lịch.

Lễ Kỳ Yên tại Cần Thơ

Kỳ yên tức là lễ cầu an, mỗi đình đều tổ chức lễ cúng nhưng vào các ngày khác nhau. Lễ cúng thần với nhiều lễ vật là để người dân tỏ lòng thành kính đối với Thành Hoàng. Hạ điền và Thượng điền là hai kỳ lễ lớn nhất trong năm. Lễ Hạ điền thường tổ chức vào đầu mùa mưa, mang ý nghĩa là lễ xuống đồng, bắt đầu việc cày cấy. Lễ Thượng điền lại được cử hành vào cuối mùa mưa, lúc này dân làng đã thu hoạch mùa màng xong. Vì lễ hội Kỳ yên và lễ Hạ điền, Thượng điền, có nghi thức cúng tế tương tự nhau nên nhiều ngôi đình ở Cần Thơ đã sáp nhập hai kỳ lễ này vào thành một, gộp hai lễ lại để cúng chung. Trong các lễ cúng đình, ban tế tự sẽ ghi trên thiệp mời là lễ Kỳ yên Hạ điền hoặc lễ Kỳ yên Thượng điền. Trịnh Hoài Đức đã ghi chép lại trong “Gia Định thành thông chí” như sau: “Tế xã: mỗi làng đều phải xây dựng một ngôi đình, kỳ tế lễ phải lựa ngày tốt, buổi chiều của ngày hôm ấy lớn nhỏ đều phải hội tụ về đình, đêm ấy gọi là túc yết, sáng sớm ngày hôm sau thì áo mão, trống, chiêng để làm lễ chính tế, ngày tiếp theo thì làm lễ dịch tế, còn được gọi là đại đoàn, lễ xong sẽ lui về. Dùng ngày và giờ cúng tế tùy thuộc vào hương tục không giống nhau, có chỗ thì dùng tháng giêng tức là thủ nghĩa Xuân kỳ, có chỗ chọn vào tháng 8, 9 tức là thủ nghĩa thu báo, cũng có chỗ chọn trong 3 tháng mùa đông thì thủ nghĩa là cả năm thành công, tế chưng tế lạp là để đáp tạ ơn thần, sự tế mà có chủ ý, thường gọi là Cầu an. Ngoài hương lệ ra, tọa thứ còn có nhiều nghi tiết thứ tự đều nhượng lại cho vị hương quan ngồi ở trên, cũng có khi có làng có người có học thức thì làm theo lễ “Hương ẩm tửu”, hay giảng quốc luật và hương ước, ấy được xem là làng có phong tục tốt. Đồng thời, trong ngày này suy xét sổ sách trong làng xem một năm này thâu nạp thuế khóa, lúa tiền, diêu dịch dư thiếu ra sao, nông điền được mất như thế nào, giữa hội đồng trình cùng tính toán; cùng bầu cử người chức sự để coi làm việc làng cũng cử hành bàn giao trong ngày ấy”. Lễ vật cúng dâng thần Thành Hoàng trong dịp này cũng tùy thuộc vào tình hình tài chính của đình, cũng như xem mùa vụ năm đó ra sao, được mùa hay mất mùa mà lên kế hoạch tổ chức, nhưng lễ vật không thể thiếu là có một con heo quay, có nơi thì chuẩn bị thêm một con ngỗng, vịt. Ngoài ra, còn có bánh loại bánh trái, trà, rượu và xôi. Xôi cũng là một lễ vật không thể thiếu, và phải do dân làng ở địa phương nấu sẵn và mang vào cúng. Ngày xưa khi đất đai của đình còn rộng nên dân làng thường mướn để làm lúa và nộp huê lợi cho đình. Chính vì vậy, mỗi mỗi dịp cúng đình, những ai mướn đất của đình để trồng trọt đều phải nấu xôi mang vào đình để cúng, để thay lòng cảm tạ ơn thần đã cho họ được cuộc sống no ấm, mùa màng tươi tốt. Những người khác không mướn đất của đình thì sẽ đem hoa quả trong vườn nhà mình, đem xôi, thịt đến đình để dâng lên thần Thành Hoàng làng mình. Bởi vì người dân ở đây cho rằng, vị Thành Hoàng làng của họ đã che chở cho người dân trong dân làng, phù hộ cho họ được yên ổn làm ăn, có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Truyền thống này vẫn còn được lưu truyền cho đến ngày nay trong mỗi dịp cúng đình ở Cần Thơ. Lễ Kỳ Yên Hạ Điền Trong lễ hội Kỳ yên, đa số các ngôi đình ở tỉnh Cần Thơ đều cử hành lễ rước sắc thần cũng như lễ hồi sắc. “Sắc thần là một tờ giấy dai, khổ giấy có chiều dài từ 1,2m đến 1,5m, chiều rộng từ 0,5m đến 0,6m, dày và có màu vàng. Mặt giấy có in hình rồng ẩn trong mây nền chìm bằng dụ ngân, chung quanh còn có khung hồi văn chữ vạn, nên còn gọi là long đằng chỉ (giấy hình rồng để sao chép), có khi là chữ đinh hoặc hoa lá dây chéo nhau. Mỗi sắc thần sẽ có từ 5 đến 11 hàng dọc, được chép từ phải qua trái. Dòng cuối cùng thường đề niên hiệu và ngày tháng cấp sắc. Ấn vàng của nhà vua đóng lên trên hàng chữ đề niên hiệu với son phụng màu đỏ, kể từ chữ (niên) trở xuống có ấn hình vuông, có 4 chữ được viết theo lối triện là Sắc Mệnh Chi Bửu”2. Thời xưa, sắc thần thường được các hương chức cất giữ ở nhà riêng, hoặc là để trong nhà của người thuộc ban tế tự. Đó thường là những người có uy tín, có phẩm hạnh mới được giao việc giữ sắc thần. Bởi vì ngày xưa rất hay xảy ra hiện tượng bị trộm sắc thần nên sau này người ta đã không dám cất sắc thần ở trong đình. Sắc thần là một thứ thiêng liêng, đình nào được ban sắc thần là xem như nhận được nhà nước công nhận hợp pháp. Còn đình nào không được phong sắc thần thì cũng như “đình chui”, không đủ uy tín và linh tiêng để mọi người tin tưởng và đến cúng bái, và cầu nguyện. Chính vì vậy, có những ngôi đình không được ban sắc thần bèn tìm cách mua lại sắc thần của những kẻ đã trộm sắc thần. Sắc thần ở tỉnh Cần Thơ phong cho Bổn Cảnh Thành Hoàng, hầu hết là những vị thần tồn tại trong ý niệm, thường là hữu danh vô thực cho nên việc đình này sử dụng sắc thần của đình kia cũng không có gì phương hại. Sắc thần nào cũng là “Sắc phong Bổn Cảnh Thành Hoàng” chứ không ghi danh tánh cụ thể. Người xưa tin rằng sắc thần là thứ thiêng liêng nên cần phải cất kỹ, không được tùy tiện mở, cũng không phải ai cũng được nhìn kỹ sắc thần. Tuy nhiên, có một số ngôi đình ở Cần Thơ lại có lệ phơi sắc thần. Lệ phơi sắc thần có hai mục đích: Thứ nhất là sắc thần thường được để trong hộp, cất kỹ cả năm trời nên dễ dễ bị ẩm mốc , mối mọt nên trong các lễ cúng đình người ta sẽ đem sắc thần ra phơi và kiểm tra xem sắc có bị hư hỏng gì không, và tránh cho sắc thần bị ẩm ướt. Thứ hai, phơi sắc cũng chính là niềm tự hào của đình làng đó vì đình đó có sắc. Điều này cũng thể hiện cho mọi người thấy rằng đình làng mình là ngôi “đình chính thức” là có sắc phong hẳn hoi, và có công nhận đàng hoàng. Bắt đầu nghi lễ thỉnh sắc thường là một hồi trống để báo hiệu cho dân trong làng biết để về đình cùng đi thỉnh sắc và cũng chính là một cách để báo cho bà con dân làng biết để bày hương án của nhà mình ra bên đường để cúng tạ ơn thần (Lệ bày hương án ra hai bên đường ở tình Cần Thơ ngày nay đã không còn thực hiện). Tiếp theo sẽ là tiếng chiêng trống gióng lên nhằm báo hiệu cho cuộc rước đã bắt đầu. Đoàn chiêng , trống, kèn sẽ dẫn đầu đám rước, sau đó là các vị chức sắc trong làng, các thành viên trong Ban tế tự - những người này thường được giao nhiệm vụ là những người đi đầu trong đám rước. Theo sau sẽ là hai viên chức trong làng. Một người sẽ ôm ấn kiếm - kiếm này là kiếm của thần và một người sẽ kia bưng dàn lỗ bộ nhỏ. Đi theo sau sẽ là những đoàn người ăn mặc như lính hầu đi hai bên, mỗi bên có khoảng 4-5 người, tay cầm đao, thương, kiếm, cờ phướn... tiếp theo sau là bè thủy lục dùng để rước sắc thần nếu phải rước bằng đường thủy, còn rước bằng đường bộ thì có long đình. Bè thủy lục thường được ghép từ 2 đến 3 chiếc ghe lại thành một bè, trên bè có đặt kiệu đỏ, có trang trí đèn lồng, đoàn múa lân biểu diễn trên bè. Trên bè có để một hộp đựng sắc thần, các viên quan hương chức mắc các bộ trang phục lễ nghiêm hầu sắc thần, có thêm đoàn nhạc lễ ở trước, hai bên và phía sau. Dân làng sẽ ngồi cầm dầm để bơi bè. Thành viên trong đoàn làm lễ đang dâng hương khấn thần Một chiếc bè nhỏ khác cũng được trang hoàng trông rất đẹp đẽ, nghiêm trang dẫn trước bè lớn khoảng 30 thước. Trong bè là đội trống chiêng, dàn đồ bắc cấu trổi điệu nhạc. Các hương chức và chấp sự có phận sự sẽ đứng ở trên bè nhỏ này. Trong lễ rước, trống chiêng và bắc cấu cùng tấu lên rập ràng, inh ỏi khắp cả vùng sông nước. Hai bên bờ sông, mỗi nhà sẽ đặt trước cửa nhà một bàn hương án, đèn nhang được chuẩn bi đầy đủ, nghiêm chỉnh, để tỏ lòng tôn kính đối với thần linh. Dưới sông, ghe xuồng của hương chức sẽ đi hầu hạ rất đông và những người hiếu kỳ cũng chèo ghe theo sau để xem khiến cả khúc sông chật ních. Sắc thần sẽ được đặt ở Long đình là một ngôi đình thu nhỏ, thường được dựng bằng gỗ, có chạm khắc và sơn son thếp vàng - qua một cửa nhỏ ngay ở bên hông, để rước sắc về đình. Long đình được đặt trên bàn do 4 người mặc trang phục như lính hầu khiêng kiệu. Đi theo sau bè thủy lục hoặc long đình sẽ là những người theo kiệu, những người trong hội đình hay dân làng đi theo để thỉnh sắc. Khi đám rước đến nơi cất sắc thần, các vị chức việc sẽ tế 1 tuần hương, 3 tuần rượu, và đọc một bài văn tế (bài khấn cũng được), là lòng văn nghinh, rồi chức việc sẽ đứng đầu bưng chiếc hộp đựng sắc trao cho người chánh hội (hay chánh ban quí tế...) để ông ta đem ra đặt vào long đình để đưa sắc về đình. Về đến đình, đoàn tế lễ sẽ cử hành một nghi thức an vị: tế 1 tuần hương, 3 tuần rượu và 1 tuần trà. Sau lễ tế này, các chức việc sẽ dâng hương để ra mắt thần theo sự chỉ đạo của lễ sinh xướng. Trong thời gian sắc thần được để ở đình, bà con dân làng sẽ đến lễ bái lạy và dâng bánh trái, hoa quả và tiền bạc để góp phần tài chính cho việc tế lễ kỳ yên. Sắc thần sẽ được giữ tại đình trong 3 ngày lễ, cho đến chiều ngày cuối cùng thì người ta lại đưa sắc thần trở về nơi cất giữ còn được gọi là lễ hồi sắc. Nghi hồi sắc: tế 1 tuần hương, 3 tuần rượu, 1 tuần trà, đọc một bài văn tế còn gọi là lòng văn tống. Nghi trượng hồi sắc tương tự nghi trượng thỉnh sắc. Khi sắc được đưa về nơi cất giữ cũ lại tiến hành lễ an vị: 1 tuần hương, 3 tuần rượu, 1 tuần trà. Sau đó đám rước cũng tự giải tán để cử hành nghi lễ cúng tiễn đưa khách, nếu có”. Ngày nay, ở Cần Thơ nghi thức thỉnh sắc thần vẫn còn được thực hiện. Tại Cần Thơ, một số địa phương vẫn giữ sắc thần tại đình. Đến kỳ tế lễ sẽ thỉnh sắc thần đi “du ngoạn”. Chuyến “du ngoạn” này là có mục đích để Thần thưởng ngoạn phong cảnh khắp nơi, đồng thời xem xét cuộc sống của người dân từ đó có những biện pháp bảo trợ cho phù hợp. Sau đó sẽ quay về cử hành lễ an vị sắc thần, coi như đám rước đã hoàn thành./.

Related Figures

Lễ hội Cầu ngư

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 14/6- 16/6 Âm lịch Lễ hội Cầu Ngư tại phường Phước Lộc ở thị xã La gi, tỉnh Bình Thuận diễn ra từ ngày 14 đến 16 tháng Sáu âm lịch hàng năm. Đây được xem là lễ hội tưng bừng nhất của người dân biển nơi đây và những người dân có cuộc sống gắn liền với biển, là cũng chính là dịp để người dân vạn chài bày tỏ lòng biết ơn đối với biển cả, đồng thời cầu xin thần Nam Hải phù giúp cho một năm đánh bắt may mắn. Đây cũng là dịp để ngư dân vui chơi và gửi đến nhau những lời chúc tốt lành. Lễ hội Cầu ngư ở Phước Lộc tại Bình Thuận Lễ hội Cầu Ngư thường bắt đầu bằng lễ Nghinh Thần. Hàng chục chiếc thuyền trong đoàn nghinh thần sẽ khởi hành ngay trước cổng của vạn chài, mang theo lễ vật, kiệu, cờ lọng tiến ra khơi để rước Ngài. Đoàn chèo Bả Trạo sẽ diễn xướng cảnh đánh bắt. Phần hội diễn ra sôi đông với các trò chơi và cuộc thi truyền thống như: đua thuyền, lắc thúng, bơi lội... Ngoài ra còn có các bộ môn thể thao như bóng chuyền, bóng đá được tổ chức trên những bãi cát khi thủy triều vừa mới rút. Đặc biệt, lễ hội còn có tiết mục hát tuồng đặc trưng và đặc sắc của người dân vùng biển miền Trung. Một sân khấu rộng lớn sẽ được dựng tại chính điện thờ Nam Hải và những nghệ nhân sẽ biểu diễn tuồng để phục vụ bà con. Nếu như lễ hội kéo dài trong ba ngày thì hát Bộ có thể sẽ kéo dài trong một tuần hoặc lâu hơn. Đây không chỉ là nghi thức diễn cho Thần Nam Hải xem, mà còn là để đáp ứng nhu cầu giải trí của ngư dân xuất thân từ vùng Bình-Phú. Lễ hội Cầu Ngư ngoài việc tế lễ ra còn là dịp để người dân bày tỏ lòng biết ơn đến các vị Tiền hiền đã khai sáng nghề cho con cháu và cũng là dịp trao đổi kinh nghiệm nghề nghiệp. Đoàn thuyền tế lễ đang tiến ra biển để rước thần Nam Hải về vui hội Lễ hội Cầu Ngư làng Phước Lộc là một lễ hội mang đậm nét văn hóa của vùng đất biển. Người dân quanh năm năm lao động trên biển một cách miệt mài, nay lại được vui chơi thư giản và giao lưu với nhau trong những ngày lễ hội, để rồi mang theo niềm tin về những may mắn, mùa màng bội thu.

Lễ hội Cầu Ngư tại phường Phước Lộc ở thị xã La gi, tỉnh Bình Thuận diễn ra từ ngày 14 đến 16 tháng Sáu âm lịch hàng năm. Đây được xem là lễ hội tưng bừng nhất của người dân biển nơi đây và những người dân có cuộc sống gắn liền với biển, là cũng chính là dịp để người dân vạn chài bày tỏ lòng biết ơn đối với biển cả, đồng thời cầu xin thần Nam Hải phù giúp cho một năm đánh bắt may mắn. Đây cũng là dịp để ngư dân vui chơi và gửi đến nhau những lời chúc tốt lành.

Lễ hội Cầu ngư ở Phước Lộc tại Bình Thuận

Lễ hội Cầu Ngư thường bắt đầu bằng lễ Nghinh Thần. Hàng chục chiếc thuyền trong đoàn nghinh thần sẽ khởi hành ngay trước cổng của vạn chài, mang theo lễ vật, kiệu, cờ lọng tiến ra khơi để rước Ngài. Đoàn chèo Bả Trạo sẽ diễn xướng cảnh đánh bắt. Phần hội diễn ra sôi đông với các trò chơi và cuộc thi truyền thống như: đua thuyền, lắc thúng, bơi lội... Ngoài ra còn có các bộ môn thể thao như bóng chuyền, bóng đá được tổ chức trên những bãi cát khi thủy triều vừa mới rút. Đặc biệt, lễ hội còn có tiết mục hát tuồng đặc trưng và đặc sắc của người dân vùng biển miền Trung. Một sân khấu rộng lớn sẽ được dựng tại chính điện thờ Nam Hải và những nghệ nhân sẽ biểu diễn tuồng để phục vụ bà con. Nếu như lễ hội kéo dài trong ba ngày thì hát Bộ có thể sẽ kéo dài trong một tuần hoặc lâu hơn. Đây không chỉ là nghi thức diễn cho Thần Nam Hải xem, mà còn là để đáp ứng nhu cầu giải trí của ngư dân xuất thân từ vùng Bình-Phú. Lễ hội Cầu Ngư ngoài việc tế lễ ra còn là dịp để người dân bày tỏ lòng biết ơn đến các vị Tiền hiền đã khai sáng nghề cho con cháu và cũng là dịp trao đổi kinh nghiệm nghề nghiệp. Đoàn thuyền tế lễ đang tiến ra biển để rước thần Nam Hải về vui hội Lễ hội Cầu Ngư làng Phước Lộc là một lễ hội mang đậm nét văn hóa của vùng đất biển. Người dân quanh năm năm lao động trên biển một cách miệt mài, nay lại được vui chơi thư giản và giao lưu với nhau trong những ngày lễ hội, để rồi mang theo niềm tin về những may mắn, mùa màng bội thu.

Related Figures

Lễ hội Cầu ngư

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 19/6- 22/6 Âm lịch Hàng năm, tại Vạn Thủy Tú - một điểm du lịch nổi tiếng của tỉnh Bình Thuận, nơi trưng bày bộ xương cốt của loài cá Ông (cá voi) thuộc loài cá lớn nhất, sẽ tổ chức Lễ hội cầu ngư. Vạn Thủy Tú tọa lạc trên đường Ngư Ông thuộc phường Đức Thắng, TP Phan Thiết, hàng nằm đều tổ chức tới 5 lần lễ hội cầu ngư. Đại lễ cầu ngư chính được tổ chức từ ngày 19 đến 22 tháng 6 âm lịch. Lễ hội này đã thể hiện niềm tin tưởng tuyệt đối của những ngư dân tỉnh Bình Thuận vào sự hiển linh của loài cá Ông. Ngư dân vạn chài cho rằng loài cá Voi chính là vị Thần biển cả đã cứu trợ họ, giúp đỡ họ trong những chuyến đi biển đầy nguy hiểm. Đình Vạn Thủy Tú ở tỉnh Bình Thuận Cũng như ngư dân của các tỉnh nằm dải theo biển Nam Bộ và miền Trung, tập tục thờ phụng loài cá Voi của ngư dân tỉnh Bình Thuận đã bao hàm nhiều nghi thức lễ tôn nghiêm. Ngoài lễ hội Cầu ngư chính được tổ chức từ ngày 19-22 tháng 6 trong năm, một số nghi thức lễ khác cũng được tổ chức thường xuyên tại vạn, đã tập hợp lại thành một hệ thống các nghi lễ như: lễ Thượng ngọc cốt cá Ông, lễ mai táng Ông, Lễ Cầu ngư đầu năm còn được goi là lễ tế Xuân, vẫn diễn ra hàng năm trong dịp tháng Hai âm lịch, lễ lễ Cầu ngư đầu mùa (Hạ nghệ xuống vụ cá Nam) sẽ diễn ra trong tháng 4 âm lịch, lễ Cầu ngư chính mùa thường tổ chức vào tháng Sáu âm lịch, Lễ Mãn mùa tổ chức vào tháng 8 âm lịch. Lễ hội chính từ ngày 19-22 tháng Sáu âm lịch thường diễn ra trong vòng bốn ngày đêm, tuy nhiên theo tập tục lâu đời, lễ hội cầu ngư chính mùa ở đình Vạn Thuỷ Tú sẽ cúng mặm 2 năm 1 lần, cách 1 năm sẽ đáo lệ làm chay, những năm cúng mặn thì thời gian lễ hội chỉ diễn ra trong 2 ngày 2 đêm. Từ khi mở hội cho đến khi kết thúc, lễ hội đều diễn ra theo một chương trình nghiêm ngặt với nhiều nghi lễ, trong đó đáng chú ý nhất là lễ lễ Nghệ sắc (Ban lâm tế cúng vái thần và rước sắc phong xuống các hương án, báo cáo lễ tết bắt đầu và kính mời các thần về chứng giám). Lễ cúng cá Ông Sanh Thủy Lục được tổ chức tại vùng biển phía ngoài cảng Phan Thiết trong vòng 2 giờ đồng hồ. Đoàn chèo Bá Trạo sẽ trình diễn trong lễ cung nghinh thần Nam Hải từ nơi biển xa về. Về tới Vạn, đoàn Bá Trạo tiếp tục hát chèo để mời các vị thần về ngự trong Vạn. Phần hội cũng bắt đầu diễn ra bên ngoài và cả trên biển khi đang tế lễ Nghinh Ông (rước thần Nam Hải) từ biển về vạn chài. Đoàn chèo Bá Trạo chủ yếu là biểu diễn trên thuyền, trên quãng đường từ cửa biển rước về Vạn Thủy Tú với những bộ trang phục đặc sắc trong nghi lễ. Lễ hội Cầu ngư tại Bình Thuận Ngoài ra, lễ hội còn có phần lễ phóng đăng trên biển, đó là lễ thả thuyền cúng cho các linh hồn đã bỏ mạng trên biển, lễ phá cộ, lễ phóng sanh bao gồm cả 2 yếu tố là phần lễ và phần hội cùng phối hợp. Trong đó, lễ rước thần Nam Hải luôn là nghi lễ quan trọng nhất, mang tính văn hóa cộng đồng rõ rệt, là nghi lễ mở đầu cho hàng chục nghi lễ sau đó. Lễ chính trong lễ rước thần Nam Hải là điểm nổi bật của lễ cầu ngư. Đoàn rước có rất đông người tham gia, trong đó có các đoàn lễ, đoàn chèo Bá Trạo, đoàn nhạc lễ, các sư sãi, với đủ các loại trang phục… Đặc biệt là hàng chục chiếc thuyền lớn có cắm cờ quạt và rất đông người tham gia xen lẫn với điệu hò chèo Ba Trạo, nghi lễ diễn ra trong 1 giờ đồng hồ để nghinh Thần trên biển thu hút sự quan tâm của người xem. Lễ hội Cầu ngư là một nét văn hóa tín ngưỡng dân gian, một phong tục tập quán có mối quan hệ mật thiết với tâm linh. Tất cả những mối liên hệ này đã gắn bó chặt chẽ với nhau, cùng hòa quyện vào nhau, và có tác động qua lại, tạo nên một lễ hội mang đậm những nét đặc trưng văn hóa biển như ngày nay. Ngư dân biển đang rước thuyền rồng

Hàng năm, tại Vạn Thủy Tú - một điểm du lịch nổi tiếng của tỉnh Bình Thuận, nơi trưng bày bộ xương cốt của loài cá Ông (cá voi) thuộc loài cá lớn nhất, sẽ tổ chức Lễ hội cầu ngư. Vạn Thủy Tú tọa lạc trên đường Ngư Ông thuộc phường Đức Thắng, TP Phan Thiết, hàng nằm đều tổ chức tới 5 lần lễ hội cầu ngư. Đại lễ cầu ngư chính được tổ chức từ ngày 19 đến 22 tháng 6 âm lịch. Lễ hội này đã thể hiện niềm tin tưởng tuyệt đối của những ngư dân tỉnh Bình Thuận vào sự hiển linh của loài cá Ông. Ngư dân vạn chài cho rằng loài cá Voi chính là vị Thần biển cả đã cứu trợ họ, giúp đỡ họ trong những chuyến đi biển đầy nguy hiểm.

Đình Vạn Thủy Tú ở tỉnh Bình Thuận

Cũng như ngư dân của các tỉnh nằm dải theo biển Nam Bộ và miền Trung, tập tục thờ phụng loài cá Voi của ngư dân tỉnh Bình Thuận đã bao hàm nhiều nghi thức lễ tôn nghiêm. Ngoài lễ hội Cầu ngư chính được tổ chức từ ngày 19-22 tháng 6 trong năm, một số nghi thức lễ khác cũng được tổ chức thường xuyên tại vạn, đã tập hợp lại thành một hệ thống các nghi lễ như: lễ Thượng ngọc cốt cá Ông, lễ mai táng Ông, Lễ Cầu ngư đầu năm còn được goi là lễ tế Xuân, vẫn diễn ra hàng năm trong dịp tháng Hai âm lịch, lễ lễ Cầu ngư đầu mùa (Hạ nghệ xuống vụ cá Nam) sẽ diễn ra trong tháng 4 âm lịch, lễ Cầu ngư chính mùa thường tổ chức vào tháng Sáu âm lịch, Lễ Mãn mùa tổ chức vào tháng 8 âm lịch.

Lễ hội chính từ ngày 19-22 tháng Sáu âm lịch thường diễn ra trong vòng bốn ngày đêm, tuy nhiên theo tập tục lâu đời, lễ hội cầu ngư chính mùa ở đình Vạn Thuỷ Tú sẽ cúng mặm 2 năm 1 lần, cách 1 năm sẽ đáo lệ làm chay, những năm cúng mặn thì thời gian lễ hội chỉ diễn ra trong 2 ngày 2 đêm. Từ khi mở hội cho đến khi kết thúc, lễ hội đều diễn ra theo một chương trình nghiêm ngặt với nhiều nghi lễ, trong đó đáng chú ý nhất là lễ lễ Nghệ sắc (Ban lâm tế cúng vái thần và rước sắc phong xuống các hương án, báo cáo lễ tết bắt đầu và kính mời các thần về chứng giám). Lễ cúng cá Ông Sanh Thủy Lục được tổ chức tại vùng biển phía ngoài cảng Phan Thiết trong vòng 2 giờ đồng hồ. Đoàn chèo Bá Trạo sẽ trình diễn trong lễ cung nghinh thần Nam Hải từ nơi biển xa về. Về tới Vạn, đoàn Bá Trạo tiếp tục hát chèo để mời các vị thần về ngự trong Vạn. Phần hội cũng bắt đầu diễn ra bên ngoài và cả trên biển khi đang tế lễ Nghinh Ông (rước thần Nam Hải) từ biển về vạn chài. Đoàn chèo Bá Trạo chủ yếu là biểu diễn trên thuyền, trên quãng đường từ cửa biển rước về Vạn Thủy Tú với những bộ trang phục đặc sắc trong nghi lễ. Lễ hội Cầu ngư tại Bình Thuận Ngoài ra, lễ hội còn có phần lễ phóng đăng trên biển, đó là lễ thả thuyền cúng cho các linh hồn đã bỏ mạng trên biển, lễ phá cộ, lễ phóng sanh bao gồm cả 2 yếu tố là phần lễ và phần hội cùng phối hợp. Trong đó, lễ rước thần Nam Hải luôn là nghi lễ quan trọng nhất, mang tính văn hóa cộng đồng rõ rệt, là nghi lễ mở đầu cho hàng chục nghi lễ sau đó. Lễ chính trong lễ rước thần Nam Hải là điểm nổi bật của lễ cầu ngư. Đoàn rước có rất đông người tham gia, trong đó có các đoàn lễ, đoàn chèo Bá Trạo, đoàn nhạc lễ, các sư sãi, với đủ các loại trang phục… Đặc biệt là hàng chục chiếc thuyền lớn có cắm cờ quạt và rất đông người tham gia xen lẫn với điệu hò chèo Ba Trạo, nghi lễ diễn ra trong 1 giờ đồng hồ để nghinh Thần trên biển thu hút sự quan tâm của người xem. Lễ hội Cầu ngư là một nét văn hóa tín ngưỡng dân gian, một phong tục tập quán có mối quan hệ mật thiết với tâm linh. Tất cả những mối liên hệ này đã gắn bó chặt chẽ với nhau, cùng hòa quyện vào nhau, và có tác động qua lại, tạo nên một lễ hội mang đậm những nét đặc trưng văn hóa biển như ngày nay. Ngư dân biển đang rước thuyền rồng

Related Figures

Lễ Kỳ Yên đình thần Tân Hưng

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/5- 11/5 Âm lịch Hàng năm, cứ đến ngày mồng 10 và 11 tháng 5 âm lịch, người dân Tân Hưng và rât nhiều khách xem hội ở nhiều nơi khác từ trong và ngoài tỉnh lại nô nức về xem hội Kỳ yên, lễ cúng thần linh được cử hành tại đình thần Tân Hưng, ấp Tân Hưng, xã Lý Văn Lâm, thành phố Cà Mau. Lễ Kỳ Yên đình thần Tân Hưng tại Cà Mau Mặc dù ngày 11 mới là ngày lễ chính, thế nhưng từ trưa ngày mồng 10 các bô lão trong làng đã cử hành Lễ rước sắc thần để khấn cầu cho một năm mưa thuận gió hòa, vạn vật sinh sôi nảy nở, làm ăn phát tài, cầu cho quốc thái dân an… Đình Tân Hưng bắt đầu xây dựng vào năm 1907, tại đây không chỉ thờ thần mà còn thờ các vị anh hùng của dân tộc, những người chánh trực đã có công lao to lớn đối với dân tộc. Không chỉ thế, đây còn là nơi đầu tiên của tỉnh Cà Mau thực hiện việc treo cờ Đảng trên các cây dương trước đình, đây là 1 trong 5 di tích lịch sử - văn hóa của tỉnh Cà Mau đã được Nhà nước công nhận. Đình Tân Hưng được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia vào ngày 25/9/1992. Nơi đây đã từng nơi đóng quân của Bộ Chỉ huy Mặt trận Tân Hưng, là nơi quân ta đã giữ chân địch trong thời gian hơn 3 tháng, không cho quân địch tiến vào vùng nông thôn, để bảo vệ an toàn cho căn cứ, tranh thủ xây dựng lực lượng và phát triển chiến thuật đánh du kích. Tiết mục múa lân trong lễ hội Kỳ Yên Vào năm Tự Đức thứ 5 ( tức năm 1852), Đình Tân Hưng đã được sắc phong Bổn cảnh Thành Hoàng. Theo các vị lão làng của địa phương, trên sắc thần này có ghi tám chữ: “Chánh trực, Hựu hiền, Đôn ngưng, Chi thần”, nhưng vì chiến tranh loạn lạc nên sắc thần của đình đã bị thất lạc và không tìm lại được, người dân nơi đây chỉ còn lưu giữ được một ống đựng sắc thần và lưu giữ cho đến ngày nay. Tuy nhiên, hằng năm cứ vào dịp lễ kỳ yên, người dân đều tổ chức lễ cúng rất trang nghiêm, ngoài ý nghĩa thờ phụng tâm linh, còn là để người dân tỏ lòng thành kính và biết ơn đối với các vị thần, thành hoàng đã phù hộ cho dân làng. Đình Tân Hưng là một chứng tích lịch sử của tỉnh Cà Mau nói riêng và của khu vực Nam Bộ nói chung./. Lễ rước kiệu

Hàng năm, cứ đến ngày mồng 10 và 11 tháng 5 âm lịch, người dân Tân Hưng và rât nhiều khách xem hội ở nhiều nơi khác từ trong và ngoài tỉnh lại nô nức về xem hội Kỳ yên, lễ cúng thần linh được cử hành tại đình thần Tân Hưng, ấp Tân Hưng, xã Lý Văn Lâm, thành phố Cà Mau.

Lễ Kỳ Yên đình thần Tân Hưng tại Cà Mau

Mặc dù ngày 11 mới là ngày lễ chính, thế nhưng từ trưa ngày mồng 10 các bô lão trong làng đã cử hành Lễ rước sắc thần để khấn cầu cho một năm mưa thuận gió hòa, vạn vật sinh sôi nảy nở, làm ăn phát tài, cầu cho quốc thái dân an… Đình Tân Hưng bắt đầu xây dựng vào năm 1907, tại đây không chỉ thờ thần mà còn thờ các vị anh hùng của dân tộc, những người chánh trực đã có công lao to lớn đối với dân tộc. Không chỉ thế, đây còn là nơi đầu tiên của tỉnh Cà Mau thực hiện việc treo cờ Đảng trên các cây dương trước đình, đây là 1 trong 5 di tích lịch sử - văn hóa của tỉnh Cà Mau đã được Nhà nước công nhận. Đình Tân Hưng được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia vào ngày 25/9/1992. Nơi đây đã từng nơi đóng quân của Bộ Chỉ huy Mặt trận Tân Hưng, là nơi quân ta đã giữ chân địch trong thời gian hơn 3 tháng, không cho quân địch tiến vào vùng nông thôn, để bảo vệ an toàn cho căn cứ, tranh thủ xây dựng lực lượng và phát triển chiến thuật đánh du kích. Tiết mục múa lân trong lễ hội Kỳ Yên Vào năm Tự Đức thứ 5 ( tức năm 1852), Đình Tân Hưng đã được sắc phong Bổn cảnh Thành Hoàng. Theo các vị lão làng của địa phương, trên sắc thần này có ghi tám chữ: “Chánh trực, Hựu hiền, Đôn ngưng, Chi thần”, nhưng vì chiến tranh loạn lạc nên sắc thần của đình đã bị thất lạc và không tìm lại được, người dân nơi đây chỉ còn lưu giữ được một ống đựng sắc thần và lưu giữ cho đến ngày nay. Tuy nhiên, hằng năm cứ vào dịp lễ kỳ yên, người dân đều tổ chức lễ cúng rất trang nghiêm, ngoài ý nghĩa thờ phụng tâm linh, còn là để người dân tỏ lòng thành kính và biết ơn đối với các vị thần, thành hoàng đã phù hộ cho dân làng. Đình Tân Hưng là một chứng tích lịch sử của tỉnh Cà Mau nói riêng và của khu vực Nam Bộ nói chung./. Lễ rước kiệu

Related Figures

Lễ hội Vía Bà Thiên Hậu

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 23/3 Âm lịch Hàng năm, Lễ hội vía Bà được tổ chức vào ngày 23 tháng Ba âm lịch, tại ngôi Chùa Bà Thiên hậu ở ấp Cái Rắn thuộc xã Phú Hưng, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Người dân đang tiến hành tế lễ trong chùa Bà Thiên Hậu Theo truyền thuyết được người dân nơi đây truyền lại, vào năm 16 tuổi, bà Thiên Hậu vô tình nhặt được Thiên thư ở một giếng cạn, sau đó bà biết được nhiều phép thuật, thần thông biến hóa. Bà đã giúp nhiều người dân tai qua nạn khỏi và được người dân nơi đây xem là người cứu độ thế nhân. Sau khi bà qua đời, hồn bà vẫn linh hiển và phù hộ cho dân chúng. Sau này, sư hiển linh của Bà đã giúp nhiều ghe thuyền đánh cá gặp nạn trên biển được an toàn lại được nhiều người truyền nhau. Người Hoa coi Bà Thiên Hậu như một vị thần linh thiêng, phù hộ và cứu giúp họ mỗi khi gặp khó khăn, giúp họ có cuộc sống tốt đẹp hơn. Hằng năm vào dịp lễ hội vía Bà Thiên Hậu diễn ra vào ngày sinh của Bà (23 tháng 3 âm lịch), người dân đều tổ chức nghi lễ cúng tế rất chu đáo: Tế nguyên con heo sống đã làm sạch lông và tổ chức hội hát quảng... Vào dịp lễ Bà Thiên Hậu, không chỉ người Hoa và người Việt ở tỉnh Cà Mau mà người dân ở nhiều vùng lân cận cũng nườm nượp kéo nhau về chùa Bà Thiên Hậu để cúng bái và cầu tài lộc. Chùa Bà Thiên Hậu là một ngôi chùa khang trang và cổ kính nhất tại Cà Mau Lễ hội vía Bà Thiên Hậu là một lễ hội mang đậm màu sắc văn hóa dân tộc. Thông qua lễ hội này, đã thể hiện tình đoàn kết và mối quan hệ thân thiết giữa hai dân tộc Kinh và Hoa trong khối đại gia đình đoàn kết dân tộc Việt Nam. Mặc dù người Hoa trực tiếp giữ gìn và phát triển lễ hội vía Bà Thiên Hậu, thế nhưng vì để phù hợp với đời sống tâm linh và tín ngưỡng của người dân Việt nên họ đã phù hợp với hệ thống thờ Mẫu (mẹ) như: Bà Đen, Thiên Y Ana, Bà Chúa Xứ, Bà Thiên Hậu v.v... Ngôi chùa Bà Thiên Hậu được thành lập vào năm 1908, đã trải qua nhiều lần trùng tu, và đến ngày nay toàn cảnh chùa rất khang trang, cổ kính, và là nơi tập trung nhiều tín đồ sùng đạo về vía Bà về hành lễ: lễ vía Thần Hổ, Lễ Thượng ngươn, lễ Hạ ngươn, lễ Tất niên, lễ Trung ương… Lễ rước vía bà Thiên Hậu

Hàng năm, Lễ hội vía Bà được tổ chức vào ngày 23 tháng Ba âm lịch, tại ngôi Chùa Bà Thiên hậu ở ấp Cái Rắn thuộc xã Phú Hưng, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

Người dân đang tiến hành tế lễ trong chùa Bà Thiên Hậu

Theo truyền thuyết được người dân nơi đây truyền lại, vào năm 16 tuổi, bà Thiên Hậu vô tình nhặt được Thiên thư ở một giếng cạn, sau đó bà biết được nhiều phép thuật, thần thông biến hóa. Bà đã giúp nhiều người dân tai qua nạn khỏi và được người dân nơi đây xem là người cứu độ thế nhân. Sau khi bà qua đời, hồn bà vẫn linh hiển và phù hộ cho dân chúng. Sau này, sư hiển linh của Bà đã giúp nhiều ghe thuyền đánh cá gặp nạn trên biển được an toàn lại được nhiều người truyền nhau. Người Hoa coi Bà Thiên Hậu như một vị thần linh thiêng, phù hộ và cứu giúp họ mỗi khi gặp khó khăn, giúp họ có cuộc sống tốt đẹp hơn. Hằng năm vào dịp lễ hội vía Bà Thiên Hậu diễn ra vào ngày sinh của Bà (23 tháng 3 âm lịch), người dân đều tổ chức nghi lễ cúng tế rất chu đáo: Tế nguyên con heo sống đã làm sạch lông và tổ chức hội hát quảng... Vào dịp lễ Bà Thiên Hậu, không chỉ người Hoa và người Việt ở tỉnh Cà Mau mà người dân ở nhiều vùng lân cận cũng nườm nượp kéo nhau về chùa Bà Thiên Hậu để cúng bái và cầu tài lộc. Chùa Bà Thiên Hậu là một ngôi chùa khang trang và cổ kính nhất tại Cà Mau Lễ hội vía Bà Thiên Hậu là một lễ hội mang đậm màu sắc văn hóa dân tộc. Thông qua lễ hội này, đã thể hiện tình đoàn kết và mối quan hệ thân thiết giữa hai dân tộc Kinh và Hoa trong khối đại gia đình đoàn kết dân tộc Việt Nam. Mặc dù người Hoa trực tiếp giữ gìn và phát triển lễ hội vía Bà Thiên Hậu, thế nhưng vì để phù hợp với đời sống tâm linh và tín ngưỡng của người dân Việt nên họ đã phù hợp với hệ thống thờ Mẫu (mẹ) như: Bà Đen, Thiên Y Ana, Bà Chúa Xứ, Bà Thiên Hậu v.v... Ngôi chùa Bà Thiên Hậu được thành lập vào năm 1908, đã trải qua nhiều lần trùng tu, và đến ngày nay toàn cảnh chùa rất khang trang, cổ kính, và là nơi tập trung nhiều tín đồ sùng đạo về vía Bà về hành lễ: lễ vía Thần Hổ, Lễ Thượng ngươn, lễ Hạ ngươn, lễ Tất niên, lễ Trung ương… Lễ rước vía bà Thiên Hậu

Related Figures

Lễ hội Po Dam

Thông tin thời kỳ

(lehoi.info) - Lễ hội Pa Dam hay Pô Tằm, là một lễ hội của đồng bào người Chăm thường tổ chức vào đầu tháng tư hàng năm theo lịch Chăm ( tức tháng 7 Dương lịch), tại xã Phú Lạc của huyện Tuy Phong. Lễ hội này với mục đích tưởng nhớ tới công đức to lớn của vua Po Dam và cũng là dịp để người dân cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, đời sống được ấm no hạnh phúc… Theo ghi chép của người Chăm, Chăm PôDam hay còn gọi là Pêkathit sinh năm 1387, là người con trai của vua Parachanh và là em trai của Pôsahinư. PôDam sinh được hai người con trai là PôkaBih và PôkaBrah. PôkaBrah được lập đền thờ tại thôn Vĩnh Hanh thuộc xã Phú Lạc, còn PôkaBih được lập đền thờ tại ruộng Cây Táo của hợp tác nông nghiệp thôn Lạc Trị, xã Phú Lạc. Tháp PôDam Năm Bính Dần 1446, PôDam lên làm vua tại Bạt Thi Nưng (Khánh Hoà), đến năm 1472 ông thoái vị. Khi PôDam qua đời, người dân đã tôn ông thành thần lấy tên hiệu là PôDam. Bà con dân tộc Chăm vì muốn tưởng nhớ đến công ơn của Ngài nên đã xây tháp thờ phụng Ngài. Đối với người Chăm nơi đây, PôDam đã có công lớn trong việc hướng dẫn và giúp đỡ người dân khai hoang đất đai, khai mương, đắp đập để sản xuất nông nghiệp. Nhóm đền tháp Po Dam hay Pô Tằm, được xây dựng vào thế kỷ thứ IX, mang phong cách Hòa Lai, là một công trình kiến trúc mang phong cách nghệ thuật sớm của vương quốc Chăm Pa, đã được Nhà nước công nhận là Di tích Văn hóa - Lịch sử của quốc gia từ năm 1996. Nhóm kiến trúc này gồm 6 tòa tháp, hiện nay đã có 2 tháp bị đổ, số còn lại đang ngày càng xuống cấp trầm trọng. Trong đó, tháp chính là nơi thờ bộ sinh thực khí Linga - Yoni được làm bằng loại đá xanh đen nguyên khối. Có điểm khác biệt với tất cả các tháp Chăm khác, 6 tháp ở đây đều được trổ cửa chính ở hướng Nam. Từ năm 1995 đến năm 1998, tháp chính đã được trùng tu và tôn tạo lại nhằm gìn giữ những nét kiến trúc nghệ thuật cổ, độc đáo mang phong cách Hòa Lai. Sau này, các đời vua của dưới triều Nguyễn đã tặng cho vua Po Dam tám sắc phong để ghi nhận công đức vô lượng của Ngài trong việc thiết lập nênhệ thống thủy lợi nổi tiếng. Lễ hội Po Dam tại Bình Thuận Đây cũng chính là nơi người Chăm thực hiện các nghi lễ tôn giáo quan trọng như: lễ Tống ôn, Cầu đảo, Cầu mưa... trong đó lễ hội Ka tê là một trong những lễ hội lớn nhất của đồng bào Chăm. Ngoài phần lễ ra còn có phần hội với các hoạt động như múa hát, thi đấu thể thao để chào mừng ngày hội do thanh niên nam nữ làng Chăm Phú Lạc tổ chức. Trong Lễ hội PôDa, người dân còn cử hành các phần nghi lễ như: Hành lễ Chà và ra mắt Ngài, Hành lễ gội đền tháp, lễ cúng tế Ngài PôDam để cầu cho một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Sau phần lễ sẽ là phần hội, hàng trăm thanh niên trai tráng sẽ tham gia các trò chơi dân gian như kéo co, đội nước, bịt mắt đập nồi ... Lễ hội PôDam từ lâu đã trở thành một lễ hội văn hóa Chăm truyền thống đặc sắc, và là lễ hội vẫn còn được lưu giữ đến ngày nay với nhiều nghi lễ và tập tục đặc trưng. Các thế hệ con cháu người Chăm vẫn sẽ nâng niu, giữ gìn và tôn tạo bản sắc văn hóa đặc trưng của dân tộc mình./.

(lehoi.info) - Lễ hội Pa Dam hay Pô Tằm, là một lễ hội của đồng bào người Chăm thường tổ chức vào đầu tháng tư hàng năm theo lịch Chăm ( tức tháng 7 Dương lịch), tại xã Phú Lạc của huyện Tuy Phong. Lễ hội này với mục đích tưởng nhớ tới công đức to lớn của vua Po Dam và cũng là dịp để người dân cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, đời sống được ấm no hạnh phúc…

Theo ghi chép của người Chăm, Chăm PôDam hay còn gọi là Pêkathit sinh năm 1387, là người con trai của vua Parachanh và là em trai của Pôsahinư. PôDam sinh được hai người con trai là PôkaBih và PôkaBrah. PôkaBrah được lập đền thờ tại thôn Vĩnh Hanh thuộc xã Phú Lạc, còn PôkaBih được lập đền thờ tại ruộng Cây Táo của hợp tác nông nghiệp thôn Lạc Trị, xã Phú Lạc. Tháp PôDam Năm Bính Dần 1446, PôDam lên làm vua tại Bạt Thi Nưng (Khánh Hoà), đến năm 1472 ông thoái vị. Khi PôDam qua đời, người dân đã tôn ông thành thần lấy tên hiệu là PôDam. Bà con dân tộc Chăm vì muốn tưởng nhớ đến công ơn của Ngài nên đã xây tháp thờ phụng Ngài. Đối với người Chăm nơi đây, PôDam đã có công lớn trong việc hướng dẫn và giúp đỡ người dân khai hoang đất đai, khai mương, đắp đập để sản xuất nông nghiệp. Nhóm đền tháp Po Dam hay Pô Tằm, được xây dựng vào thế kỷ thứ IX, mang phong cách Hòa Lai, là một công trình kiến trúc mang phong cách nghệ thuật sớm của vương quốc Chăm Pa, đã được Nhà nước công nhận là Di tích Văn hóa - Lịch sử của quốc gia từ năm 1996. Nhóm kiến trúc này gồm 6 tòa tháp, hiện nay đã có 2 tháp bị đổ, số còn lại đang ngày càng xuống cấp trầm trọng. Trong đó, tháp chính là nơi thờ bộ sinh thực khí Linga - Yoni được làm bằng loại đá xanh đen nguyên khối. Có điểm khác biệt với tất cả các tháp Chăm khác, 6 tháp ở đây đều được trổ cửa chính ở hướng Nam. Từ năm 1995 đến năm 1998, tháp chính đã được trùng tu và tôn tạo lại nhằm gìn giữ những nét kiến trúc nghệ thuật cổ, độc đáo mang phong cách Hòa Lai. Sau này, các đời vua của dưới triều Nguyễn đã tặng cho vua Po Dam tám sắc phong để ghi nhận công đức vô lượng của Ngài trong việc thiết lập nênhệ thống thủy lợi nổi tiếng. Lễ hội Po Dam tại Bình Thuận Đây cũng chính là nơi người Chăm thực hiện các nghi lễ tôn giáo quan trọng như: lễ Tống ôn, Cầu đảo, Cầu mưa... trong đó lễ hội Ka tê là một trong những lễ hội lớn nhất của đồng bào Chăm. Ngoài phần lễ ra còn có phần hội với các hoạt động như múa hát, thi đấu thể thao để chào mừng ngày hội do thanh niên nam nữ làng Chăm Phú Lạc tổ chức. Trong Lễ hội PôDa, người dân còn cử hành các phần nghi lễ như: Hành lễ Chà và ra mắt Ngài, Hành lễ gội đền tháp, lễ cúng tế Ngài PôDam để cầu cho một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Sau phần lễ sẽ là phần hội, hàng trăm thanh niên trai tráng sẽ tham gia các trò chơi dân gian như kéo co, đội nước, bịt mắt đập nồi ... Lễ hội PôDam từ lâu đã trở thành một lễ hội văn hóa Chăm truyền thống đặc sắc, và là lễ hội vẫn còn được lưu giữ đến ngày nay với nhiều nghi lễ và tập tục đặc trưng. Các thế hệ con cháu người Chăm vẫn sẽ nâng niu, giữ gìn và tôn tạo bản sắc văn hóa đặc trưng của dân tộc mình./.

Related Figures

Hội đền Dinh Thầy Thím

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 14/9- 16/9 Âm lịch Hàng năm, hội đền Dinh Thầy Thím thường được tổ chức từ ngày 14 đến ngày 16 tháng 9 âm lịch, tại Thị Xã La Gi của huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận nhằm tôn vinh đôi vợ chồng đã có công chữa bệnh cho những người dân nghèo, là Thầy và Thím. Cổng Dinh Thầy-Thím Theo tích xưa kể lại: vào đời vua Gia Long thứ 2, ở Quảng Nam có một vị đạo sĩ có phép thuật cao siêu và giàu lòng nhân ái. Ông thường giúp dân cầu mưa, di dời đình từ làng bên sang làng mình. Nhưng cũng chính vì việc dời đình đã khiến ông bị vua phạt tội trộm đình và phải treo cổ kết liễu đời mình, nhưng bất ngờ thay khi ông cầm tấm lụa đào trên tay và múa thì tấm lụa đào bỗng nhiên biến thành một con rồng. Con rồng này đã đưa vợ chồng ông đến Tam Tân (chính là xã Tân Tiến thuộc thị xã La Gi ngày nay), Bình Thuận. Tại đây, ông mưu sinh bằng nghề đóng ghe, đốn củi và bốc thuốc chữa bệnh cho những người nghèo… Chính vì vậy, người dân nơi đây đã gọi vợ chồng ông là Thầy và Thím. Người ta nói rằng Thầy có phép “Sái đậu thành binh” tức là gieo đậu biến thành binh lính, khi ông đóng thuyền, mọi người đều nghe thấy tiếng chặt cây, tiếng đục đẽo cả ngày, tuy nhiên khi đến nơi thì không thấy gì, chỉ thấy một mình Thầy. Dân gian còn kể nhiều câu chuyện về tấm lòng nhân ái, độ lượng của Thầy như ra tay trừng phạt kẻ lái buôn gạo gian ác bắt chẹt người dân nghèo, cứu giúp người dân chài trong các trận sóng to gió lớn, chữa bệnh nan y cho nhiều người, Ngoài ra, thầy còn cảm hóa được nhiều loại thú rừng hung dữ… Hội đền Dinh Thầy Thím tại Bình Thuận Khi Thầy và Thím qua đời, người dân biết được tin thì thấy hai ngôi mộ của vợ chồng Thầy đã được thú dữ đắp xong rồi. Và từ đó, cứ đến ngày mồng 5 tháng giêng lại có một đôi bạch và hắc hổ đến tảo mộ của ông bà. Để tỏ lòng biết ơn công đức vô lượng của Thầy và Thím, người dân nơi đây đã cùng chung sức lập nên đền thờ Thầy - Thím. Vào ngày rằm tháng 9 âm lịch hàng năm, người dân sẽ tổ chức Lễ tế Thầy - Thím và cho đến nay lễ hội này đã duy trì được 100 năm. Sau khi Thầy - Thím qua đời, vua Thành Thái sau khi biết được những nghĩa cử cao đẹp vợ chồng ông liền xét lại án trước đây, sau đó ban sắc phong Thầy và Thím là Chí đức tiên sinh và chí đức nương nương và được tôn là thần. Lễ rước kiệu trong ngày Hội đền Dinh Thầy Thím Hàng năm vào hai dịp hội Dinh Thầy - Thím, lễ tế Xuân vào ngày mồng 5 tháng giêng âm lịch và lễ Tế Thu diễn ra vào ngày 14 và 15 tháng Chín âm lịch, lễ hội sôi nổi với nhiều sinh hoạt văn hóa đặc sắc như: diễn xướng tích thầy, chèo bả trạo, biểu diễn võ thuật, thả chim về rừng, múa lân, rước xe hoa trang trí... Lễ tế hàng năm ở dinh Thầy - Thím thực sự trở thành ngày hội văn hóa cổ truyền lớn của La Gi. Tiết mục múa rồng đặc sắc và hoành tráng

Hàng năm, hội đền Dinh Thầy Thím thường được tổ chức từ ngày 14 đến ngày 16 tháng 9 âm lịch, tại Thị Xã La Gi của huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận nhằm tôn vinh đôi vợ chồng đã có công chữa bệnh cho những người dân nghèo, là Thầy và Thím.

Cổng Dinh Thầy-Thím

Theo tích xưa kể lại: vào đời vua Gia Long thứ 2, ở Quảng Nam có một vị đạo sĩ có phép thuật cao siêu và giàu lòng nhân ái. Ông thường giúp dân cầu mưa, di dời đình từ làng bên sang làng mình. Nhưng cũng chính vì việc dời đình đã khiến ông bị vua phạt tội trộm đình và phải treo cổ kết liễu đời mình, nhưng bất ngờ thay khi ông cầm tấm lụa đào trên tay và múa thì tấm lụa đào bỗng nhiên biến thành một con rồng. Con rồng này đã đưa vợ chồng ông đến Tam Tân (chính là xã Tân Tiến thuộc thị xã La Gi ngày nay), Bình Thuận. Tại đây, ông mưu sinh bằng nghề đóng ghe, đốn củi và bốc thuốc chữa bệnh cho những người nghèo… Chính vì vậy, người dân nơi đây đã gọi vợ chồng ông là Thầy và Thím. Người ta nói rằng Thầy có phép “Sái đậu thành binh” tức là gieo đậu biến thành binh lính, khi ông đóng thuyền, mọi người đều nghe thấy tiếng chặt cây, tiếng đục đẽo cả ngày, tuy nhiên khi đến nơi thì không thấy gì, chỉ thấy một mình Thầy. Dân gian còn kể nhiều câu chuyện về tấm lòng nhân ái, độ lượng của Thầy như ra tay trừng phạt kẻ lái buôn gạo gian ác bắt chẹt người dân nghèo, cứu giúp người dân chài trong các trận sóng to gió lớn, chữa bệnh nan y cho nhiều người, Ngoài ra, thầy còn cảm hóa được nhiều loại thú rừng hung dữ… Hội đền Dinh Thầy Thím tại Bình Thuận Khi Thầy và Thím qua đời, người dân biết được tin thì thấy hai ngôi mộ của vợ chồng Thầy đã được thú dữ đắp xong rồi. Và từ đó, cứ đến ngày mồng 5 tháng giêng lại có một đôi bạch và hắc hổ đến tảo mộ của ông bà. Để tỏ lòng biết ơn công đức vô lượng của Thầy và Thím, người dân nơi đây đã cùng chung sức lập nên đền thờ Thầy - Thím. Vào ngày rằm tháng 9 âm lịch hàng năm, người dân sẽ tổ chức Lễ tế Thầy - Thím và cho đến nay lễ hội này đã duy trì được 100 năm. Sau khi Thầy - Thím qua đời, vua Thành Thái sau khi biết được những nghĩa cử cao đẹp vợ chồng ông liền xét lại án trước đây, sau đó ban sắc phong Thầy và Thím là Chí đức tiên sinh và chí đức nương nương và được tôn là thần. Lễ rước kiệu trong ngày Hội đền Dinh Thầy Thím Hàng năm vào hai dịp hội Dinh Thầy - Thím, lễ tế Xuân vào ngày mồng 5 tháng giêng âm lịch và lễ Tế Thu diễn ra vào ngày 14 và 15 tháng Chín âm lịch, lễ hội sôi nổi với nhiều sinh hoạt văn hóa đặc sắc như: diễn xướng tích thầy, chèo bả trạo, biểu diễn võ thuật, thả chim về rừng, múa lân, rước xe hoa trang trí... Lễ tế hàng năm ở dinh Thầy - Thím thực sự trở thành ngày hội văn hóa cổ truyền lớn của La Gi. Tiết mục múa rồng đặc sắc và hoành tráng

Related Figures

Lễ hội Mbăng Katê của người Chăm

Thông tin thời kỳ

Lễ hội Mbăng Katê của đồng bào người Chăm, là một lễ hội có quy mô lớn và đã được duy trì từ khá lâu. Đây cũng chính là dịp để đồng bào Chăm tưởng nhớ lại công lao của các anh hùng liệt sĩ, nữ thần Pô Nagar, các vị thần linh, và các vị vua đã khai mở nền nông nghiệp như Poo Rômê, Pô Klông Girai đã được thần hóa và cúng ông bà, tổ tiên. Lễ Mbăng Katê diễn ra vào đầu tháng 7 theo lịch của người Chăm, tại các tháp, lăng Pô Klông Mơnai (Phan Rí) và các hộ gia đình tự tổ chức lễ cúng tổ tiên trong suốt 3 ngày. Lễ hội Mbăng Katê của người Chăm tại Bình Thuận Lễ hội Mbăng Katê được tổ chức rất long trọng, các già làng của người Raglai sinh sống ở khu Đông Trường Sơn thuộc địa phận tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Khánh Hòa sẽ dẫn các đoàn người xuống đây để tham gia tổ chức lễ. Vào những năm người dân được mùa, đoàn người Raglai xuống dự lại càng đông hơn. Họ mang theo cả vương miện, y phục của đức vua Chăm cùng các bảo vật và nhiều phẩm vật dâng cúng cùng quy tụ về lăng, tháp để dâng lễ vật lên các thần. Ông Jơngưi là người dẫn đầu đoàn người Raglai về dự lễ. Người chủ lễ là thầy Cả Pasêh và cùng với sự trợ giúp của các ông Chăm như: ông Kadhar là thầy kéo đàn Kanhi và phụ trách hát lễ ca, ông Muk Pajâu là người dâng lễ vật. Vào đêm cuối của tháng 6, ông thầy Cả Pasêh cùng các thành viên trong ban lễ sẽ làm lễ tại Danok, họ để xin được thỉnh lễ phục và đưa các đồ lễ đã chuẩn bị lên lăng, tháp. Vật phẩm dâng cúng gồm có rượu, trứng gà, bánh, trái cây, trầu. Sau khi ông chủ lễ khấn xong, ông Kadhar cũng bắt đầu kéo đàn và hát để ca ngợi công đức của các nhà vua và các vị anh hùng. Ông Muk Pajâu là người chịu trách nhiệm dâng lễ vật. Sau đó, các ông Chăm nay cùng ông Jơngưi sẽ bước lên khấn mừng thần. Những người đi theo sẽ khấn cầu theo ý nguyện của mình, sau khi khấn xong sẽ đến màn múa dâng lễ. Lễ thỉnh y phục diễn ra rất lâu, thường kéo dài đến đêm khuya mới chấm dứt. Người Chăm múa hát rộn ràng trong ngày hội Mbăng Katê Sáng ngày hôm sau, lễ rước y phục của nhà vua từ dank (nơi để đồ lễ của nhà vua) lên tháp, lăng sẽ được cử hành. Phần lễ và phần hội được cử hành song song, theo một trình tự đã định sẵn như: lễ mở cửa tháp Pơh Yang để đoàn lễ vào trong, lễ tẩy uế tượng của vua Pamưnay Yang, lễ dâng lễ phục lên vua... Ông Kadhar sẽ hát lễ ca, theo sau sẽ có một đoàn thiếu nữ, họ vừa đi vừa múa quạt trong nền nhạc rộn ràng và tươi vui... Vì thế cuộc lễ có lúc cũng kéo dài vài tiếng đồng hồ. Trong khi đó, khách đến hành lễ sẽ tập hợp từng nhóm quanh khuôn viên đền tháp: Chỗ này hát lễ, chỗ kia cầu kinh, người thì dâng cúng, chỗ thì đàn hát, ngâm thơ... Ai đói thì sẽ soạn đồ ăn mang theo và ăn tại chỗ. Có chỗ thì những người lâu ngày mới gặp nhau, họ tập hợp lại với nhau lại để hàn huyên... một số thiếu nữ lại đến để xin chữ nghĩa của thần... Vào khoảng 3 đến 4 giờ chiều thì lễ cúng ở lăng, tháp sẽ kết thúc. Các đoàn người lần lượt rời khỏi lăng, tháp trở về các xóm, các làng... Những người Chăm tín ngưỡng Bà La Môn bắt tay vào công việc tổ chức thờ cúng ông bà, tổ tiên tại nhà. Lúc này, người ta đến thăm viếng nhau, họ cùng vui chơi, vag làm những món ăn đặc trưng của dân tộc để đãi khách. Nhiều trò vui chơi cũng được tổ chức rất sôi động, đã lôi cuốn nhiều người tham dự... cứ như thế cuộc vui chơi đã diễn ra trong 3 ngày liền. Nếu có dịp, bạn hãy về Phan Rí một lần để được chiêm ngưỡng nét đẹp trong lễ hội Mbăng Katê và được thưởng thức những món ăn đặc trưng của người Chăm. Lễ hội Mbăng Katê là một trong những lễ hội lớn nhất của đồng bào người Chăm

Lễ hội Mbăng Katê của đồng bào người Chăm, là một lễ hội có quy mô lớn và đã được duy trì từ khá lâu. Đây cũng chính là dịp để đồng bào Chăm tưởng nhớ lại công lao của các anh hùng liệt sĩ, nữ thần Pô Nagar, các vị thần linh, và các vị vua đã khai mở nền nông nghiệp như Poo Rômê, Pô Klông Girai đã được thần hóa và cúng ông bà, tổ tiên. Lễ Mbăng Katê diễn ra vào đầu tháng 7 theo lịch của người Chăm, tại các tháp, lăng Pô Klông Mơnai (Phan Rí) và các hộ gia đình tự tổ chức lễ cúng tổ tiên trong suốt 3 ngày.

Lễ hội Mbăng Katê của người Chăm tại Bình Thuận

Lễ hội Mbăng Katê được tổ chức rất long trọng, các già làng của người Raglai sinh sống ở khu Đông Trường Sơn thuộc địa phận tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Khánh Hòa sẽ dẫn các đoàn người xuống đây để tham gia tổ chức lễ. Vào những năm người dân được mùa, đoàn người Raglai xuống dự lại càng đông hơn. Họ mang theo cả vương miện, y phục của đức vua Chăm cùng các bảo vật và nhiều phẩm vật dâng cúng cùng quy tụ về lăng, tháp để dâng lễ vật lên các thần. Ông Jơngưi là người dẫn đầu đoàn người Raglai về dự lễ. Người chủ lễ là thầy Cả Pasêh và cùng với sự trợ giúp của các ông Chăm như: ông Kadhar là thầy kéo đàn Kanhi và phụ trách hát lễ ca, ông Muk Pajâu là người dâng lễ vật. Vào đêm cuối của tháng 6, ông thầy Cả Pasêh cùng các thành viên trong ban lễ sẽ làm lễ tại Danok, họ để xin được thỉnh lễ phục và đưa các đồ lễ đã chuẩn bị lên lăng, tháp. Vật phẩm dâng cúng gồm có rượu, trứng gà, bánh, trái cây, trầu. Sau khi ông chủ lễ khấn xong, ông Kadhar cũng bắt đầu kéo đàn và hát để ca ngợi công đức của các nhà vua và các vị anh hùng. Ông Muk Pajâu là người chịu trách nhiệm dâng lễ vật. Sau đó, các ông Chăm nay cùng ông Jơngưi sẽ bước lên khấn mừng thần. Những người đi theo sẽ khấn cầu theo ý nguyện của mình, sau khi khấn xong sẽ đến màn múa dâng lễ. Lễ thỉnh y phục diễn ra rất lâu, thường kéo dài đến đêm khuya mới chấm dứt. Người Chăm múa hát rộn ràng trong ngày hội Mbăng Katê Sáng ngày hôm sau, lễ rước y phục của nhà vua từ dank (nơi để đồ lễ của nhà vua) lên tháp, lăng sẽ được cử hành. Phần lễ và phần hội được cử hành song song, theo một trình tự đã định sẵn như: lễ mở cửa tháp Pơh Yang để đoàn lễ vào trong, lễ tẩy uế tượng của vua Pamưnay Yang, lễ dâng lễ phục lên vua... Ông Kadhar sẽ hát lễ ca, theo sau sẽ có một đoàn thiếu nữ, họ vừa đi vừa múa quạt trong nền nhạc rộn ràng và tươi vui... Vì thế cuộc lễ có lúc cũng kéo dài vài tiếng đồng hồ. Trong khi đó, khách đến hành lễ sẽ tập hợp từng nhóm quanh khuôn viên đền tháp: Chỗ này hát lễ, chỗ kia cầu kinh, người thì dâng cúng, chỗ thì đàn hát, ngâm thơ... Ai đói thì sẽ soạn đồ ăn mang theo và ăn tại chỗ. Có chỗ thì những người lâu ngày mới gặp nhau, họ tập hợp lại với nhau lại để hàn huyên... một số thiếu nữ lại đến để xin chữ nghĩa của thần... Vào khoảng 3 đến 4 giờ chiều thì lễ cúng ở lăng, tháp sẽ kết thúc. Các đoàn người lần lượt rời khỏi lăng, tháp trở về các xóm, các làng... Những người Chăm tín ngưỡng Bà La Môn bắt tay vào công việc tổ chức thờ cúng ông bà, tổ tiên tại nhà. Lúc này, người ta đến thăm viếng nhau, họ cùng vui chơi, vag làm những món ăn đặc trưng của dân tộc để đãi khách. Nhiều trò vui chơi cũng được tổ chức rất sôi động, đã lôi cuốn nhiều người tham dự... cứ như thế cuộc vui chơi đã diễn ra trong 3 ngày liền. Nếu có dịp, bạn hãy về Phan Rí một lần để được chiêm ngưỡng nét đẹp trong lễ hội Mbăng Katê và được thưởng thức những món ăn đặc trưng của người Chăm. Lễ hội Mbăng Katê là một trong những lễ hội lớn nhất của đồng bào người Chăm

Người Chăm múa hát rộn ràng trong ngày hội Mbăng Katê

Related Figures

Lễ hội “Quay đầu trâu” mừng lúa mới của người S’tiêng

Thông tin thời kỳ

Lễ hội “Quay đầu trâu” là một nghi lễ lớn nhất của người S’tiêng sinh sống ở vùng Bù Đăng thuộc tỉnh Bình Phước. Đây cũng chính là dịp để đồng bào người S’tiêng tổ chức ăn tết và cúng tạ ơn các Yàng, cầu mong cho muôn vật sinh sôi nảy nở, người dân đồng bào S’tiêng được bình an. Khi gia chủ đã chuẩn bị xong các công việc cơ bản, họ sẽ tổ chức đi đón các vị khách quý từ các sóc hoặc người trong dòng họ từ nơi khác đến. Đi đến giữa đường gặp nhau, bên chủ và bên khách sẽ tổ chức đấu khêl (khiên), trong tiếng cồng, chiêng vong vọng và tiếng reo hò cỗ vũ của người dân. Những dũng sĩ bên chủ nhà và bên khách bắt đầu cuộc đấu khêl trong tiếng reo hò náo nhiệt, và sự thân thiện với tinh thần giao lưu hoà hợp. Có thể nói đây là một nghi thức truyền thống độc đáo của người S’tiêng nhằm ôn lại truyền thống kiên cường đấu tranh chống lại kẻ thù của tiền nhân đã có từ xa xưa. Sau khi nghi lễ đấu khêl kết thúc, chủ nhà sẽ mời khách vào nhà và làm lễ chính thức, sau đó sẽ đãi tiệc. Người S’tiêng quây quần bên bình rượu cần trong ngày lễ Gia chủ lấy 1 cây nêu nhỏ và 1 chén rượu cần đặt ngay dưới kho lúa. Họ khấn gọi mẹ lúa về nhà nghỉ ngơi sau một năm sinh đẻ vất vả. Sau đó họ mời gọi các yàng: suối, sông, trời, đất… về để tỏ lòng cảm ơn và thiết đãi các lễ vật. Sau khi các nghi thức trên kết thúc thì tiến hành đâm trâu, lấy máu tươi của trâu bôi lên cây ở kho lúa và các đồ vật khác… Thịt trâu sẽ được mang đi chế biến, chủ nhà rót rượu cần, bày cơm lam và các món đặc trưng mời những vị khách cùng ngồi xuống khấn cầu cho mối quan hệ của họ mãi mãi được bền chặt. Ai làm trái lời nguyền sẽ chịu sự trừng phạt của thần linh. Họ khấn cầu cho gia đình, cho cộng đồng, cho sóc có được cuộc sống yên bình, no đủ. Rượu cần sau khi được rót vào đinh tul khâl yun, chủ nhà sẽ uống trước, sau đó mời khách và cứ truyền nhau cho đến hết những người lớn tuổi. Chỉ cang rượu cần đầu tiên là mang tính nghi thức còn những cang sau thì ai thích uống bao nhiêu thì uống, không ép buộc. Men rượu sẽ làm con người thăng hoa hơn, khiến họ gần gũi với thần linh hơn và cũng trở nên chân thật hơn bao giờ hết. Cây nêu, rượu cần, phẩm vật hiến tế giống như chiếc cầu nối vô hình để con người, trời đất và thần linh giao hòa với nhau. Để con người có cơ hội được giãi bày những tâm sự, được nói lên những ước nguyện của mình. Tình bạn, tình người, tình yêu cũng đều nảy nở từ đây. Tính chất của lễ hội này và những cang rượu cần giống như một sợi dây vô hình đã thắt chặt tình đoàn kết cộng đồng người S’tiêng với nhau và giữa người S’tiêng với các dân tộc anh em khác. Đây cũng là một yếu tố nhân văn ngàn đời của người S’tiêng để có thêm sức mạnh khiến họ mạnh mẽ vượt qua những khó khăn trong cuộc sống, trong lao động sản xuất và trong chiến đấu./. Trong ngày lễ mừng lúa mới của người S’tiêng sẽ có hội đâm trâu

Related Figures

Lễ hội chùa Bà Thiên Hậu

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 13/1- 15/1 Âm lịch Lễ hội chùa Bà Thiên Hậu diễn ra trong 3 ngày, từ ngày 13 đến 15 tháng Giêng âm lịch hàng năm, tại Chùa Bà Thiên Hậu ở thị xã Thủ Dầu, tỉnh Bình Dương. Ngôi chùa này thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu, vị nữ thần đã được người dân ở khu vực Châu Á thờ phụng. Hàng nghìn người về Bình Dương tham dự Lễ hội chùa Bà Thiên Hậu Theo truyền thuyết lưu truyền được ghi trên tấm bia đá đặt tại chùa, Bà Thiên Hậu sinh vào thời nhà Tống Kiến Long nguyên niên( tức Công nguyên 960), là người con thứ 6 của gia đình họ Lâm sinh sống tại huyện Bồ Điền, tỉnh Phúc Kiến của Trung Quốc. Khi mới sinh ra, thân thể bà đã toả ra ánh hào quang và hương thơm ngát. Bà được người dân ca ngợi là một người phụ nữ đức hạnh, có lòng hiếu thảo với cha mẹ, và tấm lòng từ bi dám xả thân cứu người. Khi chết bà trở thành hiển linh, được các triều đại phong kiến ở Trung Quốc phong tặng. Đời Nguyên, Bà được phong vị là Thiên Phi, đời Thanh vua Khang Hy đã gia phong bà làm Thiên Hậu. Và danh hiệu Thiên Hậu đã tồn tại mãi cho đến ngày nay. Một bộ phận người gốc Hoa sau khi di cư từ Trung Quốc sang Việt Nam định cư, sau khi ổn định đời sống, họ sum họp đông vui và làm ăn phát đạt trên mảnh đất Việt, họ đã cùng nhau lập nên đền thờ Bà để bày tỏ lòng biết ơn sâu xa đối với Bà. Đoàn múa rồng hoành tráng Hàng năm, lễ hội chùa Bà được tổ chức quy mô lớn, rất long trọng: Đêm ngày 13 tháng Giêng âm lịch, người dân ở thị xã Thủ Dầu Một sẽ bày một cái bàn ra trước nhà để dâng lễ vật cúng tế chuẩn bị cho nghi lễ rước Bà vào ngày hôm sau. Dân chúng từ các vùng lân cận và khách thập phương cũng đổ về đây xem hội khá đông. Sáng ngày 14 lễ rước Bà được cử hành theo nghi thức cổ truyền: kiệu Bà sẽ được rước diễu hành khắp các tuyến phố cùng với các đội múa lân, múa rồng, sư tử, và cờ xí ngợp trời. Ngày 15 dân chúng sẽ kéo nhau về chùa Bà để dâng, dâng lễ cúng vái cầu phúc, cầu lộc, cầu bình an cho năm mới. Ngày hội rằm tháng Giêng hàng năm tại Chùa Bà thuộc thị xã Thủ Dầu Một đã trở thành một ngày hội lớn của những người dân gốc Hoa ở Nam Bộ. Lễ hội cũng là nơi tăng cường tình đoàn kết, gắn bó của hai dân tộc và cũng là một nét văn hóa chung của dân tộc Việt Nam. Nơi chánh điện của Chùa Bà Thiên Hậu

Lễ hội chùa Bà Thiên Hậu diễn ra trong 3 ngày, từ ngày 13 đến 15 tháng Giêng âm lịch hàng năm, tại Chùa Bà Thiên Hậu ở thị xã Thủ Dầu, tỉnh Bình Dương. Ngôi chùa này thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu, vị nữ thần đã được người dân ở khu vực Châu Á thờ phụng.

Hàng nghìn người về Bình Dương tham dự Lễ hội chùa Bà Thiên Hậu

Theo truyền thuyết lưu truyền được ghi trên tấm bia đá đặt tại chùa, Bà Thiên Hậu sinh vào thời nhà Tống Kiến Long nguyên niên( tức Công nguyên 960), là người con thứ 6 của gia đình họ Lâm sinh sống tại huyện Bồ Điền, tỉnh Phúc Kiến của Trung Quốc. Khi mới sinh ra, thân thể bà đã toả ra ánh hào quang và hương thơm ngát. Bà được người dân ca ngợi là một người phụ nữ đức hạnh, có lòng hiếu thảo với cha mẹ, và tấm lòng từ bi dám xả thân cứu người. Khi chết bà trở thành hiển linh, được các triều đại phong kiến ở Trung Quốc phong tặng. Đời Nguyên, Bà được phong vị là Thiên Phi, đời Thanh vua Khang Hy đã gia phong bà làm Thiên Hậu. Và danh hiệu Thiên Hậu đã tồn tại mãi cho đến ngày nay. Một bộ phận người gốc Hoa sau khi di cư từ Trung Quốc sang Việt Nam định cư, sau khi ổn định đời sống, họ sum họp đông vui và làm ăn phát đạt trên mảnh đất Việt, họ đã cùng nhau lập nên đền thờ Bà để bày tỏ lòng biết ơn sâu xa đối với Bà. Đoàn múa rồng hoành tráng Hàng năm, lễ hội chùa Bà được tổ chức quy mô lớn, rất long trọng: Đêm ngày 13 tháng Giêng âm lịch, người dân ở thị xã Thủ Dầu Một sẽ bày một cái bàn ra trước nhà để dâng lễ vật cúng tế chuẩn bị cho nghi lễ rước Bà vào ngày hôm sau. Dân chúng từ các vùng lân cận và khách thập phương cũng đổ về đây xem hội khá đông. Sáng ngày 14 lễ rước Bà được cử hành theo nghi thức cổ truyền: kiệu Bà sẽ được rước diễu hành khắp các tuyến phố cùng với các đội múa lân, múa rồng, sư tử, và cờ xí ngợp trời. Ngày 15 dân chúng sẽ kéo nhau về chùa Bà để dâng, dâng lễ cúng vái cầu phúc, cầu lộc, cầu bình an cho năm mới. Ngày hội rằm tháng Giêng hàng năm tại Chùa Bà thuộc thị xã Thủ Dầu Một đã trở thành một ngày hội lớn của những người dân gốc Hoa ở Nam Bộ. Lễ hội cũng là nơi tăng cường tình đoàn kết, gắn bó của hai dân tộc và cũng là một nét văn hóa chung của dân tộc Việt Nam. Nơi chánh điện của Chùa Bà Thiên Hậu

Đoàn múa rồng hoành tráng

Related Figures

Lễ tết Chol Chnăm Thmây

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 13/3- 15/3 Âm lịch (lehoi.info)- Lễ hội Chôl Chnăm Thmây là một lễ tết cổ truyền mang nghĩa là “Vào năm mới” hay còn được gọi là lễ chịu tuổi, là một lễ Tết lớn nhất trong năm của bà con đồng bào Khmer, được tổ chức từ ngày 13 đến ngày 15 tháng 3 âm lịch hàng năm, tại xã Lộc Khánh, huyện Lộc Hưng (Lộc Ninh), tỉnh Bình Phước. Vào trung tuần tháng tư dương lịch hàng năm, đồng bào người Khmer ở Nam bộ lại tổ chức lễ hội Chôl Chnăm Thmây, hay còn gọi là Lễ vào năm mới, (giống như ngày tết của người Kinh). Theo quan niệm của người dân đồng bào Khmer thì đây là thời điểm giao mùa giữa mùa mưa và mùa nắng. Khoảng thời gian này, cây cỏ đang tươi tốt và thiên nhiên cũng tràn đầy sức sống. Chính sự đâm chồi nẩy lộc của cây cối đã khiến người Khmer quan niệm rằng thời điểm này mới là khởi đầu của một năm mới, còn gọi là Chôl Chnăm Thmây. Sự tích Chôl Chnăm Thmây đã được lưu truyền như sau, xưa kia có một cậu bé tên là Thom Ma Bal, nổi tiếng thông minh, đã đem sự hiểu biết của mình truyền lại cho người dân trong cộng đồng. Dân chúng đã rất thán phục cạu bé và rất thích nghe cậu nói chuyện. Tài trí của Thom Ma Bal càng ngày càng lan rộng đến nơi thượng giới. Các vị thiên thần cũng đã hạ xuống trần gian để xin nghe Thom Ma Bal thuyết giảng. Chính vì vậy, những buổi thuyết giảng của vị thần tên là KaBưl Maha Brưm trên thượng giới càng ngày càng trở nên vắng vẻ. Lễ tết Chol Chnăm Thmây tại Bình Phước Kabưl Maha Brưm là vị thần rất có uy thế nơi thượng giới, chứng kiến cảnh này ông đã lấy làm tức giận. Thần đã truyền gọi hết các vị thiên thần quay trở về, cấm không cho họ xuống trần gian để nghe Thom Ma Bal thuyết giảng. Đồng thời thần Kabưl Maha Brưm còn tìm cách hãm hại cậu bé Thom Ma Bal. Thần Kabưl Maha Brưm đã đưa ra 3 câu đố cho Thom Ma Bal, bắt cậu phải trả lời. Nếu Thom Ma Bal không trả lời được thì phải dâng mạng sống cậu bé cho thần. Nhưng với tài trí của Thom Ma Bal, cậu bé đã trả lời được 3 câu đố của Thần Kabưl Maha Brưm một cách dễ dàng. Và theo lời hứa từ trước thần Kabưl Maha Brưm đã tự cắt đầu của mình. Ngày nay, khi đến bất kỳ ngôi chùa nào của người Khmer, người ta có thể dễ dàng trông thấy tượng đầu thần Ka Bbưl Maha Brưm (Thần Bốn Mặt) được thờ trong các tháp ở trong chùa. Nơi đặt đầu của thần Ka Bbưl Maha Brưm là ở vị trí trung tâm, là bàn thờ chính trong các nghi lễ tôn giáo và các nghi lễ truyền thống được tổ chức trong chùa của người Khmer. Cũng như các lễ Tết cổ truyền của cộng đồng các dân tộc của Việt Nam, Tết Chôl Chnăm Thmây của người Khmer vẫn lưu giữ được nhiều phong tục lễ, Tết mang nét đặc trưng và độc đáo. Với họ, tấm lòng thành kính đối với đức Phật là một đức tin bất di bất dịch, bởi họ cho rằng đức Phật là từ bi nhất. Tết Chôl Chnăm Thmây của người Khmer diễn ra trong 3 ngày, với những theo những nghi lễ cổ truyền sau: Ngày thứ nhất: Người Khmer sẽ chọn ra một giờ tốt (có thể là 7 giờ sáng, 5 giờ chiều, hoặc 12 giờ đêm tùy thuộc theo từng năm), mọi người sẽ tắm gội sạch sẽ , sau đó mặc những bộ quần áo đẹp và mang theo các lễ vật vào chùa để làm lễ rước lịch “Maha Sangkran”. Lễ này do vị Acha hướng dẫn và mọi người thường xếp hàng đi ba vòng quanh chính điện để thực hiện nghi lễ, sau đó sẽ lễ Phật và tụng kinh để mừng năm mới. Đêm xuống, nam thanh nữ tú trong phum, sóc sẽ hội tụ về sân chùa, tham gia các hoạt động vui chơi giải trí, rô-băm, múa dù-kê, lâm-thôl... Ngày thứ hai: Buổi sáng sẽ dành thời gian cho các Phật tử làm lễ dâng cơm lên các sư sãi. Theo tục lệ của nhà chùa, vào ngày sóc, ngày Tết, vọng, lễ... các tín đồ đến chùa lễ Phật phải dâng cơm mời các nhà sư, và đáp lại những mâm cơm ngon các nhà sư sẽ làm lễ tạ ơn cho những ai làm ra hạt thóc, đồng thời đưa những lễ vật thực đến những linh hồn đang bị đói, sau khi ăn các sư sãi sẽ làm lễ chúc phúc cho các Phật tử. Buổi chiều sẽ là lễ đắp núi cát, mỗi người sẽ tìm cho mình mớ cát sạch và mang tới chùa, theo sự chỉ dẫn của vị Acha, tất cả những người đã có mặt tại đây sẽ dùng cát trên tay đắp thành ngọn núi nhỏ ở 9 hướng. Núi cát này là dể tượng trưng cho vũ trụ và núi thứ chín ngày chính giữa là tượng trưng cho trung tâm của thế giới. Tiếp theo sẽ thực hiện phần lễ quy y cho núi, đến ngày hôm sau thì sẽ cử hành nghi lễ xuất thể. Lễ tết Chol Chnăm Thmây của người Khmer được tổ chức linh đình như ngày tết Nguyên Đán của người Kinh Tất cả các nghi lễ này cho đến ngày hôm nay đều được gìn giữ gọi là Anisong Puôn Phnom khsach, ý nghĩa là “Phúc duyên đắp núi cát” - Đây là một tập tục được người dân lưu truyền theo sự tích về một người hành nghề săn bắn, từ lúc trẻ đến khi về già đã giết chết rất nhiều con thú. Ông được một nhà sư dạy cách tích đức bằng cách đắp núi cát, về già người săn hành nghề săn bắn này luôn bị ám ảnh bởi những con thú mà ông đã săn bắn, bất cứ lúc nào ông cũng thấy cảnh tượng những con thú đến đòi mạng ông, nhưng nhờ tích đức từ việc đắp những núi cát nên ông đã tỉnh táo và bảo các loài muông thú hãy đi đến hết những núi cát mà ông đã đắp, sau đó hãy tìm đến ông đòi nợ. Nhưng vì ông đã đắp quá nhiều núi cát nên các loài muông thú đã không tài nào đi hết được, nên bọn chúng kéo phải nhau đi và từ đó ông thợ săn già đã cố gắng tích đức cho đến một ngày ông từ giã cõi trần về với cõi Phật. Ngày Tết thứ ba còn là ngày lễ tắm Phật: Lễ này thường diễn ra sau khi các tín đồ Phật tử đã dâng cơm sáng và trưa lên cho các nhà sư. Lễ được cử hành theo nghi lễ là dùng loại nước tinh khiết có ướp nước hoa , sau đó cùng nhang đèn để cúng Phật. Họ dùng những nhành hoa này vẫy những giọt nước tinh khiết trên hoa lên tượng Phật, sau đó là cử hành tắm cho các nhà sư cao niên. Tiếp đó, các nhà sư sẽ đi lên những ngôi tháp dựng hài cốt và các nghĩa trang để làm lễ cầu siêu cho vong linh của những người đã khuất và cuối cùng sẽ cử hành lễ tắm tượng Phật tại gia. Sau khi nghi lễ kết thúc, các con cháu sẽ mời ông bà, cha mẹ đến để cùng tạ lễ, xin tha thứ cho những lỗi lầm và thiếu sót trong năm vừa qua, để sang năm mới mọi người trong gia đình có thể hòa thuận hơn. Sau 3 ngày lễ Tết, các sinh hoạt của cộng đồng người Khmer ở Bình Phước lại trở lại bình thường và chuẩn bị sẵn sàng bước vào vụ mùa mới. Trong những ngày Tết Chôl Chnăm Thmây, người dân Khmer có làm bánh tét và mang theo hoa quả đến chùa để cúng dường với mong muốn cầu may mắn và hạnh phúc trong cuộc sống. Cùng với lễ Tết cổ truyền của cộng đồng các dân tộc khác tại Việt Nam, Tết Chôl Chnăm Thmây của cộng đồng người Khmer vẫn còn lưu giữ được khá nhiều phong tục lễ, Tết vô cùng độc đáo.

(lehoi.info)- Lễ hội Chôl Chnăm Thmây là một lễ tết cổ truyền mang nghĩa là “Vào năm mới” hay còn được gọi là lễ chịu tuổi, là một lễ Tết lớn nhất trong năm của bà con đồng bào Khmer, được tổ chức từ ngày 13 đến ngày 15 tháng 3 âm lịch hàng năm, tại xã Lộc Khánh, huyện Lộc Hưng (Lộc Ninh), tỉnh Bình Phước.

Vào trung tuần tháng tư dương lịch hàng năm, đồng bào người Khmer ở Nam bộ lại tổ chức lễ hội Chôl Chnăm Thmây, hay còn gọi là Lễ vào năm mới, (giống như ngày tết của người Kinh). Theo quan niệm của người dân đồng bào Khmer thì đây là thời điểm giao mùa giữa mùa mưa và mùa nắng. Khoảng thời gian này, cây cỏ đang tươi tốt và thiên nhiên cũng tràn đầy sức sống. Chính sự đâm chồi nẩy lộc của cây cối đã khiến người Khmer quan niệm rằng thời điểm này mới là khởi đầu của một năm mới, còn gọi là Chôl Chnăm Thmây. Sự tích Chôl Chnăm Thmây đã được lưu truyền như sau, xưa kia có một cậu bé tên là Thom Ma Bal, nổi tiếng thông minh, đã đem sự hiểu biết của mình truyền lại cho người dân trong cộng đồng. Dân chúng đã rất thán phục cạu bé và rất thích nghe cậu nói chuyện. Tài trí của Thom Ma Bal càng ngày càng lan rộng đến nơi thượng giới. Các vị thiên thần cũng đã hạ xuống trần gian để xin nghe Thom Ma Bal thuyết giảng. Chính vì vậy, những buổi thuyết giảng của vị thần tên là KaBưl Maha Brưm trên thượng giới càng ngày càng trở nên vắng vẻ. Lễ tết Chol Chnăm Thmây tại Bình Phước Kabưl Maha Brưm là vị thần rất có uy thế nơi thượng giới, chứng kiến cảnh này ông đã lấy làm tức giận. Thần đã truyền gọi hết các vị thiên thần quay trở về, cấm không cho họ xuống trần gian để nghe Thom Ma Bal thuyết giảng. Đồng thời thần Kabưl Maha Brưm còn tìm cách hãm hại cậu bé Thom Ma Bal. Thần Kabưl Maha Brưm đã đưa ra 3 câu đố cho Thom Ma Bal, bắt cậu phải trả lời. Nếu Thom Ma Bal không trả lời được thì phải dâng mạng sống cậu bé cho thần. Nhưng với tài trí của Thom Ma Bal, cậu bé đã trả lời được 3 câu đố của Thần Kabưl Maha Brưm một cách dễ dàng. Và theo lời hứa từ trước thần Kabưl Maha Brưm đã tự cắt đầu của mình. Ngày nay, khi đến bất kỳ ngôi chùa nào của người Khmer, người ta có thể dễ dàng trông thấy tượng đầu thần Ka Bbưl Maha Brưm (Thần Bốn Mặt) được thờ trong các tháp ở trong chùa. Nơi đặt đầu của thần Ka Bbưl Maha Brưm là ở vị trí trung tâm, là bàn thờ chính trong các nghi lễ tôn giáo và các nghi lễ truyền thống được tổ chức trong chùa của người Khmer. Cũng như các lễ Tết cổ truyền của cộng đồng các dân tộc của Việt Nam, Tết Chôl Chnăm Thmây của người Khmer vẫn lưu giữ được nhiều phong tục lễ, Tết mang nét đặc trưng và độc đáo. Với họ, tấm lòng thành kính đối với đức Phật là một đức tin bất di bất dịch, bởi họ cho rằng đức Phật là từ bi nhất. Tết Chôl Chnăm Thmây của người Khmer diễn ra trong 3 ngày, với những theo những nghi lễ cổ truyền sau: Ngày thứ nhất: Người Khmer sẽ chọn ra một giờ tốt (có thể là 7 giờ sáng, 5 giờ chiều, hoặc 12 giờ đêm tùy thuộc theo từng năm), mọi người sẽ tắm gội sạch sẽ , sau đó mặc những bộ quần áo đẹp và mang theo các lễ vật vào chùa để làm lễ rước lịch “Maha Sangkran”. Lễ này do vị Acha hướng dẫn và mọi người thường xếp hàng đi ba vòng quanh chính điện để thực hiện nghi lễ, sau đó sẽ lễ Phật và tụng kinh để mừng năm mới. Đêm xuống, nam thanh nữ tú trong phum, sóc sẽ hội tụ về sân chùa, tham gia các hoạt động vui chơi giải trí, rô-băm, múa dù-kê, lâm-thôl... Ngày thứ hai: Buổi sáng sẽ dành thời gian cho các Phật tử làm lễ dâng cơm lên các sư sãi. Theo tục lệ của nhà chùa, vào ngày sóc, ngày Tết, vọng, lễ... các tín đồ đến chùa lễ Phật phải dâng cơm mời các nhà sư, và đáp lại những mâm cơm ngon các nhà sư sẽ làm lễ tạ ơn cho những ai làm ra hạt thóc, đồng thời đưa những lễ vật thực đến những linh hồn đang bị đói, sau khi ăn các sư sãi sẽ làm lễ chúc phúc cho các Phật tử. Buổi chiều sẽ là lễ đắp núi cát, mỗi người sẽ tìm cho mình mớ cát sạch và mang tới chùa, theo sự chỉ dẫn của vị Acha, tất cả những người đã có mặt tại đây sẽ dùng cát trên tay đắp thành ngọn núi nhỏ ở 9 hướng. Núi cát này là dể tượng trưng cho vũ trụ và núi thứ chín ngày chính giữa là tượng trưng cho trung tâm của thế giới. Tiếp theo sẽ thực hiện phần lễ quy y cho núi, đến ngày hôm sau thì sẽ cử hành nghi lễ xuất thể. Lễ tết Chol Chnăm Thmây của người Khmer được tổ chức linh đình như ngày tết Nguyên Đán của người Kinh Tất cả các nghi lễ này cho đến ngày hôm nay đều được gìn giữ gọi là Anisong Puôn Phnom khsach, ý nghĩa là “Phúc duyên đắp núi cát” - Đây là một tập tục được người dân lưu truyền theo sự tích về một người hành nghề săn bắn, từ lúc trẻ đến khi về già đã giết chết rất nhiều con thú. Ông được một nhà sư dạy cách tích đức bằng cách đắp núi cát, về già người săn hành nghề săn bắn này luôn bị ám ảnh bởi những con thú mà ông đã săn bắn, bất cứ lúc nào ông cũng thấy cảnh tượng những con thú đến đòi mạng ông, nhưng nhờ tích đức từ việc đắp những núi cát nên ông đã tỉnh táo và bảo các loài muông thú hãy đi đến hết những núi cát mà ông đã đắp, sau đó hãy tìm đến ông đòi nợ. Nhưng vì ông đã đắp quá nhiều núi cát nên các loài muông thú đã không tài nào đi hết được, nên bọn chúng kéo phải nhau đi và từ đó ông thợ săn già đã cố gắng tích đức cho đến một ngày ông từ giã cõi trần về với cõi Phật. Ngày Tết thứ ba còn là ngày lễ tắm Phật: Lễ này thường diễn ra sau khi các tín đồ Phật tử đã dâng cơm sáng và trưa lên cho các nhà sư. Lễ được cử hành theo nghi lễ là dùng loại nước tinh khiết có ướp nước hoa , sau đó cùng nhang đèn để cúng Phật. Họ dùng những nhành hoa này vẫy những giọt nước tinh khiết trên hoa lên tượng Phật, sau đó là cử hành tắm cho các nhà sư cao niên. Tiếp đó, các nhà sư sẽ đi lên những ngôi tháp dựng hài cốt và các nghĩa trang để làm lễ cầu siêu cho vong linh của những người đã khuất và cuối cùng sẽ cử hành lễ tắm tượng Phật tại gia. Sau khi nghi lễ kết thúc, các con cháu sẽ mời ông bà, cha mẹ đến để cùng tạ lễ, xin tha thứ cho những lỗi lầm và thiếu sót trong năm vừa qua, để sang năm mới mọi người trong gia đình có thể hòa thuận hơn. Sau 3 ngày lễ Tết, các sinh hoạt của cộng đồng người Khmer ở Bình Phước lại trở lại bình thường và chuẩn bị sẵn sàng bước vào vụ mùa mới. Trong những ngày Tết Chôl Chnăm Thmây, người dân Khmer có làm bánh tét và mang theo hoa quả đến chùa để cúng dường với mong muốn cầu may mắn và hạnh phúc trong cuộc sống. Cùng với lễ Tết cổ truyền của cộng đồng các dân tộc khác tại Việt Nam, Tết Chôl Chnăm Thmây của cộng đồng người Khmer vẫn còn lưu giữ được khá nhiều phong tục lễ, Tết vô cùng độc đáo.

Related Figures

Lễ hội đâm trâu mừng được mùa

Thông tin thời kỳ

Lễ đâm trâu mừng chiến thắng, mừng khánh thành nhà rông, lễ giải điềm xấu điềm gở cho cả buôn làng, làm lễ cầu bình an, cũng có khi là một gia đình nào đó đứng ra tổ chức để bày tỏ lòng thành kính đối với thần linh nhưng tham gia vào lễ hội lại là toàn thể cộng đồng. Lễ hội đâm trâu để ăn mừng được mùa là một trong những lễ hội văn hóa nổi bật nhất. Lễ hội đâm trâu mừng được mùa tại Bình Phước Nghi thức đâm trâu để hiến tế cho thần linh thường được tổ chức ngay trước sân nhà rông hay nơi diễn ra các buổi hội họp của làng. Cây nêu được dựng ngay trước sân chính là biểu tượng của lễ hội, cây nêu này được làm bằng tre, được trang trí những đường nét hoa văn truyền thống, những hình tượng chim thú là hình ảnh tượng trưng cho đồng bào dân tộc. Một số thanh niên khỏe mạnh của làng sẽ mang một chiếc dây thừng được bện bằng vỏ cây thật chắc đi lên rẫy và tìm một con trâu to khỏe nhất bắt mang về cột vào gốc của cây nêu. Già làng là chủ lễ sẽ cúng hồn lúa cùng Giàng, hát bài khóc trâu nghe thật thống thiết... Người dân nơi đây xem máu trâu như một điềm may Buổi lễ diễn ra trong tiếng cồng chiêng sôi động, tiếng kèn và tiếng reo hò của người dân trong bản lại càng làm cho không khí của lễ hội vừa huyền bí vừa náo nhiệt. Dân làng sẽ cử ra một tràng trai khỏe mạnh nhất để đâm trâu, người thanh niên này sẽ đóng khố và cởi trần, già làng sẽ trao cho anh ta một cây lao có một đầu được bịt sắt nhọn, người này sẽ nhảy múa vòng quanh con trâu trong tiếng reo hò của dân làng và tiếng cồng chiêng vang lên như thúc giục, hai thanh niên khác sẽ chặt vào khuỷu chân của con trâu để lấy máu bôi vào cây nêu và chiếc kèn Glet. Sau đó, lễ cúng cho hồn lúa sẽ bắt đầu. Một sợi dây chỉ để tượng trưng cho đường đi được nối từ kho lúa đến đầu của con trâu, già làng sẽ lấy máu trâu pha vào chén rượu rồi đổ vào các bình nước đã chuẩn bị sẵn, sau đó ông lấy nước trong các bình tưới lên kho lúa xem như đang tắm mát cho hồn lúa. Rất đông người dân về xem hội đâm trâu Làm xong nghi lễ này, mọi người sẽ cùng quây quần lai cùng hát múa, uống rượu cần và ăn mừng. Xong lễ người ta sẽ làm thịt trâu và chia thịt cho dân làng mang về để thể hiện sự đoàn kết của người dân trong cộng đồng.

Lễ đâm trâu mừng chiến thắng, mừng khánh thành nhà rông, lễ giải điềm xấu điềm gở cho cả buôn làng, làm lễ cầu bình an, cũng có khi là một gia đình nào đó đứng ra tổ chức để bày tỏ lòng thành kính đối với thần linh nhưng tham gia vào lễ hội lại là toàn thể cộng đồng. Lễ hội đâm trâu để ăn mừng được mùa là một trong những lễ hội văn hóa nổi bật nhất.

Lễ hội đâm trâu mừng được mùa tại Bình Phước

Nghi thức đâm trâu để hiến tế cho thần linh thường được tổ chức ngay trước sân nhà rông hay nơi diễn ra các buổi hội họp của làng. Cây nêu được dựng ngay trước sân chính là biểu tượng của lễ hội, cây nêu này được làm bằng tre, được trang trí những đường nét hoa văn truyền thống, những hình tượng chim thú là hình ảnh tượng trưng cho đồng bào dân tộc. Một số thanh niên khỏe mạnh của làng sẽ mang một chiếc dây thừng được bện bằng vỏ cây thật chắc đi lên rẫy và tìm một con trâu to khỏe nhất bắt mang về cột vào gốc của cây nêu. Già làng là chủ lễ sẽ cúng hồn lúa cùng Giàng, hát bài khóc trâu nghe thật thống thiết... Người dân nơi đây xem máu trâu như một điềm may Buổi lễ diễn ra trong tiếng cồng chiêng sôi động, tiếng kèn và tiếng reo hò của người dân trong bản lại càng làm cho không khí của lễ hội vừa huyền bí vừa náo nhiệt. Dân làng sẽ cử ra một tràng trai khỏe mạnh nhất để đâm trâu, người thanh niên này sẽ đóng khố và cởi trần, già làng sẽ trao cho anh ta một cây lao có một đầu được bịt sắt nhọn, người này sẽ nhảy múa vòng quanh con trâu trong tiếng reo hò của dân làng và tiếng cồng chiêng vang lên như thúc giục, hai thanh niên khác sẽ chặt vào khuỷu chân của con trâu để lấy máu bôi vào cây nêu và chiếc kèn Glet. Sau đó, lễ cúng cho hồn lúa sẽ bắt đầu. Một sợi dây chỉ để tượng trưng cho đường đi được nối từ kho lúa đến đầu của con trâu, già làng sẽ lấy máu trâu pha vào chén rượu rồi đổ vào các bình nước đã chuẩn bị sẵn, sau đó ông lấy nước trong các bình tưới lên kho lúa xem như đang tắm mát cho hồn lúa. Rất đông người dân về xem hội đâm trâu Làm xong nghi lễ này, mọi người sẽ cùng quây quần lai cùng hát múa, uống rượu cần và ăn mừng. Xong lễ người ta sẽ làm thịt trâu và chia thịt cho dân làng mang về để thể hiện sự đoàn kết của người dân trong cộng đồng.

Related Figures

Lễ hội Miếu Ông Bổn của người Hoa

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 2/1 Âm lịch (lehoi.info) - Lễ hội Miếu Ông Bốn được tổ chức hai kỳ cúng lễ hàng năm, một là vào mùa xuân là ngày mồng 2 tháng Giêng âm lịch, và kỳ thứ hai vào mùa thu là ngày mồng 4 tháng Bảy âm lịch. Lễ hội miếu Ông Bổn mang đậm chất văn hóa truyền thống, là dịp tri ân, tỏ lòng biết ơn đối với bậc thánh nhân, là để nhớ về cội nguồn và cầu mong tiền nhân phù hộ cho quốc thái dân an. Lễ rước kiệu các vị thần Lễ hội miếu Ông là lễ hội gắn liền với cuộc sống những người làm nghề lò chén, họ thường coi trọng nơi nhập cư, họ xây chùa và lấy tên vị thần đất (Ông Bổn) nói chung để thờ các vị thánh nhân đã phù hộ cho nghề nghiệp của họ. Đối với bộ phận người Hoa đang sinh sống tại Việt Nam, Ông Bổn mang ý nghĩa là “Ông tổ”, “Bổn” mang ý nghĩa là gốc. Ông Bổn chỉ là một biểu tượng chứ không phải là người cụ thể nào đó. Đa số người Hoa đều có quan niệm rằng “Ông Bổn” chính là “Phước Đức Chánh Thần”. Tuy nhiên mỗi nhóm người Hoa lại có những quan niệm và tín ngưỡng khác nhau về Ông Bổn. Người Hoa gốc Phúc Kiến vốn cư trú ở Chợ Lớn đã được cụ thể hóa là Châu Đạt Quan - là một vị quan thời Nguyên. Người Hoa gốc Triều Châu, Hải Nam ở khu vực miền Tây Nam bộ lại cụ thể hóa ông Tam Bảo Thái Giám Trịnh Hòa - Một người đời Minh. Người Triều Châu cư trú ở Hội An lại cụ thể hóa ông Phục Ba Tướng quân Mã Viện. Người Quảng Đông sống ở Chợ Lớn lại cho Ông Bổn của họ là ông Thần Thổ Địa… tuy nhiên những người Hoa họ Vương gốc Phúc Kiến đang sinh sống tại Bình Dương lại cho rằng Ông Bổn là Huyền Thiên Thượng Đế, còn họ Lý (gốc Triều Châu) lại cho Ông Bổn chính là Ông tổ họ Lý. Huyền Thiên Thượng Đế được coi là một vị thần do Thượng Đế phân thân, còn được gọi là Chơn Võ (Chân Vũ). Trấn Vũ là một vị thần ở núi Võ Đang. Bên cạnh việc thờ Huyền Thiên Thượng Đế, người Hoa họ Vương còn thờ Na Tra Thái Tử, Quan Âm Bồ Tát, Nam Triều Đại Đế. Cổng Miếu Ông Bổn tại Bình Dương Họ Vương thì tôn thờ các vị thần kể trên, trong khi đó họ Lý sinh sống tại Bình Dương lại thờ Ông Bổn, được cho là thủy tổ của các họ: Quách, Tiêu , Lực, Chu, Triệu, Châu và Lý. Đây cũng chính là biểu tượng của người dân nghề. Họ cũng thờ phụng Phước Đức Chánh thần mà họ cho đó là Ông Địa, tức là thần đất đang đai ở địa phương. Có thể kể một số cung điện thờ Ông Bổn của dòng họ Vương tại Bình Dương như: Thủ Dầu Một (xây dựng vào năm 1885), Phước Võ điện thuộc phường Chánh Nghĩa, Ngọc Hư Cung ở thị trấn Lái Thiêu (xây dựng vào khoảng năm1971), Phước Thọ Đường ở xã Hưng Định, Thuận An; Phước Nghĩa Đường tại Tân Phước Khánh, Tân Uyên. Họ Lý thờ phụng Ông Bổn tại một ngôi miếu có tên Phước An Miếu thuộc Chánh Nghĩa, Thủ Dầu Một, được xây dựng vào năm 1980. Miếu này do họ Lý lập nên, ngoài việc thờ phụng Ông tổ của bảy họ như trên, còn có từ đường họ Lý, nên được gọi là Lý Thị Gia Miễu. Cũng tương tự các đền Miếu của người Việt, các miếu thờ Ông Bổn cũng tích hợp thờ đa thần như Bao Công đời Tống, Trương Thiên Sư (Trương Đạo Lăng) đời Hán, Cảnh Chủ Tôn Vương, Cửu Thiên Huyền Nữ, Linh Từ Tôn Vương…. Lễ hội các đền miếu thờ Ông Bổn của tỉnh Bình Dương mang ý nghĩa cúng tổ nghề gốm, tập trung chủ yếu là người Hoa ở địa phương và nhiều nơi khác trong toàn quốc. Lễ hội này của người Hoa tại Bình Dương vẫn giữ được tính chất tín ngưỡng phúc thần, bảo hộ cho người dân và giúp công việc làm ăn của cộng đồng người Hoa ở Bình Dương được tốt hơn. Theo tín ngưỡng của người Hoa, các vị thần Quan Âm Bồ Tát, Huyền Thiên Thượng Đế, Nam Triều Đại Đế và Na Tra Thái Tử vốn không được người dân thờ cố định tại một địa phương nào đó mà phải luân phiên ở các miếu thờ ở Búng, Thủ Dầu Một, Tân Phước Khánh, Lái Thiêu rước về thờ trong một năm và lễ hội sẽ được tổ chức vào ngày 25 tháng Hai âm lịch. Và như vậy, theo tục lệ phải 4 năm mới mở hội một lần. Khách thập phương về dâng hương tại Lễ hội Miếu Ông Bổn Chương trình lễ hội có các nghi thức cúng tế theo Đạo giáo được các thầy pháp chuyên nghiệp cử hành. Kế đó sẽ là lễ rước kiệu của các vị thần, đoàn rước kiệu sẽ đi diễu hàng chục cây số trong suốt cả đêm, đi bao quanh khu vực có dân cư, không khí đám rước hết sức tưng bừng, náo nhiệt và rất hoành tráng. Trong lễ hội còn có múa lân sư rồng, hát Hồ Quảng, múa cù, đặc biệt là điệu múa hẩu luôn thu hút được sự quan tâm của đông đảo người xem. Có thể nói lễ hội miếu Ông Bổn tại tỉnh Bình Dương tuy là một Lễ hội mang những nét đặc trưng của một dòng họ, một bang, một nghề nghiệp nhưng nó cũng đã thu hút được một lượng lớn người Hoa và người Việt cùng tham gia hưởng ứng, đã trở thành một ngày lễ hội lớn năm.

(lehoi.info) - Lễ hội Miếu Ông Bốn được tổ chức hai kỳ cúng lễ hàng năm, một là vào mùa xuân là ngày mồng 2 tháng Giêng âm lịch, và kỳ thứ hai vào mùa thu là ngày mồng 4 tháng Bảy âm lịch. Lễ hội miếu Ông Bổn mang đậm chất văn hóa truyền thống, là dịp tri ân, tỏ lòng biết ơn đối với bậc thánh nhân, là để nhớ về cội nguồn và cầu mong tiền nhân phù hộ cho quốc thái dân an.

Lễ rước kiệu các vị thần

Lễ hội miếu Ông là lễ hội gắn liền với cuộc sống những người làm nghề lò chén, họ thường coi trọng nơi nhập cư, họ xây chùa và lấy tên vị thần đất (Ông Bổn) nói chung để thờ các vị thánh nhân đã phù hộ cho nghề nghiệp của họ. Đối với bộ phận người Hoa đang sinh sống tại Việt Nam, Ông Bổn mang ý nghĩa là “Ông tổ”, “Bổn” mang ý nghĩa là gốc. Ông Bổn chỉ là một biểu tượng chứ không phải là người cụ thể nào đó. Đa số người Hoa đều có quan niệm rằng “Ông Bổn” chính là “Phước Đức Chánh Thần”. Tuy nhiên mỗi nhóm người Hoa lại có những quan niệm và tín ngưỡng khác nhau về Ông Bổn. Người Hoa gốc Phúc Kiến vốn cư trú ở Chợ Lớn đã được cụ thể hóa là Châu Đạt Quan - là một vị quan thời Nguyên. Người Hoa gốc Triều Châu, Hải Nam ở khu vực miền Tây Nam bộ lại cụ thể hóa ông Tam Bảo Thái Giám Trịnh Hòa - Một người đời Minh. Người Triều Châu cư trú ở Hội An lại cụ thể hóa ông Phục Ba Tướng quân Mã Viện. Người Quảng Đông sống ở Chợ Lớn lại cho Ông Bổn của họ là ông Thần Thổ Địa… tuy nhiên những người Hoa họ Vương gốc Phúc Kiến đang sinh sống tại Bình Dương lại cho rằng Ông Bổn là Huyền Thiên Thượng Đế, còn họ Lý (gốc Triều Châu) lại cho Ông Bổn chính là Ông tổ họ Lý. Huyền Thiên Thượng Đế được coi là một vị thần do Thượng Đế phân thân, còn được gọi là Chơn Võ (Chân Vũ). Trấn Vũ là một vị thần ở núi Võ Đang. Bên cạnh việc thờ Huyền Thiên Thượng Đế, người Hoa họ Vương còn thờ Na Tra Thái Tử, Quan Âm Bồ Tát, Nam Triều Đại Đế. Cổng Miếu Ông Bổn tại Bình Dương Họ Vương thì tôn thờ các vị thần kể trên, trong khi đó họ Lý sinh sống tại Bình Dương lại thờ Ông Bổn, được cho là thủy tổ của các họ: Quách, Tiêu , Lực, Chu, Triệu, Châu và Lý. Đây cũng chính là biểu tượng của người dân nghề. Họ cũng thờ phụng Phước Đức Chánh thần mà họ cho đó là Ông Địa, tức là thần đất đang đai ở địa phương. Có thể kể một số cung điện thờ Ông Bổn của dòng họ Vương tại Bình Dương như: Thủ Dầu Một (xây dựng vào năm 1885), Phước Võ điện thuộc phường Chánh Nghĩa, Ngọc Hư Cung ở thị trấn Lái Thiêu (xây dựng vào khoảng năm1971), Phước Thọ Đường ở xã Hưng Định, Thuận An; Phước Nghĩa Đường tại Tân Phước Khánh, Tân Uyên. Họ Lý thờ phụng Ông Bổn tại một ngôi miếu có tên Phước An Miếu thuộc Chánh Nghĩa, Thủ Dầu Một, được xây dựng vào năm 1980. Miếu này do họ Lý lập nên, ngoài việc thờ phụng Ông tổ của bảy họ như trên, còn có từ đường họ Lý, nên được gọi là Lý Thị Gia Miễu. Cũng tương tự các đền Miếu của người Việt, các miếu thờ Ông Bổn cũng tích hợp thờ đa thần như Bao Công đời Tống, Trương Thiên Sư (Trương Đạo Lăng) đời Hán, Cảnh Chủ Tôn Vương, Cửu Thiên Huyền Nữ, Linh Từ Tôn Vương…. Lễ hội các đền miếu thờ Ông Bổn của tỉnh Bình Dương mang ý nghĩa cúng tổ nghề gốm, tập trung chủ yếu là người Hoa ở địa phương và nhiều nơi khác trong toàn quốc. Lễ hội này của người Hoa tại Bình Dương vẫn giữ được tính chất tín ngưỡng phúc thần, bảo hộ cho người dân và giúp công việc làm ăn của cộng đồng người Hoa ở Bình Dương được tốt hơn. Theo tín ngưỡng của người Hoa, các vị thần Quan Âm Bồ Tát, Huyền Thiên Thượng Đế, Nam Triều Đại Đế và Na Tra Thái Tử vốn không được người dân thờ cố định tại một địa phương nào đó mà phải luân phiên ở các miếu thờ ở Búng, Thủ Dầu Một, Tân Phước Khánh, Lái Thiêu rước về thờ trong một năm và lễ hội sẽ được tổ chức vào ngày 25 tháng Hai âm lịch. Và như vậy, theo tục lệ phải 4 năm mới mở hội một lần. Khách thập phương về dâng hương tại Lễ hội Miếu Ông Bổn Chương trình lễ hội có các nghi thức cúng tế theo Đạo giáo được các thầy pháp chuyên nghiệp cử hành. Kế đó sẽ là lễ rước kiệu của các vị thần, đoàn rước kiệu sẽ đi diễu hàng chục cây số trong suốt cả đêm, đi bao quanh khu vực có dân cư, không khí đám rước hết sức tưng bừng, náo nhiệt và rất hoành tráng. Trong lễ hội còn có múa lân sư rồng, hát Hồ Quảng, múa cù, đặc biệt là điệu múa hẩu luôn thu hút được sự quan tâm của đông đảo người xem. Có thể nói lễ hội miếu Ông Bổn tại tỉnh Bình Dương tuy là một Lễ hội mang những nét đặc trưng của một dòng họ, một bang, một nghề nghiệp nhưng nó cũng đã thu hút được một lượng lớn người Hoa và người Việt cùng tham gia hưởng ứng, đã trở thành một ngày lễ hội lớn năm.

Related Figures

Lễ hội Đổ Giàn

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 16/7- 17/7 Âm lịch (lehoi.info) -Đổ giàn là một lễ hội văn hóa do dòng họ người Hoa lĩnh xướng, đã là một lễ hội truyền thống đặc sắc của đất võ Bình Định. Trước đây lễ hội này diễn ra từ ngày rằm cho đến ngày 16 và 17 tháng 7 âm lịch (4 năm sẽ tổ chức một lần) tại Chùa Ngũ Bang Hội Quán của thôn An Thái thuộc xã Nhơn Phúc, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Sau một thời gian dài lễ hội này đã bị lãng quên nhưng giờ đây Sở Văn hóa Thông tin Bình Định đã và đang phối hợp với địa thôn An Thái để khôi phục lại lễ hội với mục đích gìn giữ nét đẹp văn hoá của cùa người dân nơi đất võ. Lễ hội Đổ Giàn tại Bình Định Theo người già trong làng cho biết, lễ hội Đổ giản gồm hai phần : Phần lễ, khoảng 2-3 giờ sáng ngày rằm sẽ bắt đầucử hành lễ rước nước, lấy nước từ sông Kôn, cách đó vài cây số về phía thượng nguồn ở một đoạn sông sâu, nước phải trong sạch nhất. Nước được đựng trong một cái chum đất mới sạch sẽ sau đó được đặt trên kiệu hoa còn được gọi là Long Đình, có nhạc, cờ phướn, chiêng trống… Ban lễ sẽ rước nước về để dâng lên bàn thờ Phật ở chánh điện và các bàn thờ ở hai bên tả hữu. Mờ sáng ngày rằm sẽ tiến hành nghi lễ rước Phật, có chiêng, có trống, cờ phướn, học trò gia lễ đi hai bên của kiệu hoa, đi giữa là ban tế lễ. Bắt đầu từ chùa Hội Quán đi qua các chùa của người Hoa nằm trong phố cho tới chùa Phổ Tịnh là chùa Phật để thực hiện lễ rước Phật, thỉnh thầy, thỉnh kinh. Hai bên dãy phố, các hộ dân đều thiết hương án, lễ vật bày trước sân, khi đoàn rước Phật đi qua thì chủ nhà sẽ ra cắm hương lên kiệu hoa. Bắt đầu khai lễ tại khu chánh điện, tiến hành thủ tục cung nghinh chức sự (kinh sư, chủ sám, thuyết pháp công văn…) và trình tự khai kinh, tụng kinh, niệm kinh, trai đàn và cúng chẩn sẽ diễn ra suốt ba ngày đêm. Phần hội được tổ chức khá công phu và tốn kém. Một khán đài (giàn) làm bằng gỗ và tre được dựng ngay trước cổng chùa. Khán đài cao hơn 2m, chiều rộng mỗi bề sẽ là 4m đủ để đặt hương án, lễ vật có tam sanh bò, heo, dê) và hoa quả, trên giàn lễ chỉ có ban lễ đứng cúng lễ, các học trò gia lễ, áo mão tùy theo chức sự của nghi thức. . Tối ngày rằm sẽ diễn ra lễ phóng đăng, phóng sanh (cá, chim) ở giữa sông Kôn, có múa lân và hát bội; suốt 3 đêm liền nhà nào cũng đều thắp đèn lồng khiến cả khu phố chợ và hương án trước nhà rực sáng. Trước sân chùa người dân sẽ ghép các tấm gỗ được làm sẵn dựng một ngôi nhà tạm, xong lễ hội lại xếp lại để đến kỳ sau lại dựng. Khách thập phương xa gần đến xem hội, kể cả người hành khất cũng được mời vào nhà tạm để ăn uống, nghỉ ngơi. Lễ hội Đổ Giàn mang ý nghĩa tôn vinh tinh thần thượng võ của vùng đất võ Bình Định Trong phần hội có một nghi thức khá quan trọng đó là “Xô cỗ, xô giàn” về sau được gọi là đổ giàn. Khi nghi lễ này chuẩn bị kết thúc, đám đông ngồi bên dưới trở nên xôn xao. Những người già, phụ nữ và trẻ em sẽ dãn ra vòng ngoài để dành chỗ cho những võ sĩ và những người khỏe mạnh tiến vào. Những người tiên phong sẽ lên giàn làm tư thế chuẩn bị lao lên, mắt nhìn về phía giàn cao, chờ đợi cho đến khi người chủ tế tuyên bố xô giàn thì cuộc tranh tài cũng chính thức bắt đầu. Các võ sĩ với tài nghệ cao, phi thân lên giàn và tìm cách cướp lấy mâm cỗ heo quay. Sau đó họ phải luồn lách, để lao ra khỏi đám đông, mang con heo quay này chạy về nơi an toàn như đã định. Tất nhiên, mỗi nhóm tranh tài đều đã phân công người bảo vệ, để cản ngăn các võ sĩ của nhóm đối thủ để giật lại mâm cỗ ngay trên tay. Trong cuộc tranh tài này, các võ sĩ phải dùng tất cả các ngón võ cũng chiến thuật khôn ngoan của mình để mang được mâm cỗ về nơi qui định. Hầu như Đổ Giàn năm nào các võ sĩ An Thái cùng đều giành chiến thắng, vì bản lĩnh võ công và có lợi thế là “sân nhà”. Vì tinh thần thượng võ nên người thắng không kiêu, người bại không vì thế mà nản. Và người dân ở đây cũng tin rằng, bên thắng sẽ gặp hên cả năm, vì nhận được “lộc thần”. Còn bên thua thì phải “mài sắc ý chí” chờ đến mùa tranh tài năm sau. Lễ hội Đổ Giàn còn có ý nghĩa tôn vinh tinh thần thượng võ của miền đất võ An Thái, mảnh đất đã công lao lớn trong lịch sử chống lại giặc ngoại xâm để cho “Quốc thái - Dân an”, khiến kho tàng di sản văn hóa của mảnh đất Bình Định thêm phong phú.

(lehoi.info) -Đổ giàn là một lễ hội văn hóa do dòng họ người Hoa lĩnh xướng, đã là một lễ hội truyền thống đặc sắc của đất võ Bình Định. Trước đây lễ hội này diễn ra từ ngày rằm cho đến ngày 16 và 17 tháng 7 âm lịch (4 năm sẽ tổ chức một lần) tại Chùa Ngũ Bang Hội Quán của thôn An Thái thuộc xã Nhơn Phúc, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Sau một thời gian dài lễ hội này đã bị lãng quên nhưng giờ đây Sở Văn hóa Thông tin Bình Định đã và đang phối hợp với địa thôn An Thái để khôi phục lại lễ hội với mục đích gìn giữ nét đẹp văn hoá của cùa người dân nơi đất võ.

Lễ hội Đổ Giàn tại Bình Định

Theo người già trong làng cho biết, lễ hội Đổ giản gồm hai phần : Phần lễ, khoảng 2-3 giờ sáng ngày rằm sẽ bắt đầucử hành lễ rước nước, lấy nước từ sông Kôn, cách đó vài cây số về phía thượng nguồn ở một đoạn sông sâu, nước phải trong sạch nhất. Nước được đựng trong một cái chum đất mới sạch sẽ sau đó được đặt trên kiệu hoa còn được gọi là Long Đình, có nhạc, cờ phướn, chiêng trống… Ban lễ sẽ rước nước về để dâng lên bàn thờ Phật ở chánh điện và các bàn thờ ở hai bên tả hữu. Mờ sáng ngày rằm sẽ tiến hành nghi lễ rước Phật, có chiêng, có trống, cờ phướn, học trò gia lễ đi hai bên của kiệu hoa, đi giữa là ban tế lễ. Bắt đầu từ chùa Hội Quán đi qua các chùa của người Hoa nằm trong phố cho tới chùa Phổ Tịnh là chùa Phật để thực hiện lễ rước Phật, thỉnh thầy, thỉnh kinh. Hai bên dãy phố, các hộ dân đều thiết hương án, lễ vật bày trước sân, khi đoàn rước Phật đi qua thì chủ nhà sẽ ra cắm hương lên kiệu hoa. Bắt đầu khai lễ tại khu chánh điện, tiến hành thủ tục cung nghinh chức sự (kinh sư, chủ sám, thuyết pháp công văn…) và trình tự khai kinh, tụng kinh, niệm kinh, trai đàn và cúng chẩn sẽ diễn ra suốt ba ngày đêm. Phần hội được tổ chức khá công phu và tốn kém. Một khán đài (giàn) làm bằng gỗ và tre được dựng ngay trước cổng chùa. Khán đài cao hơn 2m, chiều rộng mỗi bề sẽ là 4m đủ để đặt hương án, lễ vật có tam sanh bò, heo, dê) và hoa quả, trên giàn lễ chỉ có ban lễ đứng cúng lễ, các học trò gia lễ, áo mão tùy theo chức sự của nghi thức. . Tối ngày rằm sẽ diễn ra lễ phóng đăng, phóng sanh (cá, chim) ở giữa sông Kôn, có múa lân và hát bội; suốt 3 đêm liền nhà nào cũng đều thắp đèn lồng khiến cả khu phố chợ và hương án trước nhà rực sáng. Trước sân chùa người dân sẽ ghép các tấm gỗ được làm sẵn dựng một ngôi nhà tạm, xong lễ hội lại xếp lại để đến kỳ sau lại dựng. Khách thập phương xa gần đến xem hội, kể cả người hành khất cũng được mời vào nhà tạm để ăn uống, nghỉ ngơi. Lễ hội Đổ Giàn mang ý nghĩa tôn vinh tinh thần thượng võ của vùng đất võ Bình Định Trong phần hội có một nghi thức khá quan trọng đó là “Xô cỗ, xô giàn” về sau được gọi là đổ giàn. Khi nghi lễ này chuẩn bị kết thúc, đám đông ngồi bên dưới trở nên xôn xao. Những người già, phụ nữ và trẻ em sẽ dãn ra vòng ngoài để dành chỗ cho những võ sĩ và những người khỏe mạnh tiến vào. Những người tiên phong sẽ lên giàn làm tư thế chuẩn bị lao lên, mắt nhìn về phía giàn cao, chờ đợi cho đến khi người chủ tế tuyên bố xô giàn thì cuộc tranh tài cũng chính thức bắt đầu. Các võ sĩ với tài nghệ cao, phi thân lên giàn và tìm cách cướp lấy mâm cỗ heo quay. Sau đó họ phải luồn lách, để lao ra khỏi đám đông, mang con heo quay này chạy về nơi an toàn như đã định. Tất nhiên, mỗi nhóm tranh tài đều đã phân công người bảo vệ, để cản ngăn các võ sĩ của nhóm đối thủ để giật lại mâm cỗ ngay trên tay. Trong cuộc tranh tài này, các võ sĩ phải dùng tất cả các ngón võ cũng chiến thuật khôn ngoan của mình để mang được mâm cỗ về nơi qui định. Hầu như Đổ Giàn năm nào các võ sĩ An Thái cùng đều giành chiến thắng, vì bản lĩnh võ công và có lợi thế là “sân nhà”. Vì tinh thần thượng võ nên người thắng không kiêu, người bại không vì thế mà nản. Và người dân ở đây cũng tin rằng, bên thắng sẽ gặp hên cả năm, vì nhận được “lộc thần”. Còn bên thua thì phải “mài sắc ý chí” chờ đến mùa tranh tài năm sau. Lễ hội Đổ Giàn còn có ý nghĩa tôn vinh tinh thần thượng võ của miền đất võ An Thái, mảnh đất đã công lao lớn trong lịch sử chống lại giặc ngoại xâm để cho “Quốc thái - Dân an”, khiến kho tàng di sản văn hóa của mảnh đất Bình Định thêm phong phú.

Related Figures

Lễ hội Đống Đa

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 4/1- 5/1 Âm lịch Lễ hội Đống Đa (Bình Định) được tổ chức vào ngày mồng 4 và mồng 5 tháng Giêng hàng năm. Đây là lễ hội có qui lớn nhất toàn quốc để tưởng nhớ đến công đức của các thủ lĩnh trong phong trào Tây Sơn, và đặc biệt là vua Quang Trung, đồng thời kỷ niệm ngày chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa. Nhiều cán bộ chính quyền đến dâng hương tại Lễ hội Đống Đa Lễ hội Đống Đa được tổ chức với quy mô lớn và hoành tráng. Ngoài các nghi lễ truyền thống, lễ hội này còn tổ chức các hoạt động văn hoá dân gian như trống trận Tây Sơn, biểu diễn võ thuật Tây Sơn, trò chơi dân gian, đua thuyền, hát tuồng... đã tái hiện một cách sống động trận đánh lịch sử với những bộ y phục, voi trận như lúc xưa vua Quang Trung ra trận. Chương trình lễ hội Đống Đa diễn ra từ trưa ngày mồng 4 tết. Chiều ngày mồng 4, tại điện Tây Sơn sẽ diễn ra lễ tế long trọng. Ngày mồng 5 sẽ diễn ra chương trình lễ, tuy nhiên chương trình thay đổi theo từng năm, nhưng các mục chính như: diễn văn tưởng nhớ lại phong trào Tây Sơn đại phá quân Thanh, diễn trống trận Tây Sơn, màn biểu diễn võ thuật, thao diễn trận pháp Tây Sơn... đều có trong chương trình hàng năm. Màn biểu diễn võ thuật Tây Sơn được các võ sĩ và nghệ nhân biểu diễn, có bài quyền tiêu biểu như "Lão mai độc thọ", các bài roi như "Tấn nhất ô du"... Màn rước vua Quang Trung Màn biểu diễn nhạc võ Tây Sơn là một môn nghệ thuật độc sắc và đặc trưng của mảnh đất võ Bình Định, người tham gia biểu diễn không chỉ cần có tâm hồn nghệ sĩ, mà còn là bậc võ sĩ siêu đẳng với đôi tay thần diệu để có tác dụng mạnh mẽ lên lòng trống, thân trống và vành trống bằng cả hai bàn tay, khuỷu tay, cổ tay, cánh tay, tiếp xúc vào một bộ trống gồm có 12 chiếc to nhỏ khác nhau còn gọi là "Song thủ đả thập nhị cổ", đã tạo nên những giai điệu hùng tráng. Tiết mục biểu diễn tái hiện chiến trận Đống Đa, được tổ chức trên một mảnh đất có địa thế qui mô, được dàn dựng công phu, tập dượt rất chu đáo, có tới ngàn người tham gia thao diễn với cờ xí, sắc phục, chiêng trống, đồn luỹ..., có năm còn có 4-5 con voi trận tham gia. Người dân quanh vùng và khách thập phương nô nức về xem hội Đống Đa Đến với lễ hội Đống Đa người dân và du khách về xem lễ hội như được sống lại trong không khí của thời kỳ lịch sử để cảm nhận được khí phách hào hùng của những người cha người anh, và đặc biệt là người anh hùng áo vải Quang Trung, và hơn thế nữa là lòng yêu nước và niềm tự hào về tinh thần kiên cường bất khuất của dân tộc.

Lễ hội Đống Đa (Bình Định) được tổ chức vào ngày mồng 4 và mồng 5 tháng Giêng hàng năm. Đây là lễ hội có qui lớn nhất toàn quốc để tưởng nhớ đến công đức của các thủ lĩnh trong phong trào Tây Sơn, và đặc biệt là vua Quang Trung, đồng thời kỷ niệm ngày chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa.

Nhiều cán bộ chính quyền đến dâng hương tại Lễ hội Đống Đa

Lễ hội Đống Đa được tổ chức với quy mô lớn và hoành tráng. Ngoài các nghi lễ truyền thống, lễ hội này còn tổ chức các hoạt động văn hoá dân gian như trống trận Tây Sơn, biểu diễn võ thuật Tây Sơn, trò chơi dân gian, đua thuyền, hát tuồng... đã tái hiện một cách sống động trận đánh lịch sử với những bộ y phục, voi trận như lúc xưa vua Quang Trung ra trận. Chương trình lễ hội Đống Đa diễn ra từ trưa ngày mồng 4 tết. Chiều ngày mồng 4, tại điện Tây Sơn sẽ diễn ra lễ tế long trọng. Ngày mồng 5 sẽ diễn ra chương trình lễ, tuy nhiên chương trình thay đổi theo từng năm, nhưng các mục chính như: diễn văn tưởng nhớ lại phong trào Tây Sơn đại phá quân Thanh, diễn trống trận Tây Sơn, màn biểu diễn võ thuật, thao diễn trận pháp Tây Sơn... đều có trong chương trình hàng năm. Màn biểu diễn võ thuật Tây Sơn được các võ sĩ và nghệ nhân biểu diễn, có bài quyền tiêu biểu như "Lão mai độc thọ", các bài roi như "Tấn nhất ô du"... Màn rước vua Quang Trung Màn biểu diễn nhạc võ Tây Sơn là một môn nghệ thuật độc sắc và đặc trưng của mảnh đất võ Bình Định, người tham gia biểu diễn không chỉ cần có tâm hồn nghệ sĩ, mà còn là bậc võ sĩ siêu đẳng với đôi tay thần diệu để có tác dụng mạnh mẽ lên lòng trống, thân trống và vành trống bằng cả hai bàn tay, khuỷu tay, cổ tay, cánh tay, tiếp xúc vào một bộ trống gồm có 12 chiếc to nhỏ khác nhau còn gọi là "Song thủ đả thập nhị cổ", đã tạo nên những giai điệu hùng tráng. Tiết mục biểu diễn tái hiện chiến trận Đống Đa, được tổ chức trên một mảnh đất có địa thế qui mô, được dàn dựng công phu, tập dượt rất chu đáo, có tới ngàn người tham gia thao diễn với cờ xí, sắc phục, chiêng trống, đồn luỹ..., có năm còn có 4-5 con voi trận tham gia. Người dân quanh vùng và khách thập phương nô nức về xem hội Đống Đa Đến với lễ hội Đống Đa người dân và du khách về xem lễ hội như được sống lại trong không khí của thời kỳ lịch sử để cảm nhận được khí phách hào hùng của những người cha người anh, và đặc biệt là người anh hùng áo vải Quang Trung, và hơn thế nữa là lòng yêu nước và niềm tự hào về tinh thần kiên cường bất khuất của dân tộc.

Màn rước vua Quang Trung

Related Figures

Lễ hội cầu ngư

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/5- 12/5 Âm lịch Lễ hội cầu ngư là một trong những lễ hội dân gian đã gắn liền với cuộc sống của những người dân ven biển từ tỉnh Quảng Bình đến Nam bộ. Ở tỉnh Bình Định, lễ hội cầu ngư được ngư dân của các vùng ven biển thuộc các huyện Phù Mỹ, Hoài Nhơn, Phù Cát, thành phố Quy Nhơn và Tuy Phước tổ chức hàng năm. Ngư dân đang thực hiện nghi thức lễ tế Theo thống kê vào năm 2002, toàn tỉnh Bình Định có hơn 15 lăng Nam Hải - nơi diễn ra lễ hội cầu ngư. Lễ hội này gắn liền với tục thờ cúng loài cá Voi với nhiều truyền thuyết vẫn còn ghi đậm nét trong dân gian. Lăng Nam Hải, đó là lăng thờ cá Voi (cá ông) do ngư dân của các làng chài lập ra để thờ cúng và xin phước lành. Cá Voi hay còn gọi là cá Ông là một loại cá lớn có vú sống dưới biển, có con dài khoảng hơn 30 mét, nặng tới hàng chục tấn, là loài cá có sức mạnh phi thường. Ngư dân kể rằng có nhiều lần ghe, thuyền của ngư dân gặp mưa bão ở ngoài khơi, cá voi thường là ân nhân giúp họ thoát nguy. Cá coi sẽ áp tựa lưng vào mạn thuyền giúp thuyền khỏi bị sóng gió lật đổ và cũng giúp nó khỏi bị sóng gió đẩy vào ghềnh đá. Ngư dân ven biển xem đây là sự bảo vệ của Nam Hải thần ngư. Từ những công lao của loài cá voi người dân đã tôn chúng làm vị Thần ngư Nam Hải (có nơi còn gọi là Quan âm Nam Hải hay Nam Hải Ngọc Lân). Cả cá và người đều có mối quan hệ thân thiết, khi dân vạn chài thấy cá voi chết vì bị mắc cạn lâu ngày hay bị bệnh, họ sẽ tập trung lại để cử hành lễ an táng cho cá voi. Sau 3 năm an táng, ngư dân sẽ làm lễ di hài cốt của cá về lăng Nam hải của làng để thờ. Lễ hội cầu ngư tại Bình Định Ở Bình Định, lăng Nam Hải ở làng Hưng Lương thuộc xã đảo Nhơn Lý , thành phố Quy Nhơn là một trong những lăng đã được xây dựng lâu đời hơn cả. Các bảo vật vẫn còn được lưu giữ tại lăng là sáu sắc phong từ triều Nguyễn tặng như: Thiệu trị tam niên bát nguyệt nhất thập tam nhật, Minh Mạng thất niên cửu nguyệt nhất thập nhất nhật, Thiệu trị tam niên cửu nguyệt nhị thập nhất nhật, Đồng Khánh nhị niên thất nguyệt nhất nhật, Tự Đức tam niên nhất thập nhất nguyệt bát nhật, Khải Định cửu niên thất nguyệt nhị thập ngũ nhật; và 2 liễn phong là Võ Cao Môn và Ngọc Tôn Thần. Điều đó đã nói lên rằng lễ hội cầu ngư ở vạn chài Hưng Lương đã được hình thành khá lâu đời, lăng Nam Hải của làng chài Hưng Lương là một di tích ra đời muộn nhất là vào cuối thời vua Gia Long. Lễ hội cầu ngư tại lăng Nam Hải thuộc xã đảo Nhơn Lý, thành phố Quy Nhơn được tổ chức vào ngày mồng 10 tháng Năm âm lịch hằng năm. Lễ hội cầu ngư lăng Nam Hải của làng Hưng Lương có lễ chính là tế Nam Hải Ngọc Lân. Lễ tế là dịp để ngư dân nơi đây bày tỏ niềm kính tín, chiêm tượng đối với thần linh, đồng thời gửi gắm những ước nguyện của dân làng là cầu cho mùa màng bội thu và vạn chài được bình an. Nghi lễ tế cá Ông được thực hiện tương đối giống với nghi thức tế Thành hoàng. Bởi vậy có nhà nghiên còn cứu gọi cá Ông là Thành hoàng làng vạn chài. Người đứng đầu lễ tết là một ban khánh tiết do vạn chài lựa chọn, gồm các bậc cao niên đức độ, gia đình hòa thuận và đặc biệt không bị vướng tang. Người được chọn làm chánh tế phải tập quỳ, tập lạy cả tháng trước đó, còn phải ăn chay, nằm mộng trong 3 ngày trước khi lễ tế. Khi tế lễ thần nếu chánh tế lạy sai sẽ bị vạn chài bắt vạ. Theo thông lệ hàng năm, lễ hội sẽ diễn ra trong 3 ngày đêm. Ngày đầu tiên sẽ cử hành nghi thức lễ cúng trần thiết bài vị, sau đó sẽ đến nghi lễ nghinh thần, rồi lễ an thần. Ngày thứ hai cử hành nghi thức đại lễ tế thần. Phần hội đông vui nhất với trò chèo bả trạo, h hát dân ca, hội xây chầu hát bội, và nhiều trò chơi dân gian của người dân vùng biển, sẽ được tổ chức vào ngày thứ ba, bên cạnh đó có sự đan xen trong thời gian cử hành tế lễ ở ngày đầu tiên và thứ hai. Nghi thức lễ đầu tiên còn được gọi là lễ vọng, được bắt đầu vào lúc sáng sớm với mục đích cáo giỗ, xin thần Nam Hải báo cho dân chài điềm lành dữ trong năm. Nghi thức lễ được cử hành trang nghiêm, sau khi dâng đủ ba tuần rượu ông chánh tế sẽ đọc văn cúng. Bản văn cúng có nội dung ca ngợi công ơn của cá Ông trong việc phù giúp các vạn chài. Nghi thức lễ nghinh thần hay còn được gọi là lễ nghinh ông Sanh (tức Đông Hải Ngọc Lân), có lăng cử hành lễ nghinh thần cả trên bờ lẫn dưới biển (nghinh thủy lục), được đưa về ngự tại điện lăng để chứng kiến lễ tế thần Nam Hải. Tiếp theo là lễ tế cô hồn diễn ra ở sân lăng Nam hải với nhiều lễ vật gồm: bát gạo, bát cháo thánh (cháo hoa), muối, rượu, hương đăng, trầu cau, đồ vàng mã. Bắt đầu lễ tế, vị chánh bái sẽ gõ 3 hồi mõ, sau đó dâng tuần rượu và đọc văn tế. Nội dung văn tế cô hồn nhằm thể hiện sự cảm thương cho những kẻ bất hạnh và thể hiện tình cảm cộng đồng nhân ái dành cho người khốn khổ đã khuất. Tế xong, vật tế lễ sẽ được tung ra khắp nơi để những cô hồn nhận. Đoàn rước thần trong Lễ hội cầu ngư tại Bình Định Lễ thánh tế (hay Đại lễ nghinh thần) thường tiến hành vào lúc nửa đêm của ngày thứ hai bước sang ngày thứ ba. Lễ vật cúng gồm đầu heo, bánh tráng, hoa quả (không bao giờ được dùng đồ hải sản). Phần tế có đầy đủ nghi thức lễ lục cúng, đọc văn tế để ca ngợi công đức vô lượng của thần, cầu xin thần ban cho vạn chài mùa màng bội thu, thuyền ra khơi được xuôi chèo mát mái, khi trở về thì tôm cá đầy ghe. Sau đó ngư dân sẽ làm lễ xuống thuyền và mở màn cho mùa vụ đánh bắt cá mới. Lễ xây chầu hát bả trạo là một nghi thức quan trọng và bắt buộc, là mở màn cho buổi hát án, đã trở thành một lệ không thể thiếu trong lễ hội. Đội hình trình diễn lễ xây chầu bao gồm các con trạo (tay chèo) nghe lệnh chỉ huy của các tổng mũi, tổng lái, tổng khậu và tổng thương. Tất cả sẽ được sắp xếp theo hình một chiếc thuyền rồng, tượng trung cho thuyền linh để đưa linh hồn của cá Ông phiêu diêu ở miền cực lạc. Nội dung xuyên suốt là để tạ ơn và ca ngợi công đức của cá Ông, xin thần ban cho vạn chài một cuộc sống bình an và no đủ. Đan xen với phần nghi lễ sẽ là phần hội bao gồm các sinh hoạt dân gian truyền thống đặc trưng của vạn chài. Một hình thức sinh hoạt văn hóa vừa thuộc nghi thức tế lễ vừa thuộc phần hội là hát bả trạo, nhưng cũng có nhhuwngx hình thức hoàn toàn thuộc về hội, tạo nên không khí vui vẻ, náo nhiệt trong làng trước khi bắt đầu một vụ mùa mới như hô bài chòi, câu hò đối đáp trên thuyền, tổ chức hát bộ ban đêm, cuộc thi đua ghe, lắc thúng… Là những người dân sống nhờ vào biển khơi, đã gắn bó thân thiết với biển, thường xuyên phải đối đầu với những cơn sóng gầm, gió dữ. Họ đã gửi gắm niềm tin của mình vào vị thần ngư Nam hải, hay cá Ông. Ngư dân vạn chài đã lập lăng cá Ông để thờ phụng, mở ra lễ hội tế thần để cầu bình an, cầu mùa màng tươi tốt, đồng thời thể hiện ước vọng thiêng liêng của những ngư dân về một cuộc sống bình an và phồn thịnh. Gắn liền với tín ngưỡng thờ cúng loài cá Ông, lễ hội cầu ngư còn là dịp giúp người ngư dân nơi đây phần nào giải tỏa, điều tiết lại đời sống tâm lý và tinh thần của cá nhân cũng như cộng đồng ngư dân. Quanh năm bận rộn, vất vả với việc đi biển với bao khó khăn, và nguy hiểm. Các sinh hoạt văn hóa trong lễ hội cũng đã mang lại niềm vui, sự hưng phấn cho bà con vạn chài, tạo tâm thế vững tin vào một năm mới mưa thuận gió hòa, vụ mùa đánh bắt bội thu. Mặt khác, lễ hội cầu ngư còn là dịp để cộng đồng ngư dân tri ân với thần linh, với thế hệ tiền nhân đã đi trước, những người đã có công lao trong việc phát triển nghề cá./.

Lễ hội cầu ngư là một trong những lễ hội dân gian đã gắn liền với cuộc sống của những người dân ven biển từ tỉnh Quảng Bình đến Nam bộ. Ở tỉnh Bình Định, lễ hội cầu ngư được ngư dân của các vùng ven biển thuộc các huyện Phù Mỹ, Hoài Nhơn, Phù Cát, thành phố Quy Nhơn và Tuy Phước tổ chức hàng năm.

Ngư dân đang thực hiện nghi thức lễ tế

Theo thống kê vào năm 2002, toàn tỉnh Bình Định có hơn 15 lăng Nam Hải - nơi diễn ra lễ hội cầu ngư. Lễ hội này gắn liền với tục thờ cúng loài cá Voi với nhiều truyền thuyết vẫn còn ghi đậm nét trong dân gian. Lăng Nam Hải, đó là lăng thờ cá Voi (cá ông) do ngư dân của các làng chài lập ra để thờ cúng và xin phước lành. Cá Voi hay còn gọi là cá Ông là một loại cá lớn có vú sống dưới biển, có con dài khoảng hơn 30 mét, nặng tới hàng chục tấn, là loài cá có sức mạnh phi thường. Ngư dân kể rằng có nhiều lần ghe, thuyền của ngư dân gặp mưa bão ở ngoài khơi, cá voi thường là ân nhân giúp họ thoát nguy. Cá coi sẽ áp tựa lưng vào mạn thuyền giúp thuyền khỏi bị sóng gió lật đổ và cũng giúp nó khỏi bị sóng gió đẩy vào ghềnh đá. Ngư dân ven biển xem đây là sự bảo vệ của Nam Hải thần ngư. Từ những công lao của loài cá voi người dân đã tôn chúng làm vị Thần ngư Nam Hải (có nơi còn gọi là Quan âm Nam Hải hay Nam Hải Ngọc Lân). Cả cá và người đều có mối quan hệ thân thiết, khi dân vạn chài thấy cá voi chết vì bị mắc cạn lâu ngày hay bị bệnh, họ sẽ tập trung lại để cử hành lễ an táng cho cá voi. Sau 3 năm an táng, ngư dân sẽ làm lễ di hài cốt của cá về lăng Nam hải của làng để thờ. Lễ hội cầu ngư tại Bình Định Ở Bình Định, lăng Nam Hải ở làng Hưng Lương thuộc xã đảo Nhơn Lý , thành phố Quy Nhơn là một trong những lăng đã được xây dựng lâu đời hơn cả. Các bảo vật vẫn còn được lưu giữ tại lăng là sáu sắc phong từ triều Nguyễn tặng như: Thiệu trị tam niên bát nguyệt nhất thập tam nhật, Minh Mạng thất niên cửu nguyệt nhất thập nhất nhật, Thiệu trị tam niên cửu nguyệt nhị thập nhất nhật, Đồng Khánh nhị niên thất nguyệt nhất nhật, Tự Đức tam niên nhất thập nhất nguyệt bát nhật, Khải Định cửu niên thất nguyệt nhị thập ngũ nhật; và 2 liễn phong là Võ Cao Môn và Ngọc Tôn Thần. Điều đó đã nói lên rằng lễ hội cầu ngư ở vạn chài Hưng Lương đã được hình thành khá lâu đời, lăng Nam Hải của làng chài Hưng Lương là một di tích ra đời muộn nhất là vào cuối thời vua Gia Long. Lễ hội cầu ngư tại lăng Nam Hải thuộc xã đảo Nhơn Lý, thành phố Quy Nhơn được tổ chức vào ngày mồng 10 tháng Năm âm lịch hằng năm. Lễ hội cầu ngư lăng Nam Hải của làng Hưng Lương có lễ chính là tế Nam Hải Ngọc Lân. Lễ tế là dịp để ngư dân nơi đây bày tỏ niềm kính tín, chiêm tượng đối với thần linh, đồng thời gửi gắm những ước nguyện của dân làng là cầu cho mùa màng bội thu và vạn chài được bình an. Nghi lễ tế cá Ông được thực hiện tương đối giống với nghi thức tế Thành hoàng. Bởi vậy có nhà nghiên còn cứu gọi cá Ông là Thành hoàng làng vạn chài. Người đứng đầu lễ tết là một ban khánh tiết do vạn chài lựa chọn, gồm các bậc cao niên đức độ, gia đình hòa thuận và đặc biệt không bị vướng tang. Người được chọn làm chánh tế phải tập quỳ, tập lạy cả tháng trước đó, còn phải ăn chay, nằm mộng trong 3 ngày trước khi lễ tế. Khi tế lễ thần nếu chánh tế lạy sai sẽ bị vạn chài bắt vạ. Theo thông lệ hàng năm, lễ hội sẽ diễn ra trong 3 ngày đêm. Ngày đầu tiên sẽ cử hành nghi thức lễ cúng trần thiết bài vị, sau đó sẽ đến nghi lễ nghinh thần, rồi lễ an thần. Ngày thứ hai cử hành nghi thức đại lễ tế thần. Phần hội đông vui nhất với trò chèo bả trạo, h hát dân ca, hội xây chầu hát bội, và nhiều trò chơi dân gian của người dân vùng biển, sẽ được tổ chức vào ngày thứ ba, bên cạnh đó có sự đan xen trong thời gian cử hành tế lễ ở ngày đầu tiên và thứ hai. Nghi thức lễ đầu tiên còn được gọi là lễ vọng, được bắt đầu vào lúc sáng sớm với mục đích cáo giỗ, xin thần Nam Hải báo cho dân chài điềm lành dữ trong năm. Nghi thức lễ được cử hành trang nghiêm, sau khi dâng đủ ba tuần rượu ông chánh tế sẽ đọc văn cúng. Bản văn cúng có nội dung ca ngợi công ơn của cá Ông trong việc phù giúp các vạn chài. Nghi thức lễ nghinh thần hay còn được gọi là lễ nghinh ông Sanh (tức Đông Hải Ngọc Lân), có lăng cử hành lễ nghinh thần cả trên bờ lẫn dưới biển (nghinh thủy lục), được đưa về ngự tại điện lăng để chứng kiến lễ tế thần Nam Hải. Tiếp theo là lễ tế cô hồn diễn ra ở sân lăng Nam hải với nhiều lễ vật gồm: bát gạo, bát cháo thánh (cháo hoa), muối, rượu, hương đăng, trầu cau, đồ vàng mã. Bắt đầu lễ tế, vị chánh bái sẽ gõ 3 hồi mõ, sau đó dâng tuần rượu và đọc văn tế. Nội dung văn tế cô hồn nhằm thể hiện sự cảm thương cho những kẻ bất hạnh và thể hiện tình cảm cộng đồng nhân ái dành cho người khốn khổ đã khuất. Tế xong, vật tế lễ sẽ được tung ra khắp nơi để những cô hồn nhận. Đoàn rước thần trong Lễ hội cầu ngư tại Bình Định Lễ thánh tế (hay Đại lễ nghinh thần) thường tiến hành vào lúc nửa đêm của ngày thứ hai bước sang ngày thứ ba. Lễ vật cúng gồm đầu heo, bánh tráng, hoa quả (không bao giờ được dùng đồ hải sản). Phần tế có đầy đủ nghi thức lễ lục cúng, đọc văn tế để ca ngợi công đức vô lượng của thần, cầu xin thần ban cho vạn chài mùa màng bội thu, thuyền ra khơi được xuôi chèo mát mái, khi trở về thì tôm cá đầy ghe. Sau đó ngư dân sẽ làm lễ xuống thuyền và mở màn cho mùa vụ đánh bắt cá mới. Lễ xây chầu hát bả trạo là một nghi thức quan trọng và bắt buộc, là mở màn cho buổi hát án, đã trở thành một lệ không thể thiếu trong lễ hội. Đội hình trình diễn lễ xây chầu bao gồm các con trạo (tay chèo) nghe lệnh chỉ huy của các tổng mũi, tổng lái, tổng khậu và tổng thương. Tất cả sẽ được sắp xếp theo hình một chiếc thuyền rồng, tượng trung cho thuyền linh để đưa linh hồn của cá Ông phiêu diêu ở miền cực lạc. Nội dung xuyên suốt là để tạ ơn và ca ngợi công đức của cá Ông, xin thần ban cho vạn chài một cuộc sống bình an và no đủ. Đan xen với phần nghi lễ sẽ là phần hội bao gồm các sinh hoạt dân gian truyền thống đặc trưng của vạn chài. Một hình thức sinh hoạt văn hóa vừa thuộc nghi thức tế lễ vừa thuộc phần hội là hát bả trạo, nhưng cũng có nhhuwngx hình thức hoàn toàn thuộc về hội, tạo nên không khí vui vẻ, náo nhiệt trong làng trước khi bắt đầu một vụ mùa mới như hô bài chòi, câu hò đối đáp trên thuyền, tổ chức hát bộ ban đêm, cuộc thi đua ghe, lắc thúng… Là những người dân sống nhờ vào biển khơi, đã gắn bó thân thiết với biển, thường xuyên phải đối đầu với những cơn sóng gầm, gió dữ. Họ đã gửi gắm niềm tin của mình vào vị thần ngư Nam hải, hay cá Ông. Ngư dân vạn chài đã lập lăng cá Ông để thờ phụng, mở ra lễ hội tế thần để cầu bình an, cầu mùa màng tươi tốt, đồng thời thể hiện ước vọng thiêng liêng của những ngư dân về một cuộc sống bình an và phồn thịnh. Gắn liền với tín ngưỡng thờ cúng loài cá Ông, lễ hội cầu ngư còn là dịp giúp người ngư dân nơi đây phần nào giải tỏa, điều tiết lại đời sống tâm lý và tinh thần của cá nhân cũng như cộng đồng ngư dân. Quanh năm bận rộn, vất vả với việc đi biển với bao khó khăn, và nguy hiểm. Các sinh hoạt văn hóa trong lễ hội cũng đã mang lại niềm vui, sự hưng phấn cho bà con vạn chài, tạo tâm thế vững tin vào một năm mới mưa thuận gió hòa, vụ mùa đánh bắt bội thu. Mặt khác, lễ hội cầu ngư còn là dịp để cộng đồng ngư dân tri ân với thần linh, với thế hệ tiền nhân đã đi trước, những người đã có công lao trong việc phát triển nghề cá./.

Related Figures

Lễ hội làng rèn Tây Phương Danh

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 12/2- 14/2 Âm lịch (lehoi.info) - Hằng năm, lễ hội làng rèn Tây Phương Danh diễn ra từ ngày 12 đến ngày 14 tháng Hai âm lịch, tại làng Tây Phương Danh thuộc thị trấn Đập đá, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Đây là một trong những lễ hội truyền thống của tỉnh Bình Định, và là lễ hội để tưởng nhớ đến cụ tổ đã sáng lập và những bậc tiền nhân trong làng nghề rèn. Lễ hội làng rèn Tây Phương Danh tại Bình Định Theo các bậc cao niên trong làng kể lại thì: "Theo truyền thuyết thì nghề rèn đã xuất hiện đây khoảng 300 năm rồi. Thời bấy giờ nông nghiệp phát triển mạnh nên người dân khắp nơi rất cần các loại nông cụ phục vụ cho sản xuất. Thời đó, ông Đào Giã Tượng chính là cụ tổ của làng nghề đã mang nghề từ phương Bắc về truyền thụ lại cho người dân trong làng để tạo kế sinh nhai cho bà con xóm, vừa phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Kể từ đó nghề rèn đã duy trì và ngày càng phát triển. Để tướng nhớ công ơn của người đã khai sinh ra nghề rèn trên mảnh đất này, hằng năm, người dân làng Tây Phương Danh đã hợp lại và cùng tổ chức một lễ hội được gọi là Lễ hội làng rèn. Lễ hội diễn ra trong 3 ngày kể từ ngày 12 đến ngày 14 tháng Hai âm lịch. Lễ hội này không chỉ là nơi quy tụ những hộ gia đình đang hành nghề trong làng mà còn là nơi những người đang hành nghề rèn trên toàn tỉnh quy tụ về để giao lưu và trao đổi kinh nghiệm. Ngoài ra lễ hội làng Rèn còn có sự tham gia của những nghề có liên quan tới nghề rèn như nghề sắt. Có nhiều hộ dân đã mang món nghề truyền thống của làng mình đi lập nghiệp ở các phương xa nay cũng sắp xếp công việc để về quê trẩy hội cùng bà con. Biểu diễn nghệ thuật trong ngày Hội làng rèn Vào lúc 4 giờ sáng ngày 12/2 âm lịch, các vị bô lão trong làng nghề đã có mặt với những bộ lễ phục trang trọng cùng những người dân trong nghề, tất cả đứng trang nghiêm trước bàn thờ Tổ cùng các bậc tiền nhân đã khai sinh ra nghề, đồng thanh khấn nguyện cho dân làng được an bình, thịnh vượng, đồng thời bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với công ơn của những thế hệ cha ông ông đi trước. Sau đó, cả một vùng Tây Phương Danh sẽ tưng bừng hẳn lên bởi tiếng tiếng trống, tiếng nhạc, tiếng hát, tiếng reo hò và cười vang của người trẩy hội trong suốt 3 ngày đêm. Lễ hội làng Rèn thu hút người dân lân cận và khách thập phương bởi các hoạt động văn hóa nghệ thuật sôi nổi như các trò chơi dân gian kéo co, đập ấm... Hát bộ truyền thống, hay các chương trình văn nghệ quần chúng do lực lượng thanh niên tổ chức. Các bô lão đang dâng hương lên cụ tổ nghề của làng

(lehoi.info) - Hằng năm, lễ hội làng rèn Tây Phương Danh diễn ra từ ngày 12 đến ngày 14 tháng Hai âm lịch, tại làng Tây Phương Danh thuộc thị trấn Đập đá, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Đây là một trong những lễ hội truyền thống của tỉnh Bình Định, và là lễ hội để tưởng nhớ đến cụ tổ đã sáng lập và những bậc tiền nhân trong làng nghề rèn.

Lễ hội làng rèn Tây Phương Danh tại Bình Định

Theo các bậc cao niên trong làng kể lại thì: "Theo truyền thuyết thì nghề rèn đã xuất hiện đây khoảng 300 năm rồi. Thời bấy giờ nông nghiệp phát triển mạnh nên người dân khắp nơi rất cần các loại nông cụ phục vụ cho sản xuất. Thời đó, ông Đào Giã Tượng chính là cụ tổ của làng nghề đã mang nghề từ phương Bắc về truyền thụ lại cho người dân trong làng để tạo kế sinh nhai cho bà con xóm, vừa phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Kể từ đó nghề rèn đã duy trì và ngày càng phát triển. Để tướng nhớ công ơn của người đã khai sinh ra nghề rèn trên mảnh đất này, hằng năm, người dân làng Tây Phương Danh đã hợp lại và cùng tổ chức một lễ hội được gọi là Lễ hội làng rèn. Lễ hội diễn ra trong 3 ngày kể từ ngày 12 đến ngày 14 tháng Hai âm lịch. Lễ hội này không chỉ là nơi quy tụ những hộ gia đình đang hành nghề trong làng mà còn là nơi những người đang hành nghề rèn trên toàn tỉnh quy tụ về để giao lưu và trao đổi kinh nghiệm. Ngoài ra lễ hội làng Rèn còn có sự tham gia của những nghề có liên quan tới nghề rèn như nghề sắt. Có nhiều hộ dân đã mang món nghề truyền thống của làng mình đi lập nghiệp ở các phương xa nay cũng sắp xếp công việc để về quê trẩy hội cùng bà con. Biểu diễn nghệ thuật trong ngày Hội làng rèn Vào lúc 4 giờ sáng ngày 12/2 âm lịch, các vị bô lão trong làng nghề đã có mặt với những bộ lễ phục trang trọng cùng những người dân trong nghề, tất cả đứng trang nghiêm trước bàn thờ Tổ cùng các bậc tiền nhân đã khai sinh ra nghề, đồng thanh khấn nguyện cho dân làng được an bình, thịnh vượng, đồng thời bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với công ơn của những thế hệ cha ông ông đi trước. Sau đó, cả một vùng Tây Phương Danh sẽ tưng bừng hẳn lên bởi tiếng tiếng trống, tiếng nhạc, tiếng hát, tiếng reo hò và cười vang của người trẩy hội trong suốt 3 ngày đêm. Lễ hội làng Rèn thu hút người dân lân cận và khách thập phương bởi các hoạt động văn hóa nghệ thuật sôi nổi như các trò chơi dân gian kéo co, đập ấm... Hát bộ truyền thống, hay các chương trình văn nghệ quần chúng do lực lượng thanh niên tổ chức. Các bô lão đang dâng hương lên cụ tổ nghề của làng

Related Figures

Lễ hội Bà Chúa Xứ

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 23/4- 27/4 Âm lịch Lễ hội Bà Chúa Xứ (còn được gọi là lễ Vía Bà) diễn ra hàng năm bắt đầu từ đêm ngày 23/4 đến 27/4 âm lịch. Tại Miếu Bà Chúa Xứ nằm ở phường Núi Sam (trước là xã Vĩnh Tế) của thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang. Các nghi lễ trong lễ hội Vía Bà gồm: Lễ tắm Bà, Lễ Túc Yết, Lễ thỉnh sắc Thoại Ngọc Hầu về Miếu Bà, Lễ Chánh tế, Lễ xây chầu. Lễ tắm Bà. Lễ này sẽ được tổ chức vào lúc đúng 24 giờ đêm ngày 23 rạng sáng ngày 24. Nói là tắm bà trên thực tế chỉ là lau sạch bụi bặm trên tượng thờ và thay áo mão cho tượng Bà. Nước tắm tượng thường là nước thơm, bộ y phục cũ của tượng Bà sẽ được cắt nhỏ ra để phân phát cho du khách tham gia trẩy hội và được xem như lá bùa hộ mệnh giúp người ta khoẻ mạnh và trừ tà. Lễ tắm Bà sẽ kéo dài trong khoảng một giờ, sau đó người dân và du khách sẽ được tự do lễ bái. Lễ hội Vía Bà Xứ tại tỉnh An Giang Lễ thỉnh sắc Thoại Ngọc Hầu về Miếu Bà:Lễ này sẽ được tiến hành vào lúc 3 giờ chiều ngày 24.Các bô lão trong làng và các thành viên Ban quản trị lăng miếu mặc lễ phục chỉnh tề và sang lăng Thoại Ngọc Hầu, nằm đối diện với miếu bà để làm lễ Thỉnh Sắc rước bài vị của Ngọc Hầu Nguyễn văn Thoại, bà nhị phẩm là Trương Thị Miệt, và bài vị Hội đồng. Khi đến Miếu Bà, các bài vị này sẽ được an vị ở ngôi chính điện, Ban quản trị sẽ tiến hành dâng hương thỉnh an, và lễ thỉnh sắc kết thúc. Tục lệ thỉnh sắc Thoại Ngọc hầu đã được duy trì từ khá lâu để người dân nơi đây tỏ lòng biết ơn ông, người đã có công khai phá vùng đất hoang vu này. Lễ Túc Yết: Thường tổ chức lúc 0 giờ ngày 25 rạng sáng ngày 26. Tất cả các bô lão trong làng và các thành viên Ban quản trị lăng miếu diện lễ phục chỉnh tề, đứng xếp thành hai hàng bên trước tượng Bà. Vật cúng chuẩn bị gồm có: một con heo trắng (đã được làm sạch sẽ và mổ bụng nhưng chưa nấu chín), một đĩa đựng huyết có kèm ít lông heo được gọi chung là "mao huyết", một mâm xôi, một mâm trầu cau, một mâm trái cây, một đĩa gạo và muối. Ông chánh bái sẽ tiến hành dâng hương, chúc tửu, hiến trà, và dâng tế vật cúng, sau đó thì đốt một ít giấy vàng bạc. Một lễ trong 5 lễ chính của Lễ hội vía Bà Xứ Lễ xây chầu: Sau lễ cúng túc yết sẽ đến Lễ xây chầu.Ông chánh bái sẽ tiến tới bàn thờ đặt giữa võ ca, hai tay thành kính cầm dùi trống nâng lên ngang trán và khấn vái. Phía bên trái bàn thờ sẽ có một bát nước và một cành dương liễu. Ông chánh bái ca công sau đó cầm nhành dương liễu nhúng vào tô nước rồi vảy nước ra xung quanh, ông vừa đọc to lời cầu nguyện tốt đẹp cho dân làng. Đọc xong, ông chánh bái ca công và đặt tô nước, cành dương trở lại chỗ cũ, tiến đến nơi đặt trống và đánh ba hồi trống, xướng "ca công tiếp giá", lập tức đoàn hát bộ sẽ nổi chiêng trống rộn ràng và chương trình hát bộ chính thức bắt đầu. Các tuồng hát bộ thường được diễn tại miếu bà gồm: Sát Thát, Trần Bình Trọng, Trưng Nữ Vương, Lưu Kim Đính v.v... Lễ Chánh tế: Thường được tiến hành vào lúc 4 giờ sáng ngày 26, cúng Chánh tế (nghi thức tương tự như cúng "túc yết"). Chiều ngày 27 sẽ đưa sắc Thoại Ngọc hầu trở về Sơn Lăng. Lễ hội diễn ra rất sôi nổi đan xen với những nghi lễ truyền thống,các hoạt động văn hoá nghệ thuật dân gian sẽ được trình diễn như múa lân, múa đĩa chén, múa mâm thao...thu hút sự quan tâm của du khách. Người dân trong và ngoài tình nô nức tới xem rước kiệu Lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam là một trong những lễ hội mang đậm bản sắc dân tộc của Việt Nam. Nhưng lễ hội này cũng chứa đựng nhiều màu sắc của vùng quê Nam Bộ. Lễ hội này thực sự là một lễ hội văn hoá dân gian hấp dẫn, đáp ứng nhu cầu văn hoá xã hội và đời sống tinh thần của người dân.

Lễ hội Bà Chúa Xứ (còn được gọi là lễ Vía Bà) diễn ra hàng năm bắt đầu từ đêm ngày 23/4 đến 27/4 âm lịch. Tại Miếu Bà Chúa Xứ nằm ở phường Núi Sam (trước là xã Vĩnh Tế) của thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Các nghi lễ trong lễ hội Vía Bà gồm: Lễ tắm Bà, Lễ Túc Yết, Lễ thỉnh sắc Thoại Ngọc Hầu về Miếu Bà, Lễ Chánh tế, Lễ xây chầu. Lễ tắm Bà. Lễ này sẽ được tổ chức vào lúc đúng 24 giờ đêm ngày 23 rạng sáng ngày 24. Nói là tắm bà trên thực tế chỉ là lau sạch bụi bặm trên tượng thờ và thay áo mão cho tượng Bà. Nước tắm tượng thường là nước thơm, bộ y phục cũ của tượng Bà sẽ được cắt nhỏ ra để phân phát cho du khách tham gia trẩy hội và được xem như lá bùa hộ mệnh giúp người ta khoẻ mạnh và trừ tà. Lễ tắm Bà sẽ kéo dài trong khoảng một giờ, sau đó người dân và du khách sẽ được tự do lễ bái. Lễ hội Vía Bà Xứ tại tỉnh An Giang Lễ thỉnh sắc Thoại Ngọc Hầu về Miếu Bà:Lễ này sẽ được tiến hành vào lúc 3 giờ chiều ngày 24.Các bô lão trong làng và các thành viên Ban quản trị lăng miếu mặc lễ phục chỉnh tề và sang lăng Thoại Ngọc Hầu, nằm đối diện với miếu bà để làm lễ Thỉnh Sắc rước bài vị của Ngọc Hầu Nguyễn văn Thoại, bà nhị phẩm là Trương Thị Miệt, và bài vị Hội đồng. Khi đến Miếu Bà, các bài vị này sẽ được an vị ở ngôi chính điện, Ban quản trị sẽ tiến hành dâng hương thỉnh an, và lễ thỉnh sắc kết thúc. Tục lệ thỉnh sắc Thoại Ngọc hầu đã được duy trì từ khá lâu để người dân nơi đây tỏ lòng biết ơn ông, người đã có công khai phá vùng đất hoang vu này. Lễ Túc Yết: Thường tổ chức lúc 0 giờ ngày 25 rạng sáng ngày 26. Tất cả các bô lão trong làng và các thành viên Ban quản trị lăng miếu diện lễ phục chỉnh tề, đứng xếp thành hai hàng bên trước tượng Bà. Vật cúng chuẩn bị gồm có: một con heo trắng (đã được làm sạch sẽ và mổ bụng nhưng chưa nấu chín), một đĩa đựng huyết có kèm ít lông heo được gọi chung là "mao huyết", một mâm xôi, một mâm trầu cau, một mâm trái cây, một đĩa gạo và muối. Ông chánh bái sẽ tiến hành dâng hương, chúc tửu, hiến trà, và dâng tế vật cúng, sau đó thì đốt một ít giấy vàng bạc. Một lễ trong 5 lễ chính của Lễ hội vía Bà Xứ Lễ xây chầu: Sau lễ cúng túc yết sẽ đến Lễ xây chầu.Ông chánh bái sẽ tiến tới bàn thờ đặt giữa võ ca, hai tay thành kính cầm dùi trống nâng lên ngang trán và khấn vái. Phía bên trái bàn thờ sẽ có một bát nước và một cành dương liễu. Ông chánh bái ca công sau đó cầm nhành dương liễu nhúng vào tô nước rồi vảy nước ra xung quanh, ông vừa đọc to lời cầu nguyện tốt đẹp cho dân làng. Đọc xong, ông chánh bái ca công và đặt tô nước, cành dương trở lại chỗ cũ, tiến đến nơi đặt trống và đánh ba hồi trống, xướng "ca công tiếp giá", lập tức đoàn hát bộ sẽ nổi chiêng trống rộn ràng và chương trình hát bộ chính thức bắt đầu. Các tuồng hát bộ thường được diễn tại miếu bà gồm: Sát Thát, Trần Bình Trọng, Trưng Nữ Vương, Lưu Kim Đính v.v... Lễ Chánh tế: Thường được tiến hành vào lúc 4 giờ sáng ngày 26, cúng Chánh tế (nghi thức tương tự như cúng "túc yết"). Chiều ngày 27 sẽ đưa sắc Thoại Ngọc hầu trở về Sơn Lăng. Lễ hội diễn ra rất sôi nổi đan xen với những nghi lễ truyền thống,các hoạt động văn hoá nghệ thuật dân gian sẽ được trình diễn như múa lân, múa đĩa chén, múa mâm thao...thu hút sự quan tâm của du khách. Người dân trong và ngoài tình nô nức tới xem rước kiệu Lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam là một trong những lễ hội mang đậm bản sắc dân tộc của Việt Nam. Nhưng lễ hội này cũng chứa đựng nhiều màu sắc của vùng quê Nam Bộ. Lễ hội này thực sự là một lễ hội văn hoá dân gian hấp dẫn, đáp ứng nhu cầu văn hoá xã hội và đời sống tinh thần của người dân.

Related Figures

Lễ hội truyền thống cách mạng

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 17/1 Dương lịch (lehoi.info) - Hàng năm, cứ vào ngày 17 tháng giêng dương lịch, lễ hội truyền thống cách mạng lại diễn ra tại xã Định Thủy thuộc huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre với nhiều hoạt động gắn liền với sự kiện kỷ niệm ngày truyền thống Cách mạng Đồng Khởi (17/1/1960). Đối với người dân của tỉnh Bến Tre, ngày 17 tháng Giêng dương lịch, mãi mãi là một ngày không thể quên. Vào năm 1960, sau khi Ban Chấp hành Trung ương Đảng đưa ra Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15, nhân dân các tỉnh miền Nam đã cùng vùng lên khởi nghĩa, mà mở đầu là một cuộc Đồng Khởi. Những người con anh dũng của cả 3 dải cù lao xanh của tỉnh Bến Tre đã vùng lên làm một cuộc Đồng khởi với súng gỗ và mõ tre đã vùng lên phá bốt, diệt đồn, đánh tan quân giặc. Lễ hội truyền thống cách mạng tại Bến Tre Như vậy, Đồng khởi tại Bến Tre không chỉ mang ý nghĩa đơn giản là một cuộc nổi dậy của đồng loạt người dân tay không đứng lên phản kháng, cướp đồn địch, giành lại chính quyền. Đồng khởi còn là một quá trình liên tục tấn công, liên tục nổi dậy và liên tục giành thắng lợi của người dân miền Nam - Việt Nam. Đây thật sự là một hình thức đấu tranh độc đáo, có tính sáng tạo của người dân Việt Nam trong thời cách mạng. Để kỷ niệm chiến thắng hào hùng năm đó, hàng năm vào ngày 17-1 dương lịch nhân dân tỉnh Bến Tre lại tổ chức lễ kỷ niệm Lễ hội truyền thống cách mạng. Thả hoa đăng trong ngày hội Vào tối ngày 16-1, tỉnh Bến Tre diễn ra một đêm hội Hoa đăng nhằm tưởng nhớ đến những anh hùng liệt sỹ đã hy sinh cho dân tộc, Đêm hội hoa đăng thường được tổ chức ngay trên dòng sông Bến Tre lịch sử, ở khu tượng đài Anh hùng liệt sỹ Hoàng Lam - người đặc công thủy huyền thoại năm nào. Hàng ngàn ngọn hoa đăng sẽ được thả trên sông và cảnh đánh chìm tàu giặc của đặc công thủy Hoàng Lam sẽ được phục dựng lại để đưa người xem sống lại cảnh tượng hào hào hùng của dân tộc. Đến với lễ hội, khách thập phương còn được chiêm ngưỡng một Bến Tre đầy trữ tình và lãng mạn trong lễ khai mạc. Các thanh thiếu niên tham dự lễ hội Ngày Bến Tre Đồng khởi thường được tổ chức vào buổi tối ngày 17-1 tại khu Sao Mai. Đây chính là điểm nhấn nổi bật nhất của lễ hội này với một lễ diễu binh, diễu hành và một chương trình nghệ thuật thu hút sự quan tâm của khách đến xem hội. Lễ hội truyền thống cách mạng có âm hưởng chủ đạo là một bản anh hùng ca hào tráng, bất diệt được đầu tư dàn dựng công phu giữa hình ảnh của những đài đuốc lửa và hàng trăm ngọn đuốc dừa đang rực cháy hòa cùng âm thanh của tiếng trống tiếng mõ tre được phát cho những người đến tham dự cùng đánh, đã tạo nên không khí vô cùng sống động cho những ngày đồng khởi năm xưa. Đặc biệt, tại đây chúng ta còn được gặp lại con cháu của những người phụ nữ thuộc đội quân tóc dài" năm xưa từ Mỏ Cày, gặp những Bà mẹ Việt Nam Anh hùng đã có các con trai ngã xuống cho sự bình yên của quê hương, của đất nước.

(lehoi.info) - Hàng năm, cứ vào ngày 17 tháng giêng dương lịch, lễ hội truyền thống cách mạng lại diễn ra tại xã Định Thủy thuộc huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre với nhiều hoạt động gắn liền với sự kiện kỷ niệm ngày truyền thống Cách mạng Đồng Khởi (17/1/1960).

Đối với người dân của tỉnh Bến Tre, ngày 17 tháng Giêng dương lịch, mãi mãi là một ngày không thể quên. Vào năm 1960, sau khi Ban Chấp hành Trung ương Đảng đưa ra Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15, nhân dân các tỉnh miền Nam đã cùng vùng lên khởi nghĩa, mà mở đầu là một cuộc Đồng Khởi. Những người con anh dũng của cả 3 dải cù lao xanh của tỉnh Bến Tre đã vùng lên làm một cuộc Đồng khởi với súng gỗ và mõ tre đã vùng lên phá bốt, diệt đồn, đánh tan quân giặc. Lễ hội truyền thống cách mạng tại Bến Tre Như vậy, Đồng khởi tại Bến Tre không chỉ mang ý nghĩa đơn giản là một cuộc nổi dậy của đồng loạt người dân tay không đứng lên phản kháng, cướp đồn địch, giành lại chính quyền. Đồng khởi còn là một quá trình liên tục tấn công, liên tục nổi dậy và liên tục giành thắng lợi của người dân miền Nam - Việt Nam. Đây thật sự là một hình thức đấu tranh độc đáo, có tính sáng tạo của người dân Việt Nam trong thời cách mạng. Để kỷ niệm chiến thắng hào hùng năm đó, hàng năm vào ngày 17-1 dương lịch nhân dân tỉnh Bến Tre lại tổ chức lễ kỷ niệm Lễ hội truyền thống cách mạng. Thả hoa đăng trong ngày hội Vào tối ngày 16-1, tỉnh Bến Tre diễn ra một đêm hội Hoa đăng nhằm tưởng nhớ đến những anh hùng liệt sỹ đã hy sinh cho dân tộc, Đêm hội hoa đăng thường được tổ chức ngay trên dòng sông Bến Tre lịch sử, ở khu tượng đài Anh hùng liệt sỹ Hoàng Lam - người đặc công thủy huyền thoại năm nào. Hàng ngàn ngọn hoa đăng sẽ được thả trên sông và cảnh đánh chìm tàu giặc của đặc công thủy Hoàng Lam sẽ được phục dựng lại để đưa người xem sống lại cảnh tượng hào hào hùng của dân tộc. Đến với lễ hội, khách thập phương còn được chiêm ngưỡng một Bến Tre đầy trữ tình và lãng mạn trong lễ khai mạc. Các thanh thiếu niên tham dự lễ hội Ngày Bến Tre Đồng khởi thường được tổ chức vào buổi tối ngày 17-1 tại khu Sao Mai. Đây chính là điểm nhấn nổi bật nhất của lễ hội này với một lễ diễu binh, diễu hành và một chương trình nghệ thuật thu hút sự quan tâm của khách đến xem hội. Lễ hội truyền thống cách mạng có âm hưởng chủ đạo là một bản anh hùng ca hào tráng, bất diệt được đầu tư dàn dựng công phu giữa hình ảnh của những đài đuốc lửa và hàng trăm ngọn đuốc dừa đang rực cháy hòa cùng âm thanh của tiếng trống tiếng mõ tre được phát cho những người đến tham dự cùng đánh, đã tạo nên không khí vô cùng sống động cho những ngày đồng khởi năm xưa. Đặc biệt, tại đây chúng ta còn được gặp lại con cháu của những người phụ nữ thuộc đội quân tóc dài" năm xưa từ Mỏ Cày, gặp những Bà mẹ Việt Nam Anh hùng đã có các con trai ngã xuống cho sự bình yên của quê hương, của đất nước.

Related Figures

Lễ hội múa Mỡi dân tộc Mường

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 3/12 Âm lịch (lehoi.info) - Lễ hội múa Mỡi của người dân tộc Mường được tổ chức vào dịp đầu năm mới (mùng 3 tháng Chạp), tại thôn Ao Luông II, xã Sơn A, Văn Chấn, Yên Bái. Lễ hội là để con cháu cảm ơn tổ tiên một năm qua đã che chở, phù hộ cho con cháu làm ăn phát đạt, gặp nhiều may mắn, mùa màng tốt tươi, mưa thuận gió hoà, thóc lúa đầy bồ, con cháu luôn mạnh khoẻ… Lễ hội múa Mỡi dân tộc Mường Theo một số người già trong làng ở nơi đây kể lại, lễ hội múa Mỡi đã có từ rất lâu đời rồi, không ai còn nhớ rõ là có từ khi nào nữa. Chỉ biết rằng hàng năm, cứ tới dịp đầu năm mới (mùng 3 tháng Chạp), mọi người lại tụ tập nhau lại để múa mời tổ tiên xuống trần gian nhảy múa, vui chơi cùng với con cháu. Điệu múa này được diễn ra tại nhà của ông Mo lớn hay Mo chủ (cầm thần) là một ông Mo có uy tín nhất ở trong làng. Để chuẩn bị cho lễ hội múa Mỡi này, trước nhà ông thầy Mo sẽ dựng một cây nêu được trang trí rất nhiều họa tiết mang ý nghĩa tâm linh. Điệu múa Mỡi trong lễ hội múa Mỡi dân tộc Mường Lễ vật trong lễ hội múa Mỡi này gồm có: Một mâm lễ cúng (theo tiếng dân tộc Mường gọi là “Pán Cạo”) gồm có các lễ vật sau: 1 đầu lợn, bánh trưng (pèng chưng), bánh chay (pèng chay), bánh ống (pẻng ống), xôi, cơm, rau chay, lá đu đủ, măng, rượu và 1 nải chuối. Và còn một lễ vật có ý nghĩa rất quan trọng trong lễ hội này đó là cây bông, theo tiếng Mường gọi là “Cần Boồng”. Bắt đầu vào ngày lễ, ông thầy Mo phải mặc quần áo truyền thống, đầu phải quấn khăn Mơi, tay thì cầm quạt và ngồi giữa một chiếc chiếu được trải ở khu vực trung tâm. Thầy Mo thay mặt cho tất cả mọi người tham gia trong lễ hội đứng trước mâm cúng khấn, với lời khấn đại ý “Hôm nay ngày lành tháng tốt, bản mường có tổ chức lễ hội múa Mơi, để cảm ơn thần tiên, tổ tiên trong năm qua đã phù hộ cho con cháu một năm làm ăn gặp nhiều may mắn, mùa màng tốt tươi, mưa thuận gió hoà...”. Điệu múa này của ông thầy mo với đại ý là thần tiên đã nhập vào thầy để vui chơi cùng với các con cháu. Khi đã nhập vào, ông thầy mo sẽ múa điệu quay tròn lắc lư đầu, chân rung rất mạnh cảm giác như sắp bật khỏi mặt đất, thầy vừa múa nhập đồng miệng vừa lẩm nhẩm điệu hát. Sau khi ông thầy mo nhập đồng xong mọi người sẽ bắt đầu vào màn múa đầu tiên theo nhịp gõ chiêng, trống, điệu múa trầu (hay còn gọi là điệu múa nàng tiên). Điệu múa này là thầy mo sẽ mời các nàng tiên ở trên trời xuống để dự lễ hội múa vui cùng với bà con dân bản. Tham gia vào điệu múa này chủ yếu là 6 nghệ nhân mặc trang phục truyền thống, khăn Mơi vắt qua vai, khi bắt đầu vào điệu múa khăn Mỡi sẽ được chuyển từ vai xuống tay và trở thành đạo cụ múa. Đạo cụ được dùng trong điệu múa là những thanh nứa dài, dùng để gõ lên một tấm gỗ theo nhịp 3-4 kết hợp với âm thanh của chiêng và trống. Ở điệu này, người múa phải nhìn nhau và múa đều theo nhạc. Điệu múa này sẽ diễn ra trong khoảng 15 phút đến 20 phút. Điều đặc biệt ở đây là tất cả mọi người có thể cùng tham gia múa với những động tác đơn giản và không phức tạp. Chân sẽ bước theo nhịp 2-4, khi chân vắt sang phải thì tay cầm khăn mơi sẽ vung sang trái và ngược lại. Mọi người cùng nhau say sưa múa, điệu múa cứ lặp đi lặp lại như vậy, từ vị trí ban đầu di chuyển theo vòng tròn rồi lại xoay lại. Tiếp theo là đến điệu múa “Mùa Cuổi” (múa Cuội) hay Thần tiên xuống chơi. Đây là điệu múa cao trào nhất, điệu múa này mang ý nghĩa rằng thần tiên ở trên trời đã nghe thấy lời cúng khấn của các con các cháu nên đã nhập đồng xuống trần gian để cùng vui chơi. Thầy mo lúc này sẽ vừa nhảy múa cùng mọi người vừa ra hiệu cho tất cả mọi người cùng nhau vui chơi, cùng nhau tham gia vào màn múa. Trong điệu múa này, có một phần vô cùng đặc biệt đó là phần “phán bông” của ông thầy Mo, các cô gái rất náo nức đón đợi phần này bởi qua lời phán của ông Thầy Mo một trong số các cô gái xinh đẹp,, khéo léo, đảm đang tham gia vào công việc chuẩn bị cây bông sẽ được ông thầy mo chọn và phán là người khéo tay nhất đã làm ra những bông hoa đẹp nhất. Sau một hồi múa vui, ông thầy Mo sẽ ra hiệu cho mọi người chuyển sang điệu múa mô tả các trò chơi thể thao, các trò chơi ở đây chủ yếu là đánh đu, ném còn, kéo co… Xong nhịp múa này thì Cuội nhập vào thầy mo, lúc này ông thầy Mo sẽ đứng bật dậy múa những động tác lạ khác hẳn với những động tác đã múa trước đó và có sự trêu ghẹo các cô gái xinh của bản và bị các cô gái đuổi về trời. Kết thúc, tất cả mọi người sẽ quây quần bên nhau, chúc nhau chén rượu và hẹn nhau năm sau thần tiên sẽ quay trở lại vui cùng với bản Mường. Diễn xướng dân gian "Múa Mỡi" của đồng bào dân tộc Mường Có thể nói, lễ hội Múa Mỡi là lễ hội truyền thống mang ý nghĩa rất lớn trong đời sống văn hóa tinh thần của đồng bào dân tộc Mường ở nơi đây. Những khát vọng và ước mơ về cuộc sống tự do vươn tới hạnh phúc, ấm no và ca ngợi tình yêu đôi lứa đã được người dân Mường gửi gắm qua lễ hội. lehoi.info tổng hợp

(lehoi.info) - Lễ hội múa Mỡi của người dân tộc Mường được tổ chức vào dịp đầu năm mới (mùng 3 tháng Chạp), tại thôn Ao Luông II, xã Sơn A, Văn Chấn, Yên Bái. Lễ hội là để con cháu cảm ơn tổ tiên một năm qua đã che chở, phù hộ cho con cháu làm ăn phát đạt, gặp nhiều may mắn, mùa màng tốt tươi, mưa thuận gió hoà, thóc lúa đầy bồ, con cháu luôn mạnh khoẻ…

Lễ hội múa Mỡi dân tộc Mường Theo một số người già trong làng ở nơi đây kể lại, lễ hội múa Mỡi đã có từ rất lâu đời rồi, không ai còn nhớ rõ là có từ khi nào nữa. Chỉ biết rằng hàng năm, cứ tới dịp đầu năm mới (mùng 3 tháng Chạp), mọi người lại tụ tập nhau lại để múa mời tổ tiên xuống trần gian nhảy múa, vui chơi cùng với con cháu. Điệu múa này được diễn ra tại nhà của ông Mo lớn hay Mo chủ (cầm thần) là một ông Mo có uy tín nhất ở trong làng. Để chuẩn bị cho lễ hội múa Mỡi này, trước nhà ông thầy Mo sẽ dựng một cây nêu được trang trí rất nhiều họa tiết mang ý nghĩa tâm linh. Điệu múa Mỡi trong lễ hội múa Mỡi dân tộc Mường Lễ vật trong lễ hội múa Mỡi này gồm có: Một mâm lễ cúng (theo tiếng dân tộc Mường gọi là “Pán Cạo”) gồm có các lễ vật sau: 1 đầu lợn, bánh trưng (pèng chưng), bánh chay (pèng chay), bánh ống (pẻng ống), xôi, cơm, rau chay, lá đu đủ, măng, rượu và 1 nải chuối. Và còn một lễ vật có ý nghĩa rất quan trọng trong lễ hội này đó là cây bông, theo tiếng Mường gọi là “Cần Boồng”. Bắt đầu vào ngày lễ, ông thầy Mo phải mặc quần áo truyền thống, đầu phải quấn khăn Mơi, tay thì cầm quạt và ngồi giữa một chiếc chiếu được trải ở khu vực trung tâm. Thầy Mo thay mặt cho tất cả mọi người tham gia trong lễ hội đứng trước mâm cúng khấn, với lời khấn đại ý “Hôm nay ngày lành tháng tốt, bản mường có tổ chức lễ hội múa Mơi, để cảm ơn thần tiên, tổ tiên trong năm qua đã phù hộ cho con cháu một năm làm ăn gặp nhiều may mắn, mùa màng tốt tươi, mưa thuận gió hoà...”. Điệu múa này của ông thầy mo với đại ý là thần tiên đã nhập vào thầy để vui chơi cùng với các con cháu. Khi đã nhập vào, ông thầy mo sẽ múa điệu quay tròn lắc lư đầu, chân rung rất mạnh cảm giác như sắp bật khỏi mặt đất, thầy vừa múa nhập đồng miệng vừa lẩm nhẩm điệu hát. Sau khi ông thầy mo nhập đồng xong mọi người sẽ bắt đầu vào màn múa đầu tiên theo nhịp gõ chiêng, trống, điệu múa trầu (hay còn gọi là điệu múa nàng tiên). Điệu múa này là thầy mo sẽ mời các nàng tiên ở trên trời xuống để dự lễ hội múa vui cùng với bà con dân bản. Tham gia vào điệu múa này chủ yếu là 6 nghệ nhân mặc trang phục truyền thống, khăn Mơi vắt qua vai, khi bắt đầu vào điệu múa khăn Mỡi sẽ được chuyển từ vai xuống tay và trở thành đạo cụ múa. Đạo cụ được dùng trong điệu múa là những thanh nứa dài, dùng để gõ lên một tấm gỗ theo nhịp 3-4 kết hợp với âm thanh của chiêng và trống. Ở điệu này, người múa phải nhìn nhau và múa đều theo nhạc. Điệu múa này sẽ diễn ra trong khoảng 15 phút đến 20 phút. Điều đặc biệt ở đây là tất cả mọi người có thể cùng tham gia múa với những động tác đơn giản và không phức tạp. Chân sẽ bước theo nhịp 2-4, khi chân vắt sang phải thì tay cầm khăn mơi sẽ vung sang trái và ngược lại. Mọi người cùng nhau say sưa múa, điệu múa cứ lặp đi lặp lại như vậy, từ vị trí ban đầu di chuyển theo vòng tròn rồi lại xoay lại. Tiếp theo là đến điệu múa “Mùa Cuổi” (múa Cuội) hay Thần tiên xuống chơi. Đây là điệu múa cao trào nhất, điệu múa này mang ý nghĩa rằng thần tiên ở trên trời đã nghe thấy lời cúng khấn của các con các cháu nên đã nhập đồng xuống trần gian để cùng vui chơi. Thầy mo lúc này sẽ vừa nhảy múa cùng mọi người vừa ra hiệu cho tất cả mọi người cùng nhau vui chơi, cùng nhau tham gia vào màn múa. Trong điệu múa này, có một phần vô cùng đặc biệt đó là phần “phán bông” của ông thầy Mo, các cô gái rất náo nức đón đợi phần này bởi qua lời phán của ông Thầy Mo một trong số các cô gái xinh đẹp,, khéo léo, đảm đang tham gia vào công việc chuẩn bị cây bông sẽ được ông thầy mo chọn và phán là người khéo tay nhất đã làm ra những bông hoa đẹp nhất. Sau một hồi múa vui, ông thầy Mo sẽ ra hiệu cho mọi người chuyển sang điệu múa mô tả các trò chơi thể thao, các trò chơi ở đây chủ yếu là đánh đu, ném còn, kéo co… Xong nhịp múa này thì Cuội nhập vào thầy mo, lúc này ông thầy Mo sẽ đứng bật dậy múa những động tác lạ khác hẳn với những động tác đã múa trước đó và có sự trêu ghẹo các cô gái xinh của bản và bị các cô gái đuổi về trời. Kết thúc, tất cả mọi người sẽ quây quần bên nhau, chúc nhau chén rượu và hẹn nhau năm sau thần tiên sẽ quay trở lại vui cùng với bản Mường. Diễn xướng dân gian "Múa Mỡi" của đồng bào dân tộc Mường Có thể nói, lễ hội Múa Mỡi là lễ hội truyền thống mang ý nghĩa rất lớn trong đời sống văn hóa tinh thần của đồng bào dân tộc Mường ở nơi đây. Những khát vọng và ước mơ về cuộc sống tự do vươn tới hạnh phúc, ấm no và ca ngợi tình yêu đôi lứa đã được người dân Mường gửi gắm qua lễ hội. lehoi.info tổng hợp

Related Figures

Độc đáo lễ hội thui trâu, rước cỗ làng Chiền tỉnh Bắc Giang

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 8/8- 10/8 Âm lịch (lehoi.info) - Lễ hội thui trâu, rước cỗ làng Chiền ở tỉnh Bắc Giang, là một lễ hội truyền thống mang nhiều nét văn hóa riêng biệt so với các lễ hội khác. Lễ hội này được xem là một nét đẹp văn hóa độc đáo đã góp phần làm phong phú thêm bức tranh văn hóa làng quê của Việt Nam Làng Chiền thuộc xã Nội Hoàng,cách thành phố Bắc Giang không xa lắm, là một trong những làng cổ còn tồn tại của huyện Yên Dũng vẫn còn bảo lưu được nhiều những giá trị lịch sử và các phong tục cổ truyền từ xa xưa. Trâu được thui trong lễ tế thường là con trêu to, khỏe Lễ hội làng Chiền được tổ chức ba năm một lần vào ba ngày 8, 9 và mồng 10 tháng 8 âm lịch hàng năm, với quy mô lớn nhằm bày tỏ sự tôn kính của dân làng đối với các vị Thành Hoàng đã có công lao với quê hương và đất nước. Lễ hội làng Chiền cũng là dịp để người dân tế lễ lên các vị thần cầu cho một năm mưa thuận gió hòa, dân có cuộc sống no ấm và hạnh phúc. Đặc biệt, lễ hội được tổ chức với những tục riêng biệt mà hiếm nơi nào có, đó là tục thui trâu trong tế thần, tục rước cỗ về đình. Ngay từ sáng sớm ngày khai hội, Ban tổ chức lễ hội và dân làng đã tập trung đông đủ ra đình để làm lễ thui trâu. Theo tục làng từ xa xưa đã quy định, ngày hội làng phải có lễ thui trâu để tế lên Thành Hoàng. Chính vì vậy, con Trâu được chọn để thui phải là trâu mộng to, béo, khỏe. Người dân nơi đây có quan niệm chọn con câu trâu như vậy mới thể hiện được sự thành kính, tăng thêm phần long trọng, thiêng liêng cho lễ tế. Sau nghi lễ tế Thành Hoàng kết thúc, thịt trâu sẽ được xẻ ra và chia đều cho các hộ dân để làm cỗ trong ngày hội. Ngoài tục lệ thui trâu tế thần, phần lễ của hội làng Chiền còn có tục rước cỗ rất độc đáo. Đây cũng là một nét đẹp văn hóa cổ truyền đã được người dân làng Chiền lưu giữ từ xa xưa. Cỗ được 3 thôn là thôn Si, Giá và Chiền, sửa soạn gồm có thủ lợn, xôi, gà, hoa quả…Đội rước cỗ sẽ tập trung tại một địa điểm, sau đó cùng rước về đình lễ thánh. Đi đầu đám rước của mỗi thôn sẽ là một gia đình tiêu biểu đã được dân làng bầu chọn, suy tôn. Gia đình được chọn đi đầu trong để rước cỗ phải là gia đình có kinh tế khá, vợ chồng hòa thuận, thọ từ 75 tuổi trở lên, chấp hành tốt các chủ trương chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, hương ước của thôn làng. Đây chính là một vinh dự của gia đình này cũng đồng thời có ý nghĩa giáo dục lớn đối với người dân trong thôn để không ngừng vun đắp hạnh phúc gia đình trọn vẹn. Lễ hội làng Chiền là nét đẹp văn hóa truyền thống của người dân Kinh Bắc Bên cạnh các phần lễ đặc sắc, hội làng Chiền còn duy trì được nhiều trò chơi dân gian truyền thống như bắt vịt, đập niêu, cờ người, vật… được tổ chức tại các địa điểm xung quanh khu vực đình trong vòng 3 ngày, thu hút rất nhiều nhân dân tham gia. Những năm trở lại đây, nhiều trò chơi mới và không gian tổ chức phong phú hơn cũng được làng Chiền tổ chức như hát quan họ trên thuyền, bóng chuyền hơi… nhằm làm tăng thêm phần sinh động cho ngày lễ hội. Chính những nét riêng biệt trong hội lệ, và những nét đẹp trong văn hóa truyền thống từ ngàn đời của ông cha vẫn còn lưu giữ đã khiến lễ hội làng Chiền càng thêm phong phú và có sức hút với du khách đến quan quan.

(lehoi.info) - Lễ hội thui trâu, rước cỗ làng Chiền ở tỉnh Bắc Giang, là một lễ hội truyền thống mang nhiều nét văn hóa riêng biệt so với các lễ hội khác. Lễ hội này được xem là một nét đẹp văn hóa độc đáo đã góp phần làm phong phú thêm bức tranh văn hóa làng quê của Việt Nam

Làng Chiền thuộc xã Nội Hoàng,cách thành phố Bắc Giang không xa lắm, là một trong những làng cổ còn tồn tại của huyện Yên Dũng vẫn còn bảo lưu được nhiều những giá trị lịch sử và các phong tục cổ truyền từ xa xưa. Trâu được thui trong lễ tế thường là con trêu to, khỏe Lễ hội làng Chiền được tổ chức ba năm một lần vào ba ngày 8, 9 và mồng 10 tháng 8 âm lịch hàng năm, với quy mô lớn nhằm bày tỏ sự tôn kính của dân làng đối với các vị Thành Hoàng đã có công lao với quê hương và đất nước. Lễ hội làng Chiền cũng là dịp để người dân tế lễ lên các vị thần cầu cho một năm mưa thuận gió hòa, dân có cuộc sống no ấm và hạnh phúc. Đặc biệt, lễ hội được tổ chức với những tục riêng biệt mà hiếm nơi nào có, đó là tục thui trâu trong tế thần, tục rước cỗ về đình. Ngay từ sáng sớm ngày khai hội, Ban tổ chức lễ hội và dân làng đã tập trung đông đủ ra đình để làm lễ thui trâu. Theo tục làng từ xa xưa đã quy định, ngày hội làng phải có lễ thui trâu để tế lên Thành Hoàng. Chính vì vậy, con Trâu được chọn để thui phải là trâu mộng to, béo, khỏe. Người dân nơi đây có quan niệm chọn con câu trâu như vậy mới thể hiện được sự thành kính, tăng thêm phần long trọng, thiêng liêng cho lễ tế. Sau nghi lễ tế Thành Hoàng kết thúc, thịt trâu sẽ được xẻ ra và chia đều cho các hộ dân để làm cỗ trong ngày hội. Ngoài tục lệ thui trâu tế thần, phần lễ của hội làng Chiền còn có tục rước cỗ rất độc đáo. Đây cũng là một nét đẹp văn hóa cổ truyền đã được người dân làng Chiền lưu giữ từ xa xưa. Cỗ được 3 thôn là thôn Si, Giá và Chiền, sửa soạn gồm có thủ lợn, xôi, gà, hoa quả…Đội rước cỗ sẽ tập trung tại một địa điểm, sau đó cùng rước về đình lễ thánh. Đi đầu đám rước của mỗi thôn sẽ là một gia đình tiêu biểu đã được dân làng bầu chọn, suy tôn. Gia đình được chọn đi đầu trong để rước cỗ phải là gia đình có kinh tế khá, vợ chồng hòa thuận, thọ từ 75 tuổi trở lên, chấp hành tốt các chủ trương chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, hương ước của thôn làng. Đây chính là một vinh dự của gia đình này cũng đồng thời có ý nghĩa giáo dục lớn đối với người dân trong thôn để không ngừng vun đắp hạnh phúc gia đình trọn vẹn. Lễ hội làng Chiền là nét đẹp văn hóa truyền thống của người dân Kinh Bắc Bên cạnh các phần lễ đặc sắc, hội làng Chiền còn duy trì được nhiều trò chơi dân gian truyền thống như bắt vịt, đập niêu, cờ người, vật… được tổ chức tại các địa điểm xung quanh khu vực đình trong vòng 3 ngày, thu hút rất nhiều nhân dân tham gia. Những năm trở lại đây, nhiều trò chơi mới và không gian tổ chức phong phú hơn cũng được làng Chiền tổ chức như hát quan họ trên thuyền, bóng chuyền hơi… nhằm làm tăng thêm phần sinh động cho ngày lễ hội. Chính những nét riêng biệt trong hội lệ, và những nét đẹp trong văn hóa truyền thống từ ngàn đời của ông cha vẫn còn lưu giữ đã khiến lễ hội làng Chiền càng thêm phong phú và có sức hút với du khách đến quan quan.

Related Figures

Hội đền Nguyễn Trung Trực

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 18/10- 19/10 Âm lịch Đền Nguyễn Trung Trực thuộc xã Long Kiên, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Nguyễn Trung Trực là thủ lĩnh của nghĩa quân chống Pháp ở khu vực Nam bộ, với nhiều chiến thắng vang dội, trong đó có trận đánh chìm một tàu của quân Pháp trên sông Nhật Tảo (vào thế kỷ 19). Lễ hội bắt đầu từ ngày 18, ngày 19 tháng 10 âm lịch hàng năm nhằm tưởng niệm và bày tỏ sự biết ơn đối với công lao của ông. Hàng ngàn người dân trong nước quy tụ về Hội đền Nguyễn Trung Trực Trước lễ hội này khoảng một tuần, hàng trăm người dân từ các tỉnh của đồng bằng sông Cửu Long đã nườm nượp kéo nhau về đền để cùng nhau sửa sang và lau chùi lại đền thờ, dựng trại, đắp lò nấu cơm... thành kính như con cháu lo thờ cúng giỗ cho ông bà tổ tiên. Phần lễ cơ bản của lễ hội này gồm có các nghi thức cổ truyền như: lễ tế đàn cả, lễ dâng hương, lễ tế cụ Nguyễn... Khuôn viên Đền Nguyễn Trung TRực tại An Giang Phần hội với các tiết mục biểu diễn đặc sắc của các đoàn nghệ thuật sẽ góp phần làm cho không khí của lễ hội trở nên sôi động hơn.Trong đó đáng chú ý nhất, đó là tiết mục tái diễn lại trận đánh chìm tàu Hy Vọng của thực dân Pháp trên sông Nhật Tảo. Ngoài ra còn tổ chức các trò chơi dân gian, chơi cờ người, biểu diễn võ thuật, thi múa lân sư rồng, thả hoa đăng trên dòng sông Kiên, thi cộ hoa... Kể từ năm 2003, lễ hội đền Nguyễn Trung Trực vẫn được coi là một trong những sự kiện văn hoá lớn có tầm cỡ quốc gia gồm nhiều hoạt động vui chơi giải trí đặc sắc, thu hút sự quan tâm của đông đảo du khách đến tham gia Hội đền Nguyễn Trung Trực là một trong những lễ hội lớn của An Giang mang tầm cỡ quốc gia

Đền Nguyễn Trung Trực thuộc xã Long Kiên, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Nguyễn Trung Trực là thủ lĩnh của nghĩa quân chống Pháp ở khu vực Nam bộ, với nhiều chiến thắng vang dội, trong đó có trận đánh chìm một tàu của quân Pháp trên sông Nhật Tảo (vào thế kỷ 19). Lễ hội bắt đầu từ ngày 18, ngày 19 tháng 10 âm lịch hàng năm nhằm tưởng niệm và bày tỏ sự biết ơn đối với công lao của ông.

Hàng ngàn người dân trong nước quy tụ về Hội đền Nguyễn Trung Trực Trước lễ hội này khoảng một tuần, hàng trăm người dân từ các tỉnh của đồng bằng sông Cửu Long đã nườm nượp kéo nhau về đền để cùng nhau sửa sang và lau chùi lại đền thờ, dựng trại, đắp lò nấu cơm... thành kính như con cháu lo thờ cúng giỗ cho ông bà tổ tiên. Phần lễ cơ bản của lễ hội này gồm có các nghi thức cổ truyền như: lễ tế đàn cả, lễ dâng hương, lễ tế cụ Nguyễn... Khuôn viên Đền Nguyễn Trung TRực tại An Giang Phần hội với các tiết mục biểu diễn đặc sắc của các đoàn nghệ thuật sẽ góp phần làm cho không khí của lễ hội trở nên sôi động hơn.Trong đó đáng chú ý nhất, đó là tiết mục tái diễn lại trận đánh chìm tàu Hy Vọng của thực dân Pháp trên sông Nhật Tảo. Ngoài ra còn tổ chức các trò chơi dân gian, chơi cờ người, biểu diễn võ thuật, thi múa lân sư rồng, thả hoa đăng trên dòng sông Kiên, thi cộ hoa... Kể từ năm 2003, lễ hội đền Nguyễn Trung Trực vẫn được coi là một trong những sự kiện văn hoá lớn có tầm cỡ quốc gia gồm nhiều hoạt động vui chơi giải trí đặc sắc, thu hút sự quan tâm của đông đảo du khách đến tham gia Hội đền Nguyễn Trung Trực là một trong những lễ hội lớn của An Giang mang tầm cỡ quốc gia

Trước lễ hội này khoảng một tuần, hàng trăm người dân từ các tỉnh của đồng bằng sông Cửu Long đã nườm nượp kéo nhau về đền để cùng nhau sửa sang và lau chùi lại đền thờ, dựng trại, đắp lò nấu cơm... thành kính như con cháu lo thờ cúng giỗ cho ông bà tổ tiên. Phần lễ cơ bản của lễ hội này gồm có các nghi thức cổ truyền như: lễ tế đàn cả, lễ dâng hương, lễ tế cụ Nguyễn... Khuôn viên Đền Nguyễn Trung TRực tại An Giang Phần hội với các tiết mục biểu diễn đặc sắc của các đoàn nghệ thuật sẽ góp phần làm cho không khí của lễ hội trở nên sôi động hơn.Trong đó đáng chú ý nhất, đó là tiết mục tái diễn lại trận đánh chìm tàu Hy Vọng của thực dân Pháp trên sông Nhật Tảo. Ngoài ra còn tổ chức các trò chơi dân gian, chơi cờ người, biểu diễn võ thuật, thi múa lân sư rồng, thả hoa đăng trên dòng sông Kiên, thi cộ hoa... Kể từ năm 2003, lễ hội đền Nguyễn Trung Trực vẫn được coi là một trong những sự kiện văn hoá lớn có tầm cỡ quốc gia gồm nhiều hoạt động vui chơi giải trí đặc sắc, thu hút sự quan tâm của đông đảo du khách đến tham gia Hội đền Nguyễn Trung Trực là một trong những lễ hội lớn của An Giang mang tầm cỡ quốc gia

Related Figures

Hội đình Phú Lễ

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 18/3- 19/3 Âm lịch (lehoi.info) - Đình Phú lễ là một ngôi đền cổ tọa lạc tại ấp Phú Khương, xã Phú lễ, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Hẳng năm, lễ hội đình Phú Lễ được tổ chức 2 lần gồm có lễ Kỳ Yên (được tổ chức vào ngày 18, 19/3 âm lịch) và lễ Cầu Bông (được tổ chức vào ngày 10/11 âm lịch) với mong muốn cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt. Lễ dâng hương tại đình làng Phú Lễ Lễ hội đình Phú lễ được ban quản lý đình và các chức sắc địa phương tổ chức với sự tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân. Lễ hội được chia làm 2 phần với phần lễ gồm các thủ tục rước sắc thần, tế lễ Thành hoàng, Tiền, Hậu hiền (người khai khẩn, khai cơ). Phần hội gồm các hoạt động vui chơi giải trí như hát bội, ca nhạc tài tử... được diễn ra rất vui vẻ và sôi đông, thu hút rất đông đảo người dân và khách du lịch tham gia. Đình Phú Lễ Được biết, đình Phú Lễ được xây dựng từ năm Minh Mạng thứ 7 (1826) và được sắc phong chính thức vào năm Tự Đức thứ 5 (1851). Ban đầu, ngôi đình chỉ được xây bằng gỗ mái lá nhưng theo thời gian, ngôi đình đã được xây và sửa sang lại với thềm và móng được xây bằng đá xanh, bên trên xây gạch, cột đình bằng gỗ lim, mái ngói lợp ngói vảy cá. Đến nay, Đình Phú Lễ đã được tu chỉnh lại với 10 gian gồm 6 gian chính và 4 gian phụ đượcbố trí theo lối chữ “Đinh”, trong đó đình chính gồm võ ca, viên đường, thính đường, chánh đường và hậu đường. Lễ hội đình Phú Lễ Trải qua sự tàn phá của thời gian và chiến tranh, các vật phẩm và bài trí trong đình đã bị tổn hại rất nhiều tuy nhiên những phần cơ bản về kiến trúc vẫn còn được bảo tồn hoàn hảo đến tận ngày nay, đặc biệt là những tác phẩm điêu khắc gỗ sơn son thiếp vàng. Với giá trị văn hóa lịch sử tinh thần to lớn, đình Phú Lễ đã được Bộ văn hóa Thông tin công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật vào ngày 7/1/1993. lehoi.info tổng hợp

(lehoi.info) - Đình Phú lễ là một ngôi đền cổ tọa lạc tại ấp Phú Khương, xã Phú lễ, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Hẳng năm, lễ hội đình Phú Lễ được tổ chức 2 lần gồm có lễ Kỳ Yên (được tổ chức vào ngày 18, 19/3 âm lịch) và lễ Cầu Bông (được tổ chức vào ngày 10/11 âm lịch) với mong muốn cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt.

Lễ dâng hương tại đình làng Phú Lễ

Lễ hội đình Phú lễ được ban quản lý đình và các chức sắc địa phương tổ chức với sự tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân. Lễ hội được chia làm 2 phần với phần lễ gồm các thủ tục rước sắc thần, tế lễ Thành hoàng, Tiền, Hậu hiền (người khai khẩn, khai cơ). Phần hội gồm các hoạt động vui chơi giải trí như hát bội, ca nhạc tài tử... được diễn ra rất vui vẻ và sôi đông, thu hút rất đông đảo người dân và khách du lịch tham gia. Đình Phú Lễ Được biết, đình Phú Lễ được xây dựng từ năm Minh Mạng thứ 7 (1826) và được sắc phong chính thức vào năm Tự Đức thứ 5 (1851). Ban đầu, ngôi đình chỉ được xây bằng gỗ mái lá nhưng theo thời gian, ngôi đình đã được xây và sửa sang lại với thềm và móng được xây bằng đá xanh, bên trên xây gạch, cột đình bằng gỗ lim, mái ngói lợp ngói vảy cá. Đến nay, Đình Phú Lễ đã được tu chỉnh lại với 10 gian gồm 6 gian chính và 4 gian phụ đượcbố trí theo lối chữ “Đinh”, trong đó đình chính gồm võ ca, viên đường, thính đường, chánh đường và hậu đường. Lễ hội đình Phú Lễ Trải qua sự tàn phá của thời gian và chiến tranh, các vật phẩm và bài trí trong đình đã bị tổn hại rất nhiều tuy nhiên những phần cơ bản về kiến trúc vẫn còn được bảo tồn hoàn hảo đến tận ngày nay, đặc biệt là những tác phẩm điêu khắc gỗ sơn son thiếp vàng. Với giá trị văn hóa lịch sử tinh thần to lớn, đình Phú Lễ đã được Bộ văn hóa Thông tin công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật vào ngày 7/1/1993. lehoi.info tổng hợp

Related Figures

Lễ Tằng Cẩu của người Thái Đen

Thông tin thời kỳ

(lehoi.info) - Một trong những tục lệ không thể thiếu của những cô gái Thái Đen Mường Lò Văn Chấn, Nghĩa Lộ (Yên Bái) trước khi về nhà chồng là phải tiến hành nghi Lễ Tằng Cẩu để rũ bỏ đi những vẩn đục của quá khứ, được nhẹ nhàng, thanh sạch, bước vào cuộc sống mới. Cô dâu được Nai cẩu búi tóc Cô dâu sẽ được búi tóc ngược lên tên đỉnh đầu trong lễ Tằng Cẩu, để thông báo cho mọi người biết rằng mình đã có chồng. Lễ Tằng cẩu phải được thực hiện theo từng bước rất cụ thể, chặt chẽ và độc đáo. Lễ vật nhà trai chuẩn bị cho cô dâu gồm có: 1 sải khăn piêu, khít, đôi vòng tay và hoa tai bạc, nhẫn bạc hoặc nhẫn vàng, chiếc gương nhỏ, trâm cài tóc, chiếc lược sừng và 1 lọn độn tóc đem sang nhà gái để tặng cho cô dâu. Trong ngày làm lễ Tằng cẩu, nhà trai sẽ cử một đoàn đi sang nhà gái gồm có những thiếu nữ trẻ đẹp và những thiếu phụ khỏe mạnh, tháo vát, am hiểu sâu sắc phong tục, tập quán và thông thạo những động tác búi tóc ngược cho cô dâu mới. Phía nhà gái cũng phải có số người tương ứng, trong đó sẽ có hai thiếu nữ làm phù dâu, thường là người bạn thân của cô dâu. Cô dâu chuẩn bị gội đầu trong lễ Tằng Cẩu Các bước tiến hành lễ, đầu tiên sẽ là phần gội đầu cho cô dâu, hai cô gái là phù dâu sẽ giúp cô dâu xoã tóc và gội đầu bằng Nặm Khảu má (nước ngâm gạo nếp) được đựng sẵn trong ống tre nứa cùng với nước đun lá xả, lá bưởi, hương nhu, tre ngà, long não. Bởi theo người Thái Đen tâm niêm rằng dưới làn nước trong mát của dòng suối, nước suối sẽ cuốn trôi được tất cả những gì mòn cũ của những ngày quá khứ và để được nhẹ nhàng, thanh sạch bước qua một cuộc sống mới. Sau khi, gội đầu xong, cô dâu sẽ vấn tóc quanh đầu và cùng chúng bạn trở về bản. Từ chân cầu thang, cô dâu được đón rước và bước chậm rãi từng bậc để lên nhà sàn. Đến Tang chan (ngoài sàn) cô dâu sẽ ngồi vào giữa một hàng ghế mây và hướng về phía mặt trời mọc. Hai thiếu nữ phù dâu cùng phụ giúp nâng khay đựng đồ trang sức do nhà trai mang sang. Tiếp đó, Nai cẩu (là người được chọn để Tằng cẩu cho cô dâu) sẽ đứng ở phía sau lưng cô dâu, nhẹ nhàng chải tóc cho cô rồi dùng hai tay vuốt ngược tóc từ phía sau gáy lên kèm theo những lọn tóc độn và búi cuốn chặt lại từ trái qua phải hoặc ngược lại. Khi búi tóc đã hoàn thành. Nai cẩu khẽ nâng chiếc trâm bằng bạc xuyên qua búi tóc để giữ cho cẩu không thể xổ rối tung và chiếc trâm bạc nhìn xinh xắn nổi bật trên nền đen óng mượt của búi tóc cô dâu mới. Khi lễ Tằng Cẩu xong, Nai cẩu khẽ cất tiếng hát những lời hát dặn dò yêu thương và chúc mừng hạnh phúc cho tình yêu đôi lứa “Mái tóc dài, chải cho mượt/ Búi ngược lên thành “Tằng cẩu”/ Từ nay về sau, người đã có chồng/ Nước không đổi dòng/ Lòng không đổi hướng, con ơi”. Cô dâu được bà mối tằng cẩu cho trước khi sang nhà chồng Lễ Tằng cẩu được người Thái đen rất coi trọng, bởi nó sẽ để lại dấu ấn rất quan trọng trong suốt cả cuộc đời người phụ nữ dân tộc này. Dân tộc Thái là dân tộc có vốn văn học cổ truyền quý báu với kho tàng thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ca dao, truyện thơ…cùng với nhiều điệu múa (khắp) độc đáo như: múa sạp, xoè Thái. Và có một nét văn hóa độc đáo, làm nên nét riêng có của vùng núi rừng Tây Bắc đó chính là Lễ Tằng Cẩu của người Thái Đen./.

(lehoi.info) - Một trong những tục lệ không thể thiếu của những cô gái Thái Đen Mường Lò Văn Chấn, Nghĩa Lộ (Yên Bái) trước khi về nhà chồng là phải tiến hành nghi Lễ Tằng Cẩu để rũ bỏ đi những vẩn đục của quá khứ, được nhẹ nhàng, thanh sạch, bước vào cuộc sống mới.

Cô dâu được Nai cẩu búi tóc Cô dâu sẽ được búi tóc ngược lên tên đỉnh đầu trong lễ Tằng Cẩu, để thông báo cho mọi người biết rằng mình đã có chồng. Lễ Tằng cẩu phải được thực hiện theo từng bước rất cụ thể, chặt chẽ và độc đáo. Lễ vật nhà trai chuẩn bị cho cô dâu gồm có: 1 sải khăn piêu, khít, đôi vòng tay và hoa tai bạc, nhẫn bạc hoặc nhẫn vàng, chiếc gương nhỏ, trâm cài tóc, chiếc lược sừng và 1 lọn độn tóc đem sang nhà gái để tặng cho cô dâu. Trong ngày làm lễ Tằng cẩu, nhà trai sẽ cử một đoàn đi sang nhà gái gồm có những thiếu nữ trẻ đẹp và những thiếu phụ khỏe mạnh, tháo vát, am hiểu sâu sắc phong tục, tập quán và thông thạo những động tác búi tóc ngược cho cô dâu mới. Phía nhà gái cũng phải có số người tương ứng, trong đó sẽ có hai thiếu nữ làm phù dâu, thường là người bạn thân của cô dâu. Cô dâu chuẩn bị gội đầu trong lễ Tằng Cẩu Các bước tiến hành lễ, đầu tiên sẽ là phần gội đầu cho cô dâu, hai cô gái là phù dâu sẽ giúp cô dâu xoã tóc và gội đầu bằng Nặm Khảu má (nước ngâm gạo nếp) được đựng sẵn trong ống tre nứa cùng với nước đun lá xả, lá bưởi, hương nhu, tre ngà, long não. Bởi theo người Thái Đen tâm niêm rằng dưới làn nước trong mát của dòng suối, nước suối sẽ cuốn trôi được tất cả những gì mòn cũ của những ngày quá khứ và để được nhẹ nhàng, thanh sạch bước qua một cuộc sống mới. Sau khi, gội đầu xong, cô dâu sẽ vấn tóc quanh đầu và cùng chúng bạn trở về bản. Từ chân cầu thang, cô dâu được đón rước và bước chậm rãi từng bậc để lên nhà sàn. Đến Tang chan (ngoài sàn) cô dâu sẽ ngồi vào giữa một hàng ghế mây và hướng về phía mặt trời mọc. Hai thiếu nữ phù dâu cùng phụ giúp nâng khay đựng đồ trang sức do nhà trai mang sang. Tiếp đó, Nai cẩu (là người được chọn để Tằng cẩu cho cô dâu) sẽ đứng ở phía sau lưng cô dâu, nhẹ nhàng chải tóc cho cô rồi dùng hai tay vuốt ngược tóc từ phía sau gáy lên kèm theo những lọn tóc độn và búi cuốn chặt lại từ trái qua phải hoặc ngược lại. Khi búi tóc đã hoàn thành. Nai cẩu khẽ nâng chiếc trâm bằng bạc xuyên qua búi tóc để giữ cho cẩu không thể xổ rối tung và chiếc trâm bạc nhìn xinh xắn nổi bật trên nền đen óng mượt của búi tóc cô dâu mới. Khi lễ Tằng Cẩu xong, Nai cẩu khẽ cất tiếng hát những lời hát dặn dò yêu thương và chúc mừng hạnh phúc cho tình yêu đôi lứa “Mái tóc dài, chải cho mượt/ Búi ngược lên thành “Tằng cẩu”/ Từ nay về sau, người đã có chồng/ Nước không đổi dòng/ Lòng không đổi hướng, con ơi”. Cô dâu được bà mối tằng cẩu cho trước khi sang nhà chồng Lễ Tằng cẩu được người Thái đen rất coi trọng, bởi nó sẽ để lại dấu ấn rất quan trọng trong suốt cả cuộc đời người phụ nữ dân tộc này. Dân tộc Thái là dân tộc có vốn văn học cổ truyền quý báu với kho tàng thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ca dao, truyện thơ…cùng với nhiều điệu múa (khắp) độc đáo như: múa sạp, xoè Thái. Và có một nét văn hóa độc đáo, làm nên nét riêng có của vùng núi rừng Tây Bắc đó chính là Lễ Tằng Cẩu của người Thái Đen./.

Related Figures

Lễ hội Đình Cả của 5 làng Tích Sơn

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/1- 3/1 Âm lịch Xã Tích Sơn ngày nay thuộc phường Tích Sơn của thành phố Vĩnh Yên.Trong một năm Đình Cả có rất nhiều ngày lễ. Riêng ngày mùng Ba tháng Giêng dân làng sẽ tồ chức lễ hội Thảo tặc khao binh, một tiệc lệ lớn tái hiện lại khí thế ra trận giết giặc vào mùa xuân năm Mậu Ngọ (1258). Lễ hội này được tổ chức ngay tại đình Cả Tích Sơn chung cho cả 5 làng nên được gọi là lễ hội Đình Cả 5 làng Tích Sơn. Cảnh bàn tiệc trong lễ hội hội Đình Cả của 5 làng Tích Sơn Tương truyền vào đầu đời Trần, 7 anh em dòng họ Lỗ đều đã giữ chức “điển bình” ở trong quân đội triều đình, cùng nhau coi giữ trong động Đinh Sơn (núi Đanh) và các xã xung quanh. Vào tháng Chạp năm nguyên phong thứ 7 của đời vua Trần Thái Tông (1257), quân Nguyên Mông xâm lược nước Đại Việt. Vua Trần đã xuất quân đánh giặc, 7 anh em họ Lỗ đã theo nhà vua ra trận.Sau khi đất nước được thanh bình, 7 vị đã trở về quê, thuộc làng Bồ Lí ngày nay. Trên đường đi về tới núi Đanh thì hóa. Mộ táng ở dưới chân núi. Nhân dân tưởng nhớ 7 anh em họ Lỗ nên đã lập đền thờ, trong đó đình Cả Tích Sơn là nơi thờ chính. Cảnh dâng lễ của một giáp đến đình Cả Vào ngày mồng 2 Tết Nguyên đán, ngay từ sáng sớm, tất cả dân làng và cậu trai đinh đã tế tựu đầy đủ ngay tại sân chùa Ngũ Phúc (là chùa chung của 5 làng thuộc xã Tích Sơn) để làm lễ “tụ quân”, tức là tập hợp quân số của 2 giáp để vào tiệc. Những trai đinh vào phe được gọi là “quân” của thất vi Lỗ Đinh Sơn (bảng vị thần họ Lỗ ở trên núi Đanh), và chỉ những người trai đinh này mới được vào “làm tiệc” - các công việc về tiệc không có phụ nữ tham gia. Đêm ngày mùng 2 “quân” của hai giáp sẽ vào làm lễ thánh và được ăn uống. Khi quân đang ăn dở dang, thì có pháo lệnh nổ, là lệnh báo động trong quân. Quân 2 giáp phải chạy về điểm tụ quân. Quân giáp ở phía đông tụ của đình Chợ. Quân giáp ở phía tây tụ của cầu Giáp Lão. Đến đầu giờ Hợi (21 giờ) mới tiến về nhà nuôi lễ của đình Cả nghỉ ngơi. Vào tiệc, giữa giờ Hợi (10 giờ tối) là khi chuẩn bị ăn đêm thì có tiếng reo hò. Quân bỏ bữa ăn, đốt đuốc và xông thẳng vào “chuồng lễ”, phá “chuồng lễ”, đuổi bắt “ông lễ” (lợn lễ) trói lại và khiêng ra đình. Theo lễ định, ai là người bắt được "ông lễ" sẽ khiêng đầu đòn thứ nhất (đi trước) còn đầu kia (đi sau) giành cho 1 người quân làm tiệc. Có 2 “ông lễ” của hai giáp. Lễ của giáp nào thì do quân giáp ấy bắt và đặt riêng theo giáp ấy. Lễ của giáp Đông thì đặt ở phía đông cửa thần điện. Lễ của giáp Tây thì đặt ở phía tây cửa thần điện. Vị chủ lễ phải vào “xin chân keo” xin âm dương 4 lần. Sau các lễ cầu, thì “quân” được nghỉ ngơi, ăn “Cỗ bàn đọi” chờ sang canh , “Cỗ bàn đọi” nghĩa là cơm của quân sĩ: cơm nắm. muối vừng. Tiệc lệ ngày mồng Ba: Tiến trình tồ chức lễ sẽ được bắt đầu từ nửa đêm. Chủ lễ sẽ vào lễ thánh để xin phép làm tiệc. Hai thủ dịch sẽ vác long đao tiến ra đứng trước 2 “ông lễ” diễn động tác chém vào cổ lợn. Ngay lập tức, tiếng reo hò cũng sẽ nổi lên; chức việc của 2 giáp xông vào cắt đầu lợn và mổ lợn làm cỗ “sinh huyết” (máu tươi). “sinh nhục” (thịt sống) cho giáp mình để hiến lễ. Về cỗ, có 2 loại như sau: Thứ nhất là cỗ thủ đê để dâng lên đình Cả; Thứ hai là cỗ vọng tướng để dâng lên miếu tướng. Tế cờ: chính là phần kết thúc của lễ tiệc “thảo tặc khao binh”. Trước cửa đình, “quân” của giáp nào phải xếp hàng theo giáp ấy. Giáp Đông thì đứng về bên đông. Giáp Tây thì đứng về bên tây. Thủ dịch của 2 giáp thì bưng hương án, che lọng, ban sửa cầm cờ, khiêng trống, chiêng từ trong đình tiến ra trước một ban thở ở góc phía bắc của sân đình, được gọi là mô cờ. Ban thờ đặt hướng về phía làng Bồ Lí. “Quân” của 2 giáp ào ào chạy ra mô cơ, đứng bái vọng về quê hương của 7 vị là làng Bồ Lí, ngày nay là xã Bồ Lí (huyện Tam Đảo). Ngay sau mục tế cờ là “Duệ thằng”: quân 2 giáp kéo vào trước cửa đình và thực hiện cuộc kéo co, được gọi là “Sỏ giải”. Đến đây lễ hội kết thúc. Đặc điểm của lễ hội này là phần lễ không có lễ tế, không có rước kiệu. Vị chủ lễ chỉ “xin chân keo” để chuyển các thứ mục của lễ hội. Khung cảnh thi nấu cơm trong lễ hội Đình Cả của 5 làng Tích Sơn Phần cuối cùng của lễ hội này là phần ăn uống được gọi là “tán cỗ”. Tán cỗ tức là chế biến các đồ lễ sống thành cỗ nấu chín để “thụ lộc”. Công việc này sẽ do ban “lâm thời” đảm nhiệm. Đồ nấu chín được chia làm các mâm. Mỗi mâm cỗ có. các thành phần sau: 1 mô xôi nếp; 1 mô cơm xén thành khuôn; 1 mô thịt luộc chín; Cỗ ngồi 3 người theo từng bàn của 2 dõng trong 2 giáp tây và đông.

Related Figures

Lễ hội làng Phù Lưu

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 8/3 Âm lịch (lehoi.info)- Làng Phù Lưu hay còn gọi là làng Giầu, là một ngôi làng cổ ở Đông Ngàn, thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh. Ngôi làng này từ lâu đã có truyền thống văn hóa lâu đời và là quê hương của nhiều trí thức, văn nghệ sĩ nổi tiếng thời kỳ cận hiện đai. Hằng năm vào ngày 8/3 âm lịch, người dân làng Phù Lưu sẽ tổ chức hội làng để thờ Phật và Thành hoàng. Theo truyền thuyết, thành hoàng của làng là vốn là mụ ả tu đắc đạo có phép hô phong hoán vũ. Khi hạn hán dân thường cầu Bà hóa phép làm mưa nên tôn Bà là Thành Hoàng và tổ chức lễ hội vào ngày hóa của bà. Trước khi tổ chức lễ hội, Ban tổ chức sẽ cắt cử người dọn dẹp, lau chùi sạch sẽ đình, đền, chùa, khánh tiết và các vật phẩm trong chùa. Người dân tham gia lễ hội trong thời gian này cũng phải chay tịnh, sạch sẽ và tất cả mọi người phải giữ tinh thần vui vẻ, thân mật, cởi mở, xoá bỏ mọi bất hòa trong đời thường để “cầu phúc”. Lễ hội làng Phù Lưu Lễ hội làng Phù Lưu được chia thành hai phần đó là phần Lễ và phần Hội. Phần lễ gồm có lễ rước Thánh từ đền ra đình. Đi đầu đám rước là điệu múa sư tử trong tiếng trống rộn ràng, hàng ngũ rước cờ thần, kiệu Ông, kiệu Bà, đội tế nam, đội tế nữ. Các cụ cao tuổi nhất trong làng được tôn vinh, mặc quần áo đỏ có con cháu mặc lễ phục đi theo che lọng. Hàng các cụ tôn, cụ thượng là các đoàn thể Hội CCB, Hội NCT, các chạ anh, chạ em, các tổ đồng canh, đồng học... Đội nào cũng rước mâm chiêng trống, đàn sáo vang lừng. Lễ rước Thánh tại đền làng Phù Lưu Khi lễ về đến đình làng, mọi người sẽ hạ kiệu và bắt đầu hành lễ. Các chấp sự trong ban tế mặc áo thụng xanh đội mũ tế. Ông chủ tế đọc văn tế và “Nhập tịch cầu phúc”. Tiếp sau phần lễ là phần hội với các trò chơi dân gian như đánh cờ, đu, đấu vật, bơi, rước ngựa chiến, chọi gà, tổ tôm điếm, hát quan họ... và các cuộc thi như thi thổi xôi, làm cỗ gà, làm bánh vừng, chè đu đủ, dệt vải, bình thơ, xướng đối... Đình làng Phù Lưu Lễ hội làng Phù Lưu thể hiện lối sinh hoạt văn hóa mang tàn dư việc thờ nữ thần của các cư dân nông nghiệp nói chung và người Kinh Bắc nói riêng

(lehoi.info)- Làng Phù Lưu hay còn gọi là làng Giầu, là một ngôi làng cổ ở Đông Ngàn, thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh. Ngôi làng này từ lâu đã có truyền thống văn hóa lâu đời và là quê hương của nhiều trí thức, văn nghệ sĩ nổi tiếng thời kỳ cận hiện đai. Hằng năm vào ngày 8/3 âm lịch, người dân làng Phù Lưu sẽ tổ chức hội làng để thờ Phật và Thành hoàng.

Theo truyền thuyết, thành hoàng của làng là vốn là mụ ả tu đắc đạo có phép hô phong hoán vũ. Khi hạn hán dân thường cầu Bà hóa phép làm mưa nên tôn Bà là Thành Hoàng và tổ chức lễ hội vào ngày hóa của bà. Trước khi tổ chức lễ hội, Ban tổ chức sẽ cắt cử người dọn dẹp, lau chùi sạch sẽ đình, đền, chùa, khánh tiết và các vật phẩm trong chùa. Người dân tham gia lễ hội trong thời gian này cũng phải chay tịnh, sạch sẽ và tất cả mọi người phải giữ tinh thần vui vẻ, thân mật, cởi mở, xoá bỏ mọi bất hòa trong đời thường để “cầu phúc”. Lễ hội làng Phù Lưu Lễ hội làng Phù Lưu được chia thành hai phần đó là phần Lễ và phần Hội. Phần lễ gồm có lễ rước Thánh từ đền ra đình. Đi đầu đám rước là điệu múa sư tử trong tiếng trống rộn ràng, hàng ngũ rước cờ thần, kiệu Ông, kiệu Bà, đội tế nam, đội tế nữ. Các cụ cao tuổi nhất trong làng được tôn vinh, mặc quần áo đỏ có con cháu mặc lễ phục đi theo che lọng. Hàng các cụ tôn, cụ thượng là các đoàn thể Hội CCB, Hội NCT, các chạ anh, chạ em, các tổ đồng canh, đồng học... Đội nào cũng rước mâm chiêng trống, đàn sáo vang lừng. Lễ rước Thánh tại đền làng Phù Lưu Khi lễ về đến đình làng, mọi người sẽ hạ kiệu và bắt đầu hành lễ. Các chấp sự trong ban tế mặc áo thụng xanh đội mũ tế. Ông chủ tế đọc văn tế và “Nhập tịch cầu phúc”. Tiếp sau phần lễ là phần hội với các trò chơi dân gian như đánh cờ, đu, đấu vật, bơi, rước ngựa chiến, chọi gà, tổ tôm điếm, hát quan họ... và các cuộc thi như thi thổi xôi, làm cỗ gà, làm bánh vừng, chè đu đủ, dệt vải, bình thơ, xướng đối... Đình làng Phù Lưu Lễ hội làng Phù Lưu thể hiện lối sinh hoạt văn hóa mang tàn dư việc thờ nữ thần của các cư dân nông nghiệp nói chung và người Kinh Bắc nói riêng

Related Figures

Lễ hội chùa Đông Sơn

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/2 Âm lịch (lehoi.info)- Cứ đến ngày mồng 10 tháng Hai âm lịch hàng năm, bà con dân làng Đông Sơn lại tưng bừng trong ngày hội chùa Đông Sơn. Chùa Đông Sơn xưa có tên chữ là “Chân Khai Tự” nằm ở thôn Đông Sơn thuộc xã Việt Đoàn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Chùa Đông Sơn thờ Phật, Thành Hoàng làng là Lê Văn Giác đại vương, cùng tiến sĩ Vũ Mộng Nguyên người đỗ đạt khoa bảng là nhà giáo và nhà thơ nổi tiếng ở xứ Kinh Bắc. Ngôi chùa này được xây dựng vào năm “Dương Đức nhị niên” 1673 và đã trải qua nhiều lần trùng tu và tôn tạo lại. Trải qua hàng trăm năm, đến nay chùa Đông Sơn là một trong ngôi chùa cổ đẹp của vùng Kinh Bắc, với kiến trúc kiểu chữ “Đinh” gồm có năm gian tiền đường, ba gian thượng điện, mái ngói cổ kính và bộ khung gỗ, là nơi sinh hoạt tâm linh của nhân dân Bắc Ninh. Chùa Đông Sơn tại tỉnh Bắc Ninh Tục truyền, vào ngày mồng 10 tháng Hai Âm lịch hàng năm, dân làng Đông Sơn lại tưng bừng trong không khí ngày hội làng (còn được gọi là vào Đám). Từ việc giao cho các Giáp nuôi lợn, cấy lúa, để làm vật tế lễ dâng lên thần linh cho đến việc bầu ra một ông Quan đám đứng đầu việc tổ chức cỗ bàn, hay chọn một ông Quan viên tế cùng với ông trưởng thôn đều phải được tiến hành một cách kỹ lưỡng từ trước đó cả tháng trời. Theo đó, những người được dân làng chọn để làm Quan đám phải là người có kính tế khá, gia đình yên ấm, con cháu hiếu thảo, và đặc biệt là không có tang, phải ăn chay nằm mộng trước ngày diễn ra lễ hội. Lễ vật tế thần được chuẩn bị gồm: lợn cả con, mâm xôi, rượu, và lễ xôi gà của các hàng Giáp đã chuẩn bị. Chuẩn bị cỗ cúng trong ngày hội Lễ hội chùa Đông Sơn đặc sắc nhất ở tục rước bình hương Thành Hoàng làng ở chùa ra đến đình để cử hành nghi thức tế lễ, đến ngày kết thúc hội lại rước về chùa để an vị và tiếp tục thờ. Chính hội là vào ngày mồng 10 tháng 2 âm lịch, tuy nhiên từ ngày mồng 9, dân làng đã được mở cửa đình và chùa của làng để làm bao sái đồ thờ tự, phong cờ quạt rồi rước bình hương thờ Thành Hoàng làng từ chùa ra đến “đình xã” (vốn là ngôi đình chung của 3 xóm cổ là Giữa, Đoài, Đồng Lĩnh) để tế lễ và mở hội. Tục lệ này dựa trên truyền thuyết về Lê Văn Giác đại vương, người được tôn là Thành Hoàng làng của làng Đông Sơn. Tục truyền, Lê Văn Giác xưa kia là một vị quan nhưng vì gặp nạn mà về chùa ở ẩn, sau đó trở thành nhà sư và hóa tại chùa. Ngoài tục rước bình hương, dân làng Đông Sơn còn tổ chức lễ “rước nước” từ một giếng cổ ngay cạnh nghẹ chợ Sơn về đình để cử hành tế lễ. Ngày mồng 10 là ngày chính hội, phần lễ sẽ diễn ra một cách trang nghiêm với các nghi thức tế lễ, dâng lễ vật lên vị Thành Hoàng làng theo nghi thức truyền thống. Phần lễ kết thúc sẽ đến phần hội. Phần hội diễn ra rất sôi nổi với các hoạt động như biểu diễn văn nghệ truyền thống tuồng, chèo, hát ả đảo... hay các trò chơi dân gian như: đấu vật, chọi gà … Hát ả đào trong chùa Qua thời gian dài đằng đẵng, đình Đông Sơn đã bị tàn phá trong kháng chiến chống Pháp, ngày nay hội còn được mở tập trung tại ngôi chùa Đông Sơn. Dù đã trải qua nhiều thăng trầm và biến cố của lịch sử nhưng người dân nơi đây vẫn gìn giữ được những nét đẹp văn hóa truyền thống của lễ hội chùa Đông Sơn. Không chỉ là một lễ hội mà lễ hội chùa Đông Sơn còn là nơi là dịp để gắn kết cộng đồng làng xã khi tham gia vào các hoạt động tín ngưỡng tâm linh, văn nghệ, văn hóa nhằm giữ gìn và phát huy những phong tục vốn quý của dân tộc từ thuở cha ông dựng nước.

Related Figures

Hội đình Thái Đào

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 9/1- 10/1 Âm lịch Thái Đào, trước đây là một xã của tổng Thái Đào, của huyện Phượng Nhãn, phủ Lạng Giang gồm có 5 thôn: Ghép, Chùa, Gia,Then, Mỹ. Hiện nay,Thái Đào thuộc huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Hội của xã Thái Đào thường diễn ra từ ngày mồng 9 đến ngày mồng 10 tháng Giêng âm lịch hàng năm. Đây là những ngày hội chính, cũng là ngày hội xuân. Trong năm, Thái Đào còn có hai sự lệ nữa, một sự lệ vào ngày 15 tháng 5 còn được gọi là ngày Giỗ Thánh, sự lệ nữa là vào ngày ngày 23 tháng chạp âm lịch, còn được gọi là ngày “ cắt keo”. Hội xuân của Thái Đào thường được tổ chức tại khu đình, đền, chùa Thái Đào. Chùa Thái Đào ngày xưa là một ngôi chùa lớn tên là Long Quang Tự ( chùa Long Quang ).Xã Thái Đào xưa kia có 5 thôn, được chia thành 5 giáp gọi là giáp Nam, giáp Đông, giáp Tây, giáp Bắc và giáp Ghép. Các giáp này có các họ: Lê, Nguyễn, Hà…trong đó họ Hà là họ to nhất. Giáp Ghép chung đình với các giáp khác nhưng lại có ngôi chùa chùa riêng. Lễ rước kiệu Theo lệ hàng năm, cứ vào ngày 23 tháng Chạp âm lịch năm trước, người dân xã Thái Đào sẽ làm lễ cỗ xôi, con gà, trầu, cau, hoa, quả, rượu, nước để lên đình dâng lên làm lễ “ cắt keo” để xin chủ tế. Lễ “ cắt keo” sẽ do 5 thôn làm, lần lượt từng thôn lên làm lễ. Qua tết âm lịch, dân xã đã cho chuẩn bị vào ngày hội từ ngày mồng 6 tháng giêng. Trong ngày này, bãi hội trước đình được bố trí định vài điểm tổ chức trò chơi như: cờ người, vật, đu, cướp cầu, cờ tướng…Đồng thời chủ tế sẽ cùng bà con trong làng lên đình dâng lễ xin đài cho rước kiệu, về đóng kiệu để thờ tại thôn của mình, đến ngày mồng 9 tháng Giêng sẽ rước lên. Giáp nào đương cai tổ chức lễ rước kiệu thánh cùng các đồ nghi trượng… từ thôn của mình lên đình, chùa. Từ đây các quan viên và các giáp khác sẽ cùng hợp lại với giáp cai rước kiệu lên thôn Ghép để lên giếng Chằm La lấy nước cho vào chéo sư để đem về thờ ở đình. Biểu diễn múa hội trong Lễ hội Đình Thái Đào Đình Thái Đào tọa lạc ngay trên trục đường cổ nên khi rước thu hút được người thập phương đến xem rất đông. Kết thúc lễ rước kiệu, kiệu sẽ được đóng tại sân đình. Dân làng sẽ tổ chức tế lễ tại thánh cung. Việc tế lễ thường do chủ tế và các viên bồi tế thực hiện. Trong ngày này, sẽ tổ chức lệ thi cỗ. Cỗ thi do các hộ gia đình làm, sau đó đem lên lễ đình để dự thi. Các quan viên tổ chức sẽ là người chấm cỗ. Cỗ thi ở hội Thái Đào gôm các món: Xôi, giò, thịt, chả, măng, bánh chưng, bánh dày, miến,bánh dợm, bánh gai, chè lam, bánh xu xuê, chè con ong, chè đường…tất cả các món này sẽ được sắp đặt lên một chiếc mâm đồng, 2, 3 tầng sao cho thật đẹp, thật ngon thì mới được chấm điểm cao và giành được giải giải. Cỗ ngon, giải nhất sẽ để mâm trên mời các cụ thượng xơi, còn các mâm cỗ khác dù được giải hay không thì cũng đều được bày lễ nhà thánh tại Đình cho sang trọng. Tế lễ xong thì làng sẽ ngả cỗ để mọi người cùng thụ lộc thánh. Mỗi cỗ đóng 4 người ngồi một mâm tại sân đình. Các cụ từ 100 tuổi trở lên sẽ được mỗi người một cỗ. Nếu không thụ hết thì được mang phần về cho con cháu ở nhà. Cuộc thi cướp cầu trong Lễ hội Đình Thái Đào Sau cuộc tế, buổi chiều ngày mồng 9 tháng Giêng, quan chủ tế sẽ làm lễ cầu ở đình. Quả cầu làm bằng gỗ to, có đường kính ước chừng 50 - 60 cm. Ngày thường quả cầu này được cất trong hậu cung, đến ngày mồng 6 tháng Giêng thì mang ra dán giấy đỏ kín quả cầu rồi đặt lên bàn thờ ở đình. Sau khi tế cầu kết thúc, sẽ xin cho dân mở hội thi cướp cầu. Ông chủ tế sẽ bưng quả cầu ra bãi hội ngay trước sân đình. Trai của các giáp được chia làm hai phe, mỗi phe sẽ đứng ở một bên sân. Cuối sân sẽ có lỗ đất lớn để khi cướp thì quả cầu sẽ vào gôn nhau, bên nào bị đối phương bỏ cầu vào gôn là thua. Ông chủ tế đội một chiếc mũ phốc đầu, mặc áo thụng và tay cầm quả cầu lên rồi nói rằng: “ Bớ các trai làng, đầu xuân năm mới, dân làng mở hội gieo cầu mong cho lúa tốt khoai to, cho vụ mùa năng suất, nào các trai hãy vào cướp cầu”. Nói xong ông chủ tế liền gieo quả cầu xuống đất, trai hai Giáp sẽ xô nhau vào tranh cầu. Quả cầu cứ chuyển từ tay người này sang tay người kia chỉ trong trong chớp mắt. Trống thúc tùng tùng có lúc nhanh lúc chậm. Tiếng chiêng, tiếng cồng cũng hoà theo, cho đến khi có một bên thắng cuộc, nhưng thường là sẽ hoà. Sau cuộc cướp cầu, dân làng sẽ mở hội vật, hát trò, chọi gà. Hội thường kéo dài cho đến hết ngày mồng 10 tháng giêng thì giã hội.

Related Figures

Lễ hội Xên Lẩu Nó của người Thái đen

Thông tin thời kỳ

Lễ hội Xên Lẩu Nó là một nghi lễ quan trọng của người Thái đen Mường Lò Yên Bái mà bản chất nhằm tri ân công đức những người thầy cúng đã chữa khỏi bệnh cho mọi người - “Mo một”, đặc biệt là những người từng bị bệnh nặng đã được chữa khỏi, thì được coi là những con đẻ - “lụ hỏi” và những người bị bệnh nhẹ đã chữa khỏi thì được coi là con nuôi - “lụ liệng”, gửi áo hồn chủ thờ cúng tại nhà người thầy mo. Đồng thời đây cũng là một ngày hội lớn của cộng đồng, thu hút được tất mọi đối tượng tham gia, bởi ý thức tôn trọng truyền thống văn hóa dân tộc, mọi người được gặp gỡ chan hòa cùng bạn bè, người thân, mừng cho nhau tai qua nạn khỏi và tham gia vào các trò chơi, điệu xòe truyền thống. Lễ hội Xên Lẩu Nó của người Thái đen tại Yên Bái Người dân Thái đen luôn tin rằng có một lực lượng siêu nhiên chi phối mọi hoạt động của vạn vật. Vì vậy trong cộng đồng, ngoài những thầy lang chuyên trị bệnh bằng các bài thuốc dân tộc cổ truyền thì còn có hệ thống nhưng thầy mo chuyên trừ ma tà và khuyên bảo con người phải sống sao cho trọn đạo lý. Những người thầy mo của người dân Thái Tây Bắc thường chuyên vào những việc cụ thể khác nhau. Ví dụ như: “Mo xên bản xên mường” - mo cúng bản cúng mường, “Mo hóng” - mo cúng tổ tiên, “Mo đông” - mo cúng rừng, “Mo khuôn” - mo cúng vía, “Mo đu mự đu vền” - mo xem ngày giờ, “Mo pẻ” - mo cúng hồn người chết, “một lao” - mo cúng ốm đau, “Một án ník” - bà mo cúng khi đau ốm, “Mo pồng mốn” - thầy lên đồng,... Có những lễ cúng do ông mo đảm nhiệm, nhưng cũng có những lễ cúng lại do bà mo chuyên trách như: “xên so lụk” - cúng cầu xin con cho những đôi vợ chồng muộn con hoặc có con khó nuôi. “Nhá phay” - cúng thôi sưởi lửa cho sản phụ mới sinh con, “Tám khuôn quái” - cúng vía trâu vào dịp “Síp sí” - tức tết 14/01 theo lịch Thái cổ (vào ngày rằm tháng 7)... Những người thầy mo này thường là cha truyền con nối, song cũng có khi do học từ những thầy mo khác, do vậy khi bắt đầu hành nghề và được tín nhiệm thì các thấy mo thường đã nhiều tuổi và phải được cộng đồng và các thầy mo khác thừa nhận cả về tài năng và đức độ. Trong đời sống của người dân Thái Tây Bắc có nhiều lễ cúng. Như cúng mướng cúng bản, mà bản chất là lễ cúng thành hoàng, cầu cho bản mường no ấm bình yên. Lễ cúng rừng - cầu xin thần rừng phù hộ cho núi rừng, cho bản mường bình yên, trù phú. Cúng đưa hồn người đã qua đời lên trời, cúng khi ốm đau, cúng lên nhà mới, xuống đồng, đám cưới, cúng mừng cơm mới, cúng vía... Loại trừ đi những yếu tố mê tín dị đoan, thì thầy mo còn giúp cho cộng đồng rất nhiều trong việc củng cố đời sống tinh thần, làm tăng thêm niềm tin, nghị lực sống cho mỗi con người trước những thử thách của cuộc sống, giúp cho con người biết hướng thiện, tránh cái xấu, sống biết hiếu thuận với cha mẹ, vợ chồng luôn chung thủy, vun vén cho gia đình, biết đối nhân xử thế và làm theo những điều ông bà đã dạy và luật tục của bản mường, pháp luật của Nhà nước. Lễ cúng trong lễ hội Xên Lẩu Nó của người Thái đen tại Yên Bái Lễ “Xên Lảu nó” bao giờ cũng được tổ chức tại nhà của “Mo một” và được tổ chức vào mùa măng mới nhú hàng năm, khi mà cây cối đâm chồi nẩy lộc, hoa ban trắng tinh khôi tỏa hương thơm mát, hoa mạ vàng tươi cùng muôn hoa đua nở khắp rừng, vạn vật rạo rực sinh sôi sau mùa đông giá lạnh, các “lụ liệng” và các “lụ hỏi”, đem lễ vật đến nhà người thầy mo để tạ ơn tái sinh. Những người này đều gửi áo đã mặc, tức là áo mang con vía của mình treo ở bàn thờ của người thầy mo ngay từ khi đặt niềm tin vào tài năng và đức độ của người thầy mo này, để được thường xuyên cầu cúng mong cho bệnh tật tiêu tán và luôn khỏe mạnh. Đến khi chính thầy mo hoặc người bệnh qua đời, người bệnh hoặc người nhà sẽ phải đem lễ vật đến để xin về. Tùy theo người đã từng có bệnh nặng hay nhẹ mà lễ vật có thể là gà hay lợn, ngoài ra còn phải có khăn piêu, rượu - “lảu”, nến, hương, rau rừng xôi tổng hợp - “phắc nửng chụp”, hoa mạ - “bók mạ”, hoa ban - “bók ban”, các cô gái còn dùng hoa ban để gài lên tóc, củ gừng - “mắn khá” và đặc biệt không thể thiếu măng rừng - “nó” (măng vầu - “nó pao”, măng sặt - “nó pặt”, măng giềng - “nó khá”) để tượng trưng cho sự hồi sinh, khỏe mạnh sau khi được chữa khỏi bệnh. Những người từng bị bệnh nặng còn phải đem theo một cây báng để cả ngọn cho vào sọt dựng ở ngay bên cạnh bàn thờ để tượng trưng cho lễ vật là con trâu đen - còn gọi là “co quái xiên”, cây chuối non cả gốc thì tượng trưng cho con trâu trắng - “co quái lón”, (những cây này còn được gọi là “co quái tao”), trên “co quái tao” phải treo quả còn tượng trưng cho rồng còn - “luông còn” trong truyền thuyết. Với người Thái Tây Bắc thì rồng là con vật đẹp nhất, là biểu tượng của những điều tốt đẹp nhất, tua còn như tám tia nắng, chín tia mưa, mang theo những hạt giống như ngô, lúa, bông… chờ gieo xuống sinh sôi nẩy nở, tươi tốt. Ông thầy mo cúng cho từng người một ngụ ý tỏ lòng biết ơn với đấng siêu nhiên: “Đẩy kin bấu lưm thú/ Đẩy dú công cánh ơn/ Sau chắng mík cáy tô luông (hoặc tô mu) ma vảy”, nghĩa là: Được ăn không quên đũa/ Được ở (sống lại) không quên công ơn/ Có gà (lợn) to về tạ. Mỗi người đều được ông thầy mo cho ba lát gừng và được sâu lại bằng chỉ đen đeo vào cổ làm bùa - “hản”, người bệnh nhẹ thì buộc vào cổ tay, mọi người đều để cho đến khi nó tự rơi mới đem cất vào nơi để “Tạy ho”, tức là nơi giữ hồn vía của mỗi người, bùa này nếu để được càng lâu rơi thì càng được coi là điềm tốt, nên ai cũng phải chú trọng giữ gìn. Khi buộc bùa cho mỗi người, ông thày mo đều khấn giống như khẩu quyết: “Phi nha dú cuông năng/ Phi nha thăng cuông nựa/ Ổm dăm quám khất”, nghĩa là: Ma đừng ở trong da/ Ma đừng trú trong người/ Lời thiêng linh nghiệm. Thực tế, những lát gừng còn giúp mọi người tăng khả năng đề kháng khi trái nắng trở trời, cùng với nghi lễ mang tính tâm linh giúp mỗi người tự tin, lạc quan và có ý thức giữ gìn sức khỏe hơn trong cuộc sống. Mỗi người đều phải chân thành tỏ lòng biết ơn cứu tử và thề trung thành, hiếu thuận đối với ông thầy mo như đối với chính cha mẹ mình: “Tẳng hươn so choi tụp/ Tẳng túp so choi pe/ Phạ phôn so dú cỏng tét/ Phạ đét so dú cỏng moi”, có nghĩa là: Dựng nhà xin giúp một chái/ Dựng nhà xin giúp cây đòn nóc/ Trời mưa xin được trú dưới chân/ Trời nắng xin được nấp dưới bóng. Bữa cơm của người Thái đen trong lễ hội Xên Lẩu Nó Sau lễ cúng, mọi người sẽ cùng ăn uống vui vẻ. Những lời hát trong bữa cơm thân mật đều cầu chúc cho mọi người có được sức khỏe, con vía không đi lạc và làm cho người ốm đau: “Dệt kin khửn dựt dựt sương nặm mả/ Nha lông kha kha sương nặm hảnh…”, có nghĩa là: Làm ăn lên nhanh như nước lũ/ Đừng xuống cạn (nghèo) như nước rút và chúc nhau: “Hảo sâng quang đanh/ Hánh sâng chạng thướng/ Siểng sâng baư/ Saư sâng bók…”, nghĩa là: Khỏe như nai đỏ/ Mạnh như voi rừng/ Mát như lá/ Tươi hồng như hoa… Mọi người sẽ cùng nắm tay nhau nồng say trong điệu xòe vòng xung quanh cây “co quái tao”, khi bước xòe đến bên mâm cúng thì không bao giờ quay lưng và tỏ lòng tôn trọng và vừa xòe vừa vui vẻ tung còn. Người tung quả còn bay lên sẽ mang đi cái úa vàng, vận hạn rủi ro vừa tung vừa hát: “Khắm sai bản lống tọt xia lương, khắm sai mướng lống tọt xia sảy”, nghĩa là: Chúng ta cùng nhau cầm dây còn ném đi cái úa vàng, nắm dây còn quăng đi cái ốm đau. Còn người đón còn, sẽ đón lấy cái may mắn, tốt đẹp về và cùng hát: “Hặp au ăn đi, ăn ngám má chảu/ Hặp ăn ăn thảu, ăn ké má tô”, có nghĩa là: Bắt lấy cái tốt đẹp về mình/ Đón lấy cái phúc, tuổi thọ về ta. Ngày nay khi trình độ dân trí đã được nâng cao, người dân khi ốm đau đều đến bệnh viện để khám chữa bệnh nhưng lễ hội “Xên lảu nó” vẫn được bảo tồn như một nét đẹp văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc.

Related Figures

Lễ hội Lồng tồng

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/1 Âm lịch Lễ hội Lồng tồng (còn được gọi với cái tên lễ xuống đồng)- là một lễ hội quan trọng bậc nhất của người dân Bắc Kạn vào dịp đầu năm mới. Lễ hội này gắn liền với nền nông nghiệp của nước ta, và được tổ chức để gửi gắm những mong ước của người nông dân với mong cầu cho một năm mưa thuận gió hòa, cây cối được tốt tươi, mùa màng bội thu. Đây cũng là một nét đẹp văn hóa, phong phú và đa dạng của người dân Bắc Kạn. Lễ hội Lồng tồng Ba Bể đã trở nên nổi tiếng ở Việt Bắc từ rất lâu. Sau hàng chục năm bị gián đoạn bởi các cuộc chiến tranh, và bởi vì cách nhìn phiến diện của một thời về văn hóa lễ hội và các tín ngưỡng dân gian, nên kể từ năm 1995, Hội này mới được khôi phục hoàn toàn và được tổ chức vào ngày mồng 10 tháng 1 âm lịch hàng năm, diễn ra tại ven hồ Ba Bể, bên dưới chân núi Bó Lù, thuộc xã Nam Mẫu, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Cạn.. Tiết mục múa rồng trong lễ hội Lồng tồng Lễ hội Lồng tồng của người Bắc Kạn gồm nhiều nghi thức và thành phần lễ hội diễn ra rất sinh động. Đây thật sự là ngày hội của mọi người, moik nhà, vì nhà nhà đều tham gia làm lễ. Và mỗi nhà cũng có một mâm cúng riêng. Trên mâm cúng sẽ có một con gà trống luộc, có cặp bánh chưng (mon hua) được gói bằng lá dong; thịu luộc, có thịt lợn nạc; trứng gà luộc nhuộm phẩm màu với bốn màu vàng - đỏ - tím - xanh. Xôi đỏ là tượng trưng cho mặt trời, xôi vàng là tượng trưng cho mặt trăng, trên mỗi đĩa xôi còn có một con chim én được làm bằng giấy đỏ đậu trên, với biểu tượng của mùa xuân, như để gửi gắm những mong ước về sự no ấm, sự sinh sôi nảy nở và cuộc sống an lành của những người dân nơi đây. Vào buổi sáng diễn ra lễ hội Lồng tồng, các gia đình trong bản sẽ tổ chức lễ hội cùng nhau, họ sẽ đội mâm cúng ra thửa ruộng lớn nhất trên một cánh đồng của bản. Các mâm cúng sẽ được xếp lần lượt thành từng hàng, mâm trên cùng là mâm cỗ cúng của thầy mo già được coi là mâm kính trọng nhất trong vùng và cũng là người đứng ra chủ trì lễ hội. Tung gòn là một nghi thức quan trọng trong Lễ hội Lồng tồng tại Bắc Kạn Mọi người sẽ đứng thành vòng tròn quanh mâm cúng. Khi những nén hương đã được thắp lên, thầy mo sẽ đọc bài khấn, tiếp đến ông sẽ thực hiện các nghi thức cầu cúng, cầu thần Nông, lễ tạ thiên địa, thần Phục Hy, Thủy thần, Sơn thần (những vị thần chi phối việc trồng trỉa) và thành hoàng làng (vị thần bảo hộ cho nhân dân trong làng) phù hộ cho mưa thuận gió hòa, bản làng được bình yên, no ấm... Các cô gái đẹp nhất trong vùng sẽ được chọn ra để dâng nước cúng được đựng trong các vỏ của quả bầu. Đây được xem là nước thiêng, phải được lấy từ đầu nguồn. Sau đó, thầy mo ngửa mặt lên trời, tay bưng các "nậm" nước thiêng của các mâm cúng lên cao và cầu mong nước từ "mương trời" tưới về khắp trần gian, cho ruộng nương được tươi tốt. Khấn xong, thầy mo sẽ tưới nước ra khắp bốn phương trời và mọi người cùng nhau hứng nước này với mong muốn được hưởng phúc... Lễ hội Lồng tồng tại Bắc Kạn là một trong những lễ hội lớn của Việt Nam Sau phần nghi lễ sẽ đến phần hội, được mở đầu bằng lễ hội tung còn. Những quả còn thường được khâu bằng vải, bên trong có chứa hạt thóc, hạt bông được nén rất chặt, bên ngoài có các tua ngũ sắc, được các nam thanh nữ tú ném qua vòng tròn trên ngọn cây nêu. Đây chính là hai biểu tượng đặc sắc của Âm và Dương, là cái gốc của vũ trụ và vạn vật. Khi quả còn đâm thủng hồng tâm của vòng tròn treo trên cây nêu, là Âm - Dương đã giao hòa và mùa màng sẽ bội thu, cuộc sống sẽ sinh sôi. Bởi vậy, ở bất cứ lễ hội Lồng tồng nào, việc ném còn trúng vào hồng tâm cũng là một nghi thức bắt buộc và rất quan trọng, bởi đồng bào ở đây quan niệm rằng, nếu Âm - Dương không hòa hợp, thì năm ấy dân làng, bản sẽ không được may mắn, mùa màng sẽ bị thất bát. Người ném trúng hồng tâm sẽ được ban tổ chức thưởng cho một mâm cỗ đầy. Nhưng thường thì người thắng cuộc chỉ nhận cho mình cái danh thơm, và may mắn, còn mâm cỗ thường để lại và mang ra khao làng! Một điều thú vị nữa là khi các nam thanh nữ tú bắt được quả còn của đối phương ném, thì được xem như Trời đã se duyên đôi lứa, bởi vậy, hội Lồng tồng cũng là nơi để trai gái gần xa đến tìm hiểu nhau và kết duyên vợ chồng. Sau hội tung còn sẽ tổ chức các trò chơi như đánh quay, đánh yến, bịt mắt bắt dê, kéo co... Đêm diễn ra lễ hội Lồng tồng, trai gái hát sli, hát thâu đêm suốt sáng với những lượn mời, lượn xe kết, lượn nghênh đón, lượn mừng và lượn tạm biệt... Người dân từ khắp nơi về Bắc Kạn tham dự Lễ hội Lồng tồng Một nét độc đáo nữa của lễ hội Lồng tồng Ba Bể là bà con tham gia hội không chỉ để chơi đầu xuân, mà còn là đi bán những món nông sản do nhà mình tự trồng được, khiến hội Lồng tồng có thêm mầu sắc của hội chợ nông sản. Lễ hội Lồng tồng Ba Bể thực sự là nét đẹp văn hóa truyền thống giàu bản sắc, đa dạng trong hình thức hoạt động, đã tạo nên sức hút với nhiều du khách thập phương.

Lễ hội Lồng tồng (còn được gọi với cái tên lễ xuống đồng)- là một lễ hội quan trọng bậc nhất của người dân Bắc Kạn vào dịp đầu năm mới. Lễ hội này gắn liền với nền nông nghiệp của nước ta, và được tổ chức để gửi gắm những mong ước của người nông dân với mong cầu cho một năm mưa thuận gió hòa, cây cối được tốt tươi, mùa màng bội thu. Đây cũng là một nét đẹp văn hóa, phong phú và đa dạng của người dân Bắc Kạn. Lễ hội Lồng tồng Ba Bể đã trở nên nổi tiếng ở Việt Bắc từ rất lâu. Sau hàng chục năm bị gián đoạn bởi các cuộc chiến tranh, và bởi vì cách nhìn phiến diện của một thời về văn hóa lễ hội và các tín ngưỡng dân gian, nên kể từ năm 1995, Hội này mới được khôi phục hoàn toàn và được tổ chức vào ngày mồng 10 tháng 1 âm lịch hàng năm, diễn ra tại ven hồ Ba Bể, bên dưới chân núi Bó Lù, thuộc xã Nam Mẫu, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Cạn..

Tiết mục múa rồng trong lễ hội Lồng tồng

Lễ hội Lồng tồng của người Bắc Kạn gồm nhiều nghi thức và thành phần lễ hội diễn ra rất sinh động. Đây thật sự là ngày hội của mọi người, moik nhà, vì nhà nhà đều tham gia làm lễ. Và mỗi nhà cũng có một mâm cúng riêng. Trên mâm cúng sẽ có một con gà trống luộc, có cặp bánh chưng (mon hua) được gói bằng lá dong; thịu luộc, có thịt lợn nạc; trứng gà luộc nhuộm phẩm màu với bốn màu vàng - đỏ - tím - xanh. Xôi đỏ là tượng trưng cho mặt trời, xôi vàng là tượng trưng cho mặt trăng, trên mỗi đĩa xôi còn có một con chim én được làm bằng giấy đỏ đậu trên, với biểu tượng của mùa xuân, như để gửi gắm những mong ước về sự no ấm, sự sinh sôi nảy nở và cuộc sống an lành của những người dân nơi đây. Vào buổi sáng diễn ra lễ hội Lồng tồng, các gia đình trong bản sẽ tổ chức lễ hội cùng nhau, họ sẽ đội mâm cúng ra thửa ruộng lớn nhất trên một cánh đồng của bản. Các mâm cúng sẽ được xếp lần lượt thành từng hàng, mâm trên cùng là mâm cỗ cúng của thầy mo già được coi là mâm kính trọng nhất trong vùng và cũng là người đứng ra chủ trì lễ hội. Tung gòn là một nghi thức quan trọng trong Lễ hội Lồng tồng tại Bắc Kạn Mọi người sẽ đứng thành vòng tròn quanh mâm cúng. Khi những nén hương đã được thắp lên, thầy mo sẽ đọc bài khấn, tiếp đến ông sẽ thực hiện các nghi thức cầu cúng, cầu thần Nông, lễ tạ thiên địa, thần Phục Hy, Thủy thần, Sơn thần (những vị thần chi phối việc trồng trỉa) và thành hoàng làng (vị thần bảo hộ cho nhân dân trong làng) phù hộ cho mưa thuận gió hòa, bản làng được bình yên, no ấm... Các cô gái đẹp nhất trong vùng sẽ được chọn ra để dâng nước cúng được đựng trong các vỏ của quả bầu. Đây được xem là nước thiêng, phải được lấy từ đầu nguồn. Sau đó, thầy mo ngửa mặt lên trời, tay bưng các "nậm" nước thiêng của các mâm cúng lên cao và cầu mong nước từ "mương trời" tưới về khắp trần gian, cho ruộng nương được tươi tốt. Khấn xong, thầy mo sẽ tưới nước ra khắp bốn phương trời và mọi người cùng nhau hứng nước này với mong muốn được hưởng phúc... Lễ hội Lồng tồng tại Bắc Kạn là một trong những lễ hội lớn của Việt Nam Sau phần nghi lễ sẽ đến phần hội, được mở đầu bằng lễ hội tung còn. Những quả còn thường được khâu bằng vải, bên trong có chứa hạt thóc, hạt bông được nén rất chặt, bên ngoài có các tua ngũ sắc, được các nam thanh nữ tú ném qua vòng tròn trên ngọn cây nêu. Đây chính là hai biểu tượng đặc sắc của Âm và Dương, là cái gốc của vũ trụ và vạn vật. Khi quả còn đâm thủng hồng tâm của vòng tròn treo trên cây nêu, là Âm - Dương đã giao hòa và mùa màng sẽ bội thu, cuộc sống sẽ sinh sôi. Bởi vậy, ở bất cứ lễ hội Lồng tồng nào, việc ném còn trúng vào hồng tâm cũng là một nghi thức bắt buộc và rất quan trọng, bởi đồng bào ở đây quan niệm rằng, nếu Âm - Dương không hòa hợp, thì năm ấy dân làng, bản sẽ không được may mắn, mùa màng sẽ bị thất bát. Người ném trúng hồng tâm sẽ được ban tổ chức thưởng cho một mâm cỗ đầy. Nhưng thường thì người thắng cuộc chỉ nhận cho mình cái danh thơm, và may mắn, còn mâm cỗ thường để lại và mang ra khao làng! Một điều thú vị nữa là khi các nam thanh nữ tú bắt được quả còn của đối phương ném, thì được xem như Trời đã se duyên đôi lứa, bởi vậy, hội Lồng tồng cũng là nơi để trai gái gần xa đến tìm hiểu nhau và kết duyên vợ chồng. Sau hội tung còn sẽ tổ chức các trò chơi như đánh quay, đánh yến, bịt mắt bắt dê, kéo co... Đêm diễn ra lễ hội Lồng tồng, trai gái hát sli, hát thâu đêm suốt sáng với những lượn mời, lượn xe kết, lượn nghênh đón, lượn mừng và lượn tạm biệt... Người dân từ khắp nơi về Bắc Kạn tham dự Lễ hội Lồng tồng Một nét độc đáo nữa của lễ hội Lồng tồng Ba Bể là bà con tham gia hội không chỉ để chơi đầu xuân, mà còn là đi bán những món nông sản do nhà mình tự trồng được, khiến hội Lồng tồng có thêm mầu sắc của hội chợ nông sản. Lễ hội Lồng tồng Ba Bể thực sự là nét đẹp văn hóa truyền thống giàu bản sắc, đa dạng trong hình thức hoạt động, đã tạo nên sức hút với nhiều du khách thập phương.

Lễ hội Lồng tồng tại Bắc Kạn là một trong những lễ hội lớn của Việt Nam

Một nét độc đáo nữa của lễ hội Lồng tồng Ba Bể là bà con tham gia hội không chỉ để chơi đầu xuân, mà còn là đi bán những món nông sản do nhà mình tự trồng được, khiến hội Lồng tồng có thêm mầu sắc của hội chợ nông sản.

Related Figures

Lễ hội làng Phù Liễn

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 8/1- 10/1 Âm lịch Phù Liễn nay thuộc xã Đồng Tĩnh, Tam Dương, Vĩnh Phúc, thờ bà Ngọc Kinh, con gái của một vị tướng quân triều Hùng. Bà Ngọc Kinh được thờ ở miếu sau của chùa Phù Liễn nên gọi là miếu Chùa hay Miếu Đức Bà. Chồng và con trai cả của Bà được thờ ở miếu Thính, hay còn gọi là miếu Đức ông. Con trai út được thờ ở ngôi đình Hức. Để tưởng niệm về Bà và gia đình của Bà, hàng năm nhân dân làng Phù Liễn diễn ra có 2 tiệc lớn và tổ chức lễ hội. Vào ngày mồng 8 tháng Giêng, làng mở tiệc tưởng nhớ bà Ngọc Kinh. Vào ngày mồng 9 và ngày mồng 10 tháng Một là tiệc đứng miếu, phong sắc xướng ca khánh hạ. Lễ hội làng Phù Liễn tại Vĩnh Phúc Trong tiệc ngày mùng 8 tháng giêng thì phải có trò “đúc tượng” mà dân gian quen gọi là trò “đúc Bụt”. Trò “đúc Bụt” được tổ chức tại sân miếu Đức Bà. Đây chính là tiệc lệ riêng về bà Ngọc Kinh cùng với 3 thị nữ là Cao Cả, Cao Nhi và Cao Út. Tại đây cùng lúc diễn 2 tích trò là: Trò “đúc bụt” ở giữa sân làm trung tâm và Trò trình nghề Sĩ - Nông - Công - Cổ ở vòng ngoài theo đường tròn ước lệ, cùng chuyển động đồng trục (ước lệ) với trò đúc Bụt theo chiều quay dương sinh. Quang cảnh lễ hội đúc Bụt tại hội làng Phù Liễn Khi các công việc về “đúc Bụt” đã hoàn thành xong, ông Thánh tán sẽ vào làm lễ, xin đài “âm dương”, các bà sãi bón trầu cau và bón xôi cho các Bụt. Ông Thánh tán sẽ xin âm dương. Thợ cả “đập lò” nấu đồng (tượng trưng) là kết thúc việc đúc Bụt. Trò diễn trong vòng khoảng 20 đến 30 phút thì kết thúc. Sau các trò diễn, dân làng sẽ đua nhau cướp các chiếu trải ở sân đình để lấy may mắn. Những trò chơi dân dã khác như chọi gà, đấu vật... sẽ tiếp tục diễn ra đến buổi chiều. Diễn xướng các trò chơi dân gian trong lễ hội Đúc Bụt Tiệc ngày mồng 9 và ngày mồng 10 tháng Một nội dung chính sẽ là tiệc hát (tiệc xướng ca). Trong tiệc có lễ rước kiệu tại các miếu riêng về đình để cộng đồng tế lễ. Lễ rước được tổ chức vào buổi đêm dưới ánh đuốc nên còn có tên gọi là “lễ rước đêm”.

Phù Liễn nay thuộc xã Đồng Tĩnh, Tam Dương, Vĩnh Phúc, thờ bà Ngọc Kinh, con gái của một vị tướng quân triều Hùng. Bà Ngọc Kinh được thờ ở miếu sau của chùa Phù Liễn nên gọi là miếu Chùa hay Miếu Đức Bà. Chồng và con trai cả của Bà được thờ ở miếu Thính, hay còn gọi là miếu Đức ông. Con trai út được thờ ở ngôi đình Hức. Để tưởng niệm về Bà và gia đình của Bà, hàng năm nhân dân làng Phù Liễn diễn ra có 2 tiệc lớn và tổ chức lễ hội. Vào ngày mồng 8 tháng Giêng, làng mở tiệc tưởng nhớ bà Ngọc Kinh. Vào ngày mồng 9 và ngày mồng 10 tháng Một là tiệc đứng miếu, phong sắc xướng ca khánh hạ. Lễ hội làng Phù Liễn tại Vĩnh Phúc Trong tiệc ngày mùng 8 tháng giêng thì phải có trò “đúc tượng” mà dân gian quen gọi là trò “đúc Bụt”. Trò “đúc Bụt” được tổ chức tại sân miếu Đức Bà. Đây chính là tiệc lệ riêng về bà Ngọc Kinh cùng với 3 thị nữ là Cao Cả, Cao Nhi và Cao Út. Tại đây cùng lúc diễn 2 tích trò là: Trò “đúc bụt” ở giữa sân làm trung tâm và Trò trình nghề Sĩ - Nông - Công - Cổ ở vòng ngoài theo đường tròn ước lệ, cùng chuyển động đồng trục (ước lệ) với trò đúc Bụt theo chiều quay dương sinh. Quang cảnh lễ hội đúc Bụt tại hội làng Phù Liễn Khi các công việc về “đúc Bụt” đã hoàn thành xong, ông Thánh tán sẽ vào làm lễ, xin đài “âm dương”, các bà sãi bón trầu cau và bón xôi cho các Bụt. Ông Thánh tán sẽ xin âm dương. Thợ cả “đập lò” nấu đồng (tượng trưng) là kết thúc việc đúc Bụt. Trò diễn trong vòng khoảng 20 đến 30 phút thì kết thúc. Sau các trò diễn, dân làng sẽ đua nhau cướp các chiếu trải ở sân đình để lấy may mắn. Những trò chơi dân dã khác như chọi gà, đấu vật... sẽ tiếp tục diễn ra đến buổi chiều. Diễn xướng các trò chơi dân gian trong lễ hội Đúc Bụt Tiệc ngày mồng 9 và ngày mồng 10 tháng Một nội dung chính sẽ là tiệc hát (tiệc xướng ca). Trong tiệc có lễ rước kiệu tại các miếu riêng về đình để cộng đồng tế lễ. Lễ rước được tổ chức vào buổi đêm dưới ánh đuốc nên còn có tên gọi là “lễ rước đêm”.

Related Figures

Lễ hội làng Vọng Nguyệt

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 25/2- 27/2 Âm lịch (lehoi.info) - Lễ hội làng Vọng Nguyệt diễn ra trong ba ngày là 25, 26, 27 tháng Hai âm lịch hàng năm, tại thôn Vọng Nguyệt thuộc xã Tam Giang, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Lễ hội thường tổ chức các hoạt động mang tính chất truyền thống pha lẫn với hiện đại để tưởng nhớ những người đã có công lập làng. Lễ hội làng Vọng Nguyệt tại Bắc Ninh Vọng Nguyệt xưa được gọi với cái tên là làng Thứ Nhị hay làng Ngột Nhì. Vào thời Nguyễn làng Vọng Nguyệt thuộc tổng Nội Trà, huyện Yên Phong, phủ Từ Sơn, Bắc Ninh. Làng nằm ở bên bờ của Nam sông Cầu, là một vùng quê có phong cảnh trữ tình nên thơ với một quần thể di tích chùa, đình, đền, có kiến trúc cổ và đẹp nổi tiếng ở đất Kinh Bắc xưa. Từ bao đời nay người dân nơi đây vẫn giữ được nghề trồng dâu nuôi tằm đã gắn bó với cuộc sống của mỗi một người dân trong làng. Làng Vọng Nguyệt không chỉ nổi tiếng lẫy lừng với tiếng thơm là vùng đất khoa bảng tiêu biểu của huyện Yên Phong với 8 người đã đỗ đại khoa và nhiều vị đỗ đạt cử nhân tú tài dưới thời phong kiến mà nơi đây còn là một vùng quê có truyền thống cách mạng kiên cường bất khuất trong cuộc chiến chống lại giặc ngoại xâm. Vọng Nguyệt còn là một trong những ngôi làng Việt cổ có nhiều di sản văn hoá vật thể, đã ghi lại những mốc son thăng trầm trong sự phát triển một cộng đồng làng xã trong chiều dài lịch sử của dân tộc. Chùa Vọng Nguyệt có tên chữ là Khai Nghiêm tự, được Nguyệt Sinh công chúa của nhà Lý cho xây dựng. Đến thời Nguyễn và Lê ngôi chùa Khai Nghiêm đã được đại trùng tu, vào năm Vĩnh Thịnh nguyên niên (1705) đã dựng thạch trụ thiên đài , năm Cảnh Thịnh thứ 7 (1799) đã đúc chuông đồng lớn và được tạc nhiều pho tượng Phật. Hàn lâm học sỹ Trương Hán Siêu đã soạn văn bia, khắc trên đá vào Đời Dụ Tông (1341-1369). Lễ hội Vọng Nguyệt được tổ chức trong vòng 3 ngày với nhiều các nghi lễ: Trong ngày hội, người dân trong làng sẽ được phân thành nhiều tốp và được giao nhiệm vụ trong lễ rước lễ vật. Gồm các nhóm thiếu niên nam nữ, các cụ ông, cụ bà, nam thanh nữ tú riêng mỗi tốp sẽ được giao một nhiệm vụ rước các lễ vật khác nhau như, ngựa bà, ngựa ông, kiệu, lọng... Đoàn rước xuất phát từ đình làng ra đến chùa và diễu qua các ngõ lớn trong làng. Trò chơi dân gian đấu vật luôn thu hút được sự quan tâm của đông đảo người dân và khách thập phương đến tham dự Lễ hội làng Vọng Nguyệt Đi đầu đoàn rước sẽ là một nhóm múa lân có chiêng trống rộn ràng và góp lộc của các hộ dân đứng ở hai bên đường sẽ ban phát lộc cho đoàn rước biểu thị cho sự ấm no đầy đủ, đi sau sẽ là người mặc một bộ áo dài đỏ (người có chức sắc trong làng thời xưa) dẫn đầu đoàn rước. Từng đoàn rước tiếp nối đuôi nhau đi trong tiếng trống tiếng chiêng rộn rã, và nhóm múa lân rất vui nhộn trên đường, những người già lẫn trẻ em sẽ đứng ra hai bên đường để phát lộc cho đoàn rước và cùng xem lễ hội Tất cả các đoàn rước đều hội tụ về ngôi chùa cổ của làng để chuẩn bị vào lễ hội chính sẽ được tổ chức ngay tại đây, các nghi thức diễn ra trang trọng và các màn ca múa dân gian đặc sắc đã được tái hiện lại không khí của các lễ hội thời xưa. Từng đoàn rước sẽ quy tụ về sân chùa để cử hành nghi lễ trang trọng nhất, đó là nghi lễ cúng hoàng làng. Du khác thập phương và bà con đến tham tham gia lễ hội rất đông. Vừa ôn lại nét đẹp văn hóa dân gian lại vừa có dịp vui chơi giải trí trong ngày hội, đồng thời gìn giữ được những nét văn hóa này cho thế hệ mai sau. Lễ rước lễ vật trong Lễ hội làng Vọng Nguyệt tại Bắc Ninh Trong lễ hội còn có tiết mục hát Quan họ. Các liền anh liền chị sẽ hát những câu quan họ tình tứ của người Bắc Ninh ngay trên một khúc sông. Không chỉ những liền anh, liền chị chuyên nghiệp của làng mới tham gia hát Quan họ trong ngày lễ mà hầu hết những người dân làm nông nghiệp trong làng cũng đều tham gia hát. Bên cạnh đó, những trò chơi dân gian và các hoạt động văn nghệ, thể thao như: c bóng chuyền, bóng đá, họi gà, văn công… đã làm không khí ngày hội càng thêm sôi động và náo nhiệt hơn. Các trò chơi dân gian vẫn thường được tổ chức trong các lễ hội như hội vật, vật vốn là một trong những trò chơi dân gian thu hút được sự quan tâm của dân làng và khác thập phương, bởi không chỉ có các đô vật trong làng tham gia mà còn có nhiều đô vật từ các tỉnh về đâu tham gia tỉ thí. Lễ hội Vọng Nguyệt đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng mỗi người đến tham dự. Bên cạnh sự đổi mới trong kinh tế và xã hội, thì người dân nơi đây vẫn giữ được những nét đẹp về mặt thuần phong mỹ tục của người dân Kinh Bắc xưa.

(lehoi.info) - Lễ hội làng Vọng Nguyệt diễn ra trong ba ngày là 25, 26, 27 tháng Hai âm lịch hàng năm, tại thôn Vọng Nguyệt thuộc xã Tam Giang, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Lễ hội thường tổ chức các hoạt động mang tính chất truyền thống pha lẫn với hiện đại để tưởng nhớ những người đã có công lập làng.

Lễ hội làng Vọng Nguyệt tại Bắc Ninh

Vọng Nguyệt xưa được gọi với cái tên là làng Thứ Nhị hay làng Ngột Nhì. Vào thời Nguyễn làng Vọng Nguyệt thuộc tổng Nội Trà, huyện Yên Phong, phủ Từ Sơn, Bắc Ninh. Làng nằm ở bên bờ của Nam sông Cầu, là một vùng quê có phong cảnh trữ tình nên thơ với một quần thể di tích chùa, đình, đền, có kiến trúc cổ và đẹp nổi tiếng ở đất Kinh Bắc xưa. Từ bao đời nay người dân nơi đây vẫn giữ được nghề trồng dâu nuôi tằm đã gắn bó với cuộc sống của mỗi một người dân trong làng. Làng Vọng Nguyệt không chỉ nổi tiếng lẫy lừng với tiếng thơm là vùng đất khoa bảng tiêu biểu của huyện Yên Phong với 8 người đã đỗ đại khoa và nhiều vị đỗ đạt cử nhân tú tài dưới thời phong kiến mà nơi đây còn là một vùng quê có truyền thống cách mạng kiên cường bất khuất trong cuộc chiến chống lại giặc ngoại xâm. Vọng Nguyệt còn là một trong những ngôi làng Việt cổ có nhiều di sản văn hoá vật thể, đã ghi lại những mốc son thăng trầm trong sự phát triển một cộng đồng làng xã trong chiều dài lịch sử của dân tộc. Chùa Vọng Nguyệt có tên chữ là Khai Nghiêm tự, được Nguyệt Sinh công chúa của nhà Lý cho xây dựng. Đến thời Nguyễn và Lê ngôi chùa Khai Nghiêm đã được đại trùng tu, vào năm Vĩnh Thịnh nguyên niên (1705) đã dựng thạch trụ thiên đài , năm Cảnh Thịnh thứ 7 (1799) đã đúc chuông đồng lớn và được tạc nhiều pho tượng Phật. Hàn lâm học sỹ Trương Hán Siêu đã soạn văn bia, khắc trên đá vào Đời Dụ Tông (1341-1369). Lễ hội Vọng Nguyệt được tổ chức trong vòng 3 ngày với nhiều các nghi lễ: Trong ngày hội, người dân trong làng sẽ được phân thành nhiều tốp và được giao nhiệm vụ trong lễ rước lễ vật. Gồm các nhóm thiếu niên nam nữ, các cụ ông, cụ bà, nam thanh nữ tú riêng mỗi tốp sẽ được giao một nhiệm vụ rước các lễ vật khác nhau như, ngựa bà, ngựa ông, kiệu, lọng... Đoàn rước xuất phát từ đình làng ra đến chùa và diễu qua các ngõ lớn trong làng. Trò chơi dân gian đấu vật luôn thu hút được sự quan tâm của đông đảo người dân và khách thập phương đến tham dự Lễ hội làng Vọng Nguyệt Đi đầu đoàn rước sẽ là một nhóm múa lân có chiêng trống rộn ràng và góp lộc của các hộ dân đứng ở hai bên đường sẽ ban phát lộc cho đoàn rước biểu thị cho sự ấm no đầy đủ, đi sau sẽ là người mặc một bộ áo dài đỏ (người có chức sắc trong làng thời xưa) dẫn đầu đoàn rước. Từng đoàn rước tiếp nối đuôi nhau đi trong tiếng trống tiếng chiêng rộn rã, và nhóm múa lân rất vui nhộn trên đường, những người già lẫn trẻ em sẽ đứng ra hai bên đường để phát lộc cho đoàn rước và cùng xem lễ hội Tất cả các đoàn rước đều hội tụ về ngôi chùa cổ của làng để chuẩn bị vào lễ hội chính sẽ được tổ chức ngay tại đây, các nghi thức diễn ra trang trọng và các màn ca múa dân gian đặc sắc đã được tái hiện lại không khí của các lễ hội thời xưa. Từng đoàn rước sẽ quy tụ về sân chùa để cử hành nghi lễ trang trọng nhất, đó là nghi lễ cúng hoàng làng. Du khác thập phương và bà con đến tham tham gia lễ hội rất đông. Vừa ôn lại nét đẹp văn hóa dân gian lại vừa có dịp vui chơi giải trí trong ngày hội, đồng thời gìn giữ được những nét văn hóa này cho thế hệ mai sau. Lễ rước lễ vật trong Lễ hội làng Vọng Nguyệt tại Bắc Ninh Trong lễ hội còn có tiết mục hát Quan họ. Các liền anh liền chị sẽ hát những câu quan họ tình tứ của người Bắc Ninh ngay trên một khúc sông. Không chỉ những liền anh, liền chị chuyên nghiệp của làng mới tham gia hát Quan họ trong ngày lễ mà hầu hết những người dân làm nông nghiệp trong làng cũng đều tham gia hát. Bên cạnh đó, những trò chơi dân gian và các hoạt động văn nghệ, thể thao như: c bóng chuyền, bóng đá, họi gà, văn công… đã làm không khí ngày hội càng thêm sôi động và náo nhiệt hơn. Các trò chơi dân gian vẫn thường được tổ chức trong các lễ hội như hội vật, vật vốn là một trong những trò chơi dân gian thu hút được sự quan tâm của dân làng và khác thập phương, bởi không chỉ có các đô vật trong làng tham gia mà còn có nhiều đô vật từ các tỉnh về đâu tham gia tỉ thí. Lễ hội Vọng Nguyệt đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng mỗi người đến tham dự. Bên cạnh sự đổi mới trong kinh tế và xã hội, thì người dân nơi đây vẫn giữ được những nét đẹp về mặt thuần phong mỹ tục của người dân Kinh Bắc xưa.

Related Figures

Lễ hội Dĩnh Kế

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/3 Âm lịch (lehoi.info) - Cứ mỗi dịp rằm tháng 3 âm lịch hàng năm, ngày Đại kỳ phước, đền Dĩnh Kế lại trở thành trung tâm nơi diễn ra lễ hội của nhân dân các thôn trong xã Dĩnh Kế. Khai hội chùa Dĩnh Kế Người ta sẽ tổ chức rước long ngai và bài vị của Đức thánh Cả về Nghè Cả; sau đó tổ chức hành lễ để biểu hiện lòng cung kính của người dân trăm họ đối với Đức Thánh, tiếp theo sẽ tổ chức các trò chơi vui, hay biểu diễn văn nghệ. Hội đền Dĩnh Kế còn thu hút người xem bởi trò chơi kéo chữ và cờ người. Trai gái trong làng sẽ được chọn để làm quân cờ hoặc trò kéo chữ phải tập dượt trước hàng tháng. Ba ngày trước khi mở hội, họ tập trung lại để tổng duyệt một lượt. Người kéo chữ trước đây thường mặc quần áo rất đẹp, đầu có đội khăn xếp, thắt lưng nhiễu điều, nón chóp dứa và đi giầy chín long, vác cờ ngũ sắc di chuyển theo hiệu lệnh trống của ông tổng cờ cho đến khi đã dàn thành chữ: " Thiên hạ thái bình - Trình quan đại hội ". Lễ rước bài vị và long ngai của Đức Thánh Cả về Nghè Cả Trước đây, vào ngày 20 tháng Bảy, ở Dĩnh Kế còn diễn ra lễ hội “thượng điền " của nhân dân trong toàn xã. Vào ngày này, các giáp sẽ mang lễ vật đến tế lễ ở đình làng, xã để thể hiện lòng tôn kính, biết ơn với trời đất, thánh thần đã ban cho họ mùa màng tốt tươi, dân làng an bình, thịnh vượng. Ngoài thờ Phật, còn ngưỡng vọng các bậc hiền tài trong các kì khoa bảng, người Dĩnh Kế còn thờ bà " Chúa chợ " tên là Nguyễn Thị Chuyên, người đã có công trong việc mở mang chợ Kế thành một trung tâm buôn bán sầm uất trong các dịp tuần rằm hàng tháng. Cổng chùa Dĩnh Kế Khi đến Dĩnh Kế trong những ngày lễ hội chúng ta mới thấy hết được những nét đẹp truyền thống và sự sáng tạo tuyệt vời của người dân lao động nơi này. Đặc biệt với cụm di tích lịch sử văn hoá: đền Dĩnh Kế, chùa Đống Nghiêm, đã được Nhà nước xếp hạng. Lễ hội ở đây đang trở nên ngày càng đông hơn, vui hơn với các nội dung độc đáo mà hấp dẫn: " Đồn rằng hội Kế tháng 3 Không đi xem hội cũng già mất thân "

(lehoi.info) - Cứ mỗi dịp rằm tháng 3 âm lịch hàng năm, ngày Đại kỳ phước, đền Dĩnh Kế lại trở thành trung tâm nơi diễn ra lễ hội của nhân dân các thôn trong xã Dĩnh Kế. Khai hội chùa Dĩnh Kế Người ta sẽ tổ chức rước long ngai và bài vị của Đức thánh Cả về Nghè Cả; sau đó tổ chức hành lễ để biểu hiện lòng cung kính của người dân trăm họ đối với Đức Thánh, tiếp theo sẽ tổ chức các trò chơi vui, hay biểu diễn văn nghệ. Hội đền Dĩnh Kế còn thu hút người xem bởi trò chơi kéo chữ và cờ người. Trai gái trong làng sẽ được chọn để làm quân cờ hoặc trò kéo chữ phải tập dượt trước hàng tháng. Ba ngày trước khi mở hội, họ tập trung lại để tổng duyệt một lượt. Người kéo chữ trước đây thường mặc quần áo rất đẹp, đầu có đội khăn xếp, thắt lưng nhiễu điều, nón chóp dứa và đi giầy chín long, vác cờ ngũ sắc di chuyển theo hiệu lệnh trống của ông tổng cờ cho đến khi đã dàn thành chữ: " Thiên hạ thái bình - Trình quan đại hội ". Lễ rước bài vị và long ngai của Đức Thánh Cả về Nghè Cả Trước đây, vào ngày 20 tháng Bảy, ở Dĩnh Kế còn diễn ra lễ hội “thượng điền " của nhân dân trong toàn xã. Vào ngày này, các giáp sẽ mang lễ vật đến tế lễ ở đình làng, xã để thể hiện lòng tôn kính, biết ơn với trời đất, thánh thần đã ban cho họ mùa màng tốt tươi, dân làng an bình, thịnh vượng. Ngoài thờ Phật, còn ngưỡng vọng các bậc hiền tài trong các kì khoa bảng, người Dĩnh Kế còn thờ bà " Chúa chợ " tên là Nguyễn Thị Chuyên, người đã có công trong việc mở mang chợ Kế thành một trung tâm buôn bán sầm uất trong các dịp tuần rằm hàng tháng. Cổng chùa Dĩnh Kế Khi đến Dĩnh Kế trong những ngày lễ hội chúng ta mới thấy hết được những nét đẹp truyền thống và sự sáng tạo tuyệt vời của người dân lao động nơi này. Đặc biệt với cụm di tích lịch sử văn hoá: đền Dĩnh Kế, chùa Đống Nghiêm, đã được Nhà nước xếp hạng. Lễ hội ở đây đang trở nên ngày càng đông hơn, vui hơn với các nội dung độc đáo mà hấp dẫn: " Đồn rằng hội Kế tháng 3 Không đi xem hội cũng già mất thân "

Related Figures

Hội xuân Phủ Thông

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/1 Âm lịch (lehoi.info) - Hội xuân Phủ Thông thường được tổ chức vào ngày mồng 10 tháng Giêng hàng năm, tại thị trấn Phủ Thông thuộc huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn. Đây là một lễ hội truyền thống đặc sắc mang đậm nét văn hoá của đồng bào dân tộc Tày, đây cũng chính là dịp để các nơi trong địa bàn toàn huyện Bạch Thông và các xã giáp ranh với huyện Bạch Thông cùng giao lưu thưởng thức những sắc màu văn hoá riêng của mỗi vùng, góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa cổ truyền của dân tộc. Trong ngày Hội (10/01 âm lịch), từ sáng sớm, từng dòng người nô nức kéo nhau về thị trấn Phủ Thông từ trên khắp các nẻo đường, những bé trai, bé gái được mặc những bộ quần áo mới đủ màu sắc, gương mặt ngây thơ nhưng cũng hớn hở theo không khí ngày hội. Hội xuân Phủ Thông thu hút đông đảo người dân tham dự Lễ hội xuân Phủ Thông gồm hai phần: Phần Lễ và Phần Hội Phần Lễ diễn ra trong bầu không khí trang nghiêm và thành kính. Đầu tiên là lễ dâng hương tại đài tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ Phủ Thông, với lòng thành kính và bảy tỏ sự biết ơn sâu sắc đối với công lao của các anh hùng đối với dân tộc, và cũng là dịp để người dân cầu xin một năm mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu, dân làng yên bình, gia đình hạnh phúc. Phần Hội diễn ra với nhiều trò chơi dân gian phổ biến trong các lễ hội xuân ở tỉnh Bắc Kạn đó là trò Tung còn. Tung còn không chỉ là một trò chơi, mà đồng thời cũng là một nghi lễ để cầu may mắn cho năm mới. Trong ngày hội, trò Tung Còn diễn ra tại một bãi đất rộng, giữa bãi đất người ta sẽ chôn một cái cây, cây thường chọn là cây mai. Phần ngọn cây dùng một thanh tre được vót nhỏ và uốn thành một vòng tròn, sau đó dùng giấy màu dán kín lại, ở giữa có khoét một lỗ hình tròn nhỏ. Buộc vòng tròn này vào phần ngọn của cây mai đã được chôn. Thanh niên nam nữ sẽ đứng dàn ra hai bên và bắt đầu tung còn, sao cho quả còn trúng và làm thủng mảnh giấy dán kín vòng tròn trên ngọn tre, và ai đón được quả còn sẽ là người gặp nhiều may mắn. Nhìn ngắm quả còn ngũ sắc bay trên không trung khiến nhiều có cảm giác khó tả. Một trò chơi khác cũng khá hấp dẫn, đó là trò đi cà kheo, trò này chỉ cần có hai đoạn tre có đục lỗ, đóng cá để đặt bàn chân lên. Đứng vững trên cây cà kheo cao lênh khênh đã là một việc khá khó, để đi thật nhanh về đích lại còn khó hơn rất nhiều. Trò chơi này sẽ vui nhộn hơn nếu người chơi mặc những bộ trang phục truyền thống màu sắc bắt mắt, đứng từ xa cũng có thể nhìn thấy được ai về đích trước. Nhiều trò chơi dân gian hấp dẫn được tổ chức trong ngày Hội xuân Phủ Thông Trò chơi kéo co cũng là một tiết mục không thể thiếu trong lễ hội này. Trên sân, người ta sẽ chuẩn bị sẵn một sợi dây thừng to, chiều dài khoảng 20m để làm dây kéo, ở giữa đoạn dây thừng này có buộc một chiếc khăn màu đỏ. Các bạn trẻ sẽ chia thành hai phe đều là nữ hoặc đều là nam, có số lượng bằng nhau, sau đó nắm dây kéo sẵn sàng. Khi trống lệnh bắt đầu phát ra, mỗi người chân bên duỗi, bên co ra sức kéo phe đối phương lấn qua mốc vạch vôi. Cuộc tranh tài đua sức này diễn ra rất căng thẳng với tiếng reo hò cổ vũ nhiệt tình của những người xung quanh. Dù thắng hay thua thì tất cả đều cảm thấy vui vẻ. Trò chơi đẩy gậy có lẽ là trò chỉ dành riêng cho những thanh niên trai tráng. Trên một khoảng đất phẳng, người ta sẽ dùng vôi để kẻ một vòng tròn. Chỉ cần một đoạn tre thẳng, được vót nhẵn hai đầu và buộc một chiếc khăn đỏ ở giữa, là trò chơi có thể bắt đầu. Đẩy gậy thực ra là cuộc phô diễn sức khỏe và sự dẻo dai của những chàng trai núi rừng. Những cánh tay với cơ bắp cuồn cuồn, những bàn chân chắc nịch, vững chãi lấy đà để đẩy đối phương lùi ra khỏi vòng đấu đã mang lại sự hồi hộp đến nghẹt thở. Bên cạnh những trò chơi dân gian này, còn có một số trò khác như: bóng chuyền, “hái hoa dân chủ”...

(lehoi.info) - Hội xuân Phủ Thông thường được tổ chức vào ngày mồng 10 tháng Giêng hàng năm, tại thị trấn Phủ Thông thuộc huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn.

Đây là một lễ hội truyền thống đặc sắc mang đậm nét văn hoá của đồng bào dân tộc Tày, đây cũng chính là dịp để các nơi trong địa bàn toàn huyện Bạch Thông và các xã giáp ranh với huyện Bạch Thông cùng giao lưu thưởng thức những sắc màu văn hoá riêng của mỗi vùng, góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa cổ truyền của dân tộc. Trong ngày Hội (10/01 âm lịch), từ sáng sớm, từng dòng người nô nức kéo nhau về thị trấn Phủ Thông từ trên khắp các nẻo đường, những bé trai, bé gái được mặc những bộ quần áo mới đủ màu sắc, gương mặt ngây thơ nhưng cũng hớn hở theo không khí ngày hội. Hội xuân Phủ Thông thu hút đông đảo người dân tham dự Lễ hội xuân Phủ Thông gồm hai phần: Phần Lễ và Phần Hội Phần Lễ diễn ra trong bầu không khí trang nghiêm và thành kính. Đầu tiên là lễ dâng hương tại đài tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ Phủ Thông, với lòng thành kính và bảy tỏ sự biết ơn sâu sắc đối với công lao của các anh hùng đối với dân tộc, và cũng là dịp để người dân cầu xin một năm mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu, dân làng yên bình, gia đình hạnh phúc. Phần Hội diễn ra với nhiều trò chơi dân gian phổ biến trong các lễ hội xuân ở tỉnh Bắc Kạn đó là trò Tung còn. Tung còn không chỉ là một trò chơi, mà đồng thời cũng là một nghi lễ để cầu may mắn cho năm mới. Trong ngày hội, trò Tung Còn diễn ra tại một bãi đất rộng, giữa bãi đất người ta sẽ chôn một cái cây, cây thường chọn là cây mai. Phần ngọn cây dùng một thanh tre được vót nhỏ và uốn thành một vòng tròn, sau đó dùng giấy màu dán kín lại, ở giữa có khoét một lỗ hình tròn nhỏ. Buộc vòng tròn này vào phần ngọn của cây mai đã được chôn. Thanh niên nam nữ sẽ đứng dàn ra hai bên và bắt đầu tung còn, sao cho quả còn trúng và làm thủng mảnh giấy dán kín vòng tròn trên ngọn tre, và ai đón được quả còn sẽ là người gặp nhiều may mắn. Nhìn ngắm quả còn ngũ sắc bay trên không trung khiến nhiều có cảm giác khó tả. Một trò chơi khác cũng khá hấp dẫn, đó là trò đi cà kheo, trò này chỉ cần có hai đoạn tre có đục lỗ, đóng cá để đặt bàn chân lên. Đứng vững trên cây cà kheo cao lênh khênh đã là một việc khá khó, để đi thật nhanh về đích lại còn khó hơn rất nhiều. Trò chơi này sẽ vui nhộn hơn nếu người chơi mặc những bộ trang phục truyền thống màu sắc bắt mắt, đứng từ xa cũng có thể nhìn thấy được ai về đích trước. Nhiều trò chơi dân gian hấp dẫn được tổ chức trong ngày Hội xuân Phủ Thông Trò chơi kéo co cũng là một tiết mục không thể thiếu trong lễ hội này. Trên sân, người ta sẽ chuẩn bị sẵn một sợi dây thừng to, chiều dài khoảng 20m để làm dây kéo, ở giữa đoạn dây thừng này có buộc một chiếc khăn màu đỏ. Các bạn trẻ sẽ chia thành hai phe đều là nữ hoặc đều là nam, có số lượng bằng nhau, sau đó nắm dây kéo sẵn sàng. Khi trống lệnh bắt đầu phát ra, mỗi người chân bên duỗi, bên co ra sức kéo phe đối phương lấn qua mốc vạch vôi. Cuộc tranh tài đua sức này diễn ra rất căng thẳng với tiếng reo hò cổ vũ nhiệt tình của những người xung quanh. Dù thắng hay thua thì tất cả đều cảm thấy vui vẻ. Trò chơi đẩy gậy có lẽ là trò chỉ dành riêng cho những thanh niên trai tráng. Trên một khoảng đất phẳng, người ta sẽ dùng vôi để kẻ một vòng tròn. Chỉ cần một đoạn tre thẳng, được vót nhẵn hai đầu và buộc một chiếc khăn đỏ ở giữa, là trò chơi có thể bắt đầu. Đẩy gậy thực ra là cuộc phô diễn sức khỏe và sự dẻo dai của những chàng trai núi rừng. Những cánh tay với cơ bắp cuồn cuồn, những bàn chân chắc nịch, vững chãi lấy đà để đẩy đối phương lùi ra khỏi vòng đấu đã mang lại sự hồi hộp đến nghẹt thở. Bên cạnh những trò chơi dân gian này, còn có một số trò khác như: bóng chuyền, “hái hoa dân chủ”...

Related Figures

Lễ hội cầu mưa của người Chăm - Vân Canh

Thông tin thời kỳ

Lễ hội cầu mưa của người Chăm còn được biết đến là lễ mừng mưa tiếng Chăm là oai lơ cau chăhơzan, là một lễ hội của bà con đồng bào Chăm H'roi, Vân Canh, Bình Định. Với quan niệm rằng mọi sự biến chuyển của vũ trụ đều thuận theo Phật trời, thần linh hay ma quỷ điều khiển. Con người nếu muốn đạt được ước nguyện thì phải cầu nguyện, phải cúng khấn để được thần linh giúp đỡ. Tùy theo thời tiết của mỗi dịp lễ mà đặt tên gọi cho từng dịp lễ hội - trời hạn thì được đặt tên là lễ cầu mưa, còn trời mưa mà hành lễ thì được gọi là lễ mừng mưa. Lễ hội thường diễn ra vào dịp đầu tháng 2 âm lịch hàng năm dù cho trời nắng hay trời mưa, đồng bào người Chăm đều tổ chức lễ hội. Lễ hội cầu mưa của người Chăm - Vân Canh tại Bình Định Để cầu mưa hay mừng mưa, đồng bào người Chăm sẽ làm lễ riêng, trên nương rẫy của mình. Hoặc nếu trời nắng hạn quá lâu, cả làng (Plây) sẽ phải làm chung một lễ, cả làng sẽ chuẩn bị và cùng góp lễ vật để cúng. Đồ lễ Plây trước hết, làng sẽ cử người để dựng một đài dâng lễ vật, trên đài sẽ bày 1 con gà trống, 1 bình rượu, 1 vòng sáp ong để đốt và 1 bát gạo. Đài dâng lễ vật sẽ được đặt trước sân nhà của già làng hoặc tại bến nước của làng. Đài và án sẽ được dựng lên từ bốn gốc cây Pay Ch'panh (cây gạo). Phần trên là án và phần dưới sẽ là đài, do các nghệ nhân trong làng trang trí những họa tiết được cách điệu từ hoa văn theo mô típ người Chăm có tên gọi Pơrưng, hay những tua rua. Bên cạnh đó sẽ là một cây Nêu vươn cao, tạo thành một đôi cánh chim (loài chim tượng trưng cho sự yên bình của người dân đồng bào Chăm H'roi). Đó là một cách để người dân nơi đây thể hiện thông điệp cầu cho sự yên bình của dân làng. Lễ từng nhà (lễ mừng mưa): Sẽ do từng nhà tự chuẩn bị lễ vật để cúng trên nương rẫy của mình. Khi hạt giống đã trỉa xuống đất, chủ nhà sẽ làm lễ cầu mưa để cầu cho hạt giống ở rẫy mình sẽ nẩy mầm và tươi tốt. Ngày giờ sẽ do chủ nhà tự chọn sau khi đã trỉa giống xuống. Chủ nhà cũng thu dọn cây, rồi vun một đống đất ở rẫy, đống đất có đường kính khoảng 50cm, cao khoảng 30cm. Ở giữa chôn một cây tre rừng, phần gốc của nó được chôn dưới đất, phần ngọn sẽ được chẻ làm 4 nhánh tỏa ra bốn hướng đông tây nam bắc để đón nước mưa. Trên phần ngọn tre được chẻ làm tư đó, chủ nhà sẽ gác dàn đặt lễ vật gồm có: 1 con gà trống (con gà là đại diện cho sự bền bỉ, dẻo dai trong cuộc sống), 1 bình rượu nhỏ, 1 đấu thóc (có nơi dùng gạo) và 1 vòng sáp ong để đốt. Bên cạnh gốc tre sẽ đặt một cái cuốc nhỏ được buộc vào gốc tre. Bên cạnh đó, người ta sẽ mang từ 7 đến 9 cái ống nứa nhỏ bằng ngón tay và cắm xung quanh một gốc cây rừng đã bị cháy trên rẫy, sau đó rót nước đầy vào các ống tre này với với ngụ ý nước đã về tới rẫy, nước sẽ làm mát đất. Nội dung lời khấn cầu của chủ nhà. Già làng và người dân đang cử hành nghi lễ cầu mưa Lễ chung cho cả làng (Plây), lễ cầu mưa: Khi nắng hạn kéo dài, dân làng Plây mới cầu chung một lễ, lễ do già làng (người được kính trọng nhất trong tộc họ) sẽ đứng ra điều hành. Công việc chuẩn bị lễ vật xong sẽ bắt đầu lễ cúng, chiếu cói mới (chưa dùng) sẽ được trải ra ngay phía dưới đài và án. Ở giữa chiếu sẽ đặt một chiếc đĩa có đựng hai đồng xu để khi khấn xong sẽ gieo quẻ âm dương, xung quanh chiếu có các ché rượu cần. Số người tham gia làm lễ cúng phải là số lẻ và do làng chọn, từ 3 đến 5 người (hoặc từ 7 đến 9 người) kể cả lễ vật cũng được sắp theo số lẻ để đến khi cầu Giàng cho thêm chẵn là vừa đủ. Trong các lễ thức, đồng bào người Chăm bao giờ cũng chỉ mong cầu là vừa bụng - không tham nhiều, sợ lấy nhiều thì lần sau xin trời sẽ không cho… Trong số người tham gia lễ cúng, dân làng sẽ lựa chọn một người có uy tín, sau đó người đó sẽ ngồi trên đài để tượng trưng cho người của Giàng (trời). Bên dưới già làng sẽ bắt đầu khấn cúng. Người dân Chăm múa xoang Ch'yong với hy vọng đất trời sẽ ban cho mưa thuận gió hòa Kết thúc lễ Plây: Kơtoong và dàn chiêng sẽ nổi lên giai điệu A Tonh Ch'yong e pla (Chào trời-chào khách). Trai, gái trong làng sẽ nhịp nhàng nhảy múa theo chiều ngược chiều kim đồng hồ. Tư thế của họ là để tượng trưng cho mây bay, gió thổi, sấm nổ để đón chào những hạt mưa từ "người của Giàng" đang ngồi trên đài đổ xuống… Người làm lễ cúng cùng với già làng sẽ chia lễ vật cho thần linh. Mọi người cùng ăn uống, nhảy múa. "Người của Giàng" sẽ vẩy nước xuống dưới khiến mọi người ướt và rải những hạt thóc xuống… Dân làng tin rằng trời sẽ chấp thuận cho mưa, và vui vẻ vào hội. Dân làng uống rượu và cùng nhau múa xoang Ch'yong với niềm tin trời sẽ ban cho mưa thuận gió hòa để dân Plây có nước sản xuất.

Lễ hội cầu mưa của người Chăm còn được biết đến là lễ mừng mưa tiếng Chăm là oai lơ cau chăhơzan, là một lễ hội của bà con đồng bào Chăm H'roi, Vân Canh, Bình Định. Với quan niệm rằng mọi sự biến chuyển của vũ trụ đều thuận theo Phật trời, thần linh hay ma quỷ điều khiển. Con người nếu muốn đạt được ước nguyện thì phải cầu nguyện, phải cúng khấn để được thần linh giúp đỡ. Tùy theo thời tiết của mỗi dịp lễ mà đặt tên gọi cho từng dịp lễ hội - trời hạn thì được đặt tên là lễ cầu mưa, còn trời mưa mà hành lễ thì được gọi là lễ mừng mưa. Lễ hội thường diễn ra vào dịp đầu tháng 2 âm lịch hàng năm dù cho trời nắng hay trời mưa, đồng bào người Chăm đều tổ chức lễ hội.

Lễ hội cầu mưa của người Chăm - Vân Canh tại Bình Định

Để cầu mưa hay mừng mưa, đồng bào người Chăm sẽ làm lễ riêng, trên nương rẫy của mình. Hoặc nếu trời nắng hạn quá lâu, cả làng (Plây) sẽ phải làm chung một lễ, cả làng sẽ chuẩn bị và cùng góp lễ vật để cúng. Đồ lễ Plây trước hết, làng sẽ cử người để dựng một đài dâng lễ vật, trên đài sẽ bày 1 con gà trống, 1 bình rượu, 1 vòng sáp ong để đốt và 1 bát gạo. Đài dâng lễ vật sẽ được đặt trước sân nhà của già làng hoặc tại bến nước của làng. Đài và án sẽ được dựng lên từ bốn gốc cây Pay Ch'panh (cây gạo). Phần trên là án và phần dưới sẽ là đài, do các nghệ nhân trong làng trang trí những họa tiết được cách điệu từ hoa văn theo mô típ người Chăm có tên gọi Pơrưng, hay những tua rua. Bên cạnh đó sẽ là một cây Nêu vươn cao, tạo thành một đôi cánh chim (loài chim tượng trưng cho sự yên bình của người dân đồng bào Chăm H'roi). Đó là một cách để người dân nơi đây thể hiện thông điệp cầu cho sự yên bình của dân làng. Lễ từng nhà (lễ mừng mưa): Sẽ do từng nhà tự chuẩn bị lễ vật để cúng trên nương rẫy của mình. Khi hạt giống đã trỉa xuống đất, chủ nhà sẽ làm lễ cầu mưa để cầu cho hạt giống ở rẫy mình sẽ nẩy mầm và tươi tốt. Ngày giờ sẽ do chủ nhà tự chọn sau khi đã trỉa giống xuống. Chủ nhà cũng thu dọn cây, rồi vun một đống đất ở rẫy, đống đất có đường kính khoảng 50cm, cao khoảng 30cm. Ở giữa chôn một cây tre rừng, phần gốc của nó được chôn dưới đất, phần ngọn sẽ được chẻ làm 4 nhánh tỏa ra bốn hướng đông tây nam bắc để đón nước mưa. Trên phần ngọn tre được chẻ làm tư đó, chủ nhà sẽ gác dàn đặt lễ vật gồm có: 1 con gà trống (con gà là đại diện cho sự bền bỉ, dẻo dai trong cuộc sống), 1 bình rượu nhỏ, 1 đấu thóc (có nơi dùng gạo) và 1 vòng sáp ong để đốt. Bên cạnh gốc tre sẽ đặt một cái cuốc nhỏ được buộc vào gốc tre. Bên cạnh đó, người ta sẽ mang từ 7 đến 9 cái ống nứa nhỏ bằng ngón tay và cắm xung quanh một gốc cây rừng đã bị cháy trên rẫy, sau đó rót nước đầy vào các ống tre này với với ngụ ý nước đã về tới rẫy, nước sẽ làm mát đất. Nội dung lời khấn cầu của chủ nhà. Già làng và người dân đang cử hành nghi lễ cầu mưa Lễ chung cho cả làng (Plây), lễ cầu mưa: Khi nắng hạn kéo dài, dân làng Plây mới cầu chung một lễ, lễ do già làng (người được kính trọng nhất trong tộc họ) sẽ đứng ra điều hành. Công việc chuẩn bị lễ vật xong sẽ bắt đầu lễ cúng, chiếu cói mới (chưa dùng) sẽ được trải ra ngay phía dưới đài và án. Ở giữa chiếu sẽ đặt một chiếc đĩa có đựng hai đồng xu để khi khấn xong sẽ gieo quẻ âm dương, xung quanh chiếu có các ché rượu cần. Số người tham gia làm lễ cúng phải là số lẻ và do làng chọn, từ 3 đến 5 người (hoặc từ 7 đến 9 người) kể cả lễ vật cũng được sắp theo số lẻ để đến khi cầu Giàng cho thêm chẵn là vừa đủ. Trong các lễ thức, đồng bào người Chăm bao giờ cũng chỉ mong cầu là vừa bụng - không tham nhiều, sợ lấy nhiều thì lần sau xin trời sẽ không cho… Trong số người tham gia lễ cúng, dân làng sẽ lựa chọn một người có uy tín, sau đó người đó sẽ ngồi trên đài để tượng trưng cho người của Giàng (trời). Bên dưới già làng sẽ bắt đầu khấn cúng. Người dân Chăm múa xoang Ch'yong với hy vọng đất trời sẽ ban cho mưa thuận gió hòa Kết thúc lễ Plây: Kơtoong và dàn chiêng sẽ nổi lên giai điệu A Tonh Ch'yong e pla (Chào trời-chào khách). Trai, gái trong làng sẽ nhịp nhàng nhảy múa theo chiều ngược chiều kim đồng hồ. Tư thế của họ là để tượng trưng cho mây bay, gió thổi, sấm nổ để đón chào những hạt mưa từ "người của Giàng" đang ngồi trên đài đổ xuống… Người làm lễ cúng cùng với già làng sẽ chia lễ vật cho thần linh. Mọi người cùng ăn uống, nhảy múa. "Người của Giàng" sẽ vẩy nước xuống dưới khiến mọi người ướt và rải những hạt thóc xuống… Dân làng tin rằng trời sẽ chấp thuận cho mưa, và vui vẻ vào hội. Dân làng uống rượu và cùng nhau múa xoang Ch'yong với niềm tin trời sẽ ban cho mưa thuận gió hòa để dân Plây có nước sản xuất.

Related Figures

Lễ Ramadan của người dân đồng bào Chăm

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/9- 30/9 Âm lịch Người Chăm ở An Giang thường sống tập trung tại các huyện như Tân Châu, Phú Tân và An Phú, có tháng Thánh lễ rất thiêng liêng có tên gọi là Ramadan. Đây là tháng ăn chay bắt đầu từ ngày 1-9 đến 30-9 theo lịch của Hồi giáo. Người dân đồng bào Chăm ở An Giang đón chào tháng Ramadanbr> Đây là dịp để đồng bào, cả trai lẫn gái từ 5 tuổi trở lên sẽ tự kiểm điểm lại những hành động đúng và sai của mình trong những ngày, những tháng của năm vừa qua để khắc phục, sửa chữa những việc làm sai trái. Đối với mỗi người trong suốt tháng này, từ rạng đông cho đến lúc chạng vạng tối đều phải nhịn ăn, không hút thuốc lá, nhịn uống (khi tắm cũng không được để nước ngập đến lỗ tai). Không được sát sinh hại vật, và đặc biệt là không gây gổ, cãi vã gây mất đoàn kết với bất cứ ai. Được biết, trong khoảng thời gian diễn ra Thánh lễ, không được tổ chức các cuộc vui chơi hay hát xướng. Để chuẩn bị cho Thánh lễ, trước ngày vào lễ Ramadan, người dân trong xóm sẽ tụ họp lại bàn tính các công việc cùng nhau để mua sắm bánh trái hoặc bò (vì tuyệt đối không được ăn thịt heo hay chó, nên người dân ở đây không nuôi những con vật này) để khi "ra lễ" sẽ cùng quây quần liên hoan vui vẻ tại một nơi rộng rãi hoặc ngay tại Thánh đường, nhưng cũng không uống rượu, kể cả bia. Thức ăn truyền thống của người dân ở đây trong những buổi tiệc tùng gồm hai món chính là cà-púa và cà-ri. Tên gọi của hai món ăn này được nói theo tiếng Ấn Độ, nhưng nguồn gốc của món cà-ri là món ăn ưa thích của người dân Ấn Độ, còn cách làm món cà-púa lại giống với cách chế biến của người Thái-lan. Cà-ri sẽ nấu với khoai; cà-púa không nấu chung với bất kỳ món nào, với gia vị có độ mạnh và cay hơn món cà-ri. Về phần trình bày, thịt nấu cà-ri thường được cắt sao cũng được, còn cà-púa thì lại có những quy tắc nhất định: một kg thịt sẽ được cắt ra làm 16 cục (miếng); mỗi "carê" (bốn người ngồi xếp thành một mâm) bầy lên hai đĩa, mỗi đĩa có bốn cục. Như vậy tiêu chuẩn mỗi người sẽ có hai cục thịt nạc. Trên mâm còn có thêm một món dưa chua kèm theo đó là một tô xương xúp. Đồng bào người Chăm ở An Giang xem lễ hội Ramadan như ngày tết Nguyên Đán của người Việt Do cà-púa chỉ sử dụng hoàn toàn bằng "thịt nạc khối", nên phần thịt nạc vụn phải bỏ hết gân, được dùng để làm món "tung lò mò" (lạp xưởng bò), cắt nhuyễn ra trộn đều với tiêu, đường, tỏi, bột ngọt, và một vài loại gia vị đặc biệt, trong đó có cơm nguội. Trộn xong để một lúc cho thịt thấm gia vị rồi dồn vào ruột của con bò đã lộn bề, mang phơi. Đặc biệt, món tung lò mò này càng để càng lâu, càng khô, thì ăn càng ngon, để lâu đến một, hay hai tháng cũng không sợ hỏng. Thưởng thức món tung lò mò ngon nhất là nướng hoặc chiên, ăn kèm với rau sống, chuối chát... "Những ngày hội" sau tháng Thánh lễ sẽ được diễn ra trong 3 ngày, kể từ ngày mồng 1 đến ngày mồng 3 tháng 10 theo lịch Hồi Giáo. Đây cũng được xem là ngày "hẹn truyền thống" của các thành viên trong cộng đồng đồng bào người Chăm theo Hồi giáo. Tất cả những người đi làm ăn phương xa đều trở về nhà để đoàn tụ với gia đình, thăm hỏi bà con thân thiết, láng giềng. Người Chăm ở An Giang coi đây là những ngày vui nhất trong năm, nhà nào cũng sẵn sàng làm cơm nước, và chuẩn bị đầy đủ các món đặc sản để đãi khách, bất kể thân hay sơ, gọi là tết Roya, ngày này người dân ở đây vui như người Việt ăn Tết Nguyên đán.

Người Chăm ở An Giang thường sống tập trung tại các huyện như Tân Châu, Phú Tân và An Phú, có tháng Thánh lễ rất thiêng liêng có tên gọi là Ramadan. Đây là tháng ăn chay bắt đầu từ ngày 1-9 đến 30-9 theo lịch của Hồi giáo.

Người dân đồng bào Chăm ở An Giang đón chào tháng Ramadanbr> Đây là dịp để đồng bào, cả trai lẫn gái từ 5 tuổi trở lên sẽ tự kiểm điểm lại những hành động đúng và sai của mình trong những ngày, những tháng của năm vừa qua để khắc phục, sửa chữa những việc làm sai trái. Đối với mỗi người trong suốt tháng này, từ rạng đông cho đến lúc chạng vạng tối đều phải nhịn ăn, không hút thuốc lá, nhịn uống (khi tắm cũng không được để nước ngập đến lỗ tai). Không được sát sinh hại vật, và đặc biệt là không gây gổ, cãi vã gây mất đoàn kết với bất cứ ai. Được biết, trong khoảng thời gian diễn ra Thánh lễ, không được tổ chức các cuộc vui chơi hay hát xướng. Để chuẩn bị cho Thánh lễ, trước ngày vào lễ Ramadan, người dân trong xóm sẽ tụ họp lại bàn tính các công việc cùng nhau để mua sắm bánh trái hoặc bò (vì tuyệt đối không được ăn thịt heo hay chó, nên người dân ở đây không nuôi những con vật này) để khi "ra lễ" sẽ cùng quây quần liên hoan vui vẻ tại một nơi rộng rãi hoặc ngay tại Thánh đường, nhưng cũng không uống rượu, kể cả bia. Thức ăn truyền thống của người dân ở đây trong những buổi tiệc tùng gồm hai món chính là cà-púa và cà-ri. Tên gọi của hai món ăn này được nói theo tiếng Ấn Độ, nhưng nguồn gốc của món cà-ri là món ăn ưa thích của người dân Ấn Độ, còn cách làm món cà-púa lại giống với cách chế biến của người Thái-lan. Cà-ri sẽ nấu với khoai; cà-púa không nấu chung với bất kỳ món nào, với gia vị có độ mạnh và cay hơn món cà-ri. Về phần trình bày, thịt nấu cà-ri thường được cắt sao cũng được, còn cà-púa thì lại có những quy tắc nhất định: một kg thịt sẽ được cắt ra làm 16 cục (miếng); mỗi "carê" (bốn người ngồi xếp thành một mâm) bầy lên hai đĩa, mỗi đĩa có bốn cục. Như vậy tiêu chuẩn mỗi người sẽ có hai cục thịt nạc. Trên mâm còn có thêm một món dưa chua kèm theo đó là một tô xương xúp. Đồng bào người Chăm ở An Giang xem lễ hội Ramadan như ngày tết Nguyên Đán của người Việt Do cà-púa chỉ sử dụng hoàn toàn bằng "thịt nạc khối", nên phần thịt nạc vụn phải bỏ hết gân, được dùng để làm món "tung lò mò" (lạp xưởng bò), cắt nhuyễn ra trộn đều với tiêu, đường, tỏi, bột ngọt, và một vài loại gia vị đặc biệt, trong đó có cơm nguội. Trộn xong để một lúc cho thịt thấm gia vị rồi dồn vào ruột của con bò đã lộn bề, mang phơi. Đặc biệt, món tung lò mò này càng để càng lâu, càng khô, thì ăn càng ngon, để lâu đến một, hay hai tháng cũng không sợ hỏng. Thưởng thức món tung lò mò ngon nhất là nướng hoặc chiên, ăn kèm với rau sống, chuối chát... "Những ngày hội" sau tháng Thánh lễ sẽ được diễn ra trong 3 ngày, kể từ ngày mồng 1 đến ngày mồng 3 tháng 10 theo lịch Hồi Giáo. Đây cũng được xem là ngày "hẹn truyền thống" của các thành viên trong cộng đồng đồng bào người Chăm theo Hồi giáo. Tất cả những người đi làm ăn phương xa đều trở về nhà để đoàn tụ với gia đình, thăm hỏi bà con thân thiết, láng giềng. Người Chăm ở An Giang coi đây là những ngày vui nhất trong năm, nhà nào cũng sẵn sàng làm cơm nước, và chuẩn bị đầy đủ các món đặc sản để đãi khách, bất kể thân hay sơ, gọi là tết Roya, ngày này người dân ở đây vui như người Việt ăn Tết Nguyên đán.

Đây là dịp để đồng bào, cả trai lẫn gái từ 5 tuổi trở lên sẽ tự kiểm điểm lại những hành động đúng và sai của mình trong những ngày, những tháng của năm vừa qua để khắc phục, sửa chữa những việc làm sai trái. Đối với mỗi người trong suốt tháng này, từ rạng đông cho đến lúc chạng vạng tối đều phải nhịn ăn, không hút thuốc lá, nhịn uống (khi tắm cũng không được để nước ngập đến lỗ tai). Không được sát sinh hại vật, và đặc biệt là không gây gổ, cãi vã gây mất đoàn kết với bất cứ ai. Được biết, trong khoảng thời gian diễn ra Thánh lễ, không được tổ chức các cuộc vui chơi hay hát xướng. Để chuẩn bị cho Thánh lễ, trước ngày vào lễ Ramadan, người dân trong xóm sẽ tụ họp lại bàn tính các công việc cùng nhau để mua sắm bánh trái hoặc bò (vì tuyệt đối không được ăn thịt heo hay chó, nên người dân ở đây không nuôi những con vật này) để khi "ra lễ" sẽ cùng quây quần liên hoan vui vẻ tại một nơi rộng rãi hoặc ngay tại Thánh đường, nhưng cũng không uống rượu, kể cả bia. Thức ăn truyền thống của người dân ở đây trong những buổi tiệc tùng gồm hai món chính là cà-púa và cà-ri. Tên gọi của hai món ăn này được nói theo tiếng Ấn Độ, nhưng nguồn gốc của món cà-ri là món ăn ưa thích của người dân Ấn Độ, còn cách làm món cà-púa lại giống với cách chế biến của người Thái-lan. Cà-ri sẽ nấu với khoai; cà-púa không nấu chung với bất kỳ món nào, với gia vị có độ mạnh và cay hơn món cà-ri. Về phần trình bày, thịt nấu cà-ri thường được cắt sao cũng được, còn cà-púa thì lại có những quy tắc nhất định: một kg thịt sẽ được cắt ra làm 16 cục (miếng); mỗi "carê" (bốn người ngồi xếp thành một mâm) bầy lên hai đĩa, mỗi đĩa có bốn cục. Như vậy tiêu chuẩn mỗi người sẽ có hai cục thịt nạc. Trên mâm còn có thêm một món dưa chua kèm theo đó là một tô xương xúp. Đồng bào người Chăm ở An Giang xem lễ hội Ramadan như ngày tết Nguyên Đán của người Việt Do cà-púa chỉ sử dụng hoàn toàn bằng "thịt nạc khối", nên phần thịt nạc vụn phải bỏ hết gân, được dùng để làm món "tung lò mò" (lạp xưởng bò), cắt nhuyễn ra trộn đều với tiêu, đường, tỏi, bột ngọt, và một vài loại gia vị đặc biệt, trong đó có cơm nguội. Trộn xong để một lúc cho thịt thấm gia vị rồi dồn vào ruột của con bò đã lộn bề, mang phơi. Đặc biệt, món tung lò mò này càng để càng lâu, càng khô, thì ăn càng ngon, để lâu đến một, hay hai tháng cũng không sợ hỏng. Thưởng thức món tung lò mò ngon nhất là nướng hoặc chiên, ăn kèm với rau sống, chuối chát... "Những ngày hội" sau tháng Thánh lễ sẽ được diễn ra trong 3 ngày, kể từ ngày mồng 1 đến ngày mồng 3 tháng 10 theo lịch Hồi Giáo. Đây cũng được xem là ngày "hẹn truyền thống" của các thành viên trong cộng đồng đồng bào người Chăm theo Hồi giáo. Tất cả những người đi làm ăn phương xa đều trở về nhà để đoàn tụ với gia đình, thăm hỏi bà con thân thiết, láng giềng. Người Chăm ở An Giang coi đây là những ngày vui nhất trong năm, nhà nào cũng sẵn sàng làm cơm nước, và chuẩn bị đầy đủ các món đặc sản để đãi khách, bất kể thân hay sơ, gọi là tết Roya, ngày này người dân ở đây vui như người Việt ăn Tết Nguyên đán.

Related Figures

Lễ hội đền Đông Cuông

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/1- 1/9 Âm lịch (lehoi.info)-Đền Đông Cuông thuộc thôn Bến Đền, xã Đông Cuông, Văn Yên, Yên Bái, Đông Cuông vốn là một ngôi đền lớn, cổ kính mang đầy những dấu vết và những huyền tích thiêng liêng về Mẫu Thượng Ngàn. Hàng năm lễ hội đền tổ chức vào ngày Mão đầu tiên của tháng Giêng và tháng Chín, thu hút đông đảo nhân dân trong cả nước đến dâng hương, vãn cảnh đền và cầu nguyện cho mình và người thân một năm mới gặp thật nhiều may mắn… Di tích đền Đông Cuông Mở đầu lễ hội là lễ mổ trâu tế Mẫu, lễ được thực hiện vào thời khắc đầu tiên của ngày Mão đầu năm. Lễ rước Mẫu qua sông Trâu được dùng để tế lễ phải là trâu đực trắng, to khoẻ và được tuyển chọng kĩ lưỡng. Khi giờ phút thiêng liêng tới, ông thầy mo sẽ bước từ cung cấm ra cùng dân làng và các giai chay làm lễ, tiến hành làm lễ hiến sinh cầu cho linh hồn các anh hùng đã hi sinh tại thác Ghềnh Ngai trên dòng sông Hồng trong cuộc chiến chống quân Nguyên Mông ngày trước. Một trong những nghi thức đặc biệt của đền Đông Cuông là lễ treo Trâu trước đền, nghi thức này vừa mang tính cổ xưa lại mang đậm tính tâm linh, song cũng vẫn thể hiện rõ được phong tục tập quán của người Tày khao. Cuộc tế lễ diễn ra vô cùng nghiêm linh, muôn dân trăm họ hướng về cội nguồn để cầu cho Quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt và bình an hạnh phúc, v.v. Lễ hội đền Đông Cuông thu hút đông đảo người dân tham gia Ngay sau lễ mổ trâu là lễ rước Mẫu sang sông, đây cũng là một trong những lễ chính của lễ hội đền Đông Cuông. Sau khi rước được Mẫu sang sông bằng chiếc thuyền lớn quay trở về bản đền, thì đây cũng là lúc dâng hương tế Mẫu, hàng ngàn người dân trong vùng và du khách thập phương lần lượt dâng hương để cầu mong những điều may mắn sẽ đến với bản thân, bạn bè và gia đình. Sau phần lễ sẽ là phần hội, các hoạt động thi đấu thể thao và trò chơi dân gian như: kéo co, đẩy gậy và các hình thức sinh hoạt đậm chất dân gian như ném còn cũng đã tạo cho lễ hội đền Đông Cuông thêm phần sinh động. Lễ hôị đền Đông Cuông là lễ hội mang đậm nét văn hoá tâm linh, và cũng có ý nghĩa khơi dậy truyền thống, lịch sử hào hùng của dân tộc ta.

(lehoi.info)-Đền Đông Cuông thuộc thôn Bến Đền, xã Đông Cuông, Văn Yên, Yên Bái, Đông Cuông vốn là một ngôi đền lớn, cổ kính mang đầy những dấu vết và những huyền tích thiêng liêng về Mẫu Thượng Ngàn. Hàng năm lễ hội đền tổ chức vào ngày Mão đầu tiên của tháng Giêng và tháng Chín, thu hút đông đảo nhân dân trong cả nước đến dâng hương, vãn cảnh đền và cầu nguyện cho mình và người thân một năm mới gặp thật nhiều may mắn…

Di tích đền Đông Cuông

Mở đầu lễ hội là lễ mổ trâu tế Mẫu, lễ được thực hiện vào thời khắc đầu tiên của ngày Mão đầu năm. Lễ rước Mẫu qua sông Trâu được dùng để tế lễ phải là trâu đực trắng, to khoẻ và được tuyển chọng kĩ lưỡng. Khi giờ phút thiêng liêng tới, ông thầy mo sẽ bước từ cung cấm ra cùng dân làng và các giai chay làm lễ, tiến hành làm lễ hiến sinh cầu cho linh hồn các anh hùng đã hi sinh tại thác Ghềnh Ngai trên dòng sông Hồng trong cuộc chiến chống quân Nguyên Mông ngày trước. Một trong những nghi thức đặc biệt của đền Đông Cuông là lễ treo Trâu trước đền, nghi thức này vừa mang tính cổ xưa lại mang đậm tính tâm linh, song cũng vẫn thể hiện rõ được phong tục tập quán của người Tày khao. Cuộc tế lễ diễn ra vô cùng nghiêm linh, muôn dân trăm họ hướng về cội nguồn để cầu cho Quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt và bình an hạnh phúc, v.v. Lễ hội đền Đông Cuông thu hút đông đảo người dân tham gia Ngay sau lễ mổ trâu là lễ rước Mẫu sang sông, đây cũng là một trong những lễ chính của lễ hội đền Đông Cuông. Sau khi rước được Mẫu sang sông bằng chiếc thuyền lớn quay trở về bản đền, thì đây cũng là lúc dâng hương tế Mẫu, hàng ngàn người dân trong vùng và du khách thập phương lần lượt dâng hương để cầu mong những điều may mắn sẽ đến với bản thân, bạn bè và gia đình. Sau phần lễ sẽ là phần hội, các hoạt động thi đấu thể thao và trò chơi dân gian như: kéo co, đẩy gậy và các hình thức sinh hoạt đậm chất dân gian như ném còn cũng đã tạo cho lễ hội đền Đông Cuông thêm phần sinh động. Lễ hôị đền Đông Cuông là lễ hội mang đậm nét văn hoá tâm linh, và cũng có ý nghĩa khơi dậy truyền thống, lịch sử hào hùng của dân tộc ta.

Lễ hội đền Đông Cuông thu hút đông đảo người dân tham gia

Related Figures

Lễ hội Xuân Ba Bể

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/1 Âm lịch Lễ hội Xuân Ba Bể diễn ra tại xã Nam Mẫu thuộc huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn vào ngày mồng 10 tháng Giêng âm lịch hàng năm. Đây là một Lễ hội truyền thống đầu năm của người dân ở đây để thể hiện những nét văn hoá đặc sắc của người dân địa phương. Màn dâng lễ của 16 xã trong Lễ hội Xuân Ba Bể tại Bắc Kạn Vào những ngày này, sau khi bà con vừa ăn Tết Nguyên Đán xong, vừa chuẩn bị cho lễ hội. Bà con thường làm nhiều loại bánh khác nhau, được chế biến từ bột gạo nếp ngâm với các loại lá rừng có nhiều màu sắc như bánh khảo, bánh trời, bánh nếp... còn có đặc sản rượu Khưa Quang được cất từ loại ngô trồng được trồng trên đỉnh núi, được chưng cất bằng loại men lá, khi uống vào sẽ có cảm giác lâng lâng như đi cưỡi mây suốt mấy ngày. Vào ngày hội, mỗi xã hoặc thị trấn trong huyện Ba Bể sẽ dựng trại và bày bán những đặc sản của địa phương mình như: quần áo dân tộc, vải thổ cẩm, nấm hương, mật ong, rượu ngô, mộc nhĩ, măng khô, thậm chí các loại nông sản như sắn, bí ngô, khoai, đỗ mèo, cũng được bày bán trang trọng bày trên bàn giới thiệu đặc sản địa phương. Trò chơi dân gian đập niêu Sáng ngày mùng 10 tháng giêng, lễ hội sẽ chính thức khai mạc. Mở đầu cho ngày hội là màn dâng lễ của 16 xã. Lễ vật của các xã rất đơn giản, chỉ có xôi, gà, bánh khảo, một chai rượu ngô và nải chuối. 16 mâm lễ này sẽ được các thôn nữ kính cẩn bưng lên dâng lên thần núi, thần sông và thần hồ để cầu cho một năm mưa thuận gió hoà, dân làng bình an, mùa màng tươi tốt bội thu. Sau khi tiếng trống khai hội vang lên, các tiết mục văn nghệ sẽ bắt đầu được trình diễn để chào mừng ngày hội. Những câu hát sli, lời then, điệu lượn, tiếng tính… đã làm say lòng bao du khách bởi những câu hát mượt mà trữ tình thấm đượm bản sắc văn hoá vùng cao. Sau phần lễ sẽ là phần hội. Lễ hội năm nào cũng đều rất vui, là nơi phô diễn bản sắc dân tộc của đồng bào nơi đây với nhiều trò chơi vô cùng hấp dẫn như: ném còn, đua thuyền độc mộc, bắn cung, đấu võ dân tộc, biểu diễn múa, hát truyền thống của các dân tộc… Phần hội luôn thu hút được sự quan tâm của nhiều bà con từ các dân tộc trong vùng đến xem. Lễ hội cũng giúp cho khách thập phương hiểu được phần nào về con người và bản sắc văn hoá của người dân nơi đây. Sôi động nhất vẫn là màn đua thuyền trên hồ Ba Bể, một trong những trò chơi thu hút nhiều người xem nhất của lễ hội, du khách đến xem hội tại vùng hồ, người xem đứng từ vòng trong ra vòng ngoài và reo hò cổ vũ tưng bừng cho các “vận động viên” của làng mình, của bản mình. Những cô gái trẻ, tay múa dẻo, diện những bộ váy đầy màu sắ của dân tộc Tày, những chàng trai khỏe tay lào lái thuyền đua độc mộc trên hồ, những chiếc thuyền mộc lao vun vút tiến về đích. Nổi trống khai mạc Lễ hội Xuân Ba Bể tại Bắc Kạn Ném còn là một trò chơi và cũng là một nghi thức khá quan trọng trong truyền thống văn hóa của người Tày. Trò chơi này thu hút nhiều thanh niên nam nữ vì qua trò chơi này họ có thể kết giao, tìm bạn, và nếu nhặt được quả còn của nhau thì có thể sẽ có cuộc hẹn hò trong những ngày đầu xuân. Chính vì vậy mỗi khi mùa lễ hội đến, Ba Bể lại có thêm nhiều đôi trai gái trẻ vợ nên chồng. Người đi lễ hội còn có thể thể hiện các điệu hát và múa trong điệu nhạc dân tộc của người Tày. Đến lễ hội mùa Xuân Ba Bể, du khách còn được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của non nước khi ngồi thuyền dạo quanh hồ, hay thả mình giữa những rừng cây xanh lá, đặc biệt là cảm giác khoan khoái khi đi thuyền độc mộc giữa một vùng núi đá muôn hình, muôn vẻ. Mỗi năm phong tục lễ hội xuân Ba Bể lại càng thêm phong phú nhưng vẫn giữ được nét truyền thống văn hóa của dân tộc miền núi phía Bắc nói chung và tỉnh Bắc Kạn nói riêng.

Lễ hội Xuân Ba Bể diễn ra tại xã Nam Mẫu thuộc huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn vào ngày mồng 10 tháng Giêng âm lịch hàng năm. Đây là một Lễ hội truyền thống đầu năm của người dân ở đây để thể hiện những nét văn hoá đặc sắc của người dân địa phương.

Màn dâng lễ của 16 xã trong Lễ hội Xuân Ba Bể tại Bắc Kạn

Vào những ngày này, sau khi bà con vừa ăn Tết Nguyên Đán xong, vừa chuẩn bị cho lễ hội. Bà con thường làm nhiều loại bánh khác nhau, được chế biến từ bột gạo nếp ngâm với các loại lá rừng có nhiều màu sắc như bánh khảo, bánh trời, bánh nếp... còn có đặc sản rượu Khưa Quang được cất từ loại ngô trồng được trồng trên đỉnh núi, được chưng cất bằng loại men lá, khi uống vào sẽ có cảm giác lâng lâng như đi cưỡi mây suốt mấy ngày. Vào ngày hội, mỗi xã hoặc thị trấn trong huyện Ba Bể sẽ dựng trại và bày bán những đặc sản của địa phương mình như: quần áo dân tộc, vải thổ cẩm, nấm hương, mật ong, rượu ngô, mộc nhĩ, măng khô, thậm chí các loại nông sản như sắn, bí ngô, khoai, đỗ mèo, cũng được bày bán trang trọng bày trên bàn giới thiệu đặc sản địa phương. Trò chơi dân gian đập niêu Sáng ngày mùng 10 tháng giêng, lễ hội sẽ chính thức khai mạc. Mở đầu cho ngày hội là màn dâng lễ của 16 xã. Lễ vật của các xã rất đơn giản, chỉ có xôi, gà, bánh khảo, một chai rượu ngô và nải chuối. 16 mâm lễ này sẽ được các thôn nữ kính cẩn bưng lên dâng lên thần núi, thần sông và thần hồ để cầu cho một năm mưa thuận gió hoà, dân làng bình an, mùa màng tươi tốt bội thu. Sau khi tiếng trống khai hội vang lên, các tiết mục văn nghệ sẽ bắt đầu được trình diễn để chào mừng ngày hội. Những câu hát sli, lời then, điệu lượn, tiếng tính… đã làm say lòng bao du khách bởi những câu hát mượt mà trữ tình thấm đượm bản sắc văn hoá vùng cao. Sau phần lễ sẽ là phần hội. Lễ hội năm nào cũng đều rất vui, là nơi phô diễn bản sắc dân tộc của đồng bào nơi đây với nhiều trò chơi vô cùng hấp dẫn như: ném còn, đua thuyền độc mộc, bắn cung, đấu võ dân tộc, biểu diễn múa, hát truyền thống của các dân tộc… Phần hội luôn thu hút được sự quan tâm của nhiều bà con từ các dân tộc trong vùng đến xem. Lễ hội cũng giúp cho khách thập phương hiểu được phần nào về con người và bản sắc văn hoá của người dân nơi đây. Sôi động nhất vẫn là màn đua thuyền trên hồ Ba Bể, một trong những trò chơi thu hút nhiều người xem nhất của lễ hội, du khách đến xem hội tại vùng hồ, người xem đứng từ vòng trong ra vòng ngoài và reo hò cổ vũ tưng bừng cho các “vận động viên” của làng mình, của bản mình. Những cô gái trẻ, tay múa dẻo, diện những bộ váy đầy màu sắ của dân tộc Tày, những chàng trai khỏe tay lào lái thuyền đua độc mộc trên hồ, những chiếc thuyền mộc lao vun vút tiến về đích. Nổi trống khai mạc Lễ hội Xuân Ba Bể tại Bắc Kạn Ném còn là một trò chơi và cũng là một nghi thức khá quan trọng trong truyền thống văn hóa của người Tày. Trò chơi này thu hút nhiều thanh niên nam nữ vì qua trò chơi này họ có thể kết giao, tìm bạn, và nếu nhặt được quả còn của nhau thì có thể sẽ có cuộc hẹn hò trong những ngày đầu xuân. Chính vì vậy mỗi khi mùa lễ hội đến, Ba Bể lại có thêm nhiều đôi trai gái trẻ vợ nên chồng. Người đi lễ hội còn có thể thể hiện các điệu hát và múa trong điệu nhạc dân tộc của người Tày. Đến lễ hội mùa Xuân Ba Bể, du khách còn được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của non nước khi ngồi thuyền dạo quanh hồ, hay thả mình giữa những rừng cây xanh lá, đặc biệt là cảm giác khoan khoái khi đi thuyền độc mộc giữa một vùng núi đá muôn hình, muôn vẻ. Mỗi năm phong tục lễ hội xuân Ba Bể lại càng thêm phong phú nhưng vẫn giữ được nét truyền thống văn hóa của dân tộc miền núi phía Bắc nói chung và tỉnh Bắc Kạn nói riêng.

Related Figures

Đám Sênh – Lễ chay người Cao Lan

Thông tin thời kỳ

Đám Sênh hay còn có tên gọi là đám chay là một nghi thức cầu an khá đặc sắc và độc đáo của đồng bào người dân tộc Cao Lan ở huyện Yên Bình Yên Bái. Đây là một nghi lễ truyền thống, đã tồn tại trong đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc Cao Lan nơi đây từ rất lâu đời nhằm cầu xin sự bình an cho gia đình và dòng họ của gia chủ nơi diễn ra lễ hội. Người phụ nữ dân tộc Cao Lan Trong nhiều năm hay trong một đời người, gia đình dòng họ người dân tộc Cao Lan làm ăn không may mắn, gặp nhiều thất bát, ốm đau bệnh tật, chăn nuôi, trồng cấy thường xuyên bị mất mùa, gặp nhiều tai ương trong cuộc sống... thì đồng bào người Cao Lan sẽ tiến hành làm Đám sênh (đám chay) để tạ ơn trời đất, tổ tiên cầu xin sự che chở và phù hộ cho cuộc sống được an bình, hạnh phúc, ấm no. Lễ hội Đám Sênh được tổ chức với quy mô gia đình. Trong mỗi một gia đình tùy thuộc vào từng dòng họ riêng biệt mà lễ hội Đám Sênh sẽ được tổ chức ở quy mô to nhỏ khác nhau, thời gian tổ chức dài hay ngắn cũng tùy thuộc vào mỗi dòng họ. Hình ảnh Đám Sênh – Lễ chay người Cao Lan Thời gian tổ chức lễ hội Đám Sênh thường được tính theo chu kỳ đời người, nghi thức này không được tiến hành hàng năm và liên tục ở mỗi gia đình dòng họ mà được tiến hành tại mỗi đời, (tính theo 25 năm là một đời thì gia chủ sẽ tổ chức lễ hội Đám Sênh một lần). Nếu ở đời bố vì điều kiện kinh tế chưa thể tổ chức được thì phải khất xin sang đời sau và đời con sẽ phải có trách nhiệm tổ chức nghi thức này để thay cho đời trước. Đối với các dòng họ lớn như họ Trần thì lễ hội được diễn ra trong vòng 7 ngày, bước vào ngày đầu tiên được gọi là ngày khai bút viết sớ (hoi pêt) là ngày bắt đầu vào đám. Vào ngày này, gia chủ phải mời 3 thầy cúng, trong đó sẽ có 1 thầy cả đứng tên tổ chức nghi lễ gọi là Say phù, 12-15 thầy Đạo tràng (gọi là người giúp việc cho thầy cúng đã được cấp sắc) liên tục viết các tờ sớ bằng chữ nôm Cao Lan để thể hiện những nguyện vọng ước mơ về một cuộc sống tốt đẹp thông qua các lá sớ đó. Thời gian viết sớ phải tiến hành liên tục cho tới tận ngày chính thức của lễ hội Đám Sênh. Nghi lễ chính thức cũng sẽ được diễn ra liên tục từ 17h chiều cho tới sáng ngày hôm sau trong ngày cuối cùng của lễ hội này. Địa điểm tổ chức lễ hội Đám Sênh là tại nhà gia chủ nơi tổ chức nghi lễ. Tại đây, đồng bào sẽ lập hai đàn cúng, một đàn cúng trên nhà nơi thờ tổ tiên của đồng bào, nơi đây sẽ diễn ra các nghi thức chính của lễ hội và một đàn cúng dưới sân nơi thờ các vị thần trông coi đất đai và thổ công. Lễ vật được dâng cúng trong ngày lễ chính là các lễ chay bao gồm có bánh trái, hoa quả và các thực phẩm có nguồn gốc từ thực vật. Còn lễ vật tại phía đàn cúng dưới sân nơi thờ các âm binh và đoàn quân quan của các thánh là lễ tạp gồm một mâm cúng chính gồm 1 con ngan và 5 mâm cúng nhỏ có thịt lợn luộc. Theo quan niệm của dân gian, đồng bào cho rằng đây là lễ chay nên tổ tiên và các thần thánh chỉ cần cúng lễ chay, còn các đoàn quân quan đi bảo vệ các thần thánh sẽ được cúng lễ tạp mà không cần phải kiêng chay. Vào ngày khai bút, gia chủ sẽ mời những người dân làng đến dự và mở một bữa tiệc nhỏ để chiêu đãi mọi người vừa là để thông báo về việc tổ chức lễ hội Đám Sênh của gia đình và cũng vừa để bà con dân làng biết và chúc mừng cho gia đình. Vào ngày này, thầy cúng sẽ tiến hành nghi thức cúng khai bút (hoi pệt) ngay trước bàn thờ tổ tiên của gia đình gia chủ, sau đó thầy cúng và các đạo tràng cũng liên tục viết sớ trong các ngày từ ngày hôm đó cho tới ngày vào lễ hội chính thức. Trong ngày khai bút dân làng sẽ đến dự và uống rượu chúc mừng gia đình gia chủ, tiếp sau đó mỗi người cũng sẽ có một món quà nho nhỏ là các sản vật của gia đình gia chủ để mừng cho gia chủ đã tổ chức được lễ hội Đám Sênh. Một nghi lễ trong đám Sênh – Lễ chay người Cao Lan Lễ hội Đám Sênh là lễ hội thắm đượm tinh thần đoàn kết, hội tụ nhiều giá trị nhân văn, tích hợp nhiều yếu tố văn hóa đặc sắc độc đáo của đồng bào người dân tộc Cao Lan ở huyện Yên Bình cũng như nhiều nơi cộng đồng người Cao Lan sinh sống (Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Giang, Phú Thọ...). Lễ hội Đám Sênh thể hiện những khát khao, nguyện vọng chính đáng của con người về một cuộc sống tươi đẹp hơn, hạnh phúc hơn, ấm no hơn. Do vậy việc khai thác nghiên cứu và bảo tồn lễ hội Đám Sênh để nhằm tôn vinh các giá trị nhân văn cao đẹp là một việc làm rất có ý nghĩa, nhất là trong xu thế hội nhập hiện nay.

Đám Sênh hay còn có tên gọi là đám chay là một nghi thức cầu an khá đặc sắc và độc đáo của đồng bào người dân tộc Cao Lan ở huyện Yên Bình Yên Bái. Đây là một nghi lễ truyền thống, đã tồn tại trong đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc Cao Lan nơi đây từ rất lâu đời nhằm cầu xin sự bình an cho gia đình và dòng họ của gia chủ nơi diễn ra lễ hội.

Người phụ nữ dân tộc Cao Lan Trong nhiều năm hay trong một đời người, gia đình dòng họ người dân tộc Cao Lan làm ăn không may mắn, gặp nhiều thất bát, ốm đau bệnh tật, chăn nuôi, trồng cấy thường xuyên bị mất mùa, gặp nhiều tai ương trong cuộc sống... thì đồng bào người Cao Lan sẽ tiến hành làm Đám sênh (đám chay) để tạ ơn trời đất, tổ tiên cầu xin sự che chở và phù hộ cho cuộc sống được an bình, hạnh phúc, ấm no. Lễ hội Đám Sênh được tổ chức với quy mô gia đình. Trong mỗi một gia đình tùy thuộc vào từng dòng họ riêng biệt mà lễ hội Đám Sênh sẽ được tổ chức ở quy mô to nhỏ khác nhau, thời gian tổ chức dài hay ngắn cũng tùy thuộc vào mỗi dòng họ. Hình ảnh Đám Sênh – Lễ chay người Cao Lan Thời gian tổ chức lễ hội Đám Sênh thường được tính theo chu kỳ đời người, nghi thức này không được tiến hành hàng năm và liên tục ở mỗi gia đình dòng họ mà được tiến hành tại mỗi đời, (tính theo 25 năm là một đời thì gia chủ sẽ tổ chức lễ hội Đám Sênh một lần). Nếu ở đời bố vì điều kiện kinh tế chưa thể tổ chức được thì phải khất xin sang đời sau và đời con sẽ phải có trách nhiệm tổ chức nghi thức này để thay cho đời trước. Đối với các dòng họ lớn như họ Trần thì lễ hội được diễn ra trong vòng 7 ngày, bước vào ngày đầu tiên được gọi là ngày khai bút viết sớ (hoi pêt) là ngày bắt đầu vào đám. Vào ngày này, gia chủ phải mời 3 thầy cúng, trong đó sẽ có 1 thầy cả đứng tên tổ chức nghi lễ gọi là Say phù, 12-15 thầy Đạo tràng (gọi là người giúp việc cho thầy cúng đã được cấp sắc) liên tục viết các tờ sớ bằng chữ nôm Cao Lan để thể hiện những nguyện vọng ước mơ về một cuộc sống tốt đẹp thông qua các lá sớ đó. Thời gian viết sớ phải tiến hành liên tục cho tới tận ngày chính thức của lễ hội Đám Sênh. Nghi lễ chính thức cũng sẽ được diễn ra liên tục từ 17h chiều cho tới sáng ngày hôm sau trong ngày cuối cùng của lễ hội này. Địa điểm tổ chức lễ hội Đám Sênh là tại nhà gia chủ nơi tổ chức nghi lễ. Tại đây, đồng bào sẽ lập hai đàn cúng, một đàn cúng trên nhà nơi thờ tổ tiên của đồng bào, nơi đây sẽ diễn ra các nghi thức chính của lễ hội và một đàn cúng dưới sân nơi thờ các vị thần trông coi đất đai và thổ công. Lễ vật được dâng cúng trong ngày lễ chính là các lễ chay bao gồm có bánh trái, hoa quả và các thực phẩm có nguồn gốc từ thực vật. Còn lễ vật tại phía đàn cúng dưới sân nơi thờ các âm binh và đoàn quân quan của các thánh là lễ tạp gồm một mâm cúng chính gồm 1 con ngan và 5 mâm cúng nhỏ có thịt lợn luộc. Theo quan niệm của dân gian, đồng bào cho rằng đây là lễ chay nên tổ tiên và các thần thánh chỉ cần cúng lễ chay, còn các đoàn quân quan đi bảo vệ các thần thánh sẽ được cúng lễ tạp mà không cần phải kiêng chay. Vào ngày khai bút, gia chủ sẽ mời những người dân làng đến dự và mở một bữa tiệc nhỏ để chiêu đãi mọi người vừa là để thông báo về việc tổ chức lễ hội Đám Sênh của gia đình và cũng vừa để bà con dân làng biết và chúc mừng cho gia đình. Vào ngày này, thầy cúng sẽ tiến hành nghi thức cúng khai bút (hoi pệt) ngay trước bàn thờ tổ tiên của gia đình gia chủ, sau đó thầy cúng và các đạo tràng cũng liên tục viết sớ trong các ngày từ ngày hôm đó cho tới ngày vào lễ hội chính thức. Trong ngày khai bút dân làng sẽ đến dự và uống rượu chúc mừng gia đình gia chủ, tiếp sau đó mỗi người cũng sẽ có một món quà nho nhỏ là các sản vật của gia đình gia chủ để mừng cho gia chủ đã tổ chức được lễ hội Đám Sênh. Một nghi lễ trong đám Sênh – Lễ chay người Cao Lan Lễ hội Đám Sênh là lễ hội thắm đượm tinh thần đoàn kết, hội tụ nhiều giá trị nhân văn, tích hợp nhiều yếu tố văn hóa đặc sắc độc đáo của đồng bào người dân tộc Cao Lan ở huyện Yên Bình cũng như nhiều nơi cộng đồng người Cao Lan sinh sống (Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Giang, Phú Thọ...). Lễ hội Đám Sênh thể hiện những khát khao, nguyện vọng chính đáng của con người về một cuộc sống tươi đẹp hơn, hạnh phúc hơn, ấm no hơn. Do vậy việc khai thác nghiên cứu và bảo tồn lễ hội Đám Sênh để nhằm tôn vinh các giá trị nhân văn cao đẹp là một việc làm rất có ý nghĩa, nhất là trong xu thế hội nhập hiện nay.

Related Figures

Lế hội làng Dương Lôi

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 12/2 Âm lịch (lehoi.info)- Lễ hội làng Dương Lôi được tổ chức hằng năm vào ngày sinh của vua Lý Thái Tổ (12/2 AL) tại làng Dương Lôi (phường Tân Hồng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh) để tưởng nhớ và tôn vinh bà Phạm Thị - người sinh vua Lý Thái Tổ, khai sáng vương triều Lý ở thế kỷ XI. Đình làng Dương Lôi Lễ hội làng Dương Lôi đã có hàng nghìn năm lịch sử kéo dài từ năm 974 đến nay (2017). Với bề dày lịch sử, hiện nay làng Dương Lôi còn nhiều di tích như mộ thân phụ, thân mẫu của bà Phạm Thị ở khu vực cánh đồng Miễu (dân làng gọi là mộ tổ), di tích chùa Minh Châu, chùa Cha Lư, đền Lý Thánh Mẫu… Ngoài ra, còn một số tài liệu khắc trên đá, chuông đồng, trên giấy. Qua nhiều năm, cụm di tích đình, đền, chùa làng Dương Lôi vẫn còn lưu giữ nhiều dấu tích thời Lý cùng các hoạt động tâm linh, tín ngưỡng, lễ hội… Với các giá trị văn hóa và hiện vật này, làng Dương Lôi đã vinh dự được nhà nước cấp bằng Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia vào năm 1993 và 2009. Cổng làng Dương Lôi Ngày khai hội, người dân trong thôn tổ chức nghi lễ rước Đức Thánh Mẫu và 8 vị Vua triều Lý từ Đền Miễu về Đình. Đoàn rước gồm 24 bộ phận với khoảng 1000 người, trong đó đông nhất là con cháu thuộc dòng họ Phạm. Lễ rước được tổ chức rất trang trọng và hoành tráng suốt từ Đền về đến Đình với ý nghĩa "nhà Vua đón mẹ về dự hội". Sau lễ rước, các vị chức sắc sẽ tổ chức tế lễ, dâng hương để hoàn thành nghi lễ. Hát Quan họ tại lễ hội làng Dương Lôi Còn phần hội thì được tổ chức phong phú, sôi nổi với các hoạt động giao lưu văn hóa, thơ ca, thư pháp, giới thiệu sách, hát Quan họ, thi đấu thể thao cùng nhiều trò chơi dân gian như: chọi gà, đấu vật…thu hút đông đảo người dân địa phương và khách du lịch tham gia. Tổng hợp

(lehoi.info)- Lễ hội làng Dương Lôi được tổ chức hằng năm vào ngày sinh của vua Lý Thái Tổ (12/2 AL) tại làng Dương Lôi (phường Tân Hồng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh) để tưởng nhớ và tôn vinh bà Phạm Thị - người sinh vua Lý Thái Tổ, khai sáng vương triều Lý ở thế kỷ XI.

Đình làng Dương Lôi

Lễ hội làng Dương Lôi đã có hàng nghìn năm lịch sử kéo dài từ năm 974 đến nay (2017). Với bề dày lịch sử, hiện nay làng Dương Lôi còn nhiều di tích như mộ thân phụ, thân mẫu của bà Phạm Thị ở khu vực cánh đồng Miễu (dân làng gọi là mộ tổ), di tích chùa Minh Châu, chùa Cha Lư, đền Lý Thánh Mẫu… Ngoài ra, còn một số tài liệu khắc trên đá, chuông đồng, trên giấy. Qua nhiều năm, cụm di tích đình, đền, chùa làng Dương Lôi vẫn còn lưu giữ nhiều dấu tích thời Lý cùng các hoạt động tâm linh, tín ngưỡng, lễ hội… Với các giá trị văn hóa và hiện vật này, làng Dương Lôi đã vinh dự được nhà nước cấp bằng Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia vào năm 1993 và 2009. Cổng làng Dương Lôi Ngày khai hội, người dân trong thôn tổ chức nghi lễ rước Đức Thánh Mẫu và 8 vị Vua triều Lý từ Đền Miễu về Đình. Đoàn rước gồm 24 bộ phận với khoảng 1000 người, trong đó đông nhất là con cháu thuộc dòng họ Phạm. Lễ rước được tổ chức rất trang trọng và hoành tráng suốt từ Đền về đến Đình với ý nghĩa "nhà Vua đón mẹ về dự hội". Sau lễ rước, các vị chức sắc sẽ tổ chức tế lễ, dâng hương để hoàn thành nghi lễ. Hát Quan họ tại lễ hội làng Dương Lôi Còn phần hội thì được tổ chức phong phú, sôi nổi với các hoạt động giao lưu văn hóa, thơ ca, thư pháp, giới thiệu sách, hát Quan họ, thi đấu thể thao cùng nhiều trò chơi dân gian như: chọi gà, đấu vật…thu hút đông đảo người dân địa phương và khách du lịch tham gia. Tổng hợp

Related Figures

Lễ hội đền Dành

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 19/1- 20/1 Âm lịch Lễ hội đền Dành thường diễn ra trong 2 ngày là ngày 19 và 20 tháng Giêng hàng năm, tại xã Việt Lập và Liên Chung, của huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Lễ hội đền Dành ở xã Liên Chung tại tỉnh Bắc Giang Núi Dành còn được gọi là núi Chung Sơn, là một ngọn núi lớn nằm ở phía đông của huyện Tân Yên. Thế núi uyển chuyển nhưng cũng rất hùng vỹ, đỉnh cao nhất của núi so với mặt nước biển lên tới hàng trăm mét. Đền Dành nằm trên đỉnh núi Dành, đền được lập từ thời Lê, đã trải qua nhiều lần trùng tu và nâng cấp. Tại đây, thờ đức thánh Cao Sơn- Quý Minh, người đã có công giúp vua Hùng Vương thứ 18 đánh tan quân xâm lược giữ yên bờ cõi. Thuộc quần thể di tích, ngoài đền Dành ra còn có Đình Vường nằm ở thôn Hậu, tên chữ là đình Thịnh Vượng. Đây là một ngôi đình đẹp xây dựng ở thế kỷ XVIII và là một trong ba ngôi đình nguyên mẫu của tỉnh Bắc Giang đã được được Bộ Văn Hóa - Thông tin công nhận là di tích lịch sử vào ngày 25/01/1991. Cạnh đó là ngôi Chùa Không bụt, có tên chữ là Cống phường tự, đã được công nhận Di tích lịch sử văn hoá từ năm 2008. Đền Dành nằm trên đỉnh núi có độ cao 117 mét, xung quanh đều là rừng thông, bạch đàn xanh tốt, dưới chân núi là một giếng nhỏ có tên gọi là mũi voi. Tương truyền: Giếng Mũi Voi không bao giờ cạn, xung quanh ngọn núi còn có nhiều câu chuyện dân gian. Đền Dành xưa kia là một ngôi đền nhỏ cột được làm bằng đá vôi tròn, được xây dựng từ thời nhà Lê, ở thế kỷ thứ 18. Lễ hội đền Dành là lễ hội tiêu biểu ở Bắc Giang, đã thể hiện những nét văn hóa đặc trưng của vùng quê Liên Chung. Đền thờ Cao Sơn - Quý Minh thượng đẳng thần và di tích này đã được nhà nước công nhận Di tích lịch sử văn hóa. Lễ hội đền Dành thường diễn ra vào ngày 19, 20 tháng giêng hàng năm. So với nhiều đình và đền khác, đền Dành không có gì đặc trưng quy mô và kiến trúc, song hàng năm lượng du khách thập phương về thăm quan vẫn rất đông, nhất là những nam thanh nữ tú đều kéo nhau về cầu tình duyên. Nhờ phong cảnh núi non kỳ vỹ, trữ tình, nên thơ và nhiều câu chuyện tương truyền về sự linh thiêng của ngôi đền này. Nổi trống khai hội đền Dành tại tỉnh Bắc Giang Mở đầu lễ hội sẽ là lễ tế thần để cầu cho một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, người dân được khỏe mạnh, gia đình ấm no hạnh phúc, thôn xóm được thuận hòa bình yên. Nét đặc sắc của Phần lễ vẫn luôn thu hút đông đảo người dân tham gia đó là là màn rước thánh được tổ chức rất long trọng từ đình Vường lên đến đền Dành và ngược lại. Trong hai ngày hội còn tổ chức các trò chơi dân gian đặc sắc như: thổi cơm thi, vật tự do, bóng chuyền, kéo co, giao lưu văn nghệ… du khách còn có thể vừa xem hội vừa tham gia các trò chơi. Lễ hội đền Dành còn là dịp để người dân nơi đây và du khách tới tham quan hướng về cội nguồn, tưởng nhớ tôn kính các bậc hiền tài, những người đã có nhiều công lao đối với dân tộc. Trảy hội đền Dành là dịp để du khách gần xa tham quan vãn cảnh đền Dành.

Lễ hội đền Dành thường diễn ra trong 2 ngày là ngày 19 và 20 tháng Giêng hàng năm, tại xã Việt Lập và Liên Chung, của huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

Lễ hội đền Dành ở xã Liên Chung tại tỉnh Bắc Giang

Núi Dành còn được gọi là núi Chung Sơn, là một ngọn núi lớn nằm ở phía đông của huyện Tân Yên. Thế núi uyển chuyển nhưng cũng rất hùng vỹ, đỉnh cao nhất của núi so với mặt nước biển lên tới hàng trăm mét. Đền Dành nằm trên đỉnh núi Dành, đền được lập từ thời Lê, đã trải qua nhiều lần trùng tu và nâng cấp. Tại đây, thờ đức thánh Cao Sơn- Quý Minh, người đã có công giúp vua Hùng Vương thứ 18 đánh tan quân xâm lược giữ yên bờ cõi. Thuộc quần thể di tích, ngoài đền Dành ra còn có Đình Vường nằm ở thôn Hậu, tên chữ là đình Thịnh Vượng. Đây là một ngôi đình đẹp xây dựng ở thế kỷ XVIII và là một trong ba ngôi đình nguyên mẫu của tỉnh Bắc Giang đã được được Bộ Văn Hóa - Thông tin công nhận là di tích lịch sử vào ngày 25/01/1991. Cạnh đó là ngôi Chùa Không bụt, có tên chữ là Cống phường tự, đã được công nhận Di tích lịch sử văn hoá từ năm 2008. Đền Dành nằm trên đỉnh núi có độ cao 117 mét, xung quanh đều là rừng thông, bạch đàn xanh tốt, dưới chân núi là một giếng nhỏ có tên gọi là mũi voi. Tương truyền: Giếng Mũi Voi không bao giờ cạn, xung quanh ngọn núi còn có nhiều câu chuyện dân gian. Đền Dành xưa kia là một ngôi đền nhỏ cột được làm bằng đá vôi tròn, được xây dựng từ thời nhà Lê, ở thế kỷ thứ 18.

Lễ hội đền Dành là lễ hội tiêu biểu ở Bắc Giang, đã thể hiện những nét văn hóa đặc trưng của vùng quê Liên Chung. Đền thờ Cao Sơn - Quý Minh thượng đẳng thần và di tích này đã được nhà nước công nhận Di tích lịch sử văn hóa. Lễ hội đền Dành thường diễn ra vào ngày 19, 20 tháng giêng hàng năm. So với nhiều đình và đền khác, đền Dành không có gì đặc trưng quy mô và kiến trúc, song hàng năm lượng du khách thập phương về thăm quan vẫn rất đông, nhất là những nam thanh nữ tú đều kéo nhau về cầu tình duyên. Nhờ phong cảnh núi non kỳ vỹ, trữ tình, nên thơ và nhiều câu chuyện tương truyền về sự linh thiêng của ngôi đền này. Nổi trống khai hội đền Dành tại tỉnh Bắc Giang Mở đầu lễ hội sẽ là lễ tế thần để cầu cho một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, người dân được khỏe mạnh, gia đình ấm no hạnh phúc, thôn xóm được thuận hòa bình yên. Nét đặc sắc của Phần lễ vẫn luôn thu hút đông đảo người dân tham gia đó là là màn rước thánh được tổ chức rất long trọng từ đình Vường lên đến đền Dành và ngược lại. Trong hai ngày hội còn tổ chức các trò chơi dân gian đặc sắc như: thổi cơm thi, vật tự do, bóng chuyền, kéo co, giao lưu văn nghệ… du khách còn có thể vừa xem hội vừa tham gia các trò chơi. Lễ hội đền Dành còn là dịp để người dân nơi đây và du khách tới tham quan hướng về cội nguồn, tưởng nhớ tôn kính các bậc hiền tài, những người đã có nhiều công lao đối với dân tộc. Trảy hội đền Dành là dịp để du khách gần xa tham quan vãn cảnh đền Dành.

Related Figures

Lễ hội Nghinh Ông

Thông tin thời kỳ

Lễ hội Nghinh Ông còn được gọi là lễ rước, lễ tế, lễ cúng cá Ông, vẫn thường diễn ra vào trước mùa đánh bắt cá trên biển. Người dân biển tại nhiều nơi khác cũng như tại Bến Tre từ lâu đã lập nên lễ hội Nghinh Ông để tưởng nhớ tới công ơn của loài cá voi , loài cá được mệnh danh là vị thần Đại tướng quân Nam Hải, đã giải cứu biết bao người dân đi biển vượt qua cơn sóng to gió lớn, và cũng là để cầu mong đánh được nhiều tôm, cá, mang lại điềm lành, bình yên và hạnh phúc cho mọi người. Lễ Nghinh ông tại Bến tre được nhiều nơi tổ chức như: xã Thừa Đức thuộc huyện Bình Đại, lễ thường mở vào ngày 23/4 âm lịch, xã Thới Thuận của huyện Bình Đại tổ chức lễ Nghinh Ông vào ngày ngày 20/6 âm lịch, xã Bảo Thạnh của huyện Ba Tri và xã Bình Thắng thuộc huyện Bình Đại tổ chức lễ Nghinh Ông vào cùng một ngày là ngày 15-16 tháng Sáu âm lịch.Trong đó xã Bình Thắng thuộc huyện Bình Đại lại tổ chức lễ Nghinh Ông có quy mô lớn nhất. Trước ngày lễ các thuyền đánh cá đang đi biển dù đang xa hay gần, đều phải quay về bến. Điều này đã trở thành một quy ước bắt buộc của người dân Bến Tre. Ngoài ra, những tàu thuyền của những nơi khác, tỉnh khác đang hoạt động trên biển của địa phương này cũng quay về bến để tham gia lễ hội. Trong ngày này, các thuyền đánh cá sẽ chăng đèn và có kết hoa rực rỡ. Ở đầu mỗi mũi thuyền, chủ nhân sẽ bày một mâm lê vật cúng gồm xôi thịt, trái cây, chiếc đầu heo, thường là đôi vịt luộc, và hương hoa. Bắt đầu Lễ Nghinh Ông là lễ túc yết với nghi thức cử hành khá đơn giản và tiến hành tại lăng. Từ trước ngày mở hội, người dân trong vạn lạch đã góp tiền để làm lễ cúng Ông. Đóng góp nhiều hay ít là tùy thuộc vào tấm lòng và điều kiện của từng hộ ngư dân, mà không cần sự bắt buộc nào, và cũng không xảy ra sự phân biệt giữa người đóng tiền hay không đóng tiền, đóng tiền nhiều hay ít . Đêm đầu tiên của lễ Nghinh Ông sẽ cử hành một nghi thức hoàn toàn không bắt buộc, thực hiện hay không là tùy theo ban tổ chức. Đó chính là lễ hội cầu an. Ông chánh bái và phó chánh bái sẽ quay mặt vào điện thờ để khấn vái, và xin Nam Hải ngọc tôn thần về chứng kiến. Ông phó chánh bái đầu đội tờ sớ xin cầu an, sau đó quỳ lạy. Tám nhà sư xếp thành hai hàng quỳ xuống ở phía sau, sau đó đứng lên tụng kinh làm lễ để cầu bình an cho vạn lạch. Lá sớ cầu an sau đó sẽ được đem đốt khi buổi lễ kết thúc. Lễ hội Nghinh Ông tại Bến Tre Sáng ngày hôm sau sẽ tiến hành nghi thức Nghinh ông. Ông chánh bái và phó chánh bái sẽ dẫn đầu đoàn tiến ra khơi để nghinh Ông. Theo sau sẽ có bốn học trò lễ, bốn đào thài (2 nam và 2 nữ), tám người mang bát bửu, chấp kích, 1 người vác cờ có thêu chữ Nam Hải, 4 người khiêng long đình, 2 người cầm lọng, 1 người vác cờ lớn, và phường bát âm. Tất cả đội lễ này khiêng long đình và tất cả đồ lễ xuất phát từ lăng thờ cá Ông tiến ra cửa sông rồi xuống một ghe riêng đã được chuẩn bị sẵn, còn được gọi là ghe lễ. Thông thường chiếc ghe được chọn làm ghe lễ là ghe của gia chủ khá giả, gia đình êm ấm, không có vướng mắc gì, và phải là ghe có số chẵn, trên ghe này sẽ đặt một cái bàn để bày các lễ vật, gồm có 1 con heo quay, 2 đĩa lòng heo (1 đĩa sống, 1 đĩa chín), 1 đĩa bánh hỏi, và hoa quả. Hai bên cạnh con heo quay sẽ bày 12 chiếc chén (bát) và 12 đôi đũa. Theo sau ghe lễ sẽ là ghe chở đoàn múa lân, sau nữa là tất cả một đoàn ghe với hàng trăm chiếc ghe của ngư dân trong vạn lạch. Trên mỗi chiếc ghe đều được bày đồ lễ cúng. Tất cả cùng nhau thẳng tiến ra ngoài biển khơi, để cử hành lễ rước Ông. Cả ghe lễ cà ghe chở đoàn múa lân cùng các ghe chở ngư dân, đều phải thả một sợi dây xuống dưới nước, ở cuối sợi dây này người dân buộc một chùm giẻ ngũ sắc. Khi cả đoàn ghe đã ra đến chỗ giáp nước (nơi nước biển và nước sông gặp nhau) cả đoàn ghe sẽ lượn quanh nhiều vòng. Ông chánh bái bắt đầu chờ “Ông lên vọi”. Ngư dân nơi đây tin rằng, năm nào đoàn ghe ra khơi nghinh Ông mà gặp được "Ông lên vọi" thì năm đó vạn lạch sẽ gặp may mắn, đi biển thuận lợi, cuộc sống yên bình. Trường hợp mà không thấy tăm tích gì thì sau khi lượn vòng nhiều bận, ông chánh bái sẽ cúng và xin keo âm dương. Ông tung hai đồng tiền lên, khi rơi xuống mặt đĩa mà có một đồng tiền ngửa, một úp thì xem như ông Nam Hải đã chấp thuận lễ vật và lòng thành của ngư dân biển. Ngay sau đó sẽ rúc lên một hồi tù khiến vang động cả một vùng biển, tiếp đến sẽ bắt đầu đốt pháo. Hàng trăm chiếc ghe theo sau ghe lễ cũng đều đốt pháo theo. Sự hứng khởi tột độ của những người ngư dân lúc này đã khiến các ghe chạy ào ào trông nhưmột thế trận hỗn độn. Các ghe còn va chạm vào nhau, nhưng không sao, người dân nơi đây chấp nhận sự hỗn độn này. Sau đó, đoàn ghe nghinh ông lại quay trở về bến. Đi dẫn đầu vẫn là chiếc ghe lễ. Tới bến người ta sẽ khiêng long đình, hương án và các đồ lễ khác lên bờ rồi rước về lăng. Tới lăng, ông chánh bái và phó chánh bái sẽ khiêng bát hương vừa mới mang ra khơi nghinh Ông, đặt về chỗ bàn thờ. Sau đó, tiến hành các nghi thức an vị, các thủ tục khấn vái, lễ Nghinh Ông cũng chính thức kết thúc. Ngư dân tin rằng ông Nam Hải đã cùng dân trở về ngự tại điện thần, và chứng giám lòng thành kính của họ. Sau đó sẽ đến lễ tế tiền hiền và hậu hiền. Lễ vật cúng tiền hiền sẽ cúng các món mặn, như các đám giỗ tổ tiên, gồm bốn mâm xôi (3 mâm xôi trắng và 1 mâm xôi đỏ). Sau một hồi chiêng trống và nhạc lễ, ông chánh bái cùng phó chánh bái sẽ cùng các bồi tế dâng lễ hoa và nến. Sau đó, họ dâng thức ăn, dâng rượu và đọc các bài văn tế tiền hiền để xin vong hồn tổ tiên và các cô hồn cùng về để chung hưởng. Nghi thức xây chầu đại bội là một nghi thức không bắt buộc, có thực hiện nghi thức này hay không là phụ thuộc vào ban tổ chức năm ấy có mời đoàn hát hội về hay không? Trước khi vào nghi thức xây chầu, các đào thài sẽ vái lạy trước điện thờ ông Nam Hải. Lễ vật tại bày bàn thờ lúc này gồm có một con lợn trắng, đã mổ và cạo lông thật sạch, được đặt quay đầu về phía bàn thờ Ông, bát huyết được đặt bên cạnh, lá mỡ chài sẽ được phủ lên đầu con lợn. Người cầm chầu sẽ là Ông chánh bái. Dân của vạn chài sẽ ngồi xem hát bội ở ngay nhà võ ca. Các đào thài vừa hát vừa múa cho dân chúng xem, và cùng với nghĩa hát là hát cho ông Nam Hải vui lòng. Đoàn ghe thuyền đang tiến ra biển để nghinh Ông Nghi thức lễ chánh tế thường được cử hành vào giữa đêm ngày 16 tháng Sáu 6 âm lịch, vào lúc giao thoa giữa hai ngày. Sau các nghi thức thông thường như, tựu vị, củ soát tế vật, chỉnh y, ban tổ chức sẽ chọn một người có tuổi và đức độ song toàn, được người dân trong vạn lạch kính trọng sẽ thực hiện nhiệm vụ khai mõ, tiếp đến sẽ là nghi thức khai chiêng và khai trống. Ban nhạc cụ này sẽ được đánh theo hồi, theo nhịp như đã quy định. Khi dứt nhịp trống thì cũng là lúc sàn nhạc lễ bắt đầu nổi lên. Ông bồi tế sẽ dâng hoa và nến cho ông chánh bái. Ông chánh bái giơ mấy nén nhang đang cầm trong tay lên ngang trán, sau đó vừa đọc vừa khấn. Sau khi khấn xong ông thắp nhang lên bàn thờ. Theo sau học trò lễ sẽ là các đào thài, họ sẽ đi từ bên trái sang bên phải quanh điện thần theo chiều kim đồng hồ, vừa đi vừa hát những câu hát chúc thần. Tiếp đến sẽ là nghi thức dâng rượu. Các học trò lễ sẽ nhận rượu từ tay ông chánh bái sau đó bước lên dâng thần. Các đào thài sẽ đi phía sau học trò lễ, vừa đi vừa hát chúc thần. Sau tuần rượu thứ nhất vị chánh tế sẽ đọc tế văn ông Nam Hải. Sau khi ông chánh tế đọc tế văn xong, ông lại dâng tiếp tuần rượu thứ hai, sau đó là tuần rượu thứ ba và khấn. Sau khi dâng trà, 4 đào thài sẽ vái lạy trước bàn thờ ông. Cuối cùng sẽ thực hiện nghi thức đốt văn tế. Tất cả, ban khánh tiết, đào thài, học trò lễ sẽ vái lạy Ông lần cuối. Nghi thức chánh tế xem như kết thúc, và cũng là lúc lễ hội Nghinh Ông của người dân vạn lạch kết thúc.

Lễ hội Nghinh Ông còn được gọi là lễ rước, lễ tế, lễ cúng cá Ông, vẫn thường diễn ra vào trước mùa đánh bắt cá trên biển. Người dân biển tại nhiều nơi khác cũng như tại Bến Tre từ lâu đã lập nên lễ hội Nghinh Ông để tưởng nhớ tới công ơn của loài cá voi , loài cá được mệnh danh là vị thần Đại tướng quân Nam Hải, đã giải cứu biết bao người dân đi biển vượt qua cơn sóng to gió lớn, và cũng là để cầu mong đánh được nhiều tôm, cá, mang lại điềm lành, bình yên và hạnh phúc cho mọi người. Lễ Nghinh ông tại Bến tre được nhiều nơi tổ chức như: xã Thừa Đức thuộc huyện Bình Đại, lễ thường mở vào ngày 23/4 âm lịch, xã Thới Thuận của huyện Bình Đại tổ chức lễ Nghinh Ông vào ngày ngày 20/6 âm lịch, xã Bảo Thạnh của huyện Ba Tri và xã Bình Thắng thuộc huyện Bình Đại tổ chức lễ Nghinh Ông vào cùng một ngày là ngày 15-16 tháng Sáu âm lịch.Trong đó xã Bình Thắng thuộc huyện Bình Đại lại tổ chức lễ Nghinh Ông có quy mô lớn nhất.

Trước ngày lễ các thuyền đánh cá đang đi biển dù đang xa hay gần, đều phải quay về bến. Điều này đã trở thành một quy ước bắt buộc của người dân Bến Tre. Ngoài ra, những tàu thuyền của những nơi khác, tỉnh khác đang hoạt động trên biển của địa phương này cũng quay về bến để tham gia lễ hội. Trong ngày này, các thuyền đánh cá sẽ chăng đèn và có kết hoa rực rỡ. Ở đầu mỗi mũi thuyền, chủ nhân sẽ bày một mâm lê vật cúng gồm xôi thịt, trái cây, chiếc đầu heo, thường là đôi vịt luộc, và hương hoa. Bắt đầu Lễ Nghinh Ông là lễ túc yết với nghi thức cử hành khá đơn giản và tiến hành tại lăng. Từ trước ngày mở hội, người dân trong vạn lạch đã góp tiền để làm lễ cúng Ông. Đóng góp nhiều hay ít là tùy thuộc vào tấm lòng và điều kiện của từng hộ ngư dân, mà không cần sự bắt buộc nào, và cũng không xảy ra sự phân biệt giữa người đóng tiền hay không đóng tiền, đóng tiền nhiều hay ít . Đêm đầu tiên của lễ Nghinh Ông sẽ cử hành một nghi thức hoàn toàn không bắt buộc, thực hiện hay không là tùy theo ban tổ chức. Đó chính là lễ hội cầu an. Ông chánh bái và phó chánh bái sẽ quay mặt vào điện thờ để khấn vái, và xin Nam Hải ngọc tôn thần về chứng kiến. Ông phó chánh bái đầu đội tờ sớ xin cầu an, sau đó quỳ lạy. Tám nhà sư xếp thành hai hàng quỳ xuống ở phía sau, sau đó đứng lên tụng kinh làm lễ để cầu bình an cho vạn lạch. Lá sớ cầu an sau đó sẽ được đem đốt khi buổi lễ kết thúc. Lễ hội Nghinh Ông tại Bến Tre Sáng ngày hôm sau sẽ tiến hành nghi thức Nghinh ông. Ông chánh bái và phó chánh bái sẽ dẫn đầu đoàn tiến ra khơi để nghinh Ông. Theo sau sẽ có bốn học trò lễ, bốn đào thài (2 nam và 2 nữ), tám người mang bát bửu, chấp kích, 1 người vác cờ có thêu chữ Nam Hải, 4 người khiêng long đình, 2 người cầm lọng, 1 người vác cờ lớn, và phường bát âm. Tất cả đội lễ này khiêng long đình và tất cả đồ lễ xuất phát từ lăng thờ cá Ông tiến ra cửa sông rồi xuống một ghe riêng đã được chuẩn bị sẵn, còn được gọi là ghe lễ. Thông thường chiếc ghe được chọn làm ghe lễ là ghe của gia chủ khá giả, gia đình êm ấm, không có vướng mắc gì, và phải là ghe có số chẵn, trên ghe này sẽ đặt một cái bàn để bày các lễ vật, gồm có 1 con heo quay, 2 đĩa lòng heo (1 đĩa sống, 1 đĩa chín), 1 đĩa bánh hỏi, và hoa quả. Hai bên cạnh con heo quay sẽ bày 12 chiếc chén (bát) và 12 đôi đũa. Theo sau ghe lễ sẽ là ghe chở đoàn múa lân, sau nữa là tất cả một đoàn ghe với hàng trăm chiếc ghe của ngư dân trong vạn lạch. Trên mỗi chiếc ghe đều được bày đồ lễ cúng. Tất cả cùng nhau thẳng tiến ra ngoài biển khơi, để cử hành lễ rước Ông. Cả ghe lễ cà ghe chở đoàn múa lân cùng các ghe chở ngư dân, đều phải thả một sợi dây xuống dưới nước, ở cuối sợi dây này người dân buộc một chùm giẻ ngũ sắc. Khi cả đoàn ghe đã ra đến chỗ giáp nước (nơi nước biển và nước sông gặp nhau) cả đoàn ghe sẽ lượn quanh nhiều vòng. Ông chánh bái bắt đầu chờ “Ông lên vọi”. Ngư dân nơi đây tin rằng, năm nào đoàn ghe ra khơi nghinh Ông mà gặp được "Ông lên vọi" thì năm đó vạn lạch sẽ gặp may mắn, đi biển thuận lợi, cuộc sống yên bình. Trường hợp mà không thấy tăm tích gì thì sau khi lượn vòng nhiều bận, ông chánh bái sẽ cúng và xin keo âm dương. Ông tung hai đồng tiền lên, khi rơi xuống mặt đĩa mà có một đồng tiền ngửa, một úp thì xem như ông Nam Hải đã chấp thuận lễ vật và lòng thành của ngư dân biển. Ngay sau đó sẽ rúc lên một hồi tù khiến vang động cả một vùng biển, tiếp đến sẽ bắt đầu đốt pháo. Hàng trăm chiếc ghe theo sau ghe lễ cũng đều đốt pháo theo. Sự hứng khởi tột độ của những người ngư dân lúc này đã khiến các ghe chạy ào ào trông nhưmột thế trận hỗn độn. Các ghe còn va chạm vào nhau, nhưng không sao, người dân nơi đây chấp nhận sự hỗn độn này. Sau đó, đoàn ghe nghinh ông lại quay trở về bến. Đi dẫn đầu vẫn là chiếc ghe lễ. Tới bến người ta sẽ khiêng long đình, hương án và các đồ lễ khác lên bờ rồi rước về lăng. Tới lăng, ông chánh bái và phó chánh bái sẽ khiêng bát hương vừa mới mang ra khơi nghinh Ông, đặt về chỗ bàn thờ. Sau đó, tiến hành các nghi thức an vị, các thủ tục khấn vái, lễ Nghinh Ông cũng chính thức kết thúc. Ngư dân tin rằng ông Nam Hải đã cùng dân trở về ngự tại điện thần, và chứng giám lòng thành kính của họ. Sau đó sẽ đến lễ tế tiền hiền và hậu hiền. Lễ vật cúng tiền hiền sẽ cúng các món mặn, như các đám giỗ tổ tiên, gồm bốn mâm xôi (3 mâm xôi trắng và 1 mâm xôi đỏ). Sau một hồi chiêng trống và nhạc lễ, ông chánh bái cùng phó chánh bái sẽ cùng các bồi tế dâng lễ hoa và nến. Sau đó, họ dâng thức ăn, dâng rượu và đọc các bài văn tế tiền hiền để xin vong hồn tổ tiên và các cô hồn cùng về để chung hưởng. Nghi thức xây chầu đại bội là một nghi thức không bắt buộc, có thực hiện nghi thức này hay không là phụ thuộc vào ban tổ chức năm ấy có mời đoàn hát hội về hay không? Trước khi vào nghi thức xây chầu, các đào thài sẽ vái lạy trước điện thờ ông Nam Hải. Lễ vật tại bày bàn thờ lúc này gồm có một con lợn trắng, đã mổ và cạo lông thật sạch, được đặt quay đầu về phía bàn thờ Ông, bát huyết được đặt bên cạnh, lá mỡ chài sẽ được phủ lên đầu con lợn. Người cầm chầu sẽ là Ông chánh bái. Dân của vạn chài sẽ ngồi xem hát bội ở ngay nhà võ ca. Các đào thài vừa hát vừa múa cho dân chúng xem, và cùng với nghĩa hát là hát cho ông Nam Hải vui lòng. Đoàn ghe thuyền đang tiến ra biển để nghinh Ông Nghi thức lễ chánh tế thường được cử hành vào giữa đêm ngày 16 tháng Sáu 6 âm lịch, vào lúc giao thoa giữa hai ngày. Sau các nghi thức thông thường như, tựu vị, củ soát tế vật, chỉnh y, ban tổ chức sẽ chọn một người có tuổi và đức độ song toàn, được người dân trong vạn lạch kính trọng sẽ thực hiện nhiệm vụ khai mõ, tiếp đến sẽ là nghi thức khai chiêng và khai trống. Ban nhạc cụ này sẽ được đánh theo hồi, theo nhịp như đã quy định. Khi dứt nhịp trống thì cũng là lúc sàn nhạc lễ bắt đầu nổi lên. Ông bồi tế sẽ dâng hoa và nến cho ông chánh bái. Ông chánh bái giơ mấy nén nhang đang cầm trong tay lên ngang trán, sau đó vừa đọc vừa khấn. Sau khi khấn xong ông thắp nhang lên bàn thờ. Theo sau học trò lễ sẽ là các đào thài, họ sẽ đi từ bên trái sang bên phải quanh điện thần theo chiều kim đồng hồ, vừa đi vừa hát những câu hát chúc thần. Tiếp đến sẽ là nghi thức dâng rượu. Các học trò lễ sẽ nhận rượu từ tay ông chánh bái sau đó bước lên dâng thần. Các đào thài sẽ đi phía sau học trò lễ, vừa đi vừa hát chúc thần. Sau tuần rượu thứ nhất vị chánh tế sẽ đọc tế văn ông Nam Hải. Sau khi ông chánh tế đọc tế văn xong, ông lại dâng tiếp tuần rượu thứ hai, sau đó là tuần rượu thứ ba và khấn. Sau khi dâng trà, 4 đào thài sẽ vái lạy trước bàn thờ ông. Cuối cùng sẽ thực hiện nghi thức đốt văn tế. Tất cả, ban khánh tiết, đào thài, học trò lễ sẽ vái lạy Ông lần cuối. Nghi thức chánh tế xem như kết thúc, và cũng là lúc lễ hội Nghinh Ông của người dân vạn lạch kết thúc.

Related Figures

Lễ hội Nước Mặn

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 30/1- 2/2 Âm lịch Lễ hội Nước Mặn ra đời cách đây gần 4 thế kỷ, là một trong những lễ hội cổ truyền ra đời sớm nhất và có quy mô lớn nhất ở tỉnh Bình Định. Khi cảng thị Nước Mặn bắt đầu thời kỳ phồn vinh, người Hoa từ Quảng Đông, Phúc Kiến đã dong thuyền sang Việt Nam xin chúa Nguyễn cho nhập cư để mở phố buôn bán, trao đổi hàng hóa cùng người Việt, lập nên chùa Ông (Quan Thánh đế miếu) và chùa Bà (Thiên Hậu miếu) tại thôn An Hòa của xã Phước Quang, thuộc huyện Tuy Phước, để thờ cúng. Lễ hội Nước Mặn diễn ra hàng năm trong trong 3 ngày: ngày cuối của tháng giêng âm lịch, có thể là ngày 29 hay 30 tùy tháng lịch của năm, và ngày mồng 1 và mồng 2 tháng Hai tại Chùa Bà. Lễ hội Nước Mặn tại Bình Định Lễ hội Nước Mặn được lập ra và tổ chức tại chùa Bà đã đánh dấu một cảng thị đã bước vào thời kỳ phồn vinh, đồng thời thể hiện sự dung hợp văn hóa giữa người Việt và người Hoa, và cứ thế duy trì, phát triển trải qua bao thăng trầm của cảng thị này. Cho tới ngày nay, mặc dầu cảng thị này đã suy tàn, không còn là một nơi phồn vinh nữa mà là một vùng quê yên tĩnh nhưng chùa Bà thì vẫn còn, lễ hội Nước Mặn vẫn còn được gìn giữ như một hoài niệm của người dân nơi đây về một đô thị thương cảng đã từng là một trung tâm thương mại và văn hóa của một thời của Bình Định. Thuở xưa, khi cảng thị đang còn phồn vinh, phố phường nơi đây rất đông đúc, tới ngày lễ ban nghi lễ sẽ diễu hành, dân cảng thị có cả người Việt lần người Hoa (Minh Hương) cùng khiêng kiệu đến miếu Thành Hoàng, miếu Bà Mụ (bà chúa Thai sinh - Bảo sản), miếu Quán Thánh để rước linh vị của các vị thần này về chùa Bà để chuẩn bị cho nghi thức tế lễ. Vào lúc nửa đêm ngày 30 tháng Giêng sẽ cử hành lễ tế chính thức thần Thành Hoàng, Quan Thánh, Bà Mụ, Thiên Hậu là những vị thần đã khai sáng và che chở cho cuộc sống tinh thần cũng như vật chất của người dân cảng thị, cầu xin các vị thần sẽ ban phúc lành cho họ để họ làm ăn phát đạt hơn, sinh đẻ tốt lành con cháu đông đúc, và cầu cho cảng thị ngày một phát triển hơn. Những gia đình đã làm ăn phát đạt hay sinh con đạt ý nguyện trong năm qua sẽ thành kính mang lễ vật đến tạ ơn các vị thần. Đoàn rước lễ trong Lễ hội Nước Mặn Có người ở Kon Tum, Gia Lai, xuống, từ Khánh Hòa, Phú Yên, thành phố Hồ Chí Minh ra và hiến tế cả một con heo, con bò hay một khoản tiền khá lớn để giúp dân cảng thị tu sửa lại đền miếu và cử hành lễ hội. Phần tế lễ đã phần nào thể hiện được tinh thần dung hợp giữa hai tín ngưỡng Việt và Hoa trong đời sống tâm linh. Các vị thần người được Việt và người Hoa sùng bái đều sẽ được rước về thờ trong chùa Bà để khách gần xa đến chiêm bái, thỉnh cầu. Sự xuất hiện thần Thành Hoàng trong tế lễ với ngai thờ riêng đã chứng tỏ một điều rằng, dù là các vị thần của người Việt hay người Hoa đều phải chịu sự cai quản của Thành Hoàng của bản xứ. Sau ngày tế thần, đến ngày thứ hai và ngày thứ ba sẽ là hai ngày hội. Ban tế lễ và ban tổ chức hội đều phải chịu sự cai quản và hướng dẫn của chính quyền cảng thị. Ngày tế thần là một nghi thức tín ngưỡng, ngày hội mới là lúc phô diễn được những vẻ đẹp văn hóa của cảng thị xưa. Khách thập phương xa gần đều hội tụ về Nước Mặn và chờ đợi từ vài ngày trước. Sau tế lễ họ được mới vào chùa cầu để cúng và dự hội. Nghi thức mong chờ nhất đó là hình thức rước các biểu trưng diễu hành đường phố để tưởng nhớ tới công lao của cha ông, những người đã biến vùng sình lầy này trở thành một cảng thị sầm uất ở miền cực Nam của Việt Nam lúc bấy giờ. Những hình người tượng trưng như: người vỡ ruộng đắp bờ, kẻ chặt cây phá rừng ngập mặn, kẻ giăng lưới đánh cá, người chăn nuôi gia súc.v.v… đều được đặt lên một kiệu tiếp nối nhau khiêng đi. Lại còn có hình ảnh biểu trưng cho tàu thuyền viễn dương với những tay chèo vạm vỡ đã vượt qua biết bao sóng gió đã làm sống lại cảnh tượng của cảng thị trong những ngày đầu thời kỳ phồn vinh. Phật giáo và Đạo giáo cũng thuận theo bước chân di cư của người Việt, sau đó là người Hoa đến Nước Mặn nên trong ngày hội Nước Mặn còn có lễ rước biểu trưng Hà Tiên Cô đang ngồi trong tòa hoa sen có cánh khi cụp khi xòe vô cùng ấn tượng đã thu hút sự chú ý của người xem. Người dân từ khắp nơi đổ vể Bình Định tham dự lễ hội Nước Mặn Việc rước các biểu trưng diễu hành qua phố phường đã đánh thức những truyền thống tốt đẹp của cha ông ta trong quá trình mở nước và xây dựng một vùng đất mới. Sau lễ rước biểu trưng, ban ngày sẽ tổ chức các trò chơi dân gian. Tùy điều kiện tổ chức của mỗi năm nhưng nhìn chung là có các trò như: kéo co, đấu vật, chơi cù, chọi gà, đấu võ, bắt vịt, đập ấm, nấu cơm thi, bịt mắt bắt dê. Còn có trò chơi tao nhã như thả thơ, hô bài chòi, xổ cổ nhơn, đánh cờ người. Có trò chơi được truyền từ người Hoa như đốt cây bông hay đổ giàn. Ban đêm, các gánh hát nổi tiếng của phủ Quy Nhơn sẽ tới hát bả trạo và diễn tuồng; còn có tiết muc múa lục cúng của các phật tử. Các trò chơi dân gian và các tiết mục văn nghệ múa hát đã thu hút lượng đông đảo người trong vùng cũng như khách phương xa đến dự hội cả ngày lẫn đêm. Bởi vì thế trong cả 3 ngày lễ hội Nước Mặn thời xưa, người dân ở phủ Quy Nhơn luôn sống trong niềm vui hân hoan và bầu không khí ngày hội mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Trên tất cả các tuyến phố, người Việt cùng người Hoa, người từ các nước Đông Nam Á và phương Tây sẽ tới truyền giáo, buôn bán và cùng chung vui. Từ giữa thế kỷ thứ XVIII trở về sau, biển đã lùi ra xa, tàu thuyền lớn cũng không vào Nước Mặn được nữa, cảng thị dần dần suy tàn, theo đó cảng thị Quy Nhơn bắt đầu ra đời vào cuối thế kỷ thứ XIX sang đầu thế kỷ thứ XX. Người dân Nước Mặn, nhất là những thương nhân người Hoa đã chuyển về Quy Nhơn, hay các thị trấn thị tứ trong vùng hoặc đi xa vào tận Chợ Lớn - Sài Gòn để buôn bán. Thế nhưng đến ngày mở hội họ vẫn trở về Nước Mặn như là trở về quê hương một thuở của họ vậy. Lễ hội Nước Mặn là một lễ hội truyền thống của tỉnh Bình Định Phần hội ngày nay không còn nghi thức rước biểu trưng trên các tuyến phố như xưa nhưng vẫn có nhiều trò chơi truyền thống, ngoài ra còn tổ chức thi đấu bóng chuyền giao lưu giữa các xã lân cận. Ban đêm vẫn mời các gánh hát trong vùng về diễn suốt mấy tối của lễ hội. Cùng với sự suy tàn của cảng thị, màu sắc cổ truyền của lễ hội Nước Mặn cũng ngày càng phai nhạt đi sau bao thăng trầm và biến động theo năm tháng. Lễ hội Nước Mặn sẽ là hồi ức về một đô thị thương cảng lớn nhất của phủ Quy Nhơn trước khi suy tàn, hóa thân thành một thành phố biển Quy Nhơn của tỉnh Bình Định như ngày nay.

Lễ hội Nước Mặn ra đời cách đây gần 4 thế kỷ, là một trong những lễ hội cổ truyền ra đời sớm nhất và có quy mô lớn nhất ở tỉnh Bình Định. Khi cảng thị Nước Mặn bắt đầu thời kỳ phồn vinh, người Hoa từ Quảng Đông, Phúc Kiến đã dong thuyền sang Việt Nam xin chúa Nguyễn cho nhập cư để mở phố buôn bán, trao đổi hàng hóa cùng người Việt, lập nên chùa Ông (Quan Thánh đế miếu) và chùa Bà (Thiên Hậu miếu) tại thôn An Hòa của xã Phước Quang, thuộc huyện Tuy Phước, để thờ cúng. Lễ hội Nước Mặn diễn ra hàng năm trong trong 3 ngày: ngày cuối của tháng giêng âm lịch, có thể là ngày 29 hay 30 tùy tháng lịch của năm, và ngày mồng 1 và mồng 2 tháng Hai tại Chùa Bà.

Lễ hội Nước Mặn tại Bình Định

Lễ hội Nước Mặn được lập ra và tổ chức tại chùa Bà đã đánh dấu một cảng thị đã bước vào thời kỳ phồn vinh, đồng thời thể hiện sự dung hợp văn hóa giữa người Việt và người Hoa, và cứ thế duy trì, phát triển trải qua bao thăng trầm của cảng thị này. Cho tới ngày nay, mặc dầu cảng thị này đã suy tàn, không còn là một nơi phồn vinh nữa mà là một vùng quê yên tĩnh nhưng chùa Bà thì vẫn còn, lễ hội Nước Mặn vẫn còn được gìn giữ như một hoài niệm của người dân nơi đây về một đô thị thương cảng đã từng là một trung tâm thương mại và văn hóa của một thời của Bình Định. Thuở xưa, khi cảng thị đang còn phồn vinh, phố phường nơi đây rất đông đúc, tới ngày lễ ban nghi lễ sẽ diễu hành, dân cảng thị có cả người Việt lần người Hoa (Minh Hương) cùng khiêng kiệu đến miếu Thành Hoàng, miếu Bà Mụ (bà chúa Thai sinh - Bảo sản), miếu Quán Thánh để rước linh vị của các vị thần này về chùa Bà để chuẩn bị cho nghi thức tế lễ. Vào lúc nửa đêm ngày 30 tháng Giêng sẽ cử hành lễ tế chính thức thần Thành Hoàng, Quan Thánh, Bà Mụ, Thiên Hậu là những vị thần đã khai sáng và che chở cho cuộc sống tinh thần cũng như vật chất của người dân cảng thị, cầu xin các vị thần sẽ ban phúc lành cho họ để họ làm ăn phát đạt hơn, sinh đẻ tốt lành con cháu đông đúc, và cầu cho cảng thị ngày một phát triển hơn. Những gia đình đã làm ăn phát đạt hay sinh con đạt ý nguyện trong năm qua sẽ thành kính mang lễ vật đến tạ ơn các vị thần. Đoàn rước lễ trong Lễ hội Nước Mặn Có người ở Kon Tum, Gia Lai, xuống, từ Khánh Hòa, Phú Yên, thành phố Hồ Chí Minh ra và hiến tế cả một con heo, con bò hay một khoản tiền khá lớn để giúp dân cảng thị tu sửa lại đền miếu và cử hành lễ hội. Phần tế lễ đã phần nào thể hiện được tinh thần dung hợp giữa hai tín ngưỡng Việt và Hoa trong đời sống tâm linh. Các vị thần người được Việt và người Hoa sùng bái đều sẽ được rước về thờ trong chùa Bà để khách gần xa đến chiêm bái, thỉnh cầu. Sự xuất hiện thần Thành Hoàng trong tế lễ với ngai thờ riêng đã chứng tỏ một điều rằng, dù là các vị thần của người Việt hay người Hoa đều phải chịu sự cai quản của Thành Hoàng của bản xứ. Sau ngày tế thần, đến ngày thứ hai và ngày thứ ba sẽ là hai ngày hội. Ban tế lễ và ban tổ chức hội đều phải chịu sự cai quản và hướng dẫn của chính quyền cảng thị. Ngày tế thần là một nghi thức tín ngưỡng, ngày hội mới là lúc phô diễn được những vẻ đẹp văn hóa của cảng thị xưa. Khách thập phương xa gần đều hội tụ về Nước Mặn và chờ đợi từ vài ngày trước. Sau tế lễ họ được mới vào chùa cầu để cúng và dự hội. Nghi thức mong chờ nhất đó là hình thức rước các biểu trưng diễu hành đường phố để tưởng nhớ tới công lao của cha ông, những người đã biến vùng sình lầy này trở thành một cảng thị sầm uất ở miền cực Nam của Việt Nam lúc bấy giờ. Những hình người tượng trưng như: người vỡ ruộng đắp bờ, kẻ chặt cây phá rừng ngập mặn, kẻ giăng lưới đánh cá, người chăn nuôi gia súc.v.v… đều được đặt lên một kiệu tiếp nối nhau khiêng đi. Lại còn có hình ảnh biểu trưng cho tàu thuyền viễn dương với những tay chèo vạm vỡ đã vượt qua biết bao sóng gió đã làm sống lại cảnh tượng của cảng thị trong những ngày đầu thời kỳ phồn vinh. Phật giáo và Đạo giáo cũng thuận theo bước chân di cư của người Việt, sau đó là người Hoa đến Nước Mặn nên trong ngày hội Nước Mặn còn có lễ rước biểu trưng Hà Tiên Cô đang ngồi trong tòa hoa sen có cánh khi cụp khi xòe vô cùng ấn tượng đã thu hút sự chú ý của người xem. Người dân từ khắp nơi đổ vể Bình Định tham dự lễ hội Nước Mặn Việc rước các biểu trưng diễu hành qua phố phường đã đánh thức những truyền thống tốt đẹp của cha ông ta trong quá trình mở nước và xây dựng một vùng đất mới. Sau lễ rước biểu trưng, ban ngày sẽ tổ chức các trò chơi dân gian. Tùy điều kiện tổ chức của mỗi năm nhưng nhìn chung là có các trò như: kéo co, đấu vật, chơi cù, chọi gà, đấu võ, bắt vịt, đập ấm, nấu cơm thi, bịt mắt bắt dê. Còn có trò chơi tao nhã như thả thơ, hô bài chòi, xổ cổ nhơn, đánh cờ người. Có trò chơi được truyền từ người Hoa như đốt cây bông hay đổ giàn. Ban đêm, các gánh hát nổi tiếng của phủ Quy Nhơn sẽ tới hát bả trạo và diễn tuồng; còn có tiết muc múa lục cúng của các phật tử. Các trò chơi dân gian và các tiết mục văn nghệ múa hát đã thu hút lượng đông đảo người trong vùng cũng như khách phương xa đến dự hội cả ngày lẫn đêm. Bởi vì thế trong cả 3 ngày lễ hội Nước Mặn thời xưa, người dân ở phủ Quy Nhơn luôn sống trong niềm vui hân hoan và bầu không khí ngày hội mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Trên tất cả các tuyến phố, người Việt cùng người Hoa, người từ các nước Đông Nam Á và phương Tây sẽ tới truyền giáo, buôn bán và cùng chung vui. Từ giữa thế kỷ thứ XVIII trở về sau, biển đã lùi ra xa, tàu thuyền lớn cũng không vào Nước Mặn được nữa, cảng thị dần dần suy tàn, theo đó cảng thị Quy Nhơn bắt đầu ra đời vào cuối thế kỷ thứ XIX sang đầu thế kỷ thứ XX. Người dân Nước Mặn, nhất là những thương nhân người Hoa đã chuyển về Quy Nhơn, hay các thị trấn thị tứ trong vùng hoặc đi xa vào tận Chợ Lớn - Sài Gòn để buôn bán. Thế nhưng đến ngày mở hội họ vẫn trở về Nước Mặn như là trở về quê hương một thuở của họ vậy. Lễ hội Nước Mặn là một lễ hội truyền thống của tỉnh Bình Định Phần hội ngày nay không còn nghi thức rước biểu trưng trên các tuyến phố như xưa nhưng vẫn có nhiều trò chơi truyền thống, ngoài ra còn tổ chức thi đấu bóng chuyền giao lưu giữa các xã lân cận. Ban đêm vẫn mời các gánh hát trong vùng về diễn suốt mấy tối của lễ hội. Cùng với sự suy tàn của cảng thị, màu sắc cổ truyền của lễ hội Nước Mặn cũng ngày càng phai nhạt đi sau bao thăng trầm và biến động theo năm tháng. Lễ hội Nước Mặn sẽ là hồi ức về một đô thị thương cảng lớn nhất của phủ Quy Nhơn trước khi suy tàn, hóa thân thành một thành phố biển Quy Nhơn của tỉnh Bình Định như ngày nay.

Related Figures

Lễ hội “Bung Lổ” của người Dao Họ

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 5/5- 15/5 Âm lịch Lễ hội “Bung Lổ”, hay còn gọi là lễ hội Cầu mưa truyền thống của người Dao Họ (Dao quần trắng) tại xã Đông An, Văn Yên mang đậm giá trị văn hóa truyền thống độc đáo và làm nên bản sắc văn hóa đặc sắc của người Dao Họ. Lễ hội “Bung Lổ” của người Dao Họ Dân tộc Dao từ thời xa xưa sống chủ yếu dựa vào ruộng, nương, tự cung tự cấp với những phương thức canh tác cổ truyền dựa vào tự nhiên là chính. Trước đây, thời tiết thường hạn hán kéo dài, mùa màng thất thu khoảng từ 3 năm đến 5 năm, người Dao Họ trong xã lại họp nhau lại để tổ chức Lễ hội “Bung Lổ”. Họ cầu xin trời đất, Ngọc Hoàng, Thiên Lôi và các đấng thần linh, tổ tiên, ông bà phù hộ cho dân làng có một năm mới làm ăn thuận lợi, mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu, gà lợn đầy sân, thóc lợn đầy nhà. Lễ hội Cầu mưa - “Bung Lổ” có quy mô toàn xã, do đó việc tổ chức lễ hội sẽ được bàn bạc và thống nhất trong toàn xã. Sau khi việc tổ chức lễ hội được thống nhất, dân làng sẽ quyết định chọn và tổ chức lễ hội tại một gia đình trong xã. Gia đình được chọn để tổ chức lễ hội phải là gia đình có uy tín trong làng và trong nhà cũng có người làm “thầy múa” hoặc "thầy đạo". Chủ nhà phải là một người am hiểu về lễ hội và có kinh nghiệm trong việc tổ chức lễ hội. Thông thường thì lễ hội “Bung Lổ” sẽ được tổ chức khoảng từ ngày mùng 5 đến ngày 15 tháng 5 Âm lịch. Khác với những lễ hội khác, thì lễ hội này, thầy múa là người giữ vai trò chủ đạo trong tiến trình của lễ hội. Trong lễ hội, những lễ vật và dụng cụ liên quan đến nghi lễ như: gà, lợn, gạo, rượu, hương, giấy bản màu… sẽ được chủ nhà lo liệu. Lễ vật cần thiết đặt trên bàn thờ chỉ là một mâm cúng đơn giản, các lễ vật sẽ chỉ mang tính tượng trưng và ý tưởng. Ngoài ra còn phải sử dụng thêm một số dụng cụ khác như: mâm cúng, lán cúng “Màn giù”, mặt nạ, thanh la, cờ đuôi rồng, đao, kiếm gỗ… Người Dao Họ thực hiện nghi thức cúng Ngọc Hoàng Vào khoảng giờ Thìn ngày thứ nhất của lễ hội “Bung Lổ”, thầy Tam nguyên cùng với đồ đệ đánh chiêng, gõ trống múa nghi lễ và tiến vào ngõ chủ nhà làm lễ. Đi đầu phải là một thầy Tam nguyên mặc áo đỏ, tay cầm đao gỗ; còn một thầy phụ thì mặc áo vàng, tay cầm kiếm gỗ vừa đi vừa múa theo điệu mở đường. Tiếp theo sẽ là hai người múa “vạn pù” tay cầm dải vải có tua múa theo điệu “trừ tà”. Người đeo mặt nạ phải là ông “sán cô” tượng trưng cho người khai thiên lập địa và múa các điệu múa mang tính chất vui hoặc mang tính phồn thực làm động tác giao lưu với đất trời. Đi giữa sẽ là một thầy cầm sách và kiếm phép, cái lanh, “lệnh bài”, theo sau thì là một vài học trò. Đến gần khu vực lán cúng, ông thầy làm lễ xua đuổi tà ma lấy lán để làm lễ cầu mưa. Tiếp theo sẽ là màn cúng “Thào Phanh” (cúng, múa mời tổ tiên). Màn cúng này được tiến hành ở trong nhà và ở ngay gian chính giữa có đặt bàn thờ. Mâm cúng rất đơn giản, chỉ có mấy thẻ hương, nước chè và chén. Toàn bộ sớ được thầy viết trong vòng 6 ngày sẽ được để lên trên bàn thờ trong suốt quá trình diễn ra nghi lễ. Nội dung của màn cúng là để báo với thần công, thổ địa, tam nguyên, tam thanh hôm nay gia chủ làm lễ tiến hành lễ hội cầu mưa. Mỗi đoạn cúng dài khoảng 2 tiếng rồi chuyển sang múa. Đến cuối của màn cúng là giai đoạn thăng hoa và hóa phép của ông thầy cúng, biến hóa ngọn nến trong mâm cúng thành những viên ngọc có các màu trắng, đỏ, xanh khác nhau và tặng cho gia chủ. Những viên ngọc này chỉ là một hình ảnh tượng trưng, được những người tham gia trong lễ hội tưởng tượng ra. Gia đình nào tổ chức lễ hội cầu mưa mà ông thầy hóa phép thành ngọc và được tặng viên ngọc đó thì vào năm đó không chỉ riêng gia đình này mà ngay cả dân làng cũng sẽ được phù hộ làm ăn phát đạt, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt bội thu. Đến màn cúng thứ 3 là màn cúng vào lán (Pẹa Tàn). Khi bắt đầu vào màn cúng này, cả ông thầy đạo và ông thầy múa cùng làm thủ tục cúng tế. Nội dung của bài cúng vẫn là báo cáo và mời thần linh, tổ tiên về tham dự lễ cầu mưa và công nhận, phù hộ cho con cháu mùa màng tươi tốt, mưa thuận gió hòa, nhà nhà no ấm hạnh phúc. Vào ban đêm thì diễn ra màn múa cao trào nhất của lễ hội Cầu mưa. Các thầy dùng gậy, đao, kiếm để múa, mặt nạ sẽ không được dùng múa trong màn này. Màn này cũng có một điệu múa gà độc đáo. Gà được dùng ở đây là gà thật dùng để múa và dâng lễ. Mỗi vị thần tới dự sẽ đều được dâng cúng lễ một con gà. Những con gà này đều do các ông thầy cầm múa. Các thầy phụ lễ sẽ cầm gà múa khắp lán thờ nhằm nhặt hết xấu xa. Đội hình múa sẽ múa theo hình vòng tròn, mỗi vòng múa sẽ có động tác khác nhau như múa dứ mổ, múa cầm gà ngang lưng, múa để gà trên đầu gối nhảy lò cò, múa dâng gà lên cao, mỗi động tác múa phải múa ba vòng. Kết thúc điệu múa gà là điệu trống đổ hồi chín tiếng, tượng trưng gà vỗ cánh bay xa, bay cao, mang những cái xấu xa đổ ra sông, ra biển. Màn cúng mang ý nghĩa quan trọng nhất trong lễ hội là màn cúng lấy dòng làm nước, màn cúng này đánh dấu sự thành công của lễ hội. Khi hai ông thầy ngồi trên đài, thì ở phía dưới bà con dân bản sẽ lấy cây, cỏ đốt thành ngọn lửa. Hành động này có ngụ ý hăm dọa, nếu không lấy được con dòng về làm nước thì sẽ tiếp tục đốt lửa thiêu cháy con dòng. Màn này diễn ra trong vòng hai tiếng, thường thì sau khoảng thời gian đó trời sẽ có mưa thật. Nhưng nếu đợi mãi trời không mưa thì họ sẽ làm một dòng nước giả tưới đều khắp giống như có mưa tới thật. Khi có mưa, tất cả mọi người sẽ cùng hô thật to “Có mưa rồi”. Như vậy có nghĩa là Ngọc Hoàng đã nghe thấy lời cầu khấn của thần dân ở dưới hạ giới, sai thiên lôi tạo mưa để cứu giúp cho người dân bản. Biết ơn Ngọc Hoàng, thần linh, tổ tiên phù hộ cho mưa xuống, gia chủ sẽ mổ lợn, mổ gà để làm lễ vật tạ ơn. Một con lợn được mổ ra sẽ chia làm nhiều phần, làm lễ cúng, khấn dâng lễ vật để tạ ơn đến từng vị. Lễ hội "Bung Lổ" của người Dao Họ Lễ hội “Bung Lổ” là lễ hội Cầu mưa đặc sắc của người Dao Họ xã Đông An (Văn Yên) lễ hội này cần được bảo tồn và gìn giữ./.

Lễ hội “Bung Lổ”, hay còn gọi là lễ hội Cầu mưa truyền thống của người Dao Họ (Dao quần trắng) tại xã Đông An, Văn Yên mang đậm giá trị văn hóa truyền thống độc đáo và làm nên bản sắc văn hóa đặc sắc của người Dao Họ.

Lễ hội “Bung Lổ” của người Dao Họ Dân tộc Dao từ thời xa xưa sống chủ yếu dựa vào ruộng, nương, tự cung tự cấp với những phương thức canh tác cổ truyền dựa vào tự nhiên là chính. Trước đây, thời tiết thường hạn hán kéo dài, mùa màng thất thu khoảng từ 3 năm đến 5 năm, người Dao Họ trong xã lại họp nhau lại để tổ chức Lễ hội “Bung Lổ”. Họ cầu xin trời đất, Ngọc Hoàng, Thiên Lôi và các đấng thần linh, tổ tiên, ông bà phù hộ cho dân làng có một năm mới làm ăn thuận lợi, mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu, gà lợn đầy sân, thóc lợn đầy nhà. Lễ hội Cầu mưa - “Bung Lổ” có quy mô toàn xã, do đó việc tổ chức lễ hội sẽ được bàn bạc và thống nhất trong toàn xã. Sau khi việc tổ chức lễ hội được thống nhất, dân làng sẽ quyết định chọn và tổ chức lễ hội tại một gia đình trong xã. Gia đình được chọn để tổ chức lễ hội phải là gia đình có uy tín trong làng và trong nhà cũng có người làm “thầy múa” hoặc "thầy đạo". Chủ nhà phải là một người am hiểu về lễ hội và có kinh nghiệm trong việc tổ chức lễ hội. Thông thường thì lễ hội “Bung Lổ” sẽ được tổ chức khoảng từ ngày mùng 5 đến ngày 15 tháng 5 Âm lịch. Khác với những lễ hội khác, thì lễ hội này, thầy múa là người giữ vai trò chủ đạo trong tiến trình của lễ hội. Trong lễ hội, những lễ vật và dụng cụ liên quan đến nghi lễ như: gà, lợn, gạo, rượu, hương, giấy bản màu… sẽ được chủ nhà lo liệu. Lễ vật cần thiết đặt trên bàn thờ chỉ là một mâm cúng đơn giản, các lễ vật sẽ chỉ mang tính tượng trưng và ý tưởng. Ngoài ra còn phải sử dụng thêm một số dụng cụ khác như: mâm cúng, lán cúng “Màn giù”, mặt nạ, thanh la, cờ đuôi rồng, đao, kiếm gỗ… Người Dao Họ thực hiện nghi thức cúng Ngọc Hoàng Vào khoảng giờ Thìn ngày thứ nhất của lễ hội “Bung Lổ”, thầy Tam nguyên cùng với đồ đệ đánh chiêng, gõ trống múa nghi lễ và tiến vào ngõ chủ nhà làm lễ. Đi đầu phải là một thầy Tam nguyên mặc áo đỏ, tay cầm đao gỗ; còn một thầy phụ thì mặc áo vàng, tay cầm kiếm gỗ vừa đi vừa múa theo điệu mở đường. Tiếp theo sẽ là hai người múa “vạn pù” tay cầm dải vải có tua múa theo điệu “trừ tà”. Người đeo mặt nạ phải là ông “sán cô” tượng trưng cho người khai thiên lập địa và múa các điệu múa mang tính chất vui hoặc mang tính phồn thực làm động tác giao lưu với đất trời. Đi giữa sẽ là một thầy cầm sách và kiếm phép, cái lanh, “lệnh bài”, theo sau thì là một vài học trò. Đến gần khu vực lán cúng, ông thầy làm lễ xua đuổi tà ma lấy lán để làm lễ cầu mưa. Tiếp theo sẽ là màn cúng “Thào Phanh” (cúng, múa mời tổ tiên). Màn cúng này được tiến hành ở trong nhà và ở ngay gian chính giữa có đặt bàn thờ. Mâm cúng rất đơn giản, chỉ có mấy thẻ hương, nước chè và chén. Toàn bộ sớ được thầy viết trong vòng 6 ngày sẽ được để lên trên bàn thờ trong suốt quá trình diễn ra nghi lễ. Nội dung của màn cúng là để báo với thần công, thổ địa, tam nguyên, tam thanh hôm nay gia chủ làm lễ tiến hành lễ hội cầu mưa. Mỗi đoạn cúng dài khoảng 2 tiếng rồi chuyển sang múa. Đến cuối của màn cúng là giai đoạn thăng hoa và hóa phép của ông thầy cúng, biến hóa ngọn nến trong mâm cúng thành những viên ngọc có các màu trắng, đỏ, xanh khác nhau và tặng cho gia chủ. Những viên ngọc này chỉ là một hình ảnh tượng trưng, được những người tham gia trong lễ hội tưởng tượng ra. Gia đình nào tổ chức lễ hội cầu mưa mà ông thầy hóa phép thành ngọc và được tặng viên ngọc đó thì vào năm đó không chỉ riêng gia đình này mà ngay cả dân làng cũng sẽ được phù hộ làm ăn phát đạt, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt bội thu. Đến màn cúng thứ 3 là màn cúng vào lán (Pẹa Tàn). Khi bắt đầu vào màn cúng này, cả ông thầy đạo và ông thầy múa cùng làm thủ tục cúng tế. Nội dung của bài cúng vẫn là báo cáo và mời thần linh, tổ tiên về tham dự lễ cầu mưa và công nhận, phù hộ cho con cháu mùa màng tươi tốt, mưa thuận gió hòa, nhà nhà no ấm hạnh phúc. Vào ban đêm thì diễn ra màn múa cao trào nhất của lễ hội Cầu mưa. Các thầy dùng gậy, đao, kiếm để múa, mặt nạ sẽ không được dùng múa trong màn này. Màn này cũng có một điệu múa gà độc đáo. Gà được dùng ở đây là gà thật dùng để múa và dâng lễ. Mỗi vị thần tới dự sẽ đều được dâng cúng lễ một con gà. Những con gà này đều do các ông thầy cầm múa. Các thầy phụ lễ sẽ cầm gà múa khắp lán thờ nhằm nhặt hết xấu xa. Đội hình múa sẽ múa theo hình vòng tròn, mỗi vòng múa sẽ có động tác khác nhau như múa dứ mổ, múa cầm gà ngang lưng, múa để gà trên đầu gối nhảy lò cò, múa dâng gà lên cao, mỗi động tác múa phải múa ba vòng. Kết thúc điệu múa gà là điệu trống đổ hồi chín tiếng, tượng trưng gà vỗ cánh bay xa, bay cao, mang những cái xấu xa đổ ra sông, ra biển. Màn cúng mang ý nghĩa quan trọng nhất trong lễ hội là màn cúng lấy dòng làm nước, màn cúng này đánh dấu sự thành công của lễ hội. Khi hai ông thầy ngồi trên đài, thì ở phía dưới bà con dân bản sẽ lấy cây, cỏ đốt thành ngọn lửa. Hành động này có ngụ ý hăm dọa, nếu không lấy được con dòng về làm nước thì sẽ tiếp tục đốt lửa thiêu cháy con dòng. Màn này diễn ra trong vòng hai tiếng, thường thì sau khoảng thời gian đó trời sẽ có mưa thật. Nhưng nếu đợi mãi trời không mưa thì họ sẽ làm một dòng nước giả tưới đều khắp giống như có mưa tới thật. Khi có mưa, tất cả mọi người sẽ cùng hô thật to “Có mưa rồi”. Như vậy có nghĩa là Ngọc Hoàng đã nghe thấy lời cầu khấn của thần dân ở dưới hạ giới, sai thiên lôi tạo mưa để cứu giúp cho người dân bản. Biết ơn Ngọc Hoàng, thần linh, tổ tiên phù hộ cho mưa xuống, gia chủ sẽ mổ lợn, mổ gà để làm lễ vật tạ ơn. Một con lợn được mổ ra sẽ chia làm nhiều phần, làm lễ cúng, khấn dâng lễ vật để tạ ơn đến từng vị. Lễ hội "Bung Lổ" của người Dao Họ Lễ hội “Bung Lổ” là lễ hội Cầu mưa đặc sắc của người Dao Họ xã Đông An (Văn Yên) lễ hội này cần được bảo tồn và gìn giữ./.

Related Figures

Lễ hội đình Hả

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/1- 16/1 Âm lịch (lehoi.info)- Hội đình Hả là một lễ hội ở đình làng Hả, thuộc xã Tân Trung, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang vào ngày 15, 16 tháng Giêng âm lịch hàng năm, trùng ngày với hội ở Phồn Xương - Yên Thế. Lễ hội đình Hả tại Bắc Giang Trong những năm cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp đã nổ súng tấn công cuộc xâm chiếm hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang. Ngày 16/03/1884 quân Pháp tiến đánh Tỉnh đạo (Yên Thế), sau đó tiếp tục tấn công lên Thái Nguyên. Trên đường đi, chúng đã bị nghĩa binh Yên Thế đứng đầu là Đề Nắm chặn đánh ở Đức Lân và đã bị thua trận một cách thảm hại. Sau trận thắng này, nghĩa binh Yên Thế đã rút về đình Hả để làm lễ tế cờ khởi nghĩa, mở đầu cho phong trào khởi nghĩa Yên Thế nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam. Để kỷ niệm về phong trào khởi nghĩa Yên Thế, các cấp chính quyền địa phương đã cho mở lễ hội Yên Thế tại Phồn Xương - nơi đặt đại bản doanh của tướng Đề Thám năm xưa vào ngày 16/3 hàng năm. Ngày nay, đình Hả thường tổ chức dâng hương để tưởng niệm công lao của nghĩa quân Yên thế. Từ đó đến nay ngày 16/3 đã đi vào tâm trí của mọi người. Cũng vì để ghi nhớ sự kiện lịch sử này mà nhân dân ở đình làng Hả đã cho tạc một pho tượng ông Lương Văn Nắm (tượng trưng) để thờ cúng ở ngay thánh cung cùng thành hoàng làng Cao Sơn - Quý Minh. Ngày 16 tháng 3 ở đình Hả đã diễn ra lễ hội mang ý nghĩa lịch sử sâu sắc. Trong hội này, có sự tham gia của các cấp, các ngành và người dân địa phương đến dự ở sân đình để làm lễ dâng hương tưởng niệm, ghi nhớ công lao của vị thủ lĩnh đầu tiên của phong trào khởi nghĩa Yên Thế. Lễ tưởng niệm trong lễ hội này được tổ chức theo nghi thức mới. Cùng với việc thắp hương làm lễ tưởng niệm, thành hoàng làng, người dân còn thắp hương tưởng niệm Lương Văn Nắm tại thánh cung. Sau đó tổ chức khai lễ hội ngay trước sân đình. Trong khu vực đình, chùa Hả, bà con nhân dân xã Tân Trung vẫn duy trì các trò chơi dân gian của hội. Lễ hội đình Hả tại Bắc Giang tưởng nhớ công ơn của ông Lương Văn Nắm Hội 16/3 tại đình Hả cũng là một bộ phận thuộc lễ hội Yên Thế. Có năm, ở khu vực đình Hả của huyện Tân Yên đã trống dong cờ mở rộn ràng, còn có đội kỳ lân sư tử của xã Phúc Hoà tới múa thờ ở đình. Còn có các trai trẻ Tân Yên đóng vai làm nghĩa binh cụ Đề đến đình từ sớm 16/3 dự lễ khai mạc. Trong lễ khai mạc này, không khí thật hào hùng và hoành tráng, bài diễn văn tuy ngắn gọn nhưng thúc giục lòng người như tinh thần khởi nghĩa Yên Thế bất diệt. Tế xong, xe ngựa sẽ chở đội kỳ lân tung cờ, đánh trống ngồi trên xe ngựa đang chạy. Cả trăm con ngựa lần lượt nối đuôi nhau tiến vào trung tâm lễ hội Phồn Xương. Từ đình Hả cho đến Phồn Xương, đường làng ven đồi, có những luỹ tre. Các chàng trai Cầu Vồng mặc quần áo nâu, đầu và bụng có chít một chiếc khăn đỏ, người cầm cung, cầm kiếm, cầm giáo, cầm cờ, người cầm súng, thúc ngựa tiến bước. Vó câu nhịp nhàng, tiếng trống giục thùm thùm, bụi hồng tỏa mờ mịt. Khí thế tưng bừng của ngày hội. Người dân háo hức, rầm rập chạy theo, kẻ trước người sau khiến không khí càng tưng bừng phấn khởi; náo nhiệt.

Related Figures

Lễ hội đền Mẫu Nam Cường

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/1 Âm lịch Nam Cường là xã thuộc thành phố Yên Bái xã được hình thành từ những người dân ở tỉnh Nam Định lên mở đất định cư tại xã Cường Nỗ thời xưa. Trong xã Nam Cường, có một cụm quần thể di tích văn hoá tâm linh độc đáo đó là cụm di tích Đình - Đền - Chùa mang dáng dấp đặc trưng của đình chùa thuộc vùng đồng bằng. Đây chính là nơi để người dân trong xã cầu phúc cho cộng đồng và gia đình, đặc biệt Lễ hội Đền Mẫu được tổ chức vào ngày rằm tháng Giêng hàng năm. Quang cảnh lễ hội đền Mẫu Nam Cường Lễ hội đền Mẫu Nam Cường có hai phần chính là phần hội và phần lễ. Phần lễ là phần cầu cho mùa màng tươi tốt, cầu để tránh được thiên tai, cầu để có được sức khoẻ dồi dào, cuộc sống hạnh phúc, ấm no. Sau đó là dâng hương tỏ lòng biết ơn đói với các thủ chiêu và bậc tiền bối đã có công lập xã. Tiếp đến sẽ là lễ thả chim cầu an. Gia đình được các cụ cao niên trong xã chọn để làm lễ thả chim phải có đủ các điều kiện sau: làm ăn phát đạt, khỏe mạnh, con cháu thì phải học hành đỗ đạt, ngoan hiền. 12 con chim bồ câu được thả với ước mong 12 tháng trong năm của dân làng được hạnh phúc bình an. Lễ thả chim cầu an là một nét đẹp văn hoá đầy ý nghĩa tinh thần của bà con nhân dân trong vùng, thể hiện nguyện ước giữa con người với thế giới tự nhiên. Lễ thả chim cầu an tại đền Mẫu Nam Cường Ngay sau lễ thả chim cầu an sẽ là lễ mừng thọ các vị cao niên trong xã để thể hiện đạo lý kính già yêu trẻ truyền thống của con người Việt Nam. Trong lễ hội này còn tổ chức lễ trao phần thưởng cho các cháu học sinh giỏi là con em của người dân trong xã với mong ước con cháu trong làng trong xã ngày càng học rộng tài cao, đời đời phúc đức để góp phần xây dựng quê hương đất nước. Khi phần lễ kết thúc, tất cả những người dân trong làng, nhất là những nam nữ thanh niên sẽ tham gia vào phần hội với nhiều hoạt động văn hoá, thể thao rất phong phú như: hội đua thuyền dâng hương, cầu lông, kéo co, chọi gà, cờ tướng… Lễ hội này sẽ kéo dài đến tối ngày rằm tháng Giêng, cùng với các tiết mục văn nghệ của chính những người dân xã Nam Cường. Và đặc biệt là lễ hội thả hoa đăng cầu an được tổ chức ngay tại hồ phía trước của Đình - Đền - Chùa Nam Cường với sự tham gia của đông đảo người dân. Đua thuyền tại lễ hội đền Mẫu Nam Cường Các hoạt động văn hoá, tín ngưỡng cùng với những trò chơi dân gian giúp cho mọi người trong làng gần gũi nhau hơn. Không những thế những hoạt động này còn mang đậm giá trị lịch sử, văn hoá truyền thống, mang đậm những chuẩn mực đạo đức, tính hướng thiện được người dân truyền đạt và tác động trực tiếp tới nhận thức của thế hệ trẻ. Từ đó tạo dựng nên bề dày lịch sử văn hoá của xã Nam Cường, thành phố Yên Bái.

Nam Cường là xã thuộc thành phố Yên Bái xã được hình thành từ những người dân ở tỉnh Nam Định lên mở đất định cư tại xã Cường Nỗ thời xưa. Trong xã Nam Cường, có một cụm quần thể di tích văn hoá tâm linh độc đáo đó là cụm di tích Đình - Đền - Chùa mang dáng dấp đặc trưng của đình chùa thuộc vùng đồng bằng. Đây chính là nơi để người dân trong xã cầu phúc cho cộng đồng và gia đình, đặc biệt Lễ hội Đền Mẫu được tổ chức vào ngày rằm tháng Giêng hàng năm.

Quang cảnh lễ hội đền Mẫu Nam Cường Lễ hội đền Mẫu Nam Cường có hai phần chính là phần hội và phần lễ. Phần lễ là phần cầu cho mùa màng tươi tốt, cầu để tránh được thiên tai, cầu để có được sức khoẻ dồi dào, cuộc sống hạnh phúc, ấm no. Sau đó là dâng hương tỏ lòng biết ơn đói với các thủ chiêu và bậc tiền bối đã có công lập xã. Tiếp đến sẽ là lễ thả chim cầu an. Gia đình được các cụ cao niên trong xã chọn để làm lễ thả chim phải có đủ các điều kiện sau: làm ăn phát đạt, khỏe mạnh, con cháu thì phải học hành đỗ đạt, ngoan hiền. 12 con chim bồ câu được thả với ước mong 12 tháng trong năm của dân làng được hạnh phúc bình an. Lễ thả chim cầu an là một nét đẹp văn hoá đầy ý nghĩa tinh thần của bà con nhân dân trong vùng, thể hiện nguyện ước giữa con người với thế giới tự nhiên. Lễ thả chim cầu an tại đền Mẫu Nam Cường Ngay sau lễ thả chim cầu an sẽ là lễ mừng thọ các vị cao niên trong xã để thể hiện đạo lý kính già yêu trẻ truyền thống của con người Việt Nam. Trong lễ hội này còn tổ chức lễ trao phần thưởng cho các cháu học sinh giỏi là con em của người dân trong xã với mong ước con cháu trong làng trong xã ngày càng học rộng tài cao, đời đời phúc đức để góp phần xây dựng quê hương đất nước. Khi phần lễ kết thúc, tất cả những người dân trong làng, nhất là những nam nữ thanh niên sẽ tham gia vào phần hội với nhiều hoạt động văn hoá, thể thao rất phong phú như: hội đua thuyền dâng hương, cầu lông, kéo co, chọi gà, cờ tướng… Lễ hội này sẽ kéo dài đến tối ngày rằm tháng Giêng, cùng với các tiết mục văn nghệ của chính những người dân xã Nam Cường. Và đặc biệt là lễ hội thả hoa đăng cầu an được tổ chức ngay tại hồ phía trước của Đình - Đền - Chùa Nam Cường với sự tham gia của đông đảo người dân. Đua thuyền tại lễ hội đền Mẫu Nam Cường Các hoạt động văn hoá, tín ngưỡng cùng với những trò chơi dân gian giúp cho mọi người trong làng gần gũi nhau hơn. Không những thế những hoạt động này còn mang đậm giá trị lịch sử, văn hoá truyền thống, mang đậm những chuẩn mực đạo đức, tính hướng thiện được người dân truyền đạt và tác động trực tiếp tới nhận thức của thế hệ trẻ. Từ đó tạo dựng nên bề dày lịch sử văn hoá của xã Nam Cường, thành phố Yên Bái.

Related Figures

Lễ hội Lồng Tồng của người Tày

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 25/12 Âm lịch Với người Tày tại xã Kiên Thành, Trấn Yên (Yên Bái), hội Lồng Tồng (hay là lễ hội cầu mùa) chính là một trong những lễ hội truyền thống đặc sắc vui nhất và lớn nhất của người dân tộc Tày được tổ chức trong dịp đầu xuân năm mới. Lễ hội này được tổ chức vào đúng ngày rằm tháng Giêng nhằm gửi gắm những ước mong của dân làng, cầu cho vạn vật sinh sôi nảy nở, mưa thuạn gió hòa, người người hạnh phúc và ấm no. Lễ hội Lồng Tồng của người Tày ở Kiên Thành Cũng giống như những lễ hội khác, hội Lồng Tồng của người Tày tại Kiên Thành cũng được chia làm hai phần, là phần hội và phần lễ. Phần lễ gồm có những nghi thức truyền thống trang trọng, phần mở đầu là phần rước hoa quả, cỗ bánh. Sau phần rước là lễ cúng Thành hoàng bản thổ, thần suối, thần núi: Núi Khau Raáo nằm ở phía Tây, núi Khau Thú nằm ở phía Bắc, núi Khau Cuốm nằm ở phía Nam và miếu Bà Chúa nằm ở phía Đông cầu cho mưa thuận gió hòa, cầu cho cây cối tốt tươi, cầu cho chim muông, sâu bọ không phá hoại mùa màng, dân làng luôn khoẻ mạnh, đời sống của nhân dân luôn được ấm no, hạnh phúc. Lễ rước hoa quả, cỗ bánh trong lễ hội Lồng Tồng Theo tục truyền từ thời xưa, lễ cúng Thành hoàng bản thổ của bản Roòng Raáo sẽ được nhân dân dâng lên 6 cỗ bánh, mỗi cỗ bánh gồm 6 loại bánh là bánh uôi, bánh phong trú, bánh bìa, bánh tẻ, bánh nổ, bánh trà lam và một cây hoa 12 tầng tượng trưng cho 12 tháng trong năm đơm hoa kết trái. Thân của cây hoa được làm bằng cây găng gai, còn những bông hoa được làm bằng cây dâu, những vòng hoa tròn được cắm vào cành găng tạo thành cành hoa. Mỗi đầu của cành hoa được treo một quả khế tượng trưng cho những hạt lúa mẩy nặng bông. Mỗi cỗ bánh phải kèm theo 7 mâm cỗ là những món ẩm thực được chế biến bằng thịt gà, thịt lợn và xôi nếp. Đi cùng với mâm cỗ bánh là cờ thần, chiêng, trống… rộn rã làm bừng lên không khí vui tươi nhộn nhịp của cả vùng. Cùng với lễ cúng Thành hoàng bản thổ sẽ là lễ cúng miếu bà Chúa. Theo như truyền thuyết rằng có nàng công chúa Quỳnh Hoa vào bản Roòng Raáo và chứng kiến cảnh dân làng ở đây khổ quá, không có cả bát để ăn mà phải dùng lá rừng để làm bát. Cảm thông với người dân, nên nàng quyết định quay lại triều đình để xin triều đình có giải pháp cứu giúp dân lành. Trên đường đi, đến thác Rào Hạ không may nàng bị nước lũ cuốn trôi, từ đó dân làng đã lập miếu thờ công chúa ngay trên chính bờ thác Rào Hạ và đặt tên là miếu Bà Chúa. Hàng năm, cứ vào đúng ngày 25 tháng Chạp âm lịch, nhân dân trong làng lại sắm sửa lễ vật mang dâng cúng Bà Chúa để cảm ơn bà đã phù hộ cho dân làng. Tất cả mọi nghi lễ đều nói lên tấm lòng thành kính, biết ơn của dân làng đối với đất trời và đối với người xưa. Xen với phần lễ, các nghệ nhân, các già làng trưởng bản cùng với nhân dân các dân tộc tại xã Kiên Thành cùng nhau trình diễn màn đồng diễn gồm 6 điệu dậm cổ đó là: dậm đàn tính, dậm víi (múa quạt), dậm chéo rứa (múa chèo thuyền), dậm teo kéo, dậm đáp (múa kiếm) và dậm quét sân rồng. Các điệu múa đều thể hiện sự phối hợp nhịp nhàng, sự khéo léo của những đôi bàn tay con người và tinh thần thượng võ của dân tộc. Ngay sau phần lễ sẽ là phần hội sôi nổi và vui nhộn cùng với sự tham gia của hàng ngàn người dân trong xã và du khách thập phương cùng với các trò chơi dân gian như: đánh yến, bắn nỏ, ném còn, đẩy gậy… Tất cả những trò chơi trong hội đã thể hiện được sự gần gũi và tinh thần cộng động cao của những người tham gia. Những hình thức sinh hoạt mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc đã thực sự là nơi giao lưu giữa các dân tộc Tày, Mông, dao và Kinh trong vùng. Lễ hội Lồng Tồng thu hút hàng ngàn người dân trong xã và du khách thập phương Lễ hội Lồng Tồng không chỉ chưa đựng nét sinh hoạt cộng đồng đặc sắc, mà còn chứa đựng nhiều giá trị nhân văn, còn là nơi tôn vinh văn hóa, phản ánh tâm tư nguyện vọng của người Tày với mong ước cả năm được mùa, khoẻ mạnh và một năm mới thật nhiều tốt lành.

Với người Tày tại xã Kiên Thành, Trấn Yên (Yên Bái), hội Lồng Tồng (hay là lễ hội cầu mùa) chính là một trong những lễ hội truyền thống đặc sắc vui nhất và lớn nhất của người dân tộc Tày được tổ chức trong dịp đầu xuân năm mới. Lễ hội này được tổ chức vào đúng ngày rằm tháng Giêng nhằm gửi gắm những ước mong của dân làng, cầu cho vạn vật sinh sôi nảy nở, mưa thuạn gió hòa, người người hạnh phúc và ấm no.

Lễ hội Lồng Tồng của người Tày ở Kiên Thành Cũng giống như những lễ hội khác, hội Lồng Tồng của người Tày tại Kiên Thành cũng được chia làm hai phần, là phần hội và phần lễ. Phần lễ gồm có những nghi thức truyền thống trang trọng, phần mở đầu là phần rước hoa quả, cỗ bánh. Sau phần rước là lễ cúng Thành hoàng bản thổ, thần suối, thần núi: Núi Khau Raáo nằm ở phía Tây, núi Khau Thú nằm ở phía Bắc, núi Khau Cuốm nằm ở phía Nam và miếu Bà Chúa nằm ở phía Đông cầu cho mưa thuận gió hòa, cầu cho cây cối tốt tươi, cầu cho chim muông, sâu bọ không phá hoại mùa màng, dân làng luôn khoẻ mạnh, đời sống của nhân dân luôn được ấm no, hạnh phúc. Lễ rước hoa quả, cỗ bánh trong lễ hội Lồng Tồng Theo tục truyền từ thời xưa, lễ cúng Thành hoàng bản thổ của bản Roòng Raáo sẽ được nhân dân dâng lên 6 cỗ bánh, mỗi cỗ bánh gồm 6 loại bánh là bánh uôi, bánh phong trú, bánh bìa, bánh tẻ, bánh nổ, bánh trà lam và một cây hoa 12 tầng tượng trưng cho 12 tháng trong năm đơm hoa kết trái. Thân của cây hoa được làm bằng cây găng gai, còn những bông hoa được làm bằng cây dâu, những vòng hoa tròn được cắm vào cành găng tạo thành cành hoa. Mỗi đầu của cành hoa được treo một quả khế tượng trưng cho những hạt lúa mẩy nặng bông. Mỗi cỗ bánh phải kèm theo 7 mâm cỗ là những món ẩm thực được chế biến bằng thịt gà, thịt lợn và xôi nếp. Đi cùng với mâm cỗ bánh là cờ thần, chiêng, trống… rộn rã làm bừng lên không khí vui tươi nhộn nhịp của cả vùng. Cùng với lễ cúng Thành hoàng bản thổ sẽ là lễ cúng miếu bà Chúa. Theo như truyền thuyết rằng có nàng công chúa Quỳnh Hoa vào bản Roòng Raáo và chứng kiến cảnh dân làng ở đây khổ quá, không có cả bát để ăn mà phải dùng lá rừng để làm bát. Cảm thông với người dân, nên nàng quyết định quay lại triều đình để xin triều đình có giải pháp cứu giúp dân lành. Trên đường đi, đến thác Rào Hạ không may nàng bị nước lũ cuốn trôi, từ đó dân làng đã lập miếu thờ công chúa ngay trên chính bờ thác Rào Hạ và đặt tên là miếu Bà Chúa. Hàng năm, cứ vào đúng ngày 25 tháng Chạp âm lịch, nhân dân trong làng lại sắm sửa lễ vật mang dâng cúng Bà Chúa để cảm ơn bà đã phù hộ cho dân làng. Tất cả mọi nghi lễ đều nói lên tấm lòng thành kính, biết ơn của dân làng đối với đất trời và đối với người xưa. Xen với phần lễ, các nghệ nhân, các già làng trưởng bản cùng với nhân dân các dân tộc tại xã Kiên Thành cùng nhau trình diễn màn đồng diễn gồm 6 điệu dậm cổ đó là: dậm đàn tính, dậm víi (múa quạt), dậm chéo rứa (múa chèo thuyền), dậm teo kéo, dậm đáp (múa kiếm) và dậm quét sân rồng. Các điệu múa đều thể hiện sự phối hợp nhịp nhàng, sự khéo léo của những đôi bàn tay con người và tinh thần thượng võ của dân tộc. Ngay sau phần lễ sẽ là phần hội sôi nổi và vui nhộn cùng với sự tham gia của hàng ngàn người dân trong xã và du khách thập phương cùng với các trò chơi dân gian như: đánh yến, bắn nỏ, ném còn, đẩy gậy… Tất cả những trò chơi trong hội đã thể hiện được sự gần gũi và tinh thần cộng động cao của những người tham gia. Những hình thức sinh hoạt mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc đã thực sự là nơi giao lưu giữa các dân tộc Tày, Mông, dao và Kinh trong vùng. Lễ hội Lồng Tồng thu hút hàng ngàn người dân trong xã và du khách thập phương Lễ hội Lồng Tồng không chỉ chưa đựng nét sinh hoạt cộng đồng đặc sắc, mà còn chứa đựng nhiều giá trị nhân văn, còn là nơi tôn vinh văn hóa, phản ánh tâm tư nguyện vọng của người Tày với mong ước cả năm được mùa, khoẻ mạnh và một năm mới thật nhiều tốt lành.

Related Figures

Lễ hội chém lợn

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 6/1 Âm lịch Hàng năm, cứ vào ngày mồng 6 tết âm lịch, hàng ngàn người lại kéo nhau về thôn Ném Thượng, xã Khắc Niệm, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh để tham dự lễ hội chém lợn tế Thánh, một lễ hội có liên quan đến tín ngưỡng phồn thực. Người dân đang phanh lợn để Thủ đao chém lợn tế lễ Tục truyền rằng: Cuối đời Lý có một vị tướng tên là Lý Đoàn Thượng, sau khi đánh trận đã chạy đến vùng núi này đồn trú và đã chém lợn rừng để nuôi quân sĩ. Từ đó, người dân nơi đây đã lập nên lễ hội chém lợn hằng năm nhằm tưởng nhớ công ơn tướng Lý Đoàn Thượng, người đã có công khai khẩn vùng đất hoang này, để người dân có cuộc sống như ngày hôm nay. Theo tín ngưỡng dân gian mà người dân vùng quê Kinh Bắc truyền lại, máu lợn trong lễ tế thánh là điều tượng trưng cho khả năng sinh sản, sự sung túc, sức sống mãnh liệt, cây cối tươi tốt, mùa màng bội thu... Trước khi nghi lễ rước lợn bắt đầu thì các liền anh liền chị sẽ hát các làn điệu quan họ. Cho đến 10 giờ sáng sẽ bắt đầu nghi lễ rước lợn tế quanh làng trước khi chém lợn tế Thánh. Lợn được chọn để chém trong ngày hội phải được người chủ chọn con lợn giống tốt nhất và bắt đầu nuôi từ tháng 8 năm trước. Lợn sẽ được nhốt vào trong cũi hồng, có con nặng khoảng 1,5 tạ. Đoàn rước lợn này đi vòng làng, đi đến đâu người dân sẽ thi nhau thả tiền vào thùng để cầu may mắn. Khi rước lợn về đến sân đình, cũng là lúc người dân chen lấn để được chứng kiến màn chém lợn. Trước giờ hành lễ, một người đóng là một vị tướng sẽ phất cờ làm lễ. Người được chọn làm tướng phải là người 57 tuổi, là người thành đạt, gia đình êm ấm hạnh phúc. Lợn tế được chói chặt sau đó giăng ra sân để Thủ đao chém. Sau khi thủ đao chém lợn xong, người dân tranh nhau lao tới chỗ có tiết lợn vương vãi trên sân để sờ, với mong cầu may mắn. Thịt lợn tế Thánh sẽ được chia cho dân làng mỗi người một ít với mong muốn cả làng được phát tài, phát lộc. Tuy nhiên, lễ hội chém lợn này đang gặp phải sự phản đối gay gắt từ dư luận cũng như Tổ chức động vật Châu Á và tính chất "tàn bạo" của lễ hội này. Một số ý kiến cho rằng nên bỏ lễ hội này, một số thì cho rằng nên đổi tên thành lễ hội "rước lợn" sẽ thiện cảm hơn. Lợn được nhốt vào cũi gỗ hồng và rước đi khắp làng trước khi tế lễ

Hàng năm, cứ vào ngày mồng 6 tết âm lịch, hàng ngàn người lại kéo nhau về thôn Ném Thượng, xã Khắc Niệm, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh để tham dự lễ hội chém lợn tế Thánh, một lễ hội có liên quan đến tín ngưỡng phồn thực.

Người dân đang phanh lợn để Thủ đao chém lợn tế lễ

Tục truyền rằng: Cuối đời Lý có một vị tướng tên là Lý Đoàn Thượng, sau khi đánh trận đã chạy đến vùng núi này đồn trú và đã chém lợn rừng để nuôi quân sĩ. Từ đó, người dân nơi đây đã lập nên lễ hội chém lợn hằng năm nhằm tưởng nhớ công ơn tướng Lý Đoàn Thượng, người đã có công khai khẩn vùng đất hoang này, để người dân có cuộc sống như ngày hôm nay. Theo tín ngưỡng dân gian mà người dân vùng quê Kinh Bắc truyền lại, máu lợn trong lễ tế thánh là điều tượng trưng cho khả năng sinh sản, sự sung túc, sức sống mãnh liệt, cây cối tươi tốt, mùa màng bội thu... Trước khi nghi lễ rước lợn bắt đầu thì các liền anh liền chị sẽ hát các làn điệu quan họ. Cho đến 10 giờ sáng sẽ bắt đầu nghi lễ rước lợn tế quanh làng trước khi chém lợn tế Thánh. Lợn được chọn để chém trong ngày hội phải được người chủ chọn con lợn giống tốt nhất và bắt đầu nuôi từ tháng 8 năm trước. Lợn sẽ được nhốt vào trong cũi hồng, có con nặng khoảng 1,5 tạ. Đoàn rước lợn này đi vòng làng, đi đến đâu người dân sẽ thi nhau thả tiền vào thùng để cầu may mắn. Khi rước lợn về đến sân đình, cũng là lúc người dân chen lấn để được chứng kiến màn chém lợn. Trước giờ hành lễ, một người đóng là một vị tướng sẽ phất cờ làm lễ. Người được chọn làm tướng phải là người 57 tuổi, là người thành đạt, gia đình êm ấm hạnh phúc. Lợn tế được chói chặt sau đó giăng ra sân để Thủ đao chém. Sau khi thủ đao chém lợn xong, người dân tranh nhau lao tới chỗ có tiết lợn vương vãi trên sân để sờ, với mong cầu may mắn. Thịt lợn tế Thánh sẽ được chia cho dân làng mỗi người một ít với mong muốn cả làng được phát tài, phát lộc. Tuy nhiên, lễ hội chém lợn này đang gặp phải sự phản đối gay gắt từ dư luận cũng như Tổ chức động vật Châu Á và tính chất "tàn bạo" của lễ hội này. Một số ý kiến cho rằng nên bỏ lễ hội này, một số thì cho rằng nên đổi tên thành lễ hội "rước lợn" sẽ thiện cảm hơn. Lợn được nhốt vào cũi gỗ hồng và rước đi khắp làng trước khi tế lễ

Trước khi nghi lễ rước lợn bắt đầu thì các liền anh liền chị sẽ hát các làn điệu quan họ. Cho đến 10 giờ sáng sẽ bắt đầu nghi lễ rước lợn tế quanh làng trước khi chém lợn tế Thánh. Lợn được chọn để chém trong ngày hội phải được người chủ chọn con lợn giống tốt nhất và bắt đầu nuôi từ tháng 8 năm trước. Lợn sẽ được nhốt vào trong cũi hồng, có con nặng khoảng 1,5 tạ. Đoàn rước lợn này đi vòng làng, đi đến đâu người dân sẽ thi nhau thả tiền vào thùng để cầu may mắn. Khi rước lợn về đến sân đình, cũng là lúc người dân chen lấn để được chứng kiến màn chém lợn. Trước giờ hành lễ, một người đóng là một vị tướng sẽ phất cờ làm lễ. Người được chọn làm tướng phải là người 57 tuổi, là người thành đạt, gia đình êm ấm hạnh phúc. Lợn tế được chói chặt sau đó giăng ra sân để Thủ đao chém. Sau khi thủ đao chém lợn xong, người dân tranh nhau lao tới chỗ có tiết lợn vương vãi trên sân để sờ, với mong cầu may mắn. Thịt lợn tế Thánh sẽ được chia cho dân làng mỗi người một ít với mong muốn cả làng được phát tài, phát lộc.

Tuy nhiên, lễ hội chém lợn này đang gặp phải sự phản đối gay gắt từ dư luận cũng như Tổ chức động vật Châu Á và tính chất "tàn bạo" của lễ hội này. Một số ý kiến cho rằng nên bỏ lễ hội này, một số thì cho rằng nên đổi tên thành lễ hội "rước lợn" sẽ thiện cảm hơn.

Lợn được nhốt vào cũi gỗ hồng và rước đi khắp làng trước khi tế lễ

Related Figures

Lễ hội Đồng Nọc Nạn của tỉnh Bạc Liêu

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/2- 17/2 Âm lịch (lehoi.info) - Lễ hội “Đồng Nọc Nạng” hay Đồng Nọc Nạn, diễn ra trong ba ngày từ ngày 15 đến 17 tháng hai âm lịch hàng năm, tại khu di tích Lịch sử Nọc Nạng nằm trong thị trấn Giá Rai, huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu. Lễ hội là dịp để tri ân các bậc tiền nhân đã có công trong việc chống lại bọn cường hào cướp đất của nông dân trong thời kỳ phong kiến, trước khi có Đảng. Lễ hội Đồng Nọc Nạn hay còn gọi Nọc Nạng theo cách gọi của địa phương, được tổ chức tại Di tích lịch sử quốc gia đồng Nọc Nạn ở ấp 4 của xã Phong Thạnh B (Giá Rai). Khu di tích này gồm nhà tưởng niệm, khu mộ gia đình Mười Chức, nhà trưng bày, cụm tượng tái hiện lại trận đánh giữa gia đình Mười Chức chống lại bọn Tây cướp lúa. Lịch sử đã ghi lại: Xưa kia vùng đất Giá Rai vẫn còn hoang vu, chủ yếu là bùn lầy, lau sậy, cỏ dại, rừng tràm, và rất nhiều thú dữ, rắn độc. Thời đó, những người dân tới đây khai hoang phải chặt cây để làm nọc đóng xuống bùn, sau đó gác nạng lên để dựng nhà tránh thú dữ và rắn độc. Cái tên Nọc Nạn cũng ra đời ra từ đó, đây cũng là tên gọi của một cánh đồng và một con rạch. Khu di tích lịch sử đồng Nọc Nạn ở tỉnh Bạc Liêu Trước năm 1900, một nông dân đến khai phá khu rừng ở rạch Nọc Nạn, đã khai hoang được 73 ha. Năm 1908, người nông dân này chết, đã để lại đất cho người con của mình là Hương chánh Nguyễn Thành Luông. Năm 1910, Hương chánh Luông đã làm đơn khẩn 20 ha đất và đã được chính quyền chấp thuận bằng văn bản. Năm 1912, Hương chánh Luông lại tiếp tục dâng đơn xin đo đạc và cấp bằng khoán cho diện tích 73 ha đã khai hoang và cũng được chủ tỉnh Bạc Liêu phê duyệt, có cả tờ bản đồ về phần đất này. Khi Hương chánh Luông mất, con trai của ông là Nguyễn Văn Toại (còn gọi là Biện Toại) là người được thừa kế phần đất. Năm 1917, một Hoa kiều giàu có tiếng ở Bạc Liêu tên là Mã Ngân, người dân nơi đây thường gọi y là Bang Tắc, có ý đồ muốn chiếm đoạt đất của nhà Biện Toại. Là người mưu mô xảo quyệt, Bang Tắc biết rõ đất của nhà Biện Toại đã có bằng khoán tạm, nên hắn đã mua lại đất của bà Nguyễn Thị Dương, khu đất giáp ranh với đất của nhà Biện Toại, nhưng trong hợp đồng lại có ghi ranh giới bao trùm lên đất của nhà anh em Biện Toại. Vụ tranh chấp đất giữa hai bên gia đình Biện Toại và là Bang Tắc đã nổ ra. Qua nhiều lần phán xử, gia đình Biện Toại luôn là bên thua bởi Bang Tắc đã chi nhiều tiền để lót tay cho nhà chức trách. Cuối cùng đất đã về tay Bang Tắc. Ngay sau đó Bang Tắc đã bán khu đất 50 ha này cho người nhà của quan phủ. Từ đó người chủ mới đã bắt anh em anh em nhà Biện Toại phải nộp lại địa tô ngay trên mảnh đất của gia tộc mình. Ngày 13 và 14/2/1928, lính mã tà đến gặp anh em Biện Toại để thực thi lệnh tịch thu lúa. Vì quyết bảo vệ mảnh đất máu thịt của dòng họ, tối ngày 14/2, anh em nhà Biện Toại đã làm lễ cúng vái ông bà tổ tiên, chích máu ăn thề không sợ chết. Sáng ngày 16/2/1928, khi quan lính kéo đến tịch thu lúa, anh em Biện Toại đã dùng dao mác gậy gộc lao ra quyết chiến. Hậu quả, 4 người em của Biện Toại là Nhẫn, Nhịn, Mười Chức, và bà Nghĩa (vợ Mười Chức đang mang thai) đã bị bắn tử vong. Một lính Pháp bị Mười Chức đâm cho thủng bụng. Lễ hội Đồng Nọc Nạn tại tỉnh Bạc Liêu là dịp người dân Bạc Liêu ôn lại tinh thần đấu tranh kiên cường của cha anh Ngày 17/8/1928, Tòa Đại hình Cần Thơ mở phiên tòa xử vụ án đồng Nọc Nạn. Hai luật sư người Pháp đã bào chữa miễn phí cho gia đình nhà Biện Toại. Công tố viên người Pháp cũng đã cho rằng tình cảnh của gia đình Biện Toại cô cùng đáng thương: họ bị những kẻ không có lương tâm đến cướp đất, rồi những người quyền thế tiếp tay với cường hào cướp đất. Công tố viên đã đề nghị tòa tha bổng các thành viên trong gia đình Biện Toại. Luật sư người Pháp cũng đã hết lời ca ngợi tinh thần lao động, chăm chỉ khẩn hoang của gia đình Biện Toại, ý chí kiên cường đấu tranh lại ới thiên nhiên, với cường hào. Để lưu lại sự kiện này, UBND tỉnh Bạc Liêu đã quyết định cho xây dựng khu di tích đồng Nọc Nạn ngay chính nơi đã xảy ra vụ việc năm xưa. Di tích này là chứng tích lịch sử đã thể hiện cho công cuộc đấu tranh của người nông dân Bạc Liêu nói riêng, và nông dân Nam bộ nói chung đã kiên cường đứng lên chống lại những tên địa chủ, ác bá và thực dân đã cướp đoạt ruộng đất của họ. Di tích đồng Nọc Nạn đã được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng là Di tích lịch sử quốc gia vào năm 1991. Hàng năm, cứ đến ngày diễn ra sự kiện, UBND huyện Giá Rai lại tổ chức lễ hội Đồng Nọc Nạng một cách long trọng để tưởng nhớ đến sự kiên cường bất khuất của gia đình Mười Chức. Đây cũng là dịp để nhắc nhớ thế hệ trẻ về truyền thống đấu tranh kiên cường của người dân Bạc Liêu nói riêng và của dân tộc Việt Nam nói chung.

(lehoi.info) - Lễ hội “Đồng Nọc Nạng” hay Đồng Nọc Nạn, diễn ra trong ba ngày từ ngày 15 đến 17 tháng hai âm lịch hàng năm, tại khu di tích Lịch sử Nọc Nạng nằm trong thị trấn Giá Rai, huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu. Lễ hội là dịp để tri ân các bậc tiền nhân đã có công trong việc chống lại bọn cường hào cướp đất của nông dân trong thời kỳ phong kiến, trước khi có Đảng.

Lễ hội Đồng Nọc Nạn hay còn gọi Nọc Nạng theo cách gọi của địa phương, được tổ chức tại Di tích lịch sử quốc gia đồng Nọc Nạn ở ấp 4 của xã Phong Thạnh B (Giá Rai). Khu di tích này gồm nhà tưởng niệm, khu mộ gia đình Mười Chức, nhà trưng bày, cụm tượng tái hiện lại trận đánh giữa gia đình Mười Chức chống lại bọn Tây cướp lúa. Lịch sử đã ghi lại: Xưa kia vùng đất Giá Rai vẫn còn hoang vu, chủ yếu là bùn lầy, lau sậy, cỏ dại, rừng tràm, và rất nhiều thú dữ, rắn độc. Thời đó, những người dân tới đây khai hoang phải chặt cây để làm nọc đóng xuống bùn, sau đó gác nạng lên để dựng nhà tránh thú dữ và rắn độc. Cái tên Nọc Nạn cũng ra đời ra từ đó, đây cũng là tên gọi của một cánh đồng và một con rạch. Khu di tích lịch sử đồng Nọc Nạn ở tỉnh Bạc Liêu Trước năm 1900, một nông dân đến khai phá khu rừng ở rạch Nọc Nạn, đã khai hoang được 73 ha. Năm 1908, người nông dân này chết, đã để lại đất cho người con của mình là Hương chánh Nguyễn Thành Luông. Năm 1910, Hương chánh Luông đã làm đơn khẩn 20 ha đất và đã được chính quyền chấp thuận bằng văn bản. Năm 1912, Hương chánh Luông lại tiếp tục dâng đơn xin đo đạc và cấp bằng khoán cho diện tích 73 ha đã khai hoang và cũng được chủ tỉnh Bạc Liêu phê duyệt, có cả tờ bản đồ về phần đất này. Khi Hương chánh Luông mất, con trai của ông là Nguyễn Văn Toại (còn gọi là Biện Toại) là người được thừa kế phần đất. Năm 1917, một Hoa kiều giàu có tiếng ở Bạc Liêu tên là Mã Ngân, người dân nơi đây thường gọi y là Bang Tắc, có ý đồ muốn chiếm đoạt đất của nhà Biện Toại. Là người mưu mô xảo quyệt, Bang Tắc biết rõ đất của nhà Biện Toại đã có bằng khoán tạm, nên hắn đã mua lại đất của bà Nguyễn Thị Dương, khu đất giáp ranh với đất của nhà Biện Toại, nhưng trong hợp đồng lại có ghi ranh giới bao trùm lên đất của nhà anh em Biện Toại. Vụ tranh chấp đất giữa hai bên gia đình Biện Toại và là Bang Tắc đã nổ ra. Qua nhiều lần phán xử, gia đình Biện Toại luôn là bên thua bởi Bang Tắc đã chi nhiều tiền để lót tay cho nhà chức trách. Cuối cùng đất đã về tay Bang Tắc. Ngay sau đó Bang Tắc đã bán khu đất 50 ha này cho người nhà của quan phủ. Từ đó người chủ mới đã bắt anh em anh em nhà Biện Toại phải nộp lại địa tô ngay trên mảnh đất của gia tộc mình. Ngày 13 và 14/2/1928, lính mã tà đến gặp anh em Biện Toại để thực thi lệnh tịch thu lúa. Vì quyết bảo vệ mảnh đất máu thịt của dòng họ, tối ngày 14/2, anh em nhà Biện Toại đã làm lễ cúng vái ông bà tổ tiên, chích máu ăn thề không sợ chết. Sáng ngày 16/2/1928, khi quan lính kéo đến tịch thu lúa, anh em Biện Toại đã dùng dao mác gậy gộc lao ra quyết chiến. Hậu quả, 4 người em của Biện Toại là Nhẫn, Nhịn, Mười Chức, và bà Nghĩa (vợ Mười Chức đang mang thai) đã bị bắn tử vong. Một lính Pháp bị Mười Chức đâm cho thủng bụng. Lễ hội Đồng Nọc Nạn tại tỉnh Bạc Liêu là dịp người dân Bạc Liêu ôn lại tinh thần đấu tranh kiên cường của cha anh Ngày 17/8/1928, Tòa Đại hình Cần Thơ mở phiên tòa xử vụ án đồng Nọc Nạn. Hai luật sư người Pháp đã bào chữa miễn phí cho gia đình nhà Biện Toại. Công tố viên người Pháp cũng đã cho rằng tình cảnh của gia đình Biện Toại cô cùng đáng thương: họ bị những kẻ không có lương tâm đến cướp đất, rồi những người quyền thế tiếp tay với cường hào cướp đất. Công tố viên đã đề nghị tòa tha bổng các thành viên trong gia đình Biện Toại. Luật sư người Pháp cũng đã hết lời ca ngợi tinh thần lao động, chăm chỉ khẩn hoang của gia đình Biện Toại, ý chí kiên cường đấu tranh lại ới thiên nhiên, với cường hào. Để lưu lại sự kiện này, UBND tỉnh Bạc Liêu đã quyết định cho xây dựng khu di tích đồng Nọc Nạn ngay chính nơi đã xảy ra vụ việc năm xưa. Di tích này là chứng tích lịch sử đã thể hiện cho công cuộc đấu tranh của người nông dân Bạc Liêu nói riêng, và nông dân Nam bộ nói chung đã kiên cường đứng lên chống lại những tên địa chủ, ác bá và thực dân đã cướp đoạt ruộng đất của họ. Di tích đồng Nọc Nạn đã được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng là Di tích lịch sử quốc gia vào năm 1991. Hàng năm, cứ đến ngày diễn ra sự kiện, UBND huyện Giá Rai lại tổ chức lễ hội Đồng Nọc Nạng một cách long trọng để tưởng nhớ đến sự kiên cường bất khuất của gia đình Mười Chức. Đây cũng là dịp để nhắc nhớ thế hệ trẻ về truyền thống đấu tranh kiên cường của người dân Bạc Liêu nói riêng và của dân tộc Việt Nam nói chung.

Related Figures

Lễ hội chùa Dạm

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 7/9- 9/9 Âm lịch (lehoi.info)- Ở lưng chừng núi Dạm có một ngôi chùa cổ kính tên là chùa Dạm. Từ ngày mồng 7 đến ngày 9 tháng Chín hàng năm người dân xã Nam Sơn, thuộc thành phố Bắc Ninh lại rộn ràng, tưng bừng tổ chức Lễ hội chùa Dạm. Chùa Dạm tại tỉnh Bắc Ninh Tên chữ của Chùa Dạm là “Đại Lãm Tự” hay còn gọi là chùa Bà Tấm, chùa Cao, là một đại danh lam thắng cảnh nằm trên lưng chừng núi Dạm, đã được vua Lý Nhân Tông và Hoàng Thái hậu Ỷ Lan cho xây dựng vào năm 1086 (Quảng Hựu 2) và khánh thành vào năm 1094 (Hội Phong 3). Đến năm 1105 (Long Phù thứ 5), nhà vua còn cho dựng 3 cây tháp đá lớn ở trong chùa. Phong cảnh chùa Dạm cổ kính với 100 gian nhà đều được ghép bằng đá, có chiều dài 120m, chiều rộng 70m, và khoảng 12 toà sen đẹp và tráng lệ. Chùa Dạm được xem là trung tâm của Phật giáo và rất nổi tiếng ở thời Lý. Thời Lê Trung Hưng, chùa Dạm cũng đã trải qua nhiều lần trùng tu và tôn tạo. Việc trùng tu và tôn tạo lại chùa còn được ghi lại trên một tấm bia đá mang tên: “Đại Lãm Thần Quang tự trùng tu bi ký” đã được dựng vào năm 1694 (năm Chính Hoà 15). Trong những năm kháng chiến chống lại thực dân Pháp, giặc Pháp đã tàn phá chùa Dạm. Chỉ còn lại dấu tích là 4 lớp nền móng kè đá là vẫn còn nguyên gốc (cao khoảng từ 5 - 6 mét), những tảng đá chân cột (0,7 x 0,7 m) rất cầu kỳ với hình chạm khắc cánh hoa sen, viên gạch ngói đất nung được chạm khắc rất tinh xảo ở thời Lý với nhiều loại hoa văn nghệ thuật, giếng Bống và hai pho tượng vua Lý Nhân Tông và Hoàng thái hậu Nguyên Phi Ỷ Lan. Đặc biệt, nơi đây vẫn bảo lưu được một cột đá được làm nguyên khối có chiều cao hơn 5 mét, gồm hai phần: phần dưới là khối hình hộp có các cạnh là 1,4m x 1,6m, phần trên là một khối hình trụ với tiết diện tròn (đường kính là 1,3m) được chạm đôi rồng nổi lớn quấn quanh thân cột, đầu rồng ngẩng cao và miệng có ngậm ngọc, chầu vào một hình mặt trời tỏa sáng, bờm và mào bốc lên như một ngọn lửa. Năm 1986, để bảo tồn những di tích văn hóa này, người dân địa phương đã cho xây dựng một ngôi chùa nhỏ để thờ Phật, ngôi đền nhỏ thờ vua Lý Nhân Tông và Hoàng Thái hậu Ỷ Lan ở phía sau, đây là người đã có công xây dựng chùa. Cây cột có chạm khắc tinh tế và độc đáo tại di tích Chùa Dạm Các thôn nằm chung quanh chân núi Dạm từ xưa đến nay vẫn được ăn lộc điền của chùa như: Tự Thôn, Sơn Nam, Môn Tự, đều thờ cúng Hoàng Thái hậu Ỷ Lan như là Thành Hoàng làng. Hàng năm, vào ngày mồng 7 tháng 9 âm lịch, chùa Dạm sẽ tưng bừng mở hội. Lễ hội chùa Dạm đã trở thành hoạt động văn hóa, sinh hoạt tín ngưỡng tâm linh lâu đời, ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người dân địa phương. Trong 3 ngày, đông đảo người dân trong thôn và du khách thập hương đều nô nức kéo về đây trảy hội chùa Dạm và thành tâm dâng hương lên lễ Phật và chiêm ngưỡng cảnh đẹp của ngôi chùa cổ này. Đặc biệt vào ngày chính hội là mồng 8 tháng 9, các thôn ở quanh núi Dạm như: Môn Tự, Sơn Trung, Sơn Nam, Tự Thôn và Triều Thôn đều cử hành tục rước kiệu Thành Hoàng làng về đền “Bà Tấm” (tức là đền Vua Bà thờ Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan) để yết kiến và dâng lễ lên “Vua Bà”. Kiệu Thần của các thôn đều được rước lên chùa để tập trung cho việc tế lễ theo nghi lễ truyền thống. Lễ vật người dân dâng lên “Vua Bà” không thể thiếu bánh trưng và bánh dày. Sau khi tế lễ tại chùa xong, kiệu của làng nào sẽ được rước trở về đình của làng đấy, nghi thức tế lễ vẫn tiếp tục và sau đó mở hội. Sau phần lễ trang nghiêm sẽ đến phần hội. Phần hội thường diễn ra sôi nổi với các trò chơi dân gian như cà kheo, vật, đu, thi cỗ, đập niêu, thi dệt vải, chọi gà... và thưởng thức các làn điệu quan họ cũng như đối đáp ngọt ngào của các liền anh, liền chị. Một cây cột ở chùa Dạm có chạm khắc tinh tế vẫn còn được bảo toàn gần như nguyên vẹn

(lehoi.info)- Ở lưng chừng núi Dạm có một ngôi chùa cổ kính tên là chùa Dạm. Từ ngày mồng 7 đến ngày 9 tháng Chín hàng năm người dân xã Nam Sơn, thuộc thành phố Bắc Ninh lại rộn ràng, tưng bừng tổ chức Lễ hội chùa Dạm.

Chùa Dạm tại tỉnh Bắc Ninh

Tên chữ của Chùa Dạm là “Đại Lãm Tự” hay còn gọi là chùa Bà Tấm, chùa Cao, là một đại danh lam thắng cảnh nằm trên lưng chừng núi Dạm, đã được vua Lý Nhân Tông và Hoàng Thái hậu Ỷ Lan cho xây dựng vào năm 1086 (Quảng Hựu 2) và khánh thành vào năm 1094 (Hội Phong 3). Đến năm 1105 (Long Phù thứ 5), nhà vua còn cho dựng 3 cây tháp đá lớn ở trong chùa. Phong cảnh chùa Dạm cổ kính với 100 gian nhà đều được ghép bằng đá, có chiều dài 120m, chiều rộng 70m, và khoảng 12 toà sen đẹp và tráng lệ. Chùa Dạm được xem là trung tâm của Phật giáo và rất nổi tiếng ở thời Lý. Thời Lê Trung Hưng, chùa Dạm cũng đã trải qua nhiều lần trùng tu và tôn tạo. Việc trùng tu và tôn tạo lại chùa còn được ghi lại trên một tấm bia đá mang tên: “Đại Lãm Thần Quang tự trùng tu bi ký” đã được dựng vào năm 1694 (năm Chính Hoà 15). Trong những năm kháng chiến chống lại thực dân Pháp, giặc Pháp đã tàn phá chùa Dạm. Chỉ còn lại dấu tích là 4 lớp nền móng kè đá là vẫn còn nguyên gốc (cao khoảng từ 5 - 6 mét), những tảng đá chân cột (0,7 x 0,7 m) rất cầu kỳ với hình chạm khắc cánh hoa sen, viên gạch ngói đất nung được chạm khắc rất tinh xảo ở thời Lý với nhiều loại hoa văn nghệ thuật, giếng Bống và hai pho tượng vua Lý Nhân Tông và Hoàng thái hậu Nguyên Phi Ỷ Lan. Đặc biệt, nơi đây vẫn bảo lưu được một cột đá được làm nguyên khối có chiều cao hơn 5 mét, gồm hai phần: phần dưới là khối hình hộp có các cạnh là 1,4m x 1,6m, phần trên là một khối hình trụ với tiết diện tròn (đường kính là 1,3m) được chạm đôi rồng nổi lớn quấn quanh thân cột, đầu rồng ngẩng cao và miệng có ngậm ngọc, chầu vào một hình mặt trời tỏa sáng, bờm và mào bốc lên như một ngọn lửa. Năm 1986, để bảo tồn những di tích văn hóa này, người dân địa phương đã cho xây dựng một ngôi chùa nhỏ để thờ Phật, ngôi đền nhỏ thờ vua Lý Nhân Tông và Hoàng Thái hậu Ỷ Lan ở phía sau, đây là người đã có công xây dựng chùa. Cây cột có chạm khắc tinh tế và độc đáo tại di tích Chùa Dạm Các thôn nằm chung quanh chân núi Dạm từ xưa đến nay vẫn được ăn lộc điền của chùa như: Tự Thôn, Sơn Nam, Môn Tự, đều thờ cúng Hoàng Thái hậu Ỷ Lan như là Thành Hoàng làng. Hàng năm, vào ngày mồng 7 tháng 9 âm lịch, chùa Dạm sẽ tưng bừng mở hội. Lễ hội chùa Dạm đã trở thành hoạt động văn hóa, sinh hoạt tín ngưỡng tâm linh lâu đời, ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người dân địa phương. Trong 3 ngày, đông đảo người dân trong thôn và du khách thập hương đều nô nức kéo về đây trảy hội chùa Dạm và thành tâm dâng hương lên lễ Phật và chiêm ngưỡng cảnh đẹp của ngôi chùa cổ này. Đặc biệt vào ngày chính hội là mồng 8 tháng 9, các thôn ở quanh núi Dạm như: Môn Tự, Sơn Trung, Sơn Nam, Tự Thôn và Triều Thôn đều cử hành tục rước kiệu Thành Hoàng làng về đền “Bà Tấm” (tức là đền Vua Bà thờ Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan) để yết kiến và dâng lễ lên “Vua Bà”. Kiệu Thần của các thôn đều được rước lên chùa để tập trung cho việc tế lễ theo nghi lễ truyền thống. Lễ vật người dân dâng lên “Vua Bà” không thể thiếu bánh trưng và bánh dày. Sau khi tế lễ tại chùa xong, kiệu của làng nào sẽ được rước trở về đình của làng đấy, nghi thức tế lễ vẫn tiếp tục và sau đó mở hội. Sau phần lễ trang nghiêm sẽ đến phần hội. Phần hội thường diễn ra sôi nổi với các trò chơi dân gian như cà kheo, vật, đu, thi cỗ, đập niêu, thi dệt vải, chọi gà... và thưởng thức các làn điệu quan họ cũng như đối đáp ngọt ngào của các liền anh, liền chị. Một cây cột ở chùa Dạm có chạm khắc tinh tế vẫn còn được bảo toàn gần như nguyên vẹn

Related Figures

Lễ hội Kỳ An

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/5- 12/5 Âm lịch An Giang là một vùng đất nổi tiếng với nhiều lễ hội lớn như lễ hội Bà Chúa Xứ, hay lễ hội Kỳ An ở đình Châu Phú của huyện Châu Phú, nơi cúng thờ Thành hoàng Nguyễn Hữu Cảnh - một vị tướng đã có công lao lớn với vùng đất Nam bộ và nhất là có thời gian dài gắn bó với vùng đất An Giang. Ngoài thờ cúng Thành hoàng Nguyễn Hữu Cảnh, ngôi đình này còn thờ Thoại Ngọc Hầu và ông chánh vệ thủy là Đỗ Đăng Tàu và ông phó vệ thủy tên Lê Văn Sanh. Lễ hội thường diễn ra vào tháng 5 âm lịch từ ngày mồng 10 cho đến ngày 12 với nhiều nghi lễ đặc sắc. Cổng vào đình Châu Phú tại tỉnh An Giang Từ 7 giờ sáng ngày mồng 10/5 âm lịch, sẽ tiến hành lễ thỉnh mời "sắc thần Nguyễn Hữu Cảnh" từ Nhà lớn về đình. Lễ này được làm rất long trọng, có xe hoa, chiêng, trống, long đình, học trò lễ v.v... các vị trong ban quản trị của đình thần sẽ mặc trang phục áo dài khăn đóng và đi hầu phía sau. Sau lễ thỉnh mời "sắc thần Nguyễn Hữu Cảnh" sẽ thực hiện lễ thỉnh "Sắc thần Thoại Ngọc Hầu" tại phủ thờ Nguyễn Khắc Mi (cháu nhiều đời của Thoại Ngọc hầu), sắc thần của ông chánh vệ thuỷ Đỗ Đăng Tàu và ông phó vệ thuỷ Lê Văn Sanh. Sang ngày 11/5 đúng 1 giờ đêm lễ túc kết sẽ bắt đầu với các nghi thức dân gian truyền thống. - Lễ vật chính được dâng lên trong buổi lễ túc yết sẽ có một con heo trắng (heo đã mổ xong, cạo lông thật sạch nhưng chưa nấu chín), một chén đựng máu, một ít lông heo còn được gọi chung là "mao huyết", một mâm xôi, một mâm trầu cau, một trái cây, một đĩa gạo, muối. Các lễ vật này sẽ được bày lên trên bàn, riêng con heo thường được đặt sấp, thân của nó phủ lên một giá gỗ cao. Ngoài ra còn có nhiều lễ vật khác do người dân mang đến dâng cúng. Bắt đầu vào lễ, ông chánh tế sẽ đến dâng hương trước lễ trước bàn thờ, rồi lần lượt các thành viên trong Ban quản trị sẽ thay nhau vào lễ. Sau đó là phần "Khởi chinh cổ", sau khi góng ba hồi trống gỗ và ba hồi chiêng mõ. Ban nhạc lễ nhạc cụ truyền thống sẽ bắt đầu trỗi lên, lễ dâng hương, chuốc rượu, tiệm trà bắt đầu. Sau khi dâng hương sẽ đến phần dâng ba tuần rượu hay còn được gọi là chuốc tửu và dâng trà hay gọi là tiệm trà, theo lời xướng của người đứng ra xướng lễ, bản văn tế được mang đến để trước bàn thờ. Ban tế quỳ xuống và "đọc văn", trong khi đó ban nhạc lễ trỗi nhạc để phụ họa cho người đọc. Sau khi đọc bài văn tế xong, ông chánh tế sẽ nghỉ cúng, đốt bài văn tế này và một ít giấy tiền vàng bạc, phần nghi thức lễ túc yết đã thực hiện xong. Lễ hội Kỳ An ở đình Châu Phú là một lễ hội truyền thống lớn của tỉnh An Giang Sau khi hoàn thành lễ túc yết xong, sẽ đến lễ xây chầu và hát bội diễn ra tại gian võ ca phía trước chính điện. Ông chánh tế khai lễ xây chầu bằng việc cầm một cành dương liễu nhúng vào tô nước đang cầm trên tay vẩy ra xung quanh, sau dó ông đọc lời cầu nguyện: - "Nhất sái thiên thanh". (Trời thêm thanh bình) - "Nhị sái địa linh" (Đất thêm tươi tốt) - "Tam sái nhơn trường" (Người được sống lâu) - "Tứ sái quỷ diệt hình" (quỷ dữ bị tiêu diệt). Đọc xong, ông chánh bái xong đánh ba hồi trống và nói: "Ca công- tiếp hát", lập tức đoàn hát bội sẽ rộ lên trống mõ và chương trình hát bội chính thức được bắt đầu. Đoàn hát rất nhiều xuất với nhiều tích tuồng xưa như: Sát Thát, Trưng nữ Vương, Trần Bình Trọng, Sơn hậu, Lưu kim Đính... Người dân tưng bừng và du khách trong ngày hội Kỳ An ở đình Châu Phú tỉnh An Giang Ngày 12/5, ngày cuối cùng của lễ hội sẽ bắt đầu vào lúc 3 giờ sáng với lễ chánh tế, nghi thức này diễn lại như lễ túc yết là sau phần dâng trà và là phần âm thực có ý nghĩa truyền thống. Đến 1 giờ chiều cùng ngày sẽ tiến hành nghi thức cuối cùng, chính là lễ nối sắc. Nghi thức cũng tương tự lễ thỉnh sắc. Lễ hội này thu hút đông đảo người dân quanh vùng qui tụ về đây với các món lễ vật trên tay, trang phục chỉnh tề để thành tâm cầu thần linh ban phước lành, cầu cho mưa thuận gió hoà, quốc thái dân an. Như thế, lễ Kỳ Yên ở đình Châu Phú vừa để tưởng nhớ một nhân vật lịch sử có công khai phá miền Nam Bộ, vừa cầu mong sẽ có một cuộc sống no đủ. Cho nên, đây là một sinh hoạt văn hoá dân gian cần được bảo tồn, duy trì và tạo điều kiện thuận lợi để phát triển.

An Giang là một vùng đất nổi tiếng với nhiều lễ hội lớn như lễ hội Bà Chúa Xứ, hay lễ hội Kỳ An ở đình Châu Phú của huyện Châu Phú, nơi cúng thờ Thành hoàng Nguyễn Hữu Cảnh - một vị tướng đã có công lao lớn với vùng đất Nam bộ và nhất là có thời gian dài gắn bó với vùng đất An Giang. Ngoài thờ cúng Thành hoàng Nguyễn Hữu Cảnh, ngôi đình này còn thờ Thoại Ngọc Hầu và ông chánh vệ thủy là Đỗ Đăng Tàu và ông phó vệ thủy tên Lê Văn Sanh. Lễ hội thường diễn ra vào tháng 5 âm lịch từ ngày mồng 10 cho đến ngày 12 với nhiều nghi lễ đặc sắc.

Cổng vào đình Châu Phú tại tỉnh An Giang Từ 7 giờ sáng ngày mồng 10/5 âm lịch, sẽ tiến hành lễ thỉnh mời "sắc thần Nguyễn Hữu Cảnh" từ Nhà lớn về đình. Lễ này được làm rất long trọng, có xe hoa, chiêng, trống, long đình, học trò lễ v.v... các vị trong ban quản trị của đình thần sẽ mặc trang phục áo dài khăn đóng và đi hầu phía sau. Sau lễ thỉnh mời "sắc thần Nguyễn Hữu Cảnh" sẽ thực hiện lễ thỉnh "Sắc thần Thoại Ngọc Hầu" tại phủ thờ Nguyễn Khắc Mi (cháu nhiều đời của Thoại Ngọc hầu), sắc thần của ông chánh vệ thuỷ Đỗ Đăng Tàu và ông phó vệ thuỷ Lê Văn Sanh. Sang ngày 11/5 đúng 1 giờ đêm lễ túc kết sẽ bắt đầu với các nghi thức dân gian truyền thống. - Lễ vật chính được dâng lên trong buổi lễ túc yết sẽ có một con heo trắng (heo đã mổ xong, cạo lông thật sạch nhưng chưa nấu chín), một chén đựng máu, một ít lông heo còn được gọi chung là "mao huyết", một mâm xôi, một mâm trầu cau, một trái cây, một đĩa gạo, muối. Các lễ vật này sẽ được bày lên trên bàn, riêng con heo thường được đặt sấp, thân của nó phủ lên một giá gỗ cao. Ngoài ra còn có nhiều lễ vật khác do người dân mang đến dâng cúng. Bắt đầu vào lễ, ông chánh tế sẽ đến dâng hương trước lễ trước bàn thờ, rồi lần lượt các thành viên trong Ban quản trị sẽ thay nhau vào lễ. Sau đó là phần "Khởi chinh cổ", sau khi góng ba hồi trống gỗ và ba hồi chiêng mõ. Ban nhạc lễ nhạc cụ truyền thống sẽ bắt đầu trỗi lên, lễ dâng hương, chuốc rượu, tiệm trà bắt đầu. Sau khi dâng hương sẽ đến phần dâng ba tuần rượu hay còn được gọi là chuốc tửu và dâng trà hay gọi là tiệm trà, theo lời xướng của người đứng ra xướng lễ, bản văn tế được mang đến để trước bàn thờ. Ban tế quỳ xuống và "đọc văn", trong khi đó ban nhạc lễ trỗi nhạc để phụ họa cho người đọc. Sau khi đọc bài văn tế xong, ông chánh tế sẽ nghỉ cúng, đốt bài văn tế này và một ít giấy tiền vàng bạc, phần nghi thức lễ túc yết đã thực hiện xong. Lễ hội Kỳ An ở đình Châu Phú là một lễ hội truyền thống lớn của tỉnh An Giang Sau khi hoàn thành lễ túc yết xong, sẽ đến lễ xây chầu và hát bội diễn ra tại gian võ ca phía trước chính điện. Ông chánh tế khai lễ xây chầu bằng việc cầm một cành dương liễu nhúng vào tô nước đang cầm trên tay vẩy ra xung quanh, sau dó ông đọc lời cầu nguyện: - "Nhất sái thiên thanh". (Trời thêm thanh bình) - "Nhị sái địa linh" (Đất thêm tươi tốt) - "Tam sái nhơn trường" (Người được sống lâu) - "Tứ sái quỷ diệt hình" (quỷ dữ bị tiêu diệt). Đọc xong, ông chánh bái xong đánh ba hồi trống và nói: "Ca công- tiếp hát", lập tức đoàn hát bội sẽ rộ lên trống mõ và chương trình hát bội chính thức được bắt đầu. Đoàn hát rất nhiều xuất với nhiều tích tuồng xưa như: Sát Thát, Trưng nữ Vương, Trần Bình Trọng, Sơn hậu, Lưu kim Đính... Người dân tưng bừng và du khách trong ngày hội Kỳ An ở đình Châu Phú tỉnh An Giang Ngày 12/5, ngày cuối cùng của lễ hội sẽ bắt đầu vào lúc 3 giờ sáng với lễ chánh tế, nghi thức này diễn lại như lễ túc yết là sau phần dâng trà và là phần âm thực có ý nghĩa truyền thống. Đến 1 giờ chiều cùng ngày sẽ tiến hành nghi thức cuối cùng, chính là lễ nối sắc. Nghi thức cũng tương tự lễ thỉnh sắc. Lễ hội này thu hút đông đảo người dân quanh vùng qui tụ về đây với các món lễ vật trên tay, trang phục chỉnh tề để thành tâm cầu thần linh ban phước lành, cầu cho mưa thuận gió hoà, quốc thái dân an. Như thế, lễ Kỳ Yên ở đình Châu Phú vừa để tưởng nhớ một nhân vật lịch sử có công khai phá miền Nam Bộ, vừa cầu mong sẽ có một cuộc sống no đủ. Cho nên, đây là một sinh hoạt văn hoá dân gian cần được bảo tồn, duy trì và tạo điều kiện thuận lợi để phát triển.

Từ 7 giờ sáng ngày mồng 10/5 âm lịch, sẽ tiến hành lễ thỉnh mời "sắc thần Nguyễn Hữu Cảnh" từ Nhà lớn về đình. Lễ này được làm rất long trọng, có xe hoa, chiêng, trống, long đình, học trò lễ v.v... các vị trong ban quản trị của đình thần sẽ mặc trang phục áo dài khăn đóng và đi hầu phía sau. Sau lễ thỉnh mời "sắc thần Nguyễn Hữu Cảnh" sẽ thực hiện lễ thỉnh "Sắc thần Thoại Ngọc Hầu" tại phủ thờ Nguyễn Khắc Mi (cháu nhiều đời của Thoại Ngọc hầu), sắc thần của ông chánh vệ thuỷ Đỗ Đăng Tàu và ông phó vệ thuỷ Lê Văn Sanh. Sang ngày 11/5 đúng 1 giờ đêm lễ túc kết sẽ bắt đầu với các nghi thức dân gian truyền thống. - Lễ vật chính được dâng lên trong buổi lễ túc yết sẽ có một con heo trắng (heo đã mổ xong, cạo lông thật sạch nhưng chưa nấu chín), một chén đựng máu, một ít lông heo còn được gọi chung là "mao huyết", một mâm xôi, một mâm trầu cau, một trái cây, một đĩa gạo, muối. Các lễ vật này sẽ được bày lên trên bàn, riêng con heo thường được đặt sấp, thân của nó phủ lên một giá gỗ cao. Ngoài ra còn có nhiều lễ vật khác do người dân mang đến dâng cúng. Bắt đầu vào lễ, ông chánh tế sẽ đến dâng hương trước lễ trước bàn thờ, rồi lần lượt các thành viên trong Ban quản trị sẽ thay nhau vào lễ. Sau đó là phần "Khởi chinh cổ", sau khi góng ba hồi trống gỗ và ba hồi chiêng mõ. Ban nhạc lễ nhạc cụ truyền thống sẽ bắt đầu trỗi lên, lễ dâng hương, chuốc rượu, tiệm trà bắt đầu. Sau khi dâng hương sẽ đến phần dâng ba tuần rượu hay còn được gọi là chuốc tửu và dâng trà hay gọi là tiệm trà, theo lời xướng của người đứng ra xướng lễ, bản văn tế được mang đến để trước bàn thờ. Ban tế quỳ xuống và "đọc văn", trong khi đó ban nhạc lễ trỗi nhạc để phụ họa cho người đọc. Sau khi đọc bài văn tế xong, ông chánh tế sẽ nghỉ cúng, đốt bài văn tế này và một ít giấy tiền vàng bạc, phần nghi thức lễ túc yết đã thực hiện xong. Lễ hội Kỳ An ở đình Châu Phú là một lễ hội truyền thống lớn của tỉnh An Giang Sau khi hoàn thành lễ túc yết xong, sẽ đến lễ xây chầu và hát bội diễn ra tại gian võ ca phía trước chính điện. Ông chánh tế khai lễ xây chầu bằng việc cầm một cành dương liễu nhúng vào tô nước đang cầm trên tay vẩy ra xung quanh, sau dó ông đọc lời cầu nguyện: - "Nhất sái thiên thanh". (Trời thêm thanh bình) - "Nhị sái địa linh" (Đất thêm tươi tốt) - "Tam sái nhơn trường" (Người được sống lâu) - "Tứ sái quỷ diệt hình" (quỷ dữ bị tiêu diệt). Đọc xong, ông chánh bái xong đánh ba hồi trống và nói: "Ca công- tiếp hát", lập tức đoàn hát bội sẽ rộ lên trống mõ và chương trình hát bội chính thức được bắt đầu. Đoàn hát rất nhiều xuất với nhiều tích tuồng xưa như: Sát Thát, Trưng nữ Vương, Trần Bình Trọng, Sơn hậu, Lưu kim Đính... Người dân tưng bừng và du khách trong ngày hội Kỳ An ở đình Châu Phú tỉnh An Giang Ngày 12/5, ngày cuối cùng của lễ hội sẽ bắt đầu vào lúc 3 giờ sáng với lễ chánh tế, nghi thức này diễn lại như lễ túc yết là sau phần dâng trà và là phần âm thực có ý nghĩa truyền thống. Đến 1 giờ chiều cùng ngày sẽ tiến hành nghi thức cuối cùng, chính là lễ nối sắc. Nghi thức cũng tương tự lễ thỉnh sắc. Lễ hội này thu hút đông đảo người dân quanh vùng qui tụ về đây với các món lễ vật trên tay, trang phục chỉnh tề để thành tâm cầu thần linh ban phước lành, cầu cho mưa thuận gió hoà, quốc thái dân an. Như thế, lễ Kỳ Yên ở đình Châu Phú vừa để tưởng nhớ một nhân vật lịch sử có công khai phá miền Nam Bộ, vừa cầu mong sẽ có một cuộc sống no đủ. Cho nên, đây là một sinh hoạt văn hoá dân gian cần được bảo tồn, duy trì và tạo điều kiện thuận lợi để phát triển.

Related Figures

Lễ hội chùa Dâu

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 8/4 Âm lịch Chùa Dâu thuộc địa phận xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh. Đây là một trong những ngôi chùa được đánh giá là cổ nhất của Việt Nam. Hội chùa Dâu thường tổ chức vào ngày mồng 8 tháng tư, theo ngày sinh của Phật tổ Thích Ca Mâu Ni. Hội Dâu là lễ hội của người dân làm nông nghiêp, ý nghĩa quan trọng nhất của lễ hội Chùa Dâu là dịp để người dân dâng lễ lên các đức thánh thần và cầu mong một năm mới mưa thuận gió hòa, cây cối tươi tốt, mùa màng bội thu, là ước vọng ngàn đời của những người làm nông nghiệp. Bàn thờ Pháp Vũ trong chùa Dâu Các nghi thức trong lễ hội Chùa Dâu đều là những hoạt động diễn xướng mang tín ngưỡng cầu Thần Nước của những người nông dân. Ban ngày dân làng sẽ rước Tứ Pháp về chùa Dâu “công đồng” là nơi hội tụ các yếu tố của trời như Mây+Chớp+Sấm=Mưa. Người dân rước Tứ Pháp đi tuần nhiễu Ban đêm sẽ tiến hành lễ rước Tứ Pháp đi “tuần nhiễu” một vòng khép kín từ đông sang tây được coi là mô tả một chu kỳ của quả đất xoay tròn, tạo ra năm tháng và bốn mùa. “Múa gậy” không chỉ để dẹp đám mà còn là để tái diễn lại sự tích cây gậy thần kỳ. Giếng cổ trong chùa Dâu là di tích của truyền thuyết Man Nương cắm gậy xuống đất tạo ra nguồn nước cứu sống sinh linh. Đặc biệt cuộc thi “Cướp nước” là tiết mục được nhiều người đón đợi nhất, là cuộc thi chạy giữa bà Sấm (Pháp Lôi) và bà Mưa (Pháp Vũ). Người ta sẽ bói xem ai về đích trước để dự báo xem mùa màng có bội thu không. Nếu là bà Mưa thì năm đó sẽ được mùa. Nếu là bà Sấm thắng thì năm ấy ruộng đồng sẽ lắm sâu, nhiều đỉa, làm ăn gặp nhiều trắc trở. Lễ hội chùa Dâu tại Bắc Ninh

Chùa Dâu thuộc địa phận xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh. Đây là một trong những ngôi chùa được đánh giá là cổ nhất của Việt Nam. Hội chùa Dâu thường tổ chức vào ngày mồng 8 tháng tư, theo ngày sinh của Phật tổ Thích Ca Mâu Ni. Hội Dâu là lễ hội của người dân làm nông nghiêp, ý nghĩa quan trọng nhất của lễ hội Chùa Dâu là dịp để người dân dâng lễ lên các đức thánh thần và cầu mong một năm mới mưa thuận gió hòa, cây cối tươi tốt, mùa màng bội thu, là ước vọng ngàn đời của những người làm nông nghiệp.

Các nghi thức trong lễ hội Chùa Dâu đều là những hoạt động diễn xướng mang tín ngưỡng cầu Thần Nước của những người nông dân. Ban ngày dân làng sẽ rước Tứ Pháp về chùa Dâu “công đồng” là nơi hội tụ các yếu tố của trời như Mây+Chớp+Sấm=Mưa. Người dân rước Tứ Pháp đi tuần nhiễu Ban đêm sẽ tiến hành lễ rước Tứ Pháp đi “tuần nhiễu” một vòng khép kín từ đông sang tây được coi là mô tả một chu kỳ của quả đất xoay tròn, tạo ra năm tháng và bốn mùa. “Múa gậy” không chỉ để dẹp đám mà còn là để tái diễn lại sự tích cây gậy thần kỳ. Giếng cổ trong chùa Dâu là di tích của truyền thuyết Man Nương cắm gậy xuống đất tạo ra nguồn nước cứu sống sinh linh. Đặc biệt cuộc thi “Cướp nước” là tiết mục được nhiều người đón đợi nhất, là cuộc thi chạy giữa bà Sấm (Pháp Lôi) và bà Mưa (Pháp Vũ). Người ta sẽ bói xem ai về đích trước để dự báo xem mùa màng có bội thu không. Nếu là bà Mưa thì năm đó sẽ được mùa. Nếu là bà Sấm thắng thì năm ấy ruộng đồng sẽ lắm sâu, nhiều đỉa, làm ăn gặp nhiều trắc trở. Lễ hội chùa Dâu tại Bắc Ninh

Related Figures

Lễ hội đình thần Thắng Tam

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 17/2- 20/2 Âm lịch Đình Thần Thắng Tam là một quần thể di tích gồm có 3 công trình kiến trúc: Đình Thần Thắng Tam, lăng ông Nam Hải và miếu Bà Ngũ Hành. Theo truyền thuyết Đình Thần Thắng Tam là nơi thờ chung ba người đã có công trong việc xây dựng nên ba làng Thắng tại Vũng Tàu. Lễ hội đình thần Thắng Tam được tổ chức từ ngày 17 đến ngày 20 tháng 2 âm lịch hàng năm. Đây là lễ hội cầu an lành, là thời điểm kết thúc và là lúc mở ra một mùa thu hoạch đầy tôm cá. Lễ hội đình thần Thắng Tam tại Bà Rịa - Vũng Tàu Khu di tích Đình Thần Thắng Tam là một điểm đến khá nổi tiếng của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Mỗi ngày, đình tiếp đón khoảng 500 lượt khách du lịch đến tham quan. Di tích này được xây dựng từ năm 1820, thờ Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh và các vị thần khác. Công trình kiến trúc đình Thần Thắng Tam gồm Cổng đình, Ngôi Tiền hiền xây dựng năm 1820, hội trường, Ngôi chánh điện thờ Đại Càn Quốc Gia Nam Hải Tứ vị Thượng Đẳng Thần, sân khấu võ ca, Lăng ông Nam Hải xây dựng từ năm 1824, miếu Bà Ngũ Hành lập từ năm 1832 và Miếu Bà Bãi. Đội múa rồng trong ngày Lễ hội đình thần Thắng Tam tại Bà Rịa - Vũng Tàu Phần lễ của lễ hội Đình Thần Thắng Tam diễn ra rất cầu kỳ, gồm cúng tế,dâng hương quỳ lạy, lễ vật tế thần, chiêng trống, kèn nhạc... và cần phải kiêng kỵ rất nhiều điều như heo dùng để tế lễ cần phải có bộ lông cùng màu, người đang có tang không được tham gia vào công việc nghi thức tế lễ. Đình thần Thắng Tam tại Bà Rịa - Vũng Tàu được công nhận là di tích lịch sử văn hóa của quốc gia Phần hội có nhiều trò vui chơi giải trí như hát bội, múa lân... Lễ hội đình Thần Thắng Tam là một trong những hoạt động văn hoá đặc sắc của người dân ở miền biển Vũng Tàu. Du khách thăm quan đình Thần Thắng Tam vào dịp lễ hội, hẳn sẽ có một chuyến tham đầy quan thú vị và sinh động trong các chuyến du lịch Vũng Tàu. Một khu miếu trong quần thể di tích đình thần Thắng Tam tại Bà Rịa - Vũng Tàu

Đình Thần Thắng Tam là một quần thể di tích gồm có 3 công trình kiến trúc: Đình Thần Thắng Tam, lăng ông Nam Hải và miếu Bà Ngũ Hành. Theo truyền thuyết Đình Thần Thắng Tam là nơi thờ chung ba người đã có công trong việc xây dựng nên ba làng Thắng tại Vũng Tàu. Lễ hội đình thần Thắng Tam được tổ chức từ ngày 17 đến ngày 20 tháng 2 âm lịch hàng năm. Đây là lễ hội cầu an lành, là thời điểm kết thúc và là lúc mở ra một mùa thu hoạch đầy tôm cá.

Lễ hội đình thần Thắng Tam tại Bà Rịa - Vũng Tàu

Khu di tích Đình Thần Thắng Tam là một điểm đến khá nổi tiếng của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Mỗi ngày, đình tiếp đón khoảng 500 lượt khách du lịch đến tham quan. Di tích này được xây dựng từ năm 1820, thờ Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh và các vị thần khác. Công trình kiến trúc đình Thần Thắng Tam gồm Cổng đình, Ngôi Tiền hiền xây dựng năm 1820, hội trường, Ngôi chánh điện thờ Đại Càn Quốc Gia Nam Hải Tứ vị Thượng Đẳng Thần, sân khấu võ ca, Lăng ông Nam Hải xây dựng từ năm 1824, miếu Bà Ngũ Hành lập từ năm 1832 và Miếu Bà Bãi.

Đội múa rồng trong ngày Lễ hội đình thần Thắng Tam tại Bà Rịa - Vũng Tàu

Phần lễ của lễ hội Đình Thần Thắng Tam diễn ra rất cầu kỳ, gồm cúng tế,dâng hương quỳ lạy, lễ vật tế thần, chiêng trống, kèn nhạc... và cần phải kiêng kỵ rất nhiều điều như heo dùng để tế lễ cần phải có bộ lông cùng màu, người đang có tang không được tham gia vào công việc nghi thức tế lễ. Đình thần Thắng Tam tại Bà Rịa - Vũng Tàu được công nhận là di tích lịch sử văn hóa của quốc gia Phần hội có nhiều trò vui chơi giải trí như hát bội, múa lân... Lễ hội đình Thần Thắng Tam là một trong những hoạt động văn hoá đặc sắc của người dân ở miền biển Vũng Tàu. Du khách thăm quan đình Thần Thắng Tam vào dịp lễ hội, hẳn sẽ có một chuyến tham đầy quan thú vị và sinh động trong các chuyến du lịch Vũng Tàu. Một khu miếu trong quần thể di tích đình thần Thắng Tam tại Bà Rịa - Vũng Tàu

Related Figures

Lễ hội chọi bò hồ Ba Bể

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/1 Âm lịch (lehoi.info) - Lễ hội chọi hồ Ba Bể diễn ra vào ngày mồng 10 Tết âm lịch hằng năm, tại xã Nam Mẫu thuộc huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. Đây là một lễ hội truyền thống đặc sắc của đồng bào dân tộc Mông. Chọi bò bắt đầu được tổ chức từ năm 1997 ở Ba Bể và đã được duy trì hằng năm từ đó cho đến nay. Mục đích chính của hội chọi bò là thể hiện tình yêu thương và nghệ thuật chăm sóc bò của những người chăn nuôi bò. Để đạt được tiêu chuẩn để tham gia thi đấu tại lễ hội chọi bò này, còn bò chọi phải được tuyển chọn hết sức cẩn thận từ các bản làng của người Mông. Những chú bò mộng khỏe có sừng nhọn, vó cao, tai to… sẽ được tuyển chọn vào thi đấu. Lễ hội chọi bò hồ Ba Bể nét đẹp văn hóa của đồng bào người Mông ở tỉnh Bắc Kạn Từ sáng sớm, các chú bò mộng đã được chủ của mình dắt ra một đấu trường bằng phẳng, nơi có phủ đầy cỏ non. Hình thức thi đấu là đấu vòng tròn, con nào thắng nhiều đối thủ nhất sẽ chiến thắng. Trong một trận đấu, con bò nào bỏ chạy thì xem như đã thua. Để cho hai con bò húc nhau, khi dắt bò vào sới, ngoài việc để hai con đứng sát nhau, các chủ bò còn phải khui bò để kích thích máu chiến đấu của các chú bò. Theo kinh nghiệm thi đấu bò của đồng bào người Mông. Do bản tính vốn hiền lành của loài bò, thường không hung dữ như loài trâu nên mỗi khi tham gia thi đấu không được cho chúng làm quen với nhau. Nếu chúng mà quen nhau thì sẽ không húc nhau vì vậy người Mông đã nghĩ ra mẹo bôi rượu vào yếm của bò để nó hăng chiến đấu hơn. Một điều khác biệt nữa giữa chọi bò và chọi trâu là: nếu những con trâu trước khi chọi thường được chăm sóc rất cẩn thận thì những con bò chọi lại vẫn phải đi cày, đi bừa ruộng nương như ngày thường trước khi ra trận. Hai chú bò đang tranh tài trong lễ hội chọi bò hồ Ba Bể tại Bắc Kạn Trước khi vào cuộc chọi, bò sẽ được đánh số thứ tự. Sau đó Bò sẽ được dắt vào sới chọi. Để chúng húc nhau, người ta phải lấy gậy để chọc (khui bò) và thoa rượu vào yếm của con bò để kích thích máu chiến đấu của nó. Dạo đầu cuộc đấu sẽ chỉ là màn khiêu khích bằng mắt giữa hai con bò, nhưng sau đó cả hai sẽ tỉ thí sức lực bằng cách chọc những chiếc sừng nhọn hoắc vào nhau. Luật chọi bò quy định rằng con bò nào bỏ chạy hoặc bị húc ngã thì xem như đã thua cuộc và bị loại. Khác với chọi trâu, các con bò thắng cuộc hay thua cuộc đều được chăm sóc, nuôi dưỡng để phục vụ cho việc đồng áng, nương rẫy./.

(lehoi.info) - Lễ hội chọi hồ Ba Bể diễn ra vào ngày mồng 10 Tết âm lịch hằng năm, tại xã Nam Mẫu thuộc huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. Đây là một lễ hội truyền thống đặc sắc của đồng bào dân tộc Mông.

Chọi bò bắt đầu được tổ chức từ năm 1997 ở Ba Bể và đã được duy trì hằng năm từ đó cho đến nay. Mục đích chính của hội chọi bò là thể hiện tình yêu thương và nghệ thuật chăm sóc bò của những người chăn nuôi bò. Để đạt được tiêu chuẩn để tham gia thi đấu tại lễ hội chọi bò này, còn bò chọi phải được tuyển chọn hết sức cẩn thận từ các bản làng của người Mông. Những chú bò mộng khỏe có sừng nhọn, vó cao, tai to… sẽ được tuyển chọn vào thi đấu. Lễ hội chọi bò hồ Ba Bể nét đẹp văn hóa của đồng bào người Mông ở tỉnh Bắc Kạn Từ sáng sớm, các chú bò mộng đã được chủ của mình dắt ra một đấu trường bằng phẳng, nơi có phủ đầy cỏ non. Hình thức thi đấu là đấu vòng tròn, con nào thắng nhiều đối thủ nhất sẽ chiến thắng. Trong một trận đấu, con bò nào bỏ chạy thì xem như đã thua. Để cho hai con bò húc nhau, khi dắt bò vào sới, ngoài việc để hai con đứng sát nhau, các chủ bò còn phải khui bò để kích thích máu chiến đấu của các chú bò. Theo kinh nghiệm thi đấu bò của đồng bào người Mông. Do bản tính vốn hiền lành của loài bò, thường không hung dữ như loài trâu nên mỗi khi tham gia thi đấu không được cho chúng làm quen với nhau. Nếu chúng mà quen nhau thì sẽ không húc nhau vì vậy người Mông đã nghĩ ra mẹo bôi rượu vào yếm của bò để nó hăng chiến đấu hơn. Một điều khác biệt nữa giữa chọi bò và chọi trâu là: nếu những con trâu trước khi chọi thường được chăm sóc rất cẩn thận thì những con bò chọi lại vẫn phải đi cày, đi bừa ruộng nương như ngày thường trước khi ra trận. Hai chú bò đang tranh tài trong lễ hội chọi bò hồ Ba Bể tại Bắc Kạn Trước khi vào cuộc chọi, bò sẽ được đánh số thứ tự. Sau đó Bò sẽ được dắt vào sới chọi. Để chúng húc nhau, người ta phải lấy gậy để chọc (khui bò) và thoa rượu vào yếm của con bò để kích thích máu chiến đấu của nó. Dạo đầu cuộc đấu sẽ chỉ là màn khiêu khích bằng mắt giữa hai con bò, nhưng sau đó cả hai sẽ tỉ thí sức lực bằng cách chọc những chiếc sừng nhọn hoắc vào nhau. Luật chọi bò quy định rằng con bò nào bỏ chạy hoặc bị húc ngã thì xem như đã thua cuộc và bị loại. Khác với chọi trâu, các con bò thắng cuộc hay thua cuộc đều được chăm sóc, nuôi dưỡng để phục vụ cho việc đồng áng, nương rẫy./.

Related Figures

Hội đình thập đình

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 5/2- 9/2 Âm lịch Hội Thập đình là hội đình thờ Lê Văn Thịnh của 10 làng là Bảo Tháp, Đông Cao, Hiệp Sơn, Tri Nhị, Yên Việt, Hương Vinh, Vân Xá, Địch Trung, Huề Đông, Cứu Sơn. Lê Văn Thịnh là một thái sư dưới triều Lý được sinh ra tại nơi đây. Hội diễn ra từ ngày mồng 5 đến mồng 9 tháng 2 âm lịch trung tâm tổ chức hội là khu đình Bảo Tháp. Trước ngày khai hội, người dân Bảo Tháp phải dựng một ngôi nhà ở gần khu đình, có đầy đủ tiện nghi nội thất (sập, tủ...) các làng còn lại thì tổ chức hội tự lo, nhưng phải bảo đảm các yêu cầu đã đặt ra để chức dịch các làng tiếp khách trong những ngày hội. Hội đình thập đình tại Bắc Ninh 10 làng tham gia hội Thập Đình sẽ được chia thành ngũ đình nội và ngũ đình ngoại. Ngũ đình nội là đình thờ 2 vị Thành hoàng làng là Lê Văn Thịnh và Doãn Công ( tương truyền Doãn Công là tướng của Hai Bà Trưng). Ngũ đình nội gồm các làng: Yên Việt, Bảo Tháp, Đông Cao, Hương Vinh, Hiệp Sơn. Còn ngũ đình ngoại gồm các làng Địch Trung, Tri Nhị, Huề Đông, Vân Xá, Cứu Sơn, đình thờ một trong hai vị Thành hoàng làng. Vào ngày mồng 5 tháng 2, các làng sẽ rước và hội tụ về Bảo Tháp. Đám rước được cử hành rất trang nghiêm, theo trình tự: Hàng cờ ngũ sắc đi đầu, theo sau là long đình (có bình hương, hòm sắc), tiếp theo là âm nhạc, gươm trường bát biểu, tiếp đến là kiệu (có long ngai), long ngai là âm nhạc, sau đó đến quan viên, rồi xe trống và đôi ngựa trắng, hồng (bằng gỗ) sau cùng sẽ là người dân đi trảy hội. Việc hành lễ được quy định rất nghiêm ngặt: chủ tế và thảo văn tế được làng Bảo Tháp đảm nhận, quan viên tế là người được 10 làng tiến cử, đông xướng, đọc chúc văn, tây xướng do làng Yên Việt, Thi Xá và Hương Vinh đảm nhiệm: Ngày mồng 5 tháng 2 tế nhập tịch, ngày mồng 6 là đại tế, ngày mồng 7-8 tế tốn, ngày mồng 9 tế tạ và giã hội. Hội đình thập đình tại Bắc Ninh thờ hai vị Thành Hoàng là Lê Văn Thịnh và Doãn Công Hoạt động của hội đình diễn ra khá sôi động, với các trò chơi lành mạnh như: Hát chèo, hát xẩm, ả đào (có năm tới 30 gánh đến xin hát), đấu vật, cờ bỏi, tam cúc điếm, đu tiên, đốt cây bông, tổ tôm điếm... Ngoài những năm tổ chức hội Thập Đình, hàng năm vào dịp mồng 6 tháng 2 âm lịch, ngũ đình nội cũng thường tổ chức lễ rước qua lại giữa các làng.. Ngày xuân ấm áp, du khách trảy hội vui xuân, về tham quan và được thưởng thức nét văn hóa của hội Thập Đình, thắp nén hương thơm và bái lạy hai vị thành hoàng, lòng người sẽ thanh thản hơn bởi đã làm tròn bổn phận.

Hội Thập đình là hội đình thờ Lê Văn Thịnh của 10 làng là Bảo Tháp, Đông Cao, Hiệp Sơn, Tri Nhị, Yên Việt, Hương Vinh, Vân Xá, Địch Trung, Huề Đông, Cứu Sơn. Lê Văn Thịnh là một thái sư dưới triều Lý được sinh ra tại nơi đây. Hội diễn ra từ ngày mồng 5 đến mồng 9 tháng 2 âm lịch trung tâm tổ chức hội là khu đình Bảo Tháp. Trước ngày khai hội, người dân Bảo Tháp phải dựng một ngôi nhà ở gần khu đình, có đầy đủ tiện nghi nội thất (sập, tủ...) các làng còn lại thì tổ chức hội tự lo, nhưng phải bảo đảm các yêu cầu đã đặt ra để chức dịch các làng tiếp khách trong những ngày hội.

Hội đình thập đình tại Bắc Ninh

10 làng tham gia hội Thập Đình sẽ được chia thành ngũ đình nội và ngũ đình ngoại. Ngũ đình nội là đình thờ 2 vị Thành hoàng làng là Lê Văn Thịnh và Doãn Công ( tương truyền Doãn Công là tướng của Hai Bà Trưng). Ngũ đình nội gồm các làng: Yên Việt, Bảo Tháp, Đông Cao, Hương Vinh, Hiệp Sơn. Còn ngũ đình ngoại gồm các làng Địch Trung, Tri Nhị, Huề Đông, Vân Xá, Cứu Sơn, đình thờ một trong hai vị Thành hoàng làng. Vào ngày mồng 5 tháng 2, các làng sẽ rước và hội tụ về Bảo Tháp. Đám rước được cử hành rất trang nghiêm, theo trình tự: Hàng cờ ngũ sắc đi đầu, theo sau là long đình (có bình hương, hòm sắc), tiếp theo là âm nhạc, gươm trường bát biểu, tiếp đến là kiệu (có long ngai), long ngai là âm nhạc, sau đó đến quan viên, rồi xe trống và đôi ngựa trắng, hồng (bằng gỗ) sau cùng sẽ là người dân đi trảy hội. Việc hành lễ được quy định rất nghiêm ngặt: chủ tế và thảo văn tế được làng Bảo Tháp đảm nhận, quan viên tế là người được 10 làng tiến cử, đông xướng, đọc chúc văn, tây xướng do làng Yên Việt, Thi Xá và Hương Vinh đảm nhiệm: Ngày mồng 5 tháng 2 tế nhập tịch, ngày mồng 6 là đại tế, ngày mồng 7-8 tế tốn, ngày mồng 9 tế tạ và giã hội. Hội đình thập đình tại Bắc Ninh thờ hai vị Thành Hoàng là Lê Văn Thịnh và Doãn Công Hoạt động của hội đình diễn ra khá sôi động, với các trò chơi lành mạnh như: Hát chèo, hát xẩm, ả đào (có năm tới 30 gánh đến xin hát), đấu vật, cờ bỏi, tam cúc điếm, đu tiên, đốt cây bông, tổ tôm điếm... Ngoài những năm tổ chức hội Thập Đình, hàng năm vào dịp mồng 6 tháng 2 âm lịch, ngũ đình nội cũng thường tổ chức lễ rước qua lại giữa các làng.. Ngày xuân ấm áp, du khách trảy hội vui xuân, về tham quan và được thưởng thức nét văn hóa của hội Thập Đình, thắp nén hương thơm và bái lạy hai vị thành hoàng, lòng người sẽ thanh thản hơn bởi đã làm tròn bổn phận.

Related Figures

Hội đền Đại Cại

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/1- 17/1 Âm lịch Một năm chỉ có một lần diễn ra, Lễ hội đền Đại Cại của Yên Bái đã trở thành nơi để những môn thể thao truyền thống của nhân dân các dân tộc trong vùng được duy trì và ngày càng phát triển rộng rãi hơn. Thông thường, Lễ hội đền Đại Cại sẽ diễn ra ở xã Tân Lĩnh, huyện Lục Yên, Yên Bái trong vòng 2 ngày. Ngày chính lễ tiến hành vào ngày rằm tháng Giêng. Lễ Hội đền Đại Cại tại Yên Bái Trong ngày lễ chính diễn ra bắt đầu là nghi thức rước và dâng lễ bằng thuyền độc đáo trong quần thể di tích. Lễ rước bà chúa quân lương Vũ Thị Ngọc Anh và lễ dâng hương được đồng bào chuẩn rất bị kỹ lưỡng. Đoàn rước sẽ đi theo đường thủy ngòi Lăn, rồi xuôi dọc dòng sông Chảy, tiếp theo đoàn rước sẽ đi đường bộ vào sân đình làm lễ, cầu cho mùa màng tươi tốt, mưa thuận gió hòa. Còn phần hội thì có thể diễn ra trước hoặc sau lễ rước với nhiều hình thức sinh hoạt cộng đồng phong phú. Chương trình văn nghệ diễn ra trong ngày khai hội với những tiết mục của diễn viên chuyên nghiệp hay của chính những người dân địa phương trình bày đã tạo ra một không khí phấn khởi vui tươi trong ngày đầu năm mới. Các đồng chí lãnh đạo huyện dâng hương tại Đền Đại Cại Trong ngày diễn ra lễ hội, bên cạnh những môn thể thao hiện đại thì cũng không thể thiếu những trò chơi mang đậm bản sắc của đồng bào nơi đây. Ngay sau lễ rước, thì dòng sông ngay trước cửa đền đã vang động tiếng trống thôi thúc các vận động viên tranh tài đua thuyền. Chiếc thuyền độc mộc là phương tiện đi lại không thể thiếu của người dân đồng bào Tày và người dân đồng bào Dao của các xã dọc theo sông Chảy như An Lạc, Tân Lĩnh. Bơi thuyền đạp chân như bẩm sinh trong con người mỗi chàng trai, cô gái ở vùng đất này. Và những ai được tham gia vào cuộc đua này cũng lấy làm tự hào lắm. Khi cuộc đua trên sông kết thúc, cũng vừa là lúc sương sớm tan hết và nắng bắt đầu lên đủ để những trai làng, gái bản và du khách nhìn rõ được vòng còn. Cây nêu cao vút được dựng lên ngay giữa sâu khấu nhà đền, vòng còn nhỏ bé thách thức những người chơi điệu nghệ và những quả còn tíu tít qua lại như muốn nói lên ước vọng, tinh thần vượt lên khó khăn của những người dân vùng cao. Trong Hội đền Đại Cại, kéo co cũng là một môn thi đấu không thể thiếu. Nhưng vui hơn ở đây còn là cuộc thi tài giữa các thôn thuộc xã Tân Lĩnh - đây là địa bàn được coi là có trường luyện binh và còn là nơi sản xuất lương thực nuôi quân của Phó tướng Vũ Thị Ngọc Anh năm xưa. Những người tham gia vào các đội chơi này đã thể hiện bề dày truyền thống lịch sử của vùng đất thiêng. Đặc biệt thú vị ở đây còn có môn đánh quay. Ở sân chơi đánh quay này, những con quay được người chơi đẽo gọt vô cùng công phu, nhiều con quay còn gắn bó với họ trong nhiều cuộc chơi của thôn bản. Người chơi cũng phải thật giỏi dang khi đánh được trúng quay của đối phương để vào những vòng trong và để xứng đáng nhận được phần thưởng từ ban tổ chức. Cũng giống như kéo co, thì sân đấu vật trống cũng thúc liên hồi giục giã các đô vật là những chàng trai người Tày, người Dao, người Kinh vào xới. Sức khỏe, sự nhanh nhẹn, và khôn khéo được thể hiện trong từng miếng lừa, từng thế tấn và từng bước chân ra vào mạnh mẽ. Tiếp sau đó là môn đẩy gậy - một môn thi đấu đòi hỏi người chơi phải có sức khỏe và kỹ thuật cao. Tuy không có nhiều vận động viên, nhưng việc đưa vào thi đấu như khẳng định được rằng đây là môn thể thao mũi nhọn của các địa phương vùng cao thuộc huyện Lục Yên của tỉnh Yên Bái. Ngoài các môn thể thao này, thì còn tùy theo quy mô Lễ hội hàng năm mà địa phương có thể còn tổ chức thi đấu bóng chuyền, bắn nỏ, cờ tướng và một số môn khác. Trò chơi kéo co trong lễ hội Đền Đại Cại Sau những ngày lễ hội diễn ra, thì những người dân nơi đây lại trở về với công việc thường ngày trong dư âm ngày hội không dứt. Rồi trong những ngày sinh hoạt cộng đồng dân cư, họ lại chơi, lại thi đấu hay tranh thủ tập luyện, giải trí khi nghỉ ngơi. Một năm chỉ có một lần diễn ra, Lễ hội đền Đại Cại đã trở thành nơi để cho những môn thể thao truyền thống của người dân các dân tộc trong vùng được duy trì và phát triển ngày càng rộng rãi hơn. Theo yenbai.gov.vn

Một năm chỉ có một lần diễn ra, Lễ hội đền Đại Cại của Yên Bái đã trở thành nơi để những môn thể thao truyền thống của nhân dân các dân tộc trong vùng được duy trì và ngày càng phát triển rộng rãi hơn. Thông thường, Lễ hội đền Đại Cại sẽ diễn ra ở xã Tân Lĩnh, huyện Lục Yên, Yên Bái trong vòng 2 ngày. Ngày chính lễ tiến hành vào ngày rằm tháng Giêng.

Lễ Hội đền Đại Cại tại Yên Bái Trong ngày lễ chính diễn ra bắt đầu là nghi thức rước và dâng lễ bằng thuyền độc đáo trong quần thể di tích. Lễ rước bà chúa quân lương Vũ Thị Ngọc Anh và lễ dâng hương được đồng bào chuẩn rất bị kỹ lưỡng. Đoàn rước sẽ đi theo đường thủy ngòi Lăn, rồi xuôi dọc dòng sông Chảy, tiếp theo đoàn rước sẽ đi đường bộ vào sân đình làm lễ, cầu cho mùa màng tươi tốt, mưa thuận gió hòa. Còn phần hội thì có thể diễn ra trước hoặc sau lễ rước với nhiều hình thức sinh hoạt cộng đồng phong phú. Chương trình văn nghệ diễn ra trong ngày khai hội với những tiết mục của diễn viên chuyên nghiệp hay của chính những người dân địa phương trình bày đã tạo ra một không khí phấn khởi vui tươi trong ngày đầu năm mới. Các đồng chí lãnh đạo huyện dâng hương tại Đền Đại Cại Trong ngày diễn ra lễ hội, bên cạnh những môn thể thao hiện đại thì cũng không thể thiếu những trò chơi mang đậm bản sắc của đồng bào nơi đây. Ngay sau lễ rước, thì dòng sông ngay trước cửa đền đã vang động tiếng trống thôi thúc các vận động viên tranh tài đua thuyền. Chiếc thuyền độc mộc là phương tiện đi lại không thể thiếu của người dân đồng bào Tày và người dân đồng bào Dao của các xã dọc theo sông Chảy như An Lạc, Tân Lĩnh. Bơi thuyền đạp chân như bẩm sinh trong con người mỗi chàng trai, cô gái ở vùng đất này. Và những ai được tham gia vào cuộc đua này cũng lấy làm tự hào lắm. Khi cuộc đua trên sông kết thúc, cũng vừa là lúc sương sớm tan hết và nắng bắt đầu lên đủ để những trai làng, gái bản và du khách nhìn rõ được vòng còn. Cây nêu cao vút được dựng lên ngay giữa sâu khấu nhà đền, vòng còn nhỏ bé thách thức những người chơi điệu nghệ và những quả còn tíu tít qua lại như muốn nói lên ước vọng, tinh thần vượt lên khó khăn của những người dân vùng cao. Trong Hội đền Đại Cại, kéo co cũng là một môn thi đấu không thể thiếu. Nhưng vui hơn ở đây còn là cuộc thi tài giữa các thôn thuộc xã Tân Lĩnh - đây là địa bàn được coi là có trường luyện binh và còn là nơi sản xuất lương thực nuôi quân của Phó tướng Vũ Thị Ngọc Anh năm xưa. Những người tham gia vào các đội chơi này đã thể hiện bề dày truyền thống lịch sử của vùng đất thiêng. Đặc biệt thú vị ở đây còn có môn đánh quay. Ở sân chơi đánh quay này, những con quay được người chơi đẽo gọt vô cùng công phu, nhiều con quay còn gắn bó với họ trong nhiều cuộc chơi của thôn bản. Người chơi cũng phải thật giỏi dang khi đánh được trúng quay của đối phương để vào những vòng trong và để xứng đáng nhận được phần thưởng từ ban tổ chức. Cũng giống như kéo co, thì sân đấu vật trống cũng thúc liên hồi giục giã các đô vật là những chàng trai người Tày, người Dao, người Kinh vào xới. Sức khỏe, sự nhanh nhẹn, và khôn khéo được thể hiện trong từng miếng lừa, từng thế tấn và từng bước chân ra vào mạnh mẽ. Tiếp sau đó là môn đẩy gậy - một môn thi đấu đòi hỏi người chơi phải có sức khỏe và kỹ thuật cao. Tuy không có nhiều vận động viên, nhưng việc đưa vào thi đấu như khẳng định được rằng đây là môn thể thao mũi nhọn của các địa phương vùng cao thuộc huyện Lục Yên của tỉnh Yên Bái. Ngoài các môn thể thao này, thì còn tùy theo quy mô Lễ hội hàng năm mà địa phương có thể còn tổ chức thi đấu bóng chuyền, bắn nỏ, cờ tướng và một số môn khác. Trò chơi kéo co trong lễ hội Đền Đại Cại Sau những ngày lễ hội diễn ra, thì những người dân nơi đây lại trở về với công việc thường ngày trong dư âm ngày hội không dứt. Rồi trong những ngày sinh hoạt cộng đồng dân cư, họ lại chơi, lại thi đấu hay tranh thủ tập luyện, giải trí khi nghỉ ngơi. Một năm chỉ có một lần diễn ra, Lễ hội đền Đại Cại đã trở thành nơi để cho những môn thể thao truyền thống của người dân các dân tộc trong vùng được duy trì và phát triển ngày càng rộng rãi hơn. Theo yenbai.gov.vn

Related Figures

Hội nhồi

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 7/1 Âm lịch Thời xưa Làng Hòa Đình có tên chữ là Lồi Đình, tên nôm là làng Nhồi, nay thuộc địa phận xã Võ Cường, thành phố Bắc Ninh. Từ lâu, làng Nhồi đã được xem là trung tâm giao lưu kinh tế văn văn hóa của Bắc Ninh. Tại đây, vào ngày mồng 7 tháng Giêng âm lịch người dân sẽ tổ chức “Hội Nhồi” với tục rước “Bà Đống” . Các cô gái trẻ chưa chồng thùy mị nết na sẽ được chọn để rước kiệu Bà Đống Tương truyền, ngày xưa Thành hoàng của làng Nhồi là “Bà Đống”, cư ngụ tại một gò đất ở cánh đồng (Đống Cả) thuộc làng Đống Cao. Mỗi khi vào ngày hội làng, dân làng đều tổ chức rước Thành hoàng về đình và chùa để thờ. Lễ rước sẽ được tiến hành theo quy trình như sau: Tối ngày mồng 6, làng Nhồi sẽ chọn ra 12 cô chưa chồng, xinh đẹp, thùy mị, nết na, sau đó tất cả cùng tụ tập “ngủ bọn” tại một nhà. Đến quá nửa đêm, khi tiếng chuông chùa làng thỉnh, 12 cô gái này lập tức cùng ông Tiên Chỉ cử hành nghi thức rước kiệu Bà Đống lên gò Đống Cả làng Đống Cao để rước Thành Hoàng làng về đình làm lễ. Sau khi ông Tiên Chỉ đốt hương và khấn vái xin rước Bà Đống xong, các cô gái sẽ ngả kiệu thay sự thành kính rước Bà Đống về làng. Kiệu rước được làm bằng tre tươi, được trang trí bằng các loại hoa thơm và lá cây tươi. Đòn khiêng kiệu có dán giấy ngũ sắc. Đi đầu đám rước là 2 cô gái khiêng một cái trống cái, một cô sẽ đi bên cạnh vừa đi vừa đánh nhịp ba. Theo sau trống cái là hai cô gái khiêng chiêng cùng đánh phối hợp với nhịp trống. Kế đến sẽ là đoàn rước kiệu Thành hoàng. Hội nhồi tại Bắc Ninh Khi chiêng trống nổi lên thì 12 chàng trai làng Đống Cao chạy tới giằng kiệu. Bên phía các chàng trai đã chuẩn bị sẵn vài đòn lao nhỏ, nhẹ, cũng dán giấy ngũ sắc. Trong khi hai bên đang giằng co quyết liệt, thì bất ngờ đám trai làng Đống Cao sẽ dùng đòn lao đã chuẩn bị sẵn dí vào rốn các cô gái của làng Nhồi. Cuộc “giao tranh” này chỉ kết thúc khi những cô gái của làng Nhồi rời khỏi địa phận của làng Đống Cao. Đám rước Bà Đống về tới làng Nhồi cũng là thời điểm trời tảng sáng, người dân sẽ rước Bà Đống vào trong đình rồi sang chùa. Bên trong đình, chùa quan Đám sẽ cử hành nghi lễ lễ thờ Thành hoàng làng. Bên ngoài các “bọn” Quan họ cũng bắt đầu cất tiếng hát để ca ngợi công đức của Thần, Phật. Khách thập phương nô nức kéo đến thăm hội. Để đón tiếp khách về xem hội, các bọn Quan họ của làng sẽ ra tận cổng đón khách bằng những lời ca tiếng hát Quan họ ngọt ngào, và hân hoan, niềm nở. Khách đến xem hội tay bưng cơi trầu vào lễ Phật nhưng cũng phải đáp lại chủ bằng những câu Quan họ ngọt ngào, tình cảm. Các bọn Quan họ chủ và khách cùng đưa nhau vào đình,vào chùa để lễ Thần, Phật, sau đó lại quay ra hát Quan họ và đối đáp giao lưu. Các Liền anh, liền chị vừa hát quan họ vừa têm trầu, mời nước... cứ như thế cuộc vui kéo dài đến suốt ngày hội. Tín ngưỡng thờ Bà Đống của người dân làng Nhồi đã có được bắt nguồn từ tín ngưỡng thờ nữ thần nông nghiệp của người dân đất Việt.

Thời xưa Làng Hòa Đình có tên chữ là Lồi Đình, tên nôm là làng Nhồi, nay thuộc địa phận xã Võ Cường, thành phố Bắc Ninh. Từ lâu, làng Nhồi đã được xem là trung tâm giao lưu kinh tế văn văn hóa của Bắc Ninh. Tại đây, vào ngày mồng 7 tháng Giêng âm lịch người dân sẽ tổ chức “Hội Nhồi” với tục rước “Bà Đống” .

Các cô gái trẻ chưa chồng thùy mị nết na sẽ được chọn để rước kiệu Bà Đống

Tương truyền, ngày xưa Thành hoàng của làng Nhồi là “Bà Đống”, cư ngụ tại một gò đất ở cánh đồng (Đống Cả) thuộc làng Đống Cao. Mỗi khi vào ngày hội làng, dân làng đều tổ chức rước Thành hoàng về đình và chùa để thờ. Lễ rước sẽ được tiến hành theo quy trình như sau: Tối ngày mồng 6, làng Nhồi sẽ chọn ra 12 cô chưa chồng, xinh đẹp, thùy mị, nết na, sau đó tất cả cùng tụ tập “ngủ bọn” tại một nhà. Đến quá nửa đêm, khi tiếng chuông chùa làng thỉnh, 12 cô gái này lập tức cùng ông Tiên Chỉ cử hành nghi thức rước kiệu Bà Đống lên gò Đống Cả làng Đống Cao để rước Thành Hoàng làng về đình làm lễ. Sau khi ông Tiên Chỉ đốt hương và khấn vái xin rước Bà Đống xong, các cô gái sẽ ngả kiệu thay sự thành kính rước Bà Đống về làng. Kiệu rước được làm bằng tre tươi, được trang trí bằng các loại hoa thơm và lá cây tươi. Đòn khiêng kiệu có dán giấy ngũ sắc. Đi đầu đám rước là 2 cô gái khiêng một cái trống cái, một cô sẽ đi bên cạnh vừa đi vừa đánh nhịp ba. Theo sau trống cái là hai cô gái khiêng chiêng cùng đánh phối hợp với nhịp trống. Kế đến sẽ là đoàn rước kiệu Thành hoàng. Hội nhồi tại Bắc Ninh Khi chiêng trống nổi lên thì 12 chàng trai làng Đống Cao chạy tới giằng kiệu. Bên phía các chàng trai đã chuẩn bị sẵn vài đòn lao nhỏ, nhẹ, cũng dán giấy ngũ sắc. Trong khi hai bên đang giằng co quyết liệt, thì bất ngờ đám trai làng Đống Cao sẽ dùng đòn lao đã chuẩn bị sẵn dí vào rốn các cô gái của làng Nhồi. Cuộc “giao tranh” này chỉ kết thúc khi những cô gái của làng Nhồi rời khỏi địa phận của làng Đống Cao. Đám rước Bà Đống về tới làng Nhồi cũng là thời điểm trời tảng sáng, người dân sẽ rước Bà Đống vào trong đình rồi sang chùa. Bên trong đình, chùa quan Đám sẽ cử hành nghi lễ lễ thờ Thành hoàng làng. Bên ngoài các “bọn” Quan họ cũng bắt đầu cất tiếng hát để ca ngợi công đức của Thần, Phật. Khách thập phương nô nức kéo đến thăm hội. Để đón tiếp khách về xem hội, các bọn Quan họ của làng sẽ ra tận cổng đón khách bằng những lời ca tiếng hát Quan họ ngọt ngào, và hân hoan, niềm nở. Khách đến xem hội tay bưng cơi trầu vào lễ Phật nhưng cũng phải đáp lại chủ bằng những câu Quan họ ngọt ngào, tình cảm. Các bọn Quan họ chủ và khách cùng đưa nhau vào đình,vào chùa để lễ Thần, Phật, sau đó lại quay ra hát Quan họ và đối đáp giao lưu. Các Liền anh, liền chị vừa hát quan họ vừa têm trầu, mời nước... cứ như thế cuộc vui kéo dài đến suốt ngày hội. Tín ngưỡng thờ Bà Đống của người dân làng Nhồi đã có được bắt nguồn từ tín ngưỡng thờ nữ thần nông nghiệp của người dân đất Việt.

Related Figures

Lễ hội Từ Hả

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 6/1- 8/1 Âm lịch (lehoi.info) - Lễ hội Đền Từ Hả diễn ra trong hai ngày từ ngày mồng 6 đến mồng 8 tháng Giêng âm lịch, tại xã Hồng Giang, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, nơi thờ thượng tướng quân Thân Cảnh Phúc, người góp công lao to lớn trong cuộc chiến tranh chống quân Tống ở thế kỷ thứ XI (1075-1077). Tương truyền cách đây hàng nghìn năm về trước, vào thời nhà Lý (thế kỷ X - XI), tại xã Hả Hộ của Động Giáp, là Châu Lạng của nước Đại Việt, đây là một động lớn của vùng Bắc Giang, dòng tộc họ Giáp sống ở động này từng rất nổi tiếng trong lịch sử dựng nước và giữ nước. Các tù trưởng và tộc trưởng vùng này đều là người thuộc dòng họ Giáp, đã được kế truyền nhau qua nhiều thế kỷ. Vào thời Lý họ Giáp ba đời có người đã làm tới chức phò mã cho nhà Lý, như: thời Lý Thái Tông có Thân Thiệu Thái (1029) lấy công chúa Bình Dương; thời Lý Thái Tổ có Giáp Thừa Quý; Thời Lý Nhân Tông cóThân Cảnh Phúc (1066) kết duyên với công chúa Thiên Thành, các phò mã họ Giáp thường là những người giỏi đánh giặc và đã được nhân dân tôn sùng, lịch sử cũng đã có ghi là những “Thiên Thần Động Giáp”. Hội Từ Hả là lễ hội thờ tướng quân Vũ Thành (tức Thân Cảnh Phúc) là phò mã nhà Lý (1066) đã có công lớn trong công cuộc chống giặc ngoại xâm phương Bắc. Đoàn rước thành trong lễ hội Từ Hả tỉnh Bắc Giang Để tưởng nhớ đến công lao to lớn của ngài, hàng năm người nhân nơi đây thường mở hội từ ngày mồng 6 đến ngày mồng 8 tháng giêng, trong đó có lễ rước hội, cuộc rước là tái diễn lại sự tích đi đánh giặc của Thân Cảnh Phúc. Theo tục xưa, tổ chức lễ hội đền Hả thường chia cho 4 giáp: Trong, Kép, Nguộm và Hăng. Hàng năm, 4 giáp này sẽ chọn ra một giáp để đăng cai, 4 giáp bầu chọn ra một ban khánh tiết. Ban khánh tiết bao gồm: thầy cả; hội chủ; đương cai; bồi tế; thư văn; hỏa khí; đạo tràng; chắp hiện; các bậc trưởng lão; thủ từ; và bốn nhà chức trách của làng. Ban khánh tiết có trách nhiệm đứng ra tổ chức lễ hội theo các nghi lễ và nghi thức của nhà thánh đã được truyền lại từ xa xưa. Hội thường được tổ chức vào 3 ngày là mồng 7, mồng 8 và mồng 9 tháng Giêng hàng năm. Ngày mồng 8 sẽ là ngày chính của hội. Trong cả 3 ngày đều tổ chức nghi lễ tế lễ tại đền và chùa. Riêng ngày mồng 8 sẽ tổ chức tế lễ tại Bãi Dược, vừa tế lễ, vừa diễn ra các trò chơi. Cuộc rước và tế tại Bãi Dược thường được tiến hành bắt đầu từ giỡ Mão cho đến giờ Ngọ của ngày mồng 8 tháng giêng. Đây là một màn diễn lại quá trình đức thánh Vũ Thành cầm quân đi đánh giặc bảo vệ tổ quốc. Tích diễn này là một nét đẹp, độc đáo nhất và tiêu biểu nhất trong lễ hội Từ Hả. Nghi thức và nghi lễ trong ngày mồng 8 tháng Giêng sẽ được bắt đầu bằng nghi lễ giao tín. Lễ giao tín sẽ được bắt đầu vào giờ Mão (6 -7 giờ sáng) do các quan viên trong Giáp đảm nhận. Đây là lễ dâng cỗ chay để trình nhà Thánh, đồng thời mời thánh cầm quân ra trận. Các nghi lễ được tổ chức rất trang nghiêm, và tôn kính. Cỗ chay của các giáp được dâng lên bàn thờ của thánh để cúng bao gồm: bánh ít, bánh mật, bánh dày, bánh bìa, giang, bánh chay, bánh đậu nhừ, bánh mã, xôi, cơm, cam sành, chè lam, chè mật, trầu cau. Sau khi làm lễ xong, các đồ rước như kiệu, bát bửu, hương án, binh khí, cờ quạt, ngựa bạch, ngựa hồng… đã được sắp xếp đầy đủ và chỉnh tề tại khu vực sân đền để chuẩn bị rước. Đúng giờ Tỵ, sau khi có lệnh cho đoàn rước khởi giá. Đoàn rước chính là tượng trưng cho đoàn quân đang hành quân đi đánh trận. Vì thế, đoàn rước này phải đi rất trật tự âm thầm, quân rẹp đường, cờ sai, chỉ lấy hiệu lệnh để chuyền nhau, 27 lá cờ ngũ hành thường được quấn vào cột cờ, chiêng, trống, phải thu hết dùi không được đánh. Kỳ lân, sư tử cũng phải im lặng mà bước, ngựa đóng yên cương cũng bước đi một cách từ từ. Hộ vệ vác bát bửu, đao nghiêm trang, đi đều và không được nói. Kiệu ông, kiệu bà chậm rãi rước theo đoàn quân. Đoàn rước đi trong bầu không khí im lặng, trang nghiêm và cứ thế đi qua miếu Bà Lão Hậu ở dưới một gốc đa, sau đó đi qua bãi trống, bãi chiêng, bãi lá cờ… và tiến quân vào chân đồi bãi Dược rồi dừng lại. Đây chính là nơi ém quân để chờ thời cơ xung trận. Người dân thập phương nô nức kéo nhau về trẩy hội Từ Hả ở bắc Giang Sau đó, lễ vật thờ các cuộc tế lễ lần lượt diễn ra. Lễ vật được dâng lên thánh tại bãi Dược cũng được dân làng chuẩn bị rất chu đáo, đúng nghi thức và trông rất đẹp mắt. Sau tế lễ mừng công sẽ đến lễ đảo cờ lần một và lần hai. Lễ đảo cờ đặc trưng cho 2 lần xuất quân đi đánh giặc của vị tướng quân Vũ Thành. 27 lá cờ sẽ được chia làm hai hàng ở trước kiệu thánh, 13 lá đi thành một hàng, còn 1 lá được cắm riêng một chỗ. Các trai đinh của giáp đăng cai sẽ ở đúng vị trí và sẵn sàng nghe lệnh và đảo cờ. Khi lệnh phát, 13 lá cờ bên tả sẽ chạy sang chỗ của 13 lá cờ của bên hữu và ngược lại. Thời gian đảo cờ diễn ra rất nhanh, cự ly giữa bên tả và bên hữu là 100m, nên các trai đinh cần phải vận động rất nhanh nhẹn. Đảo cờ là biểu diễn như một trận đánh. Lễ đảo cờ lần hai sẽ diễn ra vào lúc 13 giờ và cách thức và tiến trình cũng diễn ra như vậy, chỉ khác nhau là lần đảo cờ thứ hai sẽ có lễ rước thánh hồi cung. Việc đảo cờ lần 2 được truyền lại, là đức thánh Vũ Thành đánh thắng quân phương Bắc 9 trận, đến trận thứ 10 thì bị thương, nên phải chạy về phía sau; vì thế khi thánh hoàn cung sẽ qua miếu Lão Hậu ở dưới gốc đa thì phải dừng lại để ghi nhớ việc tướng quân Vũ Thành khi bị thương đã qua đâyt hỏi bà già bán nước là “Mất đầu thì sống hay chết”... Sau đó kiệu thánh sẽ tiếp tục được hoàn cung. Tại bãi Dược, sau khi nghi thức tế lễ xong các trò chơi bắt đầu được tổ chức, có trò chơi như: kéo co, đẩy gậy, đu tiên, vật cổ truyền, đá cầu chinh, võ dân tộc. Ngày nay còn có thêm môn bóng đá, cầu lông và hát múa. Khi thánh đã hồi cung xong thì ngay dưới bóng cây cổ thụ, 2 thảo xá sẽ được dựng lên trước sân để chờ đoàn rước vào lễ mộc dục và lễ thảo xá. Lễ thảo xá là nghi thức hóa sinh để nhà thánh đi về cõi vĩnh hằng. Nơi đây chính là nơi con ngựa bạch của tướng quân Vũ Thành về và hóa tại đó. Để tượng trưng cho sự hóa sinh ấy người dân đã chặt cây và gác vào nhau (gọi là thảo xá) đến giờ dậu thì thảo xá sẽ được đốt đi và tiễn thánh về với cõi vĩnh hằng. Nghi lễ mộc dục thường được diễn ra vào tối ngày mồng 8 tháng Giêng, sau lễ hóa thảo xá. Tối mồng 9 tháng Giêng ban tổ chức sẽ tổ chức lễ cầu siêu tại chùa Từ Hả (còn gọi là chùa Thiên Đài) với hy vọng sinh linh của đức thánh Vũ Thành sẽ phù hộ độ trì cho bà con dân làng làm ăn thịnh vượng Lễ hội Từ Hả diễn rã với mục đích để con cháu ôn lại quá khứ hào hùng của các vị cha ông ta và tinh thần đoàn kết đấu tranh anh hùng của dân tộc. Đây là một lễ hội lớn của tỉnh Bắc Giang, đã thu hút được rất nhiều du khách thập phường về tham quan và thắp hương cầu nguyện.

(lehoi.info) - Lễ hội Đền Từ Hả diễn ra trong hai ngày từ ngày mồng 6 đến mồng 8 tháng Giêng âm lịch, tại xã Hồng Giang, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, nơi thờ thượng tướng quân Thân Cảnh Phúc, người góp công lao to lớn trong cuộc chiến tranh chống quân Tống ở thế kỷ thứ XI (1075-1077).

Tương truyền cách đây hàng nghìn năm về trước, vào thời nhà Lý (thế kỷ X - XI), tại xã Hả Hộ của Động Giáp, là Châu Lạng của nước Đại Việt, đây là một động lớn của vùng Bắc Giang, dòng tộc họ Giáp sống ở động này từng rất nổi tiếng trong lịch sử dựng nước và giữ nước. Các tù trưởng và tộc trưởng vùng này đều là người thuộc dòng họ Giáp, đã được kế truyền nhau qua nhiều thế kỷ. Vào thời Lý họ Giáp ba đời có người đã làm tới chức phò mã cho nhà Lý, như: thời Lý Thái Tông có Thân Thiệu Thái (1029) lấy công chúa Bình Dương; thời Lý Thái Tổ có Giáp Thừa Quý; Thời Lý Nhân Tông cóThân Cảnh Phúc (1066) kết duyên với công chúa Thiên Thành, các phò mã họ Giáp thường là những người giỏi đánh giặc và đã được nhân dân tôn sùng, lịch sử cũng đã có ghi là những “Thiên Thần Động Giáp”. Hội Từ Hả là lễ hội thờ tướng quân Vũ Thành (tức Thân Cảnh Phúc) là phò mã nhà Lý (1066) đã có công lớn trong công cuộc chống giặc ngoại xâm phương Bắc. Đoàn rước thành trong lễ hội Từ Hả tỉnh Bắc Giang Để tưởng nhớ đến công lao to lớn của ngài, hàng năm người nhân nơi đây thường mở hội từ ngày mồng 6 đến ngày mồng 8 tháng giêng, trong đó có lễ rước hội, cuộc rước là tái diễn lại sự tích đi đánh giặc của Thân Cảnh Phúc. Theo tục xưa, tổ chức lễ hội đền Hả thường chia cho 4 giáp: Trong, Kép, Nguộm và Hăng. Hàng năm, 4 giáp này sẽ chọn ra một giáp để đăng cai, 4 giáp bầu chọn ra một ban khánh tiết. Ban khánh tiết bao gồm: thầy cả; hội chủ; đương cai; bồi tế; thư văn; hỏa khí; đạo tràng; chắp hiện; các bậc trưởng lão; thủ từ; và bốn nhà chức trách của làng. Ban khánh tiết có trách nhiệm đứng ra tổ chức lễ hội theo các nghi lễ và nghi thức của nhà thánh đã được truyền lại từ xa xưa. Hội thường được tổ chức vào 3 ngày là mồng 7, mồng 8 và mồng 9 tháng Giêng hàng năm. Ngày mồng 8 sẽ là ngày chính của hội. Trong cả 3 ngày đều tổ chức nghi lễ tế lễ tại đền và chùa. Riêng ngày mồng 8 sẽ tổ chức tế lễ tại Bãi Dược, vừa tế lễ, vừa diễn ra các trò chơi. Cuộc rước và tế tại Bãi Dược thường được tiến hành bắt đầu từ giỡ Mão cho đến giờ Ngọ của ngày mồng 8 tháng giêng. Đây là một màn diễn lại quá trình đức thánh Vũ Thành cầm quân đi đánh giặc bảo vệ tổ quốc. Tích diễn này là một nét đẹp, độc đáo nhất và tiêu biểu nhất trong lễ hội Từ Hả. Nghi thức và nghi lễ trong ngày mồng 8 tháng Giêng sẽ được bắt đầu bằng nghi lễ giao tín. Lễ giao tín sẽ được bắt đầu vào giờ Mão (6 -7 giờ sáng) do các quan viên trong Giáp đảm nhận. Đây là lễ dâng cỗ chay để trình nhà Thánh, đồng thời mời thánh cầm quân ra trận. Các nghi lễ được tổ chức rất trang nghiêm, và tôn kính. Cỗ chay của các giáp được dâng lên bàn thờ của thánh để cúng bao gồm: bánh ít, bánh mật, bánh dày, bánh bìa, giang, bánh chay, bánh đậu nhừ, bánh mã, xôi, cơm, cam sành, chè lam, chè mật, trầu cau. Sau khi làm lễ xong, các đồ rước như kiệu, bát bửu, hương án, binh khí, cờ quạt, ngựa bạch, ngựa hồng… đã được sắp xếp đầy đủ và chỉnh tề tại khu vực sân đền để chuẩn bị rước. Đúng giờ Tỵ, sau khi có lệnh cho đoàn rước khởi giá. Đoàn rước chính là tượng trưng cho đoàn quân đang hành quân đi đánh trận. Vì thế, đoàn rước này phải đi rất trật tự âm thầm, quân rẹp đường, cờ sai, chỉ lấy hiệu lệnh để chuyền nhau, 27 lá cờ ngũ hành thường được quấn vào cột cờ, chiêng, trống, phải thu hết dùi không được đánh. Kỳ lân, sư tử cũng phải im lặng mà bước, ngựa đóng yên cương cũng bước đi một cách từ từ. Hộ vệ vác bát bửu, đao nghiêm trang, đi đều và không được nói. Kiệu ông, kiệu bà chậm rãi rước theo đoàn quân. Đoàn rước đi trong bầu không khí im lặng, trang nghiêm và cứ thế đi qua miếu Bà Lão Hậu ở dưới một gốc đa, sau đó đi qua bãi trống, bãi chiêng, bãi lá cờ… và tiến quân vào chân đồi bãi Dược rồi dừng lại. Đây chính là nơi ém quân để chờ thời cơ xung trận. Người dân thập phương nô nức kéo nhau về trẩy hội Từ Hả ở bắc Giang Sau đó, lễ vật thờ các cuộc tế lễ lần lượt diễn ra. Lễ vật được dâng lên thánh tại bãi Dược cũng được dân làng chuẩn bị rất chu đáo, đúng nghi thức và trông rất đẹp mắt. Sau tế lễ mừng công sẽ đến lễ đảo cờ lần một và lần hai. Lễ đảo cờ đặc trưng cho 2 lần xuất quân đi đánh giặc của vị tướng quân Vũ Thành. 27 lá cờ sẽ được chia làm hai hàng ở trước kiệu thánh, 13 lá đi thành một hàng, còn 1 lá được cắm riêng một chỗ. Các trai đinh của giáp đăng cai sẽ ở đúng vị trí và sẵn sàng nghe lệnh và đảo cờ. Khi lệnh phát, 13 lá cờ bên tả sẽ chạy sang chỗ của 13 lá cờ của bên hữu và ngược lại. Thời gian đảo cờ diễn ra rất nhanh, cự ly giữa bên tả và bên hữu là 100m, nên các trai đinh cần phải vận động rất nhanh nhẹn. Đảo cờ là biểu diễn như một trận đánh. Lễ đảo cờ lần hai sẽ diễn ra vào lúc 13 giờ và cách thức và tiến trình cũng diễn ra như vậy, chỉ khác nhau là lần đảo cờ thứ hai sẽ có lễ rước thánh hồi cung. Việc đảo cờ lần 2 được truyền lại, là đức thánh Vũ Thành đánh thắng quân phương Bắc 9 trận, đến trận thứ 10 thì bị thương, nên phải chạy về phía sau; vì thế khi thánh hoàn cung sẽ qua miếu Lão Hậu ở dưới gốc đa thì phải dừng lại để ghi nhớ việc tướng quân Vũ Thành khi bị thương đã qua đâyt hỏi bà già bán nước là “Mất đầu thì sống hay chết”... Sau đó kiệu thánh sẽ tiếp tục được hoàn cung. Tại bãi Dược, sau khi nghi thức tế lễ xong các trò chơi bắt đầu được tổ chức, có trò chơi như: kéo co, đẩy gậy, đu tiên, vật cổ truyền, đá cầu chinh, võ dân tộc. Ngày nay còn có thêm môn bóng đá, cầu lông và hát múa. Khi thánh đã hồi cung xong thì ngay dưới bóng cây cổ thụ, 2 thảo xá sẽ được dựng lên trước sân để chờ đoàn rước vào lễ mộc dục và lễ thảo xá. Lễ thảo xá là nghi thức hóa sinh để nhà thánh đi về cõi vĩnh hằng. Nơi đây chính là nơi con ngựa bạch của tướng quân Vũ Thành về và hóa tại đó. Để tượng trưng cho sự hóa sinh ấy người dân đã chặt cây và gác vào nhau (gọi là thảo xá) đến giờ dậu thì thảo xá sẽ được đốt đi và tiễn thánh về với cõi vĩnh hằng. Nghi lễ mộc dục thường được diễn ra vào tối ngày mồng 8 tháng Giêng, sau lễ hóa thảo xá. Tối mồng 9 tháng Giêng ban tổ chức sẽ tổ chức lễ cầu siêu tại chùa Từ Hả (còn gọi là chùa Thiên Đài) với hy vọng sinh linh của đức thánh Vũ Thành sẽ phù hộ độ trì cho bà con dân làng làm ăn thịnh vượng Lễ hội Từ Hả diễn rã với mục đích để con cháu ôn lại quá khứ hào hùng của các vị cha ông ta và tinh thần đoàn kết đấu tranh anh hùng của dân tộc. Đây là một lễ hội lớn của tỉnh Bắc Giang, đã thu hút được rất nhiều du khách thập phường về tham quan và thắp hương cầu nguyện.

Related Figures

Lễ hội chùa Bút Tháp - Bắc Ninh

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 23/3- 24/3 Âm lịch (lehoi.info) - Lễ hội chùa Bút Tháp là một lễ hội là môt hội chùa truyền thống với nhiều hoạt động phong phú và sôi động thu hút đông đảo khách du lịch và tín đồ phật giáo khắp bốn phương. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu thêm về chùa Bút Tháp và lễ hội chùa Bút Tháp trong bài viết dưới đây nhé. Lễ hội chùa Bút Tháp Vài nét về chùa Bút Tháp Chùa Bút Tháp hay còn gọi là chùa Nhạn Tháp, nằm ở bên đê hữu ngạn sông Đuống, thôn Bút Tháp, xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Được biết, ngôi chùa này có từ thời vua Trần Thánh Tông (1258-1278) do Thiền sư Huyền Quang (đỗ Trạng nguyên năm 1297) làm trụ trì. Toàn cảnh chùa Bút Tháp Chùa Bút Tháp là một ngôi chùa cổ có kiến trúc độc đáo với nhiều di tích như tòa Tiền Đường Thượng Điện, cầu đá tòa Thích Thiện Am Trung Đường, phủ thờ nhà Hậu Đường và hàng tháp đá... Sự bố trí chặt chẽ của ngôi chùa thể hiện rõ ràng tư tưởng về giáo lý của đạo Phật, trong đó điện chủ mang nét nguyên sơ của chùa cổ Việt Nam, gồm 10 nếp nhà nằm trên một trục dài hơn 100 m với cửa Tam quan, gác chuông hai tầng, tám mái. Lễ hội chùa Bút Tháp Theo lệ thường, lễ hội chùa Bút Tháp được tổ chức vào ngày 23 và 24 tháng 3 âm lịch hàng năm với nhiều hoạt động văn hóa mang đậm nét văn hóa truyền thống của dân tộc. Lễ hội được chia làm hai phần với phần lễ và phần hội. Phần lễ diễn ra chủ yếu trong khu nội tự với các nghi lễ truyền thống như: Lễ cúng Phật, Lễ dâng hương Lễ cúng đàn trần tế cầu phúc, Lễ cúng Tổ…Phần lễ được tổ chức rất trang trọng và thành kính với với sự tham gia của đông đảo các tín đồ phật tử, người dân và các du khách thập phương. Biểu tượng của chùa Bút Tháp Còn phần Hội thì chủ yếu là các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao như cờ tướng, bóng bàn, thi thả chim bồ câu và biểu diễn Chèo… với sự tham gia của nhiều đoàn văn nghệ, thẻ thao trong và ngoài tỉnh. Sau phần Lễ trang trọng, phần Hội đã tạo nhiều niềm vui và sự phấn khích cho người dân và du khách, thu hút rất đông đảo người tham gia. Gần đến ngày tổ chức lễ hội, Ban tổ chức và các tăng ni phật tử của chùa Bút Tháp đang rất tất bật để chuẩn bị cho ngày lễ hội lớn nhất trong năm của chùa với mong muốn đáp ứng được mọi nhu cầu về tâm linh và tín ngưỡng phật giáo của các phật tử thập phương. Bạn hãy cùng tham gia vào lễ hội chùa Bút Tháp và cảm nhận sự thành kính, linh thiêng của ngôi chùa cổ gắn liền với lịch sử Phật giáo Việt Nam này nhé. Tổng hợp

(lehoi.info) - Lễ hội chùa Bút Tháp là một lễ hội là môt hội chùa truyền thống với nhiều hoạt động phong phú và sôi động thu hút đông đảo khách du lịch và tín đồ phật giáo khắp bốn phương. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu thêm về chùa Bút Tháp và lễ hội chùa Bút Tháp trong bài viết dưới đây nhé.

Lễ hội chùa Bút Tháp

Vài nét về chùa Bút Tháp Chùa Bút Tháp hay còn gọi là chùa Nhạn Tháp, nằm ở bên đê hữu ngạn sông Đuống, thôn Bút Tháp, xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Được biết, ngôi chùa này có từ thời vua Trần Thánh Tông (1258-1278) do Thiền sư Huyền Quang (đỗ Trạng nguyên năm 1297) làm trụ trì. Toàn cảnh chùa Bút Tháp Chùa Bút Tháp là một ngôi chùa cổ có kiến trúc độc đáo với nhiều di tích như tòa Tiền Đường Thượng Điện, cầu đá tòa Thích Thiện Am Trung Đường, phủ thờ nhà Hậu Đường và hàng tháp đá... Sự bố trí chặt chẽ của ngôi chùa thể hiện rõ ràng tư tưởng về giáo lý của đạo Phật, trong đó điện chủ mang nét nguyên sơ của chùa cổ Việt Nam, gồm 10 nếp nhà nằm trên một trục dài hơn 100 m với cửa Tam quan, gác chuông hai tầng, tám mái. Lễ hội chùa Bút Tháp Theo lệ thường, lễ hội chùa Bút Tháp được tổ chức vào ngày 23 và 24 tháng 3 âm lịch hàng năm với nhiều hoạt động văn hóa mang đậm nét văn hóa truyền thống của dân tộc. Lễ hội được chia làm hai phần với phần lễ và phần hội. Phần lễ diễn ra chủ yếu trong khu nội tự với các nghi lễ truyền thống như: Lễ cúng Phật, Lễ dâng hương Lễ cúng đàn trần tế cầu phúc, Lễ cúng Tổ…Phần lễ được tổ chức rất trang trọng và thành kính với với sự tham gia của đông đảo các tín đồ phật tử, người dân và các du khách thập phương. Biểu tượng của chùa Bút Tháp Còn phần Hội thì chủ yếu là các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao như cờ tướng, bóng bàn, thi thả chim bồ câu và biểu diễn Chèo… với sự tham gia của nhiều đoàn văn nghệ, thẻ thao trong và ngoài tỉnh. Sau phần Lễ trang trọng, phần Hội đã tạo nhiều niềm vui và sự phấn khích cho người dân và du khách, thu hút rất đông đảo người tham gia. Gần đến ngày tổ chức lễ hội, Ban tổ chức và các tăng ni phật tử của chùa Bút Tháp đang rất tất bật để chuẩn bị cho ngày lễ hội lớn nhất trong năm của chùa với mong muốn đáp ứng được mọi nhu cầu về tâm linh và tín ngưỡng phật giáo của các phật tử thập phương. Bạn hãy cùng tham gia vào lễ hội chùa Bút Tháp và cảm nhận sự thành kính, linh thiêng của ngôi chùa cổ gắn liền với lịch sử Phật giáo Việt Nam này nhé. Tổng hợp

Related Figures

Lễ hội đình Châm Khê

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 4/8 Âm lịch Thôn Châm Khê, trước đây có tên chữ là Bùi Xá, tên nôm là làng Bùi, vốn là một ngôi làng cổ của Việt Nam nằm bên bờ nam của sông Ngũ Huyện Khê (nay thuộc xã Phong Khê, Yên Phong, Bắc Ninh). Không chỉ nối tiếng với kiến trúc điêu khắc tinh tế và giá trị nghệ thuật cao, đình Châm Khê còn nổi tiếng với hoạt động lễ hội truyền thống được tổ chức vào ngày mồng 4 tháng tám âm lịch hàng năm, với tục “tắm phỗng”, hát Quan họ giao lưu và nhiều trò chơi hấp dẫn. Người dân khắp nơi nô nức kéo nhau về đình Châm Khê xem hội Theo tục truyền, vào những ngày đình đám này thì ngay từ mồng 1, làng Châm Khê đã phải tổ chức lễ “rước nước” để thờ và “tắm phỗng”. Để thực hiện lễ rước nước và tắm phỗng, làng sẽ cử ra một đội rước gồm: một ông Bồi trưởng và 4 nam thanh niên khoẻ mạnh, chưa vợ, gia đình hòa thuận. Ông Bồi trưởng sẽ mặc trang phục màu đỏ, tay cầm một cái trống khẩu để điều khiển đám rước. Còn 4 thanh niên rước kiệu sẽ mặc quần áo màu đỏ, thắt lưng và đeo khăn chít đầu màu đỏ. Buổi sáng ngày mồng 1, đám rước nước sẽ đi từ giếng cổ trước ở cửa nghè trên bãi Sấm, mang về đình để thờ Thành hoàng. Sau đó sẽ tiến hành rước phỗng từ trong đình ra bãi Sấm để tiến hành nghi lễ tắm phỗng, sau đó lại rước phỗng vào đình để thờ. Hai tượng phỗng đều có dáng “phỗng Chàm”, có chiều cao khoảng 0,7m, mặt hơi gồ ghề, cởi trần đóng khố, hai tay giơ ngang trước ngực, đầu buộc hai búi tóc xoắn ốc hai bên, thường được thờ trên hương án ở bên ngoài Tiền tế. Việc thờ phụng phỗng Chàm được nhiều di tích ở Bắc Ninh như đình Hồi Quan, đình Diềm, Đền Đô... thờ cúng, tuy nhiên việc rước và tắm phỗng thì chỉ có riêng đình Châm Khê thực hiện. Ẩn sâu của tín ngưỡng này đó là tín ngưỡng “thờ Nước” của người dân Việt Nam cổ lấy nông nghiệp làm gốc, mà làng Châm Khê là một làng điển hình. Các liền anh liền chị hát quan họ trong ngày Lễ hội đình Châm Khê Sáng ngày mồng 4 sẽ là ngày hội chính, dân làng sẽ tiến hành rước sắc phong Thánh từ hai nghè trong và ngoài về đình để thực hiện tế lễ và mở hội. Sau khi sắc phong được rước về đình, quan đám cùng các giáp sẽ thay nhau vào lễ. Sau phần lễ sẽ là phần hội với tiết mục hát Quan họ giao lưu trên sông bằng thuyền. Tham gia tiết mục hát Quan họ, không chỉ có các các liền anh liền chị của làng Châm Khê và các làng chạ, mà còn có rất nhiều các đoàn Quan họ khác ở trong vùng cũng tham gia. Các thuyền Quan họ nam và nữ sẽ bắt từng cặp một, đứng trên thuyền quanh bãi soi và hát đối đáp giao duyên. Những liền anh, liền chị đứng trên chiếc thuyền trôi bồng bềnh trên mặt nước, hát những làn điệu du dương, lời ca ngọt ngào và tha thiết. Cứ thế cho đến lúc chiều tà hay khi trăng lên mới thôi. Hai bên bờ sông, người dân và khách thập phương đứng xem đông nghìn nghịt. Đình Châm Khê là lễ hội truyền thống nổi tiếng với tục cổ như tắm phỗng,rước nước, phong cờ, hát Quan họ, đã thể hiện được nét văn hoá của làng quê này, đồng thời góp phần làm nên lịch sử văn hiến của Kinh Bắc - Bắc Ninh.

Thôn Châm Khê, trước đây có tên chữ là Bùi Xá, tên nôm là làng Bùi, vốn là một ngôi làng cổ của Việt Nam nằm bên bờ nam của sông Ngũ Huyện Khê (nay thuộc xã Phong Khê, Yên Phong, Bắc Ninh). Không chỉ nối tiếng với kiến trúc điêu khắc tinh tế và giá trị nghệ thuật cao, đình Châm Khê còn nổi tiếng với hoạt động lễ hội truyền thống được tổ chức vào ngày mồng 4 tháng tám âm lịch hàng năm, với tục “tắm phỗng”, hát Quan họ giao lưu và nhiều trò chơi hấp dẫn.

Người dân khắp nơi nô nức kéo nhau về đình Châm Khê xem hội

Theo tục truyền, vào những ngày đình đám này thì ngay từ mồng 1, làng Châm Khê đã phải tổ chức lễ “rước nước” để thờ và “tắm phỗng”. Để thực hiện lễ rước nước và tắm phỗng, làng sẽ cử ra một đội rước gồm: một ông Bồi trưởng và 4 nam thanh niên khoẻ mạnh, chưa vợ, gia đình hòa thuận. Ông Bồi trưởng sẽ mặc trang phục màu đỏ, tay cầm một cái trống khẩu để điều khiển đám rước. Còn 4 thanh niên rước kiệu sẽ mặc quần áo màu đỏ, thắt lưng và đeo khăn chít đầu màu đỏ. Buổi sáng ngày mồng 1, đám rước nước sẽ đi từ giếng cổ trước ở cửa nghè trên bãi Sấm, mang về đình để thờ Thành hoàng. Sau đó sẽ tiến hành rước phỗng từ trong đình ra bãi Sấm để tiến hành nghi lễ tắm phỗng, sau đó lại rước phỗng vào đình để thờ. Hai tượng phỗng đều có dáng “phỗng Chàm”, có chiều cao khoảng 0,7m, mặt hơi gồ ghề, cởi trần đóng khố, hai tay giơ ngang trước ngực, đầu buộc hai búi tóc xoắn ốc hai bên, thường được thờ trên hương án ở bên ngoài Tiền tế. Việc thờ phụng phỗng Chàm được nhiều di tích ở Bắc Ninh như đình Hồi Quan, đình Diềm, Đền Đô... thờ cúng, tuy nhiên việc rước và tắm phỗng thì chỉ có riêng đình Châm Khê thực hiện. Ẩn sâu của tín ngưỡng này đó là tín ngưỡng “thờ Nước” của người dân Việt Nam cổ lấy nông nghiệp làm gốc, mà làng Châm Khê là một làng điển hình. Các liền anh liền chị hát quan họ trong ngày Lễ hội đình Châm Khê Sáng ngày mồng 4 sẽ là ngày hội chính, dân làng sẽ tiến hành rước sắc phong Thánh từ hai nghè trong và ngoài về đình để thực hiện tế lễ và mở hội. Sau khi sắc phong được rước về đình, quan đám cùng các giáp sẽ thay nhau vào lễ. Sau phần lễ sẽ là phần hội với tiết mục hát Quan họ giao lưu trên sông bằng thuyền. Tham gia tiết mục hát Quan họ, không chỉ có các các liền anh liền chị của làng Châm Khê và các làng chạ, mà còn có rất nhiều các đoàn Quan họ khác ở trong vùng cũng tham gia. Các thuyền Quan họ nam và nữ sẽ bắt từng cặp một, đứng trên thuyền quanh bãi soi và hát đối đáp giao duyên. Những liền anh, liền chị đứng trên chiếc thuyền trôi bồng bềnh trên mặt nước, hát những làn điệu du dương, lời ca ngọt ngào và tha thiết. Cứ thế cho đến lúc chiều tà hay khi trăng lên mới thôi. Hai bên bờ sông, người dân và khách thập phương đứng xem đông nghìn nghịt. Đình Châm Khê là lễ hội truyền thống nổi tiếng với tục cổ như tắm phỗng,rước nước, phong cờ, hát Quan họ, đã thể hiện được nét văn hoá của làng quê này, đồng thời góp phần làm nên lịch sử văn hiến của Kinh Bắc - Bắc Ninh.

Related Figures

Lễ hội nghinh Ông

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 9/3- 10/3 Âm lịch Lễ hội Nghinh Ông là một lễ hội văn hóa dân gian đặc trưng của những người ngư dân biển Gành Hào, thuộc huyện Đông Hải, Bạc Liêu. Lễ hội Nghinh Ông thường diễn ra vào hai ngày, từ ngày mồng 09 đến ngày 10 tháng 3 âm lịch hàng năm. Nghinh Ông là để tưởng nhớ tới công ơn của loài cá voi - loài cá được ngư dân miền biển phong là thần Đại tướng quân Nam Hải. Theo tương truyền loài cá này đã có công cứu giúp người dân đi biển vượt qua những trận sóng to gió lớn. Lễ hội nghinh Ông ở Đông Hải tại Bạc Liêu Theo truyền thuyết được lưu truyền trong dân gian, “cá Ông” là một linh vật rất linh thiêng, được xem là vị thần hộ mệnh cho những thuyền bè đi biển. Khi có sóng to gió lớn, tàu bè gặp nạn thì cá Ông sẽ hiện lên và dẫn tàu bè đưa vào chỗ cạn, đến nơi an toàn. Và ngược lại, khi Ngài gặp nạn hoặc chết, xác bị trôi dạt vào bờ thì ngư dân sẽ tổ chức chôn cất và thờ cúng rất trang trọng. Hiện tại, ở Gành Hào và nhiều địa phương khác của Bạc Liêu đều lập miếu thờ cúng bộ cốt (xương) cá Ông. Nghinh Ông vẫn được xem là một tập tục lâu đời của người dân vùng biển Gành Hào tỉnh Bạc Liêu, đây là một lễ hội truyền thống đã được lưu truyền và gìn giữ hàng năm, do vậy mà vào những ngày lễ không ai bảo ai, hàng vạn người đổ về đây từ khắp nơi trong và ngoài tỉnh để tham dự lễ hội Nghinh Ông. Lễ được tổ chức dưới hình thức học trò lễ dâng rượu và cúng tế, sau đó khách sẽ đến ăn uống và chiêm ngưỡng điệu hát tuồng cho đến đêm khuya. Trong hai ngày hội Nghinh Ông, lễ chính quan trọng nhất chính là lễ rước Ông. Lễ rước được khởi hành từ lăng ông rồi quanh thị trấn Gành Hào, sau đó tiến lên ghe và ra biển cúng, đồng thời người dân còn thả tôm giống xuống biển. Đoàn rước Ông có đội múa lân đi trước, tiếp theo là đội kèn Tây, sau nữa là học trò lễ,nữ thanh lịch, các đoàn binh sĩ… Dân chúng sẽ đứng hai bên đường, reo hò để cổ vũ khiến không khí của lễ hội thêm tưng bừng và náo nhiệt. Người dân ra biển nghinh Ông cầu xin một năm mưa thuận gió hòa Hàng năm cứ đến ngày lễ hội Nghinh Ông, từ sáng sớm của ngày lễ chính đã không dưới 100 tàu thuyền của huyện và khắp nơi đổ về tham dự lễ hội. Các chủ ghe tàu có treo cờ, băng rôn, phướn, khẩu hiệu, trông như một thuyền hoa, mọi người lên tàu ra biển Nghinh Ông với khí thế tưng bừng, náo nhiệt. Trong số những ghe tàu lớn nhỏ ra biển Nghinh Ông, sẽ có một cụm tàu chính gồm hai chiếc thuyền kết lại thành đoàn. Tàu này sẽ có nhiệm vụ chở các thành viên trong Ban tổ chức, các vị chức sắc của địa phương, và đội học trò lễ... Đám rước “Sắc phong Thần tức Ông Nam Hải” gồm một nhóm người diện trang phục của các binh sĩ thuộc thời vua Gia Long, một nhóm sẽ mặc áo dài khăn đóng... Họ sẽ đưa Long đình xuống tàu và tiến ra biển để làm lễ cúng bái, xin keo cầu cho một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, cuộc sống yên bình và tiến hành thả tôm giống xuống biển nhằm tái tạo lại nguồn lợi thủy sản, đây là một trong những hoạt động không thể thiếu trong ngày hội Nghinh ông hàng năm của người dân biển Gành Hào - Đông Hải . Lễ hội Nghinh Ông là dịp để ngư dân Gành Hào cầu Ngày phù hộ cho mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an. Đặc biệt các ngư dân Gành Hào còn cầu xin được “phù hộ độ trì” trong những chuyến đánh bắt trên biển được nhiều tôm, cá. Lễ hội Nghinh ông còn thu hút khách thập phương và người dân quanh vùng bởi các trò chơi dân gian như thi kéo co, đi cà kheo, đua ghe trên cạn, thả diều, hội thi giao lưu ẩm thực, thi đập niêu (nồi), hội chợ thương mại... Tất cả là niềm tin đã được tích tụ lại từ bao đời nay và đã ăn sâu vào máu của từng ngư dân Gành Hào nói riêng và ngư dân của tỉnh Bạc Liêu nói chung. Đó thật sự là một nền văn hóa miền biển đặc sắc cần được giữ gìn và phát huy trong lịch sử phát triển của dân tộc.

Lễ hội Nghinh Ông là một lễ hội văn hóa dân gian đặc trưng của những người ngư dân biển Gành Hào, thuộc huyện Đông Hải, Bạc Liêu. Lễ hội Nghinh Ông thường diễn ra vào hai ngày, từ ngày mồng 09 đến ngày 10 tháng 3 âm lịch hàng năm. Nghinh Ông là để tưởng nhớ tới công ơn của loài cá voi - loài cá được ngư dân miền biển phong là thần Đại tướng quân Nam Hải. Theo tương truyền loài cá này đã có công cứu giúp người dân đi biển vượt qua những trận sóng to gió lớn.

Lễ hội nghinh Ông ở Đông Hải tại Bạc Liêu

Theo truyền thuyết được lưu truyền trong dân gian, “cá Ông” là một linh vật rất linh thiêng, được xem là vị thần hộ mệnh cho những thuyền bè đi biển. Khi có sóng to gió lớn, tàu bè gặp nạn thì cá Ông sẽ hiện lên và dẫn tàu bè đưa vào chỗ cạn, đến nơi an toàn. Và ngược lại, khi Ngài gặp nạn hoặc chết, xác bị trôi dạt vào bờ thì ngư dân sẽ tổ chức chôn cất và thờ cúng rất trang trọng. Hiện tại, ở Gành Hào và nhiều địa phương khác của Bạc Liêu đều lập miếu thờ cúng bộ cốt (xương) cá Ông. Nghinh Ông vẫn được xem là một tập tục lâu đời của người dân vùng biển Gành Hào tỉnh Bạc Liêu, đây là một lễ hội truyền thống đã được lưu truyền và gìn giữ hàng năm, do vậy mà vào những ngày lễ không ai bảo ai, hàng vạn người đổ về đây từ khắp nơi trong và ngoài tỉnh để tham dự lễ hội Nghinh Ông. Lễ được tổ chức dưới hình thức học trò lễ dâng rượu và cúng tế, sau đó khách sẽ đến ăn uống và chiêm ngưỡng điệu hát tuồng cho đến đêm khuya. Trong hai ngày hội Nghinh Ông, lễ chính quan trọng nhất chính là lễ rước Ông. Lễ rước được khởi hành từ lăng ông rồi quanh thị trấn Gành Hào, sau đó tiến lên ghe và ra biển cúng, đồng thời người dân còn thả tôm giống xuống biển. Đoàn rước Ông có đội múa lân đi trước, tiếp theo là đội kèn Tây, sau nữa là học trò lễ,nữ thanh lịch, các đoàn binh sĩ… Dân chúng sẽ đứng hai bên đường, reo hò để cổ vũ khiến không khí của lễ hội thêm tưng bừng và náo nhiệt. Người dân ra biển nghinh Ông cầu xin một năm mưa thuận gió hòa Hàng năm cứ đến ngày lễ hội Nghinh Ông, từ sáng sớm của ngày lễ chính đã không dưới 100 tàu thuyền của huyện và khắp nơi đổ về tham dự lễ hội. Các chủ ghe tàu có treo cờ, băng rôn, phướn, khẩu hiệu, trông như một thuyền hoa, mọi người lên tàu ra biển Nghinh Ông với khí thế tưng bừng, náo nhiệt. Trong số những ghe tàu lớn nhỏ ra biển Nghinh Ông, sẽ có một cụm tàu chính gồm hai chiếc thuyền kết lại thành đoàn. Tàu này sẽ có nhiệm vụ chở các thành viên trong Ban tổ chức, các vị chức sắc của địa phương, và đội học trò lễ... Đám rước “Sắc phong Thần tức Ông Nam Hải” gồm một nhóm người diện trang phục của các binh sĩ thuộc thời vua Gia Long, một nhóm sẽ mặc áo dài khăn đóng... Họ sẽ đưa Long đình xuống tàu và tiến ra biển để làm lễ cúng bái, xin keo cầu cho một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, cuộc sống yên bình và tiến hành thả tôm giống xuống biển nhằm tái tạo lại nguồn lợi thủy sản, đây là một trong những hoạt động không thể thiếu trong ngày hội Nghinh ông hàng năm của người dân biển Gành Hào - Đông Hải . Lễ hội Nghinh Ông là dịp để ngư dân Gành Hào cầu Ngày phù hộ cho mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an. Đặc biệt các ngư dân Gành Hào còn cầu xin được “phù hộ độ trì” trong những chuyến đánh bắt trên biển được nhiều tôm, cá. Lễ hội Nghinh ông còn thu hút khách thập phương và người dân quanh vùng bởi các trò chơi dân gian như thi kéo co, đi cà kheo, đua ghe trên cạn, thả diều, hội thi giao lưu ẩm thực, thi đập niêu (nồi), hội chợ thương mại... Tất cả là niềm tin đã được tích tụ lại từ bao đời nay và đã ăn sâu vào máu của từng ngư dân Gành Hào nói riêng và ngư dân của tỉnh Bạc Liêu nói chung. Đó thật sự là một nền văn hóa miền biển đặc sắc cần được giữ gìn và phát huy trong lịch sử phát triển của dân tộc.

Related Figures

Lễ hội Đản sinh thần Phước Đức

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 29/3 Âm lịch (lehoi.info)-Lễ hội Đản sinh thần Phước Đức còn được gọi với cái tên khác là lễ Sinh nhật ông Bổn, thường tổ chức vào ngày 29 tháng ba âm lịch hàng năm, tại Phước Đức cổ miếu, là ngôi miếu cổ nằm tại số 74 đường Điện Biên Phủ, phường 3. Lễ hội nhằm tưởng nhớ đến vị thần (ông Bổn), người có công khai khẩn đất đai và phù trợ cho người dân sinh cơ lập nghiệp có cuộc sống yên bình. Miếu Phước Đức là một trong những miếu cổ lâu đời và có giá trị nghệ thuật nhất của Việt Nam Di tích Phước Đức là một miếu cổ nằm bên dòng kênh xáng của tỉnh Bạc Liêu. Đây là ngôi miếu đã có rất lâu, được xây dựng vào khoảng năm 1810 bởi người Hoa sinh sống tại Bạc Liêu. Đến đây, du khách sẽ được tận mắt chứng kiến công trình kiến trúc đặc biệt được xây dựng theo phong cách của người Hoa cổ. Toàn bộ ngôi miếu, từ đàu kèo, đầu viên, hoa văn trên khánh thờ, các linh thú đều được chạm khắc rất tinh tế. Đây được xem là ngôi miếu cổ lâu đời có giá trị nghệ thuật cao tại Việt Nam. Lễ hội Đản sinh thần Phước Đức có phần lễ chính diễn ra vào lúc 8 giờ sáng ngày 29 tháng 3 âm lịch. Nghi lễ của Lễ hội gồm: hiến hương, hiến đèn, hiến vật tế, dâng hoa, dâng trà, dâng rượu... Sau đó sẽ là lễ "Đấu đè", lễ này diễn ra trong không khí tươi vui, hồ hởi của người đến dự lễ. Trong cuộc đấu đèn, các cây đèn được chọn sẽ được mang ra đấu giá, ai trả giá cao sẽ được rước đèn về nhà. Số tiền thi được từ đấu giá đèn sẽ được dùng cho việc cứu tế hoặc những hoạt động xã hội có ý nghĩa. Lễ hội Đản sinh thần Phước Đức là dịp để người dân Bạc Liêu bày tỏ lòng biết ơn người đã khai hoang đất đai và phù trợ cho cuộc sống của người dân nơi này

(lehoi.info)-Lễ hội Đản sinh thần Phước Đức còn được gọi với cái tên khác là lễ Sinh nhật ông Bổn, thường tổ chức vào ngày 29 tháng ba âm lịch hàng năm, tại Phước Đức cổ miếu, là ngôi miếu cổ nằm tại số 74 đường Điện Biên Phủ, phường 3. Lễ hội nhằm tưởng nhớ đến vị thần (ông Bổn), người có công khai khẩn đất đai và phù trợ cho người dân sinh cơ lập nghiệp có cuộc sống yên bình.

Miếu Phước Đức là một trong những miếu cổ lâu đời và có giá trị nghệ thuật nhất của Việt Nam

Di tích Phước Đức là một miếu cổ nằm bên dòng kênh xáng của tỉnh Bạc Liêu. Đây là ngôi miếu đã có rất lâu, được xây dựng vào khoảng năm 1810 bởi người Hoa sinh sống tại Bạc Liêu. Đến đây, du khách sẽ được tận mắt chứng kiến công trình kiến trúc đặc biệt được xây dựng theo phong cách của người Hoa cổ. Toàn bộ ngôi miếu, từ đàu kèo, đầu viên, hoa văn trên khánh thờ, các linh thú đều được chạm khắc rất tinh tế. Đây được xem là ngôi miếu cổ lâu đời có giá trị nghệ thuật cao tại Việt Nam. Lễ hội Đản sinh thần Phước Đức có phần lễ chính diễn ra vào lúc 8 giờ sáng ngày 29 tháng 3 âm lịch. Nghi lễ của Lễ hội gồm: hiến hương, hiến đèn, hiến vật tế, dâng hoa, dâng trà, dâng rượu... Sau đó sẽ là lễ "Đấu đè", lễ này diễn ra trong không khí tươi vui, hồ hởi của người đến dự lễ. Trong cuộc đấu đèn, các cây đèn được chọn sẽ được mang ra đấu giá, ai trả giá cao sẽ được rước đèn về nhà. Số tiền thi được từ đấu giá đèn sẽ được dùng cho việc cứu tế hoặc những hoạt động xã hội có ý nghĩa. Lễ hội Đản sinh thần Phước Đức là dịp để người dân Bạc Liêu bày tỏ lòng biết ơn người đã khai hoang đất đai và phù trợ cho cuộc sống của người dân nơi này

Related Figures

Lễ Hội Hát Gi (Haji hay còn gọi Roya Hadji)

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 7/12- 10/12 Âm lịch Lễ hội Hát Gi là lễ hội của cộng đồng người Chăm theo Hồi Giáo, ở các tỉnhTây Ninh, An Giang, Đồng Nai, họ thờ thượng đế Allah. Lễ hội được tổ chức từ ngày mồng 7 đến ngày mồng 10 tháng 12 theo lịch Hồi Giáo, tại các thánh đường của Hồi giáo. Hàng năm, An Giang sẽ tổ chức lễ hội Hát Gi tại ngôi chùa Chăm Châu Giang thuộc xã Phú Hiệp, huyện Phú Tân. Biểu diễn nghệ thuật trong lễ hội Hát Gi tại An Giang Trong những ngày lễ Hát Gi, các tín đồ phải ngồi lắng nghe ông Khojip kể lại sự tích ngày thánh Lbrôhim. Buổi tối, họ sẽ tổ chức cuộc thi đọc kinh Coran, sau đó chấm điểm và trao giải nhất cho ai đọc hay nhất, thông suốt nhất. Người biểu diễn là các cô gái Chăm xinh đẹp Sau phần hành lễ, người Chăm sẽ tổ chức các cuộc vui vui chơi, các hoạt động sinh hoạt văn hóa thể thao như đua ghe, ca hát... Giống như người Việt đón tết Nguyên Đán, đây chính là dịp để người Chăm theo Hồi Giáo thăm viếng, vui chơi và chúc mừng, cầu nguyện những điều tốt lành cho nhau. TH

Lễ hội Hát Gi là lễ hội của cộng đồng người Chăm theo Hồi Giáo, ở các tỉnhTây Ninh, An Giang, Đồng Nai, họ thờ thượng đế Allah. Lễ hội được tổ chức từ ngày mồng 7 đến ngày mồng 10 tháng 12 theo lịch Hồi Giáo, tại các thánh đường của Hồi giáo. Hàng năm, An Giang sẽ tổ chức lễ hội Hát Gi tại ngôi chùa Chăm Châu Giang thuộc xã Phú Hiệp, huyện Phú Tân.

Biểu diễn nghệ thuật trong lễ hội Hát Gi tại An Giang

Trong những ngày lễ Hát Gi, các tín đồ phải ngồi lắng nghe ông Khojip kể lại sự tích ngày thánh Lbrôhim. Buổi tối, họ sẽ tổ chức cuộc thi đọc kinh Coran, sau đó chấm điểm và trao giải nhất cho ai đọc hay nhất, thông suốt nhất. Người biểu diễn là các cô gái Chăm xinh đẹp Sau phần hành lễ, người Chăm sẽ tổ chức các cuộc vui vui chơi, các hoạt động sinh hoạt văn hóa thể thao như đua ghe, ca hát... Giống như người Việt đón tết Nguyên Đán, đây chính là dịp để người Chăm theo Hồi Giáo thăm viếng, vui chơi và chúc mừng, cầu nguyện những điều tốt lành cho nhau. TH

Related Figures

Lễ hội cầu mưa của người Thái đen Mường Lò

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/1- 30/1 Âm lịch Lễ hội cầu mưa "pay so phôn" là nghi lễ không thể thiếu trước mỗi mùa vụ mới của người dân Thái đen Mường Lò Yên Bái. Trong lễ hội cầu mưa này, con người không chỉ cầu xin các đấng siêu nhiên ban cho mùa vụ tươi tốt, mưa thuận gió hòa, mà còn thông qua các yếu tố tâm linh để nhắc nhở, khuyên răn về bổn phận và trách nhiệm của mỗi con người. Vẻ đẹp người con gái Thái ở Mường Lò Người Thái quan niệm rằng có sự tồn tại của hai thế giới. Thế giới thực gồm có sự sống của con người và muôn loài mà con người có thể thấy được. Còn thế giới siêu nhiên là thế giới có lực lượng quyết định sự sống trên trái đất do đó người dân tộc Thái rất coi trọng việc cúng tế. Bên cạnh đó, người Thái cho rằng thần linh còn cai quản cả mưa gió, thương những đứa trẻ sinh ra không có cha để làm nhà nên thần linh đã không làm mưa khiến cho trời hạn hán, đây cũng là một cách trừng phạt những người phụ nữ có con ngoài giá thú, vì vậy trong hội cầu mưa bao giờ cũng phải có một người đàn bà góa - "me mải" đại diện dẫn đầu cùng những người dân bản cầu xin các vị thần chủ sông suối, chủ nước (biểu tượng cụ thể ở đây là thuồng luồng - "tô ngựa") để mời các thần linh về lắng nghe mông ước, nguyện vọng và phù hộ cho con người. Lễ hội cầu mưa của người Thái đen Mường Lò Bà góa cùng với các bà, các mẹ trong bản phải mặc áo tơi cọ - "sửa cọk", phải đội nón, và cùng khênh bung đến từng nhà để quyên góp. Các bà còn phải đem theo một chiếc mẹt - "lổng" và một chiếc mõ tre - "khe mọ" . Đến nhà nào các bà cũng phải gõ mõ báo hiệu, gõ mẹt rồi cất tiếng hát: "Dú hươn bấu lê?/ Me nang ơi?/ Khắp tu lét haử é/ Khay tu phôn haử é/ So nặm phôn háy cả/ So nặm Phạ háy na/ Háy na háy ta cả/ Háy cả háy lí lo/Khẩu dú hay tai phoi/ Hòi dú na tai lệnh/ Pảnh dú sả hôm quân/ Măn dú khủm tai ẩu/ Báo thẩu tai dạ pa/ Báo na tai da nhiểu da nhiếng/ ... Mựt ma sương áng ỏm/ Cóm ma cờ áng nin dơ. Dịch theo tiếng Kinh có nghĩa là: Có ở nhà không bà nàng ơi/ Đóng cửa nắng cho tôi/ Xin nước mưa làm mạ/ Xin nước trời làm ruộng/ Vừa làm ruộng vừa làm mạ/ Làm mạ làm nhanh nhanh/ Lúa trên nương đã chết khô/ Ốc ở ruộng chết cạn/ Bánh men rượu thành khói/ Sắn dưới đất chết thối/ Con trai không còn nơi bắt cá/ Con cà niễng không có để ăn/... Trời tối như nước chàm/ Mây đen về như mực...". Các nhà tùy vào điều kiện, có người góp gạo, có người góp rượu, góp sắn, góp khoai để vào mẹt rồi các bà mới chuyển vào bung, sau đó chủ nhà và đoàn người cùng hát: "Phôn phôn giơ/ Lôm lôm giơ", theo tiếng kinh có nghĩa là: "Mưa nhanh nhanh/ Gió nhanh nhanh". Khi có đủ lễ vật, đoàn người rước hình mô phỏng "Tô Ngựa" sẽ đến địa điểm cúng lễ, bà góa lấy mẹt làm mâm, đặt lễ vật vào và bắt đầu cúng bài cúng cầu mưa với nội dung mời chủ sông suối, chủ nước về ăn lễ vật và lắng nghe mong ước, nguyện vọng của người dân bản cầu xin trời làm mưa: "Mơi chaủ phảu tu lét mướng bun/ Mơi chảu phảu tu phôn mướng phạ/ Mơi ma kin chịn mu luông, mu pi to lỏng/... Kin lẹo chắng coi cáo đi/ Lảy kin pang chắng coi cáo cụm/ Khắp tu lét mướng bun haử nớ/ Khay tu phôn mướng phạ haử nớ"... theo tiếng kinh có nghĩa là: Mời chủ giữ cửa nắng của trời/ Mời chủ coi cửa mưa của thiên/ Xin mời về ăn thịt lợn nạc to bằng máng giã gạo... Ăn rồi xin rủ lòng thương/ Ăn xong thì xin phù hộ/ Đóng cửa nắng lại nhé/ Mở cửa mưa đi thôi. Bà góa tổ chức cho dân bản ăn uống vui vẻ và cùng múa hát cầu mưa. Không thể thiếu các điệu xòe truyền thống, bởi "Không xòe không tốt lúa/ Không xòe lúa không trổ bông...". Sau đó tất cả người dân bản, thanh niên nam nữ sẽ cùng nhau ra những chỗ còn nước và mọi người vừa té nước lên nhau, vừa đồng thanh hô: "Phôn phôn giơ/ Lôm lôm giơ". Điều độc đáo của lễ hội cầu mưa ở người Thái Mường Lò là vai trò của nghi lễ cúng tế không nhiều. Ta chỉ thấy bà góa cùng với các bà mẹ tảo tần chịu thương chịu khó và rất giàu lòng nhân ái. Trong xã hội của người Thái xưa, người phụ nữ là người phải chịu nhiều khó nhọc, nhất là những người góa chồng, hoặc những người có con ngoài giá thú, bởi không có bàn tay người đàn ông giúp đỡ làm những việc nặng nhọc. Vì vậy trong lễ hội cầu mưa việc chỉ có các bà, các mẹ đến từng nhà quyên góp và cầu mưa có một ý nghĩa vô cùng đặc biệt, hành động và lời cầu xin cho bản mường của những người phụ nữ nghèo khổ ấy thấu lên tận trời xanh. Bà góa giống như một sứ giả chuyển tải nguyện vọng chính đáng của người dân bản với các đấng siêu nhiên, đồng thời còn có vai trò như một thủ lĩnh. Bà góa cùng các bà sẽ đến từng nhà kêu gọi lòng đoàn kết, thức dậy lòng nhiệt tình, ý chí và quyết tâm của những người dân bản. Phải chăng sự đoàn kết đã xây dựng nên những công trình thủy lợi "mương, phai, lái lin" và vai trò của người phụ nữ ở thời kỳ mẫu hệ của người Thái được biểu đạt rất tinh tế qua hình ảnh đầy nhân ái này. Hình tượng chiếc mõ và cái mẹt vừa mang ý nghĩa âm dương giao hòa, sinh sôi phát triển. Chiếc mẹt giống như bầu trời thu nhỏ, tiếng gõ của chiếc mẹt tượng trưng cho tiếng sấm báo hiệu trời mưa. Cái mẹt đối với người Thái còn có nhiều ý nghĩa sâu sa, tinh tế. Chiếc mẹt mang hồn lúa gạo, khi mỗi đứa trẻ ra đời đều được đặt vào chiếc mẹt cho hay ăn chóng lớn; thời xưa những đôi vợ chồng hiếm muộn con còn lấy mẹt làm giường để nhanh có con; khi mỗi người dân Thái đen qua đời, mẹt còn được để quạt lửa trong lễ hỏa thiêu, sau đó hài cốt sẽ được rửa sạch rồi đặt vào mẹt trước khi đem đi chôn cất... Một nghi thức tại lễ hội cầu mưa Cùng với Lễ hội "Xên bản xên mường", tức là cúng bản cúng mường để tri ân các bậc đã có công dựng xây, bảo vệ nên đất Mường Lò đã được nhân dân tôn làm thành hoàng, lễ hội cầu mưa là một lễ hội sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng rất quan trọng đối với cộng đồng. Lễ hội sẽ được tổ chức vào đầu mùa mưa, ngay sau tết Nguyên đán. Cùng với nghi lễ đón tiếng sấm đầu mùa được coi là quyết định của chúa trời, của các vị thần mưa, các vị thần gió, chủ sông suối... trước nguyện vọng của dân lành, người Thái Mường Lò còn coi đây là một lễ Hội cầu mùa có ảnh hưởng to lớn đến đời sống vật chất, tinh thần và tâm linh của cả cộng đồng, có ảnh hưởng đến mùa màng, sức khỏe và sự làm ăn của bản mường năm ấy, nên bao giờ lễ hội cũng được tổ chức rất trọng thể, vui vẻ và thu hút sự tham gia của đông đảo bà con.

Related Figures

Lễ A - ne - pạ - gờ - bá

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 1/1 Âm lịch Nằm ở trong nhóm ngôn ngữ Tạng Miến, với dân số vào khoảng 600 người cư trú tập trung chủ yếu ở hai thôn Nẫu và thôn Nhầy thuộc xã Châu Quế Thượng, Văn Yên, Yên Bái, người Xá Phó (Phù Lá) là một trong những tộc người bản địa có nền văn hoá rất đa dạng và phong phú với nhiều những phong tục tập quán nghi lễ tín ngưỡng dân gian đặc sắc và độc đáo mà trong đó lễ A - Ne - Pạ - Gờ - Bá (Lễ quét ma làng - còn có tên gọi khác là lễ đuổi ma làng) là một trong những lễ hội lớn, vô cùng đặc sắc và cũng vô cùng quan trọng đối với mỗi người dân ở tại nơi đây.Ngày tổ chức lễ a ne pạ gờ bá chính thức là vào ngày mùng một tết Nguyên Đán. Địa điểm tổ chức nghi lễ là một bãi đất rộng bằng phẳng và gần bờ suối ngay cổng làng. Các cô gái dân tộc trong lễ quét ma làng của người Xá Phó Lễ quét ma làng là nghi lễ thể hiện những khát khao, mong muốn của người dân về một cuộc sống hạnh phúc tươi đẹp. Đây là phần còn sót lại của nghi thức cầu an và cầu yên của cả cộng đồng. Toàn bộ dân làng sẽ cùng nhau góp công sức, lễ vật để cầu xin thần linh và trời đất bảo vệ dân làng luôn khoẻ mạnh, ấm no. Khi vào ngày lễ, tất cả các gia đình trong làng mỗi nhà đều phải đóng góp một lít rượu, một con gà và 3 ống gạo, thịt lợn (do cả làng cùng góp chung)…để cùng cả làng tổ chức lễ hội cúng chung. Trong ngày lễ tất cả mọi người sinh sống trong bản làng đều phải ra nơi tổ chức lễ cúng để cùng nhau chuẩn bị lập đàn cúng, làm bàn thờ và dự lễ cúng đuổi ma làng cùng với ông thầy cúng. Để tổ chức cho nghi lễ, thì trước những ngày diễn ra lễ cúng chính thức, người dân phải lập một đàn cúng ngay sát mép suối mặt quay về phía mặt trời mọc (sàn cao khoảng 0,8m và rộng khoảng 40 - 60m2, phải đủ chỗ cho cả làng ngồi trên sàn, vì ngày trước làng đồng bào Xá Phó nơi đây thông thường từ 10-15 gia đình cùng sinh sống). Đây là nơi mà dân làng sẽ tổ chức lễ cúng thần linh và cùng nhau ăn uống vui vẻ mừng cho một năm mới với những ước muốn cuộc sống no đủ và hạnh phúc. Lễ quét ma làng- nét đặc sắc của người Xa Phó Ngay tại cổng chính của làng, một cây nêu sẽ được dựng lên phía bên phải cổng làng. Đây là câu nêu được dùng để treo một chiếc mõ báo và do một người được dân làng cử ra để canh giữ và báo hiệu cho cả làng biết mỗi khi có người lạ vào làng trong suốt khoảng thời gian 15 ngày kiêng kị của lễ “a ne pạ gờ bá”. Sau khi mọi công việc chuẩn bị cho nghi lễ được hoàn thành, vào ngày mồng một tết, lễ cúng chính thức sẽ được diễn ra dưới sự chủ trì của ông thầy cúng trong làng. Lễ vật chính trong lễ cúng đuổi ma làng a ne pạ gờ bá gồm có : Một mâm cúng chính sẽ được đặt trên sàn có một con gà luộc, rượu, thịt, dây chỉ hai màu trắng và đen, một chiếc mõ gỗ, một đoạn dây thừng buộc mõ, giấy và hương. Mâm cúng sẽ được đặt giữa sàn và hướng về phía làng. Vào ngày lễ chính thức, từ sáng sớm mọi người trong làng từ trẻ đến già đều phải tập trung tại sàn nơi diễn ra lễ cúng. Tất cả mọi người mỗi người mỗi công mỗi việc cùng nhau chuẩn bị cho lễ cúng. Người thì mổ gà, kẻ thì giết lợn, một nhóm khác thì cùng thầy mo chuẩn bị mâm cúng, trưởng bản thì cùng với những người giúp việc tiếp nhận lễ vật và phần đóng góp của các gia đình trong làng bản mang tới góp vào lễ cúng. Ngoài phần lễ vật được dâng cúng, thì tất cả đồ lễ do các gia đình mang tới đều được dùng để làm cỗ ăn mừng cho toàn thể dân làng. Theo người dân ở nơi đây cho biết tất cả số thực phẩm mang ra đóng góp của các gia đình trong ngày lễ đều phải được ăn hết tại nơi cúng mà không một ai được mang về bản. Theo quan niệm của người dân Xá Phó, nếu không ăn hết mà mang về nhà sẽ mang theo những điều rủi ro và không may mắn trong năm mới. Lễ cúng chính thức sẽ được bắt đầu vào khoảng 15 giờ khi dân làng đã tập trung đầy đủ và mọi công việc chuẩn bị cho ngày lễ đã xong, từ việc chuẩn bị các đồ lễ lễ cúng và cỗ ăn mừng trong ngày lễ. Thầy cúng sẽ ngồi trước mâm cúng và tiến hành cúng khấn cầu xin các thần linh, thổ công và thần đất về phù hộ, bảo vệ và giúp đỡ cho toàn thể dân làng trong năm mới gặp được thật nhiều may mắn, cúng cầu xin các thần linh về canh giữ cho bản làng cho mọi người luôn luôn khoẻ mạnh, làm ăn thuận lợi, nuôi trồng ngày càng tốt tươi, trồng ngô ngô đầy đồng, trồng lúa lúa chắc hạt, không bị các loại chim chóc, sâu bọ về phá hoại mùa màng của người dân, cầu xin các thần thánh canh cho các loại ma đói, ma khát không cho về làng phá quấy dân làng. Ông thầy mo sẽ cúng trong khoảng 15p. Tiếp đến thầy mo sẽ cầm mõ lên, cả dân làng phải hướng về phía chiếc mõ, với một niềm tin rằng chiếc mõ sẽ canh giữ cho cả làng không cho các ma dữ, vía dữ vào làng và mang theo những điều không may mắn rủi ro về làng. Cả làng sẽ cùng nhau bầu ra một người có nhiệm vụ canh chừng chiếc mõ trong suốt 15 ngày kiêng của lễ a ne pạ gờ bá. Người được dân làng lựa chọn canh mõ phải là người cao tuổi cư trú lâu đời trong làng, phải là người ăn ở có phúc đức và được dân làng tin tưởng. Theo quan niệm của dân gian, ai là người được chọn canh mõ là một điều vô cùng may mắn cho chính gia đình và dòng họ của người đó. Họ luôn tin tưởng rằng thần linh và các thánh sẽ phù hộ cho gia đình và cả dân làng một năm mới chỉ gặp những điều may mắn trong cuộc sống và tránh được những điều xấu xa đen đủi. Lễ A - ne - pạ - gờ - bá tại Yên Bái Sau khi kết thúc lễ cúng mọi người dân có mặt tại lễ A ne pạ gờ bá đều phải cúi xuống vái lạy chiếc mõ 3 vái, đồng thời, mỗi người dân cũng đều phải khấn với đại ý như: “ …Nhờ mõ trông bản làng cho yên ổn tốt đẹp...làm ăn phát tài...được mùa no đủ…không bị dịch bệnh thiên tai mất mùa…” Sau đó ông thầy mo sẽ tiến hành nghi thức buộc chỉ vía cho chiếc mõ để thông qua đó các thần linh sẽ bảo vệ chiếc mõ và bảo vệ cho dân làng trong năm mới. Thầy mo lấy hai đoạn chỉ trắng và chỉ đen trên mâm cúng buộc vào hai đầu của chiếc mõ. Họ cho rằng, gia đình nào trong bản cũng góp thịt, rượu, gà để tổ chức lễ cúng này với mong muốn thần linh sẽ phù hộ cho cả làng cả bản, ông thầy mo thay mặt cho dân làng buộc vía để gửi gắm những ước mơ nguyện vọng của người dân vào những sợi chỉ vía đó, cầu xin mõ hãy bảo vệ lấy dân làng. Cúng xong ông thầy mo sẽ giao mõ và dây mõ cho người đã được lựa chọn canh mõ. Người được lựa chọn sẽ cùng với hai thanh niên trong làng mang mõ ra cây nêu được dựng ngay trước cổng làng, và từ đó người canh mõ phải có nhiệm vụ gác cổng làng trong suốt 15 ngày kiêng của lễ a ne pạ gớ bá. Khi có người lạ vào làng thì người canh mõ phải rung mõ cho cả làng biết để người dân đóng hết tất cả các cửa không cho khách lạ vào trong nhà mình. Kết thúc nghi lễ cả làng sẽ cùng nhau ăn uống ngay tại nơi diễn ra lễ cúng. Mọi người từ trẻ đến già đều ăn uống vui vẻ với nhau trên sàn cúng từ lúc đó cho tới tận đêm khuya. Trong lúc ăn uống vui chung cũng là nơi diễn ra các hình thức sinh hoạt văn hoá và văn nghệ dân gian với các điệu xoè “Xình xi bá” truyền thống cùng với các làn điệu dân ca mượt mà hoà quyện với âm thanh độc đáo của tiếng sáo mũi “cúc ke” và tiếng kèn bầu “Ma nhí” cùng với cỏ cây núi rừng hùng vĩ tạo nên một không khí vô cùng vui tươi, đoàn kết thấm đượm tinh thân nhân văn cao cả, trong niềm hy vọng một năm mới mở ra với bao nhiêu điều tốt đẹp hơn.

Related Figures

Lễ hội tư

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 10/3 Âm lịch (lehoi.info)- Hàng năm, cứ vào ngày mồng 10 tháng Ba âm lịch Lễ hội tưởng niệm Cao Lỗ Vương lại được tổ chức tại làng Tiểu Than, thuộc xã Vạn Ninh, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Lễ hội này có mục đích để tưởng nhớ, khắc ghi và biết ơn công lao muôn đời của những bậc tiền nhân, những người đã có công trong các cuộc chiến chống quân xâm chiếm bờ cõi. Người dân rước kệu trong Lễ hội tưởng niệm Cao Lỗ Vương tại Bắc Ninh Theo những ghi chép, thần tích vẫn còn lưu truyền, Cao Lỗ là người quê ở Lục Đầu- Bình Than, trong cuộc chiến đánh đuổi quân giặc Triệu Đà đã bảo vệ nước Âu Lạc, nhưng sau đó ông đã anh dũng hy sinh tại chân thành Cổ Loa, thi hài của ông được hổ tha về quê. Dân làng khi phát hiện thi hài của Cao Lỗ liền kéo nhau ra đánh đuổi hổ và cứ hành lễ mai táng ông, dấu tích xưa vẫn còn đó chính là lăng mộ ông được xây dựng tại làng Tiểu Than. Đền thờ Cao Lỗ tại làng Đại Trung, lăng mộ Cao Lỗ Vương, đình làng Tiểu Than đều được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hoá của Quốc gia. Vào ngày mồng 10 tháng Ba âm lịch- cũng chính là ngày sinh của Cao Lỗ Vương, người dân của bảy làng quanh vùng sẽ cùng nhau tổ chức tế lễ tại đền Đại Trung, sau đó mỗi làng sẽ tổ chức lễ hội riêng theo tục lệ để bày tỏ sự thành kính và lòng biết ơn đối với công đức của vị danh tướng Cao Lỗ. Lễ hội của làng Tiểu Than có những nét riêng và vô cùng độc đáo. Ngày mồng 9 tháng Ba, người dân làng sẽ tổ chức rước Long Đình và nhiều lễ vật về lăng mộ Ngài để làm lễ tuyên văn, tiếp theo sẽ tiến vào nhà cụ Thủ sắc (người được chọn giữ sắc thờ của làng) rước văn về đình. Sáng ngày mồng 10 dân làng sẽ tiến hành rước song hành kiệu và các lễ vật xuống đền để làm lễ tế chung. Đám rước được cử hành rất uy nghiêm gồm trống khẩu, quạt, lọng, chiêng trống, cờ hội, long đình, bát bửu, súng lệnh... Lễ dâng lễ vật lên Cao Lỗ Vương Trong những ngày diễn ra lễ hội, dân làng sẽ tổ chức nhiều hoạt động khác như các trò chơi dân gian đấu vật, hát cô đầu, tam cúc điếm... đặc sắc nhất phải kể đến trò múa bông, đuổi bệt, đã là những trò chơi cổ truyền trong những dip lễ hội nơi thôn quê. Tương truyền cây bông thường được làm bằng tre, được vót như đũa bông và chia làm ba đoạn với sáu phôi bông. Người múa bông là một cô thôn nữ thanh tân diện trang phục áo the có thắt lưng bó cạnh, hai tay cầm 2 cây bông và múa theo nhịp trống. Mỗi tiết mục múa sẽ diễn ra trong khoảng hơn nửa tiếng, trước khi kết thúc cô gái này sẽ đưa cây bông lên miệng rồi ngậm một vài sợi phôi, sau đó vứt cây bông ra, dân làng sẽ tranh nhau đến cướp. Ai cướp được coi như năm ấy gia đình và dòng tộc sẽ gặp được nhiều may mắn và tốt lành. Với trò “Đuổi bệt” hay là đuổi hổ vẫn được người dân lưu truyền để tái diễn lại sự tích dân làng đuổi hổ để bảo vệ thi hài Cao Lỗ Vương để an táng. Vào ngày hội, dân làng sẽ đặt một cái bàn ngay trước nhang án, sau đó quây màn để tượng trưng như một quán rượu. Trong màn, một bậc cao niên sẽ đóng vai một ông chú đang uống rượu say, và bên ngoài có một bé trai và một bé gái. Khi vị quan viên này cầm sách đọc và bài “Văn dã”, hai cháu bé sẽ đọc lại theo từng nhịp, hết mỗi đoạn lại xoay 3 vòng. Bên ngoài, một thanh niên đội lốt hổ đang lấp ngoài đầu đình cầm một cành cây che kín. Khi vị quan viên này đọc xong bài văn dã, ba chú cháu sẽ cùng cầm gậy ra đuổi hổ. Người và hổ sẽ giao tranh 3 vòng xung quanh đình, sau khi hổ mệt bỏ chạy vào Miễu (khu vực lăng mộ Cao Lỗ Vương), ba chú cháu sẽ lấy lốt hổ mang đốt đi tượng trưng cho việc đã giết được con hổ và giành lại thi hài của Cao Lỗ Vương và dân làng lại đem đi an táng tại Miễu. Trai tráng trong làng khiêng kiệu trong ngày Lễ hội tưởng niệm Cao Lỗ Vương tại Bắc Ninh Ngày nay, lễ hội tưởng niệm Cao Lỗ Vương vẫn được 7 làng cùng nhau tôn thờ và cùng phối hợp tổ chức nhiều nghi thức tế lễ, rước sách rất uy nghiêm tại đền, cùng các hoạt động văn hoá, trò chơi dân gian và trò giải trí tại đình chùa làng, thể hiện truyền thống của người Việt uống nước nhớ nguồn.

(lehoi.info)- Hàng năm, cứ vào ngày mồng 10 tháng Ba âm lịch Lễ hội tưởng niệm Cao Lỗ Vương lại được tổ chức tại làng Tiểu Than, thuộc xã Vạn Ninh, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Lễ hội này có mục đích để tưởng nhớ, khắc ghi và biết ơn công lao muôn đời của những bậc tiền nhân, những người đã có công trong các cuộc chiến chống quân xâm chiếm bờ cõi.

Người dân rước kệu trong Lễ hội tưởng niệm Cao Lỗ Vương tại Bắc Ninh

Theo những ghi chép, thần tích vẫn còn lưu truyền, Cao Lỗ là người quê ở Lục Đầu- Bình Than, trong cuộc chiến đánh đuổi quân giặc Triệu Đà đã bảo vệ nước Âu Lạc, nhưng sau đó ông đã anh dũng hy sinh tại chân thành Cổ Loa, thi hài của ông được hổ tha về quê. Dân làng khi phát hiện thi hài của Cao Lỗ liền kéo nhau ra đánh đuổi hổ và cứ hành lễ mai táng ông, dấu tích xưa vẫn còn đó chính là lăng mộ ông được xây dựng tại làng Tiểu Than. Đền thờ Cao Lỗ tại làng Đại Trung, lăng mộ Cao Lỗ Vương, đình làng Tiểu Than đều được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hoá của Quốc gia. Vào ngày mồng 10 tháng Ba âm lịch- cũng chính là ngày sinh của Cao Lỗ Vương, người dân của bảy làng quanh vùng sẽ cùng nhau tổ chức tế lễ tại đền Đại Trung, sau đó mỗi làng sẽ tổ chức lễ hội riêng theo tục lệ để bày tỏ sự thành kính và lòng biết ơn đối với công đức của vị danh tướng Cao Lỗ. Lễ hội của làng Tiểu Than có những nét riêng và vô cùng độc đáo. Ngày mồng 9 tháng Ba, người dân làng sẽ tổ chức rước Long Đình và nhiều lễ vật về lăng mộ Ngài để làm lễ tuyên văn, tiếp theo sẽ tiến vào nhà cụ Thủ sắc (người được chọn giữ sắc thờ của làng) rước văn về đình. Sáng ngày mồng 10 dân làng sẽ tiến hành rước song hành kiệu và các lễ vật xuống đền để làm lễ tế chung. Đám rước được cử hành rất uy nghiêm gồm trống khẩu, quạt, lọng, chiêng trống, cờ hội, long đình, bát bửu, súng lệnh... Lễ dâng lễ vật lên Cao Lỗ Vương Trong những ngày diễn ra lễ hội, dân làng sẽ tổ chức nhiều hoạt động khác như các trò chơi dân gian đấu vật, hát cô đầu, tam cúc điếm... đặc sắc nhất phải kể đến trò múa bông, đuổi bệt, đã là những trò chơi cổ truyền trong những dip lễ hội nơi thôn quê. Tương truyền cây bông thường được làm bằng tre, được vót như đũa bông và chia làm ba đoạn với sáu phôi bông. Người múa bông là một cô thôn nữ thanh tân diện trang phục áo the có thắt lưng bó cạnh, hai tay cầm 2 cây bông và múa theo nhịp trống. Mỗi tiết mục múa sẽ diễn ra trong khoảng hơn nửa tiếng, trước khi kết thúc cô gái này sẽ đưa cây bông lên miệng rồi ngậm một vài sợi phôi, sau đó vứt cây bông ra, dân làng sẽ tranh nhau đến cướp. Ai cướp được coi như năm ấy gia đình và dòng tộc sẽ gặp được nhiều may mắn và tốt lành. Với trò “Đuổi bệt” hay là đuổi hổ vẫn được người dân lưu truyền để tái diễn lại sự tích dân làng đuổi hổ để bảo vệ thi hài Cao Lỗ Vương để an táng. Vào ngày hội, dân làng sẽ đặt một cái bàn ngay trước nhang án, sau đó quây màn để tượng trưng như một quán rượu. Trong màn, một bậc cao niên sẽ đóng vai một ông chú đang uống rượu say, và bên ngoài có một bé trai và một bé gái. Khi vị quan viên này cầm sách đọc và bài “Văn dã”, hai cháu bé sẽ đọc lại theo từng nhịp, hết mỗi đoạn lại xoay 3 vòng. Bên ngoài, một thanh niên đội lốt hổ đang lấp ngoài đầu đình cầm một cành cây che kín. Khi vị quan viên này đọc xong bài văn dã, ba chú cháu sẽ cùng cầm gậy ra đuổi hổ. Người và hổ sẽ giao tranh 3 vòng xung quanh đình, sau khi hổ mệt bỏ chạy vào Miễu (khu vực lăng mộ Cao Lỗ Vương), ba chú cháu sẽ lấy lốt hổ mang đốt đi tượng trưng cho việc đã giết được con hổ và giành lại thi hài của Cao Lỗ Vương và dân làng lại đem đi an táng tại Miễu. Trai tráng trong làng khiêng kiệu trong ngày Lễ hội tưởng niệm Cao Lỗ Vương tại Bắc Ninh Ngày nay, lễ hội tưởng niệm Cao Lỗ Vương vẫn được 7 làng cùng nhau tôn thờ và cùng phối hợp tổ chức nhiều nghi thức tế lễ, rước sách rất uy nghiêm tại đền, cùng các hoạt động văn hoá, trò chơi dân gian và trò giải trí tại đình chùa làng, thể hiện truyền thống của người Việt uống nước nhớ nguồn.

Related Figures

Tết Rằm tháng bảy của người Tày

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 14/7- 15/7 Âm lịch Cứ đến tháng 7 âm lịch hàng năm, đồng bào người Tày tại khắp các bản làng của Bắc Kạn lại náo nhiệt chuẩn bị cho cái tết lớn thứ hai của họ sau tết Nguyên Đán: Tết Rằm tháng bảy (đồng bào người Tày gọi là Tết Slip slí). Vào ngày Xá tội vong nhân (Tết Vu Lan) của người Kinh, người dân tộc Tày sẽ ăn Tết Rằm tháng bảy, ngoài ý nghĩa để thờ cúng tổ tiên, cúng cho các vong hồn, đây còn là dịp để các thành viên trong gia đình gia đình, dòng họ xum họp, và là dịp để con cái thể hiện lòng biết ơn, bày tỏ lòng hiếu thuận đối với bậc sinh thành. Người Tày tổ chức hội Rằm tháng bảy Vào ngày này, đồng bào dân tộc Tày sẽ gác lại tất cả các công việc khác, và tập trung chuẩn bị cho ngày tết. Phiên chợ ngày trước tết thường diễn ra náo nhiệt hơn so với ngày bình thường, ở các mặt hàng đặc trưng như: đỗ xanh, lá bánh, củ chuối rừng…và một món ăn không thể thiếu trong ngày Tết rằm tháng bảy đối với người Tày đó là thịt Vịt. Theo tục lệ, cứ đến ngày rằm tháng bảy, người Tày ở Bắc Kạn sẽ làm các món ăn như: bánh chưng nhân cá lá gừng, bánh “Pẻng Tải”, thịt vịt, làm bún tươi…để thờ cúng tổ tiên và cúng các vong hồn, để cầu chúc sức khỏe, an lành sẽ đến với tất cả các thành viên trong gia đình và dòng họ. Hội khu cù tê Cách làm bánh Pẻng Tải giống với cách làm bánh gai của người Kinh. Bánh được làm từ bột của giống gạo nếp thơm dẻo nhất, được trộn với củ chuối rừng hay lá gai đã được băm nhỏ, và nấu kỹ. Dùng lá chuối rừng tươi hơ nóng cho lá mềm, rồi đặt 2 chiếc bánh được nặn tròn bằng cái chén cuộn vào cùng một lá. Bánh được đồ xong, sẽ đem cúng tổ tiên, còn lại sẽ đem treo lên sào để ăn dần. Rằm tháng bảy của người Tày còn có bánh chưng (còn gọi là Pẻng Hó). Bánh Chưng của người Tày được gói bằng lá dong rừng, có nhân là cá chép, và lá gừng tươi. Ngoài Pẻng Hó, Pẻng Tải, làm bún…, Tết Rằm tháng bảy, đồng bảoTày còn ăn thịt Vịt. Những con vịt ngon và béo nhất đàn sẽ được bắt thịt để dâng lên tổ tiên, và thổ địa… để cầu những điều may mắn và tốt đẹp sẽ đến với gia đình. Bà con người tày đi chợ ngày Rằm tháng 7 Cũng trong những ngày hội này, đồng bào dân tộc Tày còn có phong tục: Con rể của gia đình sẽ mang một đôi vịt để biếu bố mẹ vợ để tỏ lòng biết ơn, hiếu thuận và kính trọng đối với người đã dưỡng dục vợ mình. Ngày 14, 15 tháng bảy, các thành viên trong đại gia đình sẽ quây quần cùng nhau và cùng ăn bữa cơm sum họp. Đây là một nét văn hóa phong phú của người Tày, thể hiện tình cảm, tình yêu thương, sự gắn bó và lòng hiếu thuận của con cái đối với bậc sinh thành. Các món ăn trong mâm cỗ ngày Rằm tháng 7 Đến với các bản làng của người Tày tại Bắc Kạn trong những ngày rằm tháng 7 này, du khách thập phương sẽ có cơ hội được hòa mình vào không khí đầm ấm, vui vẻ của bà con nơi đây. Khách thập phương sẽ cùng ngồi ăn những món ăn đặc trung của vùng núi rừng Bắc Kạn như món măng nhồi thịt, thịt vịt xào măng, trám kho cá… Qua thời gian, Tết Rằm tháng bảy của đồng bào người Tày ở Bắc Kạn vẫn giữ gìn được những nét đẹp truyền thống từ xa xưa. Đây là một trong những nét văn hóa đặc sắc nhất của người Tày cần phải gìn giữ, bảo tồn và phát huy.

Cứ đến tháng 7 âm lịch hàng năm, đồng bào người Tày tại khắp các bản làng của Bắc Kạn lại náo nhiệt chuẩn bị cho cái tết lớn thứ hai của họ sau tết Nguyên Đán: Tết Rằm tháng bảy (đồng bào người Tày gọi là Tết Slip slí).

Vào ngày Xá tội vong nhân (Tết Vu Lan) của người Kinh, người dân tộc Tày sẽ ăn Tết Rằm tháng bảy, ngoài ý nghĩa để thờ cúng tổ tiên, cúng cho các vong hồn, đây còn là dịp để các thành viên trong gia đình gia đình, dòng họ xum họp, và là dịp để con cái thể hiện lòng biết ơn, bày tỏ lòng hiếu thuận đối với bậc sinh thành. Người Tày tổ chức hội Rằm tháng bảy Vào ngày này, đồng bào dân tộc Tày sẽ gác lại tất cả các công việc khác, và tập trung chuẩn bị cho ngày tết. Phiên chợ ngày trước tết thường diễn ra náo nhiệt hơn so với ngày bình thường, ở các mặt hàng đặc trưng như: đỗ xanh, lá bánh, củ chuối rừng…và một món ăn không thể thiếu trong ngày Tết rằm tháng bảy đối với người Tày đó là thịt Vịt. Theo tục lệ, cứ đến ngày rằm tháng bảy, người Tày ở Bắc Kạn sẽ làm các món ăn như: bánh chưng nhân cá lá gừng, bánh “Pẻng Tải”, thịt vịt, làm bún tươi…để thờ cúng tổ tiên và cúng các vong hồn, để cầu chúc sức khỏe, an lành sẽ đến với tất cả các thành viên trong gia đình và dòng họ. Hội khu cù tê Cách làm bánh Pẻng Tải giống với cách làm bánh gai của người Kinh. Bánh được làm từ bột của giống gạo nếp thơm dẻo nhất, được trộn với củ chuối rừng hay lá gai đã được băm nhỏ, và nấu kỹ. Dùng lá chuối rừng tươi hơ nóng cho lá mềm, rồi đặt 2 chiếc bánh được nặn tròn bằng cái chén cuộn vào cùng một lá. Bánh được đồ xong, sẽ đem cúng tổ tiên, còn lại sẽ đem treo lên sào để ăn dần. Rằm tháng bảy của người Tày còn có bánh chưng (còn gọi là Pẻng Hó). Bánh Chưng của người Tày được gói bằng lá dong rừng, có nhân là cá chép, và lá gừng tươi. Ngoài Pẻng Hó, Pẻng Tải, làm bún…, Tết Rằm tháng bảy, đồng bảoTày còn ăn thịt Vịt. Những con vịt ngon và béo nhất đàn sẽ được bắt thịt để dâng lên tổ tiên, và thổ địa… để cầu những điều may mắn và tốt đẹp sẽ đến với gia đình. Bà con người tày đi chợ ngày Rằm tháng 7 Cũng trong những ngày hội này, đồng bào dân tộc Tày còn có phong tục: Con rể của gia đình sẽ mang một đôi vịt để biếu bố mẹ vợ để tỏ lòng biết ơn, hiếu thuận và kính trọng đối với người đã dưỡng dục vợ mình. Ngày 14, 15 tháng bảy, các thành viên trong đại gia đình sẽ quây quần cùng nhau và cùng ăn bữa cơm sum họp. Đây là một nét văn hóa phong phú của người Tày, thể hiện tình cảm, tình yêu thương, sự gắn bó và lòng hiếu thuận của con cái đối với bậc sinh thành. Các món ăn trong mâm cỗ ngày Rằm tháng 7 Đến với các bản làng của người Tày tại Bắc Kạn trong những ngày rằm tháng 7 này, du khách thập phương sẽ có cơ hội được hòa mình vào không khí đầm ấm, vui vẻ của bà con nơi đây. Khách thập phương sẽ cùng ngồi ăn những món ăn đặc trung của vùng núi rừng Bắc Kạn như món măng nhồi thịt, thịt vịt xào măng, trám kho cá… Qua thời gian, Tết Rằm tháng bảy của đồng bào người Tày ở Bắc Kạn vẫn giữ gìn được những nét đẹp truyền thống từ xa xưa. Đây là một trong những nét văn hóa đặc sắc nhất của người Tày cần phải gìn giữ, bảo tồn và phát huy.

Related Figures

Lễ hội Óoc-om bok

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/10 Âm lịch (lehoi.info)- Lễ hội Óoc-om bok là lễ cúng trăng được tổ chức vào ngày Rằm tháng Cađấc theo Phật lịch, tức ngày 15 tháng 10 âm lịch, là thời điểm giao mùa mưa chuyển sang mùa khô, là thời điểm chuẩn bị thu hoạch mùa màng. Lễ hội là dịp để tưởng nhớ và tạ ơn mặt trăng. Người Khmer xem mặt trăng là một vị thần đã điều động mùa màng của họ trong năm. Lễ hội này được tổ chức tại Chùa Đìa Muồng, thuộc xã Vĩnh Phú Đông, huyện Phước long, tỉnh Bạc Liêu. Hội đua ghe ngo trong ngày lễ hội Óoc-om bok tại Bạc Liêu Lễ hội Óoc-om bok ở tỉnh Bạc Liêu được khôi phục từ năm 2009 và từ đó đến nay hội được tổ chức vào ngày 15 tháng 10 âm lịch hàng năm, nhằm bảo tồn và phát huy những nét văn hoá đặc sắc của đồng bào Khơ me tỉnh Bạc Liêu nói riêng và đồng bào Khơ me vùng Nam Bộ nói chung. Lễ hội hồm hai phần là Phần Lễ và Phần Hội. Phần Lễ gồm các nghi thức lễ, làm cốm dẹp, thả đèn nước, phục dựng các tập tục cúng trăng, treo đèn gió. Phần Hội có tổ chức các trò chơi dân gian như đua ghe ngo và nhiều hoạt động văn nghệ khác với sự tham gia của ba dân tộc Kinh, Khơ me và Hoa. Ngoài ra, lễ hội này còn tổ chức các bộ âm thực dân dã, trưng bày hình ảnh về đất nước và con người, các loại nhạc cụ, mua bán nông sản... Lễ cúng thần mặt trăng trong lễ hội Óoc-om bok tại Bạc Liêu Chiều ngày 14 tháng 10 âm lịch, tại sân chùa, sân nhà, người dân sẽ đào lỗ để cắm hai thanh tre cách nhau khoảng 3m, có chiều cao khoảng 5, và bắc ngang bằng một thanh tre khác hoặc uốn cong lại để tạo thành một cái cổng thật đẹp. Sau đó, đặt một cái bàn có bày biện các thứ lễ vật như: bánh kẹo, khoai môn, nhang, đèn,khoai mì, chuối, khoai lang, dừa xanh lột vỏ …và người dân sẽ cùng ngồi quây quần lại để đón trăng lên. Khi trăng lên tới đỉnh đầu, bà con người Khơ me sẽ cử một người lớn tuổi, là người đức độ, có uy tín sẽ đại diện ra thắp hương, rót trà, để cúng tạ thần mặt trăng đã phù hộ cho họ một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu và cầu cho một năm mới mưa thuận gió hòa, xóm làng được no ấm, bà con có cuộc sống sung túc, con cháu khỏe mạnh, trên dưới hòa thuận. Biểu diễn tiết mục văn nghệ truyền thống

(lehoi.info)- Lễ hội Óoc-om bok là lễ cúng trăng được tổ chức vào ngày Rằm tháng Cađấc theo Phật lịch, tức ngày 15 tháng 10 âm lịch, là thời điểm giao mùa mưa chuyển sang mùa khô, là thời điểm chuẩn bị thu hoạch mùa màng. Lễ hội là dịp để tưởng nhớ và tạ ơn mặt trăng. Người Khmer xem mặt trăng là một vị thần đã điều động mùa màng của họ trong năm. Lễ hội này được tổ chức tại Chùa Đìa Muồng, thuộc xã Vĩnh Phú Đông, huyện Phước long, tỉnh Bạc Liêu.

Hội đua ghe ngo trong ngày lễ hội Óoc-om bok tại Bạc Liêu

Lễ hội Óoc-om bok ở tỉnh Bạc Liêu được khôi phục từ năm 2009 và từ đó đến nay hội được tổ chức vào ngày 15 tháng 10 âm lịch hàng năm, nhằm bảo tồn và phát huy những nét văn hoá đặc sắc của đồng bào Khơ me tỉnh Bạc Liêu nói riêng và đồng bào Khơ me vùng Nam Bộ nói chung. Lễ hội hồm hai phần là Phần Lễ và Phần Hội. Phần Lễ gồm các nghi thức lễ, làm cốm dẹp, thả đèn nước, phục dựng các tập tục cúng trăng, treo đèn gió. Phần Hội có tổ chức các trò chơi dân gian như đua ghe ngo và nhiều hoạt động văn nghệ khác với sự tham gia của ba dân tộc Kinh, Khơ me và Hoa. Ngoài ra, lễ hội này còn tổ chức các bộ âm thực dân dã, trưng bày hình ảnh về đất nước và con người, các loại nhạc cụ, mua bán nông sản... Lễ cúng thần mặt trăng trong lễ hội Óoc-om bok tại Bạc Liêu

Chiều ngày 14 tháng 10 âm lịch, tại sân chùa, sân nhà, người dân sẽ đào lỗ để cắm hai thanh tre cách nhau khoảng 3m, có chiều cao khoảng 5, và bắc ngang bằng một thanh tre khác hoặc uốn cong lại để tạo thành một cái cổng thật đẹp. Sau đó, đặt một cái bàn có bày biện các thứ lễ vật như: bánh kẹo, khoai môn, nhang, đèn,khoai mì, chuối, khoai lang, dừa xanh lột vỏ …và người dân sẽ cùng ngồi quây quần lại để đón trăng lên. Khi trăng lên tới đỉnh đầu, bà con người Khơ me sẽ cử một người lớn tuổi, là người đức độ, có uy tín sẽ đại diện ra thắp hương, rót trà, để cúng tạ thần mặt trăng đã phù hộ cho họ một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu và cầu cho một năm mới mưa thuận gió hòa, xóm làng được no ấm, bà con có cuộc sống sung túc, con cháu khỏe mạnh, trên dưới hòa thuận. Biểu diễn tiết mục văn nghệ truyền thống

Related Figures

Lễ hội chùa Vĩnh Nghiêm

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 14/2 Âm lịch Lễ hội chùa Vĩnh Nghiêm còn có tên khác là Hội chùa La, diễn ra vào ngày 14 tháng 2 âm lịch hàng năm, tại thôn Đức La, thuộc xã Trí Yên, Yên Dũng, Bắc Giang. Trong ngày lễ hội, các sư thường gọi là ngày giỗ tổ nên cũng được xem là hội giỗ tổ chùa La. Chùa Vĩnh Nghiêm là một trong những ngôi chùa cổ nổi tiếng được xây dựng từ thời Lý, Trần (thế kỷ XII - XIII) thuộc thể loại Thiền phái Trúc Lâm. Ngôi chùa này nằm tại chỗ hợp lưu giữa sông Thương và sông Lục Nam. Khu vực này xưa kia còn được gọi với cái tên là khu vực ngã ba Phượng Nhãn. Chùa Vĩnh Nghiêm hướng mặt ra ngã ba sông và nhìn thẳng về phía Lục Đầu Giang - Kiếp Bạc. Phía sau chùa là đất của thôn Đức La xa hơn nữa là vùng Cẩm Lý, nơi cửa ngõ của vùng núi Yên Tử. Bao quanh chùa Vĩnh Nghiêm có các núi lớn mà tiêu biểu là núi Cô Tiên. Đường ra vào chùa có thể đi theo đường sông Lục Nam, sông Thương và đường quốc lộ 31 đi Trí Yên (Yên Dũng). Là một địa danh thuận tiện giao thông nên chùa Vĩnh Nghiêm đã thu hút được rất nhiều khách thập phương đến hội mà không gặp trở ngại nào. Trong ngày hội (14/2), các tăng ni trong chùa sẽ thắp hương và tụng kinh, niệm phật tại tam bảo, nhà tổ đệ nhất và đệ nhị, đồng thời còn thỉnh chuông hoằng dương Phật pháp từ lúc sớm, và buổi tối trong ngày. Từ ngày 13 trở đi, du khách thập phương thường kéo nhau từng đoàn từ 5 đến 30 người lũ lượt kéo nhau về chùa. Khách về chùa trẩy hội hầu hết là các cụ già, các vãi và thanh niên nam nữ. Hàng quán tạm được mở dọc theo đường từ tam quan đến khu vực nhà tiền đường. Trong khu vực nội tự, thường không có hàng quán mà có rất đông các đoàn dâng hương hành lễ. Xen lẫn trong đó còn các đội văn nghệ biểu diễn tích chùa của làng. Tổ Chúc Lâm ở Chùa Vĩnh Nghiêm gồm ba vị là: - Giác Hoàng Điều Ngự Trần Nhân Tông - Thiền sư Huyền Quang - Thiền Sư Pháp Loa Về ba vị tổ này, trong các tấm bia cũ, ở đoạn nói về thời nhà Lý đã có ghi chép: Vua Lý Thái Tổ lập ra chùa chiền . Tăng đồ thịnh hành là vào thời kỳ đạo phật đại hát đạt. Song không có bia ghi chép để lại . Chỉ được nghe kể lại như vậy. Ở đời nhà Trần, thì xem trong truyện ký có vị vua là Trần Nhân Tông, là con trưởng của vua Thánh Tông lên ngôi năm Mậu Dần, và lấy niên hiệu là Thiên Bảo ( 1279- 1284). Ông là vị vua nhân từ có trí thao lược, xứng đáng là người đứng đầu thời nhà Trần, tuy nhiên lúc muộn việc nhàn rỗi , ông đã phái mời thiền khách đến để giảng giải nghiên cứu tâm tông , tham khảo Tuệ trung thượng sỹ và đi sâu vào thiền cốt . Sau đo, ông nhường ngôi cho Anh Tông ( theo sử ký : ở ngôi 5 năm, đã xuất gia 8 năm ). Năm Kỷ Hợi , Hưng Long thứ 7 (1299) khi ngài đi đường tắt vào đường núi Yên Tử , để sửa lại Đầu Đà Hạnh , tự hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà tinh xã. Mở lớp giảng về Phật pháp đã có nhiều tăng nữ đến học. Năm Giáp Thìn , Hưng Long thứ 12 (1304), ngài bắt đầu đi chu du khắp các đạo để tìm người truyền lại đạo pháp. Khi đi qua con sông Nam Sách , thấy đứa con của ông thần dân có nặc danh là Kiên Cương, ngài đã nói: ”Chú bé này có đạo nhân’, nên đã đặt tên cho cậu bé là Thiện Lai, và đưa về am Kỳ Lân, xuống tóc, cho thụ giáo tâm thiên, vì học kinh hiểu rộng nên được ban tên hiệu là Pháp Loa. Ngày 11 tháng giêng năm thứ 16 Điều ngự đăng đàn giảng pháp tại chùa Bảo Ân chuyện Siêu Loại. Giảng xong, Ngài bèn đi xuống phía dưới dắt Pháp Loa lên toà, thay sư vái đáp lễ, và trao cho y bát, khoác áo, sau đó Điều Ngực trao cho quyền tiếp nối vị trí trụ trì chùa Siêu Loại - Sơn môn Yên Tử, trở thành đời thứ 2 của phái Trúc Lâm. Vua Trần Anh Tông đã nhiều lần gửi điệp cho sư nhưng sư thường tuý tăng không có câu lệ luật thường. Tháng 4 Điều Ngự tới chùa Vĩnh Nghiêm tại Lạng Giang để làm lễ kiết hạ, lệnh cho Pháp Loa làm trụ trì. Điều Ngự thuyết giảng truyền Đăng Lục, lệnh cho quốc sư (Pháp Loa) giảng Pháp Hoa kinh cho tất cả chúng tăng. Hết khoá hạ thì kết thúc. Điều Ngự vào núi Yên Tử đến nằm tại Am Ngoạ Vân vào ngày 1/11 bổng dưng ngài hoá. Anh Tông Hoàng sau đó đã kính dâng ngài tên hiệu: Đại Thánh Trần Triều Trúc Lâm Đầu Đà Tĩnh Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Phật tổ. Năm thứ 21, Quý Sửu (năm 1313) Pháp Loa phụng chiếu về chùa Vĩnh Nghiêm, định chức tăng trong thiên hạ. Sau đó, cứ 3 năm một lần tổ chức như vậy, nên tăng ni giáo xuống vài ngàn. Ngày 13/2 năm Canh Ngọ, niên hiệu Khai Hựu thứ hai (1330) Pháp Loa đến viện Quỳnh Lâm, đã mang những điều mà Điều Ngự đã truyền cho ông trước đây là tả tâm kệ và giá trạng, truyền lại cho sư Huyền Quang và dạy rằng phải gìn giữ lấy. Ngày 3-3 Pháp Loa cầm bút viết kệ xong thì ông cũng qua đời . Thái thượng Hoàng gia đã phong hiệu cho Pháp Loa là Tịnh trí tôn giả, hay còn gọi là pháp viên thông. Theo Huyền Quang tam tổ thực lục kể lại : thuỷ tổ Huyền Quang tại hương Vạn Tải, Vũ Ninh , tỉnh Bắc Giang là Ly Ân Hoà , là quan dưới triều Lý Thần Tông . Đến tổ đời thứ 6 là Quang Dụ thì bắt đầu chuyển vận, làm sứ ở triều trần . Quang Dụ có 4 người con trai ; con út là Tuệ Tổ , Tức bố đẻ của ngài . Mẹ ngài mang nặng 10 tháng , sinh ra đã đĩnh dị , nên đặt tên là Đạo Tái; 9 tuổi ngài đã giỏi văn chương. 21 tuổi đã đỗ đầu khoa thi đại tỉ, được tiếp kiến Bắc Sư . Văn chương ngôn ngữ thì hơn hẳn bậc thượng quốc . Khi ấy có theo vua tới chùa Vĩnh Nghiêm tại Phượng Nhỡn, khi thấy quốc sư Pháp Loa hành pháp , ông lập tức nhớ ra tiền duyên, ngài cảm khái và nói rằng : “Phú quý vinh hoa rồi cũng như lá vàng mùa thu , mây trắng mùa hạ , làm sao có thể giữ mãi được ?” Nhân đó , ngài đã nhiều lần dâng biểu từ chức để xuất gia, đến thụ giáo tại Pháp Loa thiền sư, lấy pháp hiệu là Huyền Quang để đi tìm danh lam trong nước, chăm pháp hương tại Pháp toà, giảng kinh truyền pháp cho môn đệ. Sau này, ngài đến Côn Sơn và qua đời ngày 23 tháng giêng năm Giáp Ngọ. Minh Tôn hoàng đế có họ tên thuỵ là: Trúc lân thiền sư đệ tam đại. Đặc biệt được phong tư pháp Huyền Quang tôn giả. Chùa Vĩnh Nghiêm hiện nay có các toà chính là: toà thượng điện nhà tổ đệ nhất gác chuông, toà Thiên đường, nhà tổ đệ nhị và các công trìn khác. Chùa có quy mô tương đối lớn. Trong ngày hội, mội người đến đây tham quan đều được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của các công trình kiến trúc này và được thắp hương niệm phật tại các toà để tưởng niệm về 3 vị sư tổ của thiền phái Trúc Lâm tại toà tổ đệ nhất. Trong toà tổ đệ nhất ngày nay có một tượng hậu được đặt ở phía bên ngoài, 2 gian bên. Ba tổ Trúc Lâm được đặt tại hậu cung thẳng với trục gian giữa vào sân bên trong. Mỗi người khi đến hội, tuy chỉ cầm một nén hương nhưng kỳ thực đã tưởng nhớ đến các vị thiền sư có công khai sáng nên thiền đạo nơi đây./.

Lễ hội chùa Vĩnh Nghiêm còn có tên khác là Hội chùa La, diễn ra vào ngày 14 tháng 2 âm lịch hàng năm, tại thôn Đức La, thuộc xã Trí Yên, Yên Dũng, Bắc Giang.

Trong ngày lễ hội, các sư thường gọi là ngày giỗ tổ nên cũng được xem là hội giỗ tổ chùa La. Chùa Vĩnh Nghiêm là một trong những ngôi chùa cổ nổi tiếng được xây dựng từ thời Lý, Trần (thế kỷ XII - XIII) thuộc thể loại Thiền phái Trúc Lâm. Ngôi chùa này nằm tại chỗ hợp lưu giữa sông Thương và sông Lục Nam. Khu vực này xưa kia còn được gọi với cái tên là khu vực ngã ba Phượng Nhãn. Chùa Vĩnh Nghiêm hướng mặt ra ngã ba sông và nhìn thẳng về phía Lục Đầu Giang - Kiếp Bạc. Phía sau chùa là đất của thôn Đức La xa hơn nữa là vùng Cẩm Lý, nơi cửa ngõ của vùng núi Yên Tử. Bao quanh chùa Vĩnh Nghiêm có các núi lớn mà tiêu biểu là núi Cô Tiên. Đường ra vào chùa có thể đi theo đường sông Lục Nam, sông Thương và đường quốc lộ 31 đi Trí Yên (Yên Dũng). Là một địa danh thuận tiện giao thông nên chùa Vĩnh Nghiêm đã thu hút được rất nhiều khách thập phương đến hội mà không gặp trở ngại nào. Trong ngày hội (14/2), các tăng ni trong chùa sẽ thắp hương và tụng kinh, niệm phật tại tam bảo, nhà tổ đệ nhất và đệ nhị, đồng thời còn thỉnh chuông hoằng dương Phật pháp từ lúc sớm, và buổi tối trong ngày. Từ ngày 13 trở đi, du khách thập phương thường kéo nhau từng đoàn từ 5 đến 30 người lũ lượt kéo nhau về chùa. Khách về chùa trẩy hội hầu hết là các cụ già, các vãi và thanh niên nam nữ. Hàng quán tạm được mở dọc theo đường từ tam quan đến khu vực nhà tiền đường. Trong khu vực nội tự, thường không có hàng quán mà có rất đông các đoàn dâng hương hành lễ. Xen lẫn trong đó còn các đội văn nghệ biểu diễn tích chùa của làng. Tổ Chúc Lâm ở Chùa Vĩnh Nghiêm gồm ba vị là: - Giác Hoàng Điều Ngự Trần Nhân Tông - Thiền sư Huyền Quang - Thiền Sư Pháp Loa Về ba vị tổ này, trong các tấm bia cũ, ở đoạn nói về thời nhà Lý đã có ghi chép: Vua Lý Thái Tổ lập ra chùa chiền . Tăng đồ thịnh hành là vào thời kỳ đạo phật đại hát đạt. Song không có bia ghi chép để lại . Chỉ được nghe kể lại như vậy. Ở đời nhà Trần, thì xem trong truyện ký có vị vua là Trần Nhân Tông, là con trưởng của vua Thánh Tông lên ngôi năm Mậu Dần, và lấy niên hiệu là Thiên Bảo ( 1279- 1284). Ông là vị vua nhân từ có trí thao lược, xứng đáng là người đứng đầu thời nhà Trần, tuy nhiên lúc muộn việc nhàn rỗi , ông đã phái mời thiền khách đến để giảng giải nghiên cứu tâm tông , tham khảo Tuệ trung thượng sỹ và đi sâu vào thiền cốt . Sau đo, ông nhường ngôi cho Anh Tông ( theo sử ký : ở ngôi 5 năm, đã xuất gia 8 năm ). Năm Kỷ Hợi , Hưng Long thứ 7 (1299) khi ngài đi đường tắt vào đường núi Yên Tử , để sửa lại Đầu Đà Hạnh , tự hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà tinh xã. Mở lớp giảng về Phật pháp đã có nhiều tăng nữ đến học. Năm Giáp Thìn , Hưng Long thứ 12 (1304), ngài bắt đầu đi chu du khắp các đạo để tìm người truyền lại đạo pháp. Khi đi qua con sông Nam Sách , thấy đứa con của ông thần dân có nặc danh là Kiên Cương, ngài đã nói: ”Chú bé này có đạo nhân’, nên đã đặt tên cho cậu bé là Thiện Lai, và đưa về am Kỳ Lân, xuống tóc, cho thụ giáo tâm thiên, vì học kinh hiểu rộng nên được ban tên hiệu là Pháp Loa. Ngày 11 tháng giêng năm thứ 16 Điều ngự đăng đàn giảng pháp tại chùa Bảo Ân chuyện Siêu Loại. Giảng xong, Ngài bèn đi xuống phía dưới dắt Pháp Loa lên toà, thay sư vái đáp lễ, và trao cho y bát, khoác áo, sau đó Điều Ngực trao cho quyền tiếp nối vị trí trụ trì chùa Siêu Loại - Sơn môn Yên Tử, trở thành đời thứ 2 của phái Trúc Lâm. Vua Trần Anh Tông đã nhiều lần gửi điệp cho sư nhưng sư thường tuý tăng không có câu lệ luật thường. Tháng 4 Điều Ngự tới chùa Vĩnh Nghiêm tại Lạng Giang để làm lễ kiết hạ, lệnh cho Pháp Loa làm trụ trì. Điều Ngự thuyết giảng truyền Đăng Lục, lệnh cho quốc sư (Pháp Loa) giảng Pháp Hoa kinh cho tất cả chúng tăng. Hết khoá hạ thì kết thúc. Điều Ngự vào núi Yên Tử đến nằm tại Am Ngoạ Vân vào ngày 1/11 bổng dưng ngài hoá. Anh Tông Hoàng sau đó đã kính dâng ngài tên hiệu: Đại Thánh Trần Triều Trúc Lâm Đầu Đà Tĩnh Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Phật tổ. Năm thứ 21, Quý Sửu (năm 1313) Pháp Loa phụng chiếu về chùa Vĩnh Nghiêm, định chức tăng trong thiên hạ. Sau đó, cứ 3 năm một lần tổ chức như vậy, nên tăng ni giáo xuống vài ngàn. Ngày 13/2 năm Canh Ngọ, niên hiệu Khai Hựu thứ hai (1330) Pháp Loa đến viện Quỳnh Lâm, đã mang những điều mà Điều Ngự đã truyền cho ông trước đây là tả tâm kệ và giá trạng, truyền lại cho sư Huyền Quang và dạy rằng phải gìn giữ lấy. Ngày 3-3 Pháp Loa cầm bút viết kệ xong thì ông cũng qua đời . Thái thượng Hoàng gia đã phong hiệu cho Pháp Loa là Tịnh trí tôn giả, hay còn gọi là pháp viên thông. Theo Huyền Quang tam tổ thực lục kể lại : thuỷ tổ Huyền Quang tại hương Vạn Tải, Vũ Ninh , tỉnh Bắc Giang là Ly Ân Hoà , là quan dưới triều Lý Thần Tông . Đến tổ đời thứ 6 là Quang Dụ thì bắt đầu chuyển vận, làm sứ ở triều trần . Quang Dụ có 4 người con trai ; con út là Tuệ Tổ , Tức bố đẻ của ngài . Mẹ ngài mang nặng 10 tháng , sinh ra đã đĩnh dị , nên đặt tên là Đạo Tái; 9 tuổi ngài đã giỏi văn chương. 21 tuổi đã đỗ đầu khoa thi đại tỉ, được tiếp kiến Bắc Sư . Văn chương ngôn ngữ thì hơn hẳn bậc thượng quốc . Khi ấy có theo vua tới chùa Vĩnh Nghiêm tại Phượng Nhỡn, khi thấy quốc sư Pháp Loa hành pháp , ông lập tức nhớ ra tiền duyên, ngài cảm khái và nói rằng : “Phú quý vinh hoa rồi cũng như lá vàng mùa thu , mây trắng mùa hạ , làm sao có thể giữ mãi được ?” Nhân đó , ngài đã nhiều lần dâng biểu từ chức để xuất gia, đến thụ giáo tại Pháp Loa thiền sư, lấy pháp hiệu là Huyền Quang để đi tìm danh lam trong nước, chăm pháp hương tại Pháp toà, giảng kinh truyền pháp cho môn đệ. Sau này, ngài đến Côn Sơn và qua đời ngày 23 tháng giêng năm Giáp Ngọ. Minh Tôn hoàng đế có họ tên thuỵ là: Trúc lân thiền sư đệ tam đại. Đặc biệt được phong tư pháp Huyền Quang tôn giả. Chùa Vĩnh Nghiêm hiện nay có các toà chính là: toà thượng điện nhà tổ đệ nhất gác chuông, toà Thiên đường, nhà tổ đệ nhị và các công trìn khác. Chùa có quy mô tương đối lớn. Trong ngày hội, mội người đến đây tham quan đều được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của các công trình kiến trúc này và được thắp hương niệm phật tại các toà để tưởng niệm về 3 vị sư tổ của thiền phái Trúc Lâm tại toà tổ đệ nhất. Trong toà tổ đệ nhất ngày nay có một tượng hậu được đặt ở phía bên ngoài, 2 gian bên. Ba tổ Trúc Lâm được đặt tại hậu cung thẳng với trục gian giữa vào sân bên trong. Mỗi người khi đến hội, tuy chỉ cầm một nén hương nhưng kỳ thực đã tưởng nhớ đến các vị thiền sư có công khai sáng nên thiền đạo nơi đây./.

Related Figures

Lễ hội Lồng Tồng (xuống đồng) của người Cao Lan

Thông tin thời kỳ

Thời gian: 15/1- 16/1 Âm lịch Vào ngày 15, 16 tháng Giêng hàng năm, đồng bào dân tộc Cao Lan ở thôn Mới, xã Quang Yên, huyện Sông Lô (tỉnh Vĩnh Phúc) lại tổ chức lễ hội Lồng Tồng (nghĩa là xuống đồng) để ôn lại giá trị văn hóa, đồng thời tạo không khí phấn khởi vui tươi cho đông đảo quần chúng nhân dân. Xem đi cà kheo ở lễ hội Lồng Tồng của người Cao Lan Lễ hội xuống đồng là một nét sinh hoạt văn hóa truyền thống tốt đẹp của đồng bào dân tộc Cao Lan được tổ chức thường niên ở Vĩnh Phúc cũng như nhiều nơi khác và coi đây là một hoạt động vui chơi giải trí hữu ích đầu xuân cũng là để động viên đồng bào bảo tồn văn hóa của dân tộc, đồng thời giúp đồng bào dân tộc sản xuất và xây dựng đời sống văn hóa ở quê hương của mình. Mọi người tập trung xem các trò chơi ở lễ hội Lồng Tồng Hội Lồng Tồn là một lễ hội cầu mùa, cầu mong mưa thuận gió hòa giúp mùa màng bội thu, đồng thời cầu chúc cho người người khỏe mạnh, sinh nhiều con cháu đông đúc. Lễ hội xuống đồng cũng là tín ngưỡng phồn thực mang nhiều giá trị khác về dân tộc Cao Lan cũng như giá trị về nhân văn nghệ thuật... Sau phần lễ là phần hội đã diễn ra nhiều trò chơi dân gian như: hát ví xịnh ca, múa, hát đối giao duyên của dân tộc Cao Lan, ném còn, kéo co, bắn nỏ và chọi gà thu hút rất đông đảo đồng bào dân tộc tham gia... Biểu diễn văn nghệ ở lễ hội Lồng Tồng Lễ hội Lồng Tồng- xuống đồng truyền thống đã có từ hàng trăm năm nay nhưng đã bị gián đoạn từ khá lâu. Năm 2007, lễ hội được Bộ Văn hóa Thông tin (nay Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch) phối hợp với Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Vĩnh Phúc, cùng với UBND xã Quang Yên đã khôi phục lại lễ hội này./.

Related Figures